Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages«<1112131415>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hạ Vi  
#241 Posted : Wednesday, June 29, 2011 2:51:09 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage



Trầm Tử Thiêng và ca khúc “Chuyện một chiếc cầu đã gẫy,”


Du Tử Lê


Nhìn lại toàn cảnh 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, người ta thấy rằng, nó không chỉ được đánh dấu bằng sự xuất hiện của những tạp chí văn học khởi nguồn vào khoảng giữa thập niên 1950. Nó còn được ghi dấu bằng nhiều chính sách đãi ngộ văn nghệ sĩ của chính quyền thời đệ nhất Cộng Hòa nữa.

Một trong những chính sách đãi ngộ văn nghệ sĩ đó, là quyết định của chính phủ cho phép một số văn nghệ sĩ gia nhập hàng ngũ quân đội, được đồng hóa một cấp bậc nào đó, tùy theo bằng cấp hoặc tên tuổi của họ.

Tới giờ, nhiều người vẫn còn nhớ, các nhà văn như Ðỗ Tốn (tác giả Hoa Vông Vang), Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Nam... Hay các nhạc sĩ như Ngọc Bích, Anh Bằng, Ðan Thọ, Nhật Bằng v.v... khi gia nhập quân đội, họ đã được đồng hóa nhiều cấp bậc khác nhau...

Tất cả những văn nghệ sĩ này đều phục vụ tại Nha Chiến Tranh Tâm Lý, thuộc Bộ Quốc Phòng, tiền thân của Cục Tâm Lý Chiến sau này. Khi Nha Chiến Tranh Tâm Lý trở thành Cục Tâm Lý Chiến, cơ quan này không còn trực thuộc Bộ Quốc Phòng, mà nằm trong hệ thống Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QL/VNCH. Ở Nha Chiến Tranh Tâm Lý, các văn nghệ sĩ được điều động về một trong hai nơi, đài phát thanh Quân Ðội, hoặc Nguyệt San Chỉ Ðạo.

Nguyệt San Chỉ Ðạo ban đầu do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn trông nom. Chính nguyệt san này, bằng vai trò chủ bút của mình, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã đăng truyện ngắn đầu tay của nhà văn Duyên Anh, truyện ngắn “Con sáo của em tôi,” trước khi tác giả này nổi tiếng.

Cũng từ nguyệt san Chỉ Ðạo (với thời gian được đổi tên nhiều lần như Phụng Sự, Tiền Phong...) đã là diễn đàn giới thiệu tác phẩm của các nhà thơ như Phan Lạc Tuyên, Mạc Ly Châu, Tường Linh...

Riêng nhà văn Thanh Nam được đưa về đài phát thanh Quân Ðội, làm biên tập viên cho đài này.
Cùng với nhạc sĩ Ngọc Bích, nhà văn Thanh Nam là đồng tác giả ca khúc “Suy tôn Ngô Tổng Thống” (Thanh Nam phụ trách phần viết lời).


UserPostedImage


Hai ông được tổng thống khen ngợi và hỏi có muốn xin tổng thống điều gì chăng? Nhạc sĩ Ngọc Bích, từ cấp bậc Trung sĩ, xin được thăng Thượng sĩ. Nhà văn Thanh Nam xin được chính thức giải ngũ, trở lại đời sống dân sự với nghề viết báo.


Chính sách ưu đãi văn nghệ sĩ bằng cách cho đồng hóa một cấp bậc nào đó, khi tham gia quân đội, chấm dứt vào khoảng cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960. Lý do, khi ấy chương trình quân dịch, động viên, bắt lính ở miền Nam được thi hành chặt chẽ. Hầu hết các văn nghệ sĩ, lần lượt bị gọi nhập ngũ.

Tiếp tục truyền thống ưu đãi văn nghệ sĩ, những nhân vật đứng đầu Cục Tâm Lý Chiến sau này, như các đại tá Vũ Quang, Cao Tiêu cũng đã xin nhiều văn nghệ sĩ về phục vụ đơn vị của mình, ngay khi họ vừa tốt nghiệp ở các quân trường.

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng nằm trong số những văn nghệ sĩ được tuyển dụng về phục vụ Cục Tâm Lý Chiến, năm 1966, phòng Văn Nghệ - Mặc dù ông không hề quen biết, hay chạy chọt vận động như một số trường hợp khác.

Tính khí hay bản chất của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng được ghi nhận là một trong những trường hợp ngoại lệ. Tính theo đa số thì bản chất văn nghệ sĩ thường là những người có cái “tôi” lớn hơn bình thường. Vì vậy, họ ưa chống đối, bất phục tùng, nói nhiều (thường là nói về mình) và khi hứng lên, họ bất cần đời.

Không biết có phải vì có một thời gian dài là một giáo viên (ông tốt nghiệp trường Sư Phạm Cấp Tốc Saigòn năm 1958), hay bản chất tự trọng, không muốn ai nói năng, rầy rà mình hay không (?)- - Mà, suốt thời gian trong quân đội, tùng sự tại phòng Văn Nghệ cùng với nhiều văn nghệ sĩ khác, như các nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, Phạm Minh Cảnh, Anh Việt Thu, nhà thơ Phạm Lê Phan... Trầm Tử Thiêng luôn lặng lẽ làm tròn bổn phận của mình.

Thời gian này, ông cũng giới hạn sự giao du, đàn đúm với những nghệ sĩ cùng phòng. Những khi ra khỏi cổng trại Cục Tâm Tâm Lý Chiến, người ta cũng ít thấy ông la cà tại một số địa điểm tập trung nhiều ca nhạc sĩ, như các nhà hàng Thanh Thế, Kim Sơn, hoặc Kim Hoa...

Thời gian phục vụ quân đội của Trầm Tử Thiêng tương đối ngắn, khoảng hơn 4 năm. Nhưng ông cũng đã để lại cho đồng đội, những người lính, và những người yếu quý nhạc ông, một số ca khúc đáng kể.


UserPostedImage
Tiêu biểu nhất cho giai đoạn này, của sự nghiệp âm nhạc Trầm Tử Thiêng, là ca khúc “Chuyện một cây cầu đã gẫy!”


Trước biến cố kinh hoàng, được biết dưới tên đơn giản là “Tết Mậu Thân Huế, 1968,” một thành phố tựa mối tình đầu của ông, đồng thời cũng là nơi tiếp giáp quê hương Quảng Nam của mình; Trầm Tử Thiêng đã sáng tác ca khúc “Chuyện một chiếc cầu đã gẫy!”

Một ca khúc ra đời từ hơn 40 năm trước, nay nghe lại người thưởng ngoạn vẫn còn cảm thấy bùi ngùi. Ngay cả khi người nghe không có một chút ấn tượng, hiểu biết gì về biến cố ghê rợn ấy. Có dễ vì âm điệu của ca khúc được xây trên nền của các câu hò, hoặc dân ca Huế, như Nam Bình, Nam Ai... thích hợp với nội dung, khí hậu của bản nhạc (?)

Ðã thế, ông còn “vẽ” lại một cách lớp lang, thứ tự như một truyện ngắn cảm động bằng âm nhạc, nên dù ai nghe, cũng khó cầm lòng!

Ca khúc mở đầu bằng sự nhớ lại những ngày đầu tiên, khi chiếc cầu được xây dựng:

“Một ngày vào thuở xa xưa trên đất Thần Kinh - Người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh - Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời - Khắp cố đô dân lành vui ca thành điệu Nam Bình - Niềm vui bao lâu ước mơ giờ trên xứ thơ cầu nối liền bờ - Thỏa lòng người dân hằng chờ có ngày hẹn hò tình đẹp như mơ.”


Rồi trải qua hàng trăm năm với mưa, nắng, buồn, vui, những cuộc đời thơ mộng, trưởng thành, qua đi, để bao thế hệ tiếp nối lại được mùa hẹn hò, được sống như thi ca trước sự chứng kiến của chiếc cầu nối liền hai đầu tử, sinh đó.

Trong tác phẩm của Trầm Tử Thiêng, chiếc cầu không còn là một kiến trúc, một vật thể làm phương tiện nối liền đôi bờ một con sông mà, nó còn là chứng nhân tình cảm, trung tín nhất của những người ra đi, gầy dựng tương lai, nhưng vẫn không quên lời nguyện thầm, trở về:


“Từng đoàn người dệt tương lai đi nắng về trưa - Dập dìu trong tay chan chứa tình thương - Cầu êm bóng xa xa nắng tre rập đường - Áo trắng về trắng cầu quê hương - mỗi lần chiều tan trường - Cầu quen đưa bao chuyến xe - Nhiều khi vẫn nghe buồn vui tràn trề - Âm thầm người đi, người về, trót ghi lời thề ngoài miền sơn khê.”

“Ngày nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em - Cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau - Cầu tha thiết khuyên anh giữ trọn tình đầu - Nước dưới cầu trong veo - Như cuộc tình duyên nghèo...”



UserPostedImage


Thế rồi, bất ngờ, thảm họa xẩy ra:

“Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui - Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi - Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi - Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài...”




..........................


UserPostedImage

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Du Tử Lê (1998).
(Hình: Tác giả cung cấp)




UserPostedImage
xuan hoang  
#242 Posted : Thursday, June 30, 2011 6:16:42 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


NÓI CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ BÀI THƠ "NHÀ TÔI"


Thi sĩ Yên Thao



UserPostedImage




BH thực hiện (1998)


*BH : Không phải chỉ có một mình BH nhớ bài thơ ấy đâu ạ , mà còn rất nhiều người yêu thơ ở trong miền Nam nữa . BH xin cảm ơn thi sĩ cũng như cảm ơn những người chủ trương Giai Phẩm Mùa Thu Hà Nội .BH đã chép baì thơ Nhà Tôi trong tờ Giai phẩm này, phát hành năm 1964 tại Saigon . Hình như thế ,năm đó ...nếu BH nhớ không lầm !

*YT: Không biết có phải từ tập san đó hay sau này sao chép qua lại nên sau 1975, tôi có được đọc bài thơ Nhà Tôi, người ta có in sai nhiều từ ,chị Huyền ạ !

*BH:Thật là một điều đáng tiếc .Thế nhưng chắc thi sĩ cũng thông cảm , vì đây chỉ là một bài thơ được truyền miệng, được ghi nhớ trong trí tưởng ...cho nên sự sai lạc hẳn là phải có .

Thưa thi sĩ YT, những từ ngữ dùng sai đó là những chữ nào ạ ?

*YT: Trong đoạn đầu có câu :" Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường " Màu trăng" chứ không phải "Màu trắng". Vâng, đây là màu của ánh trăng trải trên những khung tường . Và từ "mùa" trong câu "Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín" .Trong miền Nam có sách in là "mùi lúa chín".

*BH : Cảm ơn thi sĩ .Vâng, màu trắng và mùi lúa có vẻ rõ ràng và cụ thể quá ,phải không ạ ?
Từ ngữ "Màu trăng" và "Mùa lúa chín" mà thi sĩ dùng để diễn tả ý thơ, theo BH đây là những từ ngữ rất thơ. Bát ngát một trời thơ .Rất đẹp .
Thưa thi sĩ, BH còn thấy có nơi dùng sai một chữ nữa trong câu cuối baì thơ "Nhà tôi ở cuối thôn Đoài ..." "Đoài " viết hoa như một danh từ riêng ạ . Đúng ra là "thôn đồi":

Nhà tôi ở cuối thôn đồi
Có giàn thiên lý có người tôi thương ...

*YT :Xin chị BH nếu có dịp một lần nữa phổ biến bài thơ Nhà Tôi trên đài VOA, hoặc trên báo chí ở nước ngoài, lưu ý hộ tôi những từ sai ấy .

*BH :Dạ vâng . Bây giờ thì xin thi sĩ cho biết một chút về ..."lý lịch" của mình cũng như về xuất xứ của bài thơ Nhà Tôi ?

*YT: Tên cúng cơm của tôi là Nguyễn Bảo Thịnh, sinh ngày 21-1-1927 quê Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội . Nhà tôi tên Đỗ Thị Phú (chứ không phải là Hà) sinh 17-1-1929, quê Đại Gia, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây .Chúng tôi gặp nhau trong kháng chiến chống Pháp, cưới nhau ở Phú Thọ ngày 1-11-1953. Tôi và Phú đều là học sinh thoát ly gia đình đi kháng chiến .Bài thơ "Nhà Tôi" không phải là viết về chúng tôi. Chuyện thế này :

Năm 1949, tôi công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú cạnh sông ở một làng đồi .Trong lúc đợi chờ giờ nổ súng ,tôi trò chuyện với anh em và được biết ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó .Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ . Cậu ta lấy vợ được chừng tháng thì chiến tranh bùng nổ .Chàng trai lên đường đi kháng chiến, chia tay người vợ trẻ ...

Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn thiên lý của nhà mình .Tôi rất thích câu chuyện và viết nên bài thơ "Nhà Tôi". Có lẽ người viết đã hoà nhập được với người kể nên bài thơ được đông đảo anh em lính thuộc và nhanh chóng được phổ biến cả vào các chiến trường Nam Bộ .Không chỉ lính xuất thân từ nông thôn, cả những lính thành phố cũng tìm thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình .

Rất nhiều người nghĩ đó là tôi viết về tôi, Bà xã tôi cũng nghĩ thế .
Không biết khi đã rõ sự thật này, những người yêu thơ có giảm đi sự mến mộ đối với bài thơ không ?

*BH:Thưa thi sĩ , BH nghĩ rằng sự mến mộ bài thơ Nhà Tôi càng tăng thêm . Vâng, chỉ là tâm sự của một người lính trẻ thôi nhưng vì sự rung động tuyệt vời của bài thơ khiến cho ai đọc rồi cũng thấy như thấp thoáng có ngôi nhà của mình, có những người thân yêu của mình ở trong bài thơ.

Không nhất thiết chỉ là người lính đâu ,thưa thi sĩ Yên Thao ! Như BH chẳng hạn ,rất yêu bài thơ này .Mỗi lần đọc bài thơ là mỗi lần trong lòng lại dâng lên một niềm xúc cảm vô cùng .Hình ảnh ngôi nhà của bố mẹ BH tại huyện Duyên Hà ,tỉnh Thái Bình lại hiện ra rõ rệt .Rồi những lúc líu ríu cùng bố mẹ anh chị em chạy giặc Tây, thương cho người em trai ốm yếu không đủ sức khoẻ chạy loạn phải ở lại nhà ...Rồi cảnh trên bờ đê nhập nhoạng tối, lố nhố bóng người bồng bế, gánh gồng .Tiếng súng ,tiếng em bé thơ khóc ,khói lửa chiến tranh ...in sâu trong đầu óc trẻ thơ của BH . Đoạn đầu của bài thơ, đọc rồi muốn khóc :


Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng giặc đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường
Nếp đình xưa, người hỡi đau gì không ?



Sau đó thì ...ngôi nhà đẹp và ấm cúng của gia đình BH đã bị bom cày nát mất rồi !


*YT:Tôi đã hiểu vì sao chị BH yêu bài thơ của tôi .Cảm ơn những xúc động chân thành của chị .

*BH :Ở bên này có bán một CD ngâm thơ thu tại Việt Nam, tựa đề là "Những bài thơ bất tử", trong đó nghệ sĩ Bảo Cường diễn ngâm bài thơ Nhà Tôi .Ông ấy ngâm hay lắm nhưng rất tiếc lại ghi tên tác giả là Nguyễn Bính . Thi sĩ có CD đó chưa ạ ?

*YT : Tôi không được biết, nếu chị sẵn và tiện thì gửi cho xin, tôi rất cảm ơn .Tôi chỉ biết có một bài hát từ Mỹ do Anh Bằng viết nhạc, Mạnh Đình ca dưới tiêu đề "Chuyện giàn thiên lý" đang khá phổ biến ở trong nước .Ai cũng cho là thơ của tôi phổ nhạc dù Anh Bằng có cải biên một số lời, rút ngắn lại .Vì người ta đã cải biên, đổi tên bài, không nhắc gì đến tác giả thơ nên bản quyền của tác giả thơ cũng mất luôn. Có anh em bảo tôi viết thư cho Anh Bằng ,song tôi không biết địa chỉ, mà cũng nghĩ viết làm gì ?"Thế gian lẫn lộn đúng sai vẫn thường", quan tâm chỉ thêm mệt! Tuy nhiên đề nghị chị dịp nào gặp Anh Bằng cho Yên Thao gửi lời hỏi thăm. Chắc Anh Bằng cũng thích bài thơ ấy nên mới viết nên "Chuyện giàn thiên lý".

*BH :Vâng, BH sẽ liên lạc với nhạc sĩ Anh Bằng để chuyển lời thăm của thi sĩ . Thưa thi sĩ Yên Thao, sinh hoạt văn học nghệ thuật của thi sĩ hiện nay ra sao ạ ?

*YT :Hiện nay tôi là chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Thơ Trào Phúng Hà Nội .Tôi ít làm thơ trữ tình (chỉ khi nào xúc cảm thật mới làm). Thơ trào phúng Yên Thao ký dưới nhiều bút danh :Nguyễn Bảo, Cử Yên, Lang Bang, Thái Dương ...


Bài thơ Nhà Tôi đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc ra hai bài Chuyện Giàn Thiên Lý 1 và Chuyện Giàn Thiên Lý 2



UserPostedImage




Chuyện Giàn Thiên Lý 1

nhạc sĩ: Anh Bằng
Ý thơ : Yên Thao - Nhà tôi







Tôi đứng bên này sông,
Bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây bao năm dài chinh chiến,
Từng lũy tre muộn phiền.
Tôi có người vợ ngoan,
Đẹp như trăng mười sáu,
Cưới rồi đành xa nhau.

Nhớ đôi môi nàng hiền,
Xinh xinh màu nắng.
Ai ra đi mà không từng bịn rịn.
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui.

Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi.
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
Này anh lính chiến, người bạn pháo binh.
Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật buồn.

Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi.
Nhà tôi ở cuối chân đồi,
Có giàn thiên lý có người tôi thương.




UserPostedImage




Chuyện Giàn Thiên Lý 2

nhạc sĩ: Anh Bằng
Ý thơ : Yên Thao - Nhà tôi







Đã nhiều năm qua rồi
Tôi là người lính chiến
Quên thân mình giữ làng quê
Những chiều rừng hành quân
Thương về người em gái
Chờ mãi tôi chưa lần về

Nàng yêu loài hoa tên là Thiên Lý
Nên lấy phải chồng đi xa
Nhớ trước hiên nhà tranh
Có giàn hoa màu trắng
Em cười nói xinh xinh

Đêm nay bước chân tôi trở lại làng xưa
Sao lấp lánh trên sông lành lạnh về khuya
Nhìn phiá bên kia bờ
Đó làng tôi mờ mờ tựa như cánh đồng hoang

Sau bao nhớ nhung mong gặp lại người thương
Nhưng khói súng bay bay mịt mù quê hương
Chẳng biết em bây giờ có còn ôm mẹ già
Ủi an như ngày xưa

Chiến trường ôi điêu tàn
Ngôi đền thờ rách nát
Thôi không còn những hồi chuông
Mái nhà nghèo tôi thương
Bên một giàn Thiên Lý
Buồn lắm biết đâu mà tìm
Người yêu còn không
Hay là đã chết trong khói lửa ngập quê hương
Thức trắng đêm hỏa châu
Khiến lòng thêm sầu nhớ
Ôi giàn Thiên Lý đâu?



UserPostedImage


UserPostedImage
Hạ Vi  
#243 Posted : Thursday, June 30, 2011 5:44:35 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Nguồn gốc của MỘNG DƯỚI HOA by Phạm Anh Dũng



"Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng..."




UserPostedImage




Bài hát nổi tiếng "Mộng Dưới Hoa" được biết, theo các bài nhạc và tập nhạc in trong quá khứ, là nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Đinh Hùng.

Sự thật không đúng hoàn toàn như vây. Có vài tên riêng như "Mộng Dưới Hoa", "Dưới Hoa Thiên Lý", "Tự Tình Dưới Hoa" và "Suôi Dòng Mộng Ảo" có liên lạc đến bài nhạc .

1.Mộng Dưới Hoa

"Mộng Dưới Hoa" là nhạc Phạm Đình Chương phổ vào bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đinh Hùng hay không ? Không đúng vậy vì không có bài thơ nào của Đinh Hùng tên là "Mộng Dưới Hoa" cả.

2.Dưới Hoa Thiên Lý

Trong tuyển tập nhạc "Mộng Dưới Hoa", 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, ngay dưới nhạc phẩm "Mộng Dưới Hoa", tác giả Phạm Đình Chương có viết: "...Viết Mộng Dưới Hoa năm 1957, nguyên bài thơ mang tựa đề "Dưới Hoa Thiên Lý...".
Thật ra, không thấy bài thơ nào của Đinh Hùng có tên là "Dưới Hoa Thiên Lý".
Không biết vì sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương lại quên và viết như vậy?

3.Tình Tự Dưới Hoa

Có phải "Mộng Dưới Hoa" là bài nhạc phổ vào bài thơ "Tình Tự Dưới Hoa" của Đinh Hùng ?

Không đúng hòa toàn...

"Tình Tự Dưới Hoa" một bài thơ 7 chữ có trong tập thơ "Đường Vào Tình Sử" của Đinh Hùng và chính từ bài này có bản nhạc "Mộng Dưới Hoa". Tuy là ý bài hát dựa nhiều vài bài thơ nhưng thật ra chỉ có hai trong sáu đoạn của bài thơ đã phổ thành nhạc.

Đó là đoạn thứ nhất của bài thơ:

" Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng"


và đoạn thứ ba của bài thơ:


"Em đến như mây, chẳng đợi kỳ
Hương ngàn gió núi động hàng mi
Tâm tư khép mở đôi tà áo
Hò hẹn lâu rồi - Em nói đi"




UserPostedImage




4. Suôi Dòng Mộng Ảo (1)


Một đoạn trong bài thơ 6 chữ này của Đinh Hùng được phổ nhạc và cho vào bài "Mộng Dưới Hoa" .

"Suôi Dòng Mộng Ảo" là một bài thơ, cũng ở trong thi tập "Đường Vào Tình Sử " của Đinh Hùng. "Suôi Dòng Mộng Ảo" có tám đoạn và chỉ có đoạn thứ năm có trong bài hát "Mộng Dưới Hoa" làm thành điệp khúc của bài hát:


"Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa xát lòng anh (2)
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối"



Nếu xem kỹ bài hát "Mộng Dưới Hoa" ở cuối bài viết này, sẽ thấy đa số lời của bài "Mộng Dưới Hoa", nghĩa là đoạn kết (đoạn thứ tư) và toàn bộ Lời 2, không có trong bài thơ nào cả của thi sĩ Đinh Hùng.

Tóm lại, "Mộng Dưới Hoa" là bài nhạc có lời với một phần gồm hai đoạn thơ từ bài thơ 7 chữ "Tự Tình Dưới Hoa", một phần gồm một đoạn thơ từ bài thơ 6 chữ "Suôi Dòng Mộng Ảo" và phần lớn không có xuất xứ rõ ràng.

Hầu như chắc chắn Đinh Hùng đã viết cái "phần lớn" đó sau khi Phạm Đình Chương đã viết nhạc vào thơ cho ba đoạn đầu của bài hát.

Ở cuối quyển "Mộng Dưới Hoa", 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, có trích lời nhạc sĩ Vũ Thành: "Mộng Dưới Hoa" còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó... Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương."

Hãy xem thử một câu "Tâm tư khép mở đôi tà áo" đổi thành "Áo bay mở khép nghìn tâm sự", thì sẽ thấy ngay là bài hát đâu có còn "vẫn giữ bằng trắc của từng chữ" nữa.

Công bằng mà nói những chữ của thơ dùng vào bài nhạc đại đa số cũng vẫn giữ đúng vần bằng trắc của thơ thật nhưng không thể nói là "...từng chữ..."

Và có thể cố nhạc sĩ Vũ Thành, vì một lý do nào đó, tưởng lầm bài nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa chỉ là nhạc phổ vào nguyên thủy của một bài thơ?


Tuy nhiên, phải công nhận là Phạm Đình Chương viết nhạc rất khéo léo và lời viết của Đinh Hùng dù là thơ hay không thơ cũng rất... thơ.

Với tên tuổi lẫy lừng của thi và nhạc sĩ Đinh Hùng-Phạm Đình Chương, bài nhạc hay mà lại dễ hát đã thành trở thành một trong những bài nhạc có thể nói phổ thông nhất của Tình Ca Việt Nam.



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đường Vào Tình Sử, Thơ Đinh Hùng, do Cơ Sở Xuất Bản Đại Nam phát hành, không thấy đề ngày tháng, có lẽ in hay chụp lại từ bản in tại Việt Nam ngày xưa in khoảng năm 1961. Địa chỉ: Dai Nam Cọ P.Ọ Box 4279; Glendale CA 91202.
2. Mộng Dưới Hoa, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, Phạm Thành xuất bản năm 1991. Địa chỉ: Vincent & Company 17150 Newhope St., St. 107; Fountain Valley, CA 92708. ĐT: (714)540-9759 hay (213)864-5159.
3. www.dactrung.net mục thơ Đinh Hùng và mục nhạc Phạm Đình Chương




UserPostedImage



Mộng dưới hoa


(nhạc Phạm Đình Chương - thơ/lời Đinh Hùng)


Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh lả (3) bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng

Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ
Mây ngàn gió núi đọng trên mi
Áo bay mở khép nghìn tâm sự
Hò hẹn lâu rồi em nói đi

Nếu bước chân ngàn có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối

Ôi hoa kề vai, hương ngát mái đầu
Đêm nào nghe bước mộng trôi mau
Gió ơi gởi gió lời tâm niệm.
Và nguyện muôn chiều ta có nhau

Lời 2:

Tôi cùng em, mơ những chốn nào
Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao
Sánh vai một mái lầu phong nguyệt
Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao (4)

Hy vọng thơm như má chớm đào
Anh chờ em tới hẹn chiêm bao
Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng
Hoa (5) lệ ân tình môi khát khao

Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta say thành mộng nghìn thu
Núi biếc sông dài ghi nhớ

Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngã sơn khê
Bóng hoa ngả (6) xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê (7)



CHÚ THÍCH:

(1) tựa đề bài thơ in trong sách là "Suôi" chứ không phải là "Xuôi",có lẽ lỗi đánh máy
(2) bài thơ in trong sách viết là "xát" chứ không phải "sát", có lẽ lỗi đánh máy
(3) có bản viết là "là" thay vì "lả"
(4) có bản viết là "trao" thay vì "chao"
(5) có bản viết là "hòa" thay vì "hoa"
(6) có bản viết là "ngã" thay vì "ngả"
(7) có bản viết là "mơ" thay vì "mê"




Tự tình dưới hoa


(Thơ Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,
Ôi mộng nào hơn giấc mộng nàỷ
Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,
Nửa như hoài vọng, nửa như say

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ
Thương hàng gió núi động hàng mi
Tâm tư khép mở đôi tà áo,
Hò hẹn lâu rồi -- Em nói đi

Em muốn đôi ta mộng chốn nàỏ
Ước nguyền đã có gác trăng sao
Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,
Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,
Nắng trong hoa, với gió ven hồ
Dành riêng em đấỵ Khi tình tự,
Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi u sầu, em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời
Vai kề một mái thơ phong nguyệt,
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười



UserPostedImage


Suôi Dòng Mộng Ảo


Chim hồng về khu rừng cũ,
Xuân ấy hai lòng mới yêu .
Cùng hoa, bướm trắng sang nhiều,
Nắng thơm những chiều tình tự .

