Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages«<1011121314>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#221 Posted : Thursday, June 16, 2011 6:17:43 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Tình yêu, hạnh phúc trong ca dao - dân ca Quảng Nam


Chủ nhật, 12 Tháng 6 2011

Là một bộ phận cấu thành của văn học dân gian, ca dao - dân ca xứ Quảng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền,đồng thời, cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời hạnh phúc, tri thức mới. Ca dao - dân ca xứ Quảng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của ca dao dân ca Việt Nam.

Ca dao - dân ca xứ Quảng thường được sáng tác dựa theo cái khung có sẵn. Dù vậy,câu ca dao -dân ca mới sáng tác vẫn hay. Những tình cảm mới được lồng vào trong những khung chung có tình chất tiêu chuẩn mà mọi người đã thừa nhận làm cho câu ca dao dân ca dễ trở thành “của chung”. (Đặng Văn Lung, trong Văn học Dân gian, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo Dục, TP.HCM, 1999, tr. 298)

Ca dao - dân ca xứ Quảng có tính dị bản. Đây là một hiện tượng lạ lùng, độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ địa phương nào khác.

Ca dao - dân ca xứ Quảng mang đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Truyền tải tâm tư, tình cảm, tình yêu - hạnh phúc… của những con người nơi đây.

Quan niệm về tình yêu hạnh phúc của người dân xứ Quảng:

Những con người xứ Quảng - khúc ruột miền Trung, xứ sở của nắng mưa và gió bão. Những con người tưởng chừng như chỉ ngoi ngóp mãi trong cái bể khổ của cuộc đời. Vậy mà không, thật bất ngờ khi những câu ca dao - dân ca của họ ngân lên thì kiếp người đau khổ đã tan biến đi chỉ còn lại những gì thiêng liêng và cao quý. Họ bỏ qua những trắc trở, khó khăn, tìm đến niềm vui, tình yêu, hạnh phúc…

Người xứ Quảng quan niệm tình yêu - hạnh phúc của mình phải do chính mình lựa chọn hạnh phúc, họ chủ động đi tìm tình yêu - hạnh phúc của mình chứ không phải do ai sắp đặt cả. Tình yêu hạnh phúc được tìm thấy từ chỗ sợ cái lạ đến chỗ chủ động đi tìm cái lạ, khát khao, nhạy cảm với cái mới…

Tình yêu - hạnh phúc của những con người xứ Quảng ở trong chính những điều bình dị của cuộc sống hằng ngày của họ như một đặc sản, miếng ăn đậm chất Quảng cũng làm lòng người xứ Quảng xích lại gần nhau hơn, hay như chính những câu ca dao - dân ca nói về địa danh của quê hương cũng làm những người con đất Quảng tìm thấy tình yêu - hạnh phúc của mình trong đó khi xa quê,hoặc có thể là lời nhắn gửi nhớ thương, chờ đợi người đi được thổ lộ cũng làm người xứ Quảng có niềm tin hơn trong tình yêu - hạnh phúc của mình.

Tình yêu - hạnh phúc trong ca dao dân ca xứ Quảng:

a. Tình yêu - hạnh phúc ở ngay trên chính hành trình đi tìm:

Dù phải lên non cao ,dù phải vượt qua tam tứ núi người xứ Quảng vẫn đi tìm. Vất vả là thế mà họ chỉ đi tìm cái bình thường giản dị nhất:

'Lên non tìm hòn đá trắng
Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?
Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu
Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời.”

“Lên non tìm hòn đá trắng” - Ô hay! Không phải tìm vàng hay tìm trầm mà chỉ tìm hòn đá trắng! Thật là kỳ diệu cái màu trắng thanh bạch,trong ngần vô giá. Nhưng nếu hiểu ở câu chữ không thì chưa đủ. Đọc xong ngẫm lại ta thấy giai điệu không nhẹ nhàng êm ái chút nào bởi hai thanh trắc (đá trắng) ở cuối câu lục thì thật là lạ. Phải chăng đó là nghịch lý của cuộc đời dù chỉ đi tìm điều đơn giản nhất. Nhưng rồi khi đọc câu tiếp theo:

“Con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu?”

Ta như vỡ lẽ: À, thì ra con người xứ Quảng mượn hình ảnh bình thường nhất là hòn đá. Nhưng điều họ muốn gửi gắm lòng mình ở đây không phải là vật chất. Vì họ lại đi trách con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu. Phải chăng con người đất Quảng luôn nuôi dưỡng tình người. Họ nói đến chim phượng hoàng là nói đến hình bóng của tình nhân quân tử, của nhơn tình nhơn ngãi trong tâm hồn họ. Dù phải vượt qua mọi gian lao vất vả để đến với con chim phượng hoàng nhưng tiếc cái âm thanh mong đợi mà họ cần tìm lại lịm tắt. Nếu thả hồn tận hưởng khúc nhạc ca dao thì ta như bắt gặp nỗi lòng người thương, bắt gặp tình cảm dặn dò tha thiết luôn ngân nga:

“Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng
Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em”

Hay:

“Yêu nhau chẳng lọ bạc vàng
Tình thân nghĩa thiết xin đừng chớ quên”

Thế mới hiểu rằng đời người biết bao cảnh ngộ éo le trắc trở để khi yêu nhau họ phải dặn dò, than thở. Nhưng rồi cái thâm thuý của bài ca dao không dừng ở đó. Nó khẳng định một điều trở thành chân lý:

“Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu”

Vậy là dù hòn đá trắng - màu trắng trinh nguyên nhưng rồi nó cũng phải bị rêu xanh bao phủ bởi tháng năm, bởi mưa nắng. Thì ra bài ca dao đã nhắc nhở, cảnh báo rằng nếu ai không giữ được lòng mình thì thời gian sẽ làm cho ta không còn là ta nữa. Thần tình quá! Sự thay đổi sắc màu hay sự thay lòng đổi dạ của con người? Bài ca dao khép lại mà trong ta phải luôn suy nghĩ:

“Đứa nào ăn ở bạc con dế kêu thấu trời”

Thật là một sự bao dung và nhân hậu. Con người xứ 'mía ngọt đường thơm' không nguyền rủa đứa nào ăn ở bạc sẽ bị thế này hay thế khác… mà chỉ có tiếng dế não nùng thấu tận trời xanh. Nhưng thâm thuý lắm đấy! Tiếng dế réo rắt suốt đêm trường, liệu lương tâm con người bội bạc không day dứt, không dày vò, không nhức nhối trong hối hận trong đau khổ? Mà chẳng có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ở tâm hồn!

Vậy là bài ca dao hồn nhiên nhưng đặc quánh cốt cách của con người xứ Quảng mà cũng rất Việt Nam: Con người trọng nhân nghĩa, chung tình và ghét thói bội bạc vong ơn . Dù năm tháng có trôi xa, nhưng những lời ca cứ mãi ngân vang trong ta. Nói như Nguyễn Đình Thi thì theo dòng ca dao càng làm cho ta thêm yêu. Yêu là để sống. Là để thêm mạnh mẽ trong lao động, trong đấu tranh. Một tình yêu chất phác mà cao thượng, bình dị mà sâu sắc biết bao!

Là thế đó, dù rằng giai điệu bài ca dao cất lên có vẻ buồn, nhưng không thế,ẩn sâu bên trong đó vẫn có những cái mà người Quảng luôn tự khẳng định, họ nói ra để quên đi cái khổ, quên đi nỗi lòng và cảm thấy hạnh phúc vì những gì giấu kín đã được bộc bạch, họ nói ra để biết mình cần phải vượt qua những thử thách ,trở ngại đó. Và vì thế, người Quảng vẫn cứ thấy được tình yêu - hạnh phúc mà người đọc cứ ngỡ như rằng họ đang than thở.

b. Tình yêu - hạnh phúc ở sự chủ động, lựa chọn:

Chủ thể trữ tình trong ca dao - dân ca xứ Quảng nói về tình yêu đôi lứa đa phần là phụ nữ. Có lẽ tình trường họ hứng chịu khổ đau nhiều hơn nam giới, do vậy mà nhu cầu bộc lộ giãi bày bằng tiếng hát lời ca ở họ cũng lớn hơn chăng. Quả là khi yêu, người phụ nữ phải đối mặt với bao nhiêu bất trắc:

'Thương chàng thiếp phải đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm không đau
Không đau ơi hỡi không đau
Té xuống năm trước năm sau chưa lành'

hoặc:

“Ba với ba là sáu
Sáu với bảy mười ba
Bạn nói với ta không thiệt không thà
Như cây đủng đỉnh trên già dưới non
Khi xưa bạn nói với ta chưa vợ chưa con
Bây giờ ai đứng đầu non đó bạn tề
Bạn nói với ta bạn chưa có hiền thê
Bây chừ hiền thê mô đứng đó bạn trả lại lời thề cho ta'

hoặc:

'Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ
Bạn phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán sấm dật dờ quán sen'...

Cả khi hai người cùng chung cảnh ngộ, thì phụ nữ thường cũng thiệt thòi hơn:

'Thiếp thương chàng đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng lộ tiếng ai hay
Miệng thế gian nhiều kẻ thày lay
Cực chàng chín rưỡi khổ thiếp đây mười phần'

hay:

'Anh buồn có chốn thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya'

... Thế nhưng vượt lên tất cả, người phụ nữ đất Quảng vẫn thể hiện rõ bản lĩnh của mình trong tình yêu:

'Thiếp không thương chàng thì ra chỗ dở
Cho nên thiếp phải thương đỡ vài ngày
Thiếp có chồng rồi thiên hạ đều hay
Sợ nước lui về đông hải càng ngày càng xa'
*
'Liệu bề thương được thì thương
Đừng trao gánh nặng giữa đường cho em',
'Xa xôi chi đó mà lầm
Phải hương hương bén phải trầm trầm thơm'...

Cũng không ai khác ngoài họ đã chủ động dung hoà kiểu hôn nhân theo sắp đặt với kiểu hôn nhân có tình yêu - một mô hình hôn nhân đến nay và trong nhiều thập niên tới xem ra vẫn còn phù hợp. Người phụ nữ đất Quảng không đồng tình với kiểu hôn nhân sắp đặt:

'Đôi ta tuổi lứa đang vừa
Trách cho cha mẹ kén lừa nơi mô',
cũng không muốn bị làng xóm cười chê rằng:
*
'Gái đâu gái hỗn gái hào
Trai chưa vô làm rể gái đã vào làm dâu'.

Họ tự đến với nhau, yêu nhau và cùng nhau thề non hẹn biển, sau đó tranh thủ sự đồng thuận của hai bên gia đình:

'Trai mười bảy gặp gái mười ba
Trai anh hăm sáu gái em đà hăm hai
Lời nguyền với bạn không sai
Bữa mô có rảnh cậy ông mai đến nhà'

*
'Con gà trống tía cái lông cũng tía
Ngọn khoai lang giâm ngọn mía cũng giâm
Thương nhau không dễ thương thầm
Thương thời rượu cỗ trầu mâm đến nhà
Em còn thừa lệnh mẹ cha
Còn có cô chú bác chứ không phải mình ta với chàng'…

Hay như:

'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Em thương anh cha mẹ không hay
Như ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Kể từ ngày đó đã xa đây
Sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn'

Khi cô gái Quảng dám tự chọn lựa hạnh phúc 'thương anh cha mẹ không hay' thì dẫu có 'nghi binh' sánh mình với 'ngọn đèn giữa gió biết xoay phương nào', thực chất cô cũng đã khẳng định cái hướng mà đời cô nhằm đến. Tính khẳng định của sự lựa chọn càng hai năm rõ mười hơn ở những cách nói: 'kể từ ngày đó đã xa đây - sầu đêm quên ngủ sầu ngày quên ăn', hay 'lòng ta như chén rượu đầy - lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi', hay 'thương nhau chưa đặng mấy ngày - đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi', rồi 'hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày - chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương'. Có lẽ tính khẳng định của sự lựa chọn đạt đến đỉnh điểm khi chủ thể trữ tình - dường như vẫn chính là cô gái Quảng - tự đặt bản thân trong quan hệ với người thứ ba: 'ai', 'nơi mô', từ đó mở ra cho người mình yêu khả năng lựa chọn:'coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em', 'nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo'.

c.Tình yêu-hạnh phúc ở sự thay đổi cách nghĩ, cách nhìn:

Cuộc sống khắc nghiệt luôn đặt ra cho người dân xứ Quảng nhiều câu hỏi lớn,chẳng hạn cam chịu nhớ thương mà chấp nhận ở lại với cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, hay tìm sự bằng an để giũ bỏ quay về với cái-quen-xưa-bao-đời-vẫn-vậy. Và câu trả lời của người Quảng là:

'Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thời về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thời đừng'

Không phải đừng về mà đừng quay về, đừng hồi hương, bởi giờ đây đã có thêm một quê hương!

Chính nhờ sống trong thế giới những cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, người Quảng xưa có nhu cầu và điều kiện đổi mới cách nhìn, cách nghĩ. Câu ca dân gian:

'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say'

Cực tả sự khát khao cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng.

'Ra đi mẹ có dặn dò
Sông sâu chớ lội đò đầy đừng qua'

Kinh nghiệm sống khôn ngoan ấy giờ đây cơ hồ không còn thích hợp nữa. Cuộc sống giờ đây đòi hỏi con người phải biết tư duy kiểu khác:

'Sông sâu không lội thì trưa
Đò đầy không xuống ai đưa một mình'...

Và nhờ biết tư duy kiểu khác mà thái độ ứng xử với cái lạ ở người Quảng lúc này không giống khi vừa mới đến:

'Tay ta cầm cần câu trúc ống câu trắc lưỡi câu thau
Muốn câu con cá biển chứ cá bàu thiếu chi'

Hay:

'Lên non tìm con chim lạ
Ở dưới phố phường chim chạ thiếu chi'.

Từ chỗ sợ cái lạ - 'con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng' - tới chỗ chủ động đi tìm cái lạ, đó là cả một bước tiến dài trong tư duy người xứ Quảng xưa. Họ cảm thấy hạnh phúc trong kiểu tư duy mới. Tình yêu - hạnh phúc của người xứ Quảng được truyền tài vào ca dao một cách thông minh là thế đó.

d.Tình yêu - hạnh phúc thể hiện qua những đặc sản, món ăn đậm chất Quảng:

Ngoài những lúc làm việc mệt nhọc,người Quảng ngồi lại cùng nhau,chia sẻ cho nhau tình yêu-hạnh phúc qua những món ăn đạm bạc quê mình,vừa ăn,vừa ngâm lên những câu:

“Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”

Hay:

“Ai về đất Quảng làm dâu
Ăn cơm ghế mít hát câu ân tình”

Rồi tiếp đó lại là:

“Tay cầm bánh tráng mỏng nương nương
Miệng kêu tay ngoắt,bớ người thương uống nước nhiều”

Ở xứ Quảng, ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng. Đúng thế, đem bánh tráng xúc với mít trộn là một cách ăn điệu nghệ. Tuyệt lắm! Hạnh phúc lắm thay!

Không chỉ thế, vào xứ Quảng còn được tận hưởng cái khoảnh khắc hạnh phúc hòa cùng với hạnh phúc của người Quảng qua các món ăn được ý nhị nhắc nhở qua những câu như:

“Nem chả Hòa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam Kỳ”.

*
“Ai đi cách trở sơn khê,
Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng ”

Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu, mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. Hoặc:

'Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng...”

*
“Lụt nguồn trôi trái bòn bon ,
Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi .
Mồ côi ba thứ mồ côi.
Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường”

Bòn bon là môt loại trái cây, ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại Lộc - Quảng Nam, mùa mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái bòn bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha, nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

“Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường...
Xứ Quảng còn là đất mía đường:
Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại nghiền”

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

“Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh...

*
“Mạch nha Thi Phổ
Bánh nổ Thu Xà
Muốn ăn chà là
Lên núi Ðịnh Cương...”

Hoặc:

“Có duyên lấy đặng chồng nguồn
Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui
Nhón chân kêu bớ họ nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”

Bài ca dao quen thuộc trên trong kho tàng ca dao xứ Quảng không chỉ bày tỏ niềm hãnh diện, sung sướng của những cô gái miền xuôi được lấy chồng và ở trên miền ngược mà còn nhắn gởi trông đợi của họ đến với người miền xuôi về sự đối lưu, trao đổi sản phẩm, mít non, cá chuồn giữa hai vùng miền cách trở.

Rõ ràng, người xứ Quảng tự hào lắm chứ, hạnh phúc lắm chứ khi đưa những món đặc sản quê mình vào những câu ca dao - dân ca để khi ngân lên thì ôi hạnh phúc xiết bao cái chất Quảng ngọt ngào đã hòa chung vào cái tinh tế của ca dao - dân ca Việt Nam để giới thiệu đến bạn bè cả nước.

e. Tình yêu - hạnh phúc của người xứ Quảng ẩn chứa trong những câu ca dao - dân ca nói về địa danh quê hương mình:

Mỗi người dân xứ Quảng đều mang trong mình chút lưng vốn ca dao - dân ca. Có lẽ vì thế mà mỗi khi ai đó hỏi đến xứ Quảng thì dường như họ tuôn trào mọi cảm xúc yêu-nhớ-tự hào với cái tình quê vốn luôn được họ nuôi dưỡng hằng ngày, hằng giờ và cứ thế họ sẽ cất lên những câu ca dao - dân ca có những địa danh xứ Quảng bằng cái chất gọng đặc sệt Quảng, thì không thể trộn lẫn vào đâu được:

“Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,
Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say
Ðối với ai ơn trọng, nghĩa dày ,
Một hột cơm cũng nhớ ,
Một gáo nước đầy vẫn chưa quên ...”

Câu này đồng thời còn diễn tả rõ tánh tình người dân đất Quảng,bộc trực, bén nhạy, nhớ ơn, trọng nghĩa đối vơí các ân nhân của mình. Hay:

“Hội An đất hẹp, người đông,
Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu”

Phố Hội An nhỏ hẹp, nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi, khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

“Hội An bán gấm, bán điêù
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành'

Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp, còn Kim Bồng, Trà Nhiêu là vùng ngoại ô, chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

“Ai đi phố Hội, Chùa Cầu,
Ðể thương, để nhớ, để sầu cho ai,
Ðể sầu cho khách vãng lai,
Ðể thương, để nhớ cho ai chịu sầu”

Những người dân Hội An, vì sinh kế phải đi làm ăn xa, tuy nhiên vẫn thương và nhớ phố Hội.

“ Ðưa tay hốt nhắm dăm bào,
Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công,
Không mai thì mốt, hồi công,
Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân”

Kim Bồng là một xã bên kia sông, đối diện với Hội An, sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc, hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp, bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

“Năm hòn nằm đó không sai,
Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui,
Ngó về Cửa Ðại, than ôi,
Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình”.

Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình, không chen vơí các hòn đảo khác. Hoặc có thể là những câu:

“Trà My sông núi đượm tình,
Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà”

*
“Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt ,
Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,
Phân du, bạch chỉ rành rành ,
Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân”.

Trà My là huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam, có cả Thượng Kinh chung sống, chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

“Gập ghềnh Giảm thọ, Ðèo Le .
Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai”

Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt lè lưỡi.

“ Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông.
Thấy nước xanh như tàu lá,
Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn,
Thấy phố xá nghinh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,
Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu,
Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,
Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh”

Hàn tức là tên cũ của Ðà Nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðà Nẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ, chờ chàng về.

“Kể từ đồn Nhứt kể vô,
Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô, xuống Hàn,
Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang .
Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra.
Ngó lên chợ Tổng bao xa,
Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu
Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu.
Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm.
Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm ,
Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ”

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

“Kể cầu Ông Bộ kể ra,
Cây Trâm ,Trà Lý, bước qua Bàu Bàu,
Tam kỳ, Chợ Vạn bao lâu,
Ngó qua đường cái, thấy lầu Ông Tây,
Chiên Ðàn , Chợ Mới là đây,
Kế Xuyên mua bán, đông, tây rộn ràng
Hà Lam gần sát Phủ Ðàng,
Phiá ngoài bãi cát , Hương An nằm dài ,
Cầu cho gái sắc, trai tài .
Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng”

Các địa danh trên đây, kể từ trong kể ra, Lầu ông Tây tức là nhà lầu của Viên Ðại lý Hành Chánh Pháp đóng ở Tam Kỳ, còn Chợ Mới, Chợ Vạn, Kế Xuyên, Chiên Ðàn là những tụ điểm thương mãi quanh Tam Kỳ.

Vậy đó, dù rằng không nói trực tiếp cái tình yêu quê hương, cái hạnh phúc trong lòng mình nhưng mỗi người đọc ca dao - dân ca xứ Quảng tinh ý, nhạy bén sẽ cảm nhận được tình yêu - hạnh phúc được truyền tải qua những lời ca ấy.

g. Niềm tin tình yêu - hạnh phúc:

Những con người xứ Quảng có một niềm tin vững chắc, vô điều kiện:

“Thương nhau chớ quá e dè,
Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be
Thiếp nói thì chàng phải nghe,
Thức khuya, dậy sớm, làm che 1 ngày 12 xu,
Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo ,
Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,
Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,
Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau,
Lạy trời, mưa xuống cho mau.
Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng”

Hoặc có thể là câu ca dao - dân ca của lòng thủy chung, chờ đợi:

'Ngó lại quê mình
Bởi em chèo thuyền
Trên sông cái
Em ngó lại quê mình
Chim trên cành còn đủ cặp huống chi mình lẻ đôi
Vì đâu đây với đó đã hai nơi
Chiếc đò ngang bằng chiếc đũa không lời nhắn đưa
Cây đa bến cũ đò xưa Người thương có nghĩa nắng mưa ta vẫn chờ'

Hay câu:

'Sớm mai chàng hoá con chim trống đứng dựa bìa núi
Chiều lại thiếp hoá con chim mái đứng dựa bìa rừng
Nỉ non ba tiếng cho có chừng
Dầu xa muôn dặm biểu bạn đừng có xa'...

Câu ca dao thấm nhuần tình tự dân tộc, xuất phát từ tình yêu giữa đôi trai gái, có tính chất mộc mạc,chân tình, nói lên bản chất của người dân đất Quảng vẫn luôn tồn tại, không đổi thay, qua thời gian và không gian, giữa những dòng đổi thay của đất nước.

Nghệ thuật của người xứ Quảng trong ca dao - dân ca:

Nhìn chung ngôn ngữ ca dao - dân ca xứ Quảng nói chung thô mộc song không phải không có những nét đặc sắc.

a. Nghệ thuật chơi chữ:

'Thương nhau trường đoạn đoạn trường
Lụy lưu lưu lụy dạ dường kim châm'.

Một câu lục bát mười bốn chữ mà đa phần là từ Hán - Việt, trong đó đáng chú ý là cách đảo từ 'trường đoạn' thành 'đoạn trường', 'lụy lưu' thành 'lưu lụy' nhằm khai thác sức mạnh biểu cảm của những từ đồng âm dị nghĩa. Khi cần 'chữ nghĩa', người Quảng cũng rất chi là 'chữ nghĩa', đấy chứ. Ở đây, nghệ thuật chơi chữ đã được vận dụng một cách triệt để, hay ví dụ như câu

'Anh từ trong Quảng ra thi
Leo lên đèo ải chữ chi mập mờ'

hoặc câu:

'Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Áo vắt vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chi chàng mà lấn lướt vô thi
Tiền năm quan ngủ quán mất đi
Trai nam nhơn mô đối đặng
Gái nữ nhi xin kết nguyền'...

Hay câu:

'Con gái La Qua
Qua đường qua chọc

Qua biểu em rằng
Đừng có la qua'

Cái tên 'La Qua' vốn chỉ là một địa danh trong câu:

'Dù xa cửa ngõ cũng xa
Dù gần Bến Điện, La Qua cũng gần'

đến đây bỗng trở thành ngữ động từ 'la qua' - tức 'mắng anh' (vì anh đã trêu chọc em). Ngay chữ 'qua' cũng rất đa nghĩa: vừa là thành tố của địa danh La Qua, vừa là anh (qua chọc, qua bảo, la qua), lại vừa là bước sang (qua đường). Rõ ràng nghệ thuật chơi chữ của người Quảng trong câu ca dân gian này khá là độc đáo.

b. Tính truyền thống và cách tân :

- Người Quảng thường sáng tác dựa theo kết cấu có sẵn: Có những câu ca dao sau:

Nước Thổ Hà vừa trong vừa mát
Đường Vạn Vân lắm cát dễ đi
(Hà Bắc)

*
Nước Trịnh Thôn vừa trong vừa mát
Đường Trịnh Thôn lắm cát dễ đi
(Thanh Hóa)

*
Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mát
Đường Nam Giang lắm cát dễ đi
(Nghệ An)

Nhưng với cái khung có sẵn ấy, bài ca ở vùng đất Quảng cũng vẫn có phần sáng tạo riêng:

Giếng Bình Đào vừa trong vừa mát
Đường Bình Đào lắm cát dễ đi
Em ơi má thắm làm chi
Để anh thương nhớ mấy con trăng ni không về..

Đấy là cách sáng tác truyền miệng phổ biến khắp nước ta…Người xứ Quảng đã cảm thụ truyền thống chung trong nghệ thuật ca dao - dân ca dân tộc.

- Tính dị bản trong ca dao - dân ca xứ Quảng:

Có lẽ câu ca dao truyền thống và tiêu biểu nhất của người xứ Quảng có nhiều dị bản nhất là:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Theo cuốn Văn học dân gian Quảng Nam(miền biển), tập III, năm 2001 thì đã có 14 dị bản. 10 dị bản thuộc loại trữ tình và 4 dị bản thuộc loại tự sự lịch sử. Có thể kể đến một vài dị bản như sau:

'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trọng nghĩa dày bạn ơi'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Hai đứa ta ơn trọng nghĩa dày
Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về nằm nghĩ gác tay
Coi ai ơn trọng nghĩa dày cho bằng em'

*
'Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô ơn trọng nghĩa dày bạn theo'...

Tính chất trữ tình của bài ca này đã được chuyển hóa thành tính chất tự sự lịch sử, nhưng vẫn không đi ra ngoài mô típ của một câu cao dao cổ. Đây chính là hình thức vừa ổn định của yếu tố truyền thống vững bền, vừa biến đổi nhờ yếu tố cách tân, để bài ca đi sát với thực tế xã hội và tình trạng lịch sử…

c. Hiện tượng chính trị hóa ca dao - dân ca trữ tình:

Người Quảng nhạy cảm với chính trị, cho nên bên cạnh những câu ca dao - dân ca có nội dung chính trị hẳn hoi, chẳng hạn câu ca dao:

“Ai lên chín ngã sông Con
Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không'

hay câu hát:

'Đứng bên ni Hàn
Ngó bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê Hà Thân
Ngó về Hàn phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí bòn vàng Bông Miêu
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau'

Rõ ràng hai chữ 'nghênh ngang' đã công khai bày tỏ thái độ chính trị của nhân dân Đà Nẵng đang phải chung sống với kẻ thù), còn khá phổ biến trong thơ ca dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng hiện tượng chính trị hoá ca dao - dân ca trữ tình.

Câu ca dao trữ tình quen thuộc :

“Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em'

được người Quảng chính trị hoá trở thành những câu trữ tình - chính trị:

Ra đời vào thời gian đất nước bị chia cắt sau Hiệp định Genève 1954.Ta thấy rằng trongnhững cảnh ngộ không thể nói thẳng được điều cần nói, người Quảng vẫn có thể kín đáo vận động chính trị đồng thời gián tiếp tự bộc lộ sự lựa chọn chính trị của mình. Điều đó đã được dễ dàng đưa vào ca dao - dân ca một cách khéo léo,tài tình.

d. Hiện tượng tách từ,nói lái:

Hiện tượng tách từ được người Quảng dùng khá thuần thục trong ca dao - dân ca :

'Nhìn xem nam bắc tây đông
Thấy thiên thấy hạ mà không thấy chàng
Về nhà đứng thở ngồi than
Cơm ta ăn không đặng nhớ đến nghĩa chàng đó chàng ơi'

Hay:

'Xa làm chi mà xa quanh xa quất
Xa làm chi mà xa tức xa tối xa vội xa vàng
Không cho thiếp thở chàng than đôi lời'.

