Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<4567>
Options
View
Go to last post Go to first unread
nhat-tam  
#101 Posted : Monday, June 21, 2010 10:51:59 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
CÁI TÌNH TRONG CA DAO VIỆT-NAM

[img]UserPostedImage[/img]
Ca dao là tiếng nói trung thực,phản ảnh rõ nét nhất trong văn chương bình dân, được miêu tả sự việc xẩy ra hằng ngày giữa cuộc đời và trở thành những câu hò, điệu hát của nhân gian như những bản tình ca bất diệt, đượm màu thế tục;tình yêu,tình đời với một ẩn dụ tự nhiên làm cho người ca ngâm cũng như người nghe có một cảm nhận gần gủi,tuyệt vời.Ca dao còn hóa giải mọi tình huống uẩn khúc,lời ca ấy làm cho con người không còn cảm thấy đau khổ nữa “L’homme souffre,mais en chantan sa souffrace,il la dépasse”.

Vì vậy; nói đến văn chương bình dân chúng ta không thể quên thi ca bình dân mà ca dao nắm một vai trò chủ lực và những thể loại quen thuộc, không ước lệ,không qui cách,tuy nhiên lời thơ của ca dao vẫn giữ đúng vần điệu có khi rất chuẩn về luật bằng trắc nhờ đó mà dể đả thông tư tưởng, trực chỉ vào lòng người một cách sâu lắng.

Ca dao là ca hát,tự nó trở thành khúc đi thẳng vào lòng và bày tỏ được nội giới dù dưới một không gian hay thời gian nào ngoài ra ca dao còn là gia-huấn-ca,một tâm lý đạo đức,dạy làm người…đôi khi văn thơ phải mượn ngôn từ của ca dao để nói lên cái tình người,tình đời một cách chính xác hơn.
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

giáo dục con trẻ khi mới lớn: Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu giao tình

hoặc một ý nghĩa thâm sâu khác:
Cá không ăn muối cá ương Con cãi cha mẹ trăm đường con hư


Những câu ca dao lục bát như thế ắt phải nằm sẳn trên môi của mọi người một cách dể dàng và thông đạt lắm!

Đó là cái nhìn nội giới trong ca dao mà mỗi khi chúng ta phóng vào hiện tượng; đó là bản thể của “cái tình” trong ca dao.Tuy mỗi câu hò điệu hát có khác nhau nhưng cái nhìn của tình yêu vẫn là một và cái gặp gỡ đó,nói chung; là cái đồng tình bất biến của con người.Sự gặp gỡ chính nơi lòng ý thức,nơi thức tỉnh của ý thức trước những hiện hữu đời và gia đình hay chính là nơi những gì mà con người kêu lên thiết tha hay để bộc lộ sự thống khổ.Hình ảnh của thi ca nói chung và của ca dao Việt Nam nói riêng là tiếng kêu thức tỉnh của con người tạo nên, dùng để ví von của người dân quê trước cuộc đời.Mà cuộc đời này; con người đã gắng bó chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh trong mọi tình huống của đời người,từ những tình cảm của cái tình đó đã nói lên được một cái gì âu yếm và thầm kín.
Anh đi ba bửa nhớ về Rừng sâu nước độc chớ hề ở lâu

Hình ảnh “anh đi ba bửa”rồi”chớ hề ở lâu” nó biến ca dao thành thi ca,từ những hiện tượng thực thể biến thành tha thể xuất phát từ ngoại giới đi vào nội giới giữa mối liên hệ tha nhân và chủ thể nó cặp kè,sánh vai trong hoàn cảnh đối đáp để nên vợ nên chồng,ca dao không còn hiện diện với ca với hát mà biến dạng thành hò,câu hò trực diện với thực tại như một sự hiến dâng!
Trai nào nỗi tiếng anh hào Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ…ơ

[img]UserPostedImage[/img]

Cái vũ trụ mộng mơ ấy hoàn toàn ở trong đôi mắt chiêm ngưỡng của con người khi phóng cái nhìn vào tương lai giữa sự viên mãn của tình yêu.Vũ trụ này chưa hiện thực rốt ráo nhưng đã xuất phát một ước vọng thực hữu.Hình ảnh cuộc đời không bị tha hóa mà bắt nguồn từ vũ trụ thực hữu;vì vũ trụ ấy có thực trong cuộc đời này.
Trai nước Việt nỗi tiếng anh hào Anh đà đối đặng vậy má đào xin trao dâng ơ…ơ

Hẳn nhiên; ý thức giữa trai gái rất đặc thù trong phạm vi lứa đôi,nói trắng ra là tình yêu qua mọi lứa tuổi, đặc biệt tình yêu nông thôn, ý thức ấy bừng lên từ cuộc sống và chiếu sáng cuộc sống đó là lối tả chân mà cảnh đời không có hoặc chưa có nên chi vũ trụ dự ước của con người cũng là những cảnh đời có thực mà được phóng nhiệm lên cảnh đời có thực trong ca dao.Cho nên ca dao phát ra giữa chốn đồng quê,giữa nơi xa phố thị tự nó dâng tràn trong nhân gian,vì thế tìm đến một tác giả trong ca dao đều trở nên không cần thiết và có muốn biết chăng nữa cũng không được vì mọi người đã đi vào cảnh đời một cách tự nhiên và tự nhiên như mình là tác giả vậy! Nó vượt thoát cả không gian và thời gian kể cả hiện tại,quá khứ và tương lai,vượt thoát từ những người sáng tạo ra ca dao,ca dao bỗng nhiên độc lập để tạo cái đắm đuối,rụt rè,e lệ nhưng đầy tính lãng mạn cho dù mối tình chân lấm tay bùn.
Ngó em chẳng dám ngó lâu Ngó qua một chút đở sầu mà thôi!

[img]UserPostedImage[/img]

Cái ngó ấy là cái ngó thức tỉnh,một cái ngó của kẻ tình si và cũng là cái nhìn mơ mộng của người đồng quê đứng trước cuộc đời có thực.Chính đó là sự sáng tạo của ca dao.Nói đến mơ mộng hình như chúng ta đụng phải một phản ứng tâm lý.Theo tâm lý học giài thích: khi mơ mộng thì đó không phải là một trạng thái thức tỉnh.Tâm lý học quan niệm như thế nầy”En suivant la pente de la reverie”Tiếp đó là cái mơ về của ý thức thức tỉnh “đở sầu” nằm trong ý thức mơ về (rêver à/daydreaming)mà ở đây mơ không có nghĩa là buông xả theo giòng đời và chìm dần trong mộng để rồi mất luôn tính sáng tạo nghệ thuật vì ý thức thức tỉnh thường đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật và làm lu mờ ý thức mơ về cho dù trong chiêm bao chăng nữa đã cho thấy một ý thức thức tỉnh.
Một duyên, hai nợ, ba tình Chiêm bao lẫn quất bên mình năm canh

[img]UserPostedImage[/img]

Thành ra mơ chiêm bao ở đây là cái nhìn sáng tỏ của cái mơ về giữa duyên,nợ và tình đã bừng lên trong ý thức về thân phận của người phụ nữ.

Mơ về hay chiêm bao không còn là mối sầu buông xuôi của tâm lý học mà trái lại mơ và chiêm để phóng thể ngôn từ”bên mình năm canh”trong giấc mơ nữa đêm trở nên ý thức chớ không phải chiêm bao vô thức.

Trong cái nhìn vũ trụ quan như thế đã cho ta thấy được ca dao là một lối sáng tạo hết sức đặc biệt mà chất liệu là cảnh đời,cô đọng trong từng câu hò điệu hát mượn từ ca dao để mơ về…

Ca dao không đòi hỏi tác giả là ai,nó đã trở thành của chung,tác giả chung giữa cuộc đời này mà trong thi ca vốn có sự bừng tĩnh đầy sáng tạo,ca dao đại diện cho những cuộc tình trọn vẹn hay tan hợp,nói lên nỗi nghẹn ngào,uất nghẹn tất cả qui về sự mơ về cõi thực để tìm thấy được chân lý của cuộc đời.Giờ đây ngôn từ sáng tạo của ca dao đã thành thơ,những thể thơ mới như ngày nay.
Cá lý ngư sầu tư biếng lội
Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay
Anh thương em đừng vội nắm tay
Miệng thế gian ngôn dực Phụ mẫu hay sẽ rầy


Ca dao như thế đấy! mỗi khi đọc lên đã cho chúng ta cái cảm giác tợ như ức chế,như phụ rẫy như khoa phân tâm học quan niệm.Lối thoát bằng ức chế chỉ xẩy ra với cảnh đời,những người bị tập quán kiềm chế mới lâm vào khát vọng của bản năng cho nên mới tìm lối thoát bằng lối này hay hình thái khác để tránh né.Quan điểm đó đôi khi cũng có tính võ đoán và không hoàn toàn đúng hẳn,cho nên đừng để cái nhìn ức chế vào đây.Vì sao? Vì “anh thương em” có nghĩa là đừng vội đánh mất cái đẹp mà đây là tiếng nói mặn mà,bất luận ở đâu nơi chốn nào người phụ nữ Việt Nam đoan trang trong tiếng nói ấy tức tiếng nói của ca dao,tiếng nói soi sáng,tiếng nói của ái tình.
Em có thương anh
Em nói cho thiệt tình
Để anh lên xuống Ơ…ơ chớ một ơ…ơ mình ơ bơ vơ


Đó là một thứ gì vô biên chân thật của tình đồng quê một bày tỏ cao nhất trong đời nhưng biết nói làm sao khi ý thức vô biên chưa có thì nói làm sao khi cái nhìn tuyệt đối chỉ ngưng trong hiện tượng của đất trời cho nên họ không ngần ngại bộc bạch một cách chân tình cho dù ngập ngừng bày tỏ “ơ.. ơ chớ một ơ.. ơ mình ơ..bơ vơ” Ca dao nông thôn nó diễn tả tích cực như thế đó!diễn tả cái mùi vị chất phát mặn mà, đượm bạc,cái ngập ngừng dể yêu ấy.

Đó là hướng đi lên của ngôn từ ca dao Việt Nam thoát ra từ tiếng nói văn chương bình dân để đạt tới hiệu năng của sự bày tỏ.Cho nên hình ảnh của ca dao;dù sao đi nữa nó vẫn có cái mới của riêng mình,mở ra một ngôn từ sáng lạn và nó cũng đánh dấu những bước thăng trầm của sức diễn đạt giữa người với người,những hình ảnh của ca dao vô hình chung trở nên tư liệu của cảnh đời:người,cảnh vật,nhân sinh và tình yêu.Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng nhờ ý thức chuyển vị đẹp đẻ đó của con người cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn “the beautiful-life”nhờ đó tình cảm con người được tỏa rạng.Cho nên khi bắt gặp một hình tượng trong ca dao,dù có mộc mạc bao nhiêu cũng mở rộng cho chúng ta một chân trời mới đầy ý nghĩa hơn nhất là tình yêu có một sắc màu luôn luôn lung linh của người con gái xuân thì dưới một cái gì lả lướt của ca dao.Ngôn ngữ ca dao rất cô đọng và tràn đầy.
Tóc em dài em cài bông hoa lý Miệng em cười anh để ý anh thương

Ý nghĩa của ca dao là ở cái chỗ mộc mạc đơn sơ nhưng lại là một sự thức tỉnh nội tại,một sự khám phá của con người vừa hào hứng vừa can đảm mà chúng ta phải đón nhận như chính chúng ta đón nhận cuộc đời này. Đó là cái nhìn khám phá:

- Khám phá nội tâm bằng cái nhìn ngoại giới.

- Khám phá ngoại giới bằng cái nhìn nội tâm.

Chính hai cái nhìn tuy nghịch đảo nhưng bổ sung cho nhau để nhìn thấy giấc mơ của người nghệ sĩ ca dao. Đó là một vũ trụ hiện thực để góp phần hạnh phúc cho đời.

Cho nên cái mộc mạc của nông thôn đã làm cho họ cảm thấy hạnh phúc,sung sướng và mỗi câu ca dao nói lên cảnh đời;dù trong mơ vẫn trung thực với đời.Vì vậy cái nhìn của họ như bao trùm từ ngoại giới đến nội giới đều đúc kết thành lời thơ,lời thơ đó chúng ta gọi là ca dao.
Nàng về nàng nhớ ta chăng Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười

[img]UserPostedImage[/img]

Mỗi lúc cái nhìn hay cái nhớ càng phóng ra rộng rãi, càng thấy cuộc đời đẹp và bao la diệu vợi,kể cả nụ cười nhe răng”cần cẩu” vẫn là niềm nhớ không quên,bởi vì; chán gì những cái nhớ mà lại đi nhớ hàm răng em cười,biết đâu trong cái nhớ đó có một chút gì lãng mạn của ca dao(?),tầm thường thật nhưng bao la và mênh mông vô cùng đối với ngôn từ của ca dao.

Thật ra đi vào cuộc đời, đi vào vũ trụ không dể dàng như thế mà chính là một sự khám phá không ngừng.Trong sự khám phá ấy,con người bắt gặp vừa mình vừa vũ trụ một lối khám phá tìm ra được hai hiện tượng. Đối tượng của sự tìm gặp chính là khám phá cái nội giới mà ca dao lãnh một phần trách nhiệm trong ngôn từ(kể cả đối thoại) và ý nghĩa.Nhưng trong hai tượng ấy người ta có thể phân biệt được;

- Bản ngã tự tại
- Vô ngã vũ trụ

Những cái vô ngã vũ trụ được hữu ngã hoá cho nên cái bản ngã tự tại ngay phút đầu đã trở thành cái vô ngã của bản ngã. Đó là sự cố đã khua động bản ngã của con người để sáng tạo và giúp cho con người thực hiện câu thơ để chia xẻ với tha nhân;con người đã nhìn cái đẹp một cách siêu thoát đó là cái vô ngã được hữu ngã hoá nhờ cái nhìn của bản ngã từ “một thương cho tới mười thương” là đề cao cái đẹp phong phú vừa cao đẹp vừa thẩm mỹ học và chính cái tôi bày tỏ lại đứng sau và được hữu ngã hoá vũ trụ để làm tan biến ngoại giới mà trở về với bản ngã mà không có cái tôi trong đó .

[img]UserPostedImage[/img]
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai thao dịu dàng
Bảy thương nét ở khôn ngoan
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương em ở một mình Mười thương con mắt đưa tình với anh


[img]UserPostedImage[/img]

Do đấy con người của ca dao là con người của cuộc đời,của vũ trụ chớ không phải con người chỉ là con người như một ý thức bi đát về người.Lối về của vũ trụ đã chiếm cứ hiện tượng bằng bản ngã của mình,chính là lối đi về của tình thương,cái tình mà con người tìm thấy;tất cả ca dao là ở chỗ ấy và có thể nói ca dao có hai bề mặt là bản ngã và vô ngã cả hai mảng nầy dùng để xoa dịu những xót thương hay thương mong về tình cảnh khi con người mới dấn thân vào đời và vũ trụ.Bởi vì tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được.

Từ những vị trí đó giấc mơ về vũ trụ giúp cho con người thoát được thời gian,không còn thấy sự lôi cuốn của thời gian.Từ bản thể nhìn ra đó là trạng thái của tâm thức và ca dao mở rộng trước mắt ta bằng hiện tượng của trạng thái tâm hồn.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chít chìu

Tất cả là biểu tượng để biểu dương trạng thái mơ về(Rêve a/daydreaming) đó là trạng thái thắc mắc về nhớ thương. Đấy là tâm hồn hiến dâng cho vũ trụ “chiều chiều” là thời gian thuộc khách thể,trong cái đau đớn “ruột đau”là thế giới của nội tại.Với ca dao những ngôn từ thường chứa đựng một nội dung mới của từ ngữ đều qui định một tâm thức trước cuộc đời và vũ trụ.

Mọi sự vật đều hướng tới với con người và đó là cơ hội để người nghệ sĩ đưa vào ca dao những khát vọng yêu đương một khát vọng đầy hứa hẹn,như cuộc tình hay cuộc đời mong muốn.
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em đợi mười thu em chờ


Đó là hiện thực của sự bày tỏ về cảnh giới giữa thành thị với nông thôn và ngôn từ của cuộc sống đã lý giải cái tâm sự tha thiết và chân thật của người yêu,chân thật ở cái chỗ ẩn dụ đó.Người nghệ sĩ bình dân sắp xếp ngôn từ trong thơ để có cái nhìn sự vật và chính cái nhìn đó thoát ra một số tâm lý của con người và chính cái tầm thường đó chẳng hạn như “râu tôm”hay”ruột bầu” ở những nơi thôn dã đìu hiu được người nghệ sĩ cho sống lại cái tình chân đó như một đòi hỏi cần thiết mà nghe rất bình dị của lớp người muôn đời trong ao tù nước đọng.Ca dao bình dân nói lên được cái khát vọng đó mà nhà thơ bình dân của chúng ta hoà nhập một cách tài tình giữa vũ trụ đầy khát vọng tình người.
Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

[img]UserPostedImage[/img]

Đọc lên ta cảm nhận được phần nào lẽ sống,một lẽ sống nồng đượm của tình yêu khát khao đi từ chủ thể con người đến cuộc đời.Ca dao diễn đạt được cái mối giây liên lạc ấy.Mối giây đó không phải hai chiều giữa người và sự vật.Vũ trụ khát vọng của ca dao là hình ảnh cuộc đời mà con người mơ về một cái gì tầm thường nhưng ước sống.Ca dao tạo được cảnh giới mơ về cho những người thành thị và những người xa tầm vóc bình thường.Ngay cả việc mơ về của tình yêu trong cái dung dị đó nó đã hàm chứa một tương lai,một lối đi về của cuộc đời.Mơ về ở đây là cuộc đời có thực chính đấy là phần ý nghĩa hiện hữu của con người.Ca dao tạo nên những giấc mơ hiện thực như vậy đó; cho nên cuộc đời mà ca dao vốn có ý nghĩa và sống có ý nghĩa để đưa tới cảnh đời hiện thực.
Trầu vàng ăn với cau xanh Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

Cho nên văn chương bình dân thường nói lên tâm trạng khát vọng đôi khi nó pha lẫn màu sắc triết lý tiềm ẩn trong ca dao,nó có cái gì mầu nhiệm trong cuộc đời tình ái, đầy bí ẩn trong cái nhìn ẩn dụ(metaphorical) của con người đó là biện-chứng-tức-thì trong mỗi tâm trạng,một tình cảm đơn thuần.Nhưng với triết học có một sự tương quan tối thiểu giữa ta và cuộc đời như một tương quan giữa chủ thể và tha thể; đó là tương quan giữa con người với cuộc đời.Nên chi vượt qua cái nhìn đối tượng và cũng nhờ cái nhìn đó mà vượt qua được giới hạn để đi tới một giá trị trực tiếp.

Duyên,nợ,tình là khát vọng của tình cảm song hành với công việc và sự vật đó là cái nhìn mơ về của hạnh phúc,một gắng bó thực hữu giữa tình yêu vợ chồng một lối mơ về của ca dao,một khát vọng trung thành phát xuất từ cảnh đời hiện thực cho nên lối mơ về đó tạo nên một hiện hữu đồng nhất giữa người và vũ trụ.Con người trôi chảy vào đời nhờ những hình ảnh thuần đơn mà khát vọng đó đã tạo nên thơ;một nguồn thơ nhất thể.Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để tiến tới khát vọng.Vì thế ca dao là tiếng kêu chân thành của con người ham sống,yêu đời,yêu người.Ca dao không yêu cầu cái ủy mị đài các,mơ mộng viễn vông,ca dao đi gần với quần chúng,nhất là đồng bào miền quê và hoá giải mọi uẩn khúc,vui buồn đưa con người về với hạnh phúc.Tác giả của ca dao muốn vậy! Đó chính là cuộc đời mà người nghệ sĩ miền quê yêu cầu.
Sớm mai gánh nước mờ mờ
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu nầy ăn thật là cay
Dù mặn dù lạt dù cay dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương
Cầm lược thì nhớ tới gương Cầm trầu nhớ túi,nằm giường nhớ nhau.


[img]UserPostedImage[/img]

Ca dao còn là hình ảnh, ở đây là những hiện tượng của bản thể.Do đó hình ảnh không còn là hiện tượng đơn thuần mà hiện tượng có nội dung cho nên mới được gọi là hình ảnh.Chính những chất liệu trong ca dao đã tạo nên hình ảnh,hình ảnh của vật thể,hình ảnh của vũ trụ,hình ảnh của tình yêu. Đó là những cái nhìn khai phóng của chúng ta để tìm ra cái nội dung đó;với cái nhìn của ca dao luôn luôn có sự ẩn dấu,tiềm ẩn, đẩy cái hình ảnh đó như thúc dục người nghệ sĩ ca dao phải ẩn mình, đấy là cái nhìn thuở ban đầu.Cái nhìn hai chiều song phương từ bản thể đến hiện tượng để rồi từ hiện tượng qui về bản thể tạo nên một nội dung hình thể như thế là cái nhìn trực tiếp của ca dao nói riêng và thi ca nói chung do đó những sự vật cùng từ ngữ tham dự vào cuộc đời và tạo nên hình ảnh và từ hình ảnh tạo nên ý nghĩa của mình.Cái nhìn đồng hoá mình với sự vật như vậy là cái nhìn trực tiếp đi vào bản thể không cần tìm đến bản thể mà thấy hiện tượng từ bản thể và từ đó tình yêu được bừng sáng lên và hiện hữu “Tôi đặt trái táo trên bàn,rồi tôi hoà mình vào trong trái táo. Ôi!tuyệt vời biết là bao…”(Henri Michaux) Tuy không trực tiếp bằng cái nhìn phối hợp của ca dao nhưng cũng tương đồng ý nghĩa.Tâm trạng đó người ta gọi là ý thức biểu tượng.

Qua đình ghé nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói,thương mình bấy nhiêu

Cho nên cái nhìn trong ca dao dù chỉ là cái nhìn ban đầu là truyền thừa vào biến trình diễn đạt của dân tộc,nội dung ý nghĩa vẫn còn vang vọng nhờ những hình ảnh đó.Cái ngôn từ trong ca dao Việt Nam trước sau vẫn vướng vít hình ảnh của tình yêu mà ca dao là môi giới trong lãnh vực của tình yêu.

[img]UserPostedImage[/img]
Kết.

Ca dao là mạch thở của thơ,là nguồn sáng tạo vô tận,là ngôn từ của văn chương bình dân chứa đựng hết thảy tình người trong đó.Ca dao càng mộc mạc bao nhiêu thì càng chan chứa bấy nhiêu,ca dao không đỏm dáng,chải chuốt bóng bẩy mà thường xử dụng những ngôn từ thực tế của cuộc đời,mà chúng ta thường gắn liền với nhau:con người và cuộc đời,nó trở thành như định lệ.Nhưng nghĩ cho cùng đó chính là sức sống,chính bản thể thôi thúc,con người với hiện tượng tình yêu và từ hiện tượng nầy thoát ra hiện tượng khác bằng ý thức bản thể có ý hướng của mình.Valery có lần nói:”Le vrai poète

est celui qui inspire”Giòng thơ thực chỉ đến với người có tâm hồn bộc phát;người nghệ sĩ ca dao thực thi đúng tinh thần ấy, đó là ca dao khua động bản thể của con người,gợi lên sức sống để đi vào cuộc đời và hoà mình với hiện tượng rồi từ hiện tượng ấy hoà mình với sự vật để đột biến thành hình ảnh cho ca dao,lúc đó sự hiện diện của ca dao sáng tỏ không còn gì gọi là ẩn tàng hay ẩn dụ nó biến thành thi ảnh mang nội dung ý nghĩa biến động của bản thể con người.Do đó ca dao trở nên hiện hữu như ta đã thấy trong ca dao.

Cho nên những nhà nghệ sĩ nông thôn,không phải là nhà nghệ sĩ của văn chương bác học mà họ từ những người thợ cày,thợ gặt,trẻ chăn trâu đều có con mắt nhìn vào thực tế, họ nhìn thấu suốt giữa người và vật,ca dao nông thôn đầy cảm hứng thi vị.Nghệ sĩ ca dao bình dân thể hiện được ý thức đó nghĩa là muốn xây dựng một hình ảnh phải phóng bản thể của mình vào hiện tượng cho bản thể sống trong hiện tượng và trở thành hiện tượng của bản thể và cho sự vật là ta như ta trong sự vật.Vì đó; là khi bản thể giao tiếp với cuộc đời.

Tóm lại ca dao đã du nhập những giòng thơ của văn chương bình dân,biến hình từ câu hò điệu hát,trao đổi,hò đối đáp,cắt xén,rút gọn,dể dàng truyền khẩu từ đó được gọi là ca dao,nó thường mô tả tình người dưới muôn hình vạn trạng, từ nội giới tới ngoại giới. Đấy cũng là một phần bản thể dân tộc,một văn hoá văn minh truyền thống. Điều đặc biệt của ca dao ,ngôn từ không ước lệ,ca dao nói những gì thực hữu giữa cuộc đời,nương theo chiều sáng tạo của thi ca qua bao thế kỷ và chế ngự cả thơ Việt lẫn thơ Đường bằng những câu rất đơn sơ mà đầy ý nghĩa và đi sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội một cách dể dàng và nhanh chóng.Một ngôn từ thiết tha,một đường giây giữa nội tâm và ngoại giới. Đó là nhân tố trong văn chương bình dân Việt Nam.Một thứ triết lý của văn chương bình dân cần phải tô điểm và nghiên cứu chiều sâu của nó ./.
VÕ CÔNG LIÊM



nhat-tam  
#102 Posted : Thursday, June 24, 2010 2:17:32 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
MÙA HÈ Trong Thi Ca Của Tuổi Học Trò

[img]UserPostedImage[/img]
Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về
Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ …
(Thơ tiền chiến)

Mỗi khi tưởng nhớ lại quá khứ xa xưa, nhất là lúc chúng ta hiện đang sống tha hương, có lẽ chúng ta không làm sao quên được những tháng ngày học trò đong đầy kỷ niệm mà chắc chắn quí Thầy Cô và quí anh chị em, không nhiều thì ít cũng đã một lần trải qua.

Sau những tháng ngày cùng với bạn bè miệt mài đèn sách chúng ta thường nghĩ đến hè, một phần bởi vì
Hè về hè về, nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về hè về, tiếng ca nhịp phách lên khơi
đầu gềnh suối mát, reo vui dào dạt ngập trời gió mát
ven mây phiêu bạt hồn say ý chơi vơi
ngày xanh thắm nét cười, lòng tha thiết yêu đời
(Hè về của Hùng Lân)


[img]UserPostedImage[/img]

Đúng như nhạc sĩ Hùng Lân đã diễn tả, mùa hè trời đẹp, nắng ấm, phong cảnh hữu tình. Một thi sĩ nào đó đã phát họa một bức tranh thật đẹp, có tiếng ve ca, với hàng cây phượng nở hoa dọc theo hàng rào sân trường mỗi lần hè trở lại:
Hè sang lá cây xanh màu, hè sang vang tiếng ve sầu
Hè sang phượng tươi thấm màu, ru say hồn thi nhân ..

Hè sang lá cây xanh màu, hè sang vang tiếng ve sầu Hè sang phượng tươi thấm màu, nơi ngôi trường thân yêu ..



[img]UserPostedImage[/img]

Khi đang còn đến trường chúng ta mong hè về để được nghỉ học đi chơi, nhưng lại mâu thuẩn với chính mình vì hè đến là bắt buộc phải xa cách thầy cô bạn bè, tiếc nuối như vừa đánh mất cái gì.

Hãy nghe người thi sĩ tâm tình thay cho chúng ta:
Mỗi độ hè sang nghe lòng thêm lưu luyến.
Trông cánh phượng rơi mà tiếc thương tuổi học trò.
Ngày nao tung tăng trên đường hoa bay giăng giăng. Tặng nhau hoa rơi thấy lòng như xót xa nhiều …


[img]UserPostedImage[/img]

Hè đến, chia tay nhau, mỗi người một nơi. Có bạn ở nhà giúp gia đình, có bạn theo cha mẹ hay anh chị đi đây đi đó, về quê thăm bà con, bạn bè. Hoặc nếu có điều kiện thì đi xa hơn nữa. Vào Đà Lạt nghỉ mát hay viếng thăm Nha Trang tắm biển… Bạn nào vào lứa tuổi đôi tám trở lên nhỡ thầm yêu ai đó rồi thì tâm trạng có khi hơi khác. Hãy nghe Thanh Sơn thố lộ:
Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương
Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi,
Phút gần gủi nhau mất rồi, tạ từ là hết người ơi!

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng,
biết ai còn nhớ đến ân tình xưa

Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu,
những chiều hẹn nhau hết rồi, giờ như nước trôi qua cầu. (Nỗi buồn hoa phượng của Thanh sơn)


Hè về là lúc bạn bè thầy cô luyến tiếc, tạm biệt chia tay. Nhạc sĩ Lam Phương đã mượn nốt nhạc lời ca để diễn tả giây phút này:
Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau
Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời cao
Lời vui thắm thiết đưa trao, như khi mới gặp nhau
Nhưng anh ơi ngày mai ta cách xa
Anh kinh đô tôi phải về miền xa,
Biệt ly ai khéo gieo chi lên bao mái đầu xanh….
(Ngày Tạm Biệt)


[img]UserPostedImage[/img]

Tuổi học trò có thể nói là lứa tuổi khá hồn nhiên, ngây thơ nhất. Tuy vậy vẫn không thiếu những mối tình học trò thật đẹp, trong trắng với bao nhiêu mộng mơ. Làm sao quên được những buổi tan trường anh chàng lẩn thẩn đi theo sau người thầm yêu trộm nhớ nhưng có lẽ vì rụt rè chưa một lần tỏ tình. Tình yêu học trò đã được phản ảnh qua bài ca "Màu Kỷ Niệm" của nhạc sĩ Phạm Đình Chương:
Nhớ ngày nào tan trường về chung lối
Mắt thuyền sương, nghiêng nón ngất ngây đời
Lòng trao lòng cho tình vút lên khơi,
Cho ngon màu trìu mến ướt lên môi
Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương. Anh pha mực cho vừa màu luyến thương.


Thời gian trôi qua, có bạn đến lúc phải rời trường sau khi xong trung học hay vì hoàn cảnh nào đó. Buổi chia tay từ giã bạn bè, từ giã ngôi trường sao không khỏi bùi ngùi tiếc nhớ :
Thế rồi từ ly chúng mình đi trăm lối.
Mỗi đứa một nơi, để tiến thân trong cuộc đời.
Ngày chia tay nhau sân trường hoa rơi lao xao.
Ngàn câu thương đau có loài ve nói thay mình.
Xa cách nhau rồi, thương tiếc cũng đành thôi.
(Mùa hoa học trò )


Kỷ niệm học trò khó nhạt phai. Những hình ảnh đẹp với bạn bè, thầy cô trong chuổi ngày cặp sách đến trường hình như luôn luôn quanh quẩn bên ta, khó quên:
Biết bao ngày tháng êm đềm dần trôi
Mái trường xưa đã xa
Tiếng nói thầy cô dịu dàng theo ta năm tháng
Còn đâu nữa dòng lưu bút mến thương
Màu mực tím cùng trang sách vấn vương th
(Tiếng hát học trò của Nguyễn Hiền)



[img]UserPostedImage[/img] Lưu bút ngày xanh

Để rồi có lúc tình cờ giữa hè trở về quê cũ ghé thăm lại trường xưa. Người học trò cũ không khỏi bàng hoàng tiếc nuối:
Một thoáng bâng khuâng trước sân trường im vắng
Nhặt cánh hoa rơi
Ép sâu vào nhớ thương hoài
Một thời vô tư đầy mơ ước
Một thời ngây thơ khi mới yêu
Rồi hè qua đi cùng năm tháng
để lại trong tôi bao vấn vương (Kỷ niệm mùa hè của Nguyễn ngọc Thiện)


Cũng có bạn may mắn thăm lại trường xưa sau hè khi mùa tựu trường bắt đầu trở lại. Không quên người yêu thầm nhớ trộm bé nhỏ ngày nào, chàng chờ trước cỗng lẻo đẻo theo nàng sau khi tan trường về. Nàng ta biết rõ nhưng làm bộ như không để tận hưởng sự đeo đuổi của anh chàng, trách yêu:
Nầy đừng theo tôi nói nữa ông ơi
Bước chân tôi lại cuống quít rồi
Đã từ lâu thấy ông cùng lối
Nhưng giả vờ không biết đó thôi
(Tuổi học trò)


[img]UserPostedImage[/img]

Hình ảnh dễ thương, sự tỏ tình kín đáo được thể hiện qua sự diễn tả nhẹ nhàng nhí nhảnh nhắn nhủ cho chàng ta viết thư tình cho mình của người thi sĩ vô danh nào đó:
Ông nặng lòng cũng chẳng ích chi
Giấy xanh mực tím để mà làm gì ?
Chắc hẳn tối nay bên bàn cũ Nhật ký tôi dầy thêm trang ghi


Thời gian xa cách đôi khi khá lâu, tình cờ bạn bè hội ngộ lại, bở ngỡ nhìn nhau ôn lại thuở học trò mộng mơ ngày nào. Nhạc sĩ Phạm thế Mỹ đã gợi cho ta thấy hình ảnh này như sau :
Tôi lại gặp anh
Giờ đây nơi quán nhỏ
Tuỗi 30 mà ngỡ như trẻ thơ
Nhớ gì từ ngày anh xa mái trường
Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường
Lối gầy về nhà anh hoa phượng thắm ...
(Trăng tàn trên hè phố)


Và rồi cùng nhau ôn lại quá khứ của tuổi học trò ngây thơ trong trắng ngày nào:
Bây giờ còn nhớ hay không?
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa
Ngây thơ em rủ anh ra Nhặt được hoa phượng về nhà chơi chung.


[img]UserPostedImage[/img]

Thời nào và ở đâu cũng vậy, mùa hè, hoa phượng luôn làm xao xuyến lòng người. Những năm sau này ở trong nước và cả ở hải ngoại người ta vẫn thường hát bài Phượng Hồng, thơ của Đổ Trung Quân với những lời lẽ dễ gây xúc cảm

[img]UserPostedImage[/img]
Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám Thuở chẳng ai hay, thầm lặng mối tình đầu

Anh chị và các bạn thân mến,

Có lần nào anh chị và các bạn nhặt hoa phượng về ép trong sách để làm kỷ niệm? ... Bởi vì khi nói đến tuổi học trò thì không thể không nhắc đến những kỷ niệm! Phần nhiều những kỷ niệm đó có liên quan đến thơ nhạc. Vâng, còn nhiều bài thơ, bản nhạc ca ngợi tuổi học trò nhưng tôi chỉ xin trích một số giới thiệu với quí thầy cô, anh chị em để chúng ta cùng ôn lại những tháng ngày sáng chiều hai buổi cắp sách đến trường, đến những lúc bịn rịn viết lưu bút cho nhau trước khi chia tay mỗi độ hè về:
Mỗi độ hè sang nghe lòng thêm lưu luyến.
Trông cánh phượng rơi mà tiếc thương tuổi học trò.
Ngày nao tung tăng trên đường hoa bay giăng giăng. Tặng nhau hoa rơi thấy lòng như xót xa nhiều…


UserPostedImage
Lê Ngọc Châu


nhat-tam  
#103 Posted : Friday, June 25, 2010 2:01:33 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
THANKS các link nhạc của thunderxuan hoang nha! Chúc các bạn 1 ngày vui đẹp!
nhat-tam  
#104 Posted : Saturday, June 26, 2010 2:40:24 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
XUÂN Trong Thi Ca Việt Nam
[img]UserPostedImage[/img]
Nói đến mùa Xuân là nói đến mùa ấm áp, khí hậu thật mát dịu trong lành. Bầu trời luôn luôn sáng sủa và quang đảng với trời xanh, mây trắng, nắng hồng. Mùa Xuân là mùa cây cối đâm chồi nẩy lộc. Hàng ngàn loại hoa đua nhau khoe sắc dưới ánh nắng xuân chan hoà khắp nơi. Bên những đóa hoa khoe màu trong nắng, những đàn bướm tung tăng lượn qua lại như muốn tỏ tình.

Trước cảnh đẹp thiên nhiên với nghìn cây đang đơm bông kết trái, trước cảnh đẹp tuyệt vời của ngàn đoa hoa xuân có bướm lượn quanh ngây ngất tình, trước cảnh đàn chim nên thơ hót líu lo trên cành cây dưới nắng xuân hồng ấm áp, trước cảnh thơ ngây của những cô gái xuân đến tuổi dậy thì mơn mởn đào tơ đang e ấp tình xuân, các thi nhân đã xúc động để rồi sáng tác nên hàng trăm câu thơ ca ngợi xuân về, sáng tác hằng ngàn câu thơ thêu dệt tình xuân.

[img]UserPostedImage[/img] Cánh Bướm Vườn Xuân

Ngày xưa ở bên Trung Quốc đời Đường, thi sĩ Trịnh Cốc đã tả cảnh biệt ly giữa mùa xuân qua mấy câu thơ thật nồng nàn thắm thiết:
“Dương Tử giang đầu dương liễu xuân
Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong dịch ly đình vẩn
Quân hướng tiêu tương, ngã hướng tần.”

Đầu sông Dương Tử liễu xanh
Hoa dương khiến khách qua sông lệ tràn
Sáo chiều vẳng tiếng ly tan
Tiêu tương bạn đến, đường Tần tôi qua. (Chi Điền dịch )

Tại việt nam, các thi nhân cũng đua nhau tả cảnh xuân về trên đất Việt. Hình ảnh mùa xuân rõ nét nhất là mấy câu thơ thật trong sáng và nhẹ nhàng của thi sĩ Nguyễn Du trong tác phẩm truyện Kiều:
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”


[img]UserPostedImage[/img] Tình xuân

Tiếp theo thi sĩ Nguyễn Du, các nhà thơ Việt nam thời tiền chiến cũng đã tả cảnh xuân về qua những dòng thơ thật tuyệt đẹp và trữ tình, nghìn năm vẫn còn xúc động và nhớ mãi không quên. Hãy nghe nhà thơ Nguyễn Bính tả cảnh xuân về:
“Từng đàn con trẻ chạy xum xoe
Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe
Lá nỏn cành non ai tráng bạc ?
Gió về từng trận gió bay đi.” (Xuân Về )


[img]UserPostedImage[/img]

Khi trời quang mây tạnh, nắng xuân lại về giữa những cơn gió chiều nhè nhẹ lướt qua đồi khiến cho lòng người lâng lâng khoan khoái, nhiều lúc muốn ôm mùa xuân vào lòng để ấp ủ tình xuân. Xúc động trước cảnh chiều xuân ngập nắng, nhà thơ Huy Cận đã tả cảnh xuân về làm rung động lòng người:
“Xuân gội tràn đầy
Giữa lòng người hoan lạc,
Trên mình hoa cây…
Nắng vàng lạt lạt
Ngày đi chầy chầy…
Hai hàng cây xanh
Đâm chồi hy vọng
Ôi! duyên tốt lành
Em ngà đưa võng
Hương đồng lên tranh
Kề bên đường tạnh
Cỏ mọc bờ non
Chiều xuân tươi mạnh
Gió bay vào hồn.” (Chiều Xuân)


[img]UserPostedImage[/img]

Cũng cảnh chiều xuân, nhà thơ Quách Tấn lại rung cảm hồn mình theo cảnh hoàng hôn qua những dòng thơ chan chứa xuân tình:
“Chim mang về tổ bóng hoàng hôn
Vàng lửng lơ non biếc đọng cồn
Cành gió hương xao hoa tỉ muội
Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn
Khói mây quanh quẩn hồi chuông vọng
Trời biển nôn nao tiếng địch dồn
Thưởng cảnh ông câu tình tự quá
Thuyền con chở nguyệt đến cô thôn.” (Chiều Xuân )


[img]UserPostedImage[/img]

Từ cảnh chiều xuân đến cành hoàng hôn, từ cảnh hoàng hôn đến cảnh đêm xuân ta thấy cảnh nào thi nhân cũng sáng tác nên những dòng thơ bất hủ nghìn đời. Nếu nhà thơ Huy Cận với “nắng vàng lạt lạt hàng cây xanh…Cỏ mọc bờ non, gió bay vào hồn”, nếu nhà thơ Quách Tấn với “Đồi nương sóng lượn cỏ vương tôn… thuyền con chở nguyệt đến cô thôn”, thì nhà thơ Bích Khê không ngần ngại sáng tác những dòng thơ đầy man dại với nắng, với trăng, với sương cùng lau lách:
“Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần tuý và tượng trưng
Nắng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhỉ nhỉ giọt
Bay qua cụm liễu phơi
Những cườm tay điểm hột
Sương phất phơ lau lách.” ( Xuân Tượng Trưng )


Ta thấy lối tả xuân thật man dại như Bích Khê cũng có nhiều nhà thơ sáng tác. Nhưng điển hình của phái “tượng trưng” này không ai qua mặt được Bích Khê chăng?
Còn lại là những nhà thơ chuyên sáng tác những dòng thơ trong sáng và nhẹ nhàng chứ không man dại. Khi nói đến mùa xuân, hầu hết ca cù thi nhân việt nam thường ca tụng nắng xuân, gió xuân rất nhiều. Ta hãy nghe nhà thơ Nguyễn Giang con của nhà văn Nguyễn văn Vĩnh, dệt mấy dòng thơ xuân thật tình tứ:
“Gió xuân phơ phất thổi trong cành
Lớp lớp bên đường bóng lá xanh
Cây cỏ cười tươi hoa mủm mỉm
Học sinh qua lại áo phong phanh.” (Xuân)


[img]UserPostedImage[/img]

Mặc dầu nắng xuân, gió xuân là những hình ảnh tuyệt đẹp cứ mỗi độ xuân về, nhưng mưa xuân lại là hình ảnh độc đáo nhất của mùa xuân. Chính hình ảnh nầy đã làm cho thi sĩ Anh Thơ khoan khoái mà sáng tác những dòng thơ thật đẹp và thật buồn:
“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.” (Chiều Xuân)


[img]UserPostedImage[/img]

Qua những dòng thơ vừa được trình bày ở trên, ta thấy các thi nhân chỉ tả cảnh mùa xuân mà không đề cập gì đến nắng xuân cả. Nhưng đọc qua bài “Mùa xuân chín” của Hàn mạc Tử, ta thấy nhà thơ đã vừa tả cảnh xuân về thật đẹp đẽ và nên thơ vừa lồng vào trong đó một vài hình ảnh của các cô thôn—nữ đang hát trên đồi dưới nắng xuân sao mà quyến rũ:
“Trong làng nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trên tà áo biếc
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.” (Mùa Xuân Chín)


UserPostedImage
Nắng xuân

Qua những thi phẩm và những nhà thơ vừa được trình bày, ta thấy hầu hết tả cảnh mùa xuân với nắng xuân tỏa rộng khắp trời, với gió xuân man mác mùa trăng với mưa xuân mát dịu và u buồn. Nhưng nếu tả cảnh xuân về mà không đề cập đến tình yêu là một sự thiếu sót trầm trọng trong thi ca và mùa xuân sẽ mất đi nhiều ý nghĩa. Chính vì vậy mà nhiều thi nhân đã bộc lộ tình yêu giữa mùa xuân đầm ấm qua những dòng thơ bất hủ, lãng mạn chất chứa những hương tình. Ta hãy nghe nhà thơ J. Leiba nói về tình yêu giữa mùa xuân:
“Mồng một vui xuân hai chúng ta
Em muời ba tuổi tính còn thơ
Em anh còn cãi nhau như trẻ
Em dỗi, anh nhìn dạ ngẩn ngơ
Xuân này xuân trước cách bao rồi
Nhớ buổi xuân nào tiếc phút vui
Ngày nay nhớ lại buổi vô tình
Anh lặng yêu em, em nhớ anh
Rồi mùa xuân qua xuân lại lại
Biết rằng sau có vẹn ba sinh.” (Năm Qua )


Mùa xuân đến rồi mùa xuân đi. Tình yêu vì vậy lắm lúc cũng như mùa xuân, cũng đến rồi cũng đi, nghĩa là yêu nhau rồi lại ly biệt, khiến cho cảnh xuân nhiều khi cũng buồn da diết.

Điển hình là mấy dòng thơ sau đây của thi sĩ Lưu trọng Lư với cảnh xuân về rồi xuân đi khiến “chàng.” cũng đi theo mùa xuân không hẹn ngày trở lại
“Năm vừa rồi
Chàng cùng tôi
Nơi vùng giáp mơ
Trong gian nhà cỏ
Tôi quay tơ
Chàng ngâm thơ
Vườn sau canh giục giã
Nhìn ra hoa đua nở
Dừng tay tôi kêu chàng:
Này,này,bạn: xuân sang
Chàng nhìn xuân mặt hớn hở
Tôi nhìn chàng lòng vồn vã
Rồi ngày lại ngày
Sắc màu: phai
Lá cành: rung
Ba gian: trống
Xuân đi: Chàng cũng đi
Năm nay xuân còn trở lại
Người xưa không thấy tới.” (Tiếng Thu)


[img]UserPostedImage[/img]

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, tuổi xuân là tuổi đẹp nhất của đời người. Nhất là những cô gái dậy thì lúc đang ở tuổi trăng tròn lẻ. Cái tuổi thơ ngây tràn ngập tình xuân. Với tuổi này nếu bắt đầu yêu, các cô sẽ xúc động và thường có những giấc mộng tương tư, để rồi nhớ thương sầu thảm. Và hình ảnh người yêu lắm lúc canh cánh bên lòng. Yêu nhau khi xuân đến rồi xa nhau khi xuân lại về để không bao giờ gặp nhau nữa, khiến “cô buồn, cô tiếc…cô nhớ ngày xuân, nhớ tuổi thơ.” như thi sĩ Đông Hồ dệt những dòng thơ thật lãng mạn nhưng lại buồn vời vợi, khiến nhiều lúc nghẹn ngào vì khóc tình quân:
“Tưng bừng hoa nở bóng ngày xuân
Rực rỡ lòng cô hoa ái ân
Như đợi như chờ, như nhớ tưởng
Đợi chờ tưởng nhớ bóng tình quân
…………………
Aí tình nào phải bướm ngày xuân
Tình ái ngày xuân chỉ một lần
Một thoáng bay qua không trở lại
Gái xuân đỏ lệ khóc tình quân
…………………
Lủi thủi trên đường cô ngẩn ngơ
Chốn nầy đuổi bắt bướm ngày xưa
Cô buồn, cô tiếc, cô ngâm ngùi
Cô nhớ ngày xuân nhớ tuổi thơ.” (Cô Gái Xuân )


Hay là:
“Ngày vui không có mấy
Đôi lứa cũng xa nhau
Tuổi xuân còn mãi đâu
Biệt ly nay mới biết
Chỉ xiết nỗi thương đau
Giọt lệ một lần ứa
Biết bao lần chan chứa
Một lần khi bắt đầu
Biết bao lần sau nữa!” (Cô Gái Xuân )


Hoặc là:
“Kể từ khi quen nhau
Vừa mười ba tuổi đầu
Tuổi xuân tuổi vui sướng Nào có biết chi sầu.”


UserPostedImage

Xuân đến là ngày hội hoa đăng của muôn lòai trên trái đất, là ngày vui của loài người vì tất cả như trẻ lại để thưởng thức cái đẹp khi xuân về. Ấy thế mà nhiều người lại không muốn mùa xuân về, không muốn mùa xuân xuất hiện trong đời, vì mỗi lần xuân về là mỗi lần làm cho họ đau khổ triền miên. Ta hãy nghe nhà thơ Chế lan Viên nức nở lệ sầu khi mùa xuân đến:
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẽo xuân sang.” ( Xuân )


Nói chung, cũng giống như mùa thu, các thi nhân Việt nam đã sáng tác rất nhiều bài thơ ca ngợi mùa xuân với hàng ngàn cây xanh tươi mát đang kết trái đơm bông, với những áng mây chiều trôi giữa nắng hồng, với những nụ cười tươi như hoa nở của các cô gái xuân đang e ấp xuân tình. Chính vì thế, thi ca Việt nam càng ngày càng thêm phong phú nhờ những dòng thơ xuân bất hủ ngàn năm.

[img]UserPostedImage[/img]
[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/YCNbeQIfHr[/FLASH] Anh Cho Em Mùa Xuân
[img]UserPostedImage[/img]
Dương Viết Điền

nhat-tam  
#105 Posted : Sunday, June 27, 2010 3:49:38 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
HOA MAI VÀNG NGÀY TẾT
UserPostedImage Trước tháng Tư Đen 1975, dân chúng miền Nam Việt Nam đón Xuân rộn ràng qua những cành mai nở vàng rực rỡ, rất nhiều nhà có trồng một vài cây mai ngay bên lối ra vào hay trong sân nhà. Người miền Nam quý bông mai lắm vì từ ngàn xưa người ta vẫn cho rằng hoa Mai đã đem đến nhiều may mắn nên được xếp vào loại hoa quý nhất trong hàng nhiều thứ hoa, nó nở rộ vào dịp Xuân về Tết đến, mà lại nở đúng vào ngày mà người chủ đã ước định, miễn là gia chủ khéo căn khi lặt lá trước thời gian, hoặc biết kích thích cho hoa nở đúng hạn kỳ. Trong nhiều bức tranh cổ xưa vẫn còn còn lưu truyền cho đến ngày nay thì bức tranh Tứ Bình, đã vẽ bốn loại hoa quý là Mai, Lan, Cúc, Trúc. Ngoài ra còn lưu truyền bức tranh tứ thời, cũng vẽ bốn loại hoa cảnh nổi tiếng nữa là Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay Lan, Sen, Cúc, Mai. Tựu chung thì dù người ta ở thời đại nào, dù có thay đổi quan niệm việc thưởng ngoạn, có những năm tiết trời trở lạnh thì chúng ta vẫn thấy có sự hiện diện của hoa Mai:
Hoa mai năm cánh giữa mùa đông
Bừng ngát hương thơm thắm mộng lòng
Trong tôi bỗng nở mai vàng thắm
Một đóa hoa lòng thơm ngát trong. (Mai Vàng Nở Giữa Mùa Đông- Nguyễn Thị Tê Hát)
hay

Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông (Bích Câu kỳ ngộ)


Như đã nói ở trên, trước 30-4-1975 (mà ta thường gọi là tháng Tư Đen -75), miền Nam Việt Nam chưa bị nạn Cộng sản nhuộm đỏthì nơi đây có rất nhiều hoa Mai, tại miền Trung có hoa Mai nhiều nhất là hai tỉnh Quảng Nam và Bình Thuận. Riêng tại thủ đô Sài Gòn vào những ngày sắp Tết nguyên đán thì những cây Mai hoặc cành Mai từ khắp các tỉnh miền lục tỉnh, nhiều nhất là từ Sa Đéc, và các tỉnh miền Trung như Đà Lạt, Lâm Đồng đổ vào Sài Gòn hàng trăm loại hoa, đáng kể nhất là hoa Mai vàng rực rỡ.

Giữa muôn hoa bày tại chợ hoa Nguyễn Huệ như hoa hồng, lay-ơn, hoa cúc v.v. khoe hương sắc, nhưng người ta vẫn nườm nượp ùa tới những gian hàng bán Hoa Mai, để tha hồ mà nhìn ngắm rồi so sánh để lựa chọn những cành mai vàng năm cánh mỏng như lụa, hay những cây Mai trồng trong chậu nở hoa vàng đang rung rung nhẹ trước cơn gió. Hoa Mai chính là bạn lâu đời nhất của dân Miền Nam, quanh năm sống gần gũi trước ngõ hay sau vườn. Mai còn sống heo hút trong rừng sâu núi thẳm, mà hy vọng của nó thì chỉ có những ngày Xuân về Tến đến thì mới được hiện diện vui Xuân nơi chốn thị thành vui với mọi nhà.

Hoa mai thường chỉ có năm cánh. Nhưng ngày nay theo phương pháp lai cành chiết giống nên người ta đã tạo ra được rất nhiều loại giống mai mới, có loại người ta tạo cho Hoa Mai nở tới mười cánh, có loại hoa mai tới hai mươi cánh với các màu sắc loè loẹt sặc sỡ đủ màu như trắng, vàng hoặc có tay chơi đã ghép đủ màu sặc sỡ nên nhiều khi trở lên lố bịch kịch cỡm. Đây là sản phẩm tự chế của những kẻ ở cái xã hội chủ nghĩa việt cộng, câu tục ngữ ‘’ở bầu thì tròn, ở ống thì dài’’ cho nên những kẻ ở với chế độ này đã làm biến đổi loạn xạ, họ quen xét đời qua giá trị của sản phẩm vật chất mà không cần biết tới cõi hồn tinh khiết bên trong, dù đó là hồn nước, hồn người hay hồn hoa tươi thắm đượm, bởi thế đã tạo hình hoa mai một cách kỳ quái như vậy.

Cây Mai có thân hình khẳng khiu nhưng khó gẫy nên vẫn ẻo lả duyên dáng dễ thương, cánh hoa thì màu sắc thắm tươi, mỏng manh cho đến khi lìa cành mà màu sắc vẫn không thay đổi. Mai được xếp đầu trong các loại hoa. Hoa mai nở rộ trong những ngày đầu Xuân. Hoa Mai cũng là đề tài tạo hứng nên đã làm cho các tâm hồn của những văn nhân thi sĩ, họa sĩ, hay nghệ nhân sáng tạo những tác phẩm để đời. Chính vì như thế mà họ đã lưu truyền cho hậu thế rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, nói về các loại Hoa Mai rất đặc sắc và trữ tình, như loại Mai chiếu thuỷ dưới đây
Khiêm nhường đứng giữa mênh mông
Buồn vui thế sự… đục, trong… cõi người
Biết mình phận chẳng thắm tươi
Li ti cánh trắng mỉm cười trao hương
Không như muôn thuở lẽ thường
Nhởn nhơ khoe sắc, hướng dương phô mình
Thăng trầm lòng vẫn lặng thinh
Thản nhiên dưới lá, dấu mình sau cây.
Gương soi mặt nước hồ đầy
Bốn mùa thơm một sắc gầy thủy chung
Đơn côi quen với lạnh lùng
Nắng mưa chẳng cậy bách tùng chở che.
Xốn xang nắng dội trưa hè
Bóng mình nghiêng xuống lắng nghe nỗi đời…
Với ai cuối đất cùng trời
Một loài hoa… một kiếp người hóa thân! (Mai Chiếu Thủy - Lệ Thu)


Trong Văn Chương Cổ Điển còn kể đến những loại Hoa Mai như sau:

Mai Vàng tại miền Nam VN : Loại Mai này hoàn toàn khác biệt với giống Mai vàng đã có từ lâu đời tại Miền Nam VN. Một giống Mai có tên khoa học là Prunus Mume, nó thuộc họ Hoa Hồng (Rosaleal). Loại hoa Mai này rất khác với Mai giống Mai vàng đã hiện diện ở miền nam Việt Nam từ lâu đời ; loại Mai này họ hàng rất gần với cây Mơ mang tên khoa học Prunus Armeniaca Lin, hay cùng giống với cây Đào (Prunus Persica Stokes). Hoa Mai này có hoa năm cánh, có nhiều màu : trắng, hồng hay đỏ thẫm huyết dụ, toả hương thơm thoang thoảng. Trái Mai lúc chưa chín thì màu xanh, nó biến thành màu vàng khi đã chín. Ở miền Quý Châu Trung Quốc, người ta thường đem sấy khô thành quả Ô Mai hay Ô Môi và đem qua Việt Nam bán mà chúng ta thường gọi là Xí Muội. Trong văn chương cổ điển Trung Hoa lại gọi loại này là loại Mai trúc.

Tại Miền Nam VN có loại Mai vàng:

Tên khoa học của loại Mai vàng này là Dohna Harman, nó thuộc họ Hoàng Mai Ochnaceae. Mai vàng không có mùi thơm, còn trái của nó thì chỉ nhỏ bé bằng hạt đậu, khi còn tươi có màu xanh, khi cây chết thì trái biến thành màu đen, trái cây này không ăn được. Còn có một giống Mai thuộc họ Tre vì thân nó thì dài lại thẳng đứng, có nhiều đốt như cây tre mà vỏ thì dầy, có lá to. Loại Mai này thường mọc trong rừng, người ta thường đốn với tre đem về làm nhà cưa từng khúc làm ống đựng nước uống, tuy nó dược gọi là Mai nhưng lại rất khác biệt với hai loài hoa Mai vừa nói ở trên.
Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những tre cùng nưa lấy ai bạn cùng (Tục ngữ Phong dao)


Được biết các giống Mai đều chịu đựng được các thời tiết đổi thay, dù cho ấm áp hay giá buốt, thường vào mùa Xuân về Tết đến, Mai luôn ngạo nghễ nở hoa, để chào đón chúa Xuân, trong phút giây giao mùa. Bởi vì Mai có bản sắc cuồng ngạo đó nên nó đã lôi cuốn nhiều người kể cả nghệ nhân vào cuộc chơi với Mai vì Mai chính là hiện thân của hàng kẻ sĩ, của các đấng trượng phu, anh hùng mã thượng, tượng trưng cho sức chịu đựng tất cả tang thương dâu biển của cuộc đời, bất chấp cả cuồng phong bão táp cốt sao đạt cho được mục đích cuối cùng đó là ích nước, lợi dân, làm đẹp cho xã hội loài người. Và chỉ có Mai mới đủ làm biểu tượng cho lớp người có chí anh hùng, đấng trượng phu, coi thường danh lợi và phú quý coi như tất cả là phù vân, trong mắt họ thì vua, quan hay những kẻ cầm quyền thối nát là loài cỏ rác, họ coi bọn khoa bảng trí thức là xu thời, nịnh bợ, a dua chỉ biết nhắm mắt chạy theo bả vinh hoa phú quí, chẳng khác nào sâu bọ, cầm thú đội lốt người. Thời đại của Chu Thần Cao Bá Quát, với chí hiên ngang ông đã viết:
Thập tái luận giao cần cổ kiếm Nhất sinh đề thủ bái mai hoa

Cũng như hoa Đào, hoa Mai cũng được các văn nhân thi sĩ dùng làm cảm hứng để diễn tả nét đài trang, thanh nhã của những người đàn bà đẹp trong các thời đại cổ cũng như tân. Trong Đoạn Trường Tân Thanh mà ta thường biết với tên Kim Vân Kiều hay Truyện Kiều, cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã viết khi tả về sắc đẹp của hai chi em Thúy Kiều và Thuý Vân :

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười. (Kim Vân Kiều - Nguyễn Du)

Những Người Lịch Lãm , Kẻ Bình Dân Với Mai:

Mỗi độ Xuân về, người chơi Mai một cách khác nhau chứ không ai giống ai cả, nhất là đối với những tao nhân mặc khách. Còn đối với giới bình dân, khi lựa chọn một cành mai để vui ba ngày tết thì chỉ cần có nhiều hoa nở đúng vào lúc giao thừa. Và sau đó hoa Mai vẫn còn tiếp tục nở rộ và lâu tàn ít nhất là trong ba ngày Tết, như thế cũng là quá đủ rồi vì đối với họ, đó là điềm báo trước có được sự may mắn cho năm mới mà họ mong chờ.

Nhưng đối với lớp người khá giả, tức là những người có tiền thì khi chọn mai để thưởng thức phải là Mai còn trong chậu, cây Mai phải to và cao, hoa lá xum xuê, nhìn vào là thấy cây hoa Mai đồ sộ để chứng tỏ với hàng xóm láng giềng về sự giàu sang sung túc của chủ nhân nó. Còn đối với những tao nhân mặc khách, hoặc giới nghệ sỹ sành điệu, thì cây hoa mai không phải là loài vô tri, mà nó có sức sống tiềm ẩn như là một sinh vật có cảm giác, biết vui biết buồn hoà chung với người thưởng ngoạn, nên nhiều người đã mệnh danh cho rằng “ Hoa Mai là hoàng hậu của các loài hoa” nên đã được ái mộ, nâng niu, chiều chuộng đúng với câu tục ngữ - Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa – Và tuỳ theo màu sắc người đã đặt tên cho hoa Mai :
- Bạch mai, Chi Mai, Mai Ngự sử là tên hoa Mai có màu sắc trắng như tuyết.
- Mai Thanh Đài là tên hoa mai có sắc màu xanh
- Hoàng Mai, Lạp Mai là tên hoa mai có sắc màu vàng (loại hoa Mai này chỉ nở vào những ngày cuối mùa đông)
- Hồng Mai là tên hoa mai có sắc màu đỏ.
- Mai Thanh Đài Lục Ngạc là tên hoa mai có 6 cánh đan chéo vào nhau như sừng nai, màu xanh. - -Mai Chuỗi là tên hoa mai có hoa và trái kết thành chuỗi.
- Mai Chiếu Thủy là tên hoa mai có sắc màu trắng, cánh nhỏ, thường mọc nghiêng xuống mặt nước, nếu ta trồng bên bờ hồ hay sông nước (loại hoa mai này quý hiếm).
- Mai tứ Thời, Mai tứ quý là tên hoa mai có hoa suốt năm, cả bốn mùa ta đều thấy nó trổ bông.

Không rõ loài Hoa Mai xuất hiện vào thời đại nào trên mặt địa cầu, có người cho rằng có lẽ nó xuất hiện từ lâu lắm rồi vì Mai là một loài hoa có sức chịu dẻo dai, không chết trong thời tiết băng giá của mùa đông để có thể trổ nụ đâm bông vào buổi giao mùa giữa tiết đông giá rét, trỗi dậy để nở hoa khi qua mùa xuân tiết trời ấm áp, có nghĩa là chuyển tiếp từ lạnh lẽo qua ấm áp, năm cũ qua năm mới.

Hoa Mai có năm cánh nó kết thành vòng tròn, ta có thể nói đó là biểu tượng ánh thái dương lan tỏa của tiết trời ấm áp, nắng ấm toả xuống chan hoà cho trái đất hồi sinh và nhân gian được vui vẻ, nhất là vào buổi sáng của những ngày đầu xuân. Với các đặc tính như thế nên loại hoa này mới được gọi là Hoa Mai.

Hoa Mai là giống hoa mà người ta đã đặt cho nó nhiều tên rất trân quí nên cũng có nhiều giai thoại làm nền cho văn chương phong phú thành những điển tích :

1. Cái ngày mà Vương Ông gặp nạn khiến con gái của ông là Vương Thuý Kiều phải bán mình chuộc mạng cho cha, khi nàng phải theo tên Mã Giám Sinh về Lâm Tri thì có một đêm nàng buồn bã và ôm mặt khóc dưới bóng đèn khuya leo loét, buồn đứt ruột tím gan khi nhớ đến Kim Trọng, người yêu của mình đang rong ruổi xa ngoài muôn dặm. Để diễn tả cảnh đau thương bi đát đó Nguyễn Du tiên sinh đã mượn điển tích Trúc Mai mà viết :
Tái Sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền bù Trúc Mai (Kim Vân Kiều - Nguyễn Du)


Vậy Trúc-Mai là gì ? Nó chính là hai loại cây vẫn xanh tốt trong mùa đông băng giá. Nói về đặc tính của hai loại cây này là ‘’Trúc bất chỉ thiên, Mai bất chỉ địa’’, nên cho là một sự hòa hợp âm dương tuyệt diệu. Cũng có sách lại cho rằng ‘’Lưỡng bạn thư vũ tùy bút ‘’ vì sách này có ghi lại câu chuyện Trúc Mai như sau: Vào những mùa đông, các tao nhân mặc khách, không ai bảo ai mà vẫn thường hay tới Đầm Long Môn của tỉnh Quảng Đông để vãn cảnh và thưởng ngoạn rừng Trúc-Mai vì nơi đây họ thích thú khi thấy những cây Trúc Mai vẫn xanh tươi giữa mùa đông trong cảnh tuyết rơi hay đã đóng băng giá buốt lạnh lẽo. Nơi đây có hai giai nhân tài tử tên Hoàng Kỳ Mai và Lam Bá Trúc đã có dịp làm quen với nhau rồi yêu nhau thắm thiết. Nhưng mà nghịch cảnh nào đó nên họ phải chia tay nhau, trước lúc phân kỳ Lam Bá Trúc bẻ một cành Mai còn Hoàng Kỳ Mai thì lại bẻ một nhánh Trúc trao đổi lẫn nhau để làm kỷ vật. Kết quả đôi trai tài gái sắc được kết hơp nên duyên vợ chồng nên từ đó hễ nói tới tình yêu trai gái, vợ chồng, người đời thường dùng điển tích Trúc Mai để tả lại cảnh đoàn tụ và sự yêu nhau khắng khít.

2. Trong tập ‘’Kiến Văn Tiểu Lục’’ của nhà học giả Lê Quý Đôn, nói về đời tư của Hồ Quý Ly có nhắc tới một điển tích Nhất Chi Mai.

Vậy Nhất Chi Mai là gì ? Theo sách vở cho biết tổ phụ của ông Hồ Quý Ly là người Tàu, đã tỵ nạn vì chiến tranh nên di cư sang Đại Việt và định cư tại đây. Khi ông khôn lớn đi tìm công việc làm và tạo danh giá cho chính bản thân mình, cho nên Hồ Quý Ly đã bỏ làng quê ra đi để đến chốn thị thành. Ông đã đi về phía kinh đô Thăng Long. Trên đường đi ông đã lượm được một cuốn sách lăn lóc cạnh đường đi, cầm lên đọc, ông thấy nhan đề là ‘’Quảng Hàn Cung Lý Nhất Chi Mai’’. Nhờ nó nên ông đã có được nhiều kiến thức chính trị và quân sự nên Ông được vua Trần Nghệ Tông trọng dụng, được thăng quan tiến chức thật nhanh. Rồi có một hôm nhân các triều thần hội họp, các quan văn võ đều có mặt trong cung, Vua Nghệ Tôn mới chỉ vào rừng quế, quanh điện Thiên Thủ mà ra một câu đối:

Thanh thủ điện tiền thiên phụ quốc

Trong lúc các quan chưa kịp ứng đối, thì Hồ Quý Ly chợt nhớ tới nhan đề của cuốn sách mà trước đây mình đã tình cờ lượm được trên đường đi khi đến Thăng Long, nên đã đối đáp được ngay:

Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai

Nhà vua vui mừng, cho đó là duyên kỳ ngộ nên đã đem công chúa gả cho Hồ Quý Ly. Từ lúc đó họ Hồ mới có được cơ hội xây dựng thế lực để cướp ngôi nhà Trần sau khi Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông băng hà.

3. Một điển tích nữa đó là “Mai Trường An” hay còn có tên là « Mai Tứ Quý »

Điển tích này được rút ra từ câu chuyện về nàng Tây Thi, một cô gái nước Việt đã giúp Vua Việt Câu Tiễn đánh bại Ngô Phù Sai, rửa nhục và thu hồi lại đất nước đã mất. Điển tích trên cũng như đã nhắc tới câu chuyện nàng Dương Thái Chân, tức là Dương Quý Phi, ái thiếp của vua Đường Minh Hoàng. Vào thời đó có Lục Khải làm quan tại tỉnh Giang Nam. Một hôm nhân có lính trạm (tức là người lính cỡi ngựa để đưa thư), người lính là phu trạm ấy mang thư về kinh đô Trường An nên ông Lục Khải đã bẻ một cành Mai để gửi về tặng bạn là Phạm Việp, có kèm theo một bài thơ:
Chiết Mai phùng dịch sứ
Ký dữ lũng đầu nhân
Giang Nam vô sở hữu Liễu tặng Nhất Chi Mai


Cảm động và thương nhớ người bạn quý nên Phạm Việp đã đem cành mai đó trồng và chăm sóc vun xới cẩn thận. Sau đó cành Mai này trở thành cây Mai có hoa nở cả bốn mùa, các nhà văn nhà thơ đã lấy hình ảnh Mai Tứ Quý hay còn gọi là Mai trường An, để ám chỉ về nhan sắc chim sa cá lặn của các giai nhân nổi tiếng, mà ta đã thấy trong lịch sử Trung Hoa, nhất là về Tây Thi và về Thái Chân.

Hoa Mai trong thơ, văn :

Những văn nhân thi sĩ thường ưa chuộng hoa Mai, vì họ bị ảnh hưởng của nho giáo và vì quan niệm rằng Hoa Mai là biểu tượng cao quí của lớp sĩ phu, quân tử. Bởi vì cây Mai rất dẻo dai, đứng sừng sững giữa trời mưa gió, khi đã rụng hết lá, thân cây trơ trụi, nhưng vào cuối tháng chạp vào những ngày Tết sắp đến thì khắp thân cây Mai đột nhiên đầy những nốt nụ xanh và trở thành búp chờ đợi lúc giao mùa thì mãn khai Hoa Mai nở rộ. Nhìn cảnh vật đầy sức sống của Mai, một cao tăng đời nhà Lý (1045-1096) là Mẫn Giác đại sư đã hứng khởi viết ra mấy câu kệ rất nổi tiếng ‘’Cáo Tật Thị Chúng’’, cho dến bây giờ còn truyền tụng :
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước nở cành mai


Ý nghĩa của những câu kệ này như là một thông điệp gửi đến cho mọi người rằng phải kiên trì khi cuộc sống gặp nghịch cảnh mà trái lại phải vươn lên như cây Hoa Mai cành lá khô héo tưởng chừng như đã chết, ấy thế mà cây Hoa Mai sân trước, đêm qua đã nở hoa đầy cành khi giao mùa.

Cùng một ý tưởng ấy, có một bài thơ ‘’Tảo Mai’’ của nhà sư Tế Kỷ sống vào thời nhà Đường như sau :
Vạn mộc đông dục chiết
Cô căn noãn độc hồi
Tiền thân thâm tuyết lý Tạc nhật nhất chi khai


Xin được phép tạm dịch thoát:
Nhiều cây lạnh giá chết dần
Hoa Mai thì khác, dần dần hồi sinh
Sống trong một kiếp điêu linh Chợt đêm qua đã tự mình nở hoa


Vào thời Đại Đường lại rất thịnh hành về lối thơ Thất Ngôn ngâm vịnh. Nhầt là vào thời Bắc Tống thì lại có rất nhiều thi sĩ nổi tiếng không kém gì Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị đời Đường đã ca ngơi Hoa Mai bằng những bài vịnh Mai.

Một thi sĩ đặc biệt tên là Lam Pha, ông mê Mai đến nỗi cả đời chỉ thích ngắm Hoa Mai chứ không thèm ngắm nghía… đàn bà, ngay cả đến đàn bà đẹp nghiêng nước đổ thành ông cũng chẳng ham ! Một người nữa là Vương An Thạch (1021-1086) ông là Tể Tướng đời nhà Tống Thần Tông, nổi tiếng về mặt chính trị nhưng về mặt văn chương thi phú cũng không kém nổi danh nên ông đã để lại cho hậu thế nhiều bài văn, thơ nổi tiếng mà ta phải kể đến bài thơ ‘’Mai Hoa’’ được nhiều người ưa chuộng :
Tường dốc sổ Chi Mai
Lăng Hàn độc tự khai
Dao tri bất thị khuyết Dữ mai tinh tác thập phần xuân


Xin được phép tạm dịch thoát :
Góc tường có mấy nhánh mai
Vui trong giá rét, trổ tài nở hoa
Nhìn xa tưởng tuyết nhạt nhoà Nhưng không, hương đã đồng hoà xuân sang.


Người mà chẳng những ca tụng hoa Mai, nhưng lại còn ca ngơi cả thơ lẫn tuyết đó là thi sĩ Lư Mai Pha vì theo ông thì bất cứ là ai nếu đã có trong tay ba thứ kể trên thì coi như là họ đã có cả một trời xuân hạnh phúc, sự tuyệt vời có được ba thứ vừa kể đó đã làm tươi vui cuộc đời của họ :

Nhật mộ thi thành, thiên hữu tuyết
Dữ Mai tinh tác, thập phần xuân

Xin được phép tạm dịch thoát :

Vừa viết thơ xong thì đêm tới
Ngoài trời gió hú, tuyết pha sương
Góc tường hoa mai vui nở rộ
Lòng ta vui hưởng lúc xuân sang

Chẳng những chỉ có văn nhân thi sĩ mới sáng tác qua cảm hứng Hoa Mai mà cả hoạ sĩ cũng tìm hứng để vẽ, hoạ sĩ Trọng Nhân đã vẽ một cành hoa Mai màu đen trắng (ông đã dùng mực nước), nhìn thật sống động và có hồn. Tuy nhiên vẫn còn có người vẽ hoa Mai nổi tiếng hơn, ta phải kể đến vua Tống Huy Tông (1100-1125), thời Bắc Tống. Nhưng vì ham vẽ, mê chơi, vua lại ưa nghe theo bọn nịnh thần như Sài Kính, Trương Ban Xương v.v. nên đã làm cơ nghiệp nhà Tống bị giặc Kim ở phương Bắc chiếm đoạt vào năm 1127, khi vua Tống Huy Tông (lúc đó đã là Thượng Hoàng), bị giặc bắt cùng với vua tại vị là Khâm Tôn cùng nhiều yếu nhân khác của triều đình đã bị nước Kim đem về giam giữ ở Nội Mông và sau này bị chết tại đó. Vua Tống Huy Tông chỉ trị vì được 27 năm (1108-1135) nhưng ông cũng đã để lại cho đời nhiều bức tranh giá trị, trong số này có bức danh họa ‘’Kết năm màu trên nhành Mai’’, bức tranh này hiện Viện Bảo Tàng Boston (Hoa Kỳ) là sở hữu chù, và đang được trưng bày tại nơi đây.

Theo cụ Vương Hồng Sển, nhà học giả và khảo cổ học nổi tiếng của miền Nam Việt Nam viết trong quyển sách có nhan đề là ‘’ Sai Gòn Năm Xưa’’, thì hiện VN có hai loài Mai, một của Trung Hoa đã xuất hiện từ thời thượng cổ (mà kinh thi đã từng đề cập đến). Một giống khác là loại Mai Vàng nổi tiếng của VN, mãi tới nay người ta vẫn chưa truy tìm được nguồn xuất xứ của Mai Vàng xuất hiện vào thời đại nào. Cũng nên nói thêm rằng Mai vàng chỉ mọc ở Miền Nam VN, nó xuất hiện nhiều nhất ở tỉnh Quảng Nam và tỉnh Bình Thuận.

Riêng ở chung quanh Sài Gòn chỉ có giống Mai Trắng (Bạch Mai) ta thấy rất nhiều tại Chùa Cây Mai, Gò Mai và Chùa Gò (Phụng Sơn Tự). Giống Bạch Mai này cũng theo tác giả Vương Hồng Sển thì nó đã được đem từ bên Cao Miên về nước ta, và được trồng tại các nơi nói trên.

Mỗi độ Xuân về Tết đến, như đã nói ở trên, dù cho ở giai cấp nào trong xã hội - giầu, nghèo, sang, hèn – ai cũng muốn có hoa mai để trong nhà trong ba ngày Tết như cầu mong có được sự may mắn vì họ tin rằng hoa Mai sẽ đem may mắn, hạnh phúc đến cho cả gia đình mình - Ngày Tết mà có hoa Mai trong nhà thì đó là nguồn vui cho mọi người, cũng đã là tập tục đáng lưu truyền của dân tộc Việt chúng ta.
DƯƠNG HÀ
TUS  
#106 Posted : Sunday, June 27, 2010 12:37:38 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
- Mai Chiếu Thủy là tên hoa mai có sắc màu trắng, cánh nhỏ, thường mọc nghiêng xuống mặt nước, nếu ta trồng bên bờ hồ hay sông nước (loại hoa mai này quý hiếm).

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Hồng Mai là tên hoa mai có sắc màu đỏ.

UserPostedImage

UserPostedImage
Mai tứ Thời, Mai tứ quý là tên hoa mai có hoa suốt năm, cả bốn mùa ta đều thấy nó trổ bông.

UserPostedImage

UserPostedImage
Bạch mai, Chi Mai, Mai Ngự sử là tên hoa Mai có màu sắc trắng như tuyết.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
NHẤT CHI MAI

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Hoàng Mai, Lạp Mai là tên hoa mai có sắc màu vàng (loại hoa Mai này chỉ nở vào những ngày cuối mùa đông)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
HOA LẠP MAI

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Mai Thanh Đài là tên hoa mai có sắc màu xanh

UserPostedImage

UserPostedImage
TRÚC MAI

UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
coffeebean  
#107 Posted : Tuesday, June 29, 2010 5:01:53 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Trời ui! Tại sao hột cà phê tới bữa nay mới biết mấy bài này ? Toàn là bạn hiền của mình ngày xưa mà không biết, Xuân Hoàng tìm hình giỏi quá chừng, cám ơn nhiều lắm đó nghe!
thich tấm hình này nhất

UserPostedImage

UserPostedImage
nhìn tấm hình này, nhớ môt lần họp mặt cắm trại chia 2 phe kéo co... Phe bên kia có vẻ hiền lành, ăn nói từ tốn con trai thì nho nhã thư sanh, con gái thì yểu điệu thướt tha ... Phe bên hột cà phê là 1 bầy bậm trợn cười nói ào ào, chạy cà tưng như khỉ sở thú được thả về rừng (người ta nói là những con tương cận thường tìm nhau là đúng quá đi thôi) Kéo co chia 3 hiệp, phe bên kia đâu muốn kéo, nhưng vì tinh thần của trò chơi phải kéo. Hiệp đâu thua thê thảm, sang đến hiệp hai, phe hột cà phê bất ngờ xin ... time out một phút để họp bàn ... chiến lược.. Trọng tài, giám khảo, cả phe kia nữa rất đỗi ngac nhiên, coi như ăn luôn hiệp 2 sao còn phải bàn bạc chi cho phiền toái ... Bước vào hiệp 2 bên kia cố gắng cầm cự, bên này cũng ghìm dây cho có tinh thần giao hữu tương tranh, một đứa trong bọn bỗng lên tiếng đếm 1, 2 ... cho là đám này muốn dứt điểm, phe bên kia cố ghì chặt hơn (để có thua cũng thua trong ... danh dự) khi số 3 vừa buông cả đám phe coffee bean đồng loạt buông dây kéo ... mèn ơi ! bên kia mất đà đưa trước đổ lên người sau cá đám cùng té rạp xuống đất lăn quay trong khi đám coffee bean cũng lăn xuống đất mà cười vì cái cảnh đó còn đẹp hơn là sắp mấy quân cờ Domino rồi cho đổ từng em từng em, minh cho nó gỡ huề 1-1 mình xơi hiệp 3, nhưng trọng tại sau một chút chới vơi bất ngờ đã nghiến răng đến đỏ mặt để đừng cười tuyên bố huỷ bỏ hiệp 3, và phạt cái đám gian ác thua, vì đã vi phạm luật chơi thi đấu không nghiêm túc ... hình phạt sẽ do bên thắng quy định ... phe bên đó muốn dẫn ... chó đi chơi trong rừng. Đám hột cà phê phải ngồi xuống lup xúp đi bên chân mấy tiểu thơ công tử lại còn phải nghảnh cái tai lên cho nó kéo nhứ là đang cầm xich dẫn chó đi lòng dzòong ....

UserPostedImage

Tấm hình này dễ thương quá


coffeebean  
#108 Posted : Tuesday, June 29, 2010 5:28:59 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Nhắc đến Xuân là thấy Tết ... lại nhớ tất niên, hè sang thắm phượng buổi tan trường, ngày vui xưa ấy còn ghi mãi, như khắc vào tim tuôi thơ ơi

UserPostedImage

UserPostedImage

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/Cm6-airlHQ[/FLASH] HÈ VỀ

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/jxAH5M0V_6[/FLASH] KHÚC CA MÙA HÈ


[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/0MgbNtkUbU[/FLASH] NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG / LỆ THU


http://www.youtube.com/watch?v=1EmRXf5n78I NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG / THANH THÚY


nhat-tam  
#109 Posted : Wednesday, June 30, 2010 5:19:31 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
coffeebean làm thơ ướt át ghê nha. Hỏng biết tuổi thơ này của coffeebean là cở bao nhiêu há !? tuổi thơ này chắc biết yêu sớm quá!
Thức khuya tìm nhạc cho mọi người thưởng thức, thiệt muôn vàn cảm tạ Đại huynh!
coffeebean  
#110 Posted : Wednesday, June 30, 2010 3:42:33 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Nhat-Tam và Cactus có mấy tấm hình hoa mai đẹp quá, chắc là mai ghép cánh thật nhiều mà dầy nữa. Cho coffeebean mượn mấy tấm hình nghe

Những bài hát tết nào cũng hát cũng nghe mà không thấy cũ ...

http://www.youtube.com/watch?v=YuJjG3pp7RE LY RƯỢU MỪNG

http://www.youtube.com/watch?v=zDk5wfy-GWM XUÂN HỌP MẶT

[FLASH]http://www.nhaccuatui.com/m/BWC85fqLBF[/FLASH] MỘNG CHIÊU XUÂN


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage

Ngày Tết miền Nam không thể thiếu hoa mai, mà cách chăm sóc mai cho nở đúng vào ba ngày tết cũng nhiêu khê lắm. Dù miền Nam khí hậu nóng ẩm, ít khí trái gió trở trời nhưng thỉnh thoảng có năm bị bão rớt trái mùa, hay trời đất đột nhiên trở lạnh về đêm, mưa lạc đường vài cơn vào đầu tháng chạp thì nhà vườn sẽ vất vả mới có những cây mai chùm nụ vừa ươm để nở rộ đêm giao thừa.
Còn nhà ai mà có được gốc mai trong sân, vườn cũng phải để ý nắng mưa, canh ngày tuốt lá thì mai mới đơm nụ nở hoa, chứ không phải cứ tới tết là cây mai tự đông ra bông đâu. Mai rừng thì khác, đơm nụ nở bông theo quy luật tự nhiên nào không ai hiểu được ... rừng mai nở kéo dài cả tháng, năm nhuần thì nở sớm hơn ... nên mới có câu hát : Đồn anh đóng ven rừng mai. Nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa ...
Quay lại chuyện tuốt lá để mai đơm nụ là cả một công trình ... bạn không thể nào nắm 1 cành vuốt cài vù từ gốc tới ngọn cho đi hết lá... là coi như xong luôn mùa xuân, sẽ không có nụ nào đậu và đương nhiên sẽ chẳng có bông. Phải từ từ cẩn trọng bắt đầu từ ngọn 1 tay giữ cành, tay kia lựa cái lá đầu, cầm ngay thân lá bẻ ngược cả chiếc theo chiều sống lá bật vào cành cây, nghe 1 tiếng tách nhẹ nhàng cuống lá đã rời khỏi cành để lộ 1 nụ mầm bé tí xíu bằng cỡ đâu tăm ngay chân cuống lá, cai' mầm tí ti này sẽ lớn vụt lên thành 1 chùm 4 - 6 nụ to, và nếu không khéo bạn có thể bẻ luôn cả mầm lúc bẻ lá, thành ra cây mai chỉ còn ra toàn đọt lá ở ngọn chứ hoa không có bao nhiêu. Gặp thời tiết thuận hoà thì đúng 2 tuần hay 15 ngày trước tết bạn có thể tuốt lá mai, trời mưa gió lạnh thì sớm hơn ba bốn bữa, khoảng 7 - 10 ngày trước giao thừa mà nụ vẫn chưa ra chân (còn nhỏ quá) thì tìm cách nấu nướng gì đó gần cây mai (nhớ đừng có thui nó nghe) thường là đem nồi nước bự ra nấu cho liu riu để gạt gẫm nó rằng trời đang ấm lắm đó, thì nó sẽ đẩy nụ mạnh hơn ... Chẳng biết nhà vườn làm cách nào để xí gạt cả một vườn mai, một cây thôi cũng đủ mờ người.
Với hột cà phê, cây mai đẹp nhất là lúc vừa tuốt lá được 1, 2 ngày chưa kịp đơm nụ hay ra lá, cái dáng khẳng khiu xương xẩu manh mai ấy trông như đã chết mà lại tiềm tàng một sức sống mãnh liệt, đẹp huy hoàng hơn bao giờ hết! nên mỗi khi lang thang đó đây mà gặp một dáng cây khô không còn cọng lá nào hết, thì lòng coffee bean lại dạt dào xúc động, nhớ ngay đến cây mai vườn cũ, lúc thơ thẩn tuốt lá ngày xưa ... nhất là xa xa lại có thêm làn khói bếp nhà ai bay lên mùi củi đốt nồng nồng ngai ngái thì ... má ơi! con nhớ nhà, nhớ nồi bánh chưng củi lửa sáng một góc sân những đêm chờ tết.
Cây mai còn có một lúc đep, đẹp ghê lắm mà ít ai để ý, vào cỡ mùng 5, 6. Tết coi như đã xong, những cánh mai rụng đầy mặt đất chung quanh gốc, những cành khẳng khiu giờ phất phơ lá non, cồi nụ đang nghiêng mình nhìn tác phẩm của mình lả tả rơi đầy mặt đất mà khồng có vẻ gì buồn bã xót xa hay tiếc nuối... mà lại có vẻ như thanh thản lạ lùng ... ngay từ khi còn nhỏ xíu coffee bean đã cảm nhận điều này, về sau mỗi năm hết tết nhìn xác hoa vương đầy lối đi cảm nhận ấy vẫn không khác biệt. Hoa mai lúc đơm bông làm đẹp cho không trung, lúc tàn làm đẹp cho mặt đất như hình bóng của gương soi, hèn chi cây mai không mang vẻ tan tác luỵ tàn ... Cứ để vậy có khi cả ngày hay chờ lúc gió đêm gần về xao xác và bắt đầu thổi bay cánh hoa tàn thì lấy chổi vun quét xác hoa về gôc vùi lên 1 lớp đất mỏng. Cội đã hết lòng nở ra hoa, hoa tàn về cội cũ, nát thân bồi lại chút đất màu cho cây... Vườn, nay chẳng còn, cây đã mất, hồn hoa cũ về đâu !


coffeebean  
#111 Posted : Wednesday, June 30, 2010 4:06:07 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
quote:
Originally posted by nhat-tam
coffeebean làm thơ ướt át ghê nha. Hỏng biết tuổi thơ này của coffeebean là cở bao nhiêu há !? tuổi thơ này chắc biết yêu sớm quá!
Thức khuya tìm nhạc cho mọi người thưởng thức, thiệt muôn vàn cảm tạ Đại huynh!


Đã gọi là tuổi thơ thì làm sao biết thời gian có cẳng chạy vù vù, có để ý nhớ được bấy giờ tháng mấy, năm chi?... mà còn hỏi cỡ bao nhiêu á! thì biết làm sao trả lời đây !
còn yêu sớm hay muộn là chiện ... trời bắt phải chịu, thiên cơ bất khả lậu ! nói biết yêu sớm lắm, thì có người la làng lên rằng mặt trời đã đứng bóng sắp về hoàng hôn mà còn ... gáy inh ỏi cho nhức đầu lối xóm, "phooác lác" thì thôi, còn bảo chả biết yêu là gì chỉ biết ăn rồi chạy cà tưng thôi! thì lại bị noi' là ... ngựa nhà ai xổ chuồng lạc vào rừng lớ ngớ giống như ... nai ... xạo ơi là xạo!
mấy chữ viết ráo hoảnh khô rang dzậy mà kêu ướt át ... thiệt tình khó tính
Nhân lúc nói về văn nghê tất niên, trường học, hoa phượng, mùa hè ... coffee bean lục tìm ra mấy câu thơ chẳng biết đặt nó vào mùa nào, vì 4 mùa có đủ. Thôi viết đại dzô đây.


Đường xa hút! một đi là ly biệt
Thờì gian như cánh chim bay mải miết
Theo giòng sông xuôi biển trôi biền biệt
Đâu! Xuân mơ Hạ nhớ Thu tha thiết !!
Saigòn ơi ! xa rồi em có biết!
Cây xanh vàng lá biếc... Những hoàng hôn
Nửa đời phiêu bạt tuyết phai sương
Tim còn ấm tình thơ ngây của phượng
Đông những tưởng cành mai xưa chờ Tết
Đêm tất niên lửa trại hát vang trời
Mắt ai cười như xuân mãi không vơi
Xin giữ lại dù đời nhiều nông nỗi
Thắm lòng ai mãi lận đận bên trời !
Đêm nguyệt bạch hồn còn mơ trăng với
Trong lao đao chân sẽ tìm ra lối
Đường còn dài ! xin đi hết cuộc chơi
havi  
#112 Posted : Wednesday, July 21, 2010 12:20:16 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


Huế của Một Thời

Huy Phương



UserPostedImage



UserPostedImage


Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.

Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam Đà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa, tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.

Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giả cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng "Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng thô". Điều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trach vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.
-Em tên chi? - Dạ ! -Nhà Em ở đâu? - Dạ ! -Tôi có thể làm quen với em được không? - Dạ !

Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, "trước ngoài sân sau lần vô bếp", tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nỗi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Đinh Hùng đã ghi lại "Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép".

UserPostedImage


UserPostedImage


Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái "sương khói mờ nhân ảnh" đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.

Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.


UserPostedImage



Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vỉa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.

Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là "thời" cháo hoa. Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Đến như khi cái xe nước mía từ Sài Gòn du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường thấy ở khu Parteur-Lê Lợi Sai Gon.



UserPostedImage



Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạnh "sĩ nông công thương". Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.

Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang về một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lột, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là hiện tượng dị thường.


UserPostedImage


UserPostedImage



Đến với Huế, người ta như đi trở ngược lại giòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long trong gần tám thế kỷ, vẫn còn dấu vết một thời đại đã qua. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây, với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt trên giòng Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca.

Nơi đây, những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại. Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm. Các Vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.

Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Đó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giả thanh toán hận thù nhau qua thời đại "tứ nguyệt tam vương" của Tường Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Đá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo giòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là Quán Cơm Âm Phủ.


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, suýt soa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều bién cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèn leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẫn khuất đâu đây.

Ngày xưa, mỗi năm vào ngày hai mươi ba tháng tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Đông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chần tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày Lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.

Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Được cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào Nam tìm "Hoành Sơn Nhất Đái" để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay phật) trong giấc mơ chọn đất Hà Khê(Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Đàm, Diệu Đế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một ngày lên chùa?


UserPostedImage



Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lòng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong xuốt và đơn giản như những giọt sương mai.

Vườn của nhũng Vương Phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phòng, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc. Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ.
Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)


Vườn Huế ngày hè còn rộn tiếng ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ Huế, tiếng xe đã mang mùa hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.


Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn(dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi giây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ can đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương si trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái chèo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.

Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Điện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Tượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Đế qua Đông Ba tạo nên cái cảnh "Đông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Đế bồn lần hai chuông", với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa.


UserPostedImage



Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai đó vang qua tới bờ sông bên kia. Với những giòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà "Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long."


UserPostedImage



Nhưng cùng theo với những giòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát, đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam tiến.


UserPostedImage


Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là "nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương". Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể "tắm hai lần trong một giòng sông", như không thể tìm lại mùi vị của một món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình xa xôi đã mờ nhạt.



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#113 Posted : Thursday, August 19, 2010 7:29:54 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


Tiếng Huế và Giọng Huế

Đã bao giờ bạn đến Huế chưa? Ấn tượng của bạn về vùng đất cố đô này như thế nào? Đã có nhiều người khi đến Huế phải thốt lên rằng Huế thật đẹp với những con đường xanh ngắt, những ngôi nhà cổ kính, những di tích lịch sử lâu đời, những món ăn rất cay - rất Huế… Và một thứ "đặc sản" để lại ấn tượng trong lòng mỗi du khách chính là chất giọng trọ trẹ của miền Trung, là những "chi, mô, răng, rứa" khiến ai đi xa cũng nhớ mãi.
"Hiểu được chết liền"...


Khúc ruột miền Trung - vùng đất sóng biển vỗ bờ đá núi, với điệp trùng núi non ghềnh thác. Không bị trói buộc lề thói một cách quá chặt chẽ như quê cha cội nguồn Bắc kỳ, cũng không quá thoáng đạt như xứ sở sông nước phù sa Nam kỳ, chất trầm lắng, tính chịu thương, chịu khó dường như ăn sâu vào giọng nói. Nếu bạn không quen, chắc chắn sẽ rất khó khăn khi tiếp xúc với một người Huế. Đi trên đường, gặp cô bạn mặc áo dài xinh xắn, hỏi đường đến trường Quốc Học, rất dễ nghe được câu trả lời mang ý quan tâm đại loại như: "Anh cần đi mô?", "Răng anh không đi xe mà đi bộ rứa?". Đến khi cô bạn nhiệt tình lấy bản đồ ra chỉ vẻ bằng một tràng giọng Huế thì đúng là bó tay toàn tập.
Khó nghe nhưng rất đặc trưng

F.d.Saussure từng nói: "Dòng sông ngôn ngữ vẫn chảy không ngừng, còn như nó chảy lờ đờ hay cuồn cuộn thì đó là việc thứ yếu". Sự biến đổi dẫn đến sự khác biệt trong giọng nói của mỗi vùng. Người Việt Nam dù sinh sống ở Lạng Sơn, Minh Hải hay ở những hải đảo xa xôi vẫn có thể giao tiếp với nhau bình thường. Tuy nhiên nếu để ý, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác biệt trong tiếng nói mỗi vùng miền, thậm chí mỗi địa phương.


UserPostedImage





Quả thật giọng Huế thật đăc trưng mà không có nơi nào có được. Nếu bạn nói giọng Bắc, mọi người chỉ biết bạn ở miền Bắc mà khó xác định chính xác ở đâu. Hay giọng Nam cũng thế. Nhưng khi giọng Huế thốt lên thì chắc chắn mọi người sẽ "à" ngay ra rằng bạn chính là người Huế. Điểm thú vị chính là ở đó.

Một cô bạn tôi sau chuyến bay nhảy ở Huế về đã phán một câu xanh rờn "Giọng Huế như một…trái sầu riêng, ở ngoài sần sùi nhưng bên trong thật thơm và ngọt. Tuy không phải ai cũng ăn được sầu riêng hay nghe được giọng Huế, nhưng khi nghe được rùi chắc chắn sẽ kết toàn tập".
Nghe có vẻ tâm hồn ăn uống phết nhưng cũng có lý đấy chứ. Tới Huế, đi thuyền trên sông Hương, nghe chính cô gái Huế ngân nga những khúc ca mượt mà sâu lắng "Sông Hương tấp nập, tìm răng được chừ. Em trao nón đợi và em hẹn hò" sẽ khiến không ít trái tim đập lỡ nhịp và yêu thương hơn một vùng đất bình yên của đất nước này.


UserPostedImage

Giọng Huế vang xa

Nếu giọng Bắc là giọng nói chuẩn, tiếng Nam là "trung độ" của Bắc bộ và Trung bộ thì người Huế hiền lành, hiếu khách và không thích ồn ào thế nên giọng nói nghe cũng thật nhỏ nhẹ, mượt mà. Với giọng nói của mình, người Huế đi đến đâu cũng thật tự hào rằng "Tôi là người Huế" với bạn bè khắp nơi.



Khi nghe giọng Huế, có thể nhiều bạn trẻ há miệng ngạc nhiên, nhại giọng rồi cười một cách sảng khoái. Tại sao bạn không nở một nụ cười, không mở rộng trái tim mình ra để tiếp nhận một sự khác biệt, đón nhận những tình cảm mà người Huế giành cho bạn?
Lắng nghe và thấu hiểu được tiếng nói, tình cảm của bạn bè Huế, bạn sẽ cảm nhận được những nét đẹp rất riêng trong tâm hồn con người nơi đây, để tâm hồn Huế có thể đi sâu vào tâm hồn bạn, nhẹ nhàng mà tươi đẹp.



---ST---



UserPostedImage



Giọng Huế trên đất Mỹ


Ôi chao giọng Huế !! Mình người Huế mà đi nơi lạ , nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt , quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô , có quen chút mô không . Người Huế qua Mỹ hà rầm , mô phải ít . Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm , chẳng mấy lúc mà chóng mặt , nếu không gãy cổ . Nhưng mà lạ quá , hể nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng , a , bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây .

Hôm kia đi ăn cưới , hai bên dâu rể đều là người Huế , ông MC cũng người Huế , ông ca sĩ chính cũng người Huế . Khi ông ca sĩ nói , một cô trong bàn phê bình : " Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa , ông nói tiếng chi a " , còn ông xã thì nói : " Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá , hổng hiểu gì cả ." K thì nghe hiểu tất .

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm , ông xã K là Huế lai căng , sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam , họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ?Hay là K vì lòng thương Huế , cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ , nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?


UserPostedImage


Giọng Huế khác với giọng Hà Nội , giọng Saigon ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ , chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt , mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn đau , mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng , dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai , không chỉ là lời đi vào hồn người , mà cái giọng đã đậu trong tim , đâm cành trẫy lá ?
...Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở Dấu kín trong tim những nụ hồng


(HHC)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm , mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi , không pha trộn , dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần . Lúc lắng xuống , giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ , lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển , êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa .
...Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gí trong Bao đắng cay pha vào chưa đục được ...


(Đoàn Vị Thượng)


UserPostedImage



Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế , đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi . Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay , như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.
...Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

(Tô Kiều Ngân)



Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn , không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe .Nên để được người nghe , người Huế đổi giọng. Người Nam , người Bắc không ai đổi giọng của họ , mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó . Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe , sửa tai mà nghe . Hai người Huế tha phương gặp nhau , phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc , giọng Nam . Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì .

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Saigon, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư ,người Kiên Giang . Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ , chồng theo tàu lênh lênh , chung quanh không người thân quen , K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà . Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc . Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt , không hiểu K nói gì . Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm , chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : " Cô nói tiếng ngoại guấc , hông nói tiếng Yiệt " .
Đối với người Nam , ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy , giữa tiếng và giọng , có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn . Khi nói " nói tiếng Huế " hay " nói giọng Huế " , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn . Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An " Tiếng Huế , một ngoại ngữ " , thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa . Bạn có thể nói giọng Huế , nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa . Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào ,thưa vâng , không sao đâu ạ thì nghe nó ... kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối , cà pháo. Huế không thưa vâng ạ . Huế chỉ dạ nhẹ nhàng . Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế . Huế không nói thế là thế nào , Huế nói : Dạ , rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế ,chứ còn đi với giọng Saigòn , với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui , hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi , hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người , đã lậm tiếng người , đã mất gốc không nhiều thì ít . Như K đây . Đau lòng mà nhận ra như rứa .


UserPostedImage


Người Huế không kêu " cô ", người Huế kêu " O ".
Người Huế không kêu " Bà ", người Huế thưa " Mệ "
Người Huế không "nói ", người Huế "noái "
Người Huế không "mắc cỡ " , người Huế "dị òm",
Người Huế không hỏi: "Sao vậy? ", người Huế hỏi "Răng rứa? "
Người Huế không nói " Đẹp ghê " , người Huế nói " Đẹp dễ sợ "
Người Huế cái chi cũng kêu lên "Dễ sợ !! " , dữ dễ sợ , hiền dễ sợ , buồn dễ sợ , vui dễ sợ , xấu dễ sợ , thương dễ sợ , ghét dễ sợ .

K đang trở lại với Huế , đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai , đang tìm học lại tiếng Huế , một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến . Những người mới này mang theo họ cái giọng , cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế , tìm cách đồng hoá nó , như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm .
Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không nhỉ ?


UserPostedImage


Hồi còn đôi tám , đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Saigon . Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi . Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ . Một buổi trưa , sau khi đi chơi đâu đó về ,cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ . Một trong hai anh nằm kề K , lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình , hỏi :

- Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói " dễ sợ " vậy K ?

- K không biết

- Vậy thì nếu nói ' Dễ thương dễ sợ ' có đúng không ?
- Không biết


---ST----



UserPostedImage
TUS  
#114 Posted : Friday, September 3, 2010 11:32:46 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
wow...mai chủ nhật rùi...

UserPostedImage
CÁC HUYNH TỶ MUỘI ...ENJOY WEEKEND HA HA!

UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#115 Posted : Tuesday, September 7, 2010 10:43:45 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage

TIẾNG HUẾ, MỘT NGOẠI NGỮ ?


Người bạn đời gốc Bắc (nhà văn Thanh Nam) của nữ sĩ Túy Hồng có lần đã phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:

“Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam người Bắc đứng ở ngoài nghe , không làm sao chen vào được một câu” (Túy Hồng, Áo Rộng Khăn Vành, TSH 1990, p.14)

Mới nghe qua tưởng như đùa, nhưng đem đối chiếu với kinh nghiệm thực tế qua giao tiếp thì quả ý kiến ấy không phải là không có lý, tuy hơi cường điệu một chút. Ai người Huế trên bước đường tha hương lại không hơn một lần gây bối rối cho người đồng hương khác xứ khi đối thoại với rặt giọng sông Hương ?

Sau năm 1954, hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam để tránh hiểm họa đỏ, đã sống rải rác khắp mọi miền dưới vĩ tuyến 17. Và dù ở đâu, dù mấy chục năm đã trôi qua, họ vẫn giữ nguyên giọng Bắc, chỉ thay đổi một vài thổ ngữ cho dễ chuyện trò thông cảm. Còn Huế mình, khi tha hương, đa số đều đổi giọng, hoặc Nam hoặc Bắc, nếu không được khéo léo rặt ròng như Nam, Bắc chính cống thì cũng lơ lớ cho người khác xứ dễ nghe, chứ không còn rặt Huế nữa, ngoại trừ khi nói chuyện trong gia đình hay với đồng hương cơm hến. Bà xã tôi có cô em bạn dì ruột, sinh đẻ ở Huế, sau mới vào theo gia đình vào Sàigòn sinh sống. Dì ấy lấy chồng gốc Bắc 54 . Khi vợ chồng tôi đến nhà thăm, cô nói chuyện bằng giọng Huế rặt, nhưng quay lại nói với chồng hay bà già chồng thì đổi ngay giọng Bắc, rất nhuần nhuyễn, rất tự nhiên.

Việc không đổi giọng của đồng bào miền Bắc di cư và việc đổi giọng của người Huế tha hương, có người cho rằng đó là dấu hiệu của mặc cảm về giọng nói. Tôi không nghĩ như thế. Đồng bào miền Bắc tha hương vẫn giữ nguyên giọng nói , không phải do mặc cảm tự tôn rằng đó là một giọng nói hay, không việc gì phải đổi. Mặt khác, người Huế tha hương thường đổi giọng cũng không phải vì mặc cảm giọng nói của mình trọ trẹ khó nghe. Tất cả chỉ là sự đáp ứng thực tế của cuộc sống, sự thích nghi với hoàn cảnh.

Thật vây, việc gì đồng bào miền Bắc phải đổi giọng khi giọng nói ấy không gây trở ngại nào trong đối thoại ? Tại sao mình cứ khăng khăng giữ nguyên giọng Huế trong giao tiếp khiến đồng bào khác xứ không hiểu gì cả, phải tốn công lặp đi lặp lại , giải thích này nọ, mất thì giờ. Như vậy làm sao dễ cảm thông với nhau cho được? Không đổi hay đổi , tất cả chỉ là thế. Không mặc cảm, không gượng gạo.


UserPostedImage


“Thương nhau, thương cả đường đi.. “ Nhà văn Thanh Nam vốn quen với nhỉ, nhé, hộ, gì cơ, làm sao... nhưng vì yêu nữ sĩ Túy Hồng nên phải ráng nghe và hiểu hí, nghe, giúp, cái chi rứa, làm răng... Còn người dưng nước lã với nhau, lấy gì làm áp lực để buộc người nghe phải hiểu điều mình nói ? Nói mà người khác không hiểu hay khó hiểu là một nhược điểm nên tránh trong giao tiếp. Vì vậy, sự điều chỉnh cho hợp với nhu cầu thực tế là sự thích ứng hoàn cảnh một cách khôn ngoan. Người Tàu tới nơi nào cũng sống được và sống giàu sống mạnh là nhờ tinh thần hội nhập thực tế. Tuy vậy, không bao giờ đánh mất bản chất Trung Hoa của họ. Hòa mà không hùa là thế.

Ai cũng biết Tổng thống Ngô Đình Diệm vốn quê Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nhưng sinh trưởng ở Huế. Nói chuyện với người Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, ông nói tiếng Huế, nhưng khi nói trước công chúng , khi đọc diễn văn hay thông điệp, bao giờ ông cũng dùng giọng Nam. Ông mang mặc cảm trọ trẹ chăng? Hẳn nhiên là không. Trong nước lúc bấy giờ, ông là người có quyền lực nhất, nhưng không vì quyền lực đó mà buộc quôc dân phải nghe cho được giọng Huế khó nghe của ông. Ông hiểu rằng ông cần được hết thảy người dân của mọi miền đất nước nghe, hiểu và thông cảm. Đổi giọng, vì thế là một sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tế.

Trong bài viết nói trên, Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: “Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng khách.” Đó cũng là một trong những lý do trong sự đổi giọng của Tổng thống Diệm, trong việc giả giọng Bắc của Hoàng Thi Thơ khi điều khiển các chương trình ca nhạc, của Như Hảo trên đài phát thanh và truyền hình v.v. Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách lại rất dễ lọt lỗ tai. Có lẽ cũng vì cái ưu điểm “giọng nói trong phòng khách” đó nên nhiều chàng trai khác xứ đã lăn xả vào làm rể xứ Huế chăng ??


UserPostedImage



UserPostedImage




Tôi không phải là một nhà ngữ học. Vì vậy những điều trình bày ở đây chỉ là những ý kiến rất thô thiển, có tính cách thường nghiệm của một kẻ bình thường. Đứng trước một thực tế là giọng Huế khó nghe, tiếng Huế khó hiểu (“ngoại ngữ Huế”) đối với đồng bào các miền khác, có nên chăng thử đặt câu hỏi tại sao? Để dễ thông cảm, ở đây xin tạm hiểu “giọng” là nói về thanh âm phát ra từ người nói, còn “tiếng” dùng để chỉ về ý nghĩa của chữ dùng. Đôi khi trong “tiếng” bao gồm cả “giọng”, chẳng hạn cái tiêu đề của bài này.

Giọng Huế khó nghe đối với đồng bào khác xứ, phải chăng vì thanh âm do người Huế phát ra thuộc về một âm vực khó nhận ra? Tôi có cảm tưởng như khi phát âm, người Bắc thiên về giọng thấp, người Nam đi giọng cao, còn người Huế thì bình bình. Phải chăng cái đặc tính bình thanh này khiến nó trở thành khó nghe? Điều này xin để bàn tay chuyên môn của các nhà âm ngữ học can thiệp.

Riêng tôi, nghĩ rằng nếu miền Bắc và miền Nam có được giọng nói dễ nghe thì họ lại rất khó giả giọng của miền khác; trái lại, nếu âm vực của giọng Huế thuộc loại bình bình, trung tính, khó nhận ra đối với người ngoài, thì cũng chính cái đặc điểm trung tính này đã giúp người Huế có thể giả giọng khắp mọi miền một cách không mấy khó khăn. Giọng Bắc, giọng Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam , Quảng Ngãi, Sàigòn . . . người Huế đều giả được tuốt. Cũng tỉ như nước lả không màu; nước không màu chứa trong ly thủy tinh trong suốt khó thấy; muốn cho người ta dễ thấy thì pha màu và muốn pha màu gì cũng được. Nghĩ sao nói vậy, chứ tôi biết ý kiến này sẽ bị bà con khác xứ chỉnh ngay, vì đã hơn một lần anh bạn người Nam nói với tôi rằng “con gái Huế thì thanh tao, nhẹ nhàng, nhưng tiếng Huế của mấy ông nghe nặng lắm.”



UserPostedImage



Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi dấu ngã, không phân biệt có “g” với không “g”, “c” với “t”. Nếu từ Quảng Nam trở vào khó phân biệt âm “b” và “p”, đến nổi khi đánh vần thường hỏi nhau “bê bò hay bê phở”, ( ngay cả đến những bậc khoa bảng nói tiếng Tây như gió , cũng có lúc nói âm “bê phở” chưa chỉnh) thì ở Huế, tại vùng quê, và ngay đối với lớp người già sống tại thành phố, người ta không phân biệt sự khác nhau giữa các âm “gi”, “d” và “nh”. Người già và người nhà đều được nói giống nhau.

Sau khi làm xong cái nhà, tôi nói chuyện với ông chú già rằng :”Mặc dầu cháu đã tính toán khá kỹ, vậy mà cuối cùng cũng phải mượn thêm của bạn bè mói đủ, vì số chi phí vượt quá mức dự trù.” Ông cụ thản nhiên đáp: “Cháu không nghe à? Ôn mệ mình từ xưa nay đã nói là làm già (làm nhà), chớ có nói làm non mô; mà đã làm già thì hụt tiền thôi.” Rõ ràng là ông cụ chơi chữ theo kiểu Huế, trộn lẫn âm thanh và ý nghĩa để biện luận theo ý mình. Các bạn miền khác hẳn khó mà thưởng thức lối đùa cơt chữ nghĩa theo kiểu đó.

Tôi không biết khi một người ngoại quốc học tiếng Việt thì cái khó nhất đối với họ là gì? Cách phát âm với năm thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, và không dấu) bằng trắc khác nhau, nghe như điệu hát chăng? Văn phạm chăng? . . . Riêng đối với người Việt, có lẽ việc đánh dấu hỏi ngã cho đúng đã là một vấn đề. Hồi còn học tiểu học (cấp 1), thầy dạy lớp Nhất (lớp 5) đã truyền cho lũ nhóc đệ tử chúng tôi một bí quyết để viết hỏi ngã cho đúng với câu thần chú “Anh Huyền ngã nặng, hỏi con dao có sắc không”. Ý thầy muốn cho chúng tôi phải nhớ rằng trong một từ kép, hễ chữ nào đi với chữ có dấu Huyền hay dấu Nặng thì phải đánh dấu Ngã; còn chữ nào đi với chữ có dấu Sắc hay Không dấu thì phải đánh dấu Hỏi, trừ một vài ngoại lệ phải học thuộc lòng. Chẳng hạn:

- nghĩ ngợi thì nghĩ có dấu ngã, nhưng nghỉ ngơi thì nghỉ lại có dấu hỏi.
- sừng sững và sững sốt cũng thế.

Thần chú như thế kể cũng linh nghiệm thật, nhưng khi viết chính tả không khỏi tốn công suy nghĩ nên hơi ... mệt. Khi đi thi bằng Tiểu học, tới môn chính tả tôi vái trời được gặp một thầy giáo hay cô giáo người Bắc, vì tôi nghiệm ra rằng người Bắc phát âm dấu hỏi dấu ngã rất đúng. Ấy là nhờ gần gũi một ông Hà Nội đang tán bà chị tôi mà biết được điều đó.

Cho đến bây giờ vẫn thế, bộ óc tôi ghi nhận rằng khi phát âm dấu ngã thì người Bắc nói nghe như dấu sắc (ví dụ: nghĩ ngợi -> nghí ngợi) và dấu hỏi nghe như dấu nặng (ví dụ: nghỉ ngơi -> nghị ngơi). Giả giọng Bắc mà không biết qui luật này sẽ đánh dấu hỏi ngã sai bét và lòi đuôi “giả cầy” ngay. Một ông nhạc sĩ nọ gốc Miền Trung, thường nói giọng Bắc trên TV, trước 75 đã có lần bị báo chí diễu là “người nói giọng Bắc hay nhất nước”, cũng chỉ vì không để ý điều đó.



UserPostedImage



Cách đây non 30 năm, lần đầu tiên khi đọc một cuốn truyện (không nhớ tên) của một văn sĩ người Bắc (không nhớ bút hiệu) đến đoạn đối thoại của một nhân vật nữ người Huế, tôi vừa cười thích thú vừa giận . . . Thích thú vì tác giả viết rất có duyên. Còn giận là giận mấy ông thợ nhà in sắp chữ sai (tôi đinh ninh thế). Ai đời “Thôi em về hí” mà lại sắp thành “Thôi em về hỉ”. Chữ HÍ của người ta viết với dấu sắc, đem sửa lại thành HỈ với dấu hỏi, nghe lãng xẹt, vô duyên như ăn cơm hến thiếu ruốc. Trong lời nói thường nhật của người Huế, HÍ là một từ đệm, đóng vai trò như nhé, hay nhỉ trong tiến Bắc và nha trong tiếng Nam ...


Tôi cứ tự cằn nhằn và giải thích như thế với mấy ông ấn công vô danh, mãi sau mới có dịp biết rằng mình đã nghĩ oan cho họ. Hầu như trong các truyện có dính líu đến ngôn ngữ xứ Huế, chữ HÍ đệm ở cuối câu đều được nghe và viết thành chữ HỈ bởi vì khi người Huế phát âm những chữ có dấu sắc thì người Bắc và người Nam nghe thành dấu hỏi và dấu nặng. Đó là lý do hí biến thành hỉ. Điều đáng nói là sai lầm này cũng hiện diện trong những tác phẩm do chính người Huế viết ra. Lỗi ở ấn công chăng? Lỗi ở thầy cò chăng? Nếu không phải do hai người này thì đó là điều khó hiểu.

Giọng Huế tuy khó nghe với người khác xứ nhưng rất dễ chỉnh. Trong lúc nói chuyện chỉ cần đổi ”ton” lớ lớ đi một chút là người nghe thoải mái ngay. Tiếng Huế mới là cả vấn đề, bởi vì khi nói đến giọng là chỉ mới đề cập tới hình thức, còn đi vào tiếng là đi vào nội dung, đi vào đời sống văn hóa.


Hình như địa lý và lịch sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường dễ làm nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn các miền khác, đến độ có người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu từ điển tiếng Huế. Trong Ngàn Năm Xứ Huế (San Jose: Thương Huế, 1993) Nguyễn Châu cũng đã sưu tập và giải thích một số nhưng vẫn chưa đủ. Trong TSH 1993, qua bài Thử nói về ảnh hưởng cung đình trong phong cách Huế, tôi đã có dịp khái quát về ảnh hưởng của cung đình trong ngôn ngữ Huế. Điều đáng nêu lên ở đây là: tại sao tiếng Bắc, tiếng Nam không gây trở ngại khi giao tiếp như tiếng Huế? Ngoài giọng Huế khó nghe, như đã nói ở trên, phải chăng vì tiếng Huế quá đặc thù? Phải chăng vì ngôn ngữ Huế ít được phổ biến? Hay vì tiếng Huế khúc mắc khó hiểu? Thiết nghĩ có lẽ do tất cả.


UserPostedImage




Người khác xứ có thể dễ dàng quen thuộc với răng, ri, mô, tê, rứa, hè, hí vì tính cách phổ thông của chúng, nhưng quả tình khó mà thông cảm với những lối nói đặc thù khác. Tôi có anh bạn người Nam sống ở Huế khá lâu. Trong một buổi trà dư tửu hậu, anh tuyên bố “Bây giờ người Huế nói cách chi tui cũng hiểu”. Nghe vậy một anh bạn khác liền hỏi ngay:

- Thiệt hả ? Rứa thì anh có biết vụ hai đứa con ông Bảy bựa qua ngầy lộn chắc rồi lôi giau từ trong chờn ra trữa cươi đập chắc, một đứa bễ mỏ, một đứa u trốt. Mạ hắn can không được, đứng trữa cươi la làng như " quạ quạ bẻ bắp "

Anh bạn người Nam ngẩn tò te, chịu thua. Đây là chìa khóa mật mã:

- bựa qua : hôm qua
- lôi giau : lôi nhau
- ngầy lộn : gây gổ
- chắc : với nhau
- chờn : cái giường
- trữa cươi : giữa sân
- bể mõ : vỡ mồm, giập miệng
- u trốt : u đầu

Mới chỉ có một câu nói ngắn như vậy mà cần phải giải thích đến tám chữ mới làm cho người ta hiểu được, và thực ra, đó mới chỉ là những chữ nặng về hình thức hơn ý nghĩa. Nếu đi vào ý nghĩa thì sự khúc mắc càng thể hiện rõ rệt hơn. Thành ngữ tào lao xịt bộp là một thành ngữ phổ thông của Huế - dùng để chỉ lời nói hay việc làm không đâu vào đâu, không có chủ đích, không có ý nghĩa, kiểu “nghe qua rồi bỏ”- nhưng lại là một thành ngữ khó hiểu vói xứ khác. Trong một cuộc tiếp kiến Toàn quyền Đông Dương, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại) đã làm cho một vị quan lỗi lạc lúng túng khi phải thông dịch câu nói rặt Huế của bà: “Tôi tra rồi, ăn nói tào lao xịt bộp . . .” (Nguyễn Đặng, TSH 1993) chỉ vì ông không phải là người Huế. La ngầy hay ngầy nghĩa là la rầy, nhưng ngầy lộn lại có nghĩa là gây gổ nhau. Mụ nớ có nghĩa là người đàn bà kia (không có ý kính trọng) nhưng khi một người đàn ông được gọi là Mụ hay Mệ, có nghĩa ông ta là người trong hoàng tộc. Thật là rắc rối.

