Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

4 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
coffeebean  
#1 Posted : Sunday, June 13, 2010 4:00:00 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Các anh đi đến bao giờ trở lại, Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong

http://www.youtube.com/watch?v=DhiR5x6Nxig

Diễn hành kỷ niêm ngày Quân lực VNCH 19/06/1973

http://www.youtube.com/watch?v=joaz1G656_U


ANH VỀ THỦ ĐÔ ... nước Nam tự do
http://www.youtube.com/watch?v=r5WoVylGnQE

Thiên hùng ca QLVNCH
http://www.youtube.com/watch?v=svB8ABa--v0


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


Mộ người lính không tên bên quốc lộ 13, đường vào An Lộc
CÁM ƠN ANH ! Người chiến sĩ vô danh

http://www.youtube.com/watch?v=2OwSnr9JcQA



UserPostedImage


UserPostedImage



Mẹ Việt Nam ơi ! chúng con vẫn còn đây
http://www.youtube.com/watch?v=rWdloUNWZwg


UserPostedImage


Hình ảnh người lính Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ

UserPostedImage


nhat-tam  
#2 Posted : Monday, June 14, 2010 4:45:17 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Phù Hiệu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Quân Huy Việt Nam Cộng Hòa
UserPostedImage UserPostedImage
Bộ Tổng Tham Mưu - Cục Công Binh
UserPostedImage UserPostedImage
Cục Mai Dịch - Cục Quân cụ
UserPostedImage UserPostedImage
Cục Quân Nhu - Cục Quân Nhu 2
UserPostedImage UserPostedImage
Cục Quân Y - Cục Truyền Tin
UserPostedImage UserPostedImage
Bộ Tư Lệnh Quân Khu - Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị
UserPostedImage UserPostedImage
Địa Phương Quân - Nhảy Dù
UserPostedImage UserPostedImage
Nha Động Viên - Nha Động Viên 2
UserPostedImage UserPostedImage
Nha Hành Chánh Tài Chánh - Hành Chánh Tài Chánh
UserPostedImage UserPostedImage
Nha Quân Pháp - Bộ Tư Lệnh Không Quân
UserPostedImage UserPostedImage
Hải Quân - Thủy Quân Lục Chiến
UserPostedImage UserPostedImage
Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt - Võ Khoa Thủ Đức
UserPostedImage UserPostedImage
Nha Kỹ Thuật - - Tổng Quản Trị
UserPostedImage UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
havi  
#3 Posted : Monday, June 14, 2010 9:27:38 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage



Viên đạn cuối cùng
Bảo Định

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái.

Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt.
Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”.

Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy.

Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì).

“Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.


Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh.

Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao!


Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng!

Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam công khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm.

Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện.

Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò. Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền.

Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.


UserPostedImage



UserPostedImage






Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon.

Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm.

Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:
- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển.

Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.
- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội.

Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.
- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng.
Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.
- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì.
Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này.

Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.
Một chiếc xe Lam chạy qua.

Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:
- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách.

Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràng đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy.
Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!



UserPostedImage


UserPostedImage
nhat-tam  
#4 Posted : Tuesday, June 15, 2010 6:15:12 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA
UserPostedImage

UserPostedImage

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

UserPostedImage

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

UserPostedImage

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

UserPostedImage

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

UserPostedImage

Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

UserPostedImage

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

UserPostedImage

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.

Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.

Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

UserPostedImage

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?

Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.

Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.

UserPostedImage Người lính VNCH được huấn luyện để gìn giữ quê làng, chống quân thù cộng sản, nhưng người lính luôn luôn có tấm lòng nhân ái, yêu qúy nhân dân VN.

Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?

Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

UserPostedImage Tuần Dương Hạm (WHEC - White High Endurance Cutter)

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.

Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

UserPostedImage
UserPostedImage

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.

Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.

Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi (Tô Thùy Yên)


Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?

Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

UserPostedImage Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An

nhat-tam  
#5 Posted : Tuesday, June 15, 2010 8:33:50 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)

UserPostedImage Ngày Quân Lực: Vinh danh Đoàn Nữ Quân Nhân/ QLVNCH

UserPostedImage Ðoàn Nữ Quân Nhân

Trong những năm chiến trường VN sôi động, hàng hàng lớp lớp thanh niên đáp lời sông núi, lên đường nhập ngũ. Bên cạnh những chàng trai kiêu hùng cũng có hằng ngàn thiếu nữ, mang trong tim dịng máu hùng anh, bất khuất của Nhị Vị Trưng Vương, của Bà Triệu… đã tình nguyện gia nhập vào Đoàn Nữ Quân Nhân của QLVNCH.

Sau 30 Tháng Tư, 1975, cùng chung thân phận của các quân nhân trong QLVNCH, các chị em Nữ Quân Nhân cũng tan hàng, người bị kẹt lại VN phải đi tù cải tạo, kẻ vượt biên chôn mình trong biển cả, rừng sâu hay phiêu dạt bốn phương trời.

Mặc dầu với quân số khá đông, gần 6000, trong đó có 600 sĩ quan, Đoàn Nữ Quân Nhân đã góp phần tích cực trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lăng, tuy nhiên nhiều người có một ý niệm rất mù mờ về vai trị của người Nữ Quân Nhân trong Quân Lực VNCH. Có người nghĩ sự hiện diện của các chị em chỉ là những bông hoa để tơ điểm cho Quân Đội thêm tươi mát.

Sự thực thì, cứ mỗi một thiếu nữ gia nhập vào Đoàn Nữ Quân Nhân, thì một nam quân nhân ở hậu phương được thuyên chuyển ra chiến đấu ở tiền tuyến. Các chị em nữ quân nhân đã được huấn luyện thành những chuyên viên để thay thế nam quân nhân, hoàn tất nhiệm vụ một cách tốt đẹp, yểm trợ hữu hiệu ở hậu phương.

Mặc dầu nữ quân nhân không tác chiến hiểm nguy như những nam quân nhân ngồi mặt trận, nhưng xương máu của các chị em cũng thấm đẩm trong lịng đất mẹ qua những chuyến công tác liên tỉnh, liên vùng, bị giật mìn, bị pháo kích, bị bắn rớt phi cơ…Trong Nghĩa Trang Quân Đội có mộ của Hồ Thu Hương, của Ngọc Sương, của Thiếu Uý Quỳnh Hoa… Và người chị cả của Gia Đình Nữ Quân Nhân là Cố Đại Tá Trần Cẩm Hương đã bị đi tù cải tạo mười năm. Sau khi được trả tự do, bà tiếp tục bị đày đọa và đã từ giả chị em, về cõi vĩnh hằng năm 1986

Trong hai lãnh vực Y Tế và Xã Hội, người NQN không phải chỉ đòi hỏi khả năng chuyên môn mà phải có một tấm lòng thiết tha với tình người và đất nước. Trong ngành Y tế, các chị em làm công việc của một “Nữ cứu thương”, đem bàn tay và trái tim nhân ái của mình ra hàn gắn, xoa dịu phần nào nỗi khổ đau của chiến tranh, thể hiện trên thân thể của người lính chiến - những anh em Thương Phế Binh. Các chị em là những “ Thiên thần áo trắng” .

Trong ngành Xã Hội, các chị em không phải chỉ lo những vòng hoa chiến thắng và những gói quà ngày xuân …mà họ là những người thật sự giúp đỡ gia đình để người lính an lòng chiến đấu ngồi mặt trận. Trong lúc người lính đi hành quân xa nhà , gần như bất cứ việc gì vợ con cần giúp đỡ, họ đều đến Phòng Xã Hội, từ việc đưa trẻ con đi khám ở bệnh xá cho đến việc học hành của trẻ con lớp mẫu giáo, có nhiều việc cần giúp trong các trại gia binh.

Khi người lính bị thương được tải về một bệnh viện ở xa, trong lúc nằm trên giường bệnh, ai giúp họ liên lạc với đơn vị, người vợ làm sao đi thăm chồng, ăn ở đâu lúc xa nhà, làm sao lãnh lương của chồng, ai lo phương tiện cho người thương binh trở về đơn vị cũ? Ai giúp chôn cất những tử sĩ chưa có người thân nhận… mọi việc được hoàn tất tốt đẹp bởi bàn tay và tâm huyết phục vụ của người Nữ Trợ Tá Xã Hội.

Trong những trận đánh lớn, xác tử sĩ được chuyển thẳng về Quân Y Viện hay Nghĩa Trang Quân Đội . Nữ Trợ Tá Xã Hội là người giúp các quả phụ nhận diện xác chồng, liên lạc với phòng Tuyên Úy mời vị lãnh đạo tinh thần đến làm lễ, quấn lên đầu trẻ mồ côi những vành khăn tang, lắng nghe lời khóc than của người quả phụ, chia sẻ nỗi đau, dìu đỡ những bà mẹ tiễn con tới nơi an nghĩ cuối cùng…

Dưới cái nắng thiêu đốt của miền nhiệt đới, nhiều xác tử sĩ chưa có thân nhân đến nhận, xình chương, hơi thối không thể tưởng và người Nữ Trợ Tá Xã Hội phụ với các nam quân nhân lo chôn cất. Làm việc ngày này qua ngày khác trong cái môi trường nặc nồng ám khí …người Nữ Trợ Tá Xã Hội trong Quân Lực VNCH phải là những người rất nặng tình với đất nước và chiến sĩ. Họ là những “Thiên thần áo xanh”, đã đem bàn tay bé nhỏ và trái tim dào dạt tình người ra phục vụ đất nước, quê hương.

Tưởng cũng nên nhắc sơ qua về sự hình thành của Đoàn Nữ Quân Nhân trong QLVNCH. Theo lời của Cố Trung Tá Hồ Thị Vẻ, từ năm 1950 ở Miền Trung, quân đội địa phương có Việt Binh Đoàn Trung Việt, Bộ Tham Mưu đặt tại Huế. Ở đây người ta thu nhận nữ nhân viên làm việc, và đồng hĩa với nam quân nhân.

Tổng số những nữ nhân viên này có khoảng vài trăm, họ làm việc trong các văn phòng như thư ký, đánh máy, kế tốn, y tá trong quân y viện…Năm 1952 Ban Nữ Phụ Tá Bộ Tổng Tham Mưu được thành lập do một Nữ Sĩ Quan Pháp Melle Arlette Arnaud và Chuẩn Uý Nguyễn Thị Hằng là người đặt nền móng cho Đoàn Nữ Phụ Tá, trực thuộc Phòng Nhất Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Sau đó có rất đông phụ nữ được tuyển mộ vào phục vụ trong các văn phòng Tham Mưu, Ban, Ngành và các Cơ Quan trong Quân Đội Miền Nam kể cả Bộ Tư Lệnh Không Quân và Hải Quân.

Đoàn Nữ Phụ Tá gồm các ngành :

1. Tham Mưu: Thư ký, đả tự viên.
2. Quân Y: Y tá và các chuyên viên khác trong ngành
3. Truyền Tin: Tổng Đài viên điện thoại, viễn ấn tự viên, mật mã viên..
4. Quân Nhu: gấp và sửa chữa dù, kế tốn quân trang quân dụng .
5. Xã Hội: Cán sự và Nữ Trợ Tá Xã Hội.

Trong ngành Quân Nhu, một số NQN sửa chữa dù được huấn luyện nhảy dù nếu muốn, để tham gia những phi vụ nhảy dù biểu diễn tại các vùng chiến thuật.

Về ngành Xã Hội, người đầu tiên được mời làm Sở Xã Hội Quân Đội là Bà Trần Cẩm Hương, Cán sự Xã Hội từ Dòng Nữ Tu Saint Vincent de Paul. Sau này có nhiều cán sự xã hội đựơc đào tạo từ trường Cán Sự Xã Hội Caritas ở đường Tú Xương.

Từ Tháng 10, 1959 Nha Xã Hội được phép tổ chức khố Sĩ Quan Xã Hội Quân Đội , thời gian thụ huấn là hai năm rưỡi. Các ứng viên phải có bằng Tú Tài và khi tốt nghiệp được mang cấp bậc Chuẫn Úy và được bổ nhiệm chức vụ Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn.

Đến 1965 chiến tranh leo thang, cần thêm quân số nên Bộ Quốc Phòng cho thành lập Đoàn Nữ Quân Nhân để tuyển phụ nữ vào quân đội, thay thế nam quân nhân ở hậu phương. Sau đó Nữ Phụ Tá được sáp nhập vào Đoàn Nữ Quân Nhân. Văn Phòng Trưởng Đoàn và Trung Tâm Huấn Luyện NQN được đặt tại đường Nguyễn Văn Thoại, ranh giới Quận 10 – 11 Saigon và dưới sự chỉ huy của Bộ TTM/QLVNCH.

Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Trung Tâm Huấn Luyện/NQN đầu tiên là Thiếu Tá Trần Cẩm Hương. Trung tâm Huấn luyện NQN đảm nhận việc tuyển mộ phụ nữ từ 18 tuổi trở lên. NQN được huấn luyện căn bản quân sự, tổ chức quân đội, cơ bản thao diễn… học chút ít về vũ khí ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung .

Tùy theo nhu cầu, các nữ quân nhân được huấn luyện chuyên mơn tại các trường Tổng Quản Trị, Quân Y, Hành Chánh Tài Chánh, Quân Nhu, Xã Hội …Về sĩ quan Nữ Quân Nhân, Trung Tâm Huấn Luyện NQN đã đào tạo được bảy khóa. Bốn khóa căn bản sĩ quan Nữ Điều Dưỡng cho Không Quân và Hai khóa sĩ quan cho ngành Cảnh Sát .

Một số sĩ quan căn bản và cao cấp NQN được huấn luyện ở Hoa Kỳ như ở Fort Mc Clellan, Alabama; khóa Dân Sự Vụ ở Fort Gordon, Georgia; Khóa Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị ở Foprt Bragg, North Carolina; Tổng Quản Trị tại Fort Benjamin Harrison, Indiana.