Đến chữ nghĩa cũng chia rời, xa cách, huống chi đôi lứa đang yêu! Sở trường nói lái thường được tận dụng:

'Một chữ anh cũng thi
Hai chữ anh cũng thi
May thời đậu trạng dẫu rớt đi cũng ông nghè hồi'.

Ông 'nghè hồi' ở đây không phải là ông tiến sĩ vinh quy (nghè: tiến sĩ; hồi: trở về), mà là ông 'ngồi hè' - vì đã thi hỏng tức vẫn còn là anh học trò nghèo kiết xác, không ngồi ngoài hè thì ngồi vào đâu được!

Với những câu ca dao - dân ca không chỉ ở mảng đề tài tình yêu - hạnh phúc, chúng ta đã có thể thấy được nghệ thuật của ca dao - dân ca xứ Quảng. Từ đó hiểu được những điều người xưa Quảng xưa muốn nói .

5. Kết luận:

Tình yêu - hạnh phúc trong ca dao - dân ca xứ Quảng với lối nói mộc mạc đơn giản, đậm chất Quảng được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu, ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng đã nói lên được cái tình yêu - hạnh phúc rất riêng của người xứ Quảng.

Tình yêu - hạnh phúc trong ca dao - dân ca xứ Quảng xuất phát từ những cái bình dị hằng ngày .Bằng những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ, ca dao - dân ca xứ Quảng đã thể hiện tâm tư, tình cảm mộc mạc, trong sáng, đậm đà tình nghĩa của những con người xứ Quảng chịu thương chịu khó. Họ bất chấp mọi trắc trở để tìm thấy niềm vui, lạc quan trong cuộc sống, tình yêu hạnh phúc.

Ca dao - dân ca xứ Quảng là một phần hồn về đề tài tình yêu - hạnh phúc trong nội dung ca dao - dân ca Việt Nam. Cho dù đi bất cứ nơi đâu,chúng tôi - những con người xứ Quảng vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao - dân ca xứ Quảng quê mình.

Có dịp nhìn lại ca dao - dân ca xứ Quảng để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng ca dao - dân ca vốn có rất nhiều những nội dung sắc sảo cần được giữ gìn, phát huy. Mà một trong những nội dung có thể kể đến là đề tài tình yêu - hạnh phúc.

Tác giả:thaonguyenbt2010
Người sưu tầm: Nguyễn Thành Giang




Tài liệu tham khảo
:

1. Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, tập I, Nguyễn Văn Bổn, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng chủ trì biên soạn, xuất bản năm 1983 và tái bản đầu năm 1986.
2. Huỳnh Ngọc Trảng và Vu Gia với phần biên khảo về văn học dân gian huyện Đại Lộc trong Địa chí Đại Lộc (NXB. Đà Nẵng - 1992).
3.Thạch Phương trong tiểu luận Ca dao của một vùng đất (Ca dao Nam Trung Bộ - NXB. Khoa học xã hội - 1994) bàn về ca dao và những thể loại có liên quan đến thơ ca dân gian của Quảng Nam - Đà Nẵng)
4 . Báo Quảng Nam
5. Báo Quảng Ngãi
6. Báo Đà Nẵng
7. Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiếng....


Edited by user Thursday, June 16, 2011 6:18:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

chiều tím  
#222 Posted : Thursday, June 16, 2011 8:50:51 AM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
UserPostedImage


SÔNG NƯỚC QUÊ NGƯỜI

Chiều đến trên bến sông vắng
Giòng nước xuôi sóng cuốn trôi mơ màng
Bờ bến xanh biếc trong nắng
Làn gió đưa mây trắng bay giăng hàng
Chạnh nhớ xưa bến sông cũ
Theo tháng năm giờ đây bước phiêu du
Lạc cánh chim giữa giông tố
Một bóng quê mờ sương khói mịt mù!

Con sông ngày xưa
Đục phù sa nâu ánh nước miệt mài theo nắng mưa
Con sông chiều nay
Nghìn dặm xa thôn xóm cũ, với nhớ thương vơi đầy

Xanh xanh hàng cây
Bên sông phương trời này, chiều xa theo núi tiếp mây
Thân cau ngọn tre,
dưới nắng trong chiều về
Dừng đây như giữa bến mê

Chiều đến trên bến sông vắng
Không bóng tre với mái tranh thôn làng
Người đã theo với năm tháng
Xa bến xưa như nước xa non ngàn
Chiều xuống man mác niềm nhớ
Sông nước quê người như bức tranh thơ
Mà nỗi riêng vẫn còn đó
Một bến xưa mùa trăng nước hẹn hò


UserPostedImage


Còn nhớ ngày tôi qua xứ này du học, máy bay đáp xuống San Fran , ở lại đấy hai hôm trước khi lên máy bay bay tiếp qua Washington D.C. Trong hai ngày lưu lại đất San Fran thì bạn bè lái xe đưa tôi đi ngoạn cảnh. Nước và non thì trông ra đã thấy cả cái Vịnh San Fran rộng mênh mang, còn núi thì nhìn qua cũng thấy núi và đồi ở xa xa, sâu vào phía đất liền ! Còn hỏi đến sông thì bạn bè cho biết là xứ Cali. kể như không có sông loại 24/24 ; tức là có bão rớt đâu đó rồi mưa xuống thì những cái gọi là sông bắt đầu có nước trong một thời gian ngắn, rồi đâu lại vào đó, tức là khô ráo như không có chuyện gì xảy ra ! Nghe mà phát chán !

Qua đến D.C. thì vào đầu năm 70 đó đang giữa mùa Đông. Con sông nổi tiếng nhất ở đấy là sông Potomac đang gặp lúc đóng băng, nhìn ra chỉ thấy trắng xóa một màu ! Cũng lại phát chán !
Gần một tháng sau đáp máy bay xuôi Nam, xuống Nashville, Tennessee để chuẩn bị nhập học thì tuyết vẫn còn đấy lai rai, nhưng con sông Tennessee ngay đấy thì sóng nước mênh mông, xanh rờn.

Ăn dầm ở dề tại đấy suốt mấy năm dài, đi đến đâu cũng thấy sông; lớn có, nhỏ có. Nước sông chỗ nào cũng tương đối trong trẻo, xanh biêng biếc một màu ! Chỉ có điều là mỗi lần trông mặt nước kiểu như thế thì tôi chả lấy gì làm xúc động cho lắm vì nó chả gợi nhớ nơi mình một cái gì đáng kể hết !
Phải chờ đến những dịp Hè, cùng đám bạn học người bản xứ đi ngao du khắp nơi, xuống Mississippi, Alabama, Louisiana v.v.. , một buổi xế trưa đứng bên con sông Misissippi ở New Orleans thì bấy giờ tôi mới thực sự có nhiều cảm xúc. Giòng nước rộng và nâu đục chả các gì những nhánh sông Củu Long ở miệt Hậu Giang bên mình !

UserPostedImage

Hơn một tháng trước đây, có việc phải đi Boston rồi York bên miền Đông, tôi lại có dịp đứng bên những con sông rộng, nước xanh trong, sóng cuộn dập dìu . Lần này thì nước xanh trong nhưng tôi vẫn nhớ những nhánh sông xưa ở quê nhà ! Mấy mươi năm trước đây , thời đi du học thì không thế, bởi tôi biết là trước sau gì mình cũng trở về nước; còn nay thì khác !

Ở Nam Cali. nơi tôi tái định cư kể từ ngày trở lại xứ này thì kể như không có sông cho nên cũng đỡ phải nhớ nhung lôi thôi ! ( Người không sinh sống ở Cali. mà xem bản đồ thấy có ghi tên sông này sông kia thì âu cũng là chuyện "hữu danh vô thực" ; như khá nhiều sự việc trên đời này vậy ! )

Thanh Trang
Nam Cali. mùa Hạ 2011



xuan hoang  
#223 Posted : Thursday, June 16, 2011 12:41:06 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Nén Hương Lòng


UserPostedImage



Sáng nay chim hót điệu bùi ngùi
Ánh nắng bình minh kém vẻ tươi
Vạn vật, cỏ cây buồn nhớ Bố
Lòng con thổn thức giọt sầu rơi .

Về vùng kỷ niệm tuổi thơ ngây
Hạnh phúc nuôi con lớn tháng ngày
Theo Bố gót hồng khi chớm mỏi
Triền vai Bố ngọt giấc con say .

Vừa tròn bốn tuổi dắt lên trường
Bố dỗ ...học ngoan Mẹ mới thương
Mỗi tối Bố cầm tay tập viết
Đánh vần Bố dạy đọc vài chương .

Bố ươm đầy ắp những thương yêu
Con út nên luôn được Bố chiều
Mẹ mắng ..."nuông nhiều càng nhõng nhẽo"
Bố bênh con ... Mẹ cũng cưng theo .


UserPostedImage



Nhớ chiều cùng Bố dạo ven rừng
Dâng ngập hồn con bao nhớ nhung
Thiếu Bố cuộc đời con hụt hẫng
Tim se sắt nghẹn lệ rưng rưng .

Một thời gian Bố phải đi xa
Làm tận Nông Sơn chẳng ở nhà
Giám thị, Bố trông nghành Tạo Tác
Mỗi lần đón Bố, được nhiều quà .

Lớn lên Bố dạy biết làm thơ
"Bé" được ngồi xem Bố đánh cờ
Bố vẽ cho con say hội họa
Hồn con Bố ướp cả trời mơ .

Bố người đôn hậu lại bao dung
Thương vợ, yêu con đến tột cùng
Trách nhiệm gia đình ...Người Cần Mẫn
Quốc Gia bổn phận ...Bậc Kiên Trung .


UserPostedImage



Bố nguồn an ủi của đời con
Nhờ Bố niềm tin mãi vẹn tròn
Cổ thụ, nơi con làm điểm tựa
Tim yêu ấp ủ tấc lòng son .

Hôm nay giỗ Bố nhớ miên man
Tim vẫn quặn đau nỗi bàng hoàng
Bất hạnh ôi, ngày con mất Bố
Ước mơ từ đấy cũng phai vàng ...

Giờ đây con biết ở nơi cao
Phụ Tử tình thâm vẫn dạt dào
Nâng đỡ, dắt dìu con mỗi bước
Bố yêu, tình Bố tựa ngàn sao .

Bên di ảnh Bố ngọn đèn hồng
Con hứa giữ mình luôn thủy chung
Siêu thoát Bố vui miền Thánh Phúc
Đây, con dâng Bố Nén Hương Lòng !


UserPostedImage



Vũ Hoài Mỹ



Nhân ngày Father 's Day - Kính Dâng lên Bố - Lòng Kính Yêu của những người con .



UserPostedImage

Edited by user Thursday, June 16, 2011 12:46:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
chiều tím  
#224 Posted : Friday, June 17, 2011 11:53:07 AM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Gia Tài Của Cha Tôi


Cha tôi không còn nữa! Cha tôi đã mất Ngày 22 Tháng 5 Năm 1998 ở Việt Nam, để lại cho tôi một gia tài vô giá. Đó chính là niềm tin, là lý tưởng, là ý chí và nghị lực giúp tôi vững bước trên đường đời.

Ông nội mất khi cha tôi còn bé lắm! Mấy năm sau bà nội “đi thêm bước nữa” nên cha tôi phải nghỉ học để tìm kế sinh nhai nuôi dưỡng 3 người em còn nhỏ dại mặc dầu lúc đó cha tôi cũng chỉ mới 15 tuổi đầu. Cha tôi không phải là người giỏi, cũng không có tài gì đặc biệt nên đã không thể làm giàu về vật chất nhưng ý chí và nghị lực của ông thật tuyệt vời. Cha tôi luôn luôn can cảm đối đầu với sự thật, cho dẫu có phũ phàng, và sẵn sàng chấp nhận “thua một trận để thắng cả cuộc chiến!”

Lúc còn ở miền Bắc, cha tôi đã từng đi “làm thuê ở mướn”, can tâm chịu nhục nhã để tìm phương tiện nuôi dưỡng các em khôn lớn, dựng vợ gả chồng cho từng người “để cô và hai chú không phải tủi thân vì ông nội chết sớm!”

Sau khi di cư vào miền Nam, ở Bình Giả một thời gian, cha tôi lại một lần nữa đưa gia đình đi dinh điền Phước Tín thuộc quận Phước Bình, tỉnh Phước Long vì sợ con cái mắc phải những cơn bệnh ngặt nghèo vì “ngã nước” nơi vùng đất đầy chướng khí lúc mới thành lập trại di cư này. Nhưng rồi thực tế quá phũ phàng, gia đình tôi lại dọn ngược trở về Bình Giả năm 1966 vì chiến tranh lan rộng trên vùng Phước Long. Một lần nữa, cha tôi đã phải bắt đầu lại từ con số không, ăn nhờ ở đậu anh em bà con, làm thuê làm mướn sống qua ngày, rồi phát rừng kiếm đất cày cấy.

Trong thời gian chạy loạn và di chuyển trở lại Bình Giả, tôi đã mất một năm học, rồi vì tuổi trẻ ham chơi, tôi phải ở lại lớp thêm một năm nữa. Tôi biết lúc đó cha tôi lo buồn nhiều lắm; tuy nhiên, vì sợ tôi chán nản bỏ bê việc học nên cha tôi chỉ ân cần nhắc nhở: “Con phải can đảm vươn lên. Con là niềm tự hào của cha. Nếu tự con không được can đảm cho lắm, thì cũng phải tỏ ra là mình can đảm. Người ta không phân biệt được một người can đảm với một người tỏ ra can đảm đâu...”

Sau năm 1975, khi biết anh em chúng tôi hầu như mất định hướng, không còn hứng thú tiếp tục học, cha tôi chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo: “Các con phải cố gắng mà học. Đời cha đã khổ vì ông nội mất sớm, không được học nhiều nên cứ phải cày sâu cuốc bẫm. Thời nào người có học cũng hơn, các con cố lên, đừng chán nản.” Tôi không bao giờ quên giọng nói nghẹn ngào của cha khi tôi từ giã gia đình trở lại trường học vào một buổi sáng cuối thu năm 1975: “Cha không có một hũ vàng cũng không có một tủ sách để lại cho con. Cha chỉ biết cày sâu cuốc bẫm để nuôi con ăn học cho tới đầu tới đũa... Con đừng cầu mong của cải mà hãy cầu mong sự khôn ngoan, hiểu biết, và lòng dũng cảm.”

Chính nhờ những lời khuyên dạy đó mà đầu thập niên 1980, em trai tôi đã trở thành một giáo viên ở vùng “Kinh Tế Mới Xuân Sơn” gần Bình Giả thay vì phải “thi hành nghĩa vụ quân sự” ở Campuchia như bạn bè cùng trang lứa. Và cũng chính nhờ những lời khuyên dạy đó mà sau khi tới Mỹ, tôi đã tìm mọi cách rời khỏi nông trại của người bảo trợ để tự đi tìm cho mình một tương lai qua việc học.

Những ngày đầu gian khổ ở Mỹ, tôi đã nghĩ thật nhiều về cuộc sống vất vả của gia đình đang lây lất qua ngày ở Bình giả, và thường xuyên ôn lại những lời khuyên dạy của cha tôi để làm động lực thúc đẩy mình phải vươn lên. Thời sinh viên độc thân, với tiền học bổng và làm việc trong trường, tôi cũng tạm đủ sống, nhưng đêm từng đêm tôi vẫn đi quét nhà, hút bụi, lau cầu tiêu... để kiếm thêm tiền mua quà gởi về giúp gia đình bên Việt Nam. Tôi rất vui mừng và hãnh diện vì trong gian nan khốn khó của những ngày đầu sống kiếp tỵ nạn, mặc dầu tôi không đủ khả năng để nuôi các em như cha tôi đã từng làm, nhưng tôi cũng giúp đỡ cha mẹ và các em, các cháu được phần nào qua cơn túng quẫn.

Trước Tết Nguyên Đán năm 1998 tôi vội vã dẫn theo đứa con gái đầu lòng mới 8 tuổi trở về khi nghe tin cha tôi bệnh nặng, và sợ sẽ không còn sống được bao lâu! Sau khi hoàn tất thủ tục Hải Quan và bước ra phía ngoài phi trường, tôi đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy cha già một tay chống gậy, một tay bám vào vai em tôi mới có thể đứng vững để nhìn lại đứa con trai sau bao nhiêu năm trời xa cách. Cha tôi gầy gò và xanh xao quá!

Hai cha con tôi ôm nhau khóc ròng, trong lúc mẹ và các em, các cháu cũng khóc như mưa. Ngày tôi âm thầm lặng lẽ cỡi xe đạp rời Bình Giả ra Láng Cát để xuống thuyền đi tìm tương lai, trời mưa như thác đổ. Chiều nay tôi trở lại, trời Sàigòn nắng chang chang, nhưng sân phi trường cũng ướt đẫm nước mắt của cha, của mẹ, của anh em và con cháu. Người ta trở về trong tiếng vui cười hớn hở, cả Việt Kiều lẫn thân nhân đi đón; chỉ riêng tôi trở về với nước mắt trong vòng tay gầy guộc, yếu đuối của cha già.
Khi ôm cha vào lòng để những giọt nước mắt yêu thương nhung nhớ của cha ướt đẫm vai áo, tôi mới nghẹn ngào, nức nở thốt lên: “Cha ơi! Con đã về!” Phải, tôi đã về! Tôi đã trở về bên cha già như đứa con hoang đàng trong Phúc Âm tìm về với Người Cha Nhân Hậu... (Luca 15: 11-32).

Cha tôi vốn ít nói, bây giờ lại bệnh hoạn, đi đứng nói năng đều khó khăn, nhưng cũng không quên hỏi tôi trong nghẹn ngào: “Con có học được tới đầu tới đũa như lòng cha mong ước không?” Nước mắt tôi lại trào ra. Tôi vòng tay ôm cha tựa sát vào người. Trời nóng lắm nhưng lòng tôi lại có cảm giác buốt lạnh và đang được sưởi ấm từ từ nhờ hơi ấm của tình cha...

Chúng tôi về tới Bình Giả lúc nào tôi cũng không hay vì trời đã chập choạng tối nên tôi không nhìn rõ cảnh vật hai bên đường làng. Lúc xe đậu lại trước nhà, tôi mới chợt tỉnh cơn mơ... Anh em bà con trong làng không biết tôi trở về; do đó, khi thấy xe ngừng ở cổng, họ đoán là cha tôi từ bệnh viện trở về nên chạy đến thăm hỏi đầy nhà. Một số người khi biết nhà có Việt Kiều đã âm thầm rút lui vì sợ mang tiếng đến thăm Việt Kiều chứ không phải thăm cha tôi. Khi nghe em tôi nói thế, tôi ra sân đứng chào đón mọi người, nhưng hầu hết lấy cớ “để ông cụ nghỉ” và ra về. Cha tôi mệt lắm, nhưng cũng cố gắng đứng lên nói vài lời cám ơn mọi người rồi mới để em tôi dìu vô phòng nghỉ, sau khi quay sang dặn tôi: “Cha biết con cũng mệt, nhưng cố được thì thay cha ngồi nói chuyện và cám ơn mọi người. Ngày mai con đưa cháu đi một vòng thăm hỏi anh em bà con trong họ, trong làng cho phải phép.”

Mấy ngày Tết tôi bận tối tăm mặt mày vì người vô ra liên tục. Việt Kiều nhà người khác về quê mang quà đi biếu bà con, riêng tôi lại ngồi nhà nhận quà của anh em bà con đến thăm cha tôi đang bệnh: Người mấy quả trứng, người ít trái cây, hộp sữa... Ôi! Cái tình người ở quê tôi đẹp quá! Tôi đã đi qua hơn một nửa quả địa cầu, đến thăm cả trăm thành phố khác nhau, nhưng tôi chưa tìm được ở đâu người ta có “tấm lòng yêu thương chòm xóm” như tại làng Bình Giả Quê Hương Yêu Dấu của tôi.
Có những người đã dọn ra Ngãi Giao hay vào Xuân Sơn, nhưng nghe tin cha tôi đi nhà thương về cũng lặn lội đến thăm. Có người đã nói thẳng với mẹ tôi: “Nghe nói có Việt Kiều về, nhà con cũng ngại lắm, nhưng biết ông ở nhà thương về, không đến không được!”

Cha tôi chỉ là một nông dân tầm thường, nhưng mọi người trong làng đều thương mến... Tôi đã xúc động đến rơi lệ khi bà con trong làng nói cho tôi biết trên con đường nối liền Vũng Tàu và Quốc Lộ số 1, đi ngang cuối làng Bình Giả, trước khi vào tới xã Tân Lập, có một chiếc cầu mang tên cha tôi
: Cầu Ông Minh.

Tôi đã chụp hình “chiếc cầu mang tên cha tôi” đưa về Mỹ, để chung vào hộp với tài liệu tôi viết lại những lời khuyên dạy của cha từ ngày còn bé... Đây chính là biểu tượng của một gia tài vô giá cha để lại cho tôi.

UserPostedImage


Đã từ lâu lắm rồi, trên con đường mòn từ Bình Giả vào Tân Lập, có một đoạn đi qua một con suối thuộc phần đất của gia đình tôi. Chính cha tôi đã vận động bà con đốn cây xẻ gỗ làm một chiếc cầu khá tốt để giúp dân làng vận chuyển nông sản qua lại, và mọi người vẫn gọi là “Cầu Ông Minh”. Khi chính phủ quy hoạch làm đường nhựa và xây cầu xi-măng, bà con trong vùng đã xin phép được chính thức đặt tên là “Cầu Ông Minh” trong bản đồ hành chính của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam.

Ngày mùng 6 tết tôi phải lên đường trở về Mỹ. Cuộc chia tay nào cũng buồn cả! Riêng tôi, khi nhìn thấy cha già chống gậy đứng bên cửa, nước mắt lưng tròng nhìn theo... tôi bước không đành! Tôi ra xe, ngoảnh mặt lại thấy cha giàn giụa nước mắt, tôi lại chạy vào. Ba bốn lần như vậy tôi cũng không làm sao cất bước lên xe.

Em tôi sợ trễ giờ lên máy bay nên vừa khóc, vừa nói: “Cha vô nhà đi... anh mới ra xe được!”

Không biết vô tình hay hữu ý, cha tôi nói một câu làm mọi người cùng bật khóc nức nở: “Con không cho cha nhìn anh con lần cuối được sao?”

Tôi ôm cha vào lòng thật chặt và nước mắt tuôn trào. Con gái tôi cũng ôm bà nội khóc nức nở. Cha tôi ôn tồn nói: “Con đưa cháu ra xe kẻo trễ. Đừng khóc nữa... Con đi đi, cứ để cha đứng nhìn theo.”

Tôi chỉ còn biết “dạ” trong tiếng nấc và bước thụt lùi ra xe. Đó là hình ảnh cuối cùng của cha tôi còn giữ mãi trong tim cho tới giờ này. Người cha già chống gậy đứng bên cửa nhìn con ra đi, hay trông ngóng bóng con trở về? !!!

Nguyễn Duy-An

Edited by user Friday, June 17, 2011 11:58:48 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#225 Posted : Friday, June 17, 2011 4:24:38 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Nhà thơ Đỗ Trung Quân và ca khúc Quê Hương

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA



Chương trình Văn Học-Nghệ Thuật tuần này Mặc Lâm giới thiệu xuất xứ một bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Đỗ Trung Quân mang tên “Bài Học Đầu Cho Con” được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ thành ca khúc với tên tựa “Quê Hương”.


Quê hương là chùm khế ngọt ... - Câu thơ đầu trong bài thơ "Bài Học Đầu Cho Con" cùa nhà thơ Đỗ Trung Quân.

Mời quý vị theo dõi qua cuộc nói chuyện với chính tác giả bài thơ.

Sinh năm 1955 tại Sài Gòn, Đỗ Trung Quân vừa là bút danh vừa là tên thật của ông. Năm 1976, ông tham gia phong trào thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Một số bài thơ của ông đã trở thành nổi tiếng như Hương Tràm (1978) được Vũ Hoàng phổ nhạc, Chút Tình Đầu cũng với Vũ Hoàng phổ nhạc thành bài “Phượng Hồng” (1988), Bài Học Đầu Cho Con (1986) được Giáp Văn Thạch phổ nhạc thành bài “Quê hương”.



UserPostedImage




Bài thơ “Bài Học Đầu Cho Con” và ca khúc Quê Hương

Vào đầu thập niên 1990 khi bài thơ “Bài Học Đầu Cho Con” được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch đưa vào ca khúc đã chiếm được cảm tình của người nghe và nhanh chóng trở thành bài hát được phổ biến nhiều nhất liên tiếp trong nhiều năm trời. Từ trong cũng như ngoài nước, bài thơ đã khơi động mạnh mẽ tâm trạng nhớ quê của hàng triệu người Việt xa xứ bởi lời lẽ tưởng chừng bình dị nhưng lại rất khéo léo gợi tâm lý quê hương qua hình ảnh quen thuộc của người mẹ Việt Nam. Có một điều đáng nói là tuy nổi tiếng nhưng bài thơ cũng gặp không ít phê phán gay gắt, nhất là những người xa nước bởi một câu cuối kết thúc của bài thơ. Người nghe thật sự bị hụt hẫng khi đang trong tâm trạng bị thuyết phục bởi những hình ảnh quen thuộc thân thương trong ký ức bỗng dưng nơi cuối cùng của bài thơ một âm thanh nghiêm khắc vang lên như kết án những con người lưu lạc...thế là người ta vừa thích vừa ghét, vừa muốn nghe tiếp lại vừa bực bội tắt máy khi sắp đến những dòng cuối cùng...


Chúng tôi có dịp nói chuyện với nhà thơ Đỗ Trung Quân về thi ca, văn nghệ trong cũng như ngoài nước. Đáng lẽ đề tài được nói đến sẽ là nhiều bài thơ cũng như hoạt động văn nghệ của anh, nhưng không hiểu sao chúng tôi lại muốn hướng đến câu hỏi mà nhiều năm nay tôi vẫn để đó chờ dịp được hỏi. Câu hỏi này chúng tôi chắc cũng rất nhiều người muốn nghe, và nhân đây mời quý vị theo dõi.

]Mặc Lâm: Thưa anh Đỗ Trung Quân, cảm ơn anh đã dành cho chương trình VHNT của Đài Á Châu Tự Do. Nói về những hoạt động văn nghệ của anh tôi tin rằng sẽ rất lý thú, nhưng cũng như anh đã biết thời gian của chương trình không cho phép, vậy thì nên chăng xin đề nghị là chúng ta sẽ nói về một bài thơ của anh mà thôi, vì chính bài thơ này đã làm nên tên tuổi của Đỗ Trung Quân. Nếu được, xin anh đọc lại cho thính giả nghe tác phẩm “Bài Học Đầu Cho Con” vì theo tôi biết giọng đọc của anh cũng hấp dẫn không kém khi anh làm thơ...



UserPostedImage




Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Bài thơ có tựa là “Bài Học Đầu Cho Con”.

Một khổ thơ “Quê hương là cầu tre nhỏ...” tôi dùng thể thơ 6 chữ thì tự nhiên tôi bỏ lửng. Thông thường một khổ thơ có bốn câu, thế thì thấy tôi bỏ lửng như vậy thì chị Việt Nga đã thêm vào.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân:


Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều


Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay


Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè


Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi



Sau này thì bài thơ trở thành ngoại giao, trở thành mang một chút sứ mệnh chính trị, thì xin thưa với quý vị là điều đó nằm ngoài ý muốn của tác giả, bởi vì một bài thơ được viết và khi để nó ra, nó sống hay nó chết, cái đó không nằm trong tầm tay của người sáng tác. Thật sự tôi cũng rất ngạc nhiên là bài thơ này có một số phận rất là đặc biệt, nó được nhiều người biết đến, nó được loan đi rất là xa, nó có thể gây yêu mến nhưng đồng thời nó cũng có thể gây ngộ nhận.


