Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages«<89101112>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#181 Posted : Sunday, June 5, 2011 10:46:22 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

SƯƠNG GIÓ TRÊN ĐỈNH BÀ NÀ

Không khí ướt đẫm, mây trắng là là giăng ngang đỉnh núi trông tợ như những tảng thiên thạch lớn thoạt ẩn thoạt hiện trong một buổi chiều đông giá tuyết. Nhưng lúc này đang độ vào thu, màu trời xen lẫn với màu xanh bạc của cánh rừng làm ánh lên chút sắc buồn thâm u diễm lệ; Cảnh sắc này ắt hẳn cũng từng ru hồn bao khách trần tìm đến để mong được khám phá và chinh phục một cõi thiên nhiên hùng vĩ giữa đất trời.

Chúng tôi là những du khách đặc biệt trên chuyến tham quan du khảo đường dài – vừa trải qua mấy ngày đi trong mưa gió tầm tã. Trừ tôi ra thì quý thầy cô đều nằm trong ban biên tập của tòa báo. Đỉnh Bà Nà là điểm dừng chân cuối cùng của đoàn trước khi rời thành phố Đà Nẵng, để đến với xứ Huế mộng mơ, vốn luôn nằm yên trong tiềm thức của tôi – một chốn quê hương vắng xa suốt cả thời thơ dại.

Từ chân núi lên đến đỉnh dài hơn mười lăm cây số đường đèo. Cả đoàn duy có tôi là người đầu tiên đi xe ra tuyến miền Trung này, thế nên mọi cảnh vật đối với tôi đều lạ lẫm nên thơ và thấm đẫm một mùi vị liêu trai như lạc vào cái thuở hồng hoang của trái đất. Khi xe bắt đầu leo đèo, tôi cố căng mắt nhìn cho hết cả rừng cây dày đặc trải dài quanh co theo triền núi, cùng những đoạn đường cua gấp gãy khúc làm cho khung cảnh đã ngoạn mục lại mang đậm tính chất của một cuộc phiêu lưu thời thượng. Xe chạy độ vài mươi mét thì phải bẻ cua nhanh, và cứ thế lao hết đoạn cua này đến đoạn cua khác theo mô hình chữ “chi” vươn cao và đẫm ướt vì mưa gió. Mỗi lần xe chồm lên bẻ ngoặt, thì mọi người cùng lắc lư nghiêng ngả theo. Ai nấy đều thấm mệt vì say xe. Tôi cũng hơi bị choáng một chút, nhưng thích ứng được ngay và có cảm giác thích thú của người mới được trải nghiệm lần đầu. Chỉ riêng thầy Hải Nguyện là người khoẻ nhất, vui nhất…nên nói nhiều nhất. Thầy không bỏ lỡ cơ hội để phát huy tầm kiến thức của nhà thông thái được đi đây đó nhiều nên sự hiểu biết cũng thuộc dạng tầm cỡ. Nhưng có lẽ chính là để khơi dậy cái không khí đang trầm lắng, nặng nề trong xe, giúp cho quý thầy cô quên đi cảm giác buồn nôn khi bị xe nhồi sốc liên tục.

Vị hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư của đoàn cứ thao thao bất tuyệt để mô tả cho hết bao cảnh quan kỳ thú của núi rừng. Nào là đỉnh núi Bà Nà khởi thuỷ do người Pháp khám phá từ hơn trăm năm trước, và họ đã cho khai thông con đường độc đạo này. Thầy còn khẳng định: “dù ngày nay người ta dùng máy móc hiện đại để đo đạc khám phá mà cũng không tìm ra con đường nào ngắn hơn được”. Rồi nào là chuyện về thầy Thiện Nguyện, người khai sơn ra ngôi chùa Linh Ứng toạ lạc trên đỉnh núi. Thầy cũng là người cất công tìm ra được mạch nước ngầm trên đỉnh và cho dẫn ống xuống để chùa và cả khu du lịch sử dụng. Toàn là những chuyện thoạt kỳ thuỷ có một không hai như ngầm nói đến công đức của bao người tiên phong trên bước đường khai sơn phá thạch ở đây.

Ai bảo lên Bà Nà vào trời nắng mới thú. Riêng tôi lại cảm thấy được đi trong cơn mưa nhẹ nhàng phơn phớt như thế này mới thật là thơ mộng. Mọi cảnh vật dù chưa phải là tuyệt tác của thiên nhiên, nhưng chúng vẫn có những góc hồn riêng trong sâu thẳm lòng người khi cảm xúc. Trời đất thì bao la như thế đấy, mà sao tâm tư ta vẫn cứ nhỏ hẹp mù tăm. Một lúc tôi lại nghe thầy trưởng đoàn lên tiếng: “Cô cứ nhìn những đoạn cua gấp này để mường tượng ra ngọn đèo Hải Vân cũng y như thế. Đèo Hải Vân thì góc cua rộng hơn, dốc dài hơn, lại một bên là núi đá rừng cây đầy mây mù sương khói, một bên là vực sâu với biển cả. Người ta gọi Hải Vân chắc là ý vậy. Một nơi chỉ thấy trên mây dưới biển”. Vâng, ngọn đèo nằm lưng chừng giữa mây và biển nổi tiếng từ bao đời nay, mà tôi chỉ thoáng thấy đôi nét từ xa trong lần về quê bằng tàu hoả mấy năm trước, chắc cũng sẽ mãi nằm trong trí tưởng tượng của mình và cũng chỉ biết mơ ước một lần đặt chân đến để thưởng ngoạn cho hết bao vẻ đẹp của chốn sương khói mờ nhân ảnh ấy.

Khi xe đến trung tâm du lịch Bà Nà thì trời đã xế chiều, gió thổi lạnh buốt và mây mù phủ kín cả một khoảng không gian rộng lớn. Cũng có khá nhiều khách du lịch từ các nơi tìm đến. Rời bãi đậu xe với những ngôi biệt thự nửa hiện đại nửa cổ kính, chúng tôi men theo từng bậc thang đá rộng để tìm đến ngôi chùa Linh Ứng, bản sao của chùa Linh Ứng ở Non Nước. Thầy phụ trách đi vắng, một chị Phật tử cũng là chị của thầy, ân cần ra hỏi thăm và mời đoàn nghỉ lại dùng bữa tối. Rồi chị lại nhanh nhẹn vào bếp lo sửa soạn nấu ăn. Gởi hành lý lại đó, chúng tôi tận dụng giây phút còn lại để đi tham quan một vòng, cũng do thầy Hải Nguyện hướng dẫn. Khuôn viên và ngôi chùa đều mang dáng dấp mới xây cất và còn nhiều nơi đang làm dở dang. Rất tiếc là thời gian không cho phép, nên tôi chưa xem kỹ hết mọi công trình kiến trúc của ngôi chùa. Tất cả đều do bàn tay và khối óc con người thời nay làm nên, khi mà vật dụng và cả thực phẩm phải mang từ đất liền lên. Ngôi bảo điện uy nghiêm trong màu nước sơn mới, mà vẫn toát lên vẻ cổ kính của chốn thiền môn yên tịnh vừa hài hoà thích ứng với cảnh quan và môi trường thiên nhiên, vừa mang bản sắc của đạo Pháp thời nay muốn du nhập vào lòng nhân thế. Một chốn non xanh núi biếc, một điểm du lịch đời thường, dấu chân người tu sĩ vì đạo quên thân đã không từ nan bất cứ sự khó khăn nào để xây dựng cho mình một chốn yên tu và lưu dấu lại cho vạn đời sau bằng cả niềm tin và ý chí từ một con người.

Ấn tượng nhất là tượng Phật lộ thiên cao gần ba mươi mét, uy nghi giữa bốn bề lồng lộng mây trời gió núi. Tượng Phật được đúc bằng xi măng, ruột đúc đá xanh do thầy trò thầy trụ trì vào trong núi đục lấy về, bên ngoài là lớp áo sơn nước trắng buốt. Nhìn từ xa, qua làn sương bạc tượng Phật nổi bật lên như tranh tạc cứ ẩn ẩn hiện hiện một màu linh thiêng huyền diệu, khiến cho ai nhìn qua dù chưa thật phát đạo tâm vẫn kính cẩn hướng về để bày tỏ chút lòng bái ngưỡng tôn vinh. Từ Linh Ứng, chúng tôi lại leo lên những bậc thang đá quanh các ngọn đồi gần đó trong cái giá lạnh của buổi hoàng hôn đang xuống. Rải rác trên những ngọn đồi vẫn còn dấu tích đổ nát của mấy ngôi biệt thự có từ thời Pháp thuộc, nhìn nền mống hoang tàn trong cảnh chiều thu man mác, lòng du khách sao tránh khỏi đôi phút bâng quơ than thở:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Chúng tôi dạo qua căn hầm rượu cũng do người Pháp xây dựng vào thời hoàng kim của họ. Căn hầm bây giờ vẫn được sử dụng để chưng cất rượu và luôn mở cửa để khách vào tham quan, cùng uống vài chung rượu nho cho ấm tình người lữ thứ. Trời về đêm sương thu càng thấm lạnh, đoàn du khảo vẫn chưa muốn quay về vội, mọi người theo chân thầy trưởng đoàn dạo quanh khu trung tâm xem người ta đốt lửa trại vui chơi hát hò. Tôi đi một đoạn rồi lặng lẽ trở lại. Núi rừng về đêm chỉ đẹp khi hiện nguyên hình vẻ sơ khai hoang dã của nó. Đứng giữa không gian bàng bạc màu sương khói này, tôi mới có dịp lắng nghe được tiếng thì thầm của gió ngàn vi vút, và cảm nhận ra bao sức sống diệu kỳ của ngàn cây nội cỏ. Trong khoảnh khắc ấy bỗng khởi lên ý niệm về câu nói của một nhà văn nào đó “một chút tình yêu, một chút yên bình” chỉ cần một chút yên bình thôi… cũng đủ để lòng ta nhẹ vơi bao nỗi mệt nhọc đường dài, xua tan hết mọi sự sáo rỗng của tâm tư, và để cho tình yêu đến với muôn loài được thăng hoa theo cùng nhịp sống.

Một đêm trên đỉnh núi Bà Nà gần như là một đêm tôi thức trọn, có lẽ vì mấy chung trà uống cùng quý thầy hồi tối, mà cũng bởi tiếng gào thét thâu canh của gió ngàn. Lần đầu tiên nghỉ đêm trên núi, lần đầu tiên nghe tiếng gió cuồng nộ đến kinh người thì làm sao tôi có thể yên giấc được. Trở dậy mấy lần gài then cửa mà cứ bị gió đánh bật ra, tôi đành để ngỏ cho gió mặc sức tuôn vào. Nhưng rồi không muốn bỏ qua cơ hội nhìn ngắm trời đêm, tôi vội mặc áo gió rồi bước nhẹ ra sân. Khung cảnh bên ngoài không thật sự lắng đọng như lòng tôi hằng nghĩ. Xa xa là thành phố biển ẩn trong sương mù, vẫn nổi bật lên với những sắc màu lung linh đèn đuốc huyền ảo như đêm hội hoa đăng. Còn nơi đây cảnh đêm khuya thanh vắng, khi mọi hoạt động của con người ngưng bặt thì núi rừng bắt đầu cất lên tiếng nói của riêng nó, một tiếng nói mang nặng âm sắc miền Trung được vang ra từ trong lòng núi. Phải chăng vì lòng người chưa thật sự bình yên, nên mới cảm nhận rõ ràng từng âm thanh khuấy động ấy. Trong khi mọi người vẫn bình thản trong giấc ngủ, nào có ai bị đánh thức bởi sự tung hoành của gió đâu, cả tiếng cánh cửa kêu cọt kẹt và tiếng nhạc chuông điện thoại reo vang trong lúc nửa đêm, cũng không hề lay động. Tôi thao thức bởi lòng tôi chưa yên tĩnh, mà yên tĩnh làm sao được khi ngay trong lúc này đây vẫn có người đang réo gọi tôi trở về. Thôi thì, niềm vui được sống với thiên nhiên cùng chuyến du khảo chưa hết nửa đoạn đường đành phải bỏ lỡ vậy. Ngày mai tôi sẽ trở về… trở về để làm tròn bổn phận với nơi mình đã ra đi. Miền quê hương xa mù vẫn cứ mãi mù xa… cả trong ký ức của người vốn cưu mang nhiều món nợ ân tình trong cuộc sống.

Sáng sớm hôm sau trước khi trở xuống núi, chúng tôi vẫn còn một chuyến thả bộ dạo xem gần hết mọi cảnh vật xung quanh khu rừng sinh thái. Buổi sáng gió chỉ gợn len đôi chút đủ để se lạnh, nhưng sương mù vẫn trắng xóa cả bầu trời. Đường lên các đỉnh đồi đều được lót đá, thềm bực thoai thoải nên tương đối dễ đi. Khi đứng trên đỉnh núi Chúa, nơi có độ cao tuyệt đối, mới thấy rõ trời đất bao la đến dường nào. Nơi đây lộng gió và sương mù trắng xóa, ngay cả người đối diện vài ba mét cũng cảm thấy “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” bất chợt tôi reo lên nho nhỏ: - Đồi gió hú đây mà! Nơi đây quả thật chỉ có sương và gió, cảnh vật mờ ảo như thật như hư. Sương mù ở Sa Pa chắc cũng chỉ đẹp đến thế là cùng. Khi nắng lên cao mà sương vẫn cứ nhẩn nhơ bay cùng gió thoảng. Thiên nhiên tạo vật hay cảnh vật đang tạo ra chút hồn nhiên cho lòng người khi đến, và chút tình lưu luyến khi đi.

Đoạn đường đi xuống xe thoải mái phóng nhanh nên càng làm mấy cô trong đoàn mệt lã. Thức đêm, lội bộ leo núi, chỉ lúc được lên xe là tôi thoải mái hơn cả. Quay nhìn những bông hoa cẩm tú cầu to tướng được trồng dọc theo các đoạn đường tôi khẻ thì thầm nói vài lời từ tạ. Đỉnh đồi sương gió, khu du lịch Bà Nà ẩn khuất từ xa, còn biết bao cảnh quan mà chúng tôi chưa đi hết. Nhưng như thế cũng là quá đủ để biết về một xứ sở sương mù mang đầy phẩm chất diệu kỳ vì được thiên nhiên ưu đãi, một kỳ công của tạo hoá nhưng chính con người mới góp phần làm cho sức sống của nó hồi sinh. Một hồn thơ đi giữa muôn vạn hồn thơ cũng góp phần làm cho cuộc sống này thấm đầy ý vị.

Tạm biệt Bà Nà, tạm biệt một chuyến đi xa nhiều đạo vị thân tình và cũng thật thú vị. Ngày mai và ngày mai nữa… mọi người sẽ tiếp tục cuộc hành trình phía trước, còn tôi một mình một cõi trở lại chốn xưa. Mây ngàn gió núi thì nơi nào chẳng thế, vậy mà sao lòng vẫn bồi hồi với cảnh trời sương gió ở đây. Có lẽ vì lần đầu tiên tôi đến nơi này, để cùng thao thức một đêm cùng mây núi, để biết rõ hơn nhiều điều chưa thật biết. Con đường đi tới còn dài, nhưng lẽ tử sinh thì có hạn, nào có mấy ai đi trọn hết đường đời chỉ trong một chuyến du khảo trở về ngắn ngủi nầy đâu.

LAM KHÊ


Hạ Vi  
#182 Posted : Sunday, June 5, 2011 7:05:11 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Hoa Sen, Hồn Việt



Sen thanh cao, trắng trong và tinh khiết; bùn đen đúa, nhớp nhúa và dơ bẩn.
Sen và bùn, dù là hai thái cực, hai hình ảnh tương phản, đối chọi nhau, nhưng lại rất gần nhau.
Nói đến sen người ta nghĩ ngay đến bùn, nghĩ đến sự cao quý vươn lên sống ngạo nghễ từ giữa những vùng đất tội lỗi.



Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca Dao)



Về ý nghĩa của câu ca dao, ai cũng hiểu nhưng nếu ai đã từng trầm mình trong những đầm sen, từng thọc tay vào bùn để kéo lên những ngó sen trắng nỏn thì sẽ thấm thía với câu ca dao trên hơn, vì không chỉ ngó sen màu trắng nỏn tương phản với màu bùn đen mà hương vị của hoa sen cũng chẳng vướng víu hay bị nhiễm mùi bùn, ngược lại còn phảng phất một mùi hương nhẹ nhàng thanh khiết và dễ chịu. Sen sống giữa bùn sình nhưng không bị lấm lem, sen tặng cho cuộc đời những bông hoa tinh khiết, thanh cao. Ban ngày hoa sen nở, nhưng sẽ khép kín lại lúc về đêm như để tránh sự xâm nhập của bóng đêm u tối, giữ vẹn toàn hương sắc trinh bạch, thanh cao của một loài hoa cao quý.

Hoa sen tượng trưng cho sự uy dũng bất khuất của người quân tử, giữ chặt lòng mình trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho mình sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn dơ. Với Phật giáo, hoa sen là biểu tượng của sự giác ngộ, cũng như sen mọc giữa chốn bùn lầy, người giác ngộ sống giữa hồng trần, cuộc sống thế nhân với muôn vàn ô trọc vẫn bình thản giữ gìn đạo hạnh và sự trong sạch của bản thân không để bị vướng bụi trần thế, bả lợi danh. Sen không chỉ là một loài hoa đẹp, một biểu tượng của người quân tử, của sự giác ngộ, mà tất cả các phần của sen, theo đông y, đều là thuốc chữa bệnh. Hạt sen (liên nhục) chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ. Nhụy của hạt sen (liên tâm) có vị đắng có tác dụng an thần. Gương sen (liên phòng) phơi khô sắc uống có tác dụng cầm máu trong đại tiểu tiện. Tua nhụy của hoa sen (liên tu) phơi khô sắc uống chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Lá sen (hà diệp) dùng tươi, sắc uống chữa nôn ra máu, chảy máu cam. Ngó sen (liên ngẫu), dùng làm thức ăn giải nhiệt, làm thuốc cầm máu, nấu nước tắm sẽ làm cho da thịt mịn màng, cơ thể sảng khoái. Ngoài ra sen còn được biến chế thành những món ăn quốc túy, hương vị đặc biệt VN như gỏi ngó sen, mứt sen. Trà sen, một loại trà được ướp với hạt gạo trong hoa sen là một loại trà ngon, quý và được người uống trà ưa chuộng.


Ngày xưa, lúc đọc 2 câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa :

"Vẫn biết lòng mình là hương cốm,
Chả biết tay ai làm lá sen."



Sinh trưởng ở trong Nam, dù sen cũng là một hình ảnh rất quen thuộc, nhưng tôi không thấm và hiểu được hai câu thơ diễn tả mối tình "cốm, sen" của Nguyên Sa. Mãi sau này, tôi mới biết là ở ngoài Bắc, người ta dùng lá sen để gói cốm. Có một tác giả nào đó, tôi không nhớ tên, đã viết: "Ăn cốm làng Vòng chấm với hồng chín đỏ, thưởng thức hương thơm và ngọt nhẹ của cốm, với mùi thơm và vị ngọt gắt của hồng. Ăn một nhúm cốm như vậy, giống như đang nếm tất cả hương vị của đất trời, đồng nội, hương hoa...". Thì ra là như vậy, tôi đã có thể tưởng tượng. Những lá sen rộng bản, vươn cao khỏi mặt nước. Buổi sáng, với những hạt sương, long lanh, trong vắt, còn đọng lại trên mặt lá như những hạt trân châu trời đất ban tặng cho sen. Dù nắng hay mưa, ngày qua ngày, những lá sen vẫn vươn cao, mở rộng che chắn cho những bông sen đang nở. Một ngày nào đó, một bàn tay ngà của một cô gái ngắt lấy tấm lá sen đem về gói những hạt dẻo thơm, màu xanh ngọc thạch. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với "hương đồng cỏ nội". Lá sen giữ cho cốm dẻo và thơm lâu, những hạt cốm xanh màu ngọc thạch nằm yên ổn trong lòng lá: Mùi sen trong hương cốm - Một sự kết hợp hài hòa và tuyệt vời - cuối cùng tôi đã hiểu nhà thơ Nguyên Sa ví lòng ông như hương cốm, hương của những hạt ngọc quý của đất trời, của hương đồng cỏ nội, của quê hương Việt Nam và tìm đâu người tri âm, tri kỷ. Khám phá, hiểu, giữ gìn, hòa hợp, bổ sung... cho nhau như lá sen và hạt cốm.



UserPostedImage




Hoa sen đã đi vào lòng người, đi vào cuộc sống của người Việt tự ngàn xưa. Có thể nói, nhìn sen, ta có thể liên tưởng và nhận ra con người Việt Nam nhưng nhìn người Việt Nam có nhận ra được HOA SEN không? Ngày nay, nhìn vào xã hội của người Việt Nam (cả hải ngoại và trong nước), một người Việt có đủ tự hào và khả năng để giải thích một cách tường tận ý nghĩa của câu ca dao trên cho một người ngoại quốc nghe không? Câu hỏi làm trăn trở nhiều người Việt có tấm lòng tha thiết với quê hương và dân tộc.

Nửa thế kỷ, dưới "ánh sáng" nhân tạo, quá cường độ và gay gắt của một chủ nghĩa ngoại lai, đã trở thành ngọn lửa thiêu đốt và hủy hoại những giá trị căn bản tạo thành dân tộc Việt. Việt Nam trở thành một xã hội, nơi mà tình người, lương tâm và đạo đức... khan hiếm như bóng cây, như nguồn nước giữa sa mạc. Đầm nước Việt cạn khô, hoa sen Việt tàn úa chết rũ. Bóng đêm bao phủ, cơn ác mộng của những bông sen đỏ ngoi lên từ vũng máu thịt nhầy nhụa, lạnh ngắt, tanh tưởi, nồng nặc mùi tử khí. Cố gắng vượt qua vùng bóng tối lại mơ thấy những bông sen tạp chủng ngoi lên từ những vũng nước ao tù. Tìm ở đâu đây, hương vị dịu dàng và bóng dáng thanh cao của Hoa Sen Hồn Việt?

Buổi chiều cuối tuần, tịch mịch, yên vắng đến lạnh lùng. Vạt nắng cuối ngày hờ hững rớt qua song, những dãi mây xám trôi lững lờ, lang thang, vài bóng chim bay điểm những chấm đen di động trên nền trời. Không biết những đám mây kia sẽ trôi theo gió về đâu và những cánh chim có phải đang vội vã bay về tổ ấm? Còn ta sẽ đi về đâu cuối đoạn đường lưu lạc? Nửa thế kỷ đã qua, một dấu chấm nhỏ của thời gian, một đoạn đường ngắn của lịch sử, một đời người. Như những giọt sương đọng trong lòng chiếc lá sen, đẹp lóng lánh như kim cương dưới ánh sáng mặt trời buổi bình minh bốc hơi mất dạng dưới cơn nắng gắt buổi trưa, những giấc mơ hồng thời niên thiếu cũng tan dần với thời gian và cuộc sống bươn chải, tất bật nơi quê người.

Mặt trời đã lặn, giọt nắng cuối cùng đã tắt, bóng đêm bao phủ vạn vật, một ngày nữa đã qua. Giấc mơ hoa sen hồn việt nở rộ lại nơi quê ta, xứ người có về chăng, đêm nay? Có lẽ lại thêm một đêm trăn trở nối tiếp một ngày buồn thiu ....



Vẫn biết hồn ta là sen Việt.
Tìm ở đâu những hạt cốm thơm ?




UserPostedImage




Lý Lạc Long




UserPostedImage
thunder  
#183 Posted : Sunday, June 5, 2011 9:46:54 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


Việt Hải: Viết Cho Ngày Father’s Day


UserPostedImage
viethaifamily (Tác giả mặc áo trắng đứng sau cha)


Jun 3rd, 2011

Chỉ còn non một tuần nữa là đến ngày lễ Cha, ba nhìn lên bàn làm việc của mình tại sở làm, cái ly “mug ” bằng giấy có bài thơ Anh ngữ mà cô giáo Mason giúp con làm lấy, để tặng cho ba ngày Father’s Day năm ngoái, ba vẫn còn yêu quý nó như ba yêu quý con. Những vần thơ mà cô Mason đã giải thích cho con từng ý nghĩa, mà tựu trung nó phản ảnh cái tình cha con của mình:

“I thank you on this Father’s Day,
For all the love you send my way ,
The things we learn, the games we play,
The many things you do and say.
***
Of all the dads, I must confess.
I think you are very best !
So please sit down to forget your stress,
Kick up your feet and take a rest ,
Please use this mug to make a brew,
A bag of green tea also includes ,
From my heart to you with all my love !
I really love you.

Trần Phước Hải Việt.


Hải Việt con yêu của ba,

Ba rất vui mừng khi nhận được món quà, mà con đã bỏ ra nửa buổi học, để cùng cô giáo nắn nót làm tặng ba. Dù rằng con chưa có khả năng Việt ngữ, để con viết lên những dòng thơ Việt ngữ tặng ba. Nhưng đó là những điều quý báu, được âm thầm làm bằng tấm lòng của con. Mỗi buổi sáng khi vào sở làm, ba uống trà xanh, ba vẫn nhớ hai anh em con. Những gói quà tầm thường của con, là những bằng ban khen hay những tác phẩm nghệ thuật của hai làm trong lớp học mà ba đã ưng ý và chân quý nhất, và ba đã chưng bầy khắp văn phòng làm việc của ba.

Hải Việt biết không? Tháng 6 trước ngày lễ Father’s Day năm 1994, mẹ con đã tặng ba một món qùa vô giá, đó là sự chào đời của con. Ba bồng con trên tay lần đầu tiên đúng vào ngày Father’s Day năm đó. Là một người Việt Nam sống ở xứ Mỹ, ba vẫn nuôi những ý nghĩ cổ điển, hơn là thế hệ của các con, vì ba vẫn hay so sánh những giá trị tốt đẹp của Việt Nam và cái hay của xứ người. Người Mỹ có ngày Mother’s Day vào tháng 5, và Father’s Day vào tháng 6 , thì người Việt Nam mình có ngày lễ Vu Lan để tưởng nhớ đến cha mẹ vào ngày 7 tháng 7 âm lịch. Ba ao ước các con sau này sẽ tìm hiểu nhiều hơn về văn hóa, và nguồn gốc Việt Nam của mình khi lớn lên. Cội nguồn dân tộc Việt Nam được bắt đầu bởi những câu đồng dao, mà ngày hôm nay con và anh con thi đua nhau ê a cả ngày. Mấy tuần trước thầy Bằng lớp Việt ngữ Văn Lang đã khuyến khích lớp học của hai con, học thuộc lòng câu đồng dao phổ thông như:

“Công cha như núi Thái Sơn .
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha ,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Thầy Bằng đã giải thích trong lớp học, cũng như mẹ giải thích cho con mỗi tối, những câu ca dao Việt ngữ mà con đã học. Cái vốn liếng tiếng Việt của con mỗi ngày, sẽ mỗi gia tăng, nếu hai con tiếp tục hoc Việt ngữ, rồi con sẽ yêu tiếng Việt hơn, văn hóa Việt hơn, và sẽ gần gủi với người Việt Nam nhiều hơn. Nước Việt Nam có nghèo nhưng sẽ không mang ý nghĩa văn hóa Việt Nam là xấu. Ðây là hai mệnh đề rất tương phản với nhau. Văn hóa Việt Nam mà ba đã hấp thụ, vẫn bàng bạc những ý tưởng rất xúc tích về chử “Hiếu ” của người con đối với công ơn sinh thành và dưỡng dục của các bậc phụ mẫu.

