Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages«<34567>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
xuan hoang  
#81 Posted : Sunday, June 5, 2011 10:43:24 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Sống Với Thận Suy


UserPostedImage



Thận Suy (Kidney Failure)

Là một bệnh rất trầm trọng, cần được chăm sóc, điều trị một cách chu đáo trong suốt cuộc đời.

Khi sanh ra, mỗi người có hai trái thận nằm phía dưới lồng ngực, khoảng giữa lưng. Đôi khi nhiều người chỉ có một trái thận và nếu toàn vẹn, vẫn đủ khả năng duy trì cơ thể trong tình trạng khỏe mạnh.

Thận phục vụ cơ thể bằng nhiều phương thức:
-Thận lọc máu, loại bỏ các chất phế thải rồi tái hấp thụ nước và một số chất cần thiết trở lại máu.
-Cân bằng nước và muối để duy trì lượng chất lỏng trong cơ thể.
-Giữ huyết áp ở mức độ trung bình.
-Giúp cơ thể cấu tạo hồng cầu và xương vững chắc.
-Kiểm soát lượng muối khoáng kali, calci, magnesium và phosphor trong máu.

Thận không có nhiệm vụ gì trong hoạt động tình dục như nhiều người nghĩ.

Dấu hiệu của thận suy:

- Nhức đầu, mệt mỏi, biếng ăn
-Ứ nước trong cơ thể với phù sưng bàn tay bàn chân
-Khó thở
-Thay đổi tâm trạng
-Tiểu tiện khi nhiều khi ít
-Da có mầu sâm, ngứa, tê dại
-Huyết áp tăng cao.
-Lên cơn co giựt, kinh phong
-Ngây ngất, kém tập trung, mất định hướng
- Hôn mê nếu không điều trị.

Nguyên nhân gây suy thận

Thận bị suy nhược khi chúng không chu toàn nhiệm vụ loại bỏ ra khỏi cơ thể chất cặn bã và chất lỏng dư thừa. Các chất này sẽ tăng cao trong máu và đưa tới bệnh. Giảm chức năng dần dần sẽ đưa tới Suy-Thận-Mãn-Tính.
Có nhiều nguyên nhân đưa tới bệnh thận mãn tính, thông thường nhất là bệnh tiểu đường và cao huyết áp không được điều trị đúng cách.

Khi chức năng còn lại dưới 15%, thận ở giai đoạn cuối của sự tồn tại và cần được điều trị suốt đời bằng lọc máu hoặc thay ghép thận.

Điều trị thận suy

Có ba phương thức điều trị suy thận mãn tính:

a-Thẩm tách máu (hemodialysis)

Thông thường gọi là Lọc máu hoặc thận nhân tạo được thực hiện tại một trung tâm chuyên môn hoặc tại nhà, ba lần một tuần. Hiện nay có dụng cụ mới chữa ngắn thời gian nhưng nhiều lần trong ngày hoặc ban đêm.
Máu được đưa qua dụng cụ có màng thấm tách, phế chất có hại được một dung dịch ở bên kia màng lấy đi và máu tinh khiết được đưa trở lại cơ thể.

b-Lọc máu qua xoang phúc mạc bụng (Peritoneal dialysis)

Có thể thực hiện tại nhà, sở làm hoặc một nơi sạch sẽ kín đáo để có thể thay túi đựng dung dịch chất lọc.

c-Ghép thận (Kidney transplant)

Cho từ người còn sống hoặc lấy từ tử thi mới mệnh một.
Nên lưu ý là các phương thức lọc máu không chữa trái thận đã bị suy và mỗi phương pháp có những điểm tốt xấu mà bệnh nhân và gia đình cần biết.

Chăm sóc, điều trị

Khi được bác sĩ cho hay bị thận suy, bệnh nhân trải qua nhiều tâm trạng khác nhau. Mới đầu là thái độ ngạc nhiên hoảng hốt, tự hỏi sao mình lại rơi vào tình trạng nan y này. Rồi cảm thấy bất lực thất vọng, tiếc nuối thời kỳ khỏe mạnh khi xưa “giá kể mình để ý đến sức khỏe một chút thì đâu đến nỗi này”. Cuối cùng thì đành chấp nhận và thích nghi với hoàn cảnh mới.

Lọc máu hoặc thay thận đều đưa tới nhiều thay đổi trong toàn bộ cơ thể người bệnh, từ thể chất tới tinh thần.
Để duy trì nếp sống khỏe mạnh, người bệnh phải chủ động trong việc tự chăm sóc nhưng họ cũng cần được sự điều trị, hướng dẫn của các nhà chuyên môn y học và sự hỗ trợ của thân nhân.

Bác sĩ chuyên về tiết niệu sẽ phối hợp với bác sĩ gia đình để lo việc điều trị thận suy. Bác sĩ gia đình tiếp tục chăm lo sức khỏe tổng quát.

Bệnh nhân đừng ngần ngại nói với bác sĩ về tình trạng bệnh, về điều mình mong muốn. Hỏi bác sĩ các điều không biết về bệnh và các biến chuyển có thể xảy ra. Ghi rõ các hướng dẫn của bác sĩ để khỏi quên.

Tại cơ sở lọc máu, nên có giao hảo tốt với chuyên viên điều khiển dụng cụ và theo dõi diễn tiến mà ta sẽ gặp mỗi tuần lễ 3 lần, mỗi lần kéo dài tới 3-4 giờ.

Lọc máu lấy đi chất phế thải và nước dư trong cơ thể. Nếu các chất này được loại đúng số lượng thì người bệnh sẽ khỏe mạnh hơn và có nhiều triển vọng sống lâu hơn.

Tại Hoa Kỳ, chi phí lọc máu được chương trình bảo hiểm của chính phủ hoặc bảo hiểm tư nhân đài thọ
Một số điều cần lưu ý:

1- Chế độ dinh dưỡng

Dù là lọc máu bằng thận nhân tạo hoặc qua xoang phúc mạc, bệnh nhân với suy thận đều cần tuân theo một chế độ dinh dưỡng đúng đắn. Chế độ này sẽ giúp bệnh nhân duy trì một sức khỏe tốt và giúp sự lọc máu thành công hơn.
Mỗi bệnh nhân có một quy chế ăn uống riêng về các chất dinh dưỡng như nước, các muối khoáng potassium, sodium, phosphor, chất đạm... Các chuyên viên dinh dưỡng có thể giúp bệnh nhân lựa chọn một chế độ thích hợp với tình trạng sức khỏe và bệnh trạng của mình.

a-Nước

Bệnh nhân cần lưu ý tới lượng nước tiêu thụ hằng ngày.
Với thận suy mà dùng quá nhiều nước sẽ đưa tới ứ nước, tăng huyết áp, tim sẽ phải làm việc nhiều hơn.
Giới hạn thực phẩm chứa nhiều nước như dưa hấu, thạch, kem, nước đá cục, thực phẩm đông lạnh.

b-Chất đạm

Khi bị suy thận, bệnh nhân thường được bác sĩ khuyên giới hạn tiêu thụ chất đạm, để giảm thiếu chất thải ure.
Khi lọc máu, bệnh nhân lại được khuyến khích ăn nhiều hơn các loại chất đạm có phẩm chất tốt từ thịt, cá, gà vịt...vì các chất đạm này tạo ra ít ure. Lý do là cơ thể cần nhiều chất đạm để tăng cường sức khỏe

c-Muối

Muối ăn cần được hạn chế để tránh giữ nước trong cơ thể và để tránh tăng huyết áp.
Ăn thực phẩm tươi. Tránh thực phẩm đóng hộp, thịt cá muối.
Nên đọc nhãn hiệu để coi món ăn có bao nhiêu muối.

d- Potassium

Kali thường lên cao trong thời gian giữa hai lần lọc máu và gây ra rối loạn nhịp tim, đôi khi đưa tới ngưng tim.
Ðể giữ mức potassium bình thường trong máu, nên bớt ăn thực phẩm có nhiều khoáng này như chuối, cam, trái cây khô...

đ-Phospho

Giới hạn thực phẩm có nhiều phospho như sữa, pho mát, đậu khô.., vì khi dư thừa, khoáng này sẽ lấy calcium từ xương, làm cho xương yếu, giòn, dễ gẫy.

e-Sinh tồ, khoáng chất

Lọc máu đôi khi cũng lấy đi một vài loại sinh tố, khoáng chất của cơ thể. Bác sĩ sẽ chỉ định những chất nào mà người bệnh cần dùng thêm.

2- Tổ chức nếp sống

Người bệnh cần sắp xếp lại nếp sống cho thoải mái, bớt căng thẳng tinh thần, giới hạn các chất có thể gây hại cho thận, nói riêng, và toàn cơ thể nói chung.

-Nhớ vận động cơ thể đều đặn, hợp với khả năng để máu huyết lưu thông, xương khớp trơn tru, cơ bắp mạnh mẽ và tăng cường sức chịu đựng với thận suy. Nên hỏi ý kiến bác sĩ về chương trình vận động thích hợp.

-Không hút thuốc lá để tránh nhiều bệnh do thuốc là gây ra, như ung thư phổi, bệnh đường hô hấp. Riêng với thận suy, ngưng thuốc lá giảm rủi ro bị cao huyết áp, tăng làm việc cho tim và ảnh hưởng tới trái thận đã suy yếu.

-Người bệnh có thề đi du lịch đó đây, vì các trung tâm lọc máu đều có ở nhiều nơi. Ta chỉ cần biết sẽ ở nơi nào, lấy hẹn trước từ 6 tới 8 tuần lễ để việc điều trị không bị gián đoạn.

-Người bệnh cũng có thể tiếp tục công việc thường lệ, sau khi đã làm quen với sự lọc máu, nhưng nên tránh các việc cần nhiều sức mạnh như nâng vác vật nặng, đào đất...
Nói cho chủ nhân rõ tình trạng của mình để được thông cảm, hỗ trợ. Năm 1990, Quốc hội Hoa Kỳ đã biểu quyết đạo luật cấm kỳ thị vì bệnh hoạn.

-Về thuốc men, nên tránh thuốc trị ợ chua, acid dạ dày vì có nhiều muối natri; thuốc xổ táo bón vì có thể đưa tới khô nước và mất muối khoáng.
Hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc cây con thiên nhiên.

-Hình dáng bề ngoài có vài thay đổi: da lợt hoặc hơi vàng, khô tróc vẩy. Cần tắm mỗi ngày và thoa kem giữ hơi ẩm trên da.

-Thay đổi vị giác và khứu giác do ảnh hưởng chất thải quá cao trong máu. Miệng có mùi hôi. Cần giữ gìn vệ sinh răng miệng và đi khám nha sĩ 2 lần mỗi năm.

-Nam giới với thận suy có thể có rối loạn cương dương vì bệnh, do thiếu máu, tác hại của quá nhiều chất thải. Nên thảo luận với bác sĩ vì nhiều trường hợp có thể điều trị được.

-Phụ nữ lọc máu không nên mang thai e là có nhiều rủi ro cho cả mẹ lẫn thai nhi.

-Và đặc biệt là để ý tới tâm trạng. Những khó khăn sống với thận suy, lọc máu, ảnh hưởng của chất thải, của dược phẩm có thể làm tâm trí ta căng thẳng, trầm buồn, lo âu hơn. Đó là chuyện có thật, thường xảy ra và cần được biểu lộ, chia sẻ để nhẹ lòng mình cũng như thân nhân. Đừng nghĩ rằng mình là gánh nặng cho gia đình, vì thận suy có thể đến với mọi người.

Nếu có những dấu hiệu như trầm cảm kéo dài hơn hai tuần lễ, ý nghĩ quyên sinh, giảm khẩu vị, thay đổi giấc ngủ, bỏ thú vui thường lệ, luôn luôn buồn bực, không quyết định, tự cô lập…nên thảo luận với bác sĩ để được tư vấn, điều trị.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D., Texas-Hoa Kỳ
(www.bsnguyenyduc.com)

Edited by user Wednesday, June 29, 2011 6:07:34 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#82 Posted : Tuesday, June 7, 2011 3:41:49 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Ung Thư Tuyến Giáp Trạng (Thyroid)


Tuyến giáp trạng có hình dạng của một con bướm nằm trước cổ, bên dưới thanh quản, gồm hai phần (2 lobes hoặc 2 thùy). Hai phần này được ngăn ra bởi isthmus, nằm giữa. Một tuyến giáp trạng bình thường có kích thước khoảng 3-4 cm, nằm dưới da nên khó có thể sờ nắn.

Tuyến giáp trạng gồm hai loại tế bào, cả hai đều tiết nội tiết tố.

• Tế bào follicular (thyroid follicular cell) tiết ra nội tiết tố giáp trạng, nội tiết tố này ảnh hưởng đến nhịp tim, huyết áp,thân nhiệt và trọng lượng.
• Tế bào C tiết ra calcitonin, nội tiết tố này điều tiết lượng calcium trong máu.
Bốn tuyến cận giáp (parathyroid) nằm sau tuyến giáp trạng. Các tuyến này tiết ra nội tiết tố parathyroid có nhiệm vụ giúp cơ thể duy trì một lượng calcium cân bằng.

Căn bản về ung thư

Ung thư xuất phát từ tế bào, đơn vị căn bản của mô. Bình thường tế bào da tăng trưởng, sinh sản và tạo tế bào mới. Mỗi ngày tế bào da già lão, chết và tế bào mới thay thế.
Đôi khi tiến trình sinh hóa trật tự này trở nên bất thường. Tế bào mới xuất hiện khi không cần thiết, và tế bào già lão hoặc tế bào hư hoại không chết như đã định. Các tế bào dư thừa này tạo thành khối, gọi là khối u hay bướu.

Bướu hay khối u có thể "lành" (benign) hoặc "độc" (cancerous):

Bướu lành:

• Ít khi gây tử vong
• Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
• Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể

Bướu độc như ung thư:

• Có thể gây tử vong
• Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
• Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
• Lan ra các bộ phận khác; việc lan tràn của khối u gọi là metastasis.

Các loại ung thư tại tuyến giáp trạng

1. Papillary: chiếm 80-90% những loại ung thư giáp trạng, khởi thủy từ loại tế bào follicular. Loại ung thư này tăng trưởng chậm, nếu tìm thấy sớm, việc trị liệu có kết quả rất khả quan.
2. Follicular: Khoảng 15% các loại ung thư giáp trạng, loại ung thư này xuất phát từ tế bào follicular, tăng trưởng chậm; nếu tìm thấy sớm, việc trị liệu có kết quả rất khả quan.
3. Medullary: Khoảng 3% các loại ung thư giáp trạng, loại ung thư này khởi thủy từ tế bào C. Loại ung thư này tạo ra một lượng calcitonin rất cao; nếu tìm thấy sớm và trị liệu sớm trước khi ung thư lan ra những nơi khác, kết quả rất khả quan.
4. Anaplastic: Loại ung thư giáp trạng hiếm có (khoảng 1-2%), khởi thủy từ tế bào follicular. Loại ung thư này rất khó tìm và khó chữa vì tế bào ung thư tăng trưởng nhanh chóng.

Dù chưa biết rõ nguyên nhân gây ung thư tuyến giáp trạng, nhưng y học đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến loại ung thư này, gia tăng tỷ lệ bị ung thư, gọi là "risk factors". Tuy nhiên, vẫn có nhiều bệnh nhân bị ung thư mà không có yếu tố rủi ro nào cũng như người có nhiều yếu tố rủi ro nhưng vẫn không bị ung thư.

Các cuộc nghiên cứu cho thấy các yếu tố sau đây gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng:

• Quang tuyến: Những cuộc chữa trị quang tuyến quanh vùng cổ sẽ gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng, loại papillary hoặc follicular. Nguồn quang tuyến thông thường nhất đến từ việc trị liệu. Từ những năm 1920 -1950, bác sĩ thường sử dụng quang tuyến để chữa trị chứng sưng hạch hạnh nhân (tonsils, amidal) ở trẻ em, mụn ở mặt (acne) cũng như những chứng bệnh khác tại đầu & cổ. Những bệnh nhân này về sau, đa số đều bị ung thư tuyến giáp trạng.
Những loại quang tuyến dùng để chẩn bệnh như X-ray chụp hình phổi hoặc răng thường có lượng quang tuyến rất thấp so với loại quang tuyến dùng vào việc trị liệu. Tuy nhiên, khi dùng thường xuyên lượng quang tuyến có thể lên cao, nên thảo luận với bác sĩ, nha sĩ về việc dùng hình quang tuyến để chẩn bệnh và chỉ dùng khi cần thiết.

Một nguồn quang tuyến khác đến từ việc thử bom nguyên tử, những nhà máy chứa chất phóng xạ gặp tai nạn. Chẳng hạn như nguồn quang tuyến đến từ hậu quả phóng xạ nguyên tử (radioactive fallout) khi thử bom nguyên tử (tại Hoa Kỳ cũng như những nơi khác trên thế giới vào những năm 1950 - 1960), từ những trung tâm nguyên tử lực (nuclear power plants) gặp tai nạn (Chernobyl năm 1986) và chất phóng xạ thải ra từ những nhà máy sản xuất võ khí nguyên tử như Hansford tại tiểu bang Washington năm 1940. Những chất phóng xạ này thường là I-131

(I*). Trẻ em nhiễm phóng xạ idodine, tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng gia tăng rất cao khi trưởng thành.

• Thân quyến bị ung thư tuyến giáp trạng, loại medullary: Sự thay đổi, hay biến thái của di thể (gene) RET truyền từ cha mẹ đến con cái. Thử máu có thể tìm ra di thể RET đã biến thái. Khi tìm ra sự bất thường của di thể RET trong những bệnh nhân với ung thư tuyến giáp trạng, loại medullary, bác sĩ có thể đề nghị việc thử máu cho thân nhân của người bệnh hoặc có thể đề nghị việc cắt bỏ tuyến giáp trạng trước khi phát ung thư. Khi loại ung thư này tìm thấy ở nhiều người trong một gia đình, sách vở y học gọi là "familial medullary giáp trạng cancer" hoặc "multiple endocrine neoplasia (MEN) syndrome". Bệnh nhân với chứng MEN có thể bị một vài loại ung thư khác.
• Thân quyến bị bướu cổ (goiter) hoặc polyp tại ruột già: Tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng loại papillary gia tăng trong những người có thân quyến bị bướu cổ hoặc bị chứng polyps ở ruột già & trực tràng.
• Bị bướu cổ hay nổi khối u tại tuyến giáp trạng gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng.
• Phái tính: Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng ở phụ nữ cao gấp 2-3 lần phái nam
• Tuổi tác: Bệnh nhân với chứng ung thư tuyến giáp trạng thường ở tuổi 40 trở lên. Bệnh nhân với loại anaplastic thường ở tuổi 60 trở lên.

• Iodine & cách dinh dưỡng: Tuyến giáp trạng cần iodine để tạo nội tiết tố giáp trạng. Iodine có trong hải sản như tôm cua và muối iodized. Thiếu iodine trong thức ăn có thể gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng, loại follicular; quá nhiều iodine có thể gia tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng loại papillary.

Triệu chứng

Ung thư tuyến giáp trạng thường không gây triệu chứng cho đến khi vào thời kỳ trầm trọng:

• Khối u trước cổ gần quả táo Adam (nếu là phái nam)
• Khản tiếng hoặc phát âm khó khăn
• Sưng tấy hạch bạch huyết, nhất là những hạch ở quanh cổ.
• Khó nuốt, khó thở
• Rát cổ họng

Ngoài ung thư tuyến giáp trạng, những triệu chứng kể trên có thể xuất hiện khi bị nhiễm trùng, bị bướu cổ hoặc những chứng bệnh khác. Nên đi khám bệnh để tìm nguyên nhân.
Chẩn bệnh

Khi có một hoặc nhiều triệu chứng kể trên, nên đi khám bệnh. Bác sĩ ghi nhận bệnh sử và thực hiện một hoặc nhiều loại thử nghiệm sau:

• Khám tổng quát: Bác sĩ sờ nắn vùng cổ, tuyến giáp trạng, hạch bạch huyết và soi thanh quản để tìm dấu hiệu của sự sưng trướng.

• Thử máu để thẩm định lượng thyroid-stimulating hormone (TSH), quá nhiều hay quá ít nội tiết tố này có nghĩa là tuyến giáp trạng không hoạt động bình thường. Khi bác sĩ truy tìm loại ung thư medullary, sẽ đo lượng calcium trong máu hoặc lượng calcitonin trong máu.

• Siêu âm: Dụng cụ này dùng sóng âm thanh để chụp hình thể của tuyến giáp trạng và tìm kiếm những khối u; nếu có, đo kích thước của những khối u và thẩm định xem những khối u này có chứa chất lỏng hay không. Khối u chứa chất lỏng thường là bướu lành, khối u đặc là bướu độc.

