Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages«<34567>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#81 Posted : Wednesday, May 28, 2014 5:34:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Hãy trả·lại ý·nghĩa đích·thực của “từ Hán-Việt”



1. Tiếng/từ Hán-Việt theo đúng ý·nghĩa là gì?

2. Tiếng/từ Việt·nồm hay tiếng/từ Nồm là gì? Chúng khác với tiếng/từ Hán-Việt ra·sao?

3. Người Nhật tuy sử·dụng một phần Hán-tự trong chữ·viết Kan·ji của họ, nhưng văn·hoá Nhật không hề bị vẩn·đục với những lợn·cợn Trung·hoa.

Hãy trả·lại ý·nghĩa đích·thực của “từ Hán-Việt” và gọi các tiếng Hán đã được Việt·hoá với âm·hưởng Việt hoàn·toàn bằng tên mới là “tiếng Việt·nồm” hay tiếng Nồm (post-Nôm), và chữ·viết dùng chữ·cái La·tinh — cách viết khác hoàn·toàn với chữ Trung·hoa (Hán-tự) —để biểu·thị “tiếng Việt·nồm” hay “tiếng Nồm” là “từ Việt·nồm” hay “từ Nồm” (post-Nôm).

1. Từ Hán-Việt theo đúng ý·nghĩa là gì?

“Từ Hán-Việt” là những từ mà Người Việt chúng·ta vay·mượn của Người Trung·hoa, nói đúng hơn là các từ phiên·âm tiếng Quảng·đông, ghi bằng chữ·cái La·tinh và theo·cách Việt Nam. Đây chính là “từ Hán-Việt” thực·sự, đúng với ý·nghĩa của từ vì khi nghe chúng·ta nói các tiếng phiên·âm lơ·lớ này, chẳng·hạn như các tiếng “tỉm xắm”, “hủ tíu”, “mì chính”, “xì dầu”, “cản tán”, vv., Người Trung·hoa (Người Quảng·đông), ngay·cả đứa con·nít sẽ hiểu ngay là ta nói gì.

Mỗi ngày đều có hằng chục, hằng trăm từ·ngữ mới ra·đời do cuộc·sống xã·hội luôn biến·đổi, phát·triển cùng sự tiến·bộ của loài·người. Bản·thân ngôn·ngữ Việt cũng phải tự tạo thêm các tiếng mới, từ·ngữ mới để đáp·ứng với những đòi·hỏi mới phát·sinh từ những nhu·cầu mới. Việc vay·mượn một·số từ·vựng mới của các ngôn·ngữ khác·nhau để diễn·đạt những khái·niệm mới là điều không·thể·tránh·khỏi (unavoidability), nhất là trong thời·đại toàn·cầu·hoá.

Trong hơn 100 năm Việt Nam bị giặc Pháp đô·hộ, ngoài những “tiếng Hán-Việt” hay từ “Hán-Việt thực·sự”, đúng với ý·nghĩa đích·thực của nó, chẳng·hạn như “tỉm xắm”, “hủ tíu”, “mì chính”, vv., đã vay·mượn của tiếng Trung·hoa, Tiếng Việt còn có thêm các từ mới của Tiếng Pháp. Các từ vay·mượn (loan word) của Tiếng Pháp được tạo ra bằng cách phiên·âm một·cách gần·đúng các âm của tiếng Pháp tương·tự như cách mà chúng·ta phiên·âm tiếng Trung·hoa để tạo từ “Hán-Việt” (không phải từ Việt·nồm) hoặc cắt bớt một·số vần của Tiếng Pháp, chẳng·hạn như từ “ô·tô” (au·to-mobile, xe hơi), ngoài các “từ Pháp-việt” như “bù·loong” (boulon, ốc·vít), săm (chambre à air, ruột·bánh·xe), lốp (enveloppe d’une chambre à air, vỏ·bánh·xe), phanh (freiner, thắng), vv., chúng·ta còn có “từ Nga-Việt” như “Bôn·xơ·vít”, vv., và “từ Anh-Việt” như “công·ten·nơ” (container), vv.

Người Quảng·đông, Người Phúc·kiến, Người Triều·châu, vv., không hẳn là Người Hán. Họ nói tiếng Quảng·đông, tiếng Phúc·kiến, tiếng Triều·châu, vv., và đọc ký·tự Hán theo âm·giọng riêng, theo thổ·âm riêng của họ. Ngày·nay họ đã bị đồng·hoá hoàn·toàn, họ là Người Trung·hoa, do·vậy việc đặt·tên hay gọi·tên các tiếng đó là tiếng Hán-Quảng·đông, Hán-Phúc·kiến, Hán-Triều·châu, Hán-xxx, vv., là hợp·lý vì tiếng·nói của họ nay đã trở·thành phương·ngữ Trung·hoa.

Trong·khi·đó Người Việt Nam (Vietnamese), Người Cao·ly, Người Nhật·bản (Japanese) là những dân·tộc khác hằn với Người Hán. Nước Việt Nam (Vietnam), Nước Cao·ly (Bắc Triều·tiên và Nam Hàn) và Nước Nhật·bản (Japan) là những quốc·gia (nation) độc·lập, là quốc·gia láng·giềng của Trung·hoa, do·vậy việc “ba bó gom thành một giạ” mà xem các Tiếng Việt Nam (Vietnamese), Tiếng Cao·ly (Korean, 한국어) và Tiếng Nhật·bản (Japanese) là ngang·hàng với các tiếng Hán-Quảng·đông, Hán-Phúc·kiến, Hán-Triều·châu, Hán-xxx, vv., nghĩa là những phương·ngữ của Trung·hoa; điều này có hợp·lý và có nên chăng?!

Gọi các tiếng phi-Hán-Hoa (non-Han-chinese pronunciation) của các dân·tộc láng·giềng đọc Hán-tự theo âm·giọng riêng lần·lượt là tiếng Hán-Việt (漢越), tiếng Hán-Triều (漢朝) và tiếng Hán-Hoà (漢和) là điều không hợp·lý!? Có·lẽ Người Nhật sớm ý·thức được điều này nên họ nói là Hán-Hoà (漢和), chứ không nói là Hán-Nhật (漢日). Nếu nói theo cùng một luận·điệu lấy tiếng Hán làm ‘Trung’·tâm thì những tiếng mà Người Anh, Người Pháp, Người xxx, vv., đọc Hán-tự theo âm·giọng riêng của họ, ta gọi những tiếng này là gì (?), tiếng/từ Hán-Anh, tiếng/từ Hán-Pháp, tiếng/từ Hán-xxx, vv., chăng?

Vả·lại, có chắc Hán-tự là chỉ do người thuộc Hán-tộc tạo·ra hay không? Hay đây chỉ là một sự tiếm·danh của Người Hán, nhất là sau khi Tần Thủy Hoàng gồm·thâu lục-quốc và thi·hành chính·sách “phần thư khanh Nho” nghĩa·là “đốt sách và chôn sống học·trò” — dĩ·nhiên những người bị chôn sống không phải là Người Hán?

Hán-tự (Chinese character) hay chữ Hán (Chinese script) là loại chữ biểu·ý (?), thế·nhưng với hơn tám·mươi phần·trăm trong tổng·số ký·tự Hán được tạo·ra theo phép hình-thanh, điều này có·nghĩa·là (mean) trong mỗi ký·tự ngoài “phần hình” quy·định nghĩa, đều·có kèm·theo “phần thanh” quy·định cách·đọc hay cách·phát·âm (pronunciation). Có rất nhiều tiếng đọc theo âm Bắc·kinh không khớp với phần quy·định cách·đọc tiếng Hán của mỗi ký·tự, điều·này khiến chúng·ta nghĩ đến: Dân·tộc nào thực·sự là chủ·nhân của Hán-tự? Phải·chăng tiếng·nói (voice) của dân·tộc nào có nhiều từ·ngữ mà khi phát·âm thành tiếng hay âm·thanh (sound) phù·hợp với cách·đọc được quy·định trong mỗi ký·tự Hán là chủ·nhân của Hán-tự? Chúng·ta có·thể đi ngược thời·gian, ngược dòng lịch·sử lần·theo·dấu·vết (trace) của “phần thanh” quy·định cách·đọc hay cách·phát·âm này để truy·nguyên dân·tộc nào thực·sự là chủ·nhân của Hán-tự chăng? Tiếng·nói của một dân·tộc hoặc một phương·ngữ có cách·phát·âm hoàn·toàn khác hằn với cách đọc được quy·định trong mỗi ký·tự Hán không thể là chủ·nhân thực·sự của Hán-tự? Bạn nghĩ sao khi tiếng Bắc·kinh ngày·ngay (tiếng Hán hiện·đại) hoàn·toàn khác hẳn so·với tiếng Hán cách đây vài ngàn năm? và như·vậy tiếng Anh có·thể trở·thành tiếng Hán sau vài ngàn năm thay·đổi chăng?

2. Từ Việt·nồm hay từ Nồm là gì?

Người Việt (Vietnamese) từ ngàn xưa đã có tiếng·nói riêng của mình. Tiếng Việt (Vietnamese) có từ·pháp riêng, ngữ·pháp riêng, cú·pháp riêng, văn·phạm riêng và có cả chữ·viết (script) riêng — đó là chữ “Khoa·đẩu” — trước khi bị Trung·hoa đô·hộ.

Tiếng Nôm là tiếng thường được chúng·ta gọi là tiếng thuần Việt — gồm tiếng Kinh (Việt) và tiếng gốc Nam-Á — chúng·ta có 7.164 tiếng Nôm đơn (bao·gồm tiếng có·ý·nghĩa và tiếng không·ý·nghĩa) và được ghi bằng 31.577 Nôm-tự hay ký·tự Nôm (Nôm character) tuỳ theo ý·nghĩ của mỗi tiếng. Ví·dụ ‘lu·xu·bu’ là một tiếng Nôm có·ý·nghĩa do ba tiếng không·ý·nghĩa ‘lu’, ‘xu’ và bu’ hợp·thành. Các nhà·ngôn·ngữ gọi ‘lu·xu·bu’ là từ đa·âm·tiết (polysyllabic word), nói chính·xác hơn, nó là từ tam·âm·tiết (trisyllabic word) gồm·có ba âm·tiết (syllable) ‘lu’, ‘xu’ và bu’.

Sau khi thôn·tính Nước Việt Nam (Vietnam), Người Trung·hoa đã mang Hán-tự (Han character) vào Việt Nam. Hơn ngàn năm nội-thuộc Nước Trung·hoa, Người Việt phải học Hán-tự… nhưng do tinh·thần quật·cường, chúng·ta phát·âm (pronounce) theo âm Việt của mình thay vì âm Trung·hoa, điều này đã phát·sinh ra ngôn·ngữ mới song·song với Tiếng Nôm bản·địa của Người Việt; đó là tiếng Việt·nồm hay tiếng Nồm (post-Nôm).

Hơn ngàn năm gạn·lọc, trau·chuốt, đấu·tranh sinh·tồn với ngôn·ngữ Trung·hoa, cách phát·âm Trung·hoa đã phai nhạt dần, cho·dù chúng·ta có đọc một câu bằng được viết bằng Hán-tự “我 爱 我 的 语 言” với từ·pháp ngược, ngữ·pháp ngược, cú·pháp Trung·hoa và văn·phạm Trung·hoa, nhưng theo giọng Việt, âm Việt là “Ngã ái ngã đích ngữ ngôn”, Người Trung·hoa có nghe cũng không hiểu Người Việt mình muốn nói gì. Cùng một Hán-tự, nhưng nó được Người Việt phát·âm thành nhiều tiếng, nhiều âm khác nhau, tuỳ·theo nghĩa của chúng. Do đọc Hán-tự theo âm Việt, giọng Việt, một việc làm vô·tình hay cố·ý này đã hình·thành một ngôn·ngữ mới không còn là tiếng Trung·hoa nữa, thế·nhưng chúng·ta vẫn coi đây là tiếng Trung·hoa và thường gọi một·cách vô·ý·thức là “tiếng Hán-Việt!!” hoặc “từ Hán-Việt!!”.

Nói rõ hơn, tổng·số âm đơn hay tiếng đơn tạo·thành toàn·bộ tiếng Trung·hoa là 1.307 nếu nói theo âm hay tiếng Bắc·kinh (Beijing pronunciation), và tổng·số âm·thanh này được ghi bằng 9.812 ký·hiệu (notation) hoặc ký·tự (character) tuỳ·theo ý·nghĩa của chúng, trong khi đó cũng cùng một số·lượng (quantity) Hán-tự, Người Việt chúng·ta phát·âm thành 2.033 tiếng đơn (tiếng Nồm đơn) với âm·hưởng hoàn·toàn Việt Nam — vì·thế chúng·ta không nên gọi chúng là “từ Hán-Việt”.

Chúng·ta có·thể ví quá·trình hình·thành và phát·triển của phần tạm gọi là “tiếng Hán-Việt!!” của Tiếng việt·nam (Vietnamese) ngày·nay với hình·ảnh con nhộng xấu·xí đã chui ra khỏi cái kén, lột xác trở·thành cánh bướm với vẻ·đẹp muôn màu, tung·tăng khắp nơi. Ngày·nay, chúng đã trở·thành Tiếng Việt với âm·hưởng Việt hoàn·toàn, chữ·viết, cách viết khác hoàn·toàn với Tiếng Trung·hoa, thế·nhưng chúng·ta vẫn gọi chúng là “tiếng Hán-Việt!!” hay “từ Hán-Việt!!” theo thói·quen một·cách vô·ý·thức là một hiểm·hoạ chăng? Tại·sao một·số chúng·ta vẫn cứ muốn chui trở·lại vào chiếc kén chật hẹp này? Có bao·giờ bạn nghĩ rằng đây là điều phi·lý và nó cần được đánh·giá và suy·nghĩ lại? May·thay cũng có một·số không ít người gọi chúng là “tiếng Nho-Việt” hay “từ Nho-Việt”. Tôi gọi tiếng·nói đã được lột xác, đã được hoá·kiếp này, chẳng·hạn như “điểm·tâm”, “miến”, “vị·tinh”, vv., là tiếng Việt·nồm hay tiếng Nồm (post-Nôm) hay tiếng Nam để chỉ các âm đọc các ký·tự Hán theo âm Việt, khác với âm đọc của phương Bắc chỉ Trung·hoa.

“Tiếng Việt·nồm” hay “Tiếng Nồm” là ngôn·ngữ mới bổ·sung và làm phong·phú thêm “Tiếng Việt·nôm” hay “Tiếng Nôm” — chúng·ta thường gọi “Tiếng Nôm” này là tiếng thuần Việt bao·gồm tiếng Kinh (Việt) và tiếng gốc Nam-Á — là sự phản·kháng trước sự xâm·lăng văn·hoá của Trung·hoa, là sự đồng·hoá ngược·lại ngôn·ngữ Trung·hoa, là chiến-lợi-phẩm, là chiến-tích oai·hùng của ông·cha chúng·ta; đây không phải là tiếng vay·mượn. Khi dùng chữ·cái La·tinh để ghi các tiếng Việt·nồm hay tiếng Nồm — những tiếng mà Người Việt đọc Hán-tự theo âm Việt, giọng Việt, một trăm phần·trăm Việt từ hình·thức đến nội·dung — chúng trở·thành chữ·viết Việt. Chúng·ta gọi chữ·viết Việt mang hệ·thống ý·nghĩa riêng của Tiếng Việt này là từ Việt·nồm hay từ Nồm (Nồm word). Tiếng Việt·nồm phát·triển theo quy·luật mang tính hệ·thống, tính nội·sinh theo hệ·thống riêng, ngữ·dụng (pragmaticality) riêng của ngôn·ngữ Việt, chứ không phát·triển theo ngôn·ngữ Trung·hoa.

Những tiếng mà Người Việt·nam phát·âm lơ·lớ hay nhái gần·đúng tiếng Trung·hoa, chẳng·hạn các tiếng như “tỉm xắm”, “hủ tíu”, “mì chính”, “xì dầu”, “cản tán”, vv., Người Trung·hoa, ngay·cả đứa con·nít, khi nghe chúng·ta nói những tiếng Hán-Việt này, họ hiểu ngay ta nói gì. Đây chính là tiếng vay·mượn, đây chính là “tiếng Hán-Việt” đích·thực hay nói chính·xác hơn, đây là tiếng Hán được đọc theo âm Hán (Quảng·đông) và được Người Việt bê·nguyên·si vào ngôn·ngữ Việt . Khi dùng chữ·cái La·tinh theo cách của Người Việt·nam để ghi (phiên·âm) âm·nói hoặc âm·đọc các ký·tự Hán theo âm Hán, chúng·ta gọi chúng là “từ Hán-Việt”.

Cái tên “từ Hán-Việt!!” — đã và đang bị lạc·dẫn để chỉ chữ·viết Việt dùng chữ·cái La·tinh để biểu·thị tiếng Việt·nồm hay tiếng Nồm, một trăm phần·trăm Việt từ hình·thức đến nội·dung — là rào·cản chính của bước phát·triển của ngôn·ngữ Việt. Tại·sao chúng·ta lại cứ cố bám·víu cách gọi “từ Hán-Việt!!”, lấy tên gọi của người làm của mình? Danh không chính thì ngôn không thể thuận được! Tại·sao chúng·ta tự mình đặt “chiếc vòng kim·cô — từ Hán-Việt!!” (theo ý·nghĩa tích·cực của nó) vào trên đầu của mình và cũng chính·mình lại phải vật·vả với nó như con·nghiện đói thuốc? Thật là nghịch·lý và vòng luẩn·quẩn!! Điều gì đã khiến chúng·ta không thể chọn một cái tên khác ngoài cái tên “từ Hán-Việt!!” để vô·hiệu·hoá ý·đồ nhằm biến Tiếng Việt thành một phương·ngữ Trung·hoa! Theo tôi, mỗi chúng·ta cần một suy·nghĩ mới, cái nhìn mới… trước·tiên là dùng lòng yêu·nước, quyền·lợi dân·tộc làm kính “tự chiếu yêu” để tự xác·định rõ điều gì, ý·nghĩ lệch·lạc gì đã níu·kéo, kìm·hảm sự phát·triển của ngôn·ngữ Việt nhằm tìm phương·cách gột·rửa ý·niệm “từ Hán-Việt!!” cũ, lạc·hậu, không phù·hợp với thời·đại, không hợp với quyền·lợi dân·tộc trong suy·nghĩ của mình và thay·thế nó bằng một định·nghĩa mới khoa·học, đúng·đắn và hợp·lý hợp·tình hơn.

Tóm·lại, hãy trả·lại cách gọi “từ Hán-Việt” để chỉ các từ phiên·âm tiếng Quảng·đông ghi bằng chữ·cái La·tinh và theo·cách Việt Nam cho Người Trung·hoa với ý·nghĩa đúng của nó. Các tiếng bính·âm theo âm Bắc·kinh (Beijing) các ký·tự Trung·hoa (Chinese character) theo cách pinyin của Người Trung·hoa, như ‘dimsum’, ‘wèi jīng’, vv., là tiếng Trung·hoa đích·thực. Cần chọn một cái tên khác ngoài cái tên “từ Hán-Việt!!” để vô·hiệu·hoá ý·đồ nhằm biến Tiếng Việt thành một phương·ngữ Trung·hoa! Tôi gọi Tiếng Việt mới đã được lột·xác, đã được hoá·kiếp với âm·hưởng Việt hoàn·toàn, chữ·viết, cách viết khác hoàn·toàn với Tiếng Trung·hoa này là Tiếng Việt·nồm hay Tiếng Nồm (post-Nôm).

Chấp·nhận cách gọi “từ Hán-Việt!!” — để chỉ chữ·viết Việt dùng chữ·cái La·tinh để biểu·thị (denote) cách·phát·âm hoặc cách·đọc hoàn·toàn Việt Nam các ký·tự Hán — là chấp·nhận Tiếng Việt·nam nói chung và phần Tiếng Việt·nồm nói riêng là phương·ngữ của Trung·hoa. Cách gọi “từ Hán-Việt!!” do tinh·thần vọng Hán của giới sĩ·phu Hán-vọng ngày·xưa để lại và được các nhà·ngôn·ngữ Việt, các nhà·làm·văn·hoá Việt với đầu·óc Hán-vọng tiếp·tục duy·trì, cổ·võ đã tạo cho Người Việt ảo·tưởng là Tiếng Việt nghèo·nàn, phải vay·mượn Tiếng Trung·hoa. Điều này khiến Người Việt mang tâm·lý tự·ti mặc·cảm là tiếng Việt thua kém tiếng Trung·hoa. Thực·ra, Tiếng Việt·nam chúng·ta giàu về số·lượng (quantity) tiếng·nói; toàn·bộ tiếng Việt có 9.197 (gồm 7.162 tiếng Nôm và 2.033 tiếng Nồm) âm đơn hay tiếng đơn, trong khi đó tổng·số âm đơn tạo·thành toàn·bộ tiếng Trung·hoa chỉ vỏn·vẹn có 1.307 tiếng đơn, nếu nói theo âm hay tiếng Bắc·kinh (Beijing pronunciation); chẳng·những·vậy, Tiếng Việt chúng·ta còn phong·phú về nội·dung và phẩm·chất (quality) hơn hẳn khi so·sánh với Tiếng Trung·hoa; bất cứ chữ gì nghĩa gì Trung·hoa có chúng·ta đều có, nhưng ngược·lại, có rất nhiều tiếng, nhiều nghĩa, chúng·ta có nhưng tiếng Trung·hoa không có. Cụ·thể là tất·cả ý·nghĩa của 1.307 tiếng Trung·hoa, chúng·ta đều có cả, thêm vào đó là ý·nghĩa của 2.033 tiếng Việt·nồm và ý·nghĩa của 7.162 tiếng Việt·nôm. Chúng·ta đã biến vô·số tử-ngữ (dead language) Việt-Hán-tự và Nôm-tự thành từ Việt·nồm, từ Việt·nôm hiện·đại, hoàn·toàn Việt từ hình·thức đến nội·dung. Tiếng/từ Việt·nồm là nguồn cung·cấp từ·ngữ mới, thuật·ngữ mới vô·tận. Tôi không thấy có lý·do chính·đáng nào để đối·xử phân·biệt (treat differently) hoặc kỳ·thị (discriminate) các từ Việt·nồm cả. Từ Việt·nồm không phải là từ vay·mượn Trung·hoa, dù·rằng đây là tiếng vay·mượn thì-đã-sao (so what)? Tiếng Anh đã, đang và sẽ tiếp·tục vay·mượn nhiều tử-ngữ (dead language) La·tinh và Hy·lạp; điều này không có nghĩa là Tiếng Anh nghèo·nàn hơn tiếng Tiếng La·tinh hoặc Tiếng Hy·lạp. Tiếng Việt·nam đã, đang và sẽ tiếp·tục vay·mượn nhiều tử-ngữ (dead language) Việt-Hán-tự; điều này không có nghĩa là Tiếng Việt nghèo·nàn hơn Tiếng Trung·hoa!

Điều quan·trọng là cách nhìn vấn·đề, là thái·độ “kính nhi viễn chi” với tinh·thần “gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn” trong việc xử·lý chiến-lợi-phẩm một·cách khoa·học, một·cách khôn·ngoan, là tiêu·hoá chúng ra·sao để chúng trở·thành máu sạch nuôi cơ·thể và đầu·óc Việt Nam.

3. Người Nhật tuy sử·dụng một phần Hán-tự trong chữ·viết Kan·ji của họ, nhưng văn·hoá Nhật không hề bị vẩn·đục với những lợn·cợn Trung·hoa.

Chúng·ta có·thể học-hỏi gì nơi Người Nhật trong việc đưa đất·nước thoát·khỏi vòng kiềm·toả của văn·hoá Hán-tự — Nền văn·hoá nô·dịch đi·kèm·theo thứ chữ ô·vuông mang tính áp·đặt một chiều?

Chúng·ta cần hỏi và học cách đánh·giá văn·hoá Trung·hoa theo cái·nhìn của Người Nhật và cách nhìn, phân·tích cái hay, cái dở của Hán-tự, văn·hoá Trung·hoa theo nhãn·quan khoa·học của người Tây·phương (Western people). Người Nhật tuy sử·dụng một phần Hán-tự trong chữ·viết Kan·ji của họ do số âm·tiết hạn·hẹp của tiếng Nhật, thế·nhưng, văn·hoá Nhật không hề bị vẩn·đục với những lợn·cợn Trung·hoa. Người Nhật xem·xét, học-hỏi văn·hoá Trung·hoa bằng một tinh·thần “gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn” và với thái·độ “kính nhi viễn chi”.

Chúng·ta có·thể ví·von rằng Người Nhật, họ ăn thức·ăn Trung·hoa có chọn·lọc, chẳng·những vậy, họ còn có được một dạ·dày tốt nên một phần nhỏ chất·bổ·dưỡng do thức·ăn này mang·lại trở·thành máu sạch để nuôi sống cơ·thể và bộ·não của họ, phần còn lại trở thành phân và đi ra ngoài! Người Việt, chúng·ta cũng ăn thức·ăn Trung·hoa… nhưng có dạ·dày không được tốt cho lắm nên… khó nói. Người Nhật luôn hãnh·diện với văn·hoá của họ và không luôn tự hạ mình xem Trung·hoa là “vạn thế sư biểu” như giới sĩ·phu Việt Nam thời·xưa, còn giới trí·thức Việt Nam ngày·nay thì xin nhường lại cho mỗi người tự suy·nghĩ lấy!

Chúng·ta đã may·mắn thoát·ra khỏi sự kiềm·toả của Hán-tự — một thứ chữ khó học nhất hành·tinh này — nhưng khác với Người Nhật, tinh·thần vọng Hán của Người Việt vẫn còn quá nặng·nề được biểu·hiện khá rõ·nét qua các nhà·ngôn·ngữ Việt và các nhà·làm·văn·hoá Việt với đầu·óc Hán-vọng, họ luôn xem chữ·viết ô·vuông và văn·hoá Hán là “khuôn vàng thước ngọc”. Họ là Người Việt (?) sống với tâm·cảnh của Người Hán bảo·thủ của thế·kỷ mà các quốc·gia Đông·phương vừa mới tiếp·xúc với văn·hoá, văn·minh Tây·phương (Western)!?

Có nhiều từ·ngữ, thuật·ngữ của phương Tây (the West) được vay·mượn từ tử-ngữ La·tinh và Hy·lạp nhưng Người·tây·phương (Westerner) — người Tây·phương (Western people) — đều gọi các tiếng vay·mượn này là “word” hay “English word” nhưng họ không luôn miệng gọi đó là từ Latin-English, từ Greek-English, vv., như cách chúng·ta thường gọi các từ vay·mượn từ nước ngoài, chẳng·hạn như từ Hán-Việt hay từ Hoa-Việt (Chinese-Vietnamese word), từ Pháp-Việt (French-Vietnamese word), từ Nga-Việt (Russia-Việt word), từ Anh-Việt (English-Vietnamese word), vv., tuy·nhiên trong các từ·điển, Người Anh, Người Pháp, vv., họ ghi·rõ các gốc·gác La·tinh hoặc Hy·lạp của các từ ngoại-nhập, không chút gì tự·ti, mặc·cảm cả! Người·tây·phương nói gốc·gác của các từ đúng lúc đúng chỗ, chứ không bạ đâu nói đó một·cách bừa·bãi như Người Việt, cứ mở miệng ra là gọi nó là từ “Hán-Việt” một·cách vô·tội·vạ, không cần biết ra·sao, ngay·cả khi ngậm miệng lại trong đầu cũng nghĩ đến nó là “từ Hán-Việt” một·cách vô·ý·thức?

Cái quan·trọng là cách nhìn vấn·đề vay·mượn như thế·nào, tiêu·hoá và dung·nạp chúng ra·sao để chúng trở·thành một phần của ngôn·ngữ Việt. Phần ngôn·ngữ đã được Việt·hoá này, chúng·ta đã phải hy·sinh biết·bao xương·máu mới có được, nhưng nó đã bị lạc·dẫn (misleading) một·cách vô·ý·thức là “Từ Hán-Việt!!”, thực·ra là một “ngôn·ngữ mới” do người Việt tạo·ra. “Ngôn·ngữ mới” này là chiến·tích oai·hùng của dân·tộc Việt, là sự đồng·hoá ngược “Tiếng Hán”. Việc áp·đặt tên gọi từ “Hán-Việt” (từ phiên·âm tiếng Trung·hoa theo cách Việt·nam) đồng·nghĩa với từ Việt·nồm (từ có được do Người Việt chủ·động tạo·ra bằng cách đọc Hán-tự theo âm Việt) là một lầm·lẫn lịch·sử tai·hại cần chấm dứt!? Cần gọi “ngôn·ngữ mới” do Người Việt·nam tạo·ra này bằng cái tên đúng, cái tên riêng gắn·liền với một lịch·sử chiến·đấu kiên·cường của Người Việt·nam bằng bất·cứ cái tên gì ngoài cái tên “từ Hán-Việt!!”. Tôi gọi phần từ·ngữ biểu·thị cho tiếng Việt mới (tiếng Việt·nồm) với âm·hưởng Việt hoàn·toàn, chữ·viết, cách viết hoàn·toàn khác với Tiếng Trung·hoa, được ghi bằng chữ·cái La·tinh này là “từ Việt·nồm” hay “từ Nồm”.
Chúng·ta tự áp·đặt tên·gọi ngôn·ngữ mới một trăm phần·trăm Việt từ hình·thức đến nội·dung của mình là “tiếng Hán-Việt!!”, là “từ Hán-Việt!!” — nghĩa·là một phần ngôn·ngữ của Tiếng Trung·hoa — là tự-hạ và tự-hại mình, là tự mang gông, tự xỏ mũi để cho người khác kéo, lôi!? Nếu không gột·rữa được chất “Hán” trong đầu·óc, trong văn·hoá của Người Việt như Người Nhật đã và đang làm thì dù·có ghi tiếng·nói Việt bằng chữ·cái La·tinh hay La·làng hay La·trời hay La…gì·gì… cũng chẳng ích·lợi gì!!

Thật đáng·tiếc và đáng·buồn thay!?

Chú thích:
Theo quyển Đại-tự·điển của Vũ Văn Kính, tổng·số Nôm-tự mà Người Việt tạo thêm là 31.577 ký·tự để ghi 7.164 tiếng Nôm (tiếng Kinh và tiếng gốc Nam Á). Chúng·ta đã đệ·trình nhiều danh·sách chữ thuần Nôm từ nhiều nguồn khác nhau đến Nhóm Báo·cáo·viên Chữ·biểu·ý (Ideographic Rapporteur Group hay IRG), sau khi xem·xét và loại·bỏ các chữ bị trùng·lặp, chúng·ta còn 9.299 chữ Nôm chính·thức được chấp·nhận ghi vào trong Unicode và ISO/IEC 10646 (so với tổng·số 72.205 chữ trong bảng SuperCJK 14 tính đến năm 2002). Thiết·nghĩ chúng·ta cần xem·xét và ghi·chú lại thật kỹ từng chi·tiết mọi lý·do chính·đáng hay không chính·đáng của tất·cả chữ Nôm đã bị loại bỏ để con cháu sau này có thể xem·xét lại khi cần·thiết. Đây là việc làm hết sức hệ·trọng vì tất·cả chứng·tích, tài·liệu, sử-liệu, vv., để xác·lập chủ·quyền của nước Việt Nam (country of Vietnam) đều được viết bằng Hán-tự, nhưng quan·trọng hơn cả là phần sử-liệu được viết bằng Nho-tự hoặc Nôm-tự. Người Trung·hoa họ nhanh chân và khôn khéo hơn chúng·ta, với cải·cách văn·tự, chữ·viết theo lối giản-thể thay lối phồn-thể, đưa thêm 13 bộ thủ [[部首] nữa (nâng tổng số lên thành 227 bộ thủ), nhiều Nôm-tự hoặc Nho-tự của ta nay thuộc về họ?

Hơn thế nữa, sau cải·cách văn·tự… chữ·viết theo lối giản-thể thay lối phồn-thể, rất nhiều chữ·viết Kan·ji do Người Nhật·bản tạo·ra, nay cũng thuộc về Trung·hoa!

Đặng Hải Nguyên

Ngày 7, Tháng·sáu Năm 2013


Tham khảo:


Từ Hán-Việt

Phiên âm Hán-Việt

Phiên thiết Hán-Việt

Pinyin

Quốc ngữ

Giới thiệu Kho chữ Hán Nôm mã hoá.

Chữ Nôm và công việc khảo cứu cổ văn Việt Nam. Dương Quảng Hàm.

Chữ Nôm hay chữ quốc ngữ mới là thuần Việt?

Văn Chương Việt Trong Bối Cảnh Hậu Hiện Đại – của Học Giả Hà Văn Thùy

Kể chuyện Nước Nhật
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/3/2014(UTC)
phamlang  
#82 Posted : Tuesday, June 3, 2014 6:22:46 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
DẤU PHẨY TRONG TIẾNG VIỆT


(1) Toà xử vụ án ngoại tình, phán với người chồng:

Ở với vợ lớn, không được ở với vợ nhỏ.

Ông chồng đưa bản án về nhà cho vợ lớn, chỉ sửa lại dấu phẩy:

Ở với vợ lớn không được, ở với vợ nhỏ


(2) Mỗi gia đình có 2 con, vợ chồng hạnh phúc

Mỗi gia đình có 2 con vợ, chồng hạnh phúc.


(3) Sơn Tinh đi cầu hôn công chúa Mị Nương

Sơn Tinh đi cầu, hôn công chúa Mị Nương
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/3/2014(UTC)
phamlang  
#83 Posted : Friday, June 6, 2014 6:54:09 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Cách xưng hô của người Việt thế kỷ 15-18


Ðời xưa, đặc biệt từ thế kỷ 17-18 trở về trước, người Việt Nam xưng hô với nhau như thế nào, hiện giờ còn là một vấn đề chưa được nghiên cứu, chưa được biết rõ. Có lẽ chính vì vậy mà trong các tiểu thuyết lịch sử, kịch lịch sử, phim lịch sử của chúng ta ngày nay... các nhân vật khi đối thoại với nhau, họ xưng hô rất tùy tiện theo chủ quan của nhà văn, nhà biên kịch với những ngôn ngữ không mang dấu ấn lịch sử, dấu ấn dân tộc.

Ðã có không ít bạn bè bảo tôi thử tìm hiểu xem ông bà ta ba, bốn trăm năm trước, khi nói chuyện, trao đổi qua thư từ..., các cụ xưng hô với nhau như thế nào. Và tôi đã thử làm công việc này bằng cách đọc một số tác phẩm Nôm cổ thế kỷ 15, 16 và 17, 18, rồi nhặt ra những từ xưng hô ở các đoạn văn đối thoại trong những tác phẩm Nôm cổ đó. Kết quả hết sức thú vị, vì số lượng từ xưng hô của người xưa rất phong phú. Có những từ xưng hô thời xưa, nay đã mất hẳn trong ngôn ngữ giao tiếp hiện đại, nhưng cũng có những từ bây giờ vẫn dùng, song với nghĩa đã thay đổi. Phương pháp tôi làm để khôi phục những từ xưng hô thời cổ ở nước ta, rất đơn giản, và bảo đảm chính xác, bởi vì chữ Nôm là chữ để ghi tiếng: nói như thế nào, ghi lại đúng như thế. Những tác phẩm Nôm cổ tôi sử dụng ở đây, chủ yếu là các cuốn: "Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (Nôm thế kỷ 15) do nhà nghiên cứu Hoàng Thị Ngọ giới thiệu, khảo cứu, phiên âm chú giải (1). Cuốn Tân biên truyện kỳ mạn lục, Tác phẩm Nôm thế kỷ 16, của Nguyễn Thế Nghi, do nhà nghiên cứu Hoàng Thị Hồng Cẩm phiên âm, chú thích (2). Và một số văn bản Nôm thế kỷ 18 trong sách Ðại Việt quốc thư, trong cuốn Gia phả họ Ðỗ ở Ðông Ngạc (Kẻ Vẽ), Từ Liêm, Hà Nội.

Dưới đây là những từ xưng hô phổ biến trong giao tiếp của người Việt Nam (vùng đồng bằng Bắc Bộ) ở các thế kỷ 15, 16, 17, 18:

- Cha gọi là áng, Bác (là chú, bác như ngôn ngữ hiện đại). Mẹ (như ngôn ngữ hiện nay), nhưng mẹ còn gọi là nạ. Tôi, ta gọi là min, là mỗ, giáp. Nó, hắn gọi là nghĩ. Chúng bay gọi là phô bay. Chúng tôi, chúng ta gọi là phô min giáp. Tôi, tao, mày. Ta. Vợ. Bà phu nhân. Ngươi. Mi, chúng mi. Thiếp, chàng. Tiên sinh. Vua gọi là Ðức hoàng thượng. Chúa gọi là Ðức bề trên...

Qua những từ vừa thống kê trên chúng ta thấy đó là những từ xưng hô phổ biến của người Việt Nam thời cổ trong các tầng lớp xã hội từ vua, chúa, quý tộc đến dân thường, bao gồm các loại đại từ nhân xưng chỉ ngôi thứ nhất (số ít, số nhiều), ngôi thứ hai (số ít, số nhiều), ngôi thứ ba (số ít, số nhiều).

Như ở phần trên chúng tôi có nói, nhiều từ xưng hô phổ biến ở thế kỷ 15-16, nhưng ngày nay chúng đã biến khỏi đời sống ngôn ngữ mà chỉ tồn tại trong các văn bản Nôm cổ, người đọc muốn hiểu nghĩa thì phải nhờ lời chú giải của các nhà khoa học chuyên về văn tự cổ. Thí dụ, người Việt Nam ở thế kỷ 15-16 nói: "Chẳng biết ơn áng nạ" (Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh). Nhờ chú giải của các nhà khoa học, độc giả ngày nay biết áng nạ là cha mẹ. Và câu trên được diễn giải là "Chẳng biết ơn cha mẹ". Hoặc đại từ nhân xưng tôi, ta, người thế kỷ 15-16 gọi là min, mỗ, giáp. Ngày nay từ min, từ giáp đã chết. Từ mỗ vẫn còn gặp trong ngôn ngữ đời sống. (Chẳng hạn, đôi khi trong chúng ta vẫn có người nói "Mỗ không thích uống rượu...")

Nếu thống kê những từ cổ xưng hô của người Việt Nam thế kỷ 15-18 rồi đối chiếu với những từ xưng hô trong giao tiếp ngày nay, chúng ta không thấy số từ người Việt Nam từng xưng hô với nhau ba, bốn thế kỷ trước vẫn đang có mặt trong đời sống ngôn ngữ hiện tại chiếm một tỷ lệ khá nhiều và các nhà văn, các tác giả phim truyện, kịch bản viết về lịch sử có thể khai thác, sử dụng một cách khá thoải mái. Thí dụ các từ xưng hô tao, mày, ta, ngươi, mi, chúng mi, thiếp, chàng, đứa kia, tiên sinh...

Tôi xin giới thiệu vài tư liệu cổ nói về cách xưng hô của một quan đại thần với vua Lê, chúa Trịnh thế kỷ 18 và cách xưng hô giữa Ngô Văn Sở với Ngô Thì Nhậm, hai nhân vật trụ cột của vua Quang Trung.

1. Trong cuốn Gia phả họ Ðỗ ở Ðông Ngạc có ghi lại một số bài khải viết bằng chữ Nôm của Ðỗ Thế Giai (một đại thần) dâng lên vua Lê chúa Trịnh và Ðặng Thị Huệ. Trong đó Ðỗ Thế Giai xưng là tôi và gọi vua Lê chúa Trịnh là Ðức bề trên gọi Ðặng Thị Huệ là Ðức chính phi.

Mỗi lần vua Lê, hoặc chúa Trịnh hỏi Ðỗ Thế Giai về việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy, về đạo trị dân... trong các tờ khải điều trần của mình, bao giờ Ðỗ Thế Giai cũng mở đầu bằng câu: "Tôi cẩn khải vâng lậy Ðức bề trên..."

Khi Trịnh Sâm muốn cho Ðặng Thị Huệ (được phong tuyên phi) tham dự chính sự thì Ðỗ Thế Giai đã gửi tờ khải cho Ðặng Thị Huệ đạ can ngăn. Mở đầu tờ khải, Ðỗ Thế Giai viết: "Tôi cẩn khải vâng lậy Ðức chính phi muôn muôn năm..."

2. Trong một bức thư Ngô Văn Sở gửi Ngô Thì Nhậm, viết bằng chữ Nôm, đoạn mở đầu:

"Quan Ðại đô đức tước Chấn quận công (3), kính gửi đến quan lại bộ Tả thị lang là tước hầu Tình phái (4) rõ: từ khi thiểm chức về triều vong hầu nhà vua, như việc sứ ở nội địa (5), nhiều giấy tờ đưa đi, đưa lại, hiền hầu đã tâu bẩm ngày trước, thời thiểm chức đã tâu về Ðức hoàng thượng (6) ngự lãm rồi...".

Rõ ràng qua những tư liệu như thế này, chúng ta biết chính xác cách xưng hô giữa vua, chúa, quan lại với nhau hồi thế kỷ 18. Ðó là nguồn tài liệu quý giá để chúng ta khai thác, sử dụng, khôi phục hệ thống ngôn ngữ giao tiếp của người xưa - ít nhất là trong các tác phẩm về đề tài lịch sử trên sân khấu, điện ảnh...

Tạ Ngọc Liễn
(Văn nghệ trẻ)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#84 Posted : Sunday, June 15, 2014 1:31:43 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dấu "Hỏi Ngã" Trong Văn Chương Việt Nam


CAO CHÁNH CƯƠNG
Trích tài liệu khóa Tu nghiệp Sư phạm 1991 Của các Trung tâm Việt ngữ Miền Nam Cali



Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau :
Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính tri... , nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn.

Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.

Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung (người viết bài này là người miền Trung).May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi...

Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.
Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.

A. LUẬT BẰNG TRẮC
Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau.

1. Luật lập láy
Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả.
Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang...

2. Luật trắc
Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi).
Thí dụ:
Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.
Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.
Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.
Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.
Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang,...
3. Luật bằng
Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).
Thí dụ:
Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.
Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.
Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.
Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,...

B. CHỮ HÁN VIỆT

Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ,... tất cả đều do chữ Hán mà ra.
Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:
Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, cá chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.

Thí dụ:
Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.
Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.
Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.
Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.
Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.
Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,...

Để có thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:

"Dân Là Vận Mệnh Nước"
để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.

C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC

1. Trạng từ (adverb)
Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.
Thí dụ:
Thôi thế cũng được.Trạng từ cũng viết với dấu ngã.
Xin anh đừng trách em nữa.Trạng tự nữa viết với dấu ngã.
Chắc anh đã mệt lắm rồi.Trạng từ đã viết với dấu ngã.

2. Tên họ cá nhân và quốc gia
Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:
Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến...
Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.
Nước Mỹ, A phú Hãn,...
Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.

3. Thừa trừ
Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.
Thí dụ:
Anh bỏ em đi lẻ một mình.Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.
Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.

D. KẾT LUẬN
Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.
Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam.Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.


UserPostedImage
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#85 Posted : Tuesday, June 17, 2014 4:58:05 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 6/30/2014(UTC)
phamlang  
#86 Posted : Monday, June 30, 2014 5:06:49 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

Tiếng Việt kỳ diệu qua tiếng ru


Tiếng ru

Ta nghe vang vọng tiếng ru
Là câu mẹ hát thuở xưa của đời
Ta nghe bát ngát đất trời
Cánh cò mang cả hồn người qua sông

Ta nghe tha thiết mênh mông
Câu hò xưa vẫn sống cùng thời gian
Ta nghe da diết vô vàn
Câu hò xúc động cả ngàn ngày sau

Tháng ngày mang nặng đẻ đau
Chắt chiu mẹ để lại câu tâm tình
Tiếng ru như sữa ngọt lành
Cho đời tất cả bóng hình bằng thơ

Lớn rồi, chẳng ở nơi xưa
Khắp miền xuôi ngược bây giờ ta qua
Ở đâu cũng vọng lời ca
Ở đâu cũng thấy như là ở quê

Yêu nhiều nên vẫn lắng nghe
Câu ru, câu hát... Trưa hè, đêm trăng
Nhớ nhiều nên vẫn bâng khuâng
Tiếng ru vọng mãi khi gần, khi xa

Giản đơn chỉ một lời ca
Mẹ ru con ngủ, nghe là tiếng ru
Bắt đầu từ tiếng ầu ơ...
Thành hồn ta tự tuổi thơ của đời

Tiếng ru nuôi những kiếp người
Cánh cò mang cả bầu trời qua sông
Trời xanh, xanh sắc mênh mông
Đêm hè lồng lộng một vầng trăng cao

Ngàn vì sao, triệu ánh sao
Mang theo vẻ đẹp đi vào tiếng ru
Làng quê ta, tháng năm xưa
Là quê của mọi câu hò, lời ca.

Lư Phổ Ân

Edited by user Monday, June 30, 2014 5:07:35 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#87 Posted : Tuesday, July 1, 2014 8:31:32 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Triết lý tiếng Việt trong ”vào Nam ra Bắc”

NGUYỄN ĐỨC DÂN


TT – Tại sao nói “vào Nam ra Bắc” nhưng không thể nói “vào Bắc ra Nam”? Tại sao một em bé mới sinh được gọi là “mới ra đời”, còn những sinh viên tốt nghiệp và rời trường thì được gọi là “bước vào đời”?

Những câu hỏi này liên quan tới hiện tượng chuyển nghĩa rất thú vị của các từ ra, vào.

***

“Người xấu duyên lặn vào trong…”

Cách nói theo “điểm nhìn”

Có một ông ngồi trong phòng khách. Tiếng Việt và tiếng Anh có cách nói giống nhau về vị trí của người này so với phòng khách: “Ông ấy đang đợi ở phòng khách” và “He is waiting in the living room”.

Người Việt còn có cách nói theo điểm nhìn rất đặc sắc. Đó là lấy vị trí của mình so với vị trí của người đàn ông để nói. Đang ở trên lầu cao thì nói: “Ông ấy đang đợi dưới phòng khách”. Nếu ở dưới bếp thì nói: “Ông ấy đang đợi trên phòng khách”. Còn như đang ở trong buồng thì phải nói: “Ông ấy đang đợi ngoài phòng khách”. Và: “Ông ấy đang đợi trong phòng khách” là cách nói của những ai đang ở ngoài sân, ngoài vườn.

Ra, vào là những vận động định hướng trong không gian. Về ý nghĩa, chúng có liên hệ chặt chẽ với hai từ trỏ vị trí trong, ngoài: “Người xấu duyên lặn vào trong/Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài”. (ca dao)

Từ thời xa xưa tổ tiên chúng ta nhận ra trong hang thì hẹp và ngoài hang thì rộng. Nói “đi ra ngoài hang, đi vào trong hang” rồi khái quát thành: đi ra là đi từ một không gian hẹp tới một không gian rộng hơn, như em bé từ bụng mẹ ra đời; còn đi vào là đi từ một không gian rộng tới một không gian hẹp hơn. Từ trong ứng với không gian hẹp, từ ngoài ứng với không gian rộng. Nhưng không gian nào rộng, không gian nào hẹp? Quan hệ trong – ngoài, hẹp – rộng chỉ là tương đối có trong tâm thức người Việt và được sắp xếp theo quy ước. Chẳng hạn: buồng hẹp hơn nhà, nhà hẹp hơn sân, sân hẹp hơn vườn, vườn hẹp hơn ngõ…

Vậy nên chỉ cần nghe “đi ra sân” là chúng ta biết ai đó từ buồng, từ bếp, từ nhà đi ra sân. Còn khi nghe “đi vào sân” là hiểu ngay ai đó từ vườn, từ ngõ… đi vào sân.


“Vào” nơi chưa biết – “ra” chỗ biết rồi

Hàng loạt nghĩa mới của hai từ ra, vào được hình thành liên quan đến nhận thức: a) Trong – ngoài là quan hệ hẹp – rộng, khép – mở, chúng tạo ra những quan hệ về thuộc tính, và b) Hướng chuyển động chuyển thành thuộc tính. Đi vào là đi tới nơi hẹp, nơi bị khép lại, còn đi ra là đi tới nơi rộng mở.

Quan hệ hẹp – rộng chuyển thành quan hệ kín – rõ. Mà kín là bí mật, là không thấy được. Ấy vậy nên, từ vào để chỉ những sự việc hoặc hành động bí mật, không thấy được: Đảng rút vào hoạt động bí mật, tên gian đã lẩn vào đám đông, vấn đề đi vào ngõ cụt. Từ ra để chỉ những sự việc hoặc hành động thấy được, công khai: tiến ra sân khấu, cầu thủ A đã được đưa ra sân thay thế cho cầu thủ B.

Chuyển động “ra” là chuyển động từ không gian khép sang không gian mở, là chuyển động theo hướng ly tâm như: dang tay ra, duỗi chân ra, mở gói ra, cởi áo ra, bàn ra, tháo ra, thuyền ra khơi xa… Khái quát lên là từ thu hẹp sang phát triển. Khái quát nữa là sự vật chuyển thuộc tính từ tiêu cực (âm) sang tích cực (dương). Điều này được thấy trong các lối nói trắng ra, béo ra, trẻ ra, khỏe ra, đẹp ra, tươi ra, đỏ đắn ra, xinh ra, tỉnh ra, ăn nên làm ra…

Ngược lại, từ vào dùng cho những hoạt động hướng tâm: co tay vào, nhìn thẳng vào sự thật, nhảy vào cuộc, nói vun vào, lãnh đạo cần gương mẫu để cho quần chúng còn nhìn vào…

Quan hệ không thấy được – thấy được chuyển thành quan hệ chưa biết – biết, phát hiện; giữ kín – bộc lộ. Từ ra để chỉ những gì ta biết, ta phát hiện: tìm ra đáp số; tìm ra thủ phạm; chỉ ra những chỗ sai; nhận ra người quen; nổ ra cuộc tranh luận. Từ ra còn trỏ những gì được bộc lộ: hiện ra, bày ra, làm rõ ra… Trong cờ tướng, “ra xe” là quân xe chuyển tới một vị trí mở (bộc lộ) rất rộng đường đi. Ý nghĩa “bộc lộ, phát hiện” của từ ra được xuất hiện trong hầu hết các quán ngữ, thành ngữ có từ ra: té ra, hóa ra, thì ra là, thế ra, ra bộ, ra mặt, ra tay, ra cái điều, ra đầu ra đũa, ra môn ra khoai… Từ vào để chỉ những gì chưa biết. Nói tên lửa bay lên vũ trụ vì vũ trụ là không gian cao trên đầu chúng ta; nhưng cũng nói tên lửa bay vào vũ trụ vì trước đây chúng ta hầu như chưa biết gì về vũ trụ. Chúng ta nói những sinh viên tốt nghiệp đại học và đi làm, nhưng chưa biết gì về cuộc sống, là những sinh viên mới vào đời.

Tới đây, chúng ta giải thích được lối nói ra Bắc vào Nam: Trong quá trình phát triển, dân tộc VN đi từ phía Bắc xuống phía Nam. Chúng ta sinh sống ở phía Bắc. Nơi ta sống là nơi ta biết. Đi tới phía Bắc trên đất nước ta là đi tới nơi ta biết nên mới nói ra Bắc. Ông cha ta đi khai khẩn, khám phá phía Nam là nơi chưa từng sinh sống nên chưa biết. Đi tới phía Nam là đi tới nơi ta chưa biết nên mới nói vào Nam. Mặt khác, tiến về phương Nam chủ yếu là tiến về nơi rừng núi rậm rạp cũng là chưa biết. Thế là hình thành lối nói “vào Nam ra Bắc”
.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#88 Posted : Saturday, July 5, 2014 6:23:19 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bàng Bá Lân

Tôi yêu tiếng Việt miền Nam


UserPostedImage

Tôi yêu tiếng Việt miền Nam,
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao.
Yêu xe thổ mộ xôn xao
Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê.
Tôi yêu đồng cỏ nắng se,
Nhà rơm trống trải, chiếc ghe dập dềnh.
Tôi yêu nắng lóa châu thành,
Trận mưa ngắn ngủi, gió lành hiu hiu.
Nơi đây tôi mến thương nhiều,
Miền Nam nước Việt mỹ miều làm sao!
Xa xôi hằng vẫn ước ao
Vào thăm vựa lúa xem sao, hỡi mình!
Chừ đây tình đã gặp tình,
Tưởng như trong đại gia đình đâu xa.
Người xem tôi tựa người nhà,
Người kêu thân mật tôi là: Thầy Hai!
Ðồng bào Nam Việt ta ơi!
Tôi yêu cặp mắt làn môi thiệt thà.
Nước non vẫn nước non nhà,
Bắc Nam xa mấy vẫn là anh em!

1954
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#89 Posted : Tuesday, July 22, 2014 7:56:27 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
BS NGUYỄN HY VỌNG

Bài toán cỦa tiẾng ViỆt

sưu tầm & tản mạn


Nhà ngữ học Ferdinand de Saussure đã nói: "Tư tưởng con người là 'theo giòng' [linéaire]"

[Chữ trinh kia cũng có 5, 7 đường [không có 7, 5 đường đâu nhé !] Huống chi là cái chữ "không trinh' … e là có cả 5,7 chục đường; mấy thằng chồng hay ghen chắc phải chạy đua lòng dòng không theo kịp mấy cái xa lộ mất trinh đó !

Mà thật thế : người ta ai cũng nói 1, 2 … 2, 3 ...3, 4 ... 4, 5 …5, 6 … v..v.. hay là hai ba, đôi ba, chứ không bao giờ nói hai, một hay là ba hai, ngay cả khi không biết rõ là bao nhiêu, ông bà ta cũng nói là 7, 8 cái chi đó / không ai dám nói 8, 7 cái đó chi !

Ủa, tư tưởng là tự do nói kia mà sao cả 85 triệu người chẳng ai dám nói 2, 1 thằng …3, 2 con… 4, 3 cái, 5, 4 cú …6, 5 con ? Mà ngay cả khi nghĩ thầm trong bụng mấy ổng cũng chỉ dám nghĩ là “đi ngoại tình một đôi lần“, chẳng dám nghĩ là đôi một lần!

Lọa chưa !, lọa thật đó, trong cái ngôn ngữ mà cũng có kỹ luật riêng tư, hay nhỉ, huống chi là làm chíng chị chíng em, nhưng rồi thì cũng có ngoại lệ [năm ba cái …không có ba năm cái bao giờ !]

Các bạn biết không, đếm chi cho lắm, người Khmer xưa không ra khỏi cái bàn tay năm ngón… , họ đành phải nói

prăm muôi [5+1] là 6

prăm bi [5+2] là 7

prăm bây [5+3] là 8

prăm buôn [5+4] là 9

Nhưng mà anh chàng Giao chỉ thì tiến lên một cách ngon lành từ 10 cho đến 999,999 cho dù bàn tay mấy ngón cũng kệ nó, ông bà ta không hề chịu bó buộc vào mấy ngón tay để mà tiến bước trên “con đường tính toán”.

Không có hệ thống gọi tên mấy con số nào độc đáo cho bằng của tiếng Việt, một “tiếng nói của toán học“.

Tiếng Pháp thì ú ớ với mấy con số, một cách thảm hại [soixante dix, quatre vingt, quatre vingt dix, …] chao ôi là chán, làm toán mà đếm kiểu đó hèn chi bị phó thủ tướng văn hoá Nhật chê là : tiếng Pháp không biết đếm !' Cũng đúng thôi.

Rời bỏ ba con số toi vật tật voi đó, giờ mình nói chuyện lắt léo trong tiếng Việt nghe chơi…

Ai đời chợt với bất chợt cũng vậy,

thà với chẳng thà cũng thế thôi,

thình lình với bất thình lình thì cũng thình lình như nhau !

quá lắm với bất quá thì cũng không ai quá chi hơn ai

huống chi, huống hồ, huống những. huống lại, huống gì, huống nữa, thì cũng thế

Tại sao mà cái tiếng Việt nó "lôi thôi" làm vậy, xin xem lời giải thích trong "Từ điển nguồn gốc tiếng Việt" sẽ rõ, có cả giải thích "lôi là gì mà thôi" là gì luôn!

Không có cái tiếng nào mà "ba" với "cà" nhiều cho bằng tiếng Việt !

Nào là ba bị, ba bột, ba de, ba hoa,

ba kẹ, ba chớp ba nháng, ba láp,

ba lăng nhăng, ba lia, ba lếu, ba lơn,

ba nhe, ba que xỏ lá, ba rọi, ba trợn,

ba xàm ba láp, ba xạo, ba xí ba tú,

……

ba lơn, ba láp, ba xàm,

Cũng không có tiếng nuớc nào mà cà cho nhiều bằng tiếng Việt

cà lăm cà cặp, cà chớn, cà đột,

cà đước, cà gật, cà huớc, cà giật,

cà giựt, cà kê, cà kheo, cà khêu,

cà khệch, cà khịa, cà khiễng,

cà lăm cà cặp

cà lo, cà mâu, cà mèng, cà na, cà ná,

cà niễng, cà ninh, cà nhắc, cà nhong,

cà nhót, cà nhông, cà nhổng, cà rà,

cà rá, cà ràng, cà rật, cà rịch cà tang,

cà riềng, cà rỏn, cà rỡn, cà rùng,

cà sa, cà tàng, cà teo, cà tong,

cà tửng, cà thọt, cà vệt, cà xóc, cà xon

Tất cả đều có lý do và có nguồn gốc đàng hoàng, xin xem trong " Từ điển nguồn gốc tiếng Việt" không sót một tiếng nào trên đây mà không có dẫn chứng về gốc gác , ủa ! mà "gác" là gì vậy ta?

Tiếng Việt kỹ luật đến mức cho nên nói

to lớn mà không dám nói lớn to

kêu gọi --- gọi kêu ---

năm mới, ngày mới --- tháng mới

vui chơi " chơi vui khác ý nghĩa

hơn thua mà không nói thua hơn

uớc ao, ao uớc, uớc muốn thì được mà không nói muốn uớc !

làm lấy khác với lấy làm

làm được " được làm

làm luôn " luôn làm

làm đi " đi làm

làm mới " mới làm

lớn con " con lớn

lớn tiếng " tiếng lớn

mau lên " lên mau

Như một bàn cờ tư tưởng của 85 triệu người người việt, cái linh động của ý nghĩ làm ra cái sắp đặt truớc sau của tiếng ghép như là một thứ "ý sắp đặt cho lời" mà các tiếng nói Anh Pháp chạy theo không kịp, họ cũng có fire wood và wood fire nhưng mà ít hơn trong tiếng Việt rất nhiều.

Cả ngàn tiếng như vậy, có truớc có sau, không hề lộn xộn, vì đã có "sách trời định" rồi ![nói theo kiểu "Lý thuờng Kiệt". Cũng như Tàu nói là vĩ đại, đâu dám nói đại vĩ [Khổng tử cũng chịu thua, không dám]

Tàu cũng ghép tiếng, Việt cũng ghép tiếng nhưng mà không ai giống ai, xin đừng đánh lộn sòng mà cho là cái tiếng Tàu "nó sao" thì cái tiếng Việt "nó vậy", như các cụ Hán Việt xưa đã "bé cái lầm".

Qua > 2000 năm, tiếng Việt tiếng Tàu đã lặp đi lặp lại của nhau đến nhàm chán, giờ đây, người Việt đã bắt đầu bỏ đi những từ ngữ Tàu không cần xài làm gì nữa có cả ngàn tiếng Tàu dư thừa mà xưa người ta dùng, nay đã lỡ thời, có cho vàng cũng không ai dám nói và viết như vậy nữa!



dòng thanh thủy, nay mọi người đều chỉ nói là dòng nuớc trong

thu phong, cổ độ, …….. gió thu, bến cũ

cựu tình nhân …….. người tình cũ

vạn cổ sầu …….. buồn muôn thuở

hàn mặc, …….. bút mực

chủng đức, chủng thực …….. ở cho có đức, trồng trọt

Còn cả hàng ngàn tiếng Tàu hết thời như thế, ai thấy thì quét sạch giùm cho, làm sạch sẽ thêm cho tiếng Việt sau này !

Cũng bởi vì người Việt nghĩ xuôi mà người Tàu nghĩ ngược : đại ốc và nhà lớn không cách gì chung sống với nhau được, chẳng qua là bị ép buộc mà thôi, nhưng, thấy chưa ! ở đời không ai ép buộc ai mãi được !

Cũng bởi vì người Tàu họ chỉ có mỗi một cách nói đó thôi, không nói thì lấy gì mà nói, còn người Việt thì đã có tiếng Việt mà nói, lại đeo bòng thêm tiếng Tàu, như một người mù cõng một người què. Cõng riết rồi tưởng đâu cái thằng ngồi trên lưng mình là cha mình luôn … nên mới tưởng là hi sinh vì tổ quốc là tiếng của mình, té ra mình đã nói chết cho đất nuớc lại bày đặt nói lặp thêm một lần nữa, mà cũng vậy thôi, cũng kiểu như nửa đêm giờ tí canh ba , vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi [sic] học lóm được chữ nào đem ra khoe hết. cũng kiểu như : bởi thế cho nên rằng thì là mà…..Ai nói như vậy? Hỏi tức là trả lời!

Mấy ông văn khoa bên nhà chỉ biết học ba cái chữ Tàu và ba cái chữ Nôm mà không hiểu rằng như thế không phải là học tiếng Việt , muốn được là văn khoa Việt thì phải tìm hiểu và biết cái riêng của nó, nó không hề là một cái rập khuôn của tiếng Tàu bao giờ cả, nó vẫn không chịu ép mình vào cái “khuôn khổ“ của tiếng Tàu bao giờ, dù qua 2 ngàn năm bị lấn luớt.

Có một em sinh viên bên này nói rằng: "tiếng Hán Việt tuy khó hiểu nhưng nghe nó văn chương hơn" [sic] [tôi nghiệp cho cái ý nghĩ tầm thường đó, chưa hiểu, khó hiểu thì làm sao mà biết là văn chương hay không ?]

Cái ý nghĩ đó cũng đã đè bẹp đầu óc của nhiều nhà tho nhà văn hiện nay không ra khỏi được cái chuồng văn Hán Việt vì quen ngửi cái mùi ấy mất rồi.

Cái thèm thuồng làm đầy tớ chữ nghĩa cho người ta thật xứng với câu thơ diễu:

"ai xui Trung "cuốc" gọi vào hè"

"cái nóng nung người, nóng…nóng ghê !

Thấy mà buồn 5 phút cho cái đầu óc nô lệ bất cứ cái gì của Tàu!

Dám thách ai làm tho cho hay bằng 200 năm truớc đây :

"ruợu là com bữa, gái là bướm đêm !" @ Thiên nam ngữ lục để biết cái ngang ngửa của tiếng Việt



Tưởng vậy mà không phải vậy !

Nên biết rằng tiếng Tàu cũng mượn các tiếng khác khá nhiều nhưng mà lờ đi cái chuyện vay mượn đó

Diêm [trong Diêm vương, Diêm chúa, Diêm la, Diêm phủ có nghĩa là sự chết cái chết chứ chẳng phải là "địa ngục" đâu nhé. Nó là <gốc Sanskrit > chứ không phải là tiếng Tàu, Tàu nó mượn của tiếng Ấn độ đó, hóa ra Diêm vuơng là Thần chết, Tử thần chứ không phải là "vua địa ngục" đâu như các cụ Hán Việt đã lầm tưởng

Sa- mạc là tập trung tư tưởng, định thần , từ chữ "samadhi" / meditative incantation <gốc Pali>

Á tế Á là bắt chước đọc theo "Asia" tiếng Hy lạp !

yên si phi lý thuần là nhại theo "inspiration"

câu lạc bộ là học đòi nói theo "club" tiếng Anh

Ả phù dung, a phiến, nha phiến, á phiện là do "aphyon" # opium<gốc Turkey>

Còn cả ngàn tiếng Tàu như vậy, đều là bắt chước nói theo người ta, đâu phải gốc Tàu hồi nào đâu mà khoe ?

Tiếng Tàu xưa đã vay mượn nhiều tên gọi các cây trái thổ sản miền Nam, xứ nóng của các sắc dân phía nam sông Dương tử mà nói theo, mượn mà dùng rồi lâu ngày chúng nó tưởng đâu là tiéng của chúng nó nên lờ đi cái nguồn gốc bản xứ luôn.

Cũng như cả 90 % tiếng Pháp là bắt chước nói theo Latinh và Hy lạp, có gì lạ đâu, còn ta thì bắt chước nói theo Tàu một đống từ Hán Việt, gì đâu mà phải mặc cảm.

Mượn qua mượn lại là chuyện thuờng thấy giữa những thứ tiếng trên thế giới, có lợi cho cả hai bên, tiếng Anh Mỹ đã vay mượn như điên nên bây giờ mới xứng đáng là thứ tiếng mạnh nhất thế giới, làm cho tiếng Pháp phải ganh tị, vì có một thời, tiếng Pháp đã làm le không đúng cách, không chịu vay mượn thêm từ ngữ mới vì cứ khư khư cho là phải bảo vệ cái 'quan niệm giả tạo "pureté de la langue francaise" cho nên bây giờ bị tụt hậu và phải vay mượn thêm rất nhiều tiếng Anh Mỹ của khoa học thời nay mà nói, làm thành một thứ franglais chẳng đặng đừng, khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào.

Riêng về tiếng Việt, ta cần tìm hiểu thêm các tiếng nói của dân Bách Việt đã cho ta mượn rất nhiều từ ngữ, khi ta thấy một âm lạ một nghĩa lạ thì đừng vội nói theo đuôi cụ Trần trọng Kim mà cho rằng nó là tiếng "đệm" một cách vô tội vạ, thí dụ như lỡ làng thì thật ra đó là gốc Nùng vì trong tiếng Nùng, làng là lở dịp không có dịp để kịp làm một việc gì …vì vậy khi bị lở tàu, lở chuyến xe thì người Nùng họ gọi là làng tàu, làng xe [sic]

Cũng như khi ta nói cái thằng đó mà hát hỏng gì thì hỏng là hát, tiếng Thái, chứ đâu có phải là tiếng đệm vô nghĩa như sự tin tưởng của cụ Kim đâu !

Có cả thảy 42% tiếng Việt là gốc Lào Thái, nói rõ cho ta biết cái ý nghĩa gốc của chúng nó thay vì phải ép bụng mà cho rằng cái chi cũng đệm lên đệm xuống theo cách giải thích so sài và kì cục kiểu Trần trọng Kim

Trong tiếng Anh tiếng Pháp thì cold, colder, less cold và froid, plus froid, moins froid nhưng mà tiếng Việt nhấn khi mạnh khi nhẹ vào cái tính chất của sự vật màu sắc một cách dồi dào không ngờ được : đo đỏ, tim tím, mằn mặn, nong nóng, lành lạnh, cả ngàn cách như vậy, cho nên ta phải tìm thêm cho đầy đủ để mà ‘vui học tiếng Việt“, những giờ dạy tiếng Việt phải dạy cho vui như thế để gây chú ý và thích thú nói tiếng Việt với nhau cho các em nhỏ, chứ không phải là nghiêm trang viết cho đúng "hỏi ngã" hay cho đúng t, c cuối chữ , hoặc như người Bắc, lo làm sao đừng có lầm lẫn s / x / cùng là gi / d, những cái đó không quan trọng, cái cần thiết là phải nói tiếng Việt cho trôi chảy.

Dạy tiếng Việt phải là dạy nói 90% nhiều hơn là dạy viết cho ngay cho đúng, đó phải là nguyên tắc su phạm đầu não cho tương lai các lớp dạy tiếng Việt để có kết quả tốt đẹp, bên này cũng như bên nhà

Nhưng mà nếu có đầu óc làm đầy tớ không công cho Tàu thì cứ lải nhải là tiếng Tàu là "số dách" trong khi nhắm mắt mà bắt chước không cần nghĩ lại nghĩ đi làm gì!

Cái tiếng của người ta có gì hay, tiện, lợi cho mình thì nói theo, cái gì rảm, rởm, kì cục không cần đến thì bỏ đi, đừng có nhắm mắt mà nói lặp theo, mượn tùm lum mà nói tiếng người ta như những con két con vẹt, trong khi đó thì lại làm biếng nhác nhớm không thèm tìm hiểu tiếng Việt cho thấu đáo :

Một nhà ngoại giao hàng đầu của VN cọng hòa đã nói khi được phỏng vấn :

"như tôi đã với anh ! [hết sẩy]

Còn bọn văn nô thì nổi tiếng với mấy chữ "giặc cái" giặc lái", xuởng đẻ xuởng đái, phản ánh, phản sáng gì gì đó nữa, thật xấu hổ cho cái tiếng Việt của chúng.

Vậy mới thấy cái sức sống mạnh mẽ, vươn lên của tiếng Việt, không dễ gì bắt nó đi vào khuôn vào phép của những mẫu mực giả tạo của cái loại văn phạm ngữ pháp ngoại lai

Huống chi , ta nói tiếng Việt một cách khôn ngoan mà không bao giờ nhắm mắt bắt chước tiếng Tàu,

Ta chỉ nói siêu năng lực mà không chịu nói uu lực mẫn

Dòng nuớc trong mà không thèm nói thanh thủy

Bến cũ thay cho cổ độ

Người tình cũ thay vì cựu tình nhân

Người xưa, người cũ mà không còn nói là cố nhân nữa

Ta có dư thừa tiếng để mà nói chứ không phải tiếng Việt là một bản rập khuôn, một cái clone của tiếng Tàu bao giờ cả

Tiếng Việt ta quả thật là một luồng hơi sống tự do cho một triệu người Giao chỉ hồi xưa và cũng là cái nếp sống cho ý nghĩ của 85 triệu người Việt ngày nay trên khắp quả đất này, tự do như mây như gió mà cái văn phạm của Tàu chỉ biết lẽo đẽo đi theo cái cách ăn nói của chúng nó từ ngàn xưa mà không bao giờ bắt kịp.

Nhà trống đôi ba gian, một thầy một cô một chó cái.

Học trò năm bảy đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi.

trong căn nhà ấy, sống một gia đinh

Nay ta đã sống trong một thế giới "núi cao, biển rộng, sông dài, … lại được hoàn toàn sống cuộc sống tự do mà 83 triệu đồng bào ta bên nhà vẫn hằng mong uớc.

Ta nên sống sao cho xứng đáng một đời tự do, và nên cố gắng đóng góp, mỗi người tùy theo khả năng và công sức của mình vào sự sống còn của tiếng Việt

Bạn hãy vui miệng tìm thêm những đường nét nói phô rất lạ và riêng rẽ của tiếng Việt ta để thấy rằng tiếng Việt không hề nghèo như ta tưởng mà trái lại rất dồi dào, chỉ vì chúng ta đang "nghèo" tiếng Việt lắm đó thôi , theo lời ông Gustave Hue, một người Pháp rất kính nể tiếng Việt, trong quyển từ điển Việt Pháp Hoa của ổng ! Năm 1937

( trích Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt, tác giả BS Nguyễn Hy Vọng sẽ phát hành tại Paris, mùa Hè năm 2012)

BS Nguyễn Hy Vọng
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#90 Posted : Wednesday, July 23, 2014 4:27:10 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiếng việt mến yêu

Tác giả: Hoàng Ngọc Văn

UserPostedImage


Tôi thật là Văn, chẳng phải văng,
Mấy ông Nam Bộ phát ngôn xằng !
Có nghe lộn xộn khi o Huế,
Ðôi má ửng hồng, biết nói răng ?

Ði học, học trò đủ vở chưa?
-Danh ca-. Ðánh cá-, phải theo mùa.
Nước ròng, nước lớn hay sân khấu,
Tùy chỗ, làm ăn mới khỏi thua !

Chị Sáu trồng cây nhờ phước trời,
Nắng vàng, nhè nhẹ gió, mưa rơi...
Gặp khi anh Chín đi ngang rẫy,
Chị vẫy: "vô vườn chơi" Chín ơi !?


Dân tôi, giọng nói theo miền,
Khi vui vui lắm, lúc phiền muốn điên !
Nhị Hà, Thạch Hãn, sông Tiền,
Ðượm tình nồng thắm ba miền mến yêu !


(bài thơ này phải tùy nghi dùng cả 3 giọng Bắc Trung Nam để ngâm)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#91 Posted : Monday, July 28, 2014 3:49:39 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dấu ngang-nối trong Việt-ngữ

Tác giả: Đoàn-Xuân



Thông-thường những sự xích-mích hay xảy ra đều do sự hiểu lầm. Mà sự hiểu lầm là do sự dùng tiếng-nói hay chữ-viết không đúng với ý-nghĩa muốn diễn-đạt. Mà tiếng-nói hay chữ-viết muốn được chuẩn-xác tất phải qay về ngữ-căn (nguồn-gốc) của nó. Tiếng Việt-nam có riêng nguồn-gốc của nó: Hán-Tạng hay Nam-Á. Nhưng chữ Việt lại là một sự đồng-hóa vĩ-đại: dùng cả chữ Hán, chữ Nôm, và dùng cả chữ La-tinh để phiên-âm.

Âm-thanh (tiếng-nói) không thay-đổi nhiều (tùy vùng nhưng vẫn thống-nhất) nhưng ký-hiệu (chữ-viết) thay-đổi theo thời-đại.

Chữ-viết thay-đổi từ gốc chữ Hán thuần-túy gồm có 214 bộ, lấy bộ của chữ Hán ghép vào chữ khác được lấy làm âm để thành-lập chữ Nôm mà người Hán biết chữ cũng chẳng đọc được, rồi dùng mẫu-tự La-tinh có thêm dấu-giọng để ghi lại tiếng Việt mà chính người La-tinh cũng chẳng hiểu gỳ khi thấy thứ chữ của họ qen dùng lại có thêm những dấu lăng-qăng ở trên đầu các nguyên-âm (không có trên phụ-âm và bán-nguyên-âm).

Nhưng dầu chữ Hán, chữ Nôm hay chữ La-tinh vẫn không thay-đổi lối phát-âm, nghĩa là gốc Hán-Tạng vẫn khác Nam-Á.

Trước tiên, ta nhận-thấy chữ Hán thật hoàn-hảo ở phần diễn-ý. Ta lấy ví-dụ như chữ ‘đạo’, có vào khoảng 7 chữ khác nhau:

- Mang bộ ‘thốn’, có nghĩa là dẫn đưa, chỉ-dẫn.

- Mang bộ ‘mãnh’, có nghĩa là kẻ trộm, ăn-cắp.

- Mang bộ ‘hòa’, có nghĩa là lúa dẻ, một thứ lúa ưa cấy ở ruộng nước, một năm chín hai lần.

- Mang bộ ‘mịch’, có nghĩa là cờ tiết-mao.

- Mang bộ ‘vũ’, có nghĩa là cái đao, một thứ làm bằng lông chim để múa.

- Mang bộ ‘túc’, có nghĩa là dẫm, xéo, dậm chân.

- Mang bộ ‘sước’, có nghĩa là đường-cái thẳng, đạo-lý, đạo-giáo, chỉ-dẫn.

Cứ nhìn vào cái bộ ta có-thể đoán và hiểu được phần nào ý-nghĩa của chữ rồi: như bộ thuỷ chỉ về nước, bộ thổ nói về đất, bộ hỏa bàn về lửa, v.v… Như thế khi nhìn vào một chữ, ta không thể lẫn-lộn ý-nghĩa của nó với một chữ khác.

Ngày xưa định-nghĩa chữ ‘văn-tự’ như sau: ‘bắt chước hình-tượng các loài mà đặt ra chữ gọi là văn, gộp cả hình với tiếng gọi là tự’. Như vậy chỉ có Hán-tự là thứ chữ duy-nhất có thể gọi là ‘tự’ được mà thôi, vì nó mang đầy-đủ hình-ảnh và âm-thanh.

Thứ đến là chữ Nôm, mượn từ gốc chữ Hán, gồm có hai phần khác nhau: một phần dùng để diễn âm, một phần dùng để diễn ý. Chữ ‘nước’, bên trái là bộ ‘thủy’ biểu-lộ chất lỏng (nước), bên phải là chữ ‘nhược’ dùng để diễn âm; chữ ‘lửa’, gồm có bộ ‘hỏa’ đứng trước để chỉ ý (nóng), chữ ‘lữ’ dùng để chỉ âm; chữ ‘miệng’, gồm có chữ ‘khẩu’ bên trái chỉ ý, chữ ‘mịnh’ dùng chỉ âm; và v. v…

Dùng 214 bộ chữ, lúc đặt bên trái, lúc sang phải, khi nhảy lên đầu, khi xuống dưới chân, khi vào ở giữa (như chữ hàm, chữ biện,..) ý-nghĩa của chữ biến-hóa thật rõ-ràng, chính-xác. Nhân đó khi giải-nghĩa ta không có sự lầm-lẫn từ chữ nầy sang chữ khác được, thật là vi-diệu.

Trong toàn-bộ chữ Hán, ông cha chúng ta đã đồng-hóa thành lối phát-âm hoàn-toàn Việt-nam, mà ta thường gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là ta chỉ có-thể bút-đàm (hiểu nhau bằng chữ-viết) với người Hán chứ không thể đàm-thoại (hiểu nhau bằng tiếng-nói) được. Đến như chữ Nôm thì chỉ có người Việt mới hiểu được với nhau về âm cũng như về chữ, người Hán chỉ hiểu lờ-mờ khi thấy bộ chữ mà thôi.

Cuối cùng, trong Việt-ngữ ngày nay thường dùng là mẫu-tự La-tinh ( = Việt-ngữ abc), đó là những ký-hiệu dùng để diễn-âm chứ không diễn-ý như trong chữ Hán hay trong chữ Nôm.

Thật vậy, khi nhìn vào chữ ‘kuốc-ngữ’ ngày-nay ta chẳng thấy nó mang một ý-nghĩa gỳ cả: chữ ‘nước’ không có cái gỳ chỉ là chất lỏng, nhìn vào chữ ‘lửa’ ta không thấy cái gỳ biểu-lộ chất nóng cả, v.v…

Muốn hiểu tường-tận hệ-thống ký-âm đó ta phải học thuộc cái nghĩa của từng lời thì ta mới tránh được sự trùng-âm khác nghĩa. Ví-dụ như khi ta muốn hiểu chữ ‘đạo’ ở trên, ta phải biết nó dùng ở trường-hợp nào, với chữ gỳ; như khi ta muốn hiểu chữ ‘vũ’, gồm khoảng 17 chữ khác nhau (mỗi chữ thường có nhiều ý-nghĩa khác nhau, nhưng cũng có vài chữ dùng giống nhau: bộ thạch dùng như bộ ngọc), người biết chữ Hán chỉ cần hỏi thuộc bộ gỳ là đã hiểu đầy-đủ ý-nghĩa của nó, ngược lại, một người chỉ biết chữ Việt theo mẫu-tự La-tinh phải cần sự giải-nghĩa thật rõ-ràng có thêm phần thí-dụ hay dẫn-chứng mới hiểu nổi.

Trong thường-đàm của người Việt-nam, nếu gạt-bỏ tiếng Hán-Việt, hay gạt-bỏ tiếng Nôm, thì không một ai có-thể nói chuyện được cả. Thủ-ngữ thường chỉ dành riêng cho người câm và điếc mà thôi.

Trong chữ Hán, nếu ta viết ‘học giả’, khi chữ ‘giả’ viết với ‘bộ nhân’ (có nghĩa là không phải thật) thì không ai hiểu nhầm với chữ ‘giả’ viết với ‘bộ lão’ (dùng để chỉ người hay vật) cả. Khi viết hai chữ ‘quân nhân’ mà chữ ‘quân’ viết với ‘bộ khẩu’ (ông vua) không ai lầm với chữ ‘quân’ viết ‘bộ xa’ (nguời lính); chữ ‘nhân’ (người) không thể lầm với chữ ‘nhân’ viết với ‘bộ nhân’ (‘bộ nhân’ bên trái chữ ‘nhị’, dùng để nói lên lòng nhân, lòng thương xót, làm ơn).

Như vậy, trong Hán-tự cũng như trong chữ Nôm, việc lầm nghĩa là việc khó xảy ra.

Ngược lại, trong chữ Việt dùng theo mẫu-tự La-tinh, thì việc hiểu lầm là điều không thể nào tránh khỏi được. Trở lại hai ví-dụ đơn-giản trên, khi viết ‘học giả’, ai hiểu được tác-giả muốn nói gì: có học hay không có học? ; ‘quân nhân’ là ông vua hay người lính có lòng thương người hay là dùng để chỉ người lính?

Nêu lên sở-trường của ‘bộ’ chữ Hán và chữ Nôm là tránh được sự hiểu lầm trong khi dùng chữ, nhưng sở-đoản của nó là qá nhiều ký-hiệu (có đến 214 bộ-chữ) làm mệt trí-nhớ. Ngược lại, chữ Việt theo mẫu-tự La-tinh thì phần ký-hiệu đơn-giản hơn (25 chữ cái và 5 dấu-giọng) và cách viết lại rõ-ràng nhưng mà phần biểu-ý lại khiếm-khuyết.

Để giải-quyết sự khiếm-khuyết nầy, ông cha chúng ta phải dùng đến dấu ngang-nối. Dấu ngang-nối là phần tuyệt-diệu nhất trong khi dùng ký-hiệu của mẫu-tự La-tinh để thay-thế hoàn-toàn hệ-thống ‘chữ bộ’ của Hán-tự dùng trong Việt-ngữ: chữ-ghép: xác-định ngữ-âm và ngữ-pháp Hán-Tạng hay Nam-Á.

Chữ-ghép, ít nhất là hai chữ và có dấu ngang-nối ở giữa, được dùng trong những từ-ngữ có cùng đặc-tính (hay tự-loại) giống nhau để tạo-thành những danh-từ, động-từ, tĩnh-từ, và trạng-từ ghép. Tiếng-đệm (còn gọi là hư-từ, trợ-từ, tiếng-láy) không phải là trường-hợp nầy.

Tuỳ theo bộ chữ, trong Hán-tự chỉ là hai chữ đứng gần nhau, nhưng khi chuyển sang Việt-ngữ, thì chúng nó lại là hai chữ ghép nhau. Dấu ngang-nối không đủ khả-năng thay-thế hoàn-toàn cho hệ-thống chữ-bộ, nhưng nó nêu lên được ‘bộ’ nào có thể ghép với ‘bộ’ nào, nghĩa là chữ nào ghép được, chữ nào không ghép được. Ta có-thể định-nghĩa ‘chữ-ghép là một đơn-vị tập-hợp của hai hay nhiều chữ để thành-lập chữ đa-âm và mang ý-nghĩa hỗn-hợp, tân-kỳ, phức-tạp và rõ-ràng hơn’.

Ta nhận-thấy có một vòng tròn chuyển-hóa của Việt-ngữ từ chữ Hán sang chữ Nôm rồi sang chữ Việt gốc La-tinh. Và cái ngang-nối làm nhiệm-vụ tạo lại cái địa-vị độc-đáo của định-nghĩa về chữ ‘tự’ là gộp cả hình-ảnh và âm-thanh của chữ-bộ giống như trong chữ Hán vậy.

Bỏ dấu ngang-nối là bỏ gốc (hình-ảnh có nghĩa) mà chỉ giữ lấy ngọn (âm-thanh), cái vòng tròn của Việt-ngữ trên trở-thành đường thẳng. Văn-học của nước nào cũng có lúc thịnh lúc suy.

Nhìn vào văn-học-sử nước ta, từ chữ Hán sang chữ Nôm, rồi qa đến kuốc-ngữ ( = chữ Việt abc) ngày nay cũng không tránh khỏi định-luật đó. Số-lượng tác-phẩm ngày nay thì phong-phú mà phẩm-chất thì qá nghèo-nàn.

Tại sao dấu ngang-nối lại nói lên được phần diễn-ý hay diễn-nghĩa đó? Trở lại ví-dụ trên, hai chữ ‘học giả’. Chữ ‘học’ thì ai cũng hiểu là bắt-chước, làm theo. Riêng về chữ ‘giả’, mang hai ý-nghĩa khác nhau, nhưng viết và phát-âm giống nhau: không thật hay là người? Nếu chữ ‘giả’ mang ý-nghĩa là ‘không thật’ thì nó là chữ chỉ-định ý-nghĩa cho chữ ‘học’; nhưng nếu nó mang ý-nghĩa là ‘người’ thì đó là ‘người có-học’; và ‘người’ với sự ‘học’ là một đơn-vị không-thể tách ra làm hai được; cái phẩm-hạnh của người nầy không-thể đem gán cho người khác được, nghĩa là sự-học và con người đó không-thể chia ra được. Như vậy, khi nói đến ‘người có học’ tất ta nghĩ ngay là ‘học-giả’. Nhưng nếu một người mà họ lấy sự-học làm một trò bịp-bợm người khác, thì tất-nhiên người ấy không có cái chính-trực của sự-học, tất người ấy là một ‘học giả’. Người ta thường nghĩ người ‘có học phải có hạnh’, nếu không có hạnh-kiểm tốt thì sự-học chẳng giúp-ích gỳ cho loài-người, cho xã-hội.

Chữ ‘quân nhân’, nếu dùng để chỉ ‘ông vua hay người lính có lòng thương người’ thì không dùng dấu ngang-nối, nhưng khi dùng để chỉ ‘người lính’ thì phải dùng dấu ngang-nối, vì người lính là một đơn-vị duy-nhất không-thể tách rời ra được, vì tách cái chất lính ra, thì đó chỉ là người thường-dân chứ không còn là người lính nữa. Giống như ta bỏ quân-phục, vũ-khí thì trở lại thường-nhân vậy. Giữa ông vua hay người lính và lòng nhân không có ràng buộc nhau, cho nên không-thể ghép nhau được. Như vậy, khi Hán-tự viết ‘quân’ với ‘bộ khẩu’ thì ta giải-thích là lòng thương người của ông vua, nhưng khi viết chữ ‘quân’ với ‘bộ xa’ thì ta lại giải-thích là lòng thương người của người lính. Dĩ-nhiên, chữ ‘nhân’ viết với ‘bộ nhân’.

Vấn-nạn ở đây, trong khi dùng mẫu-tự La-tinh, là không biết dùng chữ ‘quân’ nào, nhưng chắc-chắn ai cũng phải giải-thích chữ ‘nhân’ là lòng thương người.

Cái khó của người học kuốc-ngữ ngày nay hay gặp những chữ viết giống nhau mà ý-nghĩa khác nhau: chữ đồng-âm.

Giống như chữ ‘quân nhân’, khi viết ‘học giả’ ra chữ Hán, ta không thể viết chữ ‘giả’ với ‘bộ lão’, mà phải viết chữ ‘giả’ với ‘ bộ nhân’; nhưng khi viết ‘học-giả’, ta không-thể nào viết chữ ‘giả’ với ‘bộ nhân’ được, mà phải viết với ‘bộ lão’.

Như vậy, ta thấy lối chơi-chữ của người xưa thật là tế-nhị. Trong hai chữ ‘học giả’ cũng đủ rắc-rối rồi. ‘Học-giả muốn làm học giả’ có nghĩa là ‘người có thực-học muốn làm như người không có học’: ‘đại trí nhược ngu’ (kẻ có trí lớn giống như người khờ-dại). ‘Học giả muốn làm học-giả’ có nghĩa là ‘người không có thực-học lại muốn làm như người có học’, tục-ngữ thường nói là ‘xấu làm tốt, dốt nói chữ ’. Vì thế khi ta viết ‘quân-nhân yêu quân nhân’ (có 2 cách giải-thích) hoàn-toàn không giống nghĩa với ‘quân nhân yêu quân-nhân’ (có 2 cách giải-thích) hay ‘quân-nhân yêu quân-nhân’ (có 4 cách giải-thích) hay ‘quân nhân yêu quân nhân’ (có 4 cách giải-thích). Đã dùng dấu ngang-nối để phân-biệt hai chữ ‘quân nhân’ rồi mà ta vẫn còn bị rắc-rối như thế. Nếu không dùng dấu ngang-nối, tất ta phải dùng tất-cả các giải-thích như trên, ai làm sao mà hiểu được tác-giả muốn nói gỳ? Mà thật-sự, chính tác-giả cũng chẳng biết mình định nói cái gỳ, bởi-vì trong một câu-nói lại có đến hàng chục lời giải-thích khác nhau mà đều có ý-nghĩa cả.

Có phải chăng ‘ngôn-ngữ vốn hàm-hồ’ hay ‘ngôn-ngữ vốn đa-giá’? Ỏ trường-hợp nầy, ta không-thể kết-luận là tác-giả qá sâu-sắc, dùng một câu có hàng chục ý-nghĩa khác nhau, mà phải nghĩ ngay là tác-giả chưa đủ trình-độ để diễn-đạt điều mình muốn nói. Thật nhiêu-khê nhưng cũng thật thâm-thúy.

Tóm lại, chữ ghép trong Việt-ngữ phải tùy thuộc vào bộ-chữ của Hán-tự hay chữ Nôm. Người xưa khi viết kuốc-ngữ hay chú thêm chữ Hán cho rõ nghĩa khi dùng chữ ghép hay danh-tự riêng, nhưng ngày nay không ai làm như vậy nữa, và thiết-nghĩ cũng không đủ khả-năng để làm.

Muốn ghi-chú chữ Hán bên chữ-ghép hay tên riêng, tất phải tinh-thâm Hán-tự, điều đó không đơn-giản.

Cứ như vài ví-dụ đơn-giản nêu trên, trong Việt-ngữ dùng theo mẫu-tự La-tinh có không biết bao-nhiêu cách thành-lập chữ-ghép với sự trợ-giúp của dấu ngang-nối mà ý-nghĩa vẫn tương-đương với các ‘bộ’ chữ Hán.

Như vậy, nếu biết dùng dấu ngang-nối một cách thật chính-xác thì trong phần diễn-ý của Việt-ngữ dùng mẫu-tự La-tinh không thua gỳ như khi ta dùng các ‘bộ’ của chữ Hán để diễn-ý hay diễn-nghĩa.

Cái thiếu-sót của ta là không hiểu được phần diễn-ý của người xưa trong khi dùng dấu ngang-nối, và nhất là không thấy nó thuộc vào hệ-thống dấu-hiệu ký-âm giống như dấu-giọng hay dấu chấm-câu thì vội-vàng bỏ đi và không để ý đến giá-trị vô-cùng đặc-biệt của nó: chữ-ghép phát-âm theo “liên-bình-âmỂ.

Dấu ngang-nối khi thêm vào giữa hai (hay nhiều) chữ thì chỉ đổi nghĩa của nhóm chữ chứ hoàn-toàn không đổi âm nhiều nên khiến nhiều người nghĩ ngay là nó vô-dụng.

Một hệ-thống ký-âm dầu tinh-vi đến đâu mà không diễn-ý được cũng không có giá-trị gỳ đáng kể, qan-trọng nhất là trong ngôn-ngữ.

Khoa-học càng ngày càng tiến-bộ, và nhất là với những hệ-thống ghi-âm càng tinh-vi thì sự thu-nhận và lưu-trữ tiếng-nói (hay âm-thanh) không phải là chuyện khó-khăn gỳ, nhưng sự hiểu-biết, nhận-định, phán-đoán, thưởng-thức cũng phải dành riêng cho trí-óc của con người mà thôi.

Ngày nay trong các sách viết bằng kuốc-ngữ đều không dùng dấu ngang-nối, không biết những tác-giả đó không hiểu được cách dùng của nó, hay họ cho rằng tất cả những người có-học đều là những bọn mua qan bán tước, chỉ biết dùng sự-học để lòe thiên-hạ, hay chỉ dùng sự-học như một phương-châm hãm-hại người khác và làm lợi cho chính mình, cho nên mặc dầu có nhiều người có bằng-cấp cao và làm những việc hữu-ích cho loài-người, cho xã-hội vẫn bị gọi là ‘học giả’.

Theo ý của người xưa khi dùng dấu ngang để nối, để hội-ý cho ‘bộ-chữ’ khi dùng trong chữ-ghép, ta có-thể giải-thích khác nhau. Ví-dụ khi ta viết ‘học giả Trần Trọng-Kim’, là ta chỉ nghĩ đến điều xấu của ông ta: đi học làm thông-ngôn cho thực-dân Pháp, lần-mò theo bước thang danh-vọng để cuối-cùng lên đến chức-vụ Thủ-tướng, rồi không làm nên trò-trống gỳ lại để cho Cộng-sản cướp lấy chính-quyền. Và tất-nhiên còn nhiều lỗi-lầm khác nữa tùy theo mức-độ chê-trách. Nhưng khi viết ‘học-giả Trần Trọng-Kim’, tức là ta chỉ nghĩ đến nhưng điều tốt của ông ta, như có công truyền-bá chữ kuốc-ngữ trong hàng-ngũ giáo-chức một cách rộng-rãi, làm ra sách ‘sư-phạm’ đầu-tiên, viết sách ‘Luân-lý giáo-khoa-thư ’, ‘Việt-nam sử-lược’, ‘Nho-giáo’, ‘chú-giải truyện Kiều’, và v.v… Tất-nhiên cũng có một vài khuyết-điểm trong sách nhưng không đáng kể khi so-sánh với toàn-bộ giá-trị của công-việc ông ta đã làm.

Nhầm-lẫn bộ-chữ trong Hán-tự, hay qên đi dấu ngang-nối trong kuốc-ngữ đều có tai-hại giống nhau là làm sai-lệch ý-nghĩa muốn diễn-đạt. Tất-nhiên, trong khi nói chuyện không ai nói rằng chữ nầy có ngang-nối, hay chữ kia không dùng dấu ngang-nối, nhưng khi viết mà lầm-lẫn không dùng nó khi cần-thiết thì thật là một khuyết-điểm không-thể tha-thứ được.

Ỏ bậc tiểu-học số điểm bị khấu-trừ về lỗi chính-tả giống nhau khi viết sai về dấu ngang-nối, mẫu-tự hay dấu-giọng (như chữ cuối là c hay t, n hay ng, dấu hỏi hay dấu ngã, v.v… Ví-dụ như tiếc [tiếc-thương] khác tiết [tiết-hạnh]; buồn [buồn-khổ] khác buồng [buồng chuối]; nghỉ [nghỉ-ngơi] khác nghĩ [nghĩ-ngợi]; v. v…).

Những người tiên-phong trong việc phổ-biến chữ Việt dùng theo mẫu-tự La-tinh biết rất rành-rẽ về sự biến-hóa thuận-nghịch giữa dấu ngang-nối và bộ-chữ, họ dùng chữ rất chính-xác, nhưng khi truyền-thụ họ lại không dẫn-giải, dẫn-chứng, thí-dụ minh-bạch. Đây là khuyết-điểm của người đi trước, kể cả những người viết sách về văn-phạm tiếng Việt cũng không có một chương nào bàn về dấu ngang-nối cả, trong khi nó nằm rải-rác từ đầu sách cho đến cuối sách ( = Tri-giả bất ngôn).

Có người không hiểu giá-trị của dấu ngang-nối lại bàn nên bỏ nó đi. ‘Không hiểu’ là điều không đáng trách, chỉ trách là không chịu tìm-hiểu, rồi kết-luận vu-vơ để làm cho người khác bị sai-lầm. ‘Sai một ly đi một dặm’ là vậy ( = Ngôn-giả bất tri).

Làm sai, không chịu sửa-sai, lại xúi-dục người khác làm sai theo, ôi nhân gian ( = người không ngay-chính)!

Lối nói chuyện và suy-nghĩ của người biết Hán-tự khác cách diễn-đạt và nhận-định của người biết kuốc-ngữ.

Người biết chữ Hán, khi không hiểu chữ gì thì họ hỏi chữ đó thuộc ‘bộ’ gỳ để tránh sự trùng-âm dị-nghĩa (cùng âm mà khác chữ nên khác nghĩa). Người biết chữ Việt gốc La-tinh khi nghe và không hiểu thì phải nhờ giải-thích và cho thí-dụ, bởi tiếng Việt, âm và chữ giống nhau, chỉ có khác nghĩa mà thôi.

Ỏ bậc Tiểu-học thì mơ-hồ, không đủ trí-nhớ, lên Trung-học, Đại-học thì không ai luận-giải cho rõ-ràng, rồi ra đời gặp toàn là học giả, văn sỉ, thi sỉ không biết cái hữu-dụng của dấu ngang-nối như thế nào nên bỏ đi..

Nên trách người xưa, hay nên tự trách mình không chịu tìm hiểu cho rõ-ràng? Nhưng thiết-nghĩ ở bậc Tiểu-học, trong khi học chữ Việt theo mẫu-tự La-tinh mà nói đến sự biến-hóa hỗ-tương giữa ‘bộ-chữ’ và dấu ngang-nối thì thật là rườm-rà và gây thêm rắc-rối, khó hiểu cho trẻ em qá nhiều. Việc đơn-giản hơn là nên nhắc-nhở cho những đầu-óc son trẻ đó: ‘Nếu thêm một dấu ngang-nối giữa hai (hay nhiều hơn) chữ đứng gần nhau là có thể thay-đổi ý-nghĩa của nhóm chữ đó’. Tất-nhiên phải tùy theo từng trường-hợp mà dẫn-giải và cho ví-dụ mới rõ được. Và chính nhờ vậy, các em mới lĩnh-hội được và dần-dần trở thành thói-qen để phân-biệt lối diễn-nghĩa khi dùng chữ.

Nếu bảo rằng vì trừ lỗi chính-tả mà các em hiểu được sự tương-qan giữa ‘chữ-bộ’ và dấu ngang-nối là một điều qá khắt-khe, vì chính những người lớn tuổi hơn và có học cao hơn, đã và đang không làm được. Chính vì cái khuyết-điểm nầy mà không biết bao-nhiêu việc đáng-tiếc xảy ra.

Sự-việc nào cũng có hai mặt, ưu-điểm và khuyết-điểm. Lẽ dĩ-nhiên ở đây chỉ trình-bày sự nhầm-lẫn tai-hại chứ không bàn đến dụng-ý của tác-giả, giống như trường-hợp khen hay chê Trần Trọng-Kim ở ví-dụ trên.

Biết đâu về sau nầy sẽ có những nhà ngữ-học tìm ra được một hệ-thống mới thay-thế cho ‘chữ-bộ’ của Hán-tự hay dấu ngang-nối trong Việt-ngữ abc, nhưng hiện-thời ta nên dùng nó để tránh sự hiểu lầm trong khi viết kuốc-ngữ.

Cuộc-chơi nào cũng có cái lý-thú riêng của nó để lôi-kéo con người vào đam-mê, chơi-chữ cũng vậy. Chơi-chữ cũng giống như chơi đồ-cổ, nghĩa là người chơi phải thuộc vào một trong ba loại: một giàu, hai giỏi, thứ ba dật-dờ. Người giàu muốn lưu-danh ở đời bằng văn-học thì tung tiền mướn một nhà chuyên-môn viết sách để viết một tác-phẩm độc-đáo rồi để tên mình là tác-giả. Người giỏi chữ thì tự viết lấy để lưu-danh. Nhưng người thứ ba, không giàu, không giỏi, nhưng lại muốn lưu-danh trong văn-học thì thật là rắc-rối cho cuộc đời!

Người dật-dờ không đáng ghét, mà trái lại còn đáng thương hơn nữa. Chỉ đáng ghét là người dật-dờ mà muốn dùng cái dật-dờ của mình để chỉ-huy người khác.

Ngày xưa Mạnh-Tử nói: ‘Nhân chi hoạn tại hiếu vi nhân sư’ có nghĩa là ‘Cái bệnh của người ta là ở sự thích làm thầy người ta’. Người thuộc hạng thứ ba càng nhiều, thì hạng người thứ hai và thứ nhất mới càng giá-trị: ‘Trong xứ mù, anh chột làm vua’.

Sự biến-hóa của chữ Hán qá phức-tạp, ‘bộ’ làm ra chữ, chữ trở thành ‘bộ’, nhiều ‘bộ’ làm một chữ, nhất là sự phát-triển của ngôn-ngữ càng ngày càng rộng về mọi lãnh-vực. Chỉ khi có dấu ngang-nối thâm-nhập vào mới giải-quyết được tình-trạng không rõ nghĩa của chữ Việt dùng mẫu-tự La-tinh ( = Việt-ngữ abc).

Không muốn làm rắc-rối người đọc, cũng không muốn làm buồn lòng qá nhiều người-viết, bài-viết phải giới-hạn, nên chỉ nêu lên được những điểm chính-yếu mà không dẫn-chứng, ví-dụ được nhiều.

Bài-viết cũng không nêu lên điều gỳ mới cả, chỉ nhắc-lại một điều đã bị qên-lãng qá tai-hại là cái ‘dấu ngang-nối’ mà thôi. Hoàn-toàn không phóng-đại giá-trị của dấu ngang-nối, chỉ nêu lên một vài khía cạnh căn-bản và cần-thiết. Tất-nhiên phải còn những khiếm-khuyết khác nữa cần bổ-sung để hoàn-thiện nhiệm-vụ đặc-biệt của nó.

Theo thiển-ý, nói thiếu vẫn có giá-trị hơn là cố-ý nói sai. Với thiện-chí, có nhiều lý-do để nói thiếu như: thời-gian qá ngắn, không-gian qá rộng, khả-năng hiểu-biết có hạn, tài-liệu không đầy-đủ hay bị thiếu-sót, phương-tiện eo-hẹp, v.v… Nhưng cố-ý nói thiếu hay nói sai là điều không-thể chấp-nhận được, vì đó là hành-động xuyên-tạc, che-đậy hay chối-bỏ sự-thật. Bài-viết không có ý sửa-sai, chỉ nêu lên những trường-hợp bị ngộ-nhận mà thôi. Bởi-vì sửa-sai không phải là việc đơn-giản.

Ngày xưa, theo Luận-ngữ: ‘Sinh nhi tri chi giả, thượng giã. Học nhi tri chi giả, thứ giã. Khốn nhi học chi, hựu kỳ thứ giã. Khốn nhi bất học, dân tư vi hạ hỹ.’, có nghĩa là: ‘Không ai dạy mà biết được (đạo-lý) là hạng trên cùng. Phải học rồi mới biết là hạng trung. Dốt mà chịu học là bậc thấp. Dốt mà không chịu học là hạng cuối-cùng.’ Và cũng trong Luận-ngữ, thiên Vi-chính: ‘Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi’, có nghĩa là ‘Học mà không suy-nghĩ thì mờ-tối chẳng hiểu gỳ, suy-nghĩ mà không học thì khó-nhọc, mất công không’

Chỉ cần liên-kết được hai hệ-thống phiên-âm tiếng Việt khác nhau là Hán-Nôm ( = có nghĩa) và chữ Việt abc ( = vô-nghĩa), là ta có đủ khả-năng để hiểu được Ỷ-nghĩa cuả Việt-ngữ theo đúng ngữ-âm và ngữ-pháp cuả chúng thuộc Hán-Tạng hay Nam-Á.

* * *

Cước-chú:

Học-giả Trần Trọng-Kim, không rõ Ông ta họ Trần-trọng, hay tên Trọng-Kim. Ỏ đây viết theo Dương-Quảng-Hàm. Trang bìa sách ‘Nho giáo’ viết tên tác-giả là Trần Trọng Kim. Mà thật sự cũng không hiểu Dương Quảng Hàm là họ Dương (Dương Quảng-Hàm) hay họ Dương-quảng (Dương-quảng Hàm) nữa. Theo Phan-Khôi: ‘Có một cái tên cũng viết sai chính-tả!’. Nên dùng một quyển tự-điển có âm Hán-Việt và một quyển tự-điển Việt-nam loại có dùng gạch-nối để so-sánh, nhận-định và kiểm-chứng lại cách cấu-tạo chữ-ghép của bài-viết; vì tự-điển đáng tin-cậy hơn những sách khác.

* * *

Chuyện khó tin…nhưng có thật về ‘Dấu ngang-nối’: Hơn 99.99%

1/- Về hình-thức: Đơn-giản đến nỗi từ một em bé Việt-nam bắt-đầu học vỡ-lòng đến một người có bằng tiến-sĩ Ngôn-ngữ-học cũng Biết được: ‘dấu ngang ngắn ở giữa hai chữ’: Chiếm hơn 99.99% trong số những người học tiếng Việt và Kuốc-ngữ.

2/- Về nội-dung: Phức-tạp đến nỗi có đến 99.99% người Biết tiếng Việt và Kuốc-ngữ mà không Hiểu đúng được ý-nghĩa.

* Giáo-sư Dương-Quảng-Hàm: “Những từ-ngữ gốc ở Hán-tự đều có chua chữ Nho bên cạnh và giảng nghĩa đen…”.

* Giáo-sư Nguyễn Đình-Hoà: ‘Bỏ dấu gạch-nối là một sai-lầm lớn’. Hiểu được phần ‘Xác-định văn-phạm’ là đạt 50%.

* Giáo-sư Lê Ngọc Trụ: ‘Mỗi từ lại có căn-cội, lý-do, có sự liên-hệ xa gần với âm-thinh và ý-nghĩa của một hoặc nhiều từ khác’. Hiểu được phần ‘Xác-định ngữ-căn’ là đạt 50%.

Việc học tiếng Việt và Kuốc-ngữ bằng bản-năng (= nói, đọc, viết) nên cho qa, hãy cố-gắng dùng chút trí-tuệ còn sót lại để học cho hiểu thứ tiếng-nói không tượng-thanh (= vô-nghiã) và chữ-viết không tượng-hình (= vô-nghĩa): Không Không = Có (khi xác-định ngữ-âm và ngữ-pháp Hán-Tạng hay Nam-Á, để tìm-hiểu ngữ-căn khoảng 40,000 Hán-Nôm).

Người Việt không dốt Việt-ngữ, họ có-thể nói tiếng Việt như két, đọc và viết chữ Việt abc như máy, nhưng họ mù-chữ, vì chính họ không hiểu mình đã/đang/sẽ nói hay viết gì.
* * *

Nguồn: tvvn.org
(là phần 4 trong sách Về Nguồn)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#92 Posted : Tuesday, July 29, 2014 6:29:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Lê Hữu : Ngược xuôi “những nẻo đường tiếng Việt”


UserPostedImage

“Cái hoa hòe của chữ viết chỉ là văn chương,

tư tưởng con người mới là văn học.”

(“Những nẻo đường tiếng Việt”, BS Nguyễn Hy Vọng)



Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi

Câu hát quen thuộc trong một bài nhạc cũ, “Gợi giấc mơ xưa”. Bài hát kể về một chuyện tình lỡ làng. Tác giả bài hát ấy, nhạc sĩ Lê Hoàng Long, có lần bộc lộ rằng sở dĩ có chuyện “lỡ làng” là vì ông bố người yêu của chàng không bằng lòng gả con gái mình cho anh chàng tối ngày chỉ biết kéo đàn violon. Hẳn là chàng nhạc sĩ phải nhiều tiếc nuối lắm nên hai tiếng “lỡ làng” được chàng đưa vào trong bài hát đến hai lần, “Em ơi, tình duyên lỡ làng rồi, còn đâu nữa mà chờ…”

Tôi chắc chàng nhạc sĩ (và nhiều người cũng duyên phận lỡ làng như chàng) không có ý định tìm hiểu chữ “làng” trong “lỡ làng” có nghĩa là gì, vì vậy cũng không biết được rằng chữ ấy có gốc gác là tiếng Nùng và có nghĩa là lỡ dịp, là không còn dịp nào để làm một việc gì. Khi bị lỡ chuyến tàu hay chuyến xe thì người Nùng gọi là “làng tàu”, “làng xe”.

Cũng ít ai biết chữ “pha” trong tên bài hát “Phôi pha” phát âm rất gần với tiếng Chàm và Thái, với cùng một nghĩa là mờ nhạt, là qua đi. Hoặc chữ “ngùi” trong tên bài hát “Ngậm ngùi” phát âm rất gần với tiếng Mon và Chàm với cùng một nghĩa là buồn tủi. Hoặc chữ “tác” trong tên bài hát “Tan tác” phát âm rất gần với những tiếng Thái, Mon, Chàm, Khmer, Malay, Indonesia với cùng một nghĩa là nứt rạn. Những tiếng ấy đều có chung một cái nôi ngôn ngữ với tiếng Việt, và có thể được gọi là các ngôn ngữ “anh em ta cùng mẹ cha”. (*)

Người tiết lộ cho chúng ta biết những điều thú vị này là Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, tác giả cuốn sách “Những nẻo đường tiếng Việt” và bộ “Từ điển nguồn gốc tiếng Việt”. Riêng bộ từ điển có khổ lớn (8”x10”), gồm 3 quyển, dày đến 2,200 trang và nặng đến 5 ký.

Có thể gọi đây là bộ sách rất “nặng ký”, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Tất nhiên giá trị một cuốn sách không đo ở bề dày, sức nặng hay kích cỡ, thế nhưng một bộ sách được giới thiệu là cân nặng đến 5 ký kể cũng là chuyện hiếm thấy trong các sinh hoạt “Giới thiệu sách”. Chỉ cần hình dung những người yêu sách khệ nệ ôm bộ sách quý ra xe và những vị khách lớn tuổi cần có người phụ giúp để khuân sách về nhà là cũng đủ thấy ấm lòng vì biết được rằng ở quanh đây vẫn còn có những tấm lòng yêu chữ nghĩa tiếng Việt.

Cũng không cần phải dẫn ra những tên tuổi như nhà biên soạn từ điển Đào Đăng Vỹ hay nhà văn Bình Nguyên Lộc từng bày tỏ lòng thán phục đối với tác giả và tác phẩm, bộ từ điển tự nó đáng được kể là một công trình đồ sộ, hay nói theo ngôn ngữ kiếm hiệp Kim Dung, quả là một “kỳ tích võ lâm”. Chỉ kể sơ qua một vài điểm đáng gọi là “kỳ tích” ấy:

Thứ nhất, tác giả đã tiêu pha đến gần nửa đời người để cho ra đời bộ từ điển độc đáo này. 33 năm nghiền ngẫm, trăn trở, lặn lội ngược xuôi, xuôi ngược để truy tầm cho đến tận ngọn ngành nguồn gốc đích thực của tiếng Việt. 33 năm “một mình một ngựa” miệt mài, rong ruổi trên những dặm đường dài hun hút, không ngưng nghỉ, không mỏi mệt. Không có một tấm lòng thiết tha yêu tiếng Việt, một niềm say mê ngôn ngữ học bền bỉ và một ý chí thật mạnh mẽ, chắc không ai chịu đầu tư bao công sức khó nhọc, bao năm trời ròng rã để đeo đuổi một công trình lớn lao đến bạc trắng cả mái đầu.

Thứ hai, tác giả đã trưng dẫn những khám phá mới mẻ đến bất ngờ và lý thú, như là:

(1) Không hề có cái gọi là “tiếng Hán-Việt” trong ngôn ngữ của người Việt mà chỉ có tiếng Tàu đọc theo âm và giọng Việt, được “Việt hóa” để thành tiếng Việt. Chuyện vay mượn tiếng nước ngoài là bình thường, có ngôn ngữ của nước nào, kể cả nước Tàu, lại chẳng ít nhiều đi vay đi mượn từ các ngôn ngữ khác.


(2) Không có tiếng nào được người Việt sử dụng mà lại không có nghĩa, kể cả những tiếng lâu nay vẫn bị cho là “tiếng đệm” vô nghĩa, chỉ để… xuôi tai (như những tiếng kể ra ở trên). Những “tiếng đệm” này đều có gốc gác rõ ràng và đều được giải nghĩa tường tận trong bộ “Từ điển nguồn gốc tiếng Việt”.

(3) Bác bỏ thẳng thừng những ngộ nhận hay luận điệu xuyên tạc cho rằng tiếng Việt là từ tiếng Tàu mà ra hoặc có chung nguồn gốc với tiếng Tàu, qua phương pháp đối chiếu ngôn ngữ có tính khoa học và đầy thuyết phục.

Thứ ba, tác giả cho trình làng một “bộ sưu tập” thật quy mô và có hệ thống dựa trên ngôn ngữ học so sánh, có đến gần 28,000 từ ngữ đơn và kép tiếng Việt đi với khoảng 275,000 tiếng “đồng nguyên” (có chung một nguồn gốc ngôn ngữ) của 58 chủng tộc khác nhau ở vùng Đông Nam Á như Thái, Lào, Khmer, Mòn, Chàm, Miến điện, Malay, Indonesia… và cả những sắc tộc thiểu số như Nùng, Mường, H’mong, Bahnar, Rhade… để tìm đến cái nôi đầu đời của tiếng Việt, cũng là cái nôi chung của “các ngôn ngữ anh em đồng nguyên với tiếng Việt”, trong đó có rất nhiều tiếng đồng âm, đồng nghĩa đến lạ lùng. Mỗi từ ngữ còn được dịch ra tiếng Anh, Pháp, và cả tiếng “Hán-Việt” với dạng chữ Hoa đi kèm, rất là thuận tiện cho bất cứ ai muốn tra cứu cặn kẽ những từ ngữ tiếng Việt mà không rõ nghĩa và gốc gác, hay còn nghi hoặc.

“Bộ sưu tập” quy mô này quả là một “kỳ công”, nói như học giả Đào Đăng Vỹ, và cũng là nét đặc sắc, kỳ thú nhất của công trình sưu khảo này.

Đi tìm nguồn gốc đích thực của tiếng Việt còn là tìm về nguồn cội, tìm về những tình tự dân tộc, tìm về những nét đẹp của di sản văn hóa truyền thống của người Việt, như bức ảnh “văn hóa trống đồng” được in trang trọng trên các bìa sách ấy.

“Gìn giữ tiếng Việt là gìn giữ cái linh hồn của chúng ta ở nước ngoài cũng như ở trong nước,” tác giả “Những nẻo đường tiếng Việt” nói. Phải có một trái tim rộng mở, một tấm lòng yêu nước Việt, yêu người Việt, yêu tiếng Việt biết chừng nào mới thốt lên được lời ấy.

Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, có bao nhiêu sức lực, bao nhiêu công phu, bao nhiêu nhiệt tâm nhiệt huyết ông mang ra thi thố hết để mà gìn giữ cái linh hồn ấy, để cho những thế hệ người Việt hôm nay và mai sau không phải “mất gốc”, không phải đánh mất tiếng Việt như những kẻ đánh mất linh hồn.

Được biết hai tác phẩm đặc biệt này, sau ngày chính thức trình làng tại Nam và Bắc California, lại sắp sửa “ra mắt” người yêu tiếng Việt ở Seattle (WA) và Portland (OR) vào đầu tháng Tám này, và nghe đâu sẽ đánh một vòng nước Mỹ trong cuộc hành trình thật là dài, đến những nơi nào người Việt cùng chung một tiếng nói, tiếng lòng.

Xin được gọi tác giả công trình mang tầm vóc lớn này, Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, danh hiệu “Người lữ hành miệt mài trên ‘những nẻo đường tiếng Việt’”, như là tên cuốn sách đi kèm với bộ từ điển thật dày, thật “nặng ký” vì chứa đựng biết bao nhiêu là tâm huyết và tâm tình của ông.


(*) “Một mẹ trăm con”, nhạc Phạm Duy

Edited by user Tuesday, July 29, 2014 6:34:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#93 Posted : Thursday, July 31, 2014 9:53:38 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Thâm sâu chuyện ăn uống của người Nam Bộ thuở xưa.

Sưu tầm.


Với người già cũng thế, ông bà mình cũng nói ” Già bát canh”. Bởi, con cháu, trong bữa cơm hàng ngày cũng như giỗ, Tết, thường gắp cho ông bà, cha mẹ mình miếng ngon nhất trên bàn ăn.

Vì sao khi ăn không mời?

Trước khi nói về cái lệ này, cần phải nói về ngôn ngữ của những người đi khẩn hoang. Ở rất nhiều vùng tại miền Tây hiện nay, con cái vẫn xưng “tui” với cha mẹ, với người lớn. Đây không phải thứ con cái “mất dạy” như nhiều người dân lầm tưởng, mà nó chứng tỏ sự ngang tàng, phóng khoáng, không câu nệ những chuyện lễ nghi rườm rà trong cuộc sống thường nhật. Riết rồi thành quen.

Cái ăn cũng vậy, người khẩn hoang xưa khi đi dọn rừng, phát ruộng xa chòi thường mang theo một bếp lò di động để trước mũi xuồng. Đến nơi làm, họ chọn một chỗ khô ráo rồi đặt lò và nhặt cành cây khô đốt lửa.

Đầu tiên là để xua muỗi, sau đó khi dọn rừng, phát ruộng, nếu gặp cua, vọp, rùa, rắn… thì bỏ vào lò nướng. Đến giữa buổi nghỉ trưa, họ vo gạo, bắc nồi cơm lên còn thức ăn thì đã có sẵn. Bữa cơm được dọn ra, người ta ăn đến 5-7 chén cơm vì lao động cực nhọc, vì thức ăn là đặc sản nên ăn hết sức ngon lành. Chính vì bận bịu lao động giữa thiên nhiên hoang sơ như vậy mà đến bữa cơm, ai rảnh tay và đói trước thì ăn trước, không đợi cả gia đình quây quần bên nhau mới so đũa, bưng chén. Nên mời làm gì cho mệt, đói thì cứ ăn!

Do điều kiện tự nhiên ở vùng đồng bằng sông nước, tài nguyên nông nghiệp phong phú dồi dào nên người miền Tây có rất nhiều món ăn cách ăn đa dạng. Bằng nhiều cách chế biến, từ thô sơ mộc mạc đến phức tạp cầu kỳ, nhưng hầu hết thức ăn của người An Giang quê tôi cũng như người Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, được nấu từ nguyên liệu gốc với nguồn thực phẩm tươi sống tại chỗ. Người miền Tây có câu: “Không gì ngon bằng cơm với cá. Không có tình yêu nào bằng má với con“. Câu ngạn ngữ trên đã nói lên đặc điểm yêu thích, quý trọng nguồn thực phẩm chủ yếu, ăn cơm với cá.

Các món ăn cơm hàng ngày của người miền Tây, kể cả Việt, Khmer, Hoa… thông thường là cá, tôm, lươn, trạch,… là những thứ có nhiều dễ kiếm, vừa là đạm nhẹ, ít chất béo, dễ tiêu. Đó không phải chỉ riêng ở nông thôn mà ngay trong các thành phố, thị xã, trong các bữa tiệc ở nhà hàng cũng không vắng mặt được các món cá, tôm…Về khẩu vị người Nam Bộ nói chung là thích ăn cay (dùng tiêu ớt, gừng, tỏi xả… làm giảm bớt mùi tanh của cá, lươn, ếch, rùa, rắn); ưa ăn món mặn (các loại mắm, cá khô…), thích ăn chua (canh chua,dưa chua…), ưa ăn chát (bắp chuối, chuối chát, trái bần, lá điều, đọt vừng) và thích ăn đắng (khổ quả, rau đắng đất, mật cá lóc, mật cá kèo…)

Nét độc đáo của món ăn Nam Bộ trong bữa cơm hàng ngày là canh chua và cá kho. Món ăn này rất bình dân, giản dị, ai cũng có thể làm. Món cá kho được làm với tất cả các loại cá. Cá nào cũng kho được, từ cá lóc, cá trê, cá rô cho đến cá chẻm, các vồ (cá tra), cá ba sa, cá lăng… và có nhiều kiểu cách như kho nước, kho khô, kho mắm, kho tộ,…với liệu lượng gia vị, muối, nước mắm, tiêu, hành, đường mỡ cho phù hợp với tính chất từng món mới ngon miệng.
Thí dụ: Cá rô thì nên kho tộ với mỡ, cá bống dừa, bống trứng thì phải kho tiêu, cá kèo, cá lăng, cá chẻm thì kho mặn (như loại canh mặn) thì mới ngon.

Dân miền Tây, Đặc biệt ở An Giang, hầu hết đều thích mắm, được xem là món ăn bình dân căn bản hàng ngày. Mắm là món ăn trự trữ được lâu, đề phòng cho những khi thắt ngặt, thiếu món ăn thịt cá tươi thì có mắm. Người Nam Bộ thích nhất là mắm đồng với các loại cá được muối phổ biến là sặc, lóc, trê, rô, chốt, linh, tôm, tép…Mắm trữ lâu ngày càng ngon, vừa có mắm cá để ăn vừa có nước mắm làm nước chấm với hương vị đặc biệt hơn nước mắm biển. Năm bảy chục năm về trước, lúc nguồn thực phẩm tự nhiên con dồi dào, trong mỗi gia đình người dân ở nông thôn, nhà nào cũng có dự trữ đôi ba khạp, hũ mắm cá đồng. Vào đầu mùa mưa, cá con mới nở, khó kiếm thức ăn bà con nông dân thường ăn mắm chưng với bí rợ hầm nước cốt dừa, ngon đến lạ lùng

Người miệt vườn có nhiều cách chế biến thức ăn từ mắm như ăn mắm sống, mắm chưng, mắm kho. Trong món mắm sống có các loại như: Mắm xé, mắm thái, mắm ruột (hay mắm lòng), mắm trứng, mắm dưa…, mỗi thứ có thêm các món phụ gia trộn vào hoặc kèm theo như: tỏi,ớt, chanh, dấm, đường, gừng, đu đủ rồi ăn cặp với thịt heo luộc, tôm luộc, cá nướng…Mắm chưng có loại chưng nguyên con như mắm lóc, trê; có loại băm nhuyễn (thường là mắm sắc) rồi chưng chung với trứng vịt , thịt heo…
Ở món mắm kho, con mắm giữ vai trò chủ yếu là tạo hương vị cho các món thực phẩm được kho nên người ta gọi là kho mắm. Như cá lóc kho mắn, lươn kho mắm. Các loại thực phẩm kho mắm rất đa dạng: Có nồi mắm kho chỉ dùng một món thực phẩm chính như cá rô hay cá kèo hoặc cá ngát kèm theo với một mớ thịt ba rọi. Nhưng có nơi thì tổng hợp nhiều thứ, bao gồm nhiều thứ, bao gồm: cá lóc, cá rô, cá kèo, lươn, trạch, tôm, tép, ốc bươu….

Mắm kho ngon nhờ hương vị đậm đà của mắm cộng với các loại rau tươi ăn kèm. Miền Tây được trời cho cả kho tàng rau xanh từ trong thiên nhiên hoang dã cho đến các vườn rẫy gieo trồng. Kể rau đồng ( rau rừng) thì có: bông súng, rau muống, rau cần, nhau nhúc,rau dừa, rau hẹ nước, rau má, rau đắng, rau om, bông điền điển, bông lục bình, cù nèo, rau mác…Các món rau vườn rẫy có giá hẹ, ngò, cà nâu (cà phổi), đậu rồng, khổ qua, bông so đũa, lá cách, lá nhàu, khế, chuối chát, đọt vừng, đọt cóc…Các món rau này kết hợp nhau bày trông bữa ăn mắm kho như cả một vườn hoa lá xanh tươi nhiều màu sắc, vừa đẹp mắt, vừa ngon miệng lại giàu chất bổ dưỡng.

Triết lý miệt vườn

Người miền Tây, chính vì tính cách hòa với thiên nhiên hồn hậu, phóng khoáng nên nói chung là sống, chơi bất kể nhân sơ, đều đối đãi với mọi người chân tình. Ngày xưa, xóm tôi, có một ông khách lỡ độ đường, biết “nói thơ” Đồ Chiểu, Lục Văn Tiên… Ông ghé qua nhà tôi, thế là ông già bắt má tôi phải tát cá, làm gà, mua rượu thiếu để bữa cơm nào cũng như bữa tiệc đãi ông ấy. Mà ông ấy ở đâu có ít, ăn nhậu suốt một tuần liền, cứ ngày hai “cữ” như vậy. Nhưng đâu phải ông ấy cố tình ở “chầy’ mà do ông già tôi cố gắng chèo kéo, năn nỉ ở lại nhiệt tình. Đối đãi rất thân tình, vui vẻ, không tỏ bất cứ ý nào để khách mất lòng.

Cái nết ăn ở của người miệt vườn không biết từ bao đời, người ta coi trọng, “thương” kính nhất ở hai lứa tuổi: Con nít và người già. Chắc không ở đâu trên thế giới này có chuyện, mỗi khi mẹ đi chợ về, thế nào cũng có ít quà cho đàn con thơ của mình. Ít thì cục kẹo, cái bánh tráng, khúc mía, nhiều thì cái bánh ú, bánh tét…

Thế cho nên, trong bữa cơm hàng ngày cũng như tiệc tùng, giỗ tết, người lớn thường để dành cho đám trẻ những miếng ngon nhất, gắp cho con những miếng nạc nhất, nhiều nhất…Đó là sự bày tỏ tình yêu thương, chiều chuộng cùng hàm ý nói lên rằng, con hay ăn, ăn ngon, ăn nhiều cho mau lớn để góp mặt với thiên hạ, với đời.

Rồi đến Tết, nhà nghèo đến mấy cũng ráng dành dụm, vay mượn hoặc kiếm trong nhà vài miếng vải nào lành lặn nhất, tương đối mới để mà thức hôm thức khuya, ngồi may cho con cái áo mới. Để mấy ngày tết, cho đứa con mình diện mà khi khoe với bạn bè, cho nó đỡ tủi thân, cho nó có cái ký ức đẹp về tuổi thơ của mình. Bởi vậy, ông bà mình mới có câu “trẻ manh áo mới” là vậy.

Với người già cũng thế, ông bà mình cũng nói ” Già bát canh”. Bởi, con cháu, trong bữa cơm hàng ngày cũng như giỗ, Tết, thường gắp cho ông bà, cha mẹ mình miếng ngon nhất trên bàn ăn. Những khổ nỗi, người già thường yếu hàm răng, có khi để dành miếng thịt nạc của những heo, bò, vịt, cá… dai quá, xương quá thì người già làm sao mà ăn, mà nhai, mà nhằn xương?

Hơn nữa, cái sự tiêu hóa ở cái bụng người già cũng có phần …xuống cấp. Những thứ nạc, ngon thường là những thứ nặng bụng, khó tiêu. Người già mà ăn thì nhiều khi bụng cứ ậm ạch cả đêm, làm sao mà ngủ ngon, cho thẳng giấc được. Thôi thì để phần cho họ bát canh nóng, vừa dễ nuốt, dễ tiêu lại vừa mát ruột.
Cái này cũng nói lên sự khoa học trong ẩm thực của ông bà mình để lại. Bởi người Việt thường chuộng các món rau. Hầu như các món rau xanh nào cũng nấu được một món canh vừa bổ dưỡng, vừa dể tiêu hóa nên “già bát canh” ít nhiều có ý nghĩa như vậy.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#94 Posted : Saturday, August 9, 2014 4:32:17 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

BS NGUYỄN HY VỌNG


Bàn Cờ Ngôn Ngữ
sưu tầm & tản mạn


Bàn cờ ngôn ngữ và 27,000 quân cờ tiếng Việt là 27,000 câu hỏi khó trả lời. Trả lời cũng như trả nợ. Nợ thì trả lần, trả lời thì thế nào ?


Tại sao không bó gắn mà lại gắn bó ?

Tại sao không lớn to mà lại to lớn

Có cái lý lẽ nào quyết định truớc sau ?



Tại sao xuôi giòng lại khác nghĩa với giòng xuôi

Tại sao không hề ngược nói, xuôi nói ?

Cả ngàn cái thắc mắc đang chờ trả lời

Vì đó cái tinh thần tiếng Việt.



Để tìm hiểu cái cách nói khi xuôi khi ngược. Ta phải đi ngược đi xuôi vào những khu rừng ngôn ngữ của các tiếng nói chung quanh đã chung nhau làm nên tiếng Việt hiện nay của chúng ta, sau hơn mấy ngàn năm và mấy trăm đời người…


Xưa như thế làm sao biết được ?

Vẫn biết đuợc là vì

Vì là tiếng nói con nguời chỉ chết đi sau khi đã sinh con đẻ cháu

tiếng Việt là đứa con út sau cùng của giòng họ Mon Khmer



Cái giòng họ này cũng chỉ là một đứa con của một giòng họ lớn và xưa hơn nữa của con nguời ở miền nam Á châu

Đó là giòng họ Nam Á / Austro Asiatic



Hãy bắt đầu tìm hiểu cái bắt đầu

Đó là tiếng Muờng

Hãy nghe đây tiếng nói và giọng nói của người Mường là người tiền Việt

Hiểu hay không tùy bạn là nguời Việt của miền nào?



Bạn hoàn toàn không hiểu, nếu bạn là nguời Bắc hay Nam

Bạn sẽ hiểu cái giọng hoàn toàn, nếu bạn là nguời miền Trung

Vì nó thấp, đục, trầm, chìm, nó thiếu giọng cao, nó thiếu hỏi ngã, và nhiều nữa

Nhưng nó là tiếng nói của người Giao chỉ, Cữu chân, Nhật nam tiếng nói của bà Trưng bà Triệu,

Xưa hơn nữa nó là tiếng nói của Thục An dương vương và của Mỵ châu

Nó không bao giờ là tiếng nói của Trọng Thủy và của cha nó là Triệu Đà !

Vật thì đổi, sao thì dời

Tiếng Muờng vẫn là tiếng Muờng và không bao giờ dời đổi


Tiếng Việt chuyển âm mà không đổi nghĩa:

ÂU // AU


Gầu gàu dandruff / pellicules

Giầu - giàu - rich / riche

Lầu lầu - làu làu - fluent, courant

Mầu - màu - color / couleur

Nhầu - nhàu - wrinkled / froissé

Tầu - tàu - chinese / chinois

con tầu - con tàu - boat, train // bateau, train



ÂY // AY



bây - bay - you all / vous autres

bầy ra - bày ra - to display / déployer

bóng bẩy - bóng bảy - figurative / au figuré

đi cầy - đi cày - to plough / cultiver

chẩy nuớc - chảy nuớc - to ooze / suinter

chậy mau - chạy mau - to run fast / courir vite

bề dầy - bề dày - thickness / épaisseur

giẫy giụa - giảy giụa - to shake / s’agiter

dậy học - dạy học - to teach / enseigner

đây - đay - here / ici

bị đầy ra - bị đay ra - exiled to / exilé à

gẩy đan - gảy đờn - to twang the guitar / jouer de la guitare

khẩy mỏ - khảy mỏ - to pry open the mouth

khuấy - khoáy - to stir / remuer en tournant

cuời khẩy - cuời khảy - to snicker / esquisser un rire sarcastique

lậy - lạy - to kow tow / se prosterner

mầy - mày - you / tu, toi

nầy - này - this / ci, ceci

nẩy ra - nảy ra - to get [an idea] / avoir [une idée subite]

nguây nguẩy - ngoay ngoảy - quick head movement / vif mouvements de la tête

nậy ra - nạy ra - to pry open / ouvrir de force

nhẩy - nhảy - to jump / sauter

bén nhậy - bén nhạy - acute / aigu

phe phẩy - phe phảy - to fan leisurely / s’éventere

quây - quay - to turn / tourner

quầy hàng - quày hàng - a stall / éventaire

quầy quả - quày quả - agitated / agité

rẩy nuớc - rảy nuớc - to sprinkle / asperger

sẩy thai - sảy thai - aborted / avorté

sánh tầy - sánh tày - matched up / à égalité avec

thầy - thày* - teacher / maitre

hết thẩy - hết thảy - all / tout

trấy* - trái - fruit / fruit

trẫy hội - trãy hội - to go to the fