Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages<1234>
Options
View
Go to last post Go to first unread
havi  
#41 Posted : Friday, December 24, 2010 6:11:55 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

Đêm Nguyện Cầu
Lê Minh Bằng

Trình bày: Asia
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=9nRMM0_OEC
Trình bày: Elvis Phương
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=-8wnnoW2II

Kính dâng tổ quốc mến yêu. Chân thành ghi ơn những người đã và đang chiến đấu cho hòa bình Việt Nam.
Lê Minh Bằng, Quốc khánh 1966


Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình người ơi
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối
Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài
Và hồn tôi mang vết thương vết thương trần ai


Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu


UserPostedImage


Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.


UserPostedImage


Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?



UserPostedImage

UserPostedImage
coffeebean  
#42 Posted : Saturday, December 25, 2010 4:30:23 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Lời Nguyện Cầu
Mùa sao sáng, ơi! mùa xưa thương nhớ
Mùa nguyện cầu bao tiễn biệt xót đau
Của chinh chiến chia ly và nước mắt
Cho người đi có được một ngày về

Nghe vang vọng từng lời kinh cầu nguyện
Dẫu mỏi mòn còn hy vọng khát khao
Ước thanh bình trên quê hương tan nát
Cho yêu thương dịu ngọt nỗi hận sầu

Bao nhiêu năm đã tan mùa chinh chiến
Lời nguyện cầu vẫn đau xót vang lên
Quê hương ơi sao nát tan hồn nước
Khóc người đi biền biệt mãi không về

Lời cầu nguyện đêm Giáng sinh thao thức
Xin hồn thiêng sông núi sáng lòng đêm
Theo ánh đuốc đàn con từ muôn ngả
"Bước oai linh" về lại đất mẹ hiền


Kinh Chiều
Nhạc: Hoàng Thi Thơ, Trình bày: Hoàng Oanh
http://www.youtube.com/watch?v=bWJ-giOHQgo

coffeebean  
#43 Posted : Wednesday, December 29, 2010 3:39:23 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Khi Tôi Chết Đừng Đưa Tôi Ra Biển Nguyễn Văn Phán


Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi ! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô
Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.


havi  
#44 Posted : Wednesday, January 5, 2011 6:35:46 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Lê Thị Ý: Tác giả 'Ngày mai đi nhận xác chồng'

Đinh Quang Anh Thái

Cuối thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu” do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý gây xúc động lớn lao cho người nghe.Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị. Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954.

Nhân dịp từ Virginia đến California ra mắt tác phẩm mới tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, bà đã dành cho biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái cuộc nói chuyện thân mật sau đây.



UserPostedImage

-ÐQAThái: Tình khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu”, thơ của bà, Phạm Duy phổ nhạc; tựa đề khởi thủy của bài thơ là gì ạ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc bấy giờ vào năm 1970, tôi viết 10 bài thơ trong tập thơ “Mười Bài Thương Ca”; bài mà Phạm Duy phổ thành ca khúc là “Thương Ca 1”.
-ÐQAThái: Phải chăng chính bà là người góa phụ đi nhận xác chồng trong bài thơ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: (cười thoải mái) Không. Cho tới bây giờ tôi vẫn độc thân.
-ÐQAThái: Vậy, bà lấy cảm xúc từ đâu để viết nên bài thơ bất hủ này?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.
-ÐQAThái: Bài “Thương Ca 1”, Phạm Duy phổ nhạc, ngay khi được phổ biến, đã chiếm tâm hồn người nghe. Nhưng cũng có người lên án bài này “phản chiến”; bà nghĩ sao ạ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi tôi làm thơ, tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên.

Một người bạn của anh Vương Ðức Lệ tôi đến nhà chơi, thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh - người trụ trì sinh hoạt “Ðàm Trường Viễn Kiến” ở nhà cụ tại Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo - Cụ Quỳnh đọc, thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên, bài thơ của tôi được mọi người thương hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi, may mắn thôi, chứ tôi không chủ ý trước việc phổ biến bài thơ.
-ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, “Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng” thì Phạm Duy sửa thành “Bây giờ anh phủ mầu cờ” và cắt đi câu thơ kế tiếp.
-ÐQAThái: “Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng”, tại sao lại phũ phàng ạ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.
-ÐQAThái: Khi nhạc sĩ Phạm Duy đổi chữ và cắt bớt câu thơ như vậy, là tác giả, bà có thấy mất đi nguyên ý khi cảm xúc sáng tác không?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi không nghĩ gì và cũng không thắc mắc, không để ý chuyện đó, vì khi tôi làm thơ, tôi theo vần điệu của thơ, còn ông Phạm Duy làm nhạc thì ông cảm hứng theo nốt nhạc.
-ÐQAThái: Hỏi câu này bà thứ lỗi cho, bà có người yêu là lính không?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: (ngập ngừng..., cười) Chắc cũng phải có chứ ạ!
-ÐQAThái: Bài thơ “Thương Ca 1” do bà sáng tác và Phạm Duy phổ nhạc, đã từ lâu trở thành của quần chúng. Nghĩa là, người ta hát say sưa mà không còn nhớ tới tên tác giả. Nếu tình cờ, ở một nơi chốn nào đó, bỗng nhiên nghe có người hát, có người nói tới bài thơ này, tâm trạng của bà sẽ ra sao?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi vui chứ ạ. Vì tôi thấy tôi may mắn có người biết đến thơ của mình; mà thực sự khi làm thơ, tôi làm vì tôi thấy cần làm thôi, chứ không mang ước vọng có con mắt nào đó để ý đến thơ mình (cười).
-ÐQAThái: Bà có thể đọc cho nghe nguyên văn bài “Thương Ca 1”.


UserPostedImage hình ảnh gia đình Đại úy Đạt

-Nhà thơ Lê Thị Ý:
“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”

-ÐQAThái: Nếu dùng thơ để kết thúc cuộc phỏng vấn này, bà sẽ chọn những câu thơ nào?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi muốn dùng hai câu thơ cuối của bài “Thương Ca 1” là “Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai”, để nói lên tâm trạng người góa phụ trong chiến tranh, trong nỗi đau tận cùng, cảm xúc như mình vẫn còn người mình yêu.
-ÐQAThái: Cám ơn bà đã nhắc nhớ lại một bài thơ bất hủ nói lên nỗi đau của con người và đất nước Việt Nam thời còn chinh chiến.



UserPostedImage
coffeebean  
#45 Posted : Saturday, January 8, 2011 1:58:18 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Cám ơn Hạ Vi và Thunder nhiều thiệt nhiều ! đã sưu tầm thơ, bài vở, và những hình ảnh khôn nguôi ...

Cuộc phỏng vấn bỏ túi của tác giả Lê Thị Ý và nguyên thủy bài thơ "Thương ca 1" trước khi Phạm Duy phổ nhạc vẫn gợi lại xót xa, đau đớn của một thời mà chia lìa vĩnh biệt xảy ra như mưa nắng mỗi ngày ...

Bài thơ của Trạch Gầm, Trang Y Hạ thiệt là cảm động. Còn bài thơ (như là văn tế, phải không ?) của Nguyễn Mạnh Trinh về người chiến sĩ Không quân thật hào hùng mà rất đỗi ngậm ngùi ... hột cà phê post một hai bài hát quen thuộc này . Mời các bạn cùng nghe, để tưởng nhớ đến những cánh chim bằng đã không còn giang cánh trên vòm trời quê hương mến yêu nữa !

Phạm Phú Quốc! sao đi không trở lại
Triệu lòng đau sông núi cũng hờn đau
Và riêng ai theo dõi hướng tinh cầu
Nghe nức nở vai gầy run cô độc

Phạm Phú Quốc một đời trai ngang dọc
Những nụ cười, tia mắt rực niềm tin
Vì non sông, vì lý tưởng thanh bình Theo cánh gió đi vào lòng đất giặc ....



Huyền sử ca một người mang tên Quốc Phạm Duy - Duy Khánh

http://www.youtube.com/watch?v=LOPQOIj1Apk



Bài vinh thăng cho một loài chim (Trầm Tử Thiêng - Thái Thanh)

http://www.youtube.com/watch?v=3CAWQGYlFn4




coffeebean  
#46 Posted : Monday, January 17, 2011 3:14:48 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Nhớ anh Đêm trở lạnh đổ cơn mưa buốt giá
Ánh chớp loang nhoà nhạt bóng poncho
Đoàn quân đi như tích cổ thiên thu
Nguyện giữ nước trong âm thầm lặng lẽ

Giữa sấm động cùng mưa nguồn, chớp bể
Cơn nắng Lào cháy xém dạn da khô
Vẫn đôi mắt vương ngây thơ lưu luyến
Lá sân trường, vườn mận, nếp nhà tranh.

Gánh gian lao gìn giữ ước mộng lành
Đêm mưa lạnh mơ áo bay chiều nắng
Nhớ miên man trên từng bước quân hành
Qua thôn vắng chạnh niềm quê thao thức


À ơi, tiếng võng ru hời !
Ai đi chinh chiến một thời xuân xanh
Nước non chưa thắm mộng lành Ngùi thương nhau khóc thanh bình dở dang!


Sương Trắng Miền Quê Ngoại
Sáng tác: Đinh Miên Vũ, Trình bày: Duy Khánh

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/AtHfK138pQ[/FLASH]
havi  
#47 Posted : Sunday, January 23, 2011 4:09:40 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Những Cánh Én Giữa Mùa Đông.

UserPostedImage

Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từng một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.

Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:
- Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.

Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi.

Tôi cảm động, ôm lấy vai anh và mời anh ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Chỉ nói chuyện được một lúc, vì cả hội trường đang bừng lên với những bài hùng ca trên sân khấu. Anh cho tôi địa chỉ, số điện thoại và mong được gặp tôi tại nhà anh vào cuối tuần sau. Anh muốn biết tường tận hơn về cái chết của người bào huynh khả kính, cố Trung tá Phạm văn Thặng.

Qua tâm tình, tôi biết anh có một cái tên khá đẹp: Phạm Vương Thục. Trước 75 từng là phi công trực thăng võ trang của một Phi Đoàn kỳ cựu, tiếng tăm Vùng I: Song Chùy - 213. Đọc trên Cánh Thép, tôi còn biết anh từng là Lead Gun (trưởng toán trực thăng võ trang), tham gia trong suốt cuộc Hành Quân Lam Sơn 719. Một trận chiến mà địch quân tập trung hỏa lực phòng không mạnh mẽ nhất từ trước tới nay. Gây thiệt hại không nhỏ cho các đơn vị không quân Hoa Kỳ và Việt Nam tham chiên. Nhờ tài năng, phán đoán nhanh nhẹn cùng với sự bình tĩnh và can trường, anh đã vẫy vùng trên bầu trời trận mạc, bao lần vượt qua cái chết trong đường tơ kẻ tóc để yểm trợ hữu hiệu, cứu nguy cho các lực lượng chiến đấu cũng như cho chính những người bạn trong Phi Đoàn. Có lần phi cơ trúng đạn, anh đã phải đáp khẩn cấp xuống Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 30, trong khi Đồi 31 đã bị thất thủ.


Cuối tuần, trước khi đến anh, tôi báo cho anh biết, là tôi vừa gặp người bạn cùng tù thân thiết, là một sĩ quan Lôi Hổ thuộc Nha Kỷ Thuật, vào năm 1972 đồn trú tại căn cứ B-15 ở Kontum. Và cũng là người trưởng toán, chỉ huy việc lấy di thể của anh Phạm văn Thặng từ chiếc oanh tạc cơ bị bốc cháy bên bờ sông Dakbla ngày ấy. Anh Thục rất vui mừng và mong được gặp người bạn Lôi Hổ này sẽ cùng đến với tôi.

Chúng tôi không mấy khó khăn khi tìm đến nhà anh, dù lúc trời đã tối và đang vần vũ một cơn mưa. Chưa kịp bấm chuông là anh đã mở cửa, vui mừng mời chúng tôi vào. Ngôi nhà khá đẹp, bày biện trang nhã. Điều làm chúng tôi bất ngờ cảm động là ở một góc của tầng trên là bàn thờ trang trọng với tấm ảnh chân dung lớn của cố Trung Tá Phạm văn Thặng, một số bạn bè không quân của anh đã hy sinh, năm vị tướng và một số sĩ quan khác đã tuẫn tiết vào giờ thứ 25 cuộc chiến. Chúng tôi đứng nghiêm trước các bức chân dung, lòng ngâm ngùi thương tiếc, cùng cảm kích tấm lòng của anh, người phi công dũng cảm hào hoa vẫn luôn giữ trọn tình với quê hương, chiến hữu.

