Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages<1234>
Options
View
Go to last post Go to first unread
nhat-tam  
#21 Posted : Sunday, September 5, 2010 4:05:29 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Tiếc Thương!!!
UserPostedImage Không nhận ra người nữa
Đầu người vỡ tan rồi
Tòan thân đầy mảnh đạn
Ôi! tượng hình tả tơi

Súng trận không còn đó
Nón sắt vương nơi nào
Để ngồi trơ sương gió
Người ơi! Người ở đâu?

Tôi vịn vào pho tượng
Tượng trách non sông mình
Rằng sao tàn lửa khói
Hận thù vẫn sục sôi

Linh hồn tôi rơi lệ
Chạnh nhớ xưa nơi này
Bao người vì quê hương
Chết trong mộ tiếc thương

Viên đạn ai thù oán
Bắn nát pho tượng này
Để giờ lật trang sử
Run mười đầu ngón tay
Run mười đầu ngón tay…
Thơ: Cao Tần Nhạc: Anh Bằng
coffeebean  
#22 Posted : Monday, September 6, 2010 9:18:23 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Thiệt cám ơn các bạn nhiều ! ... đã viết lại những vần thơ xúc động ... Chỉ nhớ được hai câu đâu của bài "Anh Hùng Vô Danh" hôm này thì được đọc nguyên bài !

UserPostedImage


Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ .
Như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc,
Thì dân tộc ta mới mong có được
Những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An



UserPostedImageUserPostedImage



Trích bài thơ "CÁC ANH TÔI"
của Hoài Vi

(Kính nhớ Người Chiến Sĩ VNCH)

Vòng hoa kết tặng cho Anh
Người trai đi viết sử xanh rạng ngời
Tuổi xuân hiến trọn cho đời
Tình quê ơn mẹ, anh thời hiếu trung

Làm sao đền đáp cho cùng
Ơn người Chiến sĩ hào hùng Dân tôi
Qua từng mệnh nước nổi trôi
Anh là đuốc sáng đỉnh đồi yêu thương

Áo sờn vai bạc gió sương
Anh đi bảo vệ xóm đường bình yên
Hy sinh rời bỏ bút nghiêng
Tình yêu tươi thắm, Mẹ hiền đành xa

Nặng mang nợ nước thù nhà
Máu xương tô điểm sơn hà mến yêu
Dù thây vùi chốn cô liêu
Anh Hùng tử trận mây chiều tiễn đưa

Có khi về giữa ban trưa
Bằng hòm đóng vội chở đưa về thành
Tóc xanh tang vấn bao vành
Vợ buồn con khóc dổ dành đời nhau

Có khi về giữa cơn đau
Trên đôi nạng gổ bước sầu đường mưa
Thương anh biết nói sao vừa
Tình này năm tháng vẫn chưa phai mờ

Tháng tư nào đến như mơ
Một trời tang tóc phủ mờ quê hương
Tình anh còn nặng yêu thương
Làm sao bỏ lại xóm phường Việt Nam

Lòng đau nhìn ngọn khói lam
Quyện theo hồn nước trời Nam điêu tàn
Sống hùng và chết hiên ngang
Anh tôi tự sát không hàng giặc nô

Tháng tư trắng giải khăn sô
Khóc người trai Việt đắp mồ cho nhau
Người đi kẻ ở hận đau
Kẻ mang tù tội, người sầu ly hương


UserPostedImage


Phần sau bài thơ "CÁC ANH TÔI" của Hoài Vi

Bao năm trên vạn nẻo đường
Người trai Việt vẫn can trường đấu tranh
Viết hoài trang sử hùng anh
Cho mai đời thắm mộng xanh ước thề

Hôm nay mưa lạnh đổ về
Cúi đầu tôi đứng bên lề Tượng cao
Tượng anh rực sáng khí hào
Ôi người Chiến sĩ máu đào vẫn tươi

Máu anh nối tiếp tình Người
Yêu thương điểm thắm môi cười mẹ quê
Mai người đưa đón anh về
Ơn đền nghĩa đáp lời thề chẳng phai

Vòng hoa kính đặt trước Đài
Tặng người Chiến sĩ, lệ dài chảy tuông
Phải đâu vì tháng tư buồn
Bao ngày tôi vẫn đến luôn chốn này

Nhớ anh tôi lại ngồi đây
Dặn lòng mãi khắc Ơn này đậm sâu
Nhớ anh để sống ngẩng đầu
Làm người dân Việt dể dầu cúi xin
.............


Và người lính sa cơ trong ngục tù đày ải vẫn mãi nghẹn lòng đớn đau ... bởi quê hương cũng đang tan nát điêu linh trong gồng cùm xiềng xích, bởi muôn ngàn dân lành vô tội đang trong kiếp đoạ đày, xót xa ... Chỉ còn ánh sao long lanh đêm khuya ray rứt xa tắp ngoài vũ trụ bao la là nguồn sáng soi lòng, là ánh mắt mẹ hiền muôn thuở vẫn chờ con về ! Con hãy về các con mẹ nhé ! Quê hương mãi ngóng chờ, dân tộc vẫn trông mong, lịch sử sẽ hát mừng ... ngày hạnh phúc xoá đi tủi nhục, nghẹn ngào ...


.... NHỚ MẸ ...

Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều.
Mẹ ơi! bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi cho bạc mái đầu.
Không gian rưng rưng như sắp đứt.
Gió về nghẹn nhào như tiếng nấc.
Còn đâu quê hương hoa gấm thơm làn tóc.

Giã từ miền Nam tang tóc con sống trầm luân kiếp sống lưu đầy.
Hằng đêm con nghe thương tiếc xót xa đắng cay dâng ngạt tháng ngày.
Trăng sao tin yêu ai dối trá !
Đất trời hiền hoà ai đốt phá !
Và đem thê lương che kín núi sông này ...

Mẹ ơi ! Mẹ biết không ... còn cháy ... mãi trong con.
Những lời mẹ cầm tay nói:
Nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối !
Và yêu thương, và tự do sẽ còn mãi mãi !
... nhé con !

Giờ này hoàng hôn sắp tắt con nghĩ gì đây con nhớ mẹ nhiều
Mẹ ơi! bao nhiên năm tháng cứ trôi, cứ trôi phiêu dạt mái đầu.
Quê hương điều linh con vẫn khóc !
Trông chờ ngày về con vẫn thắp ...
Từng ngôi sao đêm như ánh mắt mẹ hiền.

Trời mây lung linh soi ánh mắt mẹ hiền.
Hồn con lâng lâng con nhớ mắt mẹ hiền
Mẹ mến yêu ! Con thương nhớ nhiều ...


[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/f92ITDonp5[/FLASH]


UserPostedImage

maikim  
#23 Posted : Monday, September 6, 2010 5:06:27 PM(UTC)
maikim

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 197

Was thanked: 6 time(s) in 5 post(s)
quote:
Originally posted by nhat-tam
Anh hùng vô danh Họ là những anh hùng không tên tuổi,

Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,

Không bao giờ được hưởng ánh vinh quang,

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

......
ĐẰNG PHƯƠNG


Đằng Phương chính là cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy
nhat-tam  
#24 Posted : Tuesday, September 7, 2010 1:32:15 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
quote:
Originally posted by maikim08

Đằng Phương chính là cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy

THANKS maikim ! Chúc maikim 1 ngày mới an vui nha!

havi  
#25 Posted : Friday, November 5, 2010 7:47:13 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage


Tình Bạn Và Đời Lính
Trần Thế Phong

Thành phố Pleiku, thành phố Cao nguyên nắng bụi mưa bùn. Thành phố như thơ Võ Hữu Định: Đi giam phút trở về chốn cũ...Ở đây mỗi chiều quanh năm mùa đông...Thành phố như thơ Kim Tuấn: Buổi chieèu ở Pleiku những cây thông già đứng leen cũng bụi mù...Buổi chiêøu ở Pleiku không có mặt trời, chỉ có mưa bay trê đầu ngọn núi...Ra trường truyền tin Vũng-Tàu, tôi quyết định chọn đơn vị ở thành phố Pleiku, để xa tít mù xa, để quên em và cho em quên tôi, nhưng muốn quên , lại càng nhớ, muốn xa, lại càng gần. Thành phố buồn bã đó đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp trong đời quân ngũ và gặp những mất mát đau thương...


UserPostedImage



UserPostedImage


Thành phố đó tôi gặp lại Trần Văn Toàn, Lê Văn Minh và Đoàn Thạnh, ba thằng bạn thân thương từ thời thơ ấu thời học sinh, sinh viên và đời lính chiến. Trần Văn Toàn: Trung úy Không Quân, Phi Đoàn 530 Khu Trục. Tôi học chung với Toàn lớp đệ nhị và đệ nhất. Toàn đẹp trai, hát hay, ăn nói duyên dáng, gốc người Huế, sinh và lớn lên ở Đà Nẵng, mỗi tối thứ bảy, Toàn thường đến ty thông tin Đà Nẵng hát với biệt hiệu là Duy Hải. Nhiều em rất đẹp mê Toàn với giọng ca truyền cảm. Năm đệ nhất là năm cuối ở Đà Nẵng, tôi và Toàn thường đèo nhau trên chiếc gobel đi phá làng phá xóm. Đậu tú tài 2 Toàn ra Huế học Luật, tôi vào Saigon học Văn khoa, biệt tăm nhau trong mấy năm, không ngờ gặp nhau trên thành phố heo hút này, một thằng sĩ quan Không Quân, một thằng sĩ quan Truyền Tin

Lê Văn Vinh, trung úy Phi Đoàn 229 trực thăng quê ở Quảng Ngãi, không đẹp trai lắm nhưng ăn nói có duyên, chơi đàn guitar và ngâm thơ rất hay. Biết nhau trong những năm ở Đại học Văn-khoa, nhưng thân nhau trong đoàn thanh niên chí nguyện Việt Nam. Đoàn thanh niên chí nguyện Việt Nam qui tụ nhiều thanh niên lãng tử, nhưng có lý tưởng. Bốn mươi lăm ngày học tập ở sân vận động Cộng Hòa đã cho tôi một thời gian đẹp và dạy tôi rất nhiều nghề. Những đêm sinh hoạt cộn đồng, Vinh phổ nhạc những bài thơ của Nguyễn Tịnh Đông và tập cho anh em hát. Tôi làm thơ, Vinh ngâm cho anh em nghe. Vinh có một chuyện tình buồn khi còn học trung học Quảng Ngãi. Vinh có kể cho tôi nghe một lần. Sau thời gian huýan luyện; mỗi đứa đi công tác mỗi nơi, không gặp nhau và không ngờ gặp lại nhau trên thành phố này. Đoàn Thạnh: Thiếu úy Phi đoàn 235 Trực thăng; cao gầy, nước da đen, lầm lỳ, ít nói, hay cười. Thạnh và tôi cùng quê, Tam Kỳ, Quảng Nam nghèo khổ, cha mẹ Thạnh, cha mẹ tôi cũng là bạn nhau, người nhà quê chân chất, thật thà. Cố gắng tảo tần, nuôi con ăn học và mong con lớn lên có một nghề vững vàng. Không theo nghề nông vất vả nhọc nhằn. Tuổi thơ tôi và Thạnh gắn liền với nhau. Thạnh học sau tôi hai lớp, cùng chung một mái trường tiểu học, trung học. Những ngày hè cùng tắm trên một dòng suối, cùng chơi đá banh trên sân ga và chiều chiều nhín những con tàu qua lại. Ước mơ lớn lên được theo tàu đi một chuyến thật xa. Những ngày Tết, cỡi xe đạp chạy quanh làng thăm bạn bè và khoe áo mới, những đêm trăng quê nhà ngồi trên chiếc chõng tre trước sân nhà tôi, nghe mẹ tôi kể chuyện đời xưa...Thạnh và tôi cùng chung một lý tưởng và sinh hoạt một đoàn. Thạnh chơi với bạn rất chân thật. Năm tôi ra Đà Nẵng học, nghỉ hè thường gặp nhau, đi chơi với nhau, nhưng khi vào Sài gòn, thì không gặp Thạnh, và cũng không ngờ lại gặp nhau ở thành phố buồn hiu này!


UserPostedImage


Làm sao biết được chữ ngờ, thời cắp sách đến trường, ai cũng mơ ước tìm một nghề mình thích như bác sĩ, kỹ sư, dạy học hay luật sư...và có vợ đẹp con thơ; ai có ngờ vào lính đâu. Bốn thằng chun đầu vào lính, lại gặp nhau trên thành phố cao nguyên nắng bụi mưa bùn...Gặp lại tôi, ba thằng bạn trở nên thân nhau hơn.