- Xin em ngồi trên nhung cỏ,
Nghe suối ca vui nhịp nhàng.
Anh ru cho hồn em ngủ,
Bằng điệu ca sang dịu dàng.

Chim xanh về khu rừng cũ,
Hè tới, hai lòng còn yêu .
Cỏ thơm mọc đã cao nhiều,
Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ!

- Nếu bước chân ngà có mỏi,
xin em dựa sát lòng anh.
Ta đi vào tận rừng xanh,
Vớt cánh rong vàng bên suối.

Lá đỏ rơi trong rừng cũ,
Thu về, hai lòng còn yêu.
Đường tình trải một làn rêu,
Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự.

- Em có lên sườn núi biếc,
Nhặt cánh hoa mơ gài đầu.
Này đôi nai vàng xa nhau,
Có tiếng gọi sầu thảm thiết.

Chim buồn xa khu rừng cũ,
Đồi núi trập trùng cỏ rêu.
Hai lòng nay đã thôi yêu,
Có tiếng suối chiều nức nở.

- Em không nghe mùa thu hết?
Em không xem nắng thu tàn?
Trời ơi! Giọt lệ này tan,
Là lúc linh hồn anh chết!




UserPostedImage



Duy Trác
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=mD3zdvGXfv







UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 7/2/2011(UTC)
xuan hoang  
#244 Posted : Saturday, July 2, 2011 7:44:52 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
THANH SƠN VỚI NHỮNG BÀI HÁT ĐẬM CHẤT NAM BỘ

Cao Vũ Huy Miên



UserPostedImage



Nhạc sĩ Thanh Sơn, tác giả của những ca khúc mang giai điệu buồn thương về tuổi học trò, mái trường, hoa phượng như: Lưu bút ngày xanh, Nỗi buồn hoa phượng, Thương ca mùa hạ, Nhật ký đời tôi, Mùa hoa anh đào, Hương tóc mạ non, Bài ngợi ca quê hương…



Hầu hết ca khúc của ông đều mang âm hưởng dân ca Nam Bộ, lẫn một vài điệu thức của vọng cổ, cải lương như đã thấm đẫm trong tâm hồn ông. Nên vừa trữ tình vừa ngọt ngào, dễ hát, dễ thuộc và đặc biệt là dễ nhớ, vì trong nhạc có nhiều hình ảnh, kỷ niệm phù hợp với tâm tư, tình cảm bình thường của nhiều người. Đã có người ví, nhạc Thanh Sơn như chiếc xuồng quê đưa biết bao tâm hồn trở về với ký ức tuổi học trò, dòng sông, hàng dừa rủ bóng, cánh đồng đầy cò trắng, ngạt ngào hương mạ xanh rờn thắm đượm tình quê…

Có điều ít ai biết, trước khi trở thành nhạc sĩ, Thanh Sơn đã là ca sĩ. Số là vào năm 1959, từ quê nhà Sóc Trăng ông lên Sài Gòn giúp việc cho một gia đình. Vốn có giọng hát hay và từ lâu ôm ấp mộng làm ca sĩ. Một lần ông nghe radio và biết Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức tuyển lựa ca sĩ, ông ghi tên tham dự và đến ngày thi xin gia chủ cho mình nghỉ 2 giờ đồng hồ để đi thi. Sau một năm chờ đợi, ông nhận được thông báo mình đạt vị trí thủ khoa kỳ thi tuyển chọn đó. Và với kết quả này, ông đã được nhiều ban nhạc danh tiếng ở Sài Gòn lúc đó mời cộng tác. Từ đây, Thanh Sơn đã bước vào lĩnh vực ca hát của Sài Gòn hoa lệ, dần dà quen biết, gần gũi với những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng như: Hoàng Thi Thơ, Hoàng Trọng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Lam Phương, Duy Trác, Kim Tước, Mai Hương… Và về sau này, hai nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Lê Dinh đã khuyến khích và giúp đỡ ông rất nhiều trong bước đầu sáng tác.



UserPostedImage




Nhạc sĩ Thanh Sơn tên thật là Lê Văn Thiện, sinh ngày 1/5/1938 tại Sóc Trăng, là thứ 10 trong một gia đình 12 anh chị em.

Nhà đông con, cuộc sống bữa đói bữa no nên tuổi thơ của ông rất cơ cực. Lại nữa, gia đình ông bấy giờ có che dấu cán bộ Việt Minh nên bị ngụy quân ngụy quyền truy bức gắt gao, phải rày đây mai đó.

Những năm học tiểu học, ông được nhạc sĩ Võ Đức Phấn (em út của nhạc sĩ Võ Đức Thu nổi tiếng về tài dạy đàn ở Sài Gòn những năm 1950 - 1960) nhận làm học trò. Năm 1955, thầy Phấn qua đời, ông bắt đầu lên Sài Gòn kiếm sống, làm gia nhân cho ông Giám đốc Công ty Dầu lửa Quốc gia với đồng lương 150 đồng/tháng. Mê âm nhạc nên ông theo học lớp nhạc của nhạc sĩ Lê Thương. Công việc của ông thời đó là chép và kẻ khung nhạc.

Năm 1959, ông đăng ký dự thi cuộc thi Tuyển lựa ca sĩ của Đài Phát thanh Sài Gòn với ca khúc Chiều tàn (Lam Phương). Thí sinh Lê Văn Thiện với nghệ danh Thanh Sơn giành giải nhất, giải thưởng ông nhận được là một chiếc radio và cây đàn guitare.

Bắt đầu từ thành công đó, Thanh Sơn dấn thân vào nghiệp ca sĩ, khởi đầu đi hát trong ban nhạc Tiếng tơ đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng và hát cho Đài Phát thanh Sài Gòn. “Lương ngon lắm! Tôi hát cho ba ban trong đài, lãnh tiền theo từng bài, cộng lại tới 6.000 đồng/tháng, trong khi lương công chức lúc đó có 1.800 đồng thôi” - ông nhớ lại.

Từ năm 1960, ông bắt đầu sáng tác. Ông chọn đề tài về lứa tuổi học trò để nhớ về thời áo trắng, với ông, đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời. Bài hát đầu tiên ông viết là Tình học sinh. Sau khi được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ góp ý, hướng dẫn, ông gửi cho đài phát thanh và có rất nhiều ca sĩ hát ca khúc này trên sóng phát thanh thời ấy. (Nhạc sĩ Thanh Sơn cho biết, ông có hơn 200 bài hát ông viết về tuổi cắp sách đến trường. Trong đó có những ca khúc nổi tiếng như: Tình học sinh, Ba tháng tạ từ, Lưu bút ngày xanh, Hạ buồn và đặc sắc nhất là Nỗi buồn hoa phượng).



UserPostedImage



Năm 1963, nhạc sĩ Thanh Sơn bắt đầu bỏ hẳn nghiệp ca hát để chuyển sang sáng tác. Ngày đó mỗi tháng đi làm, chỉ được lãnh 150 đồng, nhưng tiền tác quyền của ông một tháng lên đến 6.000 đồng, giúp gia đình ông vượt qua nghèo khó. Ông nhờ vào tiền sáng tác mà mua nhà, mua xe, cưới vợ.

Năm 1973, nhận thấy âm hưởng dân ca Nam Bộ rất gần gũi với đời sống người lao động, dễ lan tỏa và sống mãi trong lòng người nghe, ông chuyển hướng sáng tác đề tài quê hương. Ca khúc ông viết đầu tiên về thể loại này là Ngợi ca quê hương. Từ đó đến nay, ông đã sáng tác hơn 200 ca khúc về đề tài quê hương, lấy chất liệu từ miền châu thổ sông Hậu và âm nhạc ngũ cung. Ông kể: “Tôi đã viết ca khúc về 26 tỉnh, thành miền Nam, trừ Tiền Giang chưa viết được vì hai chữ Tiền Giang đưa vào nhạc khó quá. Tôi sẽ cố gắng tìm cho ra cái tứ để ca ngợi mảnh đất Tiền Giang trong thời gian tới”. Có lẽ ông đang giữ kỷ lục là tác giả có nhiều bài hát sáng tác riêng về các địa danh nhất Việt Nam?

“Lập kỷ lục” như thế chắc ông phải có nhiều đơn đặt hàng và tiền tác quyền để viết “địa phương ca” lắm? Nhạc sĩ Thanh Sơn nhỏ nhẹ cười, lắc đầu: “Mấy khi tôi nhận được tiền từ các tỉnh, thành phố, mà có thì số tiền cũng chẳng là bao. Mình cầm chỉ là tượng trưng cho vui để thấy cái tình, sau đó tặng số tiền này lại cho người nghèo. Cái chính là tôi rất tự hào và yêu mến vùng quê hiền hòa, trù phú nơi mình sinh ra, lớn lên. Tôi muốn khoe với mọi người quê hương của tôi đẹp đẽ như thế, con người quê tôi chất phác, đôn hậu như thế; trước nhất là khoe với… vợ tôi!”. Lấy vợ người miền Trung, ông thường kể với người bạn đời về sự giàu đẹp, màu mỡ ở quê mình và hứa với bà ngày hòa bình sẽ đưa bà đi khắp vùng châu thổ. Nhiều năm sau ngày thống nhất đất nước, ông mới thực hiện được lời hứa với vợ, đồng thời khẳng định “mỗi chuyến đi qua mỗi vùng đất sẽ sáng tác một bài hát để kỷ niệm”. Cứ thế, Hành trình trên đất phù sa và nhiều bài hát về miền Tây theo bước chân đôi vợ chồng tiếp nối ra đời. Tính đến nay, gia tài ca khúc của nhạc sĩ Thanh Sơn có hơn 500 bài hát, 2/3 trong đó viết về quê hương, con người Nam Bộ.



UserPostedImage




Có một bài hát rất nổi tiếng của Thanh Sơn là Mùa hoa anh đào. Dạo ấy, mới cưới nhau, trong một lần đi Đà Lạt, khi ngắm gương mặt nhỏ nhắn có nhiều nét như người Nhật của vợ, ông đã sáng tác bài hát này chứ chẳng có chút xíu dây mơ rễ má gì với loài hoa anh đào của Nhật Bản như nhiều người lầm tưởng.

Trải qua một ca mổ tim sinh tử cách đây mấy năm, điều mà ông mong muốn nhất là có đủ sức khỏe để tiếp tục sáng tác: “Tôi nghiên cứu kho tàng nhạc dân tộc mênh mông của nước mình, đặc biệt say mê vọng cổ, nhạc tài tử cải lương. Khi sáng tác tôi vay mượn, phát triển từ gốc âm nhạc Việt giàu có như bản Mẫu tầm tử, Trăng thu dạ khúc, câu hò, điệu lý dân ca… chứ không để nhạc mình lai tạp. Những gì tôi viết là đời sống thật bởi tuổi thơ của tôi từng cấy lúa, tắm sông, hái dừa, chèo thuyền… Tôi lại đi nhiều để thấy, để hiểu, để cảm được nhiều chứ không ngồi một chỗ tưởng tượng ra nên bài hát không giả tạo, từ đó không dễ quên với nhiều người nghe”.


Thương ca mùa hạ - Phi Nhung

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=bBukEPTpS0


Nổi buồn hoa phượng - Thiên Trang

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=C8fInEpYkK



UserPostedImage

Edited by user Saturday, July 2, 2011 7:46:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
phamlang  
#245 Posted : Saturday, July 2, 2011 8:08:19 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Hàng dừa cao nghiêng mơ soi bóng sông
Mộng ngày mai say sưa những ước mong
Gái miền sông Hương hẹn trai miền Cửu Long
Hai ta ước thề xây thắm tình duyên quê …
Khoan ơi ! khoan hò khoan ….

Tình Thắm Duyên Quê - Trúc Phương




UserPostedImage



Sông Ngòi


Nước Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, mưa nhiều, nên có rất nhiều sông rạch, lưu lượng vào mùa mưa rất cao, chở nhiều phù sa bồi đắp cho các vùng bình nguyên. Hai sông lớn là Hồng Hà và Cửu Long có thượng nguồn phát nguyên từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, các sông còn lại thường hẹp và ngắn, phát nguyên từ nội địa.


1. Hệ Thống Sông Hồng :

Sông Hồng phát nguyên từ Vân Nam, Trung Hoa, dài 1.200 cây số nhưng chỉ có 510 cây số chảy qua các tỉnh Lào Kay, Yên Báy, Phú Thọ, Sơn Tây, Hà Đông, Nam Định và đổ ra biển Việt Nam ở cửa Ba Lạt. Sông Hồng có lưu lượng không đều, khoảng 700 thước khối một giây vào mùa nắng, lên đến 30.000 thước khối một giây vào mùa mưa, trung bình một thước khối nước chứa khoảng 1 kí-lô phù sa màu đỏ. Phụ lưu Tây Nam của Hồng Hà là sông Đà, còn gọi là Hắc Giang, chảy qua các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, rồi vòng lên Phú Thọ và đổ vào sông Hồng ở Việt Trì.

Phụ lưu Đông Bắc của Hồng Hà là sông Lô, chảy qua Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, rồi đổ vào sông Hồng cũng ở Việt Trì. Sông Lô có hai phụ lưu là sông Chảy ở hữu ngạn và sông Gầm ở Tả ngạn. Sông Chảy dẫn ngang qua các tỉnh Lào Kay, Yên Báy, Tuyên Quang và nhập vào sông Lô ở Đoan Hùng. Sông Gầm chảy từ Cao Bằng ngang qua gần suốt chiều Bắc-Nam của tỉnh Tuyên Quang, nhập vào sông Lô ở phía Bắc thị trấn Tuyên Quang. Sông Gầm có một nhánh nhỏ ăn thông với hồ Ba Bể.

Từ Việt Trì ra biển, Hồng Hà có phân lưu phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến Phả Lại và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Châu. Hai sông này nối Hồng Hà thông với sông Thái Bình. Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang) Nối thông Hồng Hà và sông Đáy là hai sông Phủ Lý và Nam Định.


2. Hệ Thống Sông Thái Bình :

Hệ thống sông Thái Bình hợp bởi Sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Sông Cầu phát nguyên từ Bắc Kạn chảy qua Chợ Chu tỉnh Thái Nguyên và trở thành ranh giới hai tỉnh Bắc Giang-Bắc Ninh. Sông Thương phát nguyên từ Lạng Sơn chảy qua Phủ Lạng Thương tỉnh Bắc Giang. Sông Lục Nam phát nguyên từ cao nguyên An Châu tỉnh Bắc Giang, chảy qua Lục Nam cũng thuộc Bắc Giang. Cả ba sông này hợp nhau tại Phả Lại thành sông Thái Bình, chảy qua tỉnh Hải Dương và đổ ra biển bằng cửa Thái Bình.

Các phân lưu chảy ra biển của hệ thống này còn được gọi là Lục Đầu Giang, tất cả đều nằm về phía tả ngạn sông Thái Bình: Sông Văn Úc, một đoạn tên sông Hương, một đoạn tên sông Rang, đổ ra cửa Văn Úc. Sông Lạch Tray, nối sông Văn Úc chảy ngang qua Hải Phòng, ra biển bằng cửa Rạch Tray. Sông Kinh Thầy, thoát lưu của sông Thái Bình từ Phả Lại, đến Thạch Liên chia thêm một nhánh nhỏ là sông Kinh Môn, hai nhánh này nhập lại trước khi đổ ra biển ở cửa Cấm. Phân lưu sau cùng của sông Thái Bình là sông Đà Bạch, tức Bạch Đằng Giang, cửa sông là một vùng đồng lầy rộng lớn.


3. Hệ Thống Sông Kỳ Cùng :

Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi cực đông tỉnh Lạng Sơn, theo hướng núi, chảy ngược về phía Tây-Bắc, qua Kỳ Lừa, Đồng Đăng, đến Thất Khê lại đổi sang hướng Đông, chảy qua Bi Nhì hướng về thị trấn Lung Ching tỉnh Quảng Tây của Trung Hoa. Một phụ lưu của sông Kỳ Cùng là sông Bắc Giang, phát nguyên là sông Na Rì, chảy qua huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn, huyện Vân Mít tỉnh Lạng Sơn, rồi đổ vào sông Kỳ Cùng ở Thất Khê. Trong hệ thống này còn có sông Bằng Giang, phát nguyên từ cao nguyên Nguyên Bình chảy qua thị trấn Cao Bằng rồi đổ vào sông Kỳ Cùng ở Lung Ching, tạo thành Tây Giang của Trung Hoa.


4. Hệ Thống Sông Ngòi Thanh - Nghệ - Tỉnh :

Sông Mã, phát nguyên từ cao nguyên Sintiai tỉnh Sơn La, một đoạn sông này chảy qua lãnh thổ Ai Lao rồi vào lại Việt Nam ở ranh giới Sơn La-Thanh Hóa, đổ ra biển ở cửa Hội, phía Bắc bãi Sầm Sơn. Sông Mã có một phụ lưu là sông Chu, phát nguyên từ Sầm Nứa, Ai Lao, chảy qua các huyện Bái Thượng, Thọ Xuân, Thiện Hoa, và đổ vào sông Mã ở phía Bắc tỉnh lỵ Thanh Hóa.

Sông Cả, phát nguyên là sông Nam Mô từ Nông Het bên Ai Lao, chảy qua suốt chiều ngang tỉnh Thanh Hóa theo chiều Tây Bắc-Đông Nam, đến phía Nam thành phố Vinh gặp khu núi hoa cương ở Bến Thủy nên chảy ngược lên hướng Bắc trước khi đổ ra biển ở cửa Hội Thống. Sông Cả có một phụ lưu ở hữu ngạn là sông Hương Khê thuộc địa phận Hà Tỉnh và một phụ lưu phía tả ngạn là sông Con, chảy từ huyện Nghĩa Hưng đổ vào sông Cả ở Côn Cường.

5. Hệ Thống Sông Ngòi Bình - Trị - Thiên :


Sông Gianh, còn gọi là sông Rao Nay hay Linh Giang, phát nguyên từ Đồng Đầm, chảy trong địa phận tỉnh Quảng Bình dọc phía Nam dãy Hoành Sơn, đổ ra biển ở Mỹ Hòa Thượng.

Đà Giang, phát nguyên từ góc Tây-Nam tỉnh Quảng Bình, chảy ngược về hướng Đông Bắc, ngang qua Phong Lộc thì đổi hướng chính Bắc, đổ ra biển ở cửa Nhật Lệ, Đồng Hới.

Sông Bến Hải, phát nguyên từ góc Tây-Bắc tỉnh Quảng Trị, chảy về hướng Đông, ngang qua Trung Lương, đổ ra biển ở cửa Tùng.

Sông Cam lộ, còn gọi là sông Bồ Điền, chảy từ biên giới Lào-Việt qua Đông Hà rồi đổ ra biển ở cửa Việt. Sông Cam lộ có một phụ lưu về phía hữu ngạn là Hàn Giang, còn gọi là sông Thạch Hãn hay sông Quảng Trị, phát nguồn từ quận Hương Hóa, chảy qua Ba Lòng và tỉnh lỵ Quảng Trị rồi nhập vào sông Cam Lộ ở gần Đông Hà.

Sông Hương, kết hợp bởi hai phụ lưu là Tả Trạch và Hữu Trạch ở Nam Hòa rồi chảy ngang qua thành phố Huế và đổ ra biển ở cửa Thuận Hóa.


6. Hệ thống sông ngòi Nam-Ngãi-Bình-Phú

Sông Boung, còn gọi là sông Bông hay sông Bùng, phát nguyên từ phía cực Tây tỉnh Quảng Nam, chảy qua Thường Đức, Duy Xuyên và đổ ra biển ở cửa Hội An. Một phụ lưu ở phía hữu ngạn sông này là sông Thu Bồn, kết hợp bởi sông Tranh và sông Khang phát nguồn từ tỉnh Quảng Tín chảy ngược lên Quảng Nam và nhập vào sông Bông ở quận Đại Lộc.

Sông Tam Kỳ, rất ngắn, chảy ngang thành phố Tam Kỳ.

Sông Trà Bồng, chảy qua quận Trà Bồng và Bình Sơn thuộc Quảng Ngãi.

Sông Trà Khúc, phát nguyên từ góc Tây Bắc tỉnh Quảng Ngãi, chảy qua quận Sơn Hạ và tỉnh lỵ Quảng Ngãi.

Sông An Lão, chảy theo chiều Bắc-Nam, qua quận An Lão xuống đến Hoài Nhơn thì nhập vào Lại Giang, đổ ra biển ở Kim Giác.

Sông Mang, phát nguồn là sông Hà Giao thuộc quận Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, chảy qua Bình Khê, An Nhơn và đổ ra đầm Thị Nại.

Sông Đà Rằng, thượng nguồn là sông Ba, phát nguyên từ góc Tây Bắc tỉnh Bình Định, chảy về hướng Nam, qua An Túc (An Khê) vào địa phận tỉnh Phú Bổn, xuống tới tỉnh lỵ Hậu Bổn thì đổi thành hướng Đông-Nam, vào địa phận tỉnh Phú Yên ngang qua Sơn Hòa, Hiếu Xương rồi đổ ra biển bằng cửa Đà Rằng ở phía Nam tỉnh lỵ Tuy Hòa


7. Hệ Thống Sông Ngòi Khánh - Thuận :


Sông Cái, phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên, chảy ngang địa phận Khánh Hòa qua Diên Khánh, Vĩnh Xương và đổ ra biển ở Nha Trang.

Sông Dinh, còn có tên là sông Kinh Dinh, thượng nguồn gồm nhiều phụ lưu nhỏ và một thoát lưu của đập Đa Nhim phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên, chảy qua địa phận tỉnh Ninh Thuận và đổ ra biển ở vũng Phan Rang.

Sông Lũy, gồm các phụ lưu Cà Tót ở Hữu ngạn, sông Cái Giấy và sông Mao ở tả ngạn, chảy trong địa phận tỉnh Bình Thuận và đổ ra biển ở Phan Rí.

Sông Mường Mán ở phía Nam tỉnh Bình Thuận, đổ ra biển ở Phan Thiết.


8. Hệ Thống Sông Ngòi Phía Tây Cao Nguyên :

Về phía Tây rặng Trường Sơn trên các cao nguyên Gia Lai và Đắc Lắc có những sông chảy ngược về hướng Tây qua Campuchia, đổ vào sông Cửu Long:

· Krong Bo+lah, phát nguyên từ cao nguyên Gia Lai, chảy dọc theo ranh giới Kontum-Pleiku, đổ vào sông Sé San của Campuchia.

· Ea Hleo và phụ lưu Ea Drang chảy thành ranh giới hai tỉnh Pleiku-Đắc Lắc, đổ vào sông Sprépok của Campuchia.

· Krong Knô, phát nguồn là sông Da Troung chạy thành ranh giới hai tỉnh Tuyên Đức-Quảng Đức, ngược về hướng Tây-Bắc, có hai đoạn làm ranh giới Quảng Đức-Đắc Lắc rồi vào hẳn địa phận Đắc Lắc ở phía Nam Ban Mê Thuộc, có tên Ea Krong, rồi lại đổi tên Se Bang Khan trước khi chảy sang Campuchia thành sông Séprok.

· Dak Dầm là một phụ lưu tả ngạn của Se Bang Khan, chảy dọc biên giới Campuchia với một phần tỉnh Quảng Đức và một phần tỉnh Đắc Lắc.

9. Hệ Thống Sông Đồng Nai :

Sông Đồng Nai, thượng nguồn là sông Đa Dung và sông Đa Nhim nằm hai bên thành phố Đà Lạt, có nhiều thác nước hùng vĩ. Hai sông này gặp nhau ở ranh giới tỉnh Tuyên Đức-Lâm Đồng. Từ đó, sông Đa Dung chảy về hướng Tây, làm thành ranh giới tỉnh Lâm Đồng-Quảng Đức. Khi vào địa phận tỉnh Phước Long thì đổi sang hướng Nam rồi Tây Nam và trở thành sông Đồng Nai, chảy qua các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Gia Định và đổ ra biển bằng hai thoát lưu Nhà Bè (Soài Rạp) và Lòng Tảo.

Sông La Ngà, là một phụ lưu về phía tả ngạn sông Đồng Nai, phát nguyên từ tỉnh Lâm Đồng, chảy qua tỉnh Bình Tuy và nhập vào sông Đồng Nai ở phía Tây quận Định Quán.

Sông Bé, là một phụ lưu về phía hữu ngạn sông Đồng Nai, phát nguyên từ tỉnh Quảng Đức, chảy qua các tỉnh Phước Long, Bình long, Phước Thành và đổ vào sông Đồng Nai ở quận Hiếu Liêm, gần thác Trị An.

Sông Sài Gòn, cũng là một phụ lưu hữu ngạn của sông Đồng Nai, phát nguyên từ đỉnh Bắc tỉnh Bình Long, chảy xuôi Nam làm thành ranh giới Bình Long-Tây Ninh rồi qua các tỉnh Bình Dương, Gia Định trước khi đổ vào sông Đồng Nai ở gần Nhà Bè.

Sông Vàm Cỏ, là phụ lưu hữu ngạn sau cùng của hệ thống sông Đồng Nai, thượng nguồn gồm hai nhánh: Vàm Cỏ Đông, phát nguyên từ góc Tây-Bắc tỉnh Tây Ninh, chảy qua tỉnh Hậu Nghĩa, Long An. Vàm Cỏ Tây, phát nguyên từ góc Tây Bắc tỉnh Kiến Tường, chảy xuống Long An. Hai nhánh Vàm Cỏ tụ hội ở gần quận Cần Đước rồi trở thành ranh giới Long An-Gò Công trước khi đổ vào sông Nhà Bè.