• Radionuclide scanning: Bệnh nhân uống dung dịch chứa chất phóng xạ, chất phóng xạ theo máu luân lưu khắp cơ thể. Những khối u "thấm" chất phóng xạ xuất hiện rõ trên màn hình. Khối u có ít chất phóng xạ hơn những tế bào chung quanh được gọi là khối u lạnh (cold nodule), những khối u lạnh có thể là bướu độc hay ung thư. Những khối u nóng (hot nodules) "thấm" nhiều chất phóng xạ hơn những tế bào chung quanh thường là những bướu lành.

• Sinh thiết: Làm sinh thiết là cách chẩn bệnh ung thư chính xác nhất. Bác sĩ làm sinh thiết bằng cách dùng kim hoặc dao mổ:

- Fine-needle aspiration: Bác sĩ dùng một kim nhỏ và hút tế bào từ tuyến giáp trạng để thử nghiệm. Đôi khi, siêu âm được sử dụng để định chỗ của khối u, giúp việc lấy tế bào dễ dàng hơn.
- Giải phẫu: Bác sĩ dùng dao mổ mở ra một vùng da ở cổ để lấy tế bào giáp trạng làm sinh thiết.

Quý vị có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh thiết):

-Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
-Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
-Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết? Có đau đớn lắm không?
-Làm sinh thiết có rủi ro không? Có gây ra việc lan tràn ung thư không? Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
-Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho tôi hiểu?
-Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước sắp tới? Và bao giờ?

Định kỳ ung thư

Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ cần định kỳ ung thư trước khi hoạch định cách chữa trị. Định kỳ ung thư là việc đo kích thước khối u, thẩm định xem ung thư đã lan chưa, nếu đã lan tràn thì lan đến bộ phận nào.

Ung thư tuyến giáp trạng lan đến hạch bạch huyết, phổi và xương. Khi ung thư lan từ nơi xuất phát đến bộ phận khác, khối u mới có cùng loại tế bào như khối u khởi thủy. Thí dụ, nếu ung thư tuyến giáp trạng lan đến phổi, tế bào ung thư tại phổi là tế bào ung thư tuyến giáp trạng; đây là ung thư tuyến giáp trạng lan đến phổi, không phải ung thư phổi. Do đó, căn bệnh được chữa trị như ung thư tuyến giáp trạng. Bác sĩ gọi loại ung thư lan tràn là "metastatic disease" hay ung thư di căn.

Việc định kỳ có thể bao gồm một hoặc nhiều loại thử nghiệm: Bác sĩ có thể dùng siêu âm, MRI, CT để tìm xem ung thư đã lan đến hạch bạch huyết hoặc đã lan ra những nơi khác trong vùng cổ. Đôi khi, bác sĩ dùng những loại dụng cụ dùng chất phóng xạ để tìm ung thư, radionuclei scan, khắp thân thể gọi là "diagnostic I-131 whole body scan". Tế bào ung thư tuyến giáp trạng trong thân thể thu nhận chất phóng xạ này.

Chữa trị

Tùy theo loại ung thư, thời kỳ ung thư, kích thước khối u, tuổi tác và ung thư đã lan hay chưa, ung thư tuyến giáp trạng có thể được chữa trị bằng cách giải phẫu, Iodine chứa chất phóng xạ (radioactive iodine), nội tiết tố, ngoại quang tuyến (external radiation), hoặc hóa chất. Đôi khi một hoặc nhiều cách chữa trị được sử dụng cùng lúc.

Bác sĩ có thể giới thiệu quý vị đến một chuyên viên, hoặc quý vị có thể nhờ bác sĩ giới thiệu đến chuyên viên bác sĩ chuyên khoa về tuyến nội tiết, endocrinologist; bác sĩ chuyên khoa về việc chữa trị tuyến giáp trạng hay "thyroidologist". Những chuyên viên chữa trị ung thư bao gồm bác sĩ chuyên khoa chuyên khoa ung thư, bác sĩ xạ trị ung thư hoặc bao gồm cả chuyên viên điều dưỡng về ung thư và dinh dưỡng.

Giải phẫu và ngoại xạ trị là loại chữa trị tại chỗ, cắt bỏ hoặc diệt trừ ung thư. Khi ung thư đã lan xa, việc chữa trị "tại chỗ" có thể dùng để giảm triệu chứng.

Nội tiết tố giáp trạng, radioative iodine và hóa chất là những loại chữa trị toàn thân. Những chất này theo máu luân lưu khắp cơ thể, diệt trừ tế bào ung thư khắp nơi.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, bác sĩ cũng có thể dùng những cách chữa phụ, giảm đau, giúp bệnh nhân dễ chịu gọi là supportive care.

Nên thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày ra sao. Hóa chất và xạ trị thường gây hư hoại các tế bào bình thường nên phản ứng phụ thường xảy ra. Phản ứng phụ không đồng nhất cho mọi người, và có thể thay đổi từ lần chữa trị này sang lần chữa trị khác.

Trước khi bắt đầu bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về việc trị liệu và phản ứng phụ có thể xảy ra, và cách tiết giảm.

Trước khi chữa trị, bệnh nhân nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:

 Chứng bệnh của tôi ở thời kỳ nào?
 Tôi bị loại ung thư nào?
 Làm thế nào để lấy bản sao của bản tường trình từ bác sĩ Bệnh Lý (pathologist)?
 Những cách chữa trị nào có thể dùng được? Bác sĩ đề nghị cách nào, lý do tại sao? Các cách chữa trị có thay đổi không?
 Tôi sẽ bị những biến chứng gì? Làm cách nào để giảm bớt những biến chứng này?
 Có biến chứng nào ảnh hưởng lâu dài hay không?
 Cách chữa trị có ảnh hưởng nhiều đến đời sống hằng ngày hay không?
 Có cuộc thử nghiệm lâm sàng nào cho chứng bệnh của tôi hay không?
 Tôi có cần đi khám bệnh định kỳ thường xuyên không?

Giải phẫu

Giải phẫu là phương cách thông thường nhất để chữa trị ung thư tuyến giáp trạng, bác sĩ có thể cắt bỏ một phần hoặc toàn thể tuyến giáp trạng tùy theo loại tế bào, thời kỳ ung thư, kích thước khối u và tuổi tác của bệnh nhân.

Có hai cách giải phẫu chính:

a. Cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp trạng (total thyroidectomy): Ngoài tuyến giáp trạng, bác sĩ cắt bỏ cả hạch bạch huyết ở cổ và đôi khi, cả những tế bào khác quanh tuyến giáp trạng. Khi tìm thấy tế bào ung thư tại hạch bạch huyết có nghĩa là ung thư đã lan ra những nơi khác trong thân thể. I-131 và ngoại quang tuyến có thể cũng được sử dụng trong việc chữa trị những bệnh nhân này.

b. Cắt bỏ một thùy (lobectomy) là cách để chữa trị một số bệnh nhân với loại ung thư papillary hoặc follicular. Bác sĩ có thể cắt bỏ những tế bào chung quanh hoặc cả hạch bạch huyết, I-131 và ngoại quang tuyến có thể cũng được sử dụng trong việc chữa trị những bệnh nhân này.

Hầu như mọi bệnh nhân sau khi giải phẫu đều cần uống (thuốc) nội tiết tố giáp trạng.
Nếu bác sĩ cắt bỏ cả tuyến cận giáp, bệnh nhân sẽ cần uống thêm calcium và sinh tố D suốt đời.
Đôi khi, giải phẫu gây hư hoại thần kinh hoặc bắp thịt và tạo ra việc thay đổi giọng nói hoặc vai cao vai thấp.

Trước khi giải phẫu, quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:

-Bác sĩ sẽ thực hiện cách giải phẫu nào cho tôi?
-Có cần cắt bỏ hạch bạch huyết hay không? Tuyến cận giáp có phải cắt bỏ không? Tại sao?
-Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
-Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
-Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không? Nhiễm trùng, sưng trướng, chảy máu?
-Tôi có cần dùng nội tiết tố giáp trạng không? Nếu cần thì bao giờ bắt đầu? Tôi có cần dùng thuốc suốt đời không?
-Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?

Nội tiết tố giáp trạng

Sau khi giải phẫu và dùng I-131, bệnh nhân cần nội tiết tố giáp trạng để thay thế lượng nội tiết tố do cơ thể tạo ra. Tuy nhiên nội tiết tố cũng được dùng để chữa trị ung thư tuyến giáp trạng loại papillary hoặc follicular. Nội tiết tố khiến tế bào giáp trạng tăng trưởng chậm lại.

Nội tiết tố giáp trạng hiếm khi tạo phản ứng phụ. Bác sĩ sẽ thử máu thường xuyên để thẩm định lượng nội tiết tố hiện diện trong máu. Quá nhiều nội tiết tố giáp trạng sẽ gây xuống ký, gia tăng thân nhiệt và đổ mồ hôi, đôi khi đau lồng ngực, vọp bẻ ở bắp thịt và tiêu chảy, những triệu chứng này gọi chung là hyperthyroidism. Khi thiếu nội tiết tố giáp trạng, bệnh nhân sẽ lên ký, cảm thấy lạnh, khô da và khô tóc, những triệu chứng này gọi chung là hypothyroidism.

Hãy thảo luận với bác sĩ trước khi uống nội tiết tố giáp trạng:

- Tại sao tôi cần thuốc này?
- Thuốc này có công dụng gì?
- Tôi phải dùng thuốc bao nhiêu lâu?

Radioactive iodine (radioiodine therapy) Iodine chứa chất phóng xạ (I-131)
Iodine chứa chất phóng xạ (I-131) được dùng để chữa trị ung thư tuyến giáp trạng loại papillary hoặc follicular. Chất này huỷ diệt tế bào ung thư và tế bào giáp trạng bình thường còn sót lại sau khi giải phẫu. Loại thuốc này được dùng với một lượng nhỏ nên không tạo phản ứng phụ với những người bị dị ứng. I-131 thấm qua ruột non vào máu luân lưu khắp cơ thể rồi tích tụ lại ở những tế bào giáp trạng. Những tế bào giáp trạng ung thư khắp nơi trong cơ thể sẽ bị hủy diệt bởi I-131.

Khi lượng iodine thấp, bệnh nhân có thể uống thuốc tại nhà. Nếu cần dùng một lượng iodine cao, bệnh nhân sẽ ở bệnh viện trong những phòng cách ly để những người chung quanh không bị nhiễm chất phóng xạ. Lượng phóng xạ sẽ giảm khỏi cơ thể trong vài ngày và hoàn toàn ra khỏi cơ thể trong 3 tuần lễ.

Trong thời gian chữa trị, bệnh nhân có thể bảo vệ bàng quan bằng cách uống nhiều nước; uống nhiều nước giúp cơ thể đào thải I-131 dễ dàng.

Một vài bệnh nhân bị buồn nôn, ói mửa trong ngày đầu tiên; vài người bị sưng trướng tại tuyến giáp trạng. Khi ung thư lan xa, những vùng cơ thể nhiễm ung thư có thể đau đớn.

Bệnh nhân có thể bị khô miệng hoặc mất vị giác trong một thời gian ngắn sau khi dùng I-131, nhại kẹo cao su hoặc ngậm kẹo sẽ bớt khô miệng.

Nam bệnh nhân có thể bị hiếm muộn, phụ nữ cần ngừa thai một năm sau khi chữa trị.
Một số nhỏ bệnh nhân bị ung thư nhiều năm sau khi dùng I-131.
Một lượng lớn I-131 cũng diệt tế bào giáp trạng bình thường, sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần dùng nội tiết tố giáp trạng để bù cho việc cơ thể không còn tiết ra nội tiết tố giáp trạng nữa.

Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng I-131 để chữa trị:

-Tại sao tôi cần được chữa trị bằng loại thuốc này?
- Thuốc này có tác dụng gì?
-Tôi cần làm gì để tự chăm sóc trong khi chữa trị?
-Tôi có cần vào bệnh viện để chữa trị không? Nếu cần thì ở bệnh viện bao lâu?
- Làm thế nào để bảo vệ thân quyến tôi? và trong thời gian bao lâu?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không? Tôi có cần tránh các thức ăn uống chứa iodine không? Nếu cần thì tránh bao nhiêu lâu? Việc chữa trị ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày ra sao?
- Phản ứng phụ của I-131 là những gì? Tôi cần làm gì để giảm phản ứng phụ?
- Trong tương lai, tôi có dùng I-131 nữa không?

Ngoại xạ trị
Dùng tia quang tuyến cao độ để đốt tế bào ung thư. Ngoại quang tuyến được dùng tại nơi ung thư nên chỉ ảnh hưởng đến phần cơ thể đó. Ngoại quang tuyến được sử dụng sau khi dùng I-131 không có kết quả, thường chữa 5 ngày mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.

Hầu hết bệnh nhân được chữa trị tại bệnh viện, mỗi lần chữa trị chỉ kéo dài vài phút. Phản ứng phụ thường tùy thuộc vào lượng phóng xạ sử dụng và nơi chữa trị. Xạ trị tại cổ thường gây khô, rát miệng và cổ họng, khản tiếng, khó nuốt; vùng da trên cổ bị nóng rát, tấy đỏ.
Nên thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày ra sao. Trước khi bắt đầu bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về việc trị liệu và phản ứng phụ có thể xảy ra, và cách tiết giảm.

Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu chữa trị:

- Mục đích của việc chữa trị là gì?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào?
- Có cách nào phòng ngừa không?
- Có phản ứng phụ lâu dài nào không?
- Khi nào thì bắt đầu? Bao lâu thì chữa trị xong?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?

Hóa chất trị liệu

Bác sĩ dùng hóa chất để hủy hoại tế bào ung thư, thuốc theo máu luân lưu khắp cơ thể nên được xem là một loại chữa trị toàn thân (systemic), tại tuyến giáp trạng và khắp cơ thể. Đây là các chữa trị dùng cho ung thư loại anaplastic và giảm triệu chứng cho các loại ung thư khác.

Thuốc được chích vào mạch máu, theo máu luân lưu khắp cơ thể diệt trừ tế bào ung thư khắp nơi. Bệnh nhân có thể ở tại bệnh viện, trung tâm y tế văn phòng bác sĩ, hoặc tại nhà.
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại cho những tế bào lành mạnh, nên thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại và lượng thuốc sử dụng. Hóa chất thường ảnh hưởng đến những tế bào tăng trưởng nhanh chóng như tế bào lót màng nhày trong miệng. Phản ứng phụ thường thấy nhất là buồn nôn, ói mửa, lở miệng, biếng ăn và rụng tóc. Các phản ứng phụ này sẽ thuyên giảm và châm dứt sau khi hoàn tất việc chữa trị.

Trước khi chữa trị qúy vị nên đặt câu hỏi với bác sĩ:

- Mục đích của việc chữa trị là gì?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào?
-Có cách nào phòng ngừa không?
- Có phản ứng phụ lâu dài nào không?

Ý kiến thứ nhì

Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu.

Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Khám bệnh định kỳ

Bệnh nhân cần gặp bác sĩ để khám bệnh theo định kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể. Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ. Ngoài ra, việc theo dõi lượng nội tiết tố giáp trạng rất quan trọng, bác sĩ sẽ đo mực thyroglobulin trong máu (nội tiết tố giáp trạng được dự trữ trong tuyến giáp trạng dưới hình thái thyroglobulin). Khi tuyến giáp trạng bị cắt bỏ, lượng thyroglobulin sẽ rất thấp hoặc không có trong máu. Khi tìm thấy một lượng thyroglobulin cao, có nghĩa là ung thư đã tái phát.

Khoảng 6 tuần lễ trước khi đo lượng thyroglobulin, bệnh nhân phải ngừng uống nội tiết tố giáp trạng và dùng một loại nội tiết tố có hiệu lực ngắn hạn. Tuy nhiên, bệnh nhân cần ngưng tất cả mọi loại nội tiết tố giáp trạng khoảng một tuần lễ trước khi đo thyroglobulin. Việc này bệnh nhân rất mệt mỏi, lên ký. Sau khi thử máu, bệnh nhân sẽ tiếp tục uống nội tiết tố giáp trạng để duy trì cơ thể.

Bác sĩ có thể dùng TSH chích vào cơ thể. Nếu có tế bào giáp trạng còn sót lại, các tế bào này sẽ tạo ra thyroglobulin và lượng thyroglobulin sẽ lên cao trong máu. Bệnh nhân dùng TSH sẽ không cần ngưng uống nội tiết tố giáp trạng.

Bệnh nhân được chữa trị chứng medullary sẽ cần thử nghiệm mức calcitonin và các chất khác trong máu.

Ngoài việc thử máu, việc khám bệnh có thể bao gồm:

- Siêu âm tại cổ để tìm dấu vết ung thư
- Scan toàn thân, bệnh nhân ngưng dùng nội tiết tố giáp trạng trong nhiều tuần lễ hoặc dùng TSH. Bệnh nhân cần ngưng ăn tôm cua (chứa nhiều iodine) trong 1-2 tuần lễ trước khi scan. Bác sĩ chích một lượng nhỏ chất phóng xạ, tế bào ung thư sẽ thu nhận chất phóng xạ, và scan sẽ nhận ra những nơi có tế bào ung thư.
- PET scan: Bác sĩ chích một lượng nhỏ đường phóng xạ, tế bào ung thư dùng đường phóng xạ nhiều hơn tế bào bình thường, và scan sẽ nhận ra những nơi có tế bào ung thư.
- CT scan và MRI

Dinh dưỡng

Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.

Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.

Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins), và khoáng chất (minerals).

Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.

Những nguồn trợ giúp

Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.

Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn trợ giúp chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn trợ giúp có thể bao gồm:

Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng. Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…

Những nhóm trợ giúp: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những nhóm trợ giúp này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet.

Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình trợ giúp, dịch vụ và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.

Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư

Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất.
Các chương trình nghiên cứu để chữa trị bao gồm cách dùng chung nhiều loại hóa chất, dùng chung hóa chất với sinh hóa tố và các cách chữa trị khác.

Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu hiệu quả hơn.

Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials. Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư.

Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.

Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng “gov”)

Tài liệu

Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình. Thư từ gửi về:

Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322

Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)

- Hóa chất trị liệu và quý vị (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và quý vị (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu quý vị bị ung thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies: Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Giúp đỡ những người bị ung thư (Taking Time: Support for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)
* NIH tài liệu 07-4994, tháng Mười, 2007

Bác sĩ Trần Lý Lê, Chuyên Khoa Nội Thương và Khảo Cứu Ung Thư


Ly-Le Tran, MD, JD, FCLM
Global Head, Life Cycle Optimization
Novartis Oncology
Novartis Pharmaceuticals Corporation
One Health Plaza, Bldg 105
East Hanover, NJ 07936-1080
USA
Phone: +1 862 7787182
Asst: +1 862 7783315 (Janice VanHise)
Email : lyle.tran@novartis.com

Ngoc N Hao  
#83 Posted : Wednesday, June 8, 2011 10:42:55 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Gan nhiễm mỡ


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức



LTS. Quý độc giả có thể đọc thêm bài viết của BS Nguyễn Ý Ðức trên trang mạng www.bsnguyenyduc.com.

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể với trọng lượng khoảng 1.4 kg.

Nằm ở phía trên bên phải của bụng, ngay dưới xương lồng ngực, gan có hai thùy. Thùy phải lớn và gồm có ba mảnh ghép với nhau. Thùy trái nhỏ hơn, nằm lên phần dạ dày tiếp cận với thực quản.

Về cấu tạo, gan có khoảng từ 50,000 tới 100,000 tiểu thùy nhỏ với một tĩnh mạch ở giữa. Từ tĩnh mạch tỏa ra cả trăm tế bào gan đan xen với hệ thống ống dẫn mật và mạch máu nhỏ xíu. Gan có màu đỏ tươi tương tự như gan súc vật bày bán ở cửa hàng thịt.

Với khoảng 300 tỷ tế bào, gan có khả năng tự tái tạo và duy trì được chức năng dù chẳng may vì một lý do nào đó đã mất đi 90% khối lượng. Nhưng nếu cả trăm phần trăm tế bào gan bị hư hao vì bệnh tật thì con người chỉ sống nếu được ghép gan.

Gan tiếp nhận máu qua tĩnh mạch cửa và động mạch gan. Mỗi phút các mạch máu này chuyển qua gan khoảng 1.5 lít máu. Máu trong động mạch gan chứa nhiều oxy còn máu ở tĩnh mạch cửa chuyển tải các chất phế thải của sự tiêu hóa.

Gan được ví như một nhà máy chế biến hóa học cực kỳ tinh vi với cả trăm nhiệm vụ quan trọng khác nhau.

1. Gan là kho tiếp nhận đường glucose hấp thụ từ ruột non rồi tích trữ dưới dạng glycogen. Sau mỗi bữa ăn, khi đường huyết lên cao thì insulin từ tụy tạng sẽ thúc đẩy gan biến hóa glucose thành glycogen. Vài giờ sau đó, khi đường huyết xuống thấp, gan lại chuyển glycogen ra glucose, đưa vào máu và cung cấp cho các bộ phận có nhu cầu.