Những ngày cuối tuần, tôi lái xe jeep từ Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn 2 ra Phi trường Cù Hanh đón ba thằng đi cùng khắp thành phố Pleiku. Những đêm khuya khoắt ngồi uống rưỡu ở Phượng Hoàng. Những sáng Chủ Nhật lang thang ở Biển Ho ngắm người đẹp. Những trưa thứ bảy ăn thịt vịt ở Thanh An; thịt vịt Thanh An (khu dinh điền của Tổng Thống Diệm thời trước) ngon hết chỗ chê. Khoảng ba, bốn chục con vịt cồ mập ú nhốt trong một cái vý khoanh tròn; khách vào chọn một hay hai con mình thích, chỉ cho chủ quán, khoảng 5 phút sau có đỉa tiết canh lai rai với rượu thuốc, hoặc bia 33 và tiếp tục là vịt rô-ti, vịt luộc, cuối cùng là cháo lòng vịt. Ba người, một con vịt mấy chai bia là quên đường về. Tuần nào ba thằng cũng kéo nhau đi ăn vịt Thanh An và trở về phố uống cà phê. Ở Pleiku có nhiều tiệm cà phê đẹp hữu tình: Thiên Lý, Văn, Hoàng Lan. Nhưng tiệm cà phê Dinh Điền là nổi tiếng rất ngon; ai đến Pleiku mà không uống cà phê Dinh Điền là chưa biết Pleiku. Từ sáng sớm đến khuya đều đông khách. Có những người lính tiền đồn xa xôi về thị xã công tác, cũng phải tranh thủ ghé vào Dinh Điền uống một ly cà phê, trở lại tiền đồn mới an lòng, có khi đông khách hết chỗ ngồi, ngồi trên một cái nón sắt, súng kê lên đùi uống một ngụm cà phê, hút một hơi thuốc Captai, thấy tâm hồn sảng khoái yêu đời...



UserPostedImage



UserPostedImage



Thành phố Pleiku là thành phố của lính; buổi sáng rất tĩnh lặng, buổi chiều toàn là lính. Chợ trời bán đồ Mỹ ngay trên đường Hoàng Diệu và quanh khu Diệp Kính; buổi chiều những rạp ciné hát nhạc inh ỏi. Chiều chiều, buồn buồn để xe trước nhà thờ, bốn thằng đi lang thang quanh khu Diệp Kính ngắm những cô nữ sinh má đỏ, môi hồng tan trường về trên đường Hoàng Diệu. Nhiều lúc nghĩ cũng buồn cười, ba thằng Không Quân mặc đồ bay, một thằng lính ngành mặc đồ treilli đi lang thang ngoài phố; đi để cho mọi người ngắm, lính này cũng đẹp trai lắ chớ bộ...

Mỗi lần bắt gặp một cô gái nào đẹp: Tìm đến nhà làm quen, bốn thằng trổ tài tán tỉnh, cuối cùng Toàn là kẻ chiến thắng. Vinh có lúc hạng nhì, tôi và Thạnh hạng chót! Có một lần tôi nhớ hoài. Gần tiệm thịt vịt Thanh An có một tiệm cà phê vườn rất đẹp, chủ quán người Bắc di cư lên đây lập nghiệp, có hai người con gái rất dễ thương học đệ tam và đệ nhị Pleiku. Cuối tuần nghỉ học, thường ra coi quán. Cô chị tên Oanh, cô em tên Thục. Mỗi lần ăn thịt vịt xong, bốn thằng vào quán ‘’Không Tên ‘’ uống cà phê ngắm người đẹp, ngắm riết rồi trồng cây si, lần này Thạnh và tôi bàn nhau phải chiến thắng. Oanh của tôi và Thục của Thạnh. Vẻ bên ngoài ăn nói thì thua Toàn và Vinh, nên tôi và Thạnh đi chiến thuật bỏ nhỏ. Tôi tán Thục cho Thạnh, Thạnh tán Oanh cho tôi, và nói Toàn, Vinh đã có bồ ở Sài gòn sắp cưới. Khùng mới lấy những thằng đàn ông sắp cưới vợ; dù có đẹp trai. Thế là tôi và Thạnh chiến thắng...Đêm văn nghệ cuối năm ở trường Trung Học Pleiku; tôi và Thạnh nhật được hai thiệp mời của Oanh và Thục. Đêm đó hai đứa ngồi uống rượu đợi. Tôi và Thạnh trở về trong niềm vui yêu đời.

Cứ tưởng thời gian êm đềm trôi qua, bốn thằng làm hết bổn phận, của người sĩ quan QL Việt Nam Cộng Hoà ; tâm nguyện công tác trên thành phố cao nguyên một thời gian rồi xin đổi về Sài gòn lập gia đình. Sống một cuộc sống êm ả hơn.


UserPostedImage


UserPostedImage


Có ngờ đâu năm 1972, chiến trận lại bộc phát mạnh. Cộng Sản tăng cường xâm lấn miền Nam, đánh chiếm Quảng Trị và vùng cao nguyên. Tại vùng 2 Chiến Thuật, Việt Cộng đánh mạnh vào Thị xã Kontum; chiếm Tân Cảnh. Thị xã Pleiku thiết quân luật. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2, và các đơn vị chung quanh, Tiểu khu Pleiku, cấm quân 100%. Tướng Toàn thay Tướng Ngô Du – tái chiếm Tân Cảnh giải tỏa Kontum. Các gia đình sĩ quan, binh sĩ và dân sự ở thành phố đều di tản khỏi thành phố Pleiku – Mùa Hè đỏ lửa năm 1972, thành phố Pleiku như thành phố chết. Yên lặng như chờ đợi bước chân tử thần...

Tôi, suốt ngày đêm trực ở đơn vị. Toàn bay khu trục suốt ngày lên xuống Kontum oanh tạc. Vinh và Thạnh bay trực thăng chở quân tiếp viện Tân Cảnh, Kontum, Dakto, Pleime. Mổi lần trở về đều gọi điện thoại cho tôi trong những tiếng thở dài. Co lần Toàn báo cho tôi mừng, trong một phi vụ oanh tạc xe chở quân của Việt Cọng bị súng phòng không bắn lên, may Toàn bay ra khỏi làn đạn thoát chết. Một tối, tôi vào thăm thì thấy khuôn mặt ba thằng đều hốc hác, bơ phờ và lo lắng. Riêng Thạnh có vẻ đăm chiêu, suy tư nhiều hơn. Ngồi uống cà phê lặng lẽ, không như những lần trước tươi cười, đùa giỡn vô tư...Trong giây phút yên lặng đó, lòng tôi thương ba thằng bạn thân vô cùng. Dù sao với tôi, lính ngành truyền tin, cũng an toàn hơn. Còn Toàn, Vinh và Thạnh ngày đêm đối diện với súng đạn, đối diện với cái chết; Trời kêu ai nấy dạ. Tôi cầu mong ơn trên phù hộ cho bốn thằng, khi tàn cuộc chiến vẫn còn ở bên nhau mãi mãi...

Bỗng dưng Thạnh cười thật lớn, vỗ vai tôi và nói: ‘’Cuộc chiến càng khốc liệt, rồi có ngày cũng tàn, nhưng ngày tàn đó không biết bốn thằng bạn mình có còn lại đủ không? Nếu mình có hy sinh, bạn nào còn lại nhớ đưa xác mình về quê để an nghỉ với ông bà. Đối với VC không đàm không điếc gì cả, phải đánh tới cùng mới chiến thắng.’’ Nói xong Thạnh lại cười lớn; đứng dậy ôm vai tôi, bắt tay tôi, bắt tay Toàn và Vinh, xin phép về phòng nghỉ để mai bay sớm tiếp viện quân cho Tân Cảnh. Thạnh đi rồi ba thằng còn lại cũng chia tay, tôi lái xe về đơn vị lòng buồn vời vợi...



UserPostedImage


UserPostedImage



Tôi đang ngồi làm việc nghe điện thoại reo. Cầm điện thoại nghe, giọng Toàn bên kia đầu dây ngập ngừng báo tin: Thạnh đã chết trong chuyến bay sáng nay tại Tân Cảnh. Máy bay của Thạnh bị bắn rơi; phi hành đoàn chạy thoát, Thạnh chạy sau cùng bị một loạt AK của VC bắn phía sau lưng. Xác Thạnh được toán phi hành đoàn của Mỹ lấy được đem về quàn tại Quân Y Viện Pleiku. Tôi chạy ra xe như xác không hồn sang QYV Pleiku. Thạnh nằm đó như ngủ. Thân hình bị cháy xám. Tôi vuốt mặt Thạnh, không nói nên một lời, nước mắt chảy dài trên hai má. Bạn bè Thạnh đứng xung quanh, Toàn, Vinh đều khóc và nhìn Thạnh trong niềm uất nghẹn...

Ngày hôm sau phi đoàn cho một chiếc trực thăng bay về quê Tam Kỳ, rước cha mẹ Thạnh lên nhận xác con. Tôi nhìn cha mẹ Thạnh già nua, ốm yếu quê mùa, nhận xác Thạnh trong chiếc hòm kẽm. Ông bà không còn nước mắt để khóc cho con, quờ quạng như xác không hồn. Chiếc máy bay đưa xác Thạnh, và cha mẹ Thạnh cùng với toán lính hộ tống tiễn đưa, cất cánh bay lên, bỏ lại ba thằng bạn thân thương đứng nhìn theo, và khóc rống như trẻ con. Chiếc máy bay đã khuất trên bầu trời, ba thằng trở về phòng Toàn, đêm hôm đó không ngủ, ngồi kể lại những kỷ niệm với Thạnh, và khóc suốt đêm...

Thạnh ơi bây giờ bạn đã trở về quê theo lời bạn mong ước, gần cha mẹ ông bà, bên dòng suối mát; bên sân ga, chiều chiều nhìn những con tàu chạy ngang qua, hụ còi inh ỏi...

Thạnh đã mất rồi, còn lại tôi, Toàn và Vinh buồn bã lặng lẽ. Và theo lời Thạnh nói, cuộc chiến bộc phát dữ dội rồi sẽ tàn. Tân Cảnh được tái chiếm, Kontum được giải tỏa. VC được đánh bật ra khỏi lãnh thổ Quân Đoàn 2. Thành phố Pleiku trở lại yên bình...Và ba thằng tôi tiếp tục làm tròn bổn phận của người Sĩ Quan QL Việt Nam Cộng Hoà cho đến năm 1975...

Thạnh ơi đã 28 năm rồi, bạn bỏ đi về quê, chắc bạn nhìn thấy nổi trôi của đất nước; điêu linh của dân tộc mình và không biết đến bao giờ tìm lại được những thời hoa mộng của tuổi trẻ, của đời lính gian truân, nhưng đầy vàng son.

Và bây giờ tôi đang sống lưu vong trên đất người, Toàn và Vinh bây giờ không biết đang ở đâu? Dã mùa xuân năm 2000 rồi, tôi chưa gặp lại các bạn, nếu các bạn đọc được những dòng chữ này, mong các bạn tìm gặp nhau để cùng thắp một nén nhang, tưởng nhớ Đoàn Thạnh-người bạn thân thương ngày cũ.



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage Ủy Lạo Chiến Sỉ Núi Hàm Rồng Tết 1972



UserPostedImage Tuần Lể Văn Hóa Trung Học Pleime Lớp 11B niên khóa 72-73 Du Tử Lê, Kim Liên, Nghiã, Nguyệt Ánh, Vũ Hoàng, Thầy Chính, Phùng Hoa, Thu Đào


UserPostedImage Tuần Lễ Văn Hóa 1973 của H/S Pleime với Phạm Duy, Du Tử Lê, Lê Uyên & Phuơng-Nghĩa-Ánh-Thầy Huế- H/sỉ Hạ quốc Huy-Phạm Duy-Kim Liên-Hoa-TĐào-Lê Uyên&Phương-Du Tử Lê, ....

UserPostedImage
havi  
#26 Posted : Friday, November 5, 2010 9:46:52 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage



UserPostedImage

Niềm vui chợt tắt!
(Để nhớ về Phi-Hổ Trịnh Đức-Tự, một hiệp-sỹ không-gian của vùng trời hỏa- tuyến ngày nào…)


Vào một buổi trưa Chủ-Nhật, trời PleiKu thật buồn. Từng tảng mây mù từ trên đỉnh núi chậm-chạp trôi về rơi rụng phủ kín sân bay…Những người lính chiến của Không-Đoàn 72 Biên-Trấn tụ-tập nhau tại câu-lạc-bộ của không-đoàn, ngồi uống cà-phê, kể truyện tiếu-lâm, truyện tình phố núi và truyện đời bay bổng…trong lúc chờ thời tiết khá hơn để cất cánh lao mình vào chiến trận. Trên bầu trời mịt mờ sương khói, trong một phi-vụ huấn-luyện không-hành ĐàNẵng-SàiGòn-ĐàNẵng, trên đường về, Tự làm IFR xuyên mây, đáp phi-trưòng Cù-Hanh ghé thăm tôi. Bạn thân mỗi lần gặp nhau lòng như mở hội. Tôi rủ Tự và người co-pilot của anh ra ngoài căn-cứ thưởng-thức món chả chìa độc-đáo của cái thành phố quanh năm gió núi mưa rừng này. Tôi vỗ vai người phi-công trẻ nói đùa:

- Lát nữa cậu chỉ được phép uống nước lạnh để còn đưa “ông thầy” về Đà-Nẵng đó nghe.