Con yêu của ba, người ta đã ví công cha như trời cao vút như ngọn núi Thái Sơn, và so sánh nghĩa mẹ bao la, tràn trề như nước chảy vũ bão từ thượng nguồn. Do đó sau này con lớn lên, con sẽ có dịp học thêm, những bài học về chữ hiếu trong quan niệm đông phương, như chuyện Nhị Thập Tứ Hiếu, có thầy Mẫn Tử Lộ đã cực khổ gánh gạo nuôi mẹ già , hoặc tướng quân Nguyễn Trãi vì chữ trung hiếu, giữ ý chí quật cường của cha già là cụ Nguyễn Phi Khanh để dẹp tan giặc ngoại xâm, hoặc cụ Nguyễn Trung Trực đã tự nạp mình cho giặc Tây khi chúng bắt mẹ ông làm con tin. Ngược dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, dù không có ngày Father’s Day hay Mother’s Day chính xác, nhưng những tấm gương như thầy Mẫn Tử Lộ, hay những tấm gương của tiền nhân Việt Nam, vì chữ trung hiếu, hẳn không thiếu vắng trong sinh hoạt mỗi ngày, khi con cái lo lắng cho cha mẹ già, cho đến khi cha mẹ qua đời. Ðó chỉ là sự thường tình ở xã hội đông phương, khi mà có những người con, đã hy sinh cuộc sống riêng tư của mình để lo cho cha mẹ già. Ðó là sự kiện “nước mắt chảy ngược”. Ba có người bạn thân đó là cô Mỹ Hạnh mà mẹ con biết, một lòng tận tụy với mẹ gìa, khi hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình ngay tại xa hội Mỹ này. Ba viết dòng này lên đây để tri ân, những tấm gương Việt Nam thật sáng ngời, giữ chữ hiếu với các đấng sinh thành.

Trở lại câu ca dao con đã học, nó nói lên cái đức tính cao cả về tình cha nghĩa mẹ lo lắng cho con cái, và nó mênh mông như biển Thái Bình. Một thí dụ khác chẳng hạn như chú Tình tại Việt Nam bị chính quyền Cộng sản ép buộc đi vùng kinh tế mợi Chú đã kể cho ba nghe trong thư là khi gia đình chú đi khai hoang ở một vùng hoang vu, và gia đình chú phải tự túc mọi thứ, nên cuộc sống thật khó khăn, chật vật và rất nghiệt ngã. Không đủ như cầu lương thực cho gia đình, nên chú thím phải nhịn đói, để dành những phần thức ăn cho con cái. Khi thấy con cái thiếu ăn, chú thím cũng như bao cha mẹ khác, đã nghẹn ngào nhìn đàn con ốm còm cõi. Thím Tình qua đời vì đói khát, và kiệt sức cùng với chứng bệnh sốt rét ngã nước. Ðó là trường hợp cha mẹ bất lực không đủ điều kiện lo cho con cái. Cũng như trường hợp cha mẹ thương con một cách khác mà ba đã chứng kiến tận mắt tại một văn phòng, của một bác sĩ người Việt ở Van Nuys gần nhà mình. Một cặp vợ chồng người Mỹ rất trẻ đã khóc lóc van xin bác sĩ chữa trị cho con ông bà, đứa bé trai 5 tuổi của ông bà bị té ngã tét trán. Vết thương khá sâu, nên máu chảy ra rất nhiều, vài văn phòng bác sĩ ở gần đó đã từ chối không giúp đỡ họ, vì người cha thất nghiệp không có bảo hiểm. Vị lương y người Việt đã động lòng trắc ẩn, vì tình người, nên đích thân ông đã ra tay chăm sóc cho đứa trẻ miễn phí. Ðó là những cảnh tượng, mà văn hóa Việt Nam gọi là “nước mắt chảy xuống” khi cha mẹ lo lắng vì con cái.

Cũng có trường hợp, các bậc cha mẹ là những tấm gương hy sinh cao cả vì con cái, họ đã can đảm bảo vệ con cái trong những hoàn cảnh hiểm nghèo, dù là loài vật hay nhân loại. Ba đã xúc động khi theo dõi một chương trình truyền hình bên Uùc châu về một người cha đã xả thân tử chiến với con cá sấu to lớn để bảo toàn tính mạng cho đứa con trai 7 tuổi của ông. Hậu quả là cá sáu đã đớp gẫy mất một chân của ông. Một chương trình khác về thiên nhiên và thú vật, ống kính truyền hình đã ghi nhận được khúc phim thật xúc động, khi một con gà mái can đảm chống chọi với con diều hâu ác độc, đang đe dọa tính mạng của đàn gà con. Gà mái đã chiến đấu tới cùng với diều hâu, nhưng cuối cùng gà mái đã thua cuộc, và bị diều hâu xé xác. Bởi vậy con à, tình cha nghĩa mẹ rất là thắm thiết, có thể đơn giản qua những mẫu chuyện ba đã chia sẻ với con, và rất đậm đà như người đàn ông Uùc châu tử chiến với cá sấu, hoặc con gà mái quyết sống chết để bảo vệ con mình. Ðó là những tấm gương cao quý rất đáng được ngưỡng mộ, đề cao, hầu có thể tiếp diễn từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Hải Việt con yêu dấu,

Khi con và anh Nam còn nhỏ, những đêm khuya các con bị nóng sốt, thì ba mẹ thay phiên nhau chăm sóc hai con. Mỗi khi nhiệt độ của các con lên cao, là hầu như ba chỉ thức trắng đêm, lo đo thân nhiệt, lo thuốc men, đắp nước đá, và có khi ba phải tắm nước thật lạnh, để ba ôm các con vào lòng, hầu làm hạ nhiệt độ trong người của con hoặc anh Nam. Có lần con bị tiêu chẩy vào giữa đêm khuya, ba đã chạy rong ở ngoài phố lúc 1 giờ sáng để tìm mua nước pedialyte cho con uống. Nói ra những điều này để con biết, những ngày con còn nhỏ, ba mẹ đã chia sẻ cuộc sống với các con như thế nào. Cái ngày mà anh Nam con, bị té từ ghế xích đu, trán của Nam bị chẩy máu, ba vừa băng bó để cầm máu, mà lòng ba đau buốt. Ba có cảm tưởng cái đau đớn của Nam là cái đau đớn của chính ba, khi nhìn máu cứ tiếp tục tuôn ra. Khi anh Nam 3 tuổi, Nam bị rớt xuống hồ tắm nhà mình, bác Thu bạn ba đã kịp thời nhảy xuống hồ tắm cứu sống Nam, mẹ con ôm Nam vào lòng mà oà khóc thê thảm như tưởng rằng đã mất con của mình. Ba đã nói với mẹ, nếu có mệnh hệ gì xẩy ra cho các con, ba chỉ xin đấng tối cao cho ba ra đi thay thế. Vì các con còn quá trẻ, ba nhìn cuộc sống của hai con như ánh bình minh vào buổi ban mai, với những tia sáng đầy hy vọng của ba. Ba không muốn là nguồn hy vọng của ba sẽ chợt tắt. Ngược lại ba nhìn những buổi sáng đưa các con tung tăng đến trường, ba thấy cuộc sống của ba rất có ý nghĩa, và đó chính là cái lẽ sống của ba, và rằng ba phải hy sinh cho các con nhiều hơn nữa.

Tất cả điều này ba tâm sự với con và anh Nam, khi tuổi đời của hai con chưa hiểu hết những lời ba nói ra đây. Ba cầu mong một khi các con khôn lớn, hai con vẫn tiếp tục học thêm tiếng Việt, để đọc hết những lá thư, mà ba có thói quen viết theo từng giai đoạn cho các con. Viết cho con nhân ngày sinh nhật, con tròn 7 tuổi và cũng sắp đến ngày Father ’s Day, cô giáo Mason đã thông báo cho ba mẹ biết, con sẽ được phần thưởng “The best student in the class “. Con à, nếu như mẹ đã cho ba món quà Hải Việt yêu quý của ba, cách đây 7 năm và ngày lễ Father’s Day này, con đã cho ba món quà quý gía, đó là sự chuyên cần học giỏi của con, một giọt máu yêu quý của ba. Ba cám ơn con nhiều lắm.

Việt Hải, Los Angeles


thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 6/7/2011(UTC)
xuan hoang  
#184 Posted : Monday, June 6, 2011 8:22:46 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Suy ngẫm về đạo lý của tổ tiên ta

Công cha - Nghĩa mẹ - Ơn thầy



UserPostedImage



Trong bản sắc văn hóa của dân tộc ta, có biết bao những nét đẹp truyền thống mà chỉ có thời gian mới làm sáng lên giá trị nhân văn của tinh hoa văn hóa được chắt lọc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Theo lời dạy của ông cha ta "Ôn cố tri tân" tức là ôn xưa để hiểu nay. Xin có vài dòng suy ngẫm về một đạo lý của tổ tiên ta "Công cha - nghĩa mẹ - ơn thầy".

Cụm từ thật đơn giản, nhưng càng đọc, càng tỉnh tâm suy ngẫm, ta càng cảm nhận được một ý nghĩa sâu xa về một đạo đức làm người được đúc kết từ xa xưa tổ tiên mình. Có thể thấy cụm từ "Công cha", "Ơn thầy" tựa hai đầu của chiếc đòn gánh cho mỗi đời người. Điểm trung gian của chiếc đòn gánh ấy chính là cụm từ "Nghĩa mẹ".

Trước hết, con phải "biết ơn cha", vì có công cha lao khổ nuôi dạy mới nên người. Đồng thời con phải ghi nhớ "nghĩa mẹ", vì nhờ có mẹ thường xuyên đùm bọc, chăm bẳm, thương yêu mới trưởng thành.

Nhưng con người chỉ có sự tự tin vào cuộc đời, vào con đường thành công của sự nghiệp khi có sự dạy bảo của người thầy giáo, vì trong các quan hệ xã hội thì người thầy giáo là người giúp cho ta có được vốn tri thức toàn diện để làm người. Người xưa đã dạy: Học để có được chữ "nhân", học để làm người, học để hiểu cuộc đời mà đối nhân xử thế - "Nhân bất học bất tri lý".


UserPostedImage



Cụm từ "nghĩa mẹ" phản ánh tình cảm ruột rà máu thịt, không thể dứt bỏ, khó bày tỏ được giữa mẹ và con. Từ "nghĩa" trong từ điển tiếng việt là dạng tình cảm đặc biệt, rất sâu nặng của con người. Tình cảm đó càng cảm nhận được bằng nỗi đau lìa cành, rách lá:

Chiều chiều ra đứng hiên sau
Ngóng về quê mẹ ruột đau chín chiều.


Nói về công ơn cha mẹ, ca dao có câu:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.


Núi Thái Sơn - một ngọn núi cao nhất đã đi vào huyền thoại của người Trung Hoa. Người cha có thể sẵn sàng chịu mọi khổ cực nhằm mục đích mang lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời của mỗi người con. Nỗi vất vả, cực nhọc của người làm cha được ví như núi đá "Thái Sơn". Núi đá "Thái Sơn" là biểu tượng cho sự trường tồn muôn thuở về sự nhọc nhằn của phận làm cha. Đó là sự vĩnh hằng, vĩ đại về công sức của người cha đối với con.

Mỗi con người đều phải trải qua bổn phận làm con, nhờ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ mới nên người. Nhưng muốn thành danh trên cuộc đời thì nhất thiết phải cần đến sự dạy bảo của người thầy giáo - "Không thầy đố mày làm nên", "Nhất tự vi sư bán tự vi sư".


UserPostedImage



Từ "thầy giáo" ở đây theo quan niệm của thuở xa xưa không những là người thầy trên trường lớp, mà còn là những người cao tuổi đứng ở ngôi trưởng lão, những người già, những thợ cả dẫn dắt cộng đồng bằng những kinh nghiệm trong cuộc sống, hiểu được những hiện tượng thiên nhiên thay đổi v.v...

Sự truyền đạt kinh nghiệm thông qua nhiều con đường: Do mỗi người tự chắt lọc trong cuộc sống, do được người đời chỉ dẫn hoặc được học qua trường lớp. Những người muốn thành đạt trong cuộc sống, nhất thiết phải trải qua quá trình "tầm sư học đạo". Hoàng đế Quang Trung khi đã lên ngôi mà vẫn một tuần dành ra một buổi để nghe một viên quan giỏi sử sách phụ đạo về lịch sử nước Tàu và lịch sử nước Việt, đặc biệt vị Hoàng đế áo vải này rất biết trọng dụng người tài. Trong lần kéo đại binh ra Bắc dẹp giặc, vua đã ghé vào vấn an bậc đại trí sĩ Nguyễn Thiếp, mặc dù ông này không mấy mặn mà với triều đại Tây Sơn. Ở Việt Nam, có không ít những tấm gương biết trọng đạo lý "Kính thầy". Chu Văn An - người thầy giàu trí tuệ và lòng nhân ái được cả nước tôn vinh, khi qua đời được đưa vào thờ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội.

Thời gian trôi qua nhanh, cha mẹ nuôi con không quản nhọc nhằn, thầy giáo dạy bảo học trò không quản khó khăn. Thầy giáo là người cha, là người mẹ thứ hai có công khai trí cho lớp lớp người kế tiếp nhau. Mỗi dịp xuân về, dân gian ta có tục lệ ơn thầy, ơn cha mẹ:

"Mồng một tết cha
Mồng ba tết thầy".


Tết thầy không cầu kỳ, rất đơn giản - chỉ đôi bánh chưng xanh, tượng trưng cho trời đất và sự sống; với trầu tượng trưng cho chất men và sắc màu của cuộc đời giàu ân nghĩa. Trò đến tết thầy cũng là dịp đầu năm chúc thầy trường thọ dạy bảo nên người. Mỗi con người, mỗi cuộc đời đều phải chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, quy luật xã hội nhưng khi trở thành người hữu ích hoặc may mắn đều cảm nhận được đạo lý "Công cha - nghĩa mẹ - ơn thầy" bằng chính sự trải nghiệm của riêng mình.



Ơn Nghĩa Sinh thành - Băng Tâm & Đặng Thế Luân
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Dce58t2vAp


Tuổi trẻ online

Edited by user Monday, June 6, 2011 8:41:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked xuan hoang for this useful post.
Ngoc N Hao on 6/6/2011(UTC)
thunder  
#185 Posted : Tuesday, June 7, 2011 1:25:41 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Từ Thần Thoại – Truyền Thuyết
Đến Truyện Tranh và Phim Hoạt Hình Của Dân Tộc Việt

UserPostedImage


BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:


I. Hai thần thoại - truyền thuyết, hai biểu tượng của dân tộc


1. Là người Việt, không ai là không biết tới hai thần thoại - truyền thuyết, đó là Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh. Và đây cũng là hai thần thoại - truyền thuyết được xuất bản nhiều nhất, được vẽ thành truyện tranh và được dựng thành phim hoạt hình.

Sau đây xin tóm tắt cốt truyện Thánh Dóng.


"Ở thôn Gióng Mốt, xã Phù Đổng có một dấu chân khổng lồ in trên mặt tảng đá lớn. Đó là dấu chân ông Đổng về hái cà trong một đêm mưa gió.

Mồng chín tháng tư âm lịch, vào tiết mưa dông đầu hè, ông Đổng về hái cà, gây nên gió bão, sấm chớp và mưa to.

Có một người đàn bà xấu xí nghèo khổ, tuổi đã muộn màng nhưng con cái không có. Bà phải sống một mình trong túp lều tranh. Một đêm mưa to gió lớn, ông Đổng về hái cà để lại dấu chân trong vườn cà của bà lão. Bà dẫm vào dấu chân ấy, tự nhiên, thấy tâm thần rung động, về nhà bà thụ thai, đẻ ra ông Đổng con (tức ông Dóng trong truyền thuyết Thánh Dóng sau này). Sinh ra, trong ba năm liền, ông Dóng cứ nằm yên trên chõng đá, không nói câu nào.

Vào thời Hùng Vương, giặc Ân đến xâm chiếm nước Văn Lang, vua triệu các bá quan đến bàn kế đánh giặc và cho sứ giả đi khắp nơi để loa truyền mời người tài ra cứu nước. Một hôm, sứ giả đi qua làng Phù Đổng gọi loa truyền lời thỉnh cầu của nhà vua. Nghe xong, ông Dóng cất tiếng nói đầu tiên, bảo mẹ ra mời sứ giả vào gặp mặt. ông Dóng yêu cầu sứ giả về trình với vua rèn ngựa sắt, roi sắt để ông đánh giặc Ân. Từ đó, ông Dóng vươn người đứng dậy, thành người khổng lồ, ăn bao nhiêu cơm cà mà vẫn không no.

Khi nhà vua sai người mang ngựa sắt, roi sắt tới, ông Dóng nhảy lên mình ngựa, vung roi sắt tiến đánh giặc Ân, khiến chúng tan tác. Giữa lúc đó roi sắt của ông Dóng bị gẫy, ông liền nhổ tre quất vào quân giặc, khiến chúng bỏ chạy, xác giặc chết đầy đồng.

Đánh tan quân giặc, ông Dóng đi đến núi Sóc Sơn, cởi bỏ áo giáp, cưỡi ngựa bay lên trời. Vua Hùng nhớ ơn ông, tôn là Phù Đổng Thiên Vương, sai lập miếu thờ ở làng Phù Đổng". Sau này, cứ đến ngày mở hội Dóng mồng chín tháng tư, thấy trời oi bức, mây kéo vần vũ, có các trận mưa nhỏ đầu tiên thì dân lại bảo nhau ông Dóng từ trời đã trở về(1).

Theo nhiều nhà nghiên cứu, truyện Thánh Dóng vốn từ một thần thoại (myth) đã chuyển hoá thành truyền thuyết (legend)(7). Hơn thế nữa, gắn với thần thoại và truyền thuyết này là các di tích, nghi lễ thờ phụng, lễ hội với các trò diễn dân gian tái hiện đời sống người anh hùng, như tục rước nước, tục rước kiệu 28 cô gái đóng vai giặc Ân, ba trận ông Dóng đánh giặc Ân..., tạo nên một diễn xướng nghi lễ với quy mô hoành tráng, khiến người nước ngoài được xem hội Dóng thế kỉ XIX cũng phải kinh ngạc về quy mô của nó .

Truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh có thể tóm lược như sau:


Thời Hùng Vương thứ 18 đóng đô ở đất Việt Trì, Phong Châu, quốc hiệu là Văn Lang. Vua có người con gái tên là Ngọc Hoa có sắc đẹp. Thục Phán cầu hôn, nhà vua không bằng lòng, muốn chọn rể hiền.

Mấy ngày sau, bỗng thấy hai người xưng là Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đến cầu hôn. Hùng Vương truyền để thi pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi núi lở, ra vào trong đá không có gì trở ngại. Thuỷ Tinh lấy nước phun lên không, biến thành mây mưa. Vua nói: "hai vị đều có phép thần thông, nhưng ta chỉ có một cô con gái, vậy ai mang sính lễ đến trước, ta khắc gả cho".

Tờ mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đã cho người mang đến dâng vua Hùng nào là vàng bạc, châu báu, nào là thú lạ, vật quý như voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao... Vua Hùng cả mừng và y lời, liền cho đón dâu về núi Tản Viên.

Thuỷ Tinh cũng cho đưa hàng trăm thứ trân châu, đồi mồi, san hô, cùng các giống tôm cá đặc biệt, nhưng vì chậm chân một chút đã mất Ngọc Hoa. Thuỷ Tinh nổi giận, sai khắp các loài thuỷ tộc dâng nước bao vây núi Tản Viên, quyết đánh Sơn Tinh để trả thù. Suốt mấy ngày đêm, đất trời đen tối, mưa gió mịt mùng, đồng ruộng nước băng như biển cả. Thần Tản Viên và bộ hạ vẫn vững lòng chống đỡ. Nước dâng bao nhiêu thì thần lại dâng núi cao lên chừng ấy. Dân chúng ở chân núi đóng một dãy cọc thưa để chắn nước, đánh trống mõ, gõ cối reo hò để hậu thuẫn cho quân Sơn Tinh. Qua mấy ngày đêm giao tranh, quân của Thuỷ Tinh chết rất nhiều, xác ba ba và thuồng luồng nổi đầy cả sông.

Thuỷ Tinh đánh mãi không thắng được Sơn Tinh, vội rút quân về. Sơn Tinh được sống yên ổn, hạnh phúc với Ngọc Hoa. Ngôi đền Và (nay tại thị xã Sơn Tây) được người dân dựng lên để ghi chiến công oanh liệt của Sơn Tinh. Tuy nhiên, Thuỷ Tinh vẫn không quên thù hận xưa, nên hằng năm vào tháng bảy, tháng tám, lại dâng nước đánh Sơn Tinh, gây thiệt hại cho dân. người ta truyền nhau rằng đó là Thuỷ Tinh đánh Sơn Tinh để giành lại Ngọc Hoa"(5).

Cũng giống như truyện Thánh Dóng, truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh không chỉ là truyện kể truyền miệng đơn thuần, mà nó tồn tại trong tâm thức nhân dân thông qua các di tích và nghi lễ thờ cúng ở cả vùng xứ Đoài (Phú Thọ, Sơn Tây ngày nay), qua lễ hội hằng năm với các diễn xướng phong tục, như tục đánh cá thờ, tục lấy 99 cái đuôi cá (biểu trưng cho quân Thuỷ Tinh) dâng Sơn Tinh, tục rước Chúa Gái, tái hiện sự tích Sơn Tinh rước Ngọc Hoa về núi Tản Viên trong ngày cưới ...

Trong tâm thức dân chúng đương đại, nhất là họ lại được củng cố bằng các công trình của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, rằng hai thần thoại - truyền thuyết Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh là hai biểu tượng của bản sắc dân tộc, đó là chí khí quật cường chống ngoại xâm và chống lại sự tàn phá của thảm hoạ thiên tai bão lũ. Đó là hai biểu tượng của ý thức dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Chẳng thế mà từ lâu, Thánh Dóng và Sơn Tinh đã trở thành hai trong “Tứ bất tử" (bốn vị thần bất tử) của điện thần Việt Nam(6).

Việc xây dựng hình tượng Thánh Dóng và Sơn Tinh và coi đó như là hệ biểu tượng của bản sắc dân tộc là điều hoàn toàn dễ hiểu của thực tế lịch sử Việt Nam. Như mọi người đều biết, dân tộc Việt hình thành và sinh tồn đầu tiên ở châu thổ sông Hồng cách ngày nay gần ba ngàn năm. Suốt quá trình lịch sử lâu dài, dân tộc Việt, một mặt, đã liên tục phải đương đầu với các thế lực xâm lược từ phương bắc, trong đó đã mất gần một ngàn năm bị ngoại bang đô hộ, nhưng với tinh thần quật cường không chịu khuất phục, cuối cùng đã vùng lên đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc (thế kỉ X); mặt khác, để sinh tồn, các thế hệ người Việt đã kế tiếp nhau chinh phục, khai thác đồng bằng sông Hồng lầy trũng, đắp đê ngăn bão lũ, tạo nên hệ thống đê điều dài hàng ngàn km, được ví như là công trình “Kim Tự Tháp” của Việt Nam!

Thánh Dóng và Sơn Tinh, hai biểu tượng của tinh thần chống ngoại xâm và chống bão lũ là hai nhân tố cốt lõi của hệ ý thức Việt Nam. Đó là đòi hỏi khách quan của cộng đồng người Việt khi bước vào giai đoạn lịch sử hình thành nhà nước và nhất là giai đoạn xây dựng nhà nước phong kiến tự chủ tập quyền, mà triều Lý, Trần (thế kỉ XI-XIII) là sự thể hiện tập trung. Cộng đồng người Việt trong quá trình hợp nhất và thống nhất ấy, đòi hỏi sự tự nhận thức thế giới và nhận thức về bản thân mình, từ đó hình thành nên các hệ biểu tượng, hệ giá trị, mà càng ngày cùng với sự phát triển của xã hội phong kiến, giai cấp thống trị đại diện cho xã hội hiện tồn, có ý thức trong việc phát triển và củng cố các biểu tượng và hệ giá trị ấy, thành hệ ý thức xã hội, tuy về mặt này hay khác nó còn quyện chặt với yếu tố hoang đường, tín ngưỡng tôn giáo, nhưng không nghi ngờ gì nữa, nó là bức tranh phản ánh lịch sử đất nước và dân tộc. Đó chính là sự thâu tóm lịch sử cụ thể và hiện thực thành một thứ lịch sử tinh thần, một thứ lịch sử mang đầy chất thi hứng và thẩm mĩ, được truyền tụng mãi tới mai sau(6).

2. Bản chất của các hiện tượng folklore thường là tích hợp nhiều lớp biểu tượng và nhiều giá trị (đa biểu tượng, đa giá trị), do vậy, những biểu tượng và giá trị của hai thần thoại - truyền thuyết Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh mà chúng tôi vừa phân tích ở trên chỉ là lớp biểu tượng, lớp giá trị mang tính tiêu biểu, đặc trưng, mà thường đó là lớp hữu thức, lớp có sau, gắn liền với ý thức cộng đồng dân tộc và quốc gia và sớm được chính trị hoá. Còn lớp nhân lõi đầu tiên, lớp tiềm ẩn thì thường về sau trở thành cái vô thức, cái thói quen bản năng, cái mà chủ nhân văn hoá chỉ có thể cảm nhận chứ không thể ý thức được.

Với hệ thống thần thoại - truyền thuyết và nghi lễ Thánh Dóng, tuy nó mang trong mình tính biểu tượng rõ nét của ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, tuy nhiên, không phải khó khăn lắm khi nhận ra lớp biểu tượng, lớp giá trị cổ sơ hơn của nghi lễ nông nghiệp. Hội Dóng mở vào ngày “mồng chín tháng tư”, là thời điểm bắt đầu vào mùa mưa, mùa gieo trồng lúa, thời điểm vũ trụ chuyển từ “âm suy” sang “dương thịnh”. Ông Dóng với các tình tiết mô tả trong thần thoại hiển hiện hình trạng của vị thần sấm chớp mưa dông. Cuộc giao tranh của Dóng trước khi trở thành giao tranh giữa “ta” và “giặc”, giữa người bị xâm lược và kẻ xâm lược, thì vốn đã là cuộc “giao tranh giữa âm và dương”, mà trong thời điểm giao thời của vũ trụ ấy, bên “dương” tất thắng bên “âm”, mưa phải thắng hạn. Chẳng thế mà quân của Dóng là các chàng trai khoẻ mạnh, còn quân của giặc Ân là 28 cô gái trẻ mềm yếu. Trước khi cây tre được Dóng dùng làm vũ khí đánh quân xâm lược, thì nó đã là “hoa tre” thường dùng để tranh cướp trong ngày hội mang hình sinh thực khí dương (dương vật), mà theo quan niệm dân gian, ai cướp được hoa tre thì gia đình sẽ gặp may, vợ sẽ đẻ con trai. Theo hồi cố của dân gian, trước khi Dóng tiến hành ba trận đánh giặc Ân vào ngày mồng chín tháng tư, thì đêm trước đó trai gái làng Phù Đổng rủ nhau ra bãi sông trước đền Dóng, chơi trò đuổi bắt, trêu ghẹo nhau. Và còn nữa, đám rước nước từ đền Dóng sang đền Mẹ với ý nghĩa lấy nước của giếng Mẹ rửa khí giới của Dóng trước khi xung trận, thì đã là lễ rước nước cầu đảo (cầu mưa)... Rõ ràng là, thần thoại - truyền thuyết và các nghi lễ Thánh Dóng trước khi trở thành thần thoại - nghi lễ mang biểu tượng chống ngoại xâm thì nó đã là một thần thoại và nghi lễ mang biểu tượng cầu mưa của nghi lễ nông nghiệp. Sự đắp đổi biểu tượng này chỉ có thể hoàn tất vào thời nhà Lý (thế kỉ XI - XII) và các triều đại sau đó.