Nhà thơ Đỗ Trung Quân:


"Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ..."



Bài thơ kết thúc ở đấy, thưa quý vị !

Mặc Lâm: Thưa anh Đỗ Trung Quân, xin thứ lỗi nếu tôi nói không chính xác vì thật ra bài thơ còn một câu cuối nữa mới thành khổ thơ tứ tuyệt, tức là bốn câu, vì anh chỉ đọc có ba câu mà thôi. Trong nhạc phẩm "Quê Hương" do nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ từ bài thơ này có hai câu cuối là: Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người....Xin anh cho biết đâu là nguyên bản...



UserPostedImage




Thêm một câu cuối


Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Dạ. Thưa anh và thưa quý vị, bài thơ này được đăng lần đầu vào năm 1986, xuất xứ của nó là hồi đó tôi đề tặng bé Quỳnh Anh. Quỳnh Anh là con của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh bây giờ. Khi tôi đề tặng thì Quỳnh Anh mới chỉ được một tuổi thôi. Tôi đăng lần đầu năm 1986 ở báo Khăn Quàng Đỏ. Khi đăng bài này thì người biên tập có bỏ một vài đoạn và thêm một đoạn, đúng ra là một câu, cái câu cuối cùng. Những người biên tập bài này là chị Việt Nga, con của nhà thơ Lê Giang. Chị Việt Nga thì cũng đã mất vị bạo bệnh.

Mặc Lâm: Anh có thể cho biết cụ thể hơn một chút xíu về việc này không, thưa anh?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Một khổ thơ “Quê hương là cầu tre nhỏ...” tôi dùng thể thơ 6 chữ thì tự nhiên tôi bỏ lửng. Thông thường một khổ thơ có bốn câu, thế thì thấy tôi bỏ lửng như vậy thì chị Việt Nga đã thêm vào.

Mặc Lâm: Và sau khi biết bị báo Khăn Quàng Đỏ tự tiện sửa thơ của mình như vậy thì anh có phản ứng gì không, và những lần tái bản sau thì bài thơ có được sửa lại cho đúng không ạ?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Khi tôi thấy họ sửa và bỏ một vài đoạn nên khi đăng lại vào năm 1991 ở trong tập Cỏ Hoa Cần Gặp (thơ, 1991) thì tôi đăng lại nguyên bản, và nguyên bản thì nó có khác với bài đầu tiên do khi đó đã được cắt bớt một vài đoạn và thêm một câu là “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người”. Thì, thưa anh, khi tôi đăng lại thì nó có khác. Thật ra mà nói thì nhạc sĩ phổ theo cái bản của năm 1986 chứ không phải là theo bản của năm 1991.

Tập thơ “Cỏ Hoa Cần Gặp” (1991) thì trước khi rời Việt Nam thì nhà thơ - nhà dịch giả Hoàng Ngọc Hiến in cho tôi, và cái bản chính của nó là nằm ở tập này, không có câu cuối cùng.

Thưa anh, bây giờ thì nói như thế thì tôi có một phản ánh lại là chị Việt Nga là người biên tập bài này,cũng như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch đã mất rồi, tôi là người còn sống, nói thế nào đó nó cũng là khó ở chỗ là những người đã mất thì không nói lại được và tôi rất ngần ngại.

Mặc Lâm: Như vậy thì nhạc sĩ Giáp Văn Thạch đã phổ bài thơ này trước khi được anh đăng lại phải không thưa anh?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Anh Giáp Văn Thạch đã phổ theo bài thơ năm 1986 là bài thơ đã được bớt một vài đoạn. Nếu quý vị để ý thì sẽ thấy là không có một đoạn mà tôi viết tiếp là:


“Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi."



Khi tôi làm bài thơ này, tôi gửi cho bé Quỳnh Anh. Chúng tôi lúc đó là bạn với nhau. Giai đoạn đó thì ai cũng nghèo. Tôi không có gì làm quà cho cháu Quỳnh Anh, mà Quỳnh Anh bây giờ đã là một cô gái 23 tuổi, học ở Pháp. Thế thì khi tôi tặng như vậy thì tôi chọn một bài thơ cho trẻ con và tôi chọn một thể thơ dễ thuộc, dễ nhớ, đó là thơ 6 chữ, thơ 5 chữ - thơ 6 chữ đó, một thể thơ dễ thuộc ở Việt Nam. Và những hình ảnh thì tôi chọn những hình ảnh rất là gần gũi: cây khế, cầu tre, con diều...

Mặc Lâm: Anh vừa nhắc đến từ “con diều” khiến tôi nghĩ rằng anh đã thiếu mất đoạn này vào lúc đầu anh đọc bài thơ đó ạ.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Lúc nãy tôi đọc hình như có thiếu một đoạn thưa quý vị. Đó là:


“Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông...”




UserPostedImage




Xin thứ lỗi là vì tôi cũng không thuộc thơ mình lắm. Tôi xin được bổ sung một đoạn như thế. Và nó ra đời ở trong một cái giai đoạn là, xin quý vị nhớ giùm là năm 1986, khi đó văn chương ở Việt Nam hầu hết còn ở trong giai đoạn động viên xã hội chủ nghĩa, tức là lao động, tức là một chút gì đó còn có chiến tranh. Cái bài thơ này hoàn toàn không dính dáng tới cái đó bởi vì tôi làm để tặng cho một cô bé còn rất là nhỏ và mới chỉ một tuổi. Và những hình ảnh đó, tôi nghĩ rằng nếu có hình dung là cháu lớn lên sau này, cháu có đi khắp nơi, đi tới nước nào cũng vậy, ở đâu nó cũng thế. Thì những hình ảnh đó cháu mang theo và đó là đất nước của mình. Sau này thì bài thơ trở thành ngoại giao, trở thành mang một chút sứ mệnh chính trị, thì xin thưa với quý vị là điều đó nằm ngoài ý muốn của tác giả, bởi vì một bài thơ được viết và khi để nó ra, nó sống hay nó chết, cái đó không nằm trong tầm tay của người sáng tác. Thật sự tôi cũng rất ngạc nhiên là bài thơ này có một số phận rất là đặc biệt, nó được nhiều người biết đến, nó được loan đi rất là xa, nó có thể gây yêu mến nhưng đồng thời nó cũng có thể gây ngộ nhận. Tất cả những cái đó thì đó là số phận riêng. Tốt nhất là thôi cứ để nó có số phận của nó.


Mặc Lâm: Chúng tôi cũng được nghe là anh đã giao lại tác quyền bài thơ này cho gia đình nhạc sĩ Giáp Văn Thạch, sự thật như thế nào, thưa anh?

Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Thưa anh và thưa quý vị, trong vòng 7 năm nay tôi đã làm một văn bản cho Cục Bản Quyền ở Việt Nam là tất cả những liên quan đến bài thơ “Quê hương” thì xin được chuyển hoàn toàn cho gia đình nhạc sĩ Giáp Văn Thạch những gì thuộc về vật chất. Tôi đã làm một bản ủy quyền cho Cục Bản Quyền ở Việt Nam. Nhạc sĩ Phó Đức Phương là người đã chấp nhận cái thơ tay này của tôi. Gia đình nhạc sĩ Giáp Văn Thạch thì thật ra mà nói cũng rất khó khăn. Rất tiếc là ảnh mất sớm. Tôi nghĩ là cái việc mà tôi làm nó cũng như mọi người ở Việt Nam là nó cũng thuộc đạo lý Việt Nam thôi. Nhưng mà bản quyền ở Việt Nam thật ra mà nói thì cũng không nhiều đâu. Cái điều đó cũng không giúp cho gia đình ảnh bao nhiêu, nhưng mà cá nhân tôi thì xin phép là tôi đã chuyển gần 7 năm nay tôi chuyển tất cả những gì liên quan đến ca khúc đó cho gia đình anh Thạch.

Mặc Lâm: Và trước khi từ giả, anh có lời gì cần chia sẻ với thính giả nghe đài hay không ạ?


Nhà thơ Đỗ Trung Quân: Tôi xin cảm ơn anh vì tôi đã có dịp để nói lại một bài thơ mà thật ra thì nó cũng đã lâu, cũng đã cũ, nhưng dẫu gì đi nữa thì thỉnh thoảng cũng có người nghe, có người hiểu nó, có người bực mình nó.../.




UserPostedImage
thunder  
#226 Posted : Saturday, June 18, 2011 12:14:52 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

NHỚ THƯƠNG CHA MẸ

Tháng Năm Lễ Mẹ nhớ thương
Lễ Cha tháng Sáu khói hương ngậm ngùi
Công cha ơn mẹ biển trời
Tháng ngày bắc võng đưa lời mẹ ru
Lá vàng rơi cuối chiều thu
Mẹ về Chín Suối lệ mờ mắt con
Dòng sông nặng nợ nước nguồn
Con thuyền nhớ gió căng buồm lướt trôi
Trên cao bóng mẹ xa vời
Vẫn bồng thơ ấu ru hời tuổi son
Nón nghiêng che nắng mưa mòn
Tấm lòng vằng vặc trăng tròn soi gương

Bàn tay cha dắt đến trường
Rịn mồ hôi rịn gió sương gót trần
Rịn lời nghiêm nghị dạy răn
Bàn tay đau xót mấy lần xuống roi
Cho con từ đó bớt chơi
Chăm ngoan học tập nên người lớn khôn
Rồi cơn mưa rạc hòang hôn
Cha về Tiên Cảnh lệ con đẫm dòng
Từng đêm sương lạnh đèn chong
Tiếng cha trìu mến xoay vòng quanh tim
Song thân giờ đã khuất thềm
Chân con lạc bước qua miền cút côi
Tháng Năm tháng Sáu về rồi
Nhớ thương cha mẹ rối bời cơn mưa

Trầm Vân
Cám ơn bài thơ đầy tình nghĩa của thi hữu VVT
thunder  
#227 Posted : Saturday, June 18, 2011 2:43:44 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

PHẬT TÂM - PHẬT TƯỚNG

UserPostedImage


Trong các sinh hoạt hay nghi lễ của Phật giáo, các hình tượng chư Phật, chư Bồ Tát luôn luôn được tôn trí nơi trang nghiêm thanh tịnh nhất, để mọi người chiêm ngưỡng, lễ bái, cầu nguyện và phát khởi tín tâm.

Các hình tượng được làm bằng bất cứ vật liệu nào, đơn sơ như gổ, đá, xi măng, thạch cao, hay quí giá hơn như vàng, bạc, đồng, ngọc thạch, đá quí, kim cương, cũng chỉ có giá trị vật chất, giúp cho việc hành lễ được long trọng, trang nghiêm, giúp cho người tu theo Phật tăng trưởng sức tinh tấn tu tập theo chánh đạo, hướng tín tâm ban đầu theo chánh tín và chánh kiến.

Giá trị tinh thần đích thực chính là Giáo Pháp của đức Phật.

Người tu theo Phật nương theo hình tượng chư Phật, để lễ bái, cầu nguyện, cúng dường, phát tín tâm tìm hiểu những lời dạy của đức Phật để tu tập và áp dụng vào trong thực tế đời sống hàng ngày.

Nhờ đó, người tu theo Phật mới thấy và cảm nhận được pháp vị mầu nhiệm thực tế của chánh pháp. Từ đó, người tu theo Phật ngộ đạo, thoát khỏi cảnh vô minh, tà kiến, mê tín, dị đoan, không còn ngộ độc như bấy lâu nay.

Người tu theo Phật khi đã khai mở được trí tuệ bát nhã, khác với trí thức thế gian, sẽ thấy giáo lý đạo Phật rất hữu ích cho đời sống thực tế của mọi người, giúp con người vượt qua được những phiền não và khổ đau, không phân biệt là Phật tử hay không là Phật tử.

Nói một cách khác, một người không phải là Phật tử, không cần đi đến chùa lễ bái thường xuyên, không cần phải thờ lạy tượng Phật, nhưng luôn luôn thực hành lời dạy:

1. Không làm các điều ác.
2. Siêng làm các điều thiện.
3. Giữ tâm luôn thanh tịnh.

Người này sẽ sống đời an lạc và hạnh phúc. Tiến thêm bước nữa, sẽ được giác ngộ và giải thoát.

Cho nên, chúng ta cần ghi nhớ: trong đạo Phật không có hình tượng nào gọi là linh tượng, theo nghĩa linh thiêng huyền bí, cầu gì được nấy, cũng không có hình tượng nào gọi là thánh tượng, theo nghĩa các vị thánh là bậc bề trên không ai đạt được, chuyên ban phước giáng họa.

Trong đạo Phật, chỉ có tôn tượng, theo nghĩa hình tượng để tôn thờ, lễ bái, noi theo gương tu hành và công hạnh cao quí, đáng tôn kính, để sống đời và tu tập đúng chánh pháp, hành đúng chánh đạo, cuối cùng là trọn thành Phật đạo. Cũng có những hình tượng gọi là bảo tượng, theo nghĩa hình tượng quí báu, vật chất và tinh thần, hoặc có giá trị theo chiều dài lịch sử.

Chúng ta nên biết: hình tượng làm bằng gổ, bằng thạch cao không chịu được búa bổ; hình tượng làm bằng vàng, đồng, không chịu được lửa thiêu đốt. Các hình tượng dù bằng vật liệu nào cũng chịu qui luật vô thường: thành, trụ, hoại, diệt.

Trong Kinh Kim Cang, đức Phật có dạy:

Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.

Nghĩa là: Trên đời này, vật gì có hình tướng đều là hư vọng, nay hiện hữu, mai mất đi, không tồn tại vĩnh viễn.

Trong Kinh Kim Cang, đức Phật cũng dạy:

Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.

Nghĩa là: Qua hình tướng các tôn tượng chư Phật, nhưng không chấp tướng Phật Ngọc Phật vàng, Phật đồng, hay Phật gỗ, ta mới thấy được, ngộ được Phật Tâm, Phật tánh Như Lai bằng trí tuệ bát nhã.

Bằng như mê tín chấp tướng, dù là tướng Phật Ngọc giá trị bạc triệu, hậu quả là ngộ độc bởi hoa mạn-đà-la, hay ánh sáng mạn-đà-la, hào quang 5, 7 màu, do các tà sư tuyên truyền bá láp, bán rao tà pháp, hưởng danh thu lợi.

Chúng ta thử xét qua vài trường hợp sau:

1. Các hình tượng Phật vĩ đại, rất cổ xưa ở xứ Afghanistan, được điêu khắc dựa theo triền núi đá, đã tồn tại hàng trăm năm, ngàn năm qua, nhưng vào năm 2001 chánh quyền Taliban đã dùng bộc phá, đại bác phá hủy hoàn toàn, mặc dù có lời can thiệp của Liên Hiệp Quốc, cũng như lời phản kháng mạnh mẽ của các quốc gia trên thế giới.

2. Các hình tượng Phật được coi là linh thiêng được thờ trong các ngôi chùa danh tiếng của Phật giáo Tây Tạng, được bao nhiêu chức sắc, tu sĩ người Tây Tạng, cũng như khách thập phương, thờ cúng, lễ bái, nhưng vẫn bị tàn phá, hủy hoại trong trận động đất khinh khủng đầu năm 2010.

3. Tượng Phật Ngọc được đặt tên là hòa bình thế giới, hình thành do người Tây Tạng và đệ tử người Úc năm 2009, được đem triển lãm khắp các nơi có chùa người Việt, gây được phong trào cung nghinh và chiêm bái trong giới Phật tử người Việt và một số dân cư địa phương nơi triển lãm.

Tượng Phật Ngọc này, tuy có giá trị vật chất hàng triệu đô la, đem lại tín tâm và niềm hỷ lạc cho vô số người đến chiêm bái, cầu nguyện, nhưng vẫn cần sự bảo vệ của con người, tránh sự phá hoại của kẻ gian. Bằng cớ là tượng Phật Ngọc được triển lãm nơi nào, chùa viện người Việt phải, dùng tiền quyên góp từ Phật tử, ký giao kèo thuê mướn nhân viên an ninh (security gards) và mua bảo hiểm.

Con người phải bảo vệ tượng Phật Ngọc như thế, thì tượng Phật Ngọc chỉ có giá trị vật chất, chứ có linh thiêng gì đâu, có ai cầu gì được nấy đâu, các chùa viện triển lãm Phật Ngọc có bình an, có khá hơn chăng? - Hay là sau khi triển lãm xong, các chùa viện phải đối diện với bao nhiêu điều rắc rối, bất như ý, về tài chánh cũng như nhân sự, phải ngưng sinh hoạt tất cả các ban ngành, phải sám hối, thay đổi thời khóa buổi lễ hàng tuần đã quen 10 năm qua?

Tóm lại, người Phật tử chân chánh nên sống với Phật Tâm, nên có tín tâm và thực hành giáo lý thâm sâu vi diệu của đạo Phật trong đời sống hàng ngày mà thôi.


Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

chiều tím  
#228 Posted : Saturday, June 18, 2011 1:50:41 PM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Lặng Thinh

Cha ít nói nhưng lòng quảng-đại
Nhiều ưu tư khắc khoải trong tim
Mong sao con trẻ ngày khôn lớn
Có thể vượt qua những khúc quanh

Là mái ngói ngôi nhà hạnh phúc
Chở che mưa nắng bão giông đời
Cho con cắp sách hồn nhiên học
Ngoan ngoãn vui đùa tuổi bé thơ

Thầm lặng một đời làm mái ngói
Dầm mưa thấm lạnh suốt đêm ngày
Phơi trần hứng nắng trời khô hạn
Chẳng ngại tấm thân héo mỏi mòn

Dâu bể đổi thay cha gãy gánh
Tầm tay vuột mất hết tương lai
Buồn đau thế sự xoay đen tối
Ngõ cụt đường đời phải lặng thinh

Bạch Liên


UserPostedImage
Hungholland  
#229 Posted : Saturday, June 18, 2011 2:04:59 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn VII : KIM TRỌNG - THUÝ KIỀU HOAN HỢP

Tóm tắt nội dung : Vào một ngày, khi cha mẹ và hai người em của Thuý Kiều đi ăn tiệc. Nàng ở nhà một mình, với tâm trạng như chàng Kim. Nàng nghĩ hôm nay là cơ hội để 2 người gặp mặt tỏ lòng thương nhớ. Nàng bước vội ra sau nhà để qua nhà chàng :

"Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.
Nhà lan thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay.
Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường."

Sau cuộc trò chuyện, chàng vẽ tranh - nàng đề thơ. Và sau những cơn say tình nhưng 2 người vẫn giữ nguyên vòng Lễ giáo :

"Sinh rằng gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam.
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng."

----o0o----

"Lần lần ngày gió đêm trăng,
370. Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.
375. Nhà lan thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay.
Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,
380. Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.
Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm.
385. Nàng rằng gió bắt mưa cầm,
Đã cam tệ với tri âm bấy chầy
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng.
Lần theo núi giả đi vòng,
390. Cuối tường dường có nẻo thông mới rào.
Xắn tay mở khóa động đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai.
Mặt nhìn mặt càng thêm tươi,
Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên.
395. Sánh vai về chốn thư hiên,
Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông.
Trên yên bút giá thi đồng,
Đạm Thanh một bức tranh tùng treo trên.
Phong sương được vẻ thiên nhiên,
400. Mặt khen nét bút càng nhìn càng tươi.
Sinh rằng: Phác họa vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa .
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu .
405.Khen: Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này !
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang !
Nàng rằng: Trộm liếc dung quang,
410.Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn .
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay ?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
415.Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa .
Trông người lại ngẫm đến ta,
Một dầy một mỏng biết là có nên ?'
Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
420.Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều .
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân !
đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
425.Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài .
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã chàng nàng mới kíp dời song sa .
đến nhà vừa thấy tin nhà,
430.Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu .
435.Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê .
Tiếng sen sẽ động giấc hòe,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
440.Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa .
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?
445.Vội mừng làm lễ rước vào,
đài sen nối sáp song đào thêm hương .
Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi .
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
450.đinh ninh hai mặt một lời song song .
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương .
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
455.Sinh rằng: Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam .
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ?
Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng,
460.Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri .
đừng điều nguyệt nọ hoa kia .
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai .
Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.
465.Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi,
đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng .
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay,
470.Làm chi cho bận lòng này lắm thân !
So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương .
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau .
475.Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân .
Qua quan này khúc Chiêu Quân,
480.Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia .
Trong như tiếng hạc bay qua,
đục như tiếng suối mới sa nửa vời .
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa .
485.Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày .
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày .
Rằng: Hay thì thật là hay,
490.Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào !
Lựa chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người ?
Rằng: Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao !
495.Lời vàng âm lĩnh ý cao,
Họa dần dần bớt chút nào được không .
Hoa hương càng tỏ thức hồng,
đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu .
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
500.Xem trong âu yếm có chiều lả lơi .
Thưa rằng: đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao !
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh .
505.đã cho vào bậc bố kinh,
đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi !
Phải điều ăn xổi ở thì,
510.Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày !
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương .
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán chường yến anh .
505.Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên .
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
520.để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân ắt lại đền bồi có khi !
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân .
525.Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân,
Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào ."

( Còn tiếp )


Giải nghĩa:

370. Thư hồng rầm lục: Màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm, tức là mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới.

372. Hai đường: Do chữ song đường (xuân đường và huyền đường) chỉ cha mẹ.

375. Nhà lan: Do chữ lan thất.

377. Thì trân: Những thức ăn quý đương mùa. Thuý Kiều mang sang để tiếp Kim Trọng. Chú ý, "sẵn bày" ở đây không phải là bày biện ra bàn ở nhà Kiều.

382. Lửa hương: Hai chữ này thường dùng để chỉ tình duyên vợ chồng.

384. Hoa râm: Hoa cây râm, sắc trắng, ví mái tóc lốm đốm bạc trông như những chẫm hoa râm.

386. TRI âm: Hiểu biết tiếng đàn. Đời Xuân Thu, Bá Nha, một người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ, một người giỏi nghe đàn, đều nổi tiếng, cùng làm bạn với nhau. Tử Kỳ hiểu được tâm hồn bạn trong tiếng đàn, khi Bá Nha gẩy đàn, như núi Thái - Sơn", khi Bá Nha nghĩ đến dòng chảy (lưu thuỷ), thì Tử Kỳ khen: "Tiếng đàn cuồn cuộn như sông Giang, sông Hà". Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha đứt dây, đập đàn ra, và than rằng: "Trong thiên hạ không còn ai là tri âm (người hiểu biết tiếng đàn của mình) nữa". Về sau, tri âm dùng để chỉ bạn thân, tri kỷ, hoặc bạn tình.

389. Núi giả: Chữ Hán là giả sơn, tức là núi non bộ.

391. Động đào: Tức động Đào nguyên.

392. Thiên thai: Tên một núi ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, Tương truyền đời Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ rồi cùng nhau kết duyên ở đấy.

394. Vạn phúc: Lời chào hỏi chúc mừng khi gặp nhau. Hàn thuyên: lạnh ấm, lời hỏi thăm sức khỏe.

396. Phong nguyệt: Lời thơ trăng gió vui chơi. Non sông: Lấy núi sông mà nguyền ước (sông cạn, núi mòn, lời thề cũng không thay đổi).

397. Yên: Bàn sách, Bút giá: Cái giá để gác bút. Thi đồng: Cái ống đựng thơ.

398. Đạm thanh: Màu xanh nhạt, chỉ màu bức tranh cây thông của Kim Trọng.

399. Phong sương: Gió và sương. Bức tranh cây thông vẽ rất tự nhiên như có đượm cả phong sương.

402. Phẩm đề: Đề lợi vịnh bức tranh. Thêm hoa: Thêm vẻ đẹp. ý nói bức tranh mới vẽ xong, xin đề mấy vần thơ cho tăng thêm vẻ đẹp.

403. Tay tiên: Bàn tay người đẹp, người tiên.

405. Nhả ngọc phun châu: Tài xuất khẩu thành thơ hay, như nhả ra ngọc, phun ra châu.

406. Nàng Ban: Nàng Ban Chiêu, đời Đông Hán. Nàng học rộng tài cao, được vua Hán vời đến giúp soạn sách.

ả Tạ: Nàng Tạ Đạo Uẩn, đời Tấn, là người thông minh, có học thức.

410. Ngọc bội: Đồ đeo bằng ngọc. Chữ dùng chỉ chung người ta đã hiển đạt và có quan chức.

Kim môn: Tức Kim mã môn nói tắt, tên cửa cung Vị ương của vua nhà Hán (cửa cung có để tượng ngựa đồng nên gọi là Kim mã). Đời Hán Vũ Đế, thường cho những người có văn tài đến đợi ở đây, để chờ nhà vua hỏi han về chính sự. Kiều muốn nói Kim Trọng không là nhà quan cũng là người học cao.

412. Khuôn xanh: Cũng như khuôn thiêng, sự sắp đặt của trời.

414. Tướng sĩ: Thày xem tướng.

415. Anh hoa: Những cái tinh hoa tốt đẹp.

419. Giải cấu: Cuộc gặp gỡ tình cờ.

420. Nhân định thắng thiên: ý nói: Người ta cũng có thể làm thay đổi được cả số trời.

421. Giải kết: Giải là cởi, kết là mối buộc. ý nói, chúng ta đã ràng buộc với nhau, nếu có sự chia rẽ thì quyết liều thân để giữ lời vàng đá.

423. Trung khúc: Những sự uỷ khúc ở trong lòng, như nói tâm tình, tâm sự.

424. Tàng tàng: Say say, ngà ngà.

425. Giang: ý nói ngày ngắn lắm.

428. Song sa: Cửa sổ có che vải sa, cũng như song the, chỉ phòng ở của Kiều.

430. Hai thận: Cha mẹ, do chữ song thân, tức thân phụ (cha) và thân mẫu (mẹ).

433. Nhặt thưa: Mau và thưa, chỉ ánh trăng. ánh trăng giọi bóng cành lá cây xuống làm cho mặt đất chỗ sáng, chỗ tối.

434. Trướng huỳnh: Trường là cái màn, huỳnh là con đom đóm. Đời Tấn, Xa Dận ham học, nhà nghèo, đêm khôn có đèn, phải bắt con đom đóm đựng vào túi lụa thưa để mà đọc sách. Chỉ phòng học của Kim Trọng.

437. Tiếng sen: Bước chân của người đẹp. Giấc hoè: Theo sách Nam kha ký: Thuần Vu Phần đời Đường, ngày sinh nhật, uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cay hoè già ở phía nam nhà ông, liền mộng thấy đến một nước gọi là "Đại Hoè An", được vua nước ấy gả công chúa, và cho làm quan Thái thú quận Nam Kha, vinh hiển hơn hai mươi năm. Khi tỉnh dậy, chỉ thấy dưới gốc hoè một tổ kiến lớn, trong có con kiến chúa, mới hiểu đó là nước và vua Hoè An (gốc hoè yên ổn), còn Nam kha tức là cành hoè phía nam nhằm thẳng xuống tổ kiến. Do đó, người ta nói "giấc Nam kha" hay "giấc hoè" để chỉ cuộc phú quý hư ảo.

438. Đây nói, Kim Trọng sực tỉnh thấy ánh trăng đưa bóng hoa lê tới gần.

439. Đỉnh Giáp: Đỉnh núi Vu Giáp (hay Vu Sơn). Vua Sở Hoài Vương đi chơi quán Cao Đường, mộng thấy một người đàn bà đẹp, và tự xưng là thần núi Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa. Do tích này, người ta thường dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc ân ái giữa trai gái.

Non thần: núi Thần nữ chỗ ở của nàng tiên gặp vua Sở nói trên.

446. Đài sen: Cái để thắp nên làm hình hoa sen.

Song đào: Chỗ cửa sổ có trồng cây đào.