10. Hệ Thống Sông Cửu Long :

Sông Cửu Long dài trên 4.200 cây số, phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Ai Lao, Campuchia, đến Nam Vang thì phân làm hai nhánh đổ về hướng Việt Nam là Tiền Giang và Hậu Giang, chảy trên lãnh thổ Việt Nam một đoạn chừng 250 cây số, điệu nước đều hòa, có thể lưu thông quanh năm, và nối nhau bằng nhiều sông rạch miền Tây. Lưu lượng hai sông này rất lớn, khoảng 6.000 thước khối nước một giây về mùa nắng, lên đến 120.000 thước khối một giây vào mùa mưa, và chuyên chở rất nhiều phù sa bồi đắp đồng bằng miền Nam.

Tiền Giang có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa giòng, chảy qua Tân Châu (Châu Đốc), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Kiến Phong) đến Cai Lậy (Định Tường) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng sáu cửa:

Sông Mỹ Tho, chảy qua tỉnh lỵ Mỹ Tho và phía Nam tỉnh Gò Công, ra biển bằng cửa Tiểu và cửa Đại.

Sông Ba Lai chảy qua phía Bắc tỉnh Kiến Hòa, ra cửa Ba Lai.

Sông Hàm Luông, chảy qua phía Nam tỉnh Kiến Hòa, ra cửa Hàm Luông.

Sông Cổ Chiên, làm thành ranh giới tỉnh Kiến Hòa-Vĩnh Bình, đổ ra biển bằng hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.

Hậu Giang chảy qua Châu Phú (Châu Đốc) Long Xuyên (An Giang) Cần Thơ (Phong Dinh), Trà Ôn (Vĩnh Bình), Long Phú (Ba Xuyên), và đổ ra biển bằng ba cửa: Định An, Ba Thắc, Trần Đề.



11. Hệ Thống Sông Nhỏ Miền Tây :

Sông Giang Thạnh, phát nguyên từ Campuchia, vào Việt Nam ở đỉnh Bắc tỉnh Kiên Giang, đổ ra vịnh Rạch Giá ở Hà Tiên.

Sông Cái Lớn và Cái Bé, phát nguyên từ tỉnh Chương Thiện, đổ ra biển ở Rạch Giá.

Sông Trèm Trẹm, nối nguồn vào sông Cái Lớn bằng Kinh Cán Gáo ở Kiên An (Kiên Giang), chảy qua rừng U Minh, vào địa phận tỉnh An Xuyên thành sông Ông Đốc, đổ ra vịnh Rạch Giá ở quận Sông Ông Đốc.

Sông Bảy Hạp, chảy từ Quản Long (An Xuyên) ra vịnh Rạch Giá ở cửa Bảy Hạp.

Sông Gành Hào, cũng từ Quản Long, nhưng chảy về phía Đông Hải, ra biển ở cửa Gành Hào.

Sông Cửa Lớn, phát nguồn là các sông Đầm Dơi và Đầm Chim, đổ ra vịnh Rạch Giá ở mũi Ông Trang. Sông này lại có một nhánh nhỏ là sông Bồ Đề, chảy ra Đông Hải ở cửa Bồ Đề.


12. Hệ Thống Kinh Đào Miền Tây :

Miền Tây Nam phần có một hệ thống kinh đào chằng chịt, nối các sông lớn nhỏ thành một hệ thống thủy lộ và thủy nông quan trọng. Những kinh đào chánh có thể liệt kê theo thứ tự địa dư từ Kiến Tường xuống tới An Xuyên như sau:

Kinh Kỳ Hương, Mười Hai (Kiến Tường).

Kinh Xáng An Long, Tháp Mười, Đồng Tiến (Kiến Phong).

Kinh Vĩnh Tế, Thần Nông, Ba Thê, Tri Tôn (Châu Đốc).

Kinh Mỹ Tho, Thương Mãi (Định Tường).

Kinh Bốn Tổng, Cái Sắn, Thốt Nốt (An Giang).

Kinh Lấp Vò, (Sa Đéc).

Kinh Hà Tiên-Rạch Giá, Rạch Giá-Thất Sơn, Rạch Giá-Long Xuyên, Cán Gáo (Kiên Giang).

Kinh An Trường (Vĩnh Long).

Kinh Long Vĩnh (Vĩnh Bình).

Kinh Ô Môn, Xà No, Phụng Hiệp (Phong Dinh).

Kinh Trèm, Cái Lớn (Chương Thiện).

Kinh Khánh Hưng, Quan Lộ-Phụng Hiệp, Cai Xe (Ba Xuyên).

Kinh Canh Đền-Quan Lộ, Quan Lộ-Bạc Liêu, Phước Long-Vĩnh Mỹ, Quan Lộ-Gia Rai, Trèm-Hộ Phòng, Gành Hào-Gia Rai (Bạc Liêu).

Kinh Kiểm Lâm, Cà Mau-Gia Rai (An Xuyên).


13. Hệ Thống Suối Nhiệt Khoáng Việt Nam :

Theo đặc tính hóa chất, các suối nhiệt khoáng sulfat nằm rải rác trên các vùng cao nguyên Tây-Bắc Bắc phần, các suối nhiệt khoáng bicarbonate lại xuất hiện từ vùng cao nguyên phía Tây Trường Sơn vào đồng bằng Nam phần:

Loại suối sulfat calci và magné ở Yên Báy, Sơn La

Loại suối clorure natri, sulfure calci và magné ở Sơn La và Ninh Bình.

Loại suối sulfure hydro và natri ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu.

Loại suối bicarbonate calci ở Lào Kay, Sơn La, Hòa Bình, Thừa Thiên, và miền Nam Trung phần.

Loại suối carbonate natri như suối Vĩnh Hảo, sông Châu Cát ở Bình Thuận.


(nhunguyen)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#246 Posted : Sunday, July 3, 2011 9:30:00 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh


UserPostedImage




Hình 1: Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh……Trong cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật của ông cùng hai nhiếp ảnh gia Nguyễn Khải và Phạm Hiếu, tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt. (Hình: Vũ Ðình Trọng/Người Việt)

Những ai đã từng lớn lên thời chiến tranh chắc không thể không biết nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh với những bức hình nói về cuộc chiến tại Việt Nam đầy tính nhân bản.

Trong những năm phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, có một biến cố khiến ông trở thành một nhiếp ảnh gia nổi tiếng sau này. Trong một cuộc giao tranh ở Bồng Sơn, Quảng Nam, ông từ chối ra lệnh cho binh sĩ ném lựu đạn xuống hầm để tiêu diệt Việt Cộng. Lý do rất đơn giản, Việt Cộng đã bắt cả gia đình người dân xuống hầm chung với chúng, giết chúng là giết thêm 5, 6 thường dân vô tội. “Ðành rằng là một quân nhân phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, nhưng lệnh của trái tim tôi không cho phép tôi làm chuyện đó nữa sau khi đã chứng kiến mười mấy căn hầm như vậy. Tôi xin chấp nhận hình phạt.”

Trở về Bộ Tổng Tham Mưu nhận hình phạt thì được Tướng Thanh, Phòng I nhìn ra khả năng nhiếp ảnh của ông do ông đã có 4 năm học bên Pháp nên cho phép ông phục chức và điều ra mặt trận làm phóng viên chiến trường.

Thế là ông đi từ chiến trường này đến chiến trường kia. Những bức hình của ông đã giới thiệu cho thế giới biết cuộc chiến tranh Việt Nam như thế nào, và người lính Việt Nam Cộng Hòa nhân bản ra sao. Trong thời gian này, ông viết cuốn sánh “Việt Nam Khói Lửa” và xuất bản được một cuốn sách hình, lưu lại những hình ảnh sống động của cuộc chiến.

Những bức hình ông chụp được mọi người ngưỡng mộ không phải là những hình thời sự. Ông chỉ là người tái tạo lại những câu chuyện đã xảy ra qua góc nhìn của một người lính cầm máy hình. Tất cả hầu như đều được dàn dựng công phu, tỉ mỉ để nói lên sự thật, mà theo ông “Lịch sử phải được dựng lại với tất cả lòng kính trọng.”

Trong khuôn khổ trang Người Việt Trẻ, chúng tôi giới thiệu đôi nét về ông và một số tác phẩm với từng hoàn cảnh ra đời của nó, qua lời kể của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.



UserPostedImage
Hình 2: Dựng cờ



“Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, Việt Cộng đã chiếm được Ðại Nội, họ chuẩn bị sẵn một lá cờ rất lớn treo lên cột cờ tại đây. Chúng ta phản kích và lấy lại được khu đất này. Trong khi vẫn còn những ụ súng phản kháng của Việt Cộng thì một trung sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa trèo lên cột cờ, xé tan lá cờ Việt Cộng và treo lá cờ của mình lên. Khi vừa leo xuống đến khoang đứng trên cùng thì anh bị Việt Cộng hạ sát, té rớt xuống đất. Lúc đó tôi còn bên kia sông Hương, cầu Tràng Tiền đã bị gãy, và tôi phải tìm cách vượt qua sông để vào Ðại Nội. Sau 45 phút dưới làn đạn địch, cuối cùng tôi cũng đến được nơi đó. Tôi được thuật lại rằng: khi người trung sĩ hy sinh, bà vợ của ông ta từ trại gia binh gần đó chạy ra, khóc lóc thảm thiết. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Hắc Báo 81 bọc lá cờ Việt Nam Cộng Hòa cho người trung sĩ và chuyển anh ta về tuyến sau. Sau đó Tiểu Ðoàn 81 Hắc Báo truy lùng tàn quân Việt Cộng và dẹp sạch số còn lại ẩn nấp gần đó. Hôm sau tôi quay lại đúng lúc đơn vị Hắc Báo chuẩn bị rút khỏi Ðại Nội, tôi xin thiếu tá tiểu đoàn trưởng cho chụp một bức hình ghi nhận công lao của đơn vị. Ðược sự đồng ý của ông, tôi mới sắp xếp chỗ đứng cho các đơn vị chung quanh cột cờ. Sau đó tôi đề nghị mọi người giơ súng reo hò ‘Việt Nam Cộng Hòa Vạn Tuế! Việt Nam Cộng Hòa Vạn Tuế!... ’ Bức hình được chụp trong hoàn cảnh đó.”


UserPostedImage
Hình 3: Tấn công



“Tại mặt trận Bồng Sơn, Quảng Nam khoảng năm 1965-1966, tôi dẫn một đại đội +, tức là khoảng gần 100 binh sĩ chiếm cứ một ngọn đồi trong vùng. Việt Cộng cũng chiếm một ngọn đồi khác, cao hơn gần đó. Ban ngày hai bên đều thấy rõ những hoạt động của nhau như di chuyển, đào hầm hố... Tôi nhận định là tụi nó sẽ tấn công chúng tôi vào ban đêm nên cho anh em chuẩn bị hầm hố cẩn thận và yêu cầu hậu cứ tiếp tế lựu đạn. Hôm sau, trời vừa nhá nhem tối thì họ tấn công. Tôi lệnh cho binh sĩ dùng lựu đạn để đẩy lui bọn chúng, súng chỉ được dùng trong lúc đánh xáp lá cà. Ðánh bằng lựu đạn rất hiệu quả nhưng cũng rất nguy hiểm vì chúng tôi phải ước lượng được từ nơi đóng quân đến chỗ Việt Cộng la xung phong để sau khi rút chốt phải đếm giây trước khi ném. Nếu đếm sai, nhất là bị chậm, sẽ dẫn đến tử thương. Tôi vừa chỉ huy vừa quan sát cách rút chốt lựu đạn của binh sĩ, và thấy được những khuôn mặt căng thẳng và quyết tâm của binh sĩ. Năm giờ sáng hôm sau thì Việt Cộng rút, để lại một số xác. Hôm đó tôi kêu một anh lính người gốc Miên, mua cho anh một xị rượu cho anh uống, rồi dẫn anh ta xuống chân đồi cùng 2 két lựu đạn bảo anh ta quăng thật. Thế giới biết đến tôi nhiều cũng qua tấm hình này.”



UserPostedImage
Hình 4: Tiếc thương



“Khoảng năm 1965, Việt Cộng tấn công vào một đồn lính ở Củ Chi, ngoại thành Sài Gòn. Chúng tôi đến giải vây. Khi Việt Cộng rút đi, họ để lại 6 xác chết không đầu của những người Nhân Dân Tự Vệ. Chúng tôi đến chỗ để xác thì thấy một cô gái khóc lóc thảm thương, đang lần mò tìm xác chồng. Tôi giúp cô tìm thẻ bài để nhận diện, sau đó cho cuốn xác tất cả lại đem về. Hôm sau tôi đến nhà cô gái mong có thể chụp một tấm hình của cô nhưng cô vẫn khóc lóc thảm thương quá nên không thực hiện được. Khi về dưỡng quân ở rừng cao su Ngã Ba Ông Tạ, tôi nhờ con gái tôi, lúc đó 11 tuổi tìm giúp một người bạn gái nào đó có một hoàn cảnh tương tự như cô gái ở Củ Chi để dựng tấm hình ‘Tiếc thương’. Cô Tâm là người con gái mà con tôi tìm được. Hiện nay cô đang sống tại thành phố Oklahoma. Lúc đó cô mới 19 tuổi, ý trung nhân của cô trong một chuyến bay nhảy toán ngoài Bắc bị Bắc Việt bắn rơi máy bay và bị bắt làm tù binh. Tôi đến gặp gia đình cô và xin phép được mời cô đi chụp hình với tôi. Gia đình cô đồng ý. Chỗ chụp hình là một quán bia ở xa lộ Biên Hòa. Tôi nhờ một anh bạn biết thổi sáo và nói anh ta ngồi phòng bên cạnh chơi những bản nhạc chiêu hồn như chương trình đài Saigon. Con tôi cũng ở đó, đọc những lá thư của ý trung nhân cô Tâm viết cho cô. Tôi chải tóc cho cô như trong hình, đưa tấm thẻ bài cho cô cầm, tấm thẻ bài này tôi mua chợ đen, một tấm thẻ bài được làm từ thời Pháp. Trong không khí u buồn, và bị tác động bởi tiếng sáo não lòng cùng với những lời lẽ trong bức thư của ý trung nhân, cô ta khóc nấc lên. Những giọt nước mắt lăn trên má, rớt xuống tay là những giọt nước mắt thật. Hai giọt nước mắt trên tấm thẻ bài là do tôi tạo ra. Chụp được 6 tấm thì cô tỉnh lại, không khóc nữa. Ðây là tấm hình lúc cao điểm nhất khi cô ấy nấc lên.”



UserPostedImage
Hình 5: Hạnh phúc trong tầm tay



“Năm 1973, tôi nghe rằng ở Bạc Liêu có một người như trong hình, tức là bị cụt tay chân nên đến đó nhờ ông tỉnh trưởng dẫn tới nhà chụp hình. Ðây là một anh Nhân Dân Tự Vệ trong thôn có nhiệm vụ mở đường mỗi sáng. Một buổi sáng anh xâm được quả mìn Việt Cộng gài đêm trước, sắp đưa được nó lên thì quả mìn phát nổ. Anh bị cụt một tay và một chân trái. Tới nhà anh, một ngôi nhà lá đơn sơ, chỉ có hai cha con ở nhà, người vợ đi bán buôn ở chợ. Anh nấu cơm, cho gà ăn, giặt quần áo, và làm tất cả mọi việc có thể làm để giúp vợ. Ðến khi anh ru con anh ngủ thì tôi biết rằng mình đã gặp một tuyệt tác phẩm. Anh quên hẳn mình là người tàn tật đùa với đứa con trai nằm trên võng, thằng bé cũng đùa với bố một cách vô tư và hạnh phúc.”



UserPostedImage
Hình 6: Mầm măng non



“Ðây là hai đứa con tôi. Hương và Tuấn. Và hậu cảnh là một đồn canh tại Bình Chánh trước năm 1968. Ðây là một đồn canh rất mong manh, trong đó có 15 anh Nhân Dân Tự Vệ bảo vệ. Một đêm, khoảng một đại đội Việt Cộng tràn vào và 9 anh đã hy sinh trong khi chiến đấu. Trận chiến tuy nhỏ nhưng ác liệt vì các anh đã hết sức chống lại sự xâm nhập của Việt Cộng dù chỉ được trang bị vũ khí không bằng địch. Khi chúng tôi đến giải vây thì đồn canh tan hoang vì đạn pháo, xác các anh nằm la liệt trong đồn. Tôi cho binh sĩ mai táng cho các anh, dọn dẹp đồn canh cho sạch. Chúng tôi đóng quân lại và chuẩn bị mọi thứ ‘đón tiếp’ nếu địch quay lại và lên kế hoạch hành quân tìm địch. Hai tháng sau, nhớ con quá nên tôi cho đem hai đứa con tôi lên đơn vị chơi. Mua cho hai cháu 2 bộ quần áo mới màu đỏ và vàng để tạo màu lá cờ và để cho hai cháu chơi trong đồn canh đó. Tôi muốn nói với mọi người rằng những mầm măng non của đất nước sẽ lớn lên trên đống hoang tàn của chiến tranh nhờ sự hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa.”



UserPostedImage
Hình 7: Vá cờ



“Trong trận chiếm lại Ðại Nội, Huế năm 1968, tôi có gặp vợ người trung sĩ tử trận. Tôi ghé nhà chị mong chụp được một tấm hình chân dung người góa phụ nhưng không được. Trước nỗi tiếc thương người chồng vừa mất, tôi không muốn chị phải đau thêm. Thế rồi khi qua Mỹ tôi lại tình cờ gặp lại chị trong khu chợ Lion ở San Jose, ý định chụp tấm hình vá cờ trở lại, nhưng chị đã già đi nhiều, không thích hợp và tôi đành phải đi tìm người khác.”

“Tôi quen với anh chị Hải Bằng, chị bằng lòng làm người mẫu cho tôi chụp bức hình ‘Vá cờ’ này. Tôi mua một cái nón sắt ở chợ trời, mượn cây súng trường của anh bạn Bùi Ðức Lạc là cả một chuyện khó khăn. Tôi dùng hai thứ đó làm hậu cảnh. Lá cờ được tôi đốt lỗ chỗ để chị ấy vá. Chị cứ ngồi vá cờ và tôi cứ chụp. Ðến động tác như trong hình thì tôi nói chị giữ nguyên động tác đó, tôi mở hé cửa sổ chỉ cho một phần ánh sáng rọi vào lá cờ, rọi vào nón sắt. Tuyệt vời. Bức hình chỉ có một ý nghĩa duy nhất: Chúng ta hãy vá lại những mảnh đời, những mảnh tình, những đơn vị chia rẽ, vá lại tình đoàn kết.”



UserPostedImage
Hình 8: Hai cha con



Gia đình anh bạn trong hình ở San Jose. Tôi đến nhà một cô học trò và gặp anh đang sửa chữa nhà cho chị ấy. Nhà anh cũng ở cạnh và con anh, đứa bé trong hình hay chạy qua trò chuyện với anh. Tôi thấy hình ảnh hai cha con đẹp quá nên mới đề nghị được chụp hình hai cha con. Chủ đề tôi muốn là một buổi gặp gỡ hai cha con khi người cha từ chiến trận trở về. Tôi nói với anh hãy cố tạo những câu chuyện kể cho cậu bé nghe và để cho bé đặt những câu hỏi. Hai cha con thật tự nhiên trò chuyện, thằng bé đặt nhiều câu hỏi cho cha mình và cười thật tươi. Một tấm hình thật đẹp, thật yên bình.


UserPostedImage
Hình 9: Chân dung người lính



Tôi có một người bạn học tên Tuấn học chung tại trường Tarbert, Sài Gòn. Chúng tôi cùng đi lính, và sau này về chung một đơn vị. Tôi là tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù, anh là đại đội trưởng Ðại Ðội 2. Hôm đụng trận ở Ðất Cuốc, Củ Chi, đơn vị anh đổ bộ xuống cánh đồng trống thì bị phục, ngay đợt đầu tiên chúng tôi đã bị thương vong. Từ trong những bó rơm lớn, Việt Cộng núp trong đó bắn ra đội hình chúng tôi. Trong trận đánh này, anh Tuấn hy sinh. Sau này tôi hay mơ thấy anh về đứng bên giường tôi với đôi mắt như trong bức hình này. Anh cứ đứng nhìn tôi một cách buồn thảm rồi biến mất. Khi qua Mỹ chỉ được 2, 3 ngày thôi anh lại về với tôi trong giấc mơ, cũng nhìn tôi với đôi mắt như thế này. Giật mình tỉnh dậy, tôi nghĩ là anh theo tôi qua tới đây.

Cố gắng ngủ lại, tôi lại thấy anh, anh như muốn nói với tôi rằng ‘Bây giờ niên trưởng tới đất Mỹ bình an, nhưng đừng quên những phút tác chiến bên nhau. Xin đừng quên những ngày gian khổ.’ Tôi cầu nguyện cho anh và hứa với lòng sẽ cầu nguyện cho anh suốt đời, và có ý định tìm người mẫu để tái tạo lại cái nhìn của anh Tuấn. Nhờ ơn trên, tôi gặp được anh Dư trong một buổi sinh hoạt Gia Ðình Mũ Ðỏ. Tôi kể cho anh Dư nghe câu chuyện của anh Tuấn, anh đồng ý giúp tôi. Lúc chụp hình tôi mở cho anh nghe những bài nhạc hành quân oai hùng. Khi bài nhạc đang ở cao trào, tôi xin anh đứng lên và chào cờ theo nghi lễ quân cách. Anh đứng lên chào và nhìn thẳng vào lá cờ tôi treo sau máy hình.

Tấm hình được thực hiện như thế, còn kỹ thuật rửa hình là phần của tôi để tạo được tác phẩm này. Bức hình đã tái tạo lại được cái nhìn của một chiến sĩ đã hy sinh, như đang nói giùm những người đã nằm xuống rằng ‘Em thì đã đành rồi, người trưởng thượng thì vẫn còn sống. Thế thì nhiệm vụ của các anh chưa hết đâu, các anh phải tiếp tục phục vụ đất nước.’”








UserPostedImage
Hạ Vi  
#247 Posted : Monday, July 4, 2011 8:03:05 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Hương áo trắng



UserPostedImage


Ðoản văn: Nguyễn Chí Kham



Ðồng Khánh là ngôi trường nữ trung học, đẹp, vang bóng Huế một thời. Nơi đây, từ áo tím xưa đến những thời áo trắng, mỗi thế hệ đều làm nổi bật hương sắc và tên những bông hoa. Trong tôi, cây lá, cỏ xanh tươi, bướm trắng, những cặp mắt nhỏ bé hồn nhiên, tiếng chim hót, những nụ cười tươi sáng trong nắng thu, toàn thể là cả dòng sông êm đềm, là màu thời gian, sau cùng sự liên tưởng làm tôi nhớ nghĩ đến từng trang sách nhẹ nhàng của nhà văn Khái Hưng với cuốn tiểu thuyết tựa: ÐẸP.

Hai người dì em mẹ tôi đến học trường này vào giữa thập niên bốn mươi. Dì Kim học hai năm, dì Ngọc xong ba năm và đậu bằng Brevet. Học ngang tới đó, vì chiến tranh loạn lạc, hai dì về sống ở quê, rồi lại ra tỉnh xin việc làm và lập gia đình. Thời trước, hiệu trưởng của trường Ðồng Khánh và các giáo sư đều là người Pháp, có một số rất ít cô giáo người Việt. Và, thời đó, nữ sinh đi học mặc áo tím. Ðây cũng là thời kỳ còn hiếm hoi phụ nữ được đi học để mở mang kiến thức. Hình ảnh về ngôi trường này được hai dì tôi ghi nhớ , kỷ niệm hẳn còn giữ một số tập vở, cuốn học bạ, những bức ảnh đen trắng chụp chung với bạn bè ở trường và ở lớp.

Huế là một thành phố nghiêm trang, điềm đạm hiếu khách. Bạn đến Huế rồi đi, luôn trong lòng bạn đầy ắp một mối thâm tình như mấy câu thơ của Hàn Mặc Tử tôi chép ra đây cho bạn đọc:


Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhận ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà.



Tôi sinh quán ở Quảng trị. Thời thơ ấu, tuổi thiếu niên sống ở đó với một giọng nói quê mùa, nhìn thấy đồng ruộng, núi non, sông biển tất cả đều trải qua nỗi nhọc nhằn nghèo khó.. Quảng Trị chỉ cách Huế 60 cây số, mất khoảng hai giờ xe đò, và nếu bạn muốn nhàn tản, thong thả dạo chơi bằng bằng xe đạp để vừa ngoạn cảnh, thời gian chỉ mất chừng ba tiếng rưỡi đồng hồ. Vì hai nơi chốn không xa, nên người ở Quảng Trị ra vào Huế tương đối dễ dàng. Dì Ngọc tôi làm việc ở Ty Bưu Ðiện Huế. Thỉnh thoảng tôi có dịp theo ba tôi, mẹ tôi vào thăm dì. Cũng có khi, tôi đi một mình bằng xe lửa.


UserPostedImage




Mỗi dịp tôi đến Huế, thành phố cho tôi một niềm vui thân thuộc. Khi xe lửa đến ga Kim Long, dừng lại trong ít phút rồi trên đường tiến vào ga Trường Súng tàu chạy qua hai cầu Bạch Hổ, ngồi bên cửa toa xe tôi ngắm nhìn dòng sông Hương của Huế trải dài như một mái tóc cung phi, phía lên thượng nguồn nước dòng sông xanh lặng lờ, trong vắt, cảnh trí thơ mộng qua ngôi chùa Linh Mụ nổi tiếng, qua lăng tẩm các nhà vua, phía nhìn về thành phố dòng sông trở nên vui, hừng sáng dưới nắng ấm, hai bên thành phố hiện ra bên bờ tả ngạn có kinh thành, bên hữu ngạn là con đường Lê Lợi rợp mát bóng cây, và xa nhất của tầm nhìn còn thấy chiếc cầu Trường Tiền, biểu tượng văn hóa Huế luôn luôn đẹp và mới.

