Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<45678>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
CatLinh  
#101 Posted : Thursday, October 2, 2014 5:42:06 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 10/4/2014(UTC)
phamlang  
#102 Posted : Tuesday, October 7, 2014 5:19:59 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Chữ quốc ngữ: từ kể chuyện đến văn chương


UserPostedImage

Tình hình nước ta từ cuối đời Thiệu Trị (1841-1847) sang đời Tự Đức (1847-1883) diễn ra lắm nỗi bi ai. Nhìn chung, đất nước quá lạc hậu về nhiều mặt so với nhiều nơi khác trong vùng Đông Nam Á như Tân gia ba, Vọng các, Nam dương, Hương cảng… Một kẻ sĩ của thế kỷ XIX là Cao Bá Quát, vào 1843, khi tháp tùng phái bộ sang Tân gia ba được chứng kiến văn minh tiến bộ xứ người, đã nhận ra cái học “tầm chương trích cú” của thế hệ mình, chủ trương “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn đã giam giữ dân tộc trong vòng chậm tiến:

Tân gia từ vượt con tàu,

Mới hay vũ trụ một bầu bao la.

Giật mình khi ở xó nhà

Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi

Không đi khắp bốn phương trời

Vùi đầu án sách uổng đời làm trai

(bản dịch của Trúc Khê)

Tình trạng hủ bại ở Việt Nam kéo dài suốt hậu bán thế kỷ XIX dẫn tới đất nước rơi vào tay thực dân: sáu tỉnh miền Nam (từ 1862 tới 1867), hai lần Hà nội thất thủ (1873-1882) và cuối cùng là thỏa ước Patenotre ra đời, đất nước rơi vào vòng ngoại thuộc.

Đất nước từ đó chia làm ba khu vực chính trị. Miền nam là thuộc địa, miền Bắc theo chế độ bảo hộ và miền Trung còn chút ảnh hưởng của triều đình Huế nên tạm gọi là tự trị. Sự phân chia này dẫn tới tình trạng xã hội ở các miền bày ra sắc thái đối nghịch. Miền Nam sớm tiếp xúc với văn minh Âu Tây nên tiến bộ hơn miền Trung và miền Bắc.

Trong khi phía bắc đất nước còn ở trong vòng “bát cổ văn chương túy mộng trung” (tám vế văn chương giấc mộng nồng -Thơ Phan Chu Trinh) thì miền Nam đã phát sinh phong trào báo chí đề cao cải cách văn học qua việc phát triển chữ quốc ngữ.

Lịch sử ghi lại, miền Trung và miền Bắc cho tới 1915 mới bãi bỏ thi hương và 1918 là khoa thi hội cuối. Chữ quốc ngữ chỉ được đưa vào kỳ thi hương từ 1897 và chỉ buộc sĩ tử biết đánh vần, ghép chữ sau bốn kỳ quy định mà thôi như nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) biếm họa:

Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,
Á, ớ, u, ơ ngọn bút chì.

Nhà Nho thời ấy ở cái nôi văn học Bắc hà chỉ sáng tác văn chương bằng chữ Hán và chữ Nôm và coi chữ Quốc ngữ như một văn tự xa lạ, ngoại nhập do kẻ thù mang lại. Vì thế có lúc nhà thơ non Côi sông Vị đã mỉa mai:

Hán tự chẳng biết Hán
Tây tự chẳng biết Tây
Quốc ngữ cũng tịt mít
Thôi đi về đi cày!

Ngược lại với miền Bắc, cũng khi ấy Lục tỉnh Nam kỳ đã có nhiều trí thức thức thời, biết được vai trò quan trọng của truyền thông trong việc xây dựng văn hóa mới. Những năm cuối của thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX báo chí ở Nam Kỳ đã xuất hiện khá dồi dào, lôi cuốn được nhiều độc giả nhờ chữ quốc ngữ đã được sử dụng ở phạm vi rộng vượt dần khỏi nhu cầu cai trị và chữ Hán như: Gia định báo (1865), Phan yên báo (1868), Thông loại khóa trình (1888), Nam kỳ địa phận (1908), Nông cổ mín đàm (1901), Nhật báo tỉnh (1905) Lục tỉnh tân văn (1907)…

Báo chí không còn hoàn toàn là công báo như tờ Gia định mà có nhiều tờ do tư nhân chủ trương (có tờ do người Pháp như Paul Canavaggio đỡ đầu), và các cây viết có tinh thần dân tộc rõ rệt như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt… xuất hiện. Tất cả ra công xây dựng cho nền tảng chữ quốc ngữ và văn học chữ quốc ngữ.

Để dấy lên phong trào học chữ quốc ngữ và dùng chữ quốc ngữ, đồng thời thực hiện nhiệt tâm xây dựng tiền đồ văn hóa, quảng bá học thuật mới, các cây viết tiền phong đã tìm cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Bằng cách nào?

- Biên soạn tự điển chữ quốc ngữ như Huỳnh Tịnh Của và Trương Vĩnh Ký đã làm.

- Bảo tồn tác phẩm quốc âm và khai thác thuật kể chuyện và thể văn vần để lôi cuốn người đọc vốn ham đạo lý cổ truyền qua nhưng câu chuyện đời xưa, chuyện giải buồn và chuyện khôi hài.

- Chuyển truyện Tàu sang chữ quốc ngữ. Do đó, Huỳnh Tịnh Của viết Chuyện giải buồn, Quan âm diễn ca, Trần sanh diễn ca, Chiêu quân cống hồ truyện, Bạch viên tôn các truyện, Văn doanh diễn ca, Thoại khanh, Châu tuấn truyện, Tống tử vưu truyện. Còn Trương Vĩnh Ký dùng Thông loại khóa trình để giảng giải đạo lý, ghi truyện Nôm ra chữ Quốc ngữ như Truyện Kiều, Lục súc tranh công, Đại nam quốc sử diễn ca… để cung cấp cho độc giả bài học lịch sử và những áng văn chương mẫu mực, hoặc viết Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, và du ký để giải trí và tài bồi khả năng thưởng thức văn học cho người đọc. Ông cũng còn viết sách văn phạm tiếng Việt đầu tiên (Abrégé de grammaire annamite -Tóm lược ngữ pháp An Nam, Cours de langue annamite -Bài giảng ngôn ngữ An Nam) để biến thứ văn tự mới thành một ngôn ngữ khoa học và dễ phổ quát.

Một học giả khác là Trương Minh Ký (1855-1900) cũng với mục đích truyền bá văn chương Âu Tây và gây hứng thú cho người học chữ quốc ngữ, đã dịch Fables de la Fontaine. Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ (S.: Guilland et Martinon, 1884) và Riche et Pauvre. Phú bần truyện diễn ca (S.: Guilland et Martinon, 1885).

Riêng Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947)đã dịch khá nhiều chuyện xưa ra chữ quốc ngữ như Tây Hớn (Hán), Đông Hớn, Chung Vô Diệm, Tam quốc chí, Ngũ hổ bình tây, Nhạc phi, Thập nhị quả phụ chinh tây, Càn Long du Giang nam, Anh hùng náo tam môn nhai, Tái sinh duyên …

Dùng các loại văn vần, những bài giáo huấn tới các câu chuyện mua vui cho độc giả, hoặc đăng báo, in thành sách hoặc đăng trên các tờ quảng cáo cho các dược phòng, các nhà văn buổi đầu ở Nam Kỳ đã dấy lên làn sóng học thứ tân văn tự và dần dần phát huy tinh thần sáng tạo và dùng chữ quốc ngữ để viết tiểu thuyết, làm thơ, viết nghị luận. Có thể tóm tắt bước phát triển của văn quốc ngữ như sau:

Trên báo chí ->Trong tác phẩm kể chyện cổ, dịch phẩm -> trong tiểu thuyết, thi ca, nghị luận.

Cũng vì thế Thiếu sơn Lê sĩ Quý (1908-1978), một nhà phê bình văn học tiền chiến trong một bài diễn thuyết vào năm 1933 tại Sài gòn, đã có ý kiến xác đáng: “Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng văn học.”

Tóm lại, lịch trình diễn biến của câu văn quốc ngữ rất tự nhiên theo nhịp tiến của chữ quốc ngữ, từ lối kể chuyện mộc mạc, ngắn gọn tiến dần sang ngôn ngữ chải chuốt, có vần có điệu. Tuy nhiên, lối văn khuôn khổ, ước lệ cổ kính lần lần bớt hoa dạng với tác phẩm của các nhóm nhà văn trong Đông dương tạp chí và Nam phong tạp chí.

Chúng ta thử đọc lại một chuyện kể trong tập Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của để thấy câu văn quốc ngữ cách đây hơn một thế kỷ ra sao.

Cũng nên biết Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của gồm 112 gồm 2 tập, 112 truyện (in năm 1880 và 1885).

Quân tử khả khi dĩ kỳ phương

Thầy Tử Sản là người nước Trịnh, cũng là môn đệ đức Phu Tử.

Ngày kia thầy Tử Sản phát tiền cho đầu bếp đi chợ. Tên đầu bếp đem tiền đi chợ, gặp chúng bạn rủ, đánh lú thua hết. Trở về tay không thì sợ thầy quở, nó bèn kiếm chước nói dối thầy mà rằng: “Bữa nay tôi ra chợ, tôi thấy họ bán một con cá lớn đại, mập núc mà tròn quay; tôi hỏi giá, họ nói có một quan tiền, chớ mọi lần họ bán cho tới hai ba quan. Tôi nghĩ không mấy khi gặp cá ngon bán rẻ, dốc lòng tìm miếng ngon cho thầy, tôi bèn mua trụm cả quan tiền. Tôi lấy dây xỏ mang con cá mà xách về, gần tới nửa đàng, chẳng dè nó cứng đờ không cục cựa, tôi sực nhớ lời người ta nói: “Cá lên khỏi nước cá khô”. May vừa đi ngang qua hồ, tôi lật đật đem bỏ con cá xuống nước, họa là nó lấy hơi nước mà sống lại chăng. Hồi tôi mới thả, nó nằm trơ, không máy động, vừa giập bã trầu, nó quay và ngáp gió, giây phút nó vùng một cái. Tôi vừa thò tay mà bắt lại, nó đã quạt đuôi lội đi mất. Ấy là tại tôi dại, xin thú thật cùng thầy”.

Thầy Tử Sản nghe nói bèn vỗ tay mà rằng: “Đắc kỳ sở tai! Đắc kỳ sở tai!” (Chỉ nghĩa là chim trời cá nước, được thế nó thay! Được thế nó thay!)

Thằng đầu bếp ra ngoài cười thầm, học cùng chúng bạn rằng: Ai gọi thầy Tử Sản là trí! Tiền chợ thầy đưa, tao thua hết, tao kiếm điều nói láo, mà thầy cũng tin ngay. Ai gọi thầy Tử Sản là trí!

Thầy Mạnh Tử giải rằng: quân tử khả khi dĩ lý chi sở hữu, nhi bất khả khi dĩ lý chi sở vô. Nghĩa là lấy việc có lý mà dối người quân tử cũng được; chí như việc không có lý thì chẳng lẽ dối đặng.

Paulus Của (Chuyện Giải buồn cuốn sau)

Hoàng Yên Lưu
Theo TB

Edited by user Tuesday, October 7, 2014 5:20:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#103 Posted : Tuesday, October 14, 2014 4:56:43 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

“Kiêu sa” hay là “kiêu xa”?



Nhiều, rất nhiều người thắc mắc: để tả một phụ nữ (phụ nữ thôi nhé!) có nét thanh lịch, đài các thì gọi là “kiêu sa”, như ngay câu mở đầu nhạc phẩm “Giáng Ngọc” của Ngô Thuỵ Miên: «Bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa…»; nhưng là “kiêu sa” hay… “kiêu xa”? “S” hay “X”? Một số học giả đã trưng bày những nhận định như sau:

– «“Kiêu sa” là cách viết có phần “lệch” chính tả vì đúng chính tả thì phải là “kiêu xa” mà Hán tự là 驕奢. Hán Việt Tân Từ Điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng là “hợm mình và hoang phí” còn Việt Nam Tự Điển của Lê văn Đức thì giảng là “kiêu căng xa xỉ”. Có vẻ như, với sự lệch chữ lệch âm từ “xa” thành “sa”, một số người thích dùng hai tiếng “kiêu sa” để chỉ các bà các cô vừa đẹp vừa hãnh diện về cả sắc đẹp trời cho lẫn về y phục và mỹ phẩm mình dùng để tôn thêm cái sắc đẹp đó thì phải.» [An Chi – Bách Khoa Tri Thức]

– «Theo tôi thì vốn chữ ấy phải viết là “kiêu xa”, và hiểu là kiêu (ngạo) và xa (xỉ). “Kiêu xa dâm dật” 驕奢滛逸 (Từ điển Hán Việt – NXB Trẻ, tr.2234) nghĩa: xa hoa dâm dật. Nhưng thường người ta cứ viết là “kiêu sa” và hiểu là: người phụ nữ đẹp một cách sang trọng và tỏ ra kiêu hãnh, “vẻ đẹp kiêu sa” (Từ điển tiếng Việt, tr.651, Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển học xuất bản 2007).

Như vậy, “xa” đã biến âm và biến nghĩa thành “sa” (một từ không có nghĩa gì gắn với “kiêu” cả; vì nếu là Hán Việt thì “sa” 沙: cát, “sa” 紗: lụa mỏng… đều không dính gì với “kiêu” để tổ hợp thành từ.)

Vậy nét nghĩa “xa” trong tiếng Việt hiện nay đã mờ nghĩa, mất nghĩa; biến âm và đó cũng là hiện tượng thường thấy: “xán lạn” 燦爛 biến thành “sáng lạn”; “cổ xúy” 鼓吹 biến thành “cổ súy”… » [Mai Tiểu Sinh – Hồn Việt]

Với những lập luận trên thì: viết đúng là “kiêu xa”; và “kiêu xa” hiểu theo nghĩa đen là “hợm mình và hoang phí”, “kiêu căng xa xỉ”, “xa hoa dâm dật”… ; mà nghĩa bóng là để… khen tặng… một phụ nữ đẹp (!)

Ơ hay, sao mà lạ vậy?! Nếu trông thấy một phụ nữ tuyệt đẹp mang thứ giày-cao-gót-nhọn đi ngang thì có cho tiền tôi cũng không dám “khen”, vì hậu quả thật khó lường. Sao mà nghĩa đen và nghĩa bóng lại có thể đối chọi nhau đến thế?! Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sau khi lãnh nguyên một “thần chưởng”, tá hoả tam tinh, đâm ra bối rối bèn tung hô vạn tuế cái “bàn tay năm ngón” à? Tội nghiệp! Đồng ý rằng ngôn ngữ nước ta rất “đa dạng” và phải biết “hiểu ngầm”, nhưng chắc cũng vừa vừa thôi chứ. Mình nói mình hiểu, người kia không hiểu, ứng theo câu « Ai cũng hiểu, chỉ một người không hiểu… » (Phượng Hồng, thơ Đỗ Trung Quân) mà nhỡ là người giày-cao-gót-nhọn ấy thì làm sao?!

Thật thì không dám tranh biện với các chuyên gia ngữ học mà chỉ xin góp vài ý kiến thô thiển để hòng gỡ chút rối rắm, vì những lí giải trên, với tôi, vẫn chưa “thuyết phục” lắm.

Dẫn theo Hán Tự để giải nghĩa hai chữ “kiêu xa” 驕奢 (chứ không “kiêu sa”) thì các vị học giả và các từ điển nêu trên đều không sai lầm mảy may nào. Nhưng thiết nghĩ: các cụ nhà ta tuy thông thạo Hán Văn nhưng không cứ hễ mở mồm là… xổ Nho; để thưa rằng không nhất thiết phải vin vào chữ Hán để truy từ căn. Cùng thử tìm về một hướng suy luận khác xem sao…

Trước nhất xin phép phân các tổ hợp từ “kiêu xa” và “kiêu sa” thành “kiêu”, “xa” và “sa” để tìm hiểu cách chi li hơn:

– “Xa”: tiếng Hán có nghĩa là phung phí (ngược với “kiệm”), như xa hoa, xa xỉ…, và còn có nghĩa là “xe” (phương tiện di chuyển) như xe đạp, xe hơi… ; tiếng Ta thì chỉ khoảng cách, ngược với “gần”, như xa lắc, xa xăm, xa lạ, xa rời, xa xôi…

– “Sa”: tiếng Hán là (tơ) lụa, hoặc cát (như sa mạc chẳng hạn); tiếng Ta thì đồng nghĩa với động từ “rơi”, chỉ động thái của một vật từ trên xuống, như chim sa cá lặn… (còn có biến âm khác là “sà”: cành cây sà xuống…)

– “Kiêu” theo Hán ngữ thì đúng là “kiêu hãnh”, “kiêu kì”, “kiêu ngạo”… Và, từ nầy còn có âm cổ là “cao” mà một số các cụ già trong Nam còn dùng, như ông nội một người bạn thân có lần mắng tôi là “thằng cao ngạo” thay vì “kiêu ngạo”; trong Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tiến Đức vẫn còn dấu vết với chữ “cao kì” đồng nghĩa với “kiêu kì” chẳng hạn. Tiếng nước ta thì từ “cao” có nghĩa ngược với “thấp”, như “cao chê ngỏng, thấp chê lùn”, “trèo cao ngã đau”, “nhớ ơn chín chữ cao sâu”, trời cao đất dày, cao xanh (trời)…

Theo đó, hai chữ “xa” và “sa” chiếu theo tiếng Tàu rồi tiếng Ta thì đã rõ ràng, không phàn nàn gì cả. Chỉ mỗi chữ “kiêu” (cao) thì có hơi lấn cấn khiến phân vân tí.

Sau nghìn năm bị người Tàu đô hộ, chúng ta vay mượn khá nhiều từ ngữ của họ, nhưng những từ rất đơn giản và khá thiết thực như: ngắn dài, gần xa, cao thấp… mà ông cha chúng ta cũng không có để đến nổi phải vay mượn tiếng Tàu thì có vẻ gì đó không được hữu lí lắm.

Tôi xin trình một giả thuyết như thế nầy: “kiêu” là từ Hán Việt với nghĩa ngạo mạn, bất phục tùng, “làm cao”… “Cao” cũng là từ Hán Việt, là âm cổ của “kiêu” nên mang nghĩa của “kiêu”, và còn có nghĩa chỉ phía trên, đối với “đê” (thấp); đồng thời, “cao” cũng lại là từ thuần Việt và cũng chỉ phía trên để đối với thấp – trường hợp đồng âm đồng nghĩa của hai ngôn ngữ là chuyện xảy ra không hiếm, như “mẹ” và “mère” (tiếng Pháp) chẳng hạn, mà không bắt buộc phải xuất phát từ ngôn ngữ nầy hay dân tộc kia rồi lan truyền, mà chỉ là sự trùng hợp. Để minh chứng, tôi xin cử vài ví dụ: thường thì từ kép được lập bởi hai từ cùng gốc (Hán-Hán hoặc Việt-Việt); với “cao”, chúng ta thấy có “cao sơn, “cao đồ”, “cao đàm”, “cao kiến, “cao hạ” trong câu “Cao hạ tự tâm”… là những từ kép mà cả hai nguyên tố đều gốc Hán; nhưng cũng có những “cao thấp”, “cao sâu”, “cao dày”, “cao xa”, “cao xanh” của câu “Chớ đem nông nổi mà nhờ cao xanh” (Kiều)… thì đây lại phải là những từ kép thuần Việt, chứ không thì làm sao ghép với nhau.

Thế thì có thể phỏng đoán: “kiêu sa” không là biến âm của “kiêu xa” mà phải là biến âm của “cao sa”. “Cao sa”, chứ không “cao xa”.

“Cao xa” (với chữ X), tiếng thuần Việt, không phải là không mang ý nghĩa gì: khi chỉ một phụ nữ “cao xa” là khoảng cách không gần (xa cách), với không tới, chẳng chứa đựng mấy thiện cảm nên tôi không cho ấy là khen mà thôi.

Còn “cao sa” (với chữ S), là từ kép thuần Việt, hàm ý từ trên cao xuống (cao = trên ; sa (sà) = xuống), chính là từ nguyên của “kiêu sa”, chỉ phụ nữ đẹp cách quyền quý, cao sang… như… tiên giáng trần. Chỉ một ý duy nhất như thế. Và “sa” đúng là viết bằng chữ “S” cong cong thanh tú như dải đất của chúng ta vậy.

Vũ Hạ
16 tháng 1, 2014

Edited by user Tuesday, October 14, 2014 4:57:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#104 Posted : Thursday, October 16, 2014 4:29:01 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Từ chữ Nôm tới chữ Quốc ngữ



Hàng ngàn năm chúng ta phải dùng Hán tự coi như văn tự nước nhà. Từ ấu thơ người xưa đã phải học Tam thiên tự, Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi… và ở tuổi trưởng thành thì phải “Tứ thư thục, Ngũ kinh thông” (thuộc Tứ thư và thông Ngũ kinh). Không nên quên Tứ thư gồm Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung và Ngũ kinh gồm Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân thu, là sách gối đầu giường của kẻ sĩ muốn thực hiện giấc mơ công hầu khanh tướng. Vì thế, chữ Hán và văn hóa nòi Hán có giai đoạn đã xâm nhập khá sâu vào sinh hoạt của kẻ sĩ bị trị.

Thời kỳ độc lập mở ra một hy vọng mới, một chân trời mới, từ thế kỷ XIII tổ tiên chúng ta đã điển chế ra Chữ Nôm, và nền Văn học Chữ Nôm của chúng ta phát triển dần từ Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố đời Trần tới đỉnh cao là Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du đời Lê mạt-Nguyễn sơ.

Tuy nhiên, Chữ Nôm vẫn không có cơ hội chính thức thay chữ Hán vì phần lớn các triều đại còn quá bảo thủ, mang nặng ảnh hưởng văn hóa phương Bắc, đã coi chữ Hán như phương tiện chính thống để truyền thông từ việc cai trị tới việc ghi chép lịch sử, địa dư… và ngâm vịnh. Kẻ sĩ ngày xưa quen với chương trình học hành thi cử “thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi”, nghĩa là “học cho thuộc một ngàn bài thơ, một trăm bài phú Hán và trăm bài văn sách mẫu” và tụng cho kỹ Bắc sử, là có thể lều chõng tới trường thi nên văn chương họ sáng tác phần nhiều là khuôn sáo, thù ứng từ nghệ thuật tới ý tứ.

Thời kỳ duy tân, văn minh Âu Tây tràn vào Đông Á, kẻ sĩ có cơ hội giũ bỏ xiềng xích cũ.

Tầng lớp trí thức tiến bộ ở Trung hoa như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Nghiêm Phục… hô hào duy tân chế độ chính trị, tiếp đó là Hồ Thích, Trần Độc Tú…, song song với phong trào Ngũ tứ vận động (04-05-1917), trong những tờ báo tiến bộ như Tân thanh niên, phản đối chính quyền hủ bại, đề xướng cải cách văn học, bãi bỏ cổ văn, nâng cao thể bạch thoại.

Riêng đất nước ta, trào lưu duy tân tới rất sớm, cực kỳ sôi động và lần đầu tiên đã có nho sĩ như Phan Chu Trinh mạnh dạn đả kích ý thức hệ phong kiến và mang tư tưởng dân chủ gieo rắc nơi đồng bào cả nước.

Tuy nhiên, kẻ sĩ cuối thế kỷ XIX ở ta chợt nhận ra thiếu phương tiện truyền thông và truyền cảm và phổ biến tư tưởng mới nghĩa là thiếu một hệ thống văn tự hữu hiệu.