Còn với thần thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh thì cũng không nằm ngoài quy luật chung kể trên. GS. Nguyễn Tấn Đắc trong công trình Đọc lại Sơn Tinh Thuỷ Tinh, đã công phu bóc lớp biểu tượng “chống lũ lụt” mang tính hữu thức và đương đại, thì cũng đã làm hé lộ ra cái nhân lõi đầu tiên mà nay đã trở thành vô thức, đó là phản ánh một đặc trưng xã hội thời kì đầu của người Việt cổ với hình thái hôn nhân tranh cướp phụ nữ, mà tàn dư của nó còn để lại ở nhiều dân tộc, trong đó trạng thái nguyên vẹn còn thấy trong các cuộc chiến tranh tranh cướp phụ nữ phản ánh qua các sử thi Tây Nguyên(2). Theo tôi, sự đắp đổi biểu tượng này diễn ra vào thời Bắc thuộc (thế kỉ I - X), thời kì người Việt từ rìa trung du xuống khai thác đồng bằng lầy trũng của châu thổ sông Hồng.

Một đặc trưng khác của hệ thống thần thoại - truyền thuyết là nó không chỉ là truyện kể truyền miệng độc lập, mà thường kết hợp với các nghi lễ, lễ hội, phong tục và cả với các di tích vật thể như đền, phủ, đình..., nơi thờ cúng các thần linh, tạo nên một hệ thống mang tính tổng thể: Thần thoại - truyền thuyết - thần tích - di tích - nghi lễ, lễ hội, phong tục. Thậm chí, trong hệ thống này, các thần thoại - truyền thuyết nhiều khi mang tính bổ trợ cho hệ thống di tích, nghi lễ và lễ hội. Do vậy, xét cho cùng, đây là hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể. Từ đây dẫn đến một hệ quả mang tính phương pháp luận là, chúng ta sưu tầm và nghiên cứu các thần thoại - truyền thuyết thì không thể tách rời di tích, nghi lễ, lễ hội, phong tục, nếu không, chúng ta sẽ dễ rơi vào cách nhìn nhận phiến diện, sai lạc. Đây cũng là một thí dụ để nói lên tính gắn kết hữu cơ giữa các dạng vật thể và phi vật thể của nghiên cứu văn hoá. Có thể nói công trình Người anh hùng làng Dóng của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh đã cho ta một thí dụ tuyệt vời của phương pháp sưu tầm, nghiên cứu mang tính gắn kết tổng thể này(3).

II. Từ thần thoại đến phim hoạt hình và truyện tranh, bản sắc dân tộc sẽ ra sao?


1. Như mọi người đều biết, truyện tranh và phim hoạt hình gắn bó chặt chẽ với văn hoá dân gian, trong đó các đề tài, cốt truyện của hai loại hình nghệ thuật nghe nhìn này đã, đang và sẽ khai thác từ kho tàng vô tận thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, sử thi... của các dân tộc.

Làm truyện tranh cho thiếu nhi là lĩnh vực của Nhà xuất bản Kim Đồng. Trong tổng số hàng mấy trăm ấn phẩm đã xuất bản trong gần 50 năm qua, có 57 tác phẩm truyện tranh lấy đề tài từ truyện kể dân gian, như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích..., trong đó có truyện tranh Sơn Tinh Thuỷ Tinh(8) và Chuyện ông Dóng(4), xuất bản lần đầu vào thập kỉ 60. Từ đó đến nay, hàng năm đều tái bản với số lượng hơn 10.000 bản.

UserPostedImage


Ở Việt Nam, từ năm 1960, bộ phim hoạt hình đầu tiên ra mắt khán giả đến nay đã có hàng trăm phim hoạt hình được sản xuất, với các thể loại: hoạt hình, hoạt hoạ, búp bê. Chỉ tính riêng từ 1975 đến 1990, trong số 200 phim hoạt hình được sản xuất, thì đã có hơn 50 phim lấy chủ đề từ thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn...(9). Tất nhiên, trong số hơn 50 phim hoạt hình ấy có phim búp bê “Chuyện ông Gióng” của đạo diễn Ngô Mạnh Lân, sản xuất năm 1970 và phim “Sơn Tinh Thuỷ Tinh" của đạo diễn Trương Qua, sản xuất năm 1971. Cả hai bộ phim này đều xây dựng dựa vào cốt truyện của hai truyện tranh nêu trên.

Bây giờ chúng ta có thể đi sâu hơn nhận diện và phân tích các khía cạnh bản sắc dân tộc đã được chuyển hoá như thế nào trong quá trình chuyển thể từ thần thoại - truyền thuyết sang phim hoạt hình và truyện tranh?

2. Rõ ràng là, khi một thần thoại, truyền thuyết chuyển thể sang tranh truyện và phim hoạt hình thì những điều kiện hợp thành của nó cũng thay đổi và từ đó các khía cạnh bản sắc văn hoá cũng có sự khác biệt.

- Ở Việt Nam, theo truyền thống nhiều thập kỉ nay, truyện tranh và phim hoạt hình chủ yếu giành cho thiếu niên, nhi đồng, khác với nhiều nước, hai thể loại này phục vụ cho mọi lứa tuổi. Chính mục đích phục vụ này đã quyết định nhiều tới cách thức và cả nội dung thể hiện. Người thực hiện các tác phẩm truyện tranh và phim hoạt hình phải lựa chọn tuyến nội dung truyện sao cho thật đơn giản, lược bỏ đi khá nhiều tình tiết của thần thoại và truyền thuyết. Thí dụ, trong thần thoại -truyền thuyết Thánh Dóng, việc mô tả diện mạo và hành động của ông Đổng, như một vị thần sấm chớp, mây mưa, đều không được khai thác. Đặc biệt là các tình tiết của diễn xướng lễ hội Thánh Dóng đều không được thể hiện trong truyện tranh và phim hoạt hình, khiến cho tính “đa biểu tượng” của “Người anh hùng làng Dóng” cũng không rõ nét nữa. Ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật trong truyện tranh và phim hoạt hình cũng được “đơn giản hoá” để phù hợp hơn với lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng.

- Đặc biệt, từ thần thoại và truyền thuyết vốn mang tính tổng thể, đa nguyên của văn hoá dân gian, nay được thể hiện trong truyện tranh và phim hoạt hình mang tính đơn nhất, đơn nguyên, khiến cho nội dung thể hiện vừa tập trung hơn, nhưng cũng nghèo nàn hơn, các tình tiết mang tính vô thức đều bị tước bỏ, còn các tình tiết hữu thức, mà ở truyện Thánh Dóng là tinh thần chống ngoại xâm và trong truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinhlà chống lũ lụt lại được tập trung và tô đậm hơn.

- Từ truyện cổ dân gian đến truyện tranh và phim hoạt hình là quá trình chuyển thể loại, do vậy từ góc độ người thưởng thức cũng có sự khác biệt trong cảm thụ văn hoá. Con người từ việc nghe truyện cổ dân gian đến việc tham gia vào các hoạt động nghi lễ, lễ hội và phong tục liên quan, thực sự là quá trình nhập thân và trải nghiệm của người trong cuộc, từ đó làm nảy nở trí tưởng tượng và các hành động thực hành nghi lễ mang đầy chất tâm linh; còn khi đọc một truyện tranh hay xem một bộ phim hoạt hình với ngôn ngữ chủ yếu là đường nét, hình ảnh và màu sắc, thì dường như người đọc được tiếp nhận như một thông điệp từ bên ngoài không mang tính trải nghiệm và nhập thân. Tất nhiên, mỗi cách tiếp cận đều có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Do vậy, đối với trẻ nhỏ, tôi nghĩ không nên quá lạm dụng kiểu “áp đặt” một hình tượng vốn đa bản sắc thành một hiện tượng đã được người vẽ tranh và làm phim “đơn nhất hoá”.

- Ý thức xã hội trong thời điểm làm phim và truyện tranh, thông qua ý thức cá nhân của tác giả, cũng tác động không nhỏ tới việc thể hiện nội dung tác phẩm. Việt Nam vào những năm 70 của thế kỉ XX là thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh khốc liệt chống Mĩ, giải phóng miền Nam, do vậy cả đất nước dốc sức cho chiến tranh, kể cả việc huy động truyền thống yêu nước chống ngoại xâm mấy nghìn năm của dân tộc. Trong môi trường chính trị - xã hội như vậy, hơn lúc nào hết sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà Sơn Tinh và Thánh Dóng là biểu tượng tập trung và sáng ngời được huy động hết “công suất” và được tô đậm hơn lúc nào hết. Mọi tình tiết của thần thoại và truyền thuyết nằm ngoài “tuyến tư tưởng” ấy đều bị gạt bỏ. Về phương diện này, cái bản sắc dân tộc thể hiện trong thần thoại và truyền thuyết vốn mang tính đa nguyên, nay được tô đậm và trở thành nhất nguyên.

Như vậy là, với tác động của nhiều nhân tố: Mục đích phục vụ của người làm phim và vẽ tranh là thiếu niên, nhi đồng; tính chất của thể loại, đặc biệt là môi trường chính trị - xã hội... đã tác động nhiều mặt đến quá trình chuyển thể từ thần thoại - truyền thuyết đến truyện tranh và phim hoạt hình ở Việt Nam, trong đó bản sắc dân tộc được tô đậm theo hướng nhất nguyên hoá. Điều này phải chăng là tất yếu với tất cả các nước và các dân tộc hay chỉ là đặc điểm mang tính đặc thù của Việt Nam? Rất tiếc, tôi không có được sự hiểu biết về phim hoạt hình và truyện tranh của Nhật Bản và các nước khác. Tuy nhiên, theo suy diễn mang tính lôgic thì những điều trình bày trên phần nhiều mang tính đặc thù Việt Nam hơn là tính phổ quát.

TS. Ngô Đức Thịnh

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 1:26:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hungholland  
#186 Posted : Tuesday, June 7, 2011 2:04:31 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TRUYỆN KIỀU


UserPostedImage

Đoạn V : KIM TRỌNG TƯƠNG TƯ THUÝ KIỀU

Tóm tắt nội dung : Sau lần gặp gỡ đầu tiên giữa Kim - Kiều. Chàng Kim đã ra về với nỗi nhớ mong.

" Chàng Kim từ lại thư-song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây."


Và chàng đã tương tư Kiều :

"Bâng khuâng nhớ cảnh,nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ,vội dời chân đi."

Kim Trọng chợt thấy phía sau nhà Kiều có 1 gia đình có phòng bỏ trống và lấy cớ học hành để xin hỏi thuê phòng nhưng thực ra để thoả nỗi lòng ngày nhớ đêm mong :

"Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang."

----o0o----

"Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.
245.. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
Mây Tần khóa kín song the,
250.. Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
255.. Mành Tương phất phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng duyên nợ ba sinh,
Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
260.. Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu !
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khảy trêu.
265.. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
270.. Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu ?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
275.. Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,
280.. Có hiên Lãm thúy, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
285.. Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra "

( Còn tiếp )


Giải nghĩa:

244. Tơ mành: Sợi tơ mong manh. Hai chữ này chỉ chung Kiều và Kim Trọng để kết thúc đoạn nói về Kim Trọng.

245. Thư song: Chỗ cửa sổ phòng đọc sách.

246. Biếng khuây: Không khuây, không khuây.

247. Sầu đong càng lắc càng đầy: ý nói mối sầu tương tư, càng ngày càng chồng chất lên mãi.

249. Câu này ý nói: Mây che kín cửa sổ phòng Kiều.

251. Tuần trăng khuyết: Khuyết hết cả một tuần trăng (cứ mỗi kì trăng tròn, gọi là một tuần trăng). Chỉ thời gian suốt cả tháng.

Đĩa dầu hao: Đĩa dầu hao cạn (vì đèn bị thắp khuya).

254. ý cả câu: Bút để lâu không viết đến ngọn bị khô đi, đàn để lâu không gẩy đến dây bị chùng lại. ý nói Kim Trọng buồn trong tương tư, bỏ cả việc học hành và gẩy đàn.

255. Mạch Tương: Mành làm bằng trúc núi Tương.

257. Ba sinh: Do chữ Tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân chuyển: "Quá khứ", "hiện tại" và "vị lai" của con người.

260. Kỳ ngộ: Sự gặp gỡ kì lạ.

264. Vĩ lô: Cây lau, cây sậy.

266. Lam Kiều: Vùng đất thuộc Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Bùi Hàng, đời Đường, khi thi hỏng về, gặp Vân Kiều tặng bài thơ, có câu:"Lam Kiều tiện thị thần tiên quật, hà tất khi (kì) khu thướng ngọc kinh" (cầu Lam là cái tổ tiên đó, hà tất phải vất vả lên đế đô để thi cử làm gì). Về sau, Hàng đi qua một nơi, gọi là Lam Kiều, khát nước, vào xin nước một nhà bà lão gần đấy thấy Vân Anh, (em Vân Kiều), cháu gái bà, người tuyệt đẹp, Hàng ngỏ ý cầu hôn, bà lão bảo: Bà cân dùng cối ngọc và chày ngọc để giã thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên), nếu có những thứ ấy làm sính lễ sẽ gả con cho. Hàng về tìm được cối và chày ngọc đưa đến, lại ở đấy giã thuốc cho bà lão một trăm ngày, rồi lấy Vân Anh và sau hai vợ chồng cùng lên cõi tiên. ở đây, Lam Kiều chỉ chỗ nhà ở của Kiều.

268. Lá thắm: Do chữ Hồng diệp. vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên ngòi nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngòi nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thì.

Chim xanh: Người ta thường gọi sứ giả đưa tin là "chim xanh" (thanh điểu). Câu này ý nói: Khó thông tin tức mối manh với Thuý Kiều.

275. Ngô Việt thương gia: Nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt (đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt).

279. Đá: Đây chỉ núi giả (ta thường gọi là núi non bộ) do những tảng đá xếp thành.

280. Lâm Thuý: tên cái hiên của nhà Ngô Việt thương gia. Vì có chữ Thuý trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới mừng thầm là có duyên số tiên định.

281. Bài: Bày ra, xếp đặt sẵn, do chữ "an bài".

283. Song hồ: Cửa sổ dán giấy. Cành mây: Cánh cửa sổ.

285-286. ý nói: Cửa động bị khoá, cửa nguồn bị ngăn, cho nên tuy nhà Kiều gần có ganh tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở.

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 2:32:44 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#187 Posted : Tuesday, June 7, 2011 2:22:18 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

PHẠM QUỲNH VÀ VIỆC ĐẮP XÂY CƠ SỞ
VUN TRỒNG CHO VĂN QUỐC NGỮ


Lời dẫn của Phạm Tôn:
Đây là phần chúng tôi trích trong bài thuyết trình nhan đề Cô Kiều với Phạm Quỳnh của Gs Phạm Thị Nhung đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20-12-1992. Nhan đề là của chúng tôi

***

Sau 15 năm thành lập báo Nam Phong, Phạm Quỳnh chủ nhiệm kiêm chủ bút, qua bài Quốc Học với Quốc Văn (Nam Phong số 164, tháng 7-1931), đã xác định rõ lập trường thờ chủ nghĩa quốc gia của ông, bằng những hoạt động phụng sự cho văn hóa nước nhà bấy nay như sau :

“Báo Nam Phong từ ngày ra đời đến giờ vẫn theo đuổi một mục đích : gây lấy một cái tản văn để vừa làm cơ quan vừa làm cơ sở cho quốc học sau này ; vì chúng tôi vẫn đinh ninh rằng không có quốc học thì không sao có độc lập về tinh thần được, không có độc lập về tinh thần thì không sao có được độc lập về chính trị được.

“Ấy quốc văn nó quan hệ cho quốc học như vậy, quốc học quan hệ cho quốc vận như vậy” thế nên “Nhà văn muốn thờ nước thì không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước có một nền quốc văn xứng đáng.

“Đó là cái chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy.”

Lời xác định này đã soi sáng cho lý tưởng phụng quốc bằng văn hoá của Phạm Quỳnh khi nhận lời thành lập Nam Phong. Thế nên vừa có phương tiện trong tay, Phạm Quỳnh thảo ngay một kế hoạch hoạt động lâu dài để tiến tới việc xây dựng một nền quốc học trong tương lai, mà cấp vụ đầu tiên là phải gây lấy một nền quốc văn xứng đáng.

Do đó, báo Nam Phong ngay số ra mắt, Phạm Quỳnh đã đặt vấn đề xây dựng quốc văn làm mục tiêu chính của tờ báo

“Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, bước tiến hoá sau này mới có thể mong mỏi được. Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới thâu thái được các khoa học mới mà gây thành một nền học thích hợp với trình độ, mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình à Nói rút lại quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quốc dân ta mới không đến nỗi chung kiếp đi học mượn, viết nhờ như từ trước đến nay” (Văn Quốc Ngữ).

Để giải quyết vấn đề quốc văn “mới nở còn non nớt chưa đủ sức” buổi ấy, Phạm Quỳnh đã phải nỗ lực hoạt động trên nhiều lãnh vực.

Phạm Quỳnh cổ võ đồng bào tham gia chiến dịch gây dựng tài bồi cho văn quốc ngữ bằng cách viết văn, đọc văn.

Vì nhận thấy dân mình bấy giờ thường có thái độ “coi thường, coi khinh, thờ ơ ” với văn quốc ngữ, vì lẽ : học dễ không đáng học – quá non nớt, yếu kém so với văn Tàu, văn Tây – vô tích sự vì không mưu sinh được, nên ông ra công kêu gọi bằng cách khơi động lương tâm và lòng ái quốc của họ.

Văn quốc ngữ nước ta ngày nay ví như đứa trẻ “đương buổi ấu trĩ này, phải có người chăm chút, phải có người trông nom, phải có người phù trì mà cũng phải có người tưởng lệ, thì mới mong ra khỏi tuần măng sữa, hết thời kỳ sài đẹn, mà đến tuổi lớn khôn mạnh mẽ.”

Thế nên ông khích lệ những nhà Tây học, cùng những nhà cựu học, hãy “viết văn quốc ngữ, đem sở học, sở trường của mình đóng góp công đức vào việc xây dựng tô bồi cho nó.”

Không những kêu gọi người viết văn, Phạm Quỳnh còn kêu gọi cả người đọc quốc văn (để phấn khởi người viết văn) mà cho rằng “ngày nay người nào chịu tập văn nôm là làm một việc công đức, người nào chịu xem văn nôm là làm một việc nghĩa vụ. Công đức ấy, nghĩa vụ ấy, người có lòng có dạ với nước, há lại chẳng nên vui vẻ mà làm ru ?

“Chữ quốc ngữ chính là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân … Xin đồng bào chớ lãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ. Tương lai nước ta chính ở đó.” (Văn Quốc Ngữ, Nam Phong, số 1, 1917)

Riêng phần Phạm Quỳnh, ông một lòng cung-cúc, tận tụy đắp xây cơ sở và vun trồng cho quốc văn : trước hết bằng những bài biên dịch thiên về đường tư tưởng, nghị luận, theo Phạm Quỳnh, “lúc quốc văn mới nhúm thành, ta cần phải dịch sách người hơn là làm sách mới. “

Sao vậy ? Vì họ Phạm muốn nhắm vào những mục đích :

. Luyện cho câu văn quốc ngữ được “sắc sảo, mềm mại“.

. Học lấy và truyền bá lối văn học vấn, văn nghị luận, thuyết lý mà ta chưa có.

. Sau nữa là có dịch, có đối chiếu với văn người mới biết mình thiếu tiếng gì mà phiên dịch, tân tạo những tiếng mới, bổ khuyết vào, cho quốc văn thêm phong phú.

Trong bài Báo Nam Phong Được Mười Tuổi (Nam Phong. số 119, 1927), nhóm biên tập cũng đã lưu ý về những điểm này như sau :

“Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra, vận văn của nước ta nhờ các tiền nhân tập luyện đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn xưa nay hầu như chưa có, mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay. Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, ‘phát hành’ kể có hàng ngàn tiếng mới.”

Những chữ mới này đã được xuất hiện đều đặn trên mấy tờ “Tự Vựng” trong mỗi số Nam Phong, được thích nghĩa rõ ràng, để giúp cho sự học trong nước và cho người làm văn khỏi dùng sai lầm. (Lê Thanh trong bài “Ba người thợ cần mẫn : Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Khắc Hiếu” đăng trên báo Tri Tân số 172 ngày 28-11-1941, viết “Trong một câu chuyện văn chương, ông Đào Duy Anh cho tôi biết rằng cái mục Tự Vựng đã giúp sự học của ông rất nhiều và có lẽ chính những trang giải nghĩa danh từ mới ấy là cái mầm những từ điển của ông.”) Lâu dần chúng trở thành quen thuộc, thông dụng. Bao nhiêu chữ mới như : quan điểm, chủ nghĩa, xã hội, văn minh … đã thấy tái hiện trên sách báo, và làm công cụ diễn đạt tư tưởng cho người Việt chúng ta từ bấy lâu nay.

Lại nữa, câu văn quốc ngữ chưa có kỷ luật gì nên Phạm Quỳnh đã nêu ra vấn đề văn pháp, và gợi ý các nhà tân cổ học viết văn quốc ngữ nên biết những ưu, khuyết điểm của mình, bổ túc cho nhau để tạo một lối riêng cho văn quốc ngữ :

“Quốc văn ta đã chịu ảnh hưởng của chữ Hán trong mấy mươi đời, nay muốn gây dựng ra quốc văn phải nhân ảnh hưởng đó mà lợi dụng ra (những người chủ trương bỏ hết chữ nho cùng những lối văn nho đã dung hoà với quốc âm từ bao giờ đến giờ là nghĩ sai cả). Nay ta học tiếng Pháp nhiều, tất cũng phải chịu ảnh hưởng của Pháp văn”… “Người thuần cựu học thì có nhiều chữ dùng mà cách sắp đặt còn lộn xộn, không biết chấm câu theo lối mới, rất là quan hệ cho văn chương. Người thuần tân học thì thuộc phép đặt câu mà chữ dùng thường thiếu thốn, không đủ tiếng mà nói hết cái ý của mình.”

Nay đem hai lối văn ấy mà “hoà lộn với nhau, lẫn cho nhau, nhờ đó mà không bao lâu quốc văn ta thành được, gồm cả tinh hoa của Âu Á ” … Tuy “lấy Hán văn, Pháp văn làm mẫu ” là cốt “theo thể thức hay, phương pháp khéo của người ” còn mình vẫn phải “cố giữ lấy tinh thần riêng của tiếng An-nam mình “, đến thế quốc văn mới gọi là hoàn toàn được (Văn Quốc Ngữ).

Bảo vệ tiếng Việt

- Phạm Quỳnh hô hào chỉ nói ròng tiếng Việt.

Thấy phái Tây học có thói quen “hễ nói chuyện gì cao xa một chút thời dùng tiếng tây “, hay “đương nói chuyện tiếng ta đem pha ít nhiều tiếng tây vào “, Phạm Quỳnh phàn nàn lối nói chuyện đó không những “bác tạp khó nghe”, mà “còn rất phương hại cho tiếng nói nước nhà, như vậy thời tiếng Việt Nam ta bao giờ mới thành văn được ?”

Và theo họ Phạm, “chỉ nên nói tiếng nước mình, không những dùng để nói những câu chuyện thường, phải dùng để nói những chuyện cao xa nữa, dầu lúc đầu có không đủ tiếng dùng, hơi khó một chút, mà dùng mãi thành quen “. (Bàn về diễn thuyết, 1921, Thượng Chi Văn Tập, tập II)

Phạm Quỳnh phản đối chủ trương dùng tiếng Pháp thay tiếng Việt.


Trong nước bấy giờ có người đề xướng lấy tiếng Pháp thay thế tiếng An-nam làm tiếng nói phổ thông trong nước, sau lại được một số trí thức tân học nhất là trong Nam hưởng ứng, Phạm Quỳnh đã cực lực phản đối qua bài Chữ Pháp Có Dùng Làm Quốc Văn Được Không ?(1918, Thượng Chi Văn Tập, tập VI) :

Người ta lấy cớ “tiếng An-nam ta nghèo ngặt, thiếu thốn không đủ dùng “,Phạm Quỳnh đã hết sức bênh vực nó mà cho rằng đó “là một câu nói hàm hồ … vì không khi nào tiếng nói trong nước lại không theo kịp trình độ của quốc dân. Tiếng nói trong nước nghèo là trình độ quốc dân thấp, nếu trình độ cao hơn tất tiếng nói phải giầu thêm cho xứng đáng … Thử đem một câu ca dao ta mà dịch ra tiếng tây, một lời tục ngữ ta mà dịch ra tiếng tàu, chắc cũng không sao mà hết ý nghĩa được. Như vậy chữ Pháp, chữ Nho lại nghèo hơn tiếng ta hay sao ?

“Nay phần nhiều nói tiếng ta nghèo chỉ vì ta chưa có đủ những danh từ về cách trí, khoa học, kỹ nghệ … Người mình cứ nên gia công giải cứu cho thật thâm, và thứ nhất là phải có cái chí muốn đem những điều mình học được nói ra tiếng mình … khiến cho người không học cũng có thể hiểu được, mỗi người mỗi làm như vậy, thiếu chữ gì thì đặt chữ mới ra cho gọn ghẽ, hoặc mượn chữ ngoài cho tiện dùng, như vậy thì mấy nỗi tiếng An-nam lại chẳng được phong phú bằng nhiều tiếng nước khác hay sao ?”

Huống chi “Quốc âm là tiếng nói tự nhiên đặc biệt của một giống người … Có nói bằng tiếng ấy mới tỏ được hết tâm tình … đã là đặc biệt chỉ riêng cho một giống người … thời tất biểu hiệu được tâm hồn của giống ấy … cho nên quốc âm tức là một biểu hiệu tự nhiên của quốc hồn “.

Như thế, “Tiếng nói là phần cốt yếu làm thành một nước … nước sống về tiếng nói, tiếng nói còn, nước sẽ không thể mất được …”

Coi như dân Ba Lan (Polonais), dân Tiệp Khắc (Tchèque) bên Âu châu, tuy quốc thể không còn, người một giống làm tôi mấy nước, mà quốc âm vẫn giữ được, nên chủng tộc không đến nỗi mất, và nhờ cuộc chiến tranh này (1914-18) lại khôi phục được quyền độc lập, từ nay lại có tên trên bản đồ thế giới.”

Gs Phạm Thị Nhung

Hạ Vi  
#188 Posted : Tuesday, June 7, 2011 7:03:25 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
UserPostedImage


Phỏng Vấn Nhà Văn Nguyễn Tường Thiết


Du Tử Lê



Du Tử Lê: Thưa anh Nguyễn Tường Thiết, gần đây, độc giả được đọc nhiều sáng tác của anh, thí dụ trên tạp chí Hợp Lưu, báo Người Việt... Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là: Xin anh cho mọi người được biết chút tiểu sử của anh?


UserPostedImage
Di chúc của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

"Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập là một tội nặng, sẽ làm mất nước vào tay cộng sản.Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình như Hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do. Ngày 7-7-63, Nguyễn Tường Tam."