Người phi-công trẻ cười, cất giọng hào-sảng nói:

- Hì…Hì…Thiếu-Tá đừng lo, em là thợ…thợ bay phi-cụ mà. Hồi nãy đáp, phi-cơ đang chạy trên phi-đạo, ông thầy em giật mình tỉnh giấc, cứ tưởng em còn đang cho phi-cơ xuyên mây…Nhưng thôi…Thiếu Tá cho em khất lần tới đi, chứ chả chìa, giềng mẻ mắm tôm mà đi với nước lạnh thì…sợ người ta chê không-quân mình cù lần chăng.

Tôi vỗ vai người sỹ-quan trẻ, nhìn Tự nói:

- Dân Không-Quân miền Hỏa-Tuyến các cậu gáy nghe cũng không tệ lắm.

Cả ba chúng tôi cùng cười. Bỗng nhiên tôi khựng lại, và chợt nhớ ra là Tự có người yêu là cô giáo đang dậy học ở PleiKu. Anh thiếu-úy trẻ hình như cũng đọc được ý nghĩ của “ông thầy” mình; anh nhìn tôi nheo mắt nói:

- Em có thằng bạn cùng khóa ở PĐ-530, Thiếu-Tá cho em qúa–giang tới thăm nó thì đẹp qúa.

Tôi nhìn người phi-công trẻ lém-lỉnh, cười rồi quay qua nói với Tự:

- Thôi, cậu giao ông thiếu-úy này cho mình rồi đến thăm nàng. Trời này mà bất chợt ghé thăm người tình, để nhìn “mắt em ướt, và tóc em ướt” để thấy “môi em mềm như mây…” thì thật là tuyệt-vời.

Rồi tôi dúi chiếc chìa khóa xe jeep vào tay anh nói:

- Tụi này đợi cậu tại quán ăn nơi cuối phố, từ đây về Đà-Nẵng không đầy một tiếng theo đường chim bay. Cậu còn nhiều thời giờ chán…Nhưng đừng quên ghé đón anh em đó nghe.

…Đó là lần cuối cùng tôi gặp Tự. Một thời gian sau, cũng vào một buổi trưa, tôi nhận được điện-thoại từ một người bạn ngoài Đà-Nẵng báo tin Tự đã hy-sinh trong một phi-vụ hành-quân, đơn-vị đang xúc tiến việc lấy xác người phi-công tuẫn quốc. Tôi lặng người đi một lúc như không muốn tin đó là sự thật…Tôi mới gặp Tự đây mà…Rồi thì cả một vùng kỷ-niệm nhạt-nhòa trong dĩ-vãng bỗng hiện ra trước mắt tôi như đang coi một cuốn phim đời…Tôi nghĩ đến gia-đình và thân nhân của Tự. Rồi tôi nghĩ đến Phượng, người yêu của Tự, không biết nàng sẽ như thế nào khi nhận được tin dữ này…Tôi cũng nghĩ đến những cuộc tình của một thời chinh-chiến; không có gì để bảo đảm cho một tương-lai đầy bất trắc cho những người trai hàng ngày vẫn lạnh lùng leo lên chiếc quan tài bay, lao vào vùng trời lửa đạn, bỏ lại một ngày cho đời mình, một ngày cho những quằn-quại đau thương của dân-tộc và một ngày cho những đôi mắt vời-vợi chờ trông nơi chốn chân mây ở tận cuối trời…


UserPostedImage



UserPostedImage



…Còn nhớ ngày nào, vào khoảng mùa Hè năm 1962, chúng tôi gồm mấy đứa, Tự, Nguyễn Phúc-Hưng, Sĩ-Phú, Đào-Văn-Năng, và tôi cùng nộp đơn vào Không-Quân. Vì số người tình-nguyện qúa đông nên phòng tuyển-mộ đã chia chúng tôi ra thành 2 toán. Toàn đầu, trong đó có Sĩ-Phú được gởi ra Nha-Trang và trở thành khóa 62C. Tôi và Hưng vì thiếu cân nên phải đợi tái khám và bị dồn xuống toán sau, ra Nha-Trang ngày mồng 2 tháng Giêng năm 1963 trở thành khóa 63A cùng với Nguyễn Hoàng-Dự, Mai Tiến-Đạt, Tứ, Ngô Đức-Cửu, Thặng... Còn Tự và Năng bị trục-trặc về mắt, tai, mũi, họng nên chúng tôi phải tạm chia tay…Mấy tháng sau, Hưng, Nghiêm Ngọc-Ẩn và tôi cùng một số SVSQ nữa được gọi về Bộ-Tư-Lệnh KQ làm thủ tục du học. Trong thời gian đang thụ-huấn tại NAS Pensacola, FL thì tôi được tin Tự đã hội đủ điều kiện sức khỏe để nhập Không-Quân. Riêng về phần Năng thì đành bỏ mộng đi mây về gió để trở về làm bạn với vùng xình lầy, đồng ruộng, và núi rừng trùng điệp trong Binh-Chủng Biệt-Động-Quân…Cũng kể từ đó tôi không có cơ-hội gặp lại Tự và Năng cho đến khi mãn khóa về nước, phục vụ ở Biệt- Đoàn 83, rồi đi biệt phái Đà-Nẵng thời kỳ biến-động miền Trung mới gặp lại Tự ở Phi-Đoàn Phi-Hổ 516. Riêng về Năng thì vì không cùng quân-binh-chủng nên chỉ biết anh đang sải vó ngựa hồng, miệt mài theo khói lửa…

Là một đại cao-thủ của VoViNam, cùng nhóm với Đào Văn-Năng (Biệt-Động-Quân), Nguyễn V Tựu (Biệt Kích Dù)…Cũng như Năng và Tựu, Tự có vóc dáng và phong-độ hào-sảng của một đại-hiệp trên chốn giang-hồ trừ gian giệt bạo. Tuy là con nhà võ nhưng lại mang một tâm hồn nghệ-sỹ, Tự rất thích thơ văn. Những bài thơ mang tính cách lãng-mạn của thời chiến như “Tha La xóm đạo” của Vũ Anh Khanh, “Mầu tím hoa xim” của Hữu-Loan, và “Làng tôi” của Yên-Thao, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng-Cầm, hoặc Hồ-Trường của Dương B. Trạc, hay “Bài ca Phạm Thái” của Nguyễn Đình-Toàn…Tự đều thuộc lòng. Hồi còn ở ngoài dân sự, mỗi lần gặp nhau là thế nào cũng có một đêm văn-nghệ bỏ túi cùng các bạn như Hà-Linh-Bảo, Phạm Văn-Hiến, Hồ Hải-Trân và Hoàng Hương-Trang họp mặt để đàn hát, ngâm thơ và thổi sáo,…

Khi Biệt-Đoàn 83 giải tán, tôi được thuyên chuyển ra Đà-Nẵng, cùng ở 516 với Tự, lúc này thì anh em mới thực sự gắn bó như xưa. Chỉ còn thiếu Năng. Còn nhớ hồi ở Đà-Nẵng, một buổi sáng mùa Xuân năm Mậu-Thân, tôi cùng Nguyễn-Du thi-hành phi-vụ tuần-thám võ-trang “Đà-Nẵng Quảng-Ngãi Đà-Nẵng”. Chúng tôi cất cánh sớm hơn giờ dự trù, hy-vọng về đáp sớm để còn bay một phi-vụ không-hành về Sài-Gòn chúc Tết Ông Bà Bố Mẹ. Khi vừa lên cao độ bình-phi thì phát hiện một đoàn người từ hướng núi tiến ra bờ sông Hàn, và như đang định bơi qua sông để vào Đà-Nẵng. Mới đầu chúng tôi tưởng là dân chúng đi trẩy hội Tết, nên bay xuống thật thấp để làm một cái “low pass” chúc Tết mừng Xuân. Nhưng vừa xuống thấp khoảng 100 thưóc thì ở dưới bắn lên tới tấp. Chúng tôi hoảng hồn phóng vút lên lấy cao độ, rồi báo cáo về Panama là có một đoàn quân Cộng-Sản chừng một Trung-Đoàn đang định vượt sông Hàn để vào Đà-Nẵng. Panama không dám quyết định, yêu cầu chúng tôi làm vòng chờ trên cao độ đợi xin lệnh quân-đoàn I. Đoàn người ở dưới biết là đã bị lộ nên ào hết xuống sông để qua bờ bên kia. Nguyễn Du tính nóng như lửa, hối thúc tôi phải hành động ngay, vì nếu để đám quân này qua được bờ sông thì chúng sẽ lẩn vào nhà dân chúng và tình thế sẽ trở nên rất nguy-hiểm. Hai chiếc khu-trục A1 cùng song hành nhào xuống thật thấp, oanh-kích trực xạ vào đoàn quân Cộng-Sản…Từng chùm hỏa tiễn từ hai chiếc khu-trục cơ phóng vụt ra, cầy tan mặt đất…Xác người vỡ nát, thịt xương bắn tung lên. Những viên đại-bác 20ly công phá xuyên thủng những tấm bia thịt đang ngụp lặn giữa dòng sông…Xác nổi lềnh bềnh như xác quân Mãn-Thanh, mặt nước đỏ ngầu như nước sông Hồng mùa Xuân năm Kỷ-Dậu...Chỉ trong khoảng thời-gian chưa đầy 15 phút, hai chiếc khu-trục A1 đã trút hết hoả-tiễn và đại-bác 20ly, tiêu diệt hơn một nửa số người trong đoàn quân xung-kích của địch. Đám người còn lại vứt bỏ vũ khí quay đầu chạy ngược vào phía núi…Lúc đó thì Panama mới liên-lạc cho biết lệnh Quân-Đoàn là phải ngăn chặn đoàn quân này bằng mọi giá. Chúng tôi cho Panama biết là phi-vụ đã hoàn tất. Trên trời cũng vừa có Thiên-Phong 11 do Dị và Thiếu-Uý Chín của PĐ 110 trên vùng tiếp-tục công việc theo dõi, và một phi-tuần Phi-Hổ của Đoàn-Toại và Tự cũng vừa lên kịp để thay thế cho chúng tôi về đáp…Khi về đến phi-đoàn chúng tôi thấy toàn bộ chỉ-huy của KĐ41 cùng Phi-Đoàn-Trưởng, Truởng Phòng Hành-Quân và các nhân-viên phi-hành của PĐ516 đều có mặt đầy đủ. Tiếng chuông điện thoại reo tới tấp, và trên bảng phi-lệnh chi chit những phi-vụ chờ cất cánh. Lệnh cấm trại 100% được ban hành, lúc bấy giờ chúng tôi mới biết là Việt-Cộng tổng công-kích toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Mùa Xuân Mậu-Thân năm ấy, trong một hoàn cảnh rất tình cờ mà Nguyễn Du và tôi đã cứu được thành phố Đà-Nẵng thoát khỏi thảm họa do đám người cuồng tín gây nên như ở Huế hay các thành phố khác…


UserPostedImage


Sau lần đó, chúng tôi kết với nhau thành một “băng ăn nhậu” gồm có Du, Hoàng, Tự, tôi và Đoàn-Toại…Sau những phi-vụ hành-quân hàng ngày, chúng tôi thường ra phố nhậu nhẹt ở quán thịt bò Ba-Quy trong một con hẻm ở đường Độc-Lập. Thành-phố Đà-Nẵng thời bấy giờ thường xuyên ở trong tình-trạng “giới nghiêm”, nhưng đối với những người lính Biệt-Động-Quân, Nhẩy Dù, lính Hải-Quân, lính Biệt-Hải, Thủy-Quân-Lục- Chiến…và với những cái tên mà mới đọc lên đã thấy ngất ngây như say men rượu như: Bảo, Ban của Hải-Quân; Hoàng-Phổ, Quách-Thưởng, Đức ghiền, Nguyên, Ngộ, Thanh mặt xanh, Ngoạn của Biệt-Động-Quân; Hùng, Vũ của Biệt-Hải; Liêu bến tầu, Nho Saxaphone ngoài dân sự… thì lại là giờ ra đường làm việc của họ, nên quán nhậu cứ sau 12 giờ đêm mới vui…cái vui của những “Anh-Hùng tứ xứ”; chỉ một lần gặp gỡ qua chén rượu giang-hồ mà tình bạn, tình đồng-ngũ như đã thiên-thu bất diệt…