Có một thực tế mà dường như ít ai để ý. Ấy là kể từ ngày chữ quốc ngữ trở thành phổ biến,trở thành văn tự chính thức thay thế cho chữ Hán thì lối viết theo ngôn ngữ miền Bắc là lối viết chính thức nước ta.

Thực vậy, từ giấy tờ hành chánh cho đến tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học v.v. phổ biến qua hình thức văn tự, hầu như đều được viết theo giọng Bắc. Ngoại trừ một Hồ Biểu Chánh của hồi đầu thế kỷ và sau này có thêm Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, và hiện nay là Hồ Trường An, là viết văn rặt giọng Nam, còn hầu như tất cả, bất cứ người cầm bút thuộc lãnh vực nào, xuất thân từ địa phương nào, đều viết theo phong thái ngôn ngữ miền Bắc. Bình Nguyên Lộc viết tiểu thuyết theo giọng Nam nhưng khi viết Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt-Nam, một tác phẩm biên khảo, cũng dùng ngôn ngữ Bắc. Số học giả, thi sĩ, văn sĩ người Huế trong nền văn chương quốc ngữ đông biết mấy, thế nhưng không vì vậy mà “răng, ri, mô, tê, rứa, ni, nớ ..." được chính thức đi vào văn học như “sao, thế này, đâu, kia, vậy, này, ấy...” Đừng nói chi xa, ngay tập TSH bạn đang cầm trên tay là một bằng chứng cụ thể, và ngay bài viết này cũng thế.

Ngôn ngữ miền Bắc hầu như đã trở thành lối nói và viết chính thức, có lẽ do truyền thống lập quốc và Nam tiến. Trong âm nhạc, ta cũng thấy hiện tượng tương tự. Khi hát tân nhạc, tất cả các ca sĩ đều hát theo giọng Bắc, bất kể người miền nào. Nhiều danh hề đã chọc cười khán giả một cách thành công khi hát tân nhạc theo giọng Nam . Ban AVT nhờ có Vân Sơn đệm giọng Huế mà trở thành hài hước có duyên. Từ thập niên 60, một số các nhà văn nữ gốc Huế quả có đưa tiếng Huế vào tác phẩm nhưng cũng chỉ có tính cách mắm muối thêm duyên – kiểu như Vân Sơn đệm giọng Huế trong ban AVT – chứ chưa tạo được sắc thái địa phương như Hồ Biểu Chánh hay Hồ Trường An.


UserPostedImage


Giọng Bắc giọng Nam dễ nghe, tiếng Bắc là ngôn ngữ chính thức trong sinh hoạt văn hóa và xã hội, đó là lý do tại sao đồng bào miền Bắc không gặp trở ngại khi đối thoại với người khác xứ. Trái lại, bên cạnh giọng nói thuộc về một âm vực khó nghe, người Huế lại nói và viết không giống nhau. Thêm vào đó, Huế lại quá phong phú thổ âm thổ ngữ, cả về số lượng cũng như ý nghĩa. Tất cả những cái đó đã biến tiếng Huế thành ngoại ngữ. Muốn hiểu rành “ngoại ngữ” đó, chỉ có cách hãy sống với Huế. Ai không tin, thử hỏi mấy ông rễ Huế, biết ngay.

Võ Hương-An


UserPostedImage
havi  
#116 Posted : Saturday, September 11, 2010 7:08:06 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
quote:
Originally posted by havi


UserPostedImage

TIẾNG HUẾ, MỘT NGOẠI NGỮ ?




.......................
........................

Tôi không biết khi một người ngoại quốc học tiếng Việt thì cái khó nhất đối với họ là gì? Cách phát âm với năm thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, và không dấu) bằng trắc khác nhau, nghe như điệu hát chăng? Văn phạm chăng? . . . Riêng đối với người Việt, có lẽ việc đánh dấu hỏi ngã cho đúng đã là một vấn đề. Hồi còn học tiểu học (cấp 1), thầy dạy lớp Nhất (lớp 5) đã truyền cho lũ nhóc đệ tử chúng tôi một bí quyết để viết hỏi ngã cho đúng với câu thần chú “Anh Huyền ngã nặng, hỏi con dao có sắc không”. Ý thầy muốn cho chúng tôi phải nhớ rằng trong một từ kép, hễ chữ nào đi với chữ có dấu Huyền hay dấu Nặng thì phải đánh dấu Ngã; còn chữ nào đi với chữ có dấu Sắc hay Không dấu thì phải đánh dấu Hỏi, trừ một vài ngoại lệ phải học thuộc lòng. Chẳng hạn:

- nghĩ ngợi thì nghĩ có dấu ngã, nhưng nghỉ ngơi thì nghỉ lại có dấu hỏi.
- sừng sững và sững sốt cũng thế.
.......................
.......................




[:0]..ơ ơ chu choa, đoạn ni là đọc đi, xong đọc lại mà vẫn còn confuse, still...không rành cho mấy về cách dùng "hỏi, ngã". So complicate !!!! [:p]

UserPostedImage
havi  
#117 Posted : Sunday, October 3, 2010 12:05:16 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
UserPostedImage... Ca dao Huế
Tà Áo Xanh

Sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, thế kỷ thứ 16, có đoạn viết về Huế "Mặt đất non sông tươi đẹp, biển cả sóng nước mênh mông" Còn trong dân gian được truyền tụng
"Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ"

Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO. Ca dao Huế có câu
"Hồ Tịnh Tâm nhiều sen Bách Hợp Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam"


Câu ca dao như thế thường xuất phát từ xúc cảm của con người trước thiên nhiên và cuộc sống, rồi vì lời hay ý đẹp nên lan dần trong dân gian, và truyền tụng từ đời này sang đời khác. Ca dao cũng biến đổi theo thiên nhiên, con người, và những thăng trầm của thế sự.
"Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang"
Rồi thì qua một cuộc bể dâu, ca dao lại đổi khác
"Phá Tam Giang ngày rày đã cạn Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm"



UserPostedImage


Đó là những câu ca dao nói về đoạn đường gian khổ, khó khăn, khi từ Bắc vào Huế. Ngày nay, phá Tam Giang được bồi đắp dần dần và trở thành những mảnh đất màu mỡ cho con người canh tác. Ngày xưa, từ Bắc vào Nam đã khó, nhưng từ Nam ra Huế cũng chẳng dễ dàng
"Chiều chiều mây phủ Hải Vân Chim kêu ghành đá, tủi thân thêm buồn"

Đèo Hải Vân nằm giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam , từng được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan. Đường bộ là thế, còn đường biển thì có Hang Dơi
"Đi bộ thì khiếp Hải Vân Đi thuyền thì sợ sóng thần Hang Dơi"

Ca dao Huế còn lấy sự trường tồn của cảnh quan để so sánh với tấm lòng thủy chung của con người
"Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Dẫu ai ăn ở hai lòng
Em đây vẫn một dạ thủy chung với chàng"
"Núi Truồi ai đắp nên cao? Sông Gianh ai bới, ai đào, mà sâu ?"



UserPostedImage


Ca dao Huế còn có ý nghĩa gợi nhớ công lao của bậc tiền nhân, hay, ta thán về nhân tình thế thái. Huế ngày nay được xem là một bảo tàng lộ thiên với điện ngọc, đền vàng, lăng tẩm. Đó chính là di sản văn hoá vật chất về di tích cố đô, và là di sản văn hoá của cung đình VN. Những tố chất đó là nguồn cảm hứng cho con người. Bởi thế, ca dao xứ Huế không chỉ ngợi ca về thiên nhiên, nói về nhân tình thế thái, mà còn tìm thấy được hình ảnh của kiến trúc cố đô Huế trong ca dao.
"Ngọ Môn năm cửa, chín lầu
Cột Cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng"
"Đi mô cũng nhớ quê mình Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh"



UserPostedImage


Chính những điệu hò, những câu ca dao nặng tình yêu thương quê hương đất nước, đã thấm đẫm vào con người Huế từ thuở ấu thợ Vì thế, mỗi lần giỗ, Tết, được trở về cố thổ để tưởng nhớ Tổ Tiên, thăm lại bà con, bạn bè, bên chén trà, chung rượu, ôn cố tri tân, bao giờ cũng vẫn là điều mong ước. Một tình cảm thiêng liêng không xoá nhoà được trong lòng người Huế tha hương. Huế là một miền đất có một cảnh quan thơ mộng, xinh đẹp, và từ đời sống thiên nhiên đó, ca dao đã được hình thành. Cứ mỗi địa danh, gần như có một câu ca dao. Ví dụ cụ thể như chúng ta đi từ thượng nguồn sông Hương về hạ nguồn sông Hương, thì sẽ thấy có những câu ca dao như là:
"Gió đưa cành trúc la đà Tiêng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương"

Đến Kim Long thì có câu:
"Thuyền về Đại Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là ngả rẽ của lòng Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ?"


Rồi Phú Văn Lâu, rồi Cầu Trường Tiền, rồi Chợ Đông Ba, tất cả đều có một giòng chãy của ca dao. Và, có nhiều nhà thơ, nhà nho, cũng đã làm cho nền ca dao phong phú lên. Cụ thể như những câu hò mái nhì, những câu ca dao của Ưng Bình Thúc Giạ Thị cũng đã làm cho nền văn học dân gian trở nên sinh động, và nó đi vào trong tâm thức của con người. Cụ thể như câu hò mái nhì:
"Chiều chiều, trước Bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non"



UserPostedImage


Phú Văn Lâu, nơi thường diễn ra các cuộc thả thơ thuở trước. Ca dao Huế cũng là nơi gửi gắm của lòng người ưu tư theo vận nước. Tương truyền vào khoảng đầu năm 1916, Trần Cao Vân thường đến ngồi câu cá ở Phú Văn Lâu để chờ gặp vua Duy Tân. Bên kia sông, con thuyền thấp thoáng để chờ đón vua rời khỏi kinh thành, ra đi khởi nghĩa. Không ngờ, âm mưu bại lộ, vua Duy Tân bị bắt và bị lưu đày. Ngày nay, lời ru cảm thán về vận nước vẫn còn in đậm trong lòng người dân Huế. Ca dao còn là nơi gửi gắm nỗi lòng uẩn ức trước những hà khắc của chế độ phong kiến.
"Vạn Niên là Vạn Niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân"

Vạn Niên là một kiến trúc cầu kỳ nằm trong Lăng Tự Đức. Ngày nay, Lăng Tự Đức trở thành một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn. Lăng như một bức tranh sơn thủy hữu tình, gợi cho du khách một hồn êm thơ mộng. Ca dao đi vào nông thôn với những lời khuyên cần kiệm
"Được mùa chớ phụ ngô khoai Đến khi Thân, Dậu lấy ai bạn cùng"


Là một lời cảnh báo trước hiểm hoạ thiên nhiên trong vùng đất thường xảy ra thiên tai. Là lời nhắc nhở con người: hãy sống thủy chung. Cách thành phố Huế 7 km, có cầu ngói Thanh Toàn. Cầu được phỏng theo cầu Nhật ở Hội An. Ở đây, ca dao không chỉ nói đến một địa danh, mà còn ghi nhớ đến một tấm lòng hào hiệp của con người.


UserPostedImage

"Ai về cầu ngói Thanh Toàn Cho em về với một đoàn cho vui"


UserPostedImage



Qua ca dao, không những làm ta liên tưởng đến lịch sử, thắng tích của Huế, mà còn biết đến những địa danh với những đặc sản riêng của từng vùng.
"Ru em cho thét, cho muồi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Mam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai Triệu Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim"


Tuy ca dao xuất phát trong giới bình dân, nhưng nhiều câu rất nên thơ, và ý nghĩa đậm đà, dễ xúc cảm người nghe, nên được nhiều người yêu thích và sưu tầm. Cụ Ưng Luận là một trong những con người đó. Ông sưu tầm ca dao bởi một tấm lòng, như câu thơ của Thanh Tịnh:
"Ước gì để lại mai sau Một câu, một chữ, đượm màu dân gian"


Như sợ ca dao mai một theo giòng thời gian, cụ Ưng Luận vẫn ngày đêm miệt mài với công trình tìm kiếm ca dao của mình, để mong đóng góp một phần nhỏ vào kho tàng văn học dân gian của cố độ "Ca dao đã truyền tải được nhiều đền đài, thắng tích, kể cả cuộc sống của vua chúa, như là ca dao xứ Huế. Đọc ca dao xứ Huế, chúng ta sẽ thấy cả Ngọ Môn, Cột Cờ, Văn Thánh, Võ Thánh. Biết được Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Đào Duy Từ, chẳng hạn. Cụ Ưng Luận là một người rất từng trãi ở Huế. Tuổi cao. Cụ vốn là một người có uy tín ở trong hoàng tộc cũ. Là nhà giáo lâu năm, nhà hoạt động văn hoá. Có lẽ, nhờ những đặc điểm đó mà cụ đã gom góp lại được cái kho tàng trí tuệ này. Trình bày một cách, có thể nói là, khá sắc sảo, hóm hỉnh, với cái nhìn của một người từng trãi. Ca dao xứ Huế do cụ biên tập và bình giảng, đã giúp cho người dân xứ Huế, nhìn lại mình một cách kỹ hơn, soát xét lại kho tàng trí tuệ của Cha Ông mình, và tiếp nhận nó để đi vào cuộc sống hiện nay." Huế từng là kinh đô của nước Việt trong thời gian dài, nên đã quy tụ nhiều danh nhân khắp các địa phương. Bởi thế, ca dao có câu xuất phát từ Huế, nhưng cũng có câu từ nơi khác đến. Theo tạp chí Nam Phong số 10 tháng 4 năm 1918, thì một nhà báo miền Bắc, nhân dịp dạo thuyền trên sông Hương vào đêm khuya, đã cao hứng viết hai câu:

"Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương"

UserPostedImage


Không ngờ hai câu thơ này đã gây nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi. Vì chùa Thiên Mụ ở Huế, còn huyện Thọ Xương thì ở Hà Nội. Có lẽ, nhà báo này đã nhớ đến câu thơ của cụ Dương Khuê:
"Phất phơ ngọn cỏ trăng tà Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương"


Huế cũng có những câu ca dao mang phong cách riêng của mình, không thể lầm lẫn xuất xứ, như lời ca dao nói về cầu Tràng Tiền:


UserPostedImage

"Cầu Tràng Tiền 6 vài, 12 nhịp
Anh qua không kịp, tội lắm, em ơi !
Nghĩa tào khang ai mà vội dứt
Đêm nằm tâm tức, lụy nhỏ tuôn rơi
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời
Dẫu có xa nhau đi nữa
Dẫu có xa nhau đi nữa Cũng bởi ông trời mà xa"



UserPostedImage


Ca dao Huế đến nay vẫn còn giữ được sức sống, và còn tiếp tục hoà nhập vào cuộc sống mới, như một tổng kết của tiền nhân, trao truyền lại cho các thế hệ mai sau. Là một di sản văn hoá của dân gian, ca dao Huế, một kho tàng trí tuệ độc đáo, một gia tài văn hoá cộng đồng, đã trãi qua nhiều thử thách của năm tháng. Người ta có thể tìm thấy được ca dao từ những câu hát ru con, những câu hò trên sông nước, thường nghe được ở Huế và các vùng phụ cận. Bao nhiêu tinh hoa của nhiều thế kỷ đã hội tụ về miền sông Hương, núi Ngự, để tạo nên một vùng đất văn hoá vô cùng đặc sắc. Vì thế, qua ca dao, người ta có thể thấy được ba yếu tố: Thiên Nhiên, Kiến Trúc, và Con Người Huế, đã hoà quyện với nhau, nuôi dưỡng nhau, để Huế trở nên một vùng đất của Thơ, bầu trời của Nhạc, và thế giới của tâm hồn.



UserPostedImage
TUS  
#118 Posted : Sunday, October 3, 2010 12:24:39 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
SIS VI ..MŨI NÉ CÓĐƯỢC KOI LÀ NÉT ĐẸP VĂN HOÁ HÔNG TỶ?

UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#119 Posted : Sunday, October 3, 2010 9:45:12 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Mèn ui, Cactus ở bên nớ mà hỏi Vi câu ni thì...humm, cactus chắc biết nhiều information hơn sis nữa đooá.

Mũi Né là một địa điểm du lịch, gần Phan Thiết phải không? nếu cactus có hình và bài viết về Mũi né thì good lắm, vì Vi cũng muốn biết information, places to eat, things to do there, mong Cactus post lên trong topic DU LỊCH & ẨM THỰC nha. Thanks nhe' [:)]


UserPostedImage
TUS  
#120 Posted : Sunday, October 3, 2010 10:05:50 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
OK NUMBER ONE SIS VI..!!!

UserPostedImage



UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
7 Pages«<4567>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.