Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages«<7891011>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hungholland  
#161 Posted : Thursday, May 26, 2011 11:52:01 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn II : Đi Lễ Thanh Minh Gặp Mộ Đạm Tiên

Tóm tắt nội dung : Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh , khi đi qua mộ Đạm Tiên , một "nấm đất bên đường" (tức mộ không có thân nhân), Kiều đã khóc thương và không khỏi cảm thấy ái ngại cho một "kiếp hồng nhan" "nổi danh tài sắc một thì" mà giờ đây "hương khói vắng tanh". Vốn là một con người giàu tình cảm và tinh tế nên Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của mình và của những người phụ nữ nói chung:
"Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"
----o0o----


"Ngày xuân con én đưa thoi,
40.. Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.
45.. Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
50.. Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
55.. Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: Sao trong tiết thanh minh,
60.. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?
Vương Quan mới dẫn gần xa:
Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.
65.. Kiếp hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
70.. Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ.
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên ấy là mình với ta.
75.. Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm xanh nếp tử xe châu,
Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn ác tà,
80.. ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.
Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85.. Phũ phàng chi bấy hoá công,
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.
Sống làm vợ khắp người ta,
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
Nào người phượng chạ loan chung,
90.. Nào người tích lục tham hồng là ai ?
đã không kẻ đoái người hoài,
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho.
95.. Lầm rầm khấn khứa nhỏ to,
Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra.
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau.
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
100.. Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.
105.. Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.
Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu ?
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
110.. Thấy người nằm đó biết sau thế nào ?
Quan rằng: Chị nói hay sao,
Một lời là một vận vào khó nghe.
ở đây âm khí nặng nề,
Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa.
115.. Kiều rằng: Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách, còn là tinh anh,
Dễ hay tình lại gặp tình,
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.
Một lời nói chửa kịp thưa,
120..Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay.
ào ào đổ lộc rung cây,
ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành.
125.. Mắt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa.
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển mới là chị em.
Đã lòng hiển hiện cho xem,. Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời.
130..Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi."

( Còn tiếp )

* Giải nghĩa :

39. Con én đưa thoi: Chim én bay đi bay lại như chiếc thoi đưa.

40. Thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang tháng ba.

43. Thanh minh: Là tiết đầu của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba.

44. Tảo mộ: Quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.

Đạp thanh: Dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, dẫm lên cỏ xanh ngoài đồng, do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp thanh.

45. Yến anh: Chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh những đoàn người rộng ràng đi chơi xuân.

48. Ngựa đi như nước: Ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác.

áo quần như nêm: ý nói người đông đúc, chen chúc.

49. Ngổn ngang gò đống kéo lên: Những đoàn người ngổn ngang kéo nhau lên nơi gò đống.

50. Vàng - vó: Một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ hội.

53. Tiểu khê: Ngòi nước nhỏ.

62. Ca nhi: Con hát.

65. Hồng nhan: Má hồng, chỉ người đẹp.

66. Cành thiên hương: Cành hoa thơm của trời, ví với người đẹp.

70. Trâm gãy bình rơi: ý nói người đẹp đã chết.

72. Dấu xe ngựa: Dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời trước đấy.

74. Bấy: Biết bao nhiêu.

77. Nếp tử, xe châu: Quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. ý nói người khách mua quan tài và thuê xe tang chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.

78. Bụi hồng: do chữ hồng trần, nghiã là đám bụi đỏ.

Đây muốn ám chỉ nấm mộ nằm bên đường, một nấm mồ lưu lại trong cõi trần gió bụi.

79. Thỏ bạc, ác vàng: Người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giã thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.

82. Châu: Hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.

85. Hoá công: Thợ tạo hoá, tức là trời.

86. Phượng: Chim phượng trống. LoanI: Chim phượng mái. Trong văn cổ, loan phương dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. ở đây chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm tiên, ngày trước.

90. Tiếc lục tham hồng: ý nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai nhân.

94. Suối vàng: Do chữ Hoàng tuyền ở dưới đất có mạch suối, mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.

97. áy: Vàng úa.

112. Vận vào: ý nói lời nào cũng như ám chỉ vào mình.

113. Âm khí: Cái khí cõi âm, cõi chết, ở đây chỉ không khí bãi tha ma.

116. Thể: Thể xác (hữu hình). Phách: Chỉ những cái gì vô hình chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.

118. Hiển linh: Tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.

126. Tinh thành: Lòng thành thuần khiết, lòng chí thành.

128. U hiển: U là tối, chỉ cõi chết. Hiển là sáng rõ, chỉ cõi sống. ý nói: chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cõi âm , người cõi dương.

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 2:15:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#162 Posted : Thursday, May 26, 2011 3:19:21 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Cơn Mưa Nhỏ & Vùng Gió Lộng

Anh lạc lối đi vào cơn mưa nhỏ
Đường quanh co, chim dấu mỏ bên đường
Lời tự tình đẫm ướt những hạt sương
Xin mưa nhỏ, để vòng ôm trọn vẹn

Anh mê đắm đi cùng cơn mưa nhỏ
Mưa dịu dàng như biết tỏ lòng anh
Ta yêu nhau như những chiếc lá xanh
Xin mưa nhỏ đừng bao giờ quang tạnh

Em đắm đuối lạc vào vùng gió lộng
Phải tình yêu? Ôi giấc mộng nghê thường.
Gió thổi xoáy, chân bước dường không vững
Hồn bay cao xin gió mãi đừng ngừng

Em thích thú đợi từng cơn gió lộng
Buổi chiều hoang nghe rung động tâm hồn
Gió ơi hãy đến cùng cơn mưa nhỏ
Để tình yêu được mở ngỏ lên ngôi.

UN

thunder  
#163 Posted : Thursday, May 26, 2011 10:53:35 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
HUẾ, MỘT ĐÊM MƯA


Một vũng nước trong mười dòng nước đục
Một trăm người tục một chục người thanh
Biết ai gan ruột với mình
Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân
(Trích một câu hò Huế)


Mưa rả rích trên sân. Ngày trước lâu lắm rồi, nó là một cái sân đất nện. Bây giờ, em gái tôi cho lót gạch, nên tiếng mưa ngoài hiên có những âm thanh lạ. Mà nhịp điệu cũng khác. Không còn những tiếng trong trẻo trên những vũng nước con con, khi khoan thai, lúc dồn dập. Nhưng mà tiếng những giọt nước rơi đều trên những tàu lá chuối bên hè thì nghe vẫn là những âm thanh ngày cũ. Ngày thơ ấu, ngày còn cấp sách đến trường, ngày ghé thăm cố quận sau những năm đem cái say sưa, cái hăm hở khi mới bước vào cuộc sống mà đổ vào những chốn khác đầy ánh sáng của tương lai, mà xây dựng cho nhiều thứ nay cũng đã đổ nát ngay chính trong lòng mình...cho đến ngày về đêm nay, gối mái tóc bạc lên kỷ niệm mà nghe mưa. Buồn.

Đâu đây trong gian nhà trống trải này tôi còn nghe được giọng ru em khàn khàn của người vú già đã từng ấm, từng lạnh với gia đình tôi qua ba thế hệ, ba thế hệ nổi chìm theo lớp sóng phế hưng bên ngoài bốn bức tường này... à ơi... đêm khuya thắp dĩa dầu đầy à ơi...dĩa đầu đầy khô hết... Cái điệu ru em ấy, buồn đến chết cả người, ngày xưa vẫn quyện lấy cái chấm xanh lè của một ngọn đèn Hoa Kỳ được vặn nhỏ lại bằng hột đậu, cách chỗ tôi nằm bây giờ không đến hai bước...Và bây giờ, một cánh bèo còn sót lại sau cơn sóng gió kia của lịch sử là tôi, đêm nay, giạt vào cái bến cũ này chong mắt nhìn sững vào bóng tối ngoài mùng, bên tai đôi tiếng muỗi vo ve, nhìn sững vào một mớ ảo ảnh của ngày qua nơi cố lý đang nhảy múa, đang dật dờ trong gian nhà cũ ẩm hơi mưa. Nằm nghe quanh chiếu rộn tang thương. Câu thơ của Vũ Hoàng Chương đang thấm vào tôi, thấm đến lạnh cả người.
Tôi tung chăn ngồi dậy bật đèn.

Ánh điện dọi vào cái bể cạn ngoài sân. Cái bể cạn này được xây cùng lúc với toàn thể nhà vườn khoảng thập niên 20. Như vậy là nó gần 80 tuổi. Tám mươi năm ! Cũng nhiều đấy chứ. Bao nhiêu là đám mây trời góp sương trên Thái Bình Dương mà đổ vào lòng nó. Bao nhiêu là bong bóng nước mưa đã nổi lên, đã vỡ tan, đã biến mất trên khoảng mặt rộng không quá sáu thước vuông. Có nhiều khuôn mặt quen thuộc, thân yêu đã từng soi bòng vào đấy những sáng có nắng xuân tươi mát hay trưa hè vắng lặng. Trong số ấy, cũng có khá nhiều bóng dáng nay đã lên đường về chân trời cũ, nói như Hồ Dzếnh.

Một trong những cái bóng còn lại là tôi đêm nay thao thức mãi mà soi mình vào một hiện tại có nhiêu nét mới mà cũng chập chờn rất nhiều hình ảnh cũ.
Chiều hôm qua, hai anh em tôi thả một vòng xung quanh nhà và vườn, tôi hỏi em tôi:

"Cái bể cạn này ngày xưa không có non bộ. Em mới làm?"

Em gái tôi gốc Huế đã đành, nhưng mà lưu lạc ở bên kia bờ vĩ tuyến từ năm 1947, buông một câu tiếng Bắc nguyên chất:

"Vâng ạ."

Mấy hòn tiểu sơn được gắn liền với nhau bằng một lớp hồ trộn cát vàng thật mịn, có chỗ còn mới quá, điểm dăm vệt xi măng chưa có rêu. Nghĩ đến nét duyên dáng mặn mà trên gương mặt một thiếu phụ mà tôi thấy thoáng đâu đó ở khu Bolsa mấy hôm đi sắm sửa các thứ trước khi về nước, tôi mỉm cười mà nói với em tôi:

"Phải qua mùa mưa này thì cái tiểu cảnh này mới cũ được, mới đẹp được. Có nhiều thứ, như rượu vang tốt, càng già càng đậm đà, mặn mòi."

"Em có biết uống rượu đâu mà phân biệt được đậm với nhạt. Ngoài cái chuyện mới cũ ra, anh thấy hòn non bộ của em có đẹp không? Của người cháu nội ông Cả Lê trên Thành Lồi xuống làm cho em đấy. Anh biết ông Cả chứ?"

Sao lại không? Cái ông Cả này đã nổi tiếng một thời nhờ ở cái tài góp nhặt vật liệu của đất trời mà tạo ra những tác phẩm nghệ thuật nuôi dưỡng được cái tinh trong lòng của nhiều vị hưu quan không còn mơ đến danh, màng đến lợi, những cuộc đời đã bị sóng gió trên cái biển hoạn ấy nó làm tình làm tội đến điều. Nghe thuật lại rằng trước khi chết - khoảng đầu thập niên 30- ông đã dặn kỹ con cháu là quan quách không được dùng đến đinh sắt, cúng vái bên mộ đừng có đốt vàng bạc, bởi vì kim với hỏa là hai thứ tối kỵ trong những tác phẩm chỉ dùng rặt có nhiên liệu thuộc thủy, thổ và mộc. Người nghệ nhân ấy tin rằng, dù ông chết đi nhưng mà kim và hỏa gần huyệt của ông nó có thể ảnh hưởng đến cái khí mà ông đã truyền vào những hòn non bộ rải rác trong nhiều khu vườn cũ ở đây, do chính ông tạo ra. Chuyện nghe từ hồi tôi còn nhỏ, theo cha tôi đến thăm một vị hưu quan dùng những năm tháng còn lại vào việc nghiên cứu Kinh Dịch. Không biết có thật hay không. Nhưng mà cứ tin rằng có cho đời thêm được một nét đẹp. Xưa nay tôi vẫn quý cái đẹp trong tấm lòng thành trong cái thuần túy, những giọt mồ hôi và biết đâu lại không có cả một dòng nước mắt, mà những người nghệ sĩ chân chính đã từng gửi vào tác phẩm của mình.

"À mà cái thế của mấy hòn núi đá này nó nghiêng nghiêng. Anh thấy cũng là lạ."

Tôi đưa tay khua một cụm bèo tấm trên bể cạn. Đã lâu không có dịp vọc nước.
Em tôi cũng khá đấy. Em kể cho anh nghe nhá. Dạo cuối hè, không rõ nắng nôi ra sao hay là lâu đời quá, cái bể cạn nó bị nứt. Em phải thuê người trám lại hai ba chỗ. Luôn thể em nghĩ đến chuyện xây non bộ. Một công hai việc. Hôm em mời anh Liêm, người cháu ông Cả đến xem cũng là đúng vào hôm em nhận được thư anh báo tin anh sắp sửa về nước. Mừng quá, em vui miệng nói cho anh Liêm biết. Thế là anh ấy chọn ngay cái cảnh rất là ...hợp tình hợp lý. Nó có một cái tên đặc biệt lắm."

Vẫn nét cười nghịch ngợm trong mắt, em tôi yên lặng.

Tôi tò mò:

"Tên chi?"

Em tôi chầm chậm ngắt rời từng tiếng:

"Lãng...Tử...Hồi...Đầu."

Tôi trợn mắt, vờ giận dữ mà xổ ngay giọng Bắc:

"Con này láo thật! Dám trêu tao. Anh về thăm nhà. Về lo việc nhà. Chứ còn suốt cả cuộc đời tôi, tôi sống theo cái sở thích của tôi. Có ân hận áy náy gì mà cô bảo anh phải hồi đầu với hồi đuôi."

Em tôi cười ngặt nghẽo:

"Thì để em nói hết hẵng nào. Mà ai bảo anh hỏi. Mấy hòn đá được xếp nghiêng này nó nằm ở cái thế mà anh Liêm gọi vọng cố hương. Anh chả vọng cố hương là gì. Còn lãng tử hay không thì có anh biết lấy anh chứ...có giời mà biết được."

Cái tinh nghịch của em tôi cũng làm tôi vui lây:

"Cô học ở đâu cái lối nói ỡm ờ này vậy? Hôm nào rảnh anh kể chuyện...đời anh cho cô nghe. Chả có gì lạ, chỉ có một đôi chỗ sái với...cái... văn phạm của người đời. Thành thử..."
Chờ một lúc không thấy tôi nó gì nữa, em tôi hỏi:

"Thành thử sao anh?"

Tôi tủm tỉm trêu lại em gái tôi:

"Anh đã nói để hôm nào rảnh mà. Mà ai biểu cô hỏi làm chi. Bây giờ nồi chè đậu ván của cô nó đang chờ anh trong nhà... với lại, có nhiều thứ chuyện mà kể hết ra thì là... sái văn phạm!"
Em tôi đưa tat tạt nhẹ mấy giọt nước trong bể cạn vào người tôi:

"Anh quỉ quái thật."