UserPostedImage


UserPostedImage



Những người bạn ngoài quân-chủng rất thích kết-giao với dân KQ. Một phần vì cái vẻ hòa-hùng qua những chiếc áo bay mầu đen, mầu cam, mầu xám…thêm những thứ phụ-tùng lỉnh kỉnh như khăn quàng mầu tím, dao găm, xúng ngắn P-38 đeo xệ bên hông, đạn flares…đã biến những con người thư-sinh mảnh-khảnh kia thành những trang “hiệp-khách phò nguy cứu khổ”, và nếu cần thì cũng có thể quá giang những người bạn KQ trên chiếc AD5 trong một phi-vụ liên-lạc không-hành nào đó để về Sài-Gòn như Đại-Úy Nguyễn Đình-Bảo của Nhẩy Dù hồi Tết Mậu-Thân. Nhưng phần chính là những người lính chai lỳ này đã được chứng kiến tận mắt những hình ảnh bi-hùng của người anh em KQ nơi chiến địa. Hình ảnh những chiếc phi-cơ vận-tải, quan-sát gẫy cánh, chao đảo trên không như một con đại bàng bị trúng tên rồi gục xuống bìa rừng, những chiếc trực-thăng nổ tung như một qủa cầu lửa của những hợp-đoàn lầm-lỳ bay vào trận địa, những chiếc khu-trục lao mình cắm đầu xuống mặt đât, rồi cháy bùng lên như một ngọn hỏa-diệm-sơn trong cơn phẫn nộ chuyển mình, những cánh dù bung ra như một đóa hoa hồng lửng-lơ giữa vòm trời lửa đạn…Để rồi khi trở về thành-phố, nhìn những dáng dấp thư-sinh trong chiếc áo bay, gồ-ghề mà thanh-thoát…tình tri-kỷ, tình đồng-đội tự nhiên đến với họ. Nhưng nhiều khi cũng có những đụng chạm nẩy lửa, đánh nhau vỡ đầu, sứt trán rồi mới nhận anh em, và trong những trường hợp đó thì Tự là người luôn luôn mang lại chiến thắng cho “phe ta” và lòng cảm phục của phe “địch”. Mỗi khi ra khỏi căn cứ, cũng như Đoàn-Toại, Tự rất ít khi mặc áo bay, và nếu có thì cũng rất giản-dị. Chỉ một chiếc áo bay, không dao, không súng, cùng những thứ lỉnh-kỉnh như những anh em khác. Củng vì những nét đặc-thù này mà trông Tự nổi bật trong đám đông, chẳng khác nào như một bạch-diện thư-sinh trên tay chỉ có một chiếc quạt cũng đủ làm khiếp đảm giang-hồ hắc bạch…


UserPostedImage


…Những hình ảnh của ngày xưa đó cứ lần lượt hiện về trong trí tôi như những đám mây đen từ đỉnh Trường-Sơn cuồn-cuộn trôi về phủ kín cả bầu trời phố núi…Nhìn đồng hồ, thấy sắp đền giờ tan học. Tôi lái xe ra trường Trung-Học Pleime để đón Phượng. Tôi đậu xe dưới một gốc phượng-vỹ gần cổng trường, nhìn những tà áo dài phất-phới như cánh bướm của các cô nữ sinh, những tiếng cười cùng giọng nói liến-thoắng, ríu rít như chim hót mà thấy lòng mình như chùng xuống. Tuổi trẻ thật là vô-tư yêu đời, không thấy được những hiểm-nguy đang rình rập cuộc sống…Lẫn lộn trong đám học sinh đổ ào ra như đàn chim vỡ tổ, Phượng đi cùng một người bạn ra phía cổng trường. Thấy tôi Phượng mừng rỡ chạy đến reo lên:

- Anh! Lâu qúa sao không thấy anh ghé Phượng chắc là anh bận lắm hả. Anh Tự mới gởi thư cho em nói tuần tới anh ấy sẽ ghé PleiKu cho em qúa giang A37 về Sài Gòn đó. Thế nào cũng lại phiền anh ra chở vào phi-trường.

Tôi cười buồn chưa kịp nói gì thì Phượng đã liến-thoắng nói:

- Anh thật là có số ăn. Ngày mai tụi em được nghỉ nên em mời chị bạn về nhà ăn cơm tối. Nếu anh không chê thì xin mời anh lại dùng cơm luôn thể với tụi em.

Rồi với giọng tinh nghịch Phượng nói tiếp

- À…em xin giới thiệu với anh đây là chị Tường-Vy, cô giáo mới từ Huế đổi lên đây để được gần người yêu. Người yêu của Tường-Vy là Trung-Úy phi-công Trực-Thăng, chút nữa gặp thế nào anh cũng nhận ra người quen. Anh ấy nói là có biết anh.
Tường-Vy cúi đầu chào tôi, cặp má hơi hồng lên cùng với vẻ e thẹn cố-hũu của những cô gái Huế khi gặp người lạ. Tôi cúi đầu chào lại và kín đáo quan sát người bạn của Phượng. Cũng như Phượng, Tường-Vy có một khuôn mặt đẹp tuyệt vời, đặc biệt với cặp mắt sâu buồn vời-vợi như chứa đựng cả một bầu trời thu trong đó…Tôi mời hai người lên xe. Trên đường về nhà Phượng, nàng nhờ tôi cho nàng ghé qua chợ mua thêm ít đồ gia-vị cần thiết. Phượng vẫn vô tình cười nói luôn miệng kể chuyện nàng và Tự cho Tường-Vy nghe. Nhìn hai người, tôi bỗng thấy xót xa cho kiếp hồng-nhan của một thời ly-loạn…Định-mệnh thật qúa khắt-khe, đã đưa đường dẫn lối cho Thục-nữ giai-nhân gặp gỡ khách anh-hùng, sao còn nỡ dang tay bẻ gẫy cuộc tình…Trong lúc ngồi ngoài xe đợi Phượng và Tường-Vy vào chợ, tôi quyết định sẽ báo tin Tự đã hy-sinh cho Phượng biết vào một dịp khác. Bây giờ đây…tôi không dám làm tắt niềm vui của Phượng và Tường-Vy cho dù nó rất ngắn ngủi.

Trần Ngọc Nguyên Vũ( Một thời ly-loạn)


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage
coffeebean  
#27 Posted : Saturday, November 6, 2010 5:39:02 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Hạ Vi, Thunder thân mến ui!
Đọc bài viết về những người lính không quân thiệt là bùi ngùi cảm động, những người trai sống tha thiết hết lòng mà không biêt ngày nào phải đột ngột ra đi, bỏ lại tất cả tan vào cát bụi hư vô ...hột cà phê có biết mấy người con gái lớn hơn mình ít tuổi (vai chị) kể lại ngày đó nhìn mấy người lính chiều thứ bảy hay sáng chủ nhật phóng chiếc xe jeep lao vội trên đường vắng, hay ngồi góc quán cười nói bạn bè không chút ưu tư ... thấy thương vô cùng, mới hiểu tại sao có những lúc người yêu lính chợt mong muốn sống bên nhau thật trọn vẹn dù chỉ một chiều dạo phố ăn kem ... vì ngày mai người lính trẻ quay vào vòng bom đạn biết ánh mắt ấy có còn nheo đuôi cười được nữa chăng ! Chiến tranh tàn nhẫn và khốc liệt trong tột cùng đau thương nỗi nhớ của cách xa, lúc bên nhau vẫn váng vất nỗi chia lìa.
Cám ơn Hạ Vi, Thunder đã post 2 bài thật cảm động, và Thunder còn thêm bài "Hát cho một người nằm xuống!" nữa ... thiệt không biết nói sao... bây giờ !
Mỗi người mỗi ý! hột cà phê vẫn cố gắng tôn trọng ý kiến, sở thích của các bạn ... ai làm gì cũng chẳng sao. Chỉ khi nào có ai dù vô tâm hay cố ý đùa giỡn tới mấy điều mà hồi xưa thày cô trường tiểu học dặn dò không nên giỡn thì coffee bean mới bày tỏ ý kiến của mình ... Riêng bài hát này của TCS chẳng có ai dạy không nên nghe ... nhưng thày cô có gián tiếp biểu là sống sao cho công bằng ... ngày trước coffee bean thích bài này lắm, từ khi hiểu được bài hát này thuộc 1 trong các bài phản chiến có ý định rõ rệt của tác giả và cũng từ khi hiểu rằng tiếp tục tìm nghe là không công bằng với rất nhiều người không may mắn còn sống sót như mình ... xin lỗi Thunder nghe, cho coffee bean miễn nghe lại bài hát này!


http://www.youtube.com/watch?v=CxJcoGF67KA


Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
Người trai đi viết câu chuyện, một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió,
Đời ngây thơ xưa lại nhớ, lúc mình còn thơ.
Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều,
Để níu áo hằng nga, ngồi bên dãy ngân hà.
Giờ sống giữa lưng trời,
đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi!

Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo.
Đường Minh Đế nhàn du thăm tinh cầu,
Chạnh thương hai đứa, giờ gối súng nơi nào.
Lâu lắm chẳng gặp nhau!
Bạn bè dù cách xa nào khuây,
Tình nàng chưa nói nhưng mà say.
Giai nhân hỡi, khóe mắt em u hoài,
Theo tình trong chuyến bay.

Có người hỏi phi công ước mơ gì?
Người ơi nhân thế muôn màu, nào biết mơ chi?
Ước rằng từ khi tung nhịp cánh,
Tình ta yêu thương là gió, nhân tình của mây.
Ở đời ai hiểu ai !
Người bay trắng đêm dài, người thức giữa đại dương,
Dù yên giấc ven rừng
Bạn có biết chuyện này
Tôi đi lúc vũ trụ còn ngủ say...

coffeebean  
#28 Posted : Sunday, November 7, 2010 8:28:43 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
quote:
Originally posted by thunder

Coffeebean thân mến,

Từ khi biet rõ thân phận TCS mình hoàn toàn không thich người nhac sĩ này ...lý do cũng có phần tương tự như Coffeebean thôi ...nhưng nhac phẩm này với mình chỉ nói lên sự tiếc thuong mot anh hùng KQ VNCH nên thunder post lên nhạc phẩm Hat Cho Người Nằm Xuống nhân nhắc nhớ đến nét hào hùng của binh chủng KQ .
Tuy nhiên đây là topic của Coffeebean mở ra và biet đuợc bạn không vui thì thunder deleted post này ! Cám ơn Coffeebean đã thẳng thắn nói lên ý kiến riêng của mình .
Chúc Coffeebean một ngày vui nhiều nha [:)]

thunder


Ah! Đâu nhất thiết phải xoá đi !
Cũng không phải là do cofffee bean mở topic này thì ép người khác theo ý của mình ... nếu không có mọi người góp bài vở thì nó sẽ đóng mốc thôi ...
Thiết nghĩ, khi bất cứ ai mở 1 đề tài nào đó thì "khổ chủ" có thể chợt nảy ra suy nghĩ hay có thể đã chuẩn bị ôm ấp từ lâu mới mở ra nhưng chưa chắc đã có ý tưởng hay ho hoặc đóng góp nhiều hơn các bạn tiếp tục đến thăm ... bản thân coffee bean đi quậy phá mấy khổ chủ topic khác quá chời ... mà chẳng ai cằn nhằn chi hay yêu cầu gì cả ! bi giờ Thunder xoá bài của mình đi làm coffee bean có cảm giác là mình quá đáng chăng ?
Nếu bạn thich thi xin post lại, please ! Vì đây là diễn đàn chung và chúng ta đang ở xứ tôn trong tự do, nhân quyền
Xin chia sẻ một đôi điều ... sau 75 coffee bean còn ở lại quê nhà nhiều năm ... rồi vượt biển, may mắn rời trại tỵ nạn trước khi Cao uỷ Tỵ nạn LHQ công bố đóng trại ... thời gian còn ở quê nhà những đau thương uất nghẹn của người dân miền Nam (miền Bắc thì không biết) mà coffee bean rải rác kể lể đâu đây chưa nói hết được một phần ... thâm tâm hột cà phê vẫn mong người nhạc sĩ ngày nào sẽ nhin ra và có ít nhiều suy tư để trả lại phần nào sự công bằng cho những người đã chết, cho người dân sống đoạ đày chẳng kém gì thời nô lệ, cho quê hương tan nát đau thương ... chẳng hề, mà còn tình cờ biết được sau khi nhà cầm quyền cho "mở trói" chút đỉnh ... thì TCS có dịp sống khá xa hoa, bay bướm nữa, và để cho người khác dùng tên của ông gạt những người tin tưởng vào ông ... không một chút chạnh lòng cho các em bé đói rách khắp đường phố kiếm ăn, dù ông đã hiểu đâu là sự thật ....
Coffee bean hứa với lòng là sẽ không nghe nhạc của ông nữa ... Nhạc phản chiến thì từ lâu rồi, ngay sau ngày mất nước khi biết ông lên đài phát thanh Sàigon trưa 30/04 hát nối vòng tay lớn. Còn nhạc tình của ông thì mãi nhiều năm sau này khi biết thêm về ông (và khi biết ông viết cái bài gì có câu như là bống, bống, từ ngày mẹ mang bống vào đời ! cho một người đâu cũng cỡ tuổi ... con cháu) dặn lòng là không tìm nghe, đi đâu tình cờ ai hát phải chịu ! ... nhưng nếu là nhạc phản chiến thì sẽ bỏ đi ... (khi coi Asia 65 đi ra không được, nghĩ chỉ vì cái ý riêng của mình mà làm phiền lòng bao nhiêu người khác).
Nên khi thấy Thunder, Hạ Vi posted bài hay, xúc động thì coffee bean cám ơn ! còn bài hát ... thì không muốn xạo sự cho vui lòng bạn mình ... đành phải nói thiệt là cho coffee bean miễn nghe ... còn ai thích nghe, coffee bean không có ý kiến nữa !
chúc Thunder một tuần dzui dzẻ và an lành hạnh phúc bên người mơ mới "gước dzìa" bữa hổm đó !
coffeebean  
#29 Posted : Monday, November 8, 2010 1:51:07 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Khi nói cám ơn người lính VNCH, không có nghĩa chỉ là những người đã sống ít nhiều trong khoảng thời gian trước 1975 tại miền Nam Việt Nam ... mới nên tưởng nhớ tri ơn người lính, nhất là những người đã vĩnh viễn ra đi ...
Dù tin tưởng vào bất kỳ tín ngưỡng nào ... không ai đoan chắc con người sẽ có kiếp sau (hay kiếp khác)... cho dù có kiếp khác mà chẳng hình dung, gợi nhớ được về cái thuở đang thở, đang cười nói ríu rít, buồn nhớ vu vơ này (*) thì một lần sống thật vô cùng quý báu ... những người lính ấy đã nằm xuống lúc tóc rất xanh, mơ ước thật đầy không phải chỉ để cho chúng ta 20 năm miền Nam tự do, nhân bản ..., để cho chúng ta sau này còn có thể vượt biển lưu vong (cả ba miền nước Việt), vẫn mong ngày về xây dưng lại quê hương ... mà còn giữ cho nước Việt cơ may duy trì lại nền văn hoá dân tộc, để lại một gia sản văn học, nghệ thuật tuyệt mỹ trong lich sử Việt Nam cận đại ... nếu không có những người lính ấy chúng ta làm gì có được Mai Thảo, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Ngô Thuỵ Miên, Lam Phương, và nhiều, nhiều lắm kể cả Phạm Duy lẫn Trịnh Công Sơn ... mà có lẽ sẽ có rất nhiều, nhiều nữa những Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm còm cõi, buồn nát với thời gian, im hơi lặng tiếng ...
Vậy mỗi khi mơ màng tha thiết lắng nghe những câu hát lời thơ ... Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông, ... Cây xưa đường này, Nằm phơi dáng đỏ, Áo em ngày nọ, ... Lòng cuồng điên vì nhớ, ôi đâu người đâu ân tình cũ , ... Anh nói với người phu quét đường, Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em, Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát, v.v... người thưởng ngoạn, dù bao nhiêu tuổi, ở bờ bến nào ... xin hãy nhớ đến những người đã chết, và nhừng ai còn sống đã phai hết tuổi xuân ... (**) để cho những lời hát ấy có chỗ nảy mầm, tượng hình rồi sống mãi .