Chị Thục từ dưới bếp chạy lên vui vẻ chào chúng tôi. Đúng là vợ phi công. Chị rất hiếu khách, bặt thiệp. Sau đó, khi nhìn trên bàn thờ gia đình, thấy tấm ảnh chân dung của Đại tá Trịnh Tiếu, tôi mới biết chị Thục là em gái của vị Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn mà tôi đã vài lần được gặp ở Kontum. Sau 75, Ông từng bị tù đày, tra tấn hành hạ nhiều năm, sức khỏe hao gầy, bệnh hoạn, nên vừa mới qua đời tại hải ngoại. Tấm ảnh của ông mới nhất trong số các bức ảnh chân dung khác trên bàn thờ. Anh Thục kể lại chuyện hai người tình cờ quen nhau, khi anh chỉ huy một phi đội vào Quảng Ngãi tham gia hành quân với Sư Đoàn 2BB. Buổi chiều, trước khi bay về Căn Cứ Phi Đoàn ở Đà Nẳng, anh được BTL/SĐ chuyển lại lời yêu cầu của Đại Tá Trịnh Tiếu (khi ấy là Trung Tá). Thục đã nhận lời chở quan tài của thân sinh đại tá Tiếu từ Quảng Ngãi ra Hội An an táng, và trong “phi vụ” đặc biệt này anh đã quen và làm xiêu lòng cô em gái xinh đẹp của ông, tháp tùng trên chuyến bay.


UserPostedImage
Sĩ Quan Không Quân QLVNCH


Trong bàn ăn, chúng tôi kể lại những chuyện vui buồn trong thời lính chiến ngày xưa. Anh Thục cho biết anh được tin máy bay anh Phạm văn Thặng lâm nạn tại Kontum vào lúc 5.30 giờ chiều ngày 26.5.72. Ngay sáng hôm sau Sư Đoàn 1 KQ cho một phi cơ A37 đưa anh từ Đà Nẵng vào phi trường Pleiku. Phi công của chiếc A37 này lại là người em cột chèo của anh, Thiếu Tá Trịnh Đức Tự (sau này đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Quế Sơn). Nhưng khi đến Pleiku, anh được cho biết tình hình ở Kontum rất nặng nề, chưa thể tìm được anh Thặng nhưng sự sống sót rất mong manh, không còn chút hy vọng nào. Thục đã bay trở lại Đà Nẵng trong ngày. Đến tối, anh được BTL/KQ cho biết là thi thể anh Thặng đã được đưa về Tử Sĩ Đường ở Tân Sơn Nhất. Khi anh cùng người anh cả vào nhận xác, thấy đầu anh Thặng không còn, nên quyết định cho tẩm liệm ngay, không muốn cho gia đình biết thêm điều đau đớn này Anh đã tột cùng xúc động khi quá thương tiếc người anh khả kính đã từng có với mình cả một trời kỷ niệm tuổi thơ, đặc biệt khi còn ở miền Bắc. Anh Thặng là người con thứ sáu và anh Thục là người con thứ tám của gia đình. Năm Thục vừa tròn 12 tuổi và anh Thặng 16, đã cùng gia đình di cư vào Nam, sống và lớn lên ở thành phố Huế. Không chỉ là anh em, hai người còn là đôi bạn thân thiết, cùng theo học trường Pellerin nổi tiếng do sự giúp đỡ tận tình của các Linh mục và Sư huynh, trước khi chia tay vào quân ngũ. Vài ngày trước khi hy sinh, như là điềm báo trước, anh Thặng gọi điện thoại về Đà Nẵng thăm anh và hỏi han khá nhiều về mọi người trong gia đình.

Tôi kể lại hành động can trường của anh Thặng mà tôi đã được chứng kiến từ khi anh lên vùng cho đến lúc hy sinh, và người bạn tù Lôi Hổ của tôi kể lại việc lấy xác của anh sau khi lâm nạn. Anh Thục ngồi nghe và khóc sụt sùi. Trước khi chia tay, anh xin địa chỉ e-mail của bạn tôi, bảo sẽ báo tin này cho cô con gái lớn của anh Thặng, hiện định cư ở Đức để cháu cám ơn người đã giúp lấy xác ba cháu. Hai ngày sau, người bạn chuyển cho tôi bức điện thư với lời lẽ rất lễ phép, cảm động dễ thương của cháu Phạm Hồng Phương, con gái lớn của anh Thặng.

Vào tối ngày 29.4, được thư mời của anh Thục, chúng tôi đến nhà hàng Paracell tham dự một Chương Trình Tưởng Niệm do cá nhân anh phối họp với người bạn thân, chiến hữu Đặng Thành Long, một cựu SQ Hải Quân, tổ chức. Anh đón chúng tôi trước cửa Nhà Hàng, nơi có bàn thờ nhiều vị Tướng Lãnh và Sĩ Quan VNCH đã hy sinh tại chiến trường hay tuẫn tiết trước giờ mất nước. Buổi Tưởng Niệm được tổ chức thật chu đáo, và nhiều ý nghĩa, trong không khí tôn nghiêm và cảm động. Tất cả tiền thu được dành hổ trợ những người đấu tranh trong nước đang bị tù đày khốn khổ. Cũng trong đêm nay, tôi được hân hạnh gặp bác sĩ Ngô Thế Khanh, một cựu y sĩ Không Quân tại Pleiku, một người lúc nào cũng trọn tấm lòng với anh em. Cái tình chiến hữu anh đã dành cho làm tôi cảm động. Tôi cũng được gặp một số các anh phi công khác. Tất cả đều có một thời oanh liệt, ngang dọc trên bầu trời quê hương và hào hùng trên đầu quân địch. Đêm nay cũng có người phi công mà tên anh có lẽ người cựu lính nào cũng biết. Bởi những bài ký sự chiến trường, mà ai đọc qua cũng phải ngưỡng mộ anh, không những cảm phục về tài bay bổng mà còn có một trí nhớ thật phi thường. Người hùng Vĩnh Hiếu, Lead gun của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Phi Đoàn mà đơn vị tôi có nhiều gắn bó nhất, lúc còn hoạt động ở khu vực Sông Mao, và khi ấy người anh cả cuối cùng của Phi Đoàn, Trung Tá Khưu văn Phát còn là Đại úy Trưởng Phòng Hành Quân. Đêm nay, đã trải qua 35 năm dâu bể, nhưng Vĩnh Hiếu vẫn rất trẻ trung, với đôi mắt sáng, hàm râu mép hào hoa, nụ cười rạng rỡ, với những cái bắt tay thật chặt ân tình và những chuyện chiến trường, chuyện đồng đội sôi nổi dường như không muốn dứt. Như vậy đó, mà anh đã từng là một phi công trực thăng võ trang gan dạ hào hùng trên khắp chiến trường Vùng 2 khói lửa năm nào. Ngồi nói chuyện với anh, tôi thầm nghĩ, nếu bây giờ trở lại chiến trường, Thần Tượng Vĩnh Hiếu này cũng vẫn là một Lead Gun hào hùng(và hào hoa) như thuở trước.

Qua anh Thục, hôm sau tôi liên lạc được một người bạn phi công anh hùng khác. Người mà tôi đã từng chứng kiến và ngưỡng mộ về tài năng và sự can đảm phi thường. Thiếu Tá Hàn văn Trung. Năm 1973, khi ấy Hàn văn Trung còn mang cấp bậc Đại Úy, giữ chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 235 Sơn Dương ở Pleiku.

Hôm ấy, tôi nhận lệnh Đại Tá Bùi Hữu Khiêm, TMT Sư Đoàn 23BB, cùng bay trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235, để bốc khẩn cấp số thương binh, trong đó có Thiếu Tá Cang, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2/44 ra khỏi căn cứ Võ Định. Căn Cứ nằm phía Bắc Kontum khoảng 15 cây số, bên cạnh QL 14 trên đường đi Dakto, trên ngọn núi trọc, với một cao điểm có khả năng chế ngự các vùng chung quanh. Đặc biệt, ngay phía dưới là con sông Dak La. Bên kia sông trở về hướng Bắc là vùng địch chiếm từ cuối tháng 4/72, sau khi BTL/ SĐ 22BB tại Tân Cảnh bị tràn ngập và vị Tư Lệnh đã lẫm liệt hy sinh, vùi thân nơi chiến địa. Căn cứ này đã trải qua nhiều trận chiến, bao lần bỏ đi rồi chiếm lại, nên bây giờ chỉ còn là một ngọn đồi xám xịt, hoang tàn loang lổ dấu đạn bom.

Thiếu Tá Nguyễn Hữu Cang, tốt nghiệp khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, nguyên là Sĩ Quan Nhảy Dù. Trong một cuộc hành quân trực thăng vận tại Đông Hà, anh bị thương nặng ở chân phải. Xụất viện, với một thanh sắt vĩnh viễn nằm trong cái chân khập khiễng, được lệnh thuyên chuyển ra khỏi Nhảy Dù về BTL/Quân Đoàn II, giữ một chức vụ tại Trung Tâm Hành Quân. Chỉ một thời gian ngắn, anh khẩn khoản xin ra đơn vị tác chiến, mặc dù Phòng Tổng Quản Trị từ chối vì tình trạng sức khỏe của anh. Anh tiếp tục xin vị Tư Lệnh, và cuối cùng được toại nguyện, bổ nhiệm về nắm Tiểu Đoàn 2/44, mà vị Trung Đoàn Trưởng trẻ tuổi thao lược, lại là người bạn cùng khóa: Trung Tá Ngô văn Xuân.


UserPostedImage


Đầu năm 1973, vài ngày trước khi có Hiệp Định Paris (Ngưng Bắn Da Beo), Tổng Thống Thiệu ra lệnh các đơn vị cố gắng mở rộng tối đa vùng kiểm soát, đặc biệt chiếm lấy những vị trí quan trọng để cấm ngọn cờ chủ quyền. Tiểu Đoàn 2/44 nhận lệnh phải chiếm bằng được căn cứ Võ Định, cao điểm trọng yếu tận cùng phía Bắc Kontum.

Với sự yểm trợ hỏa lực mạnh mẽ, hữu hiệu của Không Quân và Pháo Binh, Tiểu Đoàn 2/44 của Thiếu Tá Cang được trực thăng vận bất ngờ xuống ngay vùng địch, đánh một trận khá đẹp, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng địch án ngữ phía dưới và dễ dàng chiếm lĩnh căn cứ trên ngọn đồi Võ Định. BCH Tiểu Đoàn, Đại Đội CHYT và một Đại Đại Đội tác chiến trách nhiệm phòng thủ căn cứ. Các Đại Đội còn lại bung ra hoạt động các vùng lân cận. Một toán Công Binh được thả xuống ngay sau đó để tu sửa lại hệ thống phòng thủ, nhất là vị trí dành cho một trung đội pháo binh 105 ly sẽ được thả xuống nay mai. Ngày N+1 tình hình hoàn toàn yên tĩnh, nhưng sáng sớm hôm sau, pháo địch từ bên kia sông thi nhau ập xuống. Địch đã có sẵn các yếu tố tác xạ và sử dụng tối đa các loại pháo, liên tục và chính xác. Những công sự phòng thủ chưa kịp tu bổ xong đã bị phá hủy. Thiếu tá Cang và một số sĩ quan và binh sĩ bị thương, kể cả anh Sĩ Quan trưởng toán Công Binh.

Ngày hôm sau, tình hình trở lại yên tĩnh trong không khí căn thẳng nặng nề. Sau khi Sao Mai 09, (phi cơ quan sát L-19) hướng dẫn hai phi tuần đánh bom vào các điểm nghi ngờ vị trí đặt pháo của địch, hai chiêc trực thăng tản thương, được yểm trợ bởi các gunships, đáp xuống căn cứ để bốc thương binh. Riêng Thiếu Tá Cang tình nguyện ở lại cùng đơn vị. Nhưng khi chiếc thứ nhất vừa đáp, hằng loạt pháo địch lại thi nhau rót xuống. May mắn chỉ có người co-pilot bị thương nhẹ, nhưng máy bay bị trúng đạn, không cất cánh được. Chiếc thứ nhì quyết không bỏ đồng đội, đáp xuống bốc phi hành đoàn trong tiếng nổ và khói lửa mù trời của pháo địch.

Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, BTL Sư Đoàn quyết định rời bỏ căn cứ Võ Định để tránh tổn thất do trận địa pháo của địch. Tiểu Đoàn 2/44 rút về Căn Cứ Eo Gió, nằm phía Nam Võ Định khoảng bốn cây số. Nhưng phải giải quyết số thương vong và anh Tiểu Đoàn Trưởng không thể di chuyển theo đoàn quân bộ chiến được. Tôi được vị Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn giao cho trách nhiệm tháp tùng trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235 thi hành nhiệm vụ khá gay go nhưng rất khẩn cấp này.