Dùng chữ Hán, thứ chữ vay mượn, để ghi chép và sáng tác khó lòng diễn đạt được tình ý của mình. Sự truyền thông đã khó và cũng khó tạo ra những tác phẩm siêu việt. Đây là một sự thực mà chúng ta không cần tìm lời bào chữa.

Cứ nhìn thực tế, những tác phẩm sáng tác bằng chữ Hán của Nho gia lịch triều Lý, Trần, Lê có tới hàng chục ngàn bài thơ nhưng chỉ có vài trăm bài được lưu truyền ghi lại trong Hoàng việt thi tuyển. Nhắc tới thi ca sáng tác bằng chữ Hán có giá trị của người Việt, ngoài Nguyễn Trãi đời Lê, Đặng Trần Côn thời Lê mạt… chỉ còn có thơ của Nguyễn Du, Cao Bá Quát và Nguyễn Khuyến… đời Nguyễn là được đời truyền tụng. Phần còn lại vì sao mai một hoặc nằm mãi trong thư viện khảo cổ?

Phan Khôi (1887-1959), một cây viết gốc Nho nhưng thuộc tầng lớp kẻ sĩ tiến bộ đầu thế kỷ XX đã tiết lộ lời chỉ trích của một tác giả Trung hoa về phong cách ưa múa bút đề thơ bằng chữ Hán của đa số Nho gia ta đời trước. Cho dù lời chỉ trích có vẻ kênh kiệu và nhìn chung là sai lầm nhưng cũng đủ để ta suy nghĩ khi chúng ta thiếu một văn tự dành cho nòi giống Tiên Rồng nên phải học nhờ, viết mướn ngôn ngữ nước người.

Phan Khôi kể lại, sách Dinh hoàn chí lược của Tàu trong chỗ nói về sĩ phu Việt Nam thời xưa ưa làm thơ chữ Hán đã nhận xét rằng: “Sĩ phu họ tính ưa làm thơ nhưng có kẻ làm không nên câu mà cũng thích làm”.

Cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, ở ta giỏi chữ Hán mấy ai bằng chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940). Cụ Phan không những từng là thủ khoa kỳ thi hương (1901) mà còn là một nhà văn lớn của dân tộc. Thế mà Phan Bội Châu khi ở Nhật viết Việt Nam vong quốc sử có nhờ Lương Khải Siêu (1873-1929) viết lời giới thiệu thì họ Lương tuy ngợi khen tấm lòng của cụ Phan với dân, với nước nhưng có nói một câu tựa hồ phân bua với độc giả Tàu rằng, “trong sách nếu có chỗ không được nhã thuần, ấy là vì muốn để y cho còn cái chân tích của tác giả nên không hề sửa chữa một chữ nào”.

Lương Khải Siêu chê Phan Bội Châu viết văn chữ Hán chưa chuẩn (kém nhã thuẩn). Điều này chẳng có gì làm giảm giá trị của Việt Nam vong quốc sử và ngòi bút của tác giả vì cụ Phan là người Việt dĩ nhiên viết văn Tàu khó có thể đạt tới tiêu chuẩn chân-thiện-mỹ như thầy trò Khang Lương (Lương là học trò của Khang Hữu Vy).

Phan Khôi giải thích: “Tội không tại người mà cũng không tại chữ. Tội tại người nước này mà dùng chữ nước kia”. Từ thực tế này Phan Khôi cho rằng: “Một thứ chữ ngoại quốc nào cũng chỉ hành dụng bởi nhu cầu của thời đại mà thôi, còn muốn lập nên văn học thì ắt phải là văn tự bản quốc mới được. Vậy chúng ta nên đồng thanh kêu: hỡi người Việt Nam trở về với quốc văn!”

Làm sao trở về với quốc văn?

Trước đây, kẻ sĩ ưu thời mẫn thế nhận rõ Chữ Nôm rất khẩn thiết đối với vận mệnh dân tộc nhưng thứ văn tự này chưa đủ làm võ khí sắc bén về văn hóa cho một nòi giống hùng cường và quật cường dưới trời Đông Á như chúng ta.

Thực vậy, Chữ Nôm cho dù là tài sản, một công trình tim óc của tiền nhân để lại, nhưng nó lại là một thứ chữ khó học, khó viết nên khó có thể đại-chúng-hóa. Trong thực tế kẻ giỏi chữ Hán mới dùng được chữ Nôm.

Chúng ta thử lấy câu đầu trong Truyện Kiều ghi bằng chữ nôm để xem cách cấu tạo của thứ chữ Việt ngày xưa tiền nhân ta đã dùng: “Trăm năm trong cõi người ta.”

Khi chưa có chữ Quốc ngữ như ngày nay, muốn ghi chữ “trăm”, Nguyễn Du đã ghép hai chữ Hán là chữ “bách” (chỉ nghĩa: một trăm) và chữ “lâm” (nghĩa là rừng, nhưng ở đây dùng chỉ cách đọc vì “lâm” có âm tương tự như “ăm”). Kế đền chữ “năm” thì ghi làm sao? Cần hiểu rõ “năm” muốn chỉ số hạng hay năm muốn chỉ “mười hai tháng”. Nếu “năm” chỉ số hạng thì ghép hai chữ, chữ “ngũ” chỉ nghĩa, chữ “nam” chỉ âm. Còn “năm” chỉ thời gian thì ghép hai chữ Hán, chữ “niên” (chỉ năm tháng) và chữ “nam” (chỉ âm). Tương tự chữ “trong” thì ghép hai chữ Hán (long chỉ âm) và trung (chỉ nghĩa); chữ “cõi” (ghép chữ “thổ” chỉ nghĩa với chữ “quý” ghi âm ); và chữ “người” thì dùng chữ “ngại” ghi âm ghép với chữ “nhân” ghi nghĩa. Còn riêng chữ “ta” thì dùng ngay chữ Hán để ghi vì đọc cùng âm với “ta” của Việt. Cách cấu tạo xem ra phức tạp và chưa theo quy tắc nhất định (vì chưa được phổ biến và cải thiện) nên đọc văn bản Nôm nhiều khi phải đoán xem cổ nhân đã muốn ghi âm gì trong tiếng Việt.

Đang lúc cần canh tân gấp, lại gặp bế tắc về văn tự là nỗi đau đầu của kẻ sĩ tâm huyết cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ở nước ta.

Cơ hội đã tới. Tiếp xúc với Tây phương chúng ta đã có một thứ văn tự mới và các nhà văn hóa sáng suốt của ta đã vội vàng mượn lấy nó để làm thứ chữ của cả nước và đặt tên nó là Chữ Quốc ngữ.

Tại sao lại gọi là Chữ Quốc ngữ?

Giáo sư Dương Quảng Hàm (1898-1946) giảng rằng:

“Chữ quốc ngữ là một thứ chữ dùng tự mẫu (chữ cái) La mã để phiên âm tiếng ta. Quốc ngữ nghĩa đen là tiếng nói của nước: vậy cái từ ngữ ấy dùng để gọi thứ chữ mới đặt ra đây, kể thì không đúng, vì đó là một thứ chữ chứ không phải là một tiếng; nhưng từ ngữ ấy đã dùng quen rồi không thể đổi được nữa.”

Chữ Quốc ngữ hình thành từ bao giờ?

Học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) trong loạt bài khảo về chữ Quốc ngữ đăng trên Nam Phong tạp chí đã viết:

“Chữ quốc ngữ là do các cố đạo Tây sang giảng đạo bên nước Nam đặt ra vào đầu thế kỷ thứ 17, các cố đó, người Bồ đào nha có, người Ý đại lợi có, người Pháp có, chắc là cùng nhau nghĩ đặt, châm chước sửa sang trong lâu năm, chứ không phải do một người nào làm ra một mình vậy, duy đến khi in ra thành sách thì một ông cố người Pháp là Alexandre de Rhodes, in một bộ tự điển và một bộ sách giảng đạo bằng chữ quốc ngữ trước nhất. Vậy thời hai bộ sách đó là hai quyển sách quốc ngữ cổ nhất còn lưu truyền tới nay.”

Bộ tự điển mà Phạm Quỳnh đã đề cập là cuốn tự điển của cố Alexandre de Rhodes có tên là Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum in ở Rome năm 1651). Còn “sách giảng đạo” mà ông chủ Nam Phong đề cập là “Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo Thánh đức Chúa Trời”.

Tác phẩm của cố de Rhodes, theo lời tác giả, đã dựa vào hai cuốn từ vựng trước nó liên quan đến tiếng Việt giảng sang tiếng Bồ của Gaspard de Amaral và Antoine de Barbosa.

Ban đầu chữ Quốc ngữ chỉ là phương tiện truyền giáo ở Việt Nam của các giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch Tây phương. Nhưng khi Pháp đặt chế độ thuộc địa lên đất nước ta, sau khi chiếm Lục tỉnh Nam kỳ (từ 1862 tới 1867) thì thực dân lại mượn nó làm phương tiện thông tri chính sách cai trị cho dân bị trị không biết chữ Pháp hay chữ Hán. Tờ Gia định báo là tờ báo có một phần chữ Quốc ngữ đầu tiên xuất hiện ở miền Nam vào ngày 15 tháng Tư 1865 với mục đích cai trị trên.

Giới kẻ sĩ Việt Nam tha thiết với tiền đồ dân tộc và bén nhạy với sự đổi mới đã nhanh chóng mượn thứ văn tự này làm văn tự nước nhà. Chữ Quốc ngữ đã trở thành phương tiện hữu hiệu giúp nòi Việt trở mình, thoát khỏi ảnh hưởng phương Bắc và gây dựng được lâu đài văn học tự chủ của một quốc gia độc lập như học giả Nguyễn văn Vĩnh (1882-1936) trong bài tựa bản dịch Tam quốc chí của Phan Kế Bính (1875-1921) xuất hiện vào năm 1909 đã dự liệu “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”.

Chữ Quốc ngữ thuở ban đầu tới nay đã có những sự cải cách tinh vi và phong phú hơn gấp bội, nên ghi rất chuẩn cách phát âm của ba miền đất nước Việt Nam, lại có khả năng truyền đạt nhiều mặt kể cả khoa học và kỹ thuật, và đã thực sự biến thành một thứ văn tự được ngót trăm triệu giống Lạc Hồng trân trọng bảo tồn và phát huy. Nhờ đâu? Giải thích điểm này, chúng ta không thể không mượn ý kiến của tác giả Việt Nam Văn Học Sử Yếu:

“Các giáo sĩ người Âu đặt ra chữ quốc ngữ, chủ ý là có được một thứ chữ để viết tiếng ta cho tiện và dùng trong việc truyền giáo cho dễ. Không ngờ rằng, vì tình thế lịch sử xui nên, thứ chữ ấy nay trở thành thứ văn tự phổ thông của cả dân tộc Việt Nam ta. Đành rằng cũng như các công trình do người ta sáng tác, thứ chữ ấy cũng còn có một vài khuyết điểm, nhưng ta nên nhận rằng ở trên hoàn cầu này, không có thứ chữ nào tiện lợi và dễ học dễ biết bằng thứ chữ ấy.”

Có công lớn cho việc trau dồi chữ Quốc ngữ trở thành một công cụ xứng đáng của một quốc gia độc lập phải kể Huỳnh Tịnh Của (1834-1907). Học giả Paulus Của là người có công soạn bộ từ điển Đại Nam quốc âm tự vị, một bộ tự vị soạn thảo công phu và giá trị nhất làm nền tảng cho chữ Quốc ngữ.

Bên cạnh học giả họ Huỳnh không thể quên công trình bác học phổ biến tiếng Việt của học giả Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Petrus Ký và Paulus Của cũng là những văn gia đầu tiên dùng chữ Quốc ngữ để trước thuật các loại đoản thiên như Chuyện giải buồn, Chuyện đời xưa và Chuyện khôi hài.

Đầu thế kỷ XX phải kể công của nhóm Đông dương tạp chí (1913-1917) với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục và nhóm Nam phong (1917-1934) với Phạm Quỳnh, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục… góp phần vào việc phổ biến chữ Quốc ngữ và luyện câu văn chữ Quốc ngữ cho tinh tường hơn. Sau đó cũng không quên công của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn. Nhà báo nàyđã đề nghị xây dựng mẹo luật cho chữ Quốc ngữ.

Hoàng Yên Lưu
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#105 Posted : Sunday, October 19, 2014 5:58:30 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Về Câu Tục Ngữ: “Lệnh Ông Không Bằng Cồng Bà”

Phùng Thành Chủng


Tục ngữ có câu: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; từ “lệnh” ở đây là một từ cổ! Để hiểu xuất xứ và ý nghĩa của câu tục ngữ này, không thể không tìm hiểu nghĩa của từ “lệnh”.

1. Điều có thể xác định được ngay, từ “lệnh” trong trường hợp đang xét, là một loại nhạc cụ, vì “lệnh” phải đối xứng với “cồng”, mà “cồng” là một loại nhạc cụ.

2. Từ “lệnh” trong “Mặt to như cái lệnh”, hoặc “Nói oang oang như lệnh vỡ” (một thông tin về kích thước (có liên quan đến hình dáng) và một thông tin về âm thanh – tương đối).

3. “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa từ “lệnh” (với nghĩa là một nhạc cụ): “Lệnh: Thanh la (cũng gọi là phèng la) là một nhạc khí thuộc bộ gõ, bằng đồng thau, hình đĩa tròn, tiếng vang và chói, dùng để báo hiệu lệnh”. (Ở đây, chúng tôi ngờ rằng: Lệnh và thanh la (phèng la) là hai tên gọi khác nhau để chỉ hai loại nhạc cụ giống nhau về hình dáng nhưng khác nhau về kích thước và lệnh to hơn thanh la (phèng la).

Như vậy, câu “lệnh ông không bằng cồng bà” ở phần hiển ngôn chỉ có nghĩa là: Cái lệnh của ông (kích thước cũng như âm thanh) không bằng cái cồng của bà, nhưng ở phần hàm ngôn – vì cồng và lệnh đều dược dùng để báo hiệu lệnh – nên còn có nghĩa là: Lệnh (theo nghĩa hiệu lệnh) của bà (chứ không phải của ông) mới quan trọng và mới có ý nghĩa quyết dịnh (ám chỉ vai trò làm chủ của người vợ, chứ không phải người chồng trong gia đình). Đi xa hơn, theo các nhà nghiên cứu, câu tục ngữ này có liên quan đến một truyền thuyết có xuất xứ từ thời Hai Bà Trưng (mà cụ thể là với bà Trưng Trắc và ông Thi Sách chồng bà).

... Thời nước ta còn bị nhà Đông Hán đô hộ, ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc, được viên thái thú Tô Định bổ dụng làm một chức quan nhỏ. Mục đích của Tô Định là dùng người bản xứ trị người bản xứ và thông qua đó lấy họ làm trung gian để phục vụ cho công cuộc cai trị của mình; nhưng khốn nỗi, nước ta thời ấy còn theo chế độ mẫu quyền – vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội được đề cao hơn nam giới – cho nên những điều mà ông Thi Sách ban bố (theo lệnh Tô Định) chẳng được ai nghe và kết quả là ông bị Tô Định giết! Điều đó lý giải tại sao lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán lại là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị), chứ không phải là một đấng mày râu nào khác, và đó chính là xuất xứ của câu tục ngữ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”...

Như vậy, ở đây phần hàm ngôn còn bao gồm những thông tin tầng sâu về các chuyên ngành khảo cổ học, xã hội học và dân tộc học: Chế độ mẫu quyền, sự phát triển nghề đúc đồng, niên đại của hai nhạc khí thuộc bộ gõ là cồng và lệnh...

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#106 Posted : Thursday, October 23, 2014 7:23:16 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Ăn Trông Nồi, Ngồi Trông Hướng


Từ xa xưa, cha ông chúng ta thường hay nhắc nhở con cháu về cách cư xử thế nào cho thuận thảo với bà con ruột thịt trong thân tộc, cũng như với những người cùng sinh sống chung trong một xóm làng. Các cụ hay dùng những câu văn ngắn ngủi đọc lên có vần có điệu - để cho ai cũng có thể hiểu rõ ý nghĩa và nhớ một cách dễ dàng được. Điển hình như câu này chỉ gồm có 6 chữ: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.

1 – Ăn trông nồi.

Ở làng quê thời xưa, thì mọi người trong một gia đình đều ngồi ăn chung với nhau với một nồi cơm được đặt ở một đầu của chiếc chiếu và thường do người mẹ hay chị lớn trong nhà lo việc xới cơm tiếp cho mọi người. Nhưng phần đông các gia đình đều bị thiếu gạo ăn. Do đó mỗi khi có khách đến thăm viếng bất thình lình, thì con cái trong nhà phải nhịn ăn ít đi – để còn dành phần cho người khách ăn cho đủ. Vì thế, mà có câu nhắc nhở con cái là: “Khi ngồi ăn chung với mọi người, thì phải để ‎mắt trông xem nồi cơm còn nhiều hay ít – để mà liệu không ăn thêm nữa.”

Mẹ tôi thường kể chuyện này với anh chị em chúng tôi rằng: “Bà nội của chúng con rất khôn khéo trong việc hướng dẫn cho các cô chú là em của bố con đó. Mỗi lần có khách từ phương xa tới thăm nhà mà được mời ăn cơm chung với gia đình, thì bà chỉ việc ra dấu hiệu bằng con mắt – chứ không phải dùng lời nói – là các cô chú hiểu ngay để mà ngưng không lấy thêm cơm cho mình ăn nữa. Và dĩ nhiên là phần cơm còn lại ở trong nồi thì chủ y dành riêng để người khách có thể ăn cho thỏai mái…”

2 – Ngồi trông hướng.

Câu này cũng thật rõ nghĩa nhằm nhắc nhở cho con cháu nhớ rằng: “Khi ngồi ở chỗ nào, thì đều phải chú ‎ý đến vị trí thích hợp của mình nơi chỗ đông người. Cụ thể như nếu có những vị lớn tuổi đáng bậc cha bác của mình hay có vị là những nhân vật có địa vị có danh tiếng trong xã hội, thì mình phải biết chọn chỗ ngồi ở hàng ghế phía dưới cách xa hàng ghế danh dự ở phía trên thường được ưu tiên dành cho các bậc huynh trưởng có danh vọng trong cộng đồng xã hội địa phương.”

Suy rộng ra, ta cũng có thể hiểu được rằng: “Mỗi người nên chú y đến việc xác định lập trường của mình giữa chỗ đông người một cách thận trọng – cốt y để tránh làm mất lòng hay gây ra sự hiểu lầm đối với những người khác. Ngay trong tiếng Pháp, người ta cũng có câu nói rằng: “Người có văn hóa là người biết xác định đúng vị trí của mình.” (nguyên văn: Lhomme cultive est celui qui sait se situer).

Qua câu văn tiếng Pháp này, ta có thể thấy được rằng: “ Sự khôn ngoan minh triết trong xã hội, thì tại nhiều nơi cũng đại để giống nhau – vì đều là do sự sàng lọc tích lũy những kinh nghiệm cụ thể, thiết thực từ nhiều thế hệ con người sinh sống trước đây mà thôi vậy.


San Clemente California, Tháng Mười 2014
Đoàn Thanh Liêm

Edited by user Thursday, October 23, 2014 7:24:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#107 Posted : Sunday, October 26, 2014 12:31:58 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Câu Đối Trong Văn Học Việt Nam

Trần Bích San & Ts. Trần Gia Thái


UserPostedImage


Dân tộc Việt Nam từ thượng cổ đã tổ chức thành xã hội và sinh sống ở vùng đất Bắc Kỳ và miền cực bắc Trung Kỳ ngày nay. Trong lúc nước ta còn ở trình độ bán khai thì bị Trung Hoa đô hộ hơn một nghìn năm (từ 207 TTL đến 939 STL). Với chủ trương đồng hoá của người Tàu tất nhiên chúng ta không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng sâu xa về chính trị, xã hội, tôn giáo, luân lý, phong tục, và nhất là phương diện văn học.

Sau khi Ngô Quyền đánh tan quân nhà Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lấy lại được nền độc lập vào năm 939, nước ta vẫn bị lệ thuộc Trung Hoa về phương diện tư tưởng và văn hóa. Chữ Tàu (còn gọi là chữ Hán hay chữ Nho) được dùng làm văn tự của quốc gia trong việc học hành, thi cử, luật lệ, giấy tờ. Kinh, Truyện (Tứ Thư, Ngũ Kinh), sử sách (Bắc Sử, Cổ Văn) của Tàu được dùng làm sách giáo khoa.

Sĩ phu theo đạo Nho, học chữ Hán, thi cử, viết văn bằng chữ Nho, trước tác thơ văn cũng theo các thể văn và lề luật của văn chương Tàu. Cuối thế kỷ thứ 13, Hàn Thuyên sáng tác thi ca bằng chữ Nôm (chữ Việt được biến chế từ chữ Nho) tạo được phong trào viết văn bằng chữ Việt. Nhờ vậy, từ đó về sau mới có thêm nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm, nhưng đa số các thể thơ văn đều phỏng theo của Tàu, chỉ có một số ít là của riêng nước ta. Thi ca tuy làm bằng chữ Nôm nhưng làm theo phép tắc thơ Tàu, niêm luật phỏng theo thơ Tàu, thi pháp của ta tức là thi pháp Tàu. Cho tới khi có Chữ Quốc Ngữ, nền văn học lịch triều đã bị văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng nặng nề không những về đường tư tưởng mà còn về các thể văn nữa.

CÁC THỂ VĂN

Các thể văn mượn của của Tàu gồm 3 loại:

1. Vận văn: (vận = vần) loại văn có vần gồm thơ Đường Luật, thơ Cổ Phong, Cổ Phú, Đường Phú và Văn Tế.

Vận văn có vần ở câu cuối, hầu hết thi phú chữ nôm đều theo Đường cách. Bài phú sớm nhất của ta hiện còn là về đời Mạc. Văn tế theo thể Đường phú chỉ thấy xuất hiện vào thời nhà Tây Sơn.

2. Biền văn: (biền = 2 con ngựa đi sóng nhau) loại văn không có vần nhưng có đối gồm các thể Câu Đối, Tứ Lục (Chiếu, Hịch, Cáo), Văn Sách, Kinh Nghĩa (lối hát cổ).

Biền văn là loại văn có đối trong câu. Các loại biền văn có rất ít trong văn chữ Nôm. Hai thể văn sách và kinh nghĩa chỉ còn mấy bài của Lê Quí Đôn nhưng tựa như ông làm để đùa cợt với lối văn khoa cử. Thể tứ lục có vào thời nhà Tây Sơn được dùng trong chiếu, cáo, hịch.

3. Tản văn: (Tản = không bị kiềm thúc, tự do) không có vần cũng không cần phải đối, tức là văn xuôi.

Các thể văn của riêng nước ta đều thuộc về văn vần gồm có: lục bát, song thất và các biến thể của 2 loại này là hát nói, sẩm, lý, hề, điên, về tuồng có nói lối.

ĐỐI TRONG THƠ VĂN

Định Nghĩa:

Đối là 2 chữ, câu, hoặc đoạn văn đi sóng đôi với nhau cân xứng cả về ý lẫn lời.

Luật Đối:

Phép đối, một đặc tính của văn Tàu, đóng vai trò rất quan trong trong nền văn học lịch triều nước ta. Ngoài các chữ đối nhau còn có các câu hoặc đoạn văn đối nhau. Không những trong vận văn và biền văn bị bắt buộc phải dùng phép đối, mà ngay cả tản văn tuy không bắt buộc, nhưng đôi khi cũng phải dùng đến cho câu văn được cân đối, xuôi tai, êm ái, du dương.

1. Đối Ý: hai ý tưởng cân xứng nhau, chẳng hạn như trong bài “Chiều Hôm Nhớ Nhà” của Bà Huyện Thanh Quan, câu 3 & 4 là hai cảnh cân xứng trong buổi chiều tà, một bên là hình ảnh vài cánh chim bay về tổ đối lại với một bên là người lữ khách tha hương bâng khuâng nhớ nhà:

Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà

2. Đối Chữ: gồm có đối về thanh của chữ và đối về loại của chữ:

- Đối về thanh: vần bằng đối với vần trắc, và ngược lại, vần trắc đối với vần bằng. Trong thể thơ các chữ trong câu đều phải đối về thanh, nhưng trong thể phú, chỉ cần đối một vài chữ theo lệ đã định về thanh mà thôi.

- Đối về loại: hai chữ phải cùng một loại, có 2 loại: một là thực tự (chữ nặng) như trời đất, cây cỏ, nhà cửa, ao vườn…hai là hư tự (chữ nhẹ) như các chữ thì, là, mà, vậy, ru…Thực tự phải đối với thực tự, hư tự phải đối với hư tự. Nói cách khác, 2 chữ đối nhau phải cùng một tự loại: danh từ đối với danh từ, tĩnh từ đối với tĩnh từ, trạng từ đối với trạng từ, động từ đối với động từ… Nếu có chữ Nho thì chữ đối cũng phải là chữ Nho. Thí dụ: câu 5 & 6 trong bài “Đi Thi” của Trần Tế Xương:

Lộc nước cũng nhờ thêm giải ngạch
Phúc nhà may được sạch trường qui
(giải ngạch đối với trường qui)

Nếu 2 câu mà đối được cả về ý lẫn chữ thì được gọi là đối chỉnh hay đối cân.


UserPostedImage


VẾ CÂU ĐỐI

Vế câu đối là một trong các thể văn của Tàu. Câu đối chữ Nho là Doanh Thiếp hay Doanh Liên (Doanh = cột, Thiếp = mảnh giấy có viết chữ, Liên = đối nhau) là hai câu văn đi sóng đôi với nhau cân xứng cả về ý, chữ, và luật bằng trắc.

Vế câu đối gồm có 2 câu đi song song, mỗi câu là 1 vế. Nếu câu đối do một người làm thì câu trước gọi là vế trên, câu sau gọi là vế dưới. Nếu do hai người làm thì câu của người làm trước gọi là vế ra, câu của người làm sau đáp lại gọi là vế đối. Chữ Nho hay chữ Nôm khi viết từng chữ thì các nét đi từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, nguyên câu thì viết và đọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Do đó, khi treo câu đối thì vế trên (hay vế ra) treo bên tay phải, vế dưới (hay vế đối) treo bên tay trái (phải hay trái của người đứng nhìn vào 2 câu đối).(1)

I. CÁC THỂ VÀ LUẬT CỦA VẾ CÂU ĐỐI

Vế câu đối không hạn chế số chữ, dài ngắn thế nào cũng được, gồm 3 thể chính sau:

1.a. Thể Tiểu Đối: câu đối có 4 chữ hoặc ít hơn:

Đông Tây! Đông Tây!
Vắng khách! vắng khách (2)

1.b. Luật Tiểu Đối:
Bằng đối với trắc và ngược lại: bắt buộc vần của chữ cuối vế trên phải ngược lại với vần của chữ cuối vế dưới. Nếu tất cả các chữ của 2 vế cùng đối nhau về bằng trắc thì tốt nhất.

2.a. Thể Câu Đối Thơ: câu đối làm theo thể thơ ngũ ngôn (5 chữ) hoặc thất ngôn (7 chữ).
- Thể ngũ ngôn:

Áo đỏ lấm phân trâu
Dù xanh che dái ngựa
(Xiển Bột)

- Thể thất ngôn:

Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
(Cao Bá Quát)

2.b. Luật Câu Đối Thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của 2 câu thực (3 &4), hoặc 2 câu luận (5 & 6) trong lối thơ ngũ ngôn và thất ngôn.

Lưu ý: nếu thấy câu đối thơ nào không theo luật thơ ngũ ngôn và thất ngôn thì những câu ấy làm theo luật bằng trắc của thể câu đối phú. Thí dụ như câu dưới đây tuy là thất ngôn nhưng không theo luật thất ngôn mà làm theo thể câu đối phú:

Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Trời nắng chang chang người trói người

3.a. Thể Câu Đối Phú: làm theo lối đặt câu của thể phú, có 3 loại:

A. Song Quan: (Song quan = hai cửa) là câu đối có từ 6 đến 9 chữ:

Đồ chuyên trà ấm đất sứt vòi
Cuộc uống rượu be sành chắp cổ
(Nguyễn Công Trứ, Hàn Nho Phong Vị Phú)

Miệng nhà quan có gang có thép
Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm
(Trạng Quỳnh)

Trói chân kỳ ký tra vào rọ
Rút ruột tang bồng trả nợ cơm (3)
(Nguyễn Công Trứ)

B. Cách Cú: (Cách = ngăn ra, Cú = câu) mỗi vế câu đối chia làm 2 đoạn:

a. Đoạn trước ngắn, đoạn sau dài:

Đất chẳng phải chồng, / đem gởi thịt xương sao lợi?
Trời mà chết vợ, / thử xem gan ruột mần răng?
(Thày đồ xứ Nghệ khóc vợ)

Đá xanh xây cống, / hòn dưới nống hòn trên
Ngói đỏ lợp nghè, / lớp sau đè lớp trước

Ba cụ ngồi một cỗ, / cụ đủ điều cụ chẳng sợ ai
(Vế ra của Linh Mục Trần Lục)
Một đạo há hai đường, / đạo trộm cắp đạo còn nói láo (4)
(Vế đối của Tam Nguyên Trần Bích San)

b. Đoạn trước dài, đoạn sau ngắn:

Cạm Bẫy Người tạo hóa khéo căng chi! / qua Giông Tố tưởng nên Số Đỏ
Số Độc Đắc văn chương vừa trúng thế, / nỡ Dứt Tình Không Một TiếngVang (5)
(Đồ Phồn khóc Vũ Trọng Phụng mất năm 1939)

Bình gấm phất phơ, / oanh chọc én
Trướng hoa nghiêng ngửa, / phượng đè loan
(Tú Xuất, mừng đôi trai gái mới thành hôn)

C. Gối Hạc (hay Hạc Tất): mỗi vế câu đối có từ 3 đoạn trở lên, đoạn giữa (gọi là đậu câu) thường ngắn xen vào 2 đoạn kia như đầu gối giữa 2 ống chân con hạc.

- Câu đối có 3 đọan:

Ai công hầu, / ai khanh tướng, / trong trần ai ai dễ biết ai?
(Vế ra của Đặng Trần Thường)
Thế Chiến Quốc, / thế Xuân Thu, / gặp thời thế thế thời phải thế! (6)
(Vế đối của Ngô Thì Nhiệm)

- Câu đối có 4 đoạn:

Người nước Nam, / hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, / hỏi tiếng Tàu chẳng biết tiếng Tàu, / cho nên phải “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo”

Nhà hướng Bắc,/người chưa rét thì mình đã rét,/người chưa bức thì mình đã bức,/mới gọi là “tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu”(7)
(Nguyễn Khuyến)

- Câu đối có 5 đoạn:

Đồ vương tranh bá, / thôi nói chi lịch đổi số trời, / hỏi trước sau hơn bốn ngàn năm, / nước biếc non xanh, / bờ cõi ai xây bờ cõi ấy?

Vấn tổ tìm tông, / nay vẫn còn lăng xưa miếu cũ, / kể nhiều ít hai mươi lăm triệu, / con đàn cháu đống, / cỗi cành đâu chẳng cỗi cành đây!
(Ở đền thờ 18 Vua Hùng/đền Thượng)

3.b. Luật Câu Đối Phú:
- Chữ cuối 2 vế phải theo luật bằng, trắc. Chữ cuối vế trên là vần bằng thì chữ cuối vế dưới phải là vần trắc, hoặc ngược lại.
- Chữ cuối của một vế và chữ cuối của tất cả các đậu câu (tất cả các đoạn phía trước đoạn cuối cùng, kể cả đoạn đầu) phải theo luật bằng trắc: Nếu chữ cuối của vế vần bằng thì chữ cuối của tất cả đậu câu phải là vần trắc, và ngược lại.

II. CÁC LOẠI CÂU ĐỐI

Được phân loại theo ý nghĩa, câu đối gồm các loại sau đây:

1. Câu Đối Các Dịp Vui, Buồn: làm trong những dịp vui như chúc thọ, thi đỗ, đám cưới, nhà mới, thăng quan tiến chức, v.v. hoặc trong dịp tang ma, khóc người thân:

- Mừng bạn đỗ đại khoa:
Nhất cử đăng Hoàng Giáp
Toàn gia vô bạch đinh (8)

- Phúng viếng người chết:
Bác đã về rồi, đời đáng chán!
Tôi còn ở lại, rượu cùng ai?
(Tản Đà)

- Khóc vợ:

Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc

Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất va vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm
(Nguyễn Khuyến)

2. Câu Đối Thờ: tán tụng công đức tổ tiên, tiền nhân, thần thánh để treo trước bàn thờ ông bà, đình chùa, miếu mạo:

- Câu đối thờ ông bà:

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ
Xin đôi câu đối để thờ ông (9)
(Nguyễn Khuyến)

- Treo ở đền Hùng Vương Phú Thọ:

Có tổ có tôn, có tôn có tổ, tổ tổ tôn tôn, tôn tổ cũ
Còn non còn nước, còn nước còn non, non non nước nước, nước non nhà

3. Câu Đối Tự Thuật/Tự Thán: dán hoặc treo ở chỗ ngồi chơi, nơi trà đàm, thư phòng:

- Cáo quan về quê sống:

Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lình nào cả, nào bàn ba, xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp làm sao, thủ lợn nhìn lâu trơ cả mắt

Già chẳng già thì trẻ, đàn tiểu tử nhấp nhô đứng trước, này phú, này thơ, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế, mắt gà đeo mãi mỏi bên tai
(Nguyễn Khuyến)

- Tự vịnh khi chưa thành đạt:

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác

Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh
(Nguyễn Công Trứ)

- Cảnh buồn dạy học tỉnh lẻ:

Nhà lá ba gian, một thày, một cô, một chó cái
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi
(Cao Bá Quát)

4. Câu Đối Tức Cảnh: nhân cảnh trước mắt mà làm ngay câu đối:

- Trượt té xoạc chân:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài
(Hồ Xuân Hương)

- Cảnh thanh nhàn trăng thanh, gió mát:

Gió tựa tường ngang, lưng gió phẳng
Trăng nhòm cửa sổ, mắt trăng vuông

5. Câu Đối Đề Tặng:

- Tiệm tóc:

Cười phấn cợt son, tô điểm tóc tai người tứ xứ
Mài dao đánh kéo, mở mang mày mặt khách năm châu

- Hàng thợ nhuộm:

Đã chót nhúng tay, xấu đều hơn tốt lỏi
Quí hồ thuận mắt, thắm lắm lại phai nhiều

6. Câu Đối Trào Phúng:

- Cợt một ông Chánh Tổng bị cách mới được phục chức và có nhà mới:

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc
Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm (10)
(Nguyễn Khuyến)

- Bỡn một ông tên là Long bị chột một mắt mới đậu Phó Bảng khoa thi Võ:

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
(Nguyễn Khuyến)

- Đùa nhà sư già rụng hết răng bị móm và chú tiểu nói ngọng:

Phất phát phóng phong phan, pháp phái phi phù phù phụng Phật
Căn căn canh cổ kệ, cao ca kỷ cứu cứu cùng kinh (11)
(Nguyễn Khuyến)

7. Câu Đối Chiết Tự: (Chiết = bẻ gãy, phân ra, tách ra, Tự = chữ) nghĩa là lấy ra từng nét hoặc từng phần rồi thêm vào một hay nhiếu nét khác của một chữ Hán và đặt thành câu đối:

Chữ Đại là cả, bỏ một nét ngang, chữ Nhân là người, chớ thấy người sang bắt quàng làm họ
Chữ Bì là da, thêm ba chấm thủy, chữ Ba là sóng, chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo (12)

8. Câu Đối Tập Cú: lấy những câu có sẵn trong sách hoặc tục ngữ ca dao để làm câu đối:

Tính ông hay, hay tửu hay tăm, hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa, tuổi ngoại sáu mươi còn mạnh khoẻ
Nhà ông có, có bàu có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, bày ra một tiệc thấy linh đình

9. Câu Đối Tết: dán nhà, đền, chùa vào dịp tết Nguyên Đán:

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đem quỉ tới
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào
(Hồ Xuân Hương)

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà
(Nguyễn Công Trứ)

Ngoài các loại câu đối trên còn có vài loại linh tinh khác như câu đối dùng dán nơi công đường, câu đối nói lái…Có câu đối vế ra thật khó, chưa có ai đối được cho chỉnh như 2 vế ra dưới đây:

Da trắng vỗ bì bạch (13)
(Đoàn Thị Điểm)

Cha con thày thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương phụ tử.(14)

***

Câu đối đơn giản so với các loại thơ văn khác. Vỏn vẹn chỉ có 2 câu, nhưng chữ nghĩa trong câu đối cô đọng, đãi lọc như lối chọn từ trong thơ. Câu đối hay có văn phong tự nhiên, phóng khoáng thoát ra ngoài khuôn sáo, câu văn mạch lạc, rõ ràng, chữ dùng chính xác, gợi hình tạo được âm hưởng, đọc lên nghe giòn giã, sang sảng.

Ngày xưa khi Hán học còn thịnh hành, câu đối rất phổ quát trong dân gian. Câu đối được treo trong nhà, hai bên bàn thờ ông bà, nơi công đường, đình chùa, miếu mạo. Câu đối được dùng trong việc quan hôn tang tế. Người ta thường sử dụng câu đối trong các dịp vui buồn: chúc thọ, thăng quan tiến chức, mừng thi đỗ, buồn hỏng thi, viếng người chết, khóc bạn hữu, vợ con… Người nào được một nhà khoa bảng tặng cho đôi câu đối là một vinh hạnh. Dịp Tết nhiều người đi nhờ hoặc thuê một ông đồ chữ tốt viết giúp cho câu đối để treo trước cổng hay trong nhà. Ngoài ra, trong việc bang giao với Trung Hoa, giai thoại đối đáp giữa ta và xứ Tàu cho thấy câu đối đã giúp phần nào trong việc bảo vệ quốc thể.

Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái

CHÚ THÍCH

(01) Sau này, từ khi có Chữ Quốc Ngữ, để cho dễ đọc câu đối chữ Việt được treo ngược lại với lối treo câu đối chữ Nho, vế trên (hay vế ra) ở bên trái, vế dưới (hay vế đối) ở bên phải của người đứng nhìn đọc câu đối.

(02) Hoàng Tích Chu, chủ bút báo Đông Tây ở Hà Nội hay lui tới phố Khâm Thiên vì quen thân với bà Đốc Sao là chủ nhà hát cô đầu mặc dù ông không biết đánh trống ả đào và bà chủ cũng chưa hề gõ phách bao giờ. Có một câu đối diễu cợt hai người khi thấy họ Hoàng giơ cao roi chầu đánh mấy tiếng trống dạo “Tom! Tom!, Tom! Tom!” mà âm thanh từa tựa như:
Đông Tây! Đông Tây!

Trong khi bà Đốc gõ dịp phách đáp lại kêu “lát chát, lát chát” âm thanh nghe na ná như:

Vắng khách! Vắng khách!

Câu đối đùa bỡn dí dỏm ở chỗ chữ “đông” là đông đúc, “đông Tây” còn có nghĩa là “nhiều người Pháp”, vế dưới chữ “vắng” đối với “đông”, “khách” còn có nghĩa là người Tàu, “vắng khách” là “ít Tàu” đối với “nhiều Tây”. Thêm nữa, Đông Tây là tên tờ báo của Hoàng Tích Chu, còn vắng khách chỉ sự ế ẩm nhà cô đầu của bà Đốc Sao.

(03) Kỳ ký: tên 2 loại ngựa quí; Tang bồng: gỗ dâu và cỏ bồng, ngày xưa cung làm bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng, thường đi đôi với chữ hồ thỉ, chỉ chí trai vẫy vùng ngang dọc.

(04) Trần Bích San sinh năm 1838 theo học Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị cùng với Nguyễn Khuyến, đỗ Tam Nguyên dưới thời vua Tự Đức. Năm 1875 ông làm Tuần Phủ Hà Nội, Linh Mục Trần Lục (tên thật là Trần Hữu Triêm) mới được phong làm Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ từ Phát Diệm lên thăm. Trong lúc trò truyện, muốn thử tài vị Tam Nguyên, Linh Mục Lục đưa ra một vế câu đối nói thác đi là đã nghe được muốn đối nhưng khó quá, nhân dịp gặp nhà đại khoa nhờ đối giùm. Vế ra như sau:

Ba cụ ngồi một cỗ, cụ đủ điều cụ chẳng sợ ai

Vế ra rất khó vì có tới 3 chữ “Cụ” với 3 nghĩa khác khau. “Cụ” là cụ đạo, tiếng gọi các Linh Mục ở miền Bắc, “Cụ” cũng có nghĩa là sẵn sàng, “Cụ” còn có nghĩa là sợ hãi. Ý và lời tỏ ra vừa ngạo mạn, vừa đắc ý của người đang gặp thời. Trần Bích San từ chối vì e rằng vế đối khiếm nhã. Linh Mục Lục cho rằng Trần Bích San không đối nổi nên càng nài ép, nại cớ đây là chuyện văn chương văn hành công khí, không có gì phải e ngại. Trần Bích San lúc đó mới bèn ứng khẩu đối lại:

Một đạo há hai đường, đạo trộm cắp đạo còn nói láo

Dùng chữ “Đạo” đối với chữ “Cụ” là tuyệt hay. Chữ “Đạo” cũng có 3 nghĩa: “Đạo” là cố đạo tiếng dùng gọi các Linh Mục, “Đạo” cũng có nghĩa là con đường, “Đạo” còn có nghĩa là trộm cắp. Ý và lời mỉa mai kẻ tu hành không giữ được đạo hạnh, xu thời theo thực dân Pháp không biết xấu hổ với đất nước mà còn lên mặt đắc chí.

(05) Cạm Bẫy Người, Giông Tố, Số Đỏ, Trúng Số Độc Đắc, Dứt Tình, Không Một Tiếng Vang là tên các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

(06) Ngô Thì Nhiệm, con Ngô thì Sĩ, đỗ tiến sĩ khoa Ất Mùi (1775) đời vua Lê Hiển Tông nhà Hậu Lê, là một danh sĩ Bắc Hà. Khi được Ngô Văn Sở ngầm báo Vũ Văn Nhậm có ý làm phản, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ 2 (1788) bắt Nhậm và giết đi. Bắc Bình Vương ở lại đặt các quan lục bộ và trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm giám quốc, chủ trì các việc tế lễ, dùng Ngô Thì Nhiệm làm Lại Bộ Tả Thị Lang. Đổi đặt quan quân, chỉnh đốn mọi việc xong, Nguyễn Huệ về Nam, để Ngô Văn Sở ở lại giữ Bắc Hà. Khi quân Tàu sang xâm chiếm nước ta vua Quang Trung đem quân ra Bắc đại phá quân Thanh vào ngày Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu (1789), rồi sai Ngô Thì Nhiệm viết thư xin giảng hoà. Sau đó mọi việc giao thiệp với nhà Thanh trao cho ông và Phan Huy Ích đảm trách. Năm 1792 ông được cử làm Chánh Sứ sang Tàu. Khi Nguyễn Ánh lấy được Thăng Long, ông bị bắt và giao cho Đặng Trần Thường trị tội (ông và Thường vốn là bạn học thuở nhỏ và cả 2 đều nổi tiếng hay chữ, Thường theo phò Chúa Nguyễn). Thường cho giải ông và Phan Huy Ích ra trước Văn Miếu, trước khi sai lính đánh đòn, ông và Thường đã đối đáp với nhau bằng câu đối trên. Ông bị đòn đau nên khi được đưa về quê thì mất.

(07) “Minh tiên vương chi đạo dĩ đạo” nghĩa là làm sáng tỏ cái đức của vua đời trước mà noi theo. “Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu” nghĩa là lo trước những điều lo của mọi người.

(08) Hoàng Giáp: Tiến Sĩ đệ nhị giáp. Bạch đinh: chân trắng. Thi một lần đỗ ngay Tiến Sĩ, cả nhà ai cũng có bằng cấp, chức vị, phẩm hàm.

(09) Sắp tới ngày Tết người hàng xóm sai con đem một cơi trầu sang xin Tam nguyên yên Đổ một đôi câu đối về thờ ông bà. Lúc đó Nguyễn Khuyến đang đứng bên bờ dậu đã nghe biết, cười bảo người con:
- Thôi, ta chẳng phải làm nữa, bố anh đã làm rồi!
Người con ngơ ngác không hiểu, Nguyễn Khuyến thong thả đọc cho đôi câu đối giống như lời người bố đã dặn con:

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ
Xin đôi câu đối để thờ ông

(10) “Nhất cận thị, nhị cận giang”: thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông. Tị ốc: do câu “Đường ngu chi thời, khả tị ốc nhi phong” nghĩa là về đời Đường Ngu nước có nhiều người hiền nên nhiều nhà ở liền vách nhau đều được khen thưởng. Vế trên toàn chữ Hán, vế dưới toàn chữ Nôm, đây là câu đối độc đáo nhất trong kho tàng câu đối của nuớc ta.

(11) Câu đối này Nguyễn Khuyến làm để diễu cợt chú tiểu nói ngọng và nhà sư già ở chùa Đọi thuộc tỉnh Hà Nam thiếu đạo đức, tin vào bùa phép bậy bạ. Hai câu chữ Nho dịch nôm có nghĩa là:

Phất phơ cờ phướn bay trước gió, đạo pháp làm phép đốt bùa, bùa đem thờ Phật
Oang oang hòa giọng đọc kệ cổ, cất cao tiếng nghiền ngẫm kinh, nghiền ngẫm đến cùng

Câu đối rất hợp với cảnh chùa nhưng khi đọc lên thì vế trên rõ ra là giọng nói phều phào của vị sư già bị móm rụng hết răng, vế dưới đúng là tiếng nói ngọng líu ngọng lo của chú tiểu phát âm sai một số chữ.

(12) Chữ Hán “Đại” (lớn, cả) nếu lấy đi nét ngang ở trên thì thành chữ “Nhân” (người). Chữ “Bì” (da) thêm 3 chấm thủy bên trái thành chữ “Ba” (sóng).

(13) “Da trắng” cũng là “Bì bạch”. Bì bạch vừa là danh từ vừa là động từ, đọc lên có âm thanh như tiếng vỗ vào da.

(14) “Hồi hương” = về quê; “Phụ tử” = cha con. Nhưng cả 2 chữ còn là tên hai vị thuốc Bắc nữa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Bảo Vân & Quỳnh Liên Tử, Giai Thoại Câu Đối, nxb Quê Hương, Canada, 1983.
- Dương Quảng Hàm, Văn Học Việt Nam, nxb Viet Nam Foundation tái bản, Virginia, Hoa Kỳ 1977.
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển, nxb Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục tái bản lần thứ 9, Sàigòn, 1968.
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, nxb Bộ Giáo Dục tái bản, Sàigòn, 1968.
- Lãng Nhân, Chơi Chữ, nxb Zieleks, Texas, Hoa Kỳ, 1978.
- Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho, nxb Nam Chi Tùng Thư, Sàigòn, 1966.
- Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tường Minh, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ Thứ XIX, Phần Cổ Văn, nxb Văn Hiệp, Sàigòn, 1960.
- Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữ Mùi, Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam 1075-1919, nxb Văn Học, Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Văn Ngọc, Câu Đối, nxb Vĩnh hưng Long, Hànội, 1931.
- Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 2, nxb Quốc Học Tùng Thư, Sàigòn, 1962.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, nxb Vĩnh & Thành, Hànội 1928, Bộ Giáo Dục tái bản, Sàigòn, 1971.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#108 Posted : Monday, October 27, 2014 7:36:04 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bài toán cỦa tiẾng ViỆt

sưu tầm & tản mạn


Nhà ngữ học Ferdinand de Saussure đã nói: "Tư tưởng con người là 'theo giòng' [linéaire]"

[Chữ trinh kia cũng có 5, 7 đường [không có 7, 5 đường đâu nhé !] Huống chi là cái chữ "không trinh' … e là có cả 5,7 chục đường; mấy thằng chồng hay ghen chắc phải chạy đua lòng dòng không theo kịp mấy cái xa lộ mất trinh đó !

Mà thật thế : người ta ai cũng nói 1, 2 … 2, 3 ...3, 4 ... 4, 5 …5, 6 … v..v.. hay là hai ba, đôi ba, chứ không bao giờ nói hai, một hay là ba hai, ngay cả khi không biết rõ là bao nhiêu, ông bà ta cũng nói là 7, 8 cái chi đó / không ai dám nói 8, 7 cái đó chi !

Ủa, tư tưởng là tự do nói kia mà sao cả 85 triệu người chẳng ai dám nói 2, 1 thằng …3, 2 con… 4, 3 cái, 5, 4 cú …6, 5 con ? Mà ngay cả khi nghĩ thầm trong bụng mấy ổng cũng chỉ dám nghĩ là “đi ngoại tình một đôi lần“, chẳng dám nghĩ là đôi một lần!

Lọa chưa !, lọa thật đó, trong cái ngôn ngữ mà cũng có kỹ luật riêng tư, hay nhỉ, huống chi là làm chíng chị chíng em, nhưng rồi thì cũng có ngoại lệ [năm ba cái …không có ba năm cái bao giờ !]

Các bạn biết không, đếm chi cho lắm, người Khmer xưa không ra khỏi cái bàn tay năm ngón… , họ đành phải nói

prăm muôi [5+1] là 6

prăm bi [5+2] là 7

prăm bây [5+3] là 8

prăm buôn [5+4] là 9

Nhưng mà anh chàng Giao chỉ thì tiến lên một cách ngon lành từ 10 cho đến 999,999 cho dù bàn tay mấy ngón cũng kệ nó, ông bà ta không hề chịu bó buộc vào mấy ngón tay để mà tiến bước trên “con đường tính toán”.

Không có hệ thống gọi tên mấy con số nào độc đáo cho bằng của tiếng Việt, một “tiếng nói của toán học“.

Tiếng Pháp thì ú ớ với mấy con số, một cách thảm hại [soixante dix, quatre vingt, quatre vingt dix, …] chao ôi là chán, làm toán mà đếm kiểu đó hèn chi bị phó thủ tướng văn hoá Nhật chê là : tiếng Pháp không biết đếm !' Cũng đúng thôi.

Rời bỏ ba con số toi vật tật voi đó, giờ mình nói chuyện lắt léo trong tiếng Việt nghe chơi…

Ai đời chợt với bất chợt cũng vậy,

thà với chẳng thà cũng thế thôi,

thình lình với bất thình lình thì cũng thình lình như nhau !

quá lắm với bất quá thì cũng không ai quá chi hơn ai

huống chi, huống hồ, huống những. huống lại, huống gì, huống nữa, thì cũng thế

Tại sao mà cái tiếng Việt nó "lôi thôi" làm vậy, xin xem lời giải thích trong "Từ điển nguồn gốc tiếng Việt" sẽ rõ, có cả giải thích "lôi là gì mà thôi" là gì luôn!

Không có cái tiếng nào mà "ba" với "cà" nhiều cho bằng tiếng Việt !

Nào là ba bị, ba bột, ba de, ba hoa,

ba kẹ, ba chớp ba nháng, ba láp,

ba lăng nhăng, ba lia, ba lếu, ba lơn,

ba nhe, ba que xỏ lá, ba rọi, ba trợn,

ba xàm ba láp, ba xạo, ba xí ba tú,

……

ba lơn, ba láp, ba xàm,

Cũng không có tiếng nuớc nào mà cà cho nhiều bằng tiếng Việt

cà lăm cà cặp, cà chớn, cà đột,

cà đước, cà gật, cà huớc, cà giật,

cà giựt, cà kê, cà kheo, cà khêu,

cà khệch, cà khịa, cà khiễng,

cà lăm cà cặp

cà lo, cà mâu, cà mèng, cà na, cà ná,

cà niễng, cà ninh, cà nhắc, cà nhong,

cà nhót, cà nhông, cà nhổng, cà rà,

cà rá, cà ràng, cà rật, cà rịch cà tang,

cà riềng, cà rỏn, cà rỡn, cà rùng,

cà sa, cà tàng, cà teo, cà tong,

cà tửng, cà thọt, cà vệt, cà xóc, cà xon

Tất cả đều có lý do và có nguồn gốc đàng hoàng, xin xem trong " Từ điển nguồn gốc tiếng Việt" không sót một tiếng nào trên đây mà không có dẫn chứng về gốc gác , ủa ! mà "gác" là gì vậy ta?

Tiếng Việt kỹ luật đến mức cho nên nói

to lớn mà không dám nói lớn to

kêu gọi --- gọi kêu ---

năm mới, ngày mới --- tháng mới

vui chơi " chơi vui khác ý nghĩa

hơn thua mà không nói thua hơn

uớc ao, ao uớc, uớc muốn thì được mà không nói muốn uớc !

làm lấy khác với lấy làm

làm được " được làm

làm luôn " luôn làm

làm đi " đi làm

làm mới " mới làm

lớn con " con lớn

lớn tiếng " tiếng lớn

mau lên " lên mau

Như một bàn cờ tư tưởng của 85 triệu người người việt, cái linh động của ý nghĩ làm ra cái sắp đặt truớc sau của tiếng ghép như là một thứ "ý sắp đặt cho lời" mà các tiếng nói Anh Pháp chạy theo không kịp, họ cũng có fire wood và wood fire nhưng mà ít hơn trong tiếng Việt rất nhiều.

Cả ngàn tiếng như vậy, có truớc có sau, không hề lộn xộn, vì đã có "sách trời định" rồi ![nói theo kiểu "Lý thuờng Kiệt". Cũng như Tàu nói là vĩ đại, đâu dám nói đại vĩ [Khổng tử cũng chịu thua, không dám]

Tàu cũng ghép tiếng, Việt cũng ghép tiếng nhưng mà không ai giống ai, xin đừng đánh lộn sòng mà cho là cái tiếng Tàu "nó sao" thì cái tiếng Việt "nó vậy", như các cụ Hán Việt xưa đã "bé cái lầm".

Qua > 2000 năm, tiếng Việt tiếng Tàu đã lặp đi lặp lại của nhau đến nhàm chán, giờ đây, người Việt đã bắt đầu bỏ đi những từ ngữ Tàu không cần xài làm gì nữa có cả ngàn tiếng Tàu dư thừa mà xưa người ta dùng, nay đã lỡ thời, có cho vàng cũng không ai dám nói và viết như vậy nữa!



dòng thanh thủy, nay mọi người đều chỉ nói là dòng nuớc trong

thu phong, cổ độ, …….. gió thu, bến cũ

cựu tình nhân …….. người tình cũ

vạn cổ sầu …….. buồn muôn thuở

hàn mặc, …….. bút mực

chủng đức, chủng thực …….. ở cho có đức, trồng trọt

Còn cả hàng ngàn tiếng Tàu hết thời như thế, ai thấy thì quét sạch giùm cho, làm sạch sẽ thêm cho tiếng Việt sau này !

Cũng bởi vì người Việt nghĩ xuôi mà người Tàu nghĩ ngược : đại ốc và nhà lớn không cách gì chung sống với nhau được, chẳng qua là bị ép buộc mà thôi, nhưng, thấy chưa ! ở đời không ai ép buộc ai mãi được !

Cũng bởi vì người Tàu họ chỉ có mỗi một cách nói đó thôi, không nói thì lấy gì mà nói, còn người Việt thì đã có tiếng Việt mà nói, lại đeo bòng thêm tiếng Tàu, như một người mù cõng một người què. Cõng riết rồi tưởng đâu cái thằng ngồi trên lưng mình là cha mình luôn … nên mới tưởng là hi sinh vì tổ quốc là tiếng của mình, té ra mình đã nói chết cho đất nuớc lại bày đặt nói lặp thêm một lần nữa, mà cũng vậy thôi, cũng kiểu như nửa đêm giờ tí canh ba , vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi [sic] học lóm được chữ nào đem ra khoe hết. cũng kiểu như : bởi thế cho nên rằng thì là mà…..Ai nói như vậy? Hỏi tức là trả lời!

Mấy ông văn khoa bên nhà chỉ biết học ba cái chữ Tàu và ba cái chữ Nôm mà không hiểu rằng như thế không phải là học tiếng Việt , muốn được là văn khoa Việt thì phải tìm hiểu và biết cái riêng của nó, nó không hề là một cái rập khuôn của tiếng Tàu bao giờ cả, nó vẫn không chịu ép mình vào cái “khuôn khổ“ của tiếng Tàu bao giờ, dù qua 2 ngàn năm bị lấn luớt.

Có một em sinh viên bên này nói rằng: "tiếng Hán Việt tuy khó hiểu nhưng nghe nó văn chương hơn" [sic] [tôi nghiệp cho cái ý nghĩ tầm thường đó, chưa hiểu, khó hiểu thì làm sao mà biết là văn chương hay không ?]

Cái ý nghĩ đó cũng đã đè bẹp đầu óc của nhiều nhà tho nhà văn hiện nay không ra khỏi được cái chuồng văn Hán Việt vì quen ngửi cái mùi ấy mất rồi.

Cái thèm thuồng làm đầy tớ chữ nghĩa cho người ta thật xứng với câu thơ diễu:

"ai xui Trung "cuốc" gọi vào hè"

"cái nóng nung người, nóng…nóng ghê !

Thấy mà buồn 5 phút cho cái đầu óc nô lệ bất cứ cái gì của Tàu!

Dám thách ai làm tho cho hay bằng 200 năm truớc đây :

"ruợu là com bữa, gái là bướm đêm !" @ Thiên nam ngữ lục để biết cái ngang ngửa của tiếng Việt



Tưởng vậy mà không phải vậy !

Nên biết rằng tiếng Tàu cũng mượn các tiếng khác khá nhiều nhưng mà lờ đi cái chuyện vay mượn đó

Diêm [trong Diêm vương, Diêm chúa, Diêm la, Diêm phủ có nghĩa là sự chết cái chết chứ chẳng phải là "địa ngục" đâu nhé. Nó là <gốc Sanskrit > chứ không phải là tiếng Tàu, Tàu nó mượn của tiếng Ấn độ đó, hóa ra Diêm vuơng là Thần chết, Tử thần chứ không phải là "vua địa ngục" đâu như các cụ Hán Việt đã lầm tưởng

Sa- mạc là tập trung tư tưởng, định thần , từ chữ "samadhi" / meditative incantation <gốc Pali>

Á tế Á là bắt chước đọc theo "Asia" tiếng Hy lạp !

yên si phi lý thuần là nhại theo "inspiration"

câu lạc bộ là học đòi nói theo "club" tiếng Anh

Ả phù dung, a phiến, nha phiến, á phiện là do "aphyon" # opium<gốc Turkey>

Còn cả ngàn tiếng Tàu như vậy, đều là bắt chước nói theo người ta, đâu phải gốc Tàu hồi nào đâu mà khoe ?

Tiếng Tàu xưa đã vay mượn nhiều tên gọi các cây trái thổ sản miền Nam, xứ nóng của các sắc dân phía nam sông Dương tử mà nói theo, mượn mà dùng rồi lâu ngày chúng nó tưởng đâu là tiéng của chúng nó nên lờ đi cái nguồn gốc bản xứ luôn.

Cũng như cả 90 % tiếng Pháp là bắt chước nói theo Latinh và Hy lạp, có gì lạ đâu, còn ta thì bắt chước nói theo Tàu một đống từ Hán Việt, gì đâu mà phải mặc cảm.

Mượn qua mượn lại là chuyện thuờng thấy giữa những thứ tiếng trên thế giới, có lợi cho cả hai bên, tiếng Anh Mỹ đã vay mượn như điên nên bây giờ mới xứng đáng là thứ tiếng mạnh nhất thế giới, làm cho tiếng Pháp phải ganh tị, vì có một thời, tiếng Pháp đã làm le không đúng cách, không chịu vay mượn thêm từ ngữ mới vì cứ khư khư cho là phải bảo vệ cái 'quan niệm giả tạo "pureté de la langue francaise" cho nên bây giờ bị tụt hậu và phải vay mượn thêm rất nhiều tiếng Anh Mỹ của khoa học thời nay mà nói, làm thành một thứ franglais chẳng đặng đừng, khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào.

Riêng về tiếng Việt, ta cần tìm hiểu thêm các tiếng nói của dân Bách Việt đã cho ta mượn rất nhiều từ ngữ, khi ta thấy một âm lạ một nghĩa lạ thì đừng vội nói theo đuôi cụ Trần trọng Kim mà cho rằng nó là tiếng "đệm" một cách vô tội vạ, thí dụ như lỡ làng thì thật ra đó là gốc Nùng vì trong tiếng Nùng, làng là lở dịp không có dịp để kịp làm một việc gì …vì vậy khi bị lở tàu, lở chuyến xe thì người Nùng họ gọi là làng tàu, làng xe [sic]

Cũng như khi ta nói cái thằng đó mà hát hỏng gì thì hỏng là hát, tiếng Thái, chứ đâu có phải là tiếng đệm vô nghĩa như sự tin tưởng của cụ Kim đâu !

Có cả thảy 42% tiếng Việt là gốc Lào Thái, nói rõ cho ta biết cái ý nghĩa gốc của chúng nó thay vì phải ép bụng mà cho rằng cái chi cũng đệm lên đệm xuống theo cách giải thích so sài và kì cục kiểu Trần trọng Kim

Trong tiếng Anh tiếng Pháp thì cold, colder, less cold và froid, plus froid, moins froid nhưng mà tiếng Việt nhấn khi mạnh khi nhẹ vào cái tính chất của sự vật màu sắc một cách dồi dào không ngờ được : đo đỏ, tim tím, mằn mặn, nong nóng, lành lạnh, cả ngàn cách như vậy, cho nên ta phải tìm thêm cho đầy đủ để mà ‘vui học tiếng Việt“, những giờ dạy tiếng Việt phải dạy cho vui như thế để gây chú ý và thích thú nói tiếng Việt với nhau cho các em nhỏ, chứ không phải là nghiêm trang viết cho đúng "hỏi ngã" hay cho đúng t, c cuối chữ , hoặc như người Bắc, lo làm sao đừng có lầm lẫn s / x / cùng là gi / d, những cái đó không quan trọng, cái cần thiết là phải nói tiếng Việt cho trôi chảy.

Dạy tiếng Việt phải là dạy nói 90% nhiều hơn là dạy viết cho ngay cho đúng, đó phải là nguyên tắc su phạm đầu não cho tương lai các lớp dạy tiếng Việt để có kết quả tốt đẹp, bên này cũng như bên nhà

Nhưng mà nếu có đầu óc làm đầy tớ không công cho Tàu thì cứ lải nhải là tiếng Tàu là "số dách" trong khi nhắm mắt mà bắt chước không cần nghĩ lại nghĩ đi làm gì!

Cái tiếng của người ta có gì hay, tiện, lợi cho mình thì nói theo, cái gì rảm, rởm, kì cục không cần đến thì bỏ đi, đừng có nhắm mắt mà nói lặp theo, mượn tùm lum mà nói tiếng người ta như những con két con vẹt, trong khi đó thì lại làm biếng nhác nhớm không thèm tìm hiểu tiếng Việt cho thấu đáo :

Một nhà ngoại giao hàng đầu của VN cọng hòa đã nói khi được phỏng vấn :

"như tôi đã với anh ! [hết sẩy]

Còn bọn văn nô thì nổi tiếng với mấy chữ "giặc cái" giặc lái", xuởng đẻ xuởng đái, phản ánh, phản sáng gì gì đó nữa, thật xấu hổ cho cái tiếng Việt của chúng.

Vậy mới thấy cái sức sống mạnh mẽ, vươn lên của tiếng Việt, không dễ gì bắt nó đi vào khuôn vào phép của những mẫu mực giả tạo của cái loại văn phạm ngữ pháp ngoại lai

Huống chi , ta nói tiếng Việt một cách khôn ngoan mà không bao giờ nhắm mắt bắt chước tiếng Tàu,

Ta chỉ nói siêu năng lực mà không chịu nói uu lực mẫn

Dòng nuớc trong mà không thèm nói thanh thủy

Bến cũ thay cho cổ độ

Người tình cũ thay vì cựu tình nhân

Người xưa, người cũ mà không còn nói là cố nhân nữa

Ta có dư thừa tiếng để mà nói chứ không phải tiếng Việt là một bản rập khuôn, một cái clone của tiếng Tàu bao giờ cả

Tiếng Việt ta quả thật là một luồng hơi sống tự do cho một triệu người Giao chỉ hồi xưa và cũng là cái nếp sống cho ý nghĩ của 85 triệu người Việt ngày nay trên khắp quả đất này, tự do như mây như gió mà cái văn phạm của Tàu chỉ biết lẽo đẽo đi theo cái cách ăn nói của chúng nó từ ngàn xưa mà không bao giờ bắt kịp.

Nhà trống đôi ba gian, một thầy một cô một chó cái.

Học trò năm bảy đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi.

trong căn nhà ấy, sống một gia đinh

Nay ta đã sống trong một thế giới "núi cao, biển rộng, sông dài, … lại được hoàn toàn sống cuộc sống tự do mà 83 triệu đồng bào ta bên nhà vẫn hằng mong uớc.

Ta nên sống sao cho xứng đáng một đời tự do, và nên cố gắng đóng góp, mỗi người tùy theo khả năng và công sức của mình vào sự sống còn của tiếng Việt

Bạn hãy vui miệng tìm thêm những đường nét nói phô rất lạ và riêng rẽ của tiếng Việt ta để thấy rằng tiếng Việt không hề nghèo như ta tưởng mà trái lại rất dồi dào, chỉ vì chúng ta đang "nghèo" tiếng Việt lắm đó thôi , theo lời ông Gustave Hue, một người Pháp rất kính nể tiếng Việt, trong quyển từ điển Việt Pháp Hoa của ổng ! Năm 1937

( trích Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt, tác giả BS Nguyễn Hy Vọng sẽ phát hành tại Paris, mùa Hè năm 2012)

BS Nguyễn Hy Vọng

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#109 Posted : Friday, October 31, 2014 5:53:20 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Rừng hỏi ngã


Hỏi ngã khó nhớ đến mức độ nào chưa có ai khảo sát tường tận. Một số cho là rất dễ cứ theo giọng nói mà viết, sách hướng dẫn cách viết hỏi ngã thì cho là chỉ cần theo đúng mẹo là xong. Thực sự không phải là thế, hỏi ngã rất khó không ai ngờ được.

Trước khi đi sâu vào vấn đề tưởng cũng nên nhắc lại một vài định nghĩa cần thiết.
Qui tắc hài thanh: làm cho câu nói không đơn điệu, lên xuống hài hòa.
- Không sắc hỏi: âm cao phải đi với thanh hỏi thấp như leo lẻo, mắc mỏ.
- Huyền nặng ngã: âm thấp phải đi với âm cao như đằng đẵng, nghĩ ngợi.
-Từ đa âm tiết chiếm khoảng 5% tiếng Việt, là từ có từ hai âm tiết trở lên trong đó ít nhất một âm tiết không có nghĩa hay có nghĩa vu vơ không đóng góp gì vào từ chính.

Từ đa âm tiết thực thụ là từ có mọi thành phần không nghĩa như ba ba, tẽn tò, vò vẽ. Từ láy có một thành phần không nghĩa nên cũng là từ đa âm tiết như đẹp đẻ, rõ ràng (láy), nước nôi (đệm), đen thui. Biên giới giữa từ láy và từ đa âm tiết thực thụ nhiều khi không rõ ràng. Hợm hĩnh, hậu hĩnh là từ láy trong khi hóm hỉnh, hóm hỉm là từ đa âm tiết thực thụ. Xin đừng lầm lẫn từ đa âm tiết với từ ghép như hậu đãi - tập hợp của vài ba từ đơn âm.

-Nghịch thanh còn gọi là ngoại lệ, bất qui tắc, không hài thanh hay theo qui tắc lộn ngược
Không sắc ngã: lơ đãng, trơ trẽn, đăng đẵng (còn được viết đăng đẳng), cũ rích, mắc cỡ.
Huyền nặng hỏi: sừng sỏ, thèo lẻo, lèo lẻo (leo lẻo), bở rẹt, bở rệt, bở rệu, chèo bẻo, lẻo lự (so với lưỡng lự, lắc lưởng), dở ẹt, thổn thện.

Vì phải đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể để nói có sách mách có chứng nên quí vị nào không có thì giờ thì đọc lướt nhanh thôi.

Các vấn đề bất thường của hỏi ngã

Vì có quá nhiều điều bất thường n_ cả người viết bài cũng không ngờ trước được, nên phải thêm vào các tiểu tựa để phân loại các vấn đề cho rõ ràng hơn.

1. Dùng sai qui tắc hài thanh

Đa số, kể cả các sách chỉ dẫn hỏi ngã, đều cho rằng qui tắc hài thanh áp dụng được cho tiếng Việt, kể cả từ kép và từ Hán Việt. Xin dẫn chứng bằng một đoạn sau đây từ một cuốn sách khá nổi tiếng dạy cách viết hỏi ngã cho đúng
“Cũng có những trường hợp ngoại lệ như

1. Dấu ngã: đối đãi (từ Hán Việt), sư sãi (từ Hán Việt), vung vãi (từ ghép), hung hãn (từ Hán Việt), than vãn, ve vãn, nhão nhoét (so sánh: nhão nhẹt), minh mẫn (từ Hán Việt), khe khẽ (so sánh: khẽ khàng), riêng rẽ (ghép), ễng ương, ngoan ngoãn, nông nỗi (từ ghép nông và nổi, có thể viết nông nổi), rảnh rỗi (từ ghép, rảnh và rỗi rãi), ủ rũ (từ ghép ủ nên rũ xuống). . .

2. Dấu hỏi: sàng sảy (từ ghép), lẳng lặng, mình mẩy (từ ghép của mình và mẩy, dậy mẩy), vẻn vẹn, bền bỉ, nài nỉ, viển vông, chò hỏ (ghi chú:có hai cách viết chò hõ hay chò hỏ, có thể là từ miền Nam), nhỏ nhặt (từ ghép), nhỏ nhẹ (từ ghép), sừng sỏ (từ ghép, sừng và đầu sỏ), học hỏi (từ ghép), luồn lỏi, sành sỏi (từ ghép, sành đời và đá sỏi), vỏn vẹn, mềm mỏng (từ ghép), bồi bổ (HV), chồm hổm, niềm nở, hồ hởi (HV). . . (Hoàng Phê, 4)”

Phần trong ngoặc là phần thêm vào để phân loại và giải thích tại sao các từ này không phải là ngoại lệ như tác giả đã nhận định, mà là từ HV hay từ kép, nằm ngoài vòng kiềm tỏa của hài thanh.

“Hài thanh chỉ dùng cho từ đa âm tiết, gồm cả láy và đệm.
Không áp dụng cho từ ghép tiếng Nôm, từ Hán Việt và từ phát xuất từ miền Nam hay Trung, và được phân loại là từ ngoài hài thanh”

Người viết sách hướng dẫn hỏi ngã còn sai thì bảo sao người miền khác không viết trật hỏi ngã.
Ngoài hài thanh: Đó là từ không-đa âm tiết không bị kềm chế bởi hài thanh, gồm có từ đơn âm, từ kép, từ ghép, từ HV, từ Việt hóa, từ phiên âm, gồm luôn cả từ đa âm tiết một dấu như lỏng lẻo, lõng bõng và đa số từ miền Nam và Trung.

Nên phân biệt nghịch thanh và ngoài hài thanh, đây là hai trường hợp khác nhau. Các từ láy như mỏng te, mỏng lét, mỏng manh, mỏng tanh viết với dấu hỏi vì phải theo qui tắc hài thanh còn mỏng dờn, mỏng mọng tuy cũng là từ láy nhưng là từø nghịch thanh. Trong khi đó mềm mỏng, mỏng dính, mỏng teo viết với dấu hỏi vì chúng không phải là từ nghịch thanh mà là từ kép, nằm ngoài vòng kiềm tỏa của hài thanh. Tuy nhiên nếu đi sâu hơn ta lại thấy mỏng dờn (da mỏng thấy ruột xanh dờn), mỏng mọng (mọng nước) có nguồn gốc là từ kép nên có thể coi là từ ngoài hài thanh. Phân biệt cái nào láy cái nào kép xem ra không phải là dễ.
Kinh nghiệm cho thấy mỗi từ hài thanh đều đi kèm một vài từ nghịch thanh, ít khi 100% hài thanh nghĩa là giống như Window luôn luôn có lỗ hổng.

Từ “dở” phân thành hai loại: theo Hài Thanh như dở dang, dở hoắc và không HT như dở ẹc, dở ẹt, dở khẹt, dở khẹc, dở òm, vàng võ, ủ dột, ủ ê, ủ rũ.

Đồ thị Venn biểu diễn tiếng Việt một cách tượng trưng nên không theo đúng tỉ lệ, có những đặc điểm sau đây:
-Những từ không có trong tự điển nằm phía ngoài vùng ghi là tự điển như đớ đẫn (có đờ đẫn), đỏ đẻ (từ miền Nam),
-Từ có dấu hỏi hay ngã được ghi vắn tắt Hỏi Ngã.
-Qui tắc hài thanh chỉ áp dụng cho từ đa âm tiết, không có hiệu lực cho từ không-đa âm gồm có từ đơn âm, từ kép, từ Hán Việt, từ Việt hóa, từ miền Trung và Nam.
-Nằm ngoài vùng hài thanh gồm có hai loại: nghịch thanh như mắc cỡ và từ không-đa âm như nhỏ nhẹ, minh mẫn.
-Có nhiều từ không có trong tự điển như bự chảng, càm ràm.
Tại sao từ đa âm tiết có thể hài thanh còn từ kép thì không?

Từ kép kết hợp hai từ có nghĩa nên không thể thay đổi hỏi ngã một cách tự do được, trong khi đó từ đa âm tiết có ít nhất một thành phần không nghĩa nên có thể thay đổi thanh mà không thay đổi nghĩa. Thí dụ từ “bả, bã” có thể kết hợp thành từ kép bả mía, bả chuột, bã đậu, bã thuốc mà không bắt buộc phải hài thanh, trong khi đó buồn bã là từ láy nên bã phải hài thanh với buồn. Bươn bả, bươn chải, vò vẽ là từ lái nên hài thanh. Nhưng phân biệt được từ láy với từ kép đôi khi rất khó như bở rệt, bở rẹt là từ láy còn bở rệu là từ kép.

Tiếng Hán Việt đa số là từ kép không láy nên không áp dụng hài thanh trừ những từ Nôm hóa hoàn toàn như thơ thẩn, thẩn thơ, thơ mộng. Từ đơn nếu có láy thì dấu của từ đơn thường được xác định bởi láy như cãi cọ.
Cùng một từ nhưng viết khác. Các phần từ 2 đến 7 sau đây liên quan đến các từ có cùng nghĩa nhưng viết khác.

2. Đổi thứ tự là đổi dấu: nhẳng lẳng, lẵng nhẵng (cũng có thể viết lẳng nhẳng)

3.Viết khác vì tưởng là khác nghĩa: Vì thấy một loại vịt có cổ dài ngổng lên cao nên người ta mới đặt là con ngổng cổ rồi từ từ rút gọn lại thành con ngổng, sau cùng lên tông viết sai thành con ngỗng tuy là đúng qui tắc chữ Quốc Ngữ. Chẳng những thế ngổng cổ, cao ngổng, lổng ngổng còn có thể viết ngỏng cổ, cao ngỏng, lỏng ngỏng.
Cùng có nghĩa là lỏng (loãng, rời ra, không kiểm soát, tự do) nhưng có khi viết hỏi (lỏng lẻo, lỏng chỏng, lỏng le, lỏng xịch, lỏng nhỏng), có khi viết ngã (lõng bõng, lõng thõng, đi chơi lõng, lạc lõng).

Từ loại này nhiều lắm: Sóng soải viết khác xoải cánh mặc dầu có cùng nghĩa; “vẫy” tuy cùng một nghĩa nhưng viết lộn xộn không biết đường đâu mà rờ như vẫy đuôi, vẫy vùng viết khác với vẩy nước, vẩy mực, vung vẩy; lỗ chỗ nhưng loang lổ; không suôn sẻ và không suông cùng một nghĩa lại viết khác thì chỉ có trời mới biết tại sao.
Thí dụ cho thấy chẳng những hỏi ngã viết không theo qui tắc mà cả âm tiết cũng viết tùy hứng, làm cho người miền khác không thể nào nhớ nỗi.

4. Cùng một nghĩa nhưng Nam Bắc viết khác: nhảy cửng và nhẩy cẫng; tồng ngổng, chồng vổng, chồng ngổng, chổng ngỗng.

5. Cùng nghĩa nhưng viết khác khi kết hợp với một từ khác. Vì quá chú trọng đến âm điệu nên nhiều cùng một từ nhưng có khi lên tông thành ngã, có lúc xuống tông thành hỏi cho thuận miệng bất chấp cả nghĩa. Thí dụ “ngả” cùng có nghĩa là nghiêng, không thẳng đứng lại viết lộn xộn “Anh ta khi đang ngả nón chào thì ngã khuỵu tại ngã ba có chặn ngả đường hay ngã ba sông”. khác
Qui tắc Hài thanh lại đem áp dụng cả vào từ kép, từ ghép, động từ và túc từ, động từ và trạng từ giống như trong tiếng BK, thanh sắc có thể thay đổi theo từ đứng kề bên, theo tâm trạng người nói. Xin xem bài kế tiếp “Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt”

6. Quá chú trọng đến hài thanh nên loạn xà ngầu.

Bãi biển, bãi cát viết với dấu ngã nhưng bốc bải lại dùng dấu hỏi theo QTHT. Trường hợp này nhiều lắm không tài nào kể ra hết được: trướng rủ, treo cờ rủ nhưng rũ mành và cờ rũ; cù rủ nhưng cú rũ; ngã ạch nhưng ngả ngớn; lỗ chó, lỗ hở nhưng lang lổ và loang lổ tuy rằng có cùng nghĩa.

7. Đổi một cách tùy hứng. Viển vông sao lại dùng dấu hỏi trong khi viễn là tiếng HV có nghĩa là xa vời. Không phải chỉ có dấu mà cả âm tiết cũng viết một cách bất thường: hẳn hoi, hẳn hòi viết khác “về nhà hẵng”. Hẳn hay hẵng đều có nghĩa là already nhưng lại viết khác!

Thanh sắc viết tùy hứng thì nhiều lắm, càng tra cứu tự điển thì càng lòi ra nhiều vấn đề: ngã ạch và ngã chúi viết khác ngả đầu và ngả ngớn; nghiêng ngả nhưng ngã chúi, dấu ngã nhưng ngả mũ chào; nổi lửa cho đã lữa (cũng là lửa); lững lờ lửng lơ (VNI tự điển); dỡ hổng, dỡ lên nhưng dở bổng. Từ trổi cũng viết lung tung: tự điển ghi là trổi lên nhưng trỗi dậy. Ngõ ngách nhưng cửa ngỏ, bỏ ngỏ; tối sẩm, sẩm tối nhưng sẫm tối, sầm sẫm, sâm sẫm.

Chưa hết: chỉa (chôm), chỉa cá nhưng chĩa dùi, chĩa tay; hếch mỏ nhưng trớt mõ; niểng cổ, niểng mình nhưng cà niễng, niềng niễng; lãng trí nhưng lảng quên, (lãng quên, hai cách viết), lang lảng, lảng ồ, lơ lảng, lãng nhách, lãng xẹt. Cổ lỗ sĩ tại sao không viết là cổ lổ sỉ ?
Viết kiểu này thì chỉ có computer mới “nhớ nổi, đoán nổi” còn người thì “chịu không nổi, ngán nỗi, đến nỗi” phải đầu hàng.
Từ đa âm tiết, láy ( tiểu mục từ 8 đến 21)

Người viết lúng túng không biết nên theo loại nào: Có hay không có lái, đa âm tiết hay từ kép, tiếng Nôm hay tiếng HV, tiếng lóng, tiếng miền Nam hay Trung. Thí dụ thải trong thừa thải là từ đơn âm, từ láy hay tiếng HV? Nếu là láy thì phải là thừa thãi, còn nếu là từ HV thì phải viết thừa thải (thừa quá nên phải thải ra). Các bạn đoán coi cách nào viết đúng chữ QN? Xin trả lời là thừa thãi, thật là quái lạ.

8. Đa âm tiết cùng nghĩa nhưng viết khác nếu cặp với từ khác: thỗn thện viết khác thổn thển tuy là cùng một loại. Viết kiểu này làm sao tụi Tây nó học viết tiếng Việt cho được? N_ cả tự điển cũng chỏi nhau: đi lửng chững lững chững (Lạc Việt tự điển) nhưng lững đững lơ đửng (VNI tự điển),

9. Khó phân biệt từ ghép với từ đa âm tiết: Có rất nhiều trường hợp không thể nhận định được một cách dễ dàng ủ rũ (ghép), sàng sảy (sàng gạo, sảy gạo), vỡ toang (từ ghép) và vỡ vạc (từ láy).

10. Khó phân biệt được từ láy với từ kép nên không biết viết như thế nào cho đúng.
Thí dụ ta viết sa ngã nếu là từ kép và viết sa ngả nếu là láy.

11. Không rõ nghĩa nên viết sai nguyên tắc
Nỗi hay nổi là một trong những từ rất khó nhớ vì có nhiều nghĩa, đôi khi nghĩa lờ mờ, cùng nghĩa nhưng viết khác, vài từ không có trong từ điển... nên chỉ còn có nước đoán mò. Thí dụ nhớ nổi, nỗi nhớ, nổi bật là hỏi hay ngã?
Đoán nổi, chịu nổi, kham nổi lại viết khác đến nỗi, khổ nỗi và làm cho tình hình càng rối ren hơn. Nông nỗi sao lại viết khác nổi chìm, nổi phêu. Nông nỗi là từ kép, gồm hai từ nông (cạn) và nổi (lên) hợp lại nên đáng lý phải viết nông nổi.
Làm sao viết cho đúng các từ đan bằng bả, bã giả, trắng giã, bã xõa, lỏa xỏa, lõa xõa nếu không biết ý nghĩa hay nguồn gốc?

12. Từ đơn có láy thì viết theo lái nào? Một từ có thể có nhiều láy, viết theo láy nào là cả một vấn đề. Nếu láy với đờ thì
phải viết đờ đẫn, đưỡn đờ nhưng nếu láy với đớ thì dùng dấu hỏi như đớ đẩn (từ miền Nam, không thấy có trong tự điển). Tương tự hẳn hoi và hẳn hòi (đúng HT phải là hẵn hòi), ủ dột và ủ ê (không có ũ dấu ngã); năn nỉ và nài nỉ; ngả ngớn, ngả ngốn nhưng ngã ngũ.

13. Từ đơn không láy hay có láy nhưng cùng dấu : Không có qui tắc nào để viết cho đúng phưỡn (ra), cuỗm, chổng chảnh, chổng chểnh, phải học thuộc lòng vì không còn cách nào khác.

14. Từ láy không biết phải viết theo từ đơn nào: “Lỏi” viết với dấu hỏi hay ngã? Vì có thể lái với cả len (len lõi) và luồn (luồn lõi) nên người viết sẽ trở nên lúng túng. Bằng chứng là có hai cách viết lõi cây và lỏi cây; lõi tì và lỏi tì.
Xin ghi thêm: năn nỉ và nài nỉ; thèo lẻo, chèo lẻo, lèo lẻo và leo lẻo, lẻo lự; chằm bẳm và chăm bẳm, chăm bẩm.

15. Dùng cả hai cách. Có hai cách viết vì một trong các lý do dưới đây

Chữ Hán:Vì không rõ nghĩa nên viết hai cách như hổ trướng và hỗ trướng.
Nhiều vùng miền Bắc phát âm khác nhau nên viết khác như lẳng nhẳng và lẵng nhẵng, rơi tõm và rơi tỏm, tỏm tẻm và tõm tẻm, dở cơm và dỡ cơm, xẩm tối, sẩm tối và tối sẫm, sâm sẩm và xâm xẫm, sẩm sẩm và sẫm sẫm, mệt lủi, trụi lủi, lùi lủi, lui lủi, lủi thủi trong khi đó lại viết lầm lũi, lùi lũi. Tương tự ỏn ẹo, õng ẹo, õng lưng, ỏng ẹo, ỏng eo, ong ỏng, đằng đẵng và đằng đẳng, nỗi bật và nỗi bật. Cái khó là không biết khi nào thì được quyền viết hai cách.

16. Từ miền Nam dấu hỏi bị đổi sang dấu ngã cho đúng với phát âm miền Bắc như xởi lởi hay sởi lởi được đổi lại dấu ngã xỡi lỡi, mắc cỡ (có thể viết mắc cở), mãng cầu (hay mảng cầu), cà niễng, nhỏng nhẻo và nhõng nhẽo, cù lũ, lẻo lự, chò hõ hay chò hỏ.

17. Từ láy cùng một dấu hỏi hay ngã, thì viết theo dấu nào? Từ loại này không áp dụng được qui tắc hài thanh nên phải cố mà nhớ. Thí dụ: rõ rẽ, tủm tỉm, đỏ đẻ, võ vẽ, đỏng đảnh, lõng đõng, bẩn thỉu, lõng bõng, lỏng lẻo, xiểng liểng (xà xiểng, nghịch thanh), đủng đỉnh, đỏng đảnh, mỏng mảnh.

18. Phải đi lòng vòng: Muốn biết phài viết bỡ ngỡ hay bở ngở thì phải tìm từ láy của bở hay ngỡ. Ta có ngỡ ngàng nên bỡ ngỡ viết với dấu ngã. Thế còn bở lở thì sao? Từ này chắc là từ miền Nam vì không có trong tự điển. Và tại sao bở rệu lại viết với dấu hỏi, trái qui luật hài thanh?

19. Láy có cùng một nhiệm vụ nhưng viết khác: Từ ỏn hay ỏng đều có cùng một nghĩa nhưng có khi hỏi có khi ngã như ỏn ẹo, õng ẹo, ỏng ẹo, ỏng eo, ong ỏng. Tương tự hợm hĩnh và hóm hỉnh; thẫn thờ, thẩn thơ, lẩn thẩn; ầm ỉ, âm ỉ.

Từ đa âm tiết có cùng nghĩa nhưng viết khác như xà xã, xa xả, sa sả. Đúng là rừng hỏi ngã.
20. Từ láy âm thêm bớt dấu để làm nhẹ bớt cường độ không lệ thuộc qui tắc hài thanh như khe khẽ (so sánh: khẽ khàng), ro rõ (nhẹ hơn rõ rệt), lo lõ (thò lõ), thiu thỉu, lưng lửng, dê dễ, song sõng, xõng lưng hay sõng lưng, vưng vững (vững vàng), cu cũ (cũ kỹ), ky kỹ, ươn ưỡn (ưởn ẹo), lủi thủi, lùi lũi (cách khác lùi lủi) và lui lủi, khiêng khiễng (cà khiễng), loang loãng,

21. Từ đa âm tiết hoàn toàn không thể dùng QTHT để truy cứu vì có các âm tiết không có nghĩa.

Hai cách viết từ nghểu dưới đây biểu lộ cái lộn xộn của hỏi ngã
-nghểu nghến, ngất nghểu, lểu nghểu.
-nghễu nghiện, nghiễu nghến, cao nghễu, ngật nghễu, lễu nghễu.
Từ ngoài hài thanh (22 đến 27)

22. Từ miền Trung Nam là từ ngoài hài thanh. Không sử dụng dấu ngã, không lệ thuộc vào qui tắc hài thanh-tính chất này có thể dùng để xác định là từ miền Nam. Thí dụ dở ẹc, dở ẹt, dở khẹt, dở khẹc, dở òm (hai cách viết ẹc, ẹt, khẹc, khẹt càng chứng tỏ đây là từ miền Nam). Có rất nhiều từ loại này như hết xẩy, sừng sỏ, trổ mã, đen thủi đen thui, chầu quẩu, chào quảo, canh măn mẳn có vị mằn mẳn, cỏn, cổ (cô ấy), chỉ (chị ấy) cẩu (cậu ấy), mở (mợ ấy), dưởng (dượng ấy, tự điển có âm dưỡng nhưng không có dưởng), bự chảng, xảnh xẹ, chồm hổm, chàng hảng, xở lở, chè hẻ, đỏng đảnh, xảnh xẹ, chèo bẻo, bảnh tẻng, mẻo (đứng ngoài mép, cheo leo), xẻo (rạch nhỏ), xổng lưng (thẳng lưng), xửng vửng, đỏ đẻ (con nít tập nói), mủ mỉ, rỉ rịch (không TĐ), nhỏng nhẻo, mảng cầu, “mảng sầu con bạn ốm o gầy mòn”, xa xả hay sa sả, bải hải, bài hãi, bai bải, chỏi hỏi, bải bui, bải bôi, bự chảng.
Phát âm miền Nam không phải chỉ có Lục tỉnh mà phải kể luôn cả vùng miền Trung từ Nha Trang cho tới Bình Tuy, phỏng đoán khoảng 40% trong khi phát âm Bắc khoảng 30 %, phát âm Thanh Nghệ Tỉnh 15 %, bài trước quên liệt kê các xứ Quảng 10%, 5% tộc ít người.
-Láy cà: Một số lớn phát xuất từ miền Nam nên không theo hài thanh như cà rỡn, cà rổn cà rảng, cà rổng cà rểu, cà nhổng, cà tửng, cà xửng, cà khiễng, cà niểng, cà rểu (cà rỡn).

-Có người ở Úc viết báo đả kích là Bs, Kỹ sư gì mà viết chính tả trật lất như ngưạ vằn viết sai là ngựa rằn. Ông này tuy ở miền Nam gần nửa đời người nhưng không biết là miền Nam, tuy có dùng từ vằn cho vằn vện, nhưng dùng rằn cho ngựa rằn, cọp rằn, rằn ri. Xin quí vị nhẹ tay một chút nếu người ta có viết sai hỏi ngã.
-Từ bình dân như tưng tửng (điên), chảnh, chỏng chảnh, xỉn, lủm.
-Tiếng lóng như củi, chỉa,
-Từ Việt hóa từ Chợ lớn như chệt Tửng, mè xửng, chẩu, xẩm, xì thẩu, lẩu, cù lũ (đánh xì phé, có vẽ phổ biến nên đổi thành ngã), phổ ky, há cảo, sủi cảo, xúi quẩy, phì lủ, mã thầu dậu, xíng xái hay xứng xái bò lái bò khự, hằm bà lằng.
-Từ kỹ thuật như hủ lô, cần cẩu, cái cảo (đồ sửa xe hơi), mỏ lết.
23. Không biết viết hỏi hay ngã vì không có trong tự điển
Có rất nhiều từ không có trong tự điển. Đăng đẵng hay đăng đẳng không có trong tự điển điện tử nên không biết viết như thế nào cho đúng.

Từ địa phương không có trong tự điển. Một số rất lớn từ miền Trung, Nam không có trong tự điển nên đa số được viết với dấu hỏi.
Cả một số từ miền Bắc cũng không có trong tự điển như đõ (dấu ngã), trưỡng.

Địa danh đa số không có trong từ điển. Khi dùng tự điển để tra chữ Hà Tĩnh xem coi viết hỏi hay ngã thì không thấy. Cổ Cò không phải là cái voi đất có hình cổ con cò như thiên hạ thường nghĩ như thế, đây là tên nói trại đi của Koh Kor tiếng Khmer, tên một vị thần Bà La Môn và trùng tên với một ngôi đền ở Angkor.
"Người ta đồn anh bị tai nạn ở Cổ Cò phải không?"
"Không, tôi cưới vợ"

24. Từ đa âm tiết Việt hóa có hài thanh hay không? Malaya nên phiên âm theo cách nào cho đúng: Mã lai á (có nghĩa là ngựa lại châu Á), Mã lai (lai ngựa) hay Mả lay a, Mả lay (cái mả lay động).

25. Từ ghi thanh viết theo hài thanh hay viết theo tông của âm thanh. Nếu viết “tiếng võng đưa con buổi trưa hè nghe kẽo kẹc...kẽo.. kẹc, kẻo...kẹt, kẹt... kẹt” thì mô tả đúng âm thanh nhưng sai chính tả. Còn nếu viết đúng chính tả thì lại không mô tả đúng âm thanh vì có lúc âm thanh kéo dài (kẹt), có lúc cao (kẽo), thấp (kẻo), ngắn (kẹc).

26. Nói lái thì viết theo cách nào? Viết theo hài thanh, theo dấu của từ nguyên thủy, hay theo nghĩa của từ mới? “Bãi cứt” lái thành bứt cãi hay bứt cải? “Khi đu”û lái thành khu đĩ hay khu đỉ? Lái dỏm thành lỏm d... hay lõm d...?

27. Không thể chỉ học từ có dấu ngã rồi suy ra từ có dấu hỏi. Vì muốn cho gọn gàng dễ nhớ nên sách chỉ dẫn ngã chỉ bàn đến từø có dấu ngã, và cho rằng không cần phải nhớ các từ có dấu hỏi vì đương nhiên phần còn lại phải có dấu hỏi. Cách này không ổn vì không ai có thể nhớ hết mọi từ có dấu ngã, mà ta chỉ để ý đến những từ thông dụng.
Hán Việt. Phần kế tiếp là vấn đề liên quan đến chữ Hán.

28. Hỏi ngã để phân biệt từ Hán với Việt nhưng nhiều khi khó phân biệt được từ nào là Hán từ nào là Việt.
Nếu tiếng Hán dấu hỏi thì tiếng Việt dấu ngã và ngược lại: vỏ cây nghệ, vỏ cua nhưng võ nghệ, võ cua (võ này là võ ba gà, đánh trên đỡ dưới thấy bà cái lưng).

Ngược lại nếu Nôm ngã thì Hán hỏi: tả phái tả cảnh trong khi trời mưa ướt tã lót. Tương tự xả thân và xã hội, phẫn nộ và phẩn bò, hỗn hợp, hỗn hào, hổn hển.

29. Không biết nghĩa tiếng Hán thì làm sao phân biệt?

Vì sỉ là hổ thẹn khác với sĩ là người có học hay con trai chưa vợ nên liêm sỉ và sỉ nhục viết khác với sĩ diện, sĩ khí. Kẹt một cái là đa số không biết chữ Hán nên không thể phân biệt được hỗ với hổ, tỉnh với tĩnh, tể với tể để viết phân biệt hỗ tương với hổ tướng, tỉnh ngộ với bình tĩnh, chúa tể với thổ tễ?

Lơ đãng và lưu đảng tại sao viết khác? Nếu cho là có nghĩa khác thì khác nhau như thế nào? Nếu khác tại sao trong tự điển lại có từ lưu đãng?

Chẳng lẽ muốn viết đúng hỏi ngã thì phải bỏ ra nhiều năm để học chữ Hán? Như thế có đáng không? Đời người quá ngắn và còn biết bao nhiêu chuyện phải làm, hà tất phải để ý đến ba cái lẻ tẻ này, học làm chi khi chỉ chừng vài tuần là quên tuốt tuột.
30. Không phân biệt được là Hán hay Nôm nên không biết là có áp dụng được hài thanh hay không. Người viết sách hỏi ngã còn không phân được huống hồ là người miền khác. Ngõa khí, ngõa quan là từ HV viết với dấu ngã còn nếu là tiếng Nôm thì viết thợ ngõa hay thợ ngỏa?
Lơ đãng thì đãng là láy hay là từ Hán Việt? Nếu là láy thì phải viết lơ đảng còn nếu là từ HV thì khác. Trong chữ nhừ tử, nếu tử là Hán thì viết với dấu hỏi, còn nếu là láy thì phải là nhừ tữ. Cách nào đúng?

Từ ngoại quốc

31. Tên Tây phương phiên âm theo tiếng Hán thì viết theo cách nào?
Viết theo chữ Hán thì có mấy ai biết Hán tự để mà phân biệt, viết theo miền Nam, viết theo miền Bắc hay viết theo phát âm Quãng Đông?
Mã tà hay mả tà, Hướng Cỏn (theo Hướng Cảng) hay Hướng Cõn (theo đúng phát âm Quảng Đông, lên tông). Phiên âm từ “ba” tiếng Tàu là Pà pả hay pà pã? Sao không là cồ lô sãnh mà là cồ lô sảnh? Ai là người quyết định các thanh này?

32. Âm tiết
Tuy là dễ hơn hỏi ngã, nhưng phân biệt âm tiết cũng quá khó đối với người không-Bắc vì nó cũng lộn xộn, chỉ có dân địa phương nói hằng ngày mới viết trúng được. Sở dĩ có phân biệt âm này với âm kia một phần là do ảnh hưởng của tiếng Hán, do quá tôn trọng tiếng Hán nên cố phân biệt Hán và Nôm như cái bát và cô bác, phân biệt theo đúng phát âm tiếng Hán với nhau như nan giải và cẩm nang, kim loại và kiêm toàn...
Bộ óc con người không thể nhớ hết
Khi dùng tự điển điện tử để tra hỏi ngã thì lòi ra 32 trường hợp nghịch thanh nói trên. Từ nghịch thanh có quá nhiều như rừng cây làm cho không một ai có thể nhớ hết được, trừ người Bắc và người sống về nghề viết lách.

Người không-Bắc không thể nhớ được hỏi ngã vì nhiều lý do sau đây

-Chỉ có phân nửa người Bắc nói trúng hỏi ngã. Nhiều vùng miền Bắc phát âm hỏi ngã khác nhau và khác với dân Hà Nội. Chính vì thế mà mọi người, kể cả người Bắc, không biết được thanh hỏi ngã nguyên thủy là như thế nào. Muốn biết xin xem bài kế tiếp.
-N_ cả dân Hà Nội khi nói có khi hỏi biến thành ngã, thay đổi tông tùy theo tâm trạng người nói, bị ảnh hưởng của từ kề cận hay tùy từng địa phương.

-Trong khi ca, nếu một tiếng có thanh hỏi phải lên giọng cho ăn khớp với dòng nhạc thì nên viết dấu nào?
-Thanh hỏi lẫn lộn với thanh nặng và từ từ sẽ nhẹ hơn do tiếp xúc với miền khác.
- Học lấy bằng tiến sĩ nhiều khi dễ hơn học hỏi ngã. Đời người quá ngắn và còn nhiều việc phải làm, hơi đâu mà để ý tới ba cái lẻ tẻ này, ví như nữ diễn viên tên tuổi, từng lấy bằng cử nhân Ngữ văn trong nước và tốt nghiệp đạo diễn sân khấu ở nước ngoài. Khi có kẻ góp ý về một văn bản do chính diễn viên ấy viết tay lộn tùng phèo dấu hỏi với dấu ngã, chị ta nhún vai:
- Chuyện nhỏ! Thì dấu hỏi hay dấu ngã, mình cũng đọc như nhau. Vậy khi viết, phân biệt làm gì cho mệt? (Trích từ Phân biệt dấu hỏi - ngã, chuyện không đơn giản của Nguyên Tâm trong Tạp chí Tài hoa trẻ.

-Lý luận cho rằng hỏi ngã làm phân biệt từ với nhau nhưng ta lại thấy chính hỏi ngã lại làm không phân biệt nghĩa cũa từ (mục 2,3,4,5,6,7)
-Dẫu cho có nhớ được đi thì trong vòng một vài tuần hay vài ngày sẽ quên gần hết.
-Không ai dại dột bỏ ra nhiều năm học thuộc lòng hằng ngàn từ hỏi ngã chỉ với mục đích thỉnh thoảng viết cho đúng vài câu tiếng Việt.

Đó là lý do giải thích được tại sao không thể nhớ được và càng học cao viết hỏi ngã càng sai.
Bao nhiêu phần trăm áp dụng được QTHT?
Tổng cộng có 1270 âm tiết với dấu hỏi ngã, trong đó có 793 âm tiết (chiếm 62%) viết dấu hỏi, 477 ââm tiết (38%%, gồm 370 tiếng Nôm và 107 tiếng HV) viết dấu ngã. Từ Hán Việt có 107 từ có dấu ngã, trong đó 33 từ Hán Việt có dấu ngã cần ghi nhớ, 74 ít dùng (theo tác giả Hoàng Phê).
Áp dụng được qui tắc hài thanh: 63 láy + 19 từ có láy = 82. Qui tắc hài thanh chỉ cho ta viết đúng nhiều nhất là (82/ 477)x 100 = 17.2%
Thế nhưng qui tắc hài thanh hầu như bị tê liệt do một trong 32 trường hợp ngoại lệ nói trên. Rốt cuộc bắt buộc phải học hết 1270 âm tiết hỏi ngã + vài ba trăm từ ngoại lệ tức là khoảng 1500 từ hõi ngã.
Liệu có ai có thể nhớ được gần 1500 từ hỏi ngã không? Chắc chắn là không.

Học Toán, Vật Lý, tiếng Anh hay lấy bằng Tiến sĩ có khi còn dễ hơn phân biệt hỏi ngã vì chúng rõ ràng, có qui luật hẳn hòi và không phải nhớ quá nhiều. Phương pháp hiện đang được các nước Âu Mỹ áp dụng trong tiểu học và Trung học là dùng tối thiểu trí nhớ để học, vì họ cho là đã có sách vở hay máy tính, đâu cần phải học thuộc lòng. Mấy chục năm kinh nghiệm dạy kèm Toán và Lý ở Úc cho thấy trong môn Lý lớp 12 có chừng 30 công thức nhưng học sinh không phải học thuộc lòng, họ được quyền mang công thức này vào buồng thi. Môn Toán thì được mang vào phòng thi 4 trang giấy muốn ghi gì thì ghi, đó là chưa kể việc dùng Graphic Calculator ghi các program. Dễ dãi đến như vậy mà ít học sinh dám học, mà có học thì cũng quên đầu quên đuôi, thế thì tại sao ta lại bắt con nít VN và cả người lớn phải học như két gần 1500 từ hỏi ngã? Hơn nữa cách này cũng không có tác dụng lâu dài vì tuy học sinh tiểu học bắt buộc phải học thuộc lòng vài trăm từ hỏi ngã nhưng khi lên đại học hay sau khi đi làm thì quên tuốt, cùng lắm còn lại vài mươi từ.

Người Việt còn không nuốt trôi được mấy cái dấu hỏi ngã thì mấy anh ngoại quốc học tiếng Việt làm sao mà nhớ.
Thật tội nghiệp cho những người viết sai chính tả, nhất là sai hỏi ngã, bị cho là dốt nát, hóa ra là tại chữ Quốc Ngữ không có tiêu chuẩn rõ ràng về hỏi ngã, viết lung tung và lộn xộn.
Phân biệt hỏi ngã thì đúng là làm tiếng Việt rõ hơn cho một phần ba nhưng làm cho hai phần ba người Việt, không phải mù chữ Quốc Ngữ, mà là chột mắt.
Tưởng cũng nên cải tiến chữ QN để cho thiên hạ được nhờ và phù hợp với đà tiến hóa của khoa học.


trích cadaotucngu.com

Edited by user Friday, October 31, 2014 5:54:11 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#110 Posted : Saturday, November 1, 2014 9:38:05 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
sưu tầm

Câu chuyện bằng chữ " C "


Cậu Cẩn con của cụ Chánh, cháu của cô Cúc, cháu của chú Chiến.

Cậu Cẩn có con chó cỡ con chồn, cẳng con chó cao cở cẳng con cò, cổ cũn cởn cở cổ con cóc. Cổ con chó cậu cột cái chuông. Cậu cưng con chó cùng cực, con chó cũng cưng cậu. Cứ chiều chiều cậu cõng con chó, cầm chiếc cần câu chăm chỉ câu cá chép cạnh chân cầu cuối cồn cát. Cậu chăm chú canh chừng cước cần câu, chốc chốc cậu cất cao cần câu coi. Con cá chép cắc cớ cắn câu, cậu Cẩn cất cao cần câu, cậu cười. Chốc chốc cả con cá chuối cũng cắn câu. Cậu Cẩn cầm con cá chuối chặt cổ, chìa cho con chó cưng của cậu. Con chó của cậu cắn cổ con cá chuối co cẳng chạy. Cậu Cẩn cất cần câu, cùng các cậu choai choai chơi cờ cạnh cổng chợ.

Chơi cờ chán chê, cậu cõng con chó. cầm con cá chép cậu chuồn. Cậu Cẩn cho con chó của cậu chui chuồng, cậu cầm con cá chép cậu cạo, cậu chặt, cậu cho chảo cậu chiên. Cá chín, cậu Cẩn cùng cụ Chánh chén cá chép chiên chấm cà cuống cùng chuối chát.

Con chó cưng của cậu Cẩn cứ chập chờn cửa chuồng chở chực. Cuối cùng cậu Cẩn cho con chó chén cơm chiên cùng chút cá chép. Con chó cạp chén cơm chui chuồng. Cụ Chánh côi cút, cụ cũng có con chim chích choè cùng cái chuồng chim cáo cạnh, cụ cưng con chim của cụ.

Cứ chốc chốc cụ cầm cái chổi chà chống chân, cụ chầm chậm chộp các chú chuồn chuồn chập chờn cạnh cây cam cho con chim của cụ chén. Có chiều, cậu Cẩn cùng các chú choai choai câu cá, câu cua chỗ cống của cậu Cử. Cậu=2 0cột con chó cưng của cậu cạnh cửa. Con chó của cậu Cẩn cà chớn cứ chực cắn con chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây chổi chọc con chó, con chó co cẳng chạy. Cụ Chánh cảnh cáo cậu Cẩn, cậu chỉ cười cậu còn cãi cối.

Cũng có chiều cậu Cẩn cần công cán chỗ công cộng. Cậu cũng cột con chó của cậu cạnh cửa chuồng. Cụ Chánh cùng cụ Chẩn chơi cờ. Cụ Chẩn cũng có con chó choai choai, cụ chẳng coi chừng, cụ cột con chó cạnh chỗ con chim của cụ Chánh. Con chó của cụ Chẩn cùng con chó của cậu Cẩn cắc cớ chỉ chờ chực cắn chim của cụ Chánh. Cụ Chánh cầm cây cố cản, con chó cứ cào cấu, cứ cằn cằn. Chợt con chó của cậu Cẩn chồm cẳng cao cắn cái chuồng chim của cụ Chánh. Con chim chích choè chạy cuống cuồng cầu cu cụ Chánh.

Con chó của cụ Chẩn cắn cụt cánh, con chó của cậu Cẩn chặn cửa cắn chân, cắn cổ con chim. Chim của cụ Chánh cụt cẳng, cụt cánh, cuối cùng chết cứng, chỉ còn cái chân còn cục cựa.

Cụ Chánh cay cú cầm cây cối chục cân cất cao choảng con chó. Con chó của cụ Chẩn cà cuống co cẳng chạy. Cái cối cán cẳng con chó của cậu Cẩn cái “cộp“ chát chúa, con chó cố chạy - cụ Chánh cầm cây cuốc cuốc cổ con chó. Con chó của cậu Cẩn chùn chân. Cuối cùng cụ Chánh chém con chó chết cứng.

Cụ Chánh cùng cụ Chẩn cắt cổ con chó, các cụ cầm chép các cụ cạo, các cụ chất con chó cạo vào chỗ có củi cháy.

Cẳng con chó cong cong, các cụ chờ con chó chín các cụ chặt, các cụ cưa. Cụ Chánh cất cho cậu Cẩn cái cẳng, cái cổ. Còn cả con chó các cụ cho chảo các cụ chiên. Con chó chết các cụ có cớ chè chén.

Chó chiên, chả chìa, củ chuối. Chốc chốc các cụ cùng chạm cốc, các cụ cười.

Cậu Cẩn chăm chú coi chân, coi cổ con chó. Cậu Cẩn cấu cụ Chánh: "Chó chết!"
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
CatLinh on 11/4/2014(UTC)
CatLinh  
#111 Posted : Tuesday, November 4, 2014 7:08:39 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)

UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 11/8/2014(UTC)
phamlang  
#112 Posted : Saturday, November 8, 2014 1:20:33 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Từ mâm ngũ quả, phiếm bàn về con số 5


Phùng Thành Chủng


Tết đến, trên bàn thờ mỗi gia đình không thể thiếu mâm ngũ quả. Cỗ bàn, bánh trái có thể to nhỏ, nhiều ít tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế từng nhà, nhưng dù giàu, nghèo, sang, hèn, thì ai cũng lo làm sao có được mâm ngũ quả thật tố hảo, để bày tỏ tấm lòng thành kính của mìmh đối với tổ tiên. Chủ đạo - theo nghĩa chung nhất, vì ở đâu cũng sẵn - của mâm ngũ quả truyền thống là nải chuối xanh (thường là chuối tiêu, bòng, hoặc bưởi) và cam (hoặc quýt, hay quất). Còn lại, thì tuỳ theo điều kiện cụ thể và đặc điểm của từng vùng, miền mà thêm vào, cốt sao cho đủ số loại. Ở các tỉnh phía Nam, thường là cặp dưa hấu, dừa, mãng cầu, đu đủ và xoài. Tại sao lại giới hạn ở “Ngũ” (5) về số loại? Liệu có phải là ngẫu nhiên, hay (con số 5) còn bao hàm một ý nghĩa đặc biệt nào đó? Trước khi tìm lời giải đáp cho câu hỏi khá thú vị này, chúng ta thử cùng nhau tìm hiểu xem con số 5 có vị trí như thế nào trong tự nhiên và trong đời sống xã hội:

Người ta có ngũ tạng (theo quan niệm của Đông y) là: Tim, gan, lá lách, phổi và thận.

Có ngũ quan (5 giác quan) là: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác.

Bàn chân, bàn tay (không kể trường hợp bị dị tật): Đều có 5 ngón.

Tướng pháp (phép xem tướng) có ngũ nhạc: Trán là Nam nhạc, cằm là Bắc nhạc, quyền trái là Đông nhạc, quyền phải là Tây nhạc, mũi là Trung nhạc.

Có ngũ quan: Hai lông mày là Bảo thọ quan, hai mắt là Giám sát quan, hai tai là Thám thính quan, mũi là Thẩm biện quan, miệng là Xuất nạp quan.

Lại có tướng ngũ trường: Đầu dài, mặt dài, thân dài, tay dài, chân dài.

Và tướng ngũ đoản: Cũng bao gồm những bộ phận như trên, nhưng ngược lại, đều ngắn.

Đi sâu hơn nữa, còn có ngũ lộ: Nhãn (mắt) lộ, ti (lỗ mũi) lộ, nhĩ (tai) lộ, khẩu (miệng) lộ, yết (hầu) lộ.

Rồi ngũ tú: Cốt tú, nhục tú, huyết tú, khí tú, chất tú.

Ngũ hợp: Thiên địa tương hợp, Thiên quan tương hợp, Thiên tâm tương hợp, Thiên cơ tương hợp, Thiên luân tương hợp.

Ngũ tuyệt: 5 tạng đều tuyệt (tướng sắp chết)

Nói về kiến trúc: Nhà ở, người ta thường làm 5 gian. Nếu 3, thì vẩy thêm 2 cái chái, gọi là ba gian hai chái.

Phật giáo có ngũ giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói càn, không uống rượu, ăn thịt.

Tín ngưỡng, có tục thờ quan ngũ dinh (5 ông hổ)

Đối với tổ 5 đời, người ta lấy gỗ mơ rồi khắc (hoặc viết) họ tên, năm sinh, năm mất lên đấy làm bài vị để thờ, gọi là: “Ngũ đại mai thần chủ”

Đời người, đến tuổi 50, đã biết được thế nào là mệnh Trời, cho nên mới có câu: “Ngũ thập tri thiên mệnh”.

Âm nhạc có ngũ âm (5 âm), ngũ cung: Cung, Thương, Giốc, Chuỷ, Vũ; Rồi ngũ liên: Chỉ tiếng trống đánh dồn dập, mỗi nhịp 5 tiếng.

Thơ có ngũ ngôn (mỗi câu 5 âm tiết); toán có ngũ giác (5 cạnh); màu có ngũ sắc (chính): xanh, vàng, đỏ, trắng, đen; sách có ngũ thiên tự (sách 5.000 chữ); hàng có ngũ kim (hàng ngũ kim – nói tổng quát); lại còn ngũ cốc, bao gồm 5 loại cây có hạt, dùng làm lương thực là: kê, đậu, ngô, lúa nếp, lúa tẻ.

Mở rộng thêm còn có 5 canh (trong đêm 5 canh, ngày 6 khắc), 5 cửa ô (khi nói về Hà Nội), rồi 5 châu (trong 4 biển 5 châu). Và hẳn không phải ngẫu nhiên mà biểu tượng của ngôi sao lại là 5 cánh.

Về lịch sử các triều đại, Trung Quốc có Ngũ đế (Hoàng đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn) bao gồm 410 năm (từ năm 2550 đến năm 2140 trước công nguyên).

Đời Xuân Thu (770 – 476 trước công nguyên) có ngũ Bá là: Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Công.

Sau này, có ngũ đại: Hậu Lương (907 – 923), Hậu Đường (923 – 936), Hậu Tấn (936 – 947), Hậu Hán (947 – 951), Hậu Chu (951 – 960).

Cuối cùng trở lại với nho giáo, có ngũ Kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu.

Nói đến nho giáo không thể không nhớ đến 5 mối quan hệ được thiết lập trong ngũ luân: Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn.

Và 5 đức trong ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Cửu ngũ (cửu ở đây có nghĩa là dương): Hào 5, dương của quẻ Càn (º) trong Kinh Dịch là hào tốt nhất trong quẻ (mà quẻ Càn lại là quẻ tốt nhất trong số 64 quẻ), vì vậy nó được dùng để chỉ ngôi chí tôn: Ngôi cửu ngũ – ngôi vua.

Triết học Trung Quốc cổ đại có ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ - là 5 nguyên tố cấu tạo nên vạn vật.

Đến đây, những thắc mắc về ý nghĩa của con số 5 được đặt ra ở đầu bài đã có lời giải đáp. Để kết thúc bài viết này, xin được kể thêm những cái “Ngũ” trong ngày tết: Ngoài mâm ngũ quả, trước bữa ăn, để khai vị còn có rượu ngũ sà. Sau khi ăn xong, tráng miệng có mứt ngũ vị. Chơi tam cúc, nếu lên bài được đủ 5 quân tốt đen (hoặc 5 quân tốt đỏ) gọi là ngũ tử (tuy là những quân có địa vị thấp kém nhất trong cỗ bài, nhưng nếu được ngũ tử, xin nhớ có quyền cướp cái). Cuối cùng, ngày tết chúng ta đều mong muốn và cầu chúc cho nhau được đủ ngũ phúc:

Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh./.

Edited by user Saturday, November 8, 2014 1:21:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#113 Posted : Wednesday, November 12, 2014 5:41:36 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Người Việt Nam viết đúng chữ Việt Nam: Chuyện i (ngắn) và Y (dài)



Trong những tranh luận về tiếng Việt, nhất là về chính tả, hẳn chúng ta đã được đọc nhiều bài viết về cách dùng hai chữ cái “ i “ và “ y “ trong nhiều năm qua. Cuộc tranh luận này dường như còn lâu lắm mới đến hồi kết thúc. Bài viết này không nhằm đưa ra một tranh luận mới, mà chỉ xin đưa ra một cái nhìn chung và những dữ kiện khách quan về vấn đề này.

Người viết bài đã sinh hoạt trong Ban Đại Diện các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California từ tám năm nay với các Khoá Huấn Luyện và Tu Nghiệp Sư Phạm hằng năm vào mùa hè. Trong Khoá HLTNSP năm 2003, nhân nói chung về những điểm vô lý trong chính tả tiếng Việt, chúng tôi cũng có đưa ra một số nhận xét về cách dùng i và y một cách khái quát. Gần đây hơn, vào Khoá HLTNSP năm 2011, trong một lớp nói về cách phát âm phụ âm của học sinh Mỹ gốc Việt, chúng tôi cũng được vài khoá sinh hỏi về cách dùng hai chữ này. Chúng tôi đã dùng cách “khôi hài hoá” vấn đề và trả lời như sau:

Cách dùng i hay y là tuỳ theo sự việc mà từ ngữ diễn tả. Khi hai vợ chồng bỏ nhau mà làm thủ tục êm xuôi, nhanh chóng, thì viết là li dị; nếu thủ tục rườm rà, có nhiều tranh chấp, kéo dài thời gian, thì viết là ly dỵ. Người chữa bệnh lâu năm, có nhiều kinh nghiệm thì gọi là bác sỹ; kẻ mới ra trường y khoa, chưa có kinh nghiệm, thì gọi là bác sĩ. Cũng vậy, loại bánh baguette dài thì viết là bánh mỳ, còn loại bánh ngắn thì viết là bánh mì, v.v. Cứ theo cách này, chúng ta sẽ tha hồ mà có muôn ngàn từ ngữ với i và y để diễn tả những khác biệt tinh tế về ý nghĩa của tiếng Việt.

Nhưng đấy chỉ là nói đùa cho vui mà thôi. Nếu nghiêm chỉnh mà nhìn vào vấn đề của i và y thì chúng ta thấy được những gì? Trước khi vào chuyện, chúng tôi xin được phép không đồng ý với một ý kiến là cách phát âm của i và y khác nhau. Theo ý kiến này, i đọc ngắn lại còn y đọc dài ra. Xin quý vị thử nghĩ, chúng ta có đọc ngắn chữ i trong chữ ti tiện và đọc dài chữ y trong chữ công ty không? Đó là chưa nói đến có một số chữ mà xem ra viết với i hay y cũng đều được chấp nhận, không nhiều thì ít, như quí báu hay quý báu (hay lại theo cái kiểu, quí có nghĩa là quí in ít, còn quý là quý nhiều nhiều?!!), hoặc là lâm li hay lâm ly, v.v.

Khi bàn đến ngôn ngữ, nếu chúng ta có thể dẫn chứng một vài ngôn ngữ khác để rộng đường dư luận thì cũng là một điều hay. Không riêng gì tiếng Việt mà tiếng Anh xem chừng cũng khá lúng túng với i và y. Trong một cuộc trao đổi ý kiến với một đồng nghiệp của chúng tôi là giáo sư Lâm Lý Trí, ông đưa ra một ví dụ trong tiếng Anh mà tôi rất lấy làm tâm đắc. Ông bảo ngay trong chữ city của tiếng Anh cũng đã có hai chữ đó sống chung hoà bình với nhau. Chúng ta biết rằng tiếng Anh là thứ tiếng có trọng âm (stress), và trong chữ city vần đầu có trọng âm. Nhưng như vậy thì hoá ra vần ci- có trọng âm phải đọc chữ i kéo dài, còn vần –ty không có trọng âm thì phải đọc chữ y ngắn lại hay sao? Và như vậy thì ngược với ý kiến trong tiếng Việt mà chúng tôi đã nêu trên.

Có quý vị sẽ bảo, Nhưng không thể lấy tiếng Anh hay một thứ tiếng nào khác để chứng minh một điều trong tiếng Việt! Điều này có thể đúng mà cũng có thể không đúng. Các ngôn ngữ trên thế giới có liên quan với nhau về nhiều mặt. Hẳn quý vị có biết một ngân hàng lớn ở Mỹ đã lấy tên là Citibank với chữ i, như vậy đủ chứng tỏ là i cũng thay thể y được, mà cách đọc của chữ mới này có khác với cách đọc của chữ city đâu?

Chúng tôi xin đưa thêm một ví dụ trong tiếng Anh nữa để chúng ta thấy là i và y thật ra có thể thay thế lẫn nhau trong rất nhiều trường hợp. Trong tiếng Anh, một trong những tiền tố (prefix) phủ định là dis-, có thể thấy trong rất nhiều chữ như disrespectful, dishonest, discontinue, v.v. Thế nhưng, đùng một cái, chúng ta thấy chữ dysfunctional viết với chữ y. Như vậy thì tiền tố dys- này có đọc dài hơn với tiền tố dis- hay không? Chắc quý vị đã có câu trả lời.

Trở lại với tiếng Việt, đặc biệt là chính tả tiếng Việt, chúng tôi xin nêu ra hai đặc tính căn bản trong chính tả, áp dụng không những cho chính tả tiếng Việt, mà cho bất cứ thứ tiếng nào có hệ thống chữ viết. Đặc tính thứ nhất của chính tả là tính tuỳ tiện (arbitrariness). Theo đặc tính này, người nói ấn định một dấu hiệu nào đó trong cách viết để biểu hiện một âm, một vần hay một chữ nào đó trong cách nói. Thí dụ như trong chính tả tiếng Việt, chữ p là để biểu hiện âm /p/. Sự biểu hiện này chỉ đúng với tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v., nhưng lại chẳng có nghĩa lý gì với một số tiếng khác.

Chẳng hạn như trong tiếng Tagalog (dùng ở Phi-luật-tân), chữ p có âm /f/ (như trong chữ pamilya, có nghĩa là gia đình), còn trong tiếng Nga, chữ p lại có âm /r/ (như trong chữ роза, có nghĩa là hoa hồng). Đấy, chính tả tuỳ tiện là ở chỗ đó. Không có chân lý tuyệt đối trong chính tả.

Đặc tính thứ nhì của chính tả là tính ước lệ (conventionality). Sau khi đã tuỳ tiện quy ước một dấu hiệu nào đó trong cách viết là để biểu hiện cho một âm, một vần, một chữ nào đó trong tiếng nói, những người cùng dùng chung một ngôn ngữ đồng ý với nhau về quy ước đó và cứ như vậy mà áp dụng. Tính ước lệ cũng thấy trong nhiều lãnh vực khác, như các bảng chỉ dấu hiệu đi đường.

Chúng ta đã quá quen với những bảng dấu hiệu đó và chỉ hiểu mỗi dấu hiệu theo một nghĩa duy nhất (theo ước lệ), mà không thể, hay không muốn hiểu theo một nghĩa nào khác nữa. Lấy ví dụ như tấm bảng mà chúng ta hiểu rằng “Thường có nai băng ngang” để cẩn thận trong khi lái xe trên những con đường ở vùng quê. Nhưng có thể có người lại muốn hiểu là “Ở đây có bán thịt nai” thì sao?!!

Biết được hai đặc tính của chính tả nói chung rồi, bây giờ chúng ta nhìn lại nguồn gốc của chính tả tiếng Việt. Chúng ta ai cũng biết là mẫu tự tiếng Việt dựa vào mẫu tự La-tinh, do một số nhà truyền đạo đem đến nước ta trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ. Những nhà truyền giáo này nói tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ-đào-nha, tiếng Tây-ban-nha, v.v. cho nên những quy ước trong chính tả tiếng Việt phần lớn dựa vào quy ước chính tả trong những thứ tiếng đó. Có những quy ước hợp lý, cũng có những quy ước vô lý, nên chính tả tiếng Việt thừa hưởng cả hai loại quy ước đó.

Trước hết, chúng ta cần trả lời câu hỏi có tính chất căn bản, i và y là nguyên âm hay là bán nguyên âm? Xét qua cách cấu tạo vần trong tiếng Việt, và cách thể hiện những vần đó qua chính tả, chúng ta phài trả lời là i có thể dùng như nguyên âm và cũng có thể dùng như bán nguyên âm; y cũng vậy, vừa dùng như nguyên âm, vừa như bán nguyên âm trong chính tả tiếng Việt.

Lấy ví dụ, i được dùng như nguyên âm trong những chữ đi, si, chia, chịu, v.v. Nó được dùng như bán nguyên âm trong những chữ như hai, coi, tươi, v.v.

Về phần y, chữ cái này được dùng như nguyên âm trong những chữ ý, quý, ỷ lại, v.v., và được dùng như bán nguyên âm trong những chữ nguyên, yên, hay v.v.

Rắc rối thật, phải không quý vị? Chẳng trách gì có một số người muốn bỏ phức chữ y đi, để “tiếng Việt càng ngày càng trong sáng” hơn! Thế nhưng sẽ có những người “bảo thủ” bắt bẻ, Nếu bỏ y đi thì tính sao với những chữ như thuý, tận tuỵ, phát huy, v.v.?!!! Bỏ thì thương, vương thì tội, rõ ràng là thế.

Nếu xét qua những thứ tiếng như Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, là những thứ tiếng mà chính tả được dựa vào để làm nên chính tả tiếng Việt, chúng ta sẽ thấy những thứ tiếng này cũng dùng i và y, có khi là nguyên âm, có khi là bán nguyên âm, y hệt như trong chính tả tiếng Việt vậy. Chẳng hạn như trong tiếng Tây-ban-nha và tiếng Pháp, có quy luật là hễ âm /i/ viết thành một chữ riêng biệt thì phải viết với y (và tiếng Việt của chúng ta cũng y như thế!)

Ví dụ: María y Juan (Maria và Juan – tiếngTây-ban-nha)

Ça y est! (Vậy đó! Xong rồi – tiếng Pháp)

Hay trong tiếng Tây-ban-nha, i và y đều có thể dùng như bán nguyên âm trong những trường hợp khác nhau. Ví dụ như trong chữ bien (nghĩa là hay, tốt đẹp), i được dùng như bán nguyên âm (tựa như chữ biên trong tiếng Việt vậy). Còn trong chữ huyen (có nghĩa là họ chạy trốn), y được dùng như bán nguyên âm (tựa như chữ huyên trong tiếng Việt).

Tuy nhiên, nhập gia thì tuỳ tục, khi vào đến chính tả tiếng Việt, ngoài những nét tương đồng với các thứ tiếng gốc La-tinh nói trên, i và y cũng được dùng theo một số quy ước riêng chỉ áp dụng cho tiếng Việt. Để tóm tắt một cách có hệ thống, sau khi quan sát cách dùng i và y trong chính tả tiếng Việt, chúng ta có thể thấy có những quy luật chính tả sau đây:

I. Cách dùng chữ i. Chữ i được dùng trong những trường hợp sau:

1. Dùng như nguyên âm đơn theo sau một phụ âm: mi, đi, phi, thi, mít, thịt, v.v.

2. Dùng như nguyên âm chính trong một nhị trùng âm: chia, chịu, quít, quì, v.v

3. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một nhị trùng âm: tiếc, kiếm, thiệp, v.v.

4. Dùng như bán nguyên âm sau trong một nhị trùng âm: hai, mái, coi, hơi, cúi, v.v.

5. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một tam trùng âm: chiếu, tiêu, kiểu, v.v.

6. Dùng như bán nguyên âm sau trong một tam trùng âm: cười, tuổi, chuối, v.v.

II. Cách dùng chữ y. Chữ y được dùng trong những trường hợp sau:

1. Dùng như nguyên âm trong những chữ chỉ có nguyên âm (không có phụ âm

trước hay sau): y, ỷ, ý, v.v.

2. Dùng như nguyên âm chính trong một nhị trùng âm có chứa bán nguyên âm /w/

(biểu hiện bằng chữ u): quý, thuý, luỹ, suýt, v.v.

3. Dùng như bán nguyên âm đầu trong môt nhị trùng âm trong những chữ không

bắt đầu bằng một phụ âm: yến, yếm, yết, v.v.

4. Dùng như bán nguyên âm đầu trong một tam trùng âm trong những chữ không

bắt đầu bằng một phụ âm: yêu, yểu, yếu, v.v.

5. Dùng như bán nguyên âm thứ nhì trong một tam trùng âm: nguyên, quyết,

chuyện, v.v.

6. Dùng như bán nguyên âm sau trong một nhị trùng âm: hay, đây, xay, v.v.

7. Dùng như bán nguyên âm sau trong một tam trùng âm: quay, xoay, quậy, v.v.

Quan sát cách dùng của i và y, chúng ta thấy y dùng nhiều hơn i trong một trường hợp, và có vài cách dùng của hai chữ cái này có vẻ trùng hợp nhau. Đó là lý do một số người muốn giản lược cách dùng, gộp hai thành một là vậy.

Tuy nhiên, có trường hợp i và y được “giao phó” cho một nhiệm vụ là phân biệt cách phát âm. Nhìn vào cách dùng (4) của i và cách dùng (6) của y, chúng ta thấy cấu trúc vần như nhau, nghĩa là nguyên âm + bán nguyên âm. Nếu đem hai chữ hai và hay ra so sánh, chúng ta sẽ thấy “nhiệm vụ” của i và y quan trong như thế nào. Tuy hai chữ hai và hay khác nhay ở cách viết i và y, sự thật là chỗ khác nhau trong cách đọc không phải ở i và y, mà là ở cách đọc chữ a đứng trước. Vô hình chung, có một quy ước như thế này:

• Khi a có i theo sau, ta có nguyên âm a đọc mở, hơi dài, như trong chữ tai,

sai, cai, v.v.


• Khi a có y theo sau, ta có nguyên âm ă đọc ngắn lại, như trong chữ tay,

say, cay, v.v.(viết là a mà kỳ thực là đọc như ă).

Một công dụng khác của i và y là giúp phân biệt hai loại nhị trùng âm cùng

dùng chữ u trong chính tả, nhưng có khi u là nguyên âm, có khi là bán nguyên

âm. Lại thêm một quy ước về i và y nữa. Quy ước đó như sau:

• Trong một nhị trùng âm mà u là nguyên âm và i là bán nguyên âm, nhị trùng

âm đó sẽ viết là ui: cúi, túi, lui, v.v.

• Trong một nhị trùng âm mà u là bán nguyên âm và i là nguyên âm, nhị trùng

âm đó sẽ viết là uy, thuý, quý, luỹ, suy, v.v

Nên nhớ, đây cũng chỉ là những quy ước thôi, và quy ước nào cũng có thể sửa

đổi. Tuy nhiên, qua các quy ước này, chúng ta cũng có thể thấy là i và y khá

có ích trong việc giúp phân biệt cách phát âm hay sự khác nhau giữa nguyên

âm và bán nguyên âm.

Đọc đến đây, chắc sẽ có một số quý vị phàn nàn, Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!

Nhưng câu chuyện này đi đến đâu? Giải quyết thế nào?

Xin thưa, quan điểm của chúng tôi là không sửa đổi, cải cách gì cả. Khi viết, chúng ta nên theo đa số, cách nào nhiều người dùng hơn thì chúng ta dùng (nếu chúng ta không muốn lập dị). Chúng ta cũng có thể tham khảo một số từ điển của những tác giả có uy tín để làm điểm tựa. Đành rằng cách dùng i và y phô ra nhiều điểm không hợp lý, nhưng còn biết bao nhiêu điều chưa hợp lý trong chính tả tiếng Việt đang chờ được giải quyết nữa? Xin đơn cử một ví dụ, chỉ với một âm /k/ mà chính tả tiếng Việt cần đến ba chữ cái là c, k và q để biểu hiện. Tại sao không viết kon ká thay vì con cá nếu cá ch nào cũngcó thể đọc ra cùng một âm /k/? Hay tại vì cách viết kon ká có vẻ “khó koi”?!! Nếu phải cải cách cách dùng ba chữ cái phụ âm này (chỉ dùng một chữ k cho tất cả các trường hợp), chắc chúng tôi sẽ viết ra một câu chuyện nhỏ như sau: Kô Kúk kwa nhà anh Kường rủ anh đi kâu ká. Anh Kường kẹt phải đi làm kiếm tiền nuôi lũ kon kòn nhỏ nên phải kiếu từ. Kô Kúk nghĩ anh Kường kiếm kớ không muốn kwen kô. Phen này kô Kúk kwuyết chinh phục trái tim khô kứng kủa anh Kường, để không hổ mặt giới hồng kwuần nhi nữ! Về ngôn ngữ, chúng tôi quan niệm là nó cũng bất toàn như biết bao điều bất toàn khác chung quanh chúng ta. Chúng tôi thường nghĩ đến việc cải cách chính tả như việc phái nữ (và cả phái nam) thích sửa sắc đẹp. Sửa xong cái mũi rồi, thấy đôi mắt chưa được to cho lắm, phải sửa thêm mắt. Sửa mắt rồi, thấy đôi môi chưa được chúm chím, lại phải bơm môi. Chuyện sửa sắc đẹp chắc cũng chẳng khác chi chuyện dài i và y, phài không quý vị? Thôi thì trời sinh sao để vậy. Cái đẹp lâu bền chính là cái đẹp tự nhiên.

GS Trần Chấn Trí

University of California, Irvine

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#114 Posted : Saturday, November 15, 2014 5:01:29 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)

UserPostedImage


UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 11/18/2014(UTC)
phamlang  
#115 Posted : Tuesday, November 18, 2014 5:55:54 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cái nôi của tiếng Việt

Cái gì linh thiêng lắm hoặc làm cho người ta phải sững sờ kinh ngạc vì cái tốt đẹp của nó mới là phép lạ. Cái gì xảy ra hằng ngày thì dù có tốt đẹp cách mấy, người ta cũng xem thường.

Vậy mà các bạn thử nghĩ coi, một em bé Cao-mên 3 tuổi nói tiếng Cao-mên lẻo-lẻo trong khi 78 triệu người Việt lại không nói được, còn em bé Việt 3 tuổi nói tiếng Việt được khá rành trong khi cả 6 ngàn triệu người trên thế giới lại không biết tiếng Việt là cái gì; nghĩ có lạ không? Vậy là phép lạ chứ gì! Phép lạ của tiếng nói loài người chỉ cần tình thương và vòng tay ấp ủ của người mẹ chịu khó bập bẹ cho con tiếng nói của mình. Từ cái bập bẹ thôi nôi vào đời đó mà sinh ra sau này cả mấy ngàn thứ tiếng nói khác nhau của nhân loại.

Xin mời các bạn nhìn qua bản đồ vùng Đông nam Á. Theo những hiểu biết mới mẻ nhất cuả khoa ngôn ngữ học hiện nay, con người xưa sống trên vùng đất này nói một thứ tiếng xưa gọi là tiếng nói của giòng họ Mon-Khmer. Tiếng nói này là một trong những cái nôi đầu đời của tiếng Việt.

Môn ( phải đọc là MÒN) là tên của một sắc dân sống bên Miến-điện phía đông nam Rangoon chừng một trăm cây số, gần bờ biển. Tiếng Mòn (còn phát âm là Môn hoặc Rman) là tiếng nói của họ. Độ chừng 1 triệu người Mòn sống ở đó và chừng gần một trăm ngàn sống ở một vùng nhỏ phía tây Bangkok khi họ chạy loạn qua đó trong vòng mấy trăm năm gần đây.

Tiếng Mòn đã có chữ viết từ năm 900 A.D. và hiện còn 800 bia đá bên Miến Địên khắc chữ Mòn và các thứ chữ xưa khác của Miến (xem hình một mẫu chữ Mòn). Chữ Mòn viết cũng như nói (viết theo mẫu tự a b c), có điều là họ viết theo cái cách riêng của họ mà thôi. So sánh sư phát âm của các từ Việt với Mòn (xem bảng đính kèm), ta thấy chúng giống nhau đến chừng nào! Vậy mà họ với ta không ai biết nhau cả và văn hóa họ không giống gì với văn hóa của ta!

Nhưng riêng người Miến và Thái thì không ngớt ca tụng cái gia tài văn hóa và ngôn ngữ mà người Mòn đã đem lại cho họ, luôn cả cái đất đai mênh mông của người Mòn mà người Thái và Miến đã chiếm lấy mà ở rồi xem thường những đòi hỏi của người Mòn về đất đai và quyền tự trị như là những quyền lợi không chính đáng!

Người Mòn cũng đã đắp nên không biết bao nhiêu là đền đài từ 1,500 năm nay, trên đất Miến và đất Thái mà xưa là của họ. Hiện nay người Miến và người Thái tu bổ giữ gìn rồi đắp cho lớn thêm và nhận là của họ!

Bước đường nam tiến của hai dân tộc Miến và Thái đã lấn át dân tộc Mòn suốt cả 1500 năm nay rồi rốt cuộc đã gần như tiêu diệt dân Mòn nhưng lại nhìn lạm luôn cái gia tài văn hóa,ø ngôn ngữ và văn tự của người Mòn! Lẽ tất nhiên là đã có hàng trăêm thế hệ Mòn/Miến/Thái lấy lẫn nhau, lai nhau và pha trộn máu và tiếng nói của nhau (mixing bloods and languages) để sinh ra tiếng Miến và tiếng Thái hiện nay.

Còn Việt nam ta thì sao? Giưã Việt và Mòn xa lạ quá thì tại sao lại có chung tiếng nói? Đo ùlà vì từ lâu người ta cứ tưởng là cái nôi văn hóa của một dân tộc cũng là cái nôi ngôn ngữ của nó luôn! Tưởng vậy mà không phải vậy. Ngôn ngữ của một sắc dân nào cũng rất là đa dạng ngay từ lúc đầu, nó do sự đóng góp của nhiều ngôn ngữ của các bộ lạc đã tạo nên sắc dân đó qua thời gian dài dằng dặc.

Một thí dụ rõ ràng là tiếng Pháp và người Pháp. Hồi xưa người Gaulois nói tiếng Gaulois, nhưng bây giờ con cháu họ là người Pháp đâu còn nói tiếng Gaulois nữa, dù là một tiếng cũng không còn, mặc dầu họ vẫn tự hào (sic) là con cháu người Gaulois! Thật ra, người Pháp đâu phải chỉ là con cháu của người Gaulois xưa mà thôi, họ còn là con cháu của biết bao sắc dân khác nữa, nào là người Ibérian, người Visigoths, người Franks (ở vùng Đức bây giờ qua), người Vandals, người Burgundy, người Lombards. Những tiếng nói xưa của các bộ lạc đò đã chết đi để trở thành tiếng Pháp (xưa) rồi tiếng Pháp xưa đã bị bứng mất gốc bởi tiếng Latinum, vì người Pháp xưa đã bỏ rơi tiếng nói của ông bà họ mà hè nhau đi nói tiếng nói của người La-mã là giống người đã chinh phục họ 2000 năm về trước!

Cũng may, chúng ta không thế, chúng ta vẫn còn nói tiếng nói xưa của ông bà ta từ hồi nào đến giờ, lẽ tất nhiên là với nhiều thay đổi qua sự chung đụng với nhiều sắc dân khác như Thái, Lào, Khmer, Mòn, và n Chàm và luôn cả với các sắc dân khác trên dãy Trường-Sơn hùng vỹ (mà ta gọi bằng nhiều cách khác nhau: người Thượng, người Mọi, dân tộc ít người, bộ lạc thiểu số v..v...)

Chú-ý: Mọi chỉ là đọc trẹ theo Mwoi, tiếng Mon-Khmer, có nghĩa là một nhóm người, tương đương với “ bộ-lạc”. Người Thượng thường nói là họ chia ra thành từng mwoi khác nhau[groupe d’hommes/ tribe]

Bây giờ xin nói về tiếng Khmer, mà trong giới ngôn ngữ học hiện nay ai cũng công nhận là tiếng nói thôi nôi thứ hai cho tiếng Việt, ngoài tiếng Mòn ra; vì vậymà họ cho là tiếng Việt ta thuộc giòng Mon-Khmer. Có người cho là tiếng Khmer không thể thôi nôi cho tiếng Việt được vì nó không có dấu giọng. Thật ra tiếng Việt xưa cũng không có dấu luôn và đã lần lần có dấu qua 2000 năm. Lúc đầu là có hai dấu (đúng ra là hai âm-vực cao và thấp) rồi mỗi âm vực phát triển ra ba dấu giọng (huyền ngã nặng và hỏi sắc không /theo ông Haudricourt, một nhà ngôn ngữ học người Pháp).

Sự thực phức tạp hơn thế nhiều, vì trong khi tiếng Việt miền Bắc chịu ảnh hưởng của tiếng Quảng Đông và tiếng Miao nằm phía trên Bắc Việt mà có thêm dấu ngã thì tiếng Việt miền Trung, nhất là miền Bắc Trung Việt, đang còn chậm chân vì bị ảnh hưởng nặng nề hơn của tiếng Lào Thái nên không phát âm ra dấu giọng ngã được (người Lào Thái cũng chỉ có năm dấu giọng, không có dấu ngã) vì vậy mà tiếng Việt miền Trung bị hiểu lầm là không chịu phân biệt (sic) hỏi ngã, làm như thể người miền Trung cố tình biết mà không chịu nói ra!

Cũng thế, tiếng miền Trung không phân biệt /c/ với /t / ở cuối một từ không phải vì họ muốn vậy, mà vì tiếng Lào và tiếng Thái đã ảnh hưởng nặng nề về phát âm và nhấn giọng đến tiếng miền Trung), nên cũng đã không phân biệt được ( thí dụ tiếng Thái và Lào đều viết và phát âm là “đặêk” (øto put) y hệt như phát âm miền Trung “Đặc”(trừ ra phát âm Quảng-trị) Tiếng Miên cũng vậy, phát âm và viết đều là đăk (to put ).

Chúng ta đang ở một địa hạt tế nhị mà chữ viết, theo ông Leonard Bloomfield, thay vì giúp cho ta tìm hiểu rõ hơn về cái tiếng, lại làm trở ngại cho sự tìm hiểu, vì cái chữ đã gò bó cái từ và gây ra ngộ nhận như trong trường hợp trên. Cũng như có nhiều hiểu lầm về ý nghĩa giưã Hán-Việt và Việt, do sự phát âm giống nhau như Lang bạt trong tiếng Việt thì có một ông học giả Hán Việt cho rằng đó là do mấy chữ lang bạt kỳ hồ trong tiếng Tàu mà ra (sic). Nếu có ai hỏi tại sao lại có mấy chữ kỳ hồ xen vào đó làm gì thì họ lờ đi, cũng như nôm na thì có người bảo là do chữ nam của Tàu,(sic) có nghĩa là thuộc miền nam, phương nam; vậy thì na là gì? họ bí nên họ cũng lờ luôn.! Sự khác biệt râùt nhiều giữa giọng nói, phát âm, ngữ vững cùng là những khác nhau trong cách viết chữ Việt của ba miền là một hiện tượng phản ảnh sự biến chuyển “không đồng bộ” (asynchronic) của ba miền tiếng Việt, vẫn là một bí mật ngôn ngữ rất lớn, không dễ gì giải thích một cách quá sơ sài như ta thường được nghe. Phải có một sự nghiên cứu sâu rộng vào mọi khía cạnh của ngôn ngữ ba miền và so sánh với tất cả những ngôn ngữ anh em khác ở khắp Đông Nam Á, họa may ra mới có sự giải thích hợp lý.

Thật ra, tiếng Khmer và tiếng Việt giống nhau đến mức kinh ngạc, chỉ cần so sánh bảng từ ngữ Khmer-Việt sau đây (xem bảng). Theo thống kê, có cả 30 phần trăm từ ngữ Việt giống với từ ngữ Khmer chứ không riêng gì vài chục từ trong bảng đó. (Quyển Từ điển nguyên ngữ tiếng Việt sắp xuất bản sẽ đem lại sự hiểu biết thích thú cho bạn đọc về nguồn gốc cuả chừng 27,000 từ đơn và kép trong tiếng Việt của chúng ta.)

Vùng đất sống hiện nay của người Khmer đã bị thu hẹp lại rất nhiều nếu chúng ta biết rằng khi xưa, khoảng 2000 năm về trước, vùng đất của họ bao gồm một phần lớnù Thái và Lào hiện nay thì ta dễ hiểu hơn tại sao ngôn ngữ học quốc tế lại ghép tiếng Việt vào cái nôi Khmer!

Thật ra không phải chỉ có tiếng Mòn và tiếng Khmer mới thôi nôi cho tiếng Việt mà các thứ ngôn ngữ khác ở Đông nam Á cũng theo giòng thời gian mà ảnh hưởng và dính líu đến nhau đểõ hình thành và đào tạo ra tiếng Việt hiện nay.

Nguyễn Hy Vọng, MD.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#116 Posted : Tuesday, November 18, 2014 5:59:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiếng Việt dồi dào


Tiếng Pháp thì nói : lent, lentement, avec lenteur, au ralenti, ralentir, tard, attardé, retardé, …

Tiếng Anh Mỹ thì : slow, slowness, to slow down, sluggish, tardive, …

Tiếng Việt : chậm chạp, chậm rì, rù rờ, lù đu, lù rù, kề rề cà rà, kề cà, con cà con kê, chậm lụt, chậm trễ, trễ nãi, bê trễ, trì trệ, trì hoãn, hoãn đai - chúng ta thấy tiếng Việt có rất nhiều cách nói, còn nhiều hơn cả tiếng Anh Mỹ lẫn tiếng Pháp; .đó là chưa kể những tiếng Việt ghép với lòng # 250 tiếng, làm cho chúng ta có rất nhiều cách để bày tỏ nỗi lòng [xem bảng kê], con số đó nhiều hơn tiếng Pháp cả 10 lần !

Các bạn hãy làm bảng kê với tiếng Anh Mỹ [heart, feeling, sentiment …] xem đuợc bao nhiêu ?!

Có nguời thắc mắc không biết dịch positive ra tiếng Việt thế nào, cho là tiếng Việt nghèo; thật ra có cả hàng chục cách :

quả quyết, chắc chắn, quả thật, thật là, vững tin, vững chắc, tin chắc, tin tưởng, xác đáng, thấy rõ là, nhấn mạnh, lạc quan, tốt đẹp, xây dựng, đáng khích lệ, đáng mừng, đáng khen,

[còn nhiều nữa tùy theo cái sức hiểu biết tiếng Việt của chúng ta].

Phải hiểu rằng tiếng Việt là một thứ tiếng ghép ý, ghép từ, ghép tiếng, ghép chữ y hệt như các tiếng nói khác vậy thôi nhưng mà cách ghép thì khác:

paradoxically………. một cách mâu thuẫn

grammaticalement ……..về văn phạm

[cái ý vẫn thế, cách ghép ý thì mỗi nơi mỗi khác !]

Quan niệm cho là tiếng Âu Mỹ là đa âm, tiếng Việt là đơn âm, độc âm là một quan niệm sai lầm vì quá chú trọng đến cái âm mà không biết rằng cái ý nghĩa mới là quan trọng hơn cả, khi nào diễn tả cái ý ra trọn vẹn thì mới gọi là ngôn ngữ.

Một nửa dân Việt thì phát âm, đọc như thế này :

"buồn chông cửa bệ chiều hôm,

thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

buồn chông ngọn nước mới xa,

hoa chôi man mác biết là về đâu,

buồn chông ngọn cỏ zầu zầu

chân mây mặt đất một mầu xanh xanh,

buồn chông zó cuốn mặt ghềng,

ầm ầm tiếng xóng kêu quanh ghế ngồi"

trong khi nửa kia của dân Việt thì đọc, nói là :

"buồng trông cửa bể chiều hôm

thuyềng ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

buồng trông ngọnk nước mới sa

hoa trôi mang mác biếc là về đâu

buồng trông ngọnk cỏ jầu jầu

châng mây mặk đấk mộk màu xanh xanh

buồng trông gió cuống mặk ghềnh

ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

Vậy mà đều hiểu một cách giống nhau. Tại sao?

Vì là cái âm, cái tiếng, cái lời nói đi vào lỗ tai ta chưa làm cho ta hiểu đuợc ngay, cái chữ đi vào mắt ta cũng vậy thôi, chỉ sau khi cái satna suy nghĩ của đầu óc ta đem lại cái satna tư tưởng thống nhất tổng hợp góp chung ý nghĩa lại khi ấy 80 triệu người Việt mới hiểu là thơ Kiều ! À hé !

Cái giàn máy tinh vi đó, lạ thay, lại chỉ có một người điều khiển khi ta từ 1 tuổi cho đến 5 tuổi, đó là người trong gia đình ta, mẹ cha anh chị họ nói và ta bắt chước làm theo, làm trước rồi mới hiểu sau : ăn uống, chạy, nhảy …Cái tiếng mẹ đẻ quả thật là cái tiếng của mẹ dạy cho

Con số từ ngữ ghép trong tiếng Việt cũng nhiều hơn là trong tiếng Pháp hay tiếng Anh, một bằng chứng về tiếng Việt dồi dào từ ngữ không thua kém một ngôn ngữ nào khác trong thế giới, bà mẹ Việt không thua mà cũng không hơn bà mẹ nào khác, cũng thì ăn, uống mà có # 6000 cách khác nhau để nói lên nói xuống cái động tác ấy vì vậy mà sinh ra 6000 tiếng nói của loài nguời !

Bộ Từ Điển nguồn gốc tiếng Việt này đã đếm đuợc # 250 ngàn tiếng Việt ghép đôi, ghép ba hay bốn nữa, cũng nhiều như bất cứ một từ điển lớn nào của Anh Pháp Mỹ; và đó là một sự thực mà chúng ta ít biết, vì ta cứ phàn nàn là tiếng Việt của chúng ta nghèo, trong khi chính chúng ta "nghèo tiếng Việt" mà không biết, chúng ta vụng múa mà lại chê đất lệch !

Còn cụ Nguyễn Du thì không vụng tí nào, phải không các bạn ?.

Bs Nguyễn hy Vọng

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#117 Posted : Wednesday, November 19, 2014 6:06:56 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

Edited by user Wednesday, November 19, 2014 6:08:00 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 12/7/2014(UTC)
CatLinh  
#118 Posted : Saturday, November 22, 2014 3:42:46 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 12/7/2014(UTC)
Hạ Vi  
#119 Posted : Monday, November 24, 2014 6:20:29 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
.

Đừng Quên Ngôn Ngữ Mẹ Đẻ


Mỗi khi tôi nói tiếng Việt, thì mọi người rất là ngạc nhiên và nói với tôi rằng: Con là Mỹ hay là Việt Nam? Sao con nói được tiếng Việt giỏi vậy? Thật ra ba tôi là người Mỹ gốc Viêt, chắc vì lẽ đó mà tôi cũng phần nào nhìn giống người Mỹ nên mọi người thường nghĩ rằng tôi không biết tiếng việt. Sinh ra và lớn lên ở Mỹ, mẹ hay nhắc nhở tôi rằng phải cố gắng học tiếng Việt vì mình là người Việt Nam, dù đi đâu hay ở đâu cũng phải luôn luôn nhớ và nói tiếng mẹ đẻ của mình. Vì vậy, từ nhỏ tôi đã được mẹ đưa đến sinh hoạt ở chùa . Đi học ở trường Việt ngữ và tụng kinh mỗi tuần đã giúp tôi biết đọc và nói tiếng Việt. Sống bên Mỹ, tôi thấy trẻ em sinh ra và lớn lên ở đây ít ai có thể đọc hay viết tiếng Việt. Tôi đã từng nghĩ rằng, bên Mỹ thì chỉ cần biết tiếng Anh thôi, biết tiếng Việt thì có ích gì? Nhưng bây giờ tôi mới hiểu ra rằng, biết và đọc được tiếng Việt đó là một điều rất tốt, tôi tự hào nói với mọi người rằng tôi là người Việt Nam.


UserPostedImage


Lần đầu tiên đến chùa, bước chân vào lớp Việt ngữ, tôi giống như một đứa học sinh mẫu giáo. Tôi không biết đọc hay viết một chữ nào. Lúc đó tôi có một em bà con bạn dì đã giúp tôi làm bài. Khi viết bài chính tả, tôi thường hay chép bài của em ấy. Chính vì vậy, mà tôi không học được gì cả. Và khi tụng kinh, tôi chỉ lép nhép cái miệng để mọi người nghĩ rằng tôi biết tụng kinh. Nhưng thật ra tôi chỉ nhép miêng mà thôi. Một năm trôi qua, tôi đã dần dần biết nhiều hơn trước. Trong vòng hai năm, ngồi nghe tụng kinh riết tôi cũng đã thuộc hết những bài kinh và cũng đã không chép bài của em mình nữa. Vào năm thứ ba thì tôi cũng đã nói, viết và đọc thông thạo. Ít lâu sau, trường Việt ngữ đã đóng cửa vì không còn ai chịu đi học. Tôi rất buồn khi biết trường đã đóng cửa vì ít nhiều gì tôi cũng học hỏi được nhiều điều từ ngôi trường thứ hai này, ở đây chúng tôi không những học tiếng Việt không thôi mà còn học được cách ứng xử với người và sự việc nữa. Cảm ơn ngôi trường thứ hai của tôi.

Tuy trường Việt Ngữ đã đóng cửa, nhưng tôi vẫn đi chùa mỗi tuần. Tôi đã rất mến cái chùa này và mọi người ở đó, họ rất vui vẻ và gần gũi. Khu nhà của tôi ở có rất nhiều người Việt lớn tuổi không biết tiếng Anh cho nên mọi người hay nhờ tôi giúp họ về việc thông dịch. Khi giúp được mọi người thì tôi cảm thấy rất là tự hào với bản thân mình. Biết được hai thứ tiếng không chỉ giúp được cho bản thân mình, mà còn giúp được cho người khác. Vì vậy, khi lên đại học, tôi đã đăng ký vào lớp Tiếng Việt tại trường University of Georgia (UGA). Mặc dù tôi đã biết tiếng Việt, nhưng mà tôi vẫn muốn tiếp tục học vì còn nhiều từ ngữ và văn hóa của Việt Nam mà tôi chưa bao giờ biết đến.


UserPostedImage


Khi lên đại học, tôi đã ít đi chùa vì trường đại học rất xa. Có khi hai ba tuần mới có dịp về nhà, lúc đó tôi dành một ít thời gian để đến chùa. Mặc dù không đi chùa thường xuyên như trước, ít giao tiếp với nhiều người Việt Nam hơn, tuy nhiên tôi vẫn và đang cố gắng trao dồi thêm kiến thức tiếng Việt của mình bằng cách giao tiếp nhiều với những người bạn Việt tại trường. Đến UGA thì tôi đã tham gia vào nhóm Vietnamese Student Association (VSA). Trong nhóm này, tôi đã gặp được những người bạn Việt Nam và tham gia trong những sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại Georgia. Còn trong lớp tiếng Việt, cô giáo dạy cách nói và viết cũng như thành ngữ. Vào dịp Tết, chúng tôi còn học về tập quán và món ăn Việt. Cô Giáo không chỉ muốn chúng tôi biết ngôn ngữ, mà còn muốn chúng tôi phải biết học hỏi về những ngày lễ truyền thống và phong tục của Việt Nam. Như vậy chúng tôi mới hiểu được văn hóa của Việt Nam phong phú như thế nào.

Tôi thấy mình rất là may mắn, điều đầu tiên là tôi có cơ hôi được đến Chùa học tiếng Việt từ nhỏ. Điều may mắn thứ hai là sau khi chuyển đến học tại UGA thì tôi lại có cơ hội học tập thêm tiếng Việt tại trường. Bây giờ điều mà tôi phải cố gắng đó là học xong bằng cử nhân, ra trường, kiếm việc làm và báo hiếu lại cho cha mẹ. Và tôi cũng mong rằng, những ai là người Việt Nam sinh ra hay lớn lên tại Mỹ, thì hãy cố gắng học hỏi thêm tiếng mẹ đẻ của mình. “Con người có tổ, có tông, như cây có cội, như sông có nguồn”.



UserPostedImage


Tác Giả
Cindy Nguyen Huynh




.

Edited by user Monday, November 24, 2014 6:21:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 12/7/2014(UTC)
phamlang  
#120 Posted : Sunday, December 7, 2014 5:54:47 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bs Nguyễn Hy Vọng

"Khúc Nhạc Đồng Quê"


Nếu ta chịu bỏ công và thì giờ đi từ Bắc vô Nam, từ Lạng Sơn Cao bằng xuống lần lần qua từng làng xã, quận huyện mà vào tuốt tận mũi Cà mâu rồi sang từng làng xã Hà tiên Rạch giá… tại mỗi nơi ta ghi âm tiếng nói của nguời ở đó, ghi chừng 200 tiếng thuờng nói hằng ngày như là :

ăn ngủ ỉa đái, chạy nhảy leo trèo, tay chân mặt mũi, to nhỏ lớn bé, lâu dài xa gần, lên xuống qua lại v.v..

ta sẽ có được hàng ngàn những "mẫu ghi âm" như thế để so sánh và nghe được khúc nhạc đồng quê của tiếng Việt ba miền.

Nó như là một chuỗi âm thanh không âm nào giống âm nào mà cái nhìn chung thì cho đó là tiếng Việt ba miền, nhưng trong mỗi miền lại đã có hàng trăm cái giọng khác nhau với ít nhiều hiểu được hay không hiểu.

Điều này không lạ gì, vì tiếng nói nào cũng nhu vậy, tiếng Tàu, tiếng Tây, tiếng Anh Mỹ … nhưng nguời ta có nghiên cứu nhiều về chuyện đó, còn nguời Việt mình thì chưa có ai làm cả, cho đến nay.

Vì vậy sinh ra nhiều sự hiểu lầm về tiếng Việt ba miền, người thì nói là chỉ có một thứ ngôn ngữ cho nguới Việt, kẻ thỉ bảo là cách một rặng núi đã không hiểu nhau nói chi đến tiếng Việt Cà-mâu đem so với tiếng Việt ở Lạng-sơn.!

Có thật là cam quýt trồng chỗ đất này thì ngọt, chỗ kia thì chua nhưng cam vẫn là cam, quýt vẫn là quýt không ? Có thật là có một cái gì bất biến gọi là cái muôn đời của tiếng Việt không ?

Cái mà ta gọi là nguồn gốc đó có thật không? hay chỉ là một cách nói để che đậy cái thiếu hiểu biết của chúng ta về tiếng Việt?

Nếu bảo rằng người Việt gốc từ dân Yueh bên Tàu thì tại sao bây giờ chả ai biết dân Yueh nó nói tiếng gì?

Nếu bảo nguời Việt gốc Thái ? theo Maspero thì tại sao trong tiếng Việt có đến 28% tiếng Mon và Khmer trong đó ?

Nếu bảo người Việt thuộc gốc Mon Khmer [các nhà ngữ học đa số theo thuyết này] thì tại sao lại có 42% tiếng Thái Lào trong tiếng Việt ?

Nếu bảo nguời Việt là gốc Austro Asian thì nào có khác gì bảo tiếng Pháp thuộc gốc Âu châu ! hay con cá nó sống vì nước!

Thành thử ta phải xét đến cái nguồn gốc đa dạng của tiếng Việt mà chớ vội cho nó vào một nguồn gốc nào sớm quá.

Trước hết ta phải tìm cho ra nguồn gốc của từng tiếng một : chim, chuột, cá, cây, lá, mèo, chó, đi đứng chạy nhảy…

Phải tiếp tục tìm cho ra hết, không bỏ sót một tiếng Việt nào, dù là địa phương hay xưa hay ít nói … chúng nó có cả thảy 27400 tiếng [đơn, kép, ghép hai, ghép ba, ghép bốn]

Sau khi xong, phải đếm xem tiếng nào có nhiều nguồn gốc nhất {đó là lá / leaf, leaves],

Nó có đến 58 tiếng nói khác ở Đông nam Á cũng phát âm như vậy và cũng hiểu là lá !

Đã lạ lùng chưa? Có ai ngờ đến không ? Mà đó là sự thật [đón xem "Từ điển nguồn gốc tiếng Việt"]

Rồi thì đếm xem có bao nhiêu ngôn ngữ lớn nhỏ [nhiều hay ít nguời nói] đã dự phần, đã chung dòng chung gốc, chung nguồn chung cội với chừng ấy tiếng Việt : thưa , cả thảy là 58 tiếng nói !

Rồi thì hãy làm bản đồ xem thử chúng nó ở nơi nào trong thế giới loài người? thưa chúng nó đều ở cả vùng Đông nam Á chứ không hề ra khỏi vùng đó.

Rồi thì thử tìm xem bao nhiêu phần trăm tiếng Việt là gốc Thái, gốc Lào gốc Kampuchia, gốc Mã lai, v.v.. ?

Thưa , xem cái "bánh" ngôn ngữ này [linguistic cake] bạn sẽ tìm ra nhiều ngạc nhiên cho mình ! Bạn sẽ không ngờ mà tiếng Việt nó lại như vậy[sic] !!!

Thành ra ta có thể nói một cách chung là tiếng Việt ta có gốc Đông nam Á, vì cái gốc đó nó rải rác trên 1 triệu cây số vuông và # 400 triệu nguời nói, lớn gấp ba Viêt nam và đông gấp năm lần dân Việt !

Thế thì tại sao ta không nói được tiếng Miên , tiếng Thái v.v.. ? và tại sao họ nói ta không hiểu? Tại vì ta không chịu học, chỉ có thế thôi !

Cũng như nguời Pháp đâu có hiểu đuợc tiếng Anh, và người Anh Mỹ đâu biết nói tiếng Pháp ! mặc dầu cùng chung một nguồn gốc ?! Cũng chỉ có thế thôi! họ không chịu học tiếng nói của nguời khác.

Và ta sẽ thấm thiá cái câu chuyện trăm trứng trăm con của ông bà chúng ta, không hẵn là huyền thoại đâu. Đó là cái cách hiểu của nguời xưa, thật xưa, về cái tiếng nói khác nhau của con nguời.

Và thời gian, mấy chục ngàn năm là ít; đã là cái nguyên nhân làm ra cái khác nhau đó.

Các bạn cũng biết là tiếng nói nào cũng có độ vài ba chục ngàn tiếng thuờng nói là cùng.

Cho là 30 ngàn đi thì sau ba mươi ngàn năm đã thay đổi hẵn nếu mỗi năm chỉ khác đi một tiếng ! Thấy chưa ? Cái thời gian dài kinh khiếp đó đã làm cho ta không thể nào tưởng tượng ra đuợc là những thay đổi tí ti nhỏ giọt đó đã làm thay đổi hẵn bộ mặt lúc đầu của tiếng nói con người !

Nên ta đừng lạ là tại sao các tiếng nói con nguời lại khác nhau đến thế mà phải biết mừng cho chúng nó là sao còn giống nhau đến thế ?! Sau khi trải qua một thời gian thay đổi lâu dài [quá sức tưởng tượng của con người] .Giồng gì đâu ?! bạn sẽ hỏi thế ! giữa tiếng Việt - Miên ?! Này nhé, nều bạn khéo léo nhận xét một chút,

[Quyển "Từ điển nguồn gốc tiếng Việt" sẽ hướng dẫn cho bạn], thì hãy nói :

tay chân nguời Miên cung nói là đay châng

dơ tay lên thì nói là gio đay long !

đặt tay xuống // đặk đay xóh

đất đai // đai

đốt pháo // đôk phao

năm mới // ch-năm th-mây

một ngày mới // muôi th-ngày th-mây

luôn tay luôn chân // ruôl đay ruôl châng

Đó, chỉ có những biến đổi nhỏ nhặt như thế sau ba chục ngàn năm, bảo sao các nhà ngữ học không dồn tiếng Việt vào chung với tiếng Miên [Khmer] ?

Thật ra phải xem trọn 27400 tiếng một của Việt và lấy ra đuợc 28% chung gốc với Miên, thì bạn mới thấy được sự giống nhau hết biết luôn giữa hai thứ tiếng anh em đó, nhưng đó lại là một chuyện khác !

Tôi xin dừng lại và sẽ trình bày sự giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Mường trong lần tới. Sẽ có 58 lần như vậy vì tiếng Việt giống nhau với 58 thứ ngôn ngữ khác ở Đông nam Á, kể cả với tiếng Muờng, lẽ tất nhiên… vì các nhà ngữ học đều xem tiếng Muờng là tiếng "tiền Việt"vì không có tiếng nào giống tiếng Việt cho bằng nó !

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
11 Pages«<45678>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.