Hai anh em tôi cười dòn bên bể cạn. Từ hôm về đến Huế cho đến chiều hôm qua, tôi lại mới có dịp cười ngon lành như vậy. Tôi đang cố nhớ lại, nghĩ đến những tiếng cười khác của những ngày cũ trong gian nhà này. Nhưng mà cái thứ ánh sáng này của khoa học lại đưa tôi về nét leo lắt vàng vọt của một đêm thu có mưa Huế dai dẳng, rót xuống thôn Vĩ Dạ này bao nhiêu là nỗi niềm khắc khoải, bao nhiêu là bóng dáng chập chờn...Gối loan trằn trọc...năm canh...Câu mở đầu cho môi của một ca cơ tài danh, có một lối hát tình tứ cơ hồ níu được những gót bước lang thang của tôi, vốn không bao giờ muốn cho tơ lòng mình bén rễ ở một bến bờ nào cả, dù chỉ là rễ bèo nơi chân sóng, câu Nam Bình này tôi vừa nghe cách đây chừng hai trống canh, giờ này tự nhiên mà ai hoài quá. Điệu nhạc này thoát thai từ cung điện Chiêm Thành để biến thành lớp sóng âm trang trọng mà dư ba đã dứt hẳn bên lầu Ngũ Phụng trên cửa Ngọ Môn, đang khiến tôi nghĩ đến cái hận vong quốc trong cõi lòng của nhóm người Chàm lơ thơ sống ở vùng Bình Thuận, Phan Rang, Phan Rí, sống vất vưởng như những oan hồn mà nghiệp dĩ không tạo nỗi một chốn nghỉ ngơi, dù là nghỉ ngơi tạm thời. Toi nhồi kỹ một cối thuốc. Châm cũng rất kỹ để thấy rằng cái đâm đà của một hơi khí thuốc mặn mà lúc này là tất cả liều thuốc an thần. Nó dẹp được một thứ sóng gió quả là bất kỳ trong tôi.

Bịn rịn một lúc lâu với mấy người nhạc công lúc tiễn họ ra cổng vào khoảng giữa hai cơn mưa, tôi trở vào nhà, tai còn nghe được giọng trong trẻo của người ca cơ ấy:

"Tụi em chừ...nhiều khi vì đồng tiền...chớ còn người biết nghe ca Huế mình có khi cả năm không gặp được một ai, Nước Non Nghìn Dặm của mình thấm thía rứa mà có bữa, mới bắt vô sắp nông* thì họ húp súp bún bò xùm xụp, còn la lên mà đòi thêm tương ớt nữa. Nhiều khi cũng tủi lắm anh nạ. À, cái bài Gối loan trăn trọc nớ,mạ em vẽ (dạy) cho em khi em mới có mười tuổi. Lâu lắm mới gặp người đòi nghe cho được. Cám ơn anh. Dạ thôi, xin phép anh."

Thật ra, rằng chính tôi là người phải cám ơn mấy người nhạc công, người ca cơ ấy. Về Huế chuyến này, lụt lội, tôi không đi thăm thú cho được đủ những nơi ngày xưa tôi không có dịp để chân tới, những mà, qua lời giới thiệu của một người hết sức quan tâm đến nền cổ nhạc nước mình, nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, tôi lại được thưởng thức tài nghệ của một nhóm nghệ sĩ tài danh bậc nhất ở cố đô. Họ đã đội mưa lặn lội đến tận nhà tôi mà nhất một tiếng đàn tranh, nắn một tiếng đàn nguyệt, búng một tiếng đàn bầu, cất tiếng mà ngân một bài Cổ bản, một câu mái nhì. Mà kể như vậy thì không chi cũng bỏ cái công xếp vó mười mấy tiếng đồng hồ trên máy bay.

"Nước Non Nghìn Dặm của mình". Hai tiếng" của mình" nghe ấm cúng quá, thân mật thiệt. Mà tôi cũng hiểu rồi. Nếu không vì đồng tiền thì có biết bao nhiêu người lại không bỏ ngay cái nghề của mình, dù là nghề tay phải đi nữa, để mà...Và câu tâm sự khá chua chát của một người tài hoa đã phải vuốt chút hận vì cái bạc bẽo của người đời đối với nghệ thuật của mình, câu nói ấy vô tình đã làm sống dậy trong lòng tôi hình ảnh của những giờ phút vinh quang, mà cách đây cũng đã lâu lắm rồi tôi đã thấy tận mắt, của Arthur Rubinstein tại Salle Pleyel, của Jacqueline Dupre' ở Festival Hall, của Yehudi Menuhin ở Royal Albert Hall. Vinh quang trong những đợt vỗ tay kéo dài hằng mấy phút không ngớt đã đành, mà vinh quang ngay từ lúc cử tọa nín thở mà chờ những ngón tay bậc thầy ấy vẫy vùng trên bàn phím, trên bộ dây.

Giữa cái vắng lặng của gian nhà cũ mà tiếng mưa thu rả rích trên những tàu lá chuối rách nát ngoài hiên càng làm tăng thêm vẻ tịch liêu, buồn cho tương lai khá mù mịt của cổ nhạc Huế, tôi lại nhớ đến lời thở than của một nhạc công sau đêm nghe ca trù ở Hà Nội:

"Vâng, thỉnh thoảng cũng có một vài người ở nước ngoài về, muốn nghe cúng tôi đàn hát. Nhưng họ nghe là vì tò mò thôi. Ít ai biết đến cái hay của sênh phách, của tiếng trống, của đàn đáy. Thú thật với ông, lắm lúc cũng nản."

Người thanh niên đàn đáy đã thổ lộ tâm tình với tôi vào một phut nghỉ tay mà nhắp môt hớp trà Bắc Thái khá đậm. Trước đó mấy phút, tiếng đàn ấy đã níu chặt lấy một giọng ca trong trẻo, già dặn. Giọng ca của một ca cơ thanh tú mà mớ tóc mun đã được lồng gọn trong một cái bao nhung đen quấn quanh đầu, buông một cái đuôi gà có đến hai ba cái dấu hỏi rất lững lờ. Người ca cơ ấy, có một tấm nhan sắc dễ làm siêu lòng một kẻ trót mang trong người rất nhiều hệ lụy với ảo ảnh của thanh sắc là tôi, người ca cơ ấy cũng là tay phách đã nắm được cái chân truyền của một bộ môn nghệ thuật đang nghiêng vào cái bóng xế của chính nó.

Ngồi lắng nghe nhịp phách, tiếng đàn, giọng ngân đang quyện lấy nhau trong một bản hòa âm mang nặng cái nghiệp dĩ của những thứ không thể lìa nhau được, ngồi nghe tiếng trống chầu khi gắt gỏng, lúc hiền từ, tôi đã nghĩ đến một cuộc tình có những vướng víu thiết tha của duyên mới bén, e ấp mà không dám thú nhận, dại dột, si mê.

Giữa một đêm của Hà Nội đã đi ngủ sớm, người ta đã đưa cái roi chầu mà mời tôi điểm cho cái mối tình ấy vốn là cái quấn quít của dây tơ, nhịp phách và giọng hát của con người, khi thấy bàn tay tôi cao hứng là nhịp theo những khổ nhặt khoan của một bài Hát Nói có một đôi câu khá dài đã phải chuyển sang lối bắt gối hạc...Khéo dối khách...ứ ư ừ...mà trêu người ừ ư...cho Tư Mã khóc ừ ư ừ...Những mà tôi đã cạn ly rượu bỏ dở từ lúc những nhịp phách dòn bắt đầu dội vào lòng tôi nhiều lớp sóng cảm hoài, mà khua tay, mà chối từ.

Nói cho ngay, cả cuộc đời tôi, dối lòng mình cho mấy rồi thì cuối cùng tôi cũng rụng vì cái quyến rũ vì thanh sắc, dù là chỉ cái quyến rũ nhất thời. Nhưng mà vào cái lúc sương thu Hà Nội đang len dần vào căn phòng có nhiều những âm thanh não nuột, tôi không muốn đùa với nghệ thuật. Tôi không muốn đem những bước chập chững của tôi trên đầu ngọn roi chầu mà giỡn với cái thuần thục của những ngón tay điêu luyện, giọng hát lão luyện. Làm như vậy là vô lễ với nghệ thuật của người ta.

Nếu như là ngày trước kia, ngày còn trẻ, thì tôi cũng không ngần ngại chi mà không cầm lấy cái roi chầu ấy mà học thêm, mà luyện cho kỹ một cái thú mà tôi không đoán chắc là nó có thể đưa mình đi cho đến chỗ say sưa tận cùng của một lối thưởng thức âm nhạc. Nhưng mà bây giờ gánh thêm một cái đam mê nữa, vay thêm một món nợ mà không biết mình có trả được hay không, tôi bắt đầu thấy ngại ở tuổi mà cái sầu vạn cổ mỗi ngày nó thêm chĩu trên cái kiếp người trăm năm, nói như bài Tương Tiến Tửi. Bởi vì đời là một ông chủ nợ rất khắc nghiệt, mà những người mê cái Đẹp của âm thanh, của sắc màu như tôi, vốn liếng có là bao ...ngoài một chữ Tình. Châu báu của lòng tôi, toi phung phí quá nhiều rồi. Còn chi! Sòng đời thua đến trắng hai tay...Để rồi đêm nay ngồi nghe từng trận mưa đều đều đổ xuống mái cũ, tôi chợt hiểu tại sao câu thơ ấy của Nguyễn Bính đang dọi vào lòng tôi những nhịp sóng sầu lãng đãng...nhịp nhàng...liên miên...bất tận...

Bởi vì, chút tình còn lại trong lòng một người đã mòn gót ở nhiều chốn thuộc về tha hương, vốn có nghĩa đen của nó là quê của kẻ khác, bây giờ ngồi ngay trong nhà cũ của mình mà nhớ thương bao nhiêu là người cũ, cảnh cũ, tôi biết trao cho ai, gửi vào đâu bây giờ trời đất ơi!
Chỉ có một quãng đường từ nhà tôi, gọi cho thơ mộng là ở cuối thôn Vĩ, lên đến cầu Trường Tiền mà nhiều lần tôi đã phải quay gót lui tới để tìm nhà một người bạn cũ, một cây mít, một cây nhãn, như một kẻ nghèo khó quanh quản tìm đồng xu cuối cùng vừa mới lỡ đánh rớt xuống đường. Chỉ có một quãng đường mà đã biết bao là đổi thay ngoài đời, bao nhiêu là mất mát trong lòng. Thì thôi, nhắc làm chi bao chuyện khác trên cái xứ Huế này.

Tựa mình vào thành cầu Trường Tiền cánh đây mây hôm vào một buổi chiều tạnh mưa, hết nhìn xuống giòng Hương hình như đã vắng hẳn những tiếng bát cạy, chỉ còn những con đò gắn máy, tôi lại đưa mắt về phía núi Ngự Bình ẩn hiện sau những đám mây chiều xám xịt giữa một bầu trời ẩm hơi mưa, tôi sực nhớ hai câu của Lưu Vũ Tích:

Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự
Sơn hình y cựu chẩm hàn lưu**

A, thì ra lòng mình cũng vậy đó cũng là cái tâm sự của người đời muôn thủa đã bao lần (kỷ hồi) xót xa, ngậm ngùi cho chuyện đã qua, còn nhìn ra thì dáng núi muôn thủa vẫn gối đầu (chẩm) lên giòng sông lạnh. Động từ "chẩm" quả là tuyệt diệu, tạo ra được cái tĩnh của núi sông bên cạnh cái động của...việc đời. Mà đâu đó, trong một tâp thơ của anh Bùi Giáng, tôi cũng đã bắt được một cái tứ na ná hai câu của Lưu Vũ Tích:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.

Dạ thưa là giọng nhỏ nhẹ của một nữ sinh Đồng Khánh. Khỏi nói. Còn cái thần trong hai câu trên đây của anh Bùi Giáng, nó đột ngột hiện ra ở hai chữ bây giờ. Bởi vì muốn sống với xứ Huế gây giớ, hẳn anh phải thao thức với Huế nghìn sau. Chỗ hàm súc mà cũng là chỗ tuyệt bút trong thi tài của anh Bùi Giáng nó hiện ra trong những điều anh không nhắc đến. Anh đã lược hết mọi thăng trầm vinh nhục của bao lớp người ở chốn này, anh đã gạt qua một bên bao nhiêu là thịnh suy, hưng phế, tồn vong từ khi mảnh đất này còn là châu Ô châu Lý cho đến...bây giờ. Anh đã để cho mạch thơ của người xem thơ anh, tự nó khơi lấy những cảm hoài riêng của mình.

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.

hay thiêt! Hai câu không có thương nhớ chi cả mà xốn xang lạ lùng. Xốn xang hơn cả trận mưa này càng về sáng càng nặng hột, càng tầm tã. Bên ngoài cửa sổ, từng đợt mưa chầm chậm, trải rộng, trải dài ra mãi ra giữa một bầu trời màu chì. Và ngoài xa nữa là một vệt chân trời mới hé, màu thủy ngân. Chừng sáu tiếng nữa là tôi lại phải rời Huế rồi. Theo thói quen, tôi lục quyển sổ tay định ghi lại tâm trạng của mình giữa một đêm mưa nơi cố quận. Nhưng mà vừa cầm lấy cây bút, tôi đã xếp quyển sổ lại. Chữ đâu mà ghi cho hết cái nức nở của một tiếng đàn bầu, cái giọng ngọt ngào của một giọng hát, cái đạt, cái thoát của nhà thơ "điên" vùng Ngũ Phụng Tề Phi. Trưa nay, máy bay rời Phú Bài, cánh bèo bay lại nổi trôi... tha hồ mà bồng bềnh tâm sự với Huế bây giờ.

TRÚC CHI
(Đặc San Quốc Học Đồng Khánh)

thunder  
#164 Posted : Saturday, May 28, 2011 2:49:18 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Nhớ Về Em - Lâm Nhật Tiến


http://www.youtube.com/w...pJPk&feature=related

Ngồi nhìn mây trôi mãi
Trôi về nơi xa xăm mịt mù
Trong con mơ chiều nay
Gọi thầm tên em

Những ước muốn mong chờ
Còn tìm nhau trong cơn mê này
Giọt sầu rơi mênh mang trong đời
Khi đã xa người

Còn gì trong thương nhớ
Tóc em ngày nào xanh như tơ trời
Bơ vơ trong chiều hoang
Gọi thầm tên nhau

Chiếc lá úa xa cành
Giờ còn bay về nơi phương ấy
Người đã đi cho bao tháng ngày
Chìm khuất trong mơ

Nhớ về em
Trong những lúc cô đơn trỡ về
Nhớ về em
Nhớ ánh mắt môi cười thơ ngây

Nhớ về em
Trong tiếc nuối nhớ mong trông chờ
Trỡ về chốn xưa
Trọn cã suốt đời này
Ta vẫn thương nhớ về em

Còn gì trong thương nhớ
Tóc em ngày nào xanh như tơ trời
Bơ vơ trong chiều hoang
Gọi thầm tên nhau

Chiếc lá úa xa cành
Giờ còn bay về nơi phương ấy
Người đã đi cho bao tháng ngày
Chìm khuất trong mơ

Nhớ về em
Trong những lúc cô đơn trỡ về
Nhớ về em
Nhớ ánh mắt môi cười thơ ngây

Nhớ về em
Trong tiếc nuối nhớ mong trông chờ
Trỡ về chốn xưa
Trọn cã suốt đời này
Ta vẫn thương nhớ về em

thunder  
#165 Posted : Saturday, May 28, 2011 4:06:56 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Chuyện tình Huế theo cùng "răng, rứa"

Chuyện tình Huế theo cùng các phương ngữ “răng, rứa, mô , tê” là đề tài rất nhiều người quan tâm. Đó cũng là cách chúng ta tìm hiểu về ngôn ngữ Huế- Tiếng Huế- một phần tất yếu của con người Huế, văn hóa Huế và tình yêu Huế.