Tàu ngừng ga Huế, ra khỏi ga, tôi không vội vàng lên xe buýt mà đi bộ để được vui mắt nhìn Huế. Huế đã cho tôi cái nhìn tổng quát cảnh trí sông Hương, núi Ngự, kinh thành Huế, các lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn. Ði sâu vào Huế, tôi biết được khá nhiều con đường nhỏ trong nội thành, đường nào nhà ở hai bên cũng có bờ thành, cũng có vườn và trồng nhiều cây cảnh. Tôi cũng rất yêu thích Huế với những cái tên nghe vừa lạ, vừa hay như Long Thọ, Nam Giao, Bến Ngự, An Cựu, Vỹ Dạ, Bao Vinh, Tây Lộc... Quả thực, Huế là một thành phố đẹp về những cái tên đặt cho mỗi cảnh trí. Và tên người cũng hay, nhất là tên các cô gái, nhẹ nhàng, vừa kiêu sa. Huế, thành phố này còn hãnh diện là trung tâm văn hóa lớn của miền Trung. Trước khi Huế xây dựng nên trường đại học vào năm 1957, Huế đã có bốn ngôi trường lớn: trường Quốc Học, trường Ðồng Khánh, Trường Thiên Hựu, trường Bình Linh. Tất cả tinh hoa của Huế đều xuất thân từ bốn ngôi trường này. Riêng ngôi trường nữ Ðồng Khánh, còn nổi tiếng là trường hoa khôi của áo trắng. mà đến cả những con đường nhỏ trong nội thành, con đường nào cũng có trồng hai cây hai bên che bóng mát, và nghe gần gũi những tên gọi như Nam Giao, Gia Hội, Bến Ngự, Vỹ Dạ, Vinh, Tây Lộc,về một trung tâm văn hóa lớn của miền Trung.


Huế có bốn ngôi trường nổi tiếng, đó là trường Quốc Học, trường Ðồng Khánh, trường Pellerin, trường Providence. Trường Quốc Học, xuất thân biết bao nhiêu anh tài của đất nước. Nơi đây qui tụ hết các anh tài của miền Trung. Trường Thiên Hựu, trường Pellerin, hai trường dòng nổi tiếng. Trường Thiên Hựu một tòa nhà lớn nằm gần vùng An Cựu. Trường Pellerin, có dáng vẻ của một tu viện cổ kính nằm bên dòng sông, trường nữ Ðồng Khánh, ngôi trường thơ mộng của bao kiều nữ sông Hương và luôn được nhắc đến là trường hoa khôi của áo trắng. Huế, còn cho tôi một nơi cần biết nữa, đó là sân vận động Bảo Long. Ðây là sân vận động duy nhất có xây lòng chảo để dành cho cuộc tranh tài đua xe đạp. Trên sân bóng này, đã có những trận cầu quốc tế diễn ra, và không thua kém Sài Gòn, đội tuyển Huế đã có lần thắng đội tuyển nổi tiếng Hồng Kông, đội Ô Tô Buýt với tỉ số 1-0.

Năm cuối ở bậc tiểu học, tôi học với cô Kim Trâm. Cô người Huế, học ở trường Ðồng Khánh bốn năm, qua Khải Ðịnh hai năm rồi thi đậu vào trường Quốc Gia Sư Phạm.

Buổi đầu tiên nhận lớp, cô dành trọn cả buổi sáng tâm tình với bọn học trò nhỏ của cô về chuyện gia đình, về những năm cô học ở trường Ðồng Khánh. Cô Kim Trâm đẹp lắm. Câu chuyện của cô hay như một bài luận văn, ánh lên vẻ tươi sáng cả một bầu trời trong ký ức tuổi thơ. Năm học đó, thật là hạnh phúc. Mỗi chúng tôi vì cô mà chăm học, chép bài vở sạch sẽ, và tự nguyện góp một bông hoa đẹp dâng tặng cô. Hình ảnh cô mỗi ngày ở lớp, là những dáng bước đi thướt tha, tà áo nhẹ nhàng, tiếng giảng bài bằng giọng Huế êm ái, trên bức tường bóng cô là ánh sáng tỏa rộng khắp căn phòng lớp học. Quảng Trị không cách xa Huế, nên mỗi cuối tháng cô về thăm nhà một lần. Khi nói đến ngày trở lại nhà, lòng cô rất nhớ Huế, nhớ thời thiếu nữ của mình, và lúc nào cô cũng hãnh diện về ngôi trường Ðồng Khánh quí phái mà cô được học. Những chiếc áo dài cô mặc màu sắc thật dịu dàng hòa hợp với sự trang nghiêm. Mỗi chiếc áo đều tỏa rộng bóng cây im mát. Buổi trưa tan lớp học, cô đạp xe về nhà. Nhiều buổi sáng đến lớp dạy, cô thư nhàn đi bộ, đến chiều trên lối đường từ ngoại ô vào tỉnh lỵ, cô đi cùng với đám học sinh nhỏ chúng tôi quấn quít bên cô trò chuyện, đứa nào cũng giành được đưa tay cho cô nắm. Có một hôm trời mưa nặng hạt, nước ngoài sân tràn chảy, vì thấy cô chưa đến lớp nên chúng tôi lo ngại, trông chờ. Bỗng nhiên, cô xuất hiện trước cửa lớp với khuôn mặt ướt tràn nước mưa, lúc ấy, cô đưa tay gỡ chiếc nón mưa trắng, trên cặp mắt cô bỗng vui sáng lên một nụ cười.


UserPostedImage





Hết năm học ấy, bọn học trò chúng tôi rời mái trường, xa cô, và bắt đầu một năm học mới ở trường trung học. Năm 1962, gia đình tôi rời Quảng trị vào Huế. Vào đây, hai em tôi xin được vào học trường Ðồng Khánh. Vậy là đến thế hệ các cháu của dì tôi may mắn được học trường này. Ở đây, gia đình tôi cũng có nhiều họ hàng hai bên nội ngoại, mỗi gia đình cũng đều có các cô em, các chị gái đang học ở Ðồng Khánh. Vậy nên, Ðồng Khánh trở nên quen thuộc, gần gũi, dễ mến, và tôi nhận ra thêm những vẻ đẹp của các cô nữ sinh Ðồng Khánh làm tôn vinh ngôi trường này. Vẫn mang màu tím xưa với màu vôi trước cổng trường, bốn bức tường mỗi lớp học, ngoài sân rợp bóng cây im mát. Phượng rực đỏ khi Mùa Hè tới. Huế, thời tiết cũng mang bốn mùa rõ rệt như ở ngoài miền Bắc. Mùa Xuân, mưa bụi rắc rải. Mùa Hè, linh hồn phượng vĩ chói chang. Mùa Thu, những đàn chim thiên di, từ bao phương trời áo trắng về.

Con đường Lê Lợi rợp mát bóng cây, đẹp nhất bên phía hữu ngạn sông Hương. Có một lẽ không thích sự đặt tên con đường này với hình ảnh của những cô gái Ðồng khánh qua những tà áo trắng vào Mùa Thu đi học. Tôi ý nghĩ, nên lấy đường Huyền Trân đặt thay Lê Lợi. Huyền Trân, đối với Huế có một ý nghĩa đẹp, cao cả. Có nàng, mới có đất Thuận Hóa, và mới có kinh thành Huế là kinh đô cũ của vua quan nhà Nguyễn. Vua Lê Lợi, tôi thấy thích hợp hợp với quân sự hơn là văn hóa.

Mùa Thu về, ở Huế không thấy đâu đẹp bằng con đường áo trắng này.

Nhà tôi ở bên dưới ga, phía đầu con đường Huyền Trân đi ra vùng ngoại ô, lên đến nhà máy vôi Long Thọ. Mùa Thu, buổi sáng Huế rất tươi vui, rộn ràng, líu lo tiếng chim hót. Tiếng chim ở đây là hòa âm tiếng nói cười của bao nhiêu cô gái khắp các con đường xa gần trong thành phố trên con đường đến trường học. Những buổi sáng ấy Huế thật là dễ thương và đáng nhớ. Ít ra, bạn cũng như tôi, giờ khắc đó trong mỗi chúng ta ai cũng có được một linh hồn áo trắng.

“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới”


“Dịu dàng áo trắng trong như suối
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay”


Khi bạn nghe tôi đọc mấy dòng thơ của Nguyễn Ðình Thi, của Huy Cận vừa ghi chép ra, chắc bạn sẽ về Hà Nội trong Huế. Hương áo trắng chính là thời gian. Hương thời gian là màu kỷ niệm.

Gia đình tôi ở Huế được mười năm rồi rời khỏi đây đi vào miền Nam. Ngày ấy ra đi, tôi nhớ Huế trọn vẹn cả lòng mình. Dạo ấy, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ cũng từ biệt Huế, người thi sĩ trẻ ấy đã gửi lại cho Huế những dòng này:

Buồn xuống ngang vai, chiều tới chậm
Lòng tôi mưa bụi nữa đây em


Áo trắng ai bay trong buổi chiều cổ tích
Nỗi buồn mờ như một lớp mưa xa



Mười năm sau đó, chúng tôi lớn lên với bao lứa tuổi cùng thế hệ trẻ như mình. Việc học dang dở, tôi vào lính, mãn khóa học quân sự và sau hai tuần phép lên đường đi đơn vị. Thời gian này, đơn vị tôi đóng ở các tỉnh miền Nam. Ðôi khi, tôi có những chuyến công tác ra miền Trung, nhân đấy, tôi về thăm Quảng Trị và ghé Huế. Về lại Huế, thành phố này gợi nhắc tôi nhớ đến thời đi học, thời thanh bình của Huế. Và, Huế đã làm tôi xao động trong hoài niệm buổi chiều. Tôi thấy lại con đường áo trắng trong buổi chiều sau giờ tan học. Và, tôi đã gặp từng bóng áo trắng trên bao nhiêu con đường ở Huế. Tôi nhớ đến một cô bé nhỏ mặc áo đầm trắng, đội chiếc nón rơm rộng vành, trên đường về một mình, tay đung đưa chiếc cặp sách. Tôi đã gặp một đôi thiếu nữ áo trắng đạp xe ra vùng ngoại ô, qua một cánh đồng hoang vắng, nhìn thấy cảnh quê, ngày mai sẽ biết nơi đâu cuộc đời. Huế, mỗi buổi chiều xa xôi nơi chốn ấy, bạn yêu thương các cô gái áo trắng vô cùng.

Tôi ở miền Nam, rồi đến một ngày theo đơn vị ra miền Trung. Sau nhiều năm học hành dang dở, tôi đi thi trở lại. Hôm vào thi, tôi mặc đồ lính. Tình cờ, tôi được làm quen với một cô nữ sinh Ðồng Khánh. Tôi nghe tiếng cô gái nói chuyện với cô bạn gần bên thật hồn nhiên. Bỗng cô gái đưa mắt nhìn tôi. Với cái nhìn thiện cảm của cô tôi có được chút ân tình. Ðến giờ thi, thí sinh im lặng làm bài. Sau nửa giờ đầu ra vẻ nghiêm, hai vị giám thi bắt đầu cởi mở, nhờ vậy, thí sinh có cơ hội hỏi bài nhau. Tôi bạo dạn hỏi cô gái, và được cô sẵn lòng giúp. Hết buổi thi đầu, qua các buổi this au tôi cảm thấy mình vững tin và càng trở nên thân tình với cô gái. Tên cô gái là Loan. Cô gái có những nét tôi mường giống cô Loan trong tiểu thuyết Ðôi Bạn của Nhất Linh. Sau mấy buổi thi xong, chiều cuối cùng ra khỏi phòng thi, tôi gọi Loan, nàng dừng lại để cho tôi ngỏ mấy lời cám ơn nàng. Lúc ấy, nàng hiểu rằng, tôi nói lời cám ơn để đi xa. Tôi trở về lại đơn vị. Ngồi trên trên chuyến xe, tôi nhớ đến nàng, bâng khuâng nhớ nàng qua hình ảnh tà áo trắng.



UserPostedImage




Cứ tưởng, thời gian qua đi mỗi người không ai nghĩ đến nhau. Mùa Hè 1972, Mùa Hè Ðỏ Lửa. Ngày cũng như đêm, khắp bốn vùng chiến thuật, nơi nào cũng diễn ra những trận đánh kinh hoàng. Quảng Trị mất, Huế, KonTum, Bình Long nguy khốn, dân chúng phải đổ xô tìm đường lánh nạn. Tin chiến sự chạy lớn ở những trang nhất trên các báo Saigon. Ðà Nẵng là thành phố tập trung tạm trú dành cho đồng bào Quảng Trị và Huế đổ vào. Những ngày đó, Ðà Nẵng xô bồ náo nhiệt. Thanh Bình là trại tiếp cư lớn, tôi có hai tuần lễ theo toán dân sự vụ đến làm việc ở đây. Sự tình cờ tôi gặp lại người xưa. Khi gặp nhau, chúng tôi nhận ra nhau ngay. Và, từ buổi đó tôi và nàng có thư từ liên lạc với nhau cho đến ngày, chúng tôi trở thành bạn đời.

Loan học ở Ðồng Khánh bảy năm, từ lớp nhỏ Ðệ Thất đến lớp lớn ở Ðệ Nhất. Từ khi có nàng, tôi rất thương yêu nàng. Nàng là tập hợp bao nhiêu nét yêu thương, những kỷ niệm thật ấm áp, đằm thắm từ bao người thân, từ cô giáo thuở nhỏ của tôi, và hình ảnh một thời Ðồng Khánh của nàng làm tôi nhớ nghĩ đến Huế thành phố trong Mùa Thu, áo trắng đẹp vô cùng.



UserPostedImage
Hungholland  
#248 Posted : Monday, July 4, 2011 1:46:25 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn IX : VƯƠNG ÔNG MẮC OAN

Tóm tắt nội dung : Sau khi chia tay Kim Trọng để về chịu tang chú. Vừa đúng lúc Cha mẹ và 2 em của Thuý Kiều từ Quê Ngoại về đến nhà. Chưa kịp hết vui mừng thì quân lính từ đâu ập đến :

"Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về.
Hàn huyên chưa kịp giã giề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao."

Mang tiếng là để đến nhà truy xét và bắt người. Nhưng bọn quan quân vô lại chờ cơ hội để vơ vét đồ vật đáng giá :

"Đồ tế nhuyễn của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham."

Tai hoạ vô cớ từ đâu bay đến gia đình Kiều. Cho dù Kiều cố van nài nhưng vẫn hoài công vô ít. Bên tình - bên hiếu Kiều phải chọn 1 trong 2 :

"Duyên hội ngộ đức cù lao,
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn."

Và cuối cùng Thuý Kiều quyết định:

"Quyết tình nàng mới hạ tình,
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha."

----o0o----

"Nàng còn đứng tựa hiên tây,
570.. Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.
Trông chừng khói ngất song thưa,
Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng.
Tần ngần dạo gót lầu trang,
Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về,
575.. Hàn huyên chưa kịp giãi dề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.
Người nách thước, kẻ tay đao;
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Già giang một lão một trai,
580.. Một dây vô lại buộc hai thâm tình.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
585.. Điều đâu bay buộc ai làm ?
Này ai dan dậm, giật giàm bỗng dưng ?
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,
590.. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây.
Hạ từ van lạy suốt ngày,
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.
Rường cao rút ngược dây oan,
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người.
595.. Mặt trông đau đớn rụng rời,
Oan này còn một kêu trời, nhưng xa.
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,
600.. Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao ?
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
605.. Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha !"

( Còn tiếp )


Giải nghĩa:

570. Chín hồi: Do chữ cửu hồi, ruột chín lần bị đau quặn lại.
574. Ngoại hương: Làng ngoại, quê ngoại.

Giãi dề: Giải bày, chuyện trò.

576. Sai nha: Nha lại do quan trên sai phái đi.

577. Thước: Tay thước, một thứ võ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một thước tây, cạnh vuông bốn góc, dùng để đánh người.

Nách thước: Nách cắp tay thước.

Đao: Dao to, mã tấu, thứ võ khí bằng sắt, lưỡi to.

579. Già: Cái gông. Giang: Khiêng đi, giải đi. ở đây nói cha con viên ngoại và Vương quan bị đóng gông lại.

583. Tế nhuyễn: Nhỏ bé, mềm mại, chỉ chung những đồ vàng ngọc quí gái và trang sức, quần áo dễ mang đi.

585. Bay buộc: ý nói cái tai vạ tự đâu bay đến, buộc vào.

586. Dậm: Một dụng cụ đánh cá.

588. Xưng xuất: Xưng ra, khai ra.

590. Loà mây: Làm mờ cả bầu trời. ý nói: một vụ hết sức oan uổng.

594. Hạ từ: Hạ lời, nói lời thanh minh để kêu cầu van xin.

Lân tuất: Thương xót, thương tình. ý cả câu: tụi sai nha cứ phủ tay đánh đập, mặc những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ làm điếc làm ngơ.

593. Rường cao: Thanh rường nhà bắc ở trên cao. Dây oan: Dây trói oan uổng. Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ Vương lên rường nhà.

599. Cốt nhục: Ruột thịt, chỉ Vương ông và Vương Quan.

600. Ngộ biến tòng quyền: Gặp cảnh biến phải theo đạo "quyền" (không thể giữ nguyên đạo "kinh" như lúc bình thường được). ý nói: Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà xử sự cho thích hợp.

601. Hội ngộ: Gặp gỡ gắn bó nhau. Chỉ mối tình duyên giữa Kiều với Kim Trọng.

Cù lao: Công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ.

603. Thệ hải minh sơn: Chỉ non thề bể.

604. Sinh thành: Công ơn cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên người.

605. Hạ tình: Tỏ bầy ý nghĩ.

606. Dẽ cho: Lời gạt đi ý kiến những người khác để nói lên ý kiến của mình một cách kiên quyết.

Hạ Vi  
#249 Posted : Tuesday, July 5, 2011 6:44:25 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
UserPostedImage


Cánh Hoa Duyên Kiếp


(Đoàn Chuẩn - Từ Linh)


Từ một nơi xa xôi, cách bao núi rừng suối đồi
Anh gởi mấy cánh hoa về người yêu
Hoa lan hương màu trắng
Như duyên em thầm kín
Trong hương thu màu tím buồn.


Hẹn một ngày nao khi màu xanh lên tà áo
Tình thương lên quầng mắt
Anh đón em về thuyền mơ !



UserPostedImage



Đêm hôm nay chợt nhớ tới nơi xa
Lúc anh về nhặt mấy cánh hoa
Kèm vào thư lá thư xanh màu yêu
Cánh hoa duyên kiếp này
Tìm em trong ý thơ.


Hồng nào xinh không gai
Bướm kia không ngờ bẽ bàng
Yêu một sớm nhớ nhau bao mùa thu



UserPostedImage



Em tôi hay hờn lắm , hay tô thâm quầng mắt
Hay mua hoa màu trắng hồng
Tình em như mây trong mùa thu bay dệt lối
Rồi tan trong chiều vắng khi gió mang về thành mưa.



UserPostedImage



Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng thu
Viết tơ lòng gởi tới cho nhau
Rồi ngày mai, nhắn mây đưa tờ thư tới em đôi mắt sầu
Kèm theo bao ý thơ.




UserPostedImage



Quang Tuấn
http://mp3.zing.vn/bai-h...Quang-Tuan/IWZABFWE.html


Edited by user Tuesday, July 5, 2011 7:28:52 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#250 Posted : Thursday, July 7, 2011 7:26:19 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Đoàn Chuẩn- Nhạc Sĩ Của Mùa Thu UserPostedImage




UserPostedImage

Từ Linh, Đoàn Chuẩn


Trong giai điệu của ông, ta cảm thấy có tiếng lá rơi nhè nhẹ, có tiết heo may se lạnh, có cả mùi thơm của cốm ủ lá sen. Nghe giai điệu của ông, ta cảm thấy bâng khuâng, yêu thương, luyến tiếc. Hơn nữa, còn thấy phảng phất ở giai điệu ấy hình bóng huyền diệu của những “tuyệt sắc giai nhân” đã hơn một lần làm xao xuyến trái tim “chàng công tử Hà Nội” dịu dàng và đa tình này

Đã hơn nửa thế kỷ qua, cứ tới mùa thu ở Hà Nội, cũng heo may và sương nặng, cùng hương cốm và hương hoa sữa, cứ văng vẳng trong hồn người Hà Nội, hồn người Việt Nam, những giai điệu tha thiết ở những tình khúc Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Có thể nào không bồi hồi khi nghe:

Anh mong chờ mùa thu

Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai

Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay

Mùa thu quyến rũ anh rồi...



UserPostedImage


Đoàn Chuẩn quê ở đảo Cát Hải cách cửa Cấm - TP Hải Phòng không xa lắm. Do kinh tế gia đình khá giả, nên vào tuổi thanh xuân, Đoàn Chuẩn đã sống ở kinh kỳ Hà Nội nhiều quyến rũ. Ngoài việc theo học ở trường Louis Pasteur, Đoàn Chuẩn sớm đến với âm nhạc.

Vừa tham gia hoạt động tân nhạc thuở ban đầu, ít ai biết rằng Đoàn Chuẩn năm 20 tuổi còn bí mật tham gia một tổ chức thanh niên do Việt Minh chỉ đạo mang tên “Thanh niên xung phong Hoàng Diệu”.

Kháng chiến toàn quốc. Đoàn Chuẩn vào làm văn nghệ Khu Bốn. Gia đình lại tản cư lên Việt Bắc. Chính trong nỗi cách xa, nhớ nhung và lại gặp gỡ những bóng hồng khác trên đường chinh chiến, từ một nghệ sĩ chơi đàn và hát như Phạm Duy, Đoàn Chuẩn bắt đầu viết ca khúc. Tình nghệ sĩ là tình khúc đầu tiên Đoàn Chuẩn viết ở Khu Bốn, năm 1948 đồng thời khi Nguyễn Văn Tý viết Dư âm cũng tại Khu Bốn. Tình khúc lúc đầu cũng giống như Bến xuân của Văn Cao là viết tặng cho một “nàng” cụ thể, nhưng sau đã trở thành quà tặng cho mọi “nàng”. Nếu ở Bến Xuân lúc đầu Văn Cao viết: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước - Oanh đến tôi một lần...”, Oanh ở đây là người thiếu nữ có tên Hoàng Oanh, thì ở Tình nghệ sĩ, lúc đầu Đoàn Chuẩn viết: “Đây quán Mai Hương mây thu vàng ấm”, Mai Hương là nàng Mai Hương chủ quán cà phê dọc đường. Còn bây giờ khi đã là của mọi nàng thì “Oanh” thành “em” và “quán Mai Hương” thì thành “khách ly hương”. Nhưng khi đã khởi đầu một giãi bày về tình nghệ sĩ như giấc mơ là vậy, thì nỗi nhớ vợ con đã khiến Đoàn Chuẩn viết tiếp một Đường về Việt Bắc độc đáo đậm cá tính sáng tạo. Câu mở đầu tự nhiên như hơi thở:

Buổi chiều áo tím nhiều quá lòng thấy bồi hồi nhớ người...

Sau khi nỗi nhớ được buông lời tràn trề như vậy thì lập tức giai điệu như sóng cứ dâng cao, dâng cao:

Đường về Việt Bắc xa cách mây

Gập ghềnh đường núi qua khói bay

Em có hay? Đây suối sâu, đây núi cao trên từng mây

Đường về gọi gió mê say...



Đường về Việt Bắc sau này khi Bắc – Nam chia cắt đã bị các nghệ sĩ Sài Gòn xuyên tạc thành Đường về miền Bắc do Khánh Ly hát với nhiều lời ca sai lạc. Việc này cùng với việc xuyên tạc bài Gửi người em gái miền Nam thành Gửi người em gái với nhiều lời ca phóng tác cũng do Khánh Ly hát, bằng một niềm yêu quý Đoàn Chuẩn thì cũng làm cho Đoàn Chuẩn chịu không biết bao nhiêu phiền phức thời đó, mặc dù khi là nguyên bản Gửi người em gái miền Nam do Ngọc Bảo thu thanh và phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1956 nó đã chịu ngay bao điều tiếng, phê phán là “lạc quan tếu” rồi.

Hành trình sáng tạo âm nhạc của Đoàn Chuẩn trở lại có lẽ là giai đoạn ông trở về Hà Nội đầu thập kỷ 50 thế kỷ trước với nhiệm vụ hậu địch như tài tử Ngọc Bảo vậy. Chính thời kỳ này đã tạo ra một Đoàn Chuẩn “vua slow” với những tình khúc về mùa thu Hà Nội. Nghe nhạc Đoàn Chuẩn, ta nhớ đến thơ Bà Huyện Thanh Quan, văn Thạch Lam và tranh Bùi Xuân Phái. Trong giai điệu của ông, ta cảm thấy có tiếng lá rơi nhè nhẹ, có tiết heo may se lạnh, có cả mùi thơm của cốm ủ lá sen. Nghe giai điệu của ông, ta cảm thấy bâng khuâng, yêu thương, luyến tiếc. Hơn nữa, còn thấy phảng phất ở giai điệu ấy hình bóng huyền diệu của những “tuyệt sắc giai nhân” đã hơn một lần làm xao xuyến trái tim “chàng công tử Hà Nội” dịu dàng và đa tình này. Vẫn một tình nghệ sĩ ấy, vẫn một tà áo xanh ấy, vẫn gặp gỡ và chia tay muôn thuở. Nhưng trong giai điệu của Đoàn Chuẩn, mùa thu Hà Nội đã luồn vào trong từng ngóc ngách, trong từng cung bậc. Thật ngỡ ngàng với Thu quyến rũ khi Đoàn Chuẩn da diết “Mây bay về đây cưới trời”. Giai điệu là một đám cưới giữa mây và trời giữa mùa thu – mùa hợp hôn của con người. Vậy nên, khi ca sĩ hát là “cuối trời” hoặc “cuốn trời” thì cũng đã là làm thấp tư tưởng Đoàn Chuẩn cũng như cảm xúc thăng hoa của ông rất nhiều lần.


UserPostedImage



Nhiều người nói rằng những tình khúc mùa thu của Đoàn Chuẩn là những trang nhật ký của những mối tình thì quả không sai. Phải yêu đến mức bất chấp mọi nguy hiểm, ở trên mọi ràng buộc mới có thể thốt lên những giai điệu si tình đến thắt lòng người như vậy. Và trong tất cả những mê đắm ấy, mùa thu Hà Nội luôn như thể “cời than bếp lửa”. Ở Cánh hoa duyên kiếp thì: “Như duyên em thầm kín – Trong hương thu màu tím buồn...”. Ở Lá thư thì: “Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương...”. Ở Gửi gió cho mây ngàn bay thì: “Với bao tà áo xanh đây mùa thu...” . Ở Chuyển bến thì: “Một sớm thu về chuyển bến xuôi...”. Ở Dang dở (hay Tà áo xanh) thì: “Ta quen nhau mùa thu...”. Ở Lá đổ muôn chiều thì: “Thu đi cho lá vàng bay...” . Đến ngay ở Gửi người em gái miền Nam tuy viết về mùa xuân nhưng cũng cứ như là đứng từ mùa thu vọng tới: “Nhưng một sớm mùa thu giữa khung trời tím ngát...”. Từ mối tình đầu để có một gia đình với một người đẹp – là bà Đoàn Chuẩn đẹp tới tận bây giờ - hiền thảo, đôn hậu và bao dung, Đoàn Chuẩn đã phiêu diêu qua những cung bậc yêu đương nồng cháy và nóng bỏng đến độ phải thốt lên những giai điệu lạ lùng trong tập Những bài hát bị xé mà đến nay còn nhiều người chưa được thưởng thức. Đấy là mối tình cuối cùng sâu đậm nhất trong trường tình Đoàn Chuẩn.