447. Tiên thề: Giấy hoa tiên (giấy viết thư từ có vẽ hoa ghi chép lời thề).

452. Đồng: Đồng tâm, cùng một lòng với nhau. Người xưa, thường tặng nhau dây lưng gấm, kết thành vòng hồi văn, ngụ ý thân yêu quấn quýt, gọi là cái "đồng tâm kết".

453. Hà: Ráng mặt trời. Chén hà do chữ hà bôi thứ chén bằng ngọc màu ráng đỏ, đây dùng nói chén quý.

Quỳnh tương: nước ngọt, ví thứ rượu ngon quý.

454. ý nói Kiều với Kim Trọng, ngồi kề nhau, mùi hương quần áo như là hoà lộn với nhau, mà trong binh gương, bóng hai người cũng như lồng đôi với nhau.

457. Chày sương, cầu Lam: đã chú ở câu 266.

458. Sàm sỡ: Lả lơi không đứng đắn.

459. Hồng điệp, xích thằng: xen câu 268 và 238.

460. Tương tri: Biết lòng nhau, thông cảm nhau.

461. Nguyệt nọ, hoa kia: Chuyện trai gái bất chính.

463. Cầm đài: Cái đài ngồi gẩy đàn của Tư Mã Tương Như, một nhà giỏi đàn đời Tây Hán.

464. Nước non: Do chữ lưu thuỷ, cao sơn (nước chảy, non cao), những tiếng đàn của Bá Nha mà Chung Tử Kỳ nghe và phân biệt được. Đây Kim Trọng đề cao Kiều lên ngang tài với Bá Nha, và tự cho mình là Chung Kỳ.

465. Tiện Kỹ: Nghề mọn, lời nói nhún.

467. Cầm trăng: Tức nguyệt cầm, ta gọi là đàn nguyệt.

468. Tây nâng ngang mày: Thái độ tỏ ý trân trọng.

470. Bận lòng: khó nghĩ. Lắm thân: tiếng cổ, có nghĩa là "lẵm thay".

471. Vũ, văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ.

472. Cung thương: xem câu 31.

473. Hán sở chiến trường: Bãi chiến trường giữa đời Hán, và nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ (Sở Bá vương) đánh nhau nhiều trận kịch liệt.

474. Tiếng sắt, tiếng vàng: Tiếng khí giới bằng sắt, bằng kim loại va chạm xô xát nhau.

475. Tư mã phượng cầu: Tư mã Tương Như người đời Hán, có văn tài, ở đất Lâm Cùng, Trác Vương Tôn, có con gái là Văn Quân, người đẹp mà mới goá chồng. Tương Như gẩy khúc đàn "Phượng cầu hoàng" để tỏ tình với Văn Quân cảm tiếng đàn, đêm ấy, bỏ nhà trốn theo Tương Như.

477. Kê Khang, Quảng Lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đình Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy cho khúc "Quảng Lăng tán", âm điệu tuyệt hay.

478. Lưu thuỷ, hành vân: Nước chảy, mây bay. ý nói khúc đàn thanh thoát lưu loát.

479. Quá quan: Đi qua cửa ải. Chiêu Quân: Tên chữ của Vương Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị gả cho chúa Hung nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung nô, Chiêu Quân thường gảy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước.

482. Tiếng suối: Tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ì của dòng suối dội ở lưng chừng núi xuống.

488. Chín khúc: Chỉ các khúc ruột chứ không nhất thiết phải đúng chín khúc ruột.

491. Tiêu tao: Chính nghĩa là tiêu điều, thê hương, đây dùng chỉ tiếng đàn buồn rầu, sầu não.

492. Dột: ủ dột.

Nao nao: Xao xuyến, đau xót.

495. Lời vàng: Lời khuyên quí giá.

497. Hoa hương: Hoá có hương thơm. Thức hồng: vẻ hồng. Càng đàn, càng thơ, nàng Kiều càng đẹp, tình ý đôi bên càng nồng nàn.

501. Làm chơi: Xem vấn đề là thường, không quan trọng.

503. Yêu đào: Cây đào non, lấy chữ ở thơ "Đào yêu", Kinh thi: Đào chi yêu yêu (cây đào non mơn mởn) ví với người con gái trẻ mà đẹp, đã đến tuổi đi lấy chồng.

505. Bố kinh: Bố là vải, kinh là cây kinh, một loại cây mọc thành cụm, hoa màu tía nhạt, cành và thân cứng rắn, thời xưa, những phụ nữ nghèo thường dùng cành nó làm trâm cài tóc.

ở đây, ý Kiều nói: Đã cho vào hang người vợ chính thức như hạng bố kính thời xưa (không phải là nhân tình, nhân ngãi).

506. Tòng phu: Theo chồng, chí cái đạo làm vợ, theo quan niệm Nho giáo xưa.

507. Trên Bộc, trong dâu: Trong bãi dâu, trên sông Bộc. Xưa ở nước Vệ, đời Xuân Thu, có tục trai gái hẹn hò, tụ hội nhau ở bãi dâu trên sông Bộc để hát hổng, đùa bỡn, làm việc dâm đãng.

511. Kỳ ngộ: Cuộc gặp gỡ kỳ lạ, chỉ cuộc nhân duyên tốt đẹp của đôi tài tử giai nhân.

514. Thôi, Trương: Theo Tây sương ký: Thôi Oanh và Trương Cung, tên tự là Quân Thuỵ, đời Đường, là đôi trai tài, gái sắc, đẹp đôi, vừa lứa, đã gặp gỡ và yêu nhau ở chái tây chùa Phổ Cứu, đất Bổ Đông, nhưng vì đã đi lại ăn nằm với nhau, nên về sau chán nhau mà bỏ nhau.

Đá vàng: Đây chỉ tình vợ chồng chung thuỷ, đoan chính.

514. Yến anh: Đây ví với cặp trai gái.

515. Chắp cánh liền cành: Nói khi ăn nằm ân ái với nhau. Theo bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị, vua Đường Huyền tông và Đường quý phi nguyện với nhau trong đêm "thất tịch": Tại thiên nguyện tác ti dực diểu, tại địa nguyên vi liên lí chí (trên trời nguyện làm đôi chim liền cánh, dưới đất nguyện là hai cây liền cành).

517. Mái tây: Do chữ tây sương, tức chái tây chùa Phổ Cứu, nơi Thôi, Trương gặp gỡ nhau.

Hương nguyền: Nén hương để thề nguyền.

519. Gieo thoi: Các sách thường dẫn điển sau đây: Tạ Côn đời Tấn, ghẹo người con gái đang ngồi dệt cửi, bị cô ta cần cái thoi ném vào mặt, gẫy mất hai cái răng (theo Tấn thư).

524. Vì: Nể, tiếng cổ, cũng có nghĩa là yêu (yêu vì Nặng lòng xót liễu vì hoa).

525. Bóng tầu: Bóng mái nhà (Tàu: Miếng gỗ dài đặt dọc ở mái hiên, để đỡ lấy mái nhà, gần chỗ giọt tranh).

Vẻ ngân: Vẻ sáng như bạc, chỉ ánh trăng


Hạ Vi  
#230 Posted : Sunday, June 19, 2011 4:15:20 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Những kỷ niệm của tôi về Văn Học miền Nam

Nguyễn Đức Tùng


UserPostedImage



Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ,
Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháu
Diệu Linh, và những người bạn khác,
lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

Tác giả



Khi tôi sinh ra, đất nước đã chia đôi. Lớn lên, tôi yêu mến miền Nam nhưng cũng nhớ thương miền Bắc. Lạ. Người ta có thể nào nhớ một điều mà mình không biết?

Có thể lắm. Năm chín tuổi, trưa hè, đuổi theo một con chim chào mào mũ đỏ, tôi lạc vào kho lúa nhà bà ngoại tôi. Đó là kho lúa lớn, cao như cái tháp, làm để tránh mưa lụt hay xảy ra ở miền Trung, có lẽ chứa lúa giống vì gia đình bên ngoại tôi có vài mẫu ruộng. Ngồi im nín thở, chân tôi chạm vào một cuốn sách giữa những hạt lúa hăng hắc nồng nồng. Cuốn sách có nhan đề Anh phải sống, bìa trắng, đề tên tác giả: Khái Hưng và Nhất Linh, trong Tự Lực Văn Đoàn, nhà xuất bản Phượng Giang. Sách cũ, giấy vàng, đầy kín chữ, nhiều truyện ngắn. Tò mò, tôi lật qua vài trang đọc thử. Thời đó, tôi còn mê truyện tranh và các thú vui trẻ con như bắt chim, đá banh, cởi truồng tắm sông, bắn ná cao su, kéo bím tóc con gái. Cuốn sách tôi cầm trên tay chẳng có hình ảnh nào cả, hiền từ, nghiêm nghị. Tôi đọc thử vài trang. Đọc thêm. Rồi không buông ra được nữa, quên cả con chim chào mào đã bay mất.

Câu chuyện kể về hai vợ chồng bên sông mùa lũ, vớt củi giữa dòng. Thuyền lật úp, họ bơi vào bờ, giữa chừng đuối sức. Họ nương vào nhau, chìm dần. Người vợ buông tay chồng, vì nghĩ đến những đứa con nhỏ ở nhà. Đêm đêm người đàn ông dẫn đàn con bơ vơ ra đứng trên bờ sông nhớ người đã mất. Sông Nhị Hà mùa lũ nước chảy xiết ra sao? Mà nó đọng lại trên má tôi vài giọt nước mắt. Truyện mở rộng cái nhìn của tôi đối với cuộc đời khổ lụy, hy sinh, nâng tôi lên bằng đôi cánh của tình mẫu tử, tình vợ chồng, xé rách trong tôi những kinh nghiệm còn nguyên vẹn thơ ấu. Tôi đọc nhiều truyện khác nữa trong tập, đều hay, nhưng truyện đầu tiên tôi nhớ nhất. Lúc đó, tôi muốn bắt chước kể chuyện như tác giả, muốn được viết như ông, tôi muốn làm cho người ta khóc.

Sau mùa hè ấy, tôi tìm đọc nhiều sách khác nữa, Gió đầu mùa của Thạch Lam, Vàng và máu của Thế Lữ, Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Gửi hương cho gió của Xuân Diệu, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Sau này nhìn lại, tôi thấy sự giữ gìn và kế tục văn chương tiền chiến trong thời buổi chiến tranh, không thay thế nó bằng một nền văn học nào khác, ví dụ một nền văn học thực dụng, phục vụ chế độ đương thời, thật là điều đáng trân trọng. Tôi đọc loạn xạ. Hình như văn chương miền Nam đối với tôi lúc đó có vẻ cũng lộn xộn. Đi đâu tôi cũng mang theo một cuốn sách trong túi áo, khi tôi buồn rầu, chúng an ủi tôi, khi sung sướng, chúng làm tôi giật mình, khi lạc đường chúng khuyên tôi đứng lại, nhìn xuống.

Ngày nay nhìn lại toàn cảnh, tôi tin rằng văn học miền Nam bắt nguồn từ văn học tiền chiến, văn học miền Bắc bắt nguồn từ văn học kháng chiến (chống Pháp). Văn học tiền chiến lớn hơn văn học kháng chiến, nhưng văn học kháng chiến mới hơn văn học tiền chiến.

Vài năm sau lên trung học, chương trình quốc văn trong nhà trường, tôi bắt đầu được đọc và bình luận về các tác phẩm tiền chiến. Những cuốn như Nửa chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Mười điều tâm niệm của Hoàng Đạo, Gió đầu mùa của Thạch Lam, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, và thơ của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Bích Khê, Vũ Đình Liên, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân... được giới thiệu khá kĩ bởi những người thầy tâm huyết. Chúng làm cho tuổi thơ của tôi trở nên lãng mạn, diễm ảo.

Tôi nghĩ bầu khí quyển lãng mạn ấy cần thiết cho tâm hồn mới lớn. Và cho một nền văn học mới lớn.

Quả thật đó là những năm đầu tiên của miền Nam, sau chín năm kháng chiến, như một cõi riêng biệt. Phải chờ thêm vài năm nữa, khoảng lớp chín, tôi mới bắt đầu nhận ra rằng bên cạnh những tác phẩm tiền chiến in lại, đã nung nấu hình thành một nền văn học khác: một nền văn học mới, trẻ trung, hào hứng vừa ra đời. Xét lại thì cũng phải. Mặc dù Nhất Linh, người lãnh đạo Tự Lực Văn Đoàn đã vào Nam, và những người nối bước ông như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Duy Lam, Nhật Tiến đang viết sung sức, nhất là Nhật Tiến, người làm tôi say mê với “Chim hót trong lồng”, thì tiểu thuyết tiền chiến không còn phù hợp với thời đại mới nữa. Chín năm kháng chiến đã làm đảo lộn nhiều thứ. Thêm vào đó, cuộc chia đôi đất nước là một lưỡi dao sắc cắt qua các tầng văn hóa, nhiều lớp tâm thức, cắt qua lục phủ ngũ tạng, bất chấp tất cả, không tha thứ điều gì trên đường đi của nó, cho đến khi người ta xa lìa nhau vạn dặm.

Siêu quay mặt đi vì không muốn cho Mùi ngượng và chàng cũng ngượng; chàng biết là Mùi sắp ứa nước mắt nên với khăn chứ không phải đi rửa mặt và chàng đợi cho Mùi đủ thì giờ lau thật khô nước mắt như không từng có khóc bao giờ. Chàng thổi sáo miệng, cố bắt chước tiếng một con chim hót gần đấy. Một sự vui mừng nở ra trong lòng chàng, tràn ngập cả người chàng lúc đó và đọng lại yên tĩnh mênh mang cũng như nước lụt ngoài kia tràn vào và đọng lại ngập đầy vườn. Chàng thầm nhủ:

- Cho đến lúc hai tay buông xuôi, anh cũng thế.(1)

Sau tiền chiến, so với thời kỳ “Đoạn tuyệt”, nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh đã vươn lên rất xa, nhiều đoạn đạt đến mức tâm lý tuyệt diệu, trong “Xóm cầu mới” mà ông khởi thảo năm 1949 và đăng từng kì trên báo Văn Hóa ngày nay, một tờ báo bìa vẽ lan, tôi đọc ngày còn nhỏ, đọc lén trong nhà ông anh họ. Nhưng nó không cứu được văn chương tiền chiến trước một nền nghệ thuật mới hơn nữa. Những câu văn ấy êm đềm quá, cách dựng chuyện ấy cổ điển quá, những nhân vật ấy dù ngày càng được mô tả phức tạp trông vẫn hiền lành quá so với thời đại vừa đi qua cơn bão táp đang cập bờ vào thế giới mới, hứa hẹn giấc mơ tự do, nhưng cũng cùng lúc cơn bão chiến tranh đang chờ nó. Thơ và truyện phải viết khác đi, vì đó là nhu cầu sáng tạo nội tại của các nhà văn bất kỳ thời nào. Phải viết khác đi, vì người đọc đã khác. Người ta không còn giản dị hồn nhiên như trước, người ta sâu sắc, cay đắng hơn, người ta buồn bã, nghi ngờ hơn, giận dữ và lam lũ hơn. Vì vậy đã có một ý thức làm mới văn chương, cùng với ý thức tự do trong văn học, hiển lộ rõ ràng và phổ biến, trở thành tinh thần chủ đạo, trong mười năm đầu tiên của sinh hoạt văn học miền Nam.


UserPostedImage



Lớp chín, gặp đứa bạn gái cùng lớp trên đường một mình còn ngượng, thấy người ta hôn nhau từ xa còn đỏ cả mặt, tôi đã đọc truyện tình Mai Thảo. Ông từ miền Bắc vào, sau Nhất Linh một thế hệ. Tôi không biết Mai Thảo bắt đầu viết từ bao giờ, nhưng đọc ông, tôi biết là mới, nhận ra không phải là thứ văn chương tiền chiến được học trong nhà trường. Tôi mê Chuyến tàu trên sông Hồng, và Đêm giã từ Hà Nội; tôi trốn vào trong gầm bàn thờ, liu riu ngọn đèn dầu Hoa Kỳ, đọc Cũng đủ lãng quên đời.

Hình dung thấy con tàu đó trên con sông đó. Con sông Hồng-Hà. Như dòng máu đỏ tươi chảy băng băng khắp vùng trí nhớ bâng khuâng. Con sông như một đời sống vĩ đại. Bên này bãi lở. Bên kia bãi bồi. Tiếng sóng giữa dòng trùng trùng ca hát. Tiếng sóng đập cái tiếng đập mênh mông đầu ghềnh nơi tả ngạn bị hút xoáy mải miết, nước xôn xao róc rách đẩy lùi mãi những bãi dâu và những nương khoai vào những chân tre cù. Nơi tả ngạn, ngọn sóng hiền lành lăn tăn êm ả trên những bãi ngầm nổi hình mùa lũ này qua mùa lũ khác. Đứa nhỏ trôi theo con tàu trên dòng trường giang hùng vĩ chợt nhớ tới những con sông làng thon mềm dải lụa có trâu đầm từng đàn dưới bóng đa nghiêng, có những chiếc cầu đá dẫn tới một phiên chợ sớm đầu đình, có những cầu gạch mở vào những cái ngõ lang thang mất hút, có cỏ gà trên gò đống, cỏ ống trên mồ mả, có những cầu tre tay vịn chòng chành, đêm đêm có ánh đom đóm lập lòe, có ánh trăng xanh mướt chở tới những khoảng sân gạch bát tràng nồng ấm hương lúa đầu mùa. Tiếng quạt thóc, tiếng đập thóc rào rào.(2)

Mặc dù Mai Thảo được xem là nhà tiểu thuyết, tài năng của ông tập trung nhiều hơn vào các truyện ngắn, tiểu luận, tùy bút. Đọc Mai Thảo, tôi chú ý đến câu văn. Ông đi vào vùng trời văn học miền Nam bằng lối viết hơn là bằng tư tưởng, bằng phong cách hơn là bằng tác phẩm, mặc dù tầm tư tưởng, tác phẩm của ông lớn hơn nhiều người khác. Đoạn văn trên chưa phải là đoạn Mai Thảo đảo lộn câu chữ nhiều nhất, nhưng tiêu biểu cho một lối viết, nó đặc biệt mới vào đầu những năm sáu mươi. Tôi nhớ khung cảnh đọc truyện đó: một buổi trưa nắng vàng, được ru trong tiếng sóng vỗ sông Hồng, nhớ lại cuốn sách đầu đời của tôi trong kho lúa nhà bà ngoại. Một dòng sông, hai cách chảy đi.

Một câu văn đẹp bất chấp nội dung sẽ tồn tại như một câu văn đẹp, làm ta muốn đọc lại nhiều lần. Có hai phương pháp mà Mai Thảo đã dùng. Một là ngôn ngữ thơ, một ngôn ngữ vi phạm các chuẩn tắc thông thường của văn xuôi, cắt xén, nén nó lại, kéo dài nó ra, làm chùng xuống, khi buông lỏng, khi căng thẳng: ngôn ngữ tự phục vụ cho chính nó. Khác với những câu văn đẹp nhất tiền chiến, như của Nguyễn Tuân. Đọc Nguyễn Tuân, tôi thấy ông dùng chữ chính xác, tự nhiên, để chuyên chở những khám phá thẩm mỹ, nhưng ông không chơi với chữ: ngôn ngữ của ông vẫn là một phương tiện, mặc dù là phương tiện sang trọng. Trước đó, không ai viết như Mai Thảo. Hình như ngoài Bắc, cùng thời, cũng chưa ai viết như thế. Sau này thì tôi không rõ.

Và như thế, tiểu thuyết tự truyện sau này nổi bật trong một số tác giả miền Nam, có thể xem là đã được mở đầu bởi Mai Thảo. Tiền chiến, chúng ta có Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu mà tôi được học năm lớp bảy, chương trình phụ giảng. Một cuốn tự truyện tôi đọc cùng thời gian, ghi dấu ấn sâu đậm về nông thôn miền Nam, Thằng thuộc con nhà nông của Hồ Hữu Tường, theo tôi là một tác phẩm hết sức thành công. Nhưng đối với các tác giả trên đây, tự truyện được hiểu theo nghĩa cổ điển, mô tả một đời sống hay một giai đoạn được khoanh vùng cụ thể, thường là tuổi thơ, nghĩa là khi tác giả đó đã viết một lần là xong, không có gì để viết lại nữa. Để hiểu sự khác nhau giữa tự truyện mới và tự truyện cũ, cần sử dụng đến quan niệm về điểm nhìn (point of view): những sự kiện có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, một câu chuyện có thể được kể lại bởi nhiều người khác nhau. Quyết định về điểm nhìn là quyết định quan trọng bậc nhất của nhà tiểu thuyết, trong khi đối với những người viết không có tài năng, điểm nhìn của họ thường thay đổi trong cùng một tác phẩm, làm sự tiếp cận của người đọc trở nên không nhất quán. Tiểu thuyết tự truyện mới không phải chỉ là những hồi ức theo kiểu kể lại các sự việc xảy ra trong quá khứ, mà là sự thể hiện thế giới thông qua nhân vật - tác giả, điều này làm cho nó gần gũi với khuynh hướng tiểu thuyết dòng ký ức. Quả nhiên những tác giả sau này ở miền Nam đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của khuynh hướng dòng ý thức. Một nhà viết tiểu thuyết tự truyện sẽ rơi vào ngõ cụt vì thiếu đề tài; anh ta chỉ có thể thoát ra khỏi tình trạng này trên niềm tin rằng không có một sự thật nào là sự thật cuối cùng, và tìm cách trở lại một lần nữa, nhiều lần nữa, căn nhà của chính mình, khám phá ra ở đó những tầng sâu mới. Hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Mai Thảo đều viết về mình, dựa trên những hồi ức chính mình. Dĩ nhiên hồi ức cá nhân và đời sống thực tế là chất liệu sáng tạo của các nhà văn từ xưa đến nay, không có gì mới. Vấn đề là ở những nhà văn khác, hồi ức và kinh nghiệm chỉ là nơi cung cấp các dữ kiện, các nhân vật và nguồn gốc của những rung cảm, nhưng khi thể hiện thành tác phẩm, chúng đã được chuyển thể, giọng của nhà văn là giọng của các nhân vật, của các mặt nạ. Đó là khái niệm cổ điển của truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong truyện mới, nhân vật tác giả là trung tâm, vũ trụ được nhìn qua nó, mọi trang viết là viết về nó, viết cho nó. Đây cũng đồng thời là phương pháp trữ tình. Mai Thảo là một trong những người đầu tiên đi theo phương pháp tiểu thuyết-tự truyện (memoirist fiction).


UserPostedImage


Các nhà viết ký và tiểu thuyết ở miền Bắc cùng thời kì, như Nguyễn Huy Tưởng, Sống mãi với Thủ Đô, Nguyễn Đình Thi, Vỡ bờ, Nguyên Hồng, Cửa biển, Chu Văn ... vẫn giữ phong cách văn xuôi và tiểu thuyết theo kiểu cổ điển, câu văn chừng mực, chính xác của văn chương tiền chiến, mặc dù có thể không mượt mà như Thạch Lam, hay kiêu sa như Nguyễn Tuân. Dĩ nhiên, chúng ta đang nói về nghệ thuật biểu hiện, chứ không phải về nội dung. Tôi muốn nói là nội dung trong toàn bộ cấu trúc tác phẩm, chứ không phải là nội dung của từng câu chữ. Thật ra, câu văn, dù được đảo lộn cách nào, dù được tái tổ chức ra sao, chỉ đạt được vẻ đẹp của nó khi tác giả có khả năng nén chặt vào chúng số lượng tối đa các thông tin có thể giải mã. Tôi cho rằng đặc điểm quan trọng nhất của nhà văn là sự quan sát, đặc điểm quan trọng nhất của nhà thơ là sự rút ra. Viết như Mai Thảo, có sự quan sát dày đặc, dồn dập, khả năng ghi nhận kín kẽ, bao quát, lại vừa có sự chiêm nghiệm, lùi lại, rút ra, chưng cất. Đó là đặc tính của một người vừa có thể viết tiểu thuyết, vừa có thể làm thơ, mà một số nhà văn Canada hiện nay gọi là khả năng swing.

Đặc điểm của lối viết mới là câu văn, dài hơn bình thường, hoặc ngắn hơn bình thường, hoặc khi dài khi ngắn, nhưng ý tưởng bao giờ cũng trong sáng, không lẫn lộn. Mạch tư duy của tác giả hợp lý, độc giả có thể hiểu được và theo dõi được, khác với lối văn hủ nút, rối rắm, làm độc giả lạc đường như trong một số nhà văn không có tài năng. Một người viết câu ngắn tài hoa sau này là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, hơi văn của ông mạnh nhưng ngắn, buông lửng mà dồn dập, đối thoại của ông tinh khiết. Câu dài của Mai Thảo và một số nhà văn khác, tuy thế lại ít có chữ thừa, thậm chí vẫn tiết kiệm, gồm các mệnh đề chính và mệnh đề phụ chồng lên nhau. Trừ ra trong một số tiểu thuyết quá dễ dãi có tính thương mại, ít có giá trị văn học, hầu hết các câu văn của Mai Thảo đều đạt được như thế hoặc gần như thế, dù là tiểu luận hay tùy bút hay truyện ngắn. Ông cũng làm mới câu bằng cách táo bạo dùng những câu không hoàn chỉnh văn phạm. Tôi nhớ năm học lớp chín đã từng bắt chước ông khi viết chữ nhưng, chữ mà ở đầu câu, sau dấu chấm, trong một bài luận văn và suýt bị giáo sư đánh rớt vì sai lỗi chính tả. Tôi nhận thấy một số nhà văn sau này, và ngay cả hiện nay, cũng học cách viết như thế nhưng ít thuyết phục hơn, vì họ không sử dụng các động từ một cách tài hoa như Mai Thảo đã làm.

Có một hiện tượng thương mãi trong văn học cần chú ý. Ví dụ, sau những truyện có giá trị văn học, Mai Thảo viết các truyện dài diễm lệ hình như không có nhiều dụng tâm nghệ thuật. Cuối những năm sáu mươi ở miền Nam một số nhà văn cũng viết tiểu thuyết định kỳ trên các nhật báo gọi là feuilleton. Đây là áp lực đời sống mà các nhà văn thời nào cũng cần phải suy nghĩ trước ngòi bút của mình.

Văn học miền Nam thời khởi đầu có hai dấu ấn lớn, một là tác động của các nhà văn từ miền Bắc di cư vào và hai là phong cách của các nhà văn Nam Bộ. Tôi nhớ đã từng say mê đọc giọng kể chuyện mộc mạc mà thi vị của Thằng Thuộc con nhà nông của Hồ Hữu Tường, và những truyện khác của ông. Hàng tháng tôi hồi hộp theo dõi tạp chí Hương Quê, đăng đều đặn mỗi kỳ một truyện ngắn, mới đầu của Bình Nguyên Lộc, sau đó của Sơn Nam. Tiếp nối truyền thống tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, các nhà văn này tiếp tục nâng nghệ thuật của mình lên trong lối kể chuyện tài tình riêng biệt của họ. Tôi nhận thấy có sự dịch chuyển từ khuynh hướng tiểu thuyết bình dân có tính giải trí đến khuynh hướng tiểu thuyết văn học. Miền Nam khác miền Bắc ở chỗ trong cùng một thời kỳ đã cho phép phổ biến nhiều loại sách giải trí bình dân, kiểu sách thám tử, kiếm hiệp, đường rừng, xã hội tình cảm bi lụy kiểu người lớn, có người cho là rẻ tiền. Như thế nào là tiểu thuyết giải trí và tiểu thuyết văn học? Người đọc truyện ngắn, tiểu thuyết và các hình thức văn học khác thường đi tìm ba điều: sự vui thú, sự hiểu biết và sự thay đổi. Đi tìm niềm vui vốn là một nguyên lý của người Hy Lạp cổ đại và là một nguyên tắc của phân tâm học Freud, thật ra không cần cắt nghĩa. Chuyện gì vui thì người ta làm. Thích thì làm, không thích thì bỏ đi. Chẳng lẽ cần giải thích hay sao? Vì vậy văn học cần phải mang đến sự vui thú. Nên hiểu rằng vui đây không nhất thiết phải là cái cười hời hợt, không phải chỉ là niềm vui của người sung sướng vì nhặt được tiền, mà có thể là nỗi thú vị của một cuộc chia tay buồn bã, một tiếng khóc nén lại trong văn chương. Nỗi vui thú ấy khi mạnh mẽ quá thì cũng có thể thành sự hài hước. Chất hài hước là một đặc điểm của văn chương miền Nam và văn chương Nam Bộ. Nhưng người đọc tiểu thuyết không phải chỉ đi tìm sự vui thú mà còn đi tìm sự hiểu biết và sự lý giải đối với cuộc đời. Nếu không có sự hiểu biết đằng sau sự vui thú thì văn học hóa ra cũng giống như một trận bóng đá, một ván bài, hay một cuộc dạo chơi mà thôi. Sự hiểu biết mà văn học mang lại thông qua những kinh nghiệm hay thể nghiệm của các nhân vật. Sự khác biệt quan trọng nhất của truyện giải trí và truyện văn học là ở chỗ: truyện giải trí mang người đọc ra khỏi cuộc đời, mang anh ta ra khỏi những khổ đau thường nhật, khóc cười với các nhân vật trong một vài giờ và mơ những giấc mơ ban ngày, trong khi truyện văn học đem người đọc trở lại với cuộc đời, chiếu lên những hy vọng và khổ đau của anh ta một ánh sáng mới. Người đọc tình nguyện đối diện với những vấn đề hiện thực, với hiểu biết mới: anh ta mong ước điều cao cả, mong ước tự thay đổi mình và thay đổi thế giới bên ngoài. Chính sự hiểu biết ấy, và mong ước thay đổi ấy, lại làm cho sự vui thú tăng lên.