Nguyễn Tường Thiết (NTT): Tôi sinh năm 1940 tại Hà Nội, là con út của nhà văn Nhất Linh. Trước năm 1975 ở Sài Gòn tôi dạy học rồi nhập ngũ khóa 2/68 quân trường sĩ quan Thủ Ðức. Năm 1973 tôi trông nom nhà xuất bản Phượng Giang. Năm 1975 định cư ở Mỹ, tôi làm việc tại nhà máy lọc nước thải của thành phố Seattle với tư cách một chuyên viên phòng thử nghiệm hóa chất cho đến ngày về hưu, tháng 4 năm 2006. Cộng tác với các tạp chí Thế Kỷ 21, Văn Học, Hợp Lưu và các báo mạng Talawas, Da Mầu, Diễn Ðàn Thế kỷ... Ðã có hai tác phẩm xuất bản, hồi ký Nhất Linh, cha tôi (Văn Mới 2006) và tập truyện Mùa Hạ Năm Ấy (Văn Mới 2008).

DTL: Anh thực sự bước vào con đường văn chương từ bao giờ? Ra sao? Thế nào?

NTT: Tôi thực sự bước vào con đường văn chương rất muộn, mới cách đây 8 năm, lúc tôi đã trên 60 tuổi. Vào tháng 7 năm 2002 tập san Thế Kỷ 21 ra số báo Tưởng Niệm Nhất Linh. Số báo đặc biệt này đã khơi dậy trong tôi cảm hứng cầm bút, bắt đầu từ những bài viết về Nhất Linh, rồi sau đó viết hồi ký và gần đây truyện ngắn.

DTL: Khi sáng tác, anh có luôn nghĩ, anh đang viết văn trong chiếc bóng lớn của thân phụ là văn hào Nhất Linh và, những chiếc bóng lớn khác của dòng họ Nguyễn Tường, như Thạch Lam, Hoàng Ðạo...

NTT: Sống trong bóng rợp của người cha và hai người chú nổi tiếng trên văn đàn, rồi ngồi viết hồi ký về những người đó, về mặt tâm lý không phải là chuyện dễ dàng, như nhà văn Duy Lam đã từng nhận xét. Một mặt cái bóng tỏa đó làm chùn chân những toan tính của tôi khi bước vào thế giới chữ nghĩa, mặt khác nó buộc tôi phải khó khăn với chính mình không thể để mình quá dễ dãi với ngòi bút. Ðó có thể là nguyên do đã khiến tôi không chọn nghiệp văn ngay từ lúc khởi đầu, mà chỉ bắt đầu viết ở tuổi xế chiều. Ðó có thể là lý do khiến chuyện viết lách với tôi luôn luôn là một công việc khổ ải nhọc nhằn. Ở một khía cạnh khác thì cái bóng lớn của người cha nổi tiếng có một điểm tích cực mà những nhà văn khác không may mắn có được: đó là qua hình ảnh ông cụ những bài viết của tôi được đa số độc giả đón đọc với ít nhiều thiện cảm tiên khởi. Ðiều này là phần thưởng lớn cho tôi khiến cho cái công việc khổ ải nhọc nhằn khi viết kia trở thành niềm vui thanh cao khi tôi đọc lại những bài viết của mình phản ánh qua cái nhìn của độc giả.

DTL: Thưa anh trong vai trò của một người con, mà thân phụ là người đóng góp lớn lao cho đất nước trên phương diện văn chương cũng như lịch sử. Xin anh có thể nói sơ qua về thân phụ anh - Nhà văn Nhất Linh, nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam.

NTT: Thưa anh, trong quá trình hoạt động, đúng là trong ông cụ tôi có hai con người nhập lại. Một con người chính trị, cách mạng Nguyễn Tường Tam, và một con người thứ hai - nhà văn Nhất Linh. Thật ra hai con người đó, tôi nghĩ không phải là phát triển cùng một lúc. Có giai đoạn, con người thứ nhất mạnh hơn con người thứ hai. Và cũng có giai đoạn ngược lại. Vấn đề còn tùy thuộc vào yếu tố bên ngoài đem đến. Chẳng hạn như khoảng thời gian mà đất nước ta trong thời gian sóng gió nhất. Những biến động lớn của đất nước về mặt chính trị thì con người cách mạng Nguyễn Tường Tam trỗi dậy để thực hiện những điều mà ông ấp ủ. Và khi tình trạng đất nước trở nên bình thường, con người nghệ sĩ Nhất Linh lại thắng thế. Chính vì điều đó thành ra hai tính cách trong một con người đã song hành với nhau trong từng giai đoạn, đôi khi cũng xâu xé nhau dữ dội.

DTL: Mặc dù anh nói là song hành, nhưng liệu nó có ổn thỏa không? Xin anh nói rõ thêm về sự xâu xé này?

NTT: Tôi nghĩ sự xâu xé thể hiện rõ trong lần ông đi Pháp về. Ðó là vào khoảng năm 1927 khi ông tốt nghiệp cử nhân khoa học. Khi về nước ông dạy học được một thời gian thì bỏ dạy, mặc dù đời sống của một giáo sư thuở ấy là đời sống bao người mơ ước. Ông cụ tôi bỏ hết để lao vào nghiệp báo mà không biết tương lai thế nào. Tôi nhớ mẹ tôi cằn nhằn chuyện này lắm. Vì lợi tức ông mang lại cho gia đình bằng nghề dạy học rất lớn. Tôi còn nhớ nếu lương của thầy giáo lúc giờ là 20 thì làm báo chỉ là 2. Chính vì lẽ đó tôi hiểu sự đam mê của ông cụ phải lớn lao lắm. Sau một thập niên làm báo, con người nghệ sĩ trong ông được dịp bộc phát, ông thành công, ông đạt được ước mơ của mình là xây dựng được tờ báo càng ngày càng vững mạnh và cũng thành lập được nhóm Tự Lực Văn Ðoàn. Vào những năm của thập niên 40, khi tình hình chính trị của đất nước thay đổi, tất cả những biến cố đó làm cho con người thứ hai của ông trỗi dậy. Ông thấy rằng phải có bổn phận làm một cái gì cho đất nước và mục tiêu trước mắt là giành lại độc lập từ tay người Pháp, đó cũng là mục tiêu của những người yêu nước bấy giờ nghĩ đến. Thời gian đó tôi cũng đã trưởng thành và ý thức được những giằng co rất mạnh mẽ trong ông cụ.

Tự Lực Văn Ðoàn gồm có 7 thành viên nòng cốt, trừ nhà văn Thạch Lam là chú tôi đã mất năm 42 tuổi. Sáu người còn lại, sau biến cố 1945, họ đi theo 2 dòng khác nhau. Tôi muốn nói, giữa những người cùng chí hướng, cùng lý tưởng dạt ra làm hai con đường.

DTL: Anh có thể nói rõ hơn?

NTT: Hoàng Ðạo, Nhất Linh, Khái Hưng là những người ở trong mặt trận chống Cộng. Ðó là 3 người nòng cốt. 1954 Khái Hưng và Hoàng Ðạo mất, ông cụ tôi vào Nam. Ba người còn lại là Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ ở lại ngoài Bắc. Và sự giằng xé nội tâm mà tôi nhìn thấy rất rõ ở ông cụ là việc mất tích của Khái Hưng. Hiển nhiên đó là kết quả của sự lựa chọn chính trị. Ông cụ tôi khổ tâm lắm, ở chỗ những người đồng chí cùng làm việc với mình, nay vì những vấn đề chính kiến chính trị mà bị sát hại. Về sau càng nhiều các đồng chí của ông bị thủ tiêu, và điều đó càng làm ông cụ đau đớn hơn.


UserPostedImage
Ông bà Nhất Linh và hai con (cô Thoa và nhà văn Nguyễn Tường Thiết), 1951.



DTL: Thưa anh, ông cụ thân sinh của anh có bao giờ tâm sự với vợ con những u uẩn của mình?

NTT: Không bao giờ, bao nhiêu u uẩn ông nén hết trong lòng.

DTL: Thưa anh, như vậy làm sao anh được biết?

NTT: Cũng là do tình cờ. Tôi nhớ có một đêm, khi chúng tôi mới vào Nam, ở nhà bác Nguyễn Tường Thụy. Một đêm anh em chúng tôi nghe tiếng khóc trong phòng bố tôi. Chúng tôi hồi đó còn rất bé không biết điều gì xảy ra. Người anh họ con bác Thụy, bảo cho chúng tôi biết, bố chúng tôi khóc vì thương tiếc chú Long (Hoàng Ðạo). Hoàng Ðạo mất trên tàu hỏa năm 1948, trong khi đang di chuyển từ Hồng Kông sang Quảng Châu, ông bị bệnh tim nghẽn. Hoàng Ðạo là cánh tay phải của ông cụ tôi. Hoàng Ðạo mất đi, đối với ông cụ tôi, không phải ông chỉ là mất một người em mà ông còn mất đi một đồng chí. Tôi có thể nói, khi Thạch Lam mất, Bố tôi có thương tiếc, nhưng đó là cái thương tiếc của con người văn nghệ Nhất Linh. Nhưng khi Hoàng Ðạo mất, cái đau đớn đó là của nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam. Ông như mất đi một giấc mộng lớn. Và nếu không có cái đêm tình cờ đó thì tôi làm sao hiểu được sự khác nhau giữa hai nỗi đau mất em trong một con người.

DTL: Nếu tôi nhớ không lầm thì ông cụ tự vẫn ngày 7 tháng 7 năm 1963, vì ông từ chối phải ra tòa, và ông đã để lại một câu, có thể nói là một câu danh ngôn rất nổi tiếng: “Ðời tôi để lịch sử xét xử.” Thưa anh, là người trong gia đình, anh có thể cho biết tại sao lại đưa đến chuyện ông cụ phải bị ra tòa?

NTT: Thật ra cũng khó mà trả lời một cách vắn tắt. Những lời ông cụ tôi để lại cho hậu thế, nguyên văn có 72 chữ và tự nó đã nói lên lý do, và không gì bằng dẫn chứng. Tôi lại là người cầm tờ giấy đó, chứng kiến những phút cuối cùng của ông cụ. Hiện nay tôi còn giữ bản di chúc của bố tôi. Bản di chúc có tất cả 72 chữ và tôi thuộc nằm lòng: “Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để cho ai xử tôi cả, sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do. 7-7- 63. Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.”

Cả cuộc đời ông cụ có hai con người, có khi ông ký tên Nhất Linh, có khi ông ký tên Nguyễn Tường Tam. Khi ông viết văn ông ký tên Nhất Linh. Khi ông viết một bản văn thuộc về chính trị, chẳng hạn như khi ông viết thư từ chức bộ trưởng Ngoại Giao gửi cho Hồ Chí Minh, ông cụ ký Nguyễn Tường Tam. Lần duy nhất và cũng là lần sau cùng, ông ký tên gộp cả hai là tờ di chúc để cho hậu thế: Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam.

Tôi nghĩ, phải chăng ông cụ muốn nhắn nhủ cho hậu thế rằng, mục tiêu của cái chết này là mục tiêu chính trị nhưng phương cách, phong thái ông lựa chọn cái chết bằng tâm hồn của người nghệ sĩ, của một nhà văn.


DTL: Nhân anh nói về việc anh là người cầm và còn giữ tờ di chúc của ông cụ, đồng thời trong một hồi ký của anh, anh cũng có nói anh cũng còn giữ rất nhiều những tranh vẽ phát của ông cụ. Phải chăng anh là người được giữ rất nhiều những di sản văn hóa của ông cụ?


NTT: Ðúng vậy.

DTL: Tại sao anh được chọn mà không phải là những người con khác?

NTT: Tôi nghĩ có lẽ do ông cụ nhìn ở tôi có một khiếu nào đó về văn chương. Năm tôi 16, 17 tôi cũng viết những truyện ngắn. Tôi có đưa cho ông cụ coi, ông cụ có khen hay, nhưng ông lại giấu đi không cho phổ biến mà cũng không khoe với người nào khác. Tôi nhớ một truyện ngắn tôi viết về một giấc mơ của mình, trong đó có cảnh ông cụ chết trong một chuyến lên Ðà Lạt. Ông với một cành hoa huyết nhung lan, bên bờ suối, một loại lan mà ông rất thích thì ông sẩy chân ngã xuống hồ mà chết. Tôi có cảm tưởng ông không khuyến khích tôi vào con đường viết văn. Có lẽ ông thấy con đường viết văn cũng quá nhiều hệ lụy.

DTL: Hơn ai hết, chắc chắn anh là người đọc, lưu giữ với tất cả hãnh diện (chính đáng) về gia tài văn học, tôi dùng chữ văn học vì văn chương của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn từ nhiều chục năm trước, ở miền Nam đã đi vào chương trình giảng dạy văn chương ở bậc trung học cũng như đại học. Do đấy, câu hỏi của tôi là anh có nghĩ văn chương của anh bị ảnh hưởng Tự Lực Văn Ðoàn, từ văn phong, kỹ thuật, bố cục, tâm lý nhân vật - - Ngay cả khi những sáng tác của anh, có tính hồi ký?


UserPostedImage
Nhà văn Nhất Linh cùng với gia đình, Ðà Lạt 1956.



NTT: Tôi không nghĩ là tôi bị ảnh hưởng của Tự Lực Văn Ðoàn khi viết văn. Hoặc có thể là tôi bị ảnh hưởng dưới hình thức nào đó mà chính tôi không tự biết. Một nhà văn khi viết đương nhiên là bị ảnh hưởng không nhiều thì ít bởi môi trường sống và nền văn hóa mà người ấy hấp thụ; hiểu theo nghĩa rộng ấy thì có thể tôi bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi những nhà văn của thế hệ sau Tự Lực Văn Ðoàn, lớp nhà văn của miền Nam Việt Nam thế hệ 1954-1975, thời kỳ mà tôi ở tuổi mới lớn và dễ bị ảnh hưởng nhất. Tuy nhiên tôi biết chắc là một lời khuyên của ông cụ đã ảnh hưởng nhiều đến tôi: “Viết về cái gì cũng được miễn là phải viết cho hay”. Mỗi lần viết nhớ tới lời ông cụ tôi cố gắng hết sức để viết cho hay (hay theo ý tôi - cố nhiên - vì thế nào là hay lại là một chuyện khác, nó tốn nhiều giấy mực lắm). Mặt khác có sự khác biệt giữa cách viết của tôi và ông cụ tôi. Nó không nằm ở nội dung mà nằm ở kỹ thuật viết. Văn của tôi chịu ảnh hưởng nhiều của nền điện ảnh hiện đại với rất nhiều hồi tưởng flashback, một kỹ thuật mà thời ông cụ tôi không có. Thời xưa người ta viết tay. Thời nay người ta gõ máy vi tính. Máy có thể làm những chuyện mà viết tay không làm được. Ðó là chuyển đổi một đoạn văn từ chỗ nọ sang chỗ kia trong nháy mắt. Sự tiện lợi của máy vi tính tạo nên cho tôi một lối viết khác với lối viết xưa: Truyện hay hồi ký của tôi vì thế thường là thời gian đảo lộn với những mảnh đời được cắt dán chồng chéo không trước sau, không thống nhất như lối viết truyện hay hồi ký cổ điển.

DTL: Sau 3/4 thế kỷ kể từ ngày Tự Lực Văn Ðoàn xuất hiện, với những thành tựu, ảnh hưởng lớn trên cả hai mặt văn chương và đời sống xã hội, hôm nay, nhìn lại, từ góc độ khách quan tối đa mà anh có được, anh thấy đâu là điểm mạnh thực sự của Tự Lực Văn Ðoàn và đâu là điểm mà anh cho là yếu hay chưa đạt tới?

NTT: Theo tôi điểm mạnh thực sự của TLVÐ nằm ở chỗ, đây là một tổ chức có tôn chỉ và mục đích rõ ràng, có một chương trình hoạt động rõ rệt sản xuất ra được những tác phẩm có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội cũng như văn học, được điều hành bởi những thành viên có thực tài làm việc trong tinh thần tương nhượng và dân chủ. Tự Lực Văn Ðoàn lại có cơ quan ngôn luận riêng là hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay, có nhà xuất bản riêng Ðời Nay, có cơ sở ấn loát riêng theo đúng tinh thần Tự Lực. Trên địa hạt xã hội nhóm Tự Lực Văn Ðoàn muốn phá bỏ những hủ tục để cải cách xã hội theo những quan niệm mới. Trong sự đả phá những cái cũ TLVÐ đôi khi đã đi quá trớn. Các tập quán phong tục của ta không nhất thiết là phải bỏ hẳn mà cần có sự phán đoán linh động. Ðây có lẽ là điểm yếu của TLVÐ.


UserPostedImage
Nhà văn Nhất Linh đang thổi sáo trong rừng.



DTL: Ðặt trường hợp anh là một thành viên thế hệ thứ hai của Tự Lực Văn Ðoàn, anh sẽ làm gì? Tôi muốn hỏi, anh có những toan tính đổi mới nào không?

NTT: Xin cho được miễn trả lời câu hỏi này vì tôi không bao giờ nghĩ mình là thành viên thứ hai của Tự Lực Văn Ðoàn.

DTL: Thưa anh Nguyễn Tường Thiết, thêm một năm nữa đã đi qua trên cảnh đời tỵ nạn chung, của người Việt ở xứ người. Một cách cá nhân, năm 2010 vừa qua, những gì anh cho là mình đã làm được và những gì chưa?

NTT: Anh nói đúng, lại một năm nữa vừa trôi qua trên mảnh đời ty nạn của chúng ta. Ðúng 35 năm trước khi đặt chân lên đất Mỹ tôi vừa đúng 35 tuổi. Năm nay ăn sinh nhật cái tuổi “thất thập cổ lai hy” tôi hể hả cười trong bụng chúc mừng 35 năm Việt-Mỹ đề huề! Thế là Half and Half nửa Việt nửa Mỹ nhé! Thời gian đi nhanh thật anh nhỉ, càng nhiều tuổi thì hình như bóng chiều càng kéo xuống mau. Câu hỏi của anh làm tôi sực nhớ: Mình chưa làm được gì cả trong năm 2010 ngoài nhìn thời gian trôi. Nhưng như thế cũng tốt. Sống mà cứ phải toan tính thực hiện chuyện nọ chuyện kia sao tôi thấy mệt quá. Từ ngày về hưu hết bận bịu với đời tôi cứ thả hồn rong chơi như đám mây kia trôi đi lặng lẽ, không cam kết những chuyện “lớn lao” của tuổi trẻ. Ngay cả chuyện cam kết với chữ nghĩa tôi cũng coi nhẹ: Viết lách phải được xem là một cái thú, không phải là cái nghiệp, lại càng tuyệt đối không phải là một sự nghiệp.


DTL: Tình trạng sức khỏe của anh, hiện tại ra sao? Anh có nghĩ nó đủ cho anh thực hiện những chương trình, dự tính của anh trong năm 2011? Nếu anh không cho là tôi quá tò mò, thì những dự tính văn chương cũng như đời thường của anh, ở năm 2011 là những gì?

NTT: Tình trạng sức khỏe của tôi nói chung khá tốt. Tôi nghiệm ra là cái lối sống “không cam kết” của tôi tuy không mang lợi ích gì cho đời nhưng lại rất tốt cho sức khỏe của mình. Hàng ngày tôi lái xe đến hồ Green Lake, đậu xe rồi đi rảo bộ một vòng quanh hồ chu vi 5 cây số. Tôi mang theo trong giây lưng cái máy odometer nhỏ xíu, đi một bước thì máy nó nhảy một số, mỗi ngày phải đi 10 ngàn bước mới đủ cữ, theo lời bác sĩ dặn. Tôi học được cái thú đi bộ từ ông cụ tôi. Không mấy ai biết Nhất Linh là người rất thể thao. Những năm của thập niên 50 thế kỷ trước ở Ðà Lạt hàng ngày cha tôi đi bộ để tầm lan, đi xa trên 10 cây số, chúng tôi trai tráng đi theo ông mà muốn đứt hơi. Ði bộ xong tôi lấy laptop trên xe bước sang quán Starbucks gần đó, mua ly cà-phê, chiếc bánh ngọt, tờ báo Seattle, rồi ngồi đọc báo hoặc ngắm cảnh đời hoặc... viết, nếu hứng. Những bài viết của tôi, ký hay truyện, phần lớn đều đẻ ra từ những quán cà-phê ấy. Vài truyện của tôi có người nói đùa phảng phất mùi thơm cà-phê Starbucks. Tôi viết lai rai tí một nhâm nhi như kiểu các cụ xưa uống rượu nhấm mấy hột lạc. Khi nào tập họp lại những bài viết được khoảng 2, 3 trăm trang thì tôi xuất bản sách. Ðể trả lời câu hỏi của anh về dự tính văn chương của tôi thì cuốn sách thứ ba của tôi dự tính sẽ ra đời vào năm tới 2011. Còn dự tính đời thường thì năm tới Thái Vân nhà tôi về hưu, chúng tôi sẽ có nhiều thì giờ hơn để đi du ngoạn nhiều nơi trên thế giới, một công việc mà trong quá khứ chúng tôi đã thực hiện. Với tôi du lịch ngoài cái thú chung của một du khách tôi còn một cái thú riêng: Biết đâu mỗi lần đi xa lại đẻ thêm được một đứa con tinh thần?

DTL: Trân trọng cảm ơn nhà văn Nguyễn Tường Thiết, đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt này !



UserPostedImage
Hungholland  
#189 Posted : Wednesday, June 8, 2011 6:32:46 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
TẾT ĐOAN NGỌ


Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương, Tết Nửa Năm. Đoan là mở đầu; Ngọ là giữa trưa, là lúc khí dương đang thịnh... Xét về địa bàn thì Ngọ ở vào phương Nam, mà cung Ngọ thuộc dương và tháng 5 cũng là tháng Ngọ, do vậy tháng 5 Âm lịch là tháng khí dương tràn ngập.

Người ta còn gọi Tết Đoan Ngọ là Tết Trùng Ngũ hay Đoan Ngũ (ngày 5/5). Do vậy mà các ngày mồng 1, 2, 3, 4 tháng 5 Âm lịch được gọi Đoan nhất, Đoan nhị, Đoan tam, Đoan tứ.

Ngày 5/5 Âm lịch khí dương tràn ngập, nên rất nóng bức, thời tiết mùa Hạ oi bức, các bệnh dịch hay phát sinh, do vậy các đền miếu thường cúng vào mùa Hè trừ ôn dịch, còn dân gian thì ngày 5/5 đi hái lá thuốc về để dành dùng dần. Họ còn lấy xương bồ thái thành từng lát đem ngâm rượu, để uống trừ ôn dịch trong năm, do vậy dân gian còn gọi tiết Xương bồ hoặc Thiên trung (giờ Ngọ ngày 5/5). Có nhà còn dùng lá ngải phơi khô, tán nhỏ trộn với bột thương truật, xương bồ, quế chi, xuyên khung, bạch chỉ đem rắc mọi nơi trong nhà để trừ dịch, uế tạp. Có người nhân ngày 5/5 Âm lịch chế bài thuốc "Bồ đề hoàn" để dùng trong năm. Bài thuốc này ít công phạt, các chứng cảm mạo phong hàn, sốt rét ngã nước, đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa đều dùng đuợc.

Bà con Hoa kiều ở Việt Nam, hoặc một số bà con ở thành thị có sự giao lưu với người Hoa am hiểu "Cổ học tinh hoa", còn gắn Tết Đoan Ngọ với kỷ niệm Khuất Nguyên cùng với Lưu Thần, Nguyễn Triệu (đều là người Trung Hoa). Những câu chuyện lý thú này lại liên quan đến một số tình tiết trong lệ tục ngày Tết, do vậy cũng cần hiểu lai lịch để suy ngẫm.

Sự tích Khuất Nguyên

Khuất Nguyên làm quan Tả đồ nước Sở, dưới triều vua Hoài Vương đời Thất quốc (307 - 246 trước CN). Ông là người chính trực nên bị bọn nịnh thần sàm tấu. Những ý kiến ông tâu trình đều muốn hưng thịnh cho đất nước Trung Hoa hồi bấy giờ lại bị vua Sở bác bỏ. Có lần Sở Hoài Vương sang Tần, ông can ngăn không được đến nỗi Hoài Vương bị chết ở đất Tần.

Tương Vương kế nghiệp cũng bị bọn gian thần thao túng, bác bỏ những ý trung chính của ông, lại còn bắt ông đi đày. Trước những nhiễu nhương đáng buồn đó, Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sa rồi buộc đá vào người trầm mình tự tử tại sông Mịch La vào ngày 5/5 Âm lịch.

Tương Vương nghe tin mới hối hận, sức cho dân làm cỗ cúng và đem cỗ sẻ xuống sông để ông hưởng. Đêm đến ông báo mộng cho vua, rằng nếu ném cỗ xuống sông thì phải bọc lá bên ngoài và buộc bằng chỉ ngũ sắc, cá tôm mới không ăn được. Từ lời báo mộng đó, nhà vua ban lệnh cho dân. Do vậy mà hàng năm vào ngày 5/5 có lệ cúng Khuất Nguyên để tưởng nhớ vị đại thần trung chính, lại gói cỗ bằng lá, buộc chỉ ngũ sắc thả xuống sông cho ông hưởng.

Trên sông Mịch La, người nước Sở đã mở hội đua thuyền (ý như muốn vớt xác Khuất Nguyên), làm cỗ cúng ông tỏ lòng thương tiếc. Và chỉ ngũ sắc sau này trở thành thứ "bùa tui bùa túi" treo cho trẻ em trong Tết 5/5...

Chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu

Đời nhà Hán có hai người là Lưu Thần và Nguyễn Triệu, làm nghề thuốc sinh nhai, lại thân thiết như anh em. Nhân ngày Tết Đoan Dương hai người rủ nhau vào núi hái thuốc và tình cờ gặp hai tiên nữ, nên duyên vợ chồng không tính đến chuyện hái thuốc nữa.

Nửa năm sau, tuy sống cùng vợ tiên với cảnh quan tuyệt đẹp ở tiên giới, nhưng Lưu Thần - Nguyễn Triệu nhớ nhà da diết nên đòi về làng cũ. Hai tiên nữ ngăn cản mãi không được, đành tiễn chân hai người về làng. Nhưng khi về đến làng cũ thì mọi cảnh đều thay đổi. Vì nửa năm ở cõi tiên bằng mấy trăm năm tại cõi trần. Hai người bèn tìm lại cõi tiên nhưng không thấy nữa, nên rủ nhau vào rừng không thấy trở về...

Câu chuyện tình của hai chàng Lưu - Nguyễn đã trở thành thiên tình sử, thành đề tài ngâm vịnh của các thi nhân. Còn dân gian thì lấy việc hái thuốc tiết Đoan Dương gặp may của hai người để tìm một điều may nào đó cho sức khỏe, cho cuộc sống con người trong việc hái thuốc tiết Đoan Dương.

Nghi thức cúng lễ và tập tục ngày Đoan Ngọ

Tết Đoan Ngọ đã trở thành Tết truyền thống. Nhà nhà, làng làng đều sửa lễ cúng ông bà Tổ Tiên, cúng Thần Thánh, cúng các vị Tổ Sư của nghề. Đặc biệt đây là Tết chú ý đến việc bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa sâu bọ (vi trùng) làm giảm sức khỏe của con người. Đó là việc giết sâu bọ, bằng cách ăn rượu nếp làm cho sâu bọ trong người bị say, ăn các trái cây như mận như xoài... là bồi thêm đòn cho sâu bọ chết. Người ta còn mài thần sa, chu sa cho trẻ uống để chống sự phản ứng trong cơ thể.

- Tắm nước lá mùi: Là tập tục mà các làng quê thường có. Người ta đun lá mùi, lá tía tô, kinh giới, lá sả, lá tre vào chung một nồi, rồi mọi người già trẻ thay nhau múc tắm. Mùa nóng lại tắm nước nóng có lá thơm, mồ hôi toát ra, cảm giác khoan khoái dễ chịu, thơm tho làm cho con người phấn chấn và có lẽ cũng trị được cảm mạo, bởi nước lá mùi là vị thuốc nam.

- Hái thuốc mồng Năm: Cây cỏ quanh ta có nhiều thứ trở thành vị thuốc chữa bệnh. Nhưng nếu các loại thảo mộc ấy được hái vào ngày mồng 5 tháng 5 Âm lịch, lại đúng vào giờ Ngọ thì tính dược càng được tăng lên, chữa các bệnh cảm mạo, nhức đầu đau xương... sẽ nhanh khỏi hơn. Do vậy dân gian thường hái ngải cứu, đinh lăng, tía tô, kinh giới... đem phơi khô cất đi, khi nào lâm bệnh thì sắc uống.

- Treo cây ngải cứu trừ tà ma: Người ta còn lấy cây ngải cứu buộc gom thành nắm, treo ở đầu nhà, trước cửa để trừ tà ma. Thực tế thì hương thơm lá ngải sẽ giúp con người dễ chịu, khoan khoái. Lại có thể giảm bớt nhức đầu, đầy bụng nên khi lấy lá mồng Năm, mọi người không thể quên lấy lá ngải cứu. Giết sâu bọ, hái thuốc mồng Năm, tắm nước lá mùi, treo lá ngải trừ tà trong Tết Đoan Ngọ, nhằm làm cho con người, nhất là thế hệ trẻ, khoẻ mạnh để duy trì nòi giống, truyền thống của cha ông.

- Tục đeo "bùa tui bùa túi": Người ta còn phòng xa những bất trắc do ma quỷ, rắn rết làm nguy hại đến tính mạng nên Tết mồng 5 tháng 5 còn có tục đeo "bùa tui bùa túi". Đây là thứ bùa ngũ sắc để đeo vào vòng cổ cho trẻ em. Người ta dùng vải và chỉ ngũ sắc để may, để buộc thành các túm bùa. Một túm hạt mùi, một túm hồng hoàng rồi một số quả như khế, ớt, mãng cầu... được buộc gộp thành bùa treo vào cổ trẻ em. Phải chăng hạt mùi kỵ gió, hồng hoàng kỵ rắn rết, còn các quả để giết sâu bọ, chỉ ngũ sắc là màu sắc của vũ trụ - kim, mộc, thủy, hoả, thổ - thường dùng để trừ ma quái, hy vọng sẽ đảm bảo cho thế hệ trẻ được khoẻ mạnh, tồn tại và phát triển.

- Tục nhuộm móng tay, móng chân: Tết mồng 5 tháng 5 còn có tục nhuộm móng tay móng chân cho trẻ. Họ hái lá về giã nhỏ, lấy lá vông đùm từng nhúm rồi buộc vào móng tay, móng chân. Riêng ngón "thần chỉ" là ngón tay trỏ thì không buộc. Sáng dậy, mở các đầu ngón tay ra sẽ thấy các móng tay móng chân đỏ tươi, đẹp mắt. Ngoài mỹ thuật, tục này còn ẩn dụng ý trừ ma tà lôi kéo làm hại con người.

- Tục khảo cây lấy quả: Phải chăng từ yêu cầu lấy quả giết sâu bọ, nên người ta đã khảo cây lấy quả. Dân gian quan niệm cây cũng có linh hồn nên những cây "chây luời" không chịu ra quả phải bị khảo. Một người trèo lên cây, một người cầm dao đứng dưới gốc. Người đứng dưới gốc hỏi tại sao cây chậm ra quả và dọa sẽ chặt bỏ. Người trên cây van xin được tha sẽ ra quả và hứa ra thật nhiều quả. Thường thì mỗi dịp này các cành rườm rà được phát bớt và mùa tới cây sẽ ra quả. Việc này khó giải thích, nhưng biết đâu qua việc làm cỏ, phát bớt cành lại kích thích sự ra quả cho cây?

Tết Đoan Ngọ có những nghi thức tập tục độc đáo, gắn với mảnh đất, con người nhiệt đới phương Nam. Đây còn là dịp Tết có những thứ quả, hạt đầu mùa, mà con cháu không thể quên việc cúng dâng Tổ Tiên. Một quả dưa hấu, một quả mít, một chùm nhãn, đĩa mận, cân đậu, đĩa xôi đầu mùa... đều được đưa lên bàn thờ cẩn tấu Gia Thần, Gia Tiên. Và đây cũng là những sản phẩm để đi lễ gia đình ông bà nhạc tương lai, đi Tết các thầy học, thầy lang, thầy dạy nghề tỏ lòng đền ơn đáp nghĩa. Dân gian còn có lệ nhân ngày 5/5 Âm lịch bày tỏ với nhau tình bằng hữu, xóm giềng mật thiết.

Tết Đoan Ngọ giữa mùa dương thịnh, nóng bức nhưng các tục lệ cũng thật dào dạt tình người. Phải chăng cái tình cảm êm thấm này vừa biểu hiện sự nhu, tính âm, khiến cho Âm - Dương giao hòa, tình người gắn bó đã làm tăng thêm ý nghĩa nhân văn cho ngày Tết cổ truyền của dân tộc.

(Sưu tầm)

Edited by user Wednesday, June 8, 2011 7:08:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#190 Posted : Wednesday, June 8, 2011 11:38:16 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Cái Tình Cái Lý Trong Ca Dao


Trong giao tiếp, ai cũng phải chú ý đến lời nói của mình. Người ta thường khuyên nhau: uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, nói năng phải có ý tứ, nói có sách mách có chứng…và khi ai đó nói điều gì mà người nghe cảm thấy hài lòng thì họ cho là nói “Có lý”.

Theo Từ điển từ và ngữ VIỆT NAM của Nguyễn Lân , NHÀ XUẤT BẢN TP. HỒ CHÍ MINH năm 2000 thì “lý” có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là “ lẽ phải”, nghĩa thứ hai là “nguyên nhân”. Có thể hiểu cụ thể hơn “lý” là căn cứ tất nhiên cần phải có, nó là cơ sở mà dựa vào đó có thể lí giải vấn đề cho rõ ràng hoặc từ chuyện này nghĩ đến chuyện kia một cách phù hợp. Và thực tế người ta thường dựa vào cái lý để đối nhân, xử thế.

Trong ca dao, hễ nói đến cái tình thì người ta thường nghĩ đến cái nghĩa, gọi chung là ca dao tình nghĩa như tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình…Xét cho kĩ thì cái tình nghĩa ấy cũng bắt nguồn từ cái lý, từ cái cơ sở, từ cái lẽ phải mà vấn đề xuất hiện và tồn tại.Chẳng hạn như những câu ca dao phản ánh đời sống cơ cực của người bình dân xa xưa, dù khó khăn thiếu thốn đến nỗi phải chịu áp bức, bất công …nhưng không phải vì lí do đó mà họ chán nản, buông xuôi theo số phận. Họ đã biết dựa vào sức lao động, dựa vào niềm tin, dựa vào lẽ tự nhiên mà vươn lên:

Giàu nghèo cũng chẳng có tham
Khó khăn ta liệu, ta làm, ta ăn.

Hoặc:

Lên non thiếp cũng lên theo
Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau.

Đúng là lời tâm sự của cô gái nhân hậu, chung thuỷ, đảm đang. Họ đã ý thức được cái duyên, cái nợ và đã đến với nhau thì phải nêu cao trách nhiệm xây dựng gia đình. Thứ tình cảm ấy thật là quý báu vô cùng, dù có bạc vàng cũng không thể đánh đổi được.Còn ví như tình mẫu tử thiêng liêng thì phận làm con phải biết ơn cha mẹ:

Đói lòng ăn đọt chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

Trên đời này, tình mẹ đúng là bao la như biển cả, người đã mang nặng đẻ đau, chịu bao gian khổ để từng ngày mong con khôn lớn.Vì vậy, trong sâu thẳm tâm hồn, mọi người luôn nhắc nhở nhau là phải biết kính yêu cha mẹ mới tròn đạo lý:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chay ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Đối với những người thân, họ hàng làng xóm thì mỗi người phải biết giữ gìn tình yêu thương , tình cảm thân mật vì đó là những người gần gũii, tối lửa tắt đèn có nhau, thường sẻ chia tâm sự:

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Rõ ràng , cái tình làng nghĩa xóm ấy là truyền thống đoàn kết yêu thương của dân tộc.Nó đã làm nên sức mạnh muôn đời mà thiếu nó người ta cảm thấy cuộc sống trở nên cô đơn, buồn tẻ.Từ xa xưa, mọi hoạt động trong làng xóm như làm đồng, dựng nhà, cưới vợ cho con…đều có sự phụ công góp sức của xóm giềng.Nhiều người dù không cần mời cũng tới góp phần làm cho cảnh lao động thêm rộn ràng. Đó là điều mà người dân rất tâm đắc, thông qua hình ảnh:

Chiều chiều con quạ lợp nhà,
Con cu chẻ lạt, con gà đưa tranh.

Nhờ những buổi lao động như vậy mà tình làng nghĩa xóm thêm khắng khít. Mỗi khi có chuyện hiểu lầm lẫn nhau thì họ cũng có lý do mà san sẻ:

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Trong mọi trường hợp, cái lý nhiều khi không cần phải cắt nghĩa, không cần phải nói ra thì người ta vẫn hiểu:

Chiều chiều ông Ngữ đi đăng
Bắt được cá lóc nhăn răng cười hoài.

Theo dõi quá trình lao động của ông Ngữ thì người ta thấy cái cười của ông là có lý do, là có niềm vui bắt được cá. Tiếng cười ấy cũng làm cho không ít người chứng kiến cũng cảm thấy vui lây chứ nếu không có niềm vui thì khó mà tìm thấy nụ cười của ông Ngữ:

Chiều chiều ông ngữ đi cày
Trâu kéo gãy ách khoanh tay ngồi bờ.

Thông thường, ngồi bờ là kiểu nghỉ ngơi cho đỡ mệt hoặc ai đó có thời gian rảnh rỗi ngồi ngắm cảnh đó đây. Ở trường hợp này, ông Ngữ phải khoanh tay ngồi bờ vì cái lý do ngoài ý muốn là “ Trâu kéo gãy ách”, âu cũng là sự thông cảm !

Theo lẽ hường, những người am hiểu về tình lý thì dễ được mọi người yêu mến, tin tưởng vì họ có thể nêu vấn đề, giải quyết vấn đề một cách hài hoà, ít làm phiền lòng người khác.Vì thế ca dao cũng không tiếc lời ngợi khen:

Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi
Người khôn ai nỡ nặng lời mà chi.

Hoặc:

Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời…

Những lời ca dao trên đã phần nào hạn chế được sự khen chê một cách vô lý, tránh được những kiểu a dua, xua nịnh hoạc tránh cảnh người không có liên can gì cũng bị vạ lây, như câu:

Thương ai thương cả đường đi
Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng.

Cuộc sống vốn có biết bao niềm vui, nỗi buồn, biết bao điều cần phải nói. Vậy mà khi muốn nói điều gì đó thì có người không biết phải bắt đầu từ đâu, nhất là trong tình yêu đôi lứa. Dù buổi đầu gặp gỡ còn vẻ bỡ ngỡ thẹn thùng nhưng với sức mạnh của tình yêu thì họ cũng bình tĩnh dựng chuyện một cách tài tình để có cái cớ mà giãi bày tình cảm với nhau:

Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin…

Kiểu nói vòng vo ấy lá cái căn cứ để chàng trai bắc qua chuyện nhờ vá cái áo, rồi trả công…và chàng trai đã nói được những câu mát lòng, mát dạ. Chàng giúp toàn là những lễ vật của hôn nhân. Vậy thì chàng rể là ai ? Mọi người đã hiểu dễ dàng . Xem ra cách tỏ tình thật có duyên và hết sức tế nhị.

Còn nếu như hoàn cảnh cuộc sống có đẩy đưa dễ làm lòng người chao đảo thì người ta cũng dựa vào sự thật , dựa vào căn bản, dựa vào gốc rể của vấn đề để vững tin:

Ai ơi giữ chí cho bền
Mặc ai xoay hướng đổi nền mặc ai
Thủng thẳng mà lượm mo rơi
Ở cho có chí hơn người trèo cau

Vốn có đức tính cần cù, có tinh thần đoàn kết …người Việt Nam sống rất có lý có tình. Vì vậy những ai sống hời hợt, làm việc trái đạo lý thì người đời sẵn sàng lên án. Chẳng hạn như thông cảm cho người chịu cảnh oan ức và lên án kẻ thiếu trách nhiệm:

Con mèo đập bể nồi rang,
Con chó chạy lại phải mang lấy đòn.

Hoặc phê phán những ai ăn ở bạc lòng thì:

Nào ai lên võng xuống dù,
Kêu dân dân dạ, bây giờ dạ dân…

Rõ ràng , dọc những dòng ca dao trên , người ta dễ dàng bắt gặp những cách đối nhân xử thế, những cách thể hiện tình cảm hết sức có lý và thuyết phục.Nếu những ai muốn tìm hiểu căn nguyên, cội nguồn, gốc rể của vấn đề thì chắc chắn những điều nói trên đã phản ánh được ít nhiều nguyện vọng của họ.Cùng với ngôn ngữ giàu âm thanh, hình ảnh, âm điệu nhịp nhàng…thì cái tình, cái lý sẽ góp phần làm cho ca dao thêm lắng sâu trong lòng người đọc và nhất là suy nghĩ của mọi người có thể đúng đắn, hợp tình, hợp lý hơn !

Chủ nhật, 05 Tháng 6 2011

Mai Văn Sang

Edited by user Wednesday, June 8, 2011 3:42:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#191 Posted : Wednesday, June 8, 2011 3:39:11 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

LÀNG ĐÀO KHÊ

Quê hương yêu dấu ấy đã mấy ngàn năm rồi, vẫn soi bóng trên dòng sông Đáy, và sẽ mãi mãi sống trong lòng người Đào Khê.

Nếu như cố đô Huế hay thành Thăng Long là nơi ghi dấu những lớp sóng phế hưng tiếp nối cái triều đại vua chúa, thì làng Đào Khê, cũng như ngàn vạn ngôi làng khác của quê hương Việt Nam yêu dấu, là nơi tiếp nối những thế hệ con cháu thuộc dòng giống Việt với những sinh hoạt, phong tục, tập quán; với những niềm vui, nỗi buồn và những thăng trầm biến đổi nhỏ to của đời sống, phần lớn là trong tăm tối mà sự thiếu thốn về chữ nghĩa văn học, vì nghèo đói triền miên là hai yếu tố hàng đầu.

Người viết là một kẻ hậu sinh của làng Đào Khê, đã sinh ra và lớn lên nơi miền sông ngòi quê mùa ấy. Suốt từ ấu thơ, chúng tôi đã lớn lên, đã nô đùa chơi giỡn, đã câu cá đánh dậm, đã mò cua bắt ốc, thả lờ trên những ao, ngòi và ruộng đồng trong khoảng cuối thập niên 40 đầu 50. Hình ảnh miền quê hiền hòa với hai dòng sông - sông cái, sông con - nước chảy lững lờ qua cánh đồng ngập nắng sớm đã in đậm vào tâm tư non dại của tuổi ấu thơ.

Lòng yêu mến quê hương thì thiêng liêng, sâu kín và êm đềm, được ví như những con đường quê với những tàn cây cao đầy bóng mát, hay bát nước chè xanh, hay những ngụm nước mưa, những buổi tắm ao cạnh nhà thờ trong mùa nắng hạ, trời nắng như thiêu như đốt.

Họ Đào Khê, xứ Lý Nghĩa, hạt Liễu Đề, địa phận Bùi Chu. Đấy là thứ tự theo Công giáo. Nhưng nếu gọi theo danh xưng hành chánh từ thời Pháp thuộc cho tới 1945 thì quê xưa được gọi là: thôn Đào Khê Hạ, xã Đào Khê, quận Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Tỉnh Nam Định, cùng với Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình là vùng đồng bằng, hay vùng châu thổ của sông Hồng và sông Thái Bình, tiếp giáp với biển Nam Hải. Đào Khê ở về phía tây nam, cách Nam Định 18 cây số. Họ Đào Khê có ba xóm: xóm Trên, xóm Giữa và xóm Dưới. Họ Đào Khê thuộc xứ Lý Nghĩa, mà xứ Lý Nghĩa thì có họ Nhà Xứ, họ Hà Dương, họ Đào Khê Thượng/Hạ, họ Đắc Thắng; và hai nhà giáo: nhà giáo Đào Lạng và nhà giáo Đắc Thắng Thượng.

Họ Đào Khê hay thôn Đào Khê, nằm về phía bắc sông Đáy, phía tây là Bến Đò Xanh, phía đông nam là khúc sông Tam Tòa, từ đây đi Lạc Đạo và bến đò Mười. Sông Đáy là chi lưu của sông Thái Bình, nước luôn luôn chảy xuôi đem đem phù sa tới tưới gội cho các thửa ruộng miền này.

Từ Đào Khê đi Nam Định, phương tiện phổ thông là đi bằng đò dọc hay ca-nô ngược dòng sông Đáy, hoặc đi bộ theo liên tỉnh lộ 56 qua Đắc Thắng Thượng, rồi Hải Lạng, Báo Đáp... cho tới bến Đò Quan.

Từ Đào Khê đi Phát Diệm, Ninh Bình hoặc vào Thanh Hóa và miền Trung Việt Nam thì đi qua đò ngang ở bến Đò Xanh, đường bộ dẫn vào Phúc Nhạc, rồi Điền Hộ, Ninh Bình. Hoặc có thể đi ngược lên phủ Nghĩa Hưng, tới gần núi Gôi, huyện Vụ Bản, gặp quốc lộ Một để vào miền Trung. Nhưng nếu dùng thủy lộ thì xuôi theo dòng sông Đáy, qua Quần Liêu, Đò Mười, ra cửa Kim Đài rồi đi theo đường biển.

Cách 9 cây số về phía đông nam làng Đào Khê có sông Ninh Cơ, nước chảy hai dòng. Khi thủy triều lên cao, nước mặn từ biển chảy chảy vào. Khi có mưa lũ, nước nguồn chảy ra biển. Hai dòng sông Ninh Cơ và sông Đáy, chỗ uốn khúc gần nhau nhất là làng Quần Liêu, 7 cây số phía nam làng Đào Khê. Hai bên bờ sông Ninh Cơ cũng như sông Đáy là những con đê, cũng gọi là đường cái, liên tỉnh lộ 55 và 56. Đê được đắp khá cao, vừa để ngăn nước khỏi tràn vào ruộng lúa, vừa là trục giao thông. Mặt đường cái hay những liên tỉnh lộ này, ở nhiều chỗ được trải đá dăm, loại đá to bằng nắm tay hoặc nhỏ hơn.

Đường lởm chởm vì đá trải lộn xộn, không đều; thế mà những bàn chân người bằng da bằng thịt, không giày không dép, qua lại theo năm tháng đã làm nhiều cục đá bị mòn nhẵn hẳn đi. Thời Pháp thuộc, cứ mỗi lần xe kéo, xe ngựa, xe đạp hoặc ô-tô chạy qua là mỗi lần những tiếng kêu lọc cọc lạch cạch vang lên ầm ĩ, những người làm ruộng ở xa mặt lộ cả nửa cây số vẫn còn nghe tiếng.

Hằn sâu trong tâm khảm tôi là hình ảnh nghèo khó lầm than của người phu kéo xe trên con đường gồ ghề ấy. Chiếc xe nghiêng ngả vì đường gập ghềnh, lởm chởm. Người phu kéo, đầu đội chiếc nón lá rách tả tơi, chân đi đất, gò lưng dưới trời nắng hạ như thiêu đốt, kéo chiếc xe chở một người ngồi phía sau... Thế mà người phu ấy chỉ kiếm được mấy hào, nhiều ngày không đủ mua gạo cho bầy con ăn bữa tối. Cho đến hôm nay, sau hơn 50 năm ròng rã, tôi vẫn như còn trông thấy những giọt mồ hôi nhễ nhại nơi trán người phu xe chảy xuống!

So với mấy chục làng xã của huyện Nghĩa Hưng thì làng Đào Khê rất may mắn vì có chợ và phố chợ nên việc buôn bán rất sầm uất.

Dòng sông Đáy, cũng gọi là sông Cái, thì nằm ở phía nam, cách làng một cánh đồng nhỏ. Nhưng phía bắc làng lại có một sông đào, gọi là sông con, chảy vào sát chợ nên việc buôn bán và giao thông bằng ghe thuyền rất thuận tiện.

Ngoài một số ít người buôn bán ở chợ, đa số dân làng Đào Khê, cũng như 95% người Việt sinh sống tại vùng trung châu Bắc Việt, sống bằng nghề nông, cày cấy mỗi năm hai vụ: vụ chiêm gặt vào tháng 5 và vụ mùa gặt vào tháng 10.

Trong khi nước Mỹ chỉ có hơn 2% dân sống bằng nghề nông mà vẫn đủ cung cấp thực phẩm cho hơn 70% dân số thế giới; lúa gạo sản xuất ra ăn không hết, xuất cảng không hết, thì tại Việt Nam, tiền nhân ra từ đời nọ sang đời kia, chân lấm tay bùn, quanh năm suốt tháng vẫn không đủ gạo ăn. Ngay cả cho tới bây giờ, người Đào Khê vẫn đói nghèo như xưa, vẫn tiếp tục "tát nước với giọt mồ hôi" vẫn "có người bừa thay trâu cầy"!

Đằng sau những lũy tre xanh ấy, trừ một số ít có tư điền, vài ba mẫu (mỗi mẫu: 3600 mét vuông), phần lớn đều trông vào ruộng làng cấp cho, gọi là công điền. Nhà nào có con trai tuổi từ 18 trở lên, thì bắt đầu được "ăn ruộng", nghĩa là được làng cấp ruộng cho để cày cấy. Mỗi nhân đinh hay xuất đinh được cấp 1 sào 2, thời kỳ 1950, sau khi gặt hái phải nộp thuế cho làng. Làng xã thu thuế cho nhà nước, sau này gọi là chính phủ.

Tùy từng thời kỳ và tùy theo mỗi năm, một số gia đình làm thêm các nghề khác như nấu rượu, dệt chiếu, nuôi tằm kén tơ, nuôi lợn...

Nếu so với mức sống trong làng thì nói chung, dân xóm trên có nhiều nhà khá giả hơn. Khá giả ở đây được hiểu là có nhà xây, sân lát gạch, lối vào có những tảng đá lớn, có vườn rau, ao cá, có tường xây hay tường đất chung quanh nhà. Tiêu chuẩn phổ thông thời bấy giờ để chỉ nhà giàu là: "có nhà ngói cây mít", "có ao thả cá mè".
Mối bận tâm hàng đầu của dân làng Đào Khê cũng như của nông dân Bắc Việt từ nhiều ngàn năm trước, là hạt gạo, là nồi cơm, là mùa màng, là ruộng đồng, là thời tiết. Những năm mưa thuận gió hòa thì mọi nhà đều có đủ thóc lúa cơm gạo. Nhưng chẳng may năm nào trời ra oai, bão táp lụt lội thì cảnh đói khổ sẽ lại rình rập nhiều gia đình. Và cảnh nồi cơm độn khoai ghế sắn là chuyện xảy ra thường xuyên đối với dân làng Đào Khê.

Đã lâu lắm, tôi không còn nghe những danh từ đặc biệt gợi nhớ những hình ảnh, kỷ niệm nơi vùng quê hương xa xôi ấy nữa. Những nước vối, nước cáy, úp cơm, câu cua rạm, thả lờ, tát ao, đánh dậm, vớt rươi, áo tơi, đánh đụng với hàng giáp... Cả những cảm giác khi nằm ổ rơm vào mùa đông, hưởng thú "đi đồng" ngoài ruộng, tắm ao vào trưa hè nóng nực... Tất cả những nghèo nàn, chậm tiến, thiếu văn minh ấy nay đã trở thành những hình ảnh thân yêu của một thời dĩ vãng.

Phải sống bên hạ lưu sông Đáy, người ta mới hiểu nổi nỗi lo sợ kinh hãi triền miên của người dân làng Đào Khê khi nước lụt, đê vỡ. Phải sống bên dòng sông đỏ ngầu phù sa ấy mới hiểu tại sao tiếng trống ngũ liên là một đe dọa, ám ảnh. Tiếng trống vang lên từng chặp, từng hồi, dồn dập báo tin mực nước dâng, mỗi năm một lần, khi mùa mưa tới. Phải sống nơi quê thôn Đào Khê ấy những buổi chiều mưa gió vật vã ngoài hiên, thổi rít qua hàng luồng đầu nhà, phát ra những tiếng hú trầm bổng và tê tái, mới hiểu được những tù túng, bất lực và xót xa của tiền nhân.

Giã từ tất cả, tháng 8 năm 1954, một số người con của Đào Khê đã phải cất bước lên đường, bỏ lại vùng quê nghèo khốn khổ với biết bao bịn rịn tiếc thương. Hơn bốn mươi năm rồi, nhiều lần qua những phút giây, lắng tâm hồn hướng về Đào Khê, nghĩ về Đào Khê, nhớ và thương.

CHU VĂN HIỀN

Edited by user Wednesday, June 8, 2011 3:43:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#192 Posted : Wednesday, June 8, 2011 6:19:39 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Tình Ca Việt Nam Một Thời Hạnh Phúc



NHẠC CHỦ ÐỀ TRÊN LÀN SÓNG ÐIỆN


“Tình ca-những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người - bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau... Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta”...

“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: Tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ, tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố... Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ... Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố”...


Ðó là những lời mở đầu một chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, một buổi tối thứ năm nào đó của thập niên 60. Nguyễn Ðình Toàn đọc những lời giới thiệu ấy sau phần nhạc hiệu của chương trình, và tiếp theo là những giọng hát và những ca khúc chọn lọc đến với thính giả - giọng hát Duy Trác và “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, giọng hát Thái Thanh và “Giáo Ðường Im Bóng” của Nguyễn Thiện Tơ, giọng hát Sĩ Phú và “Trở Về Dĩ Vãng” của Lâm Tuyền, giọng hát Lệ Thu và “Bóng Chiều Tà” của Nhật Bằng, giọng hát Khánh Ly và “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy...

Những lời giới thiệu ấy, những lời ca tiếng hát ấy dội vào tâm tư của cả một thế hệ Việt Nam, một thế hệ lớn lên trong bối cảnh của những cơn binh lửa nối tiếp nhau trên quê hương. Và kỳ lạ thay, đến bây giờ những ca khúc ấy vẫn ở lại trong ký ức họ, cho dù nhiều năm tháng đã trôi đi, bao nhiêu khuôn mặt đã xa khuất, một cuộc chiến đầy cay đắng đã tàn để nhường chỗ cho một thảm kịch khởi đầu, một thế hệ đang lùi dần vào quá khứ trong khi nhân loại đón chào một thiên niên kỷ mới...

Nếu như đối với các thính giả ái mộ “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60, chương trình phát thanh ấy là một thư viện cất giữ giùm cho họ những trang sách kỷ niệm vô giá của tuổi thanh xuân hay một thời yêu đương, thì đối với sinh hoạt văn nghệ nói chung, “Nhạc Chủ Ðề” là nhịp cầu tiếp nối giữa dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc sau cùng của miền Nam tự do. Chất nối kết hai dòng nhạc ấy là tình yêu, cho nên cuộc hành của “Nhạc Chủ Ðề” chính là cuộc hành trình của tình ca Việt Nam, dọc theo những năm tháng oan trái nhất của lịch sử...