2. Ngoài vai trò kể trên, gan còn biến hóa đường và chất béo thành chất đạm và cũng làm chất đạm và chất béo biến thành glucose.

3. Gan chế tạo khoảng 0.5-0.9 lít mật mỗi ngày. Mật là chất lỏng mầu vàng-xanh, vị đắng với thành phần cấu tạo quan trọng nhất là muối mật, cần thiết cho sự tiêu hóa chất béo trong thức ăn.

4. Gan loại bỏ các chất độc hại như rượu, một vài loại dược phẩm như acetaminophen.

5. Gan tổng hợp ure, một phế chất trong sự chuyển hóa chất đạm và loại ra ngoài qua thận.

6. Gan hủy hoại các hồng huyết cầu hư hao, già nua cũng như tiêu diệt các vi khuẩn lẫn trong thực phẩm ở ruột.

7. Gan tích trữ các sinh tố A, B, D,E và K.

8. Gao tạo ra các chất đạm trong máu như albumin, globulin và yếu tố đông máu.

Gan nhiễm mỡ

Mới nghe gan nhiễm mỡ, nhiều bà con cũng giựt mình e ngại. E ngại vì gan có mỡ thì làm sao mà sống được.Thực tế ra thì trong gan cũng như các bộ phận khác của cơ thể, chỗ nào cũng có mỡ. Mỡ là thành phần cấu tạo của các tế bào. Chỉ khi nào mỡ trong gan quá 5% trọng lượng gan và lấn át, chiếm chỗ của các tế bào gan lành mạnh. thì mới có vấn đề. Khi đó thì gan sẽ có mầu vàng béo, lớn hơn và nặng hơn bình thường.

Cắt một lát mỏng ở gan không bệnh rồi quan sát qua kính hiển vi, ta thấy máu tràn ngập khoảng trống giữa các tế bào gan. Thành tế bào gan sẽ lấy đi các chất độc hại, vi khuẩn, chất béo khiến cho máu trở nên sạch sẽ. Do đó gan giữ vai trò của một cái lọc. Nếu bây giờ trong tế bào gan và khoảng trống lại đầy những chất béo thì việc lọc và các chức năng khác của gan sẽ suy giảm đưa tới hậu quả xấu cho cơ thể. Các chất béo này đa số thuộc nhóm triglycerit.

Có nhiều loại gan nhiễm mỡ:

1. Gan Nhiễm mỡ không do rượu

Bệnh rất phổ biến tại các quốc gia phát triển và chiếm 24% các bệnh về gan tại Hoa Kỳ. Bệnh có thể chỉ là tăng chất mỡ trong gan, không gây ra triệu chứng gì hoặc vừa tăng mỡ vừa bị viêm tế bào gan rồi đưa tới xơ gan.

Nguyên nhân chưa được biết rõ nhưng sau đây là một số rủi ro gây bệnh:

- Hội chứng chuyển hóa với chẩn đoán tiểu đường loại 2, mập phì, cao cholesterol/triglycerid trong máu. Bệnh thường thấy ở phụ nữ từ 40-60 tuổi nhưng cũng có thể xảy ra ở mọi giới mọi tuổi.

Ngoài ra, gan nhiễm mỡ cũng xảy ra vì các rủi ro khác như:

- Suy dinh dưỡng, thiếu chất đạm.

- Một số dược phẩm như amiodarone, tamoxifen, methotrexate, valproic acid, tetracycline, thuốc chống virus zidovudine.

- Phẫu thuật dạ dày để giảm cân.

- Ðộc chất, thuốc diệt sâu bọ.

- Bệnh Wilson trong đó khoáng chất đồng tích tụ trong gan. Bệnh âm thầm diễn tiến, đôi khi không có dấu hiệu rõ rệt. Một số than phiền đau ngầm ngầm nơi bụng trên, mệt mỏi, kém ăn. Khám bệnh, bác sĩ thấy gan hơi to. Xét nghiệm máu thấy men gan lên cao và sinh thiết gan cho hay trong tế bào gan có những túi chất béo nhỏ li ti. Ðiều trị căn bản nhắm vào việc loại bỏ các rủi ro gây bệnh cũng như duy trì mức độ đường huyết và cholesterol bình thường, giảm cân, không dùng các chất độc hại

2. Gan nhiễm mỡ do rượu

Mỗi ngày tiêu thụ trên 60 g rượu trong thời gian 10 năm là đủ gây ra bệnh gan nhiễm mỡ. Phụ nữ dễ bị bệnh này hơn nam giới dù chỉ dùng 1/3 số lượng rượu kể trên. Lý do là quý bà ít có loại men gan bảo vệ với sự hấp thụ chất rượu ở dạ dày. Bệnh cũng thường xảy ra cho người trong cùng huyết tộc, nhiễm viêm gan C, tiêu thụ nhiều chất béo không bão hòa động vật hoặc có quá nhiều chất sắt tích tụ ở gan.

Sau khi tiêu thụ, rượu được dạ dày và ruột non hấp thụ rồi hầu hết được oxy hóa, tạo ra các chất có khả năng cung cấp năng lượng cho cơ thể. Vì lẽ đó, các acid béo từ thức ăn không được dùng đến khiến cho triglycerid tích tụ trong gan và tăng chất béo trong máu.

Dấu hiệu bệnh không có gì đặc biệt: đau âm ỉ phía gan, mệt mỏi, tâm trí rối loạn, kém ăn, vàng da, gan to. Trường hợp trầm trọng sẽ có viêm tế bào gan, xơ hóa và xơ cứng gan.

Bệnh có thể chẩn đoán với gan lớn qua siêu âm, xét nghiệm tế bào gan thấy nhiễm mỡ trong tế bào gan.

Không có thuốc đặc trị cho bệnh gan nhiễm mỡ vì tiêu thụ quá nhiều rượu. Chỉ cần ngưng rượu khoảng dăm tuần lễ là tình trạng nhiễm mỡ được cải thiện liền. Sau đó, dinh dưỡng đầy đủ đúng cách, dùng thêm một số vitamin như các sinh tố nhóm B, khoáng chất vì người nghiện rượu thường thiếu các chất này.


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức M.D.

Texas-Hoa Kỳ. (Báo nguoiviet)





Ngoc N Hao  
#84 Posted : Thursday, June 9, 2011 4:26:40 PM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Bệnh tiểu đường loại 2 ở trẻ em.



BS. Nguyễn Thị Nhuận/Viễn Đông

Nguyên nhân chính của bệnh này chính là chứng mập phì, càng ngày càng xẩy ra nhiều ở trẻ em.


* Triệu chứng

Bệnh tiểu đường loại 2 ở trẻ em có thể phát triển từ từ khiến một số em không có triệu chứng gì cả. Các em khác có thể có những triệu chứng sau:

- Khát nước và đi tiểu nhiều: Chất đường lên cao trong máu, hút nước từ các mô tế bào khiến người bệnh bị khát nước. Họ sẽ uống rất nhiều nước và do đó đi tiểu rất nhiều.

- Lúc nào cũng đói: Vì cơ thể không làm ra đủ chất insulin là chất giúp đem đường vào các tế bào, bắp thịt và các cơ quan bị thiếu năng lượng, khiến người bệnh thấy đói.

- Xuống cân: Dù ăn rất nhiều do lúc nào cũng thấy đói, người bệnh lại xuống cân vì các tế bào không có được lượng đường cần thiết khiến các bắp thịt , mô chất béo bị co lại.

- Mệt mỏi: Do tế bào không có chất đường để làm ra năng lượng, người bệnh bị mệt mỏi, bực bội.

- Mắt bị mờ: Chất đường trong máu quá cao, hút nước từ thủy tinh thể của mắt khiến mắt không làm việc tốt được.

- Vết thương lâu lành và dễ bị nhiễm trùng: Bệnh tiểu đường khiến cơ thể giảm khả năng làm lành các vết thương và chống lại vi trùng.

- Da có những vùng bị sậm đen: Vùng nách và sau cổ thường bị sậm đen lại, đây là dấu hiệu cơ thể kháng chất insulin.


* Khi nào nên gặp bác sĩ?

Khi con em bạn có những tình trạng dễ bị tiểu đường loại 2, bạn nên cho con đi khám bệnh dù cháu chưa có triệu chứng tiểu đường. Ngăn ngừa sớm sẽ đề phòng được bệnh. Những tình trạng này gồm có:

- Có chỉ số BMI (body mass index, tức tỉ lệ giữa cân nặng và chiều cao) trong mức 85% trở lên. Bác sĩ có thể cân đo em rồi tính ra BMI theo công thức có sẵn.

- Có anh em, cha mẹ, ông bà hay chú bác cô dì bị bệnh tiểu đường loại 2.

- Thuộc giống dân da đen, da đỏ, gốc Á châu hay Thái Bình Dương.

- Có da sạm đen ở những vùng cổ và nách.

Nếu các em đã có triệu chứng bệnh tiểu đường loại 2 như đã kể trên, nên nói chuyện với bác sĩ va đem em đi khám bệnh ngay.


* Nguyên nhân

Bệnh tiểu đường xẩy ra khi cơ thể chống lại chất insulin hoặc tụy tạng của bệnh nhân không làm ra đủ chất insulin. Nguyên nhân vì sao thì chưa rõ. Tuy nhiên, những yếu tố như nặng cân quá khổ, ít vận động thân thể và di truyền góp phần không nhỏ vào cơ chế gây ra bệnh.
Để hiểu rõ những triệu chứng và những nguy hại của bệnh tiểu đường, ta cần biết về cơ chế tiêu thụ chất đường để làm ra năng lượng giúp cho sự sống của cơ thể.

- In sulin: chất tối cần thiết
Insulin là chất được tiết ra từ tụy tạng, một tuyến nội tiết nằm ngay sau bao tử. Khi chúng ta ăn, tụy tạng tiết insulin vào máu. Chất này mở những cánh cửa tí hon để chất đường vào tế bào khiến mức đường trong máu giảm xuống. Khi mực đường giảm xuống, tụy tạng sẽ giảm tiết ra insulin.

- Đường glucose: nguồn năng lượng
Đường glucose là nguồn năng lượng chính cho các tế bào của bắp thịt và các mô khác. Khi chúng ta ăn, đường trong thực phẩm được hấp thu vào máu. Gan cũng làm ra glucose vào máu. Sau đó glucose được insulin đưa vào tế bào để biến hóa thành năng
lượng.

- Gan: trung tâm sản xuất và tồn trữ glucose
Khi lượng insulin thấp (do nhịn ăn chẳng hạn), gan đưa ra glucose để giữ lượng đường trong máu ở mực bình thường.

Khi ta bị tiểu đường loại 2, các hoạt động này bị xáo trộn. Đường glucose không vào được tế bào nên lên cao trong máu, do tụy tạng không tiết ra đủ insulin hoặc do cơ thể chống lại insulin.


* Biến chứng

Vào thời gian đầu của bệnh, các cha mẹ thường chưa hiểu được tầm quan trọng của bệnh tiểu đường loại 2, nhất là khi các em chưa có những biến chứng nguy hiểm và còn thấy khỏe. Nhưng thực ra chúng ta cần coi trọng chứng bệnh này vì nó có thể làm hư hại gần như hầu hết những cơ quan chính trong cơ thể như tim, mạch máu, hệ thần kinh, mắt và thận. Giữ cho mực đường trong máu ở mức bình thường càng nhiều càng tốt là cách duy nhất ngăn ngừa những biến chứng quan trọng.

Những biến chứng có thể phát triển qua một thời gian dài nên khó nhận diện nhưng cuối cùng chúng sẽ đưa đến tử vong hay khiến cuộc sống khó khăn vì tàn tật.

- Bệnh tim mạch: Tiểu đường loại 2 sẽ dễ đưa đến những bệnh tim mạch nguy hiểm như bệnh tim, tai biến mạch máu não, cao cholesterol, cao huyết áp.

- Bệnh hệ thần kinh: Dây thần kinh bị hoại do mực đường cao khiến các mạch máu li ti nuôi dây thần kinh bị phá hư, nhất là nơi chân. Bệnh nhân sẽ bị tê rần, đau, rát như bị phỏng.

- Gan hóa mỡ (fatty liver): Đưa đến sẹo và xơ gan.

- Bệnh thận: Bệnh tiểu đường làm hư hại các mạch máu nhỏ rất nhiều trong thận, nơi các chất độc của cơ thể được lọc qua. Do đó càng phát bệnh sớm thì càng nguy vì sự phá hủy nặng và lâu ngày sẽ đưa đến suy thận giai đoạn cuối, cần lọc máu thường xuyên hay thay thận.

- Hư mắt: Tiểu đường làm hư các mạch máu trong võng mô hoặc có thể gây ra cườm mắt và tăng áp suất mắt.

- Hư chân: Dây thần kinh nơi chân bị hư hại hoặc máu chảy tới chân bị ít đi khiến đưa tới nhiều bệnh ở chân. Những vết cắt hay vết phồng ở chân nếu không để ý sẽ bị nhiễm trùng nặng.

- Bệnh da: Bệnh tiểu đường loại 2 làm da dễ bị nhiễm trùng, nhiễm vi nấm hay ngứa ngáy.

- Bệnh óc: Bệnh nhân tiểu đường loại 2 dễ bị bệnh lú lẫn, thoái hóa óc, nguyên nhân vì sao chưa được biết.


* Định bệnh

Sau đây là những thử nghiệm máu dùng để định bệnh tiểu đường:

- Glycated hemoglobin (A1C): cho biết mực đường trung bình trong vòng 2 tới 3 tháng trước. Con số A1C đo phần trăm đường cột vào chất hemoglobin của máu. Mức đường máu càng cao thì mức hemoglobin có chất đường cột vào càng cao. Trong 2 lần đo khác nhau, bệnh nhân có mức A1C bằng 6,5% hay cao hơn được coi là có bệnh tiểu đường. Kết quả từ 5,7 tới 6,4% là tình trạng tiền tiểu đường.

- Mức đường lúc đói (fasting blood sugar): mức đường trong máu được đo sau 1 đêm nhịn đói. Mức đường dưới 100mg/dL là bình thường. Từ 100 tới 125 mg/dL là tình trạng tiền tiểu đường, từ 126 trở lên trong 2 lần đo khác nhau là tiểu đường.

-Oral glucose tolerance test: sau 1 đêm bệnh nhân nhịn đói, người ta lấy máu để đo mức đường lúc đói. Kế đến, bệnh nhân được cho uống nước đường và mức đường được đo lúc 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ... sau đó. Mức đường lúc 2 giờ cao hơn 200mg/dL là tiểu đường, từ 140 tới 199 là tiền tiểu đường.

- Nếu em nhỏ được định bệnh là tiểu đường, bác sĩ sẽ cần làm thêm thử nghiệm để phân biệt giữa tiểu đường loại 1 và loại 2 vì cách điều trị sẽ khác nhau.



* Sau khi định bệnh


Nghe nói là mình bị tiểu đường, có lẽ các em sẽ không cảm nhận gì cả vì vẫn thấy bình thường trong người. Nhưng thật ra, đối với cha mẹ đây là một tin tức thuộc loại đáng lo vì gia đình và bệnh nhân sẽ phải để ý đến nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày, không còn được “thoải mái vô tư” như trước nữa. Đầu tiên hết là em nhỏ sẽ phải đến gặp nhiều người trong đội ngũ trị bệnh cho em mà nhiều nhất là gặp bác sĩ và chuyên viên dinh dưỡng. Bác sĩ sẽ làm nhiều thử nghiệm máu để biết rõ hiện trạng bệnh tình của em hầu có thể cho thuốc đúng để giúp mực đường trong máu của em càng gần con số bình thường càng tốt. Chuyên viên dinh dưỡng sẽ tìm hiểu thói quen ăn uống và khẩu vị của em để đề ra một chương trình ăn, sao để giúp mực đường trong máu không lên hay xuống bất tử. Sau khi mực đường trong máu của em đã ổn định, các em vẫn sẽ phải gặp bác sĩ thường xuyên để theo dõi bệnh một cách chặt chẽ bằng cách làm một số thử nghiệm định kỳ như mức A1C, mức cholesterol, đo hoạt động của tuyến giáp trạng, gan, và thận. Huyết áp và độ lớn của em cũng được theo dõi. Ngoài ra em còn cần được khám mắt định kỳ để xem có bị biến chứng vào mắt không.

* Chữa bệnh

Muốn được kết quả tốt, cha mẹ và bệnh nhân cần tham dự tối đa vào việc chữa bệnh, không phải cứ để mặc cho bác sĩ và chuyên viên tiểu đường lo liệu vì đây là một bệnh kéo dài trọn đời, đòi hỏi bệnh nhân phải chú ý đến những chuyện: đo mức đường trong máu thường xuyên, ăn uống đúng cách và lành mạnh, vận động thân thể thường xuyên, uống thuốc tiểu đường hay chích thuốc insulin đúng kỳ hạn, biết cách giữ cho mức đường không lên quá cao hay xuống quá thấp. Ngoài ra vì trẻ em ngày càng lớn lên, việc chữa trị phải cần được thay đổi để phù hợp với mức lớn này.

Trẻ em bị tiểu đướng cần theo dõi mức đường trong máu thường xuyên bằng cách đâm đầu ngón tay, nặn ra 1 giọt máu để thử. Các em cần chích insulin có thể phải thử máu ít nhất là 3 lần mỗi ngày. Thật là một việc không dễ dàng gì ngay cả cho người lớn, đừng nói gì trẻ con. Tuy nhiên cần phải thử máu thường xuyên để biết chắc là mức đường không lên quá cao hay xuống quá thấp, gây ra những biến chứng nguy hiểm. Bác sĩ sẽ cho biết mức đường ở khoảng nào là chấp nhận được, ngoài khoảng này, cần gọi bác sĩ hay đi cấp cứu. Nhiều thứ có thể ảnh hưởng lên mức đường: thức ăn, vận động, thuốc insulin, bệnh tật như cảm cúm...

Cha mẹ cần làm việc mật thiết với bác sĩ, chuyên viên tiểu đường và chuyên viên dinh dưỡng để giúp em có được mức đường càng bình thường càng tốt. Nếu cảm thấy quá choáng ngợp và khó khăn, nên nói chuyện với các chuyên viên kể trên và cố gắng chỉ chú trọng từng ngày một (one day at a time). Nên nhớ, dù cho theo đúng những chỉ dẫn, đôi khi mực đường trong máu vẫn có thể lên hay xuống bất thường, cha mẹ cần biết cách đối phó bằng những phương cách như thuốc, đồ ăn, vận động thân thể...

* Những biến chứng có thể xẩy ra trong lúc chữa bệnh

1. Mực đường hạ thấp

Khi mực đường trong máu hạ xuống thấp hơn bình thường quá nhiều, bệnh nhân có thể bị nguy hiểm đến tính mạng. Nguyên nhân đường xuống thấp có thể là vì bệnh nhân không ăn, vận động quá nhiều hay chích quá nhiều insulin. Cần phải để ý đến những triệu chứng sau:

- Ra mồ hôi, người run rẩy, buồn ngủ, đói bụng, khó chịu trong người, nhức đầu, cách cư xử thay đổi, lẫn lộn, không tỉnh táo.

Khi nhận ra những triệu chứng này, có thể chữa bằng cách cho uống nước trái cây, viên đường, kẹo ngậm, nước ngọt... tương đương với 15g chất đường và đo lại mức đường trong máu sau 15 phút. Nếu vẫn còn thấp, cho uống thêm 1 lượng đường nữa và đo lại sau 15 phút. Khi mực đường đã trở lại bình thường, cho ăn một món ăn kèm như bánh lạt và peanut butter để mực đường cố định lại. Nếu em nhỏ bị mê man, đây là trường hợp khẩn cấp cần đến cấp cứu ngay để được chích thuốc glucagon.

2. Mực đường lên quá cao

Em nhỏ có thể bị tăng mức đường trong máu khi ăn quá nhiều, không chích đủ insulin hay bị một bệnh nào đó. Triệu chứng gồm có: đi tiểu nhiều, khát nước nhiều, miệng khô, mắt nhìn bị mờ, mệt mỏi, buồn nôn.

Cần tự thử máu để biết mức đường khi có những triệu chứng trên. Có thể phải điều chỉnh lại cách ăn uống hoặc thuốc chích. Nếu mực đường cứ tiếp tục cao, qua khỏi mức cho phép, cần gọi bác sĩ hay đi cấp cứu ngay.

3. Tăng chất ketones trong nước tiểu

Khi các tế bào trong người thiếu năng lượng (do không đủ insulin đem đường vào), cơ thể sẽ làm tan mỡ trong người khiến sản xuất ra chất ketone là một chất độc khi tích tụ trong máu quá nhiều. Triệu chứng: không muốn ăn, buồn nôn, ói mửa, sốt, đau bụng, hơi thở có mùi ngọt như trái cây, lẫn lộn, khó thở, mệt lả. Nếu nghi ngờ em bị dư ketones, nên thử nước tiểu, nếu có chất ketone, cần gọi bác sĩ hay đi cấp cứu ngay.