Đến bãi đáp B15, tôi gặp người chị huy hợp đoàn trực thăng hôm ấy. Rất vui mừng khi gặp lại Đại Úy Hàn văn Trung, Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 235. Tôi đã từng bay đổ quân với anh vài lần, thích bản tính vui vẻ và thầm thán phục về khả năng chỉ huy và bay bổng của anh. Sau khi nghe tôi trình bày tình hình và mục tiêu, cũng như lời dăn dò của vị TMT /SĐ, Đại Úy Trung gọi các phi công lại để bàn kế hoạch. Tôi lên chiêc C&C do Trung điều khiển, cất cánh trước cùng với hai trực thăng võ trang. Sau một vòng bay để quan sát kỹ lưỡng địa thế, anh Trung bay vòng lại và gọi tất cả phi cơ còn lại lên vùng. Tôi thấy anh cho một số phi cơ bay tản ra nhằm đánh lạc hướng địch, để hai trực thăng khác bất ngờ đáp xuống căn cứ. Nhưng không tránh được sự quan sát của địch. Chiếc trực thăng vừa can đảm xuống thấp và lấy hướng an toàn bay vào, thì pháo địch đã nổ ngay trên bãi đáp. Đại Úy Trung cùng hai trực thăng võ trang liền xuống thấp yểm trợ, và cùng lúc ra lệnh cho chiếc trực thăng này bay ra theo hướng an toàn nhất, chiếc thứ hai bay từ hướng khác tìm cách bất ngờ xuống bãi đáp. Nhưng pháo địch tiếp tục ập xuống. Nhìn chiếc trực thăng bay lên từ trong một vùng khói lửa, chúng tôi ai cũng căng thẳng, hồi họp lo âu. Đại úy Trung ra lệnh cho cả hợp đoàn bay về Kontum lấy xăng.

Sau gần một giờ nghỉ ngơi và nghiên cứu một kế hoạch khác, Đại úy Trung gọi các phi công lại, thảo luận kế hoạch và phân chia nhiệm vụ. Lần này anh sẽ đích thân lái chiếc C&C đáp xuống bốc thương binh. Dường như Trung vừa mới quyết định một điều bất thường, ngoại lệ, nên tất cả mọi người đều tròn mắt nhìn anh ái ngại. Anh nổ máy, đích thân điều khiển phi cơ. Anh bay thật thấp dọc theo con suối chảy dài phía bên trái quốc lộ 14, trong khi hai gunships bay hai bên và tác xạ trước vào các điểm nghi ngờ. Hơp đoàn còn lại bay theo phía sau xa. Anh bay thấp đến nỗi các hàng lau sậy nằm rạp xuống ngay dưới bụng máy bay, nước dưới suối bắn tung lên. Đã từng rất nhiều lần ngồi trên trực thăng, nhưng chưa bao giờ tôi bị “bay” rất nhanh với một độ thấp như thế. Mấy lần tôi suýt thét lên, khi chợt thấy phía trước là một cây cao hay một tảng đá, nhưng anh đã tài tình lách qua tránh khỏi. Tôi có cảm tưởng chiếc trực thăng như là một món đồ chơi nhỏ bé trong tay anh.

Con suối khá dài, dẫn tới triền đồi Võ Định. Anh Trung tiếp tục bay sát theo ngọn đồi. Tôi có cảm giác như chiếc trực thăng đang bò lên căn cứ. Địch quân không hề hay biết. Nhưng khi anh bất ngờ đáp xuống, bụi mù bốc lên, địch mới phát hiện và pháo bắt đầu nổ. Cát, sạn, và có thể có cả mảnh đạn nữa, bay rào rào vào thân và kiếng phi cơ. Nắm chặt khẩu M-18, tôi chưa biết xử trí thế nào, thì thấy anh Trung bảo người co-pilot giữ cần lái, rồi mở cửa máy bay nhảy xuống. Tôi nhảy theo anh, chạy về hướng hầm chỉ huy đốc thúc, phụ lực khiêng và dìu thương binh ra phi cơ. Thương binh khá đông, có tới trên 10 người. Thiếu Tá Cang nhìn chúng tôi lo lắng, nhưng đại úy Trung rất bình tĩnh ra dấu cho tất cả lên máy bay. Đạn pháo vẫn tiếp tục rót xuống, một vài thương binh lại bị thêm ít mảnh đạn. Trung là người cuối cùng bước lên tàu khi anh co-pilot điều khiển cho phi cơ quay đầu lại và bay nhanh xuống đồi.

Đáp xuống bãi đáp B-15. nhìn thấy trên thân và kiếng phi cơ lỗ chỗ nhiều vết đạn, Thiếu Tá Cang và tôi đã ôm chầm lấy Trung và người co-pilot. Giọt nước mắt biết ơn và cảm phục đã lăn xuống gò má của tất cả những người lính bộ binh vừa được Trung và phi hành đoàn bốc ra từ cõi chết.

Trở về Trung Tâm Hành Quân Sư Đoàn ở căn cứ B-12, tôi gặp hai ông Đại tá Tư Lệnh Phó và TMT Sư Đoàn. Kể lại phi vụ đặc biệt của Phi Đoàn 235, tôi hết lời ngợi ca và xin đề nghị tưởng thưởng cho đại úy Trung một Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, và các anh còn lại của phi hành đoàn mỗi người một ngôi sao vàng. Hai ông đại tá hứa sẽ làm theo đề nghị của tôi( Nhưng không biết sau này kết quả ra sao). Một vị Trung tá KQ ngồi cạnh anh Sĩ Quan Không Trợ, mà khi vừa mới bước vào tôi không để ý, quay sang nhìn tôi cười:

- Tay Trung này thì có tài và liều lĩnh lắm, nhưng cũng là một tay coi trời bằng vung. Nó đùa giỡn với chiếc máy bay như là một món đồ chơi. Thích biểu diễn kiểu nào là nó làm ngay, và dù có bị “ký củ” hơi nhiều, vẫn cứ cười tỉnh bơ. Vì vậy nên có thừa tài năng và can đảm, nắm Trưởng Phòng Hành Quân mà vẫn chưa mang Thiếu tá được!

Tôi không còn nhớ rõ là đó là Trung Tá Quang hay Trung Tá Vĩnh Quốc. Nhưng tất cả mọi người trong TTHQ đều cười và thán phục. Sau này Thiếu Tá Cang nhận Trung là người anh em kết nghĩa. Sau một cuộc hành quân trở về, hai chàng lại gặp nhau, bù khú ngay trong căn cứ dã chiến của Tiểu Đoàn. Mùa hè 2010, gặp lại anh Cang trong Buổi Họp Mặt Khóa 17 VBĐL tôi báo cho anh biết là tôi vừa nói chuyện với Hàn Văn Trung trong điện thoại. Mắt anh Cang sáng lên. Mừng như sắp được gặp lại người tri kỹ.

Trong cuộc chiến Việt Nam, những chàng pilot nổi tiếng hào hoa ở thành phố. Là thần tượng của các cô con gái đẹp. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng, những chàng trai trẻ ấy lại là những chiến sĩ rất hào hùng trên khắp các chiến trường. Bao phen xem cái chết tựa lông hồng. Địch quân khiếp sợ. Không có chiến tích nào mà thiếu sự tham dự của các chàng trai hào hoa ấy. Với những người lính bộ binh như chúng tôi, các Bạn luôn là những cứu tinh, là niềm hy vọng khi đơn vị bị lâm nguy, hay gặp khó khăn trên con đường tiến quân vào vùng địch. Các Bạn cũng là ân nhân của bao nhiêu thương binh và gia đình tử sĩ. Không có sự can trường, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy của các Bạn, có biết bao chiến binh đã phãi vĩnh viễn nằm lại tại chiến trường, ở một vùng núi rừng lạnh lùng vô danh nào đó. Tôi đã từng theo dõi những phi vụ tản thương của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư, từ căn cứ Phù Cát đã phải bay lên Cao Nguyên trong những đêm khuya gió mưa tầm tã. Có chiếc lạc vào những đám sương mù dày đặc, và rớt trên đỉnh núi cùng với số thương binh của chính đơn vị tôi vừa mới được bốc lên. Tôi đã đứng nghiêm trong TTHQ để đưa tay chào vĩnh biệt!


UserPostedImage


Các Bạn đúng là những cánh én đã từng mang lại bao mùa Xuân cho đồng đội, cho quê nhà. Những cánh én ấy, giờ đây, dù đã phải trải qua bao thăng trầm nghiệt ngã, dù tan tác chia lìa khắp muôn phương, nhưng vẫn luôn khát khao vẫy vùng trên bầu trời xưa cũ. Tiếc rằng, chúng ta đã phải trải qua một mùa Đông quá dài. Dài hơn cả đoạn đời đẹp đẽ nhất, khi các Bạn còn bay bổng trong bầu trời xanh, trong lửa đạn, mà vẫn vui đùa trước lằn ranh sống-chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.

Mãi mãi các Bạn vẫn là những cánh én hào hùng. Cho dù những cánh én ấy đang phải ẩn mình để chờ đợi một mùa Xuân.
Phạm Tín An Ninh

UserPostedImage
BanhXeo  
#48 Posted : Monday, January 24, 2011 4:27:51 PM(UTC)
BanhXeo

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 18
Location: USA

Thanks: 1 times
Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)

Một tấm gương

Tác giả: Minh Tạo

Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.
Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.
Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không ?
Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:
- “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”
Tôi hỏi tiếp:
- “Còn con có đi học không ?”
Thằng bé nói:
- “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”.
Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.
Có lần thằng bé hỏi tôi:
- “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”
Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là ” Chú đang làm thinh”.
Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bửa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cử sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chổ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chổ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

UserPostedImage
Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…
Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tảo tần nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

UserPostedImage
Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha. Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi. Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lổi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé “…

Đời nầy cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đở gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến. Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ.
Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này .


coffeebean  
#49 Posted : Thursday, January 27, 2011 2:49:41 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
quote:
Originally posted by thunder
BÀI THƠ VIẾT CHO THƯƠNG PHẾ BINH QLVNCH
Xuân nầy nếu anh về quê ăn Tết
Còn thương em xin anh hứa một lời
Thương phế binh còn khổ lắm anh ơi !
Tìm thăm họ, nói đôi lời an ủi.
...

Họ là những thương phế binh bất khuất
Là anh hùng, là chiến sĩ hiên ngang
Như quân Nam chiến thắng Bạch Đằng Giang
Là con cháu của Hùng vương lập quốc .

Nhớ nghe anh nếu còn thương Việt tộc
Còn biết hờn, biết nhục mất quê hương
Thì giúp dân diệt cộng sản bất lương
Xây dựng nước phú cường dân chủ trị ./.

** Không biết tên tác giả. ** Nhận từ một thân hữu trên net..

Được đăng bởi HỒN DÂN TỘC


Cám ơn ThuyLinh va` Thunder đã đã ghé thăm

"Bài thơ Viết Cho Thương Phế Binh QLVNCH" ...
Theo một người quen cho biết thì bài thơ này của Nguyễn Thị Thảo An.
Mà dường như còn 4 câu cuối nữa (không chắc chắn lắm!)
Nhớ nghe anh nếu còn thương Việt tộc
Còn biết hờn, biết nhục mất quê hương
Thì giúp dân diệt cộng sản bất lương
Xây dựng nước phú cường dân chủ trị

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ
Như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc,
Thì dân tộc ta mới mong có được ...
những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.
Nguyễn thị Thảo An

coffeebean  
#50 Posted : Friday, January 28, 2011 3:17:28 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Đi Từ Ruộng Đồng Bao La
Hò ới, ới ới hò ! Hò ơi, ơi ơi hò !
Hò ơ, ơ ớ ơ ...ờ ơ. ... ờ, ờ ơ ... ơ ... ơ ớ ơ ... ớ ơ ơ ... ờ ...

Từ Cà Mau ruộng đồng bao la
Năm Căn heo hút muỗi sa từng bầy
Hò ơi, ới ới hò !

Chiều hành quân, anh qua rừng chiến khu Đ
Đêm mưa Đồng Tháp đỉa đeo tràn trề
Hò ơi, ới ới hò !

Ôi tin yêu, cây trái miền Tây
Phù sa lớp lớp dâng đầy Hậu Giang
Hò ơi, ới ới hò !

Hậu Giang, ơi hỡi Hậu Giang
Quân dân kết đoàn một lòng đấu tranh
Hò ới, ới ới hò !

Trăng Đồng Xoài chiến công sáng tỏ
Xác quân thù Bình Giã ngả nghiêng
Hò ới, ới ới hò !