Những phân biệt trên đây chưa chắc được áp dụng dễ dàng cho một số dòng văn chương. Truyện kiếm hiệp Kim Dung chẳng hạn. Mặc dù có một xu hướng di chuyển từ Hồ Biểu Chánh đến Hồ Hữu Tường đến Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ, ranh giới giữa truyện giải trí và truyện văn học không rõ ràng. Theo tôi có thể giải thích rằng người Việt ở miền Nam không có tính nghiêm nghị, dao to búa lớn, khó đăm đăm. Trên con đường di dân từ Bắc vào Nam, tổ tiên chúng ta có lẽ do phải đối phó với quá nhiều gian khổ trong quá trình khai hoang mở nước, rừng thiêng nước độc, riết rồi người ta lột bỏ gần hết những lớp vỏ ngoài, ném đi những áo mão cần thiết trong một xã hội đã định hình và chuẩn hóa cao độ như ở miền Bắc, và con người sống gần với thiên nhiên hơn, hồn hậu, không tin vào ba cái chuyện nghiêm trang vặt vãnh trên đời. Văn chương Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển, Lê Xuyên thể hiện rõ nhất tính chất vừa văn học vừa giải trí khơi khơi, nhưng đọc rồi thì không quên được. Tôi nhớ những đoạn văn rất hay của Bình Nguyên Lộc trong Mưa Thu Nhớ Tằm, hay hồi hộp đọc Chú Tư Cầu của Lê Xuyên trên nhật báo mỗi ngày.

Thằng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng Chài ngay. Là vì đầu cò chởm chở những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng.(3)

Lối đối thoại của các nhân vật trong truyện của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, hay Hồ Trường An, Kiệt Tấn sau này, thật là linh hoạt, phóng khoáng, chộn rộn, vui vẻ.

"Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa, tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không có biết món ngọt là gì. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo vì đất còn mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tôi được ăn ngọt đây. Úi chà! Trưa rồi, chắc tới bữa cơm, thôi tui về nha, anh, chị?"(4)

Điểm thu hút trung tâm là các nhân vật tiểu thuyết. So với truyền thống cổ điển như trường hợp Tự Lực Văn Đoàn, trong đó cốt truyện có thể xem là quan trọng bậc nhất, hoặc quan trọng ngang với nhân vật, thì văn chương mới hình như chỉ xem cốt truyện là cái cớ. Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, người ta muốn biết số phận của chị Dậu sẽ ra sao. Đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh, người ta hồi hộp xem cô Loan có được trắng án không, Loan và Dũng có gặp lại nhau không? Nhưng đến Xóm cầu mới thì Nhất Linh không gây cho ta cảm giác đó nữa, ông cố tình nhẩn nha kể chuyện, ngày này qua ngày khác, gió cứ thổi, nước lụt cứ dâng lên mấp mé bên thềm nhà. Mặc, tôi chỉ muốn biết cô Mùi có cảm giác ra sao khi nằm ngủ trên chiếc giường của Siêu ở ngoài hiên tối, đắp tấm chăn mỏng, dưới trời mưa thưa, bên ngọn lửa nấu cháo khuya của hai người hãy còn liu riu đỏ? Người đọc của Nguyễn Đình Toàn, Nhã Ca, Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Viên Linh, Hoàng Ngọc Tuấn, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Lê Tất Điều, Lệ Hằng không để ý lắm đến việc các nhân vật nam và nữ sau khi quen nhau thì sẽ làm gì, cuối cùng họ có lấy nhau không vân vân... mà chỉ quan tâm đến tâm trạng của nhân vật tức là diễn tiến bên trong của đời sống cá nhân. Có một điều quan trọng là chiến tranh càng khốc liệt, chết chóc ngày càng nhiều, đau khổ dân tộc ngày càng lớn, thì các nhà văn miền Nam ngày càng đi sâu vào thế giới nội tâm, như thể chỉ quan tâm đến chính họ. Các nhân vật đâm ra lãnh đạm với thời cuộc, có vẻ như không yêu người mà cũng chẳng yêu mình, chẳng tin tưởng vào điều gì, chẳng tha thiết đến điều gì. Có người cho rằng đó là ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh và một phần của tiểu thuyết mới. Có người lên án rằng các nhà văn thời kỳ này có khuynh hướng quay lưng lại với số phận dân tộc, chui vào cái tháp ngà, ích kỷ, thoái hóa. Tôi cho rằng khuynh hướng tự truyện làm cho người đọc thường có cảm giác nhân vật và tác giả là một. Tôi cũng cho rằng các nhà văn miền Nam thời ấy sống thật với bản thân mình và đời sống xung quanh, mặc dù không phải là không có hiện tượng làm dáng, phấn son lòe loẹt trong văn chương hay thể hiện các tư tưởng triết học một cách hời hợt thời thượng, không phải là không có một khuynh hướng suy đồi. Chẳng qua đó là hiện tượng thường gặp trên đường tìm kiếm tiếng nói của riêng mình, của thời đại mình. Francoise Sagan sinh năm 1935. Cuốn Bonjour Tristesse được viết 1954. Dương Nghiễm Mậu sinh năm 1936, Túy Hồng sinh năm 1937, Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh năm 1937... vậy thời đó họ là những thanh niên cùng lứa tuổi. Khi không thể lý giải được cuộc xung đột, khi thấy mình bất lực trước lịch sử, khi nhà văn bất mãn với xã hội mà mình đang sống, nhưng anh ta cũng không có cách nào vượt ra khỏi xã hội đó, thì anh ta trở nên lãnh đạm, bất cần, xa lánh các thứ lý tưởng vốn đã phản bội niềm tin của mình, nổi loạn, phá phách, chống lại xã hội về tư tưởng và chống lại chính tâm hồn mình.



(còn tiếp)

UserPostedImage
Hạ Vi  
#231 Posted : Sunday, June 19, 2011 4:17:31 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


(tiếp theo)


Những kỷ niệm của tôi về Văn Học miền Nam



Như thế, đó là một khía cạnh của quá trình đi xuống, một tâm trạng chán nản, bi quan, bất lực, nhưng mặt khác nó cũng bộc lộ sự phản kháng của người viết, tiếng kêu của lương tâm và ý thức, sự phản ánh các xung đột trên các bậc thang giá trị. Tôi nghĩ điều này cũng có tính lập lại đối với thanh niên và trí thức Việt Nam.


UserPostedImage



Đối với người viết truyện ngắn và tiểu thuyết, giới thiệu nhân vật là việc quan trọng. Các truyện cổ điển mô tả nhân vật bằng các hình thức bên ngoài như vẻ mặt, dáng đi, quần áo, và tiểu sử, thân thế, hoàn cảnh. Các truyện mới hơn nhấn mạnh đến cốt cách, hành động, hành vi của nhân vật. Các truyện mới hơn nữa thậm chí bỏ qua cả những hành động bên ngoài, đọc họ thì biết là họ ăn nhưng không biết ăn gì, biết họ làm tình nhưng không biết làm tình như thế nào, biết một nhân vật chết nhưng không biết người ấy chết ra sao. Như thế, tiểu thuyết ngày càng đi sâu vào nội tâm hay ngày càng đi xa ra khỏi đời sống? Thành công hay thất bại?

Mặc dù phong trào giải phóng phụ nữ và chủ nghĩa nữ quyền có vẻ không phát triển ồn ào vào thời ấy, sự xuất hiện đồng loạt các cây bút nữ như Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng, Trần Thị Ngh. khoảng từ giữa những năm 1960 có một ý nghĩa đặc biệt. Tác phẩm của các nhà văn này vừa là tiếng nói phản ứng với những hoàn cảnh cá nhân, vừa là sự lên tiếng về các vấn đề xã hội và chiến tranh. Với tài năng tinh tế, bằng ngôn ngữ giàu có riêng của phụ nữ, họ cực tả trong những trang tiểu thuyết nóng hổi các khúc quanh tâm lý của cá nhân trong thời binh lửa. Chiến tranh là sự mất mát lớn nhất: người mẹ mất con, người vợ mất chồng tìm thấy khuôn mặt của họ dưới ngòi bút của các nhà văn nữ.

Những người vừa kể thuộc một thế hệ xuất hiện trễ hơn những nhà văn như Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan lớp trước, có thể gọi là thế hệ thứ hai, mang tâm trạng bất an của thời đại chiến tranh rõ rệt.
Năm đọa đầy những đêm giới nghiêm

Năm đằng đẵng những ngày tuyệt thực
Năm máu chảy và năm ruột mềm
Năm bom đạn và năm bão lụt
(Trần Dạ Từ)(5)


Dương Nghiễm Mậu đã từng làm tôi mê mẩn với truyện “Từ Hải Và Cuộc Phiêu Lưu Của Đời Chàng” đăng hai kỳ trên nguyệt san Văn. Tôi thuộc một phần Truyện Kiều, nhờ giọng ngâm rất hay của ba tôi, trước khi được học chính thức trong nhà trường, năm lớp chín. Nhưng trước Dương Nghiễm Mậu không ai chỉ cho tôi biết rằng Từ Hải chưa bao giờ chết cả, rằng bi kịch Từ Hải có thể được viết lại, rằng giấc mơ hồi hương của Thúy Kiều là giấc mơ đời này qua đời khác, và câu thơ ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng có thể có ý nghĩa hình ảnh như thế nào.

Sau đó tìm đọc thêm tác giả này, tôi lại nhận ra nỗi bi phẫn đen tối, cùng đường bế tắc:
Những ngày tháng thốt vây lấy tôi trong trống không vô nghĩa. Tôi lang thang ở ngoài đường nhiều hơn thời gian ở trong nhà, sách vở không còn làm tôi say mê, tôi không có vui chơi để khuây khỏa, tất cả mọi điều thành dửng dưng buồn tẻ... Một ngày xuống Trương, chúng tôi đi ăn thịt chó, tôi uống rượu say, sức rượu của tôi không bao nhiêu, trong đêm khi trở về nhà tôi thấy tay chân tôi biến mất, trước mắt thì vô vàn những ánh sao đủ màu nhảy múa, thân thể tôi có lúc bay nhảy trong khoảng không.(6)

Đó là sự cùng đường của đời sống cá nhân hay sự cùng đường của xã hội miền Nam đứng trên bờ vực thẳm? Đọc Dương Nghiễm Mậu, cũng như đọc Duyên Anh,Viên Linh, Túy Hồng, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thụy Long, tôi có phần bâng khuâng giữa khuynh hướng lý tưởng và khuynh hướng đen tối. Cho đến khi bắt gặp một đoạn văn trong Đêm tóc rối, đăng từng kỳ trên báo Văn mà tôi còn nhớ mãi những chi tiết chính.
- Vậy cậu biết con vợ tôi nó mèo mỡ với ai không?...
- Tao tha chết cho, tao giao con đ..rạc lại cho mày, về mà sống với nhau. Mai tao đi rồi...(7)

Tôi chưa từng đọc một truyện nào như thế cả: một nhân vật xưng tôi tự mổ xẻ chính mình như người võ sĩ Nhật tự cầm dao mổ bụng, một nhân vật tôi vừa đáng khinh bỉ vừa đáng thương hại, vừa đáng cảm thông vừa đáng phàn nàn, ngủ với vợ của người quen, một kẻ trí thức sa đọa tự ý thức về sự sa đọa của mình. Một ý thức sáng chói, rướm máu của trí thức Việt Nam. Thời đó đối với tôi, những nhà văn như Dương Nghiễm Mậu là những kẻ dũng cảm, tấm gương của người trẻ tuổi, bất an, nhầm lẫn, nhưng từ bên trong là trong sạch, mặc dù những điều ông viết ra thường buồn bã, tối tăm, đáng ghét, đáng căm phẫn.

Tôi cho rằng những ai muốn hiểu lịch sử tinh thần của miền Nam, sự cùng khổ của nó, giữa các cuộc đảo chánh và các tin tức chiến sự, sự khốn cùng của trí thức như một khuôn mẫu có tính phổ biến cho sự khốn cùng của trí thức Việt Nam, không thể không đọc các tác giả như Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Xuân Hoàng, Phan Nhật Nam, cũng như trước đó đã đọc Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn. Đó là một nền văn học của nạn nhân. Tôi gọi văn học miền Nam là một nền văn học nạn nhân, vì ở đó tôi tìm thấy những cuộc đời không làm chủ được số phận mình, tiểu sử của những người tài hoa, trung thực, đầy lòng hi sinh và đã từng hi sinh cho đất nước, trở thành những kẻ thất bại, bỗng nhiên thấy mình là kẻ có lỗi trước lịch sử. Tôi gọi đó là nền văn học nạn nhân vì bản chất trí thức của cuộc chiến đấu của họ, trong đó, những nhân vật văn học bị đẩy tới cuộc chiến đấu không ngang sức và sự chiến thắng của ngòi bút với lưỡi gươm là huyền thoại.

Cũng nên nói thêm rằng, xa lạ với tính chất trong sáng, cô đọng, thường có ở các nhà văn lớp trước, một số nhà văn sau này lại viết câu dài, rậm rạp, phức hợp, ví dụ trường hợp Nguyễn Thị Hoàng. Cuốn Vòng Tay Học Trò của bà được viết bằng một nghệ thuật thành công, mặc dù sự nổi tiếng của nó thời ấy có thể do những yếu tố ngoài nghệ thuật và mặc dù trong các câu văn đầy rẫy các tĩnh từ và trạng từ, những cái bẫy nguy hiểm. Sở dĩ truyện thành công được như thế là vì câu văn Nguyễn Thị Hoàng thể hiện trung thành lề lối cảm xúc và suy tư của người viết, của nhân vật, rậm rạp dài dòng, nhưng không rối.

Ngược lại với trường hợp Doãn Quốc Sỹ, Mặc Đỗ, Võ Hồng... tôi đọc Võ Phiến rất trễ, đầu năm 1975, ở nhà người anh rể của tôi, một sĩ quan Đà Lạt vừa bị thương ở mặt trận về, thời kỳ hoang mang nhất. Tủ sách của anh có Mưa Đêm Cuối Năm, Chữ Tình, Đêm Xuân Trăng Sáng, Thương Hoài Ngàn Năm...Thời ấy có lẽ Võ Phiến không có nhiều độc giả, nên tôi ngạc nhiên là anh tôi đọc sách của nhà văn này nhiều đến thế. Sách của ông không dành cho trẻ con, thời nhỏ hơn tôi chưa đọc ông, nếu đọc chắc đã sớm bạc đầu.

Không phải vì Võ Phiến viết văn trịnh trọng, nghiêm nghị, khó khăn. Ngược lại mới đúng. Ông viết khơi khơi, nhẹ nhõm, dễ dàng, vừa kể chuyện vừa tủm tỉm cười, tưởng như đang giữa chừng câu chuyện ông bỗng vỗ đùi đánh đét. Người mê viết văn đọc ông sẽ mê như điếu đổ, nhưng bắt chước không được. Khác vì cái tạng. Văn Mai Thảo hay Nguyễn Khải thì người ta có thể “bắt chước” được. Nếu nhiều người viết làm mới ồn ào, người thì đảo câu đảo chữ trong tiểu thuyết, người thì siêu thực trong thơ, Võ Phiến lại lặng lẽ một mình đi suốt con đường của ông bắt đầu từ Chữ Tình (1956) đến Chúng ta, qua cách viết (1973). Nếu Mai Thảo là người khai phá dòng tiểu thuyết tự truyện thì Võ Phiến là người mở đường cho cái mà ta có thể gọi là phi tiểu thuyết (non fiction), gồm tùy bút, tạp bút, tiểu luận, truyện ngắn, tạp luận của ông.

Đặc điểm của tiểu thuyết là kể chuyện, đặc điểm của thơ là liên tưởng, đặc điểm của tùy bút và phi tiểu thuyết là phát hiện. Văn chương Võ Phiến là văn chương phát hiện. Đó là nói về nghệ thuật, còn về nội dung và đề tài? Ông viết rất nhiều đề tài nhưng tôi cho rằng xuyên suốt các tác phẩm nung nấu một tâm sự về đất nước và chiến tranh, cái ưu thời mẫn thế, nỗi tiếc thương bàng hoàng.

Ờ! Chiếc phản lực cơ tối tân ấy của Hoa Kỳ, nó đã gầm thét dữ dằn, rồi nó đã rơi xuống chỗ nào vậy? Nó rơi xuống cái bờ ao, nơi chị vợ bé của anh Bốn Thôi đêm khuya về chợ gặp người câu ếch nham nhở đó chăng? Xuống cái bìa rừng nơi Năm Cán Vá vẫn lén lút hẹn hò đó chăng? Xuống gốc cây mù u, nơi chị Bốn Chìa Vôi đã bắt trọn ổ bốn con sáo sậu năm nào đó chăng? Nó rơi xuống chỗ cây bồ kết sau nhà Bái Công, nơi chiều chiều ông lão gầy đét như que canh giữ ngọn lửa chập chờn nấu nồi cháo nuôi mấy con heo đó chăng? Ai mà nghĩ được rằng những chỗ như thế lại có dịp đón một chiếc phản lực đến từ nước Hoa Kỳ!(8)

Mỗi khi nghĩ về nạn binh đao, về nỗi mất mát của gia đình mình, của quê cũ thân yêu, bao giờ tôi cũng nhớ những đoạn văn Võ Phiến. Nghĩ đến chúng, tôi thấy lòng bình tĩnh lại, bớt đau khổ, bớt giận dữ, ấm lại, như đứng trước một người tri âm. Tôi nghĩ, văn học là sự an ủi.

Trời! Én nó thức làm gì mà đêm hôm khuya khoắt, và gió mưa dầm dề nó vẫn không ngừng kêu, mà tiếng chim luôn luôn lẽo đẽo quanh quẩn bên mối ưu tư của khách vậy? Mà nó thành ra một thứ bạn tâm tình cố thiết không rời nhau suốt năm canh dằng dặc của những khách lữ thứ bồn chồn thấp thỏm vậy? Việc kiếm sống của nó khó khăn đến thế sao? Một tinh thần nại khổ như vậy đáng được tưởng thưởng, ít ra bằng cái chất nhựa trầm hương thơm tho hiếm hoi của ông giáo sĩ Đắc Lộ mới được.(9)


UserPostedImage



Trong các tác phẩm cổ điển, câu chuyện được mô tả theo một chiều của thời gian. Thật ra, nhiều tác giả cũng sử dụng phong cách hồi tưởng thường gặp trong các trường ca Hy Lạp, nghĩa là bắt đầu câu chuyện ở giữa, đi ngược về quá khứ, đi xuôi về tương lai, nhưng nhìn chung mũi tên thời gian vẫn chỉ một chiều. Chúng ta thấy một sự thay đổi rất lớn trên hệ quy chiếu trong tiểu thuyết miền Nam, nhất là ở thế hệ những người viết sau này. Có một ảnh hưởng lớn từ văn học Pháp. Các nhà văn miền Nam thời đó hầu hết đều đọc được tiếng Pháp, hoặc tiếng Anh, một số thuộc thế hệ trước còn tắm mình trong nền văn hóa châu Âu, mặt khác nhiều tác phẩm của André Gide, André Maurois, Jean-Paul Sartre, Albert Camus ... được dịch ra tiếng Việt. Sự đảo lộn thời gian không phải là một phong trào thời thượng mà là một phương pháp nghệ thuật. Nhờ thủ pháp dịch chuyển thời gian, người đọc tiếp cận nhân vật từ các góc độ khác nhau, các sự kiện xảy ra không theo kiểu hàng lớp như xếp cá vào hộp, mà chúng tương tác với nhau trong quan hệ nhân quả. Kỹ thuật này được sử dụng trong các tác giả tiểu thuyết dòng ý thức và các tác giả phi tiểu thuyết như Võ Phiến. Nếu được sử dụng hiệu quả, chúng cũng gây ra hiệu ứng phim ảnh.


Nói về ảnh hưởng, tôi cho rằng văn học miền Nam chịu ảnh hưởng của bảy thứ sau đây: văn học tiền chiến, chủ nghĩa hiện sinh, phong trào tiểu thuyết mới, chủ nghĩa siêu thực, phân tâm học, thiền và triết học Đông phương. Các khuynh hướng ấy có khi bộc lộ rõ ràng, có khi kín đáo, các tác giả có khi ý thức, có khi không ý thức về chúng. Nhiều người xem ảnh hưởng của văn học tiền chiến lãng mạn như Thơ Mới hay Tự Lực Văn Đoàn lên các thế hệ sau là quá trình tự nhiên. Nhưng thật ra ở ngoài Bắc trong cùng thời gian đó, các tác phẩm này không được lưu hành trong xã hội và không được giảng dạy trong nhà trường, vì vậy khó có thể nói là hầu hết các nhà văn miền Bắc sau này, mà người ta gọi là thế hệ chống Mỹ, đã chịu tác động mạnh mẽ của chúng. Những tác giả này chịu ảnh hưởng của dòng văn học cách mạng và kháng chiến, như tôi có đề cập ở trên. Xin nêu một ví dụ. Về hình thức thơ ca, miền Bắc sử dụng rất nhiều và rất tài hoa thể thơ tự do, trong khi cùng thời gian, bất chấp những thành tựu lớn, và trừ một vài ngoại lệ, miền Nam chủ yếu vẫn đứng lại ở các thể thơ truyền thống. Điều này cần được xem xét dưới góc độ tác động của các nền thơ đi trước nó. Miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ văn lãng mạn tiền chiến, đặc biệt là Thơ mới, trong khi miền Bắc chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ văn kháng chiến chống Pháp và dòng văn học cách mạng. Sự giới thiệu và phát triển của các khuynh hướng vừa nói trên đều do công lao to lớn của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, hay dịch giả, ví dụ Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Văn Trung, Tam Ích, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Nhất Hạnh, Kim Định, Trần Văn Toàn, Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Lê Tuyên, Đỗ Long Vân, Nguyễn Tấn Long, Lê Huy Oanh, Đặng Tiến, Cao Huy Khanh, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Hữu Ủy, Trần Thiện Đạo, Huỳnh Phan Anh và nhiều người khác. Đặc biệt những cuốn như Thơ Đường của Trần Trọng Kim, Đại Cương Văn Học Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, Thiền Luận của Suzuki, Tuệ Sỹ và Trúc Thiên dịch, Nhận Định của Nguyễn Văn Trung, Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Và Triết Học của Phạm Công Thiện... thời ấy đã ảnh hưởng đến một đứa học sinh trung học là tôi rất nhiều. Báo chí văn học cũng đóng vai trò lớn trong việc phổ biến các tác phẩm mới và các trường phái, quan điểm nghệ thuật. Những tập san tôi đã đọc, hoặc mới, hoặc cũ của các ông anh họ tôi để lại, mà đến nay tôi còn nhớ: Văn Hóa Ngày Nay, Văn, Sáng Tạo, Phổ Thông, Bách Khoa, Giữ Thơm Quê Mẹ, Hương Quê, Văn Học, Khởi Hành, Đối Diện, Trình Bày, Thái Độ, Thời Tập, Tư Tưởng, Tuổi Ngọc. Và những tờ báo của địa phương như Lập Trường ở Huế. Còn gì nữa không? Chắc là còn, nhưng tôi không thể nào nhớ hết. Văn, Bách Khoa, Văn Học, Khởi Hành, Tuổi Ngọc là những món ăn tinh thần hàng ngày. Tôi biết đến những bài thơ thời kỳ kháng chiến nhờ tạp chí Văn Học: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Trời ơi, mười bốn tuổi, nhờ đọc Quang Dũng mà tôi yêu cuộc kháng chiến trường kỳ biết bao, yêu Hà Nội biết bao. Tôi nhớ dễ dàng thơ Phùng Quán trích trong một truyện dài đăng báo của Trùng Dương.

Sét đánh trên đầu không xô tôi ngã
Tôi thần tượng André Maurois, Thomas Mann, Albert Camus, Lâm Ngữ Đường trên Văn, mến Cao Huy Khanh bay bổng trên Khởi Hành, thích Những Luống Hoa Cải Vàng của Cung Tích Biền trên Đời, khoái tiểu luận văn học của Đặng Tiến trên Văn, yêu tình tự dân tộc của Nhất Hạnh nhờ Giữ Thơm Quê Mẹ, mê thơ Xuân Diệu nhờ đọc Duyên Anh của Tuổi Ngọc, bàng hoàng với Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng đi dọc tờ Văn trang nhã từ tháng giêng đến tháng chạp mỗi số một bài. Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng...(10)

Vũ Bằng đã làm cho bao nhiêu thanh niên phải thầm thương trộm nhớ miền Bắc, như một người phụ nữ dịu dàng không quen biết, người chị, người mẹ, người yêu, những món ăn chỉ nghe tên mà không biết là món gì, ngọn đèn dầu, hoa xoan, mưa bụi liêu riêu mà chẳng bao giờ thấy chúng ra sao. Như vậy có một khuynh hướng văn chương hoài niệm tiêu biểu là Vũ Bằng trong văn học miền Nam, và những người khác nữa như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Võ Hồng. Khuynh hướng này tiếp tục được nuôi giữ sau này trong văn học hải ngoại. Cũng phải thôi. Xa quê, dù là từ Bắc vào Nam hay từ bên này qua bên kia biển Đông, người ta cũng thương nhớ khôn nguôi.

Nguyễn Đình Toàn viết trong Áo Mơ Phai (1972, Giải thưởng văn học nghệ thuật của Tổng thống 1973):
Hà Nội 1954, tháng sáu chưa hết, nhưng mùa Thu đã đầy hơi lạnh. Buổi chiều im trong văn phòng bước ra tới cửa Tòa Đô Chánh, Quang đã có thể trông thấy sương mù trên mặt hồ Gươm.(11)

Tuy nhiên, hoài niệm không phải là dòng chủ lưu. Tôi nhận thấy một số tác giả trước đây viết về văn học miền Nam hoặc hiện nay viết về văn học hải ngoại nhấn mạnh có phần quá đáng đến tính chất hoài hương, thậm chí cho đó là nội dung duy nhất đáng được khen ngợi hoặc nhắc tới. Cuộc sống bao giờ cũng mới, mỗi ngày, nên ngoài những tình cảm hoài niệm, vốn hết sức đáng trân trọng, người xa quê hương, xa nước, kẻ lưu vong, kẻ di dân, người xuất khẩu lao động, còn biết bao tình cảm và suy tư khác trong cuộc sống mới, dằn vặt, sâu sắc, phong phú, bâng khuâng. Và chưa chắc đã vui ít buồn nhiều.