* Sống với bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là một bệnh nguy hiểm và quan trọng. Tuy nhiên nếu theo đúng lời chỉ dẫn của các chuyên viên và kiểm soát mực đường chặt chẽ, các em vẫn có thể sống đời khỏe mạnh và tránh được nhiều biến chứng. Cần có:

- Cố vấn và hỗ trợ

Các chuyên viên về tâm lý có thể giúp bệnh nhân chấp nhận những thay đổi cần thiết trong cuộc sống hằng ngày để có thể kiểm soát được bệnh. Ngoài ra, cũng nên tham dự những nhóm hỗ trợ gồm những bệnh nhân đồng cảnh ngộ để được nâng đỡ tinh thần cũng như biết được những tin tức mới nhất về căn bệnh. Có thể vào website của American Diabetic Association để tìm nhóm hỗ trợ cũng như những tin tức cập nhật nhất.

- Khuyến khích các em tự lo lấy cho mình

Khi các em lớn hơn, nên dậy cho các em cách thử máu theo dõi mức đường, cách tính phần ăn để khỏi quá mức đường, và cách chích insulin. Sự tham dự tích cực của các em vào sự chữa trị rất quan trọng vì đây là căn bệnh kéo dài suốt đời. Các em cũng nên quen thân với những chuyên viên tiểu đường trị bệnh cho mình và đeo tấm lắc nói rõ mình bệnh tiểu đường (medical ID tag)


* Phòng ngừa bệnh tiểu đường loại 2 ở trẻ em

Sống lành mạnh là phương cách chính để ngăn ngừa bệnh tiểu đường loại 2. Đối với các em đã mắc bệnh, sống lành mạnh cũng là cách để chữa bệnh tốt, tránh được dùng thuốc. Nên:

- Ăn thức ăn lành mạnh, tức ít chất béo và đường. Ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc sử dụng nguyên hạt. Thay đổi nhiều thứ khác nhau cho khỏi chán.

- Vận động thân thể thường xuyên. Nên đứng lên đi bộ, chạy bộ, làm việc trong nhà thay vì ngồi một chỗ trước máy vi tính, bày ra những tò chơi tập thể cho cả gia đình để ai cũng tham dự được.

- Giảm bớt cân.

Những lối sống lành mạnh trên có thể áp dụng cho cả gia đình, không riêng gì cho các em bị mắc bệnh.


© ViễnĐôngDailynews








thunder  
#85 Posted : Friday, June 10, 2011 4:10:05 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Cảm, cúm đang hoành hành mạnh!


Theo thăm dò của viện thống kê Gallup, năm nay, 2011, là năm chúng ta ở Mỹ bị cảm (cold) và cúm (flu) tấn công mạnh, nhiều hơn hai năm trước.

Viện Gallup làm thăm dò bằng cách gọi hỏi 1000 người ở Mỹ mỗi ngày xem họ có bị cảm hay cúm trước đó không, và theo viện Gallup, vào tháng Giêng vừa qua, 10.2% số người được hỏi cho biết họ đã bị cảm, và 3.1% số người được hỏi cho biết họ đã bị cúm trong mùa đông này. Các con số này cao hơn so với các con số thăm dò của hai năm trước.

Đặc biệt, cảm và cúm tấn công mạnh ở các vùng miền Đông Hoa Kỳ. (Những vùng bên đó đã lạnh lẽo hơn Cali ta nhiều, vị nào bị cảm, cúm hành, khiến càng lạnh thêm từ trong lạnh ra, thực khổ.)

Những con số của viện Gallup đưa ra cũng phù hợp với báo cáo của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh (Centers for Disease Control and Prevention), theo dõi bệnh cúm sát từng mùa, cho thấy quả cúm đang thiệt dữ, và tại 30 tiểu bang, cúm đến khắp mọi vùng trong 30 tiểu bang này.

Hiện giờ đã có 19 người, từ 13 tiểu bang, trong đó có cả trẻ em, chết vì cúm.
Có 3 phương cách chúng ta có thể làm để ngừa cúm. Cảm nhẹ hơn cúm, chưa có thuốc ngừa và chữa, nhưng những cẩn thận hàng ngày giúp chúng ta ngừa cúm cũng ngừa luôn được cảm.

Thuốc ngừa cúm

Đầu tiên, nếu chúng ta chưa dùng thuốc ngừa cúm, hãy hỏi và nhờ bác sĩ dùng thuốc ngừa cúm cho mình. Thuốc ngừa cúm là cách tốt nhất bảo vệ ta chống lại cúm.
Vì mùa cúm có thể kéo dài mãi đến tháng Năm, dùng thuốc ngừa cúm bây giờ vẫn tốt. Hơn nữa, thuốc giúp chống ba dòng siêu vi cúm khác nhau, nên mặc dầu cộng đồng chỗ chúng ta cư ngụ có đang bị một dòng siêu vi cúm tấn công, thuốc vẫn có thể bảo vệ, chống những dòng siêu vi cúm khác biết đâu cũng sẽ xuất hiện làm loạn. Bây giờ, văn phòng một số vị bác sĩ có thể đã hết thuốc chích ngừa cúm, nhưng nhiều bác sĩ khác vẫn còn, chúng ta thử gọi hỏi quanh, may ra tìm được chỗ còn thuốc.

Ai muốn tránh cúm nên chích ngừa cúm, nhưng đặc biệt những người sẽ có thể bị những biến chứng nặng do cúm (chẳng hạn, trẻ em, các vị cao niên, phụ nữ mang thai, người đang mang những bệnh nặng), và cả người sống chung, chăm sóc cho những vị này, lại càng cần chích ngừa cúm.

Người trong hạn tuổi 2-49 và khỏe, không có bệnh gì quan trọng, có thể ngừa cúm với thuốc xịt FluMist.

Cẩn thận mỗi ngày

Thứ nhì, mỗi ngày nếu cẩn thận, chúng ta có thể giúp ngăn chặn sự lan rộng của nhiều bệnh đường hô hấp, trong đó có cảm và cúm. Khi ho, chúng ta quay mặt đi, và dùng khuỷu tay che miệng, chớ nên dùng bàn tay che miệng. Hoặc chúng ta che miệng, mũi với khăn giấy khi ho, hắt xì, hỉ mũi, sau đó đi rửa tay ngay với nước và xà bông. Chúng ta ở nhà nếu chúng ta bịnh, đi học, đi làm sẽ lây cho người khác. Và cũng nhớ cố tránh đưa tay lên sờ mắt, mũi, miệng, vì siêu vi cúm có thể lây truyền qua đường này dễ dàng.

Nên luôn cảnh giác, nghĩ đến các triệu chứng của cúm: sốt cao, nhức đầu, mệt đừ, ho khan, đau họng, chảy hay nghẹt mũi, và đau nhức các bắp thịt. Nếu có những triệu chứng này, nhớ tránh xa người khác để khỏi lây bệnh cho họ. Khi chúng ta ho và không che miệng, nước miếng của ta trong chứa siêu vi cúm có thể bắn ra và gây lây nhiễm trong vòng 6 feet (khoảng 2 mét).

Thuốc chống siêu vi cúm

Và thứ ba, có thuốc chống siêu vi cúm (influenza antiviral drugs, không phải là trụ sinh) được công nhận để chữa và ngừa cúm. Dùng chữa bệnh, những thuốc này rút ngắn thời gian bị bịnh và khiến các triệu chứng của bạn nhẹ hơn. Chúng cũng có thể ngừa những biến chứng nặng do cúm. Thuốc cần toa bác sĩ và để có hiệu quả, nên được dùng sớm trong vòng 48 tiếng khi triệu chứng cúm mới xảy ra.

Nếu bỗng dưng ngã bệnh với những triệu chứng nặng của cúm trong mùa này, chúng ta nên đi khám bác sĩ ngay. Bác sĩ sẽ thăm khám, cân nhắc xem có phải ta quả bị cúm, nặng hay nhẹ, thời gian nhiễm bệnh còn sớm trong vòng 48 tiếng hay đã quá 48 tiếng, các phản ứng phụ của thuốc, v.v., trước khi quyết định có khuyên chúng ta dùng thuốc chống siêu vi cúm hay không. Những trường hợp bệnh nhẹ hoặc đang giảm dần không cần đến thuốc (thuốc đắt tiền và có thể gây tác dụng phụ).

Trong trận chiến với cúm, thuốc chống siêu vi cúm là phòng thủ quan trọng hàng thứ nhì của chúng ta sau thuốc ngừa cúm. Hai thuốc chống siêu vi được khuyên nên dùng để chữa cúm trong mùa đông này ở Mỹ: thuốc uống Tamiflu (oseltamivir) và thuốc xịt Relenza (zanamivir).

Vậy, mùa này, cảm và cúm đang dữ, chúng ta hãy thực hành những cách giản dị kể trên để tự bảo vệ mình, và cả cho người khác, ngăn chặn sự lây lan của cảm, cúm. Cố tránh đưa tay lên mặt sờ mắt, mũi, miệng, và nhớ rửa tay thường với nước và xà bông

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

thunder  
#86 Posted : Friday, June 10, 2011 4:20:53 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

THUỐC HO


Mùa lạnh là mùa của bệnh đường hô hấp, nơi nơi rền vang tiếng ho, thuốc ho bán chạy như tôm tươi. Khúc khắc ho chút, nhiều vị vội đem thuốc ho ra uống. Thuốc ho đầy bên ngoài; đi khám bệnh hỏi, các bác sĩ cũng sẵn lòng biên toa. Ai cũng ngại ho lâu (sợ biến thành lao, ung thư, ...), mong uống vài liều thuốc, ho sẽ biến mất. Song thuốc ho không hẳn an toàn, và không phải trường hợp ho nào cũng cần đến.
Ở Mỹ, thuốc ho xuất hiện ngày càng thêm lắm, tên nọ tên kia, nhưng quanh quẩn cũng chỉ chứa vài chất pha đi trộn lại với những tỉ lệ khác nhau.

Những chất trong thuốc ho

Thường thuốc ho chứa những chất sau đây:

1. Chất chống ho (antitussives):

Codeine và dextromethorphan là hai chất có tác dụng chống ho qua cơ chế ức chế trung khu ho trên óc. Chúng được pha trong đa số các thuốc ho, và hữu hiệu với những trường hợp ho kinh niên ở người lớn.

Còn trong những trường hợp ho cấp tính như khi ta bị cảm, cúm (ho độ 1 tuần 10 ngày), rất ít khảo cứu được làm để tìm hiểu xem chúng có giúp hay không, đã thế, khảo cứu này thì bảo có, khảo cứu kia lại nói không. Có nghĩa rằng khi nhiễm cảm, cúm và ho đến ngủ không được, phiền cả người khác, chúng ta muốn thử thuốc ho thì thử, song không chắc chúng có giúp gì nhiều, nên kiên nhẫn độ 1 tuần 10 ngày ho sẽ bớt. [Bác sĩ khổ nhất vào lúc này, mới vài ngày người bệnh lại đến kỳ kèo, phàn nàn sao cho thuốc ho uống không bớt, đòi dùng trụ sinh và đổi thuốc ho khác. Cảm, cúm gây do siêu vi trùng (virus), trụ sinh để diệt vi trùng (bacteria), có giết được siêu vi trùng đâu, còn đổi thuốc ho khác không chắc có hơn, nhưng có thể gây nhiều phản ứng phụ mệt lắm].

Ở trẻ con, một vài khảo cứu gần đây cho thấy các thuốc chống ho không những không có hiệu quả gì cả, nhiều trường hợp còn gây hại, ức chế hô hấp khiến trẻ thở yếu đi. Vài cháu đã chết vì dùng thuốc ho quá liều. Do thế, khi các cháu bé bị cảm, cúm, chúng ta chỉ nên chữa bằng thuốc giảm sốt (như Tylenol; Advil, Motrin, Ibuprofen cũng được, song tránh dùng ở trẻ dưới 6 tháng) trường hợp trẻ nóng sốt, khuyến khích trẻ uống nhiều nước, bơm nước muối vào mũi (saline nose spray) giúp trẻ dễ thở, làm ẩm không khí trong phòng ngủ của trẻ, nhưng không nên dùng các thuốc chống ho và thuốc chữa nghẹt mũi. Trụ sinh không ích gì.

Thuốc ho chứa chất codeine (như Robitussin AC) có thể gây buồn nôn, ói mửa, ngầy ngật, chóng mặt, bón (codeine thuộc nhóm thuốc nha phiến, narcotics, nên gây phản ứng phụ giống các thuốc nha phiến khác). Thuốc chứa chất dextromethorphan (Robitussin DM, Robafen DM), với lượng vừa phải dùng chữa ho, không gây những phản ứng phụ kể trên, nhưng có thể làm tri giác mất sáng suốt (confusion), nóng nảy (irritability), căng thẳng (nervoussness), và phấn khích quá độ (excitation).
Nếu phải cần đến thuốc ho, chúng ta nên thử thuốc chứa chất dextromethorphan trước. Thuốc mua được bên ngoài không cần có toa bác sĩ. Chúng ta dùng theo đúng chỉ dẫn trên chai thuốc, không nên uống quá lượng.

2. Chất antihistamines và decongestants:

Với những trường hợp ho cấp tính do cảm, cúm, các thuốc có tác dụng chống chất histamine (antihistamines, chữa những bệnh dị ứng) như diphenhydramine, chlorpheniramine và dexbrompheniramine, dùng riêng hay dùng chung với thuốc chữa nghẹt mũi (decongestants), có thể giúp giảm ho do khiến đàm nhớt phía sau mũi không tiết ra nhiều, bớt chảy xuống cổ họng gây ho. Vì vậy, để cho mạnh, rất nhiều thuốc ho pha thêm chất diphenhydramine, chlorpheniramine hoặc dexbrompheniramine, có khi thêm cả chất thuốc chống nghẹt mũi nữa. Dùng những thuốc ho loại này ta sẽ chịu cái bất lợi mồm miệng rất khô và cũng hay mệt, buồn ngủ, bón, đôi khi khó tiểu.

Chất thuốc chống nghẹt mũi pha trong nhiều thuốc ho (thường là pseudoephedrine) có thể gây bứt rứt, chóng mặt, khó ngủ. Dùng các thuốc chống nghẹt mũi, áp huyết chúng ta có thể tăng cao. Thuốc chống nghẹt mũi không nên dùng cho trẻ con.
3. Chất có tác dụng long đàm (expectorant):

Một số thuốc ho còn pha thêm chất guaifenesin, được xem có tác dụng long đàm, làm đàm lỏng hơn dễ khạc. Thực sự, lượng guaifenesin pha trong các thuốc ho hơi thấp, không làm long đàm hữu hiệu như chúng ta mong muốn. Lượng guaifenesin có thể làm long đàm đúng ra cao hơn vậy, nhưng lại hay gây buồn nôn, ói mửa, chóng mặt, nhức đầu, nổi mẩn trên da, tiêu chảy, dật dờ và đau bụng.

Thuốc ho, dùng thế nào cho phải?


Trên cõi đời này, có ai trong chúng ta chưa bao giờ ho? "Stocks" lúc lên lúc xuống, song kỹ nghệ chế thuốc ho coi bộ lúc nào cũng lên, thuốc ho ra đời ngày càng nhiều, dưới đủ mọi dạng. Nhiều chất thuốc chống ho hiện diện trong cả các thuốc tổng hợp quảng cáo chữa đau nhức, chảy mũi, hắt hơi, nghẹt mũi, và tất nhiên, cả ho nữa. Các thuốc tổng hợp này xem ra thì tiện thật, một liều thuốc chữa luôn mọi triệu chứng, nhưng chúng hay gây nhiều phản ứng phụ hơn và cũng đắt hơn.

Có phải cứ ho chút, đã cần uống thuốc ho? Như đang bị cảm nhẹ, chỉ thỉnh thoảng ngứa cổ phát ho vài tiếng? Không đâu bạn, những trường hợp ho cấp tính mới đây, chút đỉnh, không làm bạn mất ngủ hoặc thấy trở ngại cho công việc, bạn chưa cần dùng đến thuốc ho vội. Thuốc ho có thể khiến bạn dật dờ khó chịu, nhất là những thuốc trong chứa chất codein, antihistamine và decongestant. Những trường hợp ho có đờm, dùng thuốc ho có khi còn hại, vì ho giúp phổi ta tống xuất bớt những tác nhân gây hại xâm nhập vào phổi. Khi ho đến mất ngủ (hoặc người ngủ cùng giường với bạn mất ngủ, cằn nhằn), trở ngại công việc (bạn đồng sở sợ hãi nhìn bạn cứ ho sù sụ), đành thôi, thử dùng thuốc ho vậy, may ra tạm bớt ho được vài tiếng (xin nhớ, trong lúc đang cảm, cúm nặng, ho nhiều, thuốc ho không chắc có giúp mấy). Thuốc ho là loại thuốc dùng khi thấy cần, nên hầu hết các thuốc ho đều để nhãn khuyên ta uống nếu thấy cần (thường mỗi 4 đến 6 tiếng, không nên quá 6 lượng một ngày), chứ không để ngày uống 3 lần, 4 lần, ... như nhiều thuốc khác.

Với những trường hợp ho kèm nóng sốt, hoặc kéo dài lâu chưa thuyên giảm, bạn nên đi khám bác sĩ, tìm nguyên nhân gây ho, thay vì tiếp tục tự chữa bằng thuốc ho ở nhà (xin nhớ đem theo chai thuốc ho bạn đang dùng, thuốc ho bên ngoài muôn mặt, nhiều tên, thú thực, bác sĩ không thể nắm vững hết). Sưng phổi (pneumonia), lao phổi (tuberculosis), ung thư phổi (lung cancer) chẳng hạn, là những nguyên nhân quan trọng gây ho, không chữa bệnh thêm nguy hiểm, cái ho sẽ càng nặng, thuốc ho chẳng ăn thua gì. Bác sĩ sẽ cố tìm hiểu bạn sao nóng sốt, hoặc ho sao lâu thế, đồng thời, nếu cần phải dùng đến thuốc ho giúp bạn tạm bớt ho, trong lúc ta tận lực chữa trị nguyên nhân gây ho, bác sĩ sẽ khuyên bạn dùng một thuốc ho đúng với nhu cầu của bạn, và ít gây phản ứng phụ, ít ảnh hưởng đến đời sống cũng như công việc của bạn.

Ôi, ho làm khổ bao người (và bao... bác sĩ, khi người bệnh cứ nhất định đòi dùng trụ sinh lúc chưa cần đến). Cũng vì vậy, thuốc ho tranh nhau ra đời, làm giàu cho kỹ nghệ chế thuốc ho. Thuốc ho có thể giúp, cũng có thể gây phiền toái, đôi khi còn nguy hiểm, nhất là ở trẻ con. Những cái ho cấp tính, chút ít, bạn chờ thêm, lắng nghe cơ thể bạn, đừng dùng thuốc ho vội. Ho nhiều, muốn thử dùng thuốc ho, bạn nên đọc kỹ công thức thuốc, xem trong thuốc chứa những chất gì. Thuốc càng chứa nhiều chất, càng dễ gây phản ứng phụ. Nhất là nếu bạn mang bệnh cao áp huyết, nên tránh dùng những thuốc ho trong chứa chất decongestant chữa nghẹt mũi. Ho dữ quá, ho kèm nóng sốt, ho khạc ra máu, ho lâu chưa hết, bạn đi khám bác sĩ cho chắc ăn.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

thunder  
#87 Posted : Sunday, June 12, 2011 1:04:53 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

TÁM BỆNH DO TỨC GIẬN MÀ RA


Mọi người đều biết tức giận sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe nhưng cụ thể là những bệnh gì và nó gây hại ra sao?

1. Nám da

Khi tức giận, một lượng máu lớn sẽ dồn lên não, nguyên nhân là do
lượng ô-xy trong máu giảm, độc tố tăng cao. Độc tố sẽ kích thích nang
lông phát triển, dẫn đến viêm quanh nang lông ở các mức độ khác nhau,
từ đó xuất hiện các vết nám trên mặt.

Lời khuyên
: Khi gặp phải những chuyện không vui, bạn hãy hít một hơi thật sâu, dang hai tay ra để điều tiết cơ thể để loại bỏ các độc tố.

2. Lão hóa tế bào não


Khi một lượng máu lớn dồn lên não, nó sẽ tạo sức ép cho động mạch. Lúc này hàm lượng độc tố trong máu tăng mạnh, lượng ô-xy giảm xuống mức thấp nhất. Các tế bào não sẽ giống như như bị trúng thuốc độc vậy.

Lời khuyên: Như trên

3. Loét dạ dày

Tức giận dẫn đến các dây thần kinh giao cảm bị kích
thích hưng phấn, ảnh hưởng trực tiếp đến tim và động mạch, khiến cho
lượng máu lưu thông trong đường tiêu hóa bị giảm, quá trình lưu thông
diễn ra chậm, gây kém ăn, dần dần sẽ dẫn đến bệnh loét dạ dày.

