Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<96979899100>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hạ Vi  
#1941 Posted : Sunday, June 7, 2015 12:17:08 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,581
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



by VIDEO CLIP CẢM ĐỘNG


Edited by user Sunday, June 7, 2015 12:35:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 6/8/2015(UTC), thunder on 6/26/2015(UTC)
phamlang  
#1942 Posted : Monday, June 8, 2015 4:16:26 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Ơn Nghĩa Tình người ở đất Sài Gòn

Chắc đất Sài Gòn này nhỏ hẹp, lại làm cùng ngành tài chính nên thỉnh thoảng chạy đi chạy lại lo công việc, nó cũng chạm mặt gặp lại cô giáo vài lần. Mà lần nào cũng vậy cô cũng nhiệt tình giúp đỡ nó vì dù sao kinh nghiệm nghề nghiệp của nó so với cô cũng còn non nớt.

Cali Today News - 18 tuổi, nó rời mảnh đất miền trung nắng gió vô Sài Gòn học đại học. Lúc mới vô Sài Gòn, vì không muốn là gánh nặng cho ba má ở ngoài quê, nó bươn chải làm đủ thứ nghề để mưu sinh kiếm sống. Rồi vì ma lực của đồng tiền, nó bỏ bê chuyện học hành, có khi cả tháng mới vào trường học một lần. Nhưng bù lại nó siêng tham gia các câu lạc bộ xã hội dành cho giới trẻ, tích cực viết lách và học tiếng Anh. Nó thích viết lách, viết lách như là một bản năng trong con người nó có từ lúc mới học chữ. Nó làm cộng tác cho nhiều báo, nhiều tạp chí lớn nhỏ, chẳng mong được là một cây bút nổi danh gì, chỉ viết cho thỏa lòng đam mê của mình và kiếm tiền nhuận bút để trang trải cuộc sống của một chàng sinh viên tỉnh lẻ ở đất Sài Gòn. Ngày còn ở ngoài quê, nó cũng thích được học tiếng Anh lắm nhưng mà không có điều kiện.

Rồi được bạn bè giới thiệu, nó cũng cố gắng gom góp tiền dành dụm sau nhiều tháng làm việc cật lực quên cả việc học chính quy ở trường để đăng ký học một khóa tiếng Anh ba tháng ở một trung tâm giáo dục vào ban đêm. Nó thích học tiếng Anh lắm. Càng học nó càng thích thú vì được mở mang kiến thức. Cô giáo dạy tiếng Anh của nó là một cô gái miền tây, cũng chỉ mới tốt nghiệp trường sư phạm, hơn nó chừng vài tuổi. Dáng người nhỏ nhỏ xinh xinh, hiền lành, thỉnh thoảng cô cũng bị mấy đứa thanh niên loai choai trong lớp chạc tuổi nó chọc ghẹo. Học hết khóa học ba tháng xong thì nó không có khả năng để đóng học phí tiếp tục học tiếp. Rồi nó liều mạng theo thằng bạn học chui hàng đêm. Hai đứa đi học mà chỉ có một phiếu biên lai học phí nhưng cũng học kéo dài cả năm trời mà không bị đuổi. Hôm nào nhà trường cho người vào từng lớp kiểm tra thì nó bỏ trốn ra ngoài hành lang giả vờ đứng hút thuốc, có hôm bỏ trốn không kịp thì nói dối là quên biên lai học phí ở nhà. Cuối cùng hơn một năm học tiếng Anh chui, nó có nhiều tiến bộ lắm, đọc, nói và viết thành thạo. Cô giáo có ấn tượng tốt với nó lắm. Cô thừa biết nó học chui nhưng cũng không nói gì, vì cô có dạy mười đứa trong lớp, hay năm ba chục đứa trong lớp thì tiền lương cô nhận được cũng chỉ nhiêu đó, không khác gì, nên cô cũng chẳng muốn báo cáo với nhà trường. Hơn nữa, cô cũng là dân miền tây tỉnh lẻ lên Sài Gòn học rồi lập nghiệp nơi đây nên cũng thấu hiểu nỗi niềm của những đứa sinh viên tỉnh lẻ như nó. Nó được biết cô giáo ban ngày đi làm cho một công ty nước ngoài về tài chánh, ban đêm đi dạy lớp tiếng Anh này. Có lần trò chuyện, cô giới thiệu cho nó mấy mối dịch thuật, thiết kế quảng cáo đăng báo, đăng tạp chí. Nó thầm cảm ơn và cảm kích cô giáo vô cùng nhưng không dám nói nên lời.

Khi gần tốt nghiệp đại học, thấy tự tin với trình độ tiếng Anh của mình, nó mạnh dạn xin vô làm ở một tòa soạn tạp chí về kinh tế, tài chính kế toán. Chắc đất Sài Gòn này nhỏ hẹp, lại làm cùng ngành tài chính nên thỉnh thoảng chạy đi chạy lại lo công việc, nó cũng chạm mặt gặp lại cô giáo vài lần. Mà lần nào cũng vậy cô cũng nhiệt tình giúp đỡ nó vì dù sao kinh nghiệm nghề nghiệp của nó so với cô cũng còn non nớt. Nhiều lần nó cũng muốn mời cô giáo uống ly café, rồi buột miệng hỏi tại sao cô giáo lại giúp đỡ nó nhiều như vậy nhưng rồi tính ngạo mạn và sĩ diện của thằng đàn ông khiến nó chẳng mở miệng hỏi được. Thật tâm trong lòng nó, vẫn tồn tại một cái gì đó gọi là ơn nghĩa với cô giáo nhưng chẳng thể nào thổ lộ và nói nên lời.

Nhiều năm lăn lộn bươn chải ở đất Sài Gòn, từ một thằng sinh viên nghèo tỉnh lẻ chân ướt chân ráo nếm trải bao đắng cay ngọt bùi của cuộc sống bon chen nơi đây, nó bây giờ đã là chủ của một công ty truyền thông quảng cáo lớn. Nhân viên của nó có đến cả trăm người, chủ yếu cũng là sinh viên tỉnh lẻ đến Sài Gòn học đại học rồi ở lại lập nghiệp. Nhìn những bạn trẻ như thế, nó ngẫm lại hình ảnh của mình ngày trước, thầm cảm ơn cái tình người, ơn nghĩa mà bao năm qua nó có được ở đất Sài Gòn này để được thành công như ngày hôm nay. Nó đón nhận nhiều sinh viên tỉnh lẻ đến Sài Gòn học đại học làm trong công ty, tận tình chỉ bảo và dạy dỗ các em công việc như một người thầy, một người đàn anh từng trải. Tự nhiên nó cảm thấy việc nó giúp đỡ nhiệt tình cho những người bạn trẻ, bỡ ngỡ, khó khăn khi đến Sài Gòn cũng như là một cách để nó trả ơn cho cô giáo ngày trước, trả ơn cái ơn nghĩa tình người ở đất Sài Gòn này bao năm qua. Với những người tỉnh lẻ như nó, chen chân bám trụ lại với đất Sài Gòn để sống không phải chỉ nhờ vào may mắn mà còn bám víu được lại nhờ cái tình người nơi đây. Bởi nó biết một điều tình người ơn nghĩa ở đất Sài Gòn phồn hoa bon chen này đắt lắm, tiền chẳng thể mua nổi, trả cả đời cũng chẳng thể trả hết.

Vương Vi
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
phamlang  
#1943 Posted : Monday, June 8, 2015 5:06:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
LẠI VIẾT VỀ NỔI BẤT HẠNH CỦA QLVNCH


HỒ ÐINH


Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘ Ðất nước còn thì còn tất cả ‘.Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đã mất hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực VNCH không còn tồn tại, để gánh vác và bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẽo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị rã ngủ theo lệnh buông súng đầu hàng.

Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đã đạt được nhiều chiến công hiển hách, trong suốt dòng lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc, qua các cuộc bình Chiêm, phá Tống-Nguyên-Minh-Thanh, khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.

Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nửa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ và hãnh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó miên viễn vẫn là quân đội bao đời,

Với ý nghĩa thiêng liêng và cao quý trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được hình thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cộng sản đệ tam quốc tế, do Việt Cộng Bắc Việt đảm nhận. ÐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM , chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.

Cho nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa CỘNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả bây giờ, đã bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như thế, Cộng Sản và phe ta trốn quân dịch, mới vừa chửi Mỹ , vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cộng sản tại Ðông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lý tưởng, đánh đuổi “ Mỹ-Ngụy “ cứu nước.

Ðây cũng chính là nổi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam , trong hai mươi năm khói lửa. Vì định kiến, vì buông xuôi, vì thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả đã dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút tình quân-dân, cá-nước

Hai mươi năm chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân tính vì đã bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. Còn sau lưng bị thọc bởi hậu phương vô tình bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh với đại bàng, luôn rình rập để phản bội và bán đứng. Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đã dùng bút vẽ lên bức tranh vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Ðội Bắc Việt hay Việt Cộng, vì thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hãm hiếp phụ nử, chứ người lính VNCH đâu có lý do gì, để mà cuồng dẩm cả xác chết của nử cán bộ VC ?

Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tròn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.

Sau đó, cộng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này, có nhiều “ mẹ chiến sỉ VC “, đã từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh.

Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC còn hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘ đuổi tận, giết tuyệt ‘ các thành phần trên, đang sống tại các chòi, dựng trong Nghĩa Ðịa Phước Bình, Sài Gòn.

Thì ra cách mạng mấy mươi năm, nói la “ để giải phóng đất nước “ , mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại về ‘ Người Bộ Ðội Miền Bắc, Vượt Trường Sơn Vào Nam Ðánh Mỹ Cứu Nước ‘, đã theo lớp son phấn đảng tham nhũng, tham tàn, tham địa vị, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi đời mạt lộ, để biến thành những nụ cười dân gian, được truyền lưu khắp chốn giang hồ.

Ba mươi sáu năm tan hàng rã ngũ, quân-dân Miền Nam đã lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xã nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ xác dù đã bị bầm giập tan nát, tinh thần của người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lý tưởng của họ.

‘ dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đã điểm sương mới về .’
(Chinh Phụ Ngâm Khúc )


+ NHỚ ƠN ANH : NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH

Hai mươi năm chinh chiến, người Lính VNCH đã có 250.000 gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không còn nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính , càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.

Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực , mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ , xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế chiến 2 kết thúc, Tòa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Ðầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật.. Năm 1920, Lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ý bắt và tử hình. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ý tại Bắc Phi , là người đã ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya , vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cộng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cộng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam . Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam .

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp méo lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cộng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

+ NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TRÍ THỨC THIÊN TẢ ÐÂM SAU LƯNG:

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cộng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình, đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, gái tình và thời gian để đâm thọt, phá hoại.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cộng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này, đã lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, sáng tác nhạc nhụa bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.

+ MỸ BÁN ÐỨNG VNCH CHO CỘNG SẢN:

Bắt đầu từ ngày 13-5-1968 , Mỹ và Bắc Việt đã lén lút đi đêm với nhau tại Paris , để tìm cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Ðức Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi ký ‘ The Kissinger Transcripts ‘, trong đó đã ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve vãn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, thì Kissinger đã làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đã xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện phi lý, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải ký kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hãnh diện gì hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đã liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi ba năm đắm chìm trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù vì vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xã hội chủ nghĩa.

Người Mỹ đã ký kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissinger tiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa gì tới tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt.

Sau này, khi VNCH đã sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê bình sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của mình. Chính TT. Nixon cũng đã xác nhận lỗi lầm của mình trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đã thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong thỏa ứơc này là đã không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đã xâm nhập về Bắc. Còn M. Gauvin , đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đã tuyên bố ‘ VNCH bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định ngưng bắn ký kết tại Ba Lê năm 1973, đã không phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống hòa bình và không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, nên ngay từ năm 1954, họ đã phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê bình một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống còn của Nam VN, đã bị người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy, Hoa Kỳ mới tránh cho nước mình bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều nghịch lý khác là cộng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị, không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng ‘.

Ngoài vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đã đem được tù binh và hài cốt quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ còn bội ước, khi liên tục biểu quyết các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như các thỏa ước đã ký kết . Sự bất công vô lý, đến đổi Tuỳ Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đã phải viết ‘ Người Lính VNCH do đó, đã phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức bình thường, làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, vì bị hạn chế các phương tiên ngăn chống giặc ‘.Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc phòng thời TT.John Kenedy, thì vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm của mình, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.

Sự thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Ðao, Phan Nhật Nam, Trần Ðại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Ðức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lý Tưởng, Vi Anh, Phạm Trần, Huy Phương.. kể cả Trung Tâm Ca Nhạc Kich Hải Ngoại ASIA do các con chim đầu đàn Trúc Hồ , Nam Lộc, Việt Dũng điều khiển, đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước và đồng bào.

Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972.. nhưng Họ đã can trường lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đã quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu rã ngủ.

Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi ký của Kissinger.. đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. Trong lúc cộng sản Bắc Việt, được Tập Ðoàn Cộng Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, thì QLVNCH bị Hoa Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngã để sinh tồn.

Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’, với tư cách là một sĩ quan cao cấp của Mỹ , đã chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đã có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, thì thái độ bêu xấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem mình là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đã bị điệp viên của khối cộng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm tình với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH.

Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược và phi lý. Ðể trả lời, nhiều người đã hỏi ngược lại người Mỹ rằng ‘ vậy thì từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đã rời VN, vậy ai đã chiến đấu với bộ đội Bắc Việt ?’. Còn về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Ðốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ?

Còn trong thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cộng sản. Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ÐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (Bình Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp, gồm Lữ Ðoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Ðoàn 33-35/Biệt Ðộng Quân/VNCH đảm trách. Ðặc biệt tại Ðiện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Ðoàn 1/BDQ của Quân Ðoàn I.

Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ Quốc và đồng bào mình, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong dòng sử Việt, được bia đời phong cho danh hiệu là ‘ TRI’ THỨC CHỒN LÙI’, còn các lãnh tụ cộng sản như Stalin, Mao Trạch Ðông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI vì suốt kiếp chẳng làm được một điều gì tốt hay ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này ôm chân níu áo Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, trong lúc vẫn sống cao sang quyền thế như lúc còn trà trộn trong các Ðại Học, Chùa-Nhà Thờ, Tòa Báo,sân khấu, phòng trà.. và trên các trang sách-thơ cuối tuần, vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút gì, dù phong trần đã nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản để mà ra báo, làm báo và sinh tồn, dù rằng chúng đã nói là ÐÃ ÐI HẾT BIỂN NAY PHẢI VỀ NGUỒN nhưng lại không dám bán nhà, bán chùa, bỏ sở và cuộc sống thừa mứa tại Mỹ, để về sống với Việt Cộng, đạo pháp để hưởng Vinh Hoa Phú Quý, Tự Do Dân Chủ, tự do tôn giáo, tự do quyên tiền cúng dường của khách thập phương.. trong Xã Nghĩa Thiên Ðàng, như chúng hằng ca tụng.

Chính người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lãnh đạo của VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lãnh đạo xứng đáng, ngang cơ để đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Ðình Diệm bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác gì việc Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.

Nhưng mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bạch hóa các tài liệu cũ liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ đã chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy thì bán Miền Nam VNCH cho Cộng Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Ðịnh Paris 1973, cũng đâu có gì lạ ? ‘

Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó như Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Ðức, Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát.. cũng như Trường Ðại Học Quân Sự.

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa

‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’ ’
( Chinh Phụ Ngâm Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)


Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi trong cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đã có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những người xưa đã VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền Nam , xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm qua, đã biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô..

Edited by user Monday, June 8, 2015 5:09:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
phamlang  
#1944 Posted : Tuesday, June 9, 2015 11:09:48 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM
UserPostedImage

Là người lính miền Nam tôi hãnh diện
Nhiều người dân tiếc nuối chuyện đã qua
Yêu quê hương họ đi lính Cộng Hoà
Giữ bờ cõi giặc tràn qua vĩ tuyến

Là người lính miền Nam tôi xao xuyến
Nhiều bạn bè vì cuộc chiến bị thương
Bán lời ca, vé số khắp nẻo đường
Sống lây lất nhiều năm trường nghiệt ngã

Là người lính miền Nam sao buồn quá!
Nhìn Nghĩa Trang Quân Đội đã hoang vu
Người hy sinh, kẻ ra Bắc đi tù
Thuyền nhân chết vì phiêu lưu vượt biển

Là người lính miền Nam giờ lưu luyến
Một phần đời trong cuộc chiến năm xưa
Những chiến trường sự sống chết đong đưa
Ôi kỷ niệm cả đời chưa quên được

Kỵ Binh Nguyễn Hiếu

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
Duy An  
#1945 Posted : Monday, June 15, 2015 10:16:35 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

UserPostedImage


Nhớ đến anh, người lính VNCH



Nhân sắp đến Ngày Quân Lực 19 tháng 6
Nguyễn Phú


Người chiến sĩ QLVNCH với trọng trách mà tổ quốc đã giao phó cho họ qua ba điều tâm niệm: Tổ quốc - danh dự - trách nhiệm như chiếc ghe nhỏ đang cố gắng đẩy chiếc sà lan nặng nề đầy cát giữa dòng sông nước chảy cuộn, tìm cách tránh né những cụm lục bình trôi theo dòng nước lũ, mà hầu như lúc nào những cụm lục bình trôi không định hướng ấy cũng muốn bám chặt vào cánh quạt máy chân vịt của chiếc ghe đó...

Thế rồi dòng đời trôi qua, trong mọi bối cảnh, bất chấp gian nan, sự khổ cực, sự ngược đãi và bất công mà anh phải trải qua hằng ngày, người chiến sĩ QLVNCH đó vẫn kiên trì chiến đấu, bởi vì anh chỉ có biết thực thi những điều nhắn nhủ mà vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH đã nói với anh và các đồng đội: “Hãy Kiên Trì Chiến Ðấu Ðể Bảo Vệ Tổ Quốc Chống Lại Cuộc Xâm Lăng Trắng Trợn Của Bè Lũ Cộng Sản Bắc Việt.”

Người chiến sĩ QLVNCH đó có thể là người lính thuộc SÐ21BB đã phơi thây trên những tuyến đầu của Quốc Lộ 13 để mở đường cho cuộc phản công giải tỏa các đồng đội họ trong chiến trường An Lộc.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh cựu Biệt Kích Quân được đồng hóa ra phục vụ trong TÐ.92/ BÐQ/ BP, mà dưới sự đàn áp tấn công liên tục của Cộng Quân thuộc Trung Ðoàn 274 Bắc Việt, anh đã kiên trì giữ vững trại Tống Lê Chân đến hơi thở cuối cùng.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Trung Ðoàn 43/ SÐ18BB, mặc dù bị tràn ngập và áp đảo dưới hỏa lực dữ dội của cộng quân thuộc Công Trường 6 và Sư Ðoàn 341 Bắc Việt, anh đã làm tròn nhiệm vụ mà Hằng Minh đã trong đợi nơi anh: Ngăn trở và làm chậm lại những toán quân tiền phương của Cộng Quân Bắc Việt, mua thêm thời gian cho sự bố trí chiến đấu của SÐ18BB và các đơn vị bạn trong cuộc phòng thủ tuyến thép Long Khánh.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính ÐPQ còn lại của Chi Khu Ðịnh Quán, mặc dù đơn vị anh đã tan rã đêm 16 tháng 3, 1975, anh và một vài đồng đội của anh đã hăng hái tình nguyện giúp đỡ chi đội thiết giáp M-113 võ trang và tái thiết bị để chống chọi lại với chiến xa T-54 của địch tại tuyến thép 2/52, để rồi ngày 12 tháng 4,1975, anh lại cùng toán quân Ðặc nhiệm của Trung Ðoàn 43, phục kích và tảo thanh cộng quân trong thị xã Xuân Lộc.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh chị Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc Tiểu Khu Long Khánh đã can đảm, kiên trì trong gian nan, hy sinh thân mình cùng với các anh lính của chiến hữu Vương Mộng Long, giữ vững phòng tuyến tại khách sạn Long Khánh cũ trong đợt tấn công ào ạt lần thứ hai của cộng quân vào 5 giờ sáng ngày 9 tháng 4, 1975.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Tiểu Ðoàn 82/ BÐQ/ BP đã gian nan chiến đấu, mà cho đến giây phút cuối cùng, anh đã can đảm từ chối, không nhận di tản bằng trực thăng chinnook CH-47 mặc dù đang bị thương nặng, bởi vì anh cảm thấy rằng anh đã làm tròn nhiệm vụ của anh và hơn nữa cái chỗ của anh trên chiếc trực thăng ấy có thể dành di tản thêm một người dân vô tội.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính Pháo Binh thuộc TÐ3/PBD, mặc dù cộng quân đang trên đồi xung phong xuống tại gần quân trường Long Giao cũ, và mặc dù anh đang bị thương ôm mặt máu me tùm lum, anh vẫn can đảm và bình tĩnh hủy diệt ngòi cơ bẩm của khẩu 105 ly do anh trọng trách, bởi vì anh đã được huấn luyện như vậy.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính vì tuân lệnh của vị tân “tổng tư lệnh” QLVNCH, buông súng ống mà đã cùng theo anh chiến đấu nhiều năm trong khói lửa chiến tranh, chán chường dìu dắt đồng đội bị thương của anh từ cầu New Port, theo ngã ba Hàng Xanh, qua ngã tư Bình Hòa, ngã ba Cây Thị, chợ Gò Vấp, đến ngã năm Chuồng Chó, mệt mỏi và kiệt sức quẹo trái xuống Tổng Y Viện Cộng Hòa với hy vọng được điều trị vết thương một cách nhân đạo, để rồi đã bị xua đuổi đi một cách vô nhân đạo bởi những kẽ chiến thắng mà đối với họ chỉ có bác và đảng là trên hết.

Và rồi người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính QLVNCH ngày đó, trên quê hương lần thứ hai nầy, can đảm, mặc kệ những sự bất công, ngược đãi, và gièm pha như những cuộm lục bình vô định hướng trong dòng sông nước chảy cuộn, đang cố gắng chiến đấu với những kẻ chiến thắng vô thần đó, tranh giành sự tự do thật sự, tìm mọi cách hữu hiệu xoa dịu vết thương lòng và vết thương thân thể của những đồng đội đã kém may mắn hơn anh còn đang kẹt lại trên quê hương yêu dấu của anh...