Như Vũ Bằng, nhớ mà không chịu về, không chịu về mà vẫn nhớ, là tại sao?
Tôi vào Sài Gòn lúc đầu
Thật là bỡ ngỡ mối sầu Thừa Thiên
Rồi sau đó thật tuy nhiên
Quen vui với chị thuộc phiền với em.
(Bùi Giáng)



UserPostedImage


Thật ra, thơ đến với tôi chậm hơn. Mùa hè cuối năm lớp tám tôi mới biết mê thơ. Hết niên khóa, thi cử xong, chuẩn bị viết lưu bút ngày xanh, mỗi năm đến hè lòng mang mác buồn, chín mươi ngày qua ...thì giáo sư dạy văn của tôi, thầy Hồ Thế Vĩnh, nổi hứng mang vào lớp một máy ghi âm cát-sét mở cho cả lớp nghe nhiều giờ đồng hồ những bài thơ của Đinh Hùng, giọng ngâm Hồ Điệp, tiếng sáo Tô Kiều Ngân. Các nhóc tì lặng im thổn thức. Thơ Đinh Hùng không có trong chương trình học, và hồi đó máy quay đĩa hay băng cát-sét hãy còn hiếm lắm, nhất là ở những thị trấn nghèo như quê tôi.


(còn tiếp)


UserPostedImage
Hạ Vi  
#232 Posted : Monday, June 20, 2011 3:48:42 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


(tiếp theo)


Những kỷ niệm của tôi về Văn Học miền Nam


UserPostedImage



Cùng lúc, Hoàng Cầm và Trần Dần ở miền Bắc, có khuynh hướng tượng trưng, vẫn đang viết nhưng dĩ nhiên không mấy ai có dịp đọc. Sau năm 1940, chủ nghĩa tượng trưng ở nước ta mới khởi đầu thì phôi pha vì ngọn lửa chiến tranh. Đinh Hùng là một trường hợp khác, ông vẫn còn tiếp tục sáng tác ở miền Nam sau khi hòa bình lập lại. Đối với tôi, thơ ông vừa xa lạ vừa gần gũi, kêu gọi con người trở về với thiên nhiên nguyên thuỷ.

Khi miếu đường kia phá bỏ rồi
Ta đi về những hướng sao rơi


Ám ảnh về cái chết, cõi âm, nhưng ông yêu sự sống. Không yêu cuộc đời, không thể yêu những người đã qua, đã mất, đã chết. Tài năng ngôn ngữ của Đinh Hùng làm cho các thế giới gần lại với nhau, người ở cùng ma, quỷ ở với người, nhưng ma quỷ của ông hiền lành, có cảm xúc và suy nghĩ, đầy rẫy một sự sống khác. Một thứ vật chất tối (dark matter).

Đinh Hùng thường làm thơ lục bát và bảy chữ. Một số bài thơ bảy chữ hay nhất của ông có âm điệu lạ(12):

Đọc thử Xuân Diệu:
Mau với chứ / vội vàng lên với chứ

Trong khi Đinh Hùng viết:

Nước cũ rưng rưng / màu ngọc trắng,
Mây ngày xưa tỏ, / nguyệt xưa trong.

Hay:

Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu


So sánh với các nhà thơ tượng trưng khác: Hàn Mặc Tử táo bạo, cuồng điên, sáng tạo vô thức, Chế Lan Viên nổi loạn, kinh dị, Bích Khê huyền hoặc, cực kì phân huỷ, thì ở Đinh Hùng, ý thức phương Đông, ý thức trở về rất rõ rệt.

Làm đôi người cô độc thuở sơ khai
Nàng bâng khuâng đốt lửa những đêm dài




UserPostedImage



Đinh Hùng là người mở cánh cửa cuối cùng của Thơ Mới, giai đoạn phát triển sau và phần nào chuẩn bị không khí cho chủ nghĩa siêu thực bắt đầu. Nhưng có khi ông cũng gần gũi với chúng tôi:

Ta ném bút, dẫm lên sầu một buổi,
Xa vở bài, mở rộng Sách Ham Mê.
Đã từng phen trèo cổng bỏ trường về,
Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn.
Đời đổi mới từ ngày ta dấy loạn,
Sớm như chiều hư thực bóng hoa hương.
Ta ra đi, tìm lớp học thiên đường,
Và khi đó mẹ yêu ngồi khóc...


Mặc dù thuộc lòng những câu thơ này, ngâm ư ử trong hành lang lớp học giờ ra chơi, tôi nhớ không đứa nào trong đám bạn tôi dám bỏ học như tác giả vì thầy dạy văn mang kính trắng, tuy mê Đinh Hùng nhưng sẵn sàng phạt nặng học sinh bắt chước thi sĩ! Tôi yêu Đinh Hùng hơn nữa khi đọc Bùi Giáng chất ngất trong Đi Vào Cõi Thơ:
....Nhưng thằng thi sỹ có tội lỗi gì đâu. Nó chỉ ghi lại một đường trăng tê dại, vẽ lại một màu tuyết lạnh ngát, một chùm bông ở trên núi chiêm bao đem về làm tặng vật cho con người được rồ dại chịu chơi giữa phù vân hoặc bụi hồng lông lốc. Mở ra những cuộc tình yêu rờn rợn vô thuỷ vô chung, o bế những cơn mơ tuyệt vọng, thì kể cũng hơn o bồng hôn hít mãi những con vợ già cục mịch cằn nhằn, Đêm tân hôn chỉ có một lần, buổi ly dị cũng chỉ ra toà một bận, uống rượu ly bì cũng tới lúc tỉnh ra, chém giết nhau mất công đào huyệt.(13)

Có hai cuốn sách dẫn tôi vào thơ ca, Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Đi Vào Cõi Thơ, hai tập, của Bùi Giáng. Cuốn thứ nhất phê bình, cuốn thứ hai không ra phê bình, không ra tiểu luận, chẳng biết xếp vào loại gì. Có khi tôi đọc vài trang rồi chán, bực mình nhét vào đáy tủ, có khi đọc miên man cả ngày. Nhưng hình như con nít lớn lên, ai không từng đọc Đi Vào Cõi Thơ coi bộ không xong.

Tôi nghiệm thấy trong đời có những người không cần làm gì cà mà sự hiện hữu của họ lại cần thiết. Một trong những người đó là Bùi Giáng. Ông là tâm hồn Đông Phương lớn lao, là ý thức Việt Nam vượt thoát phân ly và chiến tranh, là cội nguồn. Nhưng nói ông không làm gì cả thì oan: Bùi Giáng có sức làm việc kinh người, ai cũng biết, như được ghi lại trong các hồi ký bởi nhiều nhà văn. Thời chiến tranh chưa lan rộng, không khí thanh bình còn bao phủ một phần lớn thôn quê miền Nam, nghỉ hè, nằm trên cánh võng mắc giữa hai cành ổi la đà, tôi lai rai đọc ông.

Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Lùa chân mây về ở dưới chân trời


Ba chữ ‘về’, chữ ‘ở’, chữ ‘dưới’ đi bên nhau có vẻ thừa thãi. Tôi cố sửa thơ ông mà không sửa được. Thơ Bùi Giáng có nhiều câu như thế, thừa mà lại không thừa, nhẩn nha, líu ríu, nói nhiều mà không nói gì cả, câu này xiêu đổ vào câu kia. Ông khai phá một dòng thơ lạ lùng, dòng thơ ngôn ngữ đầu tiên ở Việt Nam, loại thơ không thể dịch được ra tiếng nước ngoài vì tính chất của nó là ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ sâu thẳm Việt tính.

Bí ẩn của Bùi Giáng cũng nằm ở giọng điệu. Biểu hiện dễ thấy của nó là lối xưng hô ít gặp, có tính tâm sự.

Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
Và yêu thương như lá ở bên hoa


Hay:

Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em.


Trong thơ Việt Nam, có hai người thường sử dụng lối xưng hô này. Một là Bùi Giáng ở trong Nam, hai là Tố Hữu ở ngoài Bắc.

Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
(Tố Hữu)


Nhưng giọng điệu không phải chỉ ở lối xưng hô, nó là một hiện tượng lớn hơn.

Giọng của Thơ Mới là buồn man mác, giọng của thơ ca cách mạng miền Bắc là hào hùng, thắm thiết, giọng của thơ tượng trưng là u sầu, mê hoặc. Bùi Giáng có chất giọng khác: giọng tâm tình, có nét thanh đạm. Giọng tâm tình của ông được giản lược xuống mức chất phác, pha hài hước, không phải tiếng cười mà mỉm cười.

Nhìn bề ngoài, Bùi Giáng không đóng góp nhiều trong việc cách tân ngôn ngữ, ông dùng hầu hết các thể thơ lục bát, bảy chữ, năm chữ. Tôi để ý những người có thói quen làm thơ nhẩm trong đầu như Bùi Giáng hay sau này Thanh Tâm Tuyền giai đoạn học tập cải tạo, do điều kiện lúc đó, có khuynh hướng làm thơ có vần hơn những người làm thơ trực tiếp trên giấy. Cũng dễ hiểu, vì đó là các thể thơ dễ nhớ. Cái mà Bùi Giáng mang lại cho thơ Việt Nam là không phải là sự cách tân các thể thơ, mà trước hết là phong cách ngôn ngữ (style) của ông, sự tiếp cận từ ngoại biên, sự đảo lộn tính đối xứng và các trật tự của giá trị thẩm mỹ, không phải bằng các bài nghiên cứu lý luận dịch thuật, mặc dù ông làm việc rất nhiều trong lĩnh vực này, mà bằng sự kết hợp tài tình trong thơ giữa một tâm hồn Á Đông nguyên thủy, lão thực và một trí tuệ triết học sáng láng thể hiện thành dòng chảy riêng biệt, bao gồm nhiều gỗ trầm hương và củi mục. Đọc thơ ông phải đọc cả những bài hay và những câu dở viết thừa ra trong những cơn hưng cảm ngất trời. Đọc ông là uống nước suối đầu nguồn, không phải là uống nước chưng cất. Ôi, bàn về Bùi Giáng biết bao giờ cho hết.

Trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh, hình như không có một bài thơ tự do nào. Thanh Tâm Tuyền là người khởi đầu dòng thơ tự do ở miền Nam. Cùng với nhóm Sáng Tạo, ông kêu gọi ý thức sáng tạo và nỗ lực đổi mới trong văn chương. Thực ra ở Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền không phải là người làm thơ tự do đầu tiên. Ông tiếp theo truyền thống thơ tự do của các nhà thơ kháng chiến, như Hữu Loan với Đèo Cả, Màu Tím Hoa Sim, Hoàng Cầm với Bên Kia Sông Đuống.


UserPostedImage


Chủ nghĩa hiện đại vẫn còn ảnh hưởng lớn ở châu Mỹ, chủ nghĩa hiện sinh về mặt triết học, và chủ nghĩa siêu thực trong văn chương, vẫn đang còn đà phát triển ở Pháp và châu Âu, vì vậy ảnh hưởng của chúng đối với Thanh Tâm Tuyền và các nhà thơ miền Nam là điều rõ ràng và dễ hiểu. Nhưng Thanh Tâm Tuyền mặc dù Tây học cũng cắm rất sâu nguồn cội thơ ông xuống mảnh đất Việt Nam. Chủ nghĩa siêu thực được thành lập bởi một nhóm các nhà thơ, nghệ sĩ ở Pháp những năm 1920, mà ảnh hưởng của nó vẫn tiếp tục, chống lại sự thuần lý, sử dụng các giấc mơ và tiềm thức như nguồn sáng tạo. Thơ họ có những hình ảnh huyền ảo, sự nối kết lỏng lẻo, gồm nhiều bước nhảy (leaps), khó cắt nghĩa và diễn dịch. Thơ siêu thực không chỉ chống lại khuynh hướng thẩm mĩ cổ điển, mà còn tìm cách giải phóng tinh thần khỏi các ràng buộc lý tính. Chủ nghĩa siêu thực như vậy xét về lịch sử và về lý thuyết là bắt nguồn từ chủ nghĩa tượng trưng. Đọc kĩ thơ Thanh Tâm Tuyền, ta sẽ thấy ông không phải hoàn toàn là nhà thơ siêu thực, và chỉ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa này mà thôi.

Tôi cũng chỉ được đọc tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc của ông nhưng thuở ấy còn nhỏ quá, chưa có ấn tượng rõ ràng. Sau này ông không làm thơ nữa mà viết tiểu thuyết và văn xuôi. Tôi đọc Bếp Lửa, và say mê Ung Thư đăng từng kì trên Văn viết về Hà Nội, một Hà Nội thời chiến tranh u uất, buồn rầu mà vẫn đẹp, say đắm lòng người. Tiểu thuyết của ông mới, nhưng thơ ông còn mới hơn. Nó lạ quá vào thời đó, nhiều người không chịu nổi. Thơ Thanh Tâm Tuyền là sự kết hợp của ba thứ: tài hoa ngôn ngữ, tinh thần triết học trong bối cảnh của chủ nghĩa hiện đại và chất suy tư chính trị xã hội. Ông kêu gọi:

Phải làm mới tình yêu
Coi chúng ta là những người thứ nhất
Trên trái đất này biết yêu nhau


Lời kêu gọi ấy tôi nghiệm ra bao giờ cũng đúng. Ông làm mới trước hết bằng cách tân ngôn ngữ. Thơ tự do Thanh Tâm Tuyền dùng nhiều chữ lạ, ít nhất là vào thời ấy: Mùa này gió biển thổi điên liên lục địa. Những hình ảnh và liên tưởng mới: Tiếng máy nổ bỗng thành tiếng cười dài

Thanh Tâm Tuyền chú ý rất nhiều đến âm nhạc trong thơ, gây hiệu quả nhạc tính mạnh:

Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát
sớm mai khua thức nhiều nhớ thương


Mặc dù ông sử dụng nhiều câu có tính văn xuôi:

Tôi bám chặt cửa xe
Xin một chân đứng
Nhớ đến chúng bạn
Một người bên xóm Cỏ
Một người ngoài Phú Thọ


Đọc lướt qua, như văn xuôi. Nhưng thật ra, tác giả sắp xếp chữ rất có ý thức, xâu chuỗi chúng vào nhau, ba chữ một đi liền trong một đoạn thơ ngắn gây cảm giác cô đơn lạc lõng, chữ xe đi với chữ xin, chữ đứng đi với chữ chúng, chữ Cỏ đi với chữ Thọ, tạo ra một thứ âm nhạc rất riêng. Thơ ông là thơ của thời chiến tranh, thất tán, mất niềm tin, con người bay đi mịt mù như chiếc lá.

NẾU cần tìm những điểm giống nhau giữa văn học miền Nam và văn học miền Bắc thời kỳ 1954-1975, vốn là hai nền văn học khác biệt vì những lý do lịch sử, tôi cho rằng có thể tìm thấy chúng trước hết ở tình cảm yêu quê hương và ở thơ tình. Thơ tình miền Nam khởi đầu từ Đinh Hùng, phát triển ở Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Tuệ Mai, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Phạm Thiên Thư, và nhiều người khác, kết thúc ở Nguyễn Tất Nhiên. Du Tử Lê là một trường hợp đặc biệt khác, vì sau này khi ở hải ngoại anh đã đi thêm rất xa con đường của mình khởi từ những năm sáu mươi, lúc anh viết:

Không bao giờ đâu Donna
Dù anh có yêu em
Hơn bất cứ thứ gì trên đất Mỹ
Thì anh cũng vẫn trở về
(Indiana, 1969)


Đó là những câu thơ có tính báo hiệu.



UserPostedImage



Nếu Đinh Hùng có thể xem là nhà thơ tình khởi đầu của miền Nam, thì Nguyên Sa là một trường hợp đặc biệt. Lớp chín, cuối trung học đệ nhất cấp, giáo sư dạy văn của tôi, thầy Đỗ Tư Nhơn về từ Đà Lạt, vừa giảng Truyện Kiều vừa giới thiệu nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn và những bài thơ tình Nguyên Sa cho chúng tôi. Là người của nhóm Sáng Tạo, mang tinh thần đổi mới, vượt qua văn chương tiền chiến, Nguyên Sa ý thức rất rõ về khung cảnh của một xã hội đang đối diện với chiến tranh và sự tan rã của các giá trị. Trong những bài lý luận và tùy bút về văn học, ông chia sẻ quan điểm của Sáng Tạo, ít nhất là thời kì khởi đầu, nhưng khi sáng tác, chàng thi sĩ từ Paris mới về, hoàn toàn buông mình theo cảm hứng tự nhiên: ông làm thơ tình bằng các thể thơ cổ điển. Giữa miền Nam nắng ấm vút lên giọng thơ ngọt ngào trong trẻo:

Em ở đâu hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng


Rồi sau này Nguyên Sa sẽ trở lại với tâm trạng u buồn, bất an của thế hệ ông, thơ ngày càng tự do, phá thể, thơ ngày càng cay đắng, nhưng vào lúc này khi trò chuyện với người yêu, ông không nhìn ra cái chết và chiến tranh, ông không muốn nhìn nhận chúng, và vẫn trunh thành với những tâm hồn độc giả lãng mạn. Thơ ông được yêu mến là đúng. Nhưng sau ông, sẽ có những dòng thơ tình khác.

Tôi háo hức đọc những bức thư Paris của Minh Đức Hoài Trinh trên tờ Phổ Thông của Nguyễn Vỹ, người sau này có những câu thơ đẹp:

Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ


Ở miền Bắc những nhà thơ tình phái nữ nổi tiếng cùng thời như Lý Phương Liên, Xuân Quỳnh... làm thơ cũng buồn, nhưng man mác, không có giọng đau đớn, tuyệt vọng như Minh Đức Hoài Trinh.

Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu
(Lý Phương Liên)


Suốt hai mươi năm, thơ tình miền Nam có số phận long đong, lận đận. Chiến tranh càng lan rộng, xã hội càng băng rã, người làm thơ tình càng ít, nhưng khi họ cất tiếng thì đó là những tiếng nói lạ lùng, gây bất ngờ ở người đọc. Ngang tàng như Nguyễn Đức Sơn, dịu dàng như Phạm Thiên Thư.

Phạm Thiên Thư đưa tình yêu vào cõi thiền, hay nói như Thích Minh Châu, viện trưởng viện Đại học Vạn Hạnh, đã “cả gan thi hóa Kim Cương kinh”, trong một lời giới thiệu. Những thế hệ thanh niên học sinh ở miền Nam, và hình như sau này ở cả miền Bắc và trong cả nước, đã từng nức nở với Phạm Thiên Thư và Phạm Duy:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ


Qua tiếng hát Thái Thanh nhẹ như tơ trời, rền vang như mưa. Thơ ông dịu dàng mà cũng cay đắng, nhưng không phải lỗi ở ông, đó là lỗi ở cuộc đời. Đọc thơ Phạm Thiên Thư thấy tình yêu vẫn còn. Nhưng đến Nguyễn Tất Nhiên, nổi tiếng trong những ca khúc do Phạm Duy phổ thơ, thì tình yêu theo nghĩa thông thường hầu như biến mất, nó trở thành một thứ tình cảm có có không không, thứ tình yêu của một tuổi trẻ mất niềm tin ở cuộc đời, sắp lao vào lửa. Nỗi buồn của người lính miễn cưỡng đi vào chiến tranh, một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn.
Thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi

Ngôn ngữ của Phạm Thiên Thư và Nguyễn Tất Nhiên không mới mà lại mới, mới mà lại không mới. Nhưng rõ ràng nó khác cách nói của các nhà thơ cổ điển và các nhà thơ ngoài Bắc cùng thời.


Viết về chiến tranh, như những người lính, Nguyễn Bắc Sơn, Thế Uyên, Du Tử Lê, Y Uyên, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Vũ Hữu Định... và nhiều người khác đã ghi lại trong thơ họ một thời binh lửa. Chúng ta cùng đọc thử Tô Thùy Yên.

Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện
Mưa lâu trời mốc buồn hơi xưa
Con đường đáo nhậm xa như nhớ
Chiều mập mờ, xiêu lạc dáng cò
(Qua Sông)


Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ đứng ở cánh cửa cuối cùng của con đường thơ miền Nam, con đường khởi đi từ Vũ Hoàng Chương, mặc dù Tô Thùy Yên làm thơ từ sớm. Những bài thơ đầu để lộ ý thức làm mới ngôn ngữ, chúng được viết ở thể tự do; càng về sau ông càng làm thơ có vần nhiều hơn. Trong mảnh đất hẹp của thể thơ cổ điển, Tô Thùy Yên đã nâng nghệ thuật ngôn ngữ Việt lên đến mức tinh vi. Tôi chưa thấy một nhà thơ nào có cách dùng chữ đầy dụng công như ông.



UserPostedImage



Tôi nghĩ: một nhà thơ khi đứng trước những bi tráng lịch sử, những sự kiện khốc liệt, khi đối diện với nỗi xúc động bàng hoàng, thường trở về với thể thơ cổ điển, chọn lựa cách nói giản dị và thuận tiện, bỏ qua những bận tâm vốn có của anh ta về ngôn ngữ. Điều đó đúng với Tô Thùy Yên mà cũng đúng với nhiều nhà thơ khác.

Khoảng từ năm 1970, xuất hiện nhiều tác giả trẻ, một số mặc áo lính, trên các báo, nhất là ở các địa phương. Một số chưa có thời gian để in tác phẩm của mình. Tôi nhớ những tên tuổi như Y Uyên, Ngô Minh, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện...Bắt đầu thành một dòng chảy khác, mà người chinh phục tôi nhất là Phan Nhật Nam.

Nhắc đến văn chương viết về chiến tranh, không thể nào không nói đến Phan Nhật Nam. Từ sau Tết Mậu Thân 1968, miền Nam thực sự ra khỏi cơn huyễn mộng sâu, cơn mê đắm ảo tưởng hoà bình dằng dặc. Mặc dù bao gồm nhiều thể loại, nhiều đề tài, nhiều nội dung, văn học miền Nam chưa bao giờ cảm nhận được sức nóng của ngọn lửa chiến tranh trên trang viết trực tiếp đến như thế. Tôi bắt đầu đọc Phan Nhật Nam từ năm mười bốn tuổi, còn quá nhỏ để hiểu tường tận và nhớ đầy đủ chi tiết, nhưng ấn tượng ngời ngời của Dấu Binh Lửa, Dựa lưng nỗi chết, Dọc đường số Một...là không thể nào phai được. Đọc anh, tôi hiểu ra rằng chỉ vài năm nữa, nếu không có gì thay đổi, tôi sẽ là một trong những người lính mang ba lô, súng đạn trên vai lội qua sình lầy, rừng thẳm, muỗi mòng, lội qua bom đạn như bao nhiêu người lính vô danh khác, chứng kiến những xóm làng lửa cháy, mẹ con dắt díu nhau chạy loạn, đụng trận với những kẻ địch mà mình không hề căm thù, nhưng vẫn phải nổ súng vào họ. Tôi sẽ giết người hay tôi sẽ bị giết, hay là cả hai. Đọc Phan Nhật Nam là đọc bi kịch của chiến tranh, những cái chết oanh liệt, một hậu phương ích kỉ và tan rã, những suy nghĩ về đời sống dân sự, về những xung đột dân tộc mà người trí thức không thể không đối diện. Lạ lùng thay, đọc anh, tôi cảm yêu đất nước mình hơn cũng như khi tôi đọc Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Bằng, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nhật Tiến, Nhã Ca, Lê Tất Điều, Viên Linh, nhưng bằng một tình yêu cay đắng, tỉnh táo, khốc liệt, nghẹn ngào. Và giận dữ. Tôi từng có dịp được gặp, trong những giờ ngắn ngủi, Phan Nhật Nam, khi anh đến Canada và Hoàng Phủ Ngọc Tường, khi tôi về Việt Nam, ngồi trước các anh, hai nhà văn viết bút ký tài hoa nhất nước, cả hai đều cùng quê Quảng Trị với tôi, một chiến trường máu lửa, nơi thư hùng của các đại đơn vị Nam, Bắc, tôi nhận ra rằng bi kịch của cuộc chiến tranh sẽ còn đeo đẳng dân tộc chúng ta. Cho đến khi nào chúng ta chưa tìm được cách để trò chuyện với nó, giải thích nó. Muốn thế cần có thời gian, cần có sự tha thứ và can đảm. Rất nhiều tha thứ. Rất nhiều can đảm. Hai người đã chọn lựa hai con đường hoàn toàn khác nhau: họ chính là biểu tượng của chiến tranh vừa qua.

Tôi thiển nghĩ nghiên cứu văn học một giai đoạn không thể giới hạn vào một dòng văn học nhất định. Văn học thời kỳ 1945-1954, mặc dù kháng chiến là nội dung chủ đạo, vẫn còn những tác phẩm ở thành thị. Nhiều tác phẩm trong thời kì này, như tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, không có nội dung kháng chiến. Tương tự như thế sau 1954 không phải chỉ có văn học miền Bắc mà còn có văn học miền Nam, và ngược lại, không phải chỉ có văn học miền Nam mà còn có văn học miền Bắc. Về một phía, dòng văn học miền Nam bị gọi là “văn học Mỹ Ngụy”, “văn học Sài Gòn”, “văn học đô thị” hay “văn học vùng tạm chiếm”. Những cách gọi như thế phản ảnh những thái độ phiến diện nhất thời, sẽ không đóng góp gì nhiều đối với việc nghiên cứu văn học sử và phát triển một nền lý luận văn học của cả nước. Đối lập với các từ văn học vùng tạm chiếm, văn học Mỹ Ngụy, là những từ như “văn học tuyên truyền”, “tác phẩm của các văn nô miền Bắc”. Chúng cũng có những tính chất phiến diện nhất thời như vừa nói. Quá trình hình thành văn học Việt Nam trong nửa cuối thế kỉ hai mươi là tập hợp của các dòng văn học, nhưng đó không phải là một số cộng đơn thuần. Sự tồn tại song song của nhiều hơn một dòng văn học không phải là một hiện tượng mới lạ trên thế giới hay ở nước ta. Trong lịch sử đã có những dòng văn học riêng rẽ vừa đối kháng vừa bổ sung. Như văn học Đông Đức và Tây Đức thời chiến tranh lạnh, văn học của các tác giả Xô viết như Evtuchenko và các tác giả phi Xô viết như Brodsky. Trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, có những tác giả phía Bắc và những tác giả phía Nam, nhưng ngày nay chúng ta không còn tìm cách phân biệt họ trên các quan điểm chính trị, trừ khi nhằm mục đích nghiên cứu cụ thể. Tôi tin rằng chỉ vài thế hệ nữa thôi, con cháu chúng ta cũng sẽ nhìn cuộc chiến tranh vừa qua như vậy. Nếu văn học miền Bắc là một nền văn học cách mạng, văn học xã hội chủ nghĩa, phục vụ thiết thực cho những đường lối của Đảng, “trước hết đó là văn học phục vụ chính trị”, “ghi chép những thành tích, những chiến công”, như cách nói của Lê Ngọc Trà(14), thì nó vẫn có khả năng, trong những tác phẩm văn học đích thực, thể hiện đúng tâm hồn của người Việt Nam, hay ít nhất là một bộ phận của nó, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là tình cảm yêu nước, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.