Đầu tiên là bài thơ làm quen. Lưu Trần Nguyễn đã đưa ta về với thời của học sinh trường Quốc Học và nữ sinh Đồng Khánh Huế những năm 1950- 1960. Hồi ấy, trường Quốc Học là trường dành riêng cho nam sinh, và trường Đồng Khánh là trường dành riêng cho nữ sinh. Học sinh hai trường này học rất giỏi. Mỗi khi tan trường, nam sinh Quốc Học thường hay đón chờ nữ sinh Đồng Khánh chuyện trò,trao thư.... Từ đây đã hình thành nên nhiều chuyện tình, và bài thơ sau đây là sự mở đầu cho một chuyện tình yêu thời học trò ở Huế: Lời người con gái nghe có vẻ chua ngoa, nhưng không dấu được nỗi thích thú trong lòng. Đầu câu huyện là những lời trách móc, sợ dị nghị nhưng cuối câu chuyện là lời hẹn hò cho những lá thư sau:

“Răng mà cứ theo tui hoài rứa
Cái ông ni mới dị chưa tề
Sớm trưa chiều ba bữa đi về
Đưa và đón mần chi không biết!
Ôi đôi mắt chi mà tha thiết
Đừng có nhìn làm loạn bước tui đi!
Lá thư tình ông gởi mần chi?
Cha mẹ biết rầy la tui chết! ....
Tội tui lắm! Cách cho vài bước
Đừng đi gần hai đứa song đôi
Xa xa cho kẻo bạn tui cười
Mai vô lớp cả trường dị nghị!
Theo chi rứa răng mà không biết dị
Thôi được rồi! Đưa lá thư đây!
Mai tan trường đơị ở gốc cây
Tui sẽ tới trả lời cho biết...”


UserPostedImage

UserPostedImage

Trường Đồng Khánh Huế (xưa) và nay (Trường Hai Bà Trưng)


Đó là bước đầu trao thư và nhận thư. Lối xưng hô vẫn còn xa cách lắm. Người ta bảo dấu hiệu để nhận biết người con gái Huế đã bằng lòng yêu bạn hay chưa là qua cách xưng hô. Con gái Huế khi chưa yêu thì thường xưng “ ông, tui”, đến khi xưng “ông/ em” thì tình cảm đã lớn thêm một cấp độ nhưng người con gái Huế vẫn đang còn tìm hiểu và thử thách chàng trai. Đừng có nghĩ người con gái Huế xưng ông là vì người con trai lớn hơn mình quá nhiều tuổi, mà đó là vì con gái Huế muốn thế:

“Em sanh ra đã là con của Huế
Nên gắng liền với mấy chữ mô tê
Có khó chi mô ông không hiểu tề
Huế "răng rứa" như của ông "sao dzậy".

Và cũng vì lối xưng hô “ông” cho nên nhiều chàng trai đã tự ái, đã “lẫy”. Chúng ta hãy cùng nghe cô gái Huế giải thích thật dễ thương:

Em gọi "ông" có chi mô mà lẫy
Ông không già thì để í mần chi
Tại xưng anh em thấy nó kỳ kỳ
Người ta nghe được... ôi thôi dị chết.
Ông biết rồi răng giả vờ chi cho mệt
Mần người ta noái chậm khổ ghê nơi
Huế em tiếng khó nghe rứa người ơi
Đến đây rồi ... ráng mở tai cho lớn ...”

Và rồi chắc cũng có thư qua, về. Tháng ngày trôi đi, không biết đã xong học kỳ I, học kỳ II chưa, hay là chàng trai ấy và cô gái Huế ấy đã bước sang năm học mới nhưng bài thơ sau thì chắc chắn là chuyện tình của họ đã đi qua được những cửa ải khó khăn ban đầu của sự ngại ngùng, của tâm lý hồi hộp khi trao lời muốn nói. Tình cảm đã thân thiết hơn, trong cách nói chuyện đã bớt đi phần e ngại, người con gái Huế đã xưng “ em” không còn xưng “ tui, ông” xa cách như trước nhưng vẫn giữ được khoảng cách nam- nữ. Sau giai đoạn đưa thư làm quên, đây là lúc đã được chấp nhận và bắt đầu nhớ thương, tìm đến nhà :

Tôi nhớ mãi một câu "rứa hí"
Em chào tôi "Rứa hí! Em về"
Lời nhỏ nhẹ mà tôi tê tê
Tiếng chào nhỏ đủ vừa nghe "rứa hí"...
Đã bao lần tôi về bên Huế
Với tôi Huế không nói điều chi
Chỉ đám cỏ non bờ sông chảy thế
Là tôi nghe tiếng Huế thầm thì.
Con phố vắng tôi lần tìm quán nhỏ
"Mệ bán cho con năm đồng thuốc lá"
Mệ nhìn tôi rồi cười hỉ hả:
"Có rứa mà chú cũng mần thơ"

Chuyện tình yêu thời học trò chỉ có thế thôi. Những lá thư hò hẹn, những ánh mắt nhìn... Nghĩ về nhau nhiều lắm mà chẳng dám nói chi nhiều. Thế rồi, chắc là hết học, cô gái lấy chồng theo sự sắp đặt của ba mạ. Cả hai đều buồn. Lần cuối chia tay tình cảm cũng rất trong veo, vẫn là “ bên nớ”, “ bên ni” đầy xa cách:

Rứa thì rứa
Biết mần răng được
Bên nớ về
Bên ni biết mần răng
Bên nớ về
Bên ni đứng tần ngần
Nỏ được cầm tay
Chỉ lặng thinh không nói
Có chi mô mà rầu rầu tức tưởi
Lần cuối cùng thì cũng rứa mà thôi.

Tôi không muốn có một kết thúc như thế này nhưng thơ văn xưa đã viết vậy, câu chuyện tình Huế qua những vần thơ “ răng , rứa” cũng đành chịu như vậy:

Ngày dạm hỏi
Bên nớ lên chùa trốn biệt
Ba Mạ tìm buông lời tiếng bẻ bàng
Rứa thì rứa biết mần răng được
Bên ni buồn
Khi bên nớ sang ngang.
Hôm hôn lễ
Bên nớ bày hoa sứ
Cái loài hoa hai đứa miềng yêu
Bên ni biết
Bên nớ còn chưa hết
Vẫn còn thương
Thương lắm biết bao nhiêu.

Nghe xa cách “bên nớ”, “bên ni”, thế nhưng tình cảm mà chàng trai dành cho cô gái là mối tình của cả một thời, của cả một đời. Cho nên cách xưng hô không nói hết chiều sâu của tình cảm. Chàng trai Huế không nói nhiều mà dành trọn cả cuộc đời mình cho tình yêu:

Ngày gặp lại
Bên nớ thành bà ngoại
Mà bên ni vẫn là cứ trai tân.

Bên nớ hỏi:

- răng mà tội rứa!
Bao năm rồi còn chưa chịu thành thân.
Rứa thì rứa...
Có chi mô mà hỏi
Chưa quên được người
Đâu muốn khổ cho ai.”

Câu chuyện tình Huế theo cùng “răng rứa” đã kết thúc như thế. Nhưng thực tế có những chuyện tình kết thúc có hậu hơn, chú rể là chàng trai Quốc Học và cô dâu là nữ sinh Đồng Khánh, họ cùng nhau học tập, cùng nhau thành đạt, bây giờ đã con cháu đề huề..../.

Diệu Hà (TRT)
xuan hoang  
#166 Posted : Saturday, May 28, 2011 8:57:53 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Cần thiết



UserPostedImage



Không có anh lấy ai đưa em đi học về?
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học?
Ai lau mắt cho em ngồi khóc?
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa?
Những lúc em cười trong đêm khuya,
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng?
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…

Không có anh nhỡ một mai em khóc
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi
Tóc sẽ dài thêm mớ tóc buồn thơ
Không có anh thì ai ve vuốt?
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc?

Không có anh nhỡ ngày mai em chết
Thượng đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi vào địa ngục…



Nguyên Sa




Edited by user Saturday, May 28, 2011 9:15:12 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
tieng Viet  
#167 Posted : Saturday, May 28, 2011 9:49:44 AM(UTC)
tieng Viet

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 515

Thanks: 1041 times
Was thanked: 464 time(s) in 237 post(s)
W.O.W. Hinh co gai cam lua nhin that wa lang man trong bai Noi long, het xay!. Love ur choices of post pictures, Havi.

Truyen Kieu ! I'm clueless ! Anh Chi nao lam on post something simple de hieu explain about this love story, plez.
UserPostedImage
thanks 1 user thanked tieng Viet for this useful post.
Hạ Vi on 5/30/2011(UTC)
Hungholland  
#168 Posted : Saturday, May 28, 2011 10:57:16 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Originally Posted by: Andrew Hoang Go to Quoted Post
W.O.W. Hinh co gai cam lua nhin that wa lang man trong bai Noi long, het xay!. Love ur choices of post pictures, Havi.

Truyen Kieu ! I'm clueless ! Anh Chi nao lam on post something simple de hieu explain about this love story, plez.


Chào Andrew Hoang và các bạn,

Cám ơn bạn đã có ý thích thú với bài Truyện Kiều mà mình đã post. Cũng như trong cuốn DVD "Đám cưới Đầu Xuân" Bác Nam Lộc có nói : " Như 1 nhà văn đã viết " Làm người Việt Nam sẽ có 2 điều đáng tiếc nếu chưa thực hiện được Thứ nhất là đọc TRUYỆN KIỀU và Thứ hai là ĐI THĂM CHÙA HƯƠNG""

Trên tinh thần đó,các bạn đã thưởng thức được bài hát EM ĐI CHÙA HƯƠNG do Tâm Đoan trình bày. Và tiếp theo đó với lòng mong muốn trao dồi và giữ gìn Văn Hoá Văn Học Việt Nam trên xứ người và đặc biệt là các bạn trẻ đã được sinh ra và lớn lên ở Hải Ngoại chưa có dịp biết và đọc được TRUYỆN KIẾU. Với tấm lòng mong mõi như thế đã thúc giục Hưng post ĐẠI TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM - TRUYỆN KIỀU của ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU lên forum này mong muốn góp 1 phần nhỏ bé của mình để BẢO TỒN VÀ LƯU TRUYỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM ở Hải Ngoại.

Hưng sẽ post thêm phần tóm tắt nội dung chính của những đoạn mà Hưng sẽ Post để các bạn có thể dễ dàng hiểu thêm về câu chuyện này. Muốn biết phần đầu cốt truyện xin các bạn xem lại Đoạn 1 và Đoạn 2 của Truyện Kiều mà Hưng đã Post.

Chân thành cám ơn tất cả các bạn và cám ơn Chủ topic bạn Thunder đã cho Hưng mượn nơi đây để thực hiện mong muốn này.

Chúc các bạn luôn vui và có những thời gian đẹp để tìm hiểu về kho tàng Văn Hoá Văn Học Việt Nam,

Hungholland,

Edited by user Saturday, May 28, 2011 11:17:05 AM(UTC)  | Reason: Not specified

chiều tím  
#169 Posted : Saturday, May 28, 2011 2:16:32 PM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)

UserPostedImage


Mai Anh Đi

Mai anh đi rồi bé có buồn không
Mai anh đi nhớ bé vô cùng.
Nhớ mắt buổi chiều nghiêng bóng xế.
Nhớ môi cười áo trắng rung rung.

Mai anh đi đường xa xa lắm.

Đời con trai như vó ngựa hồng.
Tuổi bé bình yên như cơn nắng.
Tuổi anh buồn như lá mùa đông.

Mai anh đi bé buồn hay vui
Xác lá nào rơi xuống ngậm ngùi.
Thành phố sáng mai thành kỷ niệm
Anh đi rồi chắc nhớ không nguôi

Mai anh đi lòng không dám hẹn
Bởi xa rồi kỷ niệm cũng bay
Như giọt nắng phai nhoà trên tóc
Như buổi chiều đổ xuống ngàn cây

Mai anh đi rồi bé có buồn không.
Mai anh đi nhớ bé vô cùng.
Nhớ dáng học trò em đến lớp.
Nhớ môi hồng tóc xoã ngang lưng.

Lưu Trần Nguyễn
chiều tím  
#170 Posted : Saturday, May 28, 2011 2:28:18 PM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Đêm Không Ngủ
Hàn Mặc Tử


Non sông bốn mặt ngủ mơ màng
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh dế dạo đàn
Chỗi dậy nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.


UserPostedImage

Edited by user Saturday, May 28, 2011 2:30:09 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#171 Posted : Monday, May 30, 2011 3:14:07 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Điệu Hò Ru Con


UserPostedImage



Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở.


Như mọi miền đất nước trên thế giới, dân tộc nào cũng có loại hình văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài, ca dao, hò vè...) mà trong đó điệu hát hay còn gọi là hò ru con (ru em) là hình thức diễn xướng ở làng quê nào trên dải đất Việt Nam cũng có. Hò ru con có nét giống nhau là thường dùng thể thơ lục bát (6-8) với làn điệu nhẹ nhàng, lời ca thường đệm thêm nhiều tiếng không có nghĩa xác định. Chỗ khác nhau là về trường độ, cao độ, về sắc thái âm điệu, tiếng đệm... Hò ru con có một giá trị nhất định trong kho tàng văn chương bình dân của đất nước Việt Nam mà lực lượng thể hiện là người phụ nữ Việt Nam qua nhiều năm tháng.

Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng tao dùi tao nhớ tao thương



Chỉ với hình ảnh bốn tao nôi nhưng đã chứ đựng biết bao điều đã nói về cuộc sống, về sự hình thành nhân cách của tuổi thơ, của một đời người mà mẹ, mà chị đã gửi gắm trọn vẹn tấm lòng qua câu hò, điệu hát:

Cất lên một tiếng la đà
Cho chim nhớ tổ cho ta nhớ mình...



Hò ru con là hình thức diễn xướng quen thuộc của quê hương mình được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào, đằm thắm. chan chứa niềm yêu.

Nghe mẹ hát, bé có hiểu gì đâu những nội dung sâu sắc của cái hồn ca dao về nhân tình thế thái, vì có lúc mẹ mượn bốn tao nôi để nói với cuộc đời, nói với người thương về một nỗi đắng cay bất hạnh hay nói về nguồn hạnh phúc tràn trề trong cõi người ta.


Có phải trưa nay chị nhớ người thương
Nên mượn cớ ru em để lòng mình thương nhớ
Có phải ngàn năm thương thương nhớ nhớ
Khiến tiếng đàn bầu nghe xé ruột vò gan...