Trong cuộc chiến chống CS xâm lăng , Đoàn Nữ Quân Nhân đã không tạo được những chiến tích vẻ vang, lẫy lừng ngoài mặt trận, nhưng các chị em là thành phần hỗ trợ tích cực ở hậu phương, rất xứng đáng và hãnh diện mình là con cháu của hai Bà Trưng, Bà Triệu, đã góp phần không nhỏ trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lăng, đã tô thắm màu cờ và làm vẻ vang những trang sử oai hùng của dân tộc Việt.
Tuyết Mai
coffeebean  
#6 Posted : Tuesday, June 15, 2010 5:17:23 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Vài hình ảnh về đạo quân thầm lặng ... đoàn quân Biệt Kích


The Lost Commandos Vietnam
[img]UserPostedImage[/img]



TOAN BIET HAI SON TRA DA NANG VIET NAM
[img]UserPostedImage[/img]


Nhay Du Hoang Hoa Tham
[img]UserPostedImage[/img]


Nhung Canh Hoa Du
[img]UserPostedImage[/img]

[img]UserPostedImage[/img]

Toan Biet Hai
[img]UserPostedImage[/img]


Toan Cong Tac Dac Biet / SO LIEN LAC / NKT / XAM NHAP LAO AND NORTH VIET
[img]UserPostedImage[/img]



TOAN HAC LONG DOAN 72 NKT HUE/ CENTRAL VIETNAM 1972
[img]UserPostedImage[/img]



Mission to North Vietnam Sea
[img]UserPostedImage[/img]


Team Extraction from Laos / Toan Triet Xuat cong tac LAO
img]UserPostedImage[img]


SOG SEAL COMMANDO
[img]UserPostedImage[/img]
havi  
#7 Posted : Wednesday, June 16, 2010 5:35:54 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

Hình ảnh người Lính chiến Việt Nam trong thi ca Tác giả : Nguyên Trần

Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
(Chinh phụ ngâm khúc-Đoàn thị Điểm)



UserPostedImage


Từ ngàn xưa, người lính đã biểu tượng cho một cuộc sống hiểm nguy khổ nhọc, phải đêm ngày dãi nắng dầm sương, xông pha nơi lằn tên mủi đạn để gìn giữ an ninh và bảo vệ giang sơn bờ cõi. Trong tinh thần tri ơn người lính, người viết xin ghi lại những vần thơ, lời nhạc viết về lính trải qua ba thời kỳ theo chiều dài lịch sử dân tộc: Thời xưa, Thời chống Pháp và Thời Cộng Hòa.
1) Người lính thời xa xưa:

Lúc bấy giờ, kỹ nghệ máy móc chưa phát triển, phương tiện chuyển vận còn phôi thai thì đời sống người lính phải vất vả trăm chiều. Sống dưới chế độ phong kiến, người dân mà còn phải lận đận lao đao với bao nhiêu sưu dịch thuế khóa thì đời lính càng khốn đốn hơn nhiều. Cứ nhìn hình ảnh " Lính thú đời xưa" thì biết ngay:
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những dang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng (Trấn thủ lưu đồn)


Ở cái thời chưa có phương tiện liên lạc thông tin bưu điện, internet… mà người lính phải đóng đồn trên mạn ngược nên tin tức biền biệt lại không có nhạn đưa thư thì kể như ngàn đời xa nhau, thế cho nên người lính đã không ngăn được giòng lệ khi chia tay:
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón đấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng đánh trống ngũ liên
Chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa (Lính thú đời xưa)


Người lính phải rày đây mai đó hy sinh mạng sống để gìn giữ an bình cho đất nước:
Lệnh vua hành quân, trống kêu dồn, quan với quân lên đường (Hòn Vọng Phu1- Lê Thương)

Đời lính phải đánh Nam dẹp Bắc, ngoài chống ngoại xâm, trong ngăn giặc rợ thì ra đi khó hẹn được ngày về:
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn
(Chinh phụ ngâm khúc)


Hoặc là:
Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về ( Hòn Vọng Phu 1- Lê Thương)

Thản hoặc có may mắn trở về thì chỉ là:
Phận trai già ruổi chiến trường
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về
( Chinh phụ ngâm khúc)




Nhưng những người vợ lính tiết hạnh chờ chồng dù rằng:
Thôi đừng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ
những người mang mệnh biệt ly (Hòn Vọng Phu 2-Ai xuôi vạn lý-Lê Thương)



UserPostedImage


Đã có biết bao người đàn bà lặn lội gieo neo nuôi con chờ chồng đang chinh chiến miền xa, chờ đợi mõi mòn rồi hoá đá như Hòn Vọng Phu:
Nơi phía Nam nơi núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ (Hòn Vọng Phu 3- Lê Thương)



Cuộc đời người lính thú thời quân chủ phong kiến cơ cực bần hàn rồi tới lúc quân Pháp xâm chiếm thì họ lại ở vào thế gươm đao chống lại súng ống nên càng dễ chết hơn.

2) Người lính thời kháng Pháp:


UserPostedImage


Năm Đinh Hợi 1887, Đồng Khánh niên hiệu thứ hai, sau khi chiếm Việt Nam, Pháp chính thức chỉ định ông De Constant làm Tổng Đốc Toàn Quyền Đông Dương thì một số lính thú đã đầu quân theo những anh hùng yêu nước chống Pháp (xin nhắc lại là yêu nước chớ không phải yêu xã hội chủ nghĩa đâu nhé) như: Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Nguyễn Tường Tam… kéo theo nhiều thanh niên Việt Nam cùng nhất tề đứng lên chống lại thực dân Pháp để dành độc lập cho quê hương xứ sở. Đa số các văn nghệ sỹ cũng hăng hái tham gia phong trào tạo nên lúc ban đầu, khí thế bừng bừng tình yêu nước. Điển hình nhất là bài hát "Tiếng gọi thanh niên" của Lưu Hữu Phước đã giục giả bao thanh niên yêu nước lên đường đấu tranh chống Pháp:
Nầy thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi đi đi mở đường khai lối


Bài hát nầy sau đổi lời lại thành bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa.

Bài "Lên đàng" cũng của Lưu Hữu Phước cũng được phổ biến sâu rộng trong giới sinh viên học sinh thời bấy giờ
Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đường kiếm nguồn tươi sáng
Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông từ đây ra sức anh tài

Ngoài ra Lưu Hữu Phước cũng sáng tác bài " Khúc khải hoàn" rất kích động niềm tự hào dân tộc: "dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao …"


Tôi còn nhớ Sài Gòn vào đầu thập niên 50 có nhật báo "Dân Ta" của ký giả Nguyễn Vỹ đã chạy logo (giống như en tête) nguyên câu hát trên ngay đầu tựa báo .


UserPostedImage


Tiếp theo đó, Phạm Duy với bài "Xuất quân" thật hùng tráng như réo gọi mọi người ào ạt xung phong:
Ngày bao hùng binh tiến lên!
Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành. Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành


Rồi cũng Phạm Duy tiếp nối theo tiếng gọi núi sông với những lời hát đằng đằng khí thế và âm điệu bừng bừng dồn dập:
Một mùa Thu năm xưa, cách mạng tiến ra nước Việt
Bừng ngàn tiếng thanh niên tung gông phá xiềng
Đoàn người trai ra đi miệng hô lớn
Quyết chiến! Quyết chiến! Chân oai nghiêm đều tiến

Đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta ta cứ cày đợi ngày
Ngày mai bao ấm no, diệt xong quân Pháp kia, cười vang ta hát câu tự do (Nhạc tuổi xanh)


Thừa thắng xông lên, Phạm Duy viết một ca khúc mà lời ca sắt máu:
Một đoàn người trai hiên ngang, mang trên vai nợ máu xương, vui ra đi không buồn tiếc thương

Ngày nào phơi xác nhớ không? Thây rơi mênh mông trên khắp phố phường
Thân ôm tường, đầu gục đầu. Ai trên đường người nhuộm máu Thây rơi trong đêm khuya lấp chiến hào
( Khởi hành)


Văn Cao cũng góp phần vào dòng nhạc đấu tranh chống Pháp mà sau nầy trở thành bài quốc ca của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Áo quần bán trước cửa nhà bán sau):
Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa (Tiến quân ca)


Bài hát nầy, tôi nhớ thời đó có người nhại lại là:
Đoàn quân Việt Minh đi trong rừng núi khuất
Thấy xe tăng thiết giáp quân Tây tràn lan
Cờ tam sắc phất phới đi đàng trước
Súng cà nông mi trây dết đi đàng sau


Văn Cao cũng ca ngợi những những người lính anh hùng vì nước quên mình:
Bao kiếm mã lên đường, lạnh lùng vung gươm ra sa trường
Quân xung phong! Nước non đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng muôn đời
(Chiến sĩ Việt Nam)


Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ cũng viết một bản nhạc đấu tranh nhưng âm điệu nhẹ nhàng réo rắt:
Trong đêm thâu quanh ánh lửa hồng dưới ngàn cây xanh lá
Anh em ta quây quần chốn nầy cất cao muôn lời ca
Đêm hôm nay ta nắm tay nhau ta hát cho quên sầu
Mai ra đi không chút vấn vương, chiến trường kia tranh đấu
Và tài trai chí bốn phương một lòng quyết lên đường
Lửa bùng lên tí tách reo như gợi mối căm hờn
(Quanh lửa hồng)


Riêng về dòng thơ thời kháng Pháp thì có nhiều bật thức giả chí sĩ anh hùng chủ trương dành độc lập qua đường lối ôn hòa đứng đắn (giống như thánh Gandhi bên Ấn Độ), canh tân xứ sở với phong trào Duy Tân mà tiêu biểu nhất là hai cụ Phan Bội Châu và Phan châu Trinh.

Cụ Phan Bội Châu hô hào đồng bào dấn thân vào công cuộc đấu tranh cho đất nước không màn nguy nan:
Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp
Bao nhiêu gian hiểm sá gì đâu
(Tự Vịnh)


Cụ cũng vận động thanh niên đứng lên đấu tranh:
Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Soi máu nóng để rửa vết dơ nô lệ
Mới thế nầy là mới hỡi chư quân
Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân (Chúc Tết thanh niên)


Cụ Phan Bội Châu còn hung đúc tinh thần kẻ sĩ bằng cách bảo rằng vận nước lâm nguy là một thử thách đấng anh hùng:
Giả sử tiền đồ tận di thản
Anh hùng hào kiệt giã dụng thường

Dịch:
Nếu phải đường đời bằng phẳng hết Anh hùng hào kiệt có hơn ai


Cụ Phan Châu Trinh cũng khích động lòng yêu nước của những người trai nước Việt sớm ra tay cứu vớt non sông:
Làm trai quyết gánh gánh gian nan
Dám nại xa xôi bỏ giữa đàng
(Cảm tác)


Cụ còn kêu gọi mọi người yêu nước nhất là giới sĩ tử hãy gát bút lên đường hi sinh cho quê hương:
Cuộc đời ngoảnh lại vắng không
Giang sơn nào khóc anh hùng được đâu
Cường quyền dậm đạp mái đầu
Văn chương tám vế say câu mơ màng
(Chí thành thông thánh)


Nhà thơ Quang Dũng cũng đứng lên đáp lời sông núi để vùng lên chống ngoại xâm qua lời thơ đầy cảm xúc rung động:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi (Tây Tiến)


Nhà thơ sau đó vì không chịu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa nên bị trù giập và chết trong thảm thương đói khổ.

Hữu Loan tác giả bài thơ bất tử " Màu tím hoa sim"thì cũng đã hy sinh tình yêu của cô vợ trẻ mới cưới Lê Đỗ thị Ninh để lên đường thi hành nhiệm vụ người trai thời ly loạn:
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi


Nhưng định mệnh tàn nhẫn đã giết người vợ hậu phương trên dòng sông oan nghiệt:
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em gái nhỏ hậu phương



UserPostedImage Bút tích "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan


Và chính bài thơ nầy mà Cộng Sản đã dìm cả thi tài nhà thơ Hữu Loan xuống bờ vực thẳm vì "đầy tính tiểu tư sản phản động"

Cuộc chiến chống thực dân Pháp đang trên đà bừng bừng khí thế với hàng hàng lớp lớp người con yêu của mẹ Việt Nam noi gương tiền nhân liều thân đấu tranh để dành độc lập cho quê hương thì năm 1945, Việt Minh đã lộ bộ mặt thật là tay sai Cộng Sản Quốc Tế, đã hợp tác với kẻ thù thực dân để tiêu diệt những thành phần quốc gia yêu nước chân chính, đưa cuộc chiến chống Pháp đến khúc quanh mới và đưa đất nước Việt Nam vào quỹ đạo Cộng Sản với bản tuyên ngôn độc lập dõm mà Hồ Chí Minh tuyên đọc tại Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945. Những chiến sĩ quốc gia bây giờ phải ở trận tuyến vừa đối đầu với Việt Minh vừa kháng Pháp cho tới ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Genève ra đời, Pháp rút khỏi Việt Nam và đất nước chính thức bị chia đôi ngay vĩ tuyến 17 với lằn ranh là con sông Bến Hải: miền Bắc theo chế độ Cộng Sản tức là Việt Cộng và miền Nam theo chế độ tự do, mở màn cho cuộc chiến giữa Tự Do và Cộng Sản hay gọi ngắn gọn là cuộc chiến Quốc Cộng. Và cũng từ đó cuộc di cư vĩ đại của hơn 1 triệu đồng bào miền Bắc vào Nam tìm tự do cùng góp phần vào công cuộc đấu tranh chung dưới lá cờ tự do nhân bản.
3) Người lính Cộng Hòa:

Có thể nói cuộc chiến Quốc Cộng 1954-1975 là cả một thiên anh hùng ca đầy vinh quang và xúc động của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Đã có không biết bao văn thơ nhạc đề cao cuộc chiến đấu anh dũng và nhân bản cũng như những cuộc tình lãng mạn thơ mộng của người lính. Đó cũng là thời kỳ những đóa hoa thơ nhạc chinh chiến nở rộ ca ngợi vinh danh những người trai thế hệ đã bỏ lại đàng sau những cuộc vui tuổi trẻ, những ước vọng thanh xuân để dấn thân vào vòng lửa đạn bảo vệ quê hương thân yêu.