Anh về, có nhớ trăng hiền
Thì xin cố giữ lời nguyền nước non
Hò ới, ới ới hò ! Hò ơi, ơi ơi hò !


http://www.youtube.com/watch?v=baneTJtXO0w


Đi Từ Ruộng Đồng Bao La Trình bày: Hà Thanh - Duy Khánh

havi  
#51 Posted : Wednesday, February 2, 2011 9:14:35 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

XUÂN nào tôi đưa em về


Tết tha phương trắng khung trời hoa tuyết
Chiều nghiêng nắng úa trải khắp nẻo đường
Biết bao giờ đón Xuân trên đất Việt?
Để tình nồng sưởi ấm áp quê hương

Kể từ khi quê ta tràn bóng giặc
Anh thân trai thời loạn biệt kinh kỳ
Đêm trừ tịch một mình trên vọng gác
Buồn đón Xuân về, buồn tiễn Xuân đi

Đồn vắng, trời khuya anh ghì báng súng
Sương gió lạnh lùng thấm áo chinh nhân
Đây tuyến lửa lọt giữa lòng thung lũng
Đêm sáng hỏa châu, pháo rít xa gần

Còn tôi đó, dừng quân nơi cuối bãi
Ngồi nhớ Xuân nào, rất mộng rất thơ
Áo tím, dù hoa thanh xuân cô gái
Thoáng lạc hồn tôi rung cảm dại khờ

Rồi một sáng ánh hồng lên rực rỡ
Rừng cờ vàng phấp phới rợp trời xanh
Người em nhỏ thẹn thùng và bở ngở
Tiễn bước tôi theo nhịp khúc quân hành

Chiều tiền đồn mây giăng mờ đỉnh núi
Cánh thư từ em gái nhỏ hậu phương
Những dòng thư mát êm như mạch suối
Nhen nhúm hồn tôi ước mộng bình thường


UserPostedImage


Ba Mươi Tháng Tư, miền Nam ta mất!
Giặc bắt tôi giam cầm tận Hà Đông
Em dầu dãi, đêm ngủ không tròn giấc
Phải nuôi con bé dại, phải nuôi chồng


Bao năm tháng bị đọa đày điên đảo
Trời mờ sương, lao dịch chốn rừng sâu
Thủ đoạn giết mòn bởi trò tẩy não
Chỉ mấy hôm, sương trắng nhuộm mái đầu !


Thân tù tội, ôi đau thương nghiệt ngã !
Khi tôi về, em tóc bạc phơ phơ
Mười mấy năm rồi ngược xuôi vật vã
Lòng kiên trinh buổi đoàn tụ em chờ


Tết viễn phương, giữa đông dài lạnh lắm
Tuyết chập chùng, hồ nước đóng thành băng
Đón Xuân về, lòng riêng sầu thăm thẳm
Nhớ cố hương hiu quạnh mấy mùa trăng


Xuân nơi đây không gian choàng áo tuyết
Gió lạnh lùng và nắng chiếu lung linh
Khi nào cờ vàng rợp trên nước Việt
Tôi đưa em về rũ bụi đăng trình

DƯ THỊ DIỄM BUỒN


UserPostedImage
havi  
#52 Posted : Wednesday, February 9, 2011 7:11:28 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

Khái lược lịch sử hình thành
Quân Lực VIỆT NAM CỘNG HÒA

Trần Hội & Trần Ðỗ Cẩm tài liệu: Nguyệt San Ðoàn Kết


Lịch sử thành lập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một tiến trình khá phức tạp trải dài trong nhiều năm, và gắn liền với những diễn biến của giòng lịch sử Việt Nam cận đại. Để độc giả có một ý niệm khái quát về sự hình thành đó, chúng tôi xin tóm lược hoàn cảnh chính trị của nước nhà vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam bắt đầu bùng nổ.

Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, quân đội viễn chinh Pháp trở sang Đông Dương đem theo lực lượng hùng hậu chiếm đóng ba xứ Việt, Miên, Lào, với manh tâm đặt lại nền đô hộ trên các thuộc địa cũ theo chánh sách thực dân cố hữu của người Pháp. Tướng De Gaulle bổ nhiệm đô đốc Thierry d'Argenlieu làm cao ủy Đông Dương và danh tướng Leclerc de Haute Cloque làm tư lệnh quân đội viễn chinh. Vào cuối tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp đã núp bóng quân đội Anh do tướng Gracey chỉ huy để giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở xuống.

Cuộc xâm lăng mới của Pháp này đã gặp sức kháng cự mạnh mẽ của người Việt Nam, nhất là các đoàn thể võ trang như Việt Minh, Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên trong miền Nam, và các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt ở miền Trung và Bắc.

Mặc dù tinh thần kháng chiến chống thực dân của dân ta rất cao, nhưng vì vũ khí thô sơ và tổ chức còn rời rạc, nên các lực lượng võ trang này bị quân Pháp đánh bại mau lẹ. Đa số phải rút về thôn quê hay vào bưng biền để tổ chức trường kỳ kháng chiến. Tuy một số dân chúng còn lại ở các thành phố và vùng bị chiếm đóng đã phải ngã theo Pháp vì lý do sinh kế hoặc muốn được yên thân, nhưng trong lòng đa số dân Việt lúc đó đều nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, mong sớm phục hồi được độc lập và thống nhất cho quốc gia.

Trong số những người phải ra cộng tác với Pháp, một số đã gia nhập quân đội viễn chinh và được gọi là Thân Binh Đông Dương (Partisans Indochinois). Về sau, vì nhu cầu chiến tranh bành trướng mau lẹ, người Pháp đã tuyển mộ lính địa phương tại chỗ và lập thành các lực lượng phụ thuộc (forces suppletives) do sĩ quan Pháp chỉ huy. Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng: không phải ai hợp tác với người Pháp cũng đều là Việt Gian. Ngược lại, nhiều người là những phần tử Quốc Gia chân chính chỉ muốn nhờ cậy vào thế lực của Pháp để chống lại bọn Cộng Sản Việt Minh.

Sang năm 1948, giải pháp Bảo Đại ra đời với chủ trương đoàn kết các lực lượng quốc gia để chống Việt Minh, vì lúc đó thành phần này đã ngả theo phe Cộng Sản quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Nga và Trung Cộng để chống lại khối dân chủ tây phương. Theo hiệp ước Élysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa quốc trưởng Việt Nam Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, nước Việt Nam được trao trả nền độc lập, có quân đội và chính sách ngoại giao riêng. Do đó, quân đội Việt Nam được chính thức thành lập và lấy tên là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.
THỜI KỲ PHÔI THAI (1946-49)

Do nghị định quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, quân đội Việt Nam được thành lập, lúc đầu lấy tên là Vệ Binh Quốc Gia (Garde Nationale). Quân đội Việt Nam lúc này có qui chế riêng và lương bổng được hưởng tương đối cao hơn phụ lực quân lúc trước. Ba đơn vị chiến đấu đầu tiên được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1949 là các tiểu đoàn Bộ Binh số 18, 2, và 3, gọi tắt là BVN (Batallion Vietnamien).

Lần lượt, các lực lượng quân sự phụ thuộc khác như Cộng Hòa Vệ Binh trong Nam, Bảo Vệ Quân ở miền Trung (sau đổi tên là Việt Binh Đoàn) và Bảo Chính Đoàn ở Bắc, v.v. được thuyên chuyển qua hoặc sát nhập vào quân đội Quốc Gia. Còn các lực lượng võ trang của các giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên tại miền Nam Việt Nam hoặc trở về hợp tác với chánh phủ quốc gia, hoặc rút vào bưng, nhưng sau đó cũng bị tiêu diệt lần hồi.

Quân số Quân Đội Quốc Gia Việt Nam vào cuối năm 1949 là 45,000 người, không kể các lực lượng còn trong hệ thống quân đội Pháp.


UserPostedImage

THỜI KỲ THÀNH LẬP (1950-52)
Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ Tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân Đội Quốc Gia với lập trường chống Cộng, gia tăng quân số lên 60,000 người, do ngân sách quốc gia đài thọ 40%, phần còn lại do Pháp gánh chịu. Viện trợ Mỹ cũng bắt đầu giao thẳng cho các đơn vị Việt Nam, chứ không qua trung gian quân đội Pháp theo chương trình Viện Trợ Hỗ Tương Quốc Phòng MDAP (Mutual Defense Assistance Program).

Trưởng phái bộ viện trợ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam là Đại Tướng O'Daniel. Các quân trường lớn được bắt đầu thành lập trong thời kỳ này gồm có: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, Trường Sĩ Quan Thủ Đức và Nam Định. Trường Sĩ Quan Trừ Bị sau này được đổi tên là Trường Bộ Binh Thủ Đức. Các trung tâm nhập ngũ dùng để huấn luyện binh sĩ quân dịch cũng được thành lập tại Quang Trung (Nam Việt), Phú Bài (Trung Việt) và Quảng Yên (Bắc Việt).

Đến năm 1951, sau khi bị thất bại nặng tại vùng Cao-Bắc-Lạng, Pháp muốn tăng cường Quân Đội Quốc Gia Việt Nam để nhận lãnh trách nhiệm bình định và an ninh lãnh thổ. Do đó, tướng De Lattre de Tassigny đã đề nghị thành lập nhiều tiểu đoàn hoàn toàn Việt Nam do các sĩ quan người Việt chỉ huy. Ngày 5 tháng 5 năm 1951, Bộ Quốc Phòng Việt Nam mới thật sự thành hình, với những cơ cấu tổ chức đầu não như Bộ Tổng Tham Mưu, Nha Quân Pháp, Nha Thanh Tra, Tổng Nha Hành Chánh và Quân Lương, Nha Quân Cụ, Nha Quân Y, v.v.

Lệnh tổng động viên được ban hành theo dụ số 26, ngày 15 tháng 7 năm 1951, gọi các sinh viên sĩ quan nhập ngũ khóa trừ bị đầu tiên và 60,000 thanh niên thi hành quân dịch. Cuối năm 1951, quân số dưới cờ lên tới 110,000 người. Các đơn vị nòng cốt được thành lập trong thời kỳ này là:

- Tiểu Đoàn Nhảy Dù (ND)

- Đại Đội 1 và 3 Truyền Tin

- Đệ Nhất Chi Đoàn Thám Thính Xa

- Tiểu Đoàn Pháo Binh

- Đại Đội 2 và 3 Công Binh

Qua năm 1952, để gia tăng nỗ lực chiến tranh, Bộ Tổng Tham Mưu được tách riêng khỏi trụ sở Bộ Quốc Phòng và đặt tổng hành dinh tại tòa nhà lầu góc đại lộ Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng (Chợ Quán). Vị tổng tham mưu trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, con trai của thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, nguyên là cựu trung tá Không Quân Pháp.

Vào tháng 7 năm 1952, Bộ Chỉ Huy các quân khu được thành lập như sau:

- Đệ Nhất Quân Khu gồm Nam Việt

- Đệ Nhị Quân Khu gồm Trung Việt

- Đệ Tam Quân Khu gồm Bắc Việt

Cuối năm 1952, Quân Đội Quốc Gia có 148,000 người, gồm 95,000 quân chánh qui và 53,000 Bảo An Địa Phương. Các đơn vị gồm có:

- 59 tiểu đoàn Bộ Binh

- 2 tiểu đoàn Nhảy Dù

- 2 tiểu đoàn Ngự Lâm Quân

- 8 tiểu đoàn Sơn Cước

Về cơ giới có:

- 6 chi đoàn thám thính xa

- 1 tiểu đoàn pháo binh và 8 pháo đội biệt lập

- 6 đại đội vận tải

- 6 đại đội truyền tin

- 2 liên đoàn tuần giang

Cũng trong thời kỳ này, các quân chủng Không Quân và Hải Quân đã bắt đầu đặt nền móng tại Nha Trang, là nơi có thời tiết lý tưởng cho việc huấn luyện. Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân được thành lập vào tháng 4 năm 1952.
THỜI KỲ PHÁT TRIỂN (1953-54)

Theo đà phát triển, kể từ đầu năm 1953 cho tới khi ký kết hiệp định Geneve (ngày 20 tháng 7 năm 1954), có 4 sự kiện sau đây đáng được ghi nhận:

1. Phát triển các bộ tham mưu, các cơ sở chỉ huy từ trung ương đến các quân khu, tiểu khu theo một hệ thống của quân đội có qui ước hẳn hoi.

2. Thành lập thêm Sư Đoàn 7 Bộ Binh và 54 tiểu đoàn khinh quân để hành quân vùng đồng ruộng thay thế quân đội Pháp.

3. Thành lập 15 liên đoàn bộ binh và 1 liên đoàn nhảy dù.

4. Tiến hành công việc Việt-Nam Hóa bằng cách chuyển dần các lãnh thổ và công tác hành quân cho người Việt, khởi đầu là các tiểu khu Mỹ Tho (Nam Việt), Hưng Yên, và Bùi Chu (Bắc Việt).