Chú thich
(*) chỉ xin nói lên ý nghĩ của người viết về một lần sống bây giờ, không dám lạm bàn về niềm tin tôn giáo
(**) lẽ đương nhiên là nên nhớ đến người sáng tác nữa!



havi  
#30 Posted : Sunday, November 14, 2010 10:43:44 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage
Cánh Thép F5: Trần Văn Lương
Như nước Đại Việt ta, dẫu mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có..."

Nguyễn Trãi - Bình Ngô Đại Cáo.


Chiều Seattle một ngày lộng gió, bầu trời vần vũ báo hiệu sắp mưa. Ánh hoàng hôn xuyên qua tấm cửa kính, rọi trên khuôn mặt thanh thoát không một nét nhăn của người thiếu phụ ngồi đối diện với tôi:

Chị Cao Hoa tức bà quả phụ Trung Úy Trần Văn Lương, phi công phản lực F5, thuộc Phi Đoàn 544, Không Đoàn 63 Chiến Thuật, Sư Đoàn 3 Không Quân.Chị Cao Hoa chỉ tách nước trước mặt tôi mời uống, và câu chuyện bắt đầu. Gặp chồng tại trại tù Đô Lương, chị ngạc nhiên khi thấy sức khỏe của chồng đã quá yếu! Anh không đi nổi, phải có cán binh CS của trại tù cõng Anh ra nơi thăm nuôi. Thân hình anh gầy tọp, mắt bên phải của Anh băng kín, mặt Anh bị sưng, và biến đổi khác thường.
Anh cho biết Anh bị bệnh viêm mũi nặng, phát tác trên mắt và bệnh hành khiến Anh bị nhức đầu triền miên.

Vì quá xúc cảm nên trong gần một giờ thăm viếng, chị không nói được một lời nào mà chỉ biết khóc. Phút cuối của cuộc thăm nuôi, Lương ôm chặt hai mẹ con chị vào lòng và an ủi:

"Em giữ gìn sức khỏe và cố gắng nuôi con!"Chị Hoa trở về Sàigòn tìm kiếm mua thuốc trụ sinh, hai tháng sau Chị trở lại Hà Tĩnh thăm và đưa thuốc cho chồng.

Kỳ thăm nuôi lần thứ hai theo Chị Hoa thì tình trạng sức khỏe của Lương còn tệ hơn kỳ trước. Khoảng tháng 10/1979, trong lúc Chị Hoa đang làm việc, có một người nào đó đã để lại tại nhà Chị một bức thư, trong đó ghi vắn tắt tin Anh Trần Văn Lương đã từ trần tại trại cải tạo AH 118 NT K2, Nghệ Tĩnh, Bắc Việt, vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 15/ 08/ 1979, kèm theo một bản nhạc mang tên "Cung buồn cho một cánh chim", thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy.

Năm 1982, Chị Hoa và cháu Trần Thanh Vũ vượt biển tìm tự do. Chị đến Singapore, và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ. Cháu Vũ đã có gia đình sau khi tốt nghiệp Cao Học Hóa Học và đang làm việc tại San José. Tôi hỏi Chị Hoa có thể cho tôi coi bản nhạc ấy được không? Chị đồng ý. Trở vào phòng riêng, khi ra, Chị cầm một bao thư lớn đựng giấy tờ, hình ảnh riêng của gia đình.

Chị đưa cho tôi tờ giấy cỡ 8 ½ x 11 được gập làm 8, trong đó với những hàng chữ viết chì ghi lại bài" Cung buồn cho một cánh chim". Tôi không thấy ghi nhạc và lời sáng tác năm nào, nhưng có thể vào thời điểm trước khi Lượng vĩnh viễn từ giã các bạn tù tại trại giam ở Hà Tĩnh.

Người phổ nhạc tức nhạc sĩ Văn Thùy chắc cũng là bạn tù của Trung Úy Lương. Tôi thấy Chị nâng niu bản nhạc như một di sản trân quý duy nhất của Lương để lại. Cao Hoa biết anh Lương từ thuở còn là học trò vì gia đình hai người ở gần nhau. Lương sinh năm 1944. Anh say mê bay bổng, thích mạo hiểm. Anh tình nguyện vào Không Quân năm 1969 rồi trở thành Pilot phản lực cơ A 37. Năm 1971, anh chuyển sang lái F5. Năm1972, anh thành hôn với người yêu, khi đó Cao Hoa mới 20 tuổi, và đang đi dạy học. Ngày 14 tháng 6 năm 1974, hai người có đứa con trai đầu lòng, Lương đăt tên con là Trần thanh Vũ.


UserPostedImage


Ngày 9 tháng 7 năm 1974, một phi tuần 3 phản lực cơ chiến đấu F5, trong đó có phi công Trần Văn Lương thực hiện phi vụ oanh kích quân CS để yểm trợ lực lượng bộ binh tại mặt trận Tây Ninh. Chiếc F5 của Lương đã bị trúng đạn phòng không của địch bắn rớt.

Sau đó, vào ngày 15/ 7/1974, chị nhận được thư báo của BTL /SDD 3 Không Quân do Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính ký cho biết:"

... Trong một phi vụ hành quân, Trung Úy Trần Văn Lương đã mất tích tại tọa độ XT 140 745, vào ngày 9/7/1974 lúc 12 giờ 15..." Khi Lương mất tích, con trai của Anh mới được 20 ngày, và người vợ trẻ chỉ mới vừa tròn 22 tuổi. Từ đó, theo vận nước nổi trôi, chị Hoa ôm nỗi đau buồn bất tận, thương con, ngóng chồng mòn mỏi... đột nhiên vào cuối năm 1976, qua bưu điện, chị nhận được thư của Lương cho biết Anh hiện đang bị CS giam ở trại giam Yên Bái, Bắc Việt. Chị tức tốc cố gắng dò hỏi để xin phép được đi thăm chồng nhưng CS không cho phép, mãi đến đầu năm 1979, chị Hoa mới được họ chấp thuận. Lúc này Lương đã chuyển về trại giam Đô Lương, Hà Tĩnh. Mùa Xuân năm 1979, chị Hoa dẫn theo con trai là Trần Thanh Vũ, 5 tuổi, đi thăm chồng, và thăm cha...

Tôi đề nghị Chị Hoa hát cho tôi nghe. Bằng giọng trong vắt nhẹ nhàng và truyền cảm, không cần nhìn bản nhạc, Chị trình bày bản

“Cung buồn cho một cánh chim
Thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy.

buồn, chầm chậm”

với các lời:
1. Người tìm vào đời đôi cánh chim bay

Phi đạo hẹn hò mở lối tung bay

Đường mây vút xa dâng đầy trong mắt ai

Ngày vui vẫn hẹn đợi chờ hòa khúc hát tương lai.

2. Người tình học trò đôi mắt như sao

Mơ vùng trời hồng gửi giấc chiêm bao

Ngày vui ái ân không dài như ước mơ

Tình trong nét mực ngọc ngà, buồn khóe mắt ngây thơ.

ĐK1. Rồi một chiều thu mây mờ che kín non xanh

Người vợ hiền mơ bé thơ nào đâu thấy mặt anh

Trời buồn lộng gio, gió âm thầm đưa lá xa cành

Trời còn in mây, tình người còn đây, cớ sao người yên giấc mơ say.

ĐK2. Người lặng tìm về hương khói mong manh

Xin một lời buồn để hát cho anh

NgànVà đôi mắt buồn học trò đậm vết long lanh
Xếp đôi cánh bằng, ngàn thu an giấc cho anh.


Tôi ngồi chăm chú nghe Chị Hoa trình bày trọn bản nhạc. Lời ca thấm vào óc tôi tạo nên cảm giác vừa thương cảm vừa khâm phục tôn vinh mối tình giữa người chiến sĩ Trần Văn Lương và giai nhân Cao Hoa, theo tôi đó là một chuyện tình đẹp. Dẫu rằng định mệnh oan khiên đã bắt" nửa đường chim bằng gãy cánh", nhưng từ cổ kim những mối tình đẹp đã được thế gian truyền tụng không phải là những cặp uyên ương ăn ở đến khi đầu bạc răng long!

Không muốn kéo dài cuộc nói chuyện vì sợ tạo thêm sự xúc động đến cho Chị Hoa, tôi xin tạm biệt để về hoàn tất bài viết "Cánh Thép F5: Trần Văn Lương".

Hôm nay ngồi viết những giòng này từ nơi xa xôi cách Việt Nam cả nhiều ngàn dậm, trong óc tôi hình dung đám tang của Người Anh Hùng Trần Văn Lương 28 năm về trước tại một góc rừng nào đó gần trại tù cải tạo Đô Lương thật giản dị: Không thân nhân, không bằng hữu, không lễ nghi quân cách, không tuyên dương, truy thăng, truy tặng, không hồi kèn vĩnh biệt, không tiếng súng tiễn đưa và không có cả hòm gỗ với quốc kỳ (VNCH)!
Bài viết của tôi cũng như lời tri ân đối với tất cả những người đã hy sinh cho chúng ta, con cháu chúng ta được sống và cho miền Nam Việt Nam được tồn tại trên hai thập niên.
PHẠM HUY SẢNH


UserPostedImage


UserPostedImage
coffeebean  
#31 Posted : Sunday, November 21, 2010 10:20:46 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Nhân mùa lễ Tạ Ơn ...

Tuần này là mùa lễ Tạ Ơn của người Mỹ, bên Canada (Gia Nã Đại) đã kỷ niệm lễ Tạ ơn từ tháng trước.
Nhân mùa lễ của xứ sở đang cưu mang mình, người viết cũng xin bày tỏ đôi lời cám ơn ... chắc chắn là không đủ, mong các bạn góp thêm ...
Xin cám ơn quê hương muôn vàn thống khổ
Đã cho con bài học làm người
Lời Ca dao bên tiếng võng à ơi !
Ru ấm mãi mảnh đời trôi nổi

Xin cám ơn ruộng vườn cơm lúa mới
Giòng phù sa từng nuôi nấng bao người
Đã giang tay ủ con trong tuyệt vọng
Nỗi chết cận kề bên lẽ sống chênh vênh

Xin cám ơn bao mẹ già còm cõi
chắt chiu cho con dẫu khô héo xuân đời
Làm sao gọi thấu tiếng Mẹ ơi !
Để nói tỏ rằng con thương nhớ lắm ...
..
Xin cám ơn bao người con đất Việt
Quên tuổi xanh cho đất mẹ còn xanh
Đời nghiệt ngả chúng ta đành mất cả
Nén hương lòng tưởng niệm thắp ... nhớ anh
Vẫn sống mãi trong hồn thiêng sông núi

Ta sẽ về quê gieo nắng mới
Dù bằng hương khói hay bến đậu mái chèo
Về trường xưa dựng lại trang sử Việt
Non nước ngàn năm chẳng sơn phết nhá nhem

Xin cám ơn ! Người, không mộ bia tên tuổi
Cho tôi còn viết được những lời ơn
Cám ơn Trời cho con một kiếp sống
Dẫu phong ba, nếu phải ! vẫn đi lại từ đầu.