Biết bao "chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" đã phải từ giã mối tình thơ mộng học trò, từ giã mái trường thân yêu để lên đường chinh chiến:
Từ đó tình yêu cũng đổi ngôi
Con chim thời nhỏ đã tung trời
Ta rời xóm học vào sương gió
Chuyện cũ tình xưa cũng pha phôi (Nhặt cỏ sân trường-Mường Giang)


Đời lính ngoài việc số mệnh ngàn cân treo sợi tóc còn rất nhiều gian khổ phong sương, tuy vậy người chiến binh vẫn phấn đấu vượt qua hết để giữ yên tay súng:
Bốn chuyến di hành ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây ngắm bóng mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic (Chiến tranh và tôi-Nguyễn Bắc Sơn)


Để rồi một ngày, người lính hát khúc hoan ca trở về thành phố với chiến thắng vinh quang cho người dân hậu phương và bao thiếu nữ xuân thì:
Chiến y làm hồng má hây hây
Mắt đa tình gợn suối tóc bay bay
(Chiến y làm đẹp phố phường-Lệ Khánh. Em là gái trời bắt xấu)


Có biết bao người lính Cộng Hòa chúng ta đã ra đi mà không hẹn ngày trở lại vì:
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
(Lương Châu Từ - Vương Hàn)
(Say khướt chiến trường xin chớ nhạo Xưa nay chinh chiến mấy ai về)



Mà nếu chàng có về thì đôi khi là:
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá (Kỷ vật cho em - Linh Phương)



hoặc vào một buổi hoàng hôn ảm đạm âm u:
Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vả chít khăn sô vĩnh biệt (Kỷ vật cho em - Linh Phương)



UserPostedImage


Để cho người góa phụ trẻ còn đang còn đang trong tuổi mơ yêu phải:
Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy hiển linh bây giờ
(Tưởng như còn người yêu- Lê thị Ý)


Và người góa phụ trẻ đau khổ nhìn chồng được vinh thăng:
Em không nhìn được xác chàng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
(Tưởng như còn người yêu-Lê thị Ý)


Chiến tranh là mất mác chia ly cho bao nhiêu dân lành bất hạnh, cho nên ngày tàn cuộc chiến là hình ảnh đau thương tang tóc:
Quê hương khói lửa cay nồng
Quê hương sau trận chiến đồng cỏ xanh
(Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa- Lê thị Ý)


Cuộc chiến phi nhân do Việt Cộng phát động theo lệnh quan thầy Nga Hoa đã kết thúc trong bi thảm nhục nhằn của miền Nam theo thế cờ quốc tế. Đó đây vang dội những lời kêu than bi thiết:
Mẹ ơi con mẹ chưa già
Giữ quê quê mất, dựng nhà nhà tan (Hà Huyền Chi)


Và làm còm cỏi héo hắt thêm cho những bà mẹ ngóng tin con:
Chiến trận nghe tàn đã bảy măm
Trai đi chiến trận vẫn mù tăm
Mẹ già lảng đảng ngoài sân lạnh
Không biết tìm ai để hỏi thăm (Viên Linh)



UserPostedImage


Riêng về nhạc lính thì có thể nói là không biết cơ man nào kể cho hết, chắc là hơn phân nửa dòng nhạc từ năm 1954 tới 1975 đã viết cho lính: gương hy sinh kiêu hùng, mối tình đẹp, đời sống gian khổ phiêu bạt…

Đời lính bắt đầu từ những thông báo của làng nước kêu gọi thanh niên từ khắp mọi nơi đứng lên đáp lời sông núi:
Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng nước non đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống
(Bức tâm thư- Lam Phương)




Chàng trai đã giã từ người yêu, xóm làng để tòng chinh diệt giặc:
Tôi tiễn anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều lắm
Mưa thắm ướt vai gầy, mưa giá buốt con tim
Mình cầm tay nhau, chưa nói hết một câu
Thôi đừng buồn anh nhé! Tiếng còi đã ngân dài (Một người đi – Mai Châu)



UserPostedImage


UserPostedImage


Ra đi nhưng chàng trai vẫn không quên nhắn nhủ bạn bè thân tình còn ở lại là chàng chỉ về khi quê hương sạch bóng quân thù:
Rồi đây mai nầy ai hỏi đến tên tôi
Bạn ơi! Hãy nói khoác chiến y rồi
Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
Giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
Có về là khi nước non vui bình yên
(Biệt kinh kỳ-Minh Kỳ)


Vào quân trường với phút đầu bỡ ngỡ nhưng sau đó chàng trai đã quen đi với nếp sống "thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu". Sau thời gian huấn nhục, chàng tân binh mong chờ người đẹp đến thăm:
Hôm nay ngày chúa nhật, vườn Tao Ngộ, em đến thăm anh
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi
(Vườn Tao Ngộ- Nhật Hà)




UserPostedImage


Mặc cho nhiều gian khổ quân trường, những chàng trai sẽ đi về nơi gió cát vẫn hiên ngang tự hào nối gót cha ông bảo vệ giang sơn:
Ta là đoàn sinh viên xếp bút nghiên
Đi theo tiếng gọi của non sông
Ngày ta đi lệ thắm khăn hồng
Ngày ta đi là mẹ chờ mong
(Sinh viên Thủ Đức hành khúc)



UserPostedImage


Sau khi tốt nghiệp, những người lính hào hùng tung đi khắp bốn phương trời. Người thì vổ cánh chim bằng để bảo vệ vùng trời quê hương:
Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khỏi nhưng kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vuợt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng (Không Quân Hành Khúc)


Có chàng thì theo những đoàn tàu chiến thỏa mộng hải hồ giữ yên vùng sông biển:
Thân phơi trên Nam băng dương
Nước xanh hồn Thái Bình Dương
Ra khơi sóng vang dạt dào
Mênh mông sóng va thân tàu (Hải Quân Việt Nam)



UserPostedImage

Nhưng đa số đều in gót chân trên khắp nẽo đường quê hương để lùng diệt giặc:
Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh tung sương lướt gió reo vang
(Lục Quân Hành Khúc)


Những chàng trai lính tuy rất anh hùng dũng cảm trên chiến trường nhưng trên tình trường, chàng cũng lãng mạn đa tình hào hoa một mực:
Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm
Là tình riêng trong lòng anh yêu em
Có lúc muốn lấy hoa rừng
Anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời
Kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giàu
Mà chắc không nghèo tình yêu
(Lính đa tình - Y Vân)


Và còn gì lãng mạn hơn là:
Nếu em không là người yêu của lính
Ai sẽ đón em chủ nhật trời xinh
Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
Và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng
(Người yêu của lính - Trần Thiện Thanh)




UserPostedImage


Cũng vô cùng tình tứ:
Nếu vắng anh ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió
Nếu vắng anh ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố
Nếu vắng anh ai đón em khi tan trường về
(Nếu vắng anh-Anh Bằng)

Và cũng vì cái tính đào hoa hào hùng nên lính được nhiều người đẹp yêu mến:
Dù cho sông kia quên bến cũ
Bóng chinh nhân không phai mờ cõi lòng
Dù cho non cao hay suối vắng
Tim em theo cùng (Mơ người lính chiến - Mai Sơn)


Và mơ ước lứa đôi:
Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ
Ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa
Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em
Trong khi vang ca say theo chiến trường
(Chiến sĩ của lòng em-Trịnh văn Ngân)


Đời lính cũng có những vui buồn dễ thương nhưng cũng đau hơn hoạn là sau thời gian dài vắng nhà nên đã xin phép cuối tuần về gặp người yêu hay vợ trẻ đang phơi phới xuân tình. Chàng đã lau chùi súng ống, nạp đạn sẵn sàng để chuẩn bị kích hỏa thì mồ tổ thằng Việt Cộng mò về quấy phá xóm làng làm vị chỉ huy trưởng ra … lệnh cấm trại 100%. Xin các bạn nghĩ xem trên đời có cái gì đau khổ hơn không? Thà chết sướng hơn. Và bọn Việt Cộng thật là tội ác ngút trời:
Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Người yêu anh ơi ! Chiều nay lại cấm trại rồi
Nào đâu nào biết tâm tư đời lính
Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau
Với em tâm tình (100% - Vũ Chương)


Có những cuộc hành quân kéo dài cả hai, ba tuần lễ thế nên trong khi chờ xe đưa về hậu cứ nghỉ ngơi, người lính đã vội viết thư cho người yêu:
Sau ngày hành quân, anh về vui trong chiến thắng
Súng còn mang vai đã viết thư cho người yêu
Em ơi ! Thư vắn hơn tình
Xin em đừng buồn, xin em đừng hờn
Chớ bảo không thèm, không đọc thư anh
(Sau ngày hành quân-Lê Dinh)


UserPostedImage


Người lính chiến đã ra đi biền biệt thân, dãi dầu sương gió nơi tiền đồn heo hút để người em hậu phương mòn mỏi nhớ thương đợi chờ cho đến lúc nàng vì tình yêu người trai thời chinh chiến đã lặn lội vào nơi địa đầu giới tuyến để thăm chàng:
Em đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài trời mưa lê thê qua ngàn chốn sơn khê (Mấy dặm sơn khê- Nguyễn văn Đông)


Cũng có lúc ngồi gác giặc mà người lính mơ ước ngày về với kết nối duyên thề:
Chiến tuyến người trai ôm súng ước mơ
Rủ chinh y trọn ước với câu thề
Theo lối về thôn cũ đường thắm hoa
Gió trăng lạnh tình không phai niềm nhớ
(Mấy độ thu về-Minh Kỳ)


Khi người lính trở về thành phố thăm người yêu thì mặc cho mưa gió mịt mờ trời đất, họ vẫn quấn quít bên nhau để bù lại những ngày xa cách nhớ nhung và chạy đua với những giờ phép phù du mong manh :
Hôm mình đi ciné về mưa nhiều
Áo dài xanh bên áo trắng hoa biển
Anh che cho em đừng làm ướt áo
Anh quen rồi mưa gió " lính mà em" (Lính mà em-Anh Thy)


Thời gian về phép của người lính rất quý báu, nó được tính từng giờ vì "tân thú bất như viễn quy" cơ mà:
Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại anh cho em tất cả em ơi!
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời
(Hai mươi bốn giờ phép-Trúc Phương)


Cũng có lúc vì những bất thường vô định trong đơn vị, người lính đã phải lỗi hẹn với người yêu để nàng khắc khoải đợi chờ:
Chinh chiến nên anh cuối tuần không đến
Một lần xa cách trăm vạn lần thương
Gục đầu nghe tiếng tình yêu dỗi hờn
Những chiều không anh đến tìm
Thương dài từng bước cô đơn (Nếu đời không có anh- Hoàng Trang)


Lênh đênh giữa sóng nước đại dương, chàng lính thủy nhìn những con sóng trắng xóa bạt ngàn rồi tưởng chừng một loài hoa biển tặng người yêu:
Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm
Em ơi! Tình mình trắng như hoa đại dương (Hoa biển-Anh Thy)


Có người lính phi công bay lượn trên không gian để trút bom xuống đầu địch nhìn ra không gian bao la bỗng thấy mây trời kết thành màu tuyết trắng ngần mà nhớ tới người yêu:
Vượt cao vút cao mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần
Tuyết ơi! Xin nhuộm trắng tâm hồn em gái nhỏ tôi yêu
(Tuyết trắng- Trần Thiện Thanh)


Người lính chiến dù gian nguy khổ nhọc vẫn giữ được bản chất hào hoa nghệ sĩ của mình:
Để rồi một năm nơi biên cương dấn bước thân trên sa trường
Ngày thì tìm vui bên chiếc súng khi đêm anh vui với đàn
(Chiều hành quân - Lam Phương)



UserPostedImage


UserPostedImage

Người lính Việt Nam Cộng Hòa đã đặt chân trên từng tấc đất quê hương để lùng diệt địch, từ cao nguyên đèo heo hút gió, miền Trung khô cằn sỏi đá cho tới vùng sình lầy Hậu Giang đâu đâu cũng thấy hình ảnh người lính chiến kiêu hùng đáng yêu:
Giờ nầy anh ở đâu? Pleiku gió núi biên thùy
Giờ nầy anh ở đâu? Miền Trung hỏa tuyến địa đầu
Giờ nầy anh ở đâu?Cà Mau tiếng sét u minh rừng (Giờ nầy anh ở đâu- Khánh Băng)


Nhưng cho dù anh ở đâu thì người hậu phương vẫn yêu thương anh với tất cả tấm lòng trang trọng:
Dù rằng anh ở đâu anh ở đâu vẫn yêu anh hoài vẫn yêu anh hoài
Yêu suốt đời (Giờ nầy anh ở đâu - Trần Thiện Thanh)


Có chàng trai để lỡ một cuôc tình rồi sau một thời gian giong ruổi chinh y trở về gặp lại cố nhân giờ đã tay bế tay bồng:
Mộng đời còn có đêm nay ta hò hẹn ôn lại chuyện chúng mình
Đời tôi đã bao năm gió sương gót chân in chiến trường
Làm quen với đêm canh gió lộng, với mưa khuya núi rừng (Chuyện chúng mình- Trúc Phương)


Cũng đôi khi có chuyện trớ trêu là người lính chiến trên đường hành quân với cái chết rình rập nhưng chàng lại an bình để nhận được hung tin là người yêu đã ra đi:
Nhưng không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ phương xa
Một đêm buồn có gió đông qua
(Chuyện tình Mộng Thường-Trần Thiện Thanh)


Có lẽ đối với lính, mùa Xuân là mùa buồn nhất. Theo truyền thống thiêng liêng của dân tộc, Tết là thời gian sum họp gia đình, dù ai bôn ba xuôi ngược nơi xa xăm nào thì ba ngày Tết cũng phải cố sắp xếp mà về quay quần với những người thân yêu. Người lính chẳng những không có cái hạnh phúc vui vầy đó mà lại càng phải vất vả khổ nhọc hơn trong sứ mạng bảo vệ an ninh xóm làng cho mọi người đón Xuân. Có nhiều lúc, từ tiền đồn nơi...