Đối với người đọc tinh tường, không bị chi phối bởi các định kiến cá nhân, các tác phẩm quan trọng của dòng văn học này, các tiểu thuyết, các bài thơ, các ca khúc đã thành công trong việc kêu gọi xây dựng một xã hội tốt đẹp, giải phóng dân tộc, gạt bỏ bi lụy cá nhân, tình cảm hi sinh cho chiến trường. Mặc dù cuộc chiến tranh đã để lại biết bao hậu quả đau buồn và các giá trị cổ điển của chủ nghĩa xã hội đã bị thách thức nặng nề hoặc bị phủ nhận, tôi vẫn tin rằng trong các tác phẩm miền Bắc thời kì ấy vẫn còn chiếu sáng một niềm tin trong sáng, cao cả, chân thành, có tính dân tộc, đã từng dẫn dắt hàng triệu người đi trên con đường mà họ tin là chân lý. Nhưng đời sống phức tạp hơn những bộ óc thông minh nhất và hiện thực luôn tạo ra những khúc quanh thử thách bất ngờ cho các giá trị tưởng là vĩnh cửu. Trong khi đó, văn học miền Nam cùng thời gian này, 1954-1975, đã truyền đi những giá trị khác, có tính phổ biến, cùng với ngôn ngữ của nó, một ngôn ngữ cũng có tính phổ biến, nhưng cả hai cùng chịu đựng một số phận cay đắng hơn. Ngày nay đọc lại một số các tác phẩm ấy tôi vẫn còn hình dung được bầu khí quyển vừa hồn nhiên thơ mộng, vừa sâu sắc buồn rầu, vừa tự do phóng dật, vừa đậm chất nhân văn.

Từ 1975 đến nay, lý luận và sáng tác văn học trên truyền thông chính thức đã có cái nhìn cởi mở hơn, đặc biệt vào thời kỳ đổi mới khoảng 1988-1993. Đáng tiếc, tôi nghĩ, nó hãy còn thất bại trong việc soi sáng đời sống xã hội miền Nam, các thành thị và nông thôn thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, thời kỳ chiến tranh. Trong các tác phẩm văn học công khai trong nước ba mươi năm trở lại đây, có nhắc ít nhiều đến miền Nam dưới chế độ VNCH, tôi chưa từng may mắn đọc được một tác phẩm nào mô tả đúng thật hoàn cảnh mà tôi đã sinh ra, đã cắp sách đi học, đã vui chơi, đã hạnh phúc, đã đau khổ giữa cha mẹ, láng giềng, thầy cô, bè bạn, kẻ bên này, người bên kia, đã khóc trước xác chết của người thân, đúng như những con người mà tôi vẫn biết, những nhân vật cho đến nay vẫn chờ một ngày cuốn tiểu thuyết của họ được kể lại bởi các nhà văn am hiểu tường tận thời kỳ đó.


UserPostedImage



Mùa xuân năm 1972, một đơn vị nhảy dù VNCH dừng quân ở làng tôi. Những người lính tạm nghỉ dưới mái hiên, gần như không ai bước chân vào nhà. Tôi nhận thấy đó là những người lính chuyên nghiệp, kỉ luật, không làm phiền ai, nhưng có phần xa cách. Họ làm tôi hơi sợ hãi. Vậy mà có một người sĩ quan trẻ đứng bên cửa sổ rất lâu nhìn tôi học bài rồi tươi cười hỏi chuyện, hỏi mượn tôi một cuốn sách để đọc. Anh kể rằng anh quê ở Gò Công, có người yêu là sinh viên trường Dược khoa, khi anh tình nguyện vào nhảy dù, cô hỏi anh là “anh muốn chọn em hay là chọn cái mũ đỏ”. Anh đã chọn cái mũ đỏ và như thế, đành để mất cô. Đó là một chàng thanh niên da ngăm đen, gầy, cao, đẹp như tài tử. Không hiểu sao anh lại tâm sự với một chú bé nhỏ hơn anh nhiều tuổi, có lẽ lúc ấy anh nhớ người yêu quá. Sau này, tôi nghe nói rằng trong một trận đánh gần biên giới, anh đã trúng mìn cụt hai chân. Có người gặp anh ngồi trên xe lăn ở Tổng y viện Cộng hòa. Vài tháng sau đó, trong mùa hè đỏ lửa, một đơn vị bộ đội miền Bắc cũng đi ngang qua làng tôi. Đó là những ngày hỗn loạn, nhưng tôi cũng kịp nhận xét rằng so với những người lính miền Nam trước đó, những người bộ đội miền Bắc này trông ít tuổi hơn, nhưng có vẻ dạn dĩ, thân mật với dân chúng hơn. Có một người lính trẻ măng, mặt bầu bĩnh, nước da trắng hồng như con gái, quê ở Hà Nội, trò chuyện với tôi khá lâu. Anh kể rằng anh phải khai tăng thêm một tuổi để được đi chiến đấu ở miền Nam. Anh kể rằng mẹ anh là một nhà nghiên cứu, và khi đi anh còn thấy trên bàn làm việc của bà một cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp, mà anh không đọc được nhưng nhớ cách đánh vần. Tôi nhận ra đó là cuốn Bonjour Tristesse, của Francoise Sagan, đã dược dịch sang tiếng Việt. Anh hỏi xin tôi một cuốn sách “để làm kỉ niệm”. Trước khi di tản, tôi cũng kịp tặng anh hai cuốn mỏng, Buồn ơi chào mi và Thơ Nguyên Sa. Không biết rằng anh có đủ sức mang chúng theo trong chiếc ba lô nặng trĩu của mình hay không. Sau 1975, tôi nghe tin anh đã mất tích trên chiến trường. Mỗi khi nghĩ về văn học và chiến tranh, tôi đều nghĩ đến hai người lính, ở hai bên chiến tuyến, có số phận bi thảm, yêu tiếng mẹ đẻ, yêu quê hương của mình, và chắc chắn là họ đã rất sung sướng nếu được dịp biết nhau, làm quen với nhau, trong những hoàn cảnh khác.


Gần đây trong nước, việc khôi phục văn chương tiền chiến, Thơ Mới, Tự Lực Văn Đoàn, đã tạo ra những nhận thức mới, góp phần vào việc làm phong phú hoá đời sống văn học và đời sống tinh thần của người Việt, giúp thế hệ trẻ hiểu đúng đắn hơn lịch sử. Đã có một vài cố gắng nhìn lại văn học miền Nam trong những bài viết rải rác đó đây của các tác giả tôi mà nhớ tên, tất nhiên là không đầy đủ, như Lê Ngọc Trà, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Phan Cảnh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Huệ Chi, Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Bửu Nam, Trần Hoài Anh, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Hồ Thế Hà, Bửu Nam. Báo Văn Nghệ, trang web của Hội Nhà Văn và một vài trang web trong nước khác cũng đăng lại một số tác phẩm miền Nam. Tôi nghĩ đó là nỗ lực, khởi đi từ những cá nhân tâm huyết, rất đáng trân trọng. Nhưng một nền văn học cần được nghiên cứu một cách hệ thống, với những tiếp cận đặc trưng cho nền văn học ấy.

Nếu có một thời điểm nào thích hợp để mỗi chúng ta ngồi xuống lắng nghe bài giảng của lịch sử, như những người học trò nhỏ, thì đó là thời điểm hiện nay. Tôi lớn lên ở làng quê nghèo, thuở bé lẽo đẽo theo mẹ đi giữa những luống cà chua, khoai lang, những cánh đồng bên bờ sông, trồng bắp, trồng đậu, trồng lúa, những buổi trưa lang thang bắt tổ chim, bắn súng cao su, tắm sông. Tôi đã sống qua chiến tranh, chứng kiến cái chết, sự đau khổ của bao nhiêu người, trong đó có gia đình tôi. Có điều lạ lùng là sau tất cả những năm tháng ấy, mỗi buổi sáng thức dậy, tôi đều có một cảm giác giống nhau, cảm giác êm dịu. Tôi tin rằng cảm giác ấy chỉ có được khi người ta sinh ra và lớn lên trong khung cảnh thanh bình thơ mộng, dù chỉ là tạm thời, được đọc những cuốn sách lãng mạn đầu đời, những cuốn sách mà về sau có người ném đi vì cho rằng chúng chẳng có giá trị phản ảnh hiện thực gì cả, nếu người ta được đọc những cuốn sách như thế, được úp khuôn mặt bé bỏng của mình lúc lên chín tuổi giữa hai trang sách còn thơm mùi giấy mới, nếu người ta thức dậy một đêm khi lên sáu tuổi, ánh trăng chiếu sáng trên giường không ngủ được, bước ra hiên nhà, lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh một chú bé khác, lớn hơn hai tuổi, và chú bé ấy cũng ngồi im lặng ngước nhìn vầng trăng sáng vằng vặc trên trời, và hai anh em chẳng nói năng gì, thì người ta sẽ có được cái cảm giác mà tôi có mỗi ngày trong buổi sáng mờ hơi sương thức dậy một mình, đó là cảm giác tri ân êm dịu đối với cuộc đời.


Cái đáng sợ nhất đối với một số người, một số nhà văn là sự thật. Ai cũng biết rằng một người đọc sách sống cuộc đời phong phú hơn người khác. Sở dĩ như thế là vì anh ta hay chị ta được trải nghiệm thêm những cuộc đời khác nữa, tức là những sự thật khác nữa. Văn học cho phép chúng ta cảm xúc cùng nhân vật, sống cùng họ, đau buồn, giận dữ, sung sướng, say mê với những người ở các lục địa xa xôi, ở những thời tiết nắng mưa nay đã không còn. Chúng ta cảm thương những số phận bất hạnh, đôi khi tự đồng hóa mình với anh hùng hào kiệt, mơ ước sống cuộc đời như họ. Một độc giả Việt Nam hiện nay có điều kiện dễ dàng để biết thêm về văn học nước ngoài, như văn học Mỹ, Pháp, Đức, Canada, Úc, Ba Lan, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc...và vì thế tự làm cho đời sống tâm hồn họ phong phú hơn. Nhưng văn học miền Nam không phải là một nền văn học nước ngoài, nó được viết bằng tiếng Việt, được đọc bằng tiếng Việt, bởi những tác giả đã khuất bóng hay còn đi đi lại lại trước mặt chúng ta. Nói cho cùng, một người sinh ra ở miền Nam không bao giờ biết đến văn học miền Bắc, và giống hệt như thế, một người sinh ra ở miền Bắc không bao giờ biết đến văn học miền Nam, theo tôi không phải là một người may mắn lắm: anh ta là nạn nhân của thời đại mình, tự nguyện hay không tự nguyện.

Người ta đã nói nhiều về chuyện văn học cần thiết như thế nào. Có lẽ đúng là một cuốn sách không thay thế được cái bánh mì trước đứa trẻ đang đói. Hiện thực mà chúng ta sống trong đó đầy dẫy những ngẫu nhiên, diễn ra không thứ tự, không có tính tổ chức. Đối với nhiều người, mặc dù không phải là tất cả, cái chết là phi lý, chiến tranh là phi lý, sự đau khổ của từng cá nhân, sự bất hạnh của dân tộc là phi lý. Mặt khác, khía cạnh hào hùng của lịch sử trong khi thừa khả năng để giải thích tính bi kịch, thì lại không đủ khả năng giải thích sự tầm thường hèn mọn của nó. Bất cứ một sự thật giản dị nào, nếu không được hiểu thấu, cũng đủ sức làm một nhà văn sợ hãi: anh ta không biết phải làm gì với nó. Các thí dụ thì chúng ta có nhiều. Tuy nhiên tác phẩm văn học, ở trạng thái thành công nhất, có khả năng tổ chức lại cuộc đời, làm cho các sự kiện rời rạc, hỗn độn, mê loạn, hoàn toàn không hiểu được, được sắp xếp lại bên nhau trong những liên hệ nhân quả, làm cho số phận mỗi cá nhân, số phận một dân tộc có thể được giải thích rõ ràng, trở nên có ý nghĩa hơn. Và do đó, lịch sử trở nên chịu đựng được. Nó bắt đầu tha thứ cho chúng ta.

Khi chúng ta bắt đầu biết dụng tâm tìm hiểu lẫn nhau, tức là biết nhìn sự vật từ góc nhìn của người khác. Mà các nhà văn không làm điều đó thì không ai làm trước họ được.



Nguyễn Đức Tùng
(Viết xong ngày 29.04.2009)



A. Các trích dẫn
(1) Nhất Linh, Xóm cầu mới, trang 465, NXB Văn Mới, 2002
(2) Hợp Lưu, số đặc biệt về Mai Thảo, 100, tháng 5&6, 2008, trang 196, Hoa Kỳ
(3) Bình Nguyên Lộc, Rừng mắm, bản điện tử dactrung.net
(4) Sơn Nam, Hương rừng, bản điện tử dactrung.net
(5) Trần Dạ Từ, “Giã từ năm Thìn”, Bốn mươi năm thơ Việt Nam, Thi Vũ, NXB Quê Mẹ
(6) “Tuổi nước độc”, trích theo Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ, bản điện tử do Talawas thực hiện
(7) Trích lại trong cuốn sách kể trên của Tạ Tỵ
(8) “Nhớ làng”, Tuyển tập Võ Phiến, NXB Văn Mới, 2001
(9) “Mùa xuân con én”, Tuyển tập Võ Phiến, NXB Văn Mới, 2001
(10) “Tháng giêng, mơ về trăng non rét ngọt”, Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng, NXB Văn Học in lại, 1989
(11) Trích theo Nguyễn Vy Khanh, “Thế kỷ tiểu thuyết”, Hợp Lưu số 73, tháng 10&11, 2003, trang 29
(12) Theo một nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh, không nhớ đã đăng ở đâu.
(13) Bùi Giáng, Đi vào cõi thơ, cuốn 2, NXB An Tiêm, tái bản 1998
(14) Lê Ngọc Trà, Thách thức của sáng tạo, Thách thức của văn hóa, trang 12, 13, NXB Thanh Niên, 2002


B. Các sách tham khảo
(1) Sông Hương, Tuyển chọn Phê bình và đối thoại, NXB Văn hóa thông tin, 1983-2003
(2) Nguyễn Hưng Quốc, Nghĩ về thơ, NXB Văn Nghệ, 1989
(3) Thi Vũ, Bốn mươi năm thơ Việt Nam, 1945-1985, NXB Quê Mẹ, 1993
(4) Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, 2000
(5) Đỗ Lai Thúy, Mắt thơ I, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000
(6) Tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ, các số 73 năm 2003 (Tiểu thuyết Việt Nam), 78 năm 2004 (Dương Nghiễm Mậu, Chekhov), 79 năm 2004 (Đệ thập tứ chu niên)
(7) Phương Lựu, Lý luận phê bình văn học, NXB Đà Nẵng, 2004
(8) Hà Minh Đức, Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Giáo Dục, 2004
(9) Thơ Việt Nam thế kỉ XX, Thơ trữ tình, NXB Giáo dục, 2005
(10) Thụy Khuê, bài về Vũ Khắc Khoan, Tạp chí Hợp Lưu số 102, 2008, trang 46-70
(11) 700 năm thơ Huế, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, NXB Thuận Hóa, 2008




UserPostedImage
phamlang  
#233 Posted : Tuesday, June 21, 2011 11:07:02 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bài vỡ đóng góp trong nhiều topics của Hạ Vi hay, sưu tầm chọn lọc, nhất là hình ảnh rất đẹp, mỹ thuật. Many thanks, Keep up the good works of your post and bringing forum Fan together(không khí vui vẻ, trẻ trung trong forum)

Phạm Văn Lang
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 6/22/2011(UTC)
phamlang  
#234 Posted : Tuesday, June 21, 2011 11:27:35 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mộng Ban Đầu
(nhạc: Hoàng Trọng - lời: Hồ Đình Phương)

Quê em miền thùy dương
Lúa ngọt ngào hoa mới
Gió mang mùa Xuân tới
Hôn liếp dừa lên hương
Hương thơm tràn muôn lối

Quê em dậy bình minh
Nắng đẹp lòng thôn xóm
Quán tranh hiền vui đón
Dâng bát nước chè xanh
Chan chứa mộng yên lành

Nhớ về thăm em nhé!
Đừng than nỗi đường xa
Đây tiếng hát câu hò
Đang canh cánh mong chờ
Anh nhớ về anh nhé!

Hôm qua buồn nhìn đâu
Thoáng mẹ già nom thấy
Hỏi: con chờ ai đấy?
Em níu lấy cành dâu
Che giấu mộng ban đầu

Hôm nay đợi chờ anh
Hái một cánh hoa thắm
Ghép bên lòng trong trắng
Vương ngát hồn thơ xanh
Thay cho lời em nhắn

Hương thanh bình về lâu
Lúa được mùa mưa nắng
Gái trai làng vui sống
Quang gánh nối lòng nhau
Em thấy mộng ban đầu

Nhớ về thăm em nhé!
Đừng khinh mái lều tranh
Rau muối ấm tâm tình
Cơm ngô thắm no lòng
Anh nhớ về anh nhé!

Trông em mừng vườn cau
Trái mập tròn Xuân mới
Bỗng mẹ cười mẹ nói:
Con bé lớn thật mau,
Mai mốt mẹ ăn trầu..

Ai cưới được nàng dâu?
Ai cưới được nàng dâu?


UserPostedImage

Edited by user Friday, June 24, 2011 6:34:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#235 Posted : Wednesday, June 22, 2011 6:29:16 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage



ĐI CHÙA HƯƠNG CỦA TRẦN VĂN KHÊ


Nhật Hoa Khanh phỏng vấn (17/2/11)



Suốt gần 60 năm nay, bài thơ Chùa Hương (tác giả Nguyễn Nhược Pháp) sau khi được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc toàn bài, ngày càng nổi lên trên văn đàn và trên sân khấu. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp được Trần Văn Khê phổ nhạc toàn bài và lấy tên là Đi Chùa Hương.

* Thưa GS nhạc sĩ, ông đã từng gặp nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lần nào chưa?

- Tôi chưa bao giờ gặp nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Nhược Pháp mà chỉ đọc những bài thơ của ông trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân mà thôi.

* Vì sao ông lại phổ nhạc toàn bộ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp?

- Đó là năm 1946, khi đang lánh nạn ở Lộc Ninh, ban đầu tôi chưa hề có ý định, nhưng vì rất thích nên tôi đã đọc bài thơ đó nhiều lần. Tôi thường hay ngâm thơ nên ban đầu có ý ngâm bài thơ, nhưng vì là thể thơ ngũ ngôn, có rất nhiều đoạn khó. Vì thế tôi thấy rằng làm như vậy không hấp dẫn bằng có nhiều đoạn mình ngâm "theo kiểu mới". Một hôm, khi chuyển qua ngâm thơ theo điệu mới, một vài nét nhạc thoáng qua đầu, trong 10 ngày, tôi ghi lại những đoạn tâm đắc, lúc đó mới nghĩ đến việc ký âm lại cho dễ nhớ và từ đó bắt đầu phổ nhạc.

* Xin GS kể chi tiết một số đoạn xử lý với bài thơ độc đáo này?

- Tôi không phải là nhạc sĩ sáng tác, nhưng lúc đàn piano phụ họa theo tiếng ngâm của mình, tôi bắt đầu bằng gam Pha trưởng, rồi nhiều đoạn chuyển sang gam Rê thứ, chỉ có lúc cuối cùng, do tình cảm nhớ thương da diết nên tôi chuyển sang ngâm theo phong cách Sa mạc, nhưng cũng dựa theo gam Rê thứ. Lúc đó, tôi cũng định ghi nhạc để hát chơi cho các bạn nghe chớ không định phổ nhạc một bài thơ.

* Hành trình tiếp theo của cuộc đời bài hát, thưa GS?

- Người đầu tiên tôi đưa bài phổ nhạc là nhạc sĩ Lê Thương, bạn rất thích. Khi tôi chuẩn bị sang Pháp thì Lê Thương gởi thư nói rằng nến không giới thiệu với công chúng thì rất uổng. Lê Thương đã nhờ ca sĩ Mộc Lan học thuộc lời và giới thiệu trong một buổi hoà nhạc có nhiều bạn bè của ông, lúc đó tôi đang ở Pháp.

Sau đó, NXB Tinh Hoa, qua giới thiệu của Lê Thương, đã viết thư yêu cầu tôi cho phép xuất bản bài Đi Chùa Hương. Lúc đó tôi đang bịnh, đang nhập viện nên rất cần tiền. NXB bằng lòng trả tiền tác giả để in lần đầu khoảng 2000 bản và không lâu sau, báo tin đã bán hết và xin tái bản lần hai, đồng thời gửi đầy đủ tiền tác quyền sang Pháp cho tôi. Lúc đó, 1 đồng VN bằng 17 franc cũ. Nhờ tiền tác quyền, tôi sống bình yên 4 tháng trời tại Paris!
Lê Thương còn cho biết, Mộc Lan cũng trình bày bài đó trên Đài phát thanh Pháp á.

Rồi bên nhà báo sang là Thái Thanh cũng hát. Nhưng tôi không nhận được bản ghi âm nào. Sau này, tôi biết bên Mỹ cũng có vài ca sĩ giới thiệu bài Đi Chùa Hương, trong đó có ý Lan – con gái Thái Thanh - đã thu được nhiều kết quả. Khi về nước làm việc, tôi được Thanh Lan tặng một cuốn băng video ghi lại bản nhạc Đi Chùa Hương rất đầy đủ. Trong các nghệ sĩ hát bài này, có Hồng Vân là thuộc hết bản nhưng chỉ thường giới thiệu trích đoạn chứ không hát cả bài.

* Những năm 50, 60 ở VN, những năm 90 ở hải ngoại, nhiều nữ danh ca đã thể hiện Đi Chùa Hương với những giọng truyền cảm sâu sắc. GS thích nhất giọng nào?

- Tiếc rằng tôi không được diễm phúc nghe tận tai tất cả các ca sĩ hát bài này. Đến nay tôi chỉ còn nhớ giọng của ý Lan mà tôi được một người bạn bên Mỹ cho nghe qua điện thoại. Giọng của Thanh Lan, tôi cũng còn nhớ rõ vì có cuộn băng. Hồng Vân thì đã rất nhiều lần hát tặng tôi ở những buổi họp mà tôi có mặt...

* Nhạc sĩ Lê Thương, năm 1999, tại Saigon, đã nói với tôi: Chùa Hương là bai thơ dài thấm đẫm hồn dân tộc trong thể thơ và nội dung, trong lời thơ. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã phổ nhạc thành công bài thơ dài và độc đáo đó. GS suy nghĩ thế nào về nhận định này?

- Bạn tôi vì quá ưu ái mà có lời khen tặng như vậy. Về mặt nhạc học, lẽ tất nhiên là Lê Thương rất sành sỏi nên lời nhận xét đó không xa với thực tế. Nhưng tôi vẫn không dám nhận tất cả những lời khen của bạn, vì tôi không phải là nhạc sĩ sáng tác chuyên môn để có được những quan điểm sâu sắc về cách phổ nhạc.

* GS có nhớ lần đầu tiên ra Hà Nội và lần đầu tiên thăm chùa Hương?

- Tôi đi chùa Hương lần đầu lúc đang học trường Y tại Hà Nội năm 1942. Về sau được đọc bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp thì bao nhiêu cảnh đẹp chùa Hương mà tôi đã được thấy, như hiện rõ trong câu thơ và nhờ đó mà bản phổ nhạc được nhiều bạn yêu thích.

Năm 1976, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tổ chức cho tôi đi viếng chùa Hương cùng GS Nguyễn Hoán và phu nhân, Võ Thị Tri Túc, và con trai của hai bạn là cháu Cảnh. Tôi thật bồi hồi! Không gian cũ hiện lên, cùng với những cảm xúc vẫn nguyên vẹn trong lòng, tất cả như còn tươi mới!

* Chân thành cảm ơn GS nhạc sĩ Trần Văn Khê!








UserPostedImage
phamlang  
#236 Posted : Friday, June 24, 2011 6:40:20 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

LỢI ÍCH CỦA VIỆC DẠY TIẾNG VIỆT NHƯ LÀ MỘT NGOẠI NGỮ

LUẬT SƯ NGUYỄN QUỐC LÂN
ỦY VIÊN GIÁO DỤC, HỌC KHU GARDEN GROVE


Phong trào dạy tiếng Việt đã được cộng đồng lưu ý nhiều hơn trong nhiều năm qua, đặc biệt là qua nhiều cuộc vận động đòi các trường công lập mở lớp dạy Việt ngữ trong chương trình ngoại ngữ.... Trong các nỗ lực này, những lợi ích của việc dạy và học Việt ngữ như là một ngoại ngữ vẫn chưa được trình bày một cách thoả đáng.

Việc học Việt ngữ như là một ngoại ngữ có nhiều điểm khác với phong trào dạy Việt ngữ tại các trung tâm Việt ngữ nơi có đông người Việt nam. Phong trào dạy Việt ngữ này thường chỉ nhắm vào các trẻ em Việt nam với mục tiêu duy trì tiếng Việt và văn hoá Việt nam. Tuy đây là đối tượng và mục tiêu tốt, song chương trình dạy và học Việt ngữ cũng cần phải nhắm vào các đối tượng không phải người Việt nam và các mục tiêu khác bên cạnh duy trì và phát huy Văn hóa Việt. Phương pháp dạy Việt ngữ như là một ngoại ngữ cũng có thể khác đi vì đối tượng có thể không phải là người Việt nam hay không có kiến thức căn bản về môi trường hay văn hoá Việt nam, kể cả các trẻ em Việt Nam tại hải ngoại không biết hay hiểu tiếng Việt. Phương thức giảng dạy này cũng giống như giảng dạy tiếng Pháp hay Tây Ban Nha cho tất cả các học sinh theo học một ngoại ngữ.


Việc hiểu biết thêm về các lợi ích của việc học tiếng Việt như là một ngoại ngữ do đó là một bước nhận thức rất quan trọng nhằm giúp đỡ những người quan tâm đến phong trào giảng dạy Việt ngữ thích ứng hơn với phương thức cũng như mục tiêu giảng dạy.

Những lợi ích cho cá nhân và xã hội
Những lợi ích cho cá nhân và xã hội hầu như là một bởi vì những lợi ích cho một cá nhân nào đó thường cũng là lợi ích cho cộng đồng hay xã hội liên hệ. Ví dụ, một người lính cứu hoả biết nói tiếng Việt thì xã hội nói chung cũng được lợi ích là có được một người lính chữa lửa biết xử dụng ngôn ngữ đó khi cần thiết. Những lợi ích này có thể là cơ hội kiếm việc làm, làm việc cho chính phủ, hành nghề chuyên môn, phục vụ cho an ninh quốc gia, giao thương quốc tế, nghiên cứu trong các chuyên khoa, phong phú văn hoá, thăng tiến sự hài hoà trong xã hội hay duy trì và phát huy văn hoá Việt nam.

Tiếng Việt đã trở nên một ngôn ngữ quan trọng tại tiểu bang California và nhiều nơi khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Riêng tại California, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ quan trọng thứ tư sau Anh ngữ, Tây Ban Nha (Spanish) và tiếng Hoa.


Cơ hội tìm kiếm việc làm
Tại những nơi có đông người Việt nam, một người biết thêm được tiếng Việt có thể sẽ kiếm được việc làm dễ dàng hơn, đặc biệt là trong các công việc dịch vụ vào có liên hệ thường xuyên với khách hàng người gốc Việt nam. Một học sinh, nếu biết được chút ít tiếng Việt có thể dễ kiếm được việc làm hơn tại các cửa hàng dịch vụ chẳng hạn. Trường hợp này cũng chỉ tương tự như bất cứ người Việt Nam hay da trắng nào biết thêm tiếng Tây Ban Nha thì dễ kiếm việc làm hơn tại hầu hết mọi nơi trên toàn California, đặc biệt là tại những nơi có đông người gốc La Tinh.

Công việc phục vụ trong chính phủ
Trong các khu vực có đông người Việt nam, ví dụ như Orange County, San Jose hay Houston, Texas, có nhiều nhân viên chính phủ thường phải tiếp xúc thường xuyên với các cư dân hay khách hàng Việt nam. Các công việc này thường có những trách nhiệm quan trọng trong guồng máy chính phủ như cảnh sát, lính cứu hoả, y tá, nhân viên bệnh viện, v..v.. Trong các vai trò này, người nói không cần phải thông thạo tiếng Việt nhiều như chỉ cần hiểu biết vừa đủ để xử dụng trong các trường hợp cần thiết. Thử tưởng tượng, trong các trường hợp khẩn cấp, những người liên hệ chỉ cần hiểu hay nói được những chữ đơn giản như “cảnh sát,” “nước,” “đau tim” cũng có thể cứu được mạng sống con người.