Kính tặng các anh chiến hữu yêu dấu QLVNCH tại chiến trường Long Khánh, 1975.

Nguyễn Phú
Trung Ðội Trinh Sát/
Tiểu Ðoàn 2/43 - SÐ18BB
Rochester, New York
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
Duy An  
#1946 Posted : Tuesday, June 16, 2015 11:05:49 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Hãy thắp cho anh một ngọn Đèn


Giao Chỉ - San Jose

Sau mối tình đầu dang dở, cô và chị Sương nay vợ của Vũ đã gặp nhau nối thành tình bạn gái. Cuộc đời nữ quân nhân, với cấp bậc hạ sĩ rồi vinh thăng hạ sĩ nhất đã dành cho cô Uyên những kỷ niệm không bao giờ quên được.

Sau cùng, suốt 30 năm tạp ghi, viết về cựu chiến binh, viết về thuyền nhân, viết về nước Mỹ, viết về Việt Nam Cộng Hòa, lần này tôi được yêu cầu viết về một mối tình. Nói cho chính xác, viết về chuyện tình của cô nữ quân nhân thuộc hàng thấp nhất của hạ sĩ quan.

Cô hạ sĩ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tên Lý thị Thương Uyên hiện cư ngụ tại Oklahoma City với Area code 405, giữa cơn giông bão mùa Xuân năm 2010 đã kể lại chuyện đời lính của phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời của chính cô. Cô phàn nàn rằng sao không thấy bác viết về chuyện hạ sĩ quan binh sĩ. Không viết về người lính nữ quân nhân thực sự sống chết tại các đơn vị. Sao bác không viết về chuyện của em...

UserPostedImage

Cô Uyên gửi thư cho Dân sinh Radio sau khi nghe loạt bài về Thủy Quân lục chiến và trận Quảng Trị. Phải chăng cô biết gì về Quảng Trị. Không. Cô gái suốt đời là học sinh và suốt đời đi lính chỉ quanh quẩn ở hậu giang và miền Ðông Nam Phần, chẳng biết gì về cao nguyên, duyên hải hay miền Trung Việt Nam.
Nhưng cô có liên hệ rất nhiều với người yêu thủy quân lục chiến, cô nghĩ rằng trận Quảng Trị là trận của người lính mũ xanh. Cô muốn gửi di vật của trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ về cho viện Bảo Tàng tại San Jose.

Lá thư viết như sau:

“Kính gởi bác Giao Chỉ.”

“Em tên thật là Lý thị Thương Uyên hiện ở Oklahoma, xin gởi một kỷ niệm nhỏ đến bác. Mong nó được lưu giữ. Ðã 40 năm qua em giữ nó như báu vật. Qua bao nhiêu cuộc bể dâu nó vẫn ở bên mình. Không biết bao lần em đã tự hỏi nếu một mai chết đi thì nó sẽ ra sao? Có thể bảo con trai liệm chung trong quan tài cho mẹ. Khi sang thế giới bên kia em sẽ gặp Vũ để trả lại cho anh. Nhưng cuộc đời này làm sao biết được ngày mai. Vậy xin bác giữ lại và đặt vào chỗ nào đó cho em yên lòng.”

“Kỷ vật nhỏ bé gửi kèm theo chỉ là bài thơ do trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ tặng em cuối mùa thu 1970, lúc đó đơn vị gốc của anh Vũ ở căn cứ Sóng Thần, khu Rừng Cấm, thuộc Tiểu Ðoàn Ó Biển. Vũ đã chết ở trại tập trung Ðà Lạt năm 1978. Ðây là số điện thoại của Uyên (405)....... .......”

Ðính kèm là bài thơ của anh Sĩ quan Thủy quân lục chiến viết chữ rất đẹp, trên những tờ giấy màu xám mỏng bỏ trong 1 bao thơ đơn sơ cũ kỹ. Góc bao thơ đề: “Vũ, thủy quân lục chiến. Gửi cho Thương Uyên.”

Phía dưới là hàng chữ: “Nhờ Chỉnh chuyển dùm tao. Cám ơn.”
Bài thơ mở đầu như sau:
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm...

****
Ðọc xong lá thư của cô Uyên, đọc xong bài thơ của anh Vũ, tôi nghĩ đến người lính trẻ đã chết trong ngục tù. Nghĩ đến người nữ quân nhân còn sống ở miền giông bão Hoa Kỳ. Bèn quay số 405..... hỏi thăm.....

Câu chuyện tình được bắt đầu kể lại.

UserPostedImage
UserPostedImage


Uyên quê ở Tân Châu, Hồng Ngự thuộc miền quê Châu Ðốc, chưa học hết trung học nhưng có tên thật đẹp như bút hiệu nên cuộc đời cũng gặp nhiều phiền phức. 16 tuổi lên Sài Gòn ở nhà cậu mợ. 18 tuổi ghi tên vào học lớp hạ sĩ quan nữ quân nhân. Năm 70 ra trường nhưng vì thường cậy có chút nhan sắc lại ba gai nên không được mang cấp bậc trung sĩ. Cô chỉ tốt nghiệp hạ sĩ rồi được gửi đi Vũng Tàu học đánh máy ở trường Truyền Tin.

Tại đây cô gặp thiếu úy Vũ, dân Bắc kỳ. Anh được thủy quân lục chiến đưa về học lớp sĩ quan truyền tin. Mối tình kéo dài suốt thời gian cả 2 người theo học tại Vũng Tàu. Cô Uyên hỏi bác Giao Chỉ có biết đại tá Tạo chỉ huy trưởng trường truyền tin không. Có, bác Tạo trước đây ở San Jose, nhưng bác đã chết rồi. Cô khóa sinh khoe rằng em được bác Tạo cho chụp hình nữ quân nhân truyền tin đang học đánh máy để treo trên tường. Như vậy chắc cô lính trẻ có nhan sắc ăn ảnh đáng được chụp hình quảng cáo cho binh chủng.

UserPostedImage


Cô kể tiếp rằng mối tình với Vũ là mối tình đầu đẹp đẽ nhất. Khi trung úy đi hành quân Cam bốt, cô Uyên đến thăm hậu cứ trại Cấm, Sóng Thần đã được các bạn đồng nghiệp cho vào phòng truyền tin nói chuyện với người yêu qua siêu tần số hành quân. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Tình đầu không phải là tình cuối. Một hôm Uyên khám phá ra rằng Vũ thực ra đã có người yêu. Ðó là cô Sương quê Mỹ Tho, nữ điều dưỡng ở quân y viện Vũng Tàu. Sương quen Vũ từ khi anh nằm tại bệnh viện này. Uyên là người đến sau nên cô quyết định chia tay mối tình đầu đầy nước mắt. Vũ ra vùng hỏa tuyến. Uyên đổi về quân đoàn III. Rồi sau cùng cô đổi về tiểu khu Kiến Hòa thuộc quân đoàn IV. Cô xin đi thật xa miền Ðông, nhưng vẫn nhớ Vũ và giữ mãi bài thơ tỏ tình năm 70.

Từ Hạ Lào trở về, Vũ lấy Sương, mối tình đầu của anh. Năm 1973 Uyên lấy thiếu úy Nhiều, một sĩ quan hải quân, phục vụ trên chiến hạm Trần Khánh Dư.

Từ đó Uyên yên phận làm vợ của người lính biển. Khi mang bầu đứa con đầu tiên, anh chồng sĩ quan hải quân lênh đênh trên biển Ðông đã dặn vợ đẻ con gái đặt tên Cam Tuyền, con trai đặt tên Hoàng Sa. Cam Tuyền cũng là tên một hòn đảo của Hoàng Sa. Và đứa con trai Hoàng Sa đã ra đời tại Mỹ Tho. Hai vợ chồng cùng khoác chiến y nhưng chiến tranh đã chia cắt gia đình thành nhiều mảnh. Chồng hải quân sống trên đại dương. Vợ trực gác tổng đài tại mặt trận xình lầy Bến Tre. Con trai Hoàng Sa gửi về cho bà nội nuôi ở Châu Ðốc.
Cô Uyên tiếp tục hăng hái kể chuyện nhà binh.

Sau mối tình đầu dang dở, cô và chị Sương nay vợ của Vũ đã gặp nhau nối thành tình bạn gái. Cuộc đời nữ quân nhân, với cấp bậc hạ sĩ rồi vinh thăng hạ sĩ nhất đã dành cho cô Uyên những kỷ niệm không bao giờ quên được. Cô đã từng là hoa hậu của các chiến binh độc thân trong đơn vị từ binh sĩ đến hạ sỹ quan. Vì mang cấp hạ sĩ, cô cai Uyên gần gũi với đa số lính tráng hơn là các sĩ quan nữ quân nhân.

Những đêm hỏa châu làm việc dưới hầm truyền tin tiểu khu. Những anh lính ca vọng cổ tán tỉnh. Những lời hò tình tứ qua máy truyền tin lẫn trong tiếng pháo kích. Hỏa châu sáng rực chân trời. Chưa bao giờ cô lại thấy nhớ đời lính như vậy.

Nhưng rồi tháng 4-75 oan nghiệt chợt đến. Anh Vũ, Bắc Kỳ bỏ Sóng Thần từ biệt cô Sương đi trình diện vào tù trên Ðà Lạt. Anh Nhiều, Nam kỳ bỏ vợ con ở Châu Ðốc đi tù trong Ðồng Tháp. Bộ binh cũng vào tù, Hải quân cũng vào tù. Cô lính trẻ có tên như tài tử nhưng chỉ mang cấp bậc hạ sĩ nhất nên không phải đi tù. Dù vậy cô vẫn nhớ thương quân đội Cộng Hòa. Một lần chị Sương ghé Mỹ Tho gặp Uyên báo tin anh Vũ đau nặng trong trại tù. Chị em cùng đi tìm mua thuốc tiếp tế. Mấy tháng sau, Sương ghé lại với ngón tay đeo 2 chiếc nhẫn cưới. Cô vừa đi chôn chồng sau khi nhận xác từ trại tập trung. Anh lính trẻ Bắc Kỳ chết đi để lại cho những cô gái miền Tây di vật cuối cùng. Cô Sương còn cặp nhẫn. Cô Uyên có lá thư tình. Anh Vũ chết rồi. Cô Sương trợ tá quân y không bao giờ lên Ðà lạt nữa. Cô Uyên truyền tin còn đi thăm nuôi chồng 3 lần ở Ðồng Tháp. Rồi anh Nhiều trở về. Thêm 1 đứa con trai ra đời, anh cựu sĩ quan hải quân tuy ra tù “cải tạo” nhưng vẫn còn nhớ mãi biển Ðông nên đặt tên con trai thứ hai là Trường Sa.

Năm 1992 gia đình anh Nhiều và cô Uyên đem cả Hoàng Sa và Trường Sa qua Hoa Kỳ theo diện HO 9. Hai vợ chồng cùng đi làm và nuôi con ăn học. Nhưng sao cuộc sống hòa bình ở Hoa Kỳ không giống như thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Vợ chồng không còn hòa thuận nên chỉ ở được với nhau thêm 4 năm tại Mỹ rồi chia tay. Lần lượt những đứa con trai trưởng thành đi theo bố về Texas làm ăn. Anh Nhiều có vợ mới. Cô Uyên còn lại ở Oklahoma một mình.

Cháu Hoàng Sa lập gia đình, có 2 đứa con nhưng rồi vợ chồng nó cũng chia tay. Lúc còn ở với nhau, vợ chồng con trai đưa cháu về thăm bà nội. Ðó là những giây phút hạnh phúc nhất của cô hạ sĩ nhất Thương Uyên. Nhưng bây giờ chúng nó bỏ nhau. Vợ Hoàng Sa đưa con về bà ngoại. Cha con nó còn ít gặp nhau. Chẳng ai còn ngó ngàng gì đến bà nội trẻ cô đơn nhớ đám cháu quay quắt đêm ngày. Năm nay cô mới 60 tuổi. Còn lâu mới lãnh tiền già. Cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa vẫn đi làm tự nuôi thân. Cuối năm 2009 cô bị té trong hãng nên phải nằm nhà, lãnh tiền thương tật vì tai nạn lao động. Suốt ngày chỉ quanh quẩn trong nhà. Mùa Ðông 2009 mưa bão triền miên chẳng ra khỏi nhà. Trải qua cái TẾT cô đơn, cô Uyên nghe đài Radio nói về thủy quân lục chiến đánh trận Quảng Trị 38 năm về trước. Cô bèn đi tìm lá thư tình của trung úy Vũ, cô nghĩ đến ngày mai rồi mình cũng qua đời trong quạnh hiu giữa mùa tuyết phủ nơi xứ lạ quê người.

Những đứa con Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của cô cũng đang bận rộn bươn trải với cuộc đời mới. Chỉ còn lại một mình, chợt nhớ về mối tình ở trường truyền tin, những vần thơ rất lãng mạn và ngây thơ của người lính trẻ Bắc kỳ. Cô hỏi bác Giao Chỉ rằng nếu bây giờ, đã gần 40 năm rồi, cô vẫn còn thấy nhớ thương mối tình đầu thì có phải tội lỗi không?

Không, cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của tôi, cô hạ sĩ quan truyền tin của tiểu khu Kiến Hòa, nàng cai xếp của tiểu đoàn truyền tin diện địa quân đoàn IV, cô không làm điều gì sai quấy khi ngồi than khóc cho chuyện tình gần 40 năm về trước.. Anh chàng trung úy Bùi Năng Vũ rất xứng đáng để cô gái Tân Châu ngồi khóc ở Oklahoma, nhớ về những ngày hai đứa ngồi bên hàng dừa ở bãi sau Vũng Tàu. Anh thấy hình em treo trên tường ở phòng học đánh máy trong trường truyền tin. Trung úy thủy quân lục chiến Bắc Kỳ tạm quên cô Sương y tá bên quân y viện để gửi thư tán tỉnh cô khóa sinh truyền tin xinh đẹp. Chàng ký tên bút hiệu Châu Nguyên năm 1970 gửi bài thơ cho Lý thị Thương Uyên.

Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm.
Ðó là đoạn mở đầu.

Và đây là những trích đoạn tiếp theo:
Bụi đường và tháng ngày còn đó.
Gởi cho Uyên làm kỷ niệm chia ly
Mai anh đi, nghe thời gian rũ cánh
Kiếp phong trần cháy đỏ trên tay
Ðắng cay cho trọn tháng ngày
Cung thương một gánh, tình sầu chưa nguôi...
............ ..
Ðá trong ly, đá tan thành rượu
Rượu lên men, rượu ngọt lịm môi...
............ ...
Có một ngàn vì sao
Nằm trong đáy mắt
Như một ngàn hỏa châu thắp sáng
Như một ngàn đóm thuốc trong đêm...
............ ....
Em ơi! Thương Uyên! Anh là người lính
Mà số trời đã định, cho một cuộc sống
Với quá khứ là tủi nhục,
Hiện tại là đắng cay
Và tương lai chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa...

Châu Nguyên, cuối thu 70.


UserPostedImage


Với lá thư tình não nuột như vậy, anh trung úy thủy quân lục chiến đã chiếm được trái tim cô gái Tân Châu. Và như chúng ta đã nghe cô hạ sĩ truyền tin kể lại, khi khám phá ra anh trung úy Bắc Kỳ bắt cá hai tay, cô đã bỏ đi để buộc anh phải trở lại với mối tình đầu. Ðể anh lấy chị Sương, người con gái Mỹ Tho.

Cô Uyên nói rằng, thưa với bác, em nhường Vũ cho chị Sương, nhưng em hỏi bác vì bác cũng là Bắc Kỳ, thơ này có phải thực lòng của anh Vũ không. Có phải thơ của Vũ làm không? Bác trả lời rằng, thơ này nhiều phần chính Vũ đã làm. Bác chưa từng đọc được lời thơ này ở đâu cả. Rất chân thành tuy cũng có phần cường điệu.. Người lính trên khắp thế giới đều vẫn thường đưa cái chết ra để dọa dẫm người tình và dọa dẫm cả chính mình,.Ngày xưa, ở tuổi 20, mới vào quân đội, Vũ cũng là hình ảnh của những anh Bắc Kỳ như bác... Anh nào cũng thơ thẩn bước vào đời. Thơ không làm được thì chép thơ thiên hạ tán đào. Bây giờ nhớ lại, ngượng chín cả người.

Quí vị đã nghe tôi kể chuyện của cô Uyên với nội dung không phải là một bi kịch ai oán não nùng. Không hề có những tình tiết éo le rắc rối. Nhưng mối tình đầu đã làm cô tưởng nhớ về những năm còn trong quân đội. Tuy bom đạn triền miên nhưng sao lại quyến rũ như vậy. Dù cô chỉ là 1 người lính đàn bà. 18 tuổi nhập ngũ, 25 tuổi tan hàng, với 7 năm quân vụ. Bây giờ đã 35 năm sau cô vẫn còn nhớ mãi về đời lính.

Bác có nhận giữ hộ lá thư của anh Vũ không. Cô gái Tân Châu hỏi tôi như vậy. Trả lời rằng, bác sẽ lưu giữ trong Museum câu chuyện tình của anh chị. Xin gửi kèm cho bác vài tấm hình kỷ niệm. Báu vật quý giá của cô sẽ là di vật của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây không phải chỉ toàn là những trận đánh oai hùng. Phải có cả những câu chuyện tình hết sức đơn giản như mối tình của cô Uyên với anh Vũ, chuyện vợ chồng của anh Vũ với chị Sương. Chuyện chia tay của cô Uyên với anh Nhiều. Những đứa con mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Và sau cùng là chuyện cô gái cựu chiến binh, cô cai xếp Việt Nam Cộng Hòa giữa trời mưa bão mùa đông Oklahoma ngồi khóc cho mối tình 40 năm về trước.

Thưa bác, bây giờ em phải làm gì, cô Uyên hỏi tôi lần nữa.

Tôi trả lời rằng: Trung úy Vũ là người yêu đầu tiên của cô năm 1970 và bây giờ sẽ là người yêu cuối cùng vào năm 2010. Trong đoạn cuối của bài thơ ,Vũ đã viết rằng tương lai của anh chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa.

Vậy cô Uyên hãy thắp cho anh Vũ một ngọn đèn.
Ngọn đèn tưởng niệm...

Hãy thắp cho anh một ngọn đèn...
Hãy thắp cho em một ngọn đèn...
Hãy thắp cho nhau một ngọn đèn...*
*(thơ Nguyễn Ðình Toàn)


Giao Chỉ, San Jose.

Hãy Thắp Cho Nhau Một Ngọn Đèn
Nhạc và lời : Nguyễn Đình Toàn
Khánh Ly trình bầy

I. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù mịt mùng xa xăm,. Một ngọn đèn trong đêm mờ ám. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù chẳng còn hơi ấm, Cho lạnh lùng thấm qua lòng anh. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Một ngọn đèn trăm năm, Rồi thả đèn trôi trên dòng sông. Như tháng giêng trong đêm nguyệt rằm. Người thả đèn trên sóng, Cầu nguyện cho những ai trầm luân. Đêm quê hương. Đêm treo trên một cành ngang, Chôn nhau xong làm dấu nhớ chỗ ai nằm.

Cơn mưa giông. Đêm qua đông trời lạnh lắm, Gió khắp bốn bể cây rừng. Núi run hình bóng. Mai rạng đông. Đến lượt ai đem chôn?
Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù tình đời mong manh, Lòng chẳng còn trong mong gì nữa. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Tình còn là tình nhắn, Chẳng còn đèn sẽ soi ngày không. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Để một mình trong đêm, Anh tưởng nhìn ra em còn hơn. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Một ngọn đèn tai biến, Một ngọn đèn tóc tang dửng dưng.

II. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Bằng lửa sầu tim anh, Một ngọn đèn lênh đênh ngày tháng. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Dù mệt nhoài trông ngóng, Để nhủ lòng gắn nuôi niềm tin. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Một ngọn đèn đau thương,
Đã nhạt nhòa hơn hơi tình duyên. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Bằng nhọc nhằn cay đắng, Bằng hình hài rã trong trại giam.
Ôi đêm đen. Đêm mang trăm niềm ai oán. Đêm chôn ta từng canh vắng. Đêm âm thầm. Đêm thê lương. Đêm không mong trời sẽ sáng. Đêm nghe xương rời rã buồn.. Ngón tay bẻ đôi. Như ngày xanh. Gẫy từ em qua anh.
Cố thắp cho em một ngọn đèn. Dù lửa tàn trong anh, Không còn đủ khêu thêm đèn sáng. Cố thắp cho em một ngọn đèn.Để dù trong tăm tối, Có mộng còn biết nơi tìm sang. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Rồi thả hồn bay lên,.Nơi hẹn hò không tên gặp em. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Để dù trong xa vắng, Em còn được cháy trong lòng anh.

III. Cố thắp cho nhau một ngọn đèn. Để dù trong tăm tối, Ta còn được cháy trong lòng nhau.

Edited by user Tuesday, June 16, 2015 11:07:17 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
Duy An  
#1947 Posted : Friday, June 19, 2015 2:03:15 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nữ Thiếu Úy Hải Quân gốc Việt tốt nghiệp OCS, Rhodes Island


Monday, June 15, 2015 7:19:09 PM

Linh Nguyễn/Người Việt


NEWPORT, Rhodes Island (NV) – Một nữ thiếu úy Hải Quân Hoa Kỳ gốc Việt mới tốt nghiệp hôm Thứ Sáu, 12 Tháng Sáu, từ Trường Sĩ Quan Hải Quân OCS (Officer Candidate School) ở Newport, Rhodes Island. Nữ Thiếu Úy này là Trần Thủy Tiên, 26 tuổi, cư dân Anaheim, California.

UserPostedImage

Thiếu Úy Hải Quân Trần Thủy Tiên (giữa) bên cạnh bà Ngoại (trái) và Mẹ trong ngày tốt nghiệp. (Hình: Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt cung cấp)

“Cháu đến Mỹ khi mới 12 tuổi rưỡi, do ông Ngoại sang Mỹ từ năm 1986 bảo lãnh. Ông cháu ngày xưa là lính bộ binh QLVNCH. Cháu cùng gia đình sang Mỹ đoàn tụ năm 2001,” người sĩ quan trẻ nói với nhật báo Người Việt.

Cô cho biết, cô theo học Savanna High School, Anaheim, California, và có một người anh trai. Gia đình không có ai đi lính, ngoài ông cậu phục vụ Hải Quân Hoa Kỳ được bốn năm.