UserPostedImage
nhat-tam  
#8 Posted : Wednesday, June 16, 2010 8:23:38 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
UserPostedImage Trần Thiện Thanh & Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
Có thể nói từ sau 1975, chưa có một nhạc sĩ nào mà nhạc phẩm được trình diễn cũng như thu băng nhiều bằng nhạc sĩ Nhật Trường . Những bài hát nồng nàn khi nghe giữa lòng quê hương khói lửa quen thuộc như hơi thở của chính mình lại là những bài hát ngậm ngùi nhất khi nghe lại ở xứ người .
Những bài hát nói về những địa danh, những anh hùng ta đã bỏ lại sau lưng đồi Charlie, nấm mồ không tên của ông Nguyễn Đình Bảo . Chiều Trên Phá Tam Giang anh chợt nhớ đến em, niềm nhớ ôi bất tận, người con gái trong giảng đường, những Người Yêu Của Lính, nếu em không là người yêu của lính, ai sẽ đón em khi tan trường về, khi em dỗi hờn ai kể chuyện đời lính em nghe... Những bài hát nhắc cho chúng ta nhớ một thời khói lửa với những ngày phép qua nhanh, những lá thư tiền đồn, những mùa Xuân cắm trại xa nhà, với những gian khổ của các anh lính VNCH... Những bài hát vẽ lại cho chúng ta thời chiến tranh đang đốt cháy những phần đất trên quê hương, nhưng con người chưa tuyệt vọng, tình người chưa suy đồi như bây giờ . Vì ít ra ngày đó, miền Nam còn có vũ khí trong tay, còn được trực diện chiến đấu, còn có nắng mưa đi về, còn có trong nhau một tình yêu vội vã, những xa cách, giận hờn . Tuổi đời của các anh cũng như cuộc chiến đã qua đi, nhưng những bài hát của Nhật Trường còn ở lại .Những sợi tóc xanh giờ đã bạc màu, nhưng những câu hát của ông còn âm vang . Đời sống chúng ta bây giờ, những sáng hối hả đi, những chiều hối hả về, xa lộ xứ người, nhưng hôm nào tình cờ mở nhạc mà nghe được :
Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em
Nhớ ơi là nhớ đến bất tận, em ơi, em ơi!
Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Giờ này thành phố chợt bừng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
Ôi, Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghiêm
Ôi, Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghjiêm
Ôi, em tôi, Sài Gòn không buổi tối
Giờ này thành phố chợt bừng lên
Em dòng lệ bất giác chảy tuôn
Nghĩ tới một điều em không rõ
Nghĩ tới một điều em sợ không giám nghĩ
Đến một người đi giữa chiến tranh Rồi nghĩ tới anh, nghĩ tới anh, nghĩ tới anh ...
(Chiều Trên Phá Tam Giang)
Những bài hát vẽ lại cho chúng ta thời chiến tranh đang đốt cháy những phần đất trên quê hương, nhưng con người chưa tuyệt vọng, tình người chưa suy đồi

Tôi biết, không phải mình tôi nghĩ về tôi biết, không phải mình tôi nghĩ về Nhật Trường mà tất cả mọi người trong chúng ta ai ai cũng có những giấy phút nghĩ đến người nhạc sĩ với những nét nhạc nồng nàn nhất của chiến tranh Việt Nam.
Khi ở Việt Nam, tôi còn là một cô bé chưa đủ tuổi để yêu nên tôi thích nghe những loại nhạc trẻ nhiều hơn. Tôi cũng thích nghe nhạc của Phạm Duy, Từ Công Phụng, Nguyễn Văn Đông và Trần Thiện Thanh . Nhưng lối thưởng thức nhạc của tôi lúc ấy rất khác với bây giờ . Những lúc rảnh rỗi tôi đã bỏ hàng giờ nằm trong căn phòng thật im lặng nghe những băng nhạc mới có, cũ có ... Nhưng chỉ có những bản nhạc ca ngợi hay nói về tình yêu của người lính VNCH mà tôi đã gặp, đã được nhìn thấy hình ảnh qua những cuốn phim thời sự . Những người lính trông thật khắc khổ, lẻ loi, dọc theo những quốc lộ, bìa rừng của vùng cao nguyên xa xôi hiểm trở . Những lần dừng chân họ đã nằm, ngồi rải rác bên những gốc thông trên một khu đồi rộng, và hành trang là một cây súng, ba lô lỉnh kỉnh, những nồi chảo móp méo, nét mặt mệt mỏi, bơ phờ, chịu đựng của họ ... Khiến tôi cảm động và xót xa cho những người lính và nuối tiếc cho sự hy sinh của họ, nuối tiếc quê hương nơi đó có biết bao nhiều anh hùng đã vì nước quên mình... và có những lúc tôi ao ước làm được một cái gì đó cho quê hương quá ư là đoạ đày của chúng ta.
Tôi thấy những tình khúc lính của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác rất hay, và rất ư là tình tứ . Tôi nghĩ chỉ có nhạc của Trần Thiện Thanh mới diễn tả được tất cả những ưu tư, những ước muốn của một đời lính . Tôi thích nhất bản Biển Mặn vì trong đó tôi cảm nhận tình quê hương, tình yêu đôi lứa chan hoà trong đó :

Người yêu tôi, tôi mới quen mà thôi
Lúc dừng chân trên vùng vừa tiếp thu
Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài
Gió lên từng chiều nàng xoả tóc trên biển xanh .
Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa
Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây
Bảo yêu ạnh, em muốn chuyện đôi mình như màu xanh biển tình trong chiều xinh rất xinh..
.


Cùng với những nhạc sĩ như Duy Khánh, Phạm Thế Mỹ, Anh Việt Thu...V...V...V .nhạc sĩ Nhật Trường đã tạo nên thế hệ âm nhạc Việt Nam vào thời chiến tranh tiêu biểu cho con người Việt Nam không cộng sản sống ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Khói lửa chiến tranh ngút ngàn nhưng vẫn không tiêu diệt được đạo đức, luân lý và tình yêu, tình yêu gia đình . Trong khi đó, cộng sản không thể đào tạo được một nhạc sĩ có sức sáng tạo mãnh liệt, đa dạng như nhạc sĩ Nhật Trường . Những khi gia đình quây quần xum họp hay bạn bè gặp mặt tôi thường hay hát, vui vui trong lòng thì hát : Tuyết Trắng, Bảy Ngày Đợi Mong, Khi Người Yêu Tôi Khóc, Không Bao Giờ Ngăn Cách. Hay hơn nữa là " Hoa Trinh Nữ" . Bài hát với lời ca ngô nghê, dễ thương như một người lính trẻ, nhập ngũ tòng quân khi mới 18 tuổi . Mang trong lòng hình ảnh của cô bé học trò hàng xóm khi lên đường hành quân. Nhưng ai cấm được lòng của anh lính trẻ :

Xưa thật là xưa nhớ mấy cho vừa nhớ mẹ kể đêm mưa
Có ông vua trẻ, xuất binh qua vùng dẹp quân xâm lấn
Khi vua kéo quân về tình cơ gặp một giai nhân
Vua xao xuyến tâm hồn truyền nàng vào chốn hoàng cung
Truyền cho khắp nhân gian đem lụa là đến cho nàng
Trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp như ánh sao.

Tôi không phải là vua nên mộng ước thật bình thường
Như yêu một loài hoa trên vùng đá sỏi buồn phiền
Loài hoa không hương không sắc màu
Nhưng loài hoa biết khép lá ngây thơ
Tôi không phải là vua nên nào biết đến xa hoa
Không ngọc ngà kiệu hoa, không nệm gấm không cung son
Tôi chỉ là người lính xa nhà Thấy hoa nhớ người thương rất xa...

Ông và các bạn của ông, những nhạc sĩ đã làm thành một nền âm nhạc Nhân Bản, Tự Do, Phong Phú bất tử của Việt Nam đang thắng trận đánh sau cùng, dù có bị ngăn cấm, dù có bị cố tình xoá bỏ thì những giòng nhạc của ông sẽ sống mãi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam

Tôi thật cảm phục tài làm nhạc đi giữa hai lằn ranh nghệ thuật và tuyên truyền giữa thời chiến tranh như những nhạc sĩ viết nhạc quê hương ở trên. Trong đó có nhạc sĩ Nhật Trường và những tình khúc về lính của ông . Nhưng cả nước ta thời đó, từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, mọi người cùng nghe : Người Yêu Của Lính, Khi Người Yêu Tôi Khóc, Nỗi Buồn Thanh Trúc, Bảy Ngày Đợi Mong ... mà có mấy ai cảm thấy chút nào đó là nhạc tuyên truyền làm theo chỉ thị của chính phủ để kêu gọi các các anh trai nhập ngũ tòng quân diệt cộng . Mà ngược lại chỉ thấy "nó" dễ thương quá trời, quá đất, cái xã hội miền Nam thời đó . Chỉ biết có bảy ngày ngồi chờ người yêu đi lính mà không thấy về thì có người dỗi, khóc và quên mất tiêu rằng ai đang băng gió sương cho em đợi chờ và giữa chốn muôn trùng, ai sẽ viết tên em trên tay súng ...
Có thể nói nhạc của Nhật Trường lên đến tuyệt đỉnh cùng với cường độ của chiến tranh. Vào những năm cuối cùng của cuộc chiến, lời của những bài hát như :

Anh, Anh. Hỡi anh ở lại Charlie
Anh, Anh. Hỡi anh là loài chim quý
Ôi! Cánh chim trùng khơi vạn lý
Một lần vỗ cánh bay
Là cánh Dù mang nhiều tiếc thương, vô cùng
Anh, Anh. Nhớ anh trời làm cơn bão
Anh, Anh. Tiếc anh chiều rừng thay áo ...
Ngày anh đi, anh đi từ tổ ấm
Anh ơi! Địa danh nào thiếu dấu chân anh
Ôi, Đam Be, Dakto, Kreck, Snuon
Trưa Khe Sanh, gió mù, đêm hạ Lào thức sâu
Cũng anh vừa ở lại một mình . Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành ...

Hay :
Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương
Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu
Nghe trong đêm kêu gào, từng tiếng súng pháo đếm mau
Từng tiếng súng, tiếng súng như nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi
Ôi! đất mát trên đồi xanh, tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Đâu cánh Dù ôm gió, đây cánh Dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia
Lẻ loi, tiếng súng anh nhiệm màu
Ôi, tiếng súng sau cùng đó Anh còn nghe tầm đạn đi không anh ?
(Anh Không Chết Đâu Anh)

Anh, không chết đâu anh...

Vâng, đó là những gì tôi muốn nói với "Anh" và những giọt nuớc mắt cùng với máu đang làm loạn mạch đời trong trái tim tôi ... với tâm tư riêng mang qua những giòng nhạc của ông, đã đốt sáng tâm thức tôi và của những người miền Nam về chính nghĩa quốc gia sáng ngời . Và bây giờ ở hải ngoại, tất cả những cuộc hội họp văn nghệ chống cộng đều vang lên tiếng nhạc của nhạc sĩ Nhật Trường , 31 năm sau ngày chiến tranh khói lửa kết thúc nhưng cuộc chiến tương tàn chống chế độ độc tài đảng trị cộng sản vẫn còn tiêp tục, trong khi những bài hát của miền Bắc như : Nằm Mắc Võng Trên đường Trường Sơn đã đi vào quên lãng, hát lại thì "tây cũng phải phì cười " thì những bài hát của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ vẫn vang vang khắp trong và ngoài nước Việt Nam . Do đó, tuy thân xác ông không còn nữa nhưng ở trên mây cao, trên rất cao ông đang mỉm cười . Bởi vì ông biết, ông và các bạn của ông, những nhạc sĩ đã làm thành một nền âm nhạc Nhân Bản, Tự Do, Phong Phú bất tử của Việt Nam đang thắng trận đánh sau cùng, dù có bị ngăn cấm, dù có bị cố tình xoá bỏ thì những giòng nhạc của ông sẽ sống mãi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam . Sẽ có ngày, người dân nuớc Việt được nghe những giòng nhạc dễ thương như :

Anh sẽ vì em làm thơ tình ái
Anh sẽ giăng mây kết thành lâu đài
.....
Em ơi, lâu đài tình ái đó, sẽ không có trên trần gian
Anh đưa em vào bằng tiếng hát , ghép đôi cánh nhung thiên thần
Em ơi, lâu đài tình ái ấy, sáng trong ánh tinh cầu xa
Cho nên, cho dù ngàn năm qua lòng vẫn mơ hồn hoa.
Anh ghép lầu hoa bằng thơ tình ái
Cho mắt em xinh đến tận muôn đời
Hoàng hậu về cao sang quyền quý
Đẹp nụ cười quân vương vừa ý
Và lầu đài mang tên tình ái Đón hai đứa chúng ta mà thôi ...
(Lâu Đài Tình Ái)

Sẽ có một ngày người dân nước Việt không còn phải hoá câm nữa . Mà họ sẽ hát vang những cà khúc bất tử của nhạc Việt, trong đó chắc chắn sẽ có rất nhiều bài hát của nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh .

oOo
Có Những Người Anh
Tác giả: Võ Đức Hảo
Trình bày: Khúc Mưa Thu

Có những người anh tôi chưa biết tên
Tha thiết cuộc đời đôi môi thắm duyên
Quê hương trong khói lửa mùa chinh chiến
Quên tình yêu riêng xong pha chiến tuyến

Có những người anh tôi quen đã lâu
Năm tháng kề nhau chia bao khổ đau
Thôn quê xa vắng hôm nào biệt ly
Không ngại ngùng đi trong ánh nắng đào

Các anh là nguồn thơ vô song
Các anh là tình thương mênh mông
Là muôn tiếc ca vang vang tận cõi lòng
Là trong tiếng chim vui líu lo ngoài sân