Công việc trong các ngành nghề chuyên môn
Bên cạnh các nhân viên chính phủ, các nhân viên trong các ngành nghề chuyên môn cũng thường hay có nhu cầu xử dụng tiếng Việt, ví dụ như bác sĩ, luật sư, chuyên viên kế toán, cố vấn gia đình, v..v.. Trong các dịch vụ chuyên môn, những lời cố vấn hay hướng dẫn cần thiết nếu phải được thông dịch lại thì có thể bị mất đi tính chất chính xác hay hiệu quả. Đối với những người chuyên môn này, kiến thức về Việt ngữ, cho dầu là kém cỏi hay không thông thạo, cũng có thể giúp họ hiểu được những hoàn cảnh văn hoá hay tế nhị trong các trường hợp đặc biệt.

An ninh quốc gia
Việc giảng dạy hay học hỏi tiếng Việt cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với nền an ninh quốc gia tại Hoa Kỳ, đặc biệt là trong các lãnh vực an ninh hay tình báo có liên quan đến tiếng Việt. Hiện nay, hầu hết các thông dịch viên tại toà án hay các chuyên viên về Việt ngữ tại các cơ quan công quyền đều do những người được hấp thụ kiến thức Việt ngữ từ những năm trước 1975 hay tự học lấy tùy theo kinh nghiệm bản thân. Trong hơn 30 năm qua, hầu như không có một chương trình huấn luyện Việt ngữ một cách có quy mô để đào tạo các chuyên viên Việt ngữ. Những kiến thức về Việt ngữ có được từ trước đây có thể còn rất thiếu sót so với nhu cầu kiến thức Việt ngữ hiện nay với nhiều thay đổi về kỹ thuật, văn hóa và xã hội.

Thêm vào đó, cộng đồng Việt nam tại Hoa Kỳ hay hải ngoại chưa sẵn sàng tiếp nhận kiến thức Việt ngữ hay các tài liệu giảng dạy được du nhập từ Việt nam. Hậu quả là những người có trách nhiệm phiên dịch trong các vai trò quan trọng này có thể chỉ có được kiến thức Việt ngữ do tự học hay qua việc xử dụng hàng ngày. Nếu như vậy, các nhân viên trong lãnh vực an ninh quốc gia hay bảo vệ trật tự công cộng có thể khó kiếm được người có kiến thức hay khả năng để xâm nhập vào các tổ chức phạm pháp có xử dụng Việt ngữ hay hoạt động điều tra đối với các thành phần có xử dụng Việt ngữ.

Giao thương quốc tế
California có một nền kinh tế đứng hàng thứ 6 trên toàn thế giới, đặc biệt là đối với các nền kinh tế trong vùng Thái Bình Dương. Nhu cầu xử dụng Việt ngữ trong giao thương quốc tế không những chỉ giới hạn đối với người Việt nam tại Việt nam và Hoa Kỳ, mà còn cả tại các vùng khác trong vùng Thái Bình Dương, ví dụ như Hồng Kông, Thailand, Singapore hay Mã Lai Á. Việc xử dụng tiếng Việt trong nền giao thương trong nội địa California hay Hoa Kỳ cũng là một nhu cầu rất quan trọng. Do đó, việc trau dồi kiến thức về Việt ngữ là một nhu cầu thiết thực cho nền kinh tế California hay Hoa Kỳ.

Nghiên cứu chuyên môn
Việc trau dồi kiến thức về Việt ngữ, đặc biệt là từ cấp trung học, sẽ góp phần chuẩn bị nền tảng cho các chuyên khoa nghiên cứu chuyên môn tại các trường đại học hay viện nghiên cứu cao cấp. Muốn nghiên cứu về các ngành chuyên môn như tâm lý học, xã hội học, văn chương, lịch sử, chính trị, nhân văn ..v..v.. có liên hệ đến Việt nam, người sinh viên cần phải có sẵn một số kiến thức căn bản về Việt ngữ trước khi có thể bắt đầu các công trình nghiên cứu trong lãnh vực chuyên môn. Việc trau luyện Việt ngữ cho mục đích này tốt nhất là phải thực hiện được ở cấp trung học. Nếu đợi lên đến đại học rồi mới học Việt ngữ thì hầu như khó có sinh viên nào có thể có đủ thời giờ để khởi sự các công trình nghiên cứu với vốn liếng Việt ngữ hiện có của mình.

Nếu có được chương trình giảng dạy Việt ngữ tại cấp trung học và được bổ túc thêm ở cấp đại học, chẳng bao lâu chúng ta sẽ có những công trình nghiên cứu cho luận án tiến sĩ hay cao học với các đề tài như so sánh truyện Thuý Kiều với Shakespeare, liên hệ giữa các trận đánh quân Nhà Minh của Trần Hưng Đạo đối với cuộc thôn tính Âu Châu bởi đạo quân Mông Cổ, bí mật chiến tranh Việt nam trong văn khố mật thư của Hoa Kỳ, hay tâm lý khủng hoảng của người di dân Việt nam tại Hoa Kỳ chẳng hạn.

Với những công trình nghiên cứu này, nền văn hóa và văn minh Việt nam mới có cơ hội được giới thiệu và phát huy ngang hàng với nền văn minh hay văn chương Âu Tây thay vì như phạm vi khuôn khổ của cộng đồng Việt nam.

Phát triển văn hoá
Nền văn hoá Việt nam là một văn hoá quan trọng tại California. Văn hoá Việt nam đã góp phần quan trọng vào việc làm phong phú thêm nền văn hoá đa dạng của California và Hoa Kỳ. Việc đào tạo chuyên viên tiếng Việt sẽ góp phần quan trọng vào việc duy trì và làm thăng tiến một di sản quan trọng này.

Trở ngại chính trong việc giới thiệu văn hóa Việt Nam trong nền văn minh thế giới là thiếu các chuyên viên có khả năng làm việc này mà có vốn liếng cần thiết về Việt ngữ. Chúng ta cần phát triển sự phổ thông của tiếng Việt để tạo cơ hội cho các chuyên viên thuộc đủ mọi ngành phát triển chuyên môn của mình dựa trên căn bản tiếng Việt sẵn có.

Sự hoà đồng trong xã hội đa chủng
Cộng đồng và văn hoá Việt nam đang trở thành một nhân tố quan trọng trong xã hội đa chủng tại Hoa Kỳ, đặc biệt là tại California. Trong hoàn cảnh này, sự lớn mạnh của cộng đồng Việt nam không khỏi tránh được những đố kỵ, hiềm khích hay kỳ thị gây ra bởi sự thiếu hiểu biết, thông cảm hay bất đồng về ngôn ngữ hay văn hoá.

Việc giảng dạy Việt ngữ cho các học sinh thuộc mọi chủng tộc sẽ góp phần quan trọng vào việc trồng cấy và vun xới sự cảm thông và hiểu biết giữa các văn hoá hay sắc dân khác nhau. Đây là những nhân tố quan trọng trong việc làm thăng tiến sự hoà đồng trong xã hội đa chủng như tại Hoa Kỳ. Kiến thức về một ngôn ngữ thường đi đôi với sự hiểu biết về văn hóa, lịch sử hay con người của ngôn ngữ đó.

Quan hệ với gia đình và cộng đồng
Đối với người Việt nam, kiến thức về Việt ngữ sẽ giúp các trẻ em có một quan hệ mật thiết hơn đối với gia đình, phụ huynh, họ hàng, cộng đồng hay những người chung quanh. Đây là một yếu tố quan trọng để giúp các em dễ hấp thụ những phong tục tập quán như siêng năng, cần cù, hiếu học và chịu khó ngõ hầu các em có thể siêng năng học hành hơn, phấn khởi để học hành hơn hay tự tin hơn về bản chất người Việt nam của mình.

Các cuộc nghiên cứu về học sinh Việt nam cho thấy nếu các em càng xa rời nền văn hóa hay cộng đồng Việt nam thì đức tính siêng năng và hiếu học của các em càng giảm đi và do đó trình độ học vấn của các em sẽ sút giảm đi. Do đó, kiến thức về Việt ngữ là một phương tiện quan trọng để giúp các em làm tăng trưởng những quan hệ với gia đình, cộng đồng hay văn hoá Việt nam.

Duy trì và phát huy văn hoá Việt nam
Đây là một mục tiêu quan trọng mà cộng đồng Việt nam đã hết sức hỗ trợ trong hơn ba thập niên qua. Mặc dầu ngôn ngữ không là một cứu cánh duy nhất, nhưng là một công cụ quan trọng để góp phần quan trọng vào việc duy trì và phát huy văn hoá Việt nam.

Những lợi ích về học vấn
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã cho thấy rằng việc trau dồi một ngoại ngữ, đặc biệt là từ những lớp nhỏ, thường hay đi đôi với sự phát triển về trí thông minh, trình độ học vấn hay khả năng thích ứng với môi trường chung quanh. Kết quả thường là các em học giỏi hơn hay có điểm thi cao hơn.

Một cuộc nghiên cứu tại Học Khu Garden Grove cho thấy trình độ học vấn của học sinh Việt nam thường đi đôi với mức độ thông thạo Việt ngữ của các em. (Lynn Saito, 2002). Nhiều cuộc nghiên cứu tương tự khác của Giáo Sư Carl L. Bankston và Min Zhou đối với cộng đồng và học sinh Việt Nam tại Lousiana, nơi có đông học sinh Việt Nam, cũng cho thấy nhiều kết quả tương tự.

Các kết quả cuộc nghiên cứu này cho thấy rằng khi các em có thể nói chuyện hay hiểu sơ sơ tiếng Việt để các em có thể quan hệ thường xuyên với phụ huynh hay bà con họ hàng. Kết quả nghiên cứu này còn cho rằng mức điểm học vấn của các học sinh Việt nam có thể ảnh hưởng ngược với mức độ Mỹ hóa (assimilation) của các em hay phụ huynh của các em.

Điều đó có nghĩa rằng ngày nào các em còn thông hiểu tiếng Việt, ngày đó các em còn duy trì được mối liên hệ thường xuyên với bố mẹ, họ hàng, hay sinh hoạt cộng đồng, và theo đó các em có cơ may học giỏi hơn.

Học Giỏi tiếng Anh hơn
Nhiều phụ huynh hay nhà giáo dục thường hay cho rằng việc học một ngoại ngữ như Việt ngữ sẽ có ảnh hưởng bất lợi đối với khả năng tiếp thu Anh ngữ. Kết quả nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy kết quả trái lại. Ví dụ, một cuộc nghiên cứu của Giáo sư Bialystok đã cho thấy các học sinh khoảng 4 hay 5 tuổi có học thêm một ngoại ngữ có khả năng đọc và hiểu Anh ngữ cao hơn các học sinh khác. (Bialystok, 1997).

Kết quả cuộc nghiên cứu này có thể giúp nhiều phụ huynh Việt nam bớt lo lắng khi phân vân không biết nên khuyến khích con em của mình nên hay không nên nói tiếng Việt ở nhà vì sợ rằng khi đến trường các em sẽ thua kém các bạn cùng lớp. Thực ra, Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ hiện nay đang khuyến khích và nhiều học khu đang mở ra những chương trình dạy ngoại ngữ cho các em ở cấp lớp 1 đến lớp 5. Các chương trình này dựa trên những nghiên cứu giáo dục cho thấy rằng nếu các em được tiếp thu được một ngoại ngữ từ lúc nhỏ, các em có khả năng tiếp thu, lưu giữ, và xử dụng được nhiều hơn. Và đồng thời các em này có khả năng học giỏi hơn các em khác.

Ngay cả khi các em học học hoàn toàn trong tiếng ngoại quốc hay nửa Anh ngữ nửa ngoại ngữ (half & half immersion program), các em có khả năng không thua kém gì đối với các học sinh khác. (Thomas, Collier, and Abbott, 1993) Một cuộc nghiên cứu khác tại Louisiana cho thấy các học sinh có lớp học ngoại ngữ hàng ngày có khuynh hướng được điểm thi cao hơn trong các phần thi Anh ngữ so với các em không có học một ngoại ngữ nào. (Rafferty, 1986)

Nhiều cuộc nghiên cứu khác đã cho thấy một sự liên hệ mật thiết giữa khả năng học Anh ngữ và một ngoại ngữ. (Barik & Swain, 1975; Genesee, 1987; Swain, 1981) Uỷ Ban Chấm Thi Vào Đại Học (College Entrance Examination Board) cũng nhận thấy rằng các học sinh có học khoảng từ 4 năm ngoại ngữ trở lên thường có điểm cao hơn trong phần Anh ngữ trong các bài thi Scholastic Aptitude Test, thường được gọi là SAT.

Ảnh hưởng đến trí thông minh
Có nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng các học sinh có học được một ngoại ngữ có khả năng sáng tạo và khả năng thông hiểu các vấn đề phức tạp một cách khá hơn. (Bamford & Mizokawa, 1991). Kết quả các cuộc nghiên cứu này còn cho thấy rằng những học sinh thông thạo được một ngoại ngữ có khả năng trội hơn các em không biết ngoại ngữ trong các cuộc trắc nghiệm về trí thông minh (IQ tests) (Bruck, Lambert & Tucker, 1974; Hakuta, 1986; Weatherford, 1986). Các kết quả này cho thấy rằng nếu các học sinh thông thạo một ngoại ngữ như tiếng Việt chẳng hạn, các em có khả năng thích ứng với các đòi hỏi của trí khôn một cách khá hơn.

Kết Luận
Nếu chúng ta nhìn nhận Việt ngữ là một ngôn ngữ quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, thì việc học hay giảng dạy Việt ngữ sẽ có lợi cho tất cả mọi người và mọi thành phần trong xã hội. Tiếng Việt đương nhiên không chỉ là một ngôn ngữ cho người Việt mà thôi, mà còn một ngôn ngữ quan trọng cho tất cả mọi người.

Việc học và hiểu biết về Việt ngữ còn tạo điều kiện cho các học sinh từ đủ mọi thành phần sắc dân có thêm phương tiện để học hành khá hơn, không những trong lãnh vực Anh ngữ mà còn cả trong các lãnh vực khác. Không những chỉ học giỏi hơn, các em còn có thể phát triển trí thông minh của mình.Với những ích lợi này, các trường hay học khu công cộng cần khuyến khích mở ra các chương trình giảng dạy Việt ngữ như là một ngoại ngữ , không những ở cấp trung học mà còn cả ở cấp tiểu học, để các em có thêm cơ hội phát triển trình độ học vấn của mình đến mức tối đa. Song song với các nỗ lực của trường học, các phụ huynh cũng như các tổ chức trong cộng đồng, ví dụ như các trung tâm Việt ngữ, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác dạy Việt ngữ để các học sinh có thêm cơ hội phát triển toàn diện khả năng của mình.

Tương lai của cộng đồng Việt nam và nền văn hóa Việt nam tại hải ngoại qua đó càng có thêm triển vọng được thăng tiến một cách sáng lạng hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO: Bialystok, E., “Effects of Bilingualism and Biliteracy on Children’s Emergent Concepts of Print.” Developmental Psychology 30 (3): 429-440 (1997).Thomas, W.P., V.P. Collier, and M. Abbott, “Academic Achievement Through Janpanese, Spanish, or French: The First Two Years of Partial Immersion.” Modern Language Journal 77(2): 170-180 (1993).Rafferty, E.a., Second Language Study and Basic Skills in Louisiana. Baton Rouge, LA: Louisiana State Department of Education. (1986) ERIC Document Reproduction Service No. ED 283 360.Barik, H.C. and M. Swain, Bilingual Education Project: Evaluation of the 1974- French Immersion Program in Grades 2-4, Ottawa Board of Education and Carleton Board of Education. Toronto: Ontario Institute of Studies in Education. ERIC Document Reproduction Service No. ED 121 056.Genesee, F., Learning Through Two Languages. Cambridge, MA: Newbury House (1987).Swain, M. and S. Lapkin, “Candian Immersion and Adult Second Language Teaching: What’s the Connection?” Modern Language Journal 73 (2): 150:159 (1989).Saito, Lynne Tsuboi, Ethnicity Identity and Motivation – Socio-Cultural Factors in the Educational Achievement of Vietnamese american Students (LFB Scholarly Publishing, LLC: New York, 2002) (Data obtained from Garden Grove Unified School District, Garden Grove, Calif.)Bruck, M., W. E. Lambert, and R. Tucker, “Bilingual Schooling Through the Elementary Grades: The St. Lambert Project at Grade Seven.” Language Learning 24 (2): 183:204 (1974).Hakuta, K. Cognitive Development of Bilingual Children (1986). Los Angeles: University of California, Center for Language Eduation and Research.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
xuan hoang  
#237 Posted : Saturday, June 25, 2011 4:45:08 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Thơ Duyên


UserPostedImage



Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu

Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần
Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần

Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
Hoa lạnh chiều thương sương xuống dần

Ai hay tuy nhẹ bước thu êm
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
Lòng anh thôi đã cưới lòng em



Xuân Diệu



UserPostedImage


UserPostedImage
Hạ Vi  
#238 Posted : Sunday, June 26, 2011 3:26:53 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Hồ Điệp, cánh bướm bên trời


Em đến hôm nào, mưa trên vai,
Chiều thu sương đượm nét mi dài.
Nụ cười rung cánh hoa hờn giận,
Trong mắt em còn bóng dáng ai?

Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa.
Bóng em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa...



UserPostedImage




Những câu thơ ấy cũng là của Đinh Hùng, đọc lên sao cứ vấn vương hình bóng Hồ Điệp.

Chúng ta cùng nghe Trần Vĩnh Tường, một cựu nữ sinh trường TH Trưng Vương Sài Gòn trước năm 1975, viết về Hồ Điệp với bài “cánh bướm bên trời” trong những giây phút MTHX hôm nay …



…Năm 1987, tôi (Vĩnh Tường) ở trại tỵ nạn Sin Thai. Một trại tỵ nạn dành cho những người vượt biên đường bộ nằm lẻ loi giữa chân ngọn núi Danreck, thuộc địa phận Thái lan, nhưng cách biên giới Căm Bốt chỉ chừng một cây số. Lúc đó tôi đang làm việc cho cơ quan Hồng Thập Tự Quốc tế, lo chuyện tiếp đón mà theo dấu những người tỵ nạn tìm cách đưa họ từ những cánh rừng rải rác về trại.

Hôm đó chúng tôi nhận được một lá thư từ Mỹ gởi qua nhờ theo rõi tin tức một người thân đã rời khỏi Sài Gòn khoảng đầu năm 1988. Thư cũng cho biết nhóm này gồm 11 người trong đó có Hồ Điệp. Đọc lá thư xong lòng tôi nghẹn ngào. Một phần vì lo, một phần vì mừng. Đã có người đến được trại,và có những bước chân thì vĩnh viễn ngưng lại ở đâu đó, giữa cánh đồng, nơi khe núi, bên cạnh bụi tre rừng…

Tôi đi báo tin vui cho một số các bạn trong trại. Đêm đó ngồi bên nhau, chúng tôi say sưa nhắc lại những bài thơ, những giọng ngâm của Tao Đàn ngày trước. Ngoài Hồ Điệp, Giáng Hương, Hoàng Oanh bên giọng Nam có Tô Kiều Ngân, Quách Đàm, Hoàng Thư.


Nguyễn Sỹ Độ, con của giáo sư Nguyễn Sỹ Tế mang ghi ta đệm nhẹ vài dòng nhạc cho Thu Hà cất tiếng ngâm. Ồ, tại sao Thu Hà lại chọn bài thơ này thế nhỉ? Bài Gửi Người Dưới Mộ của Đinh Hùng mà Hồ Điệp cũng đã có lần ngâm bài thơ này trên Đài Sàigon.


Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi, đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm đáy mộ sâu
Em mộng về đâu, em sắp về đâu
Hằng đêm ta nguyện, ta cầu
Ấy màu hương khói là màu mắt xưa
Em đã về chưa, em sắp về chưa ?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ
Ta nằm nhỏ lệ, đọc thơ gọi hồn



Bài thơ hay quá đỗi, quá liêu trai, phù hợp với ánh trăng xanh nhạt rải trên mái tranh, trên từng đám lá mùng tơi. Tôi quay nhìn rặng núi tím thẫm đằng kia để lén lau nước mắt…

Ngày qua ngày, mỗi khi có những người tỵ nạn đến được trại, chúng tôi đếu hỏi thăm tin tức. Thế nhưng ngày tháng qua đi, cánh bướm vẫn biền biệt bên trời. Không ai có thể sống trong rừng sáu tháng trời mà sống sót được.


UserPostedImage




Buổi tối cuối cùng, tôi lên trại Pa Lat để đi Mỹ, bùi ngùi giây phút chia ly. Mọi người yêu cầu Thu Hà ngâm lại bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.


Ta viết bài thơ anh linh
Hỏi người dưới mộ có rùng mình
Những hồn phiêu bạt bao năm trước
Nay đã vào chung một chỗ nằm



Không biết khi Đinh Hùng làm bài thơ này, ông có nghĩ là chỉ riêng tặng cho Hồ Điệp hay không? Và khi Hồ Điệp nức nở ngâm, bài thơ gửi cho thính giả Sài Gòn, cô có bao giờ nghĩ là một ngày nào cô cũng sẽ phiêu lạc giang hồ?

Bỗng dưng, một cánh bướm lẻ loi bay chập chờn trước mặt. Hết đậu trên phím ghi ta lại nằm yên trên tay Thu Hà. Mọi người rùng mình ớn lạnh nhìn nhau.

Hay là Hồ Điệp cảm động mối tình chung của thính giả mà bay về đây báo mộng?

Qua Mỹ đã nhiều năm, đọc báo không thấy đăng tin gì về Hồ Điệp cả.

Thôi…thôi! Vậy là mây đã tan. Trăng đã khuyết. Ngọc đã vỡ thật rồi. ..


Chẳng biết phút cuối cùng của Hồ Điệp ra sao? Có kịp ngước mắt nhìn lên trời cao trước khi hóa thân thành cánh bướm ly hương, rã cánh bên trời…?


Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng,
Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa.
Bóng em khoảnh khắc thành hư ảo,
Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa



UserPostedImage




Một Thoáng Hương Xưa/Bích Huyền



UserPostedImage
xuan hoang  
#239 Posted : Monday, June 27, 2011 9:11:33 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Nhà Tôi



UserPostedImage



Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ước mơ sương
Màu trắng vôi lờm lợp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi đau gì không?

Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
Buông tay gầu vui lại thuở Bình Mông
Ghì nấc súng nhớ ơi ngày chiến thắng
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm
Áo nào không phai nhạt chút màu xưa

Đêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

Ai đi mà chẳng từng bịn rịn
Rời đau thương nào đã mấy ai vui?
Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngả màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

Thôi xa rồi! Mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt trông con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe ròn tiếng súng nhắc lời chia ly!
Mẹ ơi! Con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui

Đêm nay lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắp tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ
Nằm im lìm như một nấm mồ ma
Có còn không! Em hỡi một mẹ già?
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa

Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu quân bụi viễn phương
Bước chân đạp đất xiêu đồn lũy

Này anh chiến sĩ
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ?
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành

Anh rót cho khéo nhé!
Không lại nhầm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý
Có người tôi yêu



Yên Thao


Chuyện giàn thiên lý - Anh Bằng phổ nhạc - Trình bày Mạnh Đình


UserPostedImage
Hungholland  
#240 Posted : Monday, June 27, 2011 3:59:46 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn VIII : KIM TRỌNG - THUÝ KIỀU PHÂN LY

Tóm tắt nội dung : Vào một ngày, Kim Trọng và Thuý Kiều đang dạo ngoài sân thì có người báo tin Chú của Kim Trọng qua đời :
"Cửa sài vừa ngỏ then hoa,
Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
Đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề."

Và Kim Trọng phải về chịu tang Chú 3 năm :

"Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy."


Tuy mới quen nhau nhưng 2 người đã Tình đầu - ý hợp. Quyến luyến phút chia tay :

"Đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.
Còn non còn nước còn dài,
Còn về còn nhớ đến người hôm nay.
Dùng dằng chưa nỡ rời tay,
Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà."

----o0o----

"Nàng thì vội trở buồng thêu,
Sinh thì dạo gót sân đào bước ra .
Cửa sài vừa ngỏ then hoa,
530.Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.
Liêu dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
535.Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,
Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.
Gót đầu mọi nỗi đinh ninh,
Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi:
Sự đâu chưa kịp đôi hồi,
540.Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,
Trăng thề còn đó trơ trơ,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.
Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy !
545.Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời .
Tai nghe ruột rối bời bời,
Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:
ông tơ ghét bỏ chi nhau,
550.Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi !
Cùng nhau trót đã nặng lời,
Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ !
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm.
555.đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai .
Còn non còn nước còn dài,
Còn về còn nhớ đến người hôm nay !
Dùng dằng chưa nỡ rời tay,
560.Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà.
Ngại ngùng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội vàng,
Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai .
565.Buồn trông phong cảnh quê người,
đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa .
Não người cữ gió tuần mưa,
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày .
"

( Còn tiếp )


Giải nghĩa:

528. Sân đào: Sân có trồng cây đào.

530. Gia đồng: Người phục dịch công việc ở trong nhà.

Thúc phụ: Chú ruột.

Từ đường: Từ bỏ nơi nhà ở, tức là chết.

532. Lữ thấn: Chết nhưng mà chưa chôn, quan tài còn quàn tạm ở nơi đất khách.

533. Liêu dương: Tên đất, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc) nơi chủ ruột Kim Trọng chết.

Sơn khê: Núi và khe ngòi.

534. Xuân đường: Cha, Xuân là một loại cây sống rất lâu. Người sau nhân gọi cha là xuân hay Xuân đường (nhà xuân), có ý mong cha được tuổi thọ như cây ấy.

Hộ tang: Trông coi việc tang.

535. Mảng: Tiếng cổ.

Mảng tin: Mới chợt nghe tin.

536. Đài trang: Do chữ trang đài, nơi trang điểm của phụ nữ.

537. Đinh ninh: cẵn kẽ, đến nơi đến chốn.

539. Đôi hồi: Giãi bày, trò chuyện hết lời với nhau.

540. Trao tơ: Chỉ việc kết hôn. Theo sách Khai nguyên Thiên bảo di sự: Trương Gia Trinh, tể tướng nhà Đường, có năm con gái, muốn gả một người cho Quách Nguyên Chấn, đô đốc Lương Châu, người đẹp mà có tài nghệ, bèn bảo năm con đứng sau một bức màn, mỗi người cầm một sợi dây tơ dài, dòng ra ngoài, và cho Nguyên Chấn tuỳ ý kéo lấy một sợi, trúng sợi nào thì lấy người cầm sợi ấy. Nguyên Chấn được kéo sợi tơ đỏ, lấy người con thứ ba, rất đẹp.

543. Ba đông: Ba năm để tang.

544. Chầy: Còn chậm, còn lâu ngày.

545. Gìn vàng giữ ngọc: Giữ thân thể cho được khoẻ mạnh, và cũng ngụ ý giữ gìn mối tình cho được thuỷ chung, trong sạch.

556. Ôm cầm thuyền ai: Ôm đàn sang thuyền của người khác, tức là đi lấy chồng khác.

566. Quyên: Chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối hè, sang thu. Tiếng quyên kêu còn ra rả (nhặt) đầu cành và bóng nhạn đã thấy bay loáng thoáng (thưa) ở chân trời.

567. Cữ, tuần: Người xưa thường tính bảy ngày là một cữ, và mười ngày là một tuần.

568. Tương tư: Nguyên nghĩa là ở xa cách mà cùng nhớ nhau, sau người ta mượn để nói sự nhớ nhau của đôi trai gái yêu nhau.

Edited by user Wednesday, June 29, 2011 7:45:04 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest (4)
143 Pages«<1011121314>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.