UserPostedImage



“Tình Ca Việt Nam” là tựa đề của băng nhạc đầu tiên và duy nhất do người khai sinh chương trình “Nhạc Chủ Ðề” - nhà văn Nguyễn Ðình Toàn - thực hiện vào năm 1970. Ngày đó trên quê hương chúng ta, compact disc và video chưa xuất hiện, mới chỉ có hình thức “bande magnetique”, và các phòng thâu băng cũng chưa có những thiết bị kỹ thuật tối tân để lọc âm thanh, ghép tiếng hát... Nhưng ngày đó cơn lốc chiến tranh đã cuốn hàng triệu người tuổi trẻ tù thành phố ra sa trường và đưa lửa đạn mịt mù từ sa trường về thành phố. Giữa giông bão chiến tranh, trong nỗi mong manh bọt bèo của thân phận con người và số phận đất nước, những ca khúc bất hủ của kho tàng tình ca Việt Nam được ghi lại và cất lên qua những giai điệu tuyệt vời nhất, vào giai đoạn thăng hoa nhất của những tiếng hát Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú, Võ Anh Tuấn, tiếng dương cầm của Nghiêm Phú Phi và Lê Vũ Lê Văn Chấn, tiếng vĩ cầm của Ðan Thọ, Tuấn Khanh, Phạm Văn Phúc, Ðào Duy... tiếng clarinette của Ðỗ Thiều và Lê Ðô, tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng, nhịp trống của Trần Quang Mây...

Hơn ba mươi năm sau, khi khối người Việt Nam lưu lạc nơi hải ngoại đã chuyển tiếp từ thế hệ thứ nhất qua thế hệ thứ hai, rồi thế hệ thứ ba, “Tình Ca Việt Nam” mới được in và phát hành lần đầu tiên dưới hình thức CD. Nguyễn Ðình Toàn gửi đến thính giả mười lăm bài hát cũ của chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, cùng lúc với tuyển tập ca khúc thứ hai do ông sáng tác “Tôi Muốn Nói Với Em”. Và như thế, phải chăng một nhịp cầu đã được nối trở lại?

Nhưng câu hỏi ấy đặt ra để làm gì nhỉ? Ba mươi quá đủ dài để dập vùi bao nhiêu cuộc đời, xé nát bao nhiêu giấc mơ, cuốn phăng bao nhiêu ân tình, nhưng vẫn chưa và có lẽ chẳng bao giờ xóa sạch được dấu vết kỷ niệm trên ký ức của những người đã lạc nhau trong một cuộc bể dâu. Ba mươi năm trước, khi viết lời giới thiệu “Hướng Về Hà Nội”, Nguyễn Ðình Toàn nhắn nhủ rằng sự chia lìa hai thành phố trên cùng một đất nước cũng đớn đau y như cuộc phân ly giữa những cặp tình nhân sinh ra đời để yêu nhau. Bây gờ đây, có những người mở mắt chào đời ở Hà Nội và trưởng thành ở Sài Gòn nhưng chẳng biết có còn được một ngày trở về để nhìn lại hai thành phố thân yêu ấy lần nữa hay không. Sự chia lìa giữa người và người đã trộn lẫn trong cuộc phân ly giữa người và quê hương, cũng như những con sông đều trở thành dòng vĩnh biệt để chảy vào biển cả câm lặng.


“Ta đã xa nhau như đời xa cõi chết
Có bao giờ
Còn có bao giờ ta thấy lại nhau không?”



Ðó là lời hát của “Em Còn Yêu Anh”, một trong những ca khúc Nguyễn Ðình Toàn viết khi ông sống sót trở về từ lao tù và ngơ ngác giữa một thành phố đã bị đổi tên, trên một quê hương nơi mà “sông chia dòng vĩnh biệt” và “người với người đã trở thành thiên tai”. Mỗi ca khúc ấy là hóa thân của một bài thơ, được viết trong đầu rồi hát trong tim, như sự mài dũa trí nhớ để chống chọi với một cơn mộng dữ. Nhưng dẫu cho đau buồn bao nhiêu và cay đắng chừng nào, những bài thơ ấy vẫn còn nguyên vẹn sự óng chuốt và mềm mại, cũng giống như những lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60.

Thật là kỳ lạ khi mỗi câu thơ và lời hát này, sau bao nhiêu đợt sóng quay cuồng của định mệnh, vẫn có thể mang người ta trở lại với một ngày nắng vui hay một chiều mưa buồn, một buổi sớm mai trong mảnh vườn nhỏ của Hà Nội hay một đêm khuya hiu hắt trên đường phố Sài Gòn. Nếu người ta tái ngộ với chính mình qua những dòng thơ “Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” thì người ta cũng cảm thấy lòng trẻ lại với “Căn Nhà Xưa”. Cái rung cảm của năm nào “Tay em lạnh để cho tình mình ấm, môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm, sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan, trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết” - vẫn trở lại đầy ắp trong lời thầm thì của mấy chục năm sau: “Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải, nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái... Có những sớm em tìm đến, với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm... Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng, đã đổi màu xanh lấy hương nồng...”

Những ca khúc ấy khiến người ta bâng khuâng tự hỏi: “Biết đâu có một ngày ở hai phương trời cách biệt mà cũng đều là đất khách quê người, có đôi tình nhân cũ tuy xa nhau hàng ngàn dặm nhưng đang cùng chia xẻ với nhau một thanh âm quen thuộc, để nhắn nhủ nhau rằng “ tình ca - những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người - bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau...”


“Tôi Muốn Nói Với Em” [2001] là tuyển tập ca khúc thứ hai của Nguyễn Ðình Toàn, sau tuyển tập “Hiên Cúc Vàng” [1999] với 10 ca khúc đánh dấu những ngày đầu tiên khi tác giả đặt chân tới nước Mỹ. Và tiếp theo đó là tuyển tập thứ ba: “Mưa Trên Cây Hoàng Lan” [2002]. Một trong những ca khúc của tuyển tập này, được trình bày qua giọng hát Khánh Ly, mang tên “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, với những lời hát mà ngay từ đầu năm 1976 đã trở thành rất quen thuộc với thính giả hải ngoại, nhưng dường như chỉ được biết đến dưới tựa đề bài hát “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” của một tác giả khuyết danh.

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên - như dòng sông nước quẩn quanh buồn - như người đi cách mặt xa lòng - ta hỏi thầm em có nhớ không... Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao - trong niềm vui tiếng hỏi câu chào - sáng đời tươi thắm vạn sắc màu - còn gì đâu...”

Cũng như Hà Nội, Sài Gòn trong lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” có thể chỉ là một nơi chốn kỷ niệm nào đó - “một thành phố nơi người ta đã yêu nhau”. Nhưng đối với tác giả bài hát, và đối với cả một thế hệ những người yêu quý ông, Sài Gòn giống như một chiếc hộp thần bí mà Pandora đã vô tình mở ra, và những oan khiên thống khổ tràn ngập không gian là cái giá phải trả cho những hạnh phúc tuyệt vời mà người ta nhận từ thế giới huyễn hoặc của một thời tuổi trẻ.


UserPostedImage
Hình chụp đài phát thanh Sài gòn năm 1960.
Từ trái qua phải : Nhật Trường, Nhật Bằng, Anh Ngọc,
Mai Hương, Thái Thanh, Kim Tước



Sài Gòn là nơi từ đó, suốt thập niên 60, qua làn sóng điện giữa đêm khuya thanh vắng, chương trình “Nhạc Chủ Ðề” đã gửi đến thính giả những viên ngọc trác tuyệt nhất của kho tàng tình ca Việt Nam, những sáng tác bất hủ của Ðoàn Chuẩn, Ðặng Thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Ngọc Bích, Lâm Tuyền, Phạm Duy, Hoàng Trọng, Nhật Bằng... mỗi bài hát là tặng vật vô giá mà chỉ riêng các cặp tình nhân Việt Nam mới có thể chia sẻ cùng nhau. Sài Gòn cũng là nơi mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết lên những ca khúc của chính ông, đầy chất thơ và miên man tình tự, ghi lại dấu vết những cuộc tình không may, nổi trôi giữa cơn gió định mệnh khắc nghiệt, trên một quê hương tan nát vì khói lửa đạn bom. “Một Ngày Sau Chiến Tranh” là một trong những ca khúc ấy, vẽ lên hình ảnh quê hương như trong giấc mơ, những người trai trẻ ra đi ngày nào khi trở lại thấy mình già, nhưng “dẫu sao lòng anh vẫn đầy bao nỗi vui, đóa xương rồng sắc tươi hồng trong bó gai, ôi gió mát trời xanh ơi, sông sâu chôn những hồn ai, cây cao đã héo bao nhiêu nụ đời...”

Tiếc thay chiến tranh không tàn như trong một giấc mơ. Chiến tranh đã kết thúc bằng một cơn ác mộng, và ngay cả những viễn ảnh đen tối nhất vẽ nên bởi một đầu óc bi quan nhất cũng không thể so sánh nổi với thực tại về mức độ kinh hoàng. Cuộc chiến nửa thế kỷ chỉ kết thúc để mở đầu cho một thảm kịch mới, để biển Ðông trở thành mồ chôn cả triệu xác người, mảnh đất quê hương biến thành trại tù vĩ đại, và người ta bám víu vào mỗi cuộc chia ly như một niềm hy vọng đau xót. Trong những năm tháng nhọc nhằn cùng khổ, đầy bất trắc ấy, giữa một thành phố yêu dấu đã bị mất tên, có những người bạn thầm thì với nhau “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, để nhớ... Rồi cơn sóng thời gian lại cuốn đi, hết thập niên 70, rồi hết thập niên 80, cuộc bể dâu tiếp tục vùi dập từng mảnh đời, chia xa những thân tình, thử thách những số mệnh, như âm vang của một lời tiên tri nhẹ nhàng nhưng đau đớn:


“Này đường xưa tôi đi
Khóm cây bao lần thay lá nhớ
Dòng đời trôi quanh co
Có khi xui người lỗi hẹn hò...”



Dường như mỗi bài hát mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết và mang theo khi ông rời xa quê hương là dấu vết còn sót lại của một thời mà người ta cùng nghe với nhau và hát cho nhau nghe những bản tình ca. Những bài hát ấy rất buồn, mỗi lời hát có thể như một tiếng thở dài chua xót, nhưng đó là ngôn ngữ của tình ca, của hạnh phúc và khổ ải quyện lẫn với nhau thành tặng phẩm của trần gian. Như ai đã nói: “Chẳng có gì khác biệt giữa những giọt lệ khóc thương và những giọt lệ mừng vui”, biết đâu mỗi kỷ niệm đắng cay âm thầm chứa đựng một phút giây hạnh phúc?

Và nếu Sài Gòn - như lời hát viết cho một người tình đã mất tên - chính là chiếc hộp oan nghiệt mà Pandora đã mở ra, thì người ta cũng có thể nhắc nhở nhau rằng chiếc hộp ấy đã được đóng lại sau khi tất cả những thống khổ và bất hạnh đã tràn ngập không gian, và nơi đáy hộp vẫn còn sót lại một tặng vật cuối cùng, mang tên hy vọng, để Sài Gòn sẽ không mãi mãi chỉ là một “Quê Hương Thu Nhỏ” trong lòng người viễn xứ.



Ðào Trường Phúc



UserPostedImage
thunder  
#193 Posted : Wednesday, June 8, 2011 11:11:04 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

ngủ đi nhé

ngủ đi nhé, xin tròn say giấc mộng
trong khung trời ươm dệt ánh sao xanh
ngủ đi nhé, tìm người tình trong mộng
mơ em sang, giấc ngủ đến thật nhanh

xin khẽ hát ru cho người tròn giấc
cho mơ nhiều, mộng trái chín vườn yêu
xin khẽ gọi gió về mang hương ngát
cỏ ân tình cho giấc ngủ thêm xinh

xin nhắn với mây trời bay khắp lối
gởi nắng về hong gối ấm, vòng ôm
xin nhắn với sao xanh cho dù tối
trải ánh hiền đừng để mắt ai nghiêng

ngủ đi nhé, ngủ cho say tròn giấc
và người tình trong mộng vẫn chờ trông

Tigon

Edited by user Wednesday, June 8, 2011 11:14:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

xuan hoang  
#194 Posted : Thursday, June 9, 2011 5:12:16 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Đoá Hồng Dâng Cha



UserPostedImage



Một đóa hồng thắm tươi lòng son
Con xin kính dâng lên Người
Lòng Cha sâu lắng âm thầm
Tình Cha núi cao nào hơn!

Cha ôi tiếng thân yêu trong lòng con
Như núi Thái sơn hùng vĩ
che chắn bên con trước cơn bão tố
Cha yêu quí thanh cao trong lòng con
Là đuốc sáng, là thác rồng
là kim cương trong lửa rực muôn mầu.

Cha là đất nước là nắng mưa nuôi con một đời
Cha là tiếng sáo là giọng hò cho con nụ cười
Cha là nghiêm khắc là thiết tha mong con bằng người
Cha là bóng mát che cho con suốt cả đời con

Một đóa hồng thắm tươi lòng son.
Con xin kính dâng lên Người.
Lòng Cha sâu lắng âm thầm.
Tình Cha núi cao nào hơn!

Cha ôi tiếng thân yêu trong lòng con
Như ánh Thái dương tỏa sáng
soi lối con đi đến nơi hạnh phúc.
Cha yêu quí thanh cao trong lòng con
Là mãi mãi, là vô cùng
là cho đi không đòi lại bao giờ.

Cha là duy nhất một trái tim cho con nhịp thở
Cha là ánh sáng một bầu trời bao la rộng mở
Cha là sóng biếc tràn ước mơ yêu thương dạt dào
Cha là cánh gió nâng con lên vút tới trời cao.



Chúc Linh



Edited by user Thursday, June 9, 2011 5:13:49 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#195 Posted : Thursday, June 9, 2011 1:15:19 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Di tích và danh thắng Nga Sơn


Di tích Cửa biển Thần Phù


Thần Phù là một địa danh xưa, khá nổi tiếng. Đó là cửa sông Chính Đại đổ ra biển, nay thuộc địa bàn xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cửa này xưa có tên là Thần Đầu, đời Trần gọi là Thần Phù.

Cửa Thần Phù nổi tiếng trong lịch sử là là nơi linh thiêng, hiểm trở, luôn có sóng to gió lớn nguy hiểm, thường hay lật thuyền bè qua lại. Ai đi qua cũng phải cúng tế Thủy thần. Ca dao xưa có câu: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù; Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”.

Theo thư tịch cổ, tháng 11 năm 43, sau khi tiêu diệt xong lực lượng kháng chiến của Hai Bà Trưng, Mã Viện trực tiếp chỉ huy 20.000 quân cùng 2.000 tàu thuyền lớn nhỏ tiến vào Cửu Chân (Thanh Hoá) tiến đánh lực lượng kháng chiến của lão tướng Đông Dương bằng hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân bộ bị chặn đứng lại trước núi rừng vùng Tam Điệp ngày nay. Cánh quân thuỷ bị chao đảo trước sóng to, gió lớn của biển Thần Đầu (Thần Phù). Mã Viện phải sai quân đào sông qua dãy núi đá vùng này mà thư tịch cổ gọi là Tạc Khẩu.

Di chỉ Yên Ngự
Di chỉ tại xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Phát hiện được gốm thô năm 1974.
Bãi Huyền Tiêm
Bãi Huyền Tiêm, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Tương truyền đây là nơi Mai An Tiêm bị đày.
Chùa Không Lộ

Chùa Không Lộ toạ lạc tại xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngôi chùa được dựng ở cuối núi Hàn, thờ Thiền sư Không Lộ. Trong chùa có tượng Thiền sư, tạc bằng gỗ.

Cửa sông Lạch Sung

Cửa Lạch Sung thuộc sông Đò Lèn ở giữa huyện Nga Sơn và Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá còn gọi là cửa Bạch Câu.

Làng nghề Nga Sơn

Vị trí Làng nghề Nga Sơn thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nhắc đến Nga Sơn thì người ta nghĩ ngay đến nghề chiếu cói. Một sản phẩm nổi tiếng của vùng đất ven biển này. Mảnh đất này chỉ trồng được một loại cây duy nhất là cói, dệt nên chiếu Nga Sơn - niềm kiêu hãnh của vùng quê này.

Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng mượt. Ðiều đặc biệt ít có nơi nào có thể trồng được loại cói dài như ở vùng này, loại cói chuyên dùng để dệt nên những tấm chiếu vừa đẹp lại vừa bền.

Chiếu cói Nga Sơn đã dệt nên tiếng thơm ngàn đời cho vùng đất ven biển Nga Sơn. Mong rằng, trong tương lai không xa, việc phát triển ngành nghề truyền thống sẽ gắn liền với phát triển ngành du lịch sinh thái và các danh lam thắng cảnh huyền ảo mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Nga Sơn, góp phần làm giàu cho vùng cói ngút ngàn này.

Chùa Tiên

Chùa Tiên toạ lạc tại xã Nga An, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chùa được xây dựng trên một mảnh đất rộng 3,5 ha,cảnh quan đẹp, hấp dẫn và yên tĩnh. Đây là nơi để du khách có thể thăm quan, chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm những giáo lý của nhà phật đối với chúng sinh.

Di chỉ khảo cổ học chùa Tiên được phát hiện năm 1974. Di chỉ rộng 500m2, tầng văn hoá dày 0m60, tìm thấy gốm thô.

Di tích lịch sử Ba Đình

Di tích chiến khu Ba Đình thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Đây là di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia. Tại đây nhân dân ba làng là làng Mậu, làng Thượng, làng Mỹ Khê hưởng ứng chiếu Cần Vương chống quân Pháp xâm lược, với sự chỉ huy của 2 ông Phạm Bành và Đinh Công Tráng đã tham gia cuộc khởi nghĩa Ba Đình đánh bại nhiều đợt tấn công của Pháp. Sau này, Bác Hồ đã lấy tên Ba Đình đặt cho quảng trường tại thủ đô Hà Nội là Quảng trường Ba Đình.

Núi Vân Hoàn và di chỉ núi Vân Hoàn

Núi Vân Hoàn thuộc xã Nga Lĩnh, là ngọn núi đá vôi mà đứng ở các xã ven biển cũng có thể nhìn thấy được. Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1974, trên một quả đồi kề núi đá vôi gần sông Lèn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Hiện vật có một số mảnh tước và một số mảnh gốm. Nhà thơ Tú Loan sau này về quê ở tại một làng gần chân núi này gọi là làng Vân Hoàn.

Núi Ne

Tên chữ là Nê Sơn, hay núi Chính Trợ, là khối núi đá vôi hình chiếc đũa giáp Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Trước thuộc tổng Thần Phù, huyện Nga Sơn, năm 1838 đổi thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Núi Mai An Tiêm và đền Mai An Tiêm


Đền thờ Mai An Tiêm thuộc xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngôi đền nhỏ đơn sơ nép mình bên sườn núi nhưng chứa đựng cả một huyền thoại đẹp được lưu truyền từ bao đời nay. Mai An Tiêm là người có công khai phá xây dựng đất Nga Sơn từ buổi bình minh của đất nước, dưa hấu Mai An Tiêm là sản vật rất nổi tiếng ở Nga Sơn. Hàng năm lễ hội Mai An Tiêm diễn ra tưng bừng náo nhiệt từ 12 - 15 tháng 3 âm lịch.

Động Từ Thức


Đền trong động Bích Đào (hay còn gọi là Động Từ Thức)

UserPostedImage

Đền ở động núi Bích Đào, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Đền thờ Bích Động Linh Tiên. Trong động có ba quân cờ hình thù kỳ lạ. Tương truyền động núi này là nơi Từ Thức gặp tiên – nàng Giáng Kiều, và cũng từ nơi này, Từ Thức đi thăm nhà nàng ở núi Bồng Đảo ngoài khơi. Khi trở về, thấy cảnh vật quê nhà đã đổi khác, Từ Thức mới biết là mình từ cõi tiên trở về.

Đền Chiếu Bạch Sơn Thần


Đền Chiếu Bạch Sơn Thần thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, thờ Lê Phụng Hiểu. Ông có công dẹp loạn tam vương sau khi Lý Thái Tổ mất. Lý Thái Tông thăng Phụng Hiểu làm Đô thống thượng tướng quân, tước hầu. Năm 1044, theo Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thánh, làm tiên phong, phá tan được quân giặc. Sau khi ông mất, dân bản xã lập đền thờ, các triều đều có phong tặng.

Chùa Bạch Ác-Động Bạch Ác

Động Bách Ác ở dãy núi phía bắc sông Hoạt, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, phía bắc động Bích Đào (Động Từ Thức). Trong động có chùa Bạch Ác ở trong động núi Thần Phù thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Động này có nhiều dơi nên gọi là động Dơi. Chùa có ba cửa, phía trước là hồ sen. Xưa chùa lấy vách đá làm mái, khoảng đầu thời Thiệu Trị (1841-1847), mới được lợp mái ngói và xây dựng tường. Bạch Ác là con quạ trắng, chưa rõ vì sao chùa dùng chữ ấy để đặt tên.

Di chỉ Nga Phú

Di chỉ khảo cổ học được phát hiện năm 1960, trên cánh đồng Vua và bãi Chùa Viên xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Di chỉ có diện tích rộng đến 2400m2. Hiện vật có rìu tứ diện, rìu có vai, bàn mài, hạt chuỗi. Di chỉ có niên đại thuộc hậu kỳ đồ đá mới.

Chùa Sùng Nghiêm

Chùa Sùng Nghiêm toạ lạc tại làng Thạch Giản, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chùa dựng năm Nhâm Tý, niên hiệu Thiệu Khánh 3 (1372) đời Trần Nghệ Tông do một hoà thượng (không rõ tên) trước trụ trì ở chùa Khánh Vân, nhân đi vân du thấy thế đất ở núi Vân Lỗi bốn bề sầm uất, bèn mở núi bạt rừng, dựng am, đúc tượng… Chùa làm xong, hoà thượng mời Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh soạn văn bia, Chi hậu thư Mai Tỉnh viết chữ để khắc vào đá.

Danh sĩ Mai Thế Châu

Mai Thế Châu là Danh sĩ đời Lê Hiển Tông (1740 – 1786), không rõ năm sinh, năm mất, quê huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ông có tài văn, võ, dày công sửa sang chính trị, mở mang văn hóa giáo dục, từng có công yên dân ở nhiều nơi, được nhân dân xưng tụng nhiều công đức. Vua Lê rất trọng vọng ông, phong tước là Toàn Quận Công, lãnh chức Đốc trấn Nghệ An.

Con ông là Mai Thế Uông cũng là một nhân tài đương thời, đỗ hương cống, làm quan đến Trấn thủ Hưng Hóa. Khi nghĩa quân Tây Sơn ra Bắc, Lê Mẫn đế tức Lê Chiêu Thống bỏ ngai vàng tháo chạy sang Trung Quốc, Thế Uông mù quáng chạy theo, tập hợp một số quân sĩ ở mạn ngược quanh vùng sông Đà, sông Mã chống nhau với Tây Sơn, đến lúc cùng thì tự sát.

Mai Anh Tuấn

Mai Anh Tuấn (1815-1851) là một vị quan của triều Nguyễn, ông quê ở Thạch Giản, Nga Thạch, Nga Sơn, Thanh Hóa nhưng sinh tại thôn Hoàng Cầu, giáp Đông Các, huyện Vĩnh Thuận - Hà Nội (nay là Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa).

Năm 1843 đời hoàng đế Thiệu Trị, Mai Anh Tuấn 28 tuổi, thi đỗ Đình nguyên Thám hoa. Ông được bổ làm Hàn lâm Thị độc, làm việc trong Nội các triều đình.
Sau một thời gian, ông dâng sớ can hoàng đế Tự Đức không nên phái đoàn quan chức đem thuyền nhà nước tiễn viên quan nhà Thanh, vì quá tốn kém, mà chỉ nên gửi họ theo thuyền buôn. Vua Tự Đức không hài lòng, kết tội ông “khi quân bất kính” và hạ chức, phái đi làm án sát tỉnh Lạng Sơn.

Đến Lạng Sơn, ông lo dẹp thổ phỉ để giữ gìn trị an. Năm 1851, quân thổ phỉ nhà Thanh tràn sang cướp phá vùng Tiên Yên, tiến sâu vào Lạng Sơn. Ông cùng Chưởng vệ Nguyễn Đạc đem quân đuổi đánh, bước đầu thắng lợi. Nhưng sau đó Nguyễn Đạc bị thương. Mai Anh Tuấn đem quân tiếp cứu nhưng gặp địa hình hiểm trở, cả ông và Nguyễn Đạc đều bị giết.

Hoàng đế Tự Đức thương tiếc, lệnh đem thi hài ông về an táng tại Hoàng Cầu. Theo lệnh của vua, tỉnh Lạng Sơn và Thanh Hóa lập đền thờ ông. Linh vị và bát hương thờ được đặt ở đền Trung Nghĩa tại Hoàng thành Huế, bên cạnh các danh thần nhà Nguyễn. Phần mộ của ông và miếu thờ tọa lạc tại làng Hoàng Cầu (Hà Nội), được dân làng, con cháu thờ cúng đến nay.

Phố Mai Anh Tuấn đã được đặt tại khu vực Hoàng Cầu, quận Đống Đa nơi ông sinh ra.

Tại Nga Sơn, Thanh Hóa, từ năm học 1999 – 2000, trường cấp III Nga Sơn II đã được đổi tên là trường Trung học phổ thông Mai Anh Tuấn, đóng tại xã Nga Thành, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Đền thờ nữ tướng Lê Thị Hoa

Lê Thị Hoa là một nữ tướng của Hai Bà Trưng, khởi nghĩa tại vùng Nga Sơn giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán. Sau khi đánh đuổi được Tô Định, quân xâm lược bị quét sạch ra khỏi bờ cõi, Hai Bà Trưng xưng vương và thành lập hệ thống chính quyền độc lập, bà Lê Thị Hoa đã từ chối làm quan chỉ xin được trở lại Nga Sơn để tiếp tục tổ chức dân khai hoang, lập làng, lấn biển. Năm 43, Mã Viện đem đại binh sang đàn áp, bà đã mau chóng tập hợp lực lượng để chiến đấu chống quân thù một cách quyết liệt, nhưng sau thất bại, bà đã anh dũng hy sinh ngay trên đất Nga Sơn mà bà đã giàu công khai khẩn.

Tấm lòng trung trinh với dân với nước và sự hy sinh anh dũng của bà Lê Thị Hoa, ngay từ thuở ấy, nhân dân Nga Sơn đã lập đền thờ bà ở xã Nga Thiện (Nga Sơn) vẫn còn đến ngày nay. Đền thờ bà có đôi câu đối bất hủ:

Thệ báo Tô cừu, thanh Bắc khấu
Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang.

Nghĩa là:

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc.
Giữ nghĩa phò Trưng Vương, khôi phục nước Nam.

Tổng hợp từ nhiều nguồn/Wikipedia

THỦY PHƯƠNG

thunder  
#196 Posted : Thursday, June 9, 2011 10:55:47 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

VỀ THĂM CỐ HƯƠNG

Quá nửa đời người biệt cố hương
Bao đêm thổn thức khóc trong hồn
Đảo điên thế cuộc trời quê mẹ
Ai kẻ ra đi chẳng đoạn trường!

Bốn tám năm nao nức trở về
Ngẩn ngơ Từ Thức lạc đường quê
Cây đa cổng thượng nào đâu thấy
Thôn xóm không còn rợp bóng tre.

Chốn cũ ta tìm thuở ấu thơ
Ao bèo, ngõ trúc, mái chùa xưa...
Quẩn quanh chỉ những nhà san sát
Bến vắng đâu còn điệu hát xưa.

Hỏi thăm tin mấy kẻ thân quen
Ngơ ngác không người biết đến tên
Chao ôi! Nhân thế vô thường quá
Trở gót lòng nghe nặng nỗi niềm.

Thôi thế từ nay hết ngóng trông
Cố hương kỷ niệm ở trong lòng
Cố hương trọn kiếp còn thương mãi
Trọn kiếp ai hoài khách viễn phương.

PHẠM THỊ NHUNG
Paris

Edited by user Thursday, June 9, 2011 11:29:53 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#197 Posted : Friday, June 10, 2011 2:58:19 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

ĐÔI NÉT VỀ HUẾ


Không phải là một chuyên đề tham luận mà chỉ là đôi nét tản mạn , do từ "nhớ tới đâu, nói tới đó" , nên chắc chắn nội dung sẽ có nhiều thiếu sót; nhất là về mặt thi ca, rất nhiều danh sĩ cũng như nhiều kiệt tác có liên hệ đậm đà với Huế mà không được đề cập đến. Âu chỉ là chuyện ngoài ý muốn, rất mong được cảm thông!

****

Vào thời-kỳ Hồng Bàng, Huế nói riêng và Thuận Hoá nói chung thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước VĂN LANG.

Dưới triều vua Trưng, Huế thuộc quận Nhật Nam, một trong sáu quận miền nam NGŨ LĨNH.
Sau khi người Tàu tái lập ách đô hộ, họ bị người Lâm Ấp (tức Chiêm Thành) đánh đuổi khỏi Nhật Nam, từ đó Thuận Hóa do người Chiêm kiểm soát với địa danh là châu Ô và châu Lý.
Trong suốt nhiều thế-kỷ, hai châu Ô, Lý từng là vùng tranh chấp giữa hai dân tộc Chiêm, Việt. Cho tới đầu thể kỷ XIV, đời nhà Trần, mới vĩnh viễn thuộc về nước ta và châu Ô đổi thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hoá.

Thời Minh thuộc, hai châu Thuận và Hoá được ghép chung thành phủ Thuận Hoá, sang đời Lê đổi thành lộ rồi xứ và cuối cùng là trấn Thuận Hoá.

Trấn Thuận Hoá, từ khi Thái Úy Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (tức chúa Tiên hay Thái Tổ Gia Dũ Hoàng-đế triều đại Nguyễn-phước) được vua Lê Anh Tông cử vào trấn nhậm, đã dần dần được cải tiến, chuyển hoá từ tình trạng khu giới tuyến địa đầu lỏng lẻo về tổ-chức, bất ổn về an ninh thành một miền đất ổn định và an lạc.

Kế tục sự nghiệp chúa Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn hậu duệ một mặt tích cực mở mang lãnh thổ về phiá nam, mặt khác lo xây dựng, canh tân, bồi đắp cứ địa căn bản Thuận Hoá, đưa vùng này lên địa vị một trung-tâm chính trị, hành chánh và văn học vô cùng quan trọng.
Từ năm 1636, chúa Thượng Nguyễn phúc Lan chọn Kim Long ở phiá bắc Huế làm thủ phủ. Nửa thế kỷ sau, năm 1687, chúa Nghĩa Nguyễn phúc Thái lần thứ nhất, rồi 1738, Võ vương Nguyễn phúc Khoát lần thứ nhì, đều đặt thủ phủ ở làng Phú Xuân thuộc huyện Hương Trà, cho xây dựng thành trì, cung thất, mở mang giao thông thủy bộ... Từ đó Phú Xuân tức Huế nghiễm nhiên trở thành một vị trí lịch sử với nhiều ưu điểm về chiến lược.

Sau khi thống nhất đất nước, Thế-tổ Cao-hoàng đế Gia Long, cho xây dựng kinh thành Huế với công trình quy mô to lớn, phối hợp kỷ thuật kiến trúc Đông và Tây.

Trên dòng lịch sử, Kinh đô Huế từng trải qua nhiều thăng trầm theo vận nước phế hưng :
Huế từng là chứng tích của những cuộc tranh phong khốc liệt giữa các thế lực nội chiến Trịnh , Nguyễn và Tây Sơn.

Huế đã ghi đậm những nét bi hùng của trận chiến chống xâm lược Pháp năm Ất Dậu 1885.
Huế cũng là mục tiêu chính của vụ tàn sát bách hại chưa từng có trong lịch sử dân tộc, phát động bởi nhóm người ngụy tín cuồng sát vào tết Mậu Thân 1968.

Huế còn trải qua chẳng biết cơ man nào những biến cố đau thương khác.

Thế nhưng, được củng cố un đúc từ khí thiêng sông núi, địa linh Huế sau bao cơn biến động, vẫn sừng sững ngang nhiên vượt thắng mọi thách đố, vẫn tồn tại và vươn lên trong thời gian miên trường, trong không gian miên viễn.

Phối hợp cùng những đãi ngộ từ thiên nhiên, Huế còn có những công trình xây dựng do nhân lực với nhiều kiến trúc quy mô: nào đền đài miếu vũ, nào lăng tẩm chùa chiền, tiêu biểu hơn hết là kinh thành Huế, đã làm ấn tích hùng hồn đánh dấu thời vàng son về văn hoá của một triều đại.

Huế ngày nay không chỉ là chiếc nôi yêu thương xứng đáng là niềm tự hào, kiêu hãnh của riêng người Huế hay người Việt, mà Huế đã chuyển mình trở thành đối tượng trân qúi chung của cả nhân loại.

Tìm về đất Huế là tìm về một vùng trời tĩnh lặng, thơ mộng và an bình.

Nghĩ tới người Huế là nghĩ tới cái đậm ngọt trong tình tự, cái đoan trang trong cung cách; là suy tưởng tới cái bản chất đôn hậu hiền hoà, cái nếp sống hồn nhiên tự tại; là mường tượng thấy nét e ấp qua làn môi, sự kín đáo trong nụ cười, nỗi thẹn thùng nơi khoé mắt. Ít khi người ta bắt gặp được ở đất Huế hay từ dân Huế những sự xô bồ, suồng sã, thô bạo.
Nói thế, nhưng Huế cũng như mọi nơi khác, vẫn chịu chi phối bởi luật tương đối, thừa trừ của tạo hoá. Song song bên cạnh những ân sủng thiên phú, Huế đã vướng mắc ít nhiều khuyết tật, rõ nét nhất là về mặt khí hậu và kinh tế : nào là thời tiết mưa nắng thất thường với cái nóng ẩm ghê người vào tháng hè, cái mưa dầm triền miên buốt giá về mùa đông; nào là tính khô cằn thiếu mầu mỡ của những đồng bằng nghèo nhỏ hẹp, khiêm tốn mà phần lớn là đất cày lên sỏi đá.

Tuy nhiên, chính từ môi trường bạc đãi đầy cam go, Huế đã vươn lên một sức sống dồi dào, một kháng tính mạnh mẽ. Từ trong khó khăn gian khổ, dân Huế tôi luyện được cho chính mình sức chịu đựng bền dẻo, đủ khả năng đương đầu với mọi nghịch cảnh.

Thiên nhiên đã phối hợp hài hoà cùng lịch sử để kiến tạo Huế thành chiếc nôi bao dung, bồi dưỡng, un đúc nhiều thế hệ con dân có những nét đặc thù về tâm hồn lẫn phong cách.
Trong "Ô Châu cận lục", Dương văn An có nhận định : đàn ông Huế thì kiên cường, dũng cảm; đàn bà Huế thì yểu điệu, đoan trang.

Trong 'Địa dư chí", Nguyễn Trãi bình luận rằng : dân Thuận Hoá đã hấp thụ nếp sống của Chiêm Thành nên quen chịu đựng khó khăn, gian khổ.

Phan Kế Bính thì cho là người Huế khiêm tốn và kín đáo. Tính kín đáo ấy đã được Bích Lan phát hiện một cách lý thú rằng :

"Người xứ Huế trang nghiêm và trầm lặng,
Thường hay buồn giữa lúc thế nhân vui,
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi ... "

Cảnh Huế thì thơ mộng, người Huế lại đa tình nên Huế hiển nhiên là tụ điểm của thi ca và nghệ thuật. Mỗi cơ thể Huế chất chứa một hồn thơ, mỗi mảnh đất Huế là một nguồn cảm hứng phong phú đủ làm chủ đề cho cả một kho tàng thi, văn, nhạc, hoạ.
Hình như Huế có một hấp lực lôi cuốn, dụ hoặc rất kỳ diệu, khiến cho ai trót sinh ra, lớn lên từ Huế là trọn đời "đi thấy nhớ, ở thấy thương"; khiến cho ai, từ bất cứ phương trời nào, một lần dừng chân nơi đất Huế là mãi mãi lưu luyến, vấn vương "đi thì nhớ, ở thì mê ".
Chẳng mấy ai trước vẻ đẹp trầm lặng của Huế mà không rung cảm. Cũng chẳng mấy ai khi chiêm thưởng một áng thơ về Huế mà không say sưa, dù là thơ tả cảnh hay tả tình và dù tác giả là người Huế hay không là người Huế.

Trước cái tĩnh mịch tuyệt vời của thiên nhiên, thi hào Nguyễn Du từng bồi hồi đối cảnh sinh tình :

"Hương giang nhất phiến nguyệt,
Kim cổ hứa đa sầu"
(Nam trung thi tập)

Xin tạm dịch

"Một mảnh trăng chiếu dòng Hương,
Xưa nay từng gợi sầu thương cho đời"

Cùng một cảnh sắc đó mà Á Nam Trần tuấn Khải thì :

"Sông Hương một giải xanh xanh,
Gió vờn mặt nước, sóng tình đầy vơi!"
(Non nước Thần Kinh)

Đông Hồ lại đắm đuối "Trong đôi mắt Huế ":

"Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ,
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ,
Gió cầu vương áo nàng Tôn Nữ,
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ".

Và Tản Đà một lần tới "chơi Huế" , đã thấy thích thú như anh nhà quê lên tỉnh :

"Kinh thành gái lịch trai thanh,
Lại thêm Hương thủy, Ngự bình điểm tô.
Con người ngoài Bắc mới vô,
Mừng nay được thấy đế đô một lần."

Một vài thi nhân lại khéo vay mượn cảnh sắc Huế để tỏ bày tâm sự riêng tư, thổ lộ nỗi u hoài trăn trở của mình trước vận nước điêu linh.
Ngắm dòng sông An Cựu mà Nguyễn hữu Bài ray rứt :

"Đục trong, biết nỗi trời hanh tạnh
Bồi lỡ theo dòng nước vận trôi."
(Vịnh sông Lợi Nông)

Phan sào Nam, một lần "Vào Thành" đã ngậm ngùi cảm thán :

"Dạo khắp trong với ngoài,
Đàn địch vang tai trời,
Đau lòng có một kẻ,
Hỏi ai? Ai biết ai!"

Vi Bằng, sau những năm phiêu bạt, trở về thăm lại cố đô, lòng trĩu nặng u hoài trước cảnh sao dời vật đổi :

"Về đứng bên sông nhìn khói sóng
Yên ba giang thượng thấy mà đau".
(Khói sóng)

Trong lòng khách đa tình, Huế luôn luôn là nguồn thi cảm bao la :

Nhà thơ Kỉnh Chỉ Phan văn Hy , sau mấy năm xa cách, đã "Nhớ Huế" dạt dào, tha thiết :

"Gần năm năm chẵn, chẳng về Kinh,
Nhớ cảnh sông Hương núi Ngự Bình,
Nhớ súng Ngọ Môn khi rợn sáng,
Nhớ chuông Thiên Mụ lúc tàn canh.
Nhớ sân Cần Chánh, quan đâu cả?
Nhớ rạp Thanh Bình khách vắng tanh.
Nhớ chị chèo đò, o bán hến,
Nhớ bao nhiêu chuyện, bấy nhiêu tình."

Nữ sĩ Tương Phố năm 1929 "Trở lại Thần kinh" để hoài niệm một cuộc tình đã lỡ :

"Nhớ anh trở lại Thần kinh,
Sông Hương nước chảy, non Bình thông reo!"

Cảnh cũ còn đó, người xưa khuất rồi! Trong nhớ nhung chất ngất, thi nhân không ngăn được nước mắt :

"Khóc anh từ ấy đên giờ,
Lệ lòng lai láng đôi bờ sông Hương".

Trong "Đây thôn Vỹ Dạ", Hàn mạc Tử bằng một cảm quan bàng bạc, lâng lâng vẽ nên một bức tranh vừa mộng vừa thực :

"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?"

Với thi phẩm "Nocturne sur le fleuve des parfums", nhà thơ Pháp Francois Henri Guibier cũng có nguồn cảm hứng tương tự :

"La barque obéit, endormie
Aux coups réguliers du rameur.
Mon âme tressaille, meurtrie
Aux coups de la vie dans mon coeur."

Rồi Vũ hoàng Chương, nhà thơ sở trường của những mỹ từ kiêu sa, gọt dũa, chải chuốt cũng ngây ngất :

"Công Chuá - là đây mộng ngự thuyền,
Bài thơ mờ tỏ nón nghiêng nghiêng,
Hàng mi ánh phớt tình thanh liễu,
Gờn gợn dòng thu mắt ngọc tuyền."
(Em là Công chúa)

Thưỏng thức tổng hợp toàn bộ các đoạn thơ trên của một số nhân vật thành danh mà tên tuổi đã đi vào lịch sử hay văn-học sử, ta tưởng như lạc vào một rừng hoa thơm cỏ lạ, mà dù với tần-số rung cảm nào của tâm hồn, ta đều say sưa, thích thú.

Nếu ngắt từng đoá lẻ trong rừng hoa đó, đem chưng bày riêng để thưởng thức, hoặc đem giải phẩu, phân tích tìm cái chất liệu tinh túy sâu thẳm tận cùng về nghệ thuật, ta còn phát hiện được những nét đặc thù nổi bật về tư tưởng, về tình cảm nội tâm, biểu hiện rõ trên những góc cạnh riêng của từng tác giả.

Qua thơ Nguyễn Du, ta thở dài bắt gặp nỗi cô đơn của một tâm sự u hoài.
Với thơ Tương Phố, ta ngậm ngùi cho một chuyện tình dang dở.
Trong thơ Phan Sào Nam, Nguyễn hữu Bài hay Vi Bằng, ta cảm thông nỗi uất nghẹn, ray rứt, xót xa vì thời cuộc.

Rồi ta lâng lâng, nhẹ nhàng bị cuốn hút, mê hoặc bởi tứ thơ trữ tình của Á Nam Trần Tuấn Khải, Đông Hồ, Hàn Mạc Tử, Vũ hoàng Chương, Tương Phố...

Thoát ra ngoài vũ trụ thơ của giới thi nhân tên tuổi, ta đi vào khung trời thi ca dân gian Huế.

Nhiều người cho rằng âm ngữ Huế líu lo như tiếng chim, trầm bổng như điệu nhạc; tình cảm Huế thì đậm ngọt, tràn đầy ... nên người Huế nào cũng thích thơ, yêu thơ, mê thơ, sính thơ, sành thơ. Nói thế tưởng cũng không phải là khoa trương, cường điệu. Chính từ môi trường thuận lợi tự nhiên, người dân giả đất thần kinh trước tác thơ một cách nhẹ nhàng, thong thả, dung dị và linh hoạt; thi ca dân gian Huế cũng nhờ đó mà có những nét độc đáo, đặc thù.

Với một nguồn ca dao sung mãn về phẩm lẫn lượng, thi ca dân gian Huế được truyền tụng qua thời gian bằng nhiều thể điệu: mái nhì, mái đẩy, giã gạo, ru em, hò vè v.v...

Chẳng rõ khởi nguồn từ hồi nào của xa xưa, thi ca dân gian Huế đã được bồi dưỡng qua nếp sống dồi dào về tình cảm, cao đẹp về tư tưởng, duyên dáng về phong cách; dù có mang chung tính trữ tình, lãng mạn, song không bị gò ép vào trạng huống đơn điệu, nghèo nàn, trái lại đã thể hiện được nhiều sắc thái, diễn đạt mọi tư duy, phản ảnh nhiều mặt thực tế.

Cũng từ nguồn thi ca dân gian đó, người ta phát hiện được tính hội tụ, đa diện; cùng một thi phẩm mà lắm khi mô tả nhiều khía cạnh, chuyên chở nhiều ý nghĩa, thẩm thấu vào tâm hồn người qua nhiều lối ngỏ, có thể thích nghi, phù hợp với nhiều tâm trạng và nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Thi ca dân gian Huế thường khai dụng những từ ngữ, cảnh vật, nhân vật và sự tích thuần túy địa phương.

"Ăn sung, ngồi gốc cây sung,
Lấy anh đành lấy, nằm chung không nằm."

là lời ca đề cao tiết tháo của cụ Phan Bội Châu trong thời gian bị an trí tại Bến Ngự, đã thề không bao giờ hợp tác với thực dân Pháp.

Rồi những đoạn ca dao khác :
"Một nhà sinh được ba vua (1),
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài.
Đồn rằng quan tướng có tài (2),
Cửa Thuận An Tây lấy, Trấn Bình Đài Tây vô!"

hay là :

"Chuyện đời càng nghĩ càng rầu,
Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi!"


Bằng đôi chút trầm tư khi thưởng thức, ta nghe thấy từ mấy vần ca dao trên, có những tiếng thở dài, uất nghẹn, khóc cho thảm trạng tan tác của triều đình Huế vào những ngày quốc biến, khi vết giày xâm lược của nền văn minh cơ giới phương Tây dẫm tràn lên đất nước.
Từ sau ngày kinh đô thất thủ, thực dân Pháp với chiến lược "tằm ăn dâu", biến dần Việt Nam thành thuộc địa trực trị. Trước cơn quốc nạn nát ruột tan lòng, trước cảnh biển dâu sao dời vật đổi, đây đó khắp nơi vang vọng lời ta oán, hoài cảm, tiếc thương:


"Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông...
Thuyền ai thấp thoáng trên sông,
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non!"



Không phải chỉ gò bó, giới hạn trong phạm trù nhất định của thứ tình cao cả dành cho quê hương, ca dao Huế cũng còn vượt thoát đi tìm những thế giới riêng của nội tâm, ca ngợi nhiều thứ tình yêu khác.


Trong khung cảnh buổi trưa hè tĩnh mịch ở làng quê, một bé gái tóc để chỏm, lim dim đôi mắt, đẩy nhẹ tay nôi, khe khẻ cất tiếng hò:


"Ru em, em théc (3) cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi têm trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh..."


Thật vô cùng tuyệt diệu, mấy vần mộc mạc, bình dị đó không chỉ vẽ nên bức tranh bé nhỏ của chiếc nôi đầu đời, mà đã phác họa được cả một khung trời bao la của tình chị em thân thương.


Ca dao Huế như một pho kinh sách, rao truyền luân lý phương Đông mà hệ thống gia đình, xã hội Việt coi như mô thức khuôn mẫu để đạt tới chân, thiện, mỹ. Ở đó, đức hy sinh cao cả, tình yêu tuyệt vời của cha mẹ dành cho con cái đã được vinh danh :


"Chợ xa đi sớm về trưa,
Nuôi con không kể nắng mưa dãi dầu."


hay


"Rạm đồng nấu với bẹ môn,
Đói no, mẹ cũng nuôi con nên người."


Để đền đáp công ơn trời biển của cha mẹ, người con Huế luôn luôn chu toàn bổn phận:


"Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi,
Gạo de An Cựu em nuôi mẹ già."


Khi gặp cảnh nhà đơn chiếc, không nỡ rời xa cha mẹ già yếu, người con gái Huế dám hy sinh trọn vẹn tuổi xuân, quên hẳn bản thân mình:


"Ai đưa cau trầu tới đó thì xin chịu khó mà bưng về,
Em đây còn phải theo chân Thầy gót Mẹ cho trọn bề hiếu trung!"


Ca dao Huế còn dung chứa đến độ bão hòa một thứ tình yêu khác tự nhiên, tất yếu, tối cần để cho âm dương hòa hợp, nhân loại trường cửu, vạn vật sinh tồn..., đó là tình yêu nam nữ. Tính thủy chung son sắt, lòng yêu thương tận tụy trong nghĩa vợ chồng thường được ngợi ca;


"Tai nghe anh đau đầu chưa khá,
Em đây băng đồng chỉ sá, bẻ nắm lá cho anh xông.
Có mần ri (4), mới trọn đạo vợ chồng,
Đổ mồ hôi ra thì em chặm (5), ngọn gió lồng thì em che."


hay


"Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu canh bông lý, nấu chè hột sen."


Thói thường, một chuyện tình tưởng cho là đẹp để hoài niệm nhớ nhung, để ngợi ca tiếc nuối lại là chuyện tình không trọn. Ca dao Huế khi diễn đạt về nhu tình nam nữ, nếu không dày vò vì dang dở thì cũng than thở vì truân chuyên, âu lo cho duyên phận. Có những cuộc tình phù du, không hẹn chỉ để lại nỗi buồn bâng quơ:


"Gặp nhau giữa ngả ba Sình,
Anh xuôi, em ngược đem tình nhớ thương."


hay


"Rồi mùa, tót rã rơm khô,
Bậu (6) về quê bậu, biết mô mà tìm?"


Lại có nhiều đường tình chông gai, trắc trở, khiến người trong cuộc phải quay quắt :


"Hai ta thương chắc (7) mần ri,
Bọ mạ (8)mần rứa, mình thì mần răng (4)"


Khi gặp phải nghịch cảnh, cô gái thần kinh hoặc chỉ biết âm thầm than thở:


"Chim xa rừng, còn thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm người ơi!
Nõ thà không biết thì thôi,
Biết nhau rồi hai đứa hai nơi cũng buồn!"


hoặc đành đầu hàng định mệnh, duyên số :


"Cầu Tràng Tiền sáu vài, mười hai nhịp,
Em qua không kịp, tội lắm ai ơi!
Mấy lâu ni chịu tiếng mang lời,
Có xa nhau đi nữa, cũng tại trời mà ra."

Trên nhiều khúc quanh của đường đời, có biết bao mối tình "bình thủy tương phùng", mà khi chia tay trước một mai sau mờ mịt, người ta không khỏi băn khoăn cho một lần tái ngộ:

"Tình về Đại Lược, duyên ngược Kim Long,
Tới nơi đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào?!"

Nếu trong một tình cờ bất chợt, từ nơi góc biển chân trời nào đó, đột nhiên không hẹn mà muộn màng gặp lại, thì chỉ còn biết nhìn nhau ái ngại, vì :

"Chuyện xưa hồ dễ một lần hé môi!"
(Khái Hưng )

bởi

"Có những niềm riêng một đời dấu kín."
( Lê Tín Hương )

Và nếu có tiến xa thêm chút nữa, thì cũng chỉ :

"Nâng chén ân tình, ôn chuyện cũ,
Đâu còn dám tính việc mai sau."
(Tuệ Quang - Xa xôi)

Rất nhiều ca dao Huế mang tính đa diện, hàm chứa nhiều ý nghĩa, có thể thích nghi một cách uyển chuyển với từng thực trạng bên ngoài :

"Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại,
Cầu Tràng Tiền đúc lại xi mon.
Ai người lỡ hội chồng con,
Về đây gá nghĩa vuông tròn cùng ta."

hay:

"Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,
Tiếng kêu đàn nhạn bên áng Hoành Sơn.
Một mình em ở giữa sông Hương,
Tiếng ca, nghe khúc đoạn trường ai hay!"

và thiết tha hơn nữa :

"Thuyền ai trôi trước, cho em lướt theo cùng!
Chiều xuống rồi, trời đất mông lung,
Có phải duyên thì xích lại,
Cho bớt não nùng đêm sương!"

Vào một khung cảnh bình thường, với một tâm trạng thanh thản, thoáng nghe qua những đoạn mái nhì trên, ta tưởng như đây chỉ là tiếng kêu vu vơ của chiếc nhạn tìm bầy hay tiếng gọi mời của đôi tâm hồn nam nữ săn bắt nhau. Nhưng nếu bằng cái tận cùng sâu thẳm trong nội tâm của một người ưu tư, xót xa vì vận nước, ta sẽ phát hiện được từ những tiếng hò bình dị đó, hình như âm vang tiếng gọi của núi sông; sẽ nhận diện được cái thực chất cốt lõi đang mang nặng một ý nghĩa cao đẹp của tình yêu tổ quốc; sẽ bắt gặp được cái tâm trạng khắc khoải của những kẻ đồng hội, đồng thuyền cảm thông đồng điệu.

Cũng với dòng suy tư ấy, có những người con đất Huế, vào những tháng năm lưu lạc, không ngừng "thắp đuốc soi đường đi tìm tri kỷ", không ngừng xuôi ngược "ngậm ngải tìm trầm" để kiếm tìm chiến hữu mà chung lòng chung sức:

"Ai, đấng anh hùng Lam Sơn tụ nghĩa,
Để cho ta xin vác kiếm theo hầu?"
(T.Q - Ngậm ngải tìm trầm)

Một bận dừng chân bên bờ sông St-Laurent mà tưởng nhớ Hương giang ngày cũ, khi đối bóng hoàng hôn (hoàng hôn ngoài không gian lẫn hoàng hôn của đời mình), một người con của mẹ Huế đã xót xa:

"Ta còn ngồi lại,
Thời gian và dòng sông
Vẫn cứ vô tình đi, chẳng đợi,
Trời đổ hoàng hôn, có biết không?"
(Tuệ Quang - Bên dòng St-Laurent)

Rồi, một nghẹn ngào từ lâu nén chặt, có cơ hội trổi dậy bời bời :

"Chiều nay viễn xứ, buồn ray rứt,
Một thoáng rưng rưng lệ nhạt nhòa."
(T.Q - Bên dòng St-Laurent)

Sau cuộc "đổi đời ", đã có những âm mưu chính trị muốn xóa nhòa vết tích của một triều đại đối lập, người ta tìm cách tàn phá những dấu ấn một thời của Huế, xuyên tạc bôi bác lịch sử và nhân vật Huế, khiến cho Huế ngày nay đang mang nhiều ẩn ức chưa được biện minh, đã có ít nhiều biến dạng bên ngoài và khiến cho đàn con của mẹ Huế dù yêu mẹ vô cùng, đã vì một ma lực ly tâm xua đẩy khỏi lòng mẹ mà tản lạc khắp bốn phương trời.

Nhưng, với sức chịu đựng không gì lay chuyển nổi, mẹ Huế vẫn hiên ngang tồn tại. Và, với mạch sống kiên cường do mẹ bồi dưỡng, un đúc, đàn con của mẹ dù xa cách mẹ, dù lạc xứ lưu vong, vẫn giữ tròn khí tiết.

Từ nghìn trùng xa cách, đêm đêm các con hằng mơ thấy mẹ, tháng ngày vẫn mong về bên mẹ, vẫn nhớ mẹ qua từng bước đi, nghĩ đến mẹ trong từng nhịp thở.Nếu có người con nào đó, sau ba thập niên cách biệt, vẫn chưa một lần về thăm mẹ, thì không phải là bạc nghĩa vô tình, mà chỉ là không muốn làm cho mẹ tủi nhục, đau lòng như trường hợp bà mẹ hiền của mưu sĩ Từ Thứ đời Tam Quốc bên Tàu, đã hổ thẹn, tuyệt vọng đến phải tự sát khi thấy con mình nhẹ dạ về với Tào Tháo, vô tình tạo chính nghĩa cho một chế độ bạo tàn, tà ngụy.Chính người con đó của mẹ đã thực hiện đúng cái khí tiết kiên cường do mẹ truyền đạt, tuy để mẹ phải nhớ nhung nhưng không làm mẹ mất đi niềm tự hào, kiêu hãnh.

Hoa phượng vỹ đã theo vết chân di tản của các con, vượt trùng dương mà đâm chồi kết nụ, nở rộ khắp muôn phương để vinh danh mẹ Huế, để chứng minh hùng hồn tính trường cửu bất diệt trong mẹ Huế.

Mẹ Huế ơi! "Nhật nguyệt hối rồi lại minh. Càn khôn bỉ rồi sẽ thái", sau cơn mưa, chắc chắn sẽ có nắng đẹp. Một ngày không xa, khi quê hương thực sự có ánh sáng, có tình người, các con của mẹ nhất định sẽ cùng về chung sức chữa khỏi cơn đau trong tim gan mẹ, hàn gắn vết hằn trên da thịt mẹ.
Xin mẹ hãy chia sẻ cùng các con một tâm nguyện mà cũng là một niềm tin :

"Tôi nuôi niềm tin trở về nước cũ,
Cùng dân tôi dựng lại quê tôi,
Cho đất nước từng nhiều đau khổ,
Ánh bình minh chói rạng chân trời."
(T.Q- Tôi sẽ về)

Và, ân cần gởi về quê hương một lời ước hẹn :

“Huế ơi!
Việt Nam ơi!
Xin chờ đơị nhé,
Cho tôi hẹn một ngày về!”

Tuệ Quang Tôn Thất Tuệ

Hạ Vi  
#198 Posted : Friday, June 10, 2011 12:29:21 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

LỤA HÀ ĐÔNG



UserPostedImage



Nói tới Lụa Hà Đông, dân chúng miền Nam không xa lạ gì với bài thơ Áo Lụa Hà Đông của thi sĩ Nguyên Sa. Nói tới thi sĩ Nguyên Sa, giới học sinh xưa nhiều người không quên giáo sư Trần Bích Lan, hiệu trưởng trường Văn Học ở thủ đô Sài Gòn. Triết học là một trong các môn khó hiểu và nếu không giảng hay dễ làm cho học sinh ngủ gật hoặc cúp cua. Nhưng đối với thày Trần Bích Lan thì học triết học hấp dẫn đến độ học sinh quên ngủ trong lớp. Bài thơ Áo Lụa Hà Đông đã được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc và nhiều ca sĩ đã hát:


Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bay vội vã vào trong hồn mở cửa
Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?
Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lại.




UserPostedImage




Trong bài này chúng tôi muốn nói tới tới Lụa Hà Đông, một sản phẩm thủ công nghiệp nổi tiếng của Việt Nam có từ thời xa xưa và lưu truyền cho tới ngày nay.Khi nói đến sản phẩm thủ công nghiệp của dân Việt, chúng ta không thể quên hai câu ca dao đã đi vào lịch sử dân tộc:

The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng
Lụa Vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ (Làng Đại Mỗ, Tây Mỗ, Thường Mỗ)

Tơ lụa Hà Đông là sản phẩm dệt thủ công bằng tơ tằm, rất đặc sắc, độc đáo và xứng đáng tiêu biểu nhất trong số những hàng dệt của Việt Nam. Hàng tơ lụa bền, đẹp. Về màu sắc và mỹ thuật hội họa đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật.

1. Các loại hàng tơ lụa Hà Đông

Tơ lụa của Việt Nam có nhiều loại khác nhau như: lụa, là, gấm, vóc, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, đũi, kỳ cầu... Chỉ riêng làng dệt Vạn Phúc (Hà Đông), một trung tâm dệt thủ công lớn và nổi tiếng nhất trong cả nước đã từng làm ra hàng chục loại the, lụa, đũi, gấm, lĩnh, vải...

-Gấm: Đây là loại vải dày, có nhiều màu sắc khác nhau gồm: gấm lam, gấm hồng cánh chấu, gấm đỏ, gấm vàng... Hoa trên gấm thường có màu tươi rực rỡ, được dệt nổi, giống như thêu chỉ màu, nên hình ảnh coi rất hấp dẫn. Một tấm gấm mầu, thường có 5 hay 7 màu được gọi là gấm ngũ thể hay gấm thất thể. Gấm là mặt hàng quý giá và khó làm nhất trong tất cả các mặt hàng tơ lụa. Người thợ dệt gấm phải đạt tới trình độ tay nghề rất cao, kỹ thuật điêu luyện và có óc thẩm mỹ. Vì yếu tố kỹ thuật và mỹ thuật đòi hỏi cao như vậy, nên từ xưa tới nay có rất ít nghệ nhân biết dệt gấm.

Theo truyền tụng trong dân gian thì dưới thời Lê, chỉ có làng Vạn Phúc là nơi duy nhất biết dệt gấm.

2. Những loại vải lụa tiêu biểu

-Vân: Là mặt hàng lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm. Hoa nổi trên mặt lụa thì bóng mịn. Còn hoa chìm phải soi lên ánh sáng mới thấy được. Vân được dệt ở làng Vạn Phúc, là một loại sản phẩm đặc biệt và chỉ có thợ Vạn Phúc dệt vân giỏi nhất trong nước. Qua ca dao người ta còn nhớ câu: "The La, lụa Vạn, vải Canh” để chỉ các làng dệt nổi tiếng.

-Lụa: Bao gồm các loại lụa trơn, lụa hoa. Đây là mặt hàng dệt theo kiểu đan lóng mót, mặt lụa rất mịn màng và óng ả.

-The, sa, xuyến, băng, quế:

Các loại sản phẩm này có đặc điểm chung, nét đặc sắc là đều dệt hở (thưa) - nghĩa là trên mặt đều có những lỗ thủng nho nhỏ trông rất đẹp. Lỗ hở giữa các loại vải này cũng khác nhau về kích thước, mức độ thưa và dày.

-Lĩnh, đoạn, vóc, sa tanh: Là các loại vải dệt dày. Số lượng sợi dọc nhiều hơn vải lụa. Mỗi tấm vải này có khoảng 8.000 sợi dọc so với lụa tơ chỉ có chừng 3.000.

-Sa tanh: là loại vải lụa mỏng, mặt vải dệt bằng sợi bóng láng dễ nhìn ra dưới ánh sáng ban ngày.

-Xuyến: giống Sa tanh một phần, nhưng mỗi hàng chỉ dệt thưa và mỗi hàng chỉ tơ người ta bỏ đi một sợi.

-Băng: loại vải thưa nhìn giống màng nhện.

-Sa, xuyến và băng thường dùng để may quần áo lót bên trong.

-Nhiễu: vào những ngày lạnh người ta mặc nhiễu, một loại vải dệt bằng nhiều lớp sợi tơ để chịu được khí lạnh mùa đông.

-Lĩnh: là vải dệt bằng sợi dài và đầy hơn bình thường, bề mặt bóng loáng. Phụ nữ thường mặc quần Lĩnh vào dịp Tết hay các ngày lễ hội.

-Đoạn: giống vải Lĩnh, nhưng dầy hơn và thường dùng cho nam giới.


UserPostedImage




Nghệ thuật trang trí và hoa văn trên lụa được coi là tiêu điểm nghệ thuật của phương pháp tạo hình trên vải sợi của các nghệ nhân và nghệ sĩ Việt Nam. Các nghệ nhân vẽ mẫu và dệt ở Hà Đông đã dựa vào kho tàng nghệ thuật truyền thống dân tộc, sáng tạo chứ không rập khuôn, nhằm thích ứng với từng loại vải dệt. Đề tài thường là Ngũ phúc, Long vân (rồng mây), Nguyên hoa (hoa chanh, cúc, hồng...), Thọ đỉnh (lư hương và chữ Thọ)... Nhìn chung, hoa văn dệt theo truyền thống bao giờ cũng trình bày đối xứng. Đường nét trang trí không rườm rà, phức tạp mà mềm mại, phóng khoáng.

3. Lịch sử về tơ lụa

Theo truyền thuyết thì khoảng 3.000 năm trước đây, Công Chúa Hoàng Phủ Thiệu Hoa là người con gái xinh đẹp, nết na, chăm chỉ và có tài thêu dệt, nên được Hùng Định Vương (Hùng Vương I) rất quí yêu. Khi công chúa Thiệu Hoa tới tuổi kết hôn, Vua cha muốn nàng lấy một nhà giáo, nhưng nàng xin cha trì hoãn cuộc hôn nhân. Sau đó nàng di chuyển tới làng Cổ Sát để sinh sống nghề nông và tại đây nàng đã dậy dân dệt vải. Tới tuổi 32 Công chúa đã đi tới hơn 60 làng dọc theo sông Hồng dậy dân nghệ thuật dệt lụa. Sau đó nàng trở về làng Cổ Sát và qua đời tại đây. Ở Cổ sát nay là làng Cổ Đô vùng Ba Vì thuộc tỉnh Sơn Tây, cách Hà Nội khoảng 40 cây số, có đền thờ Công chúa Hoàng Phủ Thiệu Hoa, Tổ Mẫu của ngành Lụa Việt Nam.

Lụa còn gọi là nhung được người Việt sản xuất kể từ những năm 1040 dưới đời vua Lý Thái Tông, để khỏi phải nhập cảng từ ngoại quốc. Nhung lụa từ thuở ban đầu chỉ dành cho Hoàng Cung và giới thượng lưu. Chính vì thế mới có câu nói "Sống trong nhung lụa", "bọc trong áo gấm" ám chỉ cuộc sống của giới giầu sang quyền quí.

Từ hơn nửa thế kỷ nay tơ lụa của Việt Nam đã nổi tiếng tại thị trường Ba Lê. Lụa Vạn Phúc đã từng được triển lãm tại Marseilles (1928), Paris (1931-1938), Jakarta (1931-1941). Lụa nổi tiếng nhất của Vạn Phúc là Lụa Vân (vẽ mây). Về thống kê cho thấy, 785 trong số 1.343 gia đình tại Vạn Phúc đã thu được một lợi tức hàng năm là 27 tỉ đồng, bằng 63% ngân sách của tỉnh. Ngày nay hàng ngàn mẫu tây sẽ được canh tác trồng dâu, nuôi tằm để sản xuất tơ lụa. Theo thống kê lợi tức về xuất cảng tơ lụa thu được khoảng 50 triệu Mỹ-kim vào những năm 2005.... 2006

Trong các loại vải quí, có thể nói vải Gấm là Nữ Hoàng của lụa. Gấm dày, được thêu hoa, vẽ vật thật công phu. Trong quá khứ Gấm chỉ dùng để may áo cho vua, vì nó đòi hỏi công trình dệt và thêu rất tinh vi và đẹp mắt. Trên áo Gấm thường được vẽ hình hai con rồng chầu mặt trăng. Để hoàn thành mỗi tấm vải Gấm chính hiệu, người thợ chuyên nghiệp phải mất khoảng gần một năm để vẽ, trang trí và ba tháng để may. Ngày xưa khi dệt và thêu áo Gấm cho vua hay Hoàng hậu xong, mẫu vải phải hủy bỏ ngay để áo gấm đó là kiểu mẫu duy nhất, không ai được phép bắt chước. Nếu chủ may vi phạm sẽ bị án "Tru di tam tộc" (dòng họ ba đời bị giết chết!)

Ngày nay giá gấm khoảng 20.000 đồng một mét đối với vải có 50% lụa; 50.000 đồng vải có 75% lụa và 100% lụa thì tùy theo mặt hàng và chất lượng.
Ngày nay nhiều quí bà ở ngoại quốc đãõ may và mặc áo Gấm rồi, ngang hàng với Hoàng Hậu thời xưa, mà chẳng ai sợ bị tru di tam tộc cả. Như vậy vải gấm không còn là sản phẩm độc quyền dành cho vua chúa và giới quyền quí nữa.
Đúng là: "Có tiền mua tiên cũng được"

LÀNG NHUỘM ĐAN LOAN

Nói đến tơ Lụa Hà Đông thì không thể không nói tới làng nhuộm Đan Loan, nơi biến tơ lụa thành nhiều mầu rực rỡ.
Theo tài liệu thì Làng Đan Loan xưa thuộc Tống Minh Luân, huyện Đường An, nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Vốn là một làng nhỏ nằm giữa vùng châu thổ sông Hồng. Nơi đây là quê hương của danh nhân Phạm Đình Hổ, người đã để lại cho văn học nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu như Vũ Trung Tuỳ Bút, Châu Phong Tạp Khảo và nhiều tác phẩm khác.



UserPostedImage



Tuy nhiên làng Đan Loan được biết tiếng không phải vì danh nhân văn học, mà nổi tiếng là một làng nhuộm vải tơ lụa. Từ xa xưa dân chúng trong vùng đã lưu truyền câu ca dao:


Hồng hồng, biếc biếc, xanh xanh
Đan Loan, Ngọc Cục thị thành vẻ vang.
Dân làng Đan Loan thì tự trào bằng câu đối:
Thiên hạ thanh hồng do ngã thủ
Triều đình chu tử tự ngô gia


(có nghĩa: Sắc màu xanh đỏ trong thiên hạ đều do tay ta. Quần áo tía hồng ở triều đình cũng từ nhà ta mà có).

Làng Đan Loan còn có tên là làng Đọc. Truyền thuyết kể lại rằng: khoảng hai nghìn năm trước, nơi đây là vùng đất hoang vu toàn lau cỏ. Ở Tổng Minh Luân có vợ chồng cụ Độc, tên thì thế nhưng tính tình hiền lành, chịu khó làm ăn và trở nên khá giả. Hai cụ tuổi đã cao mà chưa có con, nên thường đi đến các làng lân cận nhận trẻ mồ côi không nơi cư trú về nuôi. Hai cụ đã kiếm được bẩy trẻ làm con nuôi, đặt tên theo họ là Lê, Phạm, Đào, Bùi, Đoàn, Dương, Vũ. Các con lớn lên, gia đình đông đúc, cụ Độc xin phép dân làng cho ra khai hoang khu đất cách làng cũ chừng 2 cây số, trồng lúa để sinh sống. Bảy người con lớn lên, xây dựng gia đình ở quây quần bên cạnh, trở thành thôn ấp. Dân trong vùng gọi là ấp cụ Độc.

Cụ Độc dạy các con cày bừa, cấy gặt và mời thầy đồ về dạy con học chữ. Cụ dựng ngôi nhà gỗ 5 gian để làm trường học, đọc chữ. Vì vậy về sau người ta gọi là làng Đọc. Cái tên làng Đọc vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Làng Đọc là làng khoa bảng, có số Tiến sĩ nhiều thứ hai của huyện Bình Giang, chỉ sau làng Mộ Trạch. Theo nhiều tài liệu lịch sử thì ông Vũ Huyên là con ông Vũ Thạnh, là cháu ông Vũ Huy. Ba anh em, chú cháu cùng làm quan trong triều nên đương thời có người mừng câu đối rằng
‘’Đông triều tam tiến sĩ. Nhất nhật lưỡng vinh qui (cùng một triều đại có 3 Tiến sĩ. Trong một ngày có hai người cùng về vinh qui bái tổ).

Cụ Độc là Thuỷ tổ làng, nhưng thành hoàng làng lại là ông bà Triệu Xương. Lịch sử làng đã ghi: Vào thời nhà Đường cai trị nước ta, có một viên quan tên là Triệu Xương cùng vợ là Phương Dung công chúa đi qua vùng này, thấy làng quê trù phú dân làng chịu khó cấy cày, lại ham đọc sách, nên ngự lại làng, dạy cho dân biết nghề nhuộm vải và tơ lụa, là nghề gia truyền bên Trung Quốc. Từ đó dân làng Đọc có thêm nghề nhuộm, (còn gọi là nghề ruộm). Dân làng nhớ công ơn nên thờ ông bà Triệu Xương làm Thành Hoàng làng.


Người làng Đọc biết nhuộm nhiều màu sắc, nào màu đỏ, màu hồng, màu xanh, màu tía... do biết cách pha màu nên người ta có thể nhuộm các màu theo ý muốn. Nghề nhuộm đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội thời đó, nên người làng Đọc đã có cơ hội làm giàu. Nhiều gia đình đã ra thành phố mở những cửa hiệu nhuộm. Những người còn ở lại làng thì với gánh đồ nghề trên vai họ đã đi khắp chợ cùng quê để nhuộm thắm, nhuộm hồng, nhuộm tía và để tiền thiên hạ chảy về làng Đọc. Dân vùng này có câu ca: Tiền làng Đọc, thóc làng Nhữ, chữ làng Trằm.


UserPostedImage



Vào thời Tiền Lê, những người thợ tài giỏi của làng đã được vua Lê mời vào cung nhuộm vải và tơ lụa, để làm tàn, lọng, áo mũ và nhuộm cả những sợi tơ tằm để làm tua, làm hoa gắn vào mũ áo của vua và các quan lại trong triều. Từ đó làng Đọc được gọi tên mới là làng Đan Loan.
(Theo chữ Hán: Đan là màu đỏ, Loan là con chim Phượng cái màu Đỏ). Ý nói đây là nơi tạo ra nhiều màu sắc, với màu đỏ là màu rực rỡ nhất, những người thợ nhuộm của làng tần tảo, chịu khó như con chim phượng bay đi khắp mọi nơi làm đẹp cho đời. Không sử sách nào ghi người đặt tên cho làng, nhưng đây là cái tên vừa đẹp, vừa hợp với một làng thợ nhuộm.

Theo sử liệu có đoạn nói về Phố hàng Đào từ đầu thế kỷ XV của Nguyễn Trãi:
"... Đã làm trung tâm nhuộm và buôn bán vải, lụa lớn nhất kinh đô Thăng Long. Đan Loan, một làng nghèo xứ Đông, cách Thăng Long đến 50 cây số, do có kỹ thuật nhuộm điều đã kéo về hành nghề ở Thăng Long ngày một đông. Vào cuối thế kỷ XVII người làng Đan Loan đã lập được đình ở Hàng Đào, lập được chợ riêng ở phố Hàng Đào. Phố Hàng Đào trở thành phố riêng của dân làng Đan Loan và họ giàu lên nhanh chóng".



HOÀNG THẠCH



UserPostedImage
thunder  
#199 Posted : Friday, June 10, 2011 1:08:41 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

TÁT NƯỚC ĐẦU ĐÌNH


Nhân dịp năm mới nói chuyện về ca dao trữ tình, chúng ta không thể không nhắc tới bài Tát nước đầu đình, vì đây là một trong những bài ca dao nói về tình yêu lứa đôi hay vào bậc nhất của dân tộc. Bài ca dao này đặc biệt rất vui, vừa tươi về ý vừa đẹp về lời.

Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.


Qua bốn câu đầu(c.1-4) ta thấy chàng trai ngỏ lời với cô gái về chuyện bỏ quên áo và xin lại áo.

Đây có thực là chủ đích của chàng không? Hẳn là không rồi. Chính thế, dù câu chuyện quên áo chàng kể rất tự nhiên với đầy đủ những chi tiết cụ thể, như:


Thời gian: hôm qua (chứng tỏ việc mới xảy ra đây thôi).

Không gian: đầu đình, nơi có đầm sen, một khung cảnh êm đềm, thân quen, vừa cổ kính vừa thơ mộng nơi thôn dã.

Trường hợp: đi tát nước bỏ quên.

Nhưng sau đó, chi tiết “bỏ quên cái áo trên cành hoa sen” đã làm cho câu chuyện đảo lộn tất cả:

Chuyện đang thực trở thành hư cấu

Lời nói đang bình thường trở thành ba hoa.

Nhưng hư cấu mà dễ thương, vì bịa đặt bởi hữu tình, cố ý mượn cớ quên áo để làm quen ; còn ba hoa mà thanh nhã, có duyên.


Nếu xét về lý thì không ai lại vắt cái áo trên cành hoa sen, một loại cành rỗng “trong thông, ngoài thẳng” rất giòn, dễ gẫy; áo tất sẽ bị rơi xuống nước.

Song xét về tình thì hình ảnh chiếc áo vắt trên cành hoa sen chẳng là cách nói cho đẹp lời, đẹp ý mỹ nhân hay sao? người thiếu nữ nào mà chẳng ưa thích những hình ảnh thanh nhã, lời nói lịch sự bóng bẩy?

Và trong thực tế, có chàng trai nào tán gái mà không ba hoa, bay bướm? có chàng còn đòi ngả cành hồng để làm cầu, bắc qua sông đón bạn tình sang chơi, như trong một câu ca dao khác :

Đôi ta cách một con sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang


Thì chuyện “Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen” có gì là lạ đâu ? Huống chi trong những lời trò chuyện tình tứ giữa trai gái, những hình ảnh hư hư thực thực như thế lại dễ làm cho tình cảm các cô man mác, tâm hốn các cô bềnh bồng trong cõi mộng mơ. Bởi thế, ta có thể tin rằng, lời kể chuyện có chút ba hoa nhưng duyên dáng kia đã gây được cảm tình của đối phương.


Lại nữa, từ câu 3 sang câu 4, không khí trò chuyện đã thay đổi rõ rệt.


Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?


Từ lời lỏi han thân mật, lịch sự vừa phải, chuyển sang lời ướm hỏi, thăm dò một cách ởm ờ, nửa đùa nửa thực. Nửa như có ý trêu ghẹo hóm hỉnh, nửa lại có ý tấn công một cách âu yếm tình tứ, làm cô gái luống cuống không kịp phản ứng, hay chưa biết phản ứng ra sao một khi “tình trong như đã”?

Hiểu được tâm lý phụ nữ “Im lặng là bằng lòng ?!” chàng trai liền dẫn câu chuyện cái áo bỏ quên đi xa hơn (c.5-6)

Áo anh sứt chỉ đường tà


Lần nầy chàng lấy cớ cái áo “sứt chỉ đường tà” để giới thiệu gia cảnh của mình một cách khéo léo , tế nhị:

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu


Phụ nữ thường hay thắc mắc về người bạn trai đang tán tỉnh mình còn độc thân hay đã có gia đình, biết được tâm lý ấy, chàng trai liền trả lời ngay cho bạn yên lòng.

Đã qua được hai điểm khó khăn khởi đầu của cuộc tình là gợi chuyện làm quen và giới thiệu gia cảnh, càng trai tiến thêm bước thứ ba (c.7- hết)

Áo anh sứt chỉ đã lâu


Chàng nói ra cái điều chàng thiếu người săn sóc để gợi lòng thương cảm của cô bạn, đồng thời chàng lại có cớ để đưa câu chuyện đi xa hơn nữa: “áo anh sứt chỉ đã lâu” mà chưa ai khâu cho, thôi thì :

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng


Và anh không quên đề nghị:

Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho.


Anh giúp những gì nào?

Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo


Còn hơn thế nữa kia :

Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.



Những gì chàng hứa trả công, hứa giúp toàn là đố sính lễ rước dâu, như vậy ý chàng đã rõ, chàng muốn cưới nàng làm vợ. Đây chính là lời cầu hôn vậy.

Chàng trai ở đây sử dụng đại danh từ ”cô ấy” một cách bóng gió trong lời đề nghị mượn khâu là rất khéo, vì:

Nếu cô gái tỏ ý không bằng lòng, chàng còn có lối thoát: “tôi mượn cô ấy chứ có mượn em đâu ?”. Và cũng là cách nói gián tiếp tế nhị cho đối phương khỏi thẹn.


Tóm lại, câu chuyện “bỏ quên áo” trong bài ca dao Tát nước đầu đình trên là hoàn toàn hư cấu: cái áo bỏ quên kia có thật không mà hỏi xin lại?Ai đã bắt được áo và đã trả lại chưa mà đòi mượn khâu?Tà áo có sứt chỉ thật không? Mà dẫu có thì cũng không ai trả công và giúp đỡ người khâu hộ bằng cả từng ấy lễ vật, rõ là cái áo tưởng tượng! Nhưng cũng chính nhờ dựa vào những chi tiết tưởng tượng, hư cấu bày đặt ấy mà chàng trai ở đây đã bộc lộ được một sự thật, rất thật, đó là tình yêu trong sáng, thơ mộng, lãng mạn và cũng rất trân trọng, đằm thắm của chàng đối với cô gái mà chàng muốn cưới làm vợ.


Chúng ta cũng biết, cái áo đã từng là đề tài quen thuộc trong nhiều bài ca dao trữ tình khác như :

Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.
Chàng về để áo lại đây
Phòng khi em đắp, gió tây lạnh lùng.
Yêu ai tha thiết, thiết tha
Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi.

v.v....


Nhưng câu chuyện về cái áo bỏ quên trên cành hoa sen ở đây phải kể là một sáng kiến độc đáo. Nó đã được khai triển từ chuyện gợi ý làm quen đến chuyện tỏ tình , rồi cầu hôn một cách dí dỏm, lý thú; làm chúng ta cũng bị lôi cuốn vào câu chuyện tình duyên đẹp đẽ, thơ mộng của đôi lứa thiếu niên này. Chúng ta có thể nói chắc rằng, bài ca dao Tát nước đầu đình quả là một bài ca dao tỏ tình tuyệt vời. Nó đẹp từ hình thức đến nội dung. Nó sẽ mãi mãi còn gây được niềm xúc động xôn xao và thú vị trong lòng độc giả, nhất là đối với lứa tuổi thanh xuân đang bước vào ngưỡng cửa của tình yêu.


Nhân đây chúng tôi cũng xin giới thiệu một bài ca dao khác, cùng một đề tài tỏ tình, và cũng mượn chuyện áo quần làm cái cớ để cầu thân, rồi tính dần đến chuyện hôn nhân, để chúng ta có dịp so sánh:


-Tình cờ bắt gặp nàng đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
Để mà kết nghĩa tương thân
Sau này chỉ Tấn tơ Tần se duyên.


Đọc bài ca dao sau, ta thấy sao nó trơ trụi quá, nó chỉ có xác mà không có hồn. Ngay xác nó cũng khô cứng, thiếu hẳn những gì gọi là duyên dáng, óng ả của ngôn từ, của cách diễn đạt. Về nội dung, nó chỉ là một chuỗi ý xếp cạnh nhau, thiếu hẳn cái hồn, cái cảm xúc của tác giả. Điều này cho thấy, có ý chưa đủ mà còn cần phải có hứng cảm. Nhờ hứng cảm, ý thoát ra được thành những lời thơ mềm mại, tự nhiên, có sức hấp dẫn và phản chiếu được tâm hồn cùng tình cảm của tác giả.

PHẠM THỊ NHUNG
thunder  
#200 Posted : Friday, June 10, 2011 2:04:17 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage


Tát nước đầu đình - Elvis Phương & Hà Phương

http://www.youtube.com/watch?v=Zpyp3IRIqN8



Đêm qua tát nước í a chứ đầu đình
Trời đêm sáng tỏ ấy cái đêm trăng rằm
Bỏ quên chiếc áo chứ trên cành là hoa sen,
Là cành hoa sen ớ ơ
Em được thì cho anh xin
Hay là em để chứ làm tin làm tin trong nhà

Ơi hỡi chàng ơi chứ tình rằng ơi hỡi chàng ơi
Áo anh sứt chỉ chứ đường tà chứ biết rằng
Vợ anh chưa có chứ mẹ già, mẹ già chưa khâu
Mẹ già chưa khâu chứ tình rằng tình vẫn chưa khâu

Áo anh sứt chỉ đã lâu mới mượn cô ấy về khâu cho rồi
Khâu rồi anh sẽ trả công đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em ... một thúng xôi vò một con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em chứ giúp em mà đôi chiếu chứ em nằm
Đôi chăn em đắp í a chứ đôi tằm, chứ đôi tằm
Là tằm em đeo, là tằm em đeo ...
Giúp em quan tám, quan tám, chứ tiền treo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo lại đèo buôn cau
í.. ạ. í.. a ...
Lại đèo lại đèo buôn cau, í.. ạ. ịì.í.. a ...
Users browsing this topic
Guest (2)
143 Pages«<89101112>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.