(Nhớ Huế “Tô Kiều Ngân”)



Cũng có khi hồn đất nước đượm màu trong lời ru mẹ, nuôi dưỡng tình tự quê nhà, ý thức chống ngoại xâm trong mỗi lời ca dạy cho ta bài học về tổ quốc:

Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng



Lời ru êm ả, tiếng mẹ, tiếng chị dịu dàng nâng giấc ngủ tuổi thơ bay vào mộng cảnh. Có giấc ngủ tốt, sức khoẻ tăng đều, có hơi thở điều hoà, tâm hồn tuổi thơ thanh thản. Và bé vẫn chưa hiểu gì trong nội dung bài hát. Chỉ có âm hưởng là lắng đọng, là chất liệu tuyệt vời giúp bé bình yên. Và chị, và mẹ vẫn cất lên nỗi đau một thời về thân phận người phụ nữ:

Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng


Tháng Giêng, tháng Hai anh còn mê tam cúc, yêu lượng
Tháng Ba, tháng Tư anh còn mê mã tượng pháo xe
Em can anh anh chẳng hề nghe
Đầu em đội bó củi nè thảm chưa



Nỗi đau thầm nén vào lời ru và tao nôi vẫn đưa đều trong trưa, trong khuya lặng lẽ:

Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya.



UserPostedImage



Đó là về một nỗi đau của chị, của mẹ trong cuộc tình sầu. Nhưng không chỉ có thế, tình mẹ, tình chị còn dành cho con, cho em nữa chứ. Cái nghĩa thiêng liêng mẫu tử; niềm khát vọng về một ngày mai con trưởng thành luôn đầy ắp trong lời ru thiết tha:


Mẹ thương con ruột thắt gan bầm
Ví như bông sen díp lại khốn cầm dễ buông
Con ơi đừng khóc mẹ sầu
Cây khô vì hạn mẹ rầu vì con



Mẹ hát, chị ru và có một ngày lớn khôn con hiểu:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừ a cá xương



Hò ru con là giai điệu sống bền cùng thời gian, cuộc sống. Nội dung những câu hò hàm súc, phong phú đề cập nhiều điều của quá khứ, hiện tại, những khát vọng, mơ ước tới tương laị..Là tình tự quê nhà dấu yêu giúp ta có niềm kiêu hãnh về dân tộc, về đất đai, xứ sở.

Thương chi bằng nỗi thương con
Nhớ chi bằng nhớ nước non quê nhà

Ru em cho théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón Mậu Tài bán kim



Từ đất đai mẹ dạy con những điều nhân nghĩa, biết lao động, biết sản xuất nhằm xây dựng nước non nhà:


Ai ơi uống rượu thì say
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo



UserPostedImage


Nội dung hò ru con là bản trường ca bất tận cùa kho tàng văn chương Việt. Có khi chị, mẹ hát về nhân nghĩa cuộc đời, có khi hát về đạo lý làm con, về sự thuỷ chung chồng vợ...Điệu hò thấm sâu vào tâm thức tuổi thơ, nội dung câu hò lộ dần ra theo độ tuổi. Càng lớn càng hiểu thêm điều mà mẹ, chị từng gửi gắm cho ta. Khôn ngoan theo thời gian, trưởng thành cùng câu hát. Ta biết ơn vô cùng giọng hò ru ta từ thuở nằm nôi:


Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ



Nhìn từ một góc độ nào đó, điệu hò ru con là chất liệu tinh thần ban đầu của tuổi thơ. Vừa ươm mầm nhân ái, vừa chủng ngừa các bệnh tật lúc sơ sinh. Mẹ, chị đã gieo vào tâm hồn tuổi thơ những hạt giống lành về nhân ái, đạo lý làm người, về tình yêu quê hương xứ sở. Hình ảnh vầng trăng, ngọn cỏ, cánh diều, bóng dáng luỹ tre làng, dòng sông thơ ấụ..tất cả những sự vật cụ thể ấy đã trở thành ý niệm sống thiết thân từ ấu thời cho đến lúc trưởng thành. Trí tuệ, tâm hồn tuổi thơ cứ thẩm thấu, thấm nhuần những giá trị tình cảm đậm đà, những món ăn tinh thần thuần khiết thiêng liêng cao cả ấy.

Mong sao dù bất cứ không gian, thời gian, hoàn cảnh, địa hình... nào, người phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ Huế nói riêng cũng khôn khéo dạy con bằng những giai điệu hát ru của quê hương dân giã. Và bằng vốn liếng truyền thống văn hoá của mình mẹ và chị sẽ cho tuổi thơ được tắm mình trong ngọn nguồn ca dao đằm thắm, cho mai ngày lớn khôn sẽ trở thành những người gương mẫu, đạo đức, đóng góp cho đời nhiều công ích với nhân cách Việt Nam.



(Bài viết của Võ Quê )


UserPostedImage
Hungholland  
#172 Posted : Tuesday, May 31, 2011 1:09:04 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn III : THUÝ KIỀU GẶP KIM TRỌNG

Tóm tắt nội dung : Cũng trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng, là một người "vốn nhà trâm anh", "đồng thân"(bạn học cũ cùng trường) với Vương Quan, từ lâu đã "trộm nhớ thầm yêu" nàng. Bên cạnh đó thì Kim Trọng cũng là người "vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". Tuy chưa kịp nói với nhau một lời nhưng sau cuộc gặp gỡ này thì hai người "tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Tiếp sau lần gặp gỡ ấy là mối tương tư:

"Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không."

----o0o----

"Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
135.. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
140.. Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
145.. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
150..Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân.
155..Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền đồng Tước khoá xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng.
May thay giải cấu tương phùng,
160..Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
165.. Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
170..Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha."

( Còn tiếp )

* Giải nghĩa :

136. Tay khấu: Tay càm cương ngựa. ý nói, buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả.

Dăm băng: Như nói dặm đường đi. Băng là lướt đi.

137. Lưng túi gió trăng: Tức là lưng túi thơ. Những nhà thơ thời xưa hay ngâm phong vịnh nguyệt, nên người ta gọi thơ là phong nguyệt (gió trăng).

139. Câu: con ngựa, non trẻ, xinh đẹp.

142. Tự tình: Chuyện trò, bày tỏ tâm tình.

143. Hài văn: Thứ giày thêu mà nho sĩ thời xưa thường dùng.

Dặm xanh: Dặm cỏ xanh.

144. Cây quỳnh, cành giao: Cây ngọc quỳnh và cây ngọc giao. ý nói vẻ khôi ngô tuấn tú của Kim Trọng như làm cho cả một vùng cũng hoá thành đẹp.

146. Hai Kiều: Hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuý Kiều.

148. Trâm anh: Trâm là cái trâm để cài búi tóc. Anh là cái dải mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ của người sĩ tử, quan chức. Nhà trâm anh: Chỉ những nhà thế tộc phong kiến, có người đỗ đạt, làm quan.

149. Phú hậu: Giàu có.

150. Nết đất: Theo lối nhà, theo dòng dõi trong nhà, mạch đất đó có truyền thống văn chương.

151. Phong tư: Dáng điệu.

Tài mạo: Tài hoa và dung mạo.

152. Phong nhã: Phong lưu nho nhã. Hào hoa: Sang trọng phong cách có vẻ quí phái. Vào trong là ở trong nhà, Ra ngoài là ra giao thiệp với đời.

154. Đồng thân: Bạn cùng học.

155. Hương lân: Làng xóm, ý nói: Vẫn nghe tiếng khen đồn đại ở vùng lân cận.

156. Đồng tước: Đời tam quốc, Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một toà lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng), và định hễ đánh thắng Đông Ngô thì bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ Tôn sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá xuân ở đây là khoá kín tuổi xuân, tức cấm cung, tác giả mượn điển cũ để nói lóng rằng: nhà họ Vương có hai cô gái đẹp cấm cung.

157. Buồng thêu: Buồng người con gái.

158. Chốc mòng: Tiếng cổ, nghĩa là bấy lâu, bấy nay.

159. Giải cấu tương phùng: Cuộc gặp gỡ tình cờ.

160. Đố lá: Hội đố lá, còn gọi là diệp hý, một tục chơi xuân có từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc may rủi. Đây là dịp để họ làm quen và tìm hiểu nhau.

161. Bóng hồng: Bóng người con gái. Phụ nữ Trung Quốc thời xưa hay mặc quần đỏ nên gọi là bóng hồng.

162. Xuân lan, thu cúc: Hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, ngưòi như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu.

163. Quốc sắc: Sắc đẹp nhất nước, chỉ Thuý Kiều.

166. Chỉn: Tiếng cổ. Chin khôn: chẳng xong, không xong.

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 2:19:52 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#173 Posted : Tuesday, May 31, 2011 7:06:57 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hợp - Nguyễn Đồng:
“Công việc vẽ vời đưa chúng tôi lại gần nhau”




Phải mất một thời gian chờ đợi khá lâu, chúng tôi mới gặp được đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Đồng và Nguyễn Thị Hợp. Họ đang tất bật chuẩn bị tham dự một cuộc triển lãm khoảng đầu năm 2009 tới.

Ông bà còn tiết lộ, đang dốc thời gian làm việc cho cuộc triển lãm trù tính trong một tương lai gần kỷ niệm 40 năm ngày cưới của đôi vợ chồng họa sĩ tài danh. Bà Nguyễn Thị Hợp cho biết, tại cuộc triển lãm ở Houston sắp tới sẽ trưng bày khoảng 20 tấm tranh mang chủ đề thuộc về đề tài ưa thích lâu nay của bà: phụ nữ Việt Nam, mẹ con, các em thiếu nhi... Đó là thế mạnh của cây cọ nữ Nguyễn Thị Hợp. Còn họa sĩ Nguyễn Đồng, phu quân của bà, thì khá nổi tiếng tại Sài Gòn, nơi tranh của ông thường xuyên xuất hiện trong các cuộc triển lãm của nhóm họa sĩ, chung với Nguyễn Trung…


UserPostedImage

Đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hợp và Nguyễn Đồng tại xưởng vẽ



Viễn Đông: Thưa, ông bà có nhớ tổng số bức tranh đã hoàn thành trong thời gian qua?

Nguyễn Thị Hợp: Không nhớ hết nổi. Các cuộc triển lãm chung hầu như năm nào cũng có, với một nhóm từ 3 – 4 tới 10 người. Sau này chúng tôi thỉnh thoảng triển lãm tranh riêng của 2 người, tính ra khoảng 4-5 lần. Sau năm 1975, hầu như mỗi năm đều có triển lãm chung tại Âu châu. Ở tại đây, chúng tôi từng triển lãm tranh nhân kỷ niệm 30 năm ngày cưới tại trụ sở báo Viễn Đông bây giờ, cách nay 10 năm. Đáng lẽ năm nay chúng tôi triển lãm nhân kỷ niệm 40 năm nhưng chưa làm kịp, còn trong vòng dự tính. Cái chính là mình làm việc, chứ con số thì vẫn là con số thôi. Cuộc triển lãm gần đây nhất tổ chức tại Phân khoa Mỹ thuật đại học Minnesota. Tổng số tranh vẽ của hai chúng tôi hiện tại không biết bao nhiêu vì chưa làm thống kê nên không biết, nhưng so với các họa sĩ phương Tây thì không nhiều lắm đâu, mặc dù chúng tôi làm việc liên tục. Chúng tôi có điều giống nhau là vẽ chậm lắm. Vì không ưng ý, thường phải sửa hoài.



Viễn Đông: Cùng làm việc chung trong một môi trường nghệ thuật, cùng là họa sĩ, ông bà có giúp đỡ nhau trong việc sáng tác hay không?

Nguyễn Đồng: Chúng tôi làm việc riêng, giữ sự độc lập cần thiết của mỗi người, nhưng sau khi vẽ xong rồi thì người này góp ý cho người kia, phê bình lẫn nhau. Chúng tôi chuộng sự thẳng thắn đóng góp cho nhau để mỗi người khá hơn.


Viễn Đông: Thưa bà, điều thú vị ở chỗ ông là thầy giáo, đã tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn rồi ra dạy nhưng lại thích vẽ nhiều hơn và bước vào nghề sớm hơn bà, trong khi bà đã tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật năm 1964. Nghe nói ông bà quen nhau trong một cuộc triển lãm hội họa ở Sài Gòn. Có phải tình yêu nghệ thuật hội họa đã khiến ông bà gắn bó với nhau?

Nguyễn Thị Hợp: Lập gia đình cùng chung sống với nhau, tôi mới biết mình vẽ ít hơn anh. Anh khuyến khích mình trở lại vẽ, thay vì chỉ minh họa sách.


iễn Đông: Bà đang dốc lòng cho cuộc triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày cưới của hai ông bà?

Nguyễn Thị Hợp: Chúng tôi sẽ “trình làng” ít nhất 15 tấm mỗi người, tổng cộng cả hai có khoảng 30 tấm.


Viễn Đông: Công việc có bận rộn lắm không, thưa bà vì hiện nay bà còn đang là họa sĩ trình bày cho một nhật báo ở Nam California?

Nguyễn Thị Hợp: Thời giờ làm việc ở sở cộng với thời gian sáng tác hội họa quá nhiều, đôi khi cũng khiến tôi quên mất… gia đình. Đó là thiếu sót không thể phủ nhận. Nhưng nay thì tôi dành thời giờ cho gia đình nhiều hơn. Trước nay mỗi lần đi làm về rồi hùng hục vẽ, nhà cửa bề bộn. Tôi đang vẽ một bức chân dung theo yêu cầu của khách hàng và anh giúp tôi rất nhiều để hoàn thành bức tranh đặc biệt này.


Viễn Đông: Thưa ông, chúng tôi thấy có những bức vẽ ghi tên hai họa sĩ, công trình chung của hai người. Liệu rằng vẽ chung có làm mất đi tính cách riêng vốn có của mỗi họa sĩ hay không?

Nguyễn Đồng: Hồi còn độc thân, tôi có một cuộc triển lãm lần đầu tiên ở Sài Gòn, còn Hợp triển lãm đầu tiên ở Đài Loan. Năm 1968, chúng tôi làm lễ thành hôn. Thời gian độc thân thì không ai biết ai. Mãi cho đến khi cưới nhau rồi sang Đức, chúng tôi có toàn thời gian để vẽ, nên có cơ hội tham dự nhiều cuộc triển lãm ở Paris. Bức tranh của riêng từng người vẽ thì rất khác nhau. Với tác phẩm có tính chất nửa trang trí thì chúng tôi vẽ chung, thí dụ như loại tranh minh họa, ký tên Nguyễn Thị Hợp – Nguyễn Đồng. Những bức tranh chung đó có một phong thái lạ không riêng người nào. Lần triển lãm rồi ở Irvine College, chúng tôi triển lãm 3 phần, 2 phần riêng và 1 phần chung. Đó là loại tranh minh họa theo mẫu có sẵn, chúng tôi chỉ dựa theo đó mà phóng lớn. Tranh cọ để sẵn trong xưởng vẽ, ai rảnh thì cầm cọ lên…


Viễn Đông: Sở trường của hai ông bà có điểm nào trùng hợp không, thưa bà?

Nguyễn Thị Hợp: Anh thường vẽ toàn thể, cảnh vật, cảnh trí chung quanh vì anh chuyên về hoa lá, phong cảnh. Côn tôi chuyên vẽ người nhiều hơn cho nên chúng tôi hỗ trợ lẫn nhau rất nhịp nhàng, ăn ý. Đối với loại tranh mà một nửa mang tính cách trang trí thì có thể cùng lúc 4 – 5 người có thể cùng làm dựa vào một bản phác thảo đã đồng ý. Chúng tôi từng có những tác phẩm vẽ chung như thế.