Được hỏi lý do cô chọn ngành Hải Quân, Thiếu Úy Thủy Tiên nói: “Cháu đi lính Hải Quân vì muốn phục vụ nước Hoa Kỳ, vì gia đình cháu mang ơn nước Mỹ rất nhiều.”

“Cháu biết trường OCS vào năm cuối khi còn theo học Cal State University, Fullerton. Cháu nói chuyện với nhiều bạn bè về ý định đi Hải Quân, nên họ cho cháu biết về chương trình OCS,” cô kể.

Cô cho biết, muốn học trường OCS này, người nộp đơn cần phải học năm cuối đại học bốn năm, trong hạn tuổi 19-35, trước khi tốt nghiệp đại học. Chương trình huấn luyện kéo dài 12 tuần lễ.

Cô cho biết Khóa 12-15 tốt nghiệp tuần trước, có 56 sĩ quan hoàn tất học trình và được ra trường, lương bổng so với sĩ quan tốt nghiệp các trường khác, chương trình bốn năm.

“Trong khóa học vừa qua, chỉ có mình cháu là người Việt. Sau khi tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy, lương cháu cũng đồng đều với một thiếu úy tốt nghiệp Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA),” cô nói.

UserPostedImage
Những thử thách di chuyển trên cột cao 40-50 feet. (Hình: Thiếu Úy Trần Thủy Tiên cung cấp)


Về quyền lợi và lý do chọn ngành sĩ quan Tiếp Liệu, cô nói: “Quyền lợi cũng tương tự như các ngành khác trong quân đội. Về giáo dục, chúng cháu cũng đủ điều kiện để được GI Bill. Cháu học ngành Tiếp Liệu, vì chung với ngành học Accounting của cháu. Cháu tốt nghiệp đại học CSUF với văn bằng cử nhân Kế Toán và Quản Trị Nhân Viên năm 2014.”

Về các ngành học tại OCS, RI, cô cho biết: “Trường OCS có chương trình đào tạo phi công, kỹ sư, tình báo, sĩ quan tác chiến trên mặt biển (SWO), hải dương học, tàu ngầm nguyên tử, và sĩ quan tác chiến tàu ngầm nguyên tử.”

Cô cho biết: “Kỷ niệm đáng nhớ nhất là giây phút được nói chuyện với người cậu lần đầu qua điện thoại trong thời gian thụ huấn. Kế đến là đi dây cao 50 ft, cũng ớn lắm!"

Cô có lời khuyên những bạn trẻ gốc Việt cùng lứa tuổi là “nên theo ước mơ của mình.”

“Chương trình OCS khó, gian khổ, nhưng nếu kiên trì, không bỏ cuộc thì cũng hoàn tất được,” cô nhấn mạnh.

“Ý chí sẽ giúp mình vượt qua khó khăn. Cháu cao 5.3 ft, chỉ cân nặng 103 pound và là người nhỏ con nhất trong khóa, nhưng cháu vẫn phải trải qua cuộc huấn luyện như những người to con vậy, “ cô cười, chia sẻ.

UserPostedImage
Thân gái cũng phải tập luyện gian khổ. (Hình: Thiếu Úy Trần Thủy Tiên cung cấp)


“Rất nhiều người không hiểu về quân đội nên tưởng gia nhập quân đội là điều rất khó, và thậm chí tưởng là không được trả lương. Điều này không đúng sự thực và phụ nữ vẫn tham gia được. Ngoài ra, có người còn nói là phụ nữ trong quân đội bị cả hai phái tấn công tình dục. Thật là sai, vì ở đây cháu thấy rất an toàn. An toàn hơn cả trước khi cháu đi lính nữa, “ người sĩ quan trẻ khẳng định.

Về phía gia đình, bà Thủy, mẹ của cô tâm sự: “Tôi mới đầu cũng lo, vì cháu là con gái, nhỏ con lại nữa, chưa bao giờ mẹ con xa nhau, nhưng vì đó là ý của cháu muốn, nên tôi ủng hộ. Tôi hãnh diện vì cháu cũng nói được tiếng Việt giỏi. Mình là người Việt mà.”

“Tôi cũng cám ơn Trung Tá Tuấn Nguyễn, ngày cháu ra trường có một mình là người Việt, ông ấy tới thăm, đại diện Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt. Chúng tôi thấy ấm lòng.” bà nói.

Trung Tá Hải Quân Hoa Kỳ Tuấn Nguyễn cho biết: “Khóa này là khóa thứ 12 trong năm 2015. Trường Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ OCS tại Newport, RI từng đào tạo sĩ quan Hải Quân cho QLVNCH. Khóa này đào tạo 56 thiếu úy. Mỗi khóa huấn luyện là 12 tuần. Thiếu Úy Thủy Tiên sẽ tiếp tục học ngành chuyên môn tại trường Tiếp Vận ở Newport, RI.”

Ông cho biết, cá nhân ông, 27 năm trước cũng xuất thân từ ngôi trường này, hiện chuẩn bị nghỉ hưu vào Tháng Chín năm nay.

Edited by user Friday, June 19, 2015 2:03:55 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
Duy An  
#1948 Posted : Saturday, June 20, 2015 3:50:57 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
NỖI BUỒN THÁNG SÁU

*Viết tặng các Chiến Hữu dưới ngọn Cờ Vàng – Tưởng nhớ Ngày Quân Lực VNCH 19/6.

Kể từ mất Nước thương đau
Trung tuần tháng sáu (19/6) còn đâu vui mừng
Nhớ xưa Hội Lễ tưng bừng
Biểu dương Quân Lực uy hùng miền Nam
Máy bay thả khói Cờ Vàng
Xe tank, đại pháo dàn hàng oai phong
Các Quân Binh Chủng liên phòng
Diễn hành thể hiện lực trong như ngoài.

Bộ Binh sức mạnh huyền đai
Nhẩy Dù, Biệt Động… nặng vai sơn hà
Thủy Quân Lục Chiến sát ma
Địa Phương Quân giữ tỉnh nhà bình an
Quân Y, Quân Vận… sẵn sàng
Nhiệm vụ đặc trách chu toàn phải xong
Nữ Quân Nhân lực trợ phòng
Tổ Quốc - Trách Nhiệm đồng lòng dấn thân !

Không Quân – chim nhạn phong trần
Bốn vùng chiến thuật chẳng phân định kỳ
Máy bay đạn pháo tùy nghi…
Sẵn sàng yểm trợ mọi phi vụ cần
Giúp bao Binh Chủng vì dân
Lập nhiều chiến tích muôn phần uy danh
Sáng ngời Quân Sử đặc dành
Một trang lưu dấu những Anh hùng tài !

Hải Quân – lính biển đăng cai
Mặc toàn màu trắng hoặc màu xanh lơ
Lênh đênh trên biển, sông hồ
Thi tài đọ sức… sóng xô coi thường
Nêu cao chí cả trùng dương
Tinh thần Hưng Đạo dẫn đường lập công
Trang Quân Sử góp tâm đồng
Bảo toàn lãnh hải non sông Lạc Hồng !

Nay ngày Quân Lực còn không?
Vì đâu sự thể nên nông nỗi này?
Nói rằng vận Nước khó xoay
Bởi Tàu - Nga - Mỹ khéo tay trở cờ…
Trong khi mình lại thế cô
Đơn phương thảm bại – cơ đồ tiêu ma.
Thực ra lỗi lớn tại ta
Hồ đồ quá độ mới ra thể này !

Ngày nay ôm hận đắng cay
Thế mà lắm kẻ vẫn say hão huyền
Ngày nào còn chết vì tiền
Tham danh để lũ búa liềm giật giây
Đồng bào còn sợ tù đầy
Chưa đồng tâm quyết diệt bầy Cộng nô
Dân đen còn khổ vô bờ
Việt Nam còn bị Tàu đô hộ hoài !

Nhìn quê hương, nghĩ tương lai
Lòng đau se thắt – biết ai tâm đồng !!!

Hoàng Trọng Thanh (K.6/73 SQTB)
Rose City, Oregon * June 2015

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
Duy An  
#1949 Posted : Sunday, June 21, 2015 3:47:23 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

UserPostedImage


QLVNCH: 50 năm ngày Quân Lực 19 tháng 6


Giao Chỉ, San Jose.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, cựu quân nhân VNCH vẫn còn nhớ mãi ngày quân lực. Khắp mọi nơi đều tổ chức họp mặt…bởi vì.. “Hồn lính còn vương trên tóc bạc, anh nhớ sa trường, em có hay…”

Ý nghĩa và lịch sử


Lịch sử miền Nam Việt Nam của chúng ta ngoài bất hạnh to lớn là ngày mất nước tan hàng 30 tháng 4-1975 còn có những bất hạnh nhỏ cũng khá đau thương.

Nếu chúng ta có những ngày ghi dấu rõ ràng như giỗ Tổ Hùng Vương, Hai bà Trưng, rồi trải qua các triều đại anh hùng chiến đấu chống Bắc phương của thời xưa thì ngày tháng lịch sử của một trăm năm qua có nhiều điều phiền muộn.

Không thể kể đến các ngày tháng mà phe cộng sản ồn ào tưởng niệm, riêng miền Nam chúng ta vẫn còn nhớ ngày 20 tháng 7-1954 chia đôi đất nước. Rồi đến 30 tháng 4-1975 mất nốt miền Nam. Đó là hai ngày quốc hận.Chúng ta có đến 2 ngày Quốc Khánh nhưng chẳng ngày nào được coi là toàn quân toàn dân đồng thuận. Ngày 26 tháng 10 của nền đệ nhất Cộng Hòa với tổng thống Ngô Đình Diệm cũng phải trả giá mở đầu bằng cuộc truất phế ông vua cuối cùng của triều Nguyễn trong chức vụ quốc trưởng và chấm dứt bằng cái chết của chính vị tổng thống đầu tiên. Qua nền đệ nhị Cộng Hòa của trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đã ra đời bắt đầu bằng một ngày Quốc Khánh mới 1 tháng 11. Ở giữa 2 nền Cộng Hòa có ngày 19-6-1965. Ngày mà ông thủ tướng Kỳ gọi là ngày quân đội lên cầm quyền. Đó là ngày được chọn là ngày Quân Lực, chúng ta vẫn tưởng nhớ và kỷ niệm cho đến nay. Tại hải ngoại đây là ngày quân lực lần thứ 50.

Mặc dù không thích cái ý nghĩa nguồn gồc lịch sử của ngày Quân Lực, nhưng không phải vì vậy mà chúng tôi không tôn trọng nó. Đây chính là điều hẹn ước, đây chính là một sự thỏa hiệp. Đây là cái cây của tình chiến hữu, phải chăm sóc mới tồn tại và phải tưới nước bón phân mới sống được. Sau cùng, khi nói chuyện cũ vẫn có anh em trẻ hỏi rằng tại sao ngày xưa không lựa chọn một ngày nào khác có ý nghĩa và không hệ lụy với biến chuyển thời sự cuả các triều đại. Bèn kể lại chuyện lịch sử ngày Quân lực như sau:

50 lần Quân Lực, viết cho đời lính.

Tôi đã từng đọc biết bao lần về lịch sử Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi lần đọc là một lần khắc khoải, nhưng rồi bụng lại bảo dạ, thôi không than thở nữa. Lần này vào dịp Quân Lực 19 tháng 6 năm 2015, lại xin gửi đến các chiến hữu một chút tâm sự.

Cũng như quý vị, chúng tôi không thích cái ý nghĩa nguyên thủy của Ngày Quân Lực mà ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khoe rằng, ông là cha đẻ. Chẳng phải bây giờ mới nói ra cái chuyện cũ kỹ đó, chúng tôi đã từng viết ra cảm nghĩ ray rứt ngay từ 50 năm về trước. Ngay từ ngày đó Giao Chỉcũng đã vất vả về cây bút. Số là ngay sau khi đảo chính ông Diệm, tôi là sĩ quan đại diện Quân Khu I từ miền Đông lên họp Tổng Tham Mưu về đề tài đi tìm một ngày ghi dấu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh em trong ủy ban các cấp ngồi bàn thảo. Lấy biết bao nhiêu ngày tháng lịch sử từ Bắc vào Nam, từ 1950 đến 1965 để đưa ra lựa chọn. Suốt cả chiều dài của lịch sử đều là những ngày tháng có liên quan đến việc hình thành quân đội quốc gia, nhưng chẳng chọn được ngày nào cho trọn vẹn ý nghĩa. Cái đắng cay của vấn đề là giai đoạn trước di cư 54, nghị định văn thư và hồ sơ thành lập đơn vị Việt Nam đều bằng tiếng Pháp và từ bộ tư lệnh quân đội Viễn Chinh đưa xuống. Lệnh cho thành lập BVN gọi là các tiểu đoàn Việt Nam cũng bằng Pháp văn. Lệnh cho tiểu đoàn 5 nhảy dù Việt Nam vào Điện Biên Phủ cũng do tướng Pháp ký. Tiểu đoàn trưởng cũng là người Pháp. Đọc lịch sử quân đội quốc gia trước thời 1954, bộ tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn chưa tìm được một ngày cho đủ ý nghĩa của Quân Lực. Sau 1954 thì cũng có một số ngày tháng được trình lên để duyệt xét. Bản phúc trình có ghi lại một số dữ kiện mà ký ức mòn mỏi của tôi còn hình dung được một vài chi tiết như sau: Thời kỳ 46 – 47, quân đội Liên Hiệp Pháp bắt đầu tuyển mộ tân binh Việt Nam, các đơn vị bổ túc ra đời, các đại đội nhảy dù lính Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy. Hiệp ước Hạ Long ngày 6 tháng 6-1948, vua Bảo Đại nhân danh Quốc Trưởng ký với Pháp có điều khoản thành lập Quân Đội Quốc Gia. Ngày 1 tháng 6-1949, khóa sĩ quan Việt Nam đầu tiên mở ra tại Huế. Bốn tiểu đoàn Việt Nam thành lập.

Trong Nam là tiểu đoàn 1 Bạc Liêu và tiểu đoàn 3 Rạch Giá. Ngoài Bắc, tiểu đoàn 2 Thái Bình và tiểu đoàn 4 Hưng Yên. Tiểu khu Hưng Yên ngày đó là thời kỳ các sĩ quan trẻ gặp nhau. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, trung úy Cao Văn Viên và đại úy Trần Thiện Khiêm. Cao cấp nhất là đại úy Nguyễn Khánh sau thăng cấp thiếu tá. Sau này các sĩ quan ngày xưa trở thành quốc trưởng, tổng thống, thủ tướng và đại tướng tổng tham mưu trưởng. Đến khi tập hợp vào miền Nam. Quân Đội Quốc Gia gia tăng dần lên 60,000 quân nhưng chưa có được một ngày quân lực mang ý nghĩa rõ ràng. Phía chính phủ trước đó thì đã có ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 tổ chức duyệt binh hàng năm ghi dấu Đệ Nhất Cộng Hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau đó là đến thời kỳ đảo chính và những năm xáo trộn giữa các tướng lãnh với cả chục lần binh biến. Tuy nhiên, sau cùng miền Nam đã gượng gạo nhận ngày cách mạng 1 tháng 11 làm ngày Quốc Khánh mới.

Tiếp theo, với sức ép của Hoa Kỳ và đòi hỏi của dân chúng, các vị tướng lãnh của thời kỳ hỗn loạn chính trị ở miền Nam đã miễn cưỡng lập ra một chính phủ dân sự tạm thời với cụ Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và ông Phan Huy Quát làm thủ tướng. Tuy nhiên, các vị chính khách dân sự này không đủ bản lãnh để lãnh đạo đất nước trong một hoàn cảnh rất đen tối và phức tạp. Biết bao nhiêu tranh chấp giữa các đảng phái, các tôn giáo và rất nhiều khó khăn trong hoàn cảnh chiến tranh ngày một gia tăng và Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam để chặn đứng làn sóng đỏ. Thêm vào đó, quốc trưởng và thủ tướng lại bất đồng ý kiến nên nội các dân sự bèn tuyên bố bỏ cuộc, trao quyền lại cho các tướng lãnh. Các tướng lãnh niên trưởng của chúng tôirất vui mừng họp bàn để nhảy ra chính trường gọi là nhận trách nhiệm lịch sử. Một cách hết sức khách sáo, các xếp vẫn nói là muốn rửa tay chính trị, không ham quyền lực nhưng tình thế bắt buộc phải ra nhận lãnh. Nhân danh quân đội, các đàn anh chúng tôi vẫn đeo sao trên cổ áo, họp hội nghị tranh cãi suốt ba ngày, đưa ông Thiệu, ông Kỳ ra cai trị đất nước gọi là ngày quân đội đứng lên làm lịch sử 19 tháng 6-1965. Không bao giờ tôi quên được ngày 19 tháng 6 đó. Tình cảm chân thành với quân đội thì luôn luôn gắn bó, nhưng bảo cái ngày đó là ngày toàn quân đứng lên làm lịch sử thì việc này chỉ có các xếp làm với nhau chứ đâu có ăn nhập gì đến toàn quân. Với bút hiệu Lính Chiến, tôi viết báo Chính Luận cho tổng thư ký Từ Chung qua mục “Một tuần vòng chân trời quân sự”. Tôi đã đưa ra quan điểm như trên. An Ninh Quân Đội của Quân Khu I ở Thủ Đức đã mời lên hỏi thăm sức khỏe. Gặp anh bạn quen nói rằng, “Thôi ông ơi, ông làm ơn nghỉ viết lách cho chúng tôi nhờ. Thời ông Diệm lên thì có 26 tháng 10. Đến thời ông Minh thì 1 tháng 11. Bây giờ ông Kỳ thì chọn 19 tháng 6.

Tuy nhiên, ngày đó các xếp đã chọn thì cứ coi như một hẹn ước giữa anh em mình. Bàn làm gì chuyện xa xôi cho thêm phiền. Viết lách làm gì cho rắc rối.” Đó là anh bạn đại úy an ninh quân đội đã nói chuyện với tôi đầu năm 1966. Năm đầu tiên có Ngày Quân Lực. Cho đến năm nay là 50 năm. Đúng như vậy, anh bạn cũ nhân danh An Ninh Quân Đội ngày xưa tra vấn tôi, nay đã qua đời. Đó là đại tá Trần Duy Bính. Nhưng lời chiến hữu nói ra vẫn còn ở lại. Quả thật, 19 tháng 6 hàng năm đối với chúng tôi chỉ là một ngày hẹn ước để gặp nhau. Người tự nhận là khai sinh cho 19 tháng 6 là ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nay đã ra đi. Vị chủ tịch ký giấy ban hành nghị định 19 tháng 6 là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, cũng trở thành người thiên cổ. Vậy thì, nếu đã nhìn thấy những cay đắng của lịch sử như thế thì cái ý nghĩa của ngày 19 tháng 6 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào. Nghĩ như thế mà sao mỗi năm đến 19 tháng 6 vẫn thấy lòng rung động. Kỷ niệm 19 tháng 6 lần thứ nhất vào năm 1966 làm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Năm sau 1967, duyệt binh lớn ở đường Trần Hưng Đạo. Rồi từ đó mỗi năm là có Ngày Quân Lực. Lúc làm quy mô, lúc thì thu hẹp. Cho đến năm 1973, sau khi vừa ký hiệp định Paris thì Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc duyệt binh vĩ đại đã được ghi vào bộphim lịch sử ngày nay vẫn còn có dịp coi lại trên DVD. Năm đó chúng tôi tham dự trong ủy ban tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu. Xin nhắc lại một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ. Trước đó một tuần, anh hùng quân đội từ các đơn vị được chào đón tại thủ đô, dẫn đi thăm các danh lam thắng cảnh,các công xưởng quân đội, sau cùng còn du ngoạn Đài Loan. Ngày nay, tại San Jose chúng ta vẫn còn các bạn anh hùng quân đội đại diện không quân trung tá Nguyễn quan Vĩnh và đại tá Ngô Văn Định của TQLC. Thời đó các đoàn thể và thương gia khoản đãi đại tiệc suốt tuần. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và phái đoàn chính phủ lên làm lễ tại Nghĩa Trang Biên Hòa. Khu Nghĩa Trang Quân Đội vào đầu tháng 6-1973 đã là nơi yên nghỉ gần 15 ngàn chiến sĩ, chiếm một nửa toàn thể khu vực dự trù cho 30 ngàn phần mộ. Các trận đánh khốc liệt từ 1968 Mậu Thân đến 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa đều có đại diện Hải Lục Không Quân về nằm dưới lòng đất lạnh. Tiếp theo ngày 19 tháng 6-1973, các đơn vị Hải Lục, Không Quân, các quân đoàn, các binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ, xây dựng nông thôn, thiếu sinh quân và nữ quân nhân đều có mặt tham dự một cuộc diễn hành lịch sử được coi là xuất sắc nhất. Và cũng thật đau thương, đây là cuộc diễn hành cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Đoạn phim được dân Hà Nội coi lén sau 1975 hết sức trầm trồ là đoàn diễn hành nữ quân nhân. Nhịp bước quân hành của các thiếu nữ trong quân phục đã làm cho rung động cô sinh viên văn khoa Nông Thị Thanh Nga. Sau khi xem diễn hành ở đường Trần Hưng Đạo, cô ghi tên vào học niên khóa 1973-1974 để về sau ra trường trở thành thiếu úy huấn luyện viên cho đến lúc tan hàng tháng 4-1975. Ngày nay cô thiếu úy của quân đội Sài Gòn trở thành quả phụ bán hàng rong ở vỉa hè chợ Tân Định. Hàng năm đem vàng hương lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhớ về ngày 19 tháng 6. Nhưng bây giờ chúng ta hãy trở lại với Ngày Quân Lực năm 1973. Sau buổi diễn hành, tổng thống đãi tiệc buổi trưa các anh hùng quân đội tại Dinh Độc Lập. Buổi chiều thủ tướng khánh thành khu triển lãm của Hải Lục Không Quân và các công xưởng tiếp vận. Buổi tối là cuộc rước đuốc và xe hoa. Hàng ngàn ngọn đuốc sáng rực đô thành Sài Gòn hoa lệ tưởng chừng như hòn ngọc viễn đông sẽ vĩnh viễn sống mãi với Việt Nam Cộng Hòa. Cùng buổi tối, đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng tiếp tân tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó tổng thống Trần Văn Hương, thủ tướng Trần Thiện Khiêm, toàn thể nội các, ngoại giao đoàn, phái đoàn quốc hội và các anh hùng quân đội tham dự đêm văn nghệ của biệt đoàn trung ương. Ngày vui quân lực của cả một thời xưa xa cách 50 năm tưởng chừng như mới hôm qua. Bây giờ năm 2015 đã trải qua 50 năm quân lực. Nếu ngày 19 tháng 6-1975, đất nước mà còn giữ được thì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ có lễ khánh thành đợt sau cùng với Nghĩa Dũng Đài hoàn tất cao ngất từng không, rực rỡ hàng đèn hai bên lối đi. Khu mộ chí tướng lãnh nằm ở vòng trong, rồi đến sĩ quan các cấp và hàng binh sĩ. Nhưng rồi ngày 30 tháng tư 2015 chợt đến, ai là người còn nhớ về thắp hương tại nghĩa trang Biên Hòa.