Các anh là vầng mây muôn phương
Các anh là niềm vui quê hương
Là tia nắng mai reo trên vạn nẻo đường
Là cơn gió mang hương thơm tận ngàn phương

Anh hỡi người trai đi trong gió sương
Lưu luyến gì không khi xa cố hương
Non sông hoa gấm đang chờ nơi anh
Mang về vinh quang tự do no ấm
Ðâu những mùa xuân hoa khoe sắc tươi
Ðâu những mùa thu nghe lá úa rơi
Yêu sông yêu núi tươi cười ra đi Anh là người tôi thương mến muôn đời

Như Hạ
nhat-tam  
#9 Posted : Wednesday, June 16, 2010 9:08:27 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt
UserPostedImage
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về. (Ca Dao)

Vâng, đó là truyền thống của người Việt chúng ta từ xưa đến nay. Hể mỗi độ Xuân về là mọi người đều muốn sum họp với cha mẹ, gia đình con cái và bạn bè quyến thuộc nói chung để cùng vui Tết, cho dù suốt năm phải xa gia đình vì sinh kế. Tuy nhiên vẫn có những người gánh chịu nhiều thiệt thòi, phải dầm sương, ngủ ở ven rừng, bờ suối để trấn thủ biên thùy. Họ chỉ hưởng được chút hương vị Tết qua những món quà do thân nhân gởi đến, thiếu hẳn cái không khí Tết giống như ở hậu phương, thiếu hẳn tiếng trống tiếng kèn rộn ràng, không có những màn múa Lân ngoạn mục v.v…

Nhưng họ là ai? Họ chính là những người lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những người đã anh dũng chiến đấu trong suốt gần 21 năm để bảo vệ miền Nam tự do, từ 1954 cho đến khi bị thượng cấp ra lệnh bắt buộc buông súng đầu hàng cuối tháng 4.1975. Có nhiều người đã nằm xuống hay đã chết trong các trại tù được mệnh danh là “trại cải tạo". Cũng có nhiều người còn sống, đang hiện diện trên đất mẹ hoặc đang định cư tại một đệ tam quốc gia nào đó trên thế giới.

Để tri ơn những người lính VNCH nói trên, còn sống cũng như đã chết, người viết xin phóng tác một số bản nhạc viết về “Xuân và Người Lính” thành bài tạp ghi này để kính tặng tất cả những người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền Nam VN cho đến ngày 30.04.1975, cũng như vinh danh sự hy sinh cao cả của những chiến binh đã nằm xuống cho chúng ta được sống.

Trước khi chính thức đi vào chủ đề của bài tạp ghi, người viết xin được mượn bài hát sau đây để giới thiệu đến quý độc giả là người lính VNCH tuy rất anh hùng, rất sắt đá trên chiến trường nhưng họ cũng là con người, là những chàng trai trẻ nên con tim của họ cũng chất chứa nhiều tình cảm, cũng biết rung rộng và vì tình yêu quê hương đất nước nên họ sẳn sàng hy sinh tình cảm riêng tư để lên đường theo tiếng gọi non sông. Tình cảm của những người lính được thể hiện rõ nét qua tác phẩm rất sôi động của Nhạc sĩ Y Vân:
Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng
anh yêu em ...

Có lúc muốn lấy hoa rừng, anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời, kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giầu, mà chắc không nghèo tình yêu...
Tình Lính (Y Vân)

Có thể nói, khi đề cập đến hay bàn về chiến tranh, hầu như ai trong chúng ta đều chán ngán. Nhưng hoàn cảnh đẩy đưa vì cộng sản Bắc Việt (csBV) luôn nuôi tham vọng thôn tính miền Nam nên mới gây ra cảnh chinh chiến. Nếu nhà ai nấy ở, kẻ Bắc người Nam, mạnh ai nấy lo thì làm gì có chuyện đổ máu xảy ra, theo ý tôi. Sau nhiều mùa Xuân tương đối thanh bình đi qua thì phải nói Tết Mậu Thân 1968 là cái Tết mà dân miền Nam VN không bao giờ quên được, nhất là dân xứ Huế. CsBV đã xem thường hiệp ước đình chiến trong ba ngày Tết, lợi dụng sự tin cậy của dân miền Nam và lợi dụng cơ hội biên thùy bị bỏ ngõ và các tiền đồn của các tỉnh hay thị xã không được canh gác cẩn thận như xưa nay vì binh sĩ VNCH các cấp được nghỉ phép về quê ăn Tết với gia đình vợ con, csBV đã ra lệnh tổng tấn công, tràn về thành phố đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Chúng đã dày nát nhiều tỉnh lị của miền Nam, nhẫn tâm giết hại không biết bao nhiêu người dân vô tội gây tang thương cho biết bao gia đình trong khi mọi người đang vui mừng đón Xuân.

Chiến chinh từ xưa đến nay, dầu xảy ra bất cứ ở đâu đều gây nên nhiều đau khổ, tang tóc. Chuyện cha xa con, vợ xa chồng, gia đình ly tán là chuyện không thể tránh được. Bên cạnh những mất mát về vật lực cũng như tài lực, người dân và nhất là những người lính trận chẳng những đã hy sinh máu huyết của mình, đã bị tổn thương và trở thành phế binh mà đôi khi còn phải bỏ mạng để cho bà con, thân nhân và đồng hương được sống. Vì thế mơ ước quê hương thanh bình là ước mơ của mọi người, từ quân cán chính cho tới phó thường dân, học trò… Nhạc sĩ Hoài Linh và Tấn An đã mượn lời ca tiếng hát chuyển đạt nỗi niềm của những chàng trai khóat áo chiến y vừa mới từ biên cương trở về thăm người yêu ở hậu phương với lời cầu chúc đầu năm chân thành, rất nồng nàn:
Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
ngày mồng hai chúc cho lứa đôi mình
Và mồng ba anh chúc cho đôi mắt em xinh,
Má em hồng cho nét Xuân mãi trong lòng anh.
Từ ngoài biên anh vừa về đến, đôi lời trìu-mến chân thành chúc em ...
Đầu Xuân xin chúc quê hương yên bình thành đô đến nơi đồng xanh, Ý lành nước non vươn màu xanh mới đón Xuân thắm trong niềm vui
.
Đầu Xuân Lính Chúc (Hoài Linh - Tấn An)

Ước mong quê hương không còn chiến tranh cũng là tâm trạng của cố nhạc sĩ đa tài Trần Thiện Thanh (TTT). Nhưng sự mong ước của nhạc sĩ TTT, một nhạc sĩ thuộc ngành tâm lý chiến dù, không ủy mỵ và ru ngủ như đã được thể hiện qua một số nhạc sĩ phản chiến thân cộng thời bấy giờ. Trần Thiện Thanh tế nhị hơn khi diễn tả tâm trạng mình, tâm trạng của một người lính VNCH. Anh đã nhẹ nhàng thố lộ cùng người yêu:
Hẹn em khi khắp nơi yên vui
Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình
Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai
Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang
(Đồn Vắng Chiều Xuân)

Trong khi mọi người ở hậu phương, từ thôn quê đến thành phố đang chờ đón nàng Xuân, đang đợi Giao Thừa về để đốt pháo mừng năm mới về thì có rất nhiều người lính trận của quân đội VNCH không có được diễm phúc này. Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã mượn lời nhạc phát hoạ nên một khung cảnh buồn, đơn lẻ mà khi tiếng hát được cất lên chúng ta không thể nào quên được hình ảnh người lính đang đồn trú nơi rừng sâu giữa lúc quê hương còn chinh chiến:
Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi
Phiên Gác Đêm Xuân (Nguyễn văn Đông)

Vì hoàn cảnh, bạn bè có kẻ phải lên đường làm bổn phận người trai thời loạn, người thì may mắn được ở lại hậu phương nhưng chiến tranh vẫn luôn hiện hữu trong tâm cảm của hầu hết mọi người dân miền Nam Việt Nam nói riêng. Tâm trạng đó đã được Hoài Linh diễn tả như sau:
Tôi đón xuân giữa lúc còn chiến chinh
Chúc mừng xuân bên ly rượu hành trình
Chúc người trai đi xây dựng hòa bình Để cho đất nước vui trọn mùa xuân thắm xinh
(Tâm Sự Ngày Xuân - Hoài Linh)

Thời gian qua đi không chờ đợi. Đông qua và mùa Xuân lại trở về. Tình cảm của những người ở hậu phương dành cho những anh lính chiến ngoài miền biên cương lúc nào cũng đong đầy. Tâm cảm này đã được Lê Dinh và Minh Kỳ khéo léo diễn đạt qua bản nhạc rất trữ tình:
Thấm thoát là đây . . . một mùa Xuân mới . . . với ngàn cánh mai vàng
Nụ cười trên môi . . . trên làn má ai . . . đón Xuân tươi vừa sang …

Xuân nay tôi chúc . . . người miền biên cương . . . muôn ngàn câu mến thuơng
Mong Xuân yên lành . . . trong bao hương tình Để rồi người thêm vui . . . cuộc sống thanh bình
(Hạnh Phúc Đầu Xuân của Lê Dinh - Minh Kỳ)

Tình thương mẹ con trong xã hội Việt chúng ta rất đậm đà thắm thiết. Bất cứ ở đâu, dù đang sống xa nhà hay đang trấn đóng ngoài biên thùy, ven rừng, người con lúc nào cũng nghĩ đến gia đình, đặc biệt nghĩ rất nhiều đến mẹ, có lẽ vì từ nhỏ được mẹ bồng bế, nâng niu. Lắm khi ôn lại quá khứ thanh bình ngày nào, để rồi tiếc thương và thầm mơ mau có ngày hội ngộ cùng mẹ hiền. Nhật Ngân đã dùng lời nhạc để diễn đạt thay tâm trạng của những chàng trai hùng thời chiến chinh như sau:
Đêm nay núi rừng gió nhẹ sang xuân
Thoáng mùi mai nở đâu đây
Nghe lòng lạc loài chơi vơi
Khi xưa, những ngày binh lửa chưa sang
Bếp hồng quây quần bên nhau
Nghe Mẹ kể chuyện đời xưa
Mẹ ơi con hứa con sẽ trở về
Dù cho, dù cho xuân đã đi qua
Dù cho én từng bầy bay về ngàn
Dẫu gì rồi con cũng về Chỉ bên Mẹ là mùa xuân thôi
Mùa Xuân Của Mẹ (của nhạc sĩ Nhật Ngân)

Nhưng éo le cũng không thiếu. Vì hoàn cảnh nên vợ chồng chia cách. Còn đâu những giây phút đầm ấm, gần gủi bên nhau ngày nào … để rồi giờ đây trong cảnh cô đơn, người vợ (người yêu) đã ôn lại hình ảnh đẹp thuở nào với chồng (với người tình) lúc đất nước còn an lành:
Nhớ xuân sang năm nào,
bên bếp lửa vui, ngồi đan áo cho anh
đôi mắt anh dịu buồn, nói anh sẽ về
khi máu xương ngừng rơi.
Để giờ mình em và manh áo xám trên tay
Dù rằng ngoài kia vang tiếng pháo đón giao thừa
Bánh chưng rất xanh, với hoa cúc vàng mà ngỡ là giấc mơ thanh bình.
Đan Áo Mùa Xuân (Phạm Thế Mỹ)

Kẻ ở lại buồn đơn côi, luyến tiếc kỷ niệm. Người ra đi cũng chẳng khác gì hơn. Chúng ta hãy nghe những người lính VNCH đã để con tim mình rung động:
Tôi đến đơn vị lại đi, nhọc hơi đâu đếm mỏi tháng ngày
Khi cánh dù mang tin lại những cánh thư xinh hậu tuyến
Tôi ngẩn ngơ biết mùa Xuân sang ...
Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai Những lá khô rơi suốt năm dài như trong một chiều lòng tôi biết yêu ai.
(Mùa Xuân Lá Khô của Ns Trần thiện Thanh)

Dầu vậy người trai Việt vẫn ngạo nghễ chấp nhận định mệnh đã dành riêng cho mình trong thời buổi loạn ly với sự kiêu hảnh đáng khâm phục:
Quê hương trong thời đau thương
Mùa Xuân chia ly là thường
bao nhiêu khổ nhục tủi hờn
Hát lên nhân loại, Trả buồn cho đông.
(Mùa Xuân Trên Cao của Ns Trầm Tử Thiêng)

Họ, những người lính VNCH luôn làm tròn bổn phận làm trai, chấp nhận gian khổ. Tuy vậy người lính vẫn có vài phút giây để tâm hồn bay bỗng với những thương nhớ khó quên:
Đầu xuân năm đó anh ra đi
Mùa xuân này đến anh chưa về
Những hôm vừa xong phiên gác chiều
Ven rừng kín hoa mai vàng Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ.
(Đồn Vắng Đầu Xuân của Ns Trần Thiện Thanh)

Xuân về, Tết đến là dịp để thân nhân, họ hàng hay những cặp tình nhân gặp gỡ, đoàn tụ nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, trước 30.4.1975 đã có biết bao nhiêu người lính thiếu hẳn diễm phúc này. Họ đã thi hành bổn phận người trai thời chiến để trấn giữ biên thùy, bảo vệ an ninh cho đồng bào ở hậu phương an lòng hưởng Tết. Dầu vậy, người lính Việt Nam Cộng Hoà chẳng buồn lòng, dù cho tâm trạng của họ lúc nào cũng nhớ nàng Xuân. Họ vẫn hy sinh, kiên trì nhất định:
Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẻ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà Mẹ thương con xin đợi ngày mai...
(Xuân này con không về của NS Trịnh Lâm Ngân)

Người lính VNCH rày đây mai đó, tung hoành khắp 4 vùng chiến thuật. Khi được nghỉ phép, trở về mong tìm gặp lại nàng Xuân, người yêu nhưng định mệnh nghiệt ngả làm họ chỉ còn biết tiếc thương mùa Xuân nào đã đi qua. Hãy nghe Nhạc sĩ Châu Kỳ bộc lộ:
Bước sông hồ như đắm như mơ
Trở về đây khi gió sang mùa
Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ Có ngờ đâu Xuân vắng người thơ
(Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa của Ns Châu-Kỳ)