Nàng là con gái đầu lòng của một viên chức hỏa xa kháng chiến, cha nàng là tự vệ chiến đấu nội thành. Khi rút ra chợ Đại, cha mang theo nàng mới 12 tuổi. Vài năm sau, nàng về lại Hà Nội với mẹ để cùng mẹ chăm sóc năm em dưới mình. Ở tuổi dậy thì, nàng đã tần tảo làm thuê, đánh máy chữ, đan áo len để có tiền góp với mẹ nuôi các em. Nàng đẹp đến kiêu sa và hát rất hay. Tình cờ, một nhạc công đài Pháp – Á đã phát hiện ra tài nghệ này của nàng. Và nàng đã đăng quang “vương miện thủ khoa” trong cuộc thi hát do đài Pháp – Á tổ chức. Chính lúc ấy, nàng mới biết tác giả những tình khúc mùa thu Hà Nội. Từ chỗ muốn nâng đỡ một tài năng trẻ, giúp cho học nhạc, giúp những sô diễn, tình cảm đã len lén vào hồn từ khi nào mặc dù xung quanh nàng biết bao vệ tinh bủa vây.


UserPostedImage


Tình cảm đang lãng mạn vậy thì đột nhiên nàng “biến” khỏi Hà Nội. Sự “biến” của nàng khiến Đoàn Chuẩn chống chếnh. Ông cảm thấy mất mát thực sự. Ông xót xa trong cô đơn. Không chỉ giãi bày trong giai điệu, ông còn lẩm nhẩm làm thơ:


Em ơi!Lá úa có rơi ngoài muôn ngả

Thì chung quy cũng về đất thương yêu

Anh phong sương mưa nắng cũng hiểu nhiều

Đời lãng tử có vui gì đâu em hỡi...



Nhưng thực ra không phải nàng cố ý cho Đoàn Chuẩn “leo cây” mà vì người cha bị mất đột ngột ở vùng tự do. Chú nàng là đại đội trưởng vệ quốc đoàn đã cử liên lạc bí mật vào thành đón nàng ra ngoài vùng tự do vào cuối mùa xuân 1954. Rồi nàng trở về cùng đoàn quân. Họ gặp lại nhau gấp gáp hối hả, như tìm lại một cái gì đó cùng đánh mất. Để rồi lại vĩnh viễn xa nhau: “Có những đêm về sáng - Đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi!” và để rồi: “Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát – và tìm trong nét bút xa xôi”.

“Chôn sâu tận đáy lòng” tình cảm ấy, Đoàn Chuẩn đã khép lại giai đoạn sáng tạo những tình khúc mùa thu Hà Nội độc đáo vào những năm đầu hòa bình ở miền Bắc, sau khi bài Gửi người em gái miền Nam bị phê phán và ngừng không phát sóng. Mãi tới khi bước vào thời kỳ đổi mới và mở cửa, những tình khúc mùa thu của Đoàn Chuẩn mới thực sự được khôi phục cùng những tình khúc lãng mạn của Văn Cao, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước... ông phấn khởi, khỏe ra, mừng tủi giữa bạn bè. Vài năm trước khi từ trần, bệnh xuất huyết não khiến ông không thể di chuyển được và nói rất khó khăn. Câu nói cuối cùng ông nói trước khi không nói được là: “Rồi những người tình sẽ ra đi. Rồi nhạc sĩ sẽ ra đi .Chỉ còn tác phẩm ở lại".



UserPostedImage


NGUYỄN THỤY KHA







UserPostedImage
Hạ Vi  
#251 Posted : Friday, July 8, 2011 2:06:24 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Hà Nội trong thơ xưa



Trước khi mang tên Hà Nội - từ năm 1831 đến giờ - kinh thành văn vật của đất nước đã thăng trầm theo thời gian với nhiều tên khác nhau, mỗi tên gắn bó với những sự kiện lịch sử liên hệ: Thời Bắc Thuộc gọi là Long Biên, tức là lỵ sở Giao Châu bấy giờ. Năm 791 Thứ sử Tầu là Triệu Xương đặt lại tên là Ðại La Thành.


UserPostedImage



Cao Biền tu sửa lại thành ấy vào năm 867 và làm rộng ra, chu vi đo được 8,000 bộ, dài hơn 1,982 trượng, cao 2 trượng 6 tấc, bao bọc thành là một con đường dài 2,125 trượng, rộng 2 trượng, đến nay những vết tích cũ của thành này không còn biết chính xác là ở quãng nào. Năm 980, Hà Nội là quận Giao Chỉ. Bắt đầu năm 1010 vua Lý Thái Tổ thiên đô tới vùng Ðại La và đổi tên là Thăng Long Thành, qua một truyền thuyết mà hầu hết chúng ta đã được nghe kể. Chu vi thành có bức tường bao bọc khoảng 4,700 m, trong thành có ụ cao như Nùng Sơn, Tam Sơn, Khán Sơn, Thái Hòa. Những ụ này nhiều phần do con người đắp nên, do lý luận và niềm tin vào phong thủy vận hành, không phải là núi đá thiên nhiên.

Ðời Trần đóng đô ở Thăng Long, có thời gian quân Nguyên chiếm đóng 5 tháng. Năm 1467 Thăng Long đổi tên ra Ðông Ðô để đối lập với Tây Ðô là kinh đô nhà Hồ ở Thanh Hóa. Trong thời kỳ này quân Minh chiếm đóng nước ta cho đến khi Lê Lợi đánh đuổi được giặc, đóng đô và đổi tên là Ðông Kinh. Ðến đời nhà Mạc, Ðông Kinh lại đổi ra là Ðông Ðô. Vua Quang Trung gọi là Bắc Thành. Ðời Vua Gia Long, kinh đô ở Phú Xuân, Bắc thành trở thành Tổng Trấn. Sau khi đắp thành theo kiểu Tây, tên Thăng Long lại được dùng lại. Ðến năm 1831, Thăng Long đổi ra là tỉnh lỵ Hà Nội và tên này được giữ đến ngày hôm nay.



Thơ thương nhớ Hà Nội


Chưa về thăm lại Hà Nội kể từ 1954 ra đi, song cũng như Ðinh Hùng, kẻ viết bài này vẫn cầu mong hồn sông núi sẽ còn ở với kinh thành xưa. Hắn vẫn nhắn nhủ Hà Nội của mình như Ðinh Hùng lúc sinh thời ở Sài Gòn nhắn nhủ Hà Nội của anh:


Trăng ơi! Ðừng bỏ kinh thành:

Hồn Cố Ðô vẫn thanh bình như xưa.

Nhỡn tiền chợt sáng thiên cơ,

Biết chăng ảo phố, mê đồ là đâu?

Ta say ánh lửa tinh cầu,

Dựng cơn địa chấn, loạn mầu huyền không.

Trận cười tan hợp núi sông,

Cơn say kỳ thú lạ lùng cỏ hoa.



Hý trường đổi lớp phong ba,

Mượn tay ngụy tạo xóa nhòa biển dâu.

Hưng vong Vạn Lý Thành sầu,

Trăng ơi! đừng bỏ mái lầu nhân gian.

(Ðinh Hùng)



UserPostedImage




Nghe kể chuyện người Hà Nội, cảnh Hà Nội bây giờ càng thêm thương tiếc Thăng Long của quá khứ. Cứ đọc thơ xưa để hình dung Hà Nội thấy đẹp hơn nhiều:


Liễu có gầy chăng? Tóc có thưa?

Chao ôi! Lòng nặng mãi thương hờ!

Kiểu nhà xưa đã thay hình mới,

Hay vẫn còn nguyên dáng cũ xưa?

Nghiên đá Ðền Sơn có sẫm rêu?

Kính Thiên bút nọ đã lên meo?

Muốn về nâng bút dầm nghiên đá

Pha nước Hồ Gươm viết thật nhiều.

(Bàng Bá Lân)




Ở trung tâm Thăng Long, bên Hồ Gươm hay Kiếm Hồ, nhà Lý dựng tháp Bảo Thiên (1057) mười hai tầng, cao vài chục trượng, nghĩa là vào khoảng gần 100 mét - đỉnh tháp bằng đồng. Thuyền xứ Nam “buồm giăng ba ngọn, ngược nước Hồng Hà” lên đến Yên Duyên (Thanh Trì) đã nhìn thấy ngọn tháp này. Tháp Bảo Thiên là công trình kiến trúc tượng trưng cho Thăng Long đời Lý. Ðó là một thành tựu vẻ vang của kiến trúc Việt Nam. Phía Ðông, bên cửa sông Tô là đền Bạch Mã - phố Hàng Buồm thờ “Long Ðỗ khí quân” (thần khí thiêng Long Ðỗ, tức thần Tô Lịch, vị thần sáng lập ra Hà Nội).


Thơ thời thế về Hà Nội


Những đổi thay dâu bể đã cho thơ Việt Nam nhiều kiệt tác, một trong những bài điển hình là của Bà Huyện Thanh Quan, học sinh thời xưa đều đã được đọc trong sách giáo khoa:


Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương.

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh ấy, người đây luống đoạn trường.

(Bà Huyện Thanh Quan)




Bài thơ dưới đây của Từ Diễn Ðồng cũng nói về Thăng Long hưng phế, song là Thăng Long thời Pháp thuộc.


Thăng Long Thành hoài cổ


UserPostedImage


Ðồn rằng thuở trước đóng đô đây,

Trải mấy triều vua mới đến nay.

Năm cửa chỉ còn chòi cửa Bắc,

Cột cờ sao có lá cờ Tây?

Lầu bia nhà Lý xây còn đó,

Hồ kiếm vua Lê vứt chỗ này.

Kẻ khá đi đâu mà vắng cả,

Xe rồng chẳng thấy, thấy xe tay.

(Từ Diễn Ðồng)




Những tâm sự Hà Nội gần ta hơn có Á Nam Trần Tuấn Khải và Ðông Hồ:

...

Ðìu hiu gió giục hơi sương

Phải đây là bãi chiến trường ngày xưa?

Hỏi ai gây cuộc ganh đua,

Ðống xương vô chủ còn trơ đến rày.

(Trần Tuấn Khải)


Bão táp tơi bời trời cố quốc

Gió mưa ủ rũ đất danh đô

Tiêu điều cỏ lấp hoa Long Ðỗ

Lạnh lẽo trăng soi nước Kiếm Hồ

Bút tháp viết trời xanh chữ hận,

Nghiễn Ðài tràn mực đậm mầu thu.


(Ðông Hồ)




Và nhất là bài thơ của Thâm Tâm, tâm sự trai Thăng Long thời chiến, những năm 40, một mặt trông ngóng người đi (vọng nhân hành), một mặt biểu lộ niềm khao khát và nỗi phẫn uất của lớp thanh niên lỡ thời lỡ vận, những kẻ “sinh lầm thế kỷ:”


Vọng Nhân Hành


Thơ Thâm Tâm

Thăng Long đất lớn chí tung hoành,

Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh.

Một lứa chung tình từ tứ chiếng,

Hội nhau vầy một tiệc quần anh.



Mày gươm nét mác chữ nhân già,

Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa.

Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt,

Chưa ngất men trời hả rượu cha.



Rau đất cá sông gào chẳng đủ

Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba,

Rằng: “Ðương gió bụi thì tơi tả.

Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”



Thơ ngâm giở giọng, thời chưa thuận,

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận,

Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay,

Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.

...............................

...............................

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch.

Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề.”



UserPostedImage




Viên Linh


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 7/13/2011(UTC)
Hungholland  
#252 Posted : Sunday, July 10, 2011 12:27:24 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn X : KIỀU BÁN MÌNH CHUỘC CHA

Tóm tắt nội dung : Sau khi Cha bị bắt vào tù vì "tai bay,hoạ gió". Bọn quan tham đã ngã giá với Kiều để lấy tự do cho cha :

"Tính bài lót đó luồn đây
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi
Hãy về tạm phó giam ngoài
Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày"

Vì nhà không đủ tiền để trang trải cho việc "đút lót" quan lại. Nhờ vào lời truyền miệng của mọi người rằng Thuý Kiều cần tiền để chuộc cha. Một hôm,có một người đàn bà dẫn theo một người đàn ông cùng với nhiều người hầu đi đến nhà Kiều:

"Gần miền có một mụ nào
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh
Hỏi tên rằng Mã Giám sinh
Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh cũng gần
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao
Trước thầy sau tớ lao xao
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang"

Họ kiểm tra Kiều có giống như những lời đồn không :

"Mối càng vén tóc bắt tay
Nét buồn như cúc điệu gầy như mai
Đắn đo cân nhắc cân tài
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ
Mặn nồng một vẻ một ưa
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu"

Biết rằng Thuý Kiều đang trong lúc cần tiền cứu mạng cha già.Vì thế họ không tiếc lời trả giá mua Thuý Kiều như một món hàng :

"Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm"

Sau khi đã xin được cho Cha mình ra khỏi ngục. Vương ông biết được tin "Kiều đã bán mình để có tiền chuộc cha già". Ông liền muốn tự tử

"Theo lời càng chẩy dòng châu
Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi"

Thuý Kiều khuyên cha và ông cũng đành cắn răng chấp nhận :

"Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao.
Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.
Lượng trên dù chẳng dứt tình,
Gió mưa âu hẳn dứt tình nước non.
Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.
Phận sao đành phận cũng vầy,
Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.
Cũng đừng tính quẩn lo quanh,
Tan nhà là một thiệt mình là hai.
Phải lời ông cũng êm tai,
Nhìn nhau giọt ngắn giọt dài ngổn ngang."

----o0o----

"Họ Chung có kẻ lại già,
Cũng trong nha dịch lại là từ tâm.
Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
610.. Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay.
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.
Hãy về tạm phó giam ngoài,
Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày.
615.. Thương tình con trẻ thơ ngây,
Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!
Đau lòng tử biệt sinh ly,
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên !
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
620.. Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.
Sự lòng ngỏ với băng nhân,
Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
625.. Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh.
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao
630.. Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng !
635.. Ngại ngùng giợn gió e sương,
Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
640.. ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ?
645.. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng,
Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm dằm
650.. Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu qui,
Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong !
Một lời cậy với Chung công,
Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà.
655.. Thương tình con trẻ cha già,
Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu:
Nuôi con những ước về sau,
Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.
Trời làm chi cực bấy trời,
660.. Này ai vu thác cho người hợp tan !
Búa rìu bao quản thân tàn,
Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.
Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau !
665.. Theo lời càng chảy dòng châu,
Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi.
Vội vàng kẻ giữ người coi,
Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can:
Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
670.. Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?
Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.
675.. Lòng tơ dù chẳng dứt tình,
Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non.
Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
680.. Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.
Cũng đừng tính quẩn lo quanh,
Tan nhà là một thiệt mình là hai.
Phải lời ông cũng êm tai,
Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang.
685.. Mái ngoài họ Mã vừa sang,
Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao.
Trăng già độc địa làm sao ?
Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên.
Trong tay đã sẵn đồng tiền,
690.. Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì !
Họ Chung ra sức giúp vì,
Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong."

( Còn tiếp )


Giải nghĩa:

607. Lại già: Người gia lại già.

608. Nha dịch: Người làm việc ở nơi gia môn, tức nơi công sở của các phủ huyện.

614. Qui liệu: Thu xếp, lo liệu.

617. Tử biệt sinh ly: Chết vĩnh biệt nhau gọi là "tử biệt", sống mà xa lìa nhau gọi là "sinh ly". Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh "tử biệt" cũng như người gặp cảnh "sinh ly".

619. Hạt mưa: Chỉ thân phận người con gái

Ca dao:

"Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng lầy."


620. Tấc cỏ, ba xuân: Do chữ tnốn thảo, tâm xuân. Thơ tả tình đi chơi xa nhớ mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Dục tương thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy (Ai bảo cái lòng của ngọn cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba tháng xuân). Tấc cỏ: Ví với người con. Ba xuân Ví với công ơn cha mẹ.

621. Băng nhân: Người làm mối.

622. Tin sương: Do chữ sương tín. Tin sương là ngụ ý chỉ tin tức truyền đi.

624. Viễn khách: Khách phương xa.

625. Giám sinh: Sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường đại học của triều đình phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo người ra làm quan.

626. Lâm thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).

627. Tử tuần: Bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi).

630. Nỗi mình: Nỗi riêng của mình, chỉ cuộc tình duyên dở dang với Kim Trọng. Nỗi nhà: Nỗi tai vạ của toàn gia đình họ Vương.

635. Rợn gió: Sợ gió.

638. Điệu: Cách điệu, cốt cách.

644. Sinh nghi: Đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới.

645. Nghìn vàng: Đời hán, một nghìn vàng tức là một cân vàng, sau dùng để chỉ nghìn lạng vàng.

646. Rớp nhà: Nhà gặp lúc hoạn nạn.

649. Êm dằm: ý nói sự việc đã lo lót xong xuôi, êm thấm, giống như chiếc thuyền đã đứng êm dằm, khôn còn tròng trành nữa.

650. Canh thiếp: Lá thiếp biên tên, tuổi (nhân trong thiếp có biên tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp). Theo hôn lễ xưa, khi bắt đầu dạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái để đính ước với nhau.

651. Nạp thái: Chỉ lễ dẫn đồ cưới.

Vu qui: Về nhà chồng, chỉ lệ đón dâu.

654. Khất tử: Đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho Vương ông).

658. Gieo cầu: Hán Vũ đế kén phò mã, cho công chúa ngồi lên lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được thì làm phò mã.

660. Vu thác: Vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra.

669. Một mảnh hồng nhan: Như nói một mụn con gái.

671. Nàng Oanh: Nàng Đề Oanh. Theo Liệt nữ truyện: Để Oanh người đời Hán, khi cha nàng là Thuấn Vu ý, phạm tội, bị hạ ngục ở Tràng An, chờ ngày hành hình, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn đế, xin nộp mình làm giá hầu cho các nhà quan để chuộc tội cho cha, Văn đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng.

672. ả Lý: Nàng Lý Ký. Theo sách Đường dại tùng thư: Lý Ký, đời đường nhà nghèo, tự nguyện bán mình cho người làng đem cúng thần rắn, để lấy tiền nuôi cha mẹ. Về sau nàng chém chết thần rắn, rồi lấy vua Việt vương.

673. Cỗi xuân: Gốc cây xuân, chỉ người cha. Sách xưa nói: Tuổi hạc: Tuổi con chim hạc, như nói tuổi thọ. Sách xưa nói, chim hạc sống lâu một nghìn năm.

675. Lòng tơ: Tấm lòng thương con vương vấn không dứt.

676. Gió mưa: Chỉ những tai biến xảy đến.

Nước non: Chỉ cơ nghiệp nhà (nước non cũng như giang sơn).

678. Hoa dù rã cánh: Tức cây còn xanh lá, nói Vương ông được an toàn.

679. Cũng vầy: cũng vậy, cũng thế thôi.

680. Đậu: Một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ được đến lúc chín, không bị nửa chừng rụng đi, thì người ta gọi là cái hoa đậu, cái quả đậu. Cả câu: ý nói cũng xem như là đã chết ngay từ lúc còn nhỏ tuổi.

691. Giúp vì: Giúp đỡ.

692. Lễ tâm: Lễ vật của dân sự "thành tâm" đem đút lót cho bọn quan lại. Tụng kỳ: Kỳ xử kiện, tức phiên xử án


Hạ Vi  
#253 Posted : Monday, July 11, 2011 3:42:05 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage



Hà Nội xưa với những âm thanh



Có mấy ai còn nhớ những âm thanh chợ búa và tiếng rao cộc lốc của những người bán hàng rong trên phố phường Hà Nội vào đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. “Ai kem một xu đi!” “Chè trân châu” “lát xê” (glacé) “Xệch cấu”!


Phan Nghị


Tiếng rao pha trộn cả ba thứ tiếng: Ta, Tàu, Tây. Nhưng “xệch cấu” là cái gì? Một thứ kem chanh trắng như tuyết xốp, ăn tới đâu mát rượi tới đó. Ra hỏi các ông Tàu Hàng Buồm người ta mới biết đó là từ ngữ thạch cao phát âm theo tiếng Quảng Đông. Còn món bánh cuốn hấp dẫn tại sao lại gọi là “lốc biểu”, thì người ta đành chịu thua, không hiểu nó xuất xứ từ một phương ngữ nào ở bên Tàu?

Ngay từ tinh mơ, người Hà Nội đã bị đánh thức bởi những tiếng rao ơi ới. “Lạp xường lồ mái phàn”. Những đĩa xôi nóng hổi với những lát lạp xưởng mỏng tang tưởng như gió thổi cũng bay. Phải có một đôi tay điêu luyện mới thực hiện được những nhát cắt siêu hạng như thế: mỏng nhưng miếng lạp xưởng không bị vỡ và hình thù của nó không bị lệch lạc.



UserPostedImage

Hình ảnh ông Tàu phở xưa ở Hà Nội



Hàng “Cà phê ô lê (au lait)” bánh Tây xuất hiện sớm nhất, khi thành phố hãy còn đỏ đèn. Còn tiếng rao buồn thảm nhất “Bánh dầy bánh gi...ò...ò” vỗ vào một không gian vắng lặng như báo cho mọi người biết rằng đêm đã về khuya. Nhưng cũng có những hàng quà chẳng bao giờ thèm cất tiếng rao. Như bún chả. Người đàn bà chít khăn mỏ quạ, ngồi ở một góc phố quạt phành phạch vào cái bếp than. Trong chốt lát, mùi thịt nướng tỏa ra thơm phức. Giờ ăn quà chiều của những người Hà Nội trung lưu. Hoặc như bún ốc. Với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, người phụ nữ buôn Tần bán Sở biết rõ nơi nào mình dừng lại. Hai món quà này bán theo từng mẹt. Bún cũng được cuốn lại thành từng lọn tròn như cái bánh dày Quán Gánh, để khi đưa vào miệng cùng với con ốc thì vừa gọn một miếng. Khi nào có khách tới ăn, người ta mới nhể ốc, chứ không nhể sẵn cả một rổ như thường thấy dạo sau này.


UserPostedImage
Trẻ em bán trầu cho cô gái đội nón quai thao



Người bán quà rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm thì mười họa mới nghe vẳng lên một tiếng “phở...ở”! Điểm đặc biệt của họ là cái mũ đội trên đầu. Nếu là mũ phớt (feutre) chí ít cũng có vài ba lỗ thủng và màu dạ cũng bạc phếch. Nếu là mũ cát (casque) thì cái chóp cũng không còn nữa. Và từ những lỗ thủng ấy lòi ra những sợi tóc. Có lẽ từ đấy, người Hà Nội có thêm tên gọi là cái mũ phở.
Những tiệm phở ngon của thành phố chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Phở Mi xô (Michaud), phở Nghi Xuân, phở Cầu Gỗ... Thông thường chỉ có mấy món, tái, chín, gầu. Sau này người ta mới vẽ ra những thứ tái sách, táo bắp, rồi nạm, vè, sụm.


UserPostedImage
Nhà hát Lớn Hà Nội (1920)



Vào giữa những năm 30, Hà Nội vắng tiếng ồn. Có khi cả ngày không nghe thấy một tiếng còi ôtô. Mỗi khi thấy một ông Tây râu xồm cưỡi môtô phóng đi vun vút, trẻ con lại ùa nhau ra xem. Chúng gọi đó là xe bình bịch.

Mùa hè đã thổi vào thành phố một luồng sinh khí mới, để cho nó ầm ĩ hẳn lên, thoát ra khỏi giấc ngủ đông xuân dài dặc. Nắng hạ reo vui trên những tàng cây bàng, tỏa sáng trên mặt hồ gợn sóng thủy tinh, tráng bạc trên những cành liễu, soi rọi vào những hang cùng ngõ hẹp để cho khung cảnh bớt tối tăm.

Mùa hè mới đích thực là mùa của thiếu nhi. Nhất là với các em con nhà nghèo. Bước ra đường, chúng không còn phải co ro trong chiếc áo trấn thủ, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nắng hạ tạo cho chúng cái điều kiện để được “đầu đội trời, chân đạp đất!” Thời đó hiếm có em nào được đi dép, huống chi đi giày. Thông thường, chỉ đi guốc. Những cái dụng cụ ấy lại rất bất tiện mỗi khi chạy nhảy. Các em đi chân trần.



UserPostedImage
Trẻ con chơi đùa bên Hồ Gươm




Thuở ấy, cách đây khoảng 60-70 năm, người ta sinh đẻ “vô tư”. Người chồng tìm sẵn một hai vế chữ Hán, để cho bà vợ cứ theo đó mà đặt tên con: “Lực năng cử đỉnh, thế khả bạt sơn” hoặc “Tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ”. Nếu người đàn bà tiếp tục sinh sản thì người chồng sẽ lại tìm thêm những câu khác. Càng nhiều anh chị em, các em lại càng ít được chăm sóc chu đáo.

Hà Nội 36 phố phường có tới mười mấy cái ngõ với bảng tên đường đàng hoàng. Ngõ Trạng Trình, ngõ Huyện, ngõ Tràng An, ngõ Trạm, ngõ Tam Thương, ngõ Tố Tịch, ngõ Phất Lộc, ngõ Gạch, ngõ Hàng Đũa, ngõ Yên Thái, ngõ An Chung, ngõ Văn Chương, ngõ Nam Ngự, ngõ Cấm Chỉ (nay trở thành một trung tâm ăn uống ban đêm)... Đó là chưa kể những xóm. Như xóm Vạn Thái với những tiếng chát tiếng tom cùng với tiếng đàn tiếng phách, để thi đua với khu Khâm Thiên có cả một dãy nhà cô đầu. Như xóm Hạ Hồi mà đa số là những biệt thự kín cổng cao tường, ở đó người ta sống trong sự yên ắng, xa lìa với những tiếng động. Tuy nhiên, vào lúc quá trưa về chiều cũng thấy vẳng lên tiếng rao của một người đàn bà “Ai có chai bao chè, đồng nát, lông vịt, tóc rối đổi kẹo không!” Người ta gọi họ là những bà đồng nát.