Viễn Đông: Thưa ông, nhìn lại quãng thời gian hoạt động cho nghệ thuật hội họa đã qua, ông có hài lòng với công việc đã làm?

Nguyễn Đồng: Khó trả lời được rằng hài lòng hay không hài lòng. Tôi nghĩ, không ai có thể trở lại con đường đã qua. Nhưng có thể nói rằng khó có ai hài lòng với những gì mình đã làm. Cũng như người viết văn, nếu bạn đọc cho viết lại tác phẩm của mình thì họ có thể sửa hoài.


Viễn Đông: Bà có kinh nghiệm nào trong thời gian qua?

Nguyễn Thị Hợp: Tôi thích xem tranh của người khác để học hỏi và rút tỉa kinh nghiệm cho riêng mình. Hiện nay tôi có thời gian 1 năm ngưng làm việc ở tòa soạn để được yên ổn, dành toàn thời gian cho việc sáng tác, rất thú vị vì không phải sa vào thời gian vẽ một cách vội vã, hấp tấp.


Viễn Đông: Tình hình suy thoái của nền kinh tế thị trường liệu có tác động đến đời sống vật chất cũng như hoạt động sáng tác của người họa sĩ không, thưa ông bà?

Nguyễn Thị Hợp: Tình hình kinh tế khó khăn cũng tác động một phần. Nhưng sự khó khăn đó chỉ có vẻ khởi đầu thôi, chưa biết sau này ra sao. Trước đây tôi từng chứng kiến một đợt suy thoái trầm trọng, ngân hàng xiết nhà cắm bảng đỏ đầy đường. Lúc mới từ Đức sang đây khoảng năm 1987, chúng tôi cũng vất vả lắm. Ở nhà nhờ, đi xe nhờ, đến nỗi con gái chúng tôi luôn miệng hỏi “hôm nay mình sẽ đi xe của ai, ở nhà ai?” Có lẽ hồi đó còn khó khăn hơn bây giờ, đối với riêng chúng tôi.


Viễn Đông: Ông bà có cách tìm cảm hứng cho mình?

Nguyễn Đồng: Chúng tôi thích đi đó đi đây, nhìn ngắm vạn vật thiên nhiên. Năm nào cũng đi, chúng tôi mới vừa đi Nhật về. Đi chơi là đi thôi chứ không nghĩ đến vẽ. Nhưng vì mình là người thích nghệ thuật, chuộng sự thưởng thức nghệ thuật nên rất siêng đi bảo tàng viện, đi xem các cuộc triển lãm lớn, nghe hòa nhạc… Đó là những nơi gây cảm hứng, nhất là khi đi nghe nhạc. Còn xem triển lãm thì chúng tôi học hỏi rất nhiều. Nghệ thuật cần coi trọng cái mới, những hình thức mới nhất của nghệ thuật, có điều là mình không bắt chước. Cái mới từ trong lòng mình ra thì là mới, còn từ những gì mình nhìn thấy thì đã cũ rồi.


Viễn Đông: Qua cách nói, chúng tôi đoán hình như ông hỗ trợ cho bà trong nghề nghiệp nhiều hơn, phải không thưa ông?

Nguyễn Đồng: Không biết được, mạnh ai nấy làm và chỉ giúp nhau thôi. Nếu không có người này hì người kia cũng làm, vì công việc từ trong lòng mình ra. Nhưng tôi nghĩ hai vợ chồng cùng ngành cũng có lợi vì có thể hỏi ý kiến của nhau, nếu không thì không biết hỏi ai.


Viễn Đông: Có khi nào ý kiến của người này làm người kia thay đổi hẳn một sáng tác?

Nguyễn Đồng: Thỉnh thoảng cũng có xóa đi làm lại. Nhưng có điều chắc chắn là ai cũng có cái nhìn và quan điểm riêng của mình, và ý kiến của người khác sẽ giúp mình làm việc chín chắn hơn.

Viễn Đông: Thưa bà, các gia đình Việt Nam trong nước vẫn còn nặng tinh thần phong kiến, chẳng hạn như là vợ phải làm việc nhà nhiều hơn, lo cho gia đình nhiều hơn so với ông chồng. Còn với bà thì sao?

Nguyễn Thị Hợp: Chúng tôi chia nhau việc nhà mà làm, giống hai người bạn thân, chia nhau công việc. Anh và gia đình anh là những người có tư tưởng rất mới, đặc biệt là cha mẹ chồng của mình. Mình là người may mắn nhất trong gia đình vì quen anh và được lấy anh từ nơi làm việc.


Viễn Đông: Có nghĩa ông là người do bà chọn lựa, chứ không phải là người chồng do bố mẹ chọn rồi “bắt ép duyên”, thưa bà?

Nguyễn Thị Hợp: Tôi may mắn được như thế, nhưng cũng có phần nhờ thời thế đổi thay. Hơn nữa gia đình của anh sống trong Nam và gia đình tôi từ khi di tản vào miền Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp, đã thay đổi suy nghĩ rất nhiều.

Viễn Đông: Bà có kinh nghiệm gì giữ gìn hạnh phúc gia đình?

Nguyễn Thị Hợp: Nhờ trời, với lại tùy theo số phận.


Viễn Đông: Còn ông thì sao?

Nguyễn Đồng: Công việc vẽ vời đưa chúng tôi lại với nhau. Tôi nghĩ cuộc sống gia đình nếu có giận hờn, sóng gió thì cũng là chuyện thường của những người yêu nhau. Nếu tranh toàn màu đen sẽ không giúp cho con người biết màu trắng, nếu cuộc đời chỉ vui thôi thì lại không thấy vui hơn sau nhưng lần có chuyện buồn giận. Chắc ông trời sinh ra như vậy, có nghèo giàu, có khác biệt… Vấn đề là mình hiểu sự khác nhau là một cái gì hết sức tự nhiên để không đi đến đổ vỡ.

Viễn Đông: Ông nghĩ gì về sự độc lập sáng tạo của một nghệ sĩ hội họa? Hiện nay người họa sĩ có thể sống được bằng nghề vẽ của mình không?

Nguyễn Đồng: Tôi không muốn lệ thuộc vào việc vẽ thương mại, nên phải làm một nghề để sống, để được vẽ theo ý thích của mình mặc dù những sáng tác đó chưa chắc được người ta hưởng ứng, mua tranh… Vì thế cho nên tôi không ngạc nhiên khi biết các bậc nghệ sĩ Tây phương đều có một nghề riêng để sống và để viết theo ý muốn của họ. Phải có cách nào để sống để được ngồi viết theo ý của mình.

Viễn Đông: Xin cám ơn ông bà và kính chúc ông bà hạnh phúc, trẻ trung trong dịp Giáng Sinh và Năm Mới, và cho ra đời nhiều bức tranh được công chúng yêu thích.


Phụng Linh
Vien Dong Daily News




Mời các bạn thưởng thức những bức tranh của hoạ sĩ Nguyễn Thị Hợp do Hạ Vi sưu tầm


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage




UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage




UserPostedImage
Hạ Vi  
#174 Posted : Wednesday, June 1, 2011 3:58:08 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
Hai người đàn bà phía sau Tự Lực Văn Đoàn



UserPostedImage
Đằng sau lùm cây cạnh ga Cẩm Giàng là trại văn chương Tự Lực Văn Đoàn
- Ảnh: Quang Thông



Thế kỷ trước, ở phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, trong gia tộc Nguyễn Tường có hai người phụ nữ được nhắc nhiều trong đời sống văn học. Chồng, con say mê hoạt động văn chương, xã hội… còn họ lùi vào phía sau với thiên chức làm mẹ, làm vợ. Danh vọng, thành công của những người đàn ông đó có một phần ở sự tảo tần của họ.

Trại Cẩm Giàng bà Nhu

Bà Lê Thị Sâm là con gái đầu lòng cụ Lê Quang Thuật, người gốc Huế, làm quan võ ở huyện Cẩm Giàng. Bấy giờ tri huyện Cẩm Giàng Nguyễn Tường Tiếp (tục gọi là huyện Giám), quê gốc Quảng Nam, có con trai là Nguyễn Tường Nhu đến tuổi lấy vợ, mới cho người mai mối hỏi cô Lê Thị Sâm về làm dâu họ Nguyễn Tường. Bà đã gồng mình gánh vác cơ nghiệp nhà Nguyễn Tường để nuôi mẹ chồng và bảy người con ăn học thành người, trong đó có ba nhà văn thuộc vào hàng trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) - một phong trào văn chương nổi tiếng trên văn đàn nước nhà những năm 30-40 thế kỷ trước: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam.

Lấy chồng hơn chục năm, bà có sáu người con, dời từ ấp Thái Hà về số 10 Hàng Bạc, Hà Nội, rồi hết về quê Cẩm Giàng lại theo con cả Nguyễn Tường Thụy ở Tân Đệ, Thái Bình. Do buôn bán ở Thái Bình được một năm chẳng thuận, bà Nhu lại đưa cả con thuyền gia đình về Hà Nội. Khi vợ Nguyễn Tường Thụy xin ra ở riêng, bà lại về Cẩm Giàng. Đang bơ vơ không biết ăn ở ra sao thì người bạn cân gạo ngày trước là bà cả Hội nợ bà Nhu 60 đồng Đông Dương từ trước, trừ tiền nợ bằng hai mẫu đất cho bà Nhu. Thế là đào ao, đắp nền, làm nhà... Bà làm nhà gỗ, lợp rạ, cột vuông, bốn chung quanh hiên rộng. Nhà ba gian, gian đầu phòng khách, gian giữa thờ gia tiên, gian trong để ở. Trần nhà lát nứa dập thẳng. Mái rạ lợp dày xén rất đẹp, quanh nhà có lan can gỗ, gọi là Nhà ánh sáng.

Thời ấy khách đi tàu Hà Nội -Hải Phòng có thể nhìn rất rõ một khuôn viên trang trại có những ngôi nhà thấp thoáng dưới lùm cây xanh. Đến sau này các con trưởng thành, hoạt động văn chương, làm báo Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội, nhưng cuối tuần họ lại rủ bạn bè về trại thăm mẹ và nghỉ ngơi bàn luận chuyện văn. Cái tên trại văn chương TLVĐ hoặc trại Cẩm Giàng bà Nhu ra đời và đi vào văn học sử nước nhà.

Những ngày cuối năm 1932, ba anh em Nhất Linh mới ra làm báo Phong Hóa, còn gặp khó khăn, ai cũng sợ báo ế. Bà nói như đinh đóng cột: “Cái ấy khó gì, nếu không bán hết, mang về cho mợ gói cau càng tiện...”. Câu nói ấy như luồng gió gạt bỏ hết những lo lắng trong những ngày đầu gian khó của nhóm.

Nhờ có người giúp đỡ, ngày 31.8.1917, tức 14.7 năm Đinh Tỵ, ông Nhu sang Lào (Sầm Nưa) làm thông phán tòa sứ, được đem theo vợ để buôn bán mưu sinh. Thật không may, được tám tháng, ông bạo bệnh qua đời. Một mình nơi xa xứ, lo chôn cất chồng xong, bà Nhu trở về Việt Nam đi hết 12 ngày đường bộ và đường thủy, gian nguy vô ngần. Mãn tang chồng một năm, bà cùng bốn người thân lại sang Lào để mang hài cốt ông về nước đặt mộ bên bờ ao thuộc làng La A, xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng.

Bà Nhu tôn trọng chí hướng của các con. Ngày Hoàng Đạo tốt nghiệp cử nhân luật, được bổ chức tri huyện, đã về xin ý kiến mẹ. Bà bảo con: “Nay con thành đạt rồi mỗi người có chí hướng riêng, tùy con định đoạt. Ông cha ngày xưa nổi tiếng thanh liêm, làm quan thương dân để đức cho con cháu. Các con đừng làm gì hại đến thanh danh tiên tổ...”.

Góa chồng khi mới 37 tuổi, bà tảo tần khuya sớm đi về làng quê cân gạo. Không đủ sống, đành nấu thuốc phiện, biết là hiểm nguy có thể bị Tây bắt bỏ tù bất cứ lúc nào. Chỉ đến khi các con học hành thành đạt, đi làm có lương mới mát mặt. Trừ Thạch Lam, và con gái Nguyễn Thị Thế, còn lại 5 người đều có bằng cử nhân, riêng Nhất Linh đỗ cử nhân khoa học Pháp trở về nước làm báo, làm văn chương... Nuôi dưỡng được ngần ấy người con, bà Nhu vượt qua bao nhiêu sóng gió. Nhưng bù đắp lại bà Nhu có những niềm vui. Đó là năm 3 người con trai Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo) và bác sĩ Nguyễn Tường Bách đều trở thành đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam độc lập. Rồi Hoàng Đạo làm Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế trong chính phủ liên hiệp lâm thời, sau đến Nhất Linh làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ liên hiệp kháng chiến.



UserPostedImage
Bà Nhu (thứ 2 từ phải sang) trong lần đi du lịch cùng báo Ngày Nay




Sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8.1945, bà tu ở chùa Đào Xuyên, qua chùa sư nữ ở Bối Khê, rồi về Hà Nội tu tại chùa Hai Bà. Khi biết tin Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long, Trung Quốc, vị sư già đã làm lễ cầu siêu cho con trong nơi cửa Phật. Rồi bà theo con vào Sài Gòn, tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960. Ít lâu sau bà viên tịch tại đó.

Vợ nhà văn Nhất Linh

Người đàn bà ấy dưới mắt một phóng viên báo Đông Tây ở Hà Nội thời bấy giờ, được khắc họa: “Đôi mắt bà chớp chớp... Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Ánh sáng vừa dịu, vừa như có một cái gì như sẵn sàng vì mọi người... Tôi nhớ mãi cặp mắt ấy. Cặp mắt có vẻ chịu đựng mọi hy sinh, vì người thân yêu của mình. Cặp mắt của người đàn bà Việt Nam, cũ kỹ, tảo tần, không ý thức được rằng những việc mình làm đã đóng góp cho sự nghiệp của chồng không nhỏ”. (trích từ Từ bến sông Thương, Anh Thơ - hồi ký 1986).

Ấy là bà Phạm Thị Nguyên (1909-1981), quê làng Phượng Dực, Thường Tín, tỉnh Hà Đông, trước năm 1945 là chủ hiệu buôn cau khô có tiếng ở Hà Nội mang tên Cẩm Lợi.

Vào tuổi đôi mươi, Phạm Thị Nguyên kết hôn với nhà văn Nhất Linh, ở nhà 15 phố Hàng Bè, Hà Nội. Bà vẫn bán cau khô, mở rộng quan hệ buôn bán suốt trong Nam ngoài Bắc, toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp của chồng. Những năm tháng chồng mải mê làm báo, cổ súy phong trào Ánh Sáng..., bà vật lộn với nghề buôn bán cau, nuôi đàn con (13 lần đẻ chỉ nuôi được 7), làm hậu thuẫn cho chồng thi thố giữa cuộc đời. Hiếm ai biết rằng bà từng tham gia phong trào Ánh Sáng, xóa nhà ổ chuột, làm nhà tranh tre sáng sủa cho dân nghèo thợ thuyền...