Lời khuyên: Mát xa vùng bụng khi căng thẳng

4. Thiếu máu cơ tim

Một lượng máu lớn dồn lên não và toàn bộ khuôn mặt, khiến cho lượng máu về tim giảm gây thiếu máu cơ tim. Trong khi đó, hoạt động của tim vẫn phải đảm bảo nên lúc này sẽ phải làm việc hơn bình thường gấp nhiều lần, dẫn đến nhịp tim đập bất thường.

Lời khuyên: Nhớ lại những kỷ niệm vui đã có trước đây để nhịp tim trở lại bình thường.

5. Gan bị tổn thương

Khi tức giận, cơ thể sẽ tiết ra một chất có tên
là Catecholamine. Chất này tác động đến hệ thần kinh trung ương khiến
cho huyết áp tăng cao, tăng cường phân hủy axit béo, các độc tố trong
máu và gan cũng tăng theo tương ứng.

Lời khuyên: Hãy uống 1 cốc nước khi tức giận. Nước sẽ “rửa trôi” các axit béo tự do trong cơ thể, giảm bớt độc tố.

6. Kích thích tuyến giáp

Khi tức giận, hệ thống nội tiết trong cơ thể sẽ bị rối loạn, khiến cho hormone tuyến giáp tăng tiết, theo thời gian sẽ dẫn đến bệnh ở tuyến giáp.

Lời khuyên: Hãy ngồi xuống và thư giãn, nhắm mắt lại, hít thở thật sâu.

7. Hại phổi

Khi tâm trạng bị xúc động, nhịp thở sẽ rất gấp, phế nang liên tục mở rộng, ít co giãn, đồng thời cũng không thể thư giãn và nghỉ ngơi.

Lời khuyên: Tĩnh tâm, từ từ hít-thở sâu 5 lần, để cho phổi
được nghỉ ngơi và thư giãn.

8. Tổn thương hệ thống miễn dịch

Khi tức giận, cơ thể sẽ theo mệnh lệnh của não tạo ra chất cortisol, hormone stress. Nếu như chất này bị tích lũy quá nhiều trong cơ thể, nó sẽ cản trở các tế bào của hệ thống miễn dịch hoạt động, làm giảm sức đề kháng của cơ thể.

Lời khuyên:

Nghĩ lại những hồi ức đẹp trước đây mình đã có, cố gắng lấy lại trạng
thái cân bằng lúc đầu.

S/T Net


Hungholland  
#88 Posted : Sunday, June 12, 2011 1:24:38 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

LIỀU THUỐC TỪ NỤ CƯỜI

UserPostedImage


Một chuyện cười ý nhị, một vở hài kịch, một tình huống hài hước... chúng ta không cần nhiều yếu tố tác động mới có thể phá lên cười. Khi cười, cơ thể bạn sẽ nhận được những tín hiệu tích cực. Sự co thắt cơ hoành sẽ kích thích những cơ quan gần đó, như: gan, lá lách, dạ dày và ruột. Cười còn làm giãn hệ thống cơ ở mặt, cổ, cẳng tay và bụng.

Dopamine - chất dẫn truyền thần kinh vốn là cơ sở của cảm xúc hưng phấn, sẽ được giải phóng trong não bộ. Dù bạn cười trong lúc căng thẳng thì những phản ứng diễn ra sau đó vẫn giúp cơ thể thư giãn, vì sự căng thẳng sẽ được xoa dịu thông qua trạng thái phấn khích khi cười. Một phút của một trận cười vô ý thức tương đương với 45 phút nghỉ ngơi thư giãn, do đó chúng ta nên cười nhiều hơn!

Nụ cười giúp xoa dịu cơn đau

Lợi ích của nụ cười đã được ghi nhận trong lĩnh vực y khoa suốt nhiều năm qua (vốn được gọi là nụ cười trị liệu). Khi cười, cơ thể sản sinh ra những loại hormone tiếp thêm năng lượng và giúp xoa dịu cơn đau. Chính vì thế, tiếng cười sẽ làm tăng ngưỡng chịu đau của con người. Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng nụ cười ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch: khi cười, kháng thể trong nước bọt sẽ tăng lên và giúp chúng ta giảm thiểu nguy cơ lây bệnh, chẳng hạn như bệnh cảm.

Một số nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu do ĐH Maryland ở Baltimore (Mỹ) tiến hành, cho thấy rằng tinh thần phấn khởi cộng thêm tiếng cười sẽ giúp làm giảm nguy cơ về bệnh tim mạch, đặc biệt là giảm những cơn đau tim. Tất cả các chuyên gia đều nhất trí rằng tiếng cười làm giảm căng thẳng. Các bác sĩ thường khuyến cáo bệnh nhân hãy cười 10 phút mỗi ngày để duy trì sức khỏe lâu hơn. Tuy nhiên, chúng ta thường không đạt đến mức trung bình, tức là chỉ cười khoảng 1 phút mỗi ngày! Vậy bạn dành khoảng bao nhiêu thời gian trong ngày để cười?

UserPostedImage


Nụ cười rất tốt cho tâm lý

Nụ cười hoạt động như một mối liên hệ xã hội. Một trận cười sảng khoái sẽ giúp trao đổi cảm xúc giữa bạn với đồng nghiệp hay với một người hoàn toàn xa lạ. Đặc biệt hơn, nụ cười còn giúp tiết lộ rất nhiều thông tin về bạn và những người xung quanh. Các nhà tâm lý học nói rằng chúng ta phải biết chế nhạo bản thân để nhắc nhở rằng mình không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Biết cách cười trước sai lầm của mình sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái và ít ức chế hơn.

Ngoài ra, việc biết thể hiện cái tôi của mình đúng lúc sẽ chẳng gây hại cho bất kỳ ai. Tất cả chúng ta đều cười vì những vấn đề khác nhau, theo những cách cũng rất khác nhau. Một số người thể hiện nụ cười bằng cách vỗ đùi; số khác lại cười khúc khích đầy bẽn lẽn; số khác nữa thì mở miệng cười hô hố hay nhếch miệng cười thầm. Nụ cười mách bảo với chúng ta về sự ý nhị và tính cách của một người. Nụ cười lành mạnh (không phải nụ cười mỉa mai) sẽ tạo ra một bầu không khí tin cậy và làm mọi người cảm thấy thoải mái hơn.

UserPostedImage


Ngay hôm nay bạn hãy cố gắng cười nhiều hơn ... Và điều đó rất tốt cho bạnLOL


- ST -
thuylinh  
#89 Posted : Wednesday, June 15, 2011 2:12:16 PM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Thói quen gây hại cho Não- Năm thực phẩm gây ung thư cao nhất

UserPostedImage


Có những thói quen gây tổn hại cho não như không ăn bữa sáng, ăn quá độ, hút thuốc lá, ăn nhiều đường, thở không khí ô nhiễm, thiều ngủ, v.v… Chúng ta nên cố gắng tránh các thói quen này. Chúng ta chỉ cần theo một cách sống hàng ngày và thói quen ăn uống lành mạnh. Giữ thói quen ăn uống tốt và điều kiện về thời gian theo kế hoạch rất quan trọng với cơ thể của chúng ta và giúp loại trừ được những hóa chất có hại.

1. Không ăn sáng

Những người không ăn bữa sáng lượng đường trong máu thấp hơn mức bình thường. Điều này làm cho não bộ thiếu các chất dinh dưỡng gây ra thoái hóa não.

2. Ăn quá nhiều

Ăn quá độ gây ra chứng xơ cứng động mạch não, làm giảm khả năng trí tuệ.

3. Hút thuốc lá

Hút thuốc lá gây ra bệnh teo não và có thể dẫn đến bệnh Alzheimer.

4. Ăn nhiều đường

Ăn quá nhiều đường sẽ cản trở việc hấp thu chất đạm và các chất dinh dưỡng gây ra suy dinh dưỡng và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí não.

5. Ô nhiễm không khí

Não tiêu thụ nhiều oxy nhất trong cơ thể chúng ta. Hít thở không khí ô nhiễm làm giảm nguồn cung cấp oxy cho não, làm cho não hoạt động kém.

6. Thiếu ngủ

Ngủ giúp cho não được nghỉ ngơi. Thiếu ngủ triền miên sẽ thúc đẩy tế bào não chết sớm hơn.

7. Trùm đầu trong khi ngủ (trùm mền)

Ngủ mà trùm đầu làm tăng lượng carbon dioxide (CO2) và giảm lượng ôxy có thể dẫn đến tổn thương não.

8. Làm việc trong khi đang bệnh

Làm việc căng thẳng hay học tập khi đang bị ốm có thể làm giảm hiệu quả của bộ não cũng như làm cho não bị tổn thương.

9. Thiếu kích thích tư duy

Tư duy là cách tốt nhất để rèn luyện não của chúng ta, vì thế thiếu kích thích tư duy cho não có thể gây ra bệnh teo não.

10. Ít trò chuyện

Những cuộc trò chuyện và bàn luận mang tính trí tuệ sẽ làm tăng hiệu quả của bộ não.



Năm Thực Phẩm Có Nguy Cơ Gây Ung Thư Cao Nhất

1. Xúc Xích:

Hiệp Hội Phòng Chống Ung Thư khuyến cáo trẻ chỉ ăn tối đa 12 cái xúc xích một tháng vì hàm lượng nitrate cao. Nếu bạn không thể sống thiếu xúc xích, hãy mua xúc xích không có muối nitrate.


UserPostedImage


2. Thịt đã chế biến để bảo quản và Thịt Heo Muối Xông Khói

Những thứ thịt này cũng có hàm lượng muối nitrate cao nên làm tăng nguy cơ các bệnh tim. Chất béo bão hòa trong thịt heo muối xông khói cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư.


UserPostedImage


3. Bánh Rán

Bánh rán là mối lo về nguy cơ gây ung thư rất cao. Trước hết, bánh rán làm bằng bột trắng, đường và chiên bằng dầu đã thêm chất Hydro ở nhiệt độ rất cao. Adams,( một chuyên gia về an toàn thực phẩm) cho rằng bánh rán có lẽ là loại thực phẩm có nguy cơ gây bệnh ung thư cao nhất.

UserPostedImage


4. Khoai tây chiên

Giống như bánh rán, khoai tây chiên được chiên bằng dầu có Hydro ở nhiệt độ cao. Món này cũng chứa chất gây ung thư acrylamides tạo ra trong quá trình chiên. Theo Adams, phải gọi là Khoai Tây Chiên Gây Ung Thư thay vì Khoai Tây Chiên.


UserPostedImage


5. Khoai rán, Bánh quy dòn, và bánh bích quy xốp

Tất cả các thứ này đều làm bằng bột trắng và đường. Những thức ăn này có thể làm thiếu chất dinh dưỡng cho não và dẫn đến tình trạng thoái hóa não

UserPostedImage


Huỳnh Huệ chuyển ngữ


BRAIN DAMAGING HABITS

There are various brain damaging habits like no breakfast, overeating, smoking, high sugar consumption, air pollution, sleep deprivation etc. We should try to prevent all of these. We just have to adopt a good daily lifestyle and eating habits. Maintaining good eating habits and time condition are very important for our bodies to absorb and get rid of unnecessary chemicals according to “schedule”.



BRAIN DAMAGING HABITS

1. No Breakfast
People who do not take breakfast are going to have a lower blood sugar level. This leads to an insufficient supply of nutrients to the brain causing brain degeneration.

2 . Overeating
It causes hardening of the brain arteries, leading to a decrease in mental power.

3. Smoking
It causes multiple brain shrinkage and may lead to Alzheimer disease.

4. High Sugar consumption
Too much sugar will interrupt the absorption of proteins and nutrients causing malnutrition and may interfere with brain development.

5. Air Pollution
The brain is the largest oxygen consumer in our 20 body. Inhaling polluted air decreases the supply of oxygen to the brain, bringing about a decrease in brain efficiency.

6 . Sleep Deprivation
Sleep allows our brain to rest.. Long term deprivation from sleep will accelerate the death of brain cells..

7. Head covered while sleeping
Sleeping with the head covered increases the concentration of carbon dioxide and decrease concentration of oxygen that may lead to brain damaging effects.

8. Working your brain during illness
Working hard or studying with sickness may lead to a decrease in effectiveness of the brain as well as damage the brain.

9. Lacking in stimulating thoughts
Thinking is the best way to train our brain, lacking in brain stimulation thoughts may cause brain shrinkage.

10. Talking Rarely
Intellectual conversations will promote the efficiency of the brain

The top five cancer-causing foods are:

1.. Hot Dogs

Because they are high in nitrates, the Cancer Prevention Coalition advises that children eat no more than 12 hot dogs a month. If you can’t live without hot dogs, buy those made without sodium nitrate.

2. Processed meats and Bacon

Also high in the same sodium nitrates found in hot dogs, bacon, and other processed meats raise the risk of heart disease. The saturated fat in bacon also contributes to cancer.

UserPostedImage


3. Doughnuts

Doughnuts are cancer-causing double trouble. First, they are made with white flour, sugar, and hydrogenated oils, then fried at high temperatures. Doughnuts, says Adams , may be the worst food you can possibly eat to raise your risk of cancer.

4. French fries

Like doughnuts, French fries are made with hydrogenated oils and then fried at high temperatures. They also contain cancer- causing acryl amides which occur during the frying process. They should be called cancer fries, not French fries, said Adams .

5. Chips, crackers, and cookies

All are usually made with white flour and sugar. Even the ones whose labels claim to be free of trans-fats generally contain small amounts of trans-fats.

.
Dr Imran

Source: Brain Damaging Habits

xuan hoang  
#90 Posted : Monday, June 20, 2011 5:51:22 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


Mắt Cườm



UserPostedImage




Ở đằng sau con ngươi là thủy tinh thể, giống như một thấu kính hội tụ, trong suốt. Hình ảnh bên ngoài đi qua thủy tinh thể, được thâu gọn lại vào võng mạc ở phía trong, rồi giây thần kinh thị giác báo hiệu về óc. Khi thủy tinh thể bị mờ đục làm cho nhìn không được rõ, thì ta gọi là mắt bị cườm (cataract). Các tia sáng từ cảnh vật bên ngoài khi qua thủy tinh thể đã bị đục một phần, thì một số bị chặn lại không vào được tới võng mạc, một số xuyên qua được chỗ mờ đục nhưng bị lệch lạc đi, chỉ còn một số qua được phần thủy tinh thể còn trong suốt vào tới võng mạc.

Vì lý do gì mà mắt bị cườm?


Một số ngừời về già mắt bị cườm . Có người bị cườm vì ảnh hưởng của quang tuyến X. Có khi vì tia hồng ngoại hay tia cực tím. Mắt cườm có thể là biến chứng của bệnh tiểu đường. Lạm dụng thuốc loại corticosteroid cũng có thể làm mắt bị cườm. Nhưng phần lớn thì không biết chắc được nguyên do vì đâu mà thủy tinh thể bị mờ đục.

Khi nào thì nghi là bị cườm?


Thủy tinh thể bị mờ đục dần dần, vì vậy làm cho mắt nhìn ngày càng mờ dần. Mức độ nhiều ít là tùy theo, thứ nhất là bị đục nhiều hay ít, thứ hai là bị đục ở phần nào của thủy tinh thể. Triệu chứng vì vậy cũng khác nhau.

Nếu thủy tinh thể bị đục ở phần giữa (nuclear cataract), thì mới đầu bệnh nhân giống như bị cận thị. Nếu là người già trước đó phải đeo kính để đọc sách thì tự nhiên thấy không cần đeo kính nữa mà vẫn đọc được. Có người gọi chuyện đó là "tái hồi thị lực". Một đôi khi, phần đục ở giữa đó sưng to lên, sinh ra căng áp suất trong mắt (glaucoma) làm mắt bị đau nhức.

Nếu bị đục ở phía sau thủy tinh thể ,ngay bên trong cái màng bọc (posterior subcapsular cataract), thì mắt nhìn bị mờ nhiều dù phần bị đục không lớn lắm, vì đó là chỗ các tia sáng từ cảnh vật bên ngoài đi xuyên qua nhiều.

Khi bên ngoài có nhiều ánh sáng, thì con ngươi co nhỏ lại, làm cho các tia sáng từ cảnh vật bên ngoài khó lọt qua chỗ thủy tinh thể còn trong suốt. Vì vậy người bị cườm khi ra chỗ sáng chói, nhìn hay bị lóa. Người bị nhẹ mà còn đọc được khi ánh sáng vừa vừa, nếu để đèn sáng quá thì đọc sách rất khó khăn.

Người lớn tuổi hoặc người già, nếu thấy mắt cứ từ từ mờ dần, thì phải nghi hoặc là bị cườm, hoặc là bị cao áp suất mắt. Cần phải đi bác sĩ khám để biết mà chữa trị nếu cần.

Chữa trị


Khi cườm còn nhẹ, thì chưa cần mổ. Thay kính cho hợp với tình trạng mắt cũng giúp được phần nào. Nếu vết cườm không lớn lắm, có khi bác sĩ cho nhỏ thuốc (thí dụ như phenylephrine) để cho con ngươi mở lớn ra một chút, thì nhìn sẽ rõ hơn. Nên mang kính râm nếu ra chỗ nắng hay chỗ nào sáng quá để khỏi bị lóa. Đèn trong nhà nên dùng loại đèn chiếu hắt ngược tỏa ra thì tối ù hơn là kiểu đèn thường.

Khi nào cần giải phẫu


Mắt cườm cần phải mổ, nếu ở vào những trường hợp sau này:

1. Khi thử thị lực, dù có mang kính, mà không được tới 20/50. Thị lực 20/50 nghĩa là gì? Ở Việt nam, thì thử mắt ( thử thị lực) tính từng 1/10. Mắt tốt nhất là 10/10, kém dần đi là 9/10, 8/10, v.v.... Ở Mỹ , thì người ta thường dùng bảng Snellen , tính theo một kiểu khác hẳn. Mắt tốt nhất là 20/20. Mắt 20/50 có nghĩa là mình thấy một vật gì cách xa 20 feet chỉ rõ bằng người mắt tốt nhìn cách xa 50 feet.

2. Khi mắt bị mờ đến nỗi cản trở những hoạt động cần thiết thường ngày, như lái xe, đọc sách, v.v....

3. Khi mắt bị lóa quá mức (trường hợp bị đục ở phía sau thủy tinh thể).

Giải phẫu chữa bệnh cườm

Mổ chữa mắt cườm là một phẫu thuật tương đối đơn giản. Thường chỉ cần chích thuốc tê tại chỗ, và chích thêm thuốc an thần. Bệnh nhân có thể được đưa về trong ngày. Người ta mổ lấy thủy tinh thể ra, rồi thay thế bằng cách ghép một "thủy tinh thể" nhân tạo, làm bằng plastic hay silicon. Nếu không có ghép như vậy, thì bệnh nhân sẽ phải dùng kính. Nếu không dùng contact lens mà dùng kính đeo mắt, thì phải dùng kính rất dày, và như vậy nhìn hình không được chỉnh.

Gần đây có một phẫu thuật mới (gọi là phacoemulsification), dùng siêu âm đánh tan cục mờ ở giữa thủy tinh thể (phần cứng rắn), sau đó mổ bỏ phần chung quanh lấy ra từng miếng vụn. Mổ kiểu này có hai cái lợi, một là vết cắt rất nhỏ, hai là mau lành.

Sau khi mổ, thường bác sĩ cho bôi thuóc trụ sinh và thuốc chống viêm vài ba tuần. Bệnh nhân phải đeo tấm che mắt cho tới khi lành. Phải kiêng không được làm những động tác làm cho áp suất mắt bị cao, như là bê đồ nặng, mím miệng rặn mạnh, cúi thấp, hay dụi mạnh vào mắt. Thường là phải đi tái khám mỗi tuần một lần trong sáu tuần lễ.

Mức độ thành công của việc giải phẫu mắt cườm được độ 95 phần trăm. Biến chứng không nhiều nhưng cũng có khi làm hư mắt. Có thể bị chảy máu bên dưới võng mạc, có thể sinh chứng cao áp suất mắt (glaucoma). Trường hợp miếng thủy tinh thể ghép vào rồi về sau (có khi vài tuần , có khi cả năm sau) bị mờ đục, thì có thể chữa bằng tia laser.

Trường hợp mắt cườm bẩm sinh

Có nhiều trẻ bị cườm từ khi mới sinh ra. Có thể do nhiều nguyên do:

1. bị di truyền do nhiễm sắc thể bất bình thường,

2. bị bệnh đường galactose trong máu cao ,

3. bị nhiễm trùng, thí dụ như bệnh ban rubella từ khi còn trong bụng mẹ.

Mắt cườm bẩm sinh, nếu chữa sớm trong vòng mấy tháng đầu thì có thể cứu vãn được thị gíác, vì nếu để lâu, thì cả võng mạc và phần óc chủ trì thị giác cũng bị hư lây. Người ta mổ thay thế thủy tinh thể, rồi sau đó cho đeo kính hoặc là dùng contact lens.