Xin cám ơn ! này hoàng hoa, nội cỏ
Những ân tình chấp chới cánh thiên di .


BÊN BỜ ĐẠI DƯƠNG
Nhạc sĩ : Hoàng Trọng
Trình bày : Việt Dzũng


[center]Đất nước tôi màu thắm bên bờ đại dương
Bắc với Nam, tình nối qua lòng miền Trung
Đất nước tôi từ mái tranh nghèo Bắc Giang
Vượt núi rừng già Trường Sơn, vào tới ruộng ngọt phương Nam

Dân nước tôi từng đấu tranh diệt ngoại xâm
Trên máu xương từng hát ca bài thành công
Dân nước tôi nòi giống hùng cường Lạc Long
Làm gái toàn là Trưng Vương, làm trai rạng hồn Quang Trung

Hôm nao, ai đã mơ mộng,
Chia mối tơ đồng Của một khối non sông vinh quang
Ai ơi, ai nhớ chăng rằng
Gươm súng đâu diệt được nòi giống muôn năm hiên ngang

Anh với tôi còn sống bên bờ đại dương
Tôi với em còn thắm trong lòng niềm thương
Đất nước tôi còn gió độc lập Trường Sơn
Còn lúa tràn đồng phương Nam, còn xóa được hờn quê hương



[center][FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/rLbtvBDloM[/FLASH]
havi  
#32 Posted : Monday, November 22, 2010 11:07:28 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage


UserPostedImage
VINH DANH NHỮNG VÌ SAO ĐẤT NƯỚC

Tháng Tư về khơi mối hận thiên thu
Mây tang phủ lên bầu trời Quốc Tổ
Nhớ bao anh hùng thơm danh muôn thuở
NAM, PHÚ, VỸ, HƯNG, HAI, CẨN...tên Người !

Trước cọc bắn vẫn đanh thép ý lời:
"Muốn nhìn sông núi trước giờ gục chết !"
Lẫm liệt oai phong một trang hào kiệt
Cọp ba đầu rằn HỒ NGỌC CẨN lưu danh !

Tướng Biệt Động Quân liêm khiết, đa năng
Huấn luyện, tham mưu, chiến trận bao năm
Tên TRẦN VĂN HAI sử vàng ghi đậm
Vận nước suy tàn - tiết tháo hy sinh !

Xin nghiêng mình chào NGUYỄN KHOA NAM hùng anh
Hổ Tướng miền Tây theo thành tự sát
Loạt đạn nổ vang thay lời thề "Sát Đát !"
Rừng núi chuyển rung bạt vía giặc thù !

Bình Long, An Lộc - song Lê anh hùng
Gương tử thủ nêu cao, nức lòng quân sĩ
NGUYÊN VỸ, VĂN HƯNG lừng danh thế kỷ
Bia khắc danh đề - thanh sử muôn thu !

Tiếc thương PHẠM VĂN PHÚ Kontum, Pleiku
Vị danh tướng của bao thời trận mạc
Khí hùng anh nào để lọt vào tay giặc ?
Kết liễu đời mình - độc dược quyên sinh !

Hồn thiêng sông núi tiếp dẫn hương linh
Quý danh tướng và bao anh hùng dân tộc
Tháng Tư đại tang triệu hồn bật khóc
Thắp nén nhang lòng tưởng niệm anh linh !

PHẠM HOÀI VIỆT


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#33 Posted : Thursday, November 25, 2010 12:53:18 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage




UserPostedImage
havi  
#34 Posted : Sunday, November 28, 2010 9:12:37 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
AI LÀ CHA ĐẺ CỦA CHƯƠNG TRÌNH DẠ LAN NỔI TIẾNG MỘT THỜI CỦA ĐÀI PHÁT THANH QUÂN ĐỘI?

UserPostedImage Đại tá Trần Ngọc Huyến
Ha Vi mời các bạn vào link nầy có rất nhiều chương trình Dạ Lan với nhiều lời dẫn giải với chi tiết rất giá trị và những bài hát hay , cảm động về QLVNCH
http://nguoivietnamchau....ms/showthread.php?t=9887

Câu trả lời: - Đại tá Trần Ngọc Huyến

- Ít nhất đã có hai vị Đại Tá nhảy ra tự nhận là chính mình khai sinh ra chương trình này.

- Đại tá Trần Ngọc Huyến và những chương trình cải tổ đường lối tâm lý chiến của Quân Đội VNCH từ sau tháng 11-1963.


(12 - 2004). Trong tuần qua, một bản tin nhỏ từ Houston Texas cho biết cựu Đại tá Trần Ngọc Huyến, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia vừa qua đời. Người viết bài này không tốt nghiệp từ trường Võ Bị, nhưng cái tên Trần Ngọc Huyến nhắc nhở lại một đoạn đời phục vụ tại Nha Chiến Tranh Tâm Lý (1) của mình, mà ngày ấy ông là Giám Đốc. Người ta biết nhiều tới chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị của ông hơn là chức vụ Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý, nhưng chính ông là người đã thay đổi hoàn toàn đường lối chiến tranh tâm lý của Quân Đội một cách bạo dạn và khôn ngoan, đưa đến những kết quả tốt đẹp. Phải nói ông là người có nhiều sáng kiến và dám làm, đối với các cộng sự, ông không câu nệ tới cấp bậc mà nhìn vào khả năng làm việc của từng người. Đại Tá Trần Ngọc Huyến là một người đã có bằng Cử Nhân Văn Chương trước khi vào lính. Trước năm 1960, ông là Chỉ Huy Phó kiêm Phó Văn Hóa Vụ tại trường Võ Bị Quốc Gia, sau cuộc đảo chính năm 1960 ông giữ Chức Vụ CHT, và thăng Đại Tá sau tháng 11-1963 nhờ công trận của ông trong lúc Ông là Quân Trấn Trưởng Đà Lạt. Tuy nhiên, người ta nói ông có liên hệ nhiều với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên sau đó từ cao nguyên Đà Lạt, ông lại được mời đi làm Lãnh Sự tại Hồng Kông. Cũng không biết với lý do nào, sau đó Đại Tá Trần Ngọc Huyến lại được triệu về giao cho chức vụ Thứ Trưởng Bộ Thông Tin kiêm Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý.

*Khai sinh ra chương trình Dạ Lan:

Sau khi tốt nghiệp khóa 16 SQTB Thủ Đức (7-1964), tôi trình diện Nha Chiến Tranh Tâm Lý, thì ông là Giám Đốc Nha, nghe nói ông đã rời Bộ Thông Tin vì bất đồng quan điểm với Bộ Trưởng Bộ này về vụ Bộ tiếp đón phái đoàn của bộ Quốc Phòng Mỹ. Là một sĩ quan mới ra trường tôi phấn khởi thấy được làm việc với một cấp chỉ huy trẻ trung, năng động và có nhiều sáng kiến như ông. Chính ông người khai sinh ra chương trình phát thanh “Dạ Lan” của Đài Phát Thanh Quân Đội (2) lúc bấy giờ, chứ không phải là những người kế nhiệm ông như nhiều người vẫn lầm tưởng. Đại Tá Trần Ngọc Huyến đã có sáng kiến thay đổi các lối mòn tuyên truyền của thời cũ, nhất là sau biến cố 1963, cần ổn định lại tinh thần của các binh sĩ ngoài mặt trận. Ngoài chương trình Dạ Lan, phỏng theo một chương trình địch vận của Đài Loan hướng về Trung Quốc lục địa vào thập niên 50, Đại Tá Trần Ngọc Huyến đã có sáng kiến mở những chương trình:

- Chương trình Gia Binh với Xướng Ngôn Viên Ngọc Dung dành cho gia đình binh sĩ.

- Chương trình Đồng Minh Vận (do XNV Mai Lan và Dương Ngọc Hoán phụ trách (3) phát thanh bằng Anh Ngữ) dành cho các quân nhân đồng minh đang chiến đấu bên cạnh QLVNCH. Trong Đệ II Thế Chiến Nhật Bản cũng có chương trình “Rose of Tokyo” phát thanh bằng Anh Ngữ, nhưng nhắm vào quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, lúc bấy giờ là kẻ thù của Nhật.

Đại Tá Trần Ngọc Huyến, ngoài các buổi họp tham mưu ở Nha, đã mời một số anh em phụ trách các tiết mục trong chương trình Dạ Lan dùng những bữa cơm “tham mưu” để tạo sự thông cảm và nói chuyện thân mật về việc mở ra chương trình này. Phó Giám đốc Nha bấy giờ là Trung Tá Cao Đăng Tường, Chánh Sự Vụ Sở Kỹ Thuật là Thiếu Tá Lê Đình Thạch. Trong quân đội, cùng cơ quan, phải nói ít khi có một buổi ăn mà Đại Tá ngồi chung với Thượng Sĩ (trong nhóm “tham mưu” Dạ Lan, Thượng sĩ nhà văn Lưu Nghi là người có cấp bậc nhỏ nhất) để bàn công chuyện như thời Trần Ngọc Huyến. Ông là người có tinh thần “cách mạng” và rất gần gũi với những người cộng sự.

Tôi được điều từ phòng Báo chí về để viết “chapeau” (lời dẫn cho mỗi bản nhạc) do hai nhạc sĩ Ngọc Bích và Đan Thọ soạn vào thời gian phôi thai của chương trình Dạ Lan.
* Dạ Lan, cô là ai ?
Không ai có thể ngờ rằng xướng ngôn viên mang tên Dạ Lan nói giọng Bắc lại là một người con gái Quảng Nam có một thời gian sinh sống tại Huế, tên Nguyễn Xuân Lan. Cô này trước làm việc tại Đài Phát Thanh Quân Đội Đồng Hà, một chương trình phát thanh về bên kia vĩ tuyến, thiết lập tại Đông Hà tại tỉnh địa đầu Quảng Trị. Đài này do Nhất Tuấn làm Quản Đốc và Hà Huyền Chi làm phó. Cô Xuân Lan không đẹp nhưng cô phát âm tiếng Bắc rất đúng giọng (nhờ HHC huấn luyện trong thời gian ở Đồng Hà) và lẽ cố nhiên rất ngọt ngào. Đêm đêm trên làn sóng điện của Đài Phát Thanh Quân Đội, giọng nói của người em gái hậu phương có mãnh lực thu hút cảm tình của các binh sĩ trú đóng khắp trên bốn vùng chiến thuật. Danh từ “em gái hậu phương” và “anh trai tiền tuyến” là một danh từ khá quen thuộc phát sinh trong thời gian này được nghe và dùng nhiều trong các bài thơ hay nhạc phẩm thịnh hành.

UserPostedImage


UserPostedImage Dạ Lan 2 Hồng Phương Lan, Mỹ Linh
* Chương trình Dạ Lan:
Chương trình được phát thanh hằng đêm từ 7 giờ đến 9 giờ , gồm các phần câu chuyện hằng ngày, tin tức, thời sự , điểm báo và phần văn nghệ. Đặc biệt nhất là phần trao đổi thư tín giữa Dạ Lan và các quân nhân, phần lớn là các quân nhân ở các tỉnh xa thủ đô, nhất là thành phần trú đóng ở các tiền đồn. Trong giai đoạn mới thành lập, chương trình Dạ Lan, phần câu chuyện hằng ngày do Lưu Nghi (4) phụ trách, tin tức do Mai Trung Tĩnh, điểm báo do Nguyễn Triệu Nam (5), phần nhạc do nhạc sĩ Đan Thọ, Ngọc Bích (6) chọn và lời dẫn nhạc (chapeau) do Huy Phương viết (7). Phần tin tức do ban tin tức của Đài phụ trách và thư tín do Cô Ngọc Xuân và một số cô đặc trách việc chọn lựa thư tín để sau đó Dạ Lan trả lời trên làn sóng phát thanh.