Người đàn bà có tấm lòng bao dung ấy được chồng yêu... Mỗi lần viết xong và xuất bản được một cuốn truyện mới, Nhất Linh luôn đưa vợ đi biển Sầm Sơn nghỉ ít ngày. Hồi Nhất Linh ẩn cư ở Đà Lạt giữa thiên nhiên ngoạn mục cũng không quên đưa bà lên cùng thưởng thú chơi phong lan. Có những buổi sớm mai khi con còn trong giấc ngủ, hai ông bà đã bên nhau uống trà nóng, rất là tương đắc. Nhất Linh yêu quý vợ, còn yêu cả cái tên đất tên làng của vợ. Ở Sài Gòn, ông cho in lại các tác phẩm cũ thời TLVĐ và viết tác phẩm mới. Ông đã lấy chữ Phượng (Phượng Dực quê vợ) và chữ Giang (Giàng) nơi sinh trưởng của mình là Cẩm Giàng, rồi ghép thành tên Nhà xuất bản Phượng Giang.

Làm vợ nhà văn Nhất Linh, một nhân vật nổi tiếng thời TLVĐ, bà Nguyên sống trong nụ cười và nước mắt. Bà đau buồn nhất là những năm Nhất Linh lưu vong ở nước người trên đảo Sường Châu, Trung Quốc. Bà đã vượt dặm đường gian nan nguy hiểm đi thăm và tiếp tế cho ông. Lo lắng khi thấy chồng sống cô độc trên đất khách, bà tìm cách nhắc lại một cách khéo léo về thời TLVĐ làm báo, viết sách của chồng. Như một phép lạ, nét mặt Nhất Linh vui, tươi sáng. Ở trang đầu bản thảo tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, Nhất Linh viết tại Hương Cảng có mang những dòng chữ: Tặng Nguyên, người rất thân yêu, đã khuyên tôi trở lại đời văn sĩ và nhờ thế cuốn Xóm Cầu Mới này khởi đầu từ 1940 mới được viết tiếp theo. Hương Cảng trên núi, ngày 16.10.1949. Nhất Linh.



UserPostedImage
Tranh do Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vẽ, Cảnh Phố Chợ Đông Dương (Scène de Marché de rue Indochinois, 1926-29)



Sống dưới chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Nhất Linh cực lực phản đối chính quyền đàn áp những người đối lập và tham gia ủng hộ cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông. Việc không thành, ông bị Tòa án quân sự đặc biệt gọi ra tòa xét xử. Trước lúc quyên sinh, Nhất Linh để lại 2 bản di chúc. Một bản nói với cuộc đời và một bản dành riêng cho vợ với hai mươi từ tuyệt mệnh: “Mình, mối tình của đôi ta hàng bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không... mong ước gì hơn nữa. Anh, Nhất Linh. 7.7.1963”.

Năm 1981, bà sang Pháp đoàn tụ với con, mất tại đó. Năm 2001, hài cốt của bà được đem về nghĩa trang Hội An, Quảng Nam. Mộ bà nằm bên mộ chồng và mộ cụ tổ Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ, vị quan triều Nguyễn, ra Bắc làm Tri phủ Cẩm Giàng, Hải Dương, người khai nguyên dòng họ Nguyễn Tường trên đất Bắc.


Khúc Hà Linh

Edited by user Thursday, June 2, 2011 2:15:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
xuan hoang  
#175 Posted : Thursday, June 2, 2011 8:08:18 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Bao giờ Ngâu nở hoa


UserPostedImage


Những bông hoa nho nhỏ
Chỉ có chút hương đêm
Ẩn vào trong kẽ lá
Như mối tình lặng câm
Vượt qua tháng qua năm

Vượt qua đồi qua suối
Bỗng gặp một mùi hương
Như lời yêu thầm gọi
Như ánh đèn chờ đợi
Như ánh mắt bao dung

Trong cơn khát cháy lòng
Bỗng tìm ra nguồn nước
Mùi hương không hẹn trước
Tình yêu đến bất ngờ.

Em đâu biết bao giờ
Mùa hoa ngâu ấy nở
Anh như cây đàn khóa
Sợi dây còn ngân vang

Em đi hết lòng em
Lại gặp lời hát đó
Hoa ngâu ở nơi nào
Em cũng không biết nữa
Em chỉ biết tình em
Như ngâu vàng vẫn nở

Xuân Quỳnh



UserPostedImage

Edited by user Thursday, June 2, 2011 8:10:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
tieng Viet  
#176 Posted : Thursday, June 2, 2011 1:57:48 PM(UTC)
tieng Viet

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 515

Thanks: 1041 times
Was thanked: 464 time(s) in 237 post(s)
Thanked amh Hung @holland, viet them giai nghia de hieu cho the he tre doc moi hieu y tho truyen Kieu.

Bai tho dai du dzay! Con tiep nua ! Hahaha good la co them loi giai nghia cua anh Hung, neu khong doc bai tho qua dai, se bi "tau qua nhap ma".

Another lovely post from HaVi w hinh anh dep cua Nguyen thi Hop. Thanked,good valued contribution.
UserPostedImage
thanks 2 users thanked tieng Viet for this useful post.
Hạ Vi on 6/3/2011(UTC), Hungholland on 6/7/2011(UTC)
xuan hoang  
#177 Posted : Friday, June 3, 2011 8:19:17 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Quanh quẩn


UserPostedImage


Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu
Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người
Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười,
Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện.

Đời nhạt tẻ như tàu không đổi chuyến!
Đứng xem ngoài hay quay gót nhìn trong
Cùng thuộc rồi bàn ghế ở trong phòng,
Và trong đó: những hồn quen biết quá!

Đời nghèo thế! Không dành tôi chút lạ…
Đến ái ân cũng hết cả đợi chờ
Và mỗi ngày sau những giấc ngủ trưa
Mùng buông xuống không che sầu vũ trụ

À! Thế đấy, chốn hằng ngày cư trú
Ván bài đời may mắn chỉ ù suông
Ôi! Tâm tư ngăn giữa bốn bờ tường
Chờ gió mới, nhưng cửa đều đóng kín!

HUY CẬN



UserPostedImage


UserPostedImage
Hungholland  
#178 Posted : Saturday, June 4, 2011 1:01:17 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn IV : THUÝ KIỀU GẶP ĐẠM TIÊN TRONG MỘNG

Tóm tắt nội dung : Sau ngày tảo mộ Thanh Minh,Kiều đã thẫn thờ và một buổi chiều tà,giữa cơn nữa tỉnh nữa mê Thuý Kiều đã gặp Đạm Tiên:

" Thưa rằng:"Thanh,khí,xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?"

Và Đạm Tiên đã tiên đoán cuộc đời của Kiều trong tương lai.

"Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội,một thuyền đâu xa!"

----o0o----

"Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.
Mảnh trăng chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
175..Hải đường lả ngọn đông lân,
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà.
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
Người mà đến thế thì thôi,
180..Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
185..Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa nương bên triện một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
190.. Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
Chào mừng đón hỏi dò la:
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?
Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên.
195..Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
200.. Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cùng người một hội, một thuyền đâu xa!
Này mười bài mới mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
205.. Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nức nở khen thầm:
Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập đoạn Trường
210.. Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Thềm hoa khách đã trở hài,
Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu xịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
215..Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo dạt đã đành,
220.. Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi !
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì ?
225..Cớ sao trằn trọc canh khuya,
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa ?
Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả đạm Tiên,
230.. Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thôi có ra gì mai sau !
235.. Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu,
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
240.. Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình."

( Còn tiếp )

* Giải nghĩa :

173. Gương nga: Theo truyền thuyết trong cung trăng có chị Hằng Nga, nên thường gọi trăng là "gương nga".

174. Vàng gieo ngấn nước: ánh trăng vàng dọi xuống ngấn nước.

175. Đông lân: Xóm bên đông, nơi có con gái đẹp ở, cũng giống nghĩa chữ "tường đông" (xem chú thích 38).

Hải đường là ngọn đông lân: Cây hải đường ở xóm đông ngả ngọn xuống.

177. Bóng nga: Bóng trăng.

179. Người mà: Chỉ Đạm Tiên.

181. Người đâu: Chỉ Kim Trọng.

186. Triện: Lan can.

187. Tiểu Kiều: Xem chú thích 146.

188. Phong vận: Yểu điệu.

Thanh tân: Thanh tú tưới tắn.

189. ý nói mặt và thân hình người tiểu kiều đó như có sự và tuyết in phủ lấy.

190. Sen vàng: Chỉ gót chân người đẹp. Đông Hôn Hầu, đời Tề (Nam Bắc Triều), rất yêu quí phi họ Phan, từng đúc hoa sen bằng vàng lát xuống nền nhà, để cho nàng đi lên rồi khen rằng: "Bộ bộ sing liên hoa" (mỗi bước đi nở ra một hoa sen).

Lăng đăng: Tiếng cổ, có nghĩa là đi từ từ chậm chậm, chập chờn mờ tỏ.

192. Đào nguyên: Đời Tần có một người đánh cá chèo thuyền ngược theo một dòng suối đi mãi tới một khu rừng trồng toàn đào, thấy nơi đó có một cảnh sống tuyệt đẹp như nơi tiên ở. Người sau dùng chữ "nguồn đào" hay "động đào" để chỉ cảnh tiên.

193. Thanh khí: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (cùng một thứ tiếng thì ứng với nhau, cùng một loại khí thì tìm đến nhau).

195. Hàn gia: Hèn là nghèo, gia là mọn, nhà xoàng, lạnhlẽo, nói khiêm tốn.

Tây thiên: Phía trời đàng tây, hoặc cánh đồng phía tây.

197. Hạ cố: Trông xuống, chiếu cố đến nhau.

198. Hạ tứ: Ban xuống, ban cho. Cả câu: Hai bài thơ của Kiều lời đẹp ý hay, thật quý báu như là ném cho những hạt châu, gieo cho những thỏi vàng vậy.

200. Đoạn trường: Đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương. Số đoạn trường: Sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh.

201. Quả kiếp nhân duyên: Quả là kết quả. Nhân là nguyên nhân, ý nói duyên (tốt). hay kiếp (xấu) cũng là có nhân với quả cả.

208. Tú khẩu, cẩm tâm: Miệng thêu, lòng gấm. ý nói thơ Kiều làm rất hay.

222. Đòi cơn: Nhiều cơn.

223. Trưởng loan: Màn có thêu chim loan.

224. Nhà huyên: chỉ vào bà mẹ. Huyên là cây hoa hiên, theo thuyết cổ, có tính chất làm quên sự lo phiền.

226. Hoa lê: Ví với người đẹp, giọt mưa ví với giọt nước mắt.

228. Dưỡng sinh: Nuôi dưỡng và sinh ra, chỉ công ơn cha mẹ.

235. Mộng triệu: Điều thấy trong mộng.

238. MạchTương: Dòng nước mắt. Tương là tên một con sông ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) chảy vào hồ Động Đình. Ngày xưa, vua Thuấn đi tuần thú, chết ở phương xa, hai người vợ vua là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm, đến ngồi trên bờ sông Tương, khóc rất thảm thiết, nước mắt vẩy ra những khóm trúc xung quanh, làm cho trúc đó hoá thành những điểm lốm đốm. Về sau, các nhà văn thường dùng chữ mạch Tương, giọt Tương để chỉ nước mắt phụ nữ.

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 2:24:09 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#179 Posted : Sunday, June 5, 2011 10:17:30 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Những Chuyện Ly Kỳ Về Con Rắn Hổ Đất
Trong Văn Hoá Dân Gian Tây Nam Bộ


Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội tợ bánh canh
Cỏ mọc cọng thành tinh
Rắn đồng đà biết gáy

Đó là những câu ca lưu truyền cách đây trên dưới ba trăm. Theo bước chân người mở cõi ở miệt đất Chín Rồng này, hình tượng con rắn đã in đậm trong tâm thức của họ. Rắn đã trở thành một nét văn hoá trong đời sống của người bình dân Tây Nam Bộ. Trong số các loài rắn thì chuyện về Thầy Ba – tên dân gian dành gọi rắn hổ đất có khá nhiều tình tiết ly kỳ, đượm màu sắc huyền thoại pha lẫn hiện thực. Chúng tôi khảo sát một số nét chính trong số vô vàn những câu chuyện như vậy về rắn hổ đất!

1. Rắn hổ loài bò sát không chân


Rắn hổ đất tất nhiên cũng như các loài rắn khác, nó là loài động động vật máu lạnh, bò sát - cùng lớp với các loài có vảy như thằn lằn, tắc kè - nhưng không có chân. Toàn thân rắn được bao bọc một lớp vảy cứng. Khoảng 2 - 3 tháng rắn phải thay da một lần. Rắn hổ đất có thân đen bóng, đen mốc (giống màu đất) của nó, có lẽ vì thế dân gian gọi là rắn hổ đất. Ở cổ rắn hổ có “bàn nạo” hình mặt trăng mỗi khi tức giận, rắn ngóc đầu bàn nạo phùng ra, lưỡi khè khè sẵn sàng bắn nọc độc … là lúc rắn dọa kẻ thù khủng khiếp nhất.

Rắn hổ có nhiều loại: rắn hổ đất còn gọi là rắn hổ mang (rắn hổ mang chúa nặng tối đa khoảng 20kg trở lại, lưng có màu vàng, chì, xám, khác với hổ đất – giống nhỏ hơn màu đen mà chúng tôi vừa nói), hổ mây (là giống to lớn nhất, được dân gian gọi là rắn “thần), rắn hổ lửa là loài lai giữa rắn hổ với rắn nước. Nếu hổ lửa có đầu là rắn hổ, mình rắn nước thì chúng có nọc độc chết người. Ngoài ra, còn có những giống khác như: hổ hèo, hổ hành, hổ ngựa, hổ trâu, hổ mèo, …

Thức ăn chính nuôi sống rắn hổ đất là chuột, vì thế nơi nào có nhiều chuột đồng có thể có nhiều rắn hổ để làm cân bằng môi trường sinh thái. Rắn hổ cũng rất ưa cóc, nhái, …

2. Những món ăn từ rắn hổ đất


2.1. Cách bắt rắn

Muốn ăn thịt rắn hổ thì phải … bắt rắn hổ! Cách bắt thông thường nhứt là đào hang. Nhìn vào miệng hang xem nếu bóng láng, đó là rắn thường bò ra vào làm nhẵn đi. Miệng hang nào có màn nhện, không phẳng phiu hang đó không có rắn. Hơn nữa người chuyên nghiệp bắt rắn họ có giác quan rất bén nhạy, linh cảm đoán biết chắc hang nào có rắn, hang nào không.

Người đi bắt rắn có thể dẫn theo chó giỏi săn mồi, hang nào chó ngửi miệng hang và sủa dữ mà mặt mày lắm le lắm lét, chạy xung quanh mà sủa không đứng yên, chắc chắn hang đó có rắn hổ. Chó sủa vang hai chân trước cào xới đất, đứng trước miệng hang vừa sủa vừa tiếp tục cào xới đất, y như rằng, hang đó chỉ có chuột thôi. Bởi chó không "ke" cái họ nhà chuột mà chỉ sợ có rắn hổ đất mà thôi.