Khu nghĩa trang xưa trên 120 mẫu năm 1975 tính đến năm 2015 diện tích nghĩa trang thu hẹp lại chỉ còn trên 50 mẫu. Các gia đình đă cải táng di chuyển 5,000 và vẫn còn 11000 ngôi mộ với cỏ gai lấp đầy lối vào. Cho đến ngày 30 tháng 4năm 2015 vừa qua, phong trào hải ngoại về trùng tu nghĩa trang đã hoàn tất được tổng cộng gần 2000 ngôi mộ, Khu Nghĩa dũng đài đã được dọn sạch. Cây cối được chính đốn lại và các con đường đuợc tu sửa. Các tổ chức hoàn toàn tự nguyện và hoạt động riêng biệt nhưng rất hữu hiệu. Không phối hợp nhưng cùng chung mục đích. Anh em đã về từ Úc châu, từ Pháp quốc và từ Hoa Kỳ. Hồ sơ nghĩa trang quân đội Biên Hòa đã có mặt tại bộ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam. Có mặt tại tòa đại sứ Mỹ ở Hà Nói và Sài Gòn. Tại văn phòng huyện ủy Bình Đường và thủ tướng Hà Nội. Đặc biệt hơn nữa hồ sơ cũng luôn luôn trong tay vị đại tá Hoa Kỳ gốc Việt tùy viên quân sự Mỹ tại Hà Nội. Trong khi đó các Việt Kiều về thăm quê hương cũng đã có chương trình thăm nghia trạng Biên Hòa.Như vậy,trên phương diện chính thức, dù hoang phế điêu tàn nhưng Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa vẫn còn tồn tại như một chứng tích của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Với những biến chuyển thời sự hiện nay, tuy muộn màng nhưng chắc chắn nghĩa trang sẽ trở thành vĩnh cửu cũng như lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa. Các di vật của Liên Đội Chung Sự và của quân lực đã thu về Viện Bảo Tàng tại San Jose. Ngày quân lực năm nay, Việt Museum sẽ đón chào các cựu chiến sĩ ghé lại thăm. Đặc biệt các vị từ nơi xa về thăm sẽ có dịp ghi dấu hình ảnh ý nghĩa tại San Jose với tượng đài anh hùng và hàng ngàn di tích lịch sử. Các hội đoàn quân đội họp mặt xin liên lạc với chúng tôi để thu xếp thăm viếng chung và có thể tổ chức Picnic cho từng khóa anh em trong tinh thần thực sự huynh đệ chi binh.

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
CatLinh  
#1950 Posted : Thursday, June 25, 2015 12:24:51 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
Duy An  
#1951 Posted : Monday, June 29, 2015 1:19:53 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhớ ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6: Không Quên những người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa



Phan Đức Minh –
(Mến tặng các chiến hữu, đồng bào và những người bạn trẻ của tôi)


UserPostedImage


Ở đây, người viết muốn vinh danh các chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua những dòng ngắn ngủi này, và nói lên một vài nét để chứng minh rằng: nhiều kẻ, có cả những nhân vật lãnh đạo quốc gia, những nhân vật… cỡ lớn của nhiều hệ thống truyền thông Báo Chí, đã lẩm cẩm, thiếu hiểu biết, hay cố tình với ác tâm, ác ý bôi nhọ Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ của những vụ xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam của giới sinh viên Ðại Học, mà cái tổ phát xuất của nó từ Trường Ðại Học Kent State Unuversity, do một Giáo Sư, cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng Sản Mỹ hồi đó, lãnh đạo, chỉ huy theo kế hoạch của Cộng Sản Quốc Tế. Bởi vì họ biết rằng đánh thắng Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam thì rất khó, nhưng đánh thắng Hoa Kỳ tại Quốc Hội, trên đường phố, ở các trường Ðại Học, trên mặt trận truyền thông thì chẳng khó bao nhiêu. Bởi thế cho nên công cuộc lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, góp phần đập tan tinh thần chiến đấu, quyết thắng của Quân Ðội Mỹ – vốn có từ xưa – trong cuộc chiến Việt Nam phải được giao cho một Giáo Sư Ðại Học có uy tín và là cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng Sản Mỹ. Sự việc này chỉ được người ta biết đến khi vị Giáo Sư lãnh đạo phong trào sinh viên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam này từ trần, có Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Mỹ lúc đó, dự tang lễ, đọc điếu văn, nêu cao thành tích của người quá cố, đã góp công sức vào việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam theo đường lối, kế hoạch của “Phong trào Cách Mạng Vô Sản thế giới”.

Nhiều người đã đánh giá toàn thể Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa qua hành động xấu xa của một vài Sĩ Quan cao cấp đích thân, hay cho vợ con, đệ tử lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nhất là giai đoạn Mỹ đổ quân tác chiến vào Việt Nam (sai lầm chiến lược) để buôn lậu, làm áp-phe tiền bạc bằng nhiều cách. Họ đánh giá Quân Ðội VNCH qua hình ảnh tan rã của nhiều đơn vị quân đội vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, mà người chịu trách nhiệm nhiều nhất là Ông Nguyễn Văn Thiệu, một Tướng Lãnh làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Ðội VNCH, ra lệnh choTướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I – một Tướng Lãnh từng được kể vào hàng Danh Tướng – phải bỏ ngay Quân Khu I và Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh quân khu 2 phải bỏ quân khu 2 vào lúc chưa đánh nhau chi cả và các đơn vị quân đội của 2 Tướng này đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh, với tinh thần rất cao, như họ đã từng đánh bại quân cộng sản trên lãnh thổ 2 Quân Khu này. Hai Tướng Trưởng và Phú đều biết rõ: đánh thì chưa chắc đã chết, nhưng tự dưng bỏ chạy tán loạn thì cả Quân lẫn Dân sẽ chết thê thảm, kinh hoàng… Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu này khi chưa chạm địch để làm áp lực, hòng lôi kéo người bạn Ðồng Minh khổng lồ đang “bỏ đi hay đúng hơn: tháo chạy “bằng mọi giá, phải quay trở lại cứu Nam Việt Nam. Nếu không, “Tiền đồn chống cộng sản của Mỹ tại Ðông Nam Á Châu sẽ sụp đổ ”… Tại sao Ông Thiệu không nghĩ đến việc: “Hơn nửa triệu quân Mỹ tham chiến với vũ khí tối tân nhất lúc đó, trừ vũ khí nguyên tử “mà rốt cuộc phải ‘tháo chạy’ bằng mọi giá, thì làm sao mà quay trở lại bây giờ, trong lúc một nửa lãnh thổ Nam Việt Nam đang rối loạn, sụp đổ hãi hùng, quân cộng sản có cả một khối cộng sản quốc tế đứng phía sau yểm trợ, thúc đẩy cộng sản Hà Nội giải quyết chiến trường càng mau càng tốt, trong không khí quyết chiến, quyết thắng điên cuồng, không thứ chi cản nổi…

UserPostedImage

Cảnh di tản hỗn loạn, đau thương


Một đoạn băng trong số 150 giờ thu âm và 30 nghìn trang tài liệu đã được Thư viện Nixon công bố, có lời của Tổng thống Nixon nói với Cố vấn An ninh Henry A. Kissinger về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là: để bắt Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ký vào văn kiện hòa đàm, ông sẵn sàng “cắt đầu y nếu cần thiết” (cut off his head if necessary). Bài của Shaun Tandon trên AFP thì mô tả ông Nixon đã yêu cầu ông Kissinger nói với Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa rằng Quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Sài Gòn không đồng ý với kết quả hòa đàm…

Tổng Thống Mỹ Richard Nixon đã từng hứa với nhân dân Mỹ là chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đem quân đội Mỹ trở về trong danh dự, trả người thân về với gia đình của họ… Qua trung gian của Tổng Thống Hồi Quốc, Ông Nixon cho Cố Vấn Henry Kissinger (một nhân vật chính trị, ngoại giao quỷ quyệt, độc ác và tàn nhẫn ) dọn đường cho Ông Nixon gặp Mao Trạch Ðông, lãnh tụ Cộng sản Trung Hoa. Họ Mao với sức mạnh của Sư Phụ, với uy thế của ông Thầy bao nhiêu năm trợ giúp cố vấn, vũ khí chiến tranh, lương thực… đã ra lệnh cho cộng sản Hà Nội không được chơi trội, bắt bí phái Ðoàn Mỹ tại Hội Nghị Paris, dọa đánh cho Mỹ phải chạy mà không có “Hiệp Ðịnh ngưng bắn – Agreement of cease- fire” chi cả. Họ Mao đã cứu Ông Nixon, nhưng Ông Nixon phải đền ơn xứng đáng:

1. Vận động để cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Quốc ngồi vào cái ghế “Hội Viên Thường Trực – Permanent Member” của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (với quyền Phủ quyết) cuối năm 1971, trước khi Ông Nixon gặp Họ Mao vào đầu năm 1972, mặc dầu họ Mao đã chiếm hết lục địa Trung Hoa, thiết lập chính quyền, cai trị cả tỉ dân từ năm 1949. Còn Ông Quốc Dân Ðảng Trung Hoa thì vẫn là bạn của Mỹ nhưng phải rời khỏi cái ghế đó, chạy ra đảo Ðài Loan.

2. Ông Nixon phải bằng mọi cách, nhưng kín đáo, bán cho họ Mao những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh tối tân hiện đại nhất lúc đó để Trung Hoa đủ sức “đánh nhau tay đôi” với Liên Sô khi cần, vì Liên Sô đã kết án, và đe dọa trừng trị họ Mao về nhiều tội:
* Bất phục tùng Trung Tâm Lãnh Ðạo phong trào cộng sản thế giới là Ðiện Kremlin ở Moscow.
* Dám thiết lập Tư Tưởng Mao Trạch Ðông, trái nghịch với Học Thuyết Marx – Lenin, là: Thiết lập nền vô sản chuyên chính kiểu Trung Hoa: lấy Nông Dân (đại đa số dân Trung Hoa) làm giai cấp lãnh đạo, thay vì giai cấp Công Nhân lãnh đạo, như Học Thuyết Marx-Lenin, đã được dùng làm Phương Châm Ðấu Tranh cho Phong Trào Cộng Sản Toàn Cầu.
* Muốn thống trị Á Châu bằng sức mạnh của Trung Hoa và Tư Tưởng Mao Trạch Ðông, tách ra khỏi sự lãnh đạo của điện Kremlin ở Moscow. Mao không chấp nhận “Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản”, theo luận điểm của Lenin về khả năng tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ Nghĩa (Lenin’s thesis on the possibility of advancing to Socialism by passing the stage of capitalist development) vì Liên Sô đã có cơ sở công nghiệp trong khi Trung Hoa chỉ có “Con trâu đi trước cái cầy”.

Như thế mới gọi là tư tưởng Mao Trạch Ðông, chớ Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản Hà Nội chỉ có biết trò “Ðu dây” theo voi ăn bã mía cả 2 phía Liên Sô và Trung Hoa thì làm gì có cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh như cộng sản Hà Nội vẫn ồn ào, ba hoa về Tư Tưởng Hồ Chí Minh.

Nhiều Sĩ Quan cao cấp của VNCH trông cảnh quân sĩ dưới quyền bị tan rã một cách thê thảm, đau đớn, trông cảnh dân chúng cả triệu người trên đường tháo chạy, phải làm bia lãnh đạn trọng pháo, hỏa tiễn của Liên Sô và Trung cộng tiêu diệt một cách tàn bạo, kinh hoàng, dã man mà thấy xót xa trong tim, trong lòng, phát điên phát khùng lên vì sự sai lầm của ông Nguyễn Văn Thiệu. Là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Ðội mà ông Thiệu không hiểu rằng: Những phòng tuyến đầu tiên bị tan rã, quân đội chưa đánh mà bỏ chạy tán loạn cùng với hàng triệu dân chúng thì hậu quả quân sự, chính trị, tâm lý của Nam Việt Nam sẽ ra làm sao! Những kẻ bôi nhọ Quân lực VN Cộng Hòa đã cố tình quên đi tinh thần chiến đấu của Quân Ðội này trong dịp Tết Mậu Thân -1968. Lúc đó quân cộng sản được trang bị cá nhân, tất cả bằng súng tiểu liên xung kích AK- 47 của Liên Sô, Tiệp Khắc, cùng với lực lượng võ trang của Mặt Trận Giải phóng miền Nam – do Hà Nội lập ra cho hợp tình thế chính trị – lợi dụng yếu tố bất ngờ khi phản bội thỏa hiệp ngưng bắn trong dịp Tết thiêng liêng cổ truyền của dân tộc Việt Nam, thình lình mở cuộc “Tổng tấn công” vào hầu hết các thành phố, thị trấn của Nam Việt Nam. Trong khi đó Quân Ðội VNCH phần lớn chỉ được trang bị bằng súng trường bán tự động Garant M-1, Carbin M-1 và tiểu liên loại nhẹ Carbin M-2 của quân đội Mỹ sử dụng trong thời Ðệ nhị thế chiến còn bỏ lại trong kho, cần thanh toán cho hết, chớ giữ lại làm chi!. ..


UserPostedImage
Những người Lính VNCH đang bảo vệ xóm làng, quê hương miền Nam Việt Nam vào những ngày Tết Nguyên Đán 1968


Vì bất ngờ cho nên chúng đã kiểm soát được một số lãnh thổ có tính cách chiến lược tại Quân Khu 2 và Quân Khu I, đồng thời tấn công mưu toan đánh chiếm luôn Thủ Ðô Sài Gòn. Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng tại Hà Nội ra lệnh phải giữ đất đã chiếm bằng mọi giá để đưa dân chúng Nam Việt Nam vào một cuộc Tổng nổi dậy, cướp chính quyền. Do đó, khi chiến trường đã được quân đội Việt Nam Cộng Hòa giải tỏa, quân cộng sản bị đánh bại, phải bỏ chạy, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đi theo quân đội mới thấy những xác chết của quân cộng sản bị xiềng chân vào công sự chiến đấu, các ổ bích kích pháo, súng đại liên. Cộng sản Hà Nội không bao giờ ngờ được rằng Quân Ðội VNCH có thể đánh bật chúng ra khỏi thành phố Huế sau một thời gian cộng sản chiếm đóng, toan tính thành lập chính quyền tại một thành phố giáp lưng với hậu phương to lớn của chúng ở bên kia sông Thạch Hãn, Quảng Trị, hay vĩ tuyến 17. Vậy mà cộng sản đã phải bỏ chạy khỏi thành phố Huế trong chiến dịch lịch sử Tết Mậu Thân -1968, chỉ kịp lùa theo chúng hàng ngàn quân sĩ, nhân viên chính quyền VNCH, đảng phái chính trị do chúng bắt được tại Huế, để dẫn đi tàn sát, chôn sống tập thể theo kiểu Hitler giết người Do Thái, Staline giết người Ba Lan, nhưng ghê tởm hơn, vì chúng giết bằng đạn AK, bằng dao găm, mã tấu, còn sống cũng đạp xuống hố chôn luôn hàng chục, hàng trăm người một lúc.

Bốn năm sau, 1972, nắm được tinh thần “Bỏ cuộc, chạy làng” của tay “Sen đầm quốc tế ” khổng lồ, nhưng đã quá mệt mỏi, chán chường với cuộc chiến tranh không thể thắng ở tiền tuyến bằng súng đạn tối tân vì nó chẳng có mặt trận, chiến tuyến nào rõ ràng để mình chủ động sử dụng “ ưu thế hỏa lực- Superiority of firepower ” được cả. Chỉ gây chết chóc lây cho dân chúng bao nhiêu thì căm hận của dân nông thôn càng hừng hực bốc lên chừng đó, qua các… đòn phép tuyên truyền hiểm độc của cộng sản. Trong khi đó hậu phương tại Mỹ Quốc thì rối loạn, nát bấy vì biểu tình, phản đối chiến tranh, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh, Quốc Hội cãi nhau như mổ bò về chuyện có hay không viện trợ chiến tranh cho người bạn đồng minh để giữ vững cái “Tiền đồn chống công ở Á Châu”. Thế là cộng sản Hà Nội lại áp dụng bài học cũ, 18 năm về trước, đã dùng chiến thắng Ðiện Biên Phủ để đánh gục người Pháp tại Hòa Hội Geneva.

Năm 1972 cũng thế, Hà Nội tung vào miền Nam những Sư Ðoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất đã từng đánh tan 2 Binh Ðoàn Lưu Ðộng (Groupements mobililes) của Pháp tại chiến trường Bắc Kạn-Lạng Sơn hồi 1950, bắt sống 2 Binh Ðoàn Trưởng (Commandants de Groupements mobiles): Ðại Tá Le Page và Trung Tá Charton, đưa những Sư Ðoàn lừng danh từng đánh thắng, dứt điểm người Pháp tại chiến trường Ðiện Biên Phủ năm 1954 bằng những trận đánh vũ bão theo lối “Chiến tranh quy ước -Conventional War” hẳn hoi. Hà Nội nhắm đánh vào Quân Khu I, lãnh thổ địa đầu của Nam Việt Nam, cho 15 ngàn quân của Sư Ðoàn 304 tràn qua vĩ tuyến 17, dưới sự yểm trợ của pháo binh và hỏa lực phòng không trang bị hỏa tiễn địa-không SAM-2 của Liên Sô, sau 3 ngày đêm dội những trận bão lửa pháo binh và hỏa tiễn. Sư Ðoàn 3 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa là Sư Ðoàn mới thành lập, trong đó chỉ có Trung Ðoàn 2 Bộ Binh nòng cốt là tương đối thiện chiến, còn hầu hết là tân binh, lính mới, và vị Tư Lệnh Sư Ðoàn là Trung Ðoàn Trưởng mới được vinh thăng Chuẩn Tướng thì làm sao mà chịu cho nổi sức tiến quân của cộng sản. Tại sao Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội VNCH, Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, lại cho Sư Ðoàn 3 Bộ Binh mới thành lập trấn giữ cái cửa ngõ ngăn chặn quân cộng sản Bắc Việt ngay sát vĩ tuyến 17 như thế này? Tại sao lại như vậy?

Cộng sản đánh chiếm Tỉnh Lỵ Quảng Trị, mở đường xuống Huế rồi phối hợp với các đơn vị chính quy Bắc Việt, xâm nhập từ đường mòn Hồ Chí Minh, cũng như các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực của Tỉnh và Huyện, dứt luôn Quân Khu 1. Ngoài mục tiêu quân sự, cộng sản còn nhắm vào những mục tiêu chính chính trị và ngoại giao to lớn, quan trọng hơn: trong cuộc Hòa Ðàm tại Paris để quân đội Mỹ ra đi trong danh dự, không đến nỗi bị cộng sản quốc tế và Hà Nội đánh cho phải chạy mà không có Hiệp Ðịnh ngưng bắn chi cả.

Tỉnh Lỵ Quảng Trị bị chiếm, cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Sô dẫn đầu, bộ binh và cơ giới kéo xuống Huế theo quốc lộ I, được pháo binh và hỏa tiễn 122 ly của Trung Quốc dọn đường. Quân cộng sản tiến về Huế như đi vào chỗ không có người. Dân chúng Quảng Trị thoát chết khi qua khỏi “Ðại lộ Kinh hoàng” tràn xuống Huế, trong khi dân chúng Huế cũng xô nhau bỏ chạy vì dân ở đây làm sao quên được vụ tàn sát ghê gớm với những mồ chôn tập thể trong dịp Tết Mậu Thân – 1968! Tướng 3 sao Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Ðoàn I- Quân Khu I (vị Tướng được nhiều nhân vật chính trị cũng như quân sự trong và ngoài nước đánh giá : không thích hợp để giữ chức vụTư Lệnh Quân Ðoàn I – Quân Khu I trong giai đoạn địch quân tiến như vũ bão thế này) hoảng hốt, không biết phải đối phó ra sao, chỉ biết cầu cứu liên tục về Dinh Ðộc Lập ở Sài Gòn. Tuyến đầu bị phá vỡ thì địch quân sẽ thừa thắng xông lên dễ dàng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Còn phía ta đã rút lui, tan vỡ bỏ chạy tán loạn thì tinh thần quân đội và dân chúng rối rắm ra sao, ai cũng biết rồi. Ai tạo nên khung cảnh bi thảm như thế này? – Ông Nguyễn Văn Thiệu! Lịch sử phải ghi nhận như thế và đã ghi nhận rồi!


UserPostedImage
Tướng Ngô Quang Trưởng

Giới truyền thông ngoại quốc, nhất là ở Mỹ đã đánh giá Quân Ðội và các cấp chỉ huy của Quân Lực VNCH qua những Tướng Lãnh như vậy đó! Cho tới khi đài phát thanh loan báo: Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động từ Quân Khu 4 ở trong Nam ra, nắm chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng I chiến thuật thay thế Tướng Lãm, dân chúng đang hỗn loạn bỏ chạy khỏi thành phố Huế thì nhiều người đã la lên “Tướng Ngô Quang Trưởng về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn I, bảo vệ Huế và chiếm lại Quảng Trị thì bà con không có chạy đi đâu nữa cả!” Lòng dân tin tưởng mãnh liệt là thế! Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, gốc binh chủng “Thiên thần mũ đỏ nhẩy dù”, nhưng lúc này đã mang lon 3 sao vì những chiến công ngoài mặt trận, và luôn luôn hòa đồng với các Sư đoàn Bộ binh dưới quyền. Tướng Trưởng luôn mặc quân phục tác chiến của Bộ Binh, thay vì quân phục Nhẩy Dù. Có lẽ Tướng Trưởng nghĩ rằng: Bộ áo không làm thành Thầy Tu. Tướng giỏi không cần phô trương bên ngoài mà cần phải đánh thắng trên trận địa và được lòng kính phục của quân sĩ. Tướng Ngô Quang Trưởng về Huế, chỉnh đốn lại quân ngũ, tái phối trí lực lượng, kêu gọi dân chúng an tâm, xin tăng phái lực lượng Tổng trừ Bị: Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến từ Sài Gòn bay ra. Thế rồi trước sân cờ Phú Văn Lâu, Cổ Thành Huế, Ông đã thề trước ba quân “Sẽ chiếm lại thành phố Quảng Trị trong thời gian ngắn nhất” như thời Nhà Trần, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, khi ra quân đã cầm gươm chỉ xuống sông Bạch Ðằng mà thề trước Tướng Sĩ: “Nếu phen này không phá tan được quân Mông Cổ thì ta sẽ không còn trông thấy con sông này nữa!” Lịch Sử dân tộc Việt Nam, làm sao quên được những giờ phút bi hùng và oanh liệt như thế!