Chương trình Dạ Lan rất được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là các quân nhân xa nhà, trú đóng ở các tiền đồn hẻo lánh. Vào hai năm 1964-65, Đài Phát Thanh Quân Đội phải tuyển thêm một số nữ nhân viên để phụ trách vấn đề trả lời thư của các “anh tiền tuyến” hằng đêm. Một số carte-postale chụp cô Xuân Lan đã nói trên cũng được Nha Chiến Tranh Tâm Lý ấn hành để gởi tặng đến các chiến sĩ tiền đồn. Tuy vậy nhân vật “em gái hậu phương Dạ Lan” chưa bao giờ xuất hiện trên truyền hình, báo chí hay ngoài đời mà chỉ duy nhất qua làn sóng điện, vì ngoài đời nhan sắc cô chỉ thuộc loại trung bình. Cô cũng nhận được không ít thư từ tỏ tình với cô của các “anh tiền tuyến”. Nhiều anh tiền tuyến đi phép về Saigon có tìm đến đài phát thanh Quân Đội nhưng không bao giờ gặp được Dạ Lan bằng xương bằng thịt.

Chương trình Dạ Lan kéo dài tới ngày tàn cuộc chiến, nhưng chỉ sôi nổi vào những năm đầu khi còn Đại Tá Trần Ngọc Huyến, một phần là nhờ sự lưu tâm đặc biệt của ông, phần khác, chương trình nào qua thời gian cũng trở nên nhàm chán, thư từ trở nên thưa thớt và chương trình còn lại chỉ là cái vỏ bọc để chuyên chở tin tức, bình luận thời sự cho đài Phát Thanh Quân Đội. Thậm chí vào khoảng năm 1966 khi cô Xuân Lan rời Đài Phát Thanh Quân Đội, tiếng nói Dạ Lan được thay bằng cô Mỹ Linh, gốc người Bắc vẫn thường phụ trách các chương trình nhạc ngoại quốc buổi trưa, mà ở ngoài Đài Quân Đội không ai hay biết.

Chương trình Dạ Lan bắt đầu có từ thời quản đốc Đài Quân đội là Thiếu Tá Nguyễn Văn Văn Thuý, tức nhà văn Kỳ Văn Nguyên. Ông ở binh chủng truyền tin, nhưng sau khi tác phẩm “Tìm Về Sinh Lộ” (viết về cuộc di cư 1954) của ông ra đời, ông được cấp lãnh đạo VNCH chú ý và mời về làm Quản Đốc Đài. Tiếp đó là Thiếu tá Phạm Hậu, tức nhà thơ Nhất Tuấn. Giai đoạn sau Thiếu Tá Phạm Hậu là Thiếu Tá Hà Sĩ Phong. Cuối cùng từ năm 1969 cho đến khi tan hàng, Quản Đốc Đài là Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến tức là nhà văn Văn Quang. Đài Phát Thanh Quân Đội ngày ấy liên tiếp qui tụ nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi như Văn Thiệt, Dương Ngọc Hoán, Anh Ngọc, Nhật Bằng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Đức, Văn Đô, Trần Thiện Thanh, Nguyễn Triệu Nam, Lưu Nghi, Nguyễn Ngọc Quan, Trần Trịnh, Đào Duy, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Quốc Hùng (thầy khóa Tư), Dương Phục, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp...
* Những thay đổi trong ngành báo chí Quân Đội:
Đối với báo chí quân đội (8), Đại Tá Trần Ngọc Huyến cũng có những cải tổ rất táo bạo. Ông chủ trương hình thức cũng như nội dung của những tờ báo này phải hấp dẫn, tươi mát vì cuộc sống lính tráng đã quá gian khổ, khô cằn. Hình thức phải đẹp, có ảnh các kiều nữ, và nếu có hở hang đôi chút cũng không sao. Báo phải có hý họa, chuyện vui cười và nếu có dung tục một chút cũng OK. Tờ “Thông Tin Chiến Sĩ” dành cho binh sĩ do Huy Vân (8) phụ trách và tờ “Văn Nghệ Chiến Sĩ” do Thanh Nam (9) và kế là Thiếu Úy Nguyễn Văn Thảo làm TTK Tòa Soạn. Thiếu úy Hiếu Đệ, họa sĩ là tác giả nhiều ảnh hý họa trên hai tờ báo này. Nhiều lúc Đại Tá Huyến còn gợi ý cho Huy Vân viết chuyện cười và cho Hiếu Đệ vẽ tranh vui, và chính ông đã đổi tên hai tờ báo này thành “Chiến Sĩ Cộng Hòa” và “Tiền Phong”, tăng số lượng in lên gấp đôi, hai tờ báo này tồn tại cho đến ngày tàn cuộc. Những người đã lần lượt phụ trách Thư Ký Toà Soạn cho hai tờ báo này là Tường Linh, Đặng Trần Huân, Trần Xuân Thành, Du Tử Lê, Hà Huyền Chi và chúng tôi là Huy Phương.

Về sau này nhiều sĩ quan tên tuổi được lần lượt tăng cường cho báo chí quân đội như các họa sĩ Nguyễn Uyên, Mai Chửng, Trần Nhật Thiệu, các nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Hà Huyền Chi, Đặng Trần Huân, Trần Xuân Thành, Du Tử Lê, Nguyễn Thiệp, Tô Mặc Giang, Nguyễn Chí Khả, Đặng Triên...
* Sinh bất phùng thời:
Về nhân dáng, Đại tá Trần Ngọc Huyến là người có bề ngoài rất dễ gây thiện cảm, ông có nước da trắng, môi hồng, rất đẹp trai, có tài hùng biện dễ thu phục người khác và làm cho thuộc cấp cũng như bạn bè quí mến ông. Ông cũng là một sĩ quan có văn hóa, lương thiện, có óc cầu tiến, nhưng chắc chắn ở con người ông không tránh khỏi đôi chút kiêu hãnh nhất là đối với những tướng tá kém cỏi nhưng đầy quyền lực trong thời đại của ông. Tác phong và kiến thức của ông trong quân đội đáng lẽ còn đưa ông tới những cấp bậc chỉ huy và tham mưu cao hơn, nhưng ông là người bất phùng thời, bị trù dập, chỉ mang tới cấp bậc Đại Tá là cùng.

Dư luận cho rằng ông không lên cấp Tướng được là vì ông là sĩ quan trừ bị và không chịu vào hiện dịch. Nhưng khi thấy một sĩ quan cấp Đại Tá bị đày ra chiến trường với cái chức vụ kỳ quái được Bộ Tổng Tham Mưu phong cho là “quan sát viên chiến trường” phải xuống tới cấp tiểu đoàn bộ binh, thì người ta phải hiểu rằng ông đã bị chèn ép như thế nào. Ông giải ngũ khoảng năm 1966 và những năm cuối cùng trước khi ra ngoại quốc, ông là Giám Đốc hãng xăng Esso ở Saigon.

Sang Hoa Kỳ vào năm 1975, ông sống ở Houston Texas với một đời sống tương đối lặng lẽ suốt từ ngày ấy tới nay. Hai tuần trước, vào ngày 15 tháng 11-2004, ông qua đời tại đây vì bệnh tim, hưởng thọ 80 tuổi. Ở khắp nơi, các “cùi” Võ Bị Đà Lạt, môn sinh của ông đã làm lễ tưởng niệm để thương tiếc, nhớ tới một vị Thầy khả kính của họ, riêng tôi, một thời là sĩ quan trừ bị cấp nhỏ, được làm việc với ông trong ngành chiến tranh tâm lý quân dội, không khỏi bùi ngùi nhớ tới ông. Một người sĩ quan như Đại Tá Trần Ngọc Huyến không phải là người dễ kiếm trong hàng ngũ của chúng ta.



UserPostedImage
12/2004-Huy Phương

UserPostedImage
havi  
#35 Posted : Wednesday, December 8, 2010 6:38:46 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

Nhớ Về Mái Trường Xưa

Các Bất khất thân,
Quân trường mẹ nơi đào tạo chúng ta trở nên những người Bất Khuất, quân trường cũng là nơi đã che chở cho chúng ta và rèn luyện chúng ta làm sao chịu đựng được mọi nghịch cảnh trong tương lai cho chúng ta khi ra trường. Dù bất cứ khó khăn nào chúng ta cũng đứng vững đó cũng là bằng chứng không ít trong số anh em chúng ta đã nhiều người nằm xuống cho đất nước, và cũng không ít anh em chúng đã bỏ lại một phần thân thể trong chiến tranh. Bây giờ chúng ta vẫn đứng vững, vẫn Bất Khuất như khóa chúng ta, và điều hạnh phúc nhất là chúng ta biết đùm bọc chia xẽ, tương trợ lẫn nhau trong và ngòai nước. Ở đâu chúng ta vẫn là anh em như hồi trong quân trường mẹ, chia xẽ gian khỗ khi bị phạt tập thễ và cười đùa khi có bạn ngũ gục bị huấn luyện viên gọi tên ... đó cũng là lý do khi ra trường chúng ta chịu đựng đựơc gian khổ.



UserPostedImage
Đây là bài thơ xin tặng các Bất Khuất nào ở vùng đồi núi.
Chuyện Lính

Chín tháng quân trường, chỉ dởn chơi.
Ra trường mới thấy, chuyện trần ai.
Rừng sâu núi thẳm, là nhà ở.
Băng rừng lội suối, mệt đức hơi.

Lương Khô nhận lảnh, đi tuần kích.
Ngày nóng đêm lạnh, bịnh thấu xương.
Thân thể gầy mòn, nuôi vắt đĩa.
Sốt rét triền miên, bởi núi sâu.

Đôi khi nằm kích, không nước uống.
Khác nước đở người, bởi nước sương.
Một tuần không tắm, là chuyện nhỏ.
Rận rệt trong người, chuyện bình thường.

Một năm chưa về, một lần phép.
Nhớ nhà nhớ vợ, chỉ giấc mơ.
Đêm nhìn thành phố, qua ánh sáng.
Buồn cho thân phận, bởi chiến tranh.

Đành thôi tự mình, tự an ủi Ta làm việc nầy, cho núi sông.

CSVSQ Nguyễn Quan 351


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#36 Posted : Friday, December 10, 2010 6:30:51 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage
Những Người Lính Tôi Yêu

Tôi yêu lắm những người trai lính chiến

Nửa cuộc đời cho non nước triền miên

Đem tuổi xanh hiến mình cho sông núi

Thương Quê nhà đánh mất những niềm vui

Tôi thương lắm những người hùng năm cũ

Đôi vai nào sạm nắng với phong sương

Ánh mắt nào có nhiều đêm không ngủ

Tay súng nào thao thức giữ Quê Hương

Tôi yêu lắm và còn yêu nhiều lắm

Tháng năm nào Anh cải tạo xanh xao

Dẫu đớn đau thấm đầy trên thân xác

Vẫn không sao làm nhục chí anh hào

Xin gởi trọn một lời yêu thương cuối

Cho những người Anh lính chiến tôi thương

Ngày tháng buồn tuy đánh mất Quê Hương

Nhưng các Anh vẫn người hùng muôn thuở

Từ bao giờ và bây giờ vẫn thế

Vẫn trong tôi niềm hãnh diện yêu Anh

Những người hùng những chiến sĩ lưu danh

Nửa cuộc đời Anh đánh mất tuổi xanh

Cuối cuộc đời còn trong ta nổi nhớ

Tim các Anh và tôi còn nhịp thở
Là một đời ta còn nợ Quê Hương...

Huỳnh Lan


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage
coffeebean  
#37 Posted : Monday, December 13, 2010 2:41:00 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Rất tình cờ một chiều cuối tuần lễ Thanksgiving, lái xe ngang qua vùng bắt được làn sóng một đài radio tiếng Việt ... và nghe được một mẩu tin rất bàng hoàng... Đoạn tin nghe giữa chừng nói về việc cải táng một mồ chôn tập thể của những người lính VNCH chết vào lúc gần ngày mất nước, ... tàn cuộc chiến quê hương, được đồng bào địa phương 35 năm trước bọc từng thi thể trong tấm poncho và chôn chung khoảng 137 người, ở một vùng ven biển miền Trung.
Một người VN có lòng đã chứng kiến cảnh tượng thương tâm này, hiện đang cư ngụ tại Sacramento đã quyên góp được 8,000 Mỹ kim để về lại bờ biển hoang vắng, nghèo nàn quê xưa, cùng với những người dân làng cũ, tìm mua đất và cải táng ngôi mồ tập thể này ra từng mộ phần riêng biệt. Họ nhận ra trong 137 hài cốt này chỉ có 7 thi thể còn tấm thẻ bài bên cạnh, và một kèm tấm thẻ căn cước ... với hy vọng loan báo cho thân nhân người đã khuất có thể đang tản mát đâu đây trong cái thế giới tỵ nạn mênh mênh vô chừng này ... Tên của từng người trên thẻ bài, căn cước được đọc lên, với số quân, loại máu và ngày sinh. Nghe mà lạnh người, bàng hoàng, rưng rưng họ chết rất trẻ, chỉ có 1 người tuổi cỡ gần 30 còn lại ... sinh 1954, 1955 chết cuối tháng 3, 1975
Bàng hoàng vì nỗi đau của chiến tranh thảm khốc vẫn còn đây. Vì sự phi lý của cuộc chiến tương tàn, chết chóc để rồi đưa đất nước triền miên vào tủi nhục suy vong. Nỗi đau vẫn chẳng phôi phai là mấy, chỉ vơ vẩn đâu đây, có dịp sẽ hoàn nguyên tê dại ...
Rưng rưng vì vẫn còn đó những tấm lòng với các anh, với người lính Việt Nam Cộng Hoà ... những tấm lòng chân chất, thuần lý lẽ đơn sơ phải quấy ở đời, theo tập tục nhân nghĩa xa xưa. Dù đã hơn 30 năm với biết bao giáo điều răn đe, chính sách chế độ kiểm soát, dạy dỗ từ trẻ thơ cũng phải biết thù hằn, nghi ngờ, rình rập, để tố cáo tất cả những gì trân quý trên đời, chỉ trung thành và sống chết với một ý thức hệ lai căng, phi nhân bản mà thôi ... Nhưng cũng phải 35 năm chứ không thể 10 hay 20 năm trước ... những núm hài cốt rã rời gói trọn trong tấm poncho ngày nào che mưa gió bão bùng lúc quân hành đã cùng với anh dãi dầu 35 năm bên bờ biển vắng, sóng vỗ gió mưa gào, như lời thơ cổ "da ngựa bọc thây".
Các anh thấy đó, đồng bào không quên các anh đâu ...
Vâng, cuộc sống vô thường, lòng người không thể nói được.
Ngày tháng như cánh chim bay, rất nhiều điều phải đi vào quên lãng theo bóng thời gian ... phai. Nhưng hình bóng và sự hy sinh của các anh sẽ không chìm vào hư vô. Không phải chỉ còn trong sử sách mà chính trong lòng người dân đã nhìn bước anh đi.
Nén hương lòng thắp muộn màng tưởng nhớ anh linh những chàng trai nước Việt. Nhớ đến anh! xương máu một đời người trong một thời lịch sử, non nước quá đỗi oan khiên.
Người Chiến Sĩ Vô Danh. Sáng tác: Phạm Duy; Trình bày: Hợp Ca