Ngày 12 tháng 4 năm 1954, thủ tướng Bửu Lộc ban hành lệnh tổng động viên, ấn định rằng mọi thanh niên Việt Nam sanh từ ngày 1 tháng 1 năm 1929 đến ngày 31 tháng 12 năm 1933 đều phải nhập ngũ. Ngoài ra, mọi thanh niên tuổi từ 18 đến 45 cũng không được phép xuất ngoại trong thời kỳ chiến tranh. Tòa án quân sự được thành lập để xét xử các thanh phần bất phục tòng hay đào ngũ.
THỜI KỲ ĐỘC LẬP (1954 TRỞ VỀ SAU)

Sau cuộc ngưng bắn do hiệp ước Geneve ấn định, các đơn vị của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đồn trú tại phía bắc vĩ tuyến 17 được lần lượt di chuyển vào Nam kể từ tháng 8 năm 1954. Phần lớn các đơn vị đóng chung quanh Hà Nội và Hải Phòng được đưa vào vùng Đà Nẵng, Nha Trang, và các tỉnh miền Trung. Các tiểu đoàn Nùng (sơn cước) được đưa vào Cam Ranh để sau này thành lập sư đoàn Nùng tại sông Mao do Đại Tá Wòng A Sáng chỉ huy. Bộ Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu dời vào Nha Trang. Riêng các trung tâm huấn luyện Hà Nội và Quảng Yên được sát nhập vào Trung Tâm Quán Tre thuộc tỉnh Gia Định.

Cũng trong thời gian này, các lực lượng võ trang giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo, được sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia để thành lập một quân lực có sự chỉ huy thống nhất trên toàn quốc. Riêng có một nhóm Hòa Hảo ly khai chừng vài ngàn người, dưới quyền chỉ huy của trung tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, rút vào Cao Miên (Cam Bốt) để chống lại chính phủ.

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, khi cử hành lễ đăng quan của tổng thống Ngô Đình Diệm và cũng là ngày khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Quân Đội Quốc Gia được đổi tên là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc đó, quân số hiện diện dưới cờ là 167,000 người.


UserPostedImage

THỜI KỲ HIỆN ĐẠI HÓA (1961-75)

Kể từ lúc mang danh xưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quân đội là lực lượng nồng cốt bảo vệ an ninh và bình định lãnh thỗ miền Nam từ vĩ tuyến 17 cho đến mũi Cà Mau. Trong thời kỳ này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chú trọng đến việc gia tăng khả năng tác chiến, đặt vấn đề huấn luyện lên hàng đầu. Nhiều đợt sĩ quan Hải, Lục, và Không Quân được gởi đi tu nghiệp tại ngoại quốc, nhất là tại Hoa Kỳ để chuẩn bị cho việc hiện đại hóa quân đội.

Lúc này, người Mỹ cũng đã có mặt khá đông đảo tại miền Nam và viện trợ quân sự Mỹ có tầm quan trọng đặc biệt, nếu không muốn nói là quyết định trong vấn đề hiện đại hóa. Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ (Military Assistance And Advisory Group --gọi tắt là MAAG) được đổi thành MACV và đặt dưới quyền điều khiển của tướng bốn sao William Westmoreland.

Về Bộ Binh, bảng cấp số được tăng lên đến 11 sư đoàn, một lực lượng tổng trừ bị gồm Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC). Ngoài ra, còn có nhiều Liên Đoàn Biệt Động Quân (BĐQ) được đặt dưới quyền xử dụng của các quân khu. Riêng các quân chủng Không Quân và Hải Quân cũng được bành trướng tối đa trong thời kỳ này. Đây là giai đoạn chuyển mình của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, biết đổi từ một lực lượng phụ thuộc vào lực lượng viễn chinh Pháp, để trở thành một quân đội hiện đại và được trang bị tối tân nhất vùng Đông Nam Á.

Vì thời kỳ này là giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử hình thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi sẽ lược duyệt lý do và đi sâu vào chi tiết tiến trình hiện đại hóa của những quân binh chủng quan trọng nòng cốt trong quân lực.

Trong những năm từ 1961 đến 1975, Cộng Sản Bắc Việt đã công khai xua quân xâm chiếm miền Nam. Nấp dưới tấm bình phong giả tạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), hàng sư đoàn quân chính qui cộng sản dùng đường mòn Hồ Chí Minh vượt Vĩ Tuyến 17 vào Nam. Những sư đoàn này được trang bị bằng đủ loại vũ khí tối tân với chiến xa và đại pháo yểm trợ. Nhưng dù ở thế bị động, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng đã giáng cho quân Cộng Sản Bắc Việt những đòn quyết liệt, điển hình là trận thảm bại trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân vào 1968.

Tuy nhiên sau khi đã dùng chính sách "ngoại giao bóng bàn" để bắt tay được với Trung Cộng, và cũng vì bị dân chúng phản đối dữ dội, chính phủ Nixon chuẩn bị kế hoạch rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chương trình này được gọi là "Việt-Nam Hóa Cuộc Chiến (Vietnamization)."

Nguồn gốc của danh từ "Việt-Nam Hóa" chỉ là một sự ngẫu nhiên. Nguyên vào khoảng tháng 3 năm 1971, lúc tổng thống Nixon mới đắc cử, tướng Andrew Goodpaster lúc đó là phụ tá của tướng Abrams (tướng Abrams là tổng tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam) có tham dự một buổi thuyết trình của Hội Đồng An Ninh Hoa Kỳ. Trong buổi thuyết trình, tướng Goodpaster loan báo rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ đã đủ mạnh, đến độ Hoa Kỳ có thể "không cần Mỹ hóa" (de-Americanizing) cuộc chiến tại Việt Nam nữa.

Lúc đó, Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Melvin Laird, một nhà chính trị già đời, cho rằng nếu nói "không còn Mỹ hóa" tức là gián tiếp công nhận trước đây Hoa Kỳ đã biến chiến tranh Việt Nam thành chiến tranh xâm lược giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam. Như vậy sẽ rơi vào chiêu bài "chống Mỹ cứu nước" của Cộng Sản.

Bộ trưởng Laird đề nghị chỉ nên dùng một danh từ nào đó gián tiếp có ý nghĩa là Hoa Kỳ sẽ rút chân khỏi Việt Nam, nhưng tránh không đả động gì tới vấn đề Mỹ hóa. Thí dụ như thay vì nói "de-Americanizing" chẳng hạn. Tổng thống Nixon, cùng là một con cáo già chính trị, lập tức đồng ý: "Bộ trưởng Laird nói có lý." Thế là danh từ "Việt-Nam Hóa" (Vietnamization) được ra đời trong tự điển Hoa Kỳ.

Thực tế, quân đội Hoa Kỳ tuy đã muốn rút chân khỏi Việt Nam, tức là không còn tham chiến nữa, nhưng lại không muốn bị mất mặt vì đã bỏ rơi đồng minh và bị bọn cộng sản của một tiểu quốc đánh bại. Vì danh từ "de-Americanizing" bao hàm ý nghĩa Hoa Kỳ tháo chạy và bỏ rơi đồng minh, nên danh từ "Việt-Nam Hóa" được xử dụng. Thật ra, Việt-Nam Hóa tức là chuyển gánh nặng quân sự sang cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy quân đội Hoa Kỳ sẽ không còn phải tham chiến nữa, tức là "không Mỹ hóa" vậy.

Chương trình "Việt-Nam Hóa" hay hiện đại hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được chia ra làm 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1: Huấn luyện và trang bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để chuyển giao dần trách nhiệm bộ chiến.

Giai đoạn 2: Phát triển khả năng yểm trợ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Giai đoạn 3: Các quân nhân Hoa Kỳ nếu còn lại ở Việt Nam, sẽ chỉ giữ vai trò cố vấn.

Tuy mãi đến khoảng đầu thập niên 1970 vấn đề Việt-Nam Hóa, tức là giao trọng trách trên chiến trường cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mới được đề cập tới, nhưng trên thực tế, trước khi có chương trình này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng đã đảm đương phần lớn gánh nặng của chiến cuộc. Tuy quân lực Hoa Kỳ có tham dự những trận đánh lớn với Cộng quân, nhưng các lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn đụng độ với địch nhiều hơn, và thiệt hại bao giờ cũng cao hơn lực lượng đồng minh.

Mặc dù có nhiều ý kiến chống đối tại Việt Nam cũng như tại Hoa Kỳ, công cuộc "Việt-Nam Hóa" được tiến triển rất nhanh qua kế hoạch "Hiện Đại Hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa" (gọi tắt là CRIMP - Consolidated Royal Vietnam Armed Forces Improvement and Modernization Program). Tính đến năm 1972, Hoa Kỳ đã chuyển giao cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên 800,000 vũ khí cá nhân và cộng đồng, khoảng 2,000 chiến xa và đại bác, khoảng 44,000 máy truyền tin.

So với năm 1968, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 700,000. Vào cuối năm 1971 tăng lên trên 1 triệu người. Như vậy, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã được canh tân và cải tiến trong đầu thập niên 1970 để có thể thay thế quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường miền Nam. Sau đây, chúng tôi sẽ đi sâu vào thời kỳ hiện đại hóa rất quan trọng của từng quân chủng: Lục Quân, Không Quân, và Hải Quân.

Để giúp quý độc giả, nhất là những bạn trẻ không có dịp chiến đấu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dễ dàng nắm vững được những phần nồng cốt trong bài biên khảo này, chúng tôi xin mạn phép được đề câp sơ qua về cơ cấu tổ chức của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Tổng quát, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được phân chia làm 3 quân chủng: Hải Quân, Không Quân, và Lục Quân, thường được gọi tắt là Hải, Lục, Không Quân. Cũng như đa số các quân đội trên thế giới, Lục Quân bao giờ cũng phải đảm đương phần lớn trách nhiệm trong các cuộc chiến, nên quân chủng này quan trọng nhất và có đông quân nhất.


UserPostedImage Hải quân Việt Nam Cộng hòa

UserPostedImage Không lực Việt Nam Cộng hòa

UserPostedImage Lục quân Việt Nam Cộng hòa


Theo định nghĩa khái quát, Lục Quân gồm các quân nhân đánh giặc "trên mặt đất." Không Quân dùng phi cơ để bay trên trời, và Hải Quân xử dụng các chiến hạm chiến đĩnh trên sông ngòi hay biển cả.

Có nhiều người thường xử dụng lẫn lộn danh từ "quân chủng" và "binh chủng", thí dụ như "binh chủng" Không Quân, "binh chủng" Hải Quân..." Điều này cũng không lấy gì làm lạ, vì "quân" hay "binh" cũng đều là lính cả! Tuy nhiên, nếu phân biệt rõ ràng, một binh chủng chỉ là thành phần của một quân chủng, cũng như tiểu đoàn là thành phần của một trung đoàn.

Lục Quân là một quân chủng lớn với gần nửa triệu quân dưới cờ, nên được chia thành nhiều binh chủng như: Bộ Binh, Công Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp Binh, v.v. Còn hai Quân Chủng Không Quân và Hải Quân không được chia thành những binh chủng riêng biệt.Nếu chỉ kể riêng về quân số, binh chủng Bộ Binh còn đông hơn cả quân chủng Không Quân và Hải Quân hợp lại.

Đối với các binh chủng đặt biệt như Nhảy Dù Hay Thủy Quân Lục Chiến, tuy có dùng chiếm hạm của Hải Quân hay phi cơ của Không Quân khi đi hành quân, nhưng đều được kể là những binh chủng của Lục Quân.

Nhìn chung, Lục Quân được gia tăng lên đến 450,000 người, chia ra 13 sư đoàn, gồm 171 tiểu đoàn lưu động được phối trí như sau:

Sư Đoàn 1, 2, và 3 trấn đóng tại Vùng 1 Chiến Thuật.

Sư Đoàn 22 và 23 trấn đóng tại vùng 2 Chiến Thuật.

Sư Đoàn 5, 18, và 25 trấn đóng tại Vùng 3 Chiến Thuật.

Sư Đoàn 7, 9, và 21 trấn đóng tại Vùng 4 Chiến Thuật.

Ngoài ra, còn có hai sư đoàn tổng trừ bị là Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Bốn mươi lăm (45) tiểu đoàn Biệt Động Quân được chia ra thành những liên đoàn đặt trực thuộc các Vùng Chiến Thuật. Năm mươi tám (58) tiểu đoàn Pháo Binh.

Trong số những tiểu đoàn này, chỉ có mỗi một tiểu đoàn được trang bị đại bác 175 ly có tầm bắc xa tương đương với đại bác 130 ly của Cộng quân. Các đại bác khác đều thuộc loại 105 ly hay 155 ly có tầm bắc ngắn hơn đại pháo của địch tới mươi cây số. Mười chín (19) thiết đoàn Kỵ Binh.
Lực lượng Địa Phương Quân (ĐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) tại các tiểu khu và chi khu cũng gia tăng đáng kể, lên đến 550,000 người vào năm 1972. Quan trọng hơn nữa, lực lượng này được trang bị vũ khí tối tân M-16 và M-60 để thay thế các vũ khí lỗi thời như M-1 và trung liên BAR. Lục Quân có Lục Quân Công Xưởng tại Gò Vấp để sửa chữa và bảo trì những chiến cụ nặng như chiến xa và đại bác, v.v.