UserPostedImage
Chợ Bưởi



Nhưng ồn ào nhất là khu Đường thành. Bởi nó nằm kế cận trại lính. Tiếng kèn “rê vầy” (réveil) từ trong thành vọng ra mở đầu cho một ngày mới. Trẻ con dựa vào cái làn điệu ấy để đặt thành câu hát “Con bò kéo xe, con bò kéo xe, con bò xe kéo”. Và tiếng kèn ngủ đánh dấu sự khép lại của một ngày “Trèo tường mà ra, trèo tường mà ra”. Sau tiếng kèn này, các chú lính ham vui thường rủ nhau trèo tường ra ngoài chơi, rồi trở về sau nửa đêm.

Hàng Buồm có một sắc thái sinh hoạt riêng biệt của nó. Tiếng rao của các hầu sáng báo cho nhà bếp biết những món ăn mà họ phải thực hiện. Tiếng chặt thịt quay, thịt ngỗng - hạ xuống cái thớt với bề dày cả gang tay và to bằng cái mâm đồng có chân - của chú khách Tân Phúc Điền. Tiếng hô “can pê” (cạn ly) của những tửu đồ người Hoa sau khi đã đánh nhã vài ba chai Mao đài hay Mai quế lộ. Tại phố này có hai tiệm ăn nổi tiếng: Mỹ Kinh và Đông Hưng Viên với cái cầu thang thếp vàng sáng lóe được gọi là “Escalier d’or”. Một số học sinh ở cỡ tuổi 14, 15 tới đây sau khi ăn xong đã ném bớt những cái đĩa trống xuống khu đất bỏ hoang ở phía dưới. Khi thanh toán, người bồi chỉ căn cứ vào những cái đĩa còn lại để tính tiền.



UserPostedImage
Gánh hàng rong



Đặc biệt hơn cả là khu tam giác Hàng Bạc - Sầm Công - Quảng Lạc. Với ba rạp hát, Hiệp Thành, Quảng Lạc và Sán Nhiên Đài, nơi trình chiếu hai bộ phim Việt Nam đầu tiên: “Cánh đồng ma” và “Trận phong ba”. Nó cũng là nơi cắm chốt của gánh Kim Chung sau này. Tối tối, họ khua thanh la, não bạt rồi trống rong cờ mở để quảng cáo cho những đào kép của họ.

Sở thú mini của cô Ba Tí nằm ở phố Hàng Bạc. Trong chuồng không có hổ, báo, cũng chẳng có voi như ở vườn bách thú, nhưng có gấu, lợn lòi, rồi vượn và khỉ. Vào những ngày nữ chủ nhân ngồi hầu bóng, người ta nghe thấy tiếng đàn phưng phưng và tiếng hát õng ẹo của anh kéo chầu văn. Những trẻ em láu lỉnh tìm cách lọt qua cái ải gác cửa sẽ được cô Ba ban tài phát lộc.

Dĩ nhiên thành phố nào mà chẳng có tiếng ồn. Nhưng ở Hà Nội có những tiếng ồn rất đáng yêu, đáng nhớ. Tiếng chuông tàu điện. Nó kêu leng keng, leng keng êm ái chứ không rộn ràng như tiếng kính coong của chuông xe đạp, hoặc làm nhức nhối điếc cả tai như còi tàu hỏa. Với những trẻ em nghịch ngợm, tàu điện là một phương tiện giao thông không mất tiền. Bởi chúng nhảy tàu thuộc vào hàng cự phách. Cứ thoăn thoắt như vượn. Khi bị soát vé, chỉ việc nhảy xuống rồi lại chạy theo bám vào toa sau. Những ngày nghỉ học, chúng có thể chu du khắp thành phố, có khi đi vào mãi tận Hà Đông. Không phải mua vé tàu, chúng dùng tiền ấy để ăn thịt bò khô mà người bán rao hàng bằng một phương thức rất đơn giản: nhắp nhắp cái kéo cho nó phát ra những âm thanh lách cách. Hoặc tới quán Mụ Béo ở Bờ Hồ để uống si tông ca la đinh (citron, grenadine: si rô chanh, lựu). Người đàn bà ấy là một nhân vật trong giới hắc đạo của Hà Nội năm xưa. Hình ảnh người phụ nữ mập mạp có nước da đen giòn đã in sâu vào tâm khảm các học sinh trong suốt một thời gian dài. Đi nộp học phú bị kẻ gian móc túi hoặc ra bờ sông đá banh bị mất xe đạp, chỉ cần nói rõ vụ việc với bà ta là trong vòng một ngày của mất đi sẽ được hoàn lại cho khổ chủ.



UserPostedImage
Tàu điện Hà Nội (ảnh 1901)



Sẽ là một thiếu sót khi nói về Hà Nội năm xưa mà lại bỏ quên ông Tàu già ngồi bán lạc rang ở bên ngoài cái cổng tò vò, cách chợ hàng hoa không bao xa, và trông chéo sang phía trụ sở của Crédit foncier (Tín dụng ruộng đất) mà trên nóc có đặt một cái còi báo hiệu 12 giờ. Hàng ngày, cứ đúng ngọ, nó lại rú lên một hồi dài, vang dội ra tới ngoại thành và phía bên kia đê sông Hồng.

Có những người Hà Nội sống xa quê hương, mỗi khi nhớ về Hà Nội thường gửi gấm tình cảm của mình vào hình ảnh Hồ Gươm và tháp Rùa. Nhưng riêng tôi, tôi lại nhớ những đoàn tàu điện và nhà Gô Đa.







UserPostedImage
thunder  
#254 Posted : Tuesday, July 12, 2011 7:07:30 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Mãi Mãi Bên Em – Từ Công Phụng

http://www.youtube.com/watch?v=gT3UpeVOypU

Nếu có điều gì vĩnh cửu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta
Bờ môi ngoan, hương tóc rũ vai mềm
Từng ngày dài hồn anh mãi tương tư
Gọi tên em lòng náo nức đêm mơ
Anh mơ sẽ đến bên em cho đến tận cuộc đời

Nếu có điều gì vĩnh cửu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta
Rồi mai đây anh sẽ đón em về
Mở cửa hồn ... em vào đó rong chơi
Em có thấy tình anh ngát hương hoa
Ngây ngất mãi một đời vì em thôi
Ðôi khi có những mùa giông bão qua đây
Em thấy đời là những hư hao
Này em, đừng dấu muộn phiền trong mắt sâu
Ðừng giấu bàn tay trong tóc mây
Hãy tựa đầu lên vai anh
Em sẽ thấy muà xuân về rất nhẹ từ trái tim anh nồng nàn yêu em

Nếu có điều gì vĩnh cửu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta
Bờ vai ngoan, hương tóc xõa buông mềm
Tình rạt rào như dòng suối vây quanh
Dù mai đây hương mùa cũ phôi pha
Anh vẫn sẽ yêu em như ngày trẻ dại

Nếu có điều gì vĩnh cửu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta
Dù mai đây trăng có úa bên thềm
Và ngày buồn thu tàn kéo qua đây
Rồi mùa đông vội vã đến bên ta
Anh giữ mãi lời nguyền cùng bên em

nhat-tam  
#255 Posted : Wednesday, July 13, 2011 6:00:01 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
TRẦN TRỊNH – 20 năm Lệ Đá


http://i214.photobucket.com/albums/cc72/delta38_1/TranTrinh1.jpg


CUỘC ĐỜI, VŨ TRƯỜNG VÀ ÂM NHẠC


Không chỉ là một nhà sáng tác, Trần Trịnh còn là một trong những nhạc sĩ có nhiêu gắn bó nhất với phòng trà và vũ trường của Sài Gòn về đêm trước 75. Nhắc đến Trần Trịnh, không ai quên được nhạc phẩm Lệ Đá (do Hà Huyền Chi viết lời). Ngoài nhạc phẩm điển hình đó, Trần Trịnh còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm đặc sắc khác, mà trong số có rất nhiều bài là đồng sáng tác với hai người bạn nghệ sĩ, Nhật Ngân và Lâm Đệ, được ký dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân trong những thập niên 60 và 70.
Tuy đã bước vào lớp tuổi 70, nhưng Trần Trịnh vẫn còn nhớ rành mạch rất chi tiết khi tâm sự với người viết về quá trình hoạt động âm nhạc cũng như cuộc sống tình cảm của một người nghệ sĩ đã bị ảnh hưởng lớn của nền văn hoá Tây Phương.

Với một giọng kể chuyện say mê, Trần Trịnh cho biết âm nhạc đã quyến rũ ông mãnh liệt hồi ông theo học chương trình Pháp tại trường Taberd Sài Gòn suốt 10 năm, từ 1945 cho đến 1955, lúc ông ra trường với mảnh bằng Bacc 2 ( Tú Tài 2 Pháp ). Nhưng niềm đam mê của ông đã gặp một trở ngại lớn, đó là bố mẹ ông đã không đồng ý để ông đi theo ngành âm nhạc. Mặc dù là một nhân viên của tòa đại sứ Pháp theo tây học, nhưng thân phụ ông vẫn không mấy cảm tình với cuộc đời nghệ sĩ. Và mẹ ông, một phụ nữ người Lào - vợ sau của thân phụ ông - cũng chẳng khuyến khích cậu con trai út trong 3 người con của mình. Tuy vậy, cậu học trò Trần Văn Lượng - tên thật của Trần Trịnh - vẫn luôn ấp ủ giấc mơ một ngày nào đó được đến với âm nhạc. Trong những năm học ở Taberd, Trần Trịnh đã rất khâm phục sư huynh Rémi mang họ Trịnh, người phụ trách dạy nhạc, nên ông đã ghép họ của mình với họ của sư huynh Rémi để tạo thành nghệ danh Trần Trịnh cho những tác phẩm đầu tiên của mình.
Thật ra Trần Trịnh đã mon men đến với lãnh vực sáng tác từ khi mới 14 tuổi, khi còn theo học những giờ nhạc do sư huynh Rémi hướng dẫn. Sáng tác đầu tiên của ông là: Cung Đàn Muôn Điệu, được viết vào năm 1950, là năm ông được 14 tuổi. Tuy nhiên, mãi đến năm 17 tuổi Cung Đàn Muôn Điệu mới được nhà xuất bản An Phú phổ biến. Rồi ba năm sau, năm 1956, nhạc phẩm này lại được nhà xuất bản Diên Hồng tái bản. Sau đó nó còn được dùng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với bài Chuyến Xe Về Nam, do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành vào năm 1955. Cũng trong năm1956, Trần Trịnh lại cho ra thêm một nhạc phẩm khác: Viết Trên Đường Nở Hoa.

Sau khi đậu bằng Bacc 2 năm 1955, Trần Trịnh được gia đình gửi lên Đà Lạt để vừa học vừa làm tại Nha Kiến Trúc Đà Lạt. Qua năm 1957, ông thi hành nghĩa vụ quân dịch khóa đầu tiên, khóa Ngô Đình Diệm tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Đánh dấu cho dịp này, ông đã viết bài Đôi Mươi, do Anh Ngọc trình bày lần đầu tiên.

Trần Trịnh đã phục vụ 2 tháng ở liên đoàn A và 2 tháng ở liên đoàn B, và sau đó vào phục vụ trong ban văn nghệ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cho đến khi về. Trong thời gian đó, ông đã phổ nhạc cho bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-Gôn. Sau khi trở về nguyên quán vào năm 58, Trần Trịnh thực hiện giấc mơ của mình. Oâng ghi tên theo học với thần tượng âm nhạc của ông là sư huynh Rémi, tiến sĩ âm nhạc ở Rome và cũng là tác giả nhạc hiệu của Institution Taberd. Khi học tại trường, khi học tại cư xá của các sư huynh dòng La San tại Thanh Đa, Trần Trịnh đã được huấn luyện về âm nhạc trong suốt 9 năm trời - từ năm 58 đêán năm 67 - nên đã có được một căn bản vững vàng về nhạc pháp cũng như về nghệ thuật sử dụng piano. Và tuy đã thi hành xong nghĩa vụ quân dịch, nhưng với lòng mê thích âm nhạc, Trần Trịnh vẫn tình nguyện tham gia vào những công tác văn nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung với mục đích ủy lạo các binh sĩ. Cũng trong ban văn nghệ này, Trần Trịnh đã gặp Nhật Ngân khi nhạc sĩ này thi hành quân dịch ở đây.

UserPostedImage


Vào những năm học nhạc cuối cùng với sư huynh Rémi, Trần Trịnh đã bắt đầu đi tìm việc làm tại các phòng trà trong vai trò nhạc công sử dụng piano. Sở dĩ ông chọn phòng trà là do ảnh hưởng từ khi còn nhỏ đã bị tiêm nhiễm nhạc dancing và thuộc rất nhiều nhạc khiêu vũ trong thời gian gia đình ông cư ngụ gần vũ trường Au Vieux Cambodge bên Khánh Hội.
Khởi đầu cuộc đời một nhạc công, Trần Trịnh cộng tác với một phòng trà nhỏ tên Lệ Liễu. Sau đó ông bước chân vào phòng trà Bồng Lai. Và dần dần ông được mời cộng tác với tâát cả những phòng trà và vũ trường khác tại Sài Gòn.

Nhận biết được khả năng âm nhạc của Trần Trịnh, đại úy Quốc Hùng, trưởng ban văn nghệ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung đã vận động xin cho ông một chương trình ca nhạc trên đài truyền hình Việt Nam vào năm 67, sau khi sư huynh Rémi qua đời. Từ đó Trần Trịnh trở thành nhạc trưởng của ban văn nghệ Đống Đa, cùng với ban Vũ Thành và Tiếng Tơ Đồng, là 3 ban văn nghệ truyền hình có giá trị nhất vào giai đoạn đó. Riêng ban Đống Đa của Trần Trịnh đã qui tụ được trên 50 nhạc sĩ và một ban hợp ca trên 100 thành viên.

Năm 68, nhạc sĩ Trần Trịnh được một người bạn là một nhạc sĩ sử dụng kèn giới thiệu với thi sĩ Hà Huyền Chi, lúc đó đang phục vụ ở phòng báo chí cục Tâm Lý Chiêán trong giai đoạn cắm trại 100% sau biến cố Mậu Thân. Hai người nói chuyện với nhau suốt sáng. Và trong một lúc, Trần Trịnh đã lục trong số những bản nhạc do ông sáng tác ra một bản nhạc, sau này trở thành nổi tiếng là Lệ Đá do Hà Huyên Chi viêt lời.

Được biết Trần Trịnh cũng đã nhập ngũ từ năm 65 và phục vụ tại đài phát thanh Quân Đội thuộc phòng Tâm Lý Chiến. Ông đã không gia nhập khóa sĩ quan để xin được phục vụ tại đây với điều kiện được chơi nhạc tại phòng trà và vũ trường vào buổi tối.

Trong một lần tham gia công tác văn nghệ tại Bình Long năm 1964, Trần Trịnh quen với Mai Lệ Huyền, lúc đó là thành viên trong ban văn nghệ của tỉnh do nhạc sĩ Bắc Sơn làm trưởng ban. Thời kỳ này Mai Lệ Huyền theo thân phụ sống ở Bình Long vì gia đình chị sở hữu một số đồn điền ở đây ngoài ngôi nhà ở Sài Gòn. Sau khi trở về, hai người thư từ qua lại với nhau và dần dần có những tình cảm đậm đà. Trần Trịnh sau đó đề nghị Mai Lệ Huyền về Sài Gòn sống để được gần gũi nhau hơn. Mai Lêä Huyền nhận lời. Và chỉ sau một thời gian ngắn hai người nghệ sĩ này đã trở thành vợ chồng, năm 1964. Họ có với nhau một con gái tên Lệ Trinh, sinh năm 1965, hiện là một ca sĩ ở Sài Gòn.

Sau khi thành vợ chồng, Trần Trịnh đã giới thiệu Mai Lệ Huyền đi hát ở tất cả những phòng trà và vũ trường ông cộng tác. Cũng khởi đầu tại phòng trà Lệ Liễu, vì nhận thấy giọng hát của Mai Lệ Huyền thích hợp với thể loại nhạc tươi vui nên ông đã cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác một thể loại nhạc kích động để vợ mình trình bầy cùng với Hùng Cường như Gặp Nhau Trên Phố, Vòng Hoa Yêu Thương, Hai Trái Tim Vàng, v.v...
Và chính nhờ ở những nhạc phẩm vừa kể mà cặp song ca Hùng Cường-Mai Lệ Huyền đã gặt hái được những thành công đáng kể, để rồi được mệnh danh là “Cặp Sóng Thần”, một thời làm mưa làm gió trên các sân khấu đại nhạc hội ở Sài Gòn.

Sau hơn 10 năm sống bên nhau, Mai Lệ Huyền đã từ giã chồng con ra đi vào tháng 4 năm 75, trong khi ông không thể đi cùng vì song thân đã cao tuổi. Hai người coi như xa nhau từ đấy. Hai năm sau khi rời khỏi Việt Nam, Mai Lệ Huyền viết thư về cho con gái, đại ý khuyên Trần Trịnh bước thêm một bước nữa trong khi chị cũng đã đi đến quyết định như vậy.

Vào năm 1977, Trần Trịnh lập gia đình lần thứ hai. Người vợ sau của ông đã cho ông 3 người con trai. Nhưng không may người con đầu của ông bị thiệt mạng trong một lần đi tắm sông với bạn bè. Người con thứ nhì của ông năm nay 24 tuổi, hiêän đang phục vụ trong binh chủng hải quân Hoa Kỳ, có khả năng sử dụng kèn trumpet. Trong khi người con út, năm nay 22 tuổi, cũng rất thích nhạc nhưng không có khuynh hướng đi theo con đường của bố.

Sau biến cố tháng 4 năm 75, Trần Trịnh không còn mấy quan tâm đến công việc sáng tác. Ông chỉ chú trọng đến việc cộng tác với hết đoàn hát này đến đoàn cải lương hay gánh xiệc khác để mưu sinh. Khởi đầu, ông cộng tác với đoàn cải lương Cửu Long cùng với tay trống Phùng Trọng và vài nhạc sĩ khác. Liên tiếp nhiều năm sau, ông đã đàn piano cho rất nhiều đoàn khác trong những chuyến lưu diễn liên miên tại khắp các tỉnh ở Việt Nam. Mãi đến năm 1982, khi các phòng trà được phép hoạt động trở lại, ông mới quay về Sài Gòn làm nhạc trưởng tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn là nơi ông đã từng giữ vai trò then chốt về chương trình từ khi mới khai trương vào đầu thập niên 70. Có thể coi đây là một ban nhạc có thành phần nhạc sĩ đông đảo nhất, 11 người.

Liên tục đóng đô tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn (sau là vũ trường) suốt gần 10 năm, Trần Trịnh sang cộng tác với vũ trường Maxim's vào năm 1991. Nhưng sau hơn 3 năm, ông đã xin nghỉ vì tai nạn xe cộ khiến ông bị thương nặng ở chân. Do tai nạn đó, đến nay Trần Trịnh vẫn cần phải dùng gậy trong việc đi đứng. Sau khi tĩnh dưỡng 6 tháng, vợ chồng Trần Trịnh cùng 2 con lên đường sang Mỹ theo diện ODP vào tháng 10 năm 1995 dưới sự bảo lãnh của người chị ruột ông, là vợ của cố giáo sư Nguyễn Đình Hoà và được biết đến như là một phụ nữ Việt Nam đầu tiên sinh con trên đất Mỹ năm 1952, từng được báo chí Mỹ thời đó đề cập tới.
Nhưng chỉ sau 3 tháng ở với gia đình người chị ở San Francisco, gia đình Trần Trịnh quyết định dời xuống Orange County. Một mặt không muốn là một gánh nặng cho vợ chồng người chị, lúc đó đã lớn tuổi cùng với tình trạng sức khoẻ không được khả quan. Mặt khác, môi trường hoạt động âm nhạc của Trần Trịnh sẽ có cơ hội phát triển hơn ở nơi được coi là thủ đô của ca nhạc Việt Nam hải ngoại.

Nhưng thật sự hoạt động của ông chỉ duy trì được một tầm mức trung bình trong thời gian đầu, khi mà ông còn kiếm được lợi nhuận nhờ làm hòa âm cho một số trung tâm nhạc ở nam California. Nhưng chỉ một thời gian sau, khi tình trạng băng đĩa từ Việt Nam càng ngay càng đổ qua ào ạt khiến nhiều trung tâm nhạc cũng như nghệ sĩ độc lập phải chùn bước trước trước sự cạnh tranh đáng ngại này. Bởi vậy, khả năng âm nhạc của ông cũng đã không còn được sử dụng.

Bây giờ ông chỉ hoạt động cho ban nhạc The Stars Band, một ban nhạc gồm một số nhạc sĩ lớn tuổi, hợp nhau lại để trình diễn trong những sinh hoạt có tính cách cộng đồng. Ngoài Trần Trịnh, The Stars Band còn có Quang Anh, Thanh Hùng, Phạm Gia Cổn (cũng là một võ sư!), v.v... Không kể trước đó còn có nhạc sĩ Ngọc Bích cùng sự tham gia đặc biệt của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, mà nay cả hai đã vĩnh viễn ra đi.

Hiện nay, Trần Trịnh chỉ chú tâm vào việc nghiên cứu nhạc để viết cho ban The Stars Band trình diễn. Kết quả là nhạc phẩm mang tên Stars Band của ông đã được một trung tâm nhạc của Mỹ thu thanh trên một CD và đã tung ra thị trường vào tháng 11 năm 2006. Gần đây, một nhạc phẩm hòa tấu do ông soạn cũng đã được trung tâm nhạc HillTop của Hoa Kỳ ở Hollywood thu vào CD và đã được phát hành rộng rãi khắp nơi. Đó là nhạc phẩm Forget Me Not.

Cuộc sống hiện nay của Trần Trịnh tương đối vất vả, nhất là vợ ông lại mang một căn bệnh hiểm nghèo, tưởng đã không qua khỏi sau cuộc giải phẫu vào tháng 6 năm 2006. Tuy vậy, Trần Trịnh không tỏ ra bi quan, ngoài việc lo âu những điều không may xẩy ra với ông và gia đình.
Tuy không còn nhiều hứng thú trong việc sáng tác, nhưng gần đây Trần Trịnh đã bất chợt tìm lại được nguồn rung cảm khi được thưởng thức lại bài thơ ông từng học thời trung học là La Dernière Feuille của thi sĩ Théophile Gauthier do người con nuôi ông tình cờ tìm thấy. Liền sau đó, ông đã phổ nhạc cho bài thơ bất hủ này.

Đối với Trần Trịnh, La Dernière Feuille tức Chiếc Lá Cuối Cùng cũng chính là nhạc phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông. Nhưng dòng nhạc của riêng ông cũng như của Trịnh Lâm Ngân vẫn sẽ mãi được coi là một dòng nhạc đã có những đóng góp đáng kể cho nền tân nhạc Việt Nam. Đó là chưa kể ngón đàn dương cầm của ông khó có thể phai mờ trong tâm hồn những khách quen của thời kỳ vàng son ở những vũ trường Sài Gòn cũ ngày nào.

TRƯỜNG KỲ

thunder  
#256 Posted : Wednesday, July 13, 2011 10:25:23 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

NGHIỆP


(Bài thuyết trình tại Ðại hội Brown, Hoa Kỳ)


Hạnh phúc và khổ đau lưu xuất từ những hành động quá khứ của chúng ta. Ðể định nghĩa nghiệp (karma) trong vài chữ, người ta có thể nói : hãy làm tốt, tất cả sẽ tốt; nếu làm xấu, tất cả sẽ xấu.

Karma, nghiệp có nghĩa là "hành động". Nó hoạt động theo ba mặt : thân, lời và ý. Nó sản sinh ra ba loại hậu quả : xấu, không xấu và trung tính, và diễn ra trong hai thời : trước tiên người ta nghĩ đến điều sắp làm, đó là hành động ý định, rồi những động lực tâm thức hiện thực thành một hành vi thân xác hay lời nói, đó là hành động cố ý.

Ví dụ, trong lúc này, khi phát biểu với một ý định nào đó, tôi hoàn thành một hành động thuộc về lời nói, vậy thì tôi cất chứa nghiệp. Với những cử chỉ của hai tay tôi, tôi làm sinh ra nghiệp về thân xác. Tính chất tích cực hay tiêu cực của những hoạt động này tùy thuộc động lực kích động tôi. Nếu động lực là trong sạch, nghĩa là nếu tôi nói với các bạn với sự thành thật, tôn trọng, trong một tinh thần vị tha, thì những hành vi của tôi sẽ tốt. Nếu tôi bị thúc đẩy bởi kiêu căng, thù hận, nói ác…. Những hành động thân và lời của tôi sẽ trở nên không tốt.

Những hành vi thường xuyên được sản sinh ra như vậy. Khi lời nói là sự biểu lộ của những động lực tốt đẹp, một không khí thân ái được thiết lập, nhưng vượt qua khỏi kết quả tức thời này, hành động để lại một dấu vết trong tâm thức diễn giả, dẫn khởi những hậu quả vui sướng trong tương lai. Nếu những lời nói của diễn giả che giấu một hậu ý gây tác hại, một không khí thù nghịch được thiết lập tức thì, với những hậu quả buồn thảm mai sau.

Khi Ðức Phật dạy rằng người ta là chủ nhân của chính mình, rằng tất cả tùy thuộc vào mình, có nghĩa là hạnh phúc và khổ đau đến từ những hành vi tốt và không tốt, rằng chúng hun đúc thành không phải từ bên ngoài mà ở nơi sâu xa nhất của chính mình. Cái nhìn này cho một cảnh trạng thực tiễn trong việc hàng ngày; khi tương quan giữa nhân và quả được thiết lập, người ta không cần nữa một ông cảnh sát nào để bắt buộc chúng ta phải cẩn trọng; lương tri sẽ thay thế chỗ ấy. Ví dụ, hãy giả thiết ở đây có một mớ tiền hay một viên ngọc quý và không có ai cả ở chung quanh, các bạn có thể dễ dàng chiếm lấy nó. Nhưng nếu các bạn biết rằng toàn bộ trách nhiệm về tương lai của các bạn đang nằm trong tay của các bạn, các bạn sẽ không làm thế.

Trong xã hội hiện đại, mặc dù những hệ thống cảnh sát rất phức tạp và kỹ thuật chúng ta rất cao, những hành vi khủng bố xảy ra cũng không kém. Một mặt, những người này dùng những phương tiện an ninh tối tân nhất để làm thất bại những kẻ mà ở mặt kia lại trở nên còn sáng tạo hơn trong việc thực hiện những trọng tội của họ. Người gìn giữ hoà bình thực sự duy nhất là nơi chính mình. Chính đó là "người canh đêm" ý thức về trách nhiệm của mình trong cái liên hệ đến tương lai của nó và nó quên chính mình cho hạnh phúc của tất cả.