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/s1jJ10Xwqz[/FLASH]

Gót Chinh Nhân. Sáng tác: Anh Bằng, Trình bày: Hoàng Nam

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/3y2SDgx6yN[/FLASH]


coffeebean  
#38 Posted : Wednesday, December 15, 2010 4:12:28 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Nỗi Nhớ
Chiều trôi xao xác lá rơi
Đêm đen quyện nỗi quạnh hiu núi rừng
Nhoà bên vách núi chênh vênh
Bóng ai xiêu giữa điệp trùng chơ vơ
Đá mòn hồn có phai mơ ?
Thanh gươm, yên ngựa còn chờ cố nhân?
Bao lần mài kiếm tri tâm
Thoảng trong lời gió khúc hành quân xưa
Hỏi trăng! trăng rọi thẫn thờ
Hỏi đêm! đêm thẳm mịt mù đi hoang
Hỏi trời! chỉ vọng tiếng vang
Hỏi gươm! chợt thấy trăng loang chiến bào
Hỏi lòng ? biết hỏi làm sao !
Chợt nghe chân đã bước vào đường xưa LNL



coffeebean  
#39 Posted : Friday, December 17, 2010 5:42:40 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Mùa xưa Mùa Noel ấy giặc tràn về đốt phá
Mái nhà lành bùng mồi lửa đêm đông
Chuông ngân nga vang tiếng đứt nửa chừng
Bóng giáo đường khuất chìm trong khói lửa

Dắt díu nhau chạy giặc bao khốn khổ
Bỏ xóm làng bỏ lại gác chuông xưa
Gặp các anh giữa đường ôi, mừng rỡ
Lính mình đây! mong biết mấy cho vừa .

Mắt rưng rưng mẹ nghẹn ngào nhắn nhủ
Đốt sạch rồi chỉ còn đất nền thôi
Đuổi xong giặc dân mình về dựng lại
Xóm làng xưa, trường học, nóc giáo đường

Đêm Thánh ấy, lễ vọng giữa sao ngàn
Những người lính bên đồng bào chạy loạn
Chia lương khô, chia bùi ngùi khấn nguyện
Cho một ngày sông núi sẽ bình yên

LNL

Bóng Nhỏ Giáo Đường
Nhạc: Nguyễn Văn Đông, Trình bày: Lệ Hằng

http://www.youtube.com/watch?v=2MD_lTLNZgs

Có ai về miền quê hương lửa khói cho tôi nhắn vài câu
Cách xa lâu rồi, không biết em còn giận hờn anh nữa thôi
Chuyện ngày xưa hai đứa thương nhau trong đêm nhiều sao sáng
Dưới lầu chuông anh khắc tên nhau chung trong lời khấn xin chan chứa niềm tin

Có ai ngờ tình yêu ngày đó gieo ngang trái sầu lo
Lửa binh lan tràn, hai đứa đôi đàng mộng đẹp kia vỡ tan
Từng hồi chuông tha thiết bi ai vang trong mùa quan tái
Tiếng cầu kinh khe khẽ thôi vang khi quân giặc giẫm tan ngôi Thánh lầu chuông

Nhớ mãi ngày ấy, quân cướp xô bừa hạ gác chuông
Nước mắt em tuôn, xót xa quỳ trên đống tro tàn
Nhớ mãi ngày ấy, anh góp tre dựng lại gác chuông
Với trí ngây thơ, vững tin tầm vông giữ Nhà thờ,
Kỷ niệm của chúng ta !

Mấy năm rồi buồn vui ngày đó theo anh giữa trời sương
Dẫu xa muôn trùng nhưng sống muôn đời chuyện lầu chuông thuở xưa
Và từng đêm anh chắp hai tay xin cho tình yêu đó
Thấm nhuần trong tay Chúa ban ơn, anh xây lại gác chuông trên kỷ niệm xưa .

havi  
#40 Posted : Wednesday, December 22, 2010 7:20:44 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Người Yêu Của Lính


UserPostedImage

Các Anh Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân thân mến.
Khi quê hương còn trong khói lửa, khung trời mây xám đầy cánh sắt dưới đóm mắt hỏa châu, sao hôm vẫn đứng một mình, âm thầm lặng lẽ hiền hoà dướí đám mây mù che lấp và cố chen chút những tia sáng lung linh để soi mòn lối nhỏ.... khi những cánh chim sắt quên đường về…. tiếng súng vẫn rền vang, tiếng bom nổ ì ầm của vùng trời giới tuyến, dưới dãy ngân hà chập chùng có tiếng nỉ non của loài côn trùng như tiếng khóc ru ai oán cho cuộc đời của người chiến sĩ ra đi không người đưa... trở về không người đón.... Sự sống chết gần kề trong phút chốc và trong gang tấc.

Các anh đã vứt áo thư sinh, từ bỏ thời gian trai trẻ, đẹp nhất của đời mình.. Với những chiều tay trong tay trên phố Bodard mưa nhạt... mưa nhoà, hay những ngày ôm cây đàn bên dòng sông xưa.... nghêu ngao giọng hò Nam bộ..... ghẹo tình cô thôn nữ e ấp dưới chiếc nón bài thơ..... Các anh đã sống với những đóng góp thật nhiều xương máu, một sự hy sinh đầy ý nghĩa nhất cho cuộc đời. Các chiến sĩ là những người sống có lý tưởng..... đã làm những gì đẹp nhất cho quê hương, giữ gìn bờ cõi để các em nhỏ còn thẹn thò núp áo Mẹ cắp sách đến trường làng vớí tiếng... ê... a...... Bác nông dân cày bừa, lom khom dưới đám mạ non, nghe mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, đưa trâu về chuồng, chiếc xe bò chở lúa gập ghềnh chậm rãi trên bờ đê, một cuộc sống yên bình hiền hòa, chất phác chứa ẩn trong lòng một sự kiên cường nhất của dân tộc ta.

Hôm nay đây, trải qua bao cuộc sống đầy vất vả cam go của kẻ ly hương, tuổi đời chồng chất, chân mòn gối mỏi, để cho tâm hồn được thanh thản hay cũng để chuẩn bị cho sự lùi về phía sau... dành cho thế hệ tương lai nối tiếp. Một sự ghi ơn rất trân trọng cho những người nằm xuống đã hy sinh vì Tổ Quốc mà khi ra đi là giã biệt người thân...... Ánh mắt Cha già cứ mãi ngóng trông ở lối đi về, Mẹ thân xác gầy gò, dấu đi hàng lệ rơi trong khoé mắt, luôn cầu nguyện cho con được bình an trong đường tên mũi đạn, có những... người vợ ngày hai buổi gồng gánh, tay xách vai mang, dãi nắng dầm mưa vừa làm Mẹ và thay Cha trong những ngày chăn đơn gối chiếc, một lòng son sắc nuôi nấng dạy dỗ đám con thơ dại, từng đêm mòn mõi trông chờ những lá thư các anh từ chiến trường được bình yên. Cũng thật may mắn hơn, còn các anh được đọc những lá thư từ "Người yêu của lính" mong chờ... đẻ cùng hoà đồng nhịp cảm của một tình yêu da diết ở con tim......

Nhưng ngày trở về.... có khi là chiếc khăn tang với nén hương quỳ bên nắm mộ Mẹ, người còn đâu nữa... còn đâu những ngày lặn lội bờ đê, ngày hai buổi với cơm canh rau cà ãm đạm..... còn đâu người ngồi tựa cửa vá áo cho con, mắt mỏi mòn trông bóng dáng đứa con, để được vuốt ve ân cần cho đứa con trai như những lần con đi học về, trên bờ đê đạp chiếc xe đạp cọc cạch thật nhanh, vứt cặp vở chạy đi tìm kiếm.... Mẹ, Mẹ ơi... Mẹ ơi !


UserPostedImage


Cũng thật vô cùng đau xót, không gì đau đớn cho bằng cho những chiến sĩ ra đi biền biệt bỏ thân nơi sa trường trận mạc, hay trở về bằng tấm Thẻ bài, chiếc Poncho ấp ủ... phủ kín đời con..... hoặc làm kẻ trở về trên cây nạng gổ ,trên chiếc xe lăn ,đầy dẫy những bệnh tật vương vấn mãi không buông tha cho kiếp sống tật nguyền.... Việt Nam ta là một nước nhỏ bé, con người tuy nhỏ bé, nhưng ý chí mãnh liệt với những sự hy sinh cao đẹp của các anh.... đã đánh dấu sự khâm phục của Thế giới, cũng như để lại một nền tảng hào hùng trong lịch sử cho xứ sở quê hương , cho cả thế hệ đi sau........
Tổ Quốc Ghi Ơn Đời Đời Nhớ Ơn Các Anh!

UserPostedImage


Nghe tin ngày Đại Hội SVSQ KQ Liên Khoá 72-73 của các anh sắp gần kề, là ngày các anh hãy trở lại núi rừng trong những giây phút thiêng liêng hiện hữu, cùng những bạn bè từ các nơi, tay bắt mặt mừng, hồi âm lại quá khứ của những trận đánh khốc liệt, những lần đem về chiến thắng vẽ vang, ngày hôm nay với sức sống tràn đầy, hãy nâng ly chúc tụng sức khỏe, lòng ấm áp hoà theo tiếng nhạc.... tiếng ca hào hùng ... thay cho tiếng súng.... Giả -Từ-Vũ-Khí!!!!


Các anh cũng đã có những trận chiến thắng trở về thật lừng lẫy, kiêu hùng. Đừng bao giờ nghĩ rằng là những kẻ bại trận...... trong bất cứ trận đấu nào, cuộc chiến nào cũng đều có chiến thắng hay thất bại, tất cả đều là máu đổ, tang tóc và sự chia ly..... Các anh không bao giờ là kẻ bại trận hay thua cuộc, các anh vẫn còn chiến đấu đến giây phút cuối cùng.... trong tư tưởng vẫn còn ý chí hào hùng, trong những lần rợp trời tung bay cánh sắt, một hình ảnh hiên ngang... kiêu hùng của một thời trai ngang dọc.. luôn ngự trị ở tâm hồn của các anh.... mãi cho đến ngày hôm nay.... Đó là lòng yêu Quê hương và Tổ Quốc, trong tinh thần một lòng giữ nước lẩn ý chí quật cường của toàn dân ta đã trải qua bốn ngàn năm văn hiến "Dựng nước Giữ nước"..... đánh đuổi giặc Tàu, quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi.
Tôi yêu tiếng nước tôi!...Tôi yêu quê hương tôi !


UserPostedImage


Lời cầu chúc riêng đến tất cả các anh SVSQ KQ Liên Khóa 72-73 trong kỳ Hội Ngộ Liên Khoá nầy, công ơn các anh sẽ được trả bằng những ngày yên vui và thoải mái nhất trong suốt cuộc đời còn lại với những chiến thắng lẫy lừng và những chiến công lẫm liệt của các chiến sĩ là "Một Thời Để Nhớ ...Để Yêu" trong một trang Sữ Oai Hùng của Dân Tộc Việt Nam Cộng Hoà... ghi tạc đến ngàn đời sau.
Và vẫn mãi mãi yêu anh....... người chiến sĩ !

Em Gái Hậu Phương Canhen



UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
4 Pages<1234>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.