Ước nguyện của mọi người: dân, quân, cán, chính là mong đất nước Việt Nam sớm thanh bình, không còn chinh chiến, một cuộc chiến công tâm mà nói là do Cs Bắc Việt chủ trương vì chúng luôn nuôi tham vọng chiếm trọn miền Nam, điều mà cộng sản đã đạt được vào cuối tháng tư 1975. Nhạc sĩ Minh Kỳ qua nhạc phẩm “Cánh Thiệp Ðầu Xuân" đã diễn tả ước mơ thầm kín, cầu mong sao cho khói lửa đi qua nhanh trên đất mẹ để mọi người, nhất là người lính VNCH có cơ hội được về sống gần gia đình, bạn bè thân thuộc và hưởng một cái Tết đúng nghĩa:
Tôi chúc muôn người mọi đều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình
Tìm vui bên lửa ấm
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên
(Cánh Thiệp Đầu Xuân của Ns Minh Kỳ)

Nhiều nhạc sĩ, nhất là những nhạc sĩ tâm lý chiến (một ngành mà CS rất sợ nên trả thù không nương tay những chiến sĩ này sau tháng 4.1975), đã sáng tác những bài ca rất giá trị viết về đời lính và người lính VNCH, sáng tác nhạc Xuân, đặc biệt những bản nhạc viết về Tết và người lính VNCH, gắn liền với sự hy sinh cao cả của họ trước 30.4.1975 lo trấn thủ biên cương để bảo vệ cho người dân ở hậu phương được hưởng những mùa Xuân, tháng năm an bình. Còn rất nhiều bản nhạc khác đã được sáng tác với chủ đề này nhưng tôi chỉ trích dẫn vài bản nhạc “Xuân, viết về người lính VNCH" tiêu biểu kê trên. Rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ nói lên tình cảm, tình yêu quê hương nồng nàn và cuộc đời đầy gian khổ và sự hy sinh cao cả của người lính VNCH đối với người Việt tại miền Nam VN trước 30.04.1975, nói riêng…

Người miền Nam và những người lính VNCH tuy đã nằm xuống nhưng không hề uổng phí vì chính qua những mất mát đó đã cho chúng ta hiễu rằng sự tự do không phải tự nhiên mà có. Tự do đã được trả với một giá rất đắt, chẳng những bằng máu và nước mắt, đôi khi ngay cả bằng mạng sống. Điều này đã được minh chứng qua lịch sử của nhân loại và cũng nhờ sự hy sinh cao cả của những người lính VNCH mà người dân miền Nam Việt Nam (NVN) đã được hưởng ít nhiều tự do trong hơn 20 năm, cho đến ngày NVN bị cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm.
• Lê Hoàng Thanh

coffeebean  
#10 Posted : Friday, June 18, 2010 5:38:23 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Cuộc chiến đã tàn ! mà nghiệt ngã, đau thương lại càng chồng chất, quê hương mình chưa có được một ngày vui thì hiểm hoạ đất nước rơi vào vòng nô lệ không chỉ còn trong sách sử... Nhớ người chinh chiến năm xưa, quên thân mình an dân giữ nước ... họ không bị lừa gạt phỉnh phờ bởi một thứ chủ thuyết lai căng, sắt máu không tưởng nào đó mà tàn phá non sông, oan mạng dân lành... Họ là những người trai trẻ rời mái nhà êm ấm, ngôi trường mến thương mong giữ quê để có một ngày về thanh bình hoan ca, non nước một nhà ... Họ là người lính mang hồn Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo, của hịch Bình Ngô Đại Cáo, của nhân bản, tự do, dân tộc ... quyết "Đem nhân nghĩa, thắng hung tàn. Lấy chí nhân thay cường bạo"
Không phải mỗi năm đến ngày này lại vôi vã nhớ người năm xưa ... Người lính VNCH vẫn còn mãi trong lòng dân Việt, trong từng ngày khi đất nước còn đau.


người lính đi giữa muôn dân
UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage
ngoài kia bom đạn thét gào
hồn nhiên mắt thỏ em nào biết lo



UserPostedImage


em bé bơ vơ và người lính trẻ xa nhà

UserPostedImage


lính va dân

UserPostedImage



UserPostedImage



canh giữ thôn làng

UserPostedImage


lính và hướng đạo sinh

UserPostedImage


UserPostedImage


coffeebean  
#11 Posted : Saturday, June 19, 2010 2:28:58 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Người Lính Nhân Bản


UserPostedImage
Em bé vừa được anh lính trẻ đỡ lên bên cạnh người me đã ... không còn nữa để chăm sóc băng bó.



UserPostedImage
Đây là nơi giao tranh, đạn bay trái nổ có thể lọt vào bất cứ lúc nào, đâu phải là nơi an toàn? mà người dân vẫn tìm về ẩn náu ... vì ở đâu có các anh là ở đấy được bình yên che chở ... Đâu phải như vùng Đồng Nai, Long Khánh, Võ Đắc và nhiều tỉnh ven đô khác lúc tháng 3, tháng 4, 1975 giặc bắt đồng bào chạy giặc cột xich chân họ quanh các bệ pháo hoả tiễn để các oanh tạc cơ ngỡ ngàng, ngần ngừ không nỡ thả bom diệt hoả tiễn vì sợ chết đồng bào ... và chỉ cần ít phút giây lưỡng lự đủ để họ bắn rơi cánh chim bằng và ung dung nả hoả tiễn vào bất cứ mục tiêu nào trong đô thị


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
Người đẹp gan guoá đi thôi!
Dù rằng người đẹp là vợ hiền, bất ngờ này làm anh ... chỉ biết cười trong hạnh phúc, ghì chặt dây đeo súng đứng nghiêm không nhúc nhích



UserPostedImage
Hẹn em khi khắp nơi yên vui. Mùa xuân ngày ấy riêng đôi mình (Bi giờ thì vẫn còn thằng cu Tý với thằng bạn rất ... hồn nhiên đứng đây)



UserPostedImage
Ước ngày nao quê hương tàn chinh chiến cho tơ duyên đượm thắm màu


UserPostedImage
Theo em xuống phố trưa nay. Thêm thằng cu Tý loay hoay ...




coffeebean  
#12 Posted : Saturday, June 19, 2010 4:56:09 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Người Chiến Sĩ Vô Danh


XUẤT QUÂN http://www.youtube.com/watch?v=IHZZPQGIJDM

LỤC QUÂN HÀNH KHÚC http://www.youtube.com/watch?v=J98GSe8ms7I

ANH ĐI CHIẾN DỊCH http://www.youtube.com/watch?v=UKazkPZuTjc


UserPostedImage


CỜ BAY TRÊN CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ http://www.youtube.com/watch?v=Sq1yJl_lcTc


UserPostedImage



CHIỀU BIÊN KHU http://www.youtube.com/watch?v=xjEEU2Ip1dQ

UserPostedImage


CHIẾN SĨ VÔ DANH http://www.youtube.com/watch?v=std0ktl6q6c

UserPostedImage
[img]




coffeebean  
#13 Posted : Saturday, June 19, 2010 5:25:15 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Có tấm hình này ... ngộ ... lắm
Lúc đang lò mò tìm hình vừa post mấy bữa nay, lang thang làm sao mà thấy được nó ...
coffee bean không cạo sửa gì hết chỉ biết copy nguyên con thôi !



UserPostedImage


Bác Xich lô ơi! Bác đâu rồi ?
Năm chàng hào kiệt ! nhẹ như chơi.
Tối về, kiếm tí gừng với muối
Tẩm quất đôi chân ... mai chở ... mười
coffeebean  
#14 Posted : Wednesday, June 23, 2010 2:41:21 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
TẤM HÌNH THẬT ĐẸP

UserPostedImage

Em lửa binh lưu lạc
Anh chinh chiến xa nhà
Chiều quê hương đổ nát
Kể nhau niềm xót xa
Trong mắt em ngơ ngác
Nỗi đau, ôi ! thơ dại !
Sao niềm tin vẫn ngời !
Cho lòng anh se thắt
Thôi! bé lau nước mắt
Anh sẽ đưa em về
Nơi vòng tay của mẹ
Bên nếp nhà êm vui
Để mắt em mãi cười
Tựa ngàn sao lấp lánh
Dõi những bước quân hành
Đêm quê hương hoang lạnh


AI ĐI NGOÀI SƯƠNG GIÓ [FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/etmFOH6I_n[/FLASH]


Hôm nao nhìn lá úa, rụng lác đác bên song
Mây trôi về viễn xứ, gợi tiếc nhớ bâng khuâng
Thương ai ngoài sương gió vì đất nước quê hương
Ra đi chốn sa trường, vui kiếp phong sương

Thương ai vì non nước, đời lính chiến gian lao
Đêm đêm nhìn tay súng, lòng nghĩ đến mai sau
Thương ai vì sông núi, mà khoác lấy chinh y
Thương ai mãi thương ai

Thương ai! đã thuong ai rồi
Dù tháng năm dần trôi, dù lá hoa tàn phai
Lòng vẫn nhớ thương ai!
Thương ai! mãi mãi thương ai.
Như gió vẫn thương trăng, như bướm vẫn thương hoa
Thương ai vẫn thương ai hoài.

Thương ai lòng mong ước, ngày đất nước yên vui
Mênh mang tình non nước, đường lối cũ trăng soi
Anh đi về nơi ấy, tìm những phút vui xưa
Thương ai vẫn thương hoài, muôn kiếp không phai

Anh đi về nơi ấy, tìm những phút vui xưa
Trông nhau mà không nóí, lòng hết thấy bơ vơ
Anh đi về nơi ấy, tìm hình bóng em thơ
Thương ai mãi thương ai.



coffeebean  
#15 Posted : Thursday, July 29, 2010 2:11:56 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Nhân kỳ Đại Nhạc Hội: "Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH kỳ 4" cuối tuần này tại Orange County. Mời các bạn đọc bài viết này. Sỡ dĩ đặt vô đây thay vì vào mục TTAsia News "Đại nhạc hội cám ơn anh ..." vì coffee bean nghĩ họ vẫn là những người lính ... Hơn nữa vì trong bài này có mấy câu rất cảm động

"xin cho tôi được gửi tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát, “You are my hero”.

"Bởi vì cuối cùng, trong cuộc đời này, không có điều gì anh hùng, và cao thượng hơn là hy sinh bản thân mình cho những người khác được quyền sống.

"Trong mắt tôi, mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những người trai anh hùng một thời đã chọn cho mình con đường đi và sống đích thực có ý nghĩa nhất.

Nên đặt vào đây: Cám ơn anh, người chiến sĩ vô danh"
Không dè người viết lá thơ này có suy nghĩ giông giống mình

link của bài viết
http://www.danchimviet.com/archives/9117


CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI THƯƠNG BINH PHAN THẾ DUYỆT


Vào năm 2003 trong một chương trình giới thiệu hoạt động của hội “compassion” tại San Jose, California USA, ngay sau khi phát thanh lần thứ nhất, nhiều thính giả đã gọi vào thể hiện tâm tình họ dành cho câu chuyện thật đặc biệt, câu chuyện về một thương phế binh VNCH đang sống trong hoàn cảnh hết sức cô đơn tại một làng quê xa cách chốn phồn hoa đô hội… Câu chuyện có chút đau thương nhưng cũng lại có nhiều thơ mộng và đẹp của tình người.

Anh là một thiếu úy xuất thân từ trường Võ Bị QGVN và cũng đã từng mơ về một tương lai tươi sáng với những chiến công, những vòng hoa chiến thắng được choàng vào cổ từ tay của một nữ sinh sinh đẹp nào đó. Nhưng viên đạn AK47 ác nghiệp đã xuyên qua lưng anh ngay trong trận chiến đầu đời của một tân sĩ quan… Mọi giấc mơ tan vỡ, tương lai trở nên mịt mù và anh đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương sau đó.

Vết thương chưa lành hẳn thì biến cố 30 tháng 4 úp xuống, anh bị đẩy ra khỏi Quân Y Viện khi viết thương còn rỉ máu, anh được cha mẹ gìa đưa về sống tại Tây Ninh, chẳng bao lâu sau đó anh đã phải cắt bỏ đôi chân vì ung thối để cứu mạng, thế rồi cha mẹ anh cũng lần lượt qua đời, còn lại một mình trong căn nhà nhỏ, anh đã sống 30 năm dài trong nỗi cô đơn tận cùng của kiếp người.

Đối với những người thương binh VNCH khác, hoàn cảnh của anh có lẽ chưa phải là tận cùng bằng số (?) Anh biết rõ điều này, nên không than van, chỉ vì buồn muốn viết thư đi khắp nơi để tìm người tâm sự và không kêu nài trợ giúp, lá thư gởi ra Hải Ngoại đi lang thang và được ai đó đưa lên internet, một cô gái ký tên “H” gởi về anh $50.00 Mỹ kim, anh viết thư cảm ơn…

Một người ở Paris đọc được lá thư anh gởi cho người con gái có tên “H” tưởng là bạn mình nên chuyển qua cho cô BS Hương (Liên Hương) thành viên của “Hội Huynh Đệ Chi Binh” cô BS cảm động vì lá thư lạ đã viết trả lời anh, lá thư cũng đầy tình cảm chan chứa, tường chừng như ở thời còn chinh chiến của một người em gái hậu phương gởi cho anh chiến sĩ nơi chiến trường, lá thư tỏ lòng ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một anh hùng. Anh chính là một “anh hùng” trong mắt cô Liên Hương ở Hoa Kỳ. Thư trao đổi giữa anh và cô BS trẻ với những lời chân tình đã làm nhiều người rơi lệ.

Giao Chỉ

________________________________________


Tây Ninh ……………. 1999

Cô H. thân mến,

Khi cầm bút viết thư này tới cô, tôi rất cảm động vì lần đầu tiên nhận được 1 thiệp chúc Noel và 50 USD. Bao đêm nằm suy nghĩ moi óc tìm về quá khứ xem có quen ai là H. không. Rồi kết luận tôi và cô rất xa lạ chưa 1 lần đối diện. Thế nhưng giữa khoảng không gian xa cách nghìn trùng, giữa lúc bận rộn với cuộc sinh nhai nơi đất khách quê người, mà cô còn có thời giờ hướng về quê nhà, nơi đó có những người nghèo khổ, tàn tật, đang âm thầm trên giường bệnh như tôi. Ngoài ý nghĩa về vật chất, món quà của cô còn có 1giá trị tinh thần rất to lớn, nó an ủi tôi trong những ngày Đông giá để chuẩn bị đón Xuân về. Nghĩa cử cao đẹp của cô chắc chắn sẽ được Thượng Đế đền bù.

Đây là những ngày đầu Xuân. Sau vài ngày Tết tạm quên đi những âu lo phiền muộn thì bây giờ lại suy nghĩ, tính toán cho năm rộng tháng dài. Tôi đã bị loại ra khỏi vòng chiến vào một buổi chiều mây giăng tím ngắt cách nay gần 27 năm dài (bị liệt và cưa 2 chân!).

Trong vòng 27 năm đó, cuộc sống của tôi âm thầm như những đêm không trăng sao. Bốn mùa cứ lần lượt trôi qua, bao đứa trẻ thơ đã trưởng thành, còn tôi đã thấy thấp thoáng con đường tới nghĩa trang!!! Ngày ngày chỉ nằm trên giường ngắm mây bay qua khung cửa sổ, và chiều chiều nghe tiếng chuông giáo đường buồn bã. Rồi đôi khi âu lo khi số tiền trong túi cạn dần.

Chưa bao giờ tôi đủ can đảm ngắm mình qua gương. Tuổi trẻ, tình yêu đã vượt khỏi tầm tay. Đôi khi kỷ niệm hiện về hỗn độn, quay cuồng, tan vỡ như những mảnh thủy tinh sắc nhọn. Tủi thân, phiền muộn là căn bệnh trầm kha kéo dài từ ngày nầy đến ngày khác! Đầu năm chỉ duy nhất một mình trong căn nhà bầu bạn với chiếc tivi, dò hết đài nầy đến đài khác, rồi mệt mỏi lăn ra ngủ. Những lúc đau nặng, bao nguy cơ rình rập, chỉ biết phó mặt cho bàn tay Thượng Đế.

Đã lâu lắm rồi không có cơ hội viết thư nên trong hồi báo này từ đầu đến giờ lẩn thẩn quá phải không cô H? Nếu có gì sơ suất xin cô bỏ qua sự thiếu sót đó. Trước thềm năm mới, tôi chúc cô và gia đình hưởng một mùa Xuân vui vẻ, một năm mới An khang thịnh vượng.

Tôi xin dừng bút nơi đây. Chào cô.

Ký tên: Duyệt

P T D

_____________________________________________________________________


San Jose ngày 1 tháng 8, 2003

Anh Duyệt thân mến,

Có lẽ anh sẽ ngạc nhiên lắm khi nhận được lá thư này. Do một sự tình cờ hay sắp xếp nào đó của Thượng Đế, nếu chúng ta còn tin có Thượng Đế hiện hữu trong cuộc đời này, lá thư của anh đã vượt ngàn dặm hải lý và thời gian phủ bụi mờ để đến tay tôi. Một người bạn của tôi ở Pháp, trong lúc đi sưu tầm trên những trang điện toán đã tìm thấy lá thư này, và chuyển đến tôi. Chỉ vì một sự trùng hợp ở vần tên với một cô gái nào đó mà anh đã viết thư cám ơn 3 năm trước đây.

Lá thư của anh không giống như bất cứ lá thư nào tôi đã đọc trong gần 10 năm qua. Tôi cũng chưa bao giờ trả lời riêng như tôi đang làm ngày hôm nay. Đây cũng là lần đầu tiên tôi dùng tên thật của mình để viết cho một người chưa biết mặt. Tôi viết như thế để anh hiểu cái ấn tượng sâu đậm, và một phần nào là nỗi xúc động lá thư của anh đã để lại trong tôi.

Trong tuần lễ qua, tôi đã gọi điện thoại về Việt Nam một vài lần theo số anh ghi trong thư, nhưng đáng tiếc vẫn không liên lạc được vì đường giây luôn luôn bận. Cũng có thể vì tôi gọi không đúng cách, một lần nữa lại cho anh biết rằng đây là 1 điều tôi không thường hay làm lắm đâu.

Lá thư của anh đã vô tình nhắc nhở cho tôi về quá khứ, những năm tháng chiến tranh điêu linh của đất nước mà tất cả chúng ta đều muốn quên. Anh không kể nhiều trong thư, nhưng tôi đoán anh chắc phải là 1 người đã có kiến thức của 1 vài năm Đại học, hay ít nhất cũng đã đỗ Tú Tài trước khi đăng lính vào quân đội. Bởi vì 1 người bình thường ít may mắn được đến trường hơn, đã không thể viết một lá thư vừa lắng đọng, vừa lãng mạn dạt dào tình cảm như vậy.

Sự gắn bó của tôi với những người lính cũ có lẽ bắt nguồn từ gia đình tôi vốn đã có rất nhiều người xuất thân từ quân đội miền Nam trước đây. Cha tôi ngày xưa là 1 bác sĩ quân y ở Chẩn Y Viện Trung Ương, và cậu tôi cũng đã từng là 1 bác sĩ giải phẫu chữa phỏng và chấn thương tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi tôi vẫn thường xuyên lui đến những ngày còn nhỏ vì căn bệnh riêng của mình. Hình ảnh của những nguời thương bệnh binh quấn khăn băng trắng thẫm máu đỏ hàng ngày được chở về từ mặt trận với tôi vì thế đã không xa lạ lắm. Một trong những người bạn thân nhất của tôi ở đây hôm nay là 1 cựu phi công từng đóng quân ở Phù Cát (Qui Nhơn)…

Tôi viết thư cho anh hôm nay, không phải như 1 người Việt kiều xa xứ được ưu đãi trong 1 đời sống an lành, và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần, đang nghiêng mình xuống viết cho 1 người đồng loại bất hạnh của mình. Nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái nhỏ năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hàng đêm vẫn vọng về từ 1 chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả 1 thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó, vẫn có bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng, chiến đấu đơn độc vào những giờ phút chót để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi, tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.
Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh, cho các bạn của anh những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua. Để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí, hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ có thể bị xóa nhòa.

Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết 1 phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, còn những người Việt tỵ nạn như tôi cũng mất cả 1 nơi chốn dung thân để phải tha hương, lưu lạc khắp mọi phương trời. Có 1 điều ngày hôm nay, tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi, và cô độc. Tôi không là 1 bà tiên có đôi đũa thần nhiệm màu để có thể hóa phép trả lại anh thân thể nguyên vẹn. Nhưng tôi có thể trao tặng anh 1 tình bạn, và hy vọng những giòng chữ của mình có thể xoa dịu được những vết thương vẫn còn nhỏ máu trong tâm hồn anh từ 30 năm qua.

Khi nhận được lá thư này, xin anh gửi cho tôi hồ sơ + 1 tấm ảnh hồi đáp qua địa chỉ 1 người thân của tôi ở Saigon, để rồi sẽ có người đem thư về Mỹ lại cho tôi:

Nguyễn Liên Hương
c/o Phạm Thục Tuyết Xuân

tel:

Tôi muốn biết địa chỉ chính xác của anh, để gửi đến anh 1 món quà nhỏ, mà tôi ước mong sẽ đem lại 1 vài tia nắng ấm trong gian nhà lạnh vắng, hiu quạnh của anh hôm nay.

Cũng xin anh đừng phổ biến tên tuổi hay địa chỉ của tôi, vì điều tế nhị thỉnh thoảng tôi vẫn còn trở về Việt Nam trong những công tác xã hội. Thêm nữa, tôi hiểu khả năng giới hạn của mình trong những điều có thể làm. Thật sự sẽ là một điều tàn nhẫn để gieo mầm cho những ảo tưởng, hy vọng không có cơ may được thành tựu.

Cuối cùng, dù tôi không thể gửi nguyên 1 bài hát về, cũng xin cho tôi được gửi tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát, “You are my hero”. Bởi vì cuối cùng, trong cuộc đời này, không có điều gì anh hùng, và cao thượng hơn là hy sinh bản thân mình cho những người khác được quyền sống. Trong mắt tôi, mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những người trai anh hùng một thời đã chọn cho mình con đường đi và sống đích thực có ý nghĩa nhất.

Thân ái chào anh, và cầu chúc anh những ngày tháng cuối an lành trong niềm vinh dự và tự hào.

LH
maikim  
#16 Posted : Thursday, July 29, 2010 7:35:52 PM(UTC)
maikim

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 197

Was thanked: 6 time(s) in 5 post(s)
quote:
Originally posted by coffeebean

AI ĐI NGOÀI SƯƠNG GIÓ [FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/etmFOH6I_n[/FLASH]

Hôm nao nhìn lá úa, rụng lác đác bên song
Mây trôi về viễn xứ, gợi tiếc nhớ bâng khuâng
Thương ai ngoài sương gió vì đất nước quê hương
Ra đi chốn sa trường, vui kiếp phong sương

Thương ai vì non nước, đời lính chiến gian lao
Đêm đêm nhìn tay súng, lòng nghĩ đến mai sau
Thương ai vì sông núi, mà khoác lấy chinh y
Thương ai mãi thương ai

Thương ai! đã thuong ai rồi
Dù tháng năm dần trôi, dù lá hoa tàn phai
Lòng vẫn nhớ thương ai!
Thương ai! mãi mãi thương ai.
Như gió vẫn thương trăng, như bướm vẫn thương hoa
Thương ai vẫn thương ai hoài.

Thương ai lòng mong ước, ngày đất nước yên vui
Mênh mang tình non nước, đường lối cũ trăng soi
Anh đi về nơi ấy, tìm những phút vui xưa
Thương ai vẫn thương hoài, muôn kiếp không phai

Anh đi về nơi ấy, tìm những phút vui xưa
Trông nhau mà không nóí, lòng hết thấy bơ vơ
Anh đi về nơi ấy, tìm hình bóng em thơ
Thương ai mãi thương ai.




Bạn coffeebean ơi,

Đó không phải là bài Ai Đi Ngoài Sương Gió của Nguyễn Hữu Thiết đâu, mà là bài Lá Rụng Ven Sông của Hoàng Nguyên.

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=p03h1LR_ED

Bài "Ai Đi Ngoài Sương Gió" của Nguyễn Hữu Thiết là đây:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=6N4UCafrwB

trong đó phần điệp khúc rất ngậm ngùi:

Ai đi ngoài sương gió tả tơi chớ buồn vì mưa
Ai đi ngoài sương gió chớ nức nở nhạc sầu
Ai đi ngoài sương gió hỡi ai xóa nổi niềm đau
Ai ơi mộng tàn xưa không vương lụy thời gian

maikim  
#17 Posted : Thursday, July 29, 2010 8:04:26 PM(UTC)
maikim

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 197

Was thanked: 6 time(s) in 5 post(s)
quote:
Originally posted by coffeebean

CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI THƯƠNG BINH PHAN THẾ DUYỆT

.......
Vết thương chưa lành hẳn thì biến cố 30 tháng 4 úp xuống, anh bị đẩy ra khỏi Quân Y Viện khi viết thương còn rỉ máu, anh được cha mẹ gìa đưa về sống tại Tây Ninh, chẳng bao lâu sau đó anh đã phải cắt bỏ đôi chân vì ung thối để cứu mạng, thế rồi cha mẹ anh cũng lần lượt qua đời, còn lại một mình trong căn nhà nhỏ, anh đã sống 30 năm dài trong nỗi cô đơn tận cùng của kiếp người.

....
Giao Chỉ


Tôi cũng có biết anh Duyệt, nhờ Internet. Anh Duyệt có gởi tặng tôi tấm hình anh chụp lúc còn là sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia, trẻ đẹp và oai hùng lắm. Nhìn tấm hình đó, so sánh với tấm hình anh nằm trên giường bây giờ, tôi không khỏi ngậm ngùi. Anh bị thương và trở thành tàn phế 100% năm anh mới có 26 tuổi, tuổi đẹp nhất đời trai. Anh làm thơ hay lắm, lời thơ mượt-mà nhưng u buồn.

Sĩ quan QLVNCH đều là nhân tài, được đào tạo rất lâu (16 năm) để rồi hy sinh trong chiến trận, thiệt là uổng. Nhờ kiến thức có sẵn nên khi những sĩ quan sống sót sang đến Hoa Kỳ, họ dễ dàng hội nhập (đại úy Nhảy Dù Trương Dưỡng ngồi xe lăn, nhưng vẫn tốt nghiệp kỹ sư ở Hoa Kỳ, ra trường một lượt với hai con).
havi  
#18 Posted : Thursday, September 2, 2010 10:32:55 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage

Mưa trên Poncho
Lê-văn-Phúc

Bất cứ ai đã một thời ca bài “Ta đi tòng quân” đều không thể nào quên được đời lính. Trong đời lính, dù là lính già hay lính trẻ đều mặc bộ đồ trận, vui buồn theo tiếng kèn đồng đếm nhịp thời gian. Và một trong những món hành trang cần thiết thân yêu của người lính ngoài cây súng nhân tình, phải kể đến thành phần quân quân dụng này: Ấy là chiếc Poncho. Nhà binh gọi là “Pông Xô”.


Về hình thức, nó lớn bằng chiếc chiếu, mầu xanh cứt ngựa, làm bằng vải pha nylon gọi là vải ngụy trang, bốn cạnh chung quanh có lỗ, có khuy bấm bằng sắt. Chính giữa có một cái lỗ chui đầu làm thành cái mũ che, có giây buộc đàng hoàng.