Về phương diện thực hành, sự kiểm soát tốt nhất tội phạm là sự kiểm soát mà mỗi người thi hành trên chính mình. Sự thay đổi bên trong là cái có thể chấm dứt cho sự phạm tội và thiết lập hoà bình xã hội, nhưng nó đòi hỏi tự hiểu biết chính mình. Lý thuyết Phật giáo về sự tự trách nhiệm là đặc biệt thích đáng; nó dẫn đến tự hỏi và tự chế phục đồng thời trong lợi ích của riêng mình và trong lợi ích của người khác.

Về những hệ quả khác nhau của hành động, chúng cũng cần được nghiên cứu sâu. Một trong số đó được gọi là "quả của sự kết trái". Giả sử, sau một hành vi xấu, một người nào đó chuyển đến trong một hoá thân xấu, dưới hình thức thú vật chẳng hạn; sự tái sinh này là một kết quả của sự kết trái mà nguyên nhân ngược về một đời nào trước đó. Cũng có cái mà người ta gọi là "kinh nghiệm về quả tương tự với nhân". Ðây là một trường hợp; hãy tưởng tượng rằng, sau khi di chuyển vào một tái sinh không may mắn sau một tội lỗi, các bạn tái sinh làm người, cuộc đời của các bạn sẽ ngắn ngủi: quả (một cuộc đời ngắn ngủi) với tư cách là cái được kinh nghiệm, tương tự với nhân (sự kiện đã rút ngắn cuộc đời người khác). Cũng có một hiện tượng gọi là "quả của sự hồi sinh bị điều kiện hóa" để có thể làm sáng tỏ sự kiện tự nhiên có khuynh hướng làm hại cùng loại hành động xấu như giết chẳng hạn.

Nhưng ví dụ này cũng áp dụng – trong những hậu quả ngược lại – cho kết quả của những hành vi tốt. Còn phải kể những hành động làm tập thể, mà những hệ quả của chúng được mọi thành viên kinh nghiệm. Trong trường hợp này, một toàn bộ những cá nhân có thể cùng được chuyển sinh để chia sẻ với nhau cùng một môi trường, cảnh giới nào đó.

Nhưng, tựu trung, mọi chỉ dẫn này về nhân quả của hành vi chỉ có ích lợi trong mức độ chúng góp phần vào việc cải thiện đời sống xã hội. Dẫu là Phật tử hay không, tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cố gắng nghiên cứu những văn hoá riêng khác của chúng ta để đem làm của chung cái gì trong mỗi nền văn hoá có thể lợi lạc cho tất cả.

(Thiện Tri Thức dịch từ Kindness, Clarity and Insight).

TENZIN GYATSO

nhat-tam  
#257 Posted : Thursday, July 14, 2011 12:15:54 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Áo Bay Trong Gió Chiều Xuân


UserPostedImage


TRĂNG THU DẠ KHÚC

Chốn . . tha phương
trong chiều Xuân nắng phai
Ngẩn ngơ đứng nhìn theo một bóng hồng
Nàng đi trong bóng dáng thanh tân
Gió Xuân lay động áo dài bay thướt tha
Tình quê, xao xuyến tâm hồn
Cố hương cách biệt xa mờ trong khói sương..


VỌNG CỔ

Câu 1
UserPostedImage

Chiều nay, nhớ mênh mông về quê cha đất tổ khi nhìn bóng ai qua chiếc áo dài quen thuộc như cánh bướm vườn xưa bay lượn đón Xuân về ( - 2 ). Ở đây mùa Đông tuyết lạnh tư bề - Chạnh nhớ quê hương vào hạ tuần tháng Chạp, e ấp nụ mai vàng đón gió, trao duyên - Bầu trời xanh không một áng mây vương, chim én từ xa lũ lượt bay về. Chợ Tết tưng bừng với một rừng hoa, lẫn sắc áo dài của những cô Xuân nữ.

( - 8 )
Câu 2
UserPostedImage

Thương mến biết bao ! chiếc áo dài dân tộc bó sát thân hình tuyệt mỹ những đường cong, hồn lâng lâng như lạc vào cung Quảng, gặp những nàng tiên trong vũ khúc Nghê thường ( - 2 ). Áo trắng nữ sinh tha thướt giữa sân trường – Tóc lửng vai thon cô học trò Đồng Khánh, qua cầu Trường Tiền, vành nón lá che nghiêng - Trời Sài Gòn lả lướt ngọn Đông phong, nghe ý Tết thắm cành non, lộc mới. Trường Gia Long, trường Trưng Vương tan học cho bướm trắng bay về khắp nẻo thành đô.

NÓI LỐI

Như nghe vẳng tiếng đàn tranh từ dĩ vãng,
Quyện hương trầm trong tưởng nhớ miên man.
Tết ở đây chẳng có mai vàng,
Trời ảm đạm, cây trơ cành, trụi lá,


VỌNG CỔ
Câu 5
UserPostedImage

Bỗng một nàng Xuân với mái tóc dài xanh nghiêng biển gió, uyển chuyển đi qua trong chiềc áo màu hoa cúc như khêu gợi nỗi nhớ thương của người lữ thứ đa sầu ( - 2 ) . Ôi ! đẹp ý quê hương, niềm rung cảm dạt dào - Những chiếc áo hoa đã đi vào văn chương, nghệ thuật và đường hoàng trong phong cách lễ nghi - Nhạc và thơ vương theo vạt áo bay cho thỏa mộng hồn khách thi nhân lãng mạn :

Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường.


( - 8 )
Câu 6

Giữa chiều nay, đón Tất chốn tha phương, nghe băng giá lòng người hải ngoại, chợt thấy nở hoa quốc hồn, quốc túy trên tà áo dài một thiếu nữ đương xuân – Ôi ! chiếc áo dài trang nhã của Việt Nam vừa kín đáo, vừa khêu gợi và hấp dẫn, làm say đắm Đông phương, mê hồn Âu, Mỹ như vạn mùa Xuân thắm nhụy hoa đào - Những nàng tiên của bà mẹ Âu Cơ đã tô nét đẹp cho giống nòi Hồng Lạc,

Đêm Xuân, giấc ngủ chập chờn,
Chìm đắm mộng hồn trong tà áo ai bay .

UserPostedImage Soạn giả THANH LỊCH

UserPostedImage

Edited by user Thursday, July 14, 2011 2:54:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#258 Posted : Thursday, July 14, 2011 4:55:05 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tình yêu, hạnh phúc trong ca dao - dân ca Quảng Nam


Là một bộ phận cấu thành của văn học dân gian, ca dao - dân ca xứ Quảng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền,đồng thời, cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời hạnh phúc, tri thức mới. Ca dao - dân ca xứ Quảng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của ca dao dân ca Việt Nam.

Ca dao - dân ca xứ Quảng thường được sáng tác dựa theo cái khung có sẵn. Dù vậy,câu ca dao -dân ca mới sáng tác vẫn hay. Những tình cảm mới được lồng vào trong những khung chung có tình chất tiêu chuẩn mà mọi người đã thừa nhận làm cho câu ca dao dân ca dễ trở thành “của chung”. (Đặng Văn Lung, trong Văn học Dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo Dục, TP.HCM, 1999, tr. 298)

Ca dao - dân ca xứ Quảng có tính dị bản. Đây là một hiện tượng lạ lùng, độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ địa phương nào khác.

Ca dao - dân ca xứ Quảng mang đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Truyền tải tâm tư, tình cảm, tình yêu - hạnh phúc… của những con người nơi đây.

2. Quan niệm về tình yêu hạnh phúc của người dân xứ Quảng
:

Những con người xứ Quảng - khúc ruột miền Trung, xứ sở của nắng mưa và gió bão. Những con người tưởng chừng như chỉ ngoi ngóp mãi trong cái bể khổ của cuộc đời. Vậy mà không, thật bất ngờ khi những câu ca dao - dân ca của họ ngân lên thì kiếp người đau khổ đã tan biến đi chỉ còn lại những gì thiêng liêng và cao quý. Họ bỏ qua những trắc trở, khó khăn, tìm đến niềm vui, tình yêu, hạnh phúc…

Người xứ Quảng quan niệm tình yêu - hạnh phúc của mình phải do chính mình lựa chọn hạnh phúc, họ chủ động đi tìm tình yêu - hạnh phúc của mình chứ không phải do ai sắp đặt cả. Tình yêu hạnh phúc được tìm thấy từ chỗ sợ cái lạ đến chỗ chủ động đi tìm cái lạ, khát khao, nhạy cảm với cái mới…

Tình yêu - hạnh phúc của những con người xứ Quảng ở trong chính những điều bình dị của cuộc sống hằng ngày của họ như một đặc sản, miếng ăn đậm chất Quảng cũng làm lòng người xứ Quảng xích lại gần nhau hơn, hay như chính những câu ca dao - dân ca nói về địa danh của quê hương cũng làm những người con đất Quảng tìm thấy tình yêu - hạnh phúc của mình trong đó khi xa quê,hoặc có thể là lời nhắn gửi nhớ thương, chờ đợi người đi được thổ lộ cũng làm người xứ Quảng có niềm tin hơn trong tình yêu - hạnh phúc của mình.

3. Tình yêu - hạnh phúc trong ca dao dân ca xứ Quảng
:

a. Tình yêu - hạnh phúc ở ngay trên chính hành trình đi tìm:

Dù phải lên non cao ,dù phải vượt qua tam tứ núi người xứ Quảng vẫn đi tìm. Vất vả là thế mà họ chỉ đi tìm cái bình thường giản dị nhất:

'Lên non tìm hòn đá trắng
Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?
Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu
Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời.”

“Lên non tìm hòn đá trắng” - Ô hay! Không phải tìm vàng hay tìm trầm mà chỉ tìm hòn đá trắng! Thật là kỳ diệu cái màu trắng thanh bạch,trong ngần vô giá. Nhưng nếu hiểu ở câu chữ không thì chưa đủ. Đọc xong ngẫm lại ta thấy giai điệu không nhẹ nhàng êm ái chút nào bởi hai thanh trắc (đá trắng) ở cuối câu lục thì thật là lạ. Phải chăng đó là nghịch lý của cuộc đời dù chỉ đi tìm điều đơn giản nhất. Nhưng rồi khi đọc câu tiếp theo:

“Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?”

Ta như vỡ lẽ: À, thì ra con người xứ Quảng mượn hình ảnh bình thường nhất là hòn đá. Nhưng điều họ muốn gửi gắm lòng mình ở đây không phải là vật chất. Vì họ lại đi trách con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu. Phải chăng con người đất Quảng luôn nuôi dưỡng tình người. Họ nói đến chim phượng hoàng là nói đến hình bóng của tình nhân quân tử, của nhơn tình nhơn ngãi trong tâm hồn họ. Dù phải vượt qua mọi gian lao vất vả để đến với con chim phượng hoàng nhưng tiếc cái âm thanh mong đợi mà họ cần tìm lại lịm tắt. Nếu thả hồn tận hưởng khúc nhạc ca dao thì ta như bắt gặp nỗi lòng người thương, bắt gặp tình cảm dặn dò tha thiết luôn ngân nga:

“Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng
Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em”

Hay:

“Yêu nhau chẳng lọ bạc vàng
Tình thân nghĩa thiết xin đừng chớ quên”

Thế mới hiểu rằng đời người biết bao cảnh ngộ éo le trắc trở để khi yêu nhau họ phải dặn dò, than thở. Nhưng rồi cái thâm thuý của bài ca dao không dừng ở đó. Nó khẳng định một điều trở thành chân lý:

“Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu”

Vậy là dù hòn đá trắng - màu trắng trinh nguyên nhưng rồi nó cũng phải bị rêu xanh bao phủ bởi tháng năm, bởi mưa nắng. Thì ra bài ca dao đã nhắc nhở, cảnh báo rằng nếu ai không giữ được lòng mình thì thời gian sẽ làm cho ta không còn là ta nữa. Thần tình quá! Sự thay đổi sắc màu hay sự thay lòng đổi dạ của con người? Bài ca dao khép lại mà trong ta phải luôn suy nghĩ:

“Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời”

Thật là một sự bao dung và nhân hậu. Con người xứ 'mía ngọt đường thơm' không nguyền rủa đứa nào ăn ở bạc sẽ bị thế này hay thế khác… mà chỉ có tiếng dế não nùng thấu tận trời xanh. Nhưng thâm thuý lắm đấy! Tiếng dế réo rắt suốt đêm trường, liệu lương tâm con người bội bạc không day dứt, không dày vò, không nhức nhối trong hối hận trong đau khổ? Mà chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ở tâm hồn!

Vậy là bài ca dao hồn nhiên nhưng đặc quánh cốt cách của con người xứ Quảng mà cũng rất Việt Nam: Con người trọng nhân nghĩa, chung tình và ghét thói bội bạc vong ơn . Dù năm tháng có trôi xa, nhưng những lời ca cứ mãi ngân vang trong ta. Nói như Nguyễn Đình Thi thì theo dòng ca dao càng làm cho ta thêm yêu. Yêu là để sống. Là để thêm mạnh mẽ trong lao động, trong đấu tranh. Một tình yêu chất phác mà cao thượng, bình dị mà sâu sắc biết bao!

Là thế đó, dù rằng giai điệu bài ca dao cất lên có vẻ buồn, nhưng không thế,ẩn sâu bên trong đó vẫn có những cái mà người Quảng luôn tự khẳng định, họ nói ra để quên đi cái khổ, quên đi nỗi lòng và cảm thấy hạnh phúc vì những gì giấu kín đã được bộc bạch, họ nói ra để biết mình cần phải vượt qua những thử thách ,trở ngại đó. Và vì thế, người Quảng vẫn cứ thấy được tình yêu - hạnh phúc mà người đọc cứ ngỡ như rằng họ đang than thở.

b. Tình yêu - hạnh phúc ở sự chủ động, lựa chọn:

Chủ thể trữ tình trong ca dao - dân ca xứ Quảng nói về tình yêu đôi lứa đa phần là phụ nữ. Có lẽ tình trường họ hứng chịu khổ đau nhiều hơn nam giới, do vậy mà nhu cầu bộc lộ giãi bày bằng tiếng hát lời ca ở họ cũng lớn hơn chăng. Quả là khi yêu, người phụ nữ phải đối mặt với bao nhiêu bất trắc:

'Thương chàng thiếp phải đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm không đau
Không đau ơi hỡi không đau
Té xuống năm trước năm sau chưa lành'

hoặc:

“Ba với ba là sáu
Sáu với bảy mười ba
Bạn nói với ta không thiệt không thà
Như cây đủng đỉnh trên già dưới non
Khi xưa bạn nói với ta chưa vợ chưa con
Bây giờ ai đứng đầu non đó bạn tề
Bạn nói với ta bạn chưa có hiền thê
Bây chừ hiền thê mô đứng đó bạn trả lại lời thề cho ta'

hoặc:

'Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ
Bạn phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán sấm dật dờ quán sen'...

Cả khi hai người cùng chung cảnh ngộ, thì phụ nữ thường cũng thiệt thòi hơn:

'Thiếp thương chàng đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng lộ tiếng ai hay
Miệng thế gian nhiều kẻ thày lay
Cực chàng chín rưỡi khổ thiếp đây mười phần'

hay:

'Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya'

... Thế nhưng vượt lên tất cả, người phụ nữ đất Quảng vẫn thể hiện rõ bản lĩnh của mình trong tình yêu:

'Thiếp không thương chàng thì ra chỗ dở
Cho nên thiếp phải thương đỡ vài ngày
Thiếp có chồng rồi thiên hạ đều hay
Sợ nước lui về đông hải càng ngày càng xa'
*
'Liệu bề thương được thì thương
Đừng trao gánh nặng giữa đường cho em',
'Xa xôi chi đó mà lầm
Phải hương hương bén phải trầm trầm thơm'...

Cũng không ai khác ngoài họ đã chủ động dung hoà kiểu hôn nhân theo sắp đặt với kiểu hôn nhân có tình yêu - một mô hình hôn nhân đến nay và trong nhiều thập niên tới xem ra vẫn còn phù hợp. Người phụ nữ đất Quảng không đồng tình với kiểu hôn nhân sắp đặt:

'Đôi ta tuổi lứa đang vừa
Trách cho cha mẹ kén lừa nơi mô',
cũng không muốn bị làng xóm cười chê rằng:
*
'Gái đâu gái hỗn gái hào
Trai chưa vô làm rể gái đã vào làm dâu'.

Họ tự đến với nhau, yêu nhau và cùng nhau thề non hẹn biển, sau đó tranh thủ sự đồng thuận của hai bên gia đình:

'Trai mười bảy gặp gái mười ba
Trai anh hăm sáu gái em đà hăm hai
Lời nguyền với bạn không sai
Bữa mô có rảnh cậy ông mai đến nhà'

*
'Con gà trống tía cái lông cũng tía
Ngọn khoai lang giâm ngọn mía cũng giâm
Thương nhau không dễ thương thầm
Thương thời rượu cỗ trầu mâm đến nhà
Em còn thừa lệnh mẹ cha
Còn có cô chú bác chứ không phải mình ta với chàng'…

Hay như:

'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Em thương anh cha mẹ không hay
Như ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Kể từ ngày đó đã xa đây
Sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn'

Khi cô gái Quảng dám tự chọn lựa hạnh phúc 'thương anh cha mẹ không hay' thì dẫu có 'nghi binh' sánh mình với 'ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào', thực chất cô cũng đã khẳng định cái hướng mà đời cô nhằm đến. Tính khẳng định của sự lựa chọn càng hai năm rõ mười hơn ở những cách nói: 'kể từ ngày đó đã xa đây - sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn', hay 'lòng ta như chén rượu đầy - lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi', hay 'thương nhau chưa đặng mấy ngày - đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi', rồi 'hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày - chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương'. Có lẽ tính khẳng định của sự lựa chọn đạt đến đỉnh điểm khi chủ thể trữ tình - dường như vẫn chính là cô gái Quảng - tự đặt bản thân trong quan hệ với người thứ ba: 'ai', 'nơi mô', từ đó mở ra cho người mình yêu khả năng lựa chọn:'coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em', 'nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo'.

c.Tình yêu-hạnh phúc ở sự thay đổi cách nghĩ, cách nhìn:

Cuộc sống khắc nghiệt luôn đặt ra cho người dân xứ Quảng nhiều câu hỏi lớn,chẳng hạn cam chịu nhớ thương mà chấp nhận ở lại với cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, hay tìm sự bằng an để giũ bỏ quay về với cái-quen-xưa-bao-đời-vẫn-vậy. Và câu trả lời của người Quảng là:

'Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thời về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thời đừng'

Không phải đừng về mà đừng quay về, đừng hồi hương, bởi giờ đây đã có thêm một quê hương!

Chính nhờ sống trong thế giới những cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, người Quảng xưa có nhu cầu và điều kiện đổi mới cách nhìn, cách nghĩ. Câu ca dân gian:

'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say'

Cực tả sự khát khao cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng.

'Ra đi mẹ có dặn dò
Sông sâu chớ lội đò đầy đừng qua'

Kinh nghiệm sống khôn ngoan ấy giờ đây cơ hồ không còn thích hợp nữa. Cuộc sống giờ đây đòi hỏi con người phải biết tư duy kiểu khác:

'Sông sâu không lội thì trưa
Đò đầy không xuống ai đưa một mình'...

Và nhờ biết tư duy kiểu khác mà thái độ ứng xử với cái lạ ở người Quảng lúc này không giống khi vừa mới đến:

'Tay ta cầm cần câu trúc ống câu trắc lưỡi câu thau
Muốn câu con cá biển chứ cá bàu thiếu chi'

Hay:

'Lên non tìm con chim lạ
Ở dưới phố phường chim chạ thiếu chi'.

Từ chỗ sợ cái lạ - 'con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng' - tới chỗ chủ động đi tìm cái lạ, đó là cả một bước tiến dài trong tư duy người xứ Quảng xưa. Họ cảm thấy hạnh phúc trong kiểu tư duy mới. Tình yêu - hạnh phúc của người xứ Quảng được truyền tài vào ca dao một cách thông minh là thế đó.

d.Tình yêu - hạnh phúc thể hiện qua những đặc sản, món ăn đậm chất Quảng:

Ngoài những lúc làm việc mệt nhọc,người Quảng ngồi lại cùng nhau,chia sẻ cho nhau tình yêu-hạnh phúc qua những món ăn đạm bạc quê mình,vừa ăn,vừa ngâm lên những câu:

“Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”

Hay:

“Ai về đất Quảng làm dâu
Ăn cơm ghế mít hát câu ân tình”

Rồi tiếp đó lại là:

“Tay cầm bánh tráng mỏng nương nương
Miệng kêu tay ngoắt,bớ người thương uống nước nhiều”

Ở xứ Quảng, ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng. Đúng thế, đem bánh tráng xúc với mít trộn là một cách ăn điệu nghệ. Tuyệt lắm! Hạnh phúc lắm thay!

Không chỉ thế, vào xứ Quảng còn được tận hưởng cái khoảnh khắc hạnh phúc hòa cùng với hạnh phúc của người Quảng qua các món ăn được ý nhị nhắc nhở qua những câu như:

“Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ”.

*
“Ai đi cách trở sơn khê,
Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng ”

Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu, mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. Hoặc:

'Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng...”

*
“Lụt nguồn trôi trái bòn bon ,
Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi .
Mồ côi ba thứ mồ côi.
Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường”

Bòn bon là môt loại trái cây, ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại Lộc - Quảng Nam, mùa mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái bòn bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha, nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

“Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường...
Xứ Quảng còn là đất mía đường:
Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền”

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

“Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh...

*
“Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương...”

Hoặc:

“Có duyên lấy đặng chồng nguồn
Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui
Nhón chân kêu bớ họ nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”

Bài ca dao quen thuộc trên trong kho tàng ca dao xứ Quảng không chỉ bày tỏ niềm hãnh diện, sung sướng của những cô gái miền xuôi được lấy chồng và ở trên miền ngược mà còn nhắn gởi trông đợi của họ đến với người miền xuôi về sự đối lưu, trao đổi sản phẩm, mít non, cá chuồn giữa hai vùng miền cách trở.

Rõ ràng, người xứ Quảng tự hào lắm chứ, hạnh phúc lắm chứ khi đưa những món đặc sản quê mình vào những câu ca dao - dân ca để khi ngân lên thì ôi hạnh phúc xiết bao cái chất Quảng ngọt ngào đã hòa chung vào cái tinh tế của ca dao - dân ca Việt Nam để giới thiệu đến bạn bè cả nước.

e. Tình yêu - hạnh phúc của người xứ Quảng ẩn chứa trong những câu ca dao - dân ca nói về địa danh quê hương mình:

Mỗi người dân xứ Quảng đều mang trong mình chút lưng vốn ca dao - dân ca. Có lẽ vì thế mà mỗi khi ai đó hỏi đến xứ Quảng thì dường như họ tuôn trào mọi cảm xúc yêu-nhớ-tự hào với cái tình quê vốn luôn được họ nuôi dưỡng hằng ngày, hằng giờ và cứ thế họ sẽ cất lên những câu ca dao - dân ca có những địa danh xứ Quảng bằng cái chất gọng đặc sệt Quảng, thì không thể trộn lẫn vào đâu được:

“Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,
Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say
Ðối với ai ơn trọng, nghĩa dày ,
Một hột cơm cũng nhớ ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên ...”

Câu này đồng thời còn diễn tả rõ tánh tình người dân đất Quảng,bộc trực, bén nhạy, nhớ ơn, trọng nghĩa đối vơí các ân nhân của mình. Hay:

“Hội An đất hẹp, người đông,
Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu”

Phố Hội An nhỏ hẹp, nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi, khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

“Hội An bán gấm, bán điêù
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành'

Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp, còn Kim Bồng, Trà Nhiêu là vùng ngoại ô, chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

“Ai đi phố Hội, Chùa Cầu,
Ðể thương, để nhớ, để sầu cho ai,
Ðể sầu cho khách vãng lai,
Ðể thương, để nhớ cho ai chịu sầu”

Những người dân Hội An, vì sinh kế phải đi làm ăn xa, tuy nhiên vẫn thương và nhớ phố Hội.

“ Ðưa tay hốt nhắm dăm bào,
Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công,
Không mai thì mốt, hồi công,
Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân”

Kim Bồng là một xã bên kia sông, đối diện với Hội An, sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc, hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp, bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

“Năm hòn nằm đó không sai,
Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui,
Ngó về Cửa Ðại, than ôi,
Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình”.

Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình, không chen vơí các hòn đảo khác. Hoặc có thể là những câu:

“Trà My sông núi đượm tình,
Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà”

*
“Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt ,
Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,
Phân du, bạch chỉ rành rành ,
Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân”.

Trà My là huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam, có cả Thượng Kinh chung sống, chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

“Gập ghềnh Giảm thọ, Ðèo Le .
Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai”

Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt lè lưỡi.

“ Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông.
Thấy nước xanh như tàu lá,
Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn,
Thấy phố xá nghinh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,
Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu,
Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,
Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh”

Hàn tức là tên cũ của Ðà Nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðà Nẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ, chờ chàng về.

“Kể từ đồn Nhứt kể vô,
Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô, xuống Hàn,
Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang .
Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra.
Ngó lên chợ Tổng bao xa,
Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu
Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu.
Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm.
Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm ,
Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ”

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

“Kể cầu Ông Bộ kể ra,
Cây Trâm ,Trà Lý, bước qua Bàu Bàu,
Tam kỳ, Chợ Vạn bao lâu,
Ngó qua đường cái, thấy lầu Ông Tây,
Chiên Ðàn , Chợ Mới là đây,
Kế Xuyên mua bán, đông, tây rộn ràng
Hà Lam gần sát Phủ Ðàng,
Phiá ngoài bãi cát , Hương An nằm dài ,
Cầu cho gái sắc, trai tài .
Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng”

Các địa danh trên đây, kể từ trong kể ra, Lầu ông Tây tức là nhà lầu của Viên Ðại lý Hành Chánh Pháp đóng ở Tam Kỳ, còn Chợ Mới, Chợ Vạn, Kế Xuyên, Chiên Ðàn là những tụ điểm thương mãi quanh Tam Kỳ.