(Phần 1)


UserPostedImage
coffeebean  
#53 Posted : Thursday, February 10, 2011 2:40:04 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Cám ơn Hạ Vi qua bài " QLVNCH, Khái Lược Lịch Sử ..." .
để bạn đọc (và coffee bean nữa) hiểu biết thêm về người lính và cách gọi tên quân binh chủng VNCH...
Nhớ đến những người lính anh hùng đã âm thầm chiến đấu, lặng lẽ hy sinh trong suốt 20 năm ... cho miền Nam tự do.

Mời các bạn nghe lại bài hát "NỬA ĐÊM BIÊN GIỚI" của nhạc sĩ Anh Bằng; Thanh Thuý trình bày. "... Yêu nước như yêu mẹ hãy còn giữ trong linh hồn."
Mẹ ơi! Biên cương giờ đây,
Trời không mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang

Khèn trong buôn xa còn vang,
Nhịp chiêng tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao!

Đêm nay, quê nhà, mẹ hiền còn thương đứa con đi chốn xa mờ
Không than, không sầu, đầu non cuối ghềnh ôm tay súng canh rừng sâu
Con vui sông hồ, vì yêu giống nòi mà dặn lòng đi tranh đấu
Thương ai dãi dầu, nắng sớm mưa chiều
Có con dế mèn nỉ non ru canh thâu

Mẹ ơi! Quê hương lầm than,
Làm trai hai vai nợ mang
Ngồi đây trông sương khuya trắng trên đầu non
Con biết quê xa mẹ mong chờ tin chiến công con

Thời gian không phai lòng son,
Trường Sơn không ngăn tình con
Ngày nao con ra đi nhớ câu mẹ khuyên
Yêu nước như yêu mẹ hãy còn giữ trong linh hồn.

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/RnA1g5pjBO[/FLASH]

havi  
#54 Posted : Saturday, February 12, 2011 5:49:27 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage
Phần 2


BINH CHỦNG THIẾT GIÁP


UserPostedImage


Vào năm 1950, người Pháp thành lập một đơn vị Thám Thính Xa cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Đến khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954, binh chủng Thiết Giáp gồm Lữ Đoàn 3 Thiết Giáp và bốn thiết đoàn biệt lập. Cho tới đầu năm 1955, Bổ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh mới được chính thức thành lập cùng với nền đệ nhất Cộng Hòa.

Những chiến xa đầu tiên của binh chủng Thiết Giáp đều thuộc loại M-24 Chaffee nhẹ, thiết xa M-8 loại nửa bánh nửa xích. Vào năm 1956, Thiết Giáp Binh được tổ chức theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, gồm những thiết đoàn kỵ binh, mỗi thiết đoàn gồm hai chi đoàn trang bị chiến xa M-8, M-3, và M-24. Trong thời gian từ 1957 đến 1962, Thiết Giáp Binh chỉ giữ một vai trò khiêm nhường trên chiến trường miền Nam vì các nhà quân sự cho rằng Việt Nam với nhiều rừng rú và sông rạch ruộng vườn lầy lội, không phải là chiến trường thích hợp cho chiến xa di chuyển.

Tuy nhiên, cùng với sự sôi động của chiến trường, những thiết vận xa hay thiết quân vận M-113 được mang ra xử dụng thành công trong các cuộc hành quân tại Vùng 4. Sau đó, các thiết quân vận M-113 được trang bị hỏa lực mạnh hơn và lá chắn để trở thành một loại "chiến xa" đa dụng của Thiết Giáp Binh (xin phân biệt chiến xa hay xe tăng có nhiệm vụ chính là dùng hỏa lực tiêu diệt địch quân, còn thiết quân vận có mục đích nguyên thủy là dùng để chở quân đổ vào mục tiêu).

Đến năm 1964, các chiến xa Chaffee cũ kỹ được thay thế bằng loại M-41A3 "Walker Bulldog" tối tân hơn. Chiến xa M-41 chẳng bao lâu đã trở thành xương sống của Thiết Giáp Binh với 5 chi đoàn và rất được các chiến sĩ mũ đen ưa chuộng. Loại này tuy bị coi là nhỏ bé chật chội đối với người tây phương cồng kềnh, nhưng đối với người Việt Nam nhỏ tác thì lại rất vừa vặn và hữu hiệu.

Vào những năm cuối cùng của cuộc chiến, khi Cộng Sản Bắc Việt dùng các loại chiến xa T-54 và PT-76 để yểm trợ cho bộ binh xung trận, Thiết Giáp Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại được canh tân qua chương trình Việt-Nam Hóa với các chiến xa tối tân hơn như M-48 có máy nhắm bằng Xenon.

Trong các cuộc hành quân lớn như vượt biên qua Cam Bốt năm 1970, Hạ Lào năm 1971, và trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, các chiến xa Việt Nam Cộng Hòa đã tỏ ra trội vượt so với thiết giáp của đối phương và gây cho họ những thiệt hại nặng nề.

Riêng trong trận xa chiến đầu tiên với chiến xa cộng sản tại Hạ Lào vào năm 1971, các chiến xa M-41 của Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ do Đại Tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy đã bắn hạ 6 chiến xa T-54 và 16 PT-76 của địch mà không bị một tổn thất nào.

Vị tư lệnh cuối cùng của binh chủng Thiết Giáp là Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp.

BINH CHỦNG PHÁO BINH


UserPostedImage


Pháo binh Việt Nam xuất hiện trên chiến trường vào cuối năm 1951 với các đơn vị đầu tiên được gọi là Pháo Đội Biệt Lập (Batterie de tir autonome). Sau đó, vào các năm 1952-1953, các pháo đội này được tập trung thành các tiểu đoàn pháo binh (Group d'artillerie). Các tiểu đoàn Pháo Binh Việt Nam, Pháo gọi là GAVN, gồm 3 pháo đội với 12 khẩu đại bác 105 ly. Sau đây là danh sách các tiểu đoàn pháo binh đầu tiên với ngày thành lập:

* Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh, thành lập ngày 1 tháng 11 năm 1952 tại Bắc Việt
* Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh, thành lập ngày 1 tháng 3 năm 1953 tại Trung Việt
* Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh, thành lập ngày 1 tháng 3 năm 1953 tại Cao Nguyên
* Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh, thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1953 tại Nam Việt

Tuy được thành lập đã lâu, nhưng mãi tới tháng 10 năm 1954, các sĩ quan Pháo Binh Việt Nam mới đảm nhiệm chức vụ tiểu đoàn trưởng. Và mãi đến tháng 3 năm 1955, binh chủng Pháo Binh mới có vị chỉ huy trưởng đầu tiên. Một trong những vị chỉ huy trưởng lúc ban đầu rất nổi tiếng của Pháo Binh là tướng Nguyễn Đức Thắng.

Về sau, cùng với sự bành trướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, binh chủng Pháo Binh cũng gia tăng nhanh chóng với các đơn vị pháo binh diện địa và di động đi theo các sư đoàn tổng trừ bị Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Vào năm 1972, khi chương trình hiện đại hoá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lên tới cao độ, có tới 58 tiểu đoàn Pháo Binh đồn trú khắp nơi trên các vùng Chiến Thuật.

Pháo Binh, cùng với Không Quân và Hải Quân, được coi như là những vị cứu tinh của các tiền đồn bị cô lập hay các đơn vị bộ binh đang chạm địch. Với những khẩu đội pháo bắn tập trung và tiêu diệt, lợi điểm của Pháo Binh là có thể tác xạ yểm trợ lâu dài và hữu hiệu dưới mọi thời tiết.

Nhưng rất tiếc khi chiến cuộc Việt Nam gần tàn vào những năm 1973-1974, khả năng hoạt động của Pháo Binh không còn được hữu hiệu như trước vì tình trạng đạn dược bị hạn chế. Hơn nữa, cả binh chủng Pháo Binh chỉ có một tiểu đoàn được trang bị đại pháo 175 ly có tầm bắn tương đương với trọng pháo 130 ly của địch quân lúc đó đang đầy rẫy khắp chiến trường.

Đa số đại bác của quân đội Việt Nam Cộng Hòa là loại 105 ly và 155 ly với tầm bắn ngắn hơn trọng pháo của Cộng Sản Bắc Việt. Do đó, Cộng quân có thể pháo kích những căn cứ hỏa lực hay nơi đặt pháo, nhưng phía Việt Nam Cộng Hòa lại không phản pháo được vì ngoài tầm tác xạ.

ĐOÀN NỮ QUÂN NHÂN


UserPostedImage


UserPostedImage


Thiết tưởng khi đề cập đến lịch sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà không nhắc đến Đoàn Nữ Quân Nhân, có thể là một thiếu sót đáng trách. Những "đóa hoa nở trên đầu súng" này, tuy không trực tiếp xông pha nơi tuyến đầu, nhưng cũng đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng đại gia đình quân đội.

Vào lúc cuộc chiến giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản đang thời sôi động nhất, khi "lời sông núi giục vang bốn phương trời," đã có khá đông phụ nữa đi theo bước chân "Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời," gia nhập quân ngũ để đảm nhiệm những công tác xã hội.

Sở xã hội được thành lập vào tháng 7 năm 1952 với khóa huấn luyện Nữ Trợ Tá đầu tiên được tổ chức vào ngày 21 tháng 8 năm 1952 tại trường Hồng Thập Tự Pháp. Từ đó, bóng dáng người phụ nữ Việt Nam trong quân phục đã trở thành khá quen thuộc trong một tập thể trước đây được coi là độc quyền của nam giới.

Đoàn Nữ Quân Nhân được chia làm hai thành phần chính: Nữ Phụ Tá (Personnel Auxilliaire Feminin, gọi tắt là PAF) đảm nhiệm những công tác văn phòng để nam quân nhân có thể cầm súng ra trận. Nữ Trợ Tá Xã Hội (Assistance Sociale hay Auxiliaire Sociale) chuyên lo công tác xã hội như cứu trợ gia đình hay săn sóc thương bệnh binh.

Sở Xã Hội khi mới thành lập do phu nhân của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh là một người Pháp điều khiển. Đến tháng 4 năm 1954, Sở Xã Hội được mở rộng thành Nha Xã Hội và Văn Hóa. Về sau này, các Nữ Trợ Tá trở thành các Nữ Quân Nhân có mặt hầu hết trong các Quân Binh Chủng.

Trong binh chủng Nhảy Dù, thoạt đầu các Nữ Quân Nhân đảm trách việc xếp dù, sau đó họ học Nhảy Dù và thành lập một toán Nữ Quân Nhân chuyên biểu diễn Nhảy Dù rất thành thạo và ngoạn mục.

Đoàn Nữ Quân Nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có nhiều cấp chỉ huy rất nổi tiếng như bà Trung Tá Vẽ, bà Trung Tá Hương, bà Thiếu Tá Hằng. Trường Nữ Quân Nhân sau này được thiết lập tại Phú Thọ. Khi tham dự các cuộc diễn binh hay lễ lớn, đoàn Nữ Quân Nhân thường diễn hành rất hùng dũng và nhịp nhàng, luôn luôn được hoan hô và tán thưởng nhiều nhất.
QUÂN CHỦNG KHÔNG QUÂN


UserPostedImage


UserPostedImage


Quân chủng Không Quân Việt Nam (KQVN) được thành lập bởi Dụ Số 9 ngày 25 tháng 6 năm 1951, nhưng mãi tới tháng 6 năm 1952 mới bắt đầu chính thức hoạt động tại Nha Trang, nơi được xem như là cái nôi của Không Quân.

Thoạt tiên, Không Quân Việt Nam được nảy sinh ra từ lực lượng Không Quân Viễn Đông Pháp (Forces Aeriennes en Extreme Orient), bắt đầu từ một trung tâm huấn luyện đặt tại bờ biển Nha Trang để huấn luyện phi công và quan sát viên trên phi cơ Morane 500 (máy bay Bà Già). Lúc đầu, hầu hết các hoa tiêu và cơ khí viên đều được gửi đi thụ huấn tại các trường Không Quân ở Pháp và Bắc Phi Châu như Salon, Fes, Marrakech, Rochefort. Quân số Không Quân lúc thành lập chỉ độ 3,000 người.

Bước sang năm 1961, vì nhu cầu chiến trường gia tăng để chống lại các cuộc tấn công của Cộng Sản, Không Quân Việt Nam được trang bị một cách tích cực bằng những loại phi cơ tối tân hơn và quân số đã gia tăng gấp 10 lần so với lúc thành lập. Nhiều phi trường cũng được cải tiến để tiếp nhận các oanh tạc cơ hạng nặng. Phi đạo tại các phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng được nối dài thành 10,000 bộ để trở thành phi trường quốc tế hạng A.