UserPostedImage



Về nội dung, Poncho có công dụng chính là làm cái áo đi mưa. Khi trời bắt đầu nổi cơn mưa gió, người lính chỉ việc mở chiếc Poncho ra chui đầu vào giữa, đội nón là xong. Phần còn lại của Poncho nó lùng tùng xòe quanh cổ, quanh vai, quanh người che chở từ súng đạn đến ba-lô rất ư kín đáo an toàn. Nó dản dị đơn sơ như thế nhưng công dụng thì lại vô cùng đa diện. Đến ngay người sáng chế ra nó cũng không thể nào ngờ rằng Poncho được dùng trong nhiều việc như thế.


Với chiếc áo đi mưa nhà binh – Poncho - mắc vào cành cây có thể làm chỗ che nắng che mưa khi canh gác một mình. Với hai chiếc Poncho ghép lại có thể thành một lều cho hai quân nhân tá túc. Với 4, 6 hoặc 8, 10 Poncho, dùng cọc dã chiến nối lại cho dài, dùng giây ghép Poncho cho kín là có một lều cho cấp tiểu đội, nom rất tư cách.


Khi quân ta sang sông trong một chiều hành quân, Poncho có công dụng như phép lạ. Nếu không có chuyến đò vĩ tuyến chuyển quân, nếu không có giây đu bắc ngang dòng nước ngược, nếu không có chiếc cầu khỉ, cầu treo... thì nhất định người chiến sĩ phải dùng đến chiếc Poncho làm phao di chuyển.



UserPostedImage


Mở rộng chiếc Poncho ra, túm chặt lỗ chui đầu lại, bao nhiêu ba lô đạn dược tập trung vào đó. Xong bỏ vài cành cây khô cho cồng kềnh, gấp Poncho lại theo kỹ thuật nhà binh làm sao cho kín mít, nước không lọt, thắt giây xong là Poncho chẳng khác gì một chiếc phao. Thả Poncho xuống nước, gác súng trên Poncho, người lính ôm cái phao cá nhân tà tà sang sông rất là đẹp mắt.


Ngoài công dụng che nắng che mưa, làm phao nổi, lều cá nhân, lều tập thể, Poncho còn dùng làm chiếu, làm nệm, có khi làm võng. Trong các trại gia binh, anh em ở dưới mái nhà tôn nóng như lò bánh mì thì lại có sáng kiến dùng Poncho làm trần làm vách cho vợ con đỡ được đôi ba phần nắng nôi gió máy. Còn các cấp chỉ huy ở nhà gạch mái ngói không cần đến Poncho làm trần nhưng nhiều vị có sáng kiến lấy Poncho may thành chiếc bạt phủ xe nhà cho khỏi bụi bậm, đỡ trầy nước sơn.Những nhà dân giả, nhà binh, nhà quê thiếu ống máng hứng nước mưa thì Poncho là cái phễu vĩ đại, hết sẩy!

Poncho cũng lan tràn đến cả chợ búa. Từ xa trông cảnh chợ, xanh xanh một mầu cả trăm chiếc Poncho giăng mắc la liệt khắp nơi, nom tưởng như một tiểu đoàn đóng quân vậy. Lại gần mới thấy Poncho làm mái che cho hàng cá, hàng thịt, hàng rau, hàng quà, quán nhậu, hủ tíu bò viên, bún riêu bún ốc.Poncho cũng di chuyển cùng chiều với các bạn đạp xích lô, kéo xe thồ, lái xích lô máy. Một chiéc Poncho thôi là đủ may chiếc áo mưa, vừa che đầu, che thân tới nữa người, gọn gàng và bền bỉ.

Poncho được chiếu cố tận tình như thế cho nên mức độ tiếp liệu dù cao, dù đúng hạn, dù mau lẹ vẫn không thỏa mãn được nhu cầu của quân đội và dân sự. Các binh đoàn tiếp nhận xong, nhập kho, phân phối là Poncho đã chuẩn bị tan hàng. Một phần về đơn vị, một phần vào các khu dân sinh, chợ Kim Biên, chợ cũ, chợ Ông Tạ...Tại các tỉnh, các quận, tình trạng Poncho cũng tương tự như rứa. Poncho chẳng những phổ biến rộng rãi, đa dụng trong tình quân dân cá nước mà còn đóng một vai trò quan trọng tại các quân trường.



UserPostedImage



Ai đã một thời nhập trại Quang Trung, Đồng Đế, Thủ Đức mà không nhớ nhung kỷ niệm quân trường những ngày gió mưa tàm tã. Buổi sáng tinh mơ tập họp trung đội, đại đội, tiểu đoàn mà nhằm ngày trời mây u ám gió cuốn tả tơi hoa lá thì anh em rất là một sự lục xục, lộn xộn, lạo xạo. Ai cũng nón sắt đội đầu Poncho chùm thân, đi đứng lù đù. Khi anh em đi bãi về trong buổi chiều mưa, từng trung đội lạch bạch bùn đất, hàng ngũ trật tự nhưng không mấy chỉnh tề. Nếu có người yêu nào đó đứng chờ, tìm kiếm người tình giữa chốn ba quân thì có mà như đá vọng phu vẫn hoài công đứng đợi. Bởi cả trăm người lính xùm xụp Poncho trong hàng quân như thế, làm sao nhận ra được ai là người yêu của lính? Thế là hoa lạc giữa rừng gươm.

Nhưng bù vào những cái bất tiện như rứa, Poncho cũng có lúc trở thành một nguòi bạn tâm phúc, đắc dụng. Vào những ngày nghỉ cuối tuần, quân trường nào cũng đầy ắp thân nhân bạn bè vào thăm tân binh, sinh viên sĩ quan. Ngoại trừ những ai được đi phép đặc biệt như chim sổ lồng, còn thì đa số nằm trong trại chờ người nhà đến thăm viếng. Cái cảnh đồng bào ta lái xe nhà, đi xe đò, chạy Honda, Vespa, Lambretta, gắn máy đi thăm lính thật là ồn ào náo nhiệt.

Quà bánh thì nào là bánh mì, bánh bao, bánh ngọt, lạp xường xúc xích, cam táo chôm chôm ổi mận trái cóc, sữa Guigoz, Similac...Có người đem khăn mặt, bàn chải đánh răng, xà bông, thuốc lá,dầu cù là, dầu thơm...
Tất cả cho lính! Rồi người ta kéo nhau tấp nập vào cổng trường, ghi tên lấy thẻ, qua trạm kiểm soát rồi là coi như thong thả tới địa điểm dành cho từng đơn vị.

Về phía lính thì cả tuần tập tành, “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, chỉ rình mong đến cuối tuần để được đón gia đình, bè bạn vào thăm viếng nên chuẩn bị rất ư là kỹ lưỡng. Có điều giống nhau, chả ai bảo ai, ai cũng cặp kè chiếc Poncho ra khu tiếp tân ngóng đợi thân nhân. Thành phần thân nhân được phân định làm nhiều giới. Giới cổ điển là các ông bô bà bô đi thăm con thì được ngay anh tân binh hay sinh viên sĩ quan mời các cụ vào câu lạc bộ nghỉ đỡ chân. Nếu câu lạc bọ hết chỗ thì mời hai cụ quá bộ ra cạnh quán, trải chiếc Poncho là tạm xong phần nghênh tiếp. Bố con, mẹ con rủ rỉ chuyện trò, ăn uống lai rai cho đến hết giờ thăm viếng.

Giới thứ nhì là giới bán cổ điển với bầu đoàn thê tử đi thăm chồng vào lính trễ. Giới này thường trải Poncho dưới tàng cây cao bóng mát hoặc ở trong các khu tiếp tân tập thể, vợ chồng con cái đìu íu, chuyện nhà chuyện cửa, chuyện con cái học hành, chuyện làm ăn buôn bán, chuyện hàng xóm láng tỏi, ồn ào như chợ Bến Thành hay chợ Cầu Ông Lãnh. Giới thứ ba là giới độc thân, toàn đàn ông con trai đi thăm con trai mà thôi. Giới này thường tụ tập tại câu lạc bo nhậu nhẹt tán róc. Xong cái màn đó, các cậu lại rủ nhau ra lề đường, ngồi trên Poncho ngắm các em gái hậu phương đi thăm chiến sĩ, với lời bàn Mao Tôn Cương rất ác liệt. Giới thứ tư là giới cô đơn, gồm những anh không có người nhà đến thăm, ôm chiếc Poncho đi lòng vòng khắp khu tiếp tân, ngong ngóng một chuyện gì như thể sắp xẩy ra mà lại mơ hồ như có như không mới khổ! Giới thứ năm là giới chiến thuật mà mỗi người là một chiến thuật gia. Giới này thường chuẩn bị rất kỹ, nghiên cứu địa hình địa vật và lựa chọn điểm đóng quân thật sớm. Thông thường, các vị trí này cách xa khu tiếp tân, xa các khu ồn ào nhiều kẻ qua người lại.

Họ lựa chọn chỗ vắng vẻ kín đáo, có tí mô đất, có tí cành cây để giăng chiếcPoncho hững hờ lơ lửng. Tuy chiếc Poncho nom ra vẻ lụp xụp, thiếu mỹ thuật thật đấy nhưng lại chứa đựng tất cả những gì gọi là nghệ thuật tinh vi và khoa học hiện đại. Giới chiến thuật này thường có đối tượng là người yêu của lính!

Khi những chiếc Poncho xanh mầu lá cây rừng rải rác vô trật tự họp lại mí nhau thành một chiến tuyến thì dưới những mái Poncho là những cặp tình nhân đang tỉ tê quyến luyến, thề non hẹn biển...Thời gian lặng lẽ một dòng tưởng chừng buồn tênh mà hóa ra sống động, vùn vụt như ma đuổi. Cho đến khi lá hoa về chiều, lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa, các đôi lứa lại càng quyến luyến xoắn xuýt lấy nhau như sam, như chẳng muốn rời.



UserPostedImage



Nhất là vào những buổi chiều có tí gió mưa thì lại càng làm cho lòng người thêm mưa gió. Mây trời hạ thấp, những giọt mưa nho nhỏ rơi đều trên Poncho trong làn gió thoảng, đủ làm cho Poncho hạ thấp xuống một chút xíu nữa, như che gió che mưa cho cặp tình nhân tạm quên đi thế giới bên ngoài. Chỉ thấy những mái Poncho lay động, bập bềnh, ngả nghiêng vội vã, trong khi ngoài kia tiếng kèn thu quân đang dục giã liên hồi...

Cuộc hẹn hò nào rồi cũng chia xa.

Giới chiến thuật là đơn vị giải tán thành phần cơ hữu sau cùng, vơ vội ôm quàng chiếc Poncho ù té chạy về doanh trại. Để rồi người lính quân trường lại có những ngày chờ ngày đợi ngày mong. Mong sao cho chóng đến cuói tuần, cặp kè chiếc Poncho với nỗi lòng nao nức, rạo rực thương yêu của tuổi hoa niên thời chinh chiến. Như thế, quả nhiên chiếc Poncho đa dụng đa năng cho cả hai phía quân dân. Nó lại còn là một biểu tượng của đồng lõa, cho đời vẫn còn mầu hồng, còn một chút gì gọi chút dễ thương.
Và rõ ràng cụ thể nhất, nó chính là kỷ vật cho em.

Nghĩ thế, một hôm nhớ về quân trường cũ, kẻ này gặp một cựu nữ sinh hoa khôi, mới khẽ hỏi xem nàng nghĩ thế nào về chiếc Poncho đối với tuổi trẻ ngày xưa?

Người đẹp bỗng nhiên má đỏ hồng hồng, mắt sáng trong trong, thỏ thẻ đáp rằng:
- Poncho! Poncho! Ồ, thật là kỳ diệu...


UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#19 Posted : Sunday, September 5, 2010 2:50:55 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


Những Chiến Sĩ Bị Lãng Quên

Tôi thương anh lính Nghĩa Quân
Ngày đêm diệt giặc giúp dân xóm làng
Cuộc sống vất vả nghèo nàn
Nhưng anh vui vẻ giữ làng quê hương
Tôi thương anh lính Địa Phương
Bính định lãnh thổ phố phường an khang

Thân anh cũng lắm gian nan
Quyết tâm diệt cộng dã man đê hèn
Tôi thương chiến sĩ Áo Đen
Xây dựng thôn ấp thân quen dân làng
Mặc dầu không được võ trang
Nhưng bọn cộng sản nể nang anh nhiều

Chiến sĩ thầm lặng mến yêu
Các anh không được kể nhiều công lao
Ít được sách vở hô hào
Nhưng dân quí mến đâu nào có quên
Muôn đời dất nước nhớ tên

Các anh đáng được ghi lên bảng vàng
Khi nào đất nước bình an
Ta về thăm lại xóm làng năm xưa.

Chiến hữu Nguyễn Minh Châu


UserPostedImage Hình kỷ niệm trước ngày mất nước




UserPostedImage
nhat-tam  
#20 Posted : Sunday, September 5, 2010 3:50:33 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Anh hùng vô danh
UserPostedImage Họ là những anh hùng không tên tuổi,

Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,

Không bao giờ được hưởng ánh vinh quang,

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước,

Đã phá rừng xẻ núi lấp đồng sâu,

Và làm cho những đất cát hoang vu,

Biến thành những dải sơn hà gấm vóc.

Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,

Không ngại xa hăng hái vượt trùng sơn,

Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn,

Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng.

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động,

Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng,

Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân,

Để bảo vệ Tự-Do cho Tổ-Quốc.

Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc,

Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan.

Người thất cơ đành thịt nát xương tan,

Những kẻ sống, lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui, thoát hiểm,

Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa.

Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà,

Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi,

Trong loạn ly, như giữa lúc thanh bình,

Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh,

Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên,

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.

Và anh hồn chung với tấm trinh trung

Đã hoà hợp làm linh hồn hồn giống Việt
ĐẰNG PHƯƠNG
Users browsing this topic
Guest
4 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.