Cũng có cách mổ ghép giác mạc của người khác ép lên trên giác mạc của đứa nhỏ (giống như một thứ contact lens vĩnh viễn vậy). Cách mổ này tiếng Anh gọi là epikeratophakia.

Mắt bị cườm bẩm sinh một bên, sau khi chữa trị rồi, thì thị giác không được tốt bằng mắt bên kia, cho nên khi nhìn thì cảnh vật không được rõ nét như người thường. Phải một thời gian tập luyện mới hết.

Bs Vũ Quí Đài, M.D., Ph.D.
(Bài này chỉ nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về sức khỏe và y tế. Nếu cần chữa bệnh, xin liên lạc trực tiếp với bác sĩ của bạn).

UserPostedImage
nhat-tam  
#91 Posted : Saturday, June 25, 2011 10:34:40 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Hello các bạn!
Trạm y tế cứ bị di chuyển lên xuống hoài à. Khi ở Forum cũ, được sticky ở đầu trang nên dễ nhìn thấy hơn bây giờ. Đây là một Topic hữu ích trong đời sống, mọi người có thể tìm hiểu & phòng ngừa để có được sức khoẻ tốt & một cuộc sống mạnh lành.
Chúng ta có thể post lại các bài y khoa thường thức trước đó (khi ở Forum cũ) và thêm những bài viết mới , lưu giữ nơi đây.
Chủ nhân của Topic này tàng hình mất tiêu, có phải vì 'nắng hổng ưa mưa hổng chịu' hay vì nguyên nhân nào khác ?
thunder bạn hiền ơi, mau xuất hiện, please! Ông mà hổng ra, tui bận nữa, là tui với ông chơi cút bắt đó nha!BigGrin
Chúc thunder và các bạn & gia đình luôn an mạnh!

Edited by user Saturday, June 25, 2011 10:57:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

nhat-tam  
#92 Posted : Saturday, June 25, 2011 10:54:13 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Cơn Ðau Thể Chất


http://www.toxic-metal-chelation.com/images/arthritis_fibromyalgia_fibromyalgia.jpg


Tại Hoa Kỳ, có nhiều tổ chức y khoa chuyên nghiên cứu về vấn đề Ðau Nhức Cơ Thể vì đây là một trong mấy rối loạn sức khỏe thường xẩy ra. Các tổ chức này đã phát động một chiến dịch để thỉnh cầu chính quyền các tiểu bang thừa nhận tháng 9 mỗi năm như là thời gian để mọi người ý thức được sự trầm trọng của niềm đau thể chất. Ðồng thời họ cũng khuyến khích người cung cấp dịch vụ y tế gia tăng các phương thức điều trị để giảm khó khăn cho bệnh nhân.
Cùng khi đó, vào tháng 3 năm 2005, dân biểu Mike Rogers đã đệ trình Hạ Viện Hoa Kỳ dự luật HR 1020 National Pain Care Policy Act of 2005, nhằm thúc đẩy chính quyền thành lập một Trung Tâm Quốc Gia về Ðau Nhức cũng như tăng cường sự hướng dẫn, nghiên cứu, điều trị Cơn Ðau. Dự Luật được thảo luận vào ngày 14 tháng 9 năm 2005.
Coi vậy ta thấy những cơn Ðau Thể Chất vẫn là một một ám ảnh lớn của người bệnh.
Vấn đề rõ ràng hơn nhất là trong thời gian vừa qua, một vài loại thuốc chống đau đã được rút khỏi thị trường sau khi có những nhận xét nghiêm khắc về tác dụng xấu của chúng.
Ngoài ra, đã có một thời kỳ, giới y tế cũng như công chúng đã không để ý nhiều tới sự điều trị và nghiên cứu về cảm giác đau của cơ thể khi bệnh hoạn thương tích.
Nhiều trường hợp đau vì ung thư hoặc đau cận tử đều không được chữa tới nơi tới chốn. Ðây là một thiều sót lớn của y giới vì điều trị Ðau Nhức một cách hữu hiệu là một phần rất quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân.
Vậy xin cùng tìm hiểu về những Cơn Ðau Thể Chất này.

Ðau là gì? - Tự điển tiếng Việt định nghĩa Ðau là “trạng thái khó ở, nhức nhối về thể chất gây ra do thương tích và bệnh tật”.

Năm 1968, tác giả M. McCaffery định nghĩa “Ðau là bất cứ cái gì khó chịu mà nạn nhân nói ra và ở nơi nào mà họ chỉ”
Năm 1979, Hội Quốc Tế Nghiên Cứu về Ðau định nghĩa: “Ðau là một kinh nghiệm khó chịu về cảm giác và xúc động gây ra do thương tích của tế bào hoặc được biểu lộ qua tình trạng hư hao của các tế bào”.
Còn Plato phát biểu bao quát hơn: “Ðau là cái gì liên can tới thể chất nhưng cũng nói lên kinh nghiệm khó khăn về tinh thần”.
Về y học, Ðau là phản ứng của cơ thể trước một kích thích. Kích thích được dây thần kinh ngoại vi tiếp nhận, truyền vào tủy sống rồi đưa lên phần Thalamus của não bộ, nơi mà cảm giác đau được phát hiện. Sau đó Thalamus lại chuyển tín hiệu đó tới vùng não trách nhiệm về cảm giác thể chất, cảm giác xúc động và sự suy tư. Não sẽ đưa ra biện pháp đối phó, thích nghi, cũng như tiết ra những hóa chất làm dịu cơn đau hoặc báo động sự hiểm nguy.
Do đó con người có phản ứng khác nhau với sự đau. Có người đau nhiều, người đau ít, có người tức giận có người thản nhiên. Cơn đau của Thiên Ðầu Thống chắc làm ta chú ý và phản ứng nhiều hơn là đau khi cắt quả táo mà lưỡi dao sắc lẹm nhẹ vào da.
Cường độ cảm giác đau cũng thay đổi tùy theo nhiều yếu tố.
Yếu tố từ con người như tâm trạng, thái độ đối với đau; kỷ niệm đau trong quá khứ; trình độ học vấn và giai tầng trong xã hội, tuổi tác và giống tính.
Một em bé chưa đi nha sỹ bao giờ mà chỉ nghe bạn bè kháo nhau “ông ấy khoan răng tao đau quá trời chúng mày ơi”, thì chắc sẽ khóc thét khi chỉ mới nhìn thấy ông bà nha sĩ.
Một lực sĩ chú tâm biểu diễn chắc có thể tỉnh bơ, cắn răng chịu đựng khi mũi giầy vấp vào vật cứng. Tâm trạng sợ hãi, mệt mỏi trầm buồn làm tăng cảm giác đau. Cũng như câu nói ‘Công chúa đứt tay khóc la như thợ cầy bị sừng trâu nhọn hoắt húc lòi ruột ra ngoài”.
Các sự việc này khiến ta liên tưởng tới khái niệm “ngưỡng cửa” về cảm giác đau (Pain Threshold), một giới hạn dưới đó ta tỉnh bơ với kích thích, với tác nhân gây đau.
Người có tín ngưỡng mạnh coi sự đau đớn như trừng phạt của Thương đế với tội lỗi của mình thì cũng chịu đựng được sự đau đớn.
Rồi lại còn yếu tố tập tục văn hóa khích lệ con người trai lỳ, ngậm bồ hòn làm ngọt “Bite the Bullet” trước cơn đau để biểu dương nhân cách cang cường.
Cảm giác Ðau hoàn toàn có tính cách cá nhân, chủ quan, không đo lường được nên chỉ có đương sự mới diễn tả được đau ở đâu, đau khi nào, đau nhiều hay ít. Do đó không ai có thể cảm thấy cái đau của người khác cũng như cơn đau của mỗi người mỗi khác. Và người chăm sóc phải luôn luôn coi lời than phiền là có thực, mà chẳng nên phủ nhận “rõ thực chỉ giả vờ” hoặc đánh giá thấp khó khăn của người bệnh.
Ðã có nhiều đề nghị thêm cảm giác Ðau vào Bốn Dấu Hiệu Sinh Tử Vital Signs được y học dùng từ nhiều thế kỷ để xác định tình trạng sức khỏe xấu tốt. Ðó là huyết áp, nhịp tim, nhịp thở và nhiệt độ. Theo các giới chức này, Ðau là một dấu hiệu của bệnh tật và có thể được y giới dùng để ước lượng sự khỏe mạnh hoặc đau yếu của con người.
Với người lớn tuổi, hiện nay có một Thang Số Number Scale đánh số từ số 0 là không đau đến số 10 là đau nhiều nhất. Bệnh nhân sẽ được hỏi và ghi mức độ đau theo bảng này.
Ngoài ra còn Thang Nét Mặt Face Scale với nét bình thản, hơi nhăn nhó và đau phát khóc hoặc Thang với hàng chữ từ không đau tới đau vừa, đau nhiều hơn và đau lắm. Các Thang này giúp xác định cường độ đau cũng như để theo dõi kết quả điều trị.
Ðau nhức là một khó khăn rất thường xẩy ra. Cứ mười người thì có đến tám người than phiền đau nhức đâu đó trên cơ thể và là lý do đi khám bệnh nhiều nhất, đặc biệt là với các vị tuổi cao. Nào là đau lưng, nhức xương, thoái hóa cột sống, đau răng, đau mình, đau vì ung thư, đau sau giải phẫu, đau của người già, đau kinh kỳ phụ nữ. Thôi thì trăm thứ.
Theo thăm dò ý kiến thì chỉ 1 trong 4 người bị đau với các hậu quả như giảm sinh hoạt hàng ngày, đời sống khó khăn, lo ngại, trầm buồn, bực tức, vắng mặt nơi làm việc được là điều trị tới nới tới chốn. Số còn lại triền miên nhăn nhó với cơn đau.

Các loại Ðau

Về sinh hóa học, khi bị tổn thương, tế bào sẽ tiết ra mấy hóa chất đưa tới cơn đau, như Prostaglandins, Histamine, Serotonin, Cytokin. Hóa chất Endorphin lại làm bớt đau
Ðau có thể là mãn tính hoặc cấp tính tùy theo thời gian cơn đau kéo dài lâu mau và cũng tùy theo nguyên nhân gây ra Ðau.
a - Ðau cấp tính.
Ðây là một hỗn hợp nhiều cảm giác và xúc động khó chịu với mấy đặc tính như sau:
-Xuất hiện khi tế bào bị tổn thương và tan biến khi vết thương lành;
-Nhẹ thoảng qua nhưng đôi khi kéo dài vài tuần vài tháng;
-Khởi sự đột ngột, rất mạnh kèm theo vài phản ứng của cơ thể như la làng khóc lóc, đổ mồ hôi, huyết áp lên cao, tim đập nhanh, tức giận. Cũng có người thản nhiên như không có chuyện gì xẩy ra.
Các nguyên nhân thông thường của Ðau này là do thương tích, phỏng, gẫy xương, bong gân, giải phẫu, sanh đẻ, bệnh hoạn ở tình trạng nghiêm trọng.
Ngoài sự khó chịu, cơn đau cấp tính còn có vài tác dụng khác: báo hiệu, bảo vệ cho con người về nguy cơ và mức độ hư hao tế bào. Từ đó sẽ có một số phản ứng tự vệ như rút tay chân về, co bắp thịt hoặc thay đổi vị trí cơ thể để giảm đau như ôm bụng, nằm ngửa nằm nghiêng.
b - Ðau kinh niên.
Ðau kinh niên kéo dài khá lâu, sau thời gian lành của thương tích, bệnh hoạn hoặc có thể hết đi rồi tái xuất hiện. Ðau này nhiều khi khó trị vì không chữa dứt được nguyên nhân gây ra đau. Trước đây đau kinh niên được hiểu như đau kéo dài dăm ba tháng.
Bây giờ ngoài thời gian lâu mau, đau này còn bao gồm các hậu quả như gây ra mất ngủ, khó khăn trong nếp sống, suy sụp tinh thần, thể chất. Nguyên nhân có thể là do chấn thương, hậu giải phẫu, ung thư, viêm xương khớp, bệnh dây thần kinh.
Ngoài ra ÐAU còn được phân chia làm nhiều nhóm tùy theo nguyên nhân thể chất:
a- Ðau do thương tích hoặc bệnh hoạn ở ngoài hệ thần kinh như hơi nóng, độ lạnh, va chạm mạnh hoặc do hóa chất kích thích. Gẫy xương, bong gân, phỏng, cóng giá, viêm vì nhiễm trùng, viêm khớp...là những thí dụ.
Ðau này có tính cách bảo vệ vì nó báo cho ta hay có rủi ro xẩy ra mà ta phải tránh.
Cơn đau thường ngầm ngầm và tiêu tan khi vết thương lành.
b- Ðau do tổn thương tế bào dây thần kinh ngoại vi hoặc trung ương như đau sau khi bị bệnh zona, tai biến não, trong bệnh tiểu đường, ghiền rượu kinh niên, ung thư, Hội chứng Ðường Hầm Cổ Tay, dây thần kinh bị u bướu đè lên...
Ðau thường kéo dài cả tháng, đôi khi nhiều năm dù sau khi vết thương đã lành.
c- Ðau hỗn hợp với thương tích trong ngoài thần kinh như với chứng thiên đầu thống, đau bắp thịt trên mặt.
d- Trường hợp Ðau Chi Ma Quái Phantom Limb Pain cũng rất đặc biệt. Người bệnh cảm thấy đau ở phần chân tay đã bị cắt cụt giống như cái đau ở phần chi đó trước khi được lấy đi. Ðây là một loại đau rất khó hiểu trong y học.
Ðặc tính cơn đau
a- Nơi đau - Ðau có thể tại chỗ như trên da, khớp xương, gân; thương tổn chỗ này mà đau chỗ khác như cơn đau tim angina lại đau ở cánh tay trái; viêm ruột dư góc dưới bụng bên phải lại đau nơi chấn thủy; đau dọc theo dây thần kinh như bệnh Zoster; đau toàn thân fibromyalgia.
b- Thời gian lâu mau - Ðau chớp nhoáng như kim châm; đau nhịp nhàng trong trường hợp thiên đầu thống migraine hoặc hư răng; từng cơn kéo dài khi đau ruột; đau tăng dần tới tột điểm, kéo dài một lúc rồi giảm như trong cơn đau tim angina; đau liên tục của viêm xương khớp; cơn đau kịch phát paroxysmal như tổn thương dây thần kinh.
c- Mức độ đau - Nhẹ ngoài da; đau dát; đau ngầm ngầm; đau quặn; đau như cắt, vặn ép; đau chớp nhoáng như điện giựt.
d- Ðau kèm theo các khó khăn khác như buồn nôn, ói mửa, nổ đom đóm mắt, ù tai

Hậu quả Ðau không điều trị. - Khi cơn đau kéo dài, cơ thể có một số đáp ứng sinh học để bảo vệ nhưng nếu kéo dài lâu hơn thì lại không tốt.
Chẳng hạn như khi đau tim không chữa thì tăng nhịp tim, huyết áp, sức cản thành mạch máu, sử dụng dưỡng khí, độ đông đặc máu. Hậu quả là mất cân, nóng sốt, tim phổi suy, kích xúc.
Ðau cơ quan hô hấp kinh niên thì ta sẽ giảm nhịp thở và phổi sẽ bị viêm hoặc sưng.
Ðau bao tử ruột thì các cơ quan này giảm nhu động để bớt đau khiến cho tiêu hóa chậm và đưa tới táo bón, kém dinh dưỡng, mất cân.
Cơ thể đáp ứng với đau xương khớp bằng co cứng bắp thịt, giảm cử động để bớt đau. Hậu quả là bất động, suy yếu, mệt mỏi.
Ngoài ra nếu không điều trị đúng đắn thì đau có nhiều nguy cơ trở thành kinh niên, đưa tới không hoàn tất được các công việc thường nhật như ăn uống tắm rửa, vận động cơ thể hoặc trở nên buồn phiền lo âu mất ngủ, cô lập, khó khăn trong việc làm tình. Ðau kinh niên cũng đưa tới giảm sản xuất, kém lợi tức, vắng mặt tại sở làm, trường học, thất nghiệp.

Khó khăn điều trị - Ðau là những khó khăn chủ quan nên chưa xác đinh được bằng đo lường khách quan, máy móc. Người bệnh diễn tả nhiều ít ra sao thì y giới theo đó mà sắp đặt phương thức điều trị, gia giảm liều lượng dược phẩm.
Nhiều vị nhất là cao niên không nói hết sự đau đớn vì sợ, vì không muốn cho là lắm chuyện hoặc vì thói quen chịu đựng hoặc không diễn tả được chi tiết, ngôn ngữ bất đồng.
Ngày 7 tháng 5 năm 2005 vừa qua, hệ thống thông tin ABC công bố kết quả một thăm dò do Bác sĩ Carmen R. Green thực hiện. Kết quả cho thấy nhiều bác sĩ cung cấp ít điều trị cho nữ giới hơn là nam giới mặc dù họ có cùng một thứ đau.
Ði khám bác sĩ - Ðể giúp bác sĩ trị liệu, bệnh nhân nên để ý mấy điểm như sau:
a-Khi đi khám bệnh lần đầu vì Ðau Nhức, nên ghi rõ thời gian và hoàn cảnh đưa tới khó chịu, các giải phẫu bệnh tật đã có, phương thức điều trị đã áp dụng.
b-Mang tất cả thuốc men đã dùng, kết quả thử nghiệm, hình quang tuyến
b-Tả rõ đặc tính của cơn đau như là đau kéo dài bao lâu, bắt đầu từ chỗ nào, lan ra đâu, đau nhiều hay ít, các yếu tố làm đau tăng hoặc giảm...
d-Các phương thức chữa đau hiện thời hoặc trong quá khứ, kết quả điều trị;
e-Trong gia đình có ai bị đau như vậy không?
g-Ảnh hưởng đau vào các sinh hoạt hàng ngày cũng như vào các chức năng cơ thể;
h-Ghi những điều muốn hỏi bác sĩ như nguyên nhân gây đau, chữa thế nào, tác dụng ngoại ý của điều trị, tương lai đau sẽ ra sao, mình phải làm gì, bác sĩ sẽ làm gì, có cần khám bác sĩ chuyên môn nào khác, bao giờ tái khám, các ước vọng của mình với điều trị.

Ðiều trị - Có nhiều cách điều trị các đau nhức:
1- Dược phẩm.
a-Thuốc chống đau không á phiện và không steroid
b-Thuốc chống đau có á phiện;
c- Các thuốc giảm đau hỗ trợ như thuốc trị bệnh kinh phong, trầm cảm, thuốc gây tê tại chỗ.
2-Không dùng dược phẩm như tâm lý trị liệu, phản hồi sinh học biofeedback, thư giãn, thôi miên, châm cứu, cây con thiên nhiên, vật lý trị liệu, xoa bóp, chườm nóng lạnh, tập luyện, bó bất động. Các phương thức này có vai trò phụ trợ chứ không thay thế cho dược phẩm, giải phẫu. Ngoài công dụng giảm đau, phương thức này còn giúp người bệnh bớt lo lắng, tăng khả năng kiểm soát, đối phó với cảm giác đau, giúp ngủ ngon, thư giãn cơ thịt, vui sống hơn.
2- Giải phẫu.
Thường thường thì các phương thức điều trị kể trên đều có thể giảm đau đớn cho người bệnh Tuy nhiên đôi khi cũng phải sử dụng tới phẫu thuật như thay khớp, cắt bỏ cung sau (lamicectomy) để giảm áp suất trên dây thần kinh, kết nối đốt sống (spinal fusion ), cắt dây thần kinh dẫn cảm giác đau...
3-Các kỹ thuật tân tiến: Một máy kích thích điện tử được cài vào cơ thể người bệnh để chặn không cho cảm giác đau lên não bộ; một máy bơm giỏ từng giọt thuốc giảm đau vào chỗ đau vừa tiết kiệm thuốc vừa tránh tác dụng ngoại ý.
4-Việc dùng cần sa, nicotine để giảm đau đang là đề tài tranh cãi. Theo một số nhà y học, cần sa công hiệu với các đau kinh niên ung thư. Nhưng mới giữa tháng Tư năm 2006 vừa qua, Cơ Quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ không đồng ý việc hợp thức hóa dùng cần sa để giảm đau vì “cần ngiên cứu thêm”. Riêng nicotine thì nghiên cứu tại Ðại Học Columbia cho biết có thể giảm cảm giác đau..
5-Bác sĩ Harold Koernig, Ðại Học Duke cho hay trong đau đớn có nhiều yếu tố liên hệ khác như lo sợ, trầm buồn, bực tức, mất hy vọng, cô đơn.
Niềm tin tôn giáo giúp giải tỏa các cảm xúc này thì cũng giảm các cơn đau.
Thăm dò của ABC News và nhiều bệnh nhân cũng đồng ý như vậy.
Tâm lý trị liệu cũng giúp bệnh nhân có kiến thức cặn kẽ về cơn đau và biết cách đối phó bằng thư giãn toàn thân.
Người bệnh cũng nên có một kế hoạch đối phó, thích nghi với khó khăn đau nhức. Họ cần hợp tác với thầy thuốc có kinh nghiệm để cùng tìm phương thức giảm thiểu; để ý tới các xúc động gây ra do đau nhức; nghỉ ngơi đầy đủ nhưng cũng không quên vận động cơ thể, dinh dưỡng cân bằng, nếp sống lành mạnh; không tự sống cô lập vì lý do đau mà nên gia nhập nhóm cùng cảnh ngộ để chia xẻ hỗ trợ lẫn nhau.
Ngoài ra có một vài ngộ nhận về điều trị đau kinh niên của giới cao niên mà ta cần để ý:
a-Ðau nhức không phải là một thành phần trong tiến trình hóa già như nhiều người tưởng. Nhưng tuổi cao thường dễ có những đau lưng, nhức gối vì lý do khác nhau như thời tiết, hoặc từ các bệnh kinh niên và đều có thể điều trị được, bằng cách này hay cách khác.
b-Nhiều người cứ ngại khi dùng thuốc chống đau có thuốc phiện vì sợ bị ghiền. Thực ra dùng lâu có thể khiến bệnh nhân tùy thuộc vào thuốc nhưng không phải lúc nào cũng ghiền thuốc. Trước khi cho các thuốc này, bác sĩ thường cân nhắc kỹ càng từng trường hợp.