Dưới quyền Tư Lệnh của Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng những Sư Ðoàn thiện chiến, lẫy lừng nhất của cộng sản Hà Nội, trước sự ngỡ ngàng của dư luận trong và ngoài nước. Cổ Thành Quảng trị đã được chiếm lại. Quân cộng sản đành tháo chạy trở ngược về bên kia vĩ tuyến 17, giống như năm 1953, Danh Tướng MacActhur của Hoa Kỳ đã phản công, đánh bật quân cộng sản Bắc Hàn ra khỏi những vùng chiếm đóng trên lãnh thổ Nam Hàn, bỏ chạy bán sống bán chết trở ngược về phía Bắc vĩ tuyến 38… Tướng Ngô Quang Trưởng và quân sĩ của Ông đã bảo vệ được Huế, chiếm lại cổ thành Quảng Trị đúng như lời thề trước sân cờ Phú Văn Lâu bữa nào. Ðó! Tinh thần chiến đấu của Quân Ðội VNCH là như thế đấy! Tướng Lãnh của Quân Ðội VNCH có những người như thế đó! Tờ báo Time, Tạp Chí cỡ lớn của Hoa Kỳ, tôi có trong tay hàng tuần, một lần đã đăng những dòng cảm nghĩ của Ðại Tướng 4 sao Hoa Kỳ, Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Chiến Dịch ” Bão Sa mạc – Desert storms ” chinh phạt hung thần Saddam Hussein của xứ Iraq, xâm lăng Kuwait, đầu thập niên 1990, đại ý như sau: “Hồi còn chiến đấu ở Khe Sanh thuộc lãnh thổ Quân Khu I Việt Nam Cộng Hòa, với tư cách là 1 Trung Tá Tiểu Ðoàn Trưởng Nhẩy Dù của Hoa Kỳ, tôi đã học được ở Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I – VNCH rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghệ thuật chỉ huy cũng như tác chiến… Những kinh nghiệm đó đã giúp tôi rất nhiều, ngay cả mấy chục năm sau, trong “Chiến thắng Bão Sa Mạc – Desert Storms’ Victory”. Nhiều nhân vật chính trị, truyền thông tại sao không biết những điều này khi nói về Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa? Chẳng lẽ nào họ… không đủ khả năng, trình độ để hiểu biết, hay mang đầy ác ý trong đầu?!


UserPostedImage
Quân Lực VN Cộng Hòa tái chiếm cổ thành Quảng Trị


Rồi đến chiến trường An Lộc, Tỉnh Bình Long. Ở Hòa Hội Paris, Lê Ðức Thọ và Xuân Thủy, Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng cộng sản, ra mặt lấn áp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger trong các buổi mật đàm qua thế mạnh của quân cộng sản tại Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ muốn rút chân cho mau Khỏi “Vũng lầy kinh khủng” này. Ðại Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, người hùng Ðiện Biên Phủ, Bộ Trưởng Quốc Phòng của cộng sản đã tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội “Nhân dân Việt Nam đã đánh gục 3 đời Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ đập tan chính quyền Nixon bằng 1 cuộc chiến thắng hoàn toàn – Defense Minister Vo Nguyen Giap says that the people of Vietnam have defeated 3 U.S. Administrations and are about to complete victory over President Nixon…” Với cái khí thế như vậy, xe tăng T-54 của cộng sản đã tràn ngập, làm chủ tình hình thị xã An Lộc, dẫn theo sau những đơn vị bộ binh thiện chiến, danh tiếng nhất của cộng sản Hà Nội, sau khi những trận bão lửa pháo binh đã quét dọn sạch sẽ, không để lại những gì có thể sống sót.

Các chiến sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh VNCH cùng 1 số đơn vị bạn còn lại của địa phương Bình Long đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ác liệt, giữ từng tấc đất, từng góc phố, ngõ hẻm để có chỗ đứng hay nằm mà chiến đấu vì ngưng chiến đấu tức là chết. Mặt trận An Lộc làm rung động thế giới, làm rối loạn không khí hòa đàm tại Paris vốn đã nghiêng hẳn thế thuận lợi về phía cộng sản. Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng như Hà Nội muốn An Lộc phải thất thủ kinh hoàng như Ðiện Biên Phủ ngày nào. Những tay cá độ quốc tế đã dám đánh 100 ăn 1 là An Lộc sẽ thất thủ để cho cộng sản tiến quân về Sài Gòn, đập tan chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay trong năm 1972. Tướng 3 sao (Général de Division) Vanuxem của Pháp, Tư Lệnh quân đội Pháp tại Bắc Phi, người đã từng giữ chức vụ “Commandant de la Zône Sud du Nord Vietnam – Tư lệnh Quân Khu tả Ngạn Sông Hồng Hà ” thời kỳ Ðiện Biên Phủ thất thủ tại Việt Nam -1954 , khi trả lời phỏng vấn của báo chí, truyền thanh, truyền hình, đã nói: “Quân Ðội VNCH không thể nào giữ nổi An-Lộc!” Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cảnh pháo binh cộng sản bất ngờ hiện diện tại các đỉnh đồi chung quanh lòng chảo Ðiện Biên Phủ (do trâu, voi, người kéo lên, dân công khiêng vác từng bộ phận) dội như mưa bão suốt ngày đêm, làm tê liệt hoàn toàn các giàn trọng pháo hùng hậu của Pháp cho đến nỗi Ðại Tá Pirotti, chỉ huy trưởng pháo binh của Pháp tại chiến trường này quá thất vọng và khủng khiếp, phải mở chốt lựu đạn mà tự sát. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cái cảnh những Sư đoàn cộng sản cuồng tín, đông như kiến cỏ, theo chiến thuật “Biển Người” của Thống Chế Lâm Bưu, Nguyên soái Hồng quân Trung Cộng, tràn qua các bãi mìn, đạp nát các công sự phòng thủ, các hàng rào kẽm gai chằng chịt, tràn xuống các giao thông hào, đạp lên xác chết của lính Pháp, Bắc Phi và cả quân cộng sản, phối hợp với quân cộng sản từ dưới đất chui lên từ các đường hầm đã được máy móc, cơ giới của Trung Cộng đào bới ngày đêm trong lúc pháo binh hỏa tiễn Trung Cộng liên tục nổ rầm trời.

Chắc Tướng Vanuxem liên tưởng đến cái cảnh Tư Lệnh chiến trường Ðiện Biên Phủ, Tướng De Castries, mặt mũi hốc hác, bị quân cộng sản bắt sống ngay tại căn hầm Chỉ huy, cùng với toàn thể Sĩ Quan Bộ Tham Mưu của Ông để rồi chiến tranh Việt-Pháp kể như chấm dứt từ chỗ này, mà phần thất bại tất nhiên thuộc về phía người Pháp. Tướng Vanuxem tin chắc là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa không thể nào giữ nổi An Lộc một khi Hà Nội đã quyết định biến An Lộc thành một thứ Ðiện Biên Phủ thứ 2 ,để giành thế chủ động trên bàn Hội Nghị tại Paris, một khi cộng sản Hà Nội có Liên Sô và Trung Cộng đứng sau lưng, nhất định bắt người Mỹ phải “nhắm mắt lại mà ký vào Hiệp Ðịnh Paris” như cộng sản đã bắt người Pháp phải làm như thế ở Hội nghị Geneva 1954. An Lộc đã bị thế giới coi như đã bị mất vào tay cộng sản. Thế mà, khi Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù, hợp lực với Biệt Ðộng Quân và 1 số đơn vị Bộ Binh VNCH kéo tới đánh những trận phản công sấm chớp, lở đất long trời thì xe tăng T-54 Sô Viết, cũng như Bộ Binh cộng sản từng làm mưa làm gió trước đó trên vùng đất An Lộc tan hoang, trơ trụi, đành phải mở đường máu mà tháo chạy mặc dù lệnh của Hà Nội: phải giữ An Lộc đã chiếm bằng mọi giá. An Lộc vẫn còn đó, không thất thủ như Ðiện Biên Phủ năm 1954. Cả thế giới kinh ngạc. Tướng 3 sao của Pháp Vanuxem cùng dân cá độ quốc tế đã thua đậm trong keo này. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, bỗng dưng có được giờ phút vinh quang và oai hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp cũng như chính trị của ông: đáp trực thăng xuống ngay chiến trường An Lộc giữa tiếng hoan hô vang dậy không ngớt của của các chiến sĩ VN Cộng Hòa vừa chiếm lại An Lộc, gần như đã bị cộng sản kiểm soát hoàn toàn, trong khi tiếng đại bác của 2 bên, tiếng hỏa tiễn 122 ly của Trung Cộng vẫn còn nổ vang quanh vùng, và An Lộc vẫn còn mù mịt, khét lẹt mùi lửa đạn…

Ðó! Tinh thần chiến đấu của Quân Ðội VN Cộng Hòa là như thế đấy! Và còn biết bao nhiêu trận đánh lẫy lừng khác trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Một bài báo có hạn, làm sao kể hết! Năm 1975, Cộng sản đánh chiếm Ban Mê Thuột, cũng chẳng khác gì cộng sản đánh chiếm Huế năm 1968, đánh chiếm Quảng Trị, kiểm soát An Lộc năm 1972 bao nhiêu. Vậy thì khi Ban Mê Thuột mới rơi vào tay giặc trong sự bất ngờ, tại sao Ông Thiệu lại hạ lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải bỏ ngay Quân Khu 2, cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải bỏ Quân Khu I, trong khi hai Tướng Tư Lệnh này đang có trong tay 6 Sư Ðoàn Bộ Binh, hầu hết đều thiện chiến, chưa kể đến các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, mấy chục Tiểu Ðoàn Ðịa Phương Quân, bao nhiêu là đơn vị yểm trợ chiến đấu, đó là chưa kể đến hỏa lực yểm trợ của Hải Quân, Không Quân, lực lượng Tổng trừ Bị của Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, tất cả đều đang sẵn sàng chiến đấu vì chỉ có chiến đấu hay là chết mà thôi. Ông Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu cửa ngõ, địa đầu của Nam Việt Nam như vậy để làm gì? – Có nhận lệnh từ đâu không? Hay chỉ quá kinh hoàng trước thái độ “tháo chạy” của phía Hoa Kỳ, mà quyết định vội vã để tạo nên tình trạng… cũng tháo chạy một cách hoảng loạn, khiến cho Lính cũng chết mà Dân cũng chết luôn trong cái thế…để cho cộng sản tàn sát Quân – Dân Việt Nam Cộng Hòa một cách thê thảm, nhục nhã chưa từng thấy… Điều đó đã tạo nên một sự tan rã, hỗn loạn của cả một lực lượng Quân Ðội to lớn, hùng mạnh như nói ở trên, trong khi tất cả đang sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu để sống còn.

Sự tan rã hỗn loạn này kéo theo sự hỗn loạn tràn ngập của hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ Ðô Sài Gòn. Trong tình thế đó thì Quân Khu 3 còn đánh đấm gì được nữa? Quân Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên nhớ rằng, khi gặp sự quyết chiến của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường của một số đơn vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đã phải tung ra 2 Sư Ðoàn thiện chiến để hòng lấy số đông và nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, dưới sự chỉ huy của Tướng trẻ Lê Minh Ðảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Ðoàn nữa vào mặt trận này, là 4 Sư Ðoàn tất cả, lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi về quân sự cũng như tinh thần quân sĩ đang lên. Vậy mà Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu rời bỏ trận tuyến khi có lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 kiêm Vùng 3 Chiến Thuật. Vị Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 của VN Cộng Hòa không muốn trông thấy Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH anh dũng, kiên cường bị tiêu diệt trước thế trận bất quân bình, địch đông gấp 4 và có thể tăng gấp 5, gấp 6 nếu cần, vũ khí đạn được, xe tăng, pháo binh được cộng sản quốc tế đổ vào như mưa bão, quyết đánh chiếm Sài Gòn như đã định. Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc Phòng Mỹ tại Sài Gòn, ngày 13-4-75, đã gửi 1 điện văn cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ tại Hoa Thịnh Đốn, ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5 ngày theo dõi cuộc chiến An Lộc, Tướng Smith đã nói: “Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam… kể cả Ðịa Phương Quân Tỉnh Long Khánh, đã cho người ta thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu của những người lính VN Cộng Hòa này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều…” . Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, một Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, có trong tay 3 Sư Ðoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Ðịa phương quân yểm trợ chiến đấu hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân khu này…

Khi Tổng Thống… cà chớn Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị chỉ huy trực tiếp bởi Sư Phụ Thích Trí Quang và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian của người em ruột Dương Văn Minh là Sĩ quan cao cấp cộng sản Dương Văn Nhựt (đã liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi 1956) hạ lệnh cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng cộng sản vô điều kiện, để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, phe phái, chỗ đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền “Cách Mạng giải phóng”, thì Tướng Nguyễn Khoa Nam đã họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền, và ra lệnh: anh em tùy nghi lo liệu về phần mình, trước tình thế chúng ta bị bắt buộc phải đầu hàng. Kế hoạch chiến đấu để tự cứu mình và bảo vệ vùng lãnh thổ trách nhiệm của chúng ta đã không thi hành được như anh em đã biết… Sau đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quân phục tác chiến, mũ sắt 2 lớp, đã vào Văn Phòng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế của mình, chắc lả để nhìn lại lần cuối tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường, nhìn lá cờ nhỏ nền đỏ với 2 ngôi sao trắng, tượng trưng cho uy quyền của một Tướng Lãnh chỉ huy, để trên bàn rồi rút súng bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp cò cho viên đạn xuyên qua đầu, vị Tướng đáng kính phục này đã nói những gì với Tổ Quốc, với đồng bào, với chiến hữu của ông….

Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn, anh hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, trở về căn cứ chỉ huy phụ, nói với người vợ thân yêu “Em ở lại nuôi con, anh phải ra đi vì thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này…” Người vợ thân yêu nói với ông “Anh Hưng! Cho em chết theo với! Tất cả chúng ta và các con cùng chết với nhau!” thì Tướng Hưng đã thuyết phục người vợ: “Không được! Cha Mẹ không có quyền giết con. Em phải sống để nuôi dạy con nên người để trả thù nhà và cùng với thế hệ mai sau lấy lại Ðất Nước này! Em phải sống, dù phải chấp nhận hi sinh, khó khăn, gian khổ.” Người vợ thương yêu và can trường của vị Tướng anh hùng này nói trong nước mắt: “Em nghe lời mình với hai điều kiện: Nếu cộng sản bắt em phải xa lìa các con hay chúng làm nhục em thì em có quyền tự sát!” Tướng Hưng bằng lòng, nắm lấy tay vợ rồi chào từ biệt vợ con cùng một vài Sĩ quan, Binh sĩ đã có mặt từ trước tại đây để dự định liên lạc với các đơn vị thi hành kế hoạch chiến đấu cứu mình, cứu Quân Khu 4, của hai Tướng Nam và Hưng, rồi vào phòng riêng, gạt đi lời yêu cầu của người vợ xin được chứng kiến tận mắt sự ra đi của chồng.

Tướng Hưng đóng cửa lại, và 1 phát súng nổ… Tướng Lê Văn Hưng đã ra đi vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất của Cha Ông ngày trước, của những thời đại Lý Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà Tống, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ v.v… Hai Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã cùng một số Tướng Lãnh khác như Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân mà chạy lấy thân để rồi ra nước ngoài, mang theo tiền bạc ăn cắp của Quân Ðội, của Quốc Gia, làm giầu bất chính trên xương máu của chiến sĩ như một số Tướng Lãnh hèn hạ khác. Quân đội của quốc gia nào có những Tướng Lãnh anh hùng và can đảm như thế hay không? Một số Sĩ Quan cao cấp, cả những cựu quân nhân bình thường của Hoa Kỳ, từng tham chiến tại Việt Nam, không muốn dư luận cũng coi mình như những kẻ khác không biết gì về cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến kỳ lạ này, về sau đã lên tiếng trên các phương tiện truyền thông đa dạng ngày nay, nói ra sự thật là: Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Hoa Kỳ chúng ta tại Việt Nam. Ðúng như thế! Họ còn nêu rõ những điều cần thiết để cho dư luận hiểu cuộc chiến một cách đơn giản nhưng rõ ràng đúng với tinh thần trong sáng, ngay thẳng, minh bạch của những quân nhân của đất nước Hoa Kỳ luôn được coi là vĩ đại trong con mắt của thế giới loài người:

* Quân Ðội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu khi nắm chắc được yếu tố “Vượt trội về hỏa lực – Superiority of Firepower ”. Quân đội VNCH phải chiến đấu trong mọi trường hợp cần thiết.
* Quân đội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu tại Việt Nam trong thời gian ngắn hạn rồi thay nhau về nước. Như thế không bị dồn vào cái thế mệt mỏi căng thẳng quá độ, thường trực về thể chất cũng như tinh thần. Còn Quân dội VNCH thì ngược lại, phải chiến đấu liên tục, không ngưng nghỉ. Sức chịu đựng của người chiến binh VNCH nó khủng khiếp đến thế nào?
* Trong khi chiến đấu cũng như lúc đóng quân trong đồn lũy, người chiến binh Hoa Kỳ luôn luôn được bảo vệ bằng những phương tiện chiến tranh dồi dào, tối tân, hiện đại nhất, cả về tấn công, phòng thủ cũng như yểm trợ. Còn người chiến binh VNCH làm sao có được như vậy! Cái mạng sống của người chiến binh Việt Nam cũng vô cùng mỏng manh, hay nói rõ hơn là dễ chết lắm..
* Ðiểm nữa, cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần, thể chất, tâm lý của người chiến binh Việt Nam là: trong khi mình xả thân chiến đấu bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống của chính mình thì lúc đó gia đình, những người thân yêu phải sống ra sao? Liệu có đang kẹt trong vùng lửa đạn, chết chóc hay không? Về điểm này, người chiến binh Hoa Kỳ khỏe hơn là cái chắc, tinh thần ổn định, thoải mái hơn rõ ràng.

Bây giờ, nếu đặt người chiến binh của các cường quốc Âu-Mỹ vào vị trí, hoàn cảnh chiến đấu khó khăn, thiếu thốn, khắc nghiệt của người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, thử hỏi liệu những người chiến binh ấy có thể chiến đấu được như người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa hay không? Chịu được bao lâu? Chính Phủ, Quốc Hội và Nhân Dân các quốc gia đó chịu được mấy tháng, mấy năm?

Câu trả lời xin dành cho những nhà viết sử chân chính, cho những Sĩ Quan và Quân Nhân Hoa Kỳ từng chiến đấu anh dũng, can trường bên cạnh những người bạn chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của họ từ các chiến trường Khe Sanh, Ðác-Tô, Pleiku, Kontum, Ðồng Xoài, Bình Giả, Củ Chi, cho đến các chiến trường vùng đồng bằng sông Cửu Long, điểm tận cùng của Ðất Nước Việt Nam…

San Diego – California

Edited by user Monday, June 29, 2015 1:20:45 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
phamlang  
#1952 Posted : Thursday, July 2, 2015 11:24:44 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tội nghiệp cho ông Bộ trưởng


Trong tuần này, dư luận tại Việt Nam lại nóng lên bởi những chi tiết mà chắc chưa có người dân nào được biết ngoài mấy ông Bộ trưởng. Và, bỗng dưng… tôi thấy “thương” mấy ông này quá. Nhất là khi nghe trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho biết dù qua 3 lần điều chỉnh tăng lương nhưng mức lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở) đối với người hưởng lương từ ngân sách nhà nước còn rất thấp, chưa hợp lý, ngay cả lương bộ trưởng cũng thế. “Do mức lương cơ sở thấp nên lương tính theo ngạch, bậc, chức vụ thấp theo. Tính cả 25% phụ cấp công vụ thì mức tiền lương của người vừa tốt nghiệp ĐH khoảng 3,58 triệu đồng/tháng, bộ trưởng cũng chỉ 14,4 triệu đồng/tháng. Với lương như vậy, đời sống của người hưởng lương từ ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn”.

Quả là tội nghiệp cho các ông Bộ trưởng Việt Nam, lương có hơn 14,4 triệu đồng một tháng thì quả thật không đủ tiền cho vợ đi chợ, cho con đi học, cho cả nhà ăn sáng, trả lương cho mấy cô người giúp việc. Chưa nói đến chuyện làm bộ trưởng thì phải có dăm ba bộ com-lê, vài chục cái cravate, vài chục cái chemise, năm bảy đôi giày thật xịn… chưa kể các thứ linh tinh khác. Chắc là phải đi vay nợ mới làm được bộ trưởng. Thế mà nhiều ông vẫn cứ thích làm bộ trưởng mới lạ. Thoạt nghe thấy thương ghê! Nhưng sự thật dân không thương mà lại có những phản ứng ngược hẳn. Bởi người dân không ngu gì mà không biết ngoài lương ra các vị còn có bổng lộc, lương lậu gấp trăm ngàn lần lương chính thức.

Ngay trong Quốc Hội cũng đã có nhiều ý kiến phản kháng. Đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng dư luận phản ứng với thông tin lương Bộ trưởng cũng khó sống thì phải đặt vấn đề thế nào là “sống”? Ông nói: “Nhưng tại sao lương thấp vậy người ta vẫn muốn làm Bộ trưởng. Tôi chỉ thấy chắc chắn một điều là thu nhập của họ rất cao. Cứ trông cách sống của họ là biết họ thu nhập rất cao rồi. Vậy nên nói “khó sống” người dân phản ứng là phải, khi thu nhập người lao động bình thường là 2-3 triệu đồng/tháng, công chức như chúng ta cũng chỉ 4-5 triệu đồng/tháng thôi người ta vẫn sống thì 14-15 triệu đồng/tháng sao bảo là khó”.