Trong đợt đầu, vào năm 1962, Không Quân Việt Nam đã có những phi đoàn sau đây:

* Phi Đoàn Khu Trục trang bị phi cơ A-1H đồn trú tại Đà Nẵng, Biên Hòa, và Bình Thủy.
* Ba (3) phi đoàn vận tải cơ C-47 cùng 2 phi đoàn C-119 và C-123 đồn trú tại Tân Sơn Nhất.
* Năm (5) phi đoàn Quan Sát
* Ba (3) phi đoàn Trực Thăng
* Và nhiều phi đoàn cho những phi vụ đặc biệt

Sau này, các phi cơ cánh quạt được thay thế bằng phi cơ phản lực tối tân, cùng hàng trăm phi cơ trực thăng UH-1H và Chinook CH-47.

Vào tháng 7 năm 1964, Phi Đoàn Khu Trục 524 tại Nha Trang là phi đoàn đầu tiên tiếp nhận phi cơ A-37, là loại chiến đấu phản lực 2 động cơ, đánh dấu Không Quân Việt Nam tiến thêm một bước nữa vào "thời đại phản lực." Trong những năm kế tiếp, căn cứ Không Quân Biên Hòa thành lập thêm 3 phi đoàn chiến đấu cơ siêu thanh (supersonic fighter) F-5, là một trong những loại hiện đại nhất vào thời điểm này. Về ngành vận tải, Sư Đoàn 5 Không Quân tại Tân Sơn Nhất cũng được trang bị thêm 2 phi đoàn vận tải bán phản lực với loại phi cơ C-130 Hercules.

Để bảo trì và sửa chữa các loại phi cơ, một Không Quân Công Xưởng cũng được thiết lập tại Biên Hòa. Không Quân Công Xưởng này được trang bị rất tối tân với những chuyên viên bảo trì thuộc vào hàng giỏi nhất vùng Đông Nam Á.

Vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, Không Lực Việt Nam có quân số lên đến 60,000 người với khoảng 1,860 phi cơ kể cả trực thăng. Không Quân Việt Nam đã có lúc được coi là hùng hậu nhất Đông Nam Á và đứng vào hàng thứ tư trên thế giới, được tổ chức thành 6 Sư Đoàn Không Quân Chiến Thuật, phối trí như sau:

* Sư Đoàn 1 Không Quân: Vùng 1 Chiến Thuật
* Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 6 Không Quân: Vùng 2 Chiến Thuật
* Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 5 Không Quân: Vùng 3 Chiến Thuật
* Sư Đoàn 4 Không Quân: Vùng 4 Chiến Thuật

QUÂN CHỦNG HẢI QUÂN


UserPostedImage


Vào khoảng đầu năm 1951, tuy Hải Quân Việt Nam (HQVN) chưa chính thức ra đời, nhưng đã có nhiều Liên Đoàn Tuần Giang (tiếng Pháp gọi là Garde Auxiliaire Escadrille Fluviale, gọi tắt là GAEF) được thành lập để đáp ứng như cầu hành quân trên sông ngòi toàn lãnh thổ Việt Nam. Các Liên Đoàn Tuần Giang (LĐTG) này được phân phối như sau:

Liên Đoàn Tuần Giang số 1 đồn trú tại Saigon, gồm có bốn Đoàn Tuần Giang (ĐTG):

* ĐTG 1 đóng tại Cần Thơ
* ĐTG 2 đóng tại Mỹ Tho
* ĐTG 3 đóng tại Vĩng Long
* ĐTG 4 đóng tại Saigon

Liên Đoàn Tuần Giang số 2 đồn trú tại Huế, chỉ có một Đoàn Tuần Giang độc nhất cũng đóng tại Huế.

Liên Đoàn Tuần Giang số 3 đồn trú tại Hà Nội, gồm có 3 Đoàn Tuần Giang:

* ĐTG 1 đóng tại Hà Nội
* ĐTG 2 đóng tại Hải Phòng
* ĐTG 3 đóng tại Nam Định

Trên lý thuyết, mỗi bộ chỉ huy Liên Đoàn Tuần Giang gồm 2 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan, 9 binh sĩ, và có một tàu chỉ huy. Mỗi Đoàn Tuần Gian có 1 sĩ quan, 15 hạ sĩ quan, 76 binh sĩ, và 6 tầu Vedettes. Tuy nhiên, quân số và chiến đĩnh thuộc mỗi Đoàn Tuần Gian được du di tùy theo nhu cầu chiến trường. Quân số tổng cộng của các Liên Đoàn Tuần Giang là 920 người. Vì lúc đó Hải Quân chưa được thành lập nên những Liên Đoàn Tuần Giang được đặt dưới quyền của Vệ Binh Quốc Gia (GA). Có thể nói những Liên Đoàn Tuần Giang là thủy tổ của Hải Quân Việt Nam lúc chưa thành hình.

Tưởng cũng nên nhắc lại vào thời gian đó cũng có những đại đội Commando chuyên đánh thủy như các đại đội Ouragan, Tempete, Jaubert, Montfort. Ta cũng có thể nói những đại đội "lính bộ đánh thủy" này là tiền thân của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sau này.

Trước đó, vào năm 1950, đã có một số thanh niên Việt Nam được gửi sang Pháp thụ huấn các khóa ngắn hạn tại trường Hải Quân Brest. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân (TTHLHQ) Nha Trang được khởi công xây cất vào tháng 11 năm 1951. Sau đây là những thời điểm chính trong lịch sử hình thành Hải Quân Việt Nam:

Ngày 6 tháng 3 năm 1952: Hải Quân Việt Nam được chính thức thành lâp bởi Dụ Số 2.

Ngày 20 tháng 5 năm 1952: Thành lập Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam.

Ngày 12 tháng 7 năm 1952: Khánh thành Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Đô đốc Ortoli (Pháp) chủ tọa.

Tháng 9 năm 1952: Khóa 1 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang ra trường, gồm 9 sĩ quan.

Tháng 10 năm 1952: sáu người được tuyển chọn đi học khóa Sĩ Quan Hải Quân tại Brest (Pháp).

Đầu năm 1953: Hai đoàn tiểu đĩnh được biến cải thành hai Hải Đoàn Xung Phong đầu tiên đóng tại Cần Thơ và Vĩnh Long. Hải Đoàn Xung Phong Cần Thơ là đơn vị Hải Quân đầu tiên có chiến đĩnh mang quốc kỳ Việt Nam trên kỳ đài. Mãi đến đầu năm 1954, một Hải Đoàn Xung Phong thứ ba mới được thành lập để tham chiến tại vùng trung châu Bắc Việt.

Tháng 4 năm 1953: Pháp chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam một Giang Pháo Hạm (Landing Ship Infantry Large, gọi tắt là LSIL). Chiến hạm này vẫn mang cờ Pháp.

Đầu năm 1954: Quân số Hải Quân Việt Nam gồm có 22 sĩ quan và 984 hạ sĩ quan và đoàn viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ định tướng Trần Văn Đôn chỉ huy Hải Quân Việt Nam. Như vậy, tuy đã chuyển gia một số đơn vị cho Hải Quân Việt Nam, sĩ quan Pháp vẫn tiếp tục chỉ huy Hải Quân cho đến đầu năm 1955.

Vào năm 1950 đã có 8 sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ trong phái bộ MAAG (Military Assistance Advisory Group) nhưng mãi đến năm 1954 mới có cố vấn Hoa Kỳ trong Hải Quân Việt Nam.

Ngày 20 tháng 8 năm 1955: Quân đội Pháp chính thức chuyển giao quân chủng Hải Quân cho Quân Lực VNCH (cùng ngày với Không Quân). Hải Quân Thiếu Tá Lê Quang Mỹ được thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Hải Quân đầu tiên (kiêm tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến).

Ngày 7 tháng 11 năm 1955: Pháp chuyển giao Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang cho Hải Quân Việt Nam. Tính cho đến cuối năm 1955, Pháp đã chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam những đơn vị sau đây:

Bốn Hải Đoàn Xung Phong (HDXP) gồm HDXP 21 đóng tại Mỹ Tho, HDXP 23 đóng tại Vĩnh Long, HDXP 24 đóng tại Saigon, HDXP 25 đóng tại Cần Thơ.

Ba căn cứ Hải Quân tại Saigon, Cát Lái, và Đà Nẵng.

Bốn đồn Hải Quân tại Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long, và Long Xuyên.

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.

Hải Quân Công Xưởng Saigon (Ba Son).

Kho đạn Thành Tuy Hạ.

Lúc đó, Hải Đoàn Xung Phong 22 đã được thành lập và di chuyển từ miền Bắc vào, nhưng giang đĩnh bị thiệt hại khá nặng nên phải giải tán và sát nhập vào Hải Đoàn Xung Phong 21.


[img]UserPostedImage


Tháng 7 năm 1955: Bảng cấp số lý thuyết của Hải Quân được chấp thuận, tăng quân số lên 4,250 người. Lúc đó, quân số Hải Quân đã có 3,858 người phân chia như sau:

Hải Quân chính thức: 2,567 người gồm 190 sĩ quan, 2,377 hạ sĩ quan và đoàn viên.

Thủy Quân Lục Chiến: 1,291 người, gồm 43 sĩ quan, 257 hạ sĩ quan và 991 binh sĩ.

Sau khi được chuyển giao, Hải Quân Việt Nam chia thành ba lực lượng chính sau đây:

1. Hải Trấn: Gồm 4 Duyên Khu (Phú Quốc, Nha Trang, Vũng Tầu, Đà Nẵng). Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang và ba Thủy Xưởng (miền Đông: Saigon, miền Tây: Cần Thơ, miền Trung: Đà Nẵng).

2. Hải Lực: Gồm có các chiến hạm tuần tiễu hay yểm trợ ven biển:

Năm (5) tuần duyên hạm (PC - Patrol Craft): HQ 01 Chi Lăng, HQ 02 Vạn Kiếp, HQ 04 Tụy Động, HQ 05 Tây Kết, HQ 06 Vân Đồn.

Ba (3) trục lôi hạm (YMS - Yatch Mine Sweeper - tàu rà mìn): HQ 111 Hàm Tử, HQ 112 Chương Dương, HQ 113 Bạch Đằng.

Hai (2) Trợ Chiến Hạm (LSSL - Landing Ship Support Large): HQ 225 Nỏ Thần, HQ 226 Linh Kiếm.

Năm (5) Giang Pháo Hạm (LSIL - Landing Ship Infantry Large): HQ 327 Long Đao, HQ 328 Thần Tiễn, HQ 329 Thiên Kích, HQ 330 Lôi Công, HQ 331 Tầm Sét.

Bốn (4) Hải Vận Hạm (LSM - Landing Ship Medium): HQ 400 Hát Giang, HQ 401 Hàn Giang, HQ 402 Lam Giang, HQ 403 Ninh Giang.

3. Giang Lực: gồm một số tầu trục vớt trong sông và quân vận đĩnh (LCU - Landing Craft Utility) và năm Hải Đoàn Xung Phong được phân phối như sau:

Hải Đoàn Xung Phong 21 đóng tại Mỹ Tho

Hải Đoàn Xung Phong 23 đóng tại Vĩnh Long

Hải Đoàn Xung Phong 24 đóng tại Saigon

Hải Đoàn Xung Phong 25 đóng tại Cần Thơ

Hải Đoàn Xung Phong 26 đóng tại Long Xuyên

(Lúc đó vì Hải Đoàn Xung Phong 22 bị thiệt hại nặng ngoài Bắc Việt, nên khi di chuyển vào Nam được sát nhập vào Hải Đoàn Xung Phong 21).

Tháng 5 năm 1957: Các sĩ quan Hải Quân Pháp cuối cùng rời khỏi Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang. Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam hoàn toàn đảm trách việc huấn luyện.

Năm 1958: Khóa 8 Đệ Nhất Hổ Cáp là khóa Sĩ Quan Hải Quân đầu tiên được chính Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam tuyển mộ và huấn luyện.

Trong khoảng 10 năm từ 1958 tới 1968, Hải Quân Việt Nam tiếp tục bành trướng mạnh mẽ, cả về quân số lẫn chiến hạm. Nhiều nhân viên được gửi đi thụ huấn tại ngoại quốc và Hoa Kỳ cũng chuyển giao nhiều chiến hạm.

Vào tháng 11 năm 1969, trong khuôn khổ kế hoạch "Việt-Nam Hóa Cuộc Chiến" và "Chuyển Giao Cấp Tốc" (Accelerated Turn Over to the Vietnamese - ACTOV), chỉ trong một thời gian ngắn, Hải Quân Việt Nam nhận được trên 500 chiến hạm và chiến đỉnh đủ loại.

Cho tới tháng 4 năm 1975, quân số của Hải Quân lên đến gần 43,000 người với khoảng 1,600 chiến hạm và chiến đỉnh đủ loại.