Một cách bắt rắn khác nữa là dùng lọp (vật dụng bắt cá làm bằng tre, trúc, có hom) đặt cá nhưng đôi lúc cũng dính luôn “thầy ba”. Có khi đặt lọp trên cạn gần miệng hang rắn hoặc để những vùng cỏ nào mà người ta đoán hoặc thấy có rắn hổ xuất hiện, trong có thả vài con chuột làm mồi nhử, … Thỉnh thoảng rắn hổ đất cũng dính câu cắm, vì chúng ăn mồi nhái (dùng để cắm cá lóc) hoặc ăn cá rô, khi cá đã dính vào lưỡi câu, và mắc lưỡi câu luôn. Rắn hổ, rắn nước cũng có thể dính lưới khi người ta giăng cá, …

Có người quả quyết, nhiều ông thầy bùa, thầy ngãi khi bắt rắn họ làm bùa, đọc chú hay dùng củ ngãi, lá ngãi xát vào tay rồi vỗ lên miệng hang, có rắn hổ trong hang, chúng bò ra nạp mạng, ông thầy bùa, thầy ngãi thộp cổ bỏ vào giỏ "êm ru". Sự thật chưa biết ra sao? …

2.2. Cách làm rắn

Rắn có thể đem đi cắt cổ, lấy máu pha rượu, cũng có thể đập đầu cho rắn chết, kế đó người ta không lột da rắn mà thường làm rắn bằng một trong các cách sau:

Dùng than hoặc rơm rạ khô hơ nhẹ cho lớp vảy tróc ra, không để quá lâu, lửa sẽ làm thịt chín lúc ấy khó làm, và rắn cũng mất ngon.

Hoặc trụn nước sôi: cũng làm tương tự như cách hơ lửa, chỉ có khác là nhúng rắn vào nồi nước nóng, hoặc đang sôi để dễ làm vảy.

Cạo vảy xong, rửa sạch rồi mổ bụng, chú ý, phải lấy mật trước, sau đó mới lấy bộ đồ lòng. Mật rắn hổ quý, bởi dân gian tin rằng nó chữa được nhiều thứ bệnh. Vì thế ai mà làm rắn, nhất là rắn mà làm bể mật coi như chưa phải là “cao thủ” trong “nghề ăn chơi!”

Trong những bữa nhậu thịt rắn, người ta lấy mật rắn hổ hòa với rượu đế, mỗi người uống một ít khi mở đầu tiệc nhậu. Không ai dám nuốt nguyên một cái mật rắn hổ cả, vì như thế rất bị "hàn" (nguy hiểm đến tính mạng), mỗi người san sẽ một chút “thần dược” mà thôi!

Khi làm thịt nó, trước hết người ta chặt bỏ cái đầu, lấy một cây que vót nhọn đâm vào và đem chôn ngay, không thì phải dùng dao bằm nát, hoặc bỏ vào lửa đốt đi. Tránh chuyện mãi mê lo làm rắn, quên cái đầu ấy (thực ra nọc độc vẫn còn, tay chân trầy xước, tróc da, vướng vào răng nó lúc ấy vẫn an nguy đến tính mạng như thường), rắn mối, rắn nước hay chó mèo, gà vịt tha đi sẽ rất nguy hiểm. Dân gian còn lưu truyền nhiều giai thoại về việc rắn trả thù, chúng tôi sẽ nói ở phần sau. Ngay cả khi ăn thịt rắn hổ phải chú ý tách xương ra, xương cũng phải chôn cẩn thận vì nếu ai đạp phải xương rắn hổ, chân sẽ bị làm độc, sưng nhức khó chịu.

2.3. Các món ăn

2.3.1. Rắn hầm sả

Rắn làm sạch chặt thành từng khúc, sả ớt băm nhuyễn, một số lá sả cuộn tròn, gia vị, …

Bắc nồi lên bếp cho nóng, phi ít mỡ heo với sả ớt đã băm nhuyễn cho thơm. Đổ thịt rắn vào đảo đều cho săn. Đổ nước săm sấp rồi bỏ lá sả, cọng sả xắt khúc vào, đậy nắp cho kín, chụm lửa cháy đều, vừa, cho nước hầm sôi đều đến khi thịt rắn mềm, là ăn được.

Nêm nếm không quá mặn để dùng nước của món ăn này chan với cơm, làm canh vừa tiện vừa ngon. Nước chấm là nước mắm mặn, hoặc nước tương.

2.3.2. Rắn nấu cháo

Độc chiêu là rắn hổ đất xé phay với cháo đậu xanh cà ăn rất mát, ngon hết ý. Rắn hổ làm sạch, chặt ra làm hai hay làm ba bốn khúc nấu cháo với đậu xanh cà. Gạo nấu cháo phải chọn gạo nàng thơm mới, có nhiều nhựa càng tốt. Muốn nồi cháo rắn hổ thêm ngon, cần phải có thêm nước cốt dừa. Khi thịt rắn thật chín, người ta lấy rắn ra để nguội, dùng tay xé tách thịt để vào một cái dĩa to hoặc trong cái thố lớn, hành củ thái mỏng ngâm giấm có thêm một ít đường cát, để một lát cho thấm giấm, đem trộn với thịt rắn , rau răm xắt nhỏ rải lên cùng với đậu phọng rang đâm nhuyễn, rắc nhiều tiêu và hành, ngò rí. Muốn ăn nồi cháo rắn hổ cho ngon là phải ăn thật nóng, tiêu phải đủ cay. Cháo rắn hổ để nguội sẽ tanh và ăn không ngon. Nhâm nhi ly rượu đế với chén cháo rắn thì ngon miệng không gì bằng.

Cần chi cá lóc cá trê
Thịt chuột thịt rắn nhậu mê hơn nhiều (Ca dao)

2.3.3.Rượu rắn hổ

Có hai loại:

Dễ làm nhất là khi làm thịt rắn hổ, người có kinh nghiệm sẽ dùng dao cắt cổ rắn lấy máu pha vào rượu để uống cùng với thịt rắn sau khi chúng được chế biến xong, như đã nói qua các món ăn ở trên.

Hai là, rắn hổ còn sống bắt về thả vào keo, đổ rượu trắng nặng độ vào, cho ngập mình rắn. Rắn sẽ nhả nọc ra rồi chết. Rượu này để khoảng 3 tháng đem ra uống dù có mùi tanh, nhưng theo các các lão nông tri điền thì đây là phương thuốc trị mỏi gối đau lưng, thận hư, khí nhược. Cũng bằng cách ngâm rắn, nhưng có thêm rắn ráo, rắn cạp nong (mái gầm có khoang vàng và đen) ngâm chung được gọi là tam xà tửu, thêm rắn lục và cạp nia (cũng là mái gầm nhưng có khoang đen và trắng) vào gọi là ngũ xà tửu. Có điều là các loại rắn này thường được làm sạch, nướng vàng rồi mới cho vào ngâm chớ không để nguyên thuỷ ngâm sống như cách ngâm rắn hổ đất đã nêu trên. Tam xà, ngũ xà đều là rượu thuốc dùng để trị bệnh suy nhược cơ thể, ít người dùng rượu này uống đến say.

3. Rắn hổ trong câu chuyện ly kỳ và kinh nghiệm dân gian vùng sông nước Tây Nam Bộ

Có lẽ do đây là con vật đã từng gây ra cái chết cho con người. Vì thế, xung quanh nó cũng có quá nhiều chuyện ly kỳ, được dân gian miêu tả từ thực tế và cũng có không ít trong số đó được thêu dệt nên.

Người đi ruộng vườn thấy rắn hổ ít ai dám kêu tên mà người ta thường gọi là … Thầy Ba như chúng tôi đã nói ở đầu bài viết này.

Những bậc cao niên ở đây thường hay kể câu chuyện rắn báo thù, cùng môtif, nhưng có những tình tiết khác nhau. Xin dẫn lại một số trong rất nhiều “dị bản” ấy.

Chuyện kể có người nông dân nọ đi đắp bờ ruộng. Tình cờ anh xắn đứt đuôi con rắn hổ đất. Đến trưa, anh về nhà, từ trên nóc nhà “rớt” xuống phần đầu con rắn hổ. Và nó “mổ” anh chết tươi!

Chuyện khác, một lần, có một người nông dân sau khi làm rắn ăn nhậu no say, tối chun vô "nóp" ngủ, sáng người nhà phát hiện, ông ta nằm chết cứng ngay đơ, người ta tìm thấy một cái đầu rắn hổ cạnh bên cổ ông ta và lưỡi rắn còn lè ra. Nhiều người quả quyết một con rắn mối tha cái đầu rắn vào nóp để trả thù ông nông dân nầy đã giết họ nhà rắn của chúng, ...

Có thầy bắt rắn đại tài. Hổ mang, hổ chúa, thậm chí hổ mây dữ tợn, … đều bị thầy quy phục. Thế rồi, một hôm, ngủ dậy, trên giường bước xuống, vừa đưa chân vào đôi dép để dưới chân giường, thầy bị con rắn nhỏ bằng mút đũa cắn. Lát sau, đờm trào lên, cứng hàm, rồi chết! Trước đó, thầy còn trăn trối cho vợ con biết rằng: thầy bắt rắn thì sẽ chết vì rắn thôi! Không cứu được đâu! …

Dân gian kể rằng, có một anh đi cắm câu, tình cờ bị rắn hổ cắn trúng ngón tay, sẵn mác trong tay, anh bậm môi chặt bỏ mấy lóng tay chỗ rắn cắn. Về nhà băng bó, đã khoẻ. Mấy hôm sau, ra chỗ hôm nọ, tình cờ thấy ngón tay bị chính mình chặt bỏ còn nguyên, không bị huỷ hoại, thấy tiếc, anh nhặt về, tháo vết thương ra rịt nối lại. Không ngờ nọc rắn còn nguyên, chạy qua người, anh ta chết tươi, …

Người ta còn quả quyết rằng đập được rắn hổ xem đuôi của nó sẽ biết nó có “cắn” người nào chưa? Bởi dân gian cho rằng mỗi khi cắn người, rắn hổ tự cắn đuôi nó để … làm dấu!

Đàn bà có chửa hễ gặp rắn hổ đất là rắn không thể đi được. Nó cứ nằm im “chờ chết” như thế. Nhưng nếu không biết, chẳng may bị nó “táp” thì không thầy nào cứu được!

Rắn hổ trầm nọc: dân gian cho rằng khi mùa nước cạn, (khoảng tháng mười đến tháng chạp) rắn hổ thường xuống lung, bàu, trầm nọc. Lúc này rắn hổ đất rất nguy hiểm, bởi độc tố trong nọc của nó tăng cao.

Bìm bịp bắt rắn hổ bỏ vào ổ: Bìm bịp là loài chim mà theo dân gian thì ngâm thuốc sẽ trị được nhiều bệnh về gân cốt. Để có bìm bịp như ý, người ta thường tìm gặp ổ chúng. Khi ổ bìm bịp có chim con, người ta không vội bắt ngay mà thường hay bẻ giò chúng. Chim mẹ sẽ tha thuốc về chữa vết thương cho chim con (theo dân gian, thuốc đó rất quý, và có vậy thì chim bìm bịp con dùng ngâm rượu sau đó mới có giá trị), nhưng một lần, hai lần thấy con bị gẫy chân, bìm bịp sẽ tìm tha rắn hổ đất về bỏ vào ổ. Con người không biết, thò tay vào bắt chim con, sẽ bị rắn cắn chết ngay!

Ổ ong vò vẽ có rắn hổ. Vò vẽ là loài ong có nọc cực độc. Người bị nó “đánh” (chích) nhiều, sẽ sưng mình, mờ mắt và có thể tử vong. Ong vò vẽ chống càn cũng đã từng đi vào gia thoại thời chống Mỹ cứu nước. Dân gian cho rằng, trong tổ ông vò vẽ thường có rắn hổ. Nên khi lấy ổ loài ong này phải hết sức chú ý. Người ta tin rằng nọc ong độc là do rắn hổ truyền cho nó.

Trong làng, chẳng may có người bị rắn cắn mà không cứu kịp, ít khi người ta tẩn liệm và chôn gấp, bởi theo dân gian biết đâu phước chủ may thầy, gặp được “quới nhơn”, giúp sẽ qua khỏi, thậm chí người ta còn kể câu chuyện ly kỳ rằng, có người bị rắn cắn chết, gia chủ vội vàng tẩn liệm và mang chôn, bỗng trong quan tài nghe tiếng rên, cạy nắp áo quan ra, thì thấy xác chết lật nghiêng lại, … Tất cả, điều hoang đường! Khoa học có thể lý giải rằng nọc rắn gây ra cái chết lâm sàng trước khi chết vĩnh viễn!

Thịt rắn hổ kỵ thớt me: khi làm thịt rắn hổ, tuyệt đối không được dùng tấm thớt làm bằng gỗ me để xắt, chặt. Theo dân gian hai thứ này “đại kỵ”, nếu không hiểu vô tình “phạm” phải, người ăn thịt rắn hổ ấy sẽ khó qua khỏi!

Cháo rắn kỵ bồ hóng: khi nấu cháo rắn hổ, dân gian còn tuyệt đối cấm kỵ không để cho bồ hóng lọt vào. Bồ hóng là những sợi màu đen hình thành do quá trình của khói bếp bám vào dây, lạt (những thứ dùng để lợp nhà, ở miệt sông nước này). Nếu bồ hóng rớt vào nồi cháo, người không biết ăn vào cũng … tắc tử!

Đầu rắn hổ luyện cá lia thia: lia thia đồng ẩn mình dưới các bụi cỏ, lúa, ẩn trong bẹ dừa nước (loại cây mọc hoang ven sông) sau khi mùa mưa bắt đầu một hai tháng. Chúng được lũ trẻ hớt về, bỏ vào keo chao, vào miễn dùa chăm sóc, cho cá ăn loăng quăng để bớt muỗi. Khi cá đã khoe sắc rực rỡ (chỉ có cá trống mới được đem về nuôi vì chúng biết đá và đẹp!) chiều chiều năm ba đứa có cá rủ nhau đá cá để coi chơi. Muốn cá lia thia dữ tợn, đá đâu thắng đó, dân gian tin rằng phải cho nó ăn dòi sinh từ đầu rắn hổ, … Sự thật cũng rất khó kiểm chứng, … Người lớn tuổi cũng hay rày dặn trẻ con khi hớt cá này phải chú ý bởi nhiều lúc bọt của rắn hổ trầm nọc nổi lên, không biết nhìn tưởng là bọt cá … đưa tay xuống thì sẽ rất nguy hiểm!

Đập rắn, dân gian truyện miệng câu tục ngữ: đập rắn phải đập ngay đầu rắn. Xem ra lời dạy này không sai cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhưng đôi lúc trong thực tiễn, người ta vận dụng khác đi đôi chút để đạt hiệu quả cao nhất.

Đập rắn hổ, người ta phang cây ở ngang tầm cổ (khi nó đang phùng mang, khè nọc), chỉ cần chạm nhẹ, rắn cũng ngả ra, và lúc ấy con người dễ dàng khống chế nó. Hơn thế, đầu rắn đập rất khó trúng, mà không trúng thì nguy hiểm, nên cách tốt nhất khi đập bất cứ loại rắn nào cũng nhè ngay xương sống nó, đập mạnh, dứt khoát, rắn gãy xương sống sẽ mất 80% khả năng nguy hiểm, lúc đó nó không bò được nữa!

Đối với người không may, bị rắn cắn, do tính chất nguy hiểm người ta truyền rằng: Mái rầm tại chỗ, rắn hổ về nhà. Người bị rắn cắn phải buộc dây buộc chặt ngay phía trên vết cắn để chặn nọc. Tuyệt đối không để đàn bà có chửa (mang thai) đến thăm, không để nạn nhân chun qua cầu, nạn nhân cũng không được hút thuốc lá, … bởi như vậy sẽ không cứu được. Nạn nhân thường rất ít đến bệnh viện mà thường tìm đến các thầy thuốc rắn, chữa trị bằng cái loại lá cây bí truyền.

Còn cách lấy cỏ màng trầu hoặc rau răm, nhai nhuyễn, nhổ nước vào miệng nạn nhân, lấy bả đắp lên chỗ bị rắn cắn, …, mọi người biết rộng rãi nhưng tất nhiên hiệu quả không cao.

Một số nhà, phía trước sân có trồng cây “nọc rắn” (có người gọi là cây lưỡi rắn), loại cây nhỏ, thân gần vuông, lá có hình thon dài, màu xanh sẫm, không có lông, cao khoảng 2 – 5 tấc tây. Nếu có người chẳng may bị rắn cắn, hái nắm lá giã nhỏ cho uống, xác đắp vào vết cắn sẽ hữu hiệu, …

4. Kết luận

Rắn hổ là loài động vật hoang dã tồn tại trong thiên nhiên, và lẽ tất nhiên nó không thể tách khỏi đời sống con người. Rắn hổ ăn chuột, thứ gậm nhắm là kẻ thù của đồng ruộng, giúp cân bằng môi trường sinh thái.

Rắn hổ được con người chế biến làm thức ăn, làm rượu rắn vừa bổ dưỡng vừa để chữa bệnh. Nọc rắn được các nhà khoa học sử dụng chế biến ra nhiều dược liệu quý hiếm phục vụ con người.

Rắn cũng đi vào đời sống, sinh hoạt văn hoá dân gian của người đồng bằng. Từ lời ca, điệu hò, câu lý, đến những truyền thuyết, cổ tích, giai thoại, … rắn ít khi vắng mặt. Hình tượng con rắn trong dân gian thường tượng trưng cho hạng người xấu, lòng sâu dạ hiểm, cần phải tránh xa nơi hang hùm nọc rắn, hay hạng người như Sư hổ mang … !
Rắn độc cũng rất nguy hiểm, con người cần đề phòng và có biện pháp phòng tránh, đặc biệt người dân quê thường hay đi đêm đến những môi trường mà rắn thường ẩn núp, …

Cách chữa trị rắn cắn trong dân gian bằng những thứ lá cỏ, vỏ cây không phải là không có thật, song nó lại được bao phủ bởi quá nhiều giai thoại ly kỳ đến huyễn hoặc. Hơn nữa, các thầy thuốc rắn thường cho rằng phương thuốc của mình bí truyền, ít người biết, … Những người có trách nhiệm cần có hình thức vận động họ để sưu tầm và phổ biến những cách thức, những vị thuốc quý để cứu người!./.

Trần Minh Thương
thunder  
#180 Posted : Sunday, June 5, 2011 10:21:26 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
PHẠM QUỲNH VÀ VIỆC ĐẮP XÂY CƠ SỞ
VUN TRỒNG CHO VĂN QUỐC NGỮ


UserPostedImage
Gs Phạm Thị Nhung


Lời dẫn của Phạm Tôn:
Đây là phần chúng tôi trích trong bài thuyết trình nhan đề Cô Kiều với Phạm Quỳnh của Gs Phạm Thị Nhung đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20-12-1992. Nhan đề là của chúng tôi

***

Sau 15 năm thành lập báo Nam Phong, Phạm Quỳnh chủ nhiệm kiêm chủ bút, qua bài Quốc Học với Quốc Văn (Nam Phong số 164, tháng 7-1931), đã xác định rõ lập trường thờ chủ nghĩa quốc gia của ông, bằng những hoạt động phụng sự cho văn hóa nước nhà bấy nay như sau :

“Báo Nam Phong từ ngày ra đời đến giờ vẫn theo đuổi một mục đích : gây lấy một cái tản văn để vừa làm cơ quan vừa làm cơ sở cho quốc học sau này ; vì chúng tôi vẫn đinh ninh rằng không có quốc học thì không sao có độc lập về tinh thần được, không có độc lập về tinh thần thì không sao có được độc lập về chính trị được.

“Ấy quốc văn nó quan hệ cho quốc học như vậy, quốc học quan hệ cho quốc vận như vậy” thế nên “Nhà văn muốn thờ nước thì không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước có một nền quốc văn xứng đáng.

“Đó là cái chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.”

Lời xác định này đã soi sáng cho lý tưởng phụng quốc bằng văn hoá của Phạm Quỳnh khi nhận lời thành lập Nam Phong. Thế nên vừa có phương tiện trong tay, Phạm Quỳnh thảo ngay một kế hoạch hoạt động lâu dài để tiến tới việc xây dựng một nền quốc học trong tương lai, mà cấp vụ đầu tiên là phải gây lấy một nền quốc văn xứng đáng.

Do đó, báo Nam Phong ngay số ra mắt, Phạm Quỳnh đã đặt vấn đề xây dựng quốc văn làm mục tiêu chính của tờ báo

“Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, bước tiến hoá sau này mới có thể mong mỏi được. Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới thâu thái được các khoa học mới mà gây thành một nền học thích hợp với trình độ, mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình à Nói rút lại quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quốc dân ta mới không đến nỗi chung kiếp đi học mượn, viết nhờ như từ trước đến nay” (Văn Quốc Ngữ).

Để giải quyết vấn đề quốc văn “mới nở còn non nớt chưa đủ sức” buổi ấy, Phạm Quỳnh đã phải nỗ lực hoạt động trên nhiều lãnh vực.

Phạm Quỳnh cổ võ đồng bào tham gia chiến dịch gây dựng tài bồi cho văn quốc ngữ bằng cách viết văn, đọc văn.

Vì nhận thấy dân mình bấy giờ thường có thái độ “coi thường, coi khinh, thờ ơ ” với văn quốc ngữ, vì lẽ : học dễ không đáng học – quá non nớt, yếu kém so với văn Tàu, văn Tây – vô tích sự vì không mưu sinh được, nên ông ra công kêu gọi bằng cách khơi động lương tâm và lòng ái quốc của họ.

Văn quốc ngữ nước ta ngày nay ví như đứa trẻ “đương buổi ấu trĩ này, phải có người chăm chút, phải có người trông nom, phải có người phù trì mà cũng phải có người tưởng lệ, thì mới mong ra khỏi tuần măng sữa, hết thời kỳ sài đẹn, mà đến tuổi lớn khôn mạnh mẽ.”

Thế nên ông khích lệ những nhà Tây học, cùng những nhà cựu học, hãy “viết văn quốc ngữ, đem sở học, sở trường của mình đóng góp công đức vào việc xây dựng tô bồi cho nó.”

Không những kêu gọi người viết văn, Phạm Quỳnh còn kêu gọi cả người đọc quốc văn (để phấn khởi người viết văn) mà cho rằng “ngày nay người nào chịu tập văn nôm là làm một việc công đức, người nào chịu xem văn nôm là làm một việc nghĩa vụ. Công đức ấy, nghĩa vụ ấy, người có lòng có dạ với nước, há lại chẳng nên vui vẻ mà làm ru ?

“Chữ quốc ngữ chính là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân … Xin đồng bào chớ lãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ. Tương lai nước ta chính ở đó.” (Văn Quốc Ngữ, Nam Phong, số 1, 1917)

Riêng phần Phạm Quỳnh, ông một lòng cung-cúc, tận tụy đắp xây cơ sở và vun trồng cho quốc văn : trước hết bằng những bài biên dịch thiên về đường tư tưởng, nghị luận, theo Phạm Quỳnh, “lúc quốc văn mới nhúm thành, ta cần phải dịch sách người hơn là làm sách mới. “

Sao vậy ? Vì họ Phạm muốn nhắm vào những mục đích :

. Luyện cho câu văn quốc ngữ được “sắc sảo, mềm mại“.

. Học lấy và truyền bá lối văn học vấn, văn nghị luận, thuyết lý mà ta chưa có.

. Sau nữa là có dịch, có đối chiếu với văn người mới biết mình thiếu tiếng gì mà phiên dịch, tân tạo những tiếng mới, bổ khuyết vào, cho quốc văn thêm phong phú.

Trong bài Báo Nam Phong Được Mười Tuổi (Nam Phong. số 119, 1927), nhóm biên tập cũng đã lưu ý về những điểm này như sau :

“Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra, vận văn của nước ta nhờ các tiền nhân tập luyện đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn xưa nay hầu như chưa có, mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay. Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, ‘phát hành’ kể có hàng ngàn tiếng mới.”

Những chữ mới này đã được xuất hiện đều đặn trên mấy tờ “Tự Vựng” trong mỗi số Nam Phong, được thích nghĩa rõ ràng, để giúp cho sự học trong nước và cho người làm văn khỏi dùng sai lầm. (Lê Thanh trong bài “Ba người thợ cần mẫn : Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Khắc Hiếu” đăng trên báo Tri Tân số 172 ngày 28-11-1941, viết “Trong một câu chuyện văn chương, ông Đào Duy Anh cho tôi biết rằng cái mục Tự Vựng đã giúp sự học của ông rất nhiều và có lẽ chính những trang giải nghĩa danh từ mới ấy là cái mầm những từ điển của ông.”) Lâu dần chúng trở thành quen thuộc, thông dụng. Bao nhiêu chữ mới như : quan điểm, chủ nghĩa, xã hội, văn minh … đã thấy tái hiện trên sách báo, và làm công cụ diễn đạt tư tưởng cho người Việt chúng ta từ bấy lâu nay.

Lại nữa, câu văn quốc ngữ chưa có kỷ luật gì nên Phạm Quỳnh đã nêu ra vấn đề văn pháp, và gợi ý các nhà tân cổ học viết văn quốc ngữ nên biết những ưu, khuyết điểm của mình, bổ túc cho nhau để tạo một lối riêng cho văn quốc ngữ :

“Quốc văn ta đã chịu ảnh hưởng của chữ Hán trong mấy mươi đời, nay muốn gây dựng ra quốc văn phải nhân ảnh hưởng đó mà lợi dụng ra (những người chủ trương bỏ hết chữ nho cùng những lối văn nho đã dung hoà với quốc âm từ bao giờ đến giờ là nghĩ sai cả). Nay ta học tiếng Pháp nhiều, tất cũng phải chịu ảnh hưởng của Pháp văn”… “Người thuần cựu học thì có nhiều chữ dùng mà cách sắp đặt còn lộn xộn, không biết chấm câu theo lối mới, rất là quan hệ cho văn chương. Người thuần tân học thì thuộc phép đặt câu mà chữ dùng thường thiếu thốn, không đủ tiếng mà nói hết cái ý của mình.”

Nay đem hai lối văn ấy mà “hoà lộn với nhau, lẫn cho nhau, nhờ đó mà không bao lâu quốc văn ta thành được, gồm cả tinh hoa của Âu Á ” … Tuy “lấy Hán văn, Pháp văn làm mẫu ” là cốt “theo thể thức hay, phương pháp khéo của người ” còn mình vẫn phải “cố giữ lấy tinh thần riêng của tiếng An-nam mình “, đến thế quốc văn mới gọi là hoàn toàn được (Văn Quốc Ngữ).

Bảo vệ tiếng Việt

- Phạm Quỳnh hô hào chỉ nói ròng tiếng Việt.

Thấy phái Tây học có thói quen “hễ nói chuyện gì cao xa một chút thời dùng tiếng tây “, hay “đương nói chuyện tiếng ta đem pha ít nhiều tiếng tây vào “, Phạm Quỳnh phàn nàn lối nói chuyện đó không những “bác tạp khó nghe”, mà “còn rất phương hại cho tiếng nói nước nhà, như vậy thời tiếng Việt Nam ta bao giờ mới thành văn được ?”

Và theo họ Phạm, “chỉ nên nói tiếng nước mình, không những dùng để nói những câu chuyện thường, phải dùng để nói những chuyện cao xa nữa, dầu lúc đầu có không đủ tiếng dùng, hơi khó một chút, mà dùng mãi thành quen “. (Bàn về diễn thuyết, 1921, Thượng Chi Văn Tập, tập II)

Phạm Quỳnh phản đối chủ trương dùng tiếng Pháp thay tiếng Việt.


Trong nước bấy giờ có người đề xướng lấy tiếng Pháp thay thế tiếng An-nam làm tiếng nói phổ thông trong nước, sau lại được một số trí thức tân học nhất là trong Nam hưởng ứng, Phạm Quỳnh đã cực lực phản đối qua bài Chữ Pháp Có Dùng Làm Quốc Văn Được Không ?(1918, Thượng Chi Văn Tập, tập VI) :

Người ta lấy cớ “tiếng An-nam ta nghèo ngặt, thiếu thốn không đủ dùng “,Phạm Quỳnh đã hết sức bênh vực nó mà cho rằng đó “là một câu nói hàm hồ … vì không khi nào tiếng nói trong nước lại không theo kịp trình độ của quốc dân. Tiếng nói trong nước nghèo là trình độ quốc dân thấp, nếu trình độ cao hơn tất tiếng nói phải giầu thêm cho xứng đáng … Thử đem một câu ca dao ta mà dịch ra tiếng tây, một lời tục ngữ ta mà dịch ra tiếng tàu, chắc cũng không sao mà hết ý nghĩa được. Như vậy chữ Pháp, chữ Nho lại nghèo hơn tiếng ta hay sao ?

“Nay phần nhiều nói tiếng ta nghèo chỉ vì ta chưa có đủ những danh từ về cách trí, khoa học, kỹ nghệ … Người mình cứ nên gia công giải cứu cho thật thâm, và thứ nhất là phải có cái chí muốn đem những điều mình học được nói ra tiếng mình … khiến cho người không học cũng có thể hiểu được, mỗi người mỗi làm như vậy, thiếu chữ gì thì đặt chữ mới ra cho gọn ghẽ, hoặc mượn chữ ngoài cho tiện dùng, như vậy thì mấy nỗi tiếng An-nam lại chẳng được phong phú bằng nhiều tiếng nước khác hay sao ?”

Huống chi “Quốc âm là tiếng nói tự nhiên đặc biệt của một giống người … Có nói bằng tiếng ấy mới tỏ được hết tâm tình … đã là đặc biệt chỉ riêng cho một giống người … thời tất biểu hiệu được tâm hồn của giống ấy … cho nên quốc âm tức là một biểu hiệu tự nhiên của quốc hồn “.

Như thế, “Tiếng nói là phần cốt yếu làm thành một nước … nước sống về tiếng nói, tiếng nói còn, nước sẽ không thể mất được …”

Coi như dân Ba Lan (Polonais), dân Tiệp Khắc (Tchèque) bên Âu châu, tuy quốc thể không còn, người một giống làm tôi mấy nước, mà quốc âm vẫn giữ được, nên chủng tộc không đến nỗi mất, và nhờ cuộc chiến tranh này (1914-18) lại khôi phục được quyền độc lập, từ nay lại có tên trên bản đồ thế giới.”

Gs Phạm Thị Nhung

Edited by user Friday, June 10, 2011 2:30:39 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
143 Pages«<7891011>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.