Ông Cao Sĩ Kiêm Đại biểu QH Thái Bình, thẳng thắn: ”Nếu nói mức lương của Bộ trưởng hiện nay khó sống thì rất vô cùng. Thực tế thì không ai khó sống, mà lại sống rất đàng hoàng so với tiêu pha. Thu nhập “thực” của họ, tôi biết, gấp xa nghìn lần mức lương mà họ đang hưởng. Số liệu đó không phản ánh chính xác thực tế. Vì còn nhiều khoản thu nhập… ngoài không được kê khai, tính vào lương mà mình không biết, không thống kê được”.

Còn ĐB Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) thì nhận xét: ”Nói lương là thế, nhưng tổng thu nhập của Bộ trưởng khác với lương, họ không khai làm sao mà biết được. Khoản này thì không có văn bản nào quy định”.
Trên các trang báo, người dân cũng “bóc mẽ” cái sự lương thấp này. Người dân phân tích bổng lộc là những khoản được nhà nước cấp cho như đất đai, xe hơi, nhà cửa, đặc quyền, kinh doanh… Và người ta thường nói “lương lậu” tức là lương đi đôi với lậu. Cái khoản “lậu” này mới đáng sợ. Và rõ ràng, có những quan chức trong xã hội, lương chỉ là danh chính ngôn thuận để ký tên trong sổ sách. Thực chất, “lương thật” của họ phải bao gồm: lương (theo quy định) + bổng lộc + lậu nữa, mới có thể xênh xang nhà lầu, xe hơi, con cái du học các nước tư bản.

Chính những con sâu này đang là kẻ nội thù nguy hiểm nhất làm mất niềm tin của dân, làm suy sụp chế độ.

Đó là chuyện trong Quốc hội ở kỳ họp này. Ngoài Quốc hội cũng có môt vị bộ trưởng đáng thương nữa. Đó là ông Đinh La Thăng – Bộ trưởng bộ Giao Thông – đau đớn xác nhận một sự thật đau lòng.

Muốn thay nhà thầu Trung Quốc cũng không được
Nói chuyện với báo chí sáng 9/6 vừa qua, ông Thăng than thở: “Nhà thầu Trung Quốc rất yếu kém, nhiều lần tôi muốn thay thế song không thể vì ràng buộc các điều kiện hiệp định vay vốn. Do đó, rất mong mọi người chia sẻ”.
Tại cuộc gặp gỡ này, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã lý giải vì sao Việt Nam phải mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông mà không phải là của các nước khác, đồng thời tại sao lại không thể “đuổi” nhà thầu Trung Quốc yếu kém về năng lực.

Theo Bộ trưởng Giao thông, việc mua các đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhân dân cũng như các cơ quan truyền thông. Ông nói: “Vì mua đoàn tàu của Trung Quốc mà tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn, đe dọa có, khuyên giải cũng có mà đề nghị cũng có. Thâm chí có người còn bảo: ông Thăng ơi, ông đừng mua các đoàn tàu của Trung Quốc. Tại sao lại mua, ông có vấn đề gì với Trung Quốc không”.

UserPostedImage

Tại sao ông Thăng bị dân nghi ngờ?


Có nghĩa là ông Thăng cũng bị dân nghi ngờ là có “chấm mút” gì với anh chủ thầu Trung Quốc. Cũng như 6 sếp Ban Quản Lý dự án đường sắt tiêu 11 tỉ đồng lót tay của nhà thầu Nhật Bản vừa bị khui ra ánh sáng vào ngày 4/6 vừa qua.

Những vụ ăn chia giữa quan chức với nhà thầu ở Việt Nam như đã thành… “tiền” lệ, lớn nhỏ gì có thầu là có thông đồng, có lót tay. Đó là ưu tiên hàng đầu trước và sau khi chọn nhà thầu. Ông Thăng có bị nghi ngờ thậm chí chửi bới cũng chẳng có gì lạ.

Ông Bùi Danh Liên (Chủ tịch hiệp hội Vận tải Hà Nội) bày tỏ mối lo ngại: “Từ xưa đến nay, hàng Trung Quốc vẫn thật giả lẫn lộn, rất khó để phát hiện ra. Thực tế, chất lượng các loại sản phẩm của Trung Quốc đã mất lòng tin với rất nhiều người trên khắp thế giới. Ông nhấn mạnh: “Thông qua việc xây dựng tuyến đường sắt và mua tàu Trung Quốc lần này, chúng ta cũng nên rút ra kinh nghiệm, rằng đối với nhà đầu tư, cho dù có vốn nhưng khi đã mất niềm tin cũng không nên bắt tay với họ trong bất kỳ dự án nào nữa”.

Nhưng trong vụ này, có vẻ như ông Thăng hoàn toàn không chấm mút gì nên ông cứ ngang nhiên nói thẳng ra nỗi đau tím ruột của mình cho dân thông cảm.

Ông kể: “Dự án được thực hiện theo Hiệp định được ký giữa 2 chính phủ Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2008”. Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn. Các nhà thầu thi công, giám sát, cung cấp thiết bị cũng là của Trung Quốc. Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết đây là các điều kiện trong Hiệp định đã được ký giữa hai chính phủ, là việc rất khó khăn nên không thể muốn thay đổi là có thể thay đổi được”.

Điều đó cũng có nghĩa là ông Bộ trưởng Thăng bị chính phủ đặt vào tình thế “đã rồi” không thể làm gì hơn được. Nếu ông có quyền thì ông đã tống cổ anh nhà thầu Trung Quốc này đi từ lâu rồi. Bởi từ khi thực hiện dự án, nhà thầu này đã làm ăn rất tắc trách, bê bối, coi tính mạng người dân như sâu bọ. Hãy thử nhìn qua những gì họ đã gây ra:

UserPostedImage
Làm ăn lề mề để kiếm thêm tiền

Dự án được chính thức phát lệnh khởi công từ ngày 10/10/2011 và dự định sẽ hoàn thành cuối năm 2014 để đưa vào khai thác sử dụng từ quý II/2015. Sau hàng loạt lý do dẫn đến sự chậm trễ, dự án được chuyển sang cuối năm 2015 mới xong và đưa vào chạy thử vào đầu năm 2016. Ngoài chậm tiến độ, sau 5 năm thi công, tổng mức đầu tư dự án này đã phải điều chỉnh từ 552 triệu USD lên 868 triệu USD, tăng 316 triệu USD so với ban đầu. Đó cũng là chiêu láu cá của mấy anh ba Tàu. Làm ăn lề mề để buộc chủ nhà phải tăng vốn mới hoạt động tiếp. Chủ đầu tư lại bị dồn thế không tăng không được vì đó là vốn mượn của Tàu, phải làm cho xong.

Làm ẩu, làm liều không kể đến tính mạng người dân
Hàng vạn người dân thủ đô đang phải lưu thông ở những nơi mà tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, những lưỡi hái tử thần luôn treo trên đầu họ, mỗi ngày.
Trong một khoảng thời gian ngắn, tai nạn liên tục xảy ra, với mức độ, hình thức khác nhau, nhưng có chung nguyên nhân được tuyên bố là do “thi công ẩu”. Đó là tội coi thường tính mạng của người dân. Vài thí dụ gần nhất:

– Tối 10/5 xảy ra vụ rơi cọc thép dài 9m, rộng 0,3m, nặng khoảng 630kg tại công trường thi công nhà ga số 4 (phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội), suýt trúng hai người đi xe máy.
– Ngày 12/5, vụ sập cần cẩu trước số nhà 561 và 539 đường Cầu Giấy đè trúng một phụ nữ đang mang thai và một thanh niên đang lưu thông trên đường.

– Chưa kể đến việc vào khoảng 9h30 cùng ngày (12/5), trên đường Nguyễn Trãi (Thanh Xuân – Hà Nội), một thanh sắt từ công trình đường sắt trên cao đã rơi xuống đường và trúng vào chiếc Honda Civic.

– Trước đó, cuối năm 2014, tại các công trường thi công dự án đường sắt trên cao tuyến Cát Linh – Hà Đông cũng đã xảy ra 2 vụ rơi vật liệu xuống đường khiến 1 người chết, 3 người bị thương.

– Khi xảy ra vụ rơi dầm thép công trình đường sắt Cát Linh – Hà Đông, hồi 6/11/2014, Bộ trưởng Giao thông cam kết rằng: Sẽ không có tai nạn nào như vậy nữa. Hàng loạt cán bộ thuộc Ban quản lý dự án bị giáng chức, điều chuyển. Nhưng ngay khi dự án được thi công trở lại, ngày 28.12, tai nạn lại tiếp tục xảy ra, thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Lần này, Bộ trưởng GTVT lần đầu tiên đề cập đến nguyên nhân tư vấn giám sát. Theo đó, ông yêu cầu phải chấm dứt hợp đồng với tư vấn giám sát (Trung Quốc), ký hợp đồng với một công ty giám sát của Việt Nam, do Bộ GTVT chỉ định. Nhưng trả lời PV báo chí, ông Lê Kim Thành, Tổng giám đốc BQL dự án đường sắt (Bộ GTVT), nói rằng chỉ thay người đứng đầu đơn vị, còn tư vấn giám sát vẫn là nhà thầu Trung Quốc.
vq 6264
Nói như vậy có nghĩa là cùng với việc tổng thầu Trung Quốc ngang nhiên nuốt lời hứa về tiến độ, vốn, an toàn lao động…, để thấy rằng, chủ đầu tư dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông đang không thể kiểm soát được những gì đang diễn ra ở đại dự án gần 9.000 tỉ đồng này.

Phải nói thẳng là ngay cả đến cấp Bộ Trưởng cũng bất lực trước sự tung hoành ngang ngược của nhà thầu Trung Quốc, không chỉ ở các dự án giao thông mà trong rất nhiều lãnh vực khác. Tội nghiệp cho ông Bộ trưởng, nhưng ông đau một thì dân đau mười bởi bao nhiêu tai ương dân chiụ hết và mỗi người còng lưng gánh món nợ đến 21 triệu đồng, trả đến đời con đời cháu cũng chưa hết. Nói thẳng ra Trung Quốc bất chấp mọi thủ đoạn để khống chế cả nền kinh tế Việt Nam. Mộng bành trướng của họ chẳng bao giờ chấm dứt.

Văn Quang
19-6-2015 Viết từ Saigon
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#1953 Posted : Saturday, July 4, 2015 7:57:07 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
KBC.. Một thời để nhớ



Người Lính VNCH
Hoàng Nhật Thơ


Trong cuộc đời của mỗi con người, từ khi bộ não biết lưu giữ lại những gì để nhớ, cho đến khi “tới từ nơi nào ... trở về nơi ấy ..”, có biết bao nhiêu chuyện buồn vui in hằn vào trang kỷ niệm trong tiềm thức, để một khoảnh khắc nào đó ở tương lai, ta vô tình hay cố ý đi ngược dòng dĩ vãng, kiếm tìm trong ký ức những gì còn vương đọng lại của một thời để nhớ ...!


UserPostedImage


Từ những ngày đầu nôn nao xen lẫn rụt rè, bỡ ngỡ làm quen với chốn học đường, ấp úng trong sự kính sợ thầy cô, ngơ ngác giữa những bạn bè tuổi thơ xa lạ, cùng chung đánh vần từng mẫu tự, nắn nót từng nét chữ “a, b, c”.Từng trang sách vở chất chồng lên theo thời gian, một phần của tuổi thơ vô tư, thắm thoát đã trôi qua theo chương trình tiểu học, cậu học trò thơ ngây bắt đầu làm người lớn “tí hon” nơi ngưỡng cửa trung học với bảy mùa “Nỗi buồn hoa Phượng” xao xuyến, luyến lưu dần trôi qua trên từng trang “lưu bút ngày xanh”, để lại trong lòng biết bao kỷ niệm buồn vui dưới mái học đường, những buổi tan trường thơ thẩn ngắm nhìn tà áo dài trắng thướt tha trên đường về với bao nhiêu mộng mơ thầm kín, những năm cuối trung học với bao chiều nhạt nắng nơi một góc nào đó của sân trường, ngồi tựa đầu vào người mình thương mến, ép cánh phượng hồng vào giữa những trang sách, nâng niu lưu giữ những gì đẹp nhất trong tình yêu trong trắng của tuổi học trò.

Hoa “tình yêu” đẹp tựa bài thơ, đang khoe sắc thắm bên những cành Phượng Vỹ đong đưa trong gió trên con đường tương lai rộng mở thênh thang. Nhưng đóa hoa “tình yêu” đó đã khép lại cùng những trang sách vở công danh, sự nghiệp vì khói lửa chiến chinh đang lan dần như muốn trùm phủ che mờ sự thanh bình của quê hương. Thay vì khoác tay người yêu vui bước vào khuôn viên đại học, người thanh niên đã gác lại tình riêng cùng trang sách vở để bước vào ngưỡng cửa quân trường làm tròn nhiệm vụ của người trai trong thời ly loạn.

Một thời áo trắng “lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi nhắc lại câu chuyện buồn, trường còn kia ôi mái đổ tường rêu nơi kỷ niệm êm ái ...” ; Một thời mới bước vào yêu “biết tim đâu nữa những kỷ niệm ngày đầu quen biết nhau, ngồi dưới hàng cây phượng nhỏ, đưa mắt thay lời mà lòng nghe bơ vơ. Nhớ buổi chia tay ngày đó, có một người lặng nhìn theo bước tôi, mắt rưng rưng buồn bùi ngùi nâng tà áo, cách xa nhau rồi biết khi nao gặp đây ...” ; Một thời ngang dọc “đêm đêm nằm đường ngăn bước thù, áo nhà binh thương lính, lính thương quê vì đời mà đi .......”. Mỗi thời trôi qua theo từng khoảng thời gian trên dòng sông dĩ vãng được gọi là kỷ niệm, nhưng kỷ niệm thân thương nhất, yêu quý nhất là “từ khi gót sông hồ ngược xuôi, ôi những đêm thật dài hồn nghe thương nhớ ai ...” hay “giữa lòng trời khuya muôn ánh sao thề, người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm ...” hoặc “trùng khơi nổi gió, lênh đênh triền sóng lắc lư con tàu đi ...” sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong lòng những người trai đi viết sử xanh.

Người Lính VNCH bước đi trên con đường binh lửa, dù thời gian lâu hay mau, quảng đường dài hay ngắn ... đều không thể nào quên được những tháng ngày kỷ niệm trong cuộc đời quân ngũ, được ghi khắc trên chiếc áo kaki kể từ khi “ngày tôi gặp nó nét đăm chiêu đêm nhập ngũ ...” rồi trải qua những ngày tháng nơi quân trường cho đến khi “mình vui đêm nay rồi mai chia tay mỗi người đi một ngã ...”... Khói lửa chiến chinh lan tràn phủ dày quê hương, Người Lính hiện diện khắp mọi nơi theo ba chiều không gian của Tổ Quốc ... Người thì cởi mây lướt gió bồng bềnh khắp bốn phương, tám hướng như cuộc đời được sinh ra để lả lướt của những chàng trai nghiêng cánh sắt “vụt cao vút cao, mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần ...” ; Người thì ngày đêm lênh đênh nổi trôi trên sóng nước, chưa có cơ duyên thả “neo” cuộc đời hào hoa ở một bờ bến nào, dù có biết bao nhiêu đóa hoa “biết nói” đang vương trên áo trắng đại dương, nhưng chỉ có một loài hoa luôn gắn liền với những chàng trai yêu mộng hải hồ, đó là loài “Hoa Biển” giữa “trùng khơi nổi gió lênh đênh triền sóng thấy lung linh rừng hoa ...” ; Còn Người Lính bộ binh đại diện cho Lục Quân thì không lả lướt như anh chàng Không Quân áo liền quần, không hào hoa như anh chàng Hải Quân lúc nào cũng lắc lư con tàu đi, nhưng Người Lính bộ binh được mang tiếng là đa tình thì lại chấp nhận xa thành đô để “tìm vui trong sương gió, đánh giặc quên tháng ngày. Dù gian nan khắp nẻo đường dài ... Tôi xin trả lại ai đường phố trắng xa hoa, xin được vui với niềm vui lính rừng”.

Sau những lần dựng ngọn “cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu ...”, người thì được tưởng thưởng “từ xa tôi về phép 24 giờ để tìm người thương trông người thương ...”, kẻ thì “ngày trở về, anh bước lê trên quảng đường đê đến bên lũy tre ... “ hay “bạn tôi thân mến đã liệt oanh ngã xuống, khắp đơn vị tiếc thương!”

Đời lính nổi trôi theo khói lửa chiến chinh khắp mọi miền đất nước, miệt mài hăng say với nhiệm vụ gìn giữ quê hương quên cả tháng ngày, cho đến một sớm tinh sương chợt nhìn thấy những cánh hoa mai rừng đong đưa trong gió, Người Lính mới biết “lại một Xuân nữa đến trong khói lửa chiến chinh ...” hoặc tiếng Ve sầu mùa Hạ đã đưa tâm hồn Người Lính trở về với kỷ niệm thời học sinh “chinh chiến dài theo năm tháng đổi thay, mỗi lần nghe tiếng Ve ngân ngày Hè, chạnh lòng thương thương người xưa trường cũ, tuổi thơ ngây ngày ấy ...” hay một buổi chiều nào đó chợt vô tình nhìn chiếc lá rơi dưới ánh nắng vàng hiu hắt, Người Lính khe khẽ thầm trách “nghe chăng Thu ơi, để lá rơi chi hoài gợi lòng thương nhớ ai nhiều ...!” hoặc những đêm Đông buốt giá nơi tiền đồn biên giới, Người Lính cảm thấy xúc động và thầm cảm ơn người vợ hiền đã đan chiếc “áo tuy không dày, nhưng lòng thêm ấm những khi hành quân ...”.

Trong những lần dừng quân tạm nghỉ bên ven rừng, Người Lính vội vã viết vài chữ “lâu lắm chưa về quê thăm mẹ, từ độ súng thù dệt nơi nơi ...” hay “thư của lính thư không được dài như mơ ước đâu em ... thư của lính chấm dứt ở đây sau khi đề thêm hai chữ Hôn Em”. Gót quân hành xuôi ngược theo sự lan tràn của khói lửa chiến chinh, để lại người vợ hoặc người tình nơi hậu phương trông ngóng ... những người yêu của lính hiểu rằng giang san quằn nặng đôi vai của người trai thời ly loạn, đã một lòng sắt son chờ đợi “dù anh trở về trên đôi nạng gỗ, dù anh trở về bằng chiếc xe lăn hoặc anh trở về bằng chiến công dày, tình em cũng chẳng đổi thay”.

Con đường chiến binh kéo dài 20 năm xuyên qua “bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân ...”, con đường này chằn chịt tên của 350 ngàn anh hùng QLVNCH “Vị Quốc VongThân”, 150 ngàn Người Lính VNCH đã bỏ lại một phần thân thể trên con đường xương máu này để bảo vệ hai chữ tự do cho 17 triệu người dân miền Nam Việt Nam. Con đường này là một thiên trường ca bi hùng, một bộ đại quân sử giá trị nhất trên thế giới mang tên QLVNCH, được viết bằng máu của những người được sinh ra để sống cho quê hương và dám chết vì quê hương.

Ngọn lửa chiến chinh cháy ròng rã suốt 20 năm, ngày ngọn lửa chiến chinh tàn cũng là ngày khởi đầu cho máu và nước mắt của người dân Việt Nam tuôn đổ thấm ướt lòng đất mẹ bởi làn sóng đỏ cộng sản kéo dài suốt 40 năm qua; Ngày mà Quân Cán Chính VNCH phải uất nghẹn gãy súng và nhận lãnh sự “khoan hồng” của những người mang danh giải phóng bằng những hình thức thủ tiêu, tra tấn, độc ác, dã man nhất trong lịch sử nhân loại.

Hai mươi (20) năm chinh chiến trôi vào dòng sông lịch sử đã 40 năm, nhưng Người Lính VNCH làm sao quên được hình ảnh đồng đội chuyền nhau chung điếu thuốc, sớt chia nhau từng muỗng cơm sấy, từng ngụm nước mát trong biđong, hổ trợ và sát vai nhau trên chiến trường, dìu nhau trong lúc bị thương, cho nhau từng giọt máu để giành giựt lại sự sống của đồng đội từ bàn tay của tử thần, những lần nâng chén men cay mừng chiến thắng xen lẫn những nỗi buồn mất mát đau thương, hình ảnh cuộc diễn binh tại thủ đô Sài Gòn mừng ngày Quân Lực, những người chiến sĩ anh hùng của các đơn vị đại diện cho tất cả Quân Binh Chủng với những nhịp bước oai hùng, hiên ngang hòa nhịp vào những bản hùng ca vang dội cả thủ đô, cao vút tận khung trời Tổ Quốc Không Gian. Tất cả những hình ảnh thân thương đó được nâng niu trân trọng lưu giữ vào trang kỷ niệm cao quý nhất của Người Lính VNCH. Trang kỷ niệm cao quý đó mang tên “KBC-Một thời để nhớ”.

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa mang gói hành trang Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm quằn nặng gánh Giang San đang vui bước trên “đường trường xa muôn gió tung bay dập dồn ...” thì bất ngờ ... phải uất nghẹn nhận một quân lệnh bức tử “buông tay súng”, để rồi đau lòng chứng kiến lũ “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào, giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu anh em ...!”

Con đường trường xa của những người trai nặng nợ Núi Sông chẳng những không chấm dứt ở mốc thời gian quốc nạn 30/04/1975, mà nó lại tiếp tục xuyên qua các quốc gia tự do trên thế giới bằng những rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ phất phới tung bay, hừng hực lửa đấu tranh nung đúc tinh thần, ý chí tranh đấu cho một ngày chuyển lửa về quê hương thiêu đốt lũ cộng sản bạo tàn khát máu, mang lại nụ cười rạng rỡ trên môi cho gần 90 triệu người con Việt vui sống trong cảnh thanh bình, ấm no, hạnh phúc bên Mẹ Việt Nam đã chịu quá nhiều tang thương.

Lũ Cộng sản Việt Nam vô thần khát máu nhất định phải biến mất vĩnh viễn trên dãy đất thân yêu hình chữ “S” mang tên Việt Nam vì :

Vẫn còn đây, vẫn còn đây các con của mẹ
Vẫn còn đây, vẫn còn đây các con của cha
Con sẽ về bằng toàn thân xác
Con sẽ về bằng hồn phách linh thiêng
Từ dòng Cửu Long lên đỉnh Trường Sơn
Từ lòng đại dương đến chân trời quê hương
Trăm con từ khắp tám phương quay về
Như ngày nào cùng bọc mẹ ra đi.

Vẫn còn đây, vẫn còn đây giống dân Tiên Rồng
Vẫn còn đây, vẫn còn đây cháu con Lạc Long
Năm mươi người cùng mẹ lên núi
Xây bưng biền lập khu chiến đấu tranh
Còn năm mươi người vượt đại dương
Nguyện cùng cha quyết xây lại quê hương
Trăm con cùng chung góp máu đào
Từ Động Đình về tận miền Cà Mau.

Hẹn gặp lại anh trong một ngày mới
Hẹn gặp lại em trong một ngày vui
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi
Hẹn gặp mẹ cha trong ngày hội lớn
Hẹn gặp lại nhau trong ngày Việt Nam
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi.

Vẫn còn đây, vẫn còn đây trái tim Diên Hồng
Vẫn còn đây, vẫn còn đây máu xương Việt Nam
Con không hờn dù đời cay đắng
Tâm không sờn dù lòng trắng khăn sô
Còn hồn Việt Nam là còn niềm tin
Còn người Việt Nam sẽ có ngày quang vinh.
Trong đêm trường phục sẵn mặt trời
Mai bình minh về rồi Việt Nam ơi.

Con sẽ về bằng toàn thân xác
Con sẽ về bằng hồn phách linh thiêng
Từ dòng Cửu Long lên đỉnh Trường Sơn
Từ lòng đại dương đến chân trời quê hương
Trăm con từ khắp tám phương quay về
Như ngày nào từ bọc mẹ ra đi.

Vẫn còn đây, vẫn còn đây giống dân Tiên Rồng
Vẫn còn đây, vẫn còn đây cháu con Lạc Long
Năm mươi người cùng mẹ lên núi
Xây bưng biền lập khu chiến đấu tranh
Còn năm mươi người vượt đại dương
Nguyện cùng cha quyết xây lại quê hương
Trăm con cùng chung góp máu đào
Từ Động Đình về tận miền Cà Mau.

Hẹn gặp lại anh trong một ngày mới
Hẹn gặp lại em trong một ngày vui
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi
Hẹn gặp mẹ cha trong ngày hội lớn
Hẹn gặp lại nhau trong ngày Việt Nam
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi.

Vẫn còn đây, vẫn còn đây trái tim Diên Hồng
Vẫn còn đây, vẫn còn đây máu xương Việt Nam
Con không hờn dù đời cay đắng
Tâm không sờn dù lòng trắng khăn sô
Còn hồn Việt Nam là còn niềm tin
Còn người Việt Nam sẽ có ngày quang vinh
Trong đêm trường phục sẵn mặt trời
Mai bình minh về rồi Việt Nam ơi.

Hẹn gặp lại anh trong một ngày mới
Hẹn gặp lại em trong một ngày vui
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc, thanh bình ngàn nơi
Hẹn gặp mẹ cha trong ngày hội lớn
Hẹn gặp lại nhau trong ngày Việt Nam
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi”(*).


Nguyệt Ánh & Việt Dzũng

Edited by user Saturday, July 4, 2015 7:59:59 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#1954 Posted : Monday, July 6, 2015 2:43:39 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
TUẦN LỄ NƯỚC MẮT



Chỉ trong một tuần, đã có thật nhiều nước mắt đổ xuống trên toàn cõi Việt Nam. Với nhiều lý do. Nước mắt tràn trên các trang báo, bi thương trong các lời mô tả.

Những giọt nước mắt ấy, rơi xuống vì lòng kiêu hãnh chung hoặc vì nỗi đau thầm lặng của từng số phận. Nhưng cũng có những giọt nước mắt cay đắng cho đất nước vào giai đoạn trầm kha, mà nhân dân chính là kẻ mãi mãi phải gánh chịu.

Đất nước hôm nay hoang tàn, như một cõi vàng mã sau cơn gió giật đã lộ ra rất nhiều thứ. Tất cả phiêu diêu không biết về chốn nào, giữa những lời tung hô và giả dối.

Hoang tàn như qua một cơn giông, người ta giật mình chợt biết rằng bao năm nay mình bị lừa dối, khi nhìn thấy những trụ điện bê-tông gãy đổ với chất lượng tệ hại đáng kinh ngạc. Ở ngay một nơi được xưng tụng là thủ đô, thì sự lừa dối cũng ở cấp độ thủ đô. Những con đường, cầu cống rơi mặt nạ, suy sụp và tàn tạ, cho thấy tiền thuế của nhân dân được quấy quá và vội vã tiêu pha như thế nào trong tay những quan lại luôn kêu gọi lòng yêu nước và trách nhiệm.

Trận giông ngày 13-6 được coi là kinh hoàng ở Việt Nam, với 2 người chết và 9 người bị thương, nhiều hệ thống giao thông hư hại. Nhưng bất ngờ là sau trận giông đó, ông Lê Thanh Hải, phó Tổng giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn cho biết chuyện này đã được biết trước và “cho cảnh báo nhưng thông tin không đến với người dân”. Một lần nữa, nhân dân vẫn là người có lỗi trong kiếp nạn của mình. Còn điều gì an nguy nữa cho cuộc sống con người và đất nước này mà “thông tin không đến với” người Việt Nam?

Ngày 14/6 tàu cá ở Quảng Nam, số 92642 bị một tàu hàng “lạ” cố tình đâm vào, khiến 1 người chết và 3 người bị thương. Tàu “lạ” đã sấn vào rất gần bờ Việt Nam, chỉ cách Đà Nẳng 40 hải lý. Đã rất gần rồi, kẻ “lạ”. Đây là lần thứ hai trong tuần, kẻ “lạ” tấn công người đi biển. Một lần nữa, ngư dân Việt lại lặng lẽ góp thêm những linh hồn khốn khổ vào mộ gió. Đã bao lâu rồi, những con người chết oan ức đó, kể cả những người lính bộ đội chết ở Gạc Ma bị từ chối đưa xác về quê nhà, đã tìm thấy lời giải về số phận của mình, của tổ quốc mình lúc này? Biển của người Việt không còn bình yên nữa. Cái chết rình rập hàng ngày khiến ngư dân phải đi rất xa để kiếm sống, trôi dạt đến tận đảo quốc Palau để rồi 77 người bị bắt, 4 thuyền bị đốt, người đi biển Việt Nam bị kết tội là “kẻ cắp”. Bài học rừng vàng biển bạc trong sách giáo khoa là kẻ nói láo, vì hôm nay người Việt không còn gì nữa.

Palau chỉ có 20.000 dân, không có chỉ số về tiềm lực quân sự, nhưng với kẻ bước đến bờ biển của mình, bất kể là ai, họ đều gọi đó là kẻ cướp. Ở Việt Nam, quốc gia có 90 triệu dân, tiềm lực quân sự đứng hàng 25 trên thế giới, với những kẻ bước qua ranh giới biển của mình, chúng được gọi là bạn hoặc kẻ lạ.

Nước mắt lại rơi âm thầm, bên cạnh thềm nhà Quốc hội Việt Nam sang trọng, nơi các ông bà đại biểu sôi nổi bàn chuyện con dâu và tài sản nhà chồng để nâng cấp Bộ luật Dân sự. Quốc hội biết lo lắng về quyền phụ nữ trong cuộc sống, nhưng nhanh quay lưng về phía nỗi đau của chính đồng loại mình, thua cả bầy trâu bò ở Châu Phi biết cùng nhau chống lại thú dữ trên đường đi.

Tuần lễ nước mắt ngập những nỗi đau của ông chú, bà dì, bạn trẻ, anh chị… gào khóc vì đội tuyển của mình thất bại – như bao lần thất bại hiển nhiên khác từ nhiều thập niên nay. Nước mắt ngập khán đài như một sân khấu, nhiều cổ động viên đã khóc và bày tỏ nỗi đau rất cụ thể cho ống kính ghi hình. Những giọt nước mắt đó cuốn trôi và làm chìm lấp cả những điều hệ trọng khác mà người Việt cần rơi nước mắt lúc này.

Một người bạn trẻ trên facebook đã ghi rằng “vì sao họ có thể đau khổ đến vậy vì lý tưởng bóng đá, nhưng khi tổ quốc tụt hậu trăm năm so với các quốc gia khác, nợ công tràn ngập đến thế hệ mai sau, nạn tham nhũng đang siết cổ người dân từng ngày – thì thật khó mà tìm được ai lên tiếng hoặc nhíu mày”.

Thật ra, quyền đau thương trong một trò chơi là quyền tự do của cá nhân. Nhưng khi một tập thể cá nhân đó cùng tập hợp đau thương cho một trò chơi và lãng quên những điều nhức nhối khác, thì tổ quốc chỉ còn là quảng trường của lễ hội trụy lạc không màng trách nhiệm. Những giọt nước mắt thụ hưởng rất hiện đại đó dường như không còn thiết dành cho số phận dân tộc mình, mà chỉ nhân danh, để phô diễn sự ích kỷ và nông cạn trong một thực tế thắng bại sòng phẳng, đã rõ.

Ước gì một phần nước mắt đó dành cho biển, cho tổ quốc, cho đồng bào mình.

Ước gì một phần những bạn trẻ thích bày tỏ tình yêu tổ quốc, mặc áo đỏ sao vàng xếp hàng chụp ảnh nghiêm và buồn trước biển, trịnh trọng “tổ quốc gọi chúng tôi sẳn sàng” biết rõ và gọi tên kẻ thù trước biển là ai, lúc này.

Ước gì các đại biểu Quốc hội không ngủ gật hay chơi game trong Ipad, dành thì giờ tìm hiểu tên người ngư dân bị giết chết mới nhất là gì, cũng có thể họ tìm ra đó là một đồng hương.

Ước gì có một tuần lễ nước mắt mà người Việt tìm nhau chia sẻ, xiết chặt tay, hơn chỉ là những giọt nước mắt âm thầm của những cá nhân thương xót cho tổ quốc mình trong giông bão vô tình.

Ai đã gây ra thảm cảnh này cho dân tộc tôi?

(15-06-2015)
Nhạc sĩ Tuấn Khanh’s blog

Edited by user Monday, July 6, 2015 2:44:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#1955 Posted : Saturday, July 11, 2015 5:27:38 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Sao Bộ Giáo Dục chẳng dám ‘hy sinh’?


Thursday, July 9, 2015 2:29:23 PM

Cao Huy Huân (VOA)

Cả tuần qua, báo chí tốn không biết bao nhiêu giấy mực để theo sát kỳ thi Trung Học Phổ Thông cấp quốc gia, một kỳ thi “2 trong 1,” vừa cho các thí sinh thi “tú tài,” vừa lấy đó là quy chuẩn để xét chuẩn đầu vào đại học cho các em. Nghe qua có vẻ chúng ta đang thực hiện một giải pháp rất “ưu việt,” nhưng xét về thực tế thì hình thức thi hiện nay dường như mắc phải tình trạng “nửa nạc nửa mỡ,” chưa có nhiều cơ sở chứng minh được hiệu quả trong dài hạn. Bản thân tôi không phải là một chuyên gia hay một người làm việc trong ngành giáo dục, càng không biết nhiều về các nghiên cứu định tính hay định lượng về giáo dục, đặc biệt là các kỳ thi.

Tuy nhiên, bằng vào những quan sát thực tế tại một số quốc gia và những gì thu nhặt được thông qua những bài báo tại các nước, tôi tin rằng ít nơi nào mà vấn đề thi cử lại “ồn ào” và gây nhiều tranh cãi như tại Việt Nam, dù chúng ta liên tục thay đổi và cải cách.

Hạn chế đầu tiên mà rất nhiều người phản ánh là việc ra quyết định tổ chức kỳ thi “2 trong 1” rất nhanh, khiến cận ngày thi mà nhiều thí sinh vẫn hoang mang bất chấp Bộ Giáo Dục tạo điều kiện cho các em thi thử với bộ đề thi minh họa. Tuy nhiên, đề án đưa ra và quyết định thi hành tương đối nhanh nên các em chưa có điều kiện cọ sát và thích nghi. Lẽ ra bộ nên tổ chức thí điểm tại một khu vực nhất định trước khi áp dụng một cách đại trà cho hàng triệu sĩ tử từ khắp mọi miền đất nước. Nếu kỳ thi có bất kỳ trục trặc gì ngoài dự tính thì có lẽ người hứng chịu nhiều thua thiệt nhất là thế hệ “chuột bạch” - các em thí sinh và cha mẹ các em.

Hạn chế thứ hai chính là việc chúng ta (dường như) vẫn quá tham lam, và Bộ Giáo Dục vẫn đang ôm đồm quá nhiều việc, trong khi những công việc lẽ ra đáng phải siết chặt thì bộ lại để trống. Tôi lấy ví dụ, công tác ban hành chính sách quy chuẩn đào tạo giảng viên - nhân tố then chốt của mọi nền giáo dục - lẽ ra phải được bộ thực hiện một cách sát sao. Quan trọng hơn, Bộ Giáo Dục phải ý thức được vấn đề đào tạo giáo viên mầm non, tiểu học là quan trọng nhất, nhưng tại Việt Nam thì đây lại là những khâu hạn chế nhất. Những câu chuyện về cách đánh giá học sinh tiểu học hay các vụ bê bối giáo viên mầm non hành hung trẻ em chỉ là những minh chứng bề nổi cho nhận định trên. Những “trang giấy trắng” - các em học sinh mầm non và tiểu học - trong nền giáo dục nhồi nhét kiến thức và tồn tại bạo lực học đường như hiện nay sẽ chỉ trở thành những cỗ máy giải toán để rồi mang về cho quốc gia những danh hiệu ở tuổi 15. Ðể rồi sau đó, các em bắt đầu đi vào lối mòn bởi thiếu tính sáng tạo và khả năng tự học, tự nghiên cứu. Ðiều đó khiến thứ hạng giáo dục PISA (toán học và khoa học) của Việt Nam luôn được thế giới ngưỡng mộ, nhưng từ khi ngày lập quốc đến nay chúng ta chẳng có một ai được đề cử giải Nobel toán học hay bất kỳ ngành khoa học nào.

Khi các em đến tuổi đại học, cơ quan quản lý giáo dục tiếp tục nhập nhằng, chưa dám từ bỏ kỳ thi đại học, cũng không bỏ kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Áp lực từ dư luận vì các em học sinh phải học quá nhiều, vác trên vai chiếc cặp quá nặng và trải qua những kỳ thi căng não đã đẩy bộ đến quyết định “gộp” hai kỳ thi, vốn có tính chất khác nhau và mục đích khác nhau, thành một kỳ thi chung tầm cỡ quốc gia. Thi tốt nghiệp, hay tú tài, là để xác định trình độ kiến thức cơ bản tương ứng với một số định hướng học tập (nghiên cứu hoặc học nghề hoặc làm một số ngành nghề tương ứng với trình độ); trong khi tuyển sinh đại học cần chọn ra những em học sinh có đam mê học cao hơn với năng lực phù hợp (chứ không phải chỉ các em giỏi toán, lý, hóa hay một môn nào nhất định).

Những năm trước, đề thi tốt nghiệp dễ thở, học sinh trung bình vẫn có thể đậu tốt nghiệp. Trong khi đề thi đại học lại mang tính chọn lọc cao hơn hẳn. Năm nay gộp cả hai, thí sinh làm bài ra với kết quả tốt hay chưa tốt đều lo. Như buổi sáng thi xong toán, ai nếu đều gật gù đề dễ, các em lo lắng “đề thế này chắc chủ yếu cho các em đậu tốt nghiệp, sắp tới điểm chuẩn đại học chắc sẽ trên trời, nên không biết nên nộp vào trường nào cho an toàn, vì ai nấy điều phải biết điểm mới nộp chọn trường đại học.” Còn buổi chiều, các em làm đề tiếng Anh lại than đề dài lại khó, nhiều em lắc đầu “đề này chắc rớt tốt nghiệp, đừng nói gì tới việc nộp vào trường đại học.” Rõ ràng tính chất hai kỳ thi quá khác nhau, nên không thể ra đề dễ như đề tốt nghiệp phổ thông các năm, càng không thể ra khó như những năm thi tuyển sinh đại học. Các bậc phụ huynh ngồi chờ con giữa nắng trời gay gắt và khổ sở, nhưng cũng chỉ biết động viên con “ba mẹ luôn bên cạnh con,” chứ nhìn vào cách tuyển sinh năm nay quả thật vô cùng ngán ngẫm và xót xa cho một thế hệ “chuột bạch.”

Tôi nhấn mạnh chữ “ôm đồm” của các vị ở Bộ Giáo Dục chính là vì thế. Lẽ ra kỳ thi tốt nghiệp có thể giữ, nhưng việc tổ chức thi tuyển sinh đại học, các vị phải mạnh dạn bỏ đi. Ngoại trừ một số ngành đặc thù như y dược, luật sư hay giáo viên, đa phần các ngành còn lại bộ đừng quan tâm đến cách tuyển chọn đầu vào mà hãy để cho các trường tự lập như những năm trước kỳ thi chung của bộ đề ra. Triết lý rất đơn giản “ai cũng muốn chọn thí sinh phù hợp nhất để dễ đào tạo và đạt hiệu quả cao, tạo uy tín và lợi nhuận cho trường.” Cái cốt yếu mà bộ cần ra sức quản lý là số lượng các trường đại học, cao đẳng và chất lượng của các trường. Vì đây mới là nhân tố quyết định đầu ra cho nguồn lao động sau đào tạo - và cũng là cái đích quan trọng của ngành giáo dục.

Ðơn giản thôi, bộ sẽ phải thắt chặt tiêu chuẩn của các trường đại học và cao đẳng, bao gồm: số lượng và chất lượng giảng viên; số lượng và chất lượng cơ sở hạ tầng, thiết bị cung cấp hỗ trợ việc đào tạo; chương trình đào tạo; cam kết chuẩn đầu ra và có những phương tiện đo lường cụ thể... Từ đó bộ quy định trường được đào tạo tương ứng bao nhiêu sinh viên để đảm bảo chất lượng, nếu trường nào không đạt cam kết thì xử lý, thậm chí dừng tuyển sinh hoặc giảm chỉ tiêu tuyển sinh... Cơ chế sàn lọc này sẽ chỉ để các trường thật sự có trách nhiệm, năng lực có thể tồn tại và phát triển, và bộ sẽ càng nhẹ gánh hơn rất nhiều vì chỉ cần siết tiêu chuẩn chất lượng của trường đầu vào và siết chặt kiểm soát chuẩn đầu ra của các sinh viên theo cam kết.

Chức năng đánh giá chuẩn đầu ra không hề đơn giản, mà hiện nay Việt Nam thiếu hẳn cơ chế này. Xin thưa, hàng ngàn cử nhân cầm bằng rồi thất nghiệp chính là tác hại của việc Bộ Giáo Dục ôm đồm các kỳ thi đầu vào, bỏ hẳn khâu đánh giá chuẩn đầu ra; họa chăng là có đánh giá theo bộ tiêu chuẩn trên giấy, còn thực tế bộ không đủ sức đánh giá hàng trăm ngành nghề khác nhau. Việc đánh giá phải do hiệp hội nhà nghề, gồm những người “biết làm việc và đánh giá được năng lực sinh viên mới ra trường, tương lai em trong ngắn và dài hạn.” Bộ Giáo Dục nhà mình chẳng “quan tâm” đến đối tượng này, nên chẳng ai cung cấp cho bộ chỉ tiêu nhân công mà xã hội cần, chất lượng tương ứng, quy chuẩn về đào tạo... Thế nên, giáo dục đại học lâu nay vẫn cứ “giỏi” đầu vào nhưng chột đầu ra, chẳng trách tấm bằng học suốt bốn năm rẻ như... tấm giấy.

Mô hình tôi vừa nêu vốn đã được nhiều quốc gia nghiên cứu và thực hiện, nhưng Việt Nam vẫn mãi chỉ ôm đồm các kỳ thi. Phải chăng tiêu cực trong ngành giáo dục, đặc biệt trong tuyển sinh đại học, đã khiến những người làm chính sách bị ám ảnh đến nỗi chẳng dám để các trường tự chủ tuyển đầu vào? Hay đơn thuần Bộ Giáo Dục không muốn “hy sinh” những công việc thi cử vốn đã quen tay quen chân với những người làm giáo dục?
UserPostedImage
phamlang  
#1956 Posted : Saturday, July 11, 2015 9:15:26 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tại sao Hà Nội phải ra lệnh cấm nói tục

Văn Quang - Viết từ Saigon


UserPostedImage


Trong tuần cuối tháng 6 vừa qua, tất cả các phương tiện thông tin ở VN, từ báo lớn đến báo nhỏ, từ báo mạng đến báo in, từ các trang mạng cá nhân cũng như đoàn thể đang sôi sục bàn tán đến chuyện Hà Nội cấm nói tục. Vấn đề đáng suy nghĩ ở đây là tại sao tất cả các tỉnh thành khác không có chuyện các cơ quan công quyền và cơ quan chuyên môn như các sở Thể Thao Văn Hóa phải quan tâm đến vấn đề này. Thế ra chỉ có “thủ đô yêu quý” Hà Nội nói tục thôi sao? Mời bạn đọc cùng tìm hiểu câu trả lời.
Hà Nội xưa nay vốn nổi tiếng là “đất Thăng Long ngàn năm văn vật”, trai thanh gái lịch không đâu bằng. Ấy thế mà bỗng dưng nó trở thành nơi nói tục nhất nước.

Theo bản “nghiên cứu” của nhiều tờ báo như VNNet 26-6-2015, Báo Đất Việt 25-6-2015… thì:
“Từ công sở, trường học đến hàng quán, bến xe, ngõ hẻm, đâu đâu cũng thấy nói tục, chửi bậy. Nhiều người còn coi đó như một thói quen, không nói là thấy… thiếu thiếu”.
Tình trạng “chửi bậy như hát hay” đang ngày càng lan rộng tại khắp các môi trường. Bởi vậy nên Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) TP Hà Nội mới có văn bản “xử lý người nói tục”
Hà Nội xử lý người nói tục nơi công cộng

Theo báo Hà Nội Mới ngày 17-6-2015 đã đưa tin:

“Trước phản ánh về tình trạng một số bạn trẻ, nghệ sĩ nói thô tục nơi công cộng, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Lê Hồng Sơn giao đơn vị liên quan có biện pháp xử lý cụ thể, nhằm hạn chế cao nhất những hành vi thiếu văn hóa trong nhà trường và ngoài xã hội. Việc thành phố ra văn bản nêu trên xuất phát từ nội dung phản ánh tình trạng một bộ phận các bạn trẻ là học sinh, những ca sĩ, người dẫn chương trình… có những lời nói thô tục, ứng xử không văn hóa nơi công cộng, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của thành phố.

Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Lê Hồng Sơn giao Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND quận, huyện, thị xã kiểm tra, xem xét, có biện pháp xử lý cụ thể, nhằm hạn chế cao nhất những hành vi thiếu văn hóa trong nhà trường và ngoài xã hội.

Trước đó, giữa năm 2014, UBND TP Hà Nội ban hành Quy chế thực hiện Kỷ cương hành chính và Văn hóa công sở tại Văn phòng UBND thành phố. Mục đích của việc ban hành quy chế trên nhằm hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đặc biệt nội dung quy chế yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức trong giao tiếp, ứng xử phải có thái độ lịch sự, tôn trọng, trung thực, thân thiện, hợp tác với đồng nghiệp. Ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc và không nói tục, dùng tiếng lóng, quát nạt.

Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc”.
Quy chế đã ban hành cả năm rồi, nhưng mãi đến nay tình trạng này ngày càng trở nên nhức nhối như cái nhọt ung thư của xã hội đang chảy mủ, đó thật sự là sự xuống dốc thê thảm của văn hóa thủ đô, bộ mặt của cả nước.

Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu xem cái ung nhọt đó hình thành từ bao giờ?

Tình trạng chủi tục nói bậy bắt đầu từ sau năm 1975

Tôi chứng minh điều này qua nhận định của một nhân vật là dân Hà Nội chính cống. Đó là ông Nguyễn Ngọc Tiến – ông này cũng là một nhà văn của Hà Nội ngày nay. Ông nói:
“Tôi đã sống, trải qua quãng thời gian dài ở Hà Nội và có thể khẳng định chắc chắn, những thập niên 1960, 1970 thanh niên ra đường ăn nói rất lịch sự, đàng hoàng, không có tình trạng những từ tục tĩu tràn lan trong xã hội.

Tuy nhiên, bây giờ Hà Nội không chỉ là những người sinh ra, lớn lên ở Hà Nội mà tập hợp những người đến từ rất nhiều nơi. Tôi nhận thấy sự thay đổi trong cách ứng xử, giao tiếp của những người sống ở Hà Nội bắt đầu diễn ra từ thập niên 1980 và kéo dài đến bây giờ. Tình trạng văng tục cũng nhiều hơn trước kia”.

Và ông nhà văn Hà Nội này lý giải: “Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, bắt nguồn từ xã hội, gia đình, nhà trường. Từ thập niên 1980, bắt đầu có sự thay đổi lớn trong quan niệm của mỗi cá nhân. Người ta thấy mình được tự do ăn nói hơn mà không bị ràng buộc bởi nhiều nề nếp.

Nhà trường thì quan tâm đến điểm số, học sinh giỏi, học sinh tiên tiến nhiều hơn việc giáo dục cách ứng xử cho các em. Trong mỗi gia đình, việc mưu sinh chiếm ngày càng nhiều thời gian, gánh nặng, nên chuyện dạy dỗ con cái cũng bị hạn chế phần nào.

Nhưng còn một nguyên nhân nữa đó là việc giáo dục cộng đồng hiện đang bị mất dần. Ngày xưa, nếu người lớn ra đường thấy trẻ con nói tục, chửi bậy có thể nhắc nhở, thậm chí trách mắng chúng, cho dù đó là những đứa trẻ xa lạ. Và những đứa trẻ ấy chỉ còn cách nhận lỗi chứ không dám cãi lại, dù đó là người lớn chưa quen biết.

Nhưng bây giờ, sự giáo dục của người lớn với con trẻ trong cộng đồng không còn nữa. Nếu người lớn xa lạ thấy trẻ con văng tục mà nhắc nhở thì rất dễ gặp phải sự phản ứng tiêu cực của chúng.
Nên những người lớn tuổi cũng không mấy ai nhắc nhở con trẻ những chuyện đó ở nơi công cộng nữa. Vì thế, trong cách ứng xử đã mất đi một kênh giáo dục cộng đồng có hiệu quả. Hay nói cách khác, người lớn đang tạo cơ hội hơn cho con trẻ nói tục, chửi bậy.

Cũng cần nói thêm, ngày trước trong nếp sống của người Hà Nội, rất nhiều cá nhân có lòng tự trọng, biết xấu hổ, rất nhiều gia đình có gia phong, nề nếp và họ cảm thấy xấu hổ trước đám đông nếu nói ra những từ tục tĩu trước mặt người khác.

Nhưng bây giờ, lòng tự trọng của các cá nhân mất đi quá nhiều, nên họ sẵn sàng văng tục, chửi bậy mà không cảm thấy xấu hổ”.

Có một nguyên nhân chính ông Nguyễn Ngọc Tiến quên chưa nói là tại sao lòng tự trọng mất đi? Bởi một xã hội sống giả dối quá nhiều, bởi đồng tiền đã trở thành “vua” của lý tưởng sống. Các thứ đạo đức, gia phong, nền nếp đã trở thành “đồ cổ”, anh nào xài tới là lạc hậu, là đói nhăn răng. Cứ thế mài mòn hết nhân cách con người, còn trơ lại cái vỏ ngoài cố làm ra vẻ sang trọng nhưng rỗng tuếch.

Chửi tục ngay từ khi còn mới cắp sách đi học

Không khó để có thể bắt gặp hình ảnh những cô cậu học sinh cấp 2, cấp 3 còn mặc đồng phục tụm ba tụm bảy buông những từ ngữ tục tĩu chốn công cộng. Nhưng điều đáng báo động là “căn bệnh” này đã “lây” lan sang ra cả học sinh tiểu học.
Chị Vân, một chủ quán internet trên Quốc lộ 32 (Hà Nội) cho biết, cứ đến giờ tan học là nhiều học sinh cấp 2, cấp 3 kéo nhau vào quán. Và vừa chơi, các “ông trời” này vừa liên mồm chửi bậy.

Thậm chí, trên một số mạng xã hội, các em còn lập hẳn hội “thích nói tục, chửi thề” để vào đó cùng phô diễn “tài nghệ” nói tục. Nhiều em còn lôi thầy cô, cha mẹ ra chửi. Kinh khủng nhất khi ông bố dạy thằng con trai không được nói tục, thằng con trả lời tỉnh queo: “ông nội còn nói tục hơn cơ bố ạ”. Ngay cả đến một số “sao của làng giải trí” cũng chửi tục. Tiêu biểu là người mẫu Nguyễn Thùy Trang (tên nghề là Trang Trần) vừa bị truy tố vì đi xe ngược chiều bị cảnh sát đưa về trụ sở công an quận Hoàn kiếm nhưng vẫn tiếp tục chửi bới luôn cả cảnh sát.

Hai “thánh chửi” Hà Nội vẫn sống nhăn

Từ rất lâu rồi tôi đã nghe danh mấy cái quán ăn ở Hà Nội gọi là “bún mắng, cháo chửi”. Nói cho rõ là vào ăn bún thì bị bà chủ mắng xa xả, vào ăn cháo thì bị bà chủ chửi mỗi khi đòi thêm tí hành tí ớt… “Danh tiếng” của hai thánh chửi này đã vang rền trên khắp các trang báo, cả nước đều biết, có lẽ các bạn ở nước ngoài cũng biết.

UserPostedImage

Quán “bún mắng” nổi tiếng tại phố Ngô Sĩ Liên- Hà Nội.

Chủ quán bún ở Ngô Sỹ Liên và quán cháo gà ở Lý Quốc Sư là hai “thánh chửi trứ danh” ở Hà Nội.
– Vào quán bún mắng ăn gì?

Nằm tại số 41 Ngô Sĩ Liên (Văn Miếu – Đống Đa – Hà Nội) quán bún dọc mùng giò – lưỡi heo, quán này do bà Hán Kim Thảo (60 tuổi) làm chủ được nhiều người gọi là “quán bún mắng”.
Theo lời kể từ chính những nhân viên trong quán, khoảng thời gian 12 giờ trưa là lúc bà Thảo sẽ nổi cơn lôi đình với khách – và khi đó các thượng đế sẽ ăn đủ các thứ ngôn từ phát ra từ miệng bà chủ quán. Nhẹ nhàng nhất cũng là: “Ăn bún gì, tìm chỗ ngồi đi, ăn xong rồi thì biến… Nói gì nói lắm thế, không ăn thì biến, bà cô, ông hoàng, không bán…”

UserPostedImage
Quán “cháo chửi” tại phố Lý Quốc Sư Hà Nội

– Vào quán cháo chửi

Quán cháo bà Mỹ tại phố Lý Quốc Sư (Hoàn Kiếm – Hà Nội) cũng được mang danh là “cháo chửi”. Bà Vũ Kim Ngọc (61 tuổi) hiện là chủ của quán. Biệt danh đó bắt nguồn từ nhiều năm trước khi mẹ bà là cụ Mỹ (79 tuổi) còn đứng quán. Vì quá đông khách nên bà Mỹ sinh bực tức. Còn bây giờ bà Ngọc thanh minh: “Tính tôi sớm nắng chiều mưa tối bão, nên những lúc nóng giận thì có quát tháo, mắng chửi khách hàng. Làm nghề này không khác gì làm dâu trăm họ nên hầu như việc chế biến để hợp miệng khách tôi phải tự tay làm hết. Mỗi ngày quán tiếp cả trăm lượt khách ra vào, có lúc bực tức trong người nên nói hơi nặng lời. Đó là tính cách của tôi rồi nhưng bụng dạ không có ý gì cả”.

Khách hàng vẫn thản nhiên

Dù đã có nhiều bài viết nêu rõ về thái độ phục vụ cũng như phê phán thói quen mắng chửi khách thậm tệ của chủ quán nhưng quán vẫn nườm nượp khách. Dường như vì “quen bị chửi mắng” nên nhiều người cảm thấy bình thường, vẫn cười đùa và ăn ngon lành. Quả thật tôi không thể hiểu được thái độ này. Thực khách coi miếng ăn to hơn cả thể diện của chính mình. Nếu tất cả cùng tẩy chay cả hai quán “thánh chửi” này chắc chắn sẽ có tác dụng ngay. Nhưng họ… không dám rời xa một món ăn ngon dù bị chửi vào mặt. Đó là thứ văn hóa gì?!

Nhưng làm thế nào để “xử lý” người nói tục lại là chuyện không dễ dàng, lời nói gió bay, không bằng không cớ, không luật, làm sao mà xử và xử như thế nào? Phạt tiền, phạt tù hay phạt… cảnh cáo? Quá khó. Như thế Hà Nội sẽ còn nói tục dài dài!

Đến đây tối thấy cần phải xin lỗi một số ít người Hà Nội không nói tục, còn giữ được chút nền nếp gia phong của người dân Việt.
Văn Quang
03/07/2015

Edited by user Saturday, July 11, 2015 9:18:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#1957 Posted : Tuesday, July 14, 2015 2:08:48 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

Edited by user Tuesday, July 14, 2015 2:11:07 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#1958 Posted : Sunday, July 19, 2015 5:46:13 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

PHÓNG SỰ (ngắn): Đại nhạc hội Cám Ơn Anh kỳ 9 (2015) tại San Jose


http://www.sbtn.tv/vi/ph...h-ky-9-tai-san-jose.html



UserPostedImage
Duy An  
#1959 Posted : Friday, August 7, 2015 5:23:22 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Góc nhìn từ... người lính cũ: Hồi tưởng bạn tù



Monday, August 3, 2015 11:38:11 AM

Quốc Bảo
(SÐ18BB/QLVNCH)


Vào một ngày “cải tạo lao động,” với tình trạng thiếu ăn, với cái rét căm căm dưới cơn mưa tưởng chừng như không bao giờ dứt của miền Bắc Việt, thêm vào căn bệnh phù thũng trong người, ý tưởng duy nhất lúc còn đang bị tù đày vào năm 1977 của tôi là thà tự tử chết phứt đi cho rồi, đừng để Cộng Sản hành hạ thân xác và tinh thần một cách thê thảm như thế nầy.

Ngước nhìn lên trời mây u ám, tay cầm con dao chặt nứa khá bén, tôi sắp sẵn sàng hành động liều lĩnh, nhưng đúng vào lúc đó, một ý tưởng khác bổng xuất hiện trong đầu.

Tôi tự hỏi tại sao tôi phải tự tử? Nếu chết vào lúc nầy có nghĩa là thua cuộc, đúng với ý muốn của cộng sản. Mình phải chịu đắng nuốt cay, cố gắng sống, “chống mắt lên” để có một ngày nào đó chứng kiến chế độ Cộng Sản sụp đổ tan tành.

Cũng ngay sau đó, tôi nghe có tiếng người đi đến phía sau lưng. Quay người lại, tôi thấy anh Ðỗ Văn Nhỉ, thân thể rắn chắc, động tác nhanh nhẹn, đang vác một khúc gỗ to, đi tới. Tưởng như nằm mơ, thật không ngờ còn gặp lại anh Nhỉ tại miền Bắc rừng sâu nước độc, sau khi chia tay.

Cả hai chúng tôi đều sửng sốt một hồi lâu và sau đó hỏi thăm vắn tắt về những tin tức của đơn vị Sư đoàn 18 Bộ Binh QLVNCH, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Anh Nhỉ cho biết lúc Bộ Tham Mưu Hành Quân chia tay ở cư xá Thanh Ða, anh đi theo Hằng Minh, anh mang theo một cặp táp trong đó còn khoảng một triệu đồng VNCH. Sau đó, tôi còn nhớ lời anh nói là Hằng Minh đã hai lần cầm khẩu Colt 45 ly, để vào màng tang mình định bóp cò. Nhưng lúc đó mẫu thân của Hằng Minh cũng đã hai lần vừa kéo tay cầm súng của Hằng Minh và vừa khóc xin đừng làm như thế vì bà đã cao tuổi.

Tuy đã gặp Hằng Minh hai lần sau 30 năm xa cách, nhưng tôi vẫn chưa dám đề cập về sự việc nầy.

Về phần anh Nhỉ, anh luôn luôn giúp đỡ các anh em cùng chung cảnh ngộ, kể cả cung cấp thuốc men mặc dù thuốc tây rất hiếm có. Ðôi lúc anh còn ra sức khiêng phụ gỗ, các bó nứa giúp cho những anh em yếu sức. Tôi thực sự đâu có ngờ anh đã vĩnh viễn nằm xuống ở trại cải tạo miền Bắc trong khoảng thời gian “Trung Cộng dạy cho Cộng Sản Việt Nam một bài học” để làm quà đón tiếp Tổng Thống Nixon.

Cho đến khoảng năm 1980 tôi mới hay tin anh Nhỉ mất, do một người bạn cùng ở chung trại với anh cho biết. Anh bạn tên Nhung (T.V.) kể lại như sau:

Cán bộ ban hậu cần của trại có gọi anh Ðỗ Văn Nhỉ (Ðại Úy Chánh Văn Phòng, Bộ Tư Lệnh SÐ18BB) và anh Lương Lê Ðồng (Ðại Úy Tiếp Liệu binh chủng Nhảy Dù) lên ban hậu cần để nấu tiệc ăn cho cán bộ trại vào bữa trưa. Sau đó cán bộ trại có “bồi dưỡng” hai anh ăn ngay tại ban hậu cần. Ðến khoảng nửa đêm hôm đó, cả hai đều rên la, ôm bụng oằn oại. Một lúc sau, hai anh ói ra toàn là máu. Các anh em ở gần bên thấy máu xuất hiện ở mắt, tai, mũi và miệng. Chẳng bao lâu sau đó hai anh tắt thở. Dựa vào sự kiện đó, anh bạn cho biết có lẽ bọn Cộng Sản đã lén bỏ thuốc độc vào thức ăn và mời hai anh ăn để ám hại.

Trong khoảng thời gian đó, tôi đã được chuyển trại về miền Trung, nên không hay biết tin nầy.

Sau khi được thả về, một hôm có một bà cụ đến thăm tôi và cụ bà cho biết bà là mẹ của anh Nhỉ, từ Long An đến Sài Gòn để muốn biết tin tức về Nhỉ khi còn sanh tiền. Tôi rơi nước mắt khi nghỉ đến tình cảnh của cụ bà, nên tôi kể lại về những hành động rất hào hiệp của anh Nhỉ, đã tận tình giúp đỡ các anh em bạn tù và thường chia sẻ thuốc men hoặc kem đánh răng với anh em.

Trước khi ra về, bà còn cho biết vợ con Nhỉ sẽ vượt biển và sở dĩ bà biết địa chỉ nhà tôi là do anh Nhung đã gởi thơ báo cho bà. Tôi an ủi cụ bà vì tuy anh Nhỉ đã qua đời nhưng dù sao anh Nhỉ cũng đã thể hiện đúng lòng nhân ái trong cơn hoạn nạn khốn khổ chung của các bạn tù bị Cộng Sản đày đọa.
UserPostedImage
Duy An  
#1960 Posted : Tuesday, August 11, 2015 1:01:42 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,265

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage



Nguyễn Bắc Sơn và nỗi kiêu mạn của tuổi trẻ thời chiến



Trần Hoài Thư

Có lẽ so với Cao Bá Quát, cái cao ngạo của Nguyễn Đức Sơn còn trội hơn một bậc. Xin đọc lá thư gởi vợ viết từ nhà lao tỉnh Bảo Lộc ngày 25 tháng 8 năm 1972, được dùng làm tựa trong thi phẩm Du Sỹ Ca, mới thấy cái mức độ cao ngạo này:

“Anh tin rằng tất cả những đứa làm thơ từ đây trở về sau đã vang danh thi sỹ từ bao kiếp trước nếu không đọc thuộc lòng ít nhiều bài Du Sỹ Ca này đều chẳng phải là thi sỹ nữa… (Du Sỹ Ca – An Tiêm xuất bản)..

Nhưng có một người thơ khác, cũng kiêu ngạo không kém.

Người ấy là Nguyễn Bắc Sơn. Trong một lá thư gởi đi từ Phan Thiết đăng trên tạp chí văn nghệ “Sóng” do những người viết trẻ chủ trương, và chỉ sống được vài số, ông xem những người đàn anh mà ông cho là những lý thuyết gia khuyến hành ngây thơ, những kẻ chưa giác ngộ về mục đích đời sống.

Ông viết:

“Khi anh chưa biết “Sống để làm gì”, anh không thể khuyên bảo người khác nên sống như thế này hay nên sống như thế kia, nên tranh đấu cho lý tưởng này hay tranh đấu cho lý tưởng kia.

Các bậc đàn anh tôi kể tên (Kim Định, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn) giống như những kẻ chỉ đường sốt sắng trong câu chuyện sau đây:

Có một người khách lạ đi ngang qua một thị trấn. Trong thị trấn ấy có ba người sốt sắng. Ba anh chàng này chặn ông khách lại. Anh chàng thứ nhất bảo ông khách: “anh nên đi đường này”, trong khi anh chàng thứ hai bảo: “không, đi đường kia mới đúng”. Nhưng anh chàng thứ ba lại bảo con đường anh ta chỉ cho ông khách mới thật là “con đường đúng nhất”. Ba người thi nhau vẽ bản đồ tỉ mỉ trình bày con đường mình đề nghị cho đến khi ông khách chậm rãi hỏi: “Các anh có biết tôi định đi đến đâu không mà các anh sốt sắng chỉ đường thế?”

Và chắc chắn cũng có rất nhiều người khác nữa như Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn. Không phải họ theo cái mốt thời thượng như buồn nôn, nổi lọan, hay tuổi trẻ phản kháng… Đừng buộc tội họ như vậy, trong khi tuổi trẻ của họ như thế này:

“…Bức thư đến đây tưởng có thể chấm dứt được nhưng tự nhiên tôi thấy hứng thú mời anh rời bỏ thế giới tư tưởng để đi vào cõi thế giới thi ca. Vì anh cũng là một kẻ làm thơ. Tôi muốn đọc những bài thơ tôi viết sau những giờ thiền định. Tôi cũng sẽ kể cho anh nghe một vài quãng đời của một người tuổi trẻ tại thành phố Phan Thiết trong đó y đã say mê tình yêu, say mê bạo động, say mê thi ca, say mê triết học, say mê câu cá. Y đã từng mang theo chiếc lưỡi lam leo lên ngọn đồi nghĩa địa để cắt đứt mạch máu vì triết lý. Y đã từng đọc sách cả tháng không bước ra khỏi nhà. Y đã từng bán”sôn” tất cả sách quí để say sưa cùng bằng hữu. Y đã đi làm thông dịch viên Lực Lượng Đặc Biệt đến nhìn tận mắt chiến tranh Việt Nam. Y đã thiền định. Y đã ăn gạo lức muối mè…” (Thư Nguyễn Bắc Sơn gởi Nhất Hạnh, tạp chí Sóng, năm 1972, trang 38-39)

Xét cho cùng, chúng ta cũng nên thông cảm ở nỗi bất mãn của họ. Khi mà chiến tranh cận kề, khi mà miệng lưỡi họ câm, khi “phần chết thì dành cho thanh niên còn phần sống thì dành cho những ngài hàn lâm áo thụng”, khi mà văn học chỉ được nhắc nhở ở SG, qua những chiếu trên chiếu dưới, thì dĩ nhiên, tiếng kêu cần phải thoát ra cổ họng, phải tuôn trên giấy, cho dù tiếng kêu của loài ễnh ương đi nữa.

Có thể những nỗi kiêu mạn này gây dị ứng cho một số người. Tuy nhiên, chúng là phản ảnh những suy nghĩ thầm kín nhất của một thế hệ bị thiệt thòi về mọi phương diện trong chiến tranh và ngay cả sau khi hết chiến tranh. Chúng cũng phản ánh một nền văn học tự do “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét…” trái ngược với văn học miền Bắc, giả dối, tuyên truyền, một chiều, dựa và đơn đặt hàng, triệt tiêu cảm xúc.


UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (9)
102 Pages«<96979899100>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.