Tưởng cũng nên nhắc nhở là Hải Quân Công Xưởng (còn được gọi là Sở Ba Son) là môt thủy xưởng được thiết lập ngay trên bờ sông Saigon từ thế kỷ thứ 19, trên một khu đất rộng chừng 53 mẫu tây. Thủy xưởng này có nhiều ụ nổi đủ sức tân trang và đại kỳ những chiến hạm cỡ lớn.

Các đại đơn vị thuộc quân chủng Hải Quân được tổ chức như sau.

Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sông, gồm có:

1. Vùng III Sông Ngòi đóng tại Saigon, chỉ huy các Giang Đoàn Xung Phong.

2. Vùng IV Sông Ngòi đóng tại Cần Thơ, chỉ huy các Giang Đoàn Xung Phong.

3. Lực Lượng Thủy Bộ (Lực Lượng Đặc Nhiệm 211) đóng tại Bình Thủy, chỉ huy các Giang Đoàn Thủy Bộ.

4. Lực Lượng Tuần Thám (Lực Lượng Đặc Nhiệm 212) đóng tại Châu Đốc, chỉ huy các Giang Đoàn Tuần Thám.

5. Lực Lượng Trung Ương (Lực Lượng Đặc Nhiệm 214) đóng tại Đồng Tâm, chỉ huy các Giang Đoàn Ngăn Chận.

Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển, gồm có:

1. Hạm Đội: Chia thành Hải Đội I Tuần Duyên, Hải Đội II Chuyển Vận, và Hải Đội III Tuần Dương, gồm nhiều chiến hạm đủ loại, đủ cỡ hoạt động trong sông cũng như ngoài biển, từ vĩ tuyến 17 đến Vịnh Thái Lan.

2. Các vùng duyên hải: Chỉ huy các Duyên Đoàn, Giang Đoàn, Đài Kiểm Báo, Hải Đội Duyên Phòng, Tiền Doanh Yểm Trợ. Mỗi vùng duyên hải chịu trách nhiệm một vùng bờ biển.

Vùng I Duyên Hải, đóng tại Đà Nẵng, chịu trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đến Quảng Ngãi.

Vùng II Duyên Hải, đóng tại Cam Ranh, chịu trách nhiệm từ Bình Định đến Phan Thiết.

Vùng III Duyên Hải, đóng tại Vũng Tàu, chịu trách nhiệm từ Phước Tuy tới Kiến Hòa.

Vùng IV Duyên Hải, đóng tại Phú Quốc, chịu trách nhiệm từ Mũi Cà Mau đến biên giới Miên-Việt trong vịnh Thái Lan.

Vùng V Duyên Hải, đóng tại Năm Căn, chịu trách nhiệm vùng biển Ba Xuyên, An Xuyên, một phần tỉnh Kiên Giang và các hải đảo như Poulo Obi.

KẾT LUẬN


UserPostedImage Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt

UserPostedImage hình chụp đầu năm 1975 (báo Paris Match), khoá nhảy dù cuối cùng của VNCH


Khi đề cập đến chiến tranh là nói đến tàn phá và chết chóc. Nhưng ngoài việc hy sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng đã đóng góp đắc lực vào việc xây dựng đất nước. Các doanh trại hàng hàng lớp lớp, các hải cảng, giang cảng tối tân có thể đón nhận những thương thuyền cỡ lớn, những phi trường quốc tế hạng A, những cầu cống tối tân do Công Binh xây cất đã từng thay đổi hẳn bộ mặt quê hương Việt Nam, tự một thuộc địa nghèo nàn dưới sự cai trị của thực dân Pháp gần 100 năm, thành một quốc gia tiến bộ vào bậc nhất trong vùng Đông Nam Á.

Riêng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thoát thai từ một đội quân phụ thuộc vào lực lượng viễn chinh Pháp, không có chính nghĩa quốc gia, nhưng sau này đã trở thành một quân lực hùng mạnh dưới thời đệ nhất Cộng Hòa vào năm 1955 cho tới khi tàn cuộc chiến. Biến cố đau thương vào tháng 4 năm 1975 đã bức tử quân đội miền Nam, nhưng dư âm và hình ảnh oai hùng của người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa vì dân trừ bạo vẫn còn ghi sâu vào tâm khảm mọi người.

Cuộc đời như "như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao," như "bóng câu qua cửa sổ." Mười tám năm trôi qua như gió thoảng ngoài hiên, nhưng đối với người lính chiến Việt Nam, dù lưu lạc nơi đâu vẫn tưởng như đêm nào còn ôm súng chờ giặc nơi tuyến đầu. Mỗi khi nhắc đến quá khứ, người ta cho đó chỉ là "vang bóng một thời."

Nhưng đối với những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người trong cuộc, những người đã từng cầm súng đánh lại bọn Cộng Sản vong nô, những chứng nhân hào hùng và đau thương của cuộc chiến, sẽ không thể nào quên được một tập thể trong đó họ đã đóng góp biết bao xương máu và cả tuổi hoa niên. Mỗi khi nhắc đến lịch sử oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người lính chiến Việt Nam tưởng như nhắc lại chính cuộc đời mình và những trách nhiệm cũng như bổn phận đối với đất nước chưa làm tròn.

Vì vậy, dù không còn được cầm súng giết giặc ngoài sa trường, nhưng người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn bền gan đấu tranh trên các mặt trận chính trị, văn hóa, kinh tế, cho đến khi nào gót thù không còn giầy xéo trên quê hương và thanh bình thịnh vượng thật sự trở về với quốc gia dân tộc.

Nếu vì hoàn cảnh bó buộc không thể trực diện đấu tranh với bọn Cộng Sản bạo tàn, ít ra những người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng không hèn nhát, không phản bội quê hương hay đâm sau lưng đồng đội bằng cách bắt tay với giặc thù dù dưới chiêu bài đẹp đẽ đến đâu đi nữa.
Mọi ý đồ, tham vọng đen tối, ngông cuồng và man rợ của bất cứ cá nhân, đoàn thể hay đảng phái nào đi ngược lại với quyền lợi tối thượng của dân tộc trước sau thế nào cũng bị thất bại. Những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chân chính và xứng đáng luôn luôn sáng suốt để phục vụ cho chính nghĩa quốc gia dân tộc.


(Trích Nguyệt San Đoàn Kết (Austin, TX) số 40, tháng 6 năm 1993)





UserPostedImage
coffeebean  
#55 Posted : Saturday, February 19, 2011 3:29:33 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
quote:
Originally posted by xuan hoang
[center] [font=Book Antiqua]Nói với người tình sau cuộc chiến

Trạch Gầm
Người Tình không chân dung Nhạc : Hoàng Trọng - Trình baỳ : Lệ Thu[/size=3]

hoang

Cám ơn Xuân Hoàng nhiều ! với bài thơ lạ lẫm của Trạch Gầm và những hình ảnh rất cảm động, Còn bài hát nữa ... coffee bean cứ nghĩ hoài câu " Hỡi người chiến sĩ đã ...Anh là ai !" thật xót xa !.
Chúc Xuân Hoàng một năm mới an vui, tràn đây sức khoẻ và may mắn! Có trúng số nhớ kêu bạn bè bữa cà phê nghe!

coffeebean  
#56 Posted : Saturday, February 19, 2011 3:52:47 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Còn đây

UserPostedImage
Mỗi độ Tết về nhớ xót xa
Nhớ Xuân khói lửa khắp sơn hà
Thảm trời sầu đất tràn bão lửa
Bao nhiêu lễ giỗ! Tết cố đô!

Nhớ Xuân quê mẹ, nhớ thiết tha
Nhớ người chinh chiến, Tết vẫn xa
Sơn khê, chiến địa, dầm sương muối
Giữ nước, quên mình, xuân đã qua!

UserPostedImage

Còn mãi trong nhau tiếng võng ru
Lời hát Dạ Lan giữa đêm mù
Còn trời An Lộc vang chiến sử
Cổ thành Quảng Trị đón nhau về

UserPostedImage

Còn đuốc Mê Linh sáng ngàn năm
Chi Lăng hồn nước tỏa bao lần
Tiếng trống Hà Hồi thôi thúc giục
Còn gió Bạch Đằng dâng sóng thu

UserPostedImage

Còn giòng máu Việt chảy trong tim
Còn núi sông thiêng tiếng uất hờn
Còn bóng hoàng kỳ bay phất phới
Xin giữ đời nhau, một niềm tin

Cho ngày quang phục hồn non nước
coffeebean  
#57 Posted : Tuesday, March 1, 2011 4:05:48 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Những Ngôi Mộ Phủ Lá Cờ Vàng Hoàng Dũng
Tôi bật khóc khi nhìn những ngôi mộ
Phủ cờ vàng trên nấm đất còn tươi
Anh ra đi đem hạnh phúc cho người
Đem xương máu hòa tan lòng đất Mẹ

Anh ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ
Áo học đường vừa biệt mái đầu xanh
Khi người yêu còn cắp sách học hành
Nay thổn thức nhìn anh nằm im ngủ

Anh để lại người Mẹ già ủ rủ
Đang chờ con nơi chiến tuyến phương xa
Mong an bình sẽ đến khắp mọi nhà
Chừ gục ngã , Mẹ già chờ tuyệt vọng

Anh để lại người vợ hiền bé bỏng
Với con trai bập bẹ gọi tên ba
Vấn khăn tang hoen mắt lệ nhạt nhòa
Đời quá phụ tuổi đời đầy hụt hẫng

Anh để lại bạn bè ngoài chiến trận
Vẫn từng đêm ghìm súng dưới hỏa châu
Ngăn quân thù từng bước nơi tuyến đầu
Cho non nước thêm ngày vui kiến thiết

Anh luôn có trong lòng dân nước Việt
Nhớ ơn anh : những chiến sĩ Cộng Hòa
Vinh danh anh từng bản nhạc hùng ca
Anh nằm xuống cho muôn người được sống

Xin được thắp nén hương , tâm lắng động
Đứng chào nghiêm đưa tiễn những anh linh
Sử oai hùng ghi đậm dạ trung trinh Người chiến sĩ Cộng Hòa dân nước Việt .


havi  
#58 Posted : Friday, March 4, 2011 8:54:21 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Chinh Chiến - Ngậm Ngùi


UserPostedImage


Anh từ chinh chiến ra đi
Khoác chinh y để khắc ghi lời thề
Anh đi không hẹn ngày về
Khi quê hương vẫn, một bề đạn rơi…..

Khe Sanh, khói lửa ngút trời
Rã rời thân xác, rối bời khói sương
Hạ Lào, đốt cháy vấn vương
Lửa hờn, khói hận gửi thương nhớ về

Pleime, đồn trấn sơn khê
Đồi trơ cỏ cháy, u mê lòng người
Dakto, hỏa pháo ngập trời
Khói mù, gió cuốn vạn lời tiếc thương

An Lộc, đạn pháo bốn phương
Trong vòng vây hãm, Bình Long giặc đầy
Cổ Thành, uất tận chân mây
Quyết tâm dựng lại cờ bay…. lệ nhòa

Charlie, đạn tải pháo xa
Kinh hoàng địa chấn, đồi pha máu đào…

Thế rồi có phải chiêm bao?
Chí trai chưa thỏa, chiến bào đã rơi…
Giã từ chinh chiến bồi hồi Anh, thân phận lạc giữa đời xót xa ….



Trần Quang Việt


UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#59 Posted : Sunday, March 6, 2011 6:01:47 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Góc trời của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa


UserPostedImage F5 fighter


UserPostedImage F5 Freedom


UserPostedImage vnaf_crew45


UserPostedImage vnaf_crew49



UserPostedImage vnaf_crew50


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage




UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage VNAF_a3714


Một Chuyến Bay Đêm
Nhạc Sĩ: Hoài Linh

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió.
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ.
Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều
để níu áo hằng nga, ngồi bên dẫy ngân hà.


Giờ sống giửa lưng trời,
đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi
Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo
Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu,
chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào
lâu lắm chẳng gặp nhau.


Bạn bè dù cách xa nào hay,
tình nàng chưa nói nhưng mà say.
Giai nhân hởi khóe mắt em u hoài
theo tìm trong chuyến bay. Có người hỏi phi công ước mơ gì,
người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ chi.


Ước rằng từ khi tung nhịp cánh,
tình ta yêu thương là gió nhân tình của mâỵ
Ở đời ai hiểu ai, người bay trắng đêm dài,
người sống giửa đại dương,người yên giấc ven rừng.
Bạn có biết chuyện này tôi ghi lúc vũ trụ còn ngủ say.
ước như diều để níu áo hằng nga,ngồi bên dẫy ngân hà.



UserPostedImage
coffeebean  
#60 Posted : Thursday, March 10, 2011 3:07:13 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Xin Cám ơn tất cả các bán đã sưu tần hình ảnh đáng quý và những bài văn, thơ, ca khúc rất cảm động cho đề tài này.
Users browsing this topic
Guest (2)
4 Pages<1234>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.