Kết luận

Ðau Nhức không những là vấn đề sức khỏe cá nhân mà còn ảnh hưởng tới tình trạng kinh tế, xã hội của đất nước. Theo viện Quốc Gia Hoa Kỳ về An Toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp thì hàng năm Ðau Nhức đã đưa đến thất thoát cả trăm tỷ mỹ kim vì đau khiến công nhân không làm việc được, vì phí tổn chăm sóc điều trị.
Người bị đau nhức kinh niên có thể trở thành xa cách, cô lập với gia đình, bạn bè cũng như không chu toàn chăm sóc được con cái, vợ chồng. Và đó mới là điều đáng buồn, đáng quan tâm.
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức (Câu Chuyện Thầy Lang)



xuan hoang  
#93 Posted : Sunday, June 26, 2011 5:48:51 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Originally Posted by: nhat-tam Go to Quoted Post
Hello các bạn!
Trạm y tế cứ bị di chuyển lên xuống hoài à. Khi ở Forum cũ, được sticky ở đầu trang nên dễ nhìn thấy hơn bây giờ. Đây là một Topic hữu ích trong đời sống, mọi người có thể tìm hiểu & phòng ngừa để có được sức khoẻ tốt & một cuộc sống mạnh lành.
Chúng ta có thể post lại các bài y khoa thường thức trước đó (khi ở Forum cũ) và thêm những bài viết mới , lưu giữ nơi đây.
Chủ nhân của Topic này tàng hình mất tiêu, có phải vì 'nắng hổng ưa mưa hổng chịu' hay vì nguyên nhân nào khác ?
thunder bạn hiền ơi, mau xuất hiện, please! Ông mà hổng ra, tui bận nữa, là tui với ông chơi cút bắt đó nha!BigGrin
Chúc thunder và các bạn & gia đình luôn an mạnh!


Nhat-tam thân mến ,

Rất vui khi thấy nhat-tam trở về , Ông chủ lớn của Trạm y tế nhất định sẽ vui lắm ...mà không biết đi đâu biệt tích nữa rồi . Hỏng biết Hột càfê có mượn chó đi tìm hay không nửa ???

Từ khi qua rum mới caí trạm y tế cứ " up" and " down " hoài ... nhưng chịu thôi .

Chúc Nhat-tam luôn Vui & Khoẻ ( đừng chơi 5- 10 hoài , tội nghiệp bạn bè bị heart attach đó ).

thân
UserPostedImage
thuylinh  
#94 Posted : Monday, June 27, 2011 2:30:54 PM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Tập Thở Và Vận Động Để Trị Bệnh Đau Nhức.


Một tờ báo Mỹ có kể một câu chuyện về một người đi ăn trộm, đang mò mẫm trong bóng tối bỗng đụng chạm làm rơi một món đồ gì đó, khiến ông chủ nhà thức giấc. Anh ăn trộm hoảng quá, đứng chết trân tại chỗ, chờ chủ nhà kêu 911. Nhưng bất ngờ, ông chủ nhà chỉ rên rẩm và nói: -Ăn trộm hả? Muốn lấy gì thì lấy đi. Nhưng, trước khi đi, đưa giùm tôi lọ thuốc phong thấp ở trên bàn đó và một ly nước nữa. Tôi đang đau quá, không dậy nổi.
Anh trộm chưng hửng một lúc, nhưng rồi cũng đưa lọ thuốc và nước cho chủ nhà xong, rồi chậm rãi nói:
-Ông bị đau nhức đầu gối phải không? Tôi cũng bị.. Nhưng uống thuốc này không hết đâu. Tôi dùng thuốc khác.
Chủ nhà vừa rên vừa hỏi:
-Thuốc gì vậy? Viết tên thuốc được không?
Anh trộm viết tên thuốc rồi vừa đưa cho ông chủ vừa nói:
-Tôi dùng thuốc này mới hết. Nhưng vì trước đây, đau quá, mất ngủ ban đêm quen rồi, nên bây giờ, hết bệnh, không biết làm gì cho hết đêm, đành đi ăn trộm ....Ông tha cho tôi. Tôi đi về nhé!
Nói xong, anh trộm ra mở cửa, đi về. Ông chủ nhà gọi với theo:
-Cám ơn nghe. Đêm nào mất ngủ, cứ tới đây, nói chuyện chơi.

Bài báo nói lên được một thực trạng về bệnh tật mà bao người Mỹ đang mắc phải: bệnh Đau nhức các khớp xương, hay còn gọi là Phong thấp, mà tiếng Mỹ gọi là Arthritis. Có hai loại Đau nhức: Osteoarthristis, tạm gọi là loại Một (cho các vị cao niên dễ nhớ) và Rheumatoid Arthritis mà ta tạm gọi là loại Hai.

Loại Một gây ra những đau nhức ở cổ, vai, bàn tay, ngón tay, đầu gối, xương chậu... Nguyên nhân thường là do tuổi tác (phụ nữ trên 45 tuổi có thể mắc bệnh này), thoái hóa xương, di truyền, bệnh mập phì, hay do những động tác không ngay ngắn được lập đi lập lại lâu ngày như ngồi ghế cong lưng, ngồi lái xe mà thắt lưng bị bẻ cong, nghiêng đầu sang một bên, tay đánh máy suốt ngày không thư dãn, đứng một vị thế cong trong nhiều giờ, nhiều ngày.... Trên nước Mỹ có tới 21 triệu người bị đau loại Một.

Loại Hai cũng đau ở các đốt xương, có thể sưng lên, làm biến dạng xương, khó đi đứng, cử động. Loại này có trên 2 triệu nguời mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do hệ thống miễn nhiễm không làm việc tốt, bị di truyền, hay vì thời tiết thay đổi đột ngột.
Nói chung cả hai loại đều gây đau nhức, nhiều người cảm thấy “khốn khổ, khốn nạn” khi bị các cơn đau hành hạ. Hoặc đi một lúc thì cảm thấy nhức chân, rồi đi lệch lạc. Hoặc ngủ không nổi vì khớp xương đầu gối buốt quá. Hoặc ngồi lâu thì tê hai bả vai...

Thường thì có ba (3) cách điều trị các bệnh đau nhức : Thuốc uống (Medication), giải phẫu (Surgery) và Không dùng thuốc (Non-medication). Hai phương pháp đầu tiên, dĩ nhiên, là phải qua Bác sĩ.

Phương pháp thứ Ba: Không dùng thuốc lại gồm ba cách: châm cứu, vật lý trị liệu, và tập luyện (exercise). Trong ba cách này, Tập Luyện (Exercise) dễ hơn cả và tác dụng lâu bền hơn cả. Châm cứu có tác dụng tức khắc, nhưng cũng hết tác dụng nhanh lắm. Vật Lý trị liệu cũng thế. Khi được Mát xa, thì thấy rất “đã”, nhưng chỉ một ngày sau là lại đau như cũ. Vậy chỉ còn các TẬP LUYỆN lấy một mình, không tốn tiền, không phải giải phẫu, cũng không phiền ai, nhưng chỉ cần Ý CHÍ tự thắng mà thôi.
.
Người viết bài này, chỉ còn một ít chỗ khớp xương nào còn nguyên vẹn mà chưa lần ...gẫy. Tuổi trẻ, đi tập đủ loại võ nghệ: Nhu Đạo, Thái cực Đạo, Hapkido, Aikido, Thiếu Lâm.. không môn nào mà không mang cho thân thể một lần trật xương, gẫy vỡ. Đấu vật thì cắm đầu xuống đất, lọi cổ tưởng chết. Rồi chống tay xuống đất, vỡ xương cổ tay, lọi cùi chỏ.. Nhẩy qua chướng ngại vật: gẫy vai (2 lần). Đá người thì bị lọi ngón chân. Vật người thì bị gẫy thắt lưng... Bó bột liên miên, hết tay lại chân. Vào nhà thương chích thuốc rồi qua Thầy Cự Thất bó gà, qua Thầy Tầu điểm huyệt, có lần nhờ thầy Cao Miên thổi bùa cho lành vai... Tất cả những lần gẫy vỡ ấy, tuổi thanh niên sung sức chẳng coi nhằm nhò gì, giờ này, mới thấy thấm thía: đau nhức khắp người. Muốn hết đau nhức mà không muốn uống thuốc, không chích Cortisone, không đi Bác sĩ chỉnh xương, thì phải tập luyện hoài hoài, ngưng tập là .. đau! Cho nên, viết bài này để chia xẻ những ai đau đớn vì bệnh phong thấp, nhức xương, mong mọi nguời cùng khỏe.

Nguyên lý:
Hệ thống thần kinh của con người chạy cùng khắp thân thể, chỗ nào cũng có, từ đầu cho tới ngón tay, ngón chân. Tuy nhiên, theo hình vẽ về hệ thần kinh được treo tại các phòng mạch Tây, Đông Y, ta thấy chùm dây thần kinh đi từ sau ót tỏa ra cánh tay, xuống lưng, qua xương sống, tới hông, đùi, rồi chân (trông như một bó dây điện) là chùm quan trọng nhất. Nếu bị “kẹt” đâu đó, thì đau. “Kẹt” trên cổ có thể gây đau ra cánh tay, bàn tay. “Kẹt” thấp xuống dưới thì đau bắp thịt lưng, đau thắt lưng, “kẹt” ở chỗ thắt lưng lại gây đau ở đùi, chân... Cho nên, khi bị đau quá vì xương thoái hóa hay vì đụng xe, mà phải giải phẫu, bác sĩ sẽ cân nhắc rất kỹ. Mổ ở thắt lưng, nếu “xui”chạm giây thần kinh, có thể bị liệt chân mà thôi, nếu mổ ở cổ mà bị “xui”, có thể liệt cả người! Vì thế, chỉ những trường hợp đau cổ chịu hết nổi, bắt buộc phải giải phẫu thì phải ký giấy chấp nhận 50/50, một là khỏi, hai làđời xe lăn. Hên thì cũng có thể phải ghép một cây sắt vào trong cổ. Đôi khi phải mổ lại.. Chỉ còn cách Tập Luyện, cho thư giãn thần kinh chỗ gây đau, cho mạnh bắp thịt chỗ đau, cho khớp xương được chuyển động dịu dàng trở lại, kích thích chất nhờn đầu khớp xương phục hoạt, điều chỉnh lại những chỗ lệch lạc xương cốt, thì sẽ .. bớt đau (không phải HẾT đau, vì hễ ngưng tập một thời gian, có thể đau lại).

A-CHỮA ĐAU CỔ, ĐAU VAI, ĐAU TAY:

1-Xoay cổ trái phải: nhìn thẳng trước mặt, xoay cổ từ trái sang phải chầm chậm, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, từ từ hít vào. Từ từ trả cổ trở lại phía trước, rồi xoay sang bên phải, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, thở ra. Nhớ xoay cho hết cỡ, tới khi không xoay được nữa thì thôi. Làm 10 lần.

2-Gập cổ: ngửa cổ lên chầm chậm cho tới hết cỡ, từ từ hít vào. Chầm chậm gập cổ xuống ngực, hết cỡ, thở ra. Làm 10 lần.

3-Bẻ cổ: Mắt nhìn thẳng đằng trước, bẻ cổ nghiêng xuống đầu vai trái, hít vào. Từ từ thở ra, bẻ cổ qua đầu vai bên kia. (Khác với xoay cổ trái phải: ở đây, khi bẻ đầu xuống vai thì đầu vai có hơi nhô lên cho chạm với đầu, còn xoay cổ trái phải thì chỉ quay đầu vào khoảng trống sau vai mà thôi). Làm 10 lần.

4-Xoay cổ vòng tròn: Dùng điểm tựa là cổ, xoay vòng đầu chung quanh cổ, từ phải sang trái 10 lần rồi từ trái qua mặt 10 lần.

B-CHỮA ĐAU CÁNH TAY, BÀN TAY:

1-Xoay vai: hai tay buông thỏng, dùng đầu vai làm điểm tựa, xoay vai theo một vòng tròn chạy chung quanh đầu vai ( không phải nhô lên, hụp xuống) từ sau ra trước, rồi từ trước ra sau. 10 lần. Trong khi xoay vai, vẫn hít thở đều đặn.

2-Lắc bàn tay: giơ cánh tay ra trước mặt, cùi chỏ ép hai bên thân mình, giữ nguyên cổ tay và cánh tay, hai bàn tay để trước mặt, lòng bàn tay hướng vào phía ngực. Lắc từ trên xuống dưới (như giũ giũ bàn tay) thật mạnh 10 lần. Đổi hướng, cho mu bàn tay lên trên, lòng bàn tay hướng về mặt đất, giũ mạnh bàn tay từ trên xuống dưới. 10 lần. Đổi hướng, hai lòng bàn tay quay vào nhau, giũ mạnh bàn tay từ trái qua phải, từ phải qua trái. Những người thư ký đánh máy, làm “neo”, thợ may.... phải tập bàn tay thường xuyên, nếu không, có thể bị mổ cổ tay vì khớp xương cổ tay bị cứng khô lại.

3-Vẽ vòng trên đất: đứng rộng chân ra, một tay vịn vào mặt bàn, nguời nghiêng xuống cho song song với mặt đất, cánh tay buông thỏng, tưởng tượng như đang cầm một cái que, vẽ một vòng tròn tưởng tượng thật to trên mặt đất . Vẽ nhanh 10 lần rồi đổi tay. Hít thở đều hòa.

C-CHỮA ĐAU THẮT LƯNG, ĐÙI, CHÂN:

1-Xoay thắt lưng theo vòng tròn: hai tay chống hông, ngón tay để ra sau lưng, ngón cái phía trước, các ngón tay ấn mạnh vào thắt lưng, dùng thắt lưng làm điểm tựa, xoay vòng bụng ra trước rồi vòng qua bên phải (bên trái) ra sau, rồi vòng tới trước. Làm liên tục không ngừng, khi ra tới trước, thì bụng phải ưỡn ra hết cỡ. Khi ra sau thì thắt lưng cong lại cũng hết cỡ. Hít thở chầm chậm theo vòng.

2-Gập lưng: cũng như gập cổ, ngửa lưng ra, hít vào, gập thắt lưng xuống, thở ra. Khi ngửa lên, ngửa hết cỡ, khi gập xuống, cũng gập hết cỡ.

3-Xoay hông: hai tay buông thõng bên sườn, vặn người qua bên trái thì hai cánh tay cũng “văng” theo bên trái, nghĩa là không dùng sức tay, chỉ để cho hai cánh tay “văng” theo mà thôi. Xong, vặn người qua bên phải. Hai cánh tay lại “văng” theo bên phải. Nhớ khi xoay sang bên nào thì xoay gót chân bên đó, và bàn chân bên đó nhấc lên, nghĩa là xoay trên gót chân mà thôi. Mục đích làm cho vòng xoay rộng thêm, nếu giữ nguyên bàn chân trên mặt đất, vòng xoay sẽ ngắn lại. Hít thở chầm chậm.

D-CHỮA ĐAU ĐẦU GỐI:

1-Xoay gối trái phải: đứng vừa phải, hai bàn tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối theo một vòng tròn về phía phải (theo vòng kim đồng hồ) 10 lần rồi đổi hướng quay theo bên trái.

2-Xoay gối trong ngoài: đứng rộng chân ra, hai tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài.

Các thế đầu gối này, mới đầu thì chỉ thấp người xuống một chút, sau đó, mỗi ngày càng thấp người xuống hơn, công lực sẽ mạnh hơn. Chỉ cần làm 10 phút, là đã thở mạnh, toát mồ hôi rồi. Người nhức đầu gối ban đêm phải tập trước khi lên giường ngủ.

Lưu ý:

-Những thế tập này chỉ được áp dụng với người chưa giải phẫu xương lần nào. Nếu đã giải phẫu cổ thì không được tập cổ. Nếu giải phẫu lưng rồi mà muốn tập lưng, phải hỏi bác sĩ, xem phim X-ray có trở ngại gì không..

-Phối hợp vừa châm cứu, vừa mát xa, vừa tập luyện thì rất tốt.

-Trường hợp đau kinh niên vì xương rồi, có thể uống thêm Glucosamine có bán tại các tiệm thuốc Tây để kích thích chất nhờn đầu xương và xương.

-Mua một cái máy mát-xa nhỏ cầm tay để chà xát chung quanh chỗ bắp thịt đau sẽ hiệu nghiệm nhanh hơn.



Vài hàng trao đổi những kinh nghiệm trong suốt mấy chục năm qua, nếu có chi sai sót, mong cao nhân chỉ điểm thêm. Chúc quý vị sống lâu, sống khỏe mạnh, và hạnh phúc.

Lê Quang Thọ

Edited by user Monday, June 27, 2011 2:34:20 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thuylinh  
#95 Posted : Monday, June 27, 2011 3:30:33 PM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Originally Posted by: xuan hoang Go to Quoted Post
Originally Posted by: nhat-tam Go to Quoted Post
Hello các bạn!
Trạm y tế cứ bị di chuyển lên xuống hoài à. Khi ở Forum cũ, được sticky ở đầu trang nên dễ nhìn thấy hơn bây giờ. Đây là một Topic hữu ích trong đời sống, mọi người có thể tìm hiểu & phòng ngừa để có được sức khoẻ tốt & một cuộc sống mạnh lành.
Chúng ta có thể post lại các bài y khoa thường thức trước đó (khi ở Forum cũ) và thêm những bài viết mới , lưu giữ nơi đây.
Chủ nhân của Topic này tàng hình mất tiêu, có phải vì 'nắng hổng ưa mưa hổng chịu' hay vì nguyên nhân nào khác ?
thunder bạn hiền ơi, mau xuất hiện, please! Ông mà hổng ra, tui bận nữa, là tui với ông chơi cút bắt đó nha!BigGrin
Chúc thunder và các bạn & gia đình luôn an mạnh!


Nhat-tam thân mến ,

Rất vui khi thấy nhat-tam trở về , Ông chủ lớn của Trạm y tế nhất định sẽ vui lắm ...mà không biết đi đâu biệt tích nữa rồi . Hỏng biết Hột càfê có mượn chó đi tìm hay không nửa ???

Từ khi qua rum mới caí trạm y tế cứ " up" and " down " hoài ... nhưng chịu thôi .

Chúc Nhat-tam luôn Vui & Khoẻ ( đừng chơi 5- 10 hoài , tội nghiệp bạn bè bị heart attach đó ).

thân



@ Nhat-tam
Thuylinh rất vui mừng gặp lại anh Nhat-tam vẫn mạnh khoẻ vui vẽ trở về với forum Asia .( mừng muộn !)

@ Xuan Hoang
... vừa chợt nghe tin qua lời gió nhắn người ...chủ trạm y tế ..đang đi xa tìm thêm loại thuốc mới trị bịnh nắng hỏng ưa mưa hỏng chịu cho ai ai đoá !
vài ngày nữa chủ trạm sẽ về nhà đó anh Nhat-tam và Xuan Hoang oi.!
coffeebean  
#96 Posted : Tuesday, June 28, 2011 11:49:23 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Originally Posted by: xuan hoang Go to Quoted Post
Originally Posted by: nhat-tam Go to Quoted Post
Hello các bạn!
Trạm y tế cứ bị di chuyển lên xuống hoài à. Khi ở Forum cũ, được sticky ở đầu trang nên dễ nhìn thấy hơn bây giờ. Đây là một Topic hữu ích trong đời sống, mọi người có thể tìm hiểu & phòng ngừa để có được sức khoẻ tốt & một cuộc sống mạnh lành.
Chúng ta có thể post lại các bài y khoa thường thức trước đó (khi ở Forum cũ) và thêm những bài viết mới , lưu giữ nơi đây.
Chủ nhân của Topic này tàng hình mất tiêu, có phải vì 'nắng hổng ưa mưa hổng chịu' hay vì nguyên nhân nào khác ?
thunder bạn hiền ơi, mau xuất hiện, please! Ông mà hổng ra, tui bận nữa, là tui với ông chơi cút bắt đó nha!BigGrin
Chúc thunder và các bạn & gia đình luôn an mạnh!


Nhat-tam thân mến ,

Rất vui khi thấy nhat-tam trở về , Ông chủ lớn của Trạm y tế nhất định sẽ vui lắm ...mà không biết đi đâu biệt tích nữa rồi . Hỏng biết Hột càfê có mượn chó đi tìm hay không nửa ???

Từ khi qua rum mới caí trạm y tế cứ " up" and " down " hoài ... nhưng chịu thôi .

Chúc Nhat-tam luôn Vui & Khoẻ ( đừng chơi 5- 10 hoài , tội nghiệp bạn bè bị heart attach đó ).

thân

Xuân Hoàng à
hì hì! Thunder mới đi có ít bữa mà tìm gì ! lại đi lên núi Tà Lơn tìm thuốc quý ... thì chừng nào tìm xong sẽ về, miễn có nhắn tin qua thuylinh là được rồi !
Chú chó vàng đã đi chơi xa rồi! mà mượn chó đi tìm chỉ áp dụng cho trường hợp đặc biệt của Nhat-Tam thôi!
Thunder đâu có mèo cho chó đi tìm! Có tìm Thunder là phải cách khác!
Cũng như đi tìm Xuân Hoàng sẽ không giống cách tìm Hạ Vi ! ý, mà không có tìm nữa nghe, giao hẹn rồi !
Cũng nhắn với Nhat-Tam chơi cút bắt sương sương thôi, đừng trốn kỹ quá rồi ngủ quên luôn trong hóc không ai tìm ra nghe
Đợt vừa rồi dắt mèo sún đi ít lâu, bỗng ngày về ...bồng thêm con ... Puppy sún ... thiệt ngộ, kháu khỉnh thì thôi!
Không biết bạn mình có làm thêm chuyến nữa chăng ? chẳng biết sẽ dắt thêm con gì về ! Biết đâu lại lùa về một bầy ... vịt con dễ thương vàng óng như tơ, chắc là xinh lắm á ! tha hồ mà đuổi
coffeebean  
#97 Posted : Tuesday, June 28, 2011 11:54:06 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Thôi vô đây quậy phải có chút gì đền bù cho gia chủ không thôi mai mốt thấy mặt, nghe tên cái tìm chổi chà thì khổ.
Mới tìm ra một đề tài nho nhỏ cho vừa với cái câu "nắng hỏng ưa, mưa hỏng ch ..ị ..ụ "
coffeebean  
#98 Posted : Wednesday, June 29, 2011 12:05:03 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Trúng nắng*/Heat Stroke


Trời hồng hồng sáng trong trong
Ngàn phương rung nắng ngoài song ...

Hè về, hè về nắng tung nguồn sống khắp nơi ....

Những ngày nắng hè vừa đến, hứa hẹn những cuộc đi chơi xa gần trong ngày nắng ấm kéo dài mà "bóng chiều như lờ lững không đi" nhưng cũng báo trước những bữa nóng nực mệt đừ ... Một trong các điều lơ đãng của trẻ nhỏ cũng như của người đã từng là trẻ nhỏ trong mùa hè ham chơi là quên đi mất cái tai hại của nóng nực cũng như nóng ẩm, dang mình ngoài nắng dù chơi đùa, loay hoay làm vườn, hì hục làm việc ... mà quên rằng khí hậu đó, thời tiết ấy có thể quật mình té như chơi đó là "heat cramp, heat exhaustion, heat stroke" (tạm dịch là ngã nắng, cảm nắng, trúng nắng. Trúng nắng còn gọi là sốc / choáng nắng, là dạng nặng nhất, có thể hư hại tim, não;gây hôn mê và chết nữa)*
Đây là một loạt bệnh tình khi cơ thể bạn không thể tự điều hoà thân nhiệt hữu hiệu để giữ cho cơ thể tránh bị quá nóng bức

Bắt đầu bằng dang nắng, đổ mổ hôi, không nhớ, không kịp, hay không có nước uống hoặc có uống mà không đúng nước sẽ đổ mồ hôi nhiều, dẫn đến ngã nắng (heat cramp) tình trạng tiếp tục đưa đến mất nước cảm nắng (heat exhaustion).
Dấu hiệu: đổ mồ hôi quá cỡ, mệt mỏi, khát nước, vọp bẻ (còn gọi là bị chuột rút bắp thịt).
Rồi tới nhức đầu, chóng mặt, yếu lả, buồn nôn, ói mửa.
Nếu không được chú ý kịp thời sẽ dẫn đến trúng nắng nặng nề (heat stroke) bị sốt cao, da ửng màu đỏ, khô nóng, lơ mơ lẫn lộn, nước tiểu ít, vàng đậm thiệt đậm thở gấp, tim đập nhè nhẹ liên hồi, có thể bị kinh giật, hôn mê . Là khi bạn đổ mồ hôi xối xả đã mất nước mà không kịp "làm nguội" cơ thể còn bị không khí nóng, độ ẩm cao làm chậm sự bốc hơi cùng âm ỷ hun cho thân nhiệt tăng dần dẫn đến "heat stroke" (xỉu vì trúng nắng)
Phòng bệnh bao giờ cũng hơn chữa cháy, những điều chúng ta có thể làm
1 - Để ý đến tin tức dự báo thời tiết, sẽ biết những ngày nắng đẹp cũng như những ngày nóng ẩm muốn khùng. Đặt biệt những ngày "spare the air đays".
2 - Tránh mặc quần áo mầu đậm, như là màu đen, đỏ, nâu ... những màu này nghe nói là bắt và giữ hơi nhanh và dai, Lựa quần áo thoải mái, thoáng nhẹ
3 - Luôn mang theo chai nước bên mình, trong túi xách và trong xe nên có ít chai để dành
4- Khi cảm thấy mệt mỏi, hoa mắt, xây xẩm, chóng mặt, thì ngừng ngay công việc đang làm nếu có thể được tìm một nơi gần nhất mát mẻ có máy điều hoà không khí, thí dụ như siêu thị, shopping mall chẳng hạn, nếu đang ở ngoài đường thì tìm bất cứ bóng mát nào để dừng chân
5 - uống nước, Không phải là nước có chất rượu, cà phê, soda (bao gồm beer, alcohol, cafeinate soda) khi ở ngoài nắng, nhớ dặn lòng phải cầm chai nước lên uống một miếng mỗi 15, 20 phút . Nên ăn các loại trái cây có nhiều chất nước như dưa hấu, dưa leo ..
Nên nhớ cho, nước uống vào không chỉ đền bù lượng nước đã mất mà còn làm nguội đi phần nào thân nhiệt
6 - Khi nghĩ mình bị cảm nắng, cách tốt nhất là tắm mát, nhưng nếu bạn ở ... ngoài đường, trong shopping mall thì đắp khăn thấm nước mát lên mặt, cổ, tay (nước mát chứ không phải nước ...đá lạnh)
7 - nghỉ một hồi, nhắm chừng 20 -30 phút mà không thấy khá thì bạn nên đi tìm bác sĩ mà than thở
8 -Khi thấy ai bị bị xỉu mà hoàn cảnh chung quanh gợi nghĩ đến trúng nắng trầm trọng. Chắc bạn hiểu nên gọi số 911, giúp nạn nhân bằng cách gỡ bớt áo khoác, cà vạt, thắt lưng, đắp khăn thấm nước mát dùm họ. Nếu họ còn tỉnh táo nói năng thì cho họ uống nước từ từ từng chút một (một ly nhỏ mỗi 10 -15 phút) Nếu họ không tỉnh táo thì chỉ nên đắp nước mát trong lúc chờ xe cứu thương . Đặt họ nằm ở nơi thoáng mắt, đầu thấp hơn chân hay nâng chân họ lên cao cỡ chừng 3 - 4 tấc (one foot) để dồn máu về các cơ quan trọng yếu
9 - Cảm giác đau rút bắp thịt sẽ từ từ giảm bớt khi lượng nước mất từ cơ thể được bù đắp và mức nhiệt trong người hạ dần . Không nên uống thuốc cảm hay thuốc giảm đau như Tylenol, Aspirin, hay Advil ... v.v... những thuốc này không giúp ích gì trong chứng cảm nắng mà có thể gây thêm nôn ói. Chỉ nên xoa nắn bắp thịt và chờ đợi
10 - Không nên bỏ qua, coi nhẹ các dấu hiệu báo trước của trúng nắng trong những ngày nóng ẩm, nhất là với trẻ em, người già cả, người mang các bệnh mãn tính hoặc đang dùng các loại thuốc làm gia tăng nguy cơ bị trúng nắng
11 - cũng nên nhớ bù đắp lượng muối bị mất trong mồ hôi, nhấT là những khi thấy mình uống nước nhiều mà vẫn thấy khát, mệt, bải hoải rã rời tay chân, nên dùng thêm một ít muối pha vào nước từ nửa muỗng cho đến 1 muỗng gạt cà phê muối sau mỗi 1 lit nước uống, hay dùng 1 chai Gatorate cho mỗi 2 chai nước . Đây là trường hợp khi chúng ta "chỉ" uống nước, mà không dùng các loại thức ăn uống, khác có chứa muối như phở, bún bò, soup, sữa, chocolate, nước trái cây v.v... sự bù đắp cũng nên có tính cách ước lượng mà không cần phải chính xác, vì cơ thể sẽ tự điều hoà cho vừa đủ. Nhưng nếu đổ mồ hôi nhiều, mất cả nước lẫn muối mà chỉ cho uống nước không thôi thì trong lúc cấp thời, cơ thể khó mà điều chỉnh kịp Nói đến đây mới thấy sự vô hình chung hữu ích của "nhớ ơi là nhớ" tới ly chanh muối, ly xí muội hay ly nước dừa ngọt mát có rắc vào ít hột muối đậm đà của trưa hè nắng xưa nhìn hàng me lắc rắc

Chúc các bạn những ngày hè vui vẻ an lành ... trúng gì cũng được, đừng trúng gió, trúng mưa, trúng nắng hay trúng thực

Sưu tầm: Medline, United States NLM/NIH và các nguồn tin khác


* ai có biết lời dịch nào khác xin vui lòng cho cho biết, cám ơn nhiều
Hungholland  
#99 Posted : Wednesday, June 29, 2011 5:01:23 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
BỆNH GOUT ĐẾN TỪ ĐÂU ?

UserPostedImage


Bệnh gout nằm trong nhóm bệnh lắng tụ tinh thể (crystalline deposition disease).

Acide urique là thủ phạm

Cụ thể ở bệnh này là lắng tụ tinh thể monosodium urate ở bao khớp, gân do tình trạng acide urique tăng cao trong máu… gây ra các đợt viêm khớp ngoại biên tức là viêm các khớp chân tay đặc biệt hay xảy ra ở ngón chân cái.

UserPostedImage


Tình trạng viêm này là do các con bạch cầu được ví như các lính chiến đấu trong cơ thể đi dọn dẹp các tinh thể này.

Tình trạng viêm này có thể tái đi tái lại nhiều lần gây ra biến dạng khớp nếu không điều trị. Không phải tất cà những người có acide urique cao trong máu là bị cơn gout, tuy nhiên nếu nồng độ acide urique trong máu cao và kéo dài càng lâu thì càng có nguy cơ bị gout.

Thế tại sao lại bị tăng acide urique trong máu? Đó là do thận không thải được acide urique hoặc do cơ thể tạo ra quá nhiều (do ăn uống, do bịnh lý như ung thư máu dạng lim phôm, thiếu máu tán huyết, vảy nến.. ) hoặc do bất thường trong chu trình tạo ra acide này.

Bệnh sẽ biểu hiện bằng các cơn đau ở các khớp, khớp có thể bị sưng to đỏ có thể có nước trong khớp đặc biệt là ngón chân cái (khớp bàn ngón) hay bị nhất, tuy nhiên các khớp khác đều có thể bị.Cơn đau rất nặng được mô tả dữ dội và nhiều khi bệnh nhân không dám đắp mền vì chỉ cần chạm nhẹ vào cũng gây ra cơn đau dữ dội.

Cơn gout hay xảy ra sau 1 chấn thương nhẹ, sau bữa nhậu linh đình. Cơn gout có thể xảy ra vài ngày hoặc vài tuần và có thể tự bớt, nhưng nếu không điều trị những cơn này sẽ xuất hiện thường hơn và gây ra biến dạng hủy khớp gây tàn phế.

Làm sao để chẩn đoán bệnh gout?

- Các BS sẽ cho bệnh nhân đi thử nồng độ acide urique trong máu và tùy theo thông số của mỗi loại máy thử mà cho các con số khác nhau, bình thường nhỏ hơn 7mg/dL.Tuy nhiên cơn gút khá đặc biet nên đôi khi có thể chẩn đoán qua hỏi bệnh sử và khám bệnh nhân vì nồng độ acide urique trong máu cao giúp chẩn đoán nhưng không chuyên biệt.

Nếu lấy dịch khớp đem soi dưới kình hiển vi để thấy các tinh thể urate hình kim là chắc chắn nhất nhưng ít được làm vì nhiều lí do khác nhau.

- Chụp x ray khớp cho thấy hình ảnh tổn thương xương dưới sụn.

UserPostedImage


Bệnh tiến triển ra sao và có thể chữa khỏi hay không?

Thường thì cơn gout có thể bị đẩy lui bằng các thuốc hiện có và nếu bệnh nhân chịu theo cuộc điều trị và chấp nhận ăn kiêng thì có thể ngăn chặn được bệnh nhưng nên nhớ rằng đây là loại bệnh không thể chữa dứt, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.

Nếu không điều trị hoặc để cơn gout xảy ra nhiều lần sẽ gây hủy khớp gây tàn phế, lúc đó cần đến các phẫu thuật tái tạo lại khớp. Khoảng 20 % bệnh nhân bị gout bị sỏi thận do chính tinh thể urate lắng tụ gây ra sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây suy chức năng thận, nhiễm trùng tiểu… có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng. một số bệnh nhân có các cục ở dưới da như vùng khuỷu, mắt cá .. gọi là cục tophi là do lắng tụ tinh thể urate khi bể ra làm chảy ra 1 chất bột trắng giống như phấn.

Vai trò của nội soi khớp là làm sạch khớp, cắt bớt bao hoạt dịch của khớp khi bị viêm nhiều lần gây dày, hạn chế vận động của khớp. Một khi khớp bị hư hoàn toàn thì có thể thay khớp bằng khớp nhân tạo.

BS TĂNG HÀ NAM ANH


Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout


I. Những thức ăn và đồ uống không có lợi cho người bị bệnh gout :

1. Thức ăn :

Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có gốc Purin như : Hải sản, các loại thịt có màu đỏ như : Thịt trâu, bò, ngựa, thịt dê, thịt thú rừng…; Phủ tạng động vật như : Lưỡi, lòng, tim, gan, thận, óc…;Trứng gia cầm nói chung, nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng vịt lộn…

Giảm bớt những thực phẩm giàu đạm khác trong khẩu phần ăn như :

+ Đạm động vật nói chung như: Thịt lợn, thịt chó, thịt gà, thịt vịt…;Cá và các loại thủy sản như: lươn, ếch…

+ Đạm thực vật: Đậu hạt nói chung nhất là các loại đậu ăn cả hạt như : đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh…,Các chế phẩm từ đậu nành như : Đậu phụ, sữa đầu nành, tào phớ… nhìn chung ít làm tăng acid uric hơn các loại đậu chưa chế biến.

Kiêng tất cả các loại thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh như : Măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng) vì sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể.

Giảm các thực phẩm giàu chất béo no như : Mỡ, da động vật, thức ăn chiên, quay, thực phẩm chế biến với các chất béo no như: Mì tôm, thức ăn nhanh.

Bệnh nhân có tầm vóc trung bình 50 kg không nên ăn quá 100g thực phẩm giàu đạm mỗi ngày

2. Đồ uống :

Tuyệt đối không uống bất kỳ một dạng chất cồn nào như : Rượu, bia, cơm rượu, nếp than…

Hạn chế đồ uống có gaz, nước uống ngọt nhiều đường vì sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, một trong những yếu tố tăng nặng bệnh gút.

Giảm các đồ uống có tính toan như : nước cam, chanh, nước trái cây giàu vitamin C vì làm tăng nguy cơ kết tinh urate ở ống thận, tăng nguy cơ sỏi thận.

II. Những thức ăn, đồ uống có lợi cho người bị bệnh gút:

1. Thức ăn :

Các thực phẩm giàu chất xơ nói chung như dưa leo, củ sắn, cà chua…giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm thoái hoái biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric.

2. Đồ uống :

Nên uống nhiều nước (tối thiểu 2,5 đến 3 lít nước mỗi ngày).

Nên uống nước khoáng không ga có độ kiềm cao giúp tăng đào thải acid uric và hạn chế sự kết tinh urate tại ống thận, làm giảm nguy cơ sỏi thận.


UserPostedImage
xuan hoang  
#100 Posted : Thursday, June 30, 2011 5:16:22 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Originally Posted by: coffeebean Go to Quoted Post
Originally Posted by: xuan hoang Go to Quoted Post
Originally Posted by: nhat-tam Go to Quoted Post
Hello các bạn!
Trạm y tế cứ bị di chuyển lên xuống hoài à. Khi ở Forum cũ, được sticky ở đầu trang nên dễ nhìn thấy hơn bây giờ. Đây là một Topic hữu ích trong đời sống, mọi người có thể tìm hiểu & phòng ngừa để có được sức khoẻ tốt & một cuộc sống mạnh lành.
Chúng ta có thể post lại các bài y khoa thường thức trước đó (khi ở Forum cũ) và thêm những bài viết mới , lưu giữ nơi đây.
Chủ nhân của Topic này tàng hình mất tiêu, có phải vì 'nắng hổng ưa mưa hổng chịu' hay vì nguyên nhân nào khác ?
thunder bạn hiền ơi, mau xuất hiện, please! Ông mà hổng ra, tui bận nữa, là tui với ông chơi cút bắt đó nha!BigGrin
Chúc thunder và các bạn & gia đình luôn an mạnh!


Nhat-tam thân mến ,

Rất vui khi thấy nhat-tam trở về , Ông chủ lớn của Trạm y tế nhất định sẽ vui lắm ...mà không biết đi đâu biệt tích nữa rồi . Hỏng biết Hột càfê có mượn chó đi tìm hay không nửa ???

Từ khi qua rum mới caí trạm y tế cứ " up" and " down " hoài ... nhưng chịu thôi .

Chúc Nhat-tam luôn Vui & Khoẻ ( đừng chơi 5- 10 hoài , tội nghiệp bạn bè bị heart attach đó ).

thân

Xuân Hoàng à
hì hì! Thunder mới đi có ít bữa mà tìm gì ! lại đi lên núi Tà Lơn tìm thuốc quý ... thì chừng nào tìm xong sẽ về, miễn có nhắn tin qua thuylinh là được rồi !
Chú chó vàng đã đi chơi xa rồi! mà mượn chó đi tìm chỉ áp dụng cho trường hợp đặc biệt của Nhat-Tam thôi!
Thunder đâu có mèo cho chó đi tìm! Có tìm Thunder là phải cách khác!
Cũng như đi tìm Xuân Hoàng sẽ không giống cách tìm Hạ Vi ! ý, mà không có tìm nữa nghe, giao hẹn rồi !
Cũng nhắn với Nhat-Tam chơi cút bắt sương sương thôi, đừng trốn kỹ quá rồi ngủ quên luôn trong hóc không ai tìm ra nghe
Đợt vừa rồi dắt mèo sún đi ít lâu, bỗng ngày về ...bồng thêm con ... Puppy sún ... thiệt ngộ, kháu khỉnh thì thôi!
Không biết bạn mình có làm thêm chuyến nữa chăng ? chẳng biết sẽ dắt thêm con gì về ! Biết đâu lại lùa về một bầy ... vịt con dễ thương vàng óng như tơ, chắc là xinh lắm á ! tha hồ mà đuổi


Coffeebean ơi !

Cám ơn Hột cafê nhiều đã post bài dành cho mấy người " nắng không ưa... " nha .

Thì ra ông Chủ Trạm " đi núi Tà Lơn tìm thuốc quý ..." để mình nhờ Thuylinh " nhắn gió " dùm tới ông chủ Trạm tìm thêm dùm mình thuốc trị bệnh " Mắc nạn " , chớ lâu lâu có người bệnh mắc nạn hoài mà bạn bè hỏng biết làm sao giúp . Huh



UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (3)
39 Pages«<34567>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.