Vậy đó, dù rằng không nói trực tiếp cái tình yêu quê hương, cái hạnh phúc trong lòng mình nhưng mỗi người đọc ca dao - dân ca xứ Quảng tinh ý, nhạy bén sẽ cảm nhận được tình yêu - hạnh phúc được truyền tải qua những lời ca ấy.

g. Niềm tin tình yêu - hạnh phúc:

Những con người xứ Quảng có một niềm tin vững chắc, vô điều kiện:

“Thương nhau chớ quá e dè,
Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be
Thiếp nói thì chàng phải nghe,
Thức khuya, dậy sớm, làm che 1 ngày 12 xu,
Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo ,
Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,
Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,
Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau,
Lạy trời, mưa xuống cho mau.
Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng”

Hoặc có thể là câu ca dao - dân ca của lòng thủy chung, chờ đợi:

'Ngó lại quê mình
Bởi em chèo thuyền
Trên sông cái
Em ngó lại quê mình
Chim trên cành còn đủ cặp huống chi mình lẻ đôi
Vì đâu đây với đó đã hai nơi
Chiếc đò ngang bằng chiếc đũa không lời nhắn đưa
Cây đa bến cũ đò xưa Người thương có nghĩa nắng mưa ta vẫn chờ'

Hay câu:

'Sớm mai chàng hoá con chim trống đứng dựa bìa núi
Chiều lại thiếp hoá con chim mái đứng dựa bìa rừng
Nỉ non ba tiếng cho có chừng
Dầu xa muôn dặm biểu bạn đừng có xa'...

Câu ca dao thấm nhuần tình tự dân tộc, xuất phát từ tình yêu giữa đôi trai gái, có tính chất mộc mạc,chân tình, nói lên bản chất của người dân đất Quảng vẫn luôn tồn tại, không đổi thay, qua thời gian và không gian, giữa những dòng đổi thay của đất nước.

4. Nghệ thuật của người xứ Quảng trong ca dao - dân ca:

Nhìn chung ngôn ngữ ca dao - dân ca xứ Quảng nói chung thô mộc song không phải không có những nét đặc sắc.

a. Nghệ thuật chơi chữ:

'Thương nhau trường đoạn đoạn trường
Lụy lưu lưu lụy dạ dường kim châm'.

Một câu lục bát mười bốn chữ mà đa phần là từ Hán - Việt, trong đó đáng chú ý là cách đảo từ 'trường đoạn' thành 'đoạn trường', 'lụy lưu' thành 'lưu lụy' nhằm khai thác sức mạnh biểu cảm của những từ đồng âm dị nghĩa. Khi cần 'chữ nghĩa', người Quảng cũng rất chi là 'chữ nghĩa', đấy chứ. Ở đây, nghệ thuật chơi chữ đã được vận dụng một cách triệt để, hay ví dụ như câu

'Anh từ trong Quảng ra thi
Leo lên đèo ải chữ chi mập mờ'

hoặc câu:

'Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Áo vắt vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chi chàng mà lấn lướt vô thi
Tiền năm quan ngủ quán mất đi
Trai nam nhơn mô đối đặng
Gái nữ nhi xin kết nguyền'...

Hay câu:

'Con gái La Qua
Qua đường qua chọc

Qua biểu em rằng
Đừng có la qua'

Cái tên 'La Qua' vốn chỉ là một địa danh trong câu:

'Dù xa cửa ngõ cũng xa
Dù gần Bến Điện, La Qua cũng gần'

đến đây bỗng trở thành ngữ động từ 'la qua' - tức 'mắng anh' (vì anh đã trêu chọc em). Ngay chữ 'qua' cũng rất đa nghĩa: vừa là thành tố của địa danh La Qua, vừa là anh (qua chọc, qua bảo, la qua), lại vừa là bước sang (qua đường). Rõ ràng nghệ thuật chơi chữ của người Quảng trong câu ca dân gian này khá là độc đáo.

b. Tính truyền thống và cách tân :

- Người Quảng thường sáng tác dựa theo kết cấu có sẵn: Có những câu ca dao sau:

Nước Thổ Hà vừa trong vừa mát
Đường Vạn Vân lắm cát dễ đi
(Hà Bắc)

*
Nước Trịnh Thôn vừa trong vừa mát
Đường Trịnh Thôn lắm cát dễ đi
(Thanh Hóa)

*
Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mát
Đường Nam Giang lắm cát dễ đi
(Nghệ An)

Nhưng với cái khung có sẵn ấy, bài ca ở vùng đất Quảng cũng vẫn có phần sáng tạo riêng:

Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát dễ đi
Em ơi má thắm làm chi
Để anh thương nhớ mấy con trăng ni không về..

Đấy là cách sáng tác truyền miệng phổ biến khắp nước ta…Người xứ Quảng đã cảm thụ truyền thống chung trong nghệ thuật ca dao - dân ca dân tộc.

- Tính dị bản trong ca dao - dân ca xứ Quảng:

Có lẽ câu ca dao truyền thống và tiêu biểu nhất của người xứ Quảng có nhiều dị bản nhất là:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Theo cuốn Văn học dân gian Quảng Nam(miền biển), tập III, năm 2001 thì đã có 14 dị bản. 10 dị bản thuộc loại trữ tình và 4 dị bản thuộc loại tự sự lịch sử. Có thể kể đến một vài dị bản như sau:

'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày
Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo'...

Tính chất trữ tình của bài ca này đã được chuyển hóa thành tính chất tự sự lịch sử, nhưng vẫn không đi ra ngoài mô típ của một câu cao dao cổ. Đây chính là hình thức vừa ổn định của yếu tố truyền thống vững bền, vừa biến đổi nhờ yếu tố cách tân, để bài ca đi sát với thực tế xã hội và tình trạng lịch sử…

c. Hiện tượng chính trị hóa ca dao - dân ca trữ tình:

Người Quảng nhạy cảm với chính trị, cho nên bên cạnh những câu ca dao - dân ca có nội dung chính trị hẳn hoi, chẳng hạn câu ca dao:

“Ai lên chín ngã sông Con
Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không'

hay câu hát:

'Đứng bên ni Hàn
Ngó bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê Hà Thân
Ngó về Hàn phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí bòn vàng Bông Miêu
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau'

Rõ ràng hai chữ 'nghênh ngang' đã công khai bày tỏ thái độ chính trị của nhân dân Đà Nẵng đang phải chung sống với kẻ thù), còn khá phổ biến trong thơ ca dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng hiện tượng chính trị hoá ca dao - dân ca trữ tình.

Câu ca dao trữ tình quen thuộc :

“Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em'

được người Quảng chính trị hoá trở thành những câu trữ tình - chính trị:

Ra đời vào thời gian đất nước bị chia cắt sau Hiệp định Genève 1954.Ta thấy rằng trongnhững cảnh ngộ không thể nói thẳng được điều cần nói, người Quảng vẫn có thể kín đáo vận động chính trị đồng thời gián tiếp tự bộc lộ sự lựa chọn chính trị của mình. Điều đó đã được dễ dàng đưa vào ca dao - dân ca một cách khéo léo,tài tình.

d. Hiện tượng tách từ,nói lái:

Hiện tượng tách từ được người Quảng dùng khá thuần thục trong ca dao - dân ca :

'Nhìn xem nam bắc tây đông
Thấy thiên thấy hạ mà không thấy chàng
Về nhà đứng thở ngồi than
Cơm ta ăn không đặng nhớ đến nghĩa chàng đó chàng ơi'

Hay:

'Xa làm chi mà xa quanh xa quất
Xa làm chi mà xa tức xa tối xa vội xa vàng
Không cho thiếp thở chàng than đôi lời'.

Đến chữ nghĩa cũng chia rời, xa cách, huống chi đôi lứa đang yêu! Sở trường nói lái thường được tận dụng:

'Một chữ anh cũng thi
Hai chữ anh cũng thi
May thời đậu trạng dẫu rớt đi cũng ông nghè hồi'.

Ông 'nghè hồi' ở đây không phải là ông tiến sĩ vinh quy (nghè: tiến sĩ; hồi: trở về), mà là ông 'ngồi hè' - vì đã thi hỏng tức vẫn còn là anh học trò nghèo kiết xác, không ngồi ngoài hè thì ngồi vào đâu được!

Với những câu ca dao - dân ca không chỉ ở mảng đề tài tình yêu - hạnh phúc, chúng ta đã có thể thấy được nghệ thuật của ca dao - dân ca xứ Quảng. Từ đó hiểu được những điều người xưa Quảng xưa muốn nói .

5. Kết luận:

Tình yêu - hạnh phúc trong ca dao - dân ca xứ Quảng với lối nói mộc mạc đơn giản, đậm chất Quảng được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu, ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng đã nói lên được cái tình yêu - hạnh phúc rất riêng của người xứ Quảng.

Tình yêu - hạnh phúc trong ca dao - dân ca xứ Quảng xuất phát từ những cái bình dị hằng ngày .Bằng những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ, ca dao - dân ca xứ Quảng đã thể hiện tâm tư, tình cảm mộc mạc, trong sáng, đậm đà tình nghĩa của những con người xứ Quảng chịu thương chịu khó. Họ bất chấp mọi trắc trở để tìm thấy niềm vui, lạc quan trong cuộc sống, tình yêu hạnh phúc.

Ca dao - dân ca xứ Quảng là một phần hồn về đề tài tình yêu - hạnh phúc trong nội dung ca dao - dân ca Việt Nam. Cho dù đi bất cứ nơi đâu,chúng tôi - những con người xứ Quảng vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao - dân ca xứ Quảng quê mình.

Có dịp nhìn lại ca dao - dân ca xứ Quảng để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng ca dao - dân ca vốn có rất nhiều những nội dung sắc sảo cần được giữ gìn, phát huy. Mà một trong những nội dung có thể kể đến là đề tài tình yêu - hạnh phúc. (Hết)

Tác giả:thaonguyenbt2010
(Người sưu tầm: Nguyễn Thành Giang


Tài liệu tham khảo:

1. Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, tập I, Nguyễn Văn Bổn, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng chủ trì biên soạn, xuất bản năm 1983 và tái bản đầu năm 1986.
2. Huỳnh Ngọc Trảng và Vu Gia với phần biên khảo về văn học dân gian huyện Đại Lộc trong Địa chí Đại Lộc (NXB. Đà Nẵng - 1992).
3.Thạch Phương trong tiểu luận Ca dao của một vùng đất (Ca dao Nam Trung Bộ - NXB. Khoa học xã hội - 1994) bàn về ca dao và những thể loại có liên quan đến thơ ca dân gian của Quảng Nam - Đà Nẵng)
4 . Báo Quảng Nam
5. Báo Quảng Ngãi
6. Báo Đà Nẵng
7. Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiếng....
thunder  
#259 Posted : Friday, July 15, 2011 12:16:52 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Sản vật Kinh Bắc qua ca dao


Làng Quỷnh thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là nơi có lắm đồi chè. Nhiều câu ca dao nhắc tới chè làng Quỷnh:

Ai lên làng Quỷnh hái chè,
Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!

..............

Muốn ăn cơm trắng cá mè,
Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh.

Làng Quỷnh chẳng những có chè, còn có gạo trắng cá tươi, cá rất nhiều ở hồ ao làng này và ở sông Lục Nam. Cá rô làng Quỷnh béo và ngon:

Muốn ăn cơm trắng cá rô,
Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

Về thổ sản Kinh Bắc còn phải kể đến rau muống Hiên Ngang, làng này thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, rau muống ngon có tiếng, được mệnh danh là rau tiến và đã nằm trong câu tục ngữ:

Cua Phụng Pháp,
Rau muống Hiên Ngang.

Rau muống Hiên Ngang cũng có tiếng như mõ làng Phù Lưu, chuông làng Trân Xá tục gọi là làng Chõ và trống làng Phú Mẫn tục gọi là làng Chờ:

Trống Chờ, chuông Chõ, mõ Phù Lưụ

Cả ba làng này đều thuộc tổng Nội Trà, huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh. Trống Chờ lớn, bà hoàng phi Nguyễn Thị Kim đã từng vào ẩn trong trống này, chuông Chõ cũng lớn và kêu vang, mõ Phù Lưu kêu có tiếng.

Câu trên đôi khi bị đọc chệch thành:
Chuông Trà, trống Trụ, mõ Phù Lưụ
Có tiếng còn phải kể đến gạch làng Bát Tràng:
Hôm qua anh đến chơi nhà,
Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường,
Thấy em nằm đất anh thương,
Anh về mua gạch Bát Tràng anh xây.

...........

Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng,
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

Làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội), là một làng giàu có, đàn bà rất đảm đang. Sự trù phú làng này là sự trù phú của toàn dân làng, không có người quá nghèo. Các bà vợ Bát Tràng chiều chuộng chồng, đàn ông con trai ở đây rất sung sướng:

Sống làm trai Bát Tràng,
Chết làm thành hoàng Kiêu Kỵ

Làng Kiêu Kỵ cũng thuộc huyện Gia Lâm, cách làng Bát Tràng chừng sáu bảy cây số, và cũng là một làng giàu có, dân chúng ngoài công việc nông tang còn hai nghề chính giúp cho cuộc sống dồi dào, nghề làm vàng quỳ và nghề mổ trâu bò.

Làm vàng quỳ của xã này nổi tiếng xa gần, cũng như làng Bát Tràng làm gạch và đồ gốm. Tục ngữ có câu:

Bát Tràng làm bát,
Kiêu Kỵ giát vàng.

Dân làng làm ăn khá, tin ở sự phù hộ của thần linh, nhất là của vị thành hoàng, do đó luôn có lễ bái cúng kiến. Làng Kiêu Kỵ có nghề mổ trâu bò, trước khi đem thịt đi bán ở chợ, họ dùng sỏ trâu, sỏ bò cùng vàng hương trầu rượu làm lễ cúng đức thành hoàng.

Ngoài ra, làng giàu có nên đình chùa làng rất khang trang. Thêm nữa, với nghề giát vàng quỳ để bán cho thiên hạ sơn son thiếp vàng, những đồ thờ trong đình chùa làng này đều sơn son thiếp vàng hết.

Sinh ký Bát Tràng nam tử quý,
Tử quy Kiêu Kỵ thượng linh thần.

Lược dịch:

Sống gửi trai Bát Tràng là quý,
Thác về, thần Kiêu Kỵ thượng linh.

Theo ông Nguyễn Gia Liên thì câu trên còn có một dị bản khác:

Sống làm trai Bát Tràng,
Chết chôn nhờ làng Kiêu Kỵ.
Ông đã giải thích như sau:

"Xã Bát Tràng ở trên bờ sông Nhị Hà, chuyên nghề làm gạch và đồ gốm, ngày xưa có tên là phường Bạch Thổ (không phải xã). Là dân phường công nghệ rất phồn thịnh nên trai Bát Tràng làm ăn nhàn nhã với đời sống sung túc. Xã này và vài xã khác quanh vùng không có đất canh tác và đất hoang. Trái lại xã Kiêu Kỵ có đất hoang rộng bát ngát tới ranh giới tỉnh Hưng Yên và bờ sông Nhị Hà. Khi những xã đó có người từ trần, phải mai táng nhờ đất Kiêu Kỵ".

Nói tới thổ sản Kinh Bắc, chúng tôi không thể quên được gà Hồ, một loại gà giống to, mau lớn, thịt thơm ngon, do dân làng Lạc Thổ, phủ Thuận Thành chăn nuôi cùng với chim bồ câu:

Mến yêu Lạc Thổ thì về,
Làng em làm mã có nghề chăn nuôi.
Đất vui, nhiều lợi thảnh thơi,
Gà chăn chim thả chờ thời mỗi niên.
Anh mà giật giải liên miên,
Gà chim giống tốt chẳng tiên nào tầỵ

Làng Lạc Thổ có nghề làm vàng mã dân làng sinh sống, nhưng nuôi gà và chim bồ câu cũng là kế sinh nhai của dân làng. Gà làng này nổi tiếng và được mệnh danh gà Hồ, gà to và thơm thịt. Dân làng chú ý tới nuôi gà nên hằng năm có đặt giải thưởng, cũng như giải thưởng cho các đàn chim bồ câu bay thi. Riêng về gà, đã có câu dặn dò mọi người cách lựa giống gà:

Làng ta đặt giải gà thờ,
Hãy coi cổ cánh để chờ năm sau;
Dẫu rằng chăm sóc đến đâu,
Sao bằng lựa giống cánh diều lưng vuông.

Rượu Vạn Vân cũng là một thổ sản Kinh Bắc nổi tiếng:

Vạn Vân nấu rượu cho người ta mua
Bên Tây không miếu không chùa;

..........

Câu ca dao rất dài, tiếc rằng lâu ngày chúng tôi quên hết cả đầu lẫn đuôi.

Lại còn "Nước mắm Vạn Vân" (đi đôi với Cá rô Đầm Sét), tuy Vạn Vân không sản xuất nước mắm, người ta mang nước mắm từ Cát Hải tỉnh Quảng Yên (nay thuộc Hải Phòng), đóng chai tại Vạn Vân và bán đi khắp nơi. Từ đó hình thành tên gọi này.

Mé dưới Vạn Vân là làng Thổ Hà:
Thổ Hà gánh đất nung lon, nặn nồi. Đôn sành làng Thổ Hà rất nổi tiếng và được dùng trên khắp xứ Bắc.

Toan Ánh

thunder  
#260 Posted : Saturday, July 16, 2011 2:24:17 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

TIẾNG VIỆT, HỒN DÂN TỘC VIỆT NAM


Thấm thoát đã 30 năm người Việt chúng ta phải xa lìa quê hương để sống tha phương khắp mọi nơi. Chúng ta như đàn chim vì tìm tự do phải rời tổ ấm bay phân tán đi khắp thế giới. Chúng ta chọn xứ lạ làm quê hương thứ nhì. Chúng ta sinh sống trên đất người nhưng lúc nào lòng cũng hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Chúng ta học được nhiều ngôn ngữ mới, biết được nhiều tập quán lạ để gia nhập vào cuộc sống mới. Nhưng rồi những buổi chiều sau giờ làm việc mệt nhọc, ta cảm thấy cần nghe và nói tiếng Việt. Chỉ có tiếng Việt mới có thể đưa ta trở về con người sâu sắc của chính mình. Tiếng Việt đưa ta về cội nguồn của tâm hồn ta và nó có thể làm vơi đi những căng thẳng trong ngày. Tiếng Việt đem ta trở về một thế giới quen thuộc êm đềm và ru ta vào giấc ngủ say sưa.

Trong giấc ngủ ta trở thành bé thơ nằm gọn trong lòng mẹ và nghe mẹ ru ta ngủ bằng giai điệu ngọt ngào của tiếng Việt. Chính vì thế mà tiếng mẹ đẻ đã thấm nhuần vào từng thớ tâm hồn ta như dòng sữa ngọt đưa ta vào đời. Thân thể ta cần sữa thì tâm hồn ta cần nghe mẹ ru ta. Ta nhắm mắt lại và chìm đắm trong một thế giới êm đềm. Tiếng mẹ ru như những câu thần chú đánh đuổi những sợ hãi của đêm tối. Ta nở một nụ cười hạnh phúc trên môi và trôi dần vào giấc ngủ say sưa.

Ta thức dậy. Thời gian trôi qua nhanh quá. Mới đây tóc xanh giờ đã hoa tiêu. Những con sóng của cuộc đời nhồi lên nhồi xuống con thuyền không bến. Tuy ta mất quê hương nhưng khi ta duy trì được tiếng mẹ đẻ thì ngôn ngữ đó trở thành một mảnh đất quê hương mà ta mãi mang theo trong tâm hồn của người tha hương. Khi những người đồng hương ở xứ người gặp nhau trò chuyện bằng tiếng Việt, giai điệu âm thanh đó ngọt ngào làm sao. Khi di tản, ta không mang theo mảnh đất quê hương yêu dấu được, nhưng khi hỏi thăm trò chuyện với nhau bằng tiếng Việt thì quê hương ta hiện ra đâu đó.

Khi nói đến ngôn ngữ thì phải nói đến văn hóa. Ngôn ngữ và văn hóa như sữa và nước thật khó tách rời. Vị sữa làm cho nước ngọt và chất nước làm cho sữa dễ tiêu hóa. Văn hóa ta tôn trọng quan hệ gia đình và xã hội chớ không đề cao chủ nghĩa cá nhân đè đầu người khác để làm mình trội hơn. Cá nhân được thương mến khi cá nhân đó tôn trọng quan hệ giữa người và người. Vì thế người Việt chúng ta rất tình cảm. Quan hệ tình người được bảo vệ và tăng trưởng nhờ ngôn ngữ. Thí dụ ta dùng từ "anh chị" để gọi nhau, để tự nhắc nhở cho nhau chúng ta cùng một đại gia đình Việt Nam. Chúng ta dùng từ "chú, bác, dì, thím" để gọi những người lớn tuổi hơn ta. Qua ngôn ngữ ta cho họ biết là ta tôn trọng họ như những người lớn tuổi trong gia đình ta.

Ngôn ngữ Việt Nam, ngoài vai trò thông tin còn có vai trò củng cố quan hệ tình cảm nửa. Đó là cái tính chất văn hóa lồng trong ngôn ngữ. Thí dụ như vợ chồng Mỹ gọi nhau bằng "I" và "you". Khi phân tích ngôn ngữ học thì "I" hoàn toàn cách biệt với "you", "I" và "you" là hai cá thể hoàn toàn độc lập và khác biệt. Tiếng Việt ta dùng từ "anh, em" hay "mình", cho ta thấy rõ cái quan hệ tình cảm của cặp vợ chồng. Tuy vợ chồng không có máu mủ với nhau, nhưng khi gọi nhau bằng "anh, em" thì diễn tả được mối tình thân thiết. Còn từ "mình" có vẻ thân thiết hơn, ta coi người phối ngẫu như một phần của chính ta, ta không thể sống thiếu người đó được.

Ngôn ngữ nào cũng có giai điệu của nó. Khi đứa bé mới học nói, nó không hiểu hết ý nghĩa của danh từ. Đầu óc nó học qua giai điệu (melody) của âm thanh qua tiếng nói người mẹ. Nó vui buồn theo cái giai điệu biểu hiện tình cảm do người mẹ phát ra. Vì thế giai điệu ngôn ngữ gắn liền với rất nhiều tình cảm đồi dào trong lòng người. Giai điệu đó phản ảnh tình mẫu tử bao la và đồng thời phản ảnh non nước quê hương bao quanh ta. Cái giai điệu và cách cấu trúc câu văn (cú pháp) đặc trưng ở từng ngôn ngữ. Có thể nói giai điệu và cú pháp rung động cùng nhịp với môi trường sống tại một thời điểm nào đó. Thí dụ ta khó dịch câu thơ Việt Nam tả cảnh sống êm đềm ở nông thôn ra ngôn ngữ ngoại quốc mà vẫn giữ được hồn thơ. Có lẽ ngôn ngữ của thành thị không có khả năng diễn tả những rung động đặc trưng của nông thôn. Những câu ca dao tục ngữ, những bài ca, điệu hò mang đặc trưng cái hồn dân tộc Việt Nam và chỉ có tiếng Việt mới diễn tả được. Vì thế khi tuổi trẻ sanh trưởng tại hải ngoại không học nói tiếng Việt từ nhỏ, sẽ mất đi cái chìa khóa quý giá giúp họ đi vào hồn dân tộc khám phá nhiều kho tàng văn chương và tình cảm vô giá.

Duy trì ngôn ngữ Việt Nam ở tuổi trẻ hải ngoại là một điều rất cần thiết. Trao đổi bằng tiếng Việt làm cuộc sống tình cảm dồi dào hơn, nhứt là khi ta so sánh với tiếng ngoại quốc và ý thức được nét đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa ta đề cao quan hệ tình người. Cũng thời hai thiếu nữ Việt Nam mặc áo dài, cô thiếu nữ nói được tiếng Việt và hiểu được văn hóa Việt Nam lúc nào cũng có vẻ dịu dàng và dễ mến hơn. Cô ta diễn tả được hồn Việt trong chiếc áo dài đó! Khi hiểu được tiếng Việt thì tuổi trẻ sanh ra tại hải ngoại sẽ yêu và thông cảm cha mẹ mình hơn. Khoảng cách giữa hai thế hệ sẽ rút ngắn lại và những mâu thuẫn sẽ ít đi. Rồi trong tình yêu tiếng Việt đó họ sẽ gặp gỡ được hồn dân tộc và cảm thấy gần gũi với quê hương Việt Nam hơn. Duy trì ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam sẽ làm tuổi trẻ Việt Nam nổi bật vì họ có thêm cái đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam mà các nước khác không có.

Ta sẽ mất quê hương lần thứ nhì khi ta để con cái ta dần dần quên tiếng Việt. Chính vì thế, chúng tôi tha thiết kêu gọi các vị lãnh tụ chính trị và tôn giáo ở hải ngoại nên thành lập một ngày tưởng nhớ đặc biệt sau ngày 30 tháng 4 gọi là ngày "Tiếng Việt, hồn dân tộc". Đó sẽ là ngày mà tất cả dân Việt Nam rải rác trên thế giới tổ chức nhiều cuộc họp mặt thảo luận qua truyền thông báo chí về những nét hay và đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Nơi nào có đông dân Việt Nam, chúng ta nên vận động chính quyền bản xứ đem tiếng Việt vào trường học, với những lớp căn bản học nói và viết tiếng Việt đến những lớp cao hơn nghiên cứu về ngôn ngữ học (linguistic) Việt Nam, văn hóa, văn chương Việt Nam trong nước và hải ngoại. Có nghiên cứu, có hiểu được về tiếng Việt, con cháu ta mới tự hào về nguồn gốc mình và cảm thấy gắn bó yêu thương dân tộc mình hơn. Bằng không thế hệ trẻ sau này chỉ là những người mang dòng máu Việt Nam nhưng với tâm hồn của người ngoại quốc.

Qua tiếng Việt, chúng tôi muốn thế hệ sau này hiểu dòng máu mà mình mang trong người là dòng máu của một thế hệ trước đấu tranh với những thảm cảnh của ngục tù cải tạo và những chuyến vượt biên tràn đầy hiểm nguy. Thế hệ đó đã cắn răng sống trong bao nỗi nhục nhằn để thế hệ sau này được vẻ vang trên đất người. Chúng ta không nên nhắc lại những chuyện đau lòng đó để gợi lên lòng hận thù, đó là cái nhìn về quá khứ. Chúng ta nên nhìn về tương lai và nhắc lại những chuyện đó như một tình thương hy sinh cao cả của thế hệ trước. Cái chất keo hàn gắn sự khác biệt giữa hai thế hệ tạo sự thông cảm chính là ngôn ngữ Việt Nam! Ta có thể hình dung rằng khi mất tiếng Việt Nam, ta sẽ có nhiều cô gái Việt trên thế giới mặc áo dài, mới nhìn trông thật đẹp, nhưng khi lại gần trò chuyện thì mới biết họ là những người ngoại quốc trong chiếc quốc phục dịu dàng. Lúc đó ta chợt hiểu rằng khi ta mất tiếng Việt thì hồn dân tộc bị chết theo!

BÁC SĨ THÁI MINH TRUNG

Edited by user Saturday, July 16, 2011 2:24:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest (3)
143 Pages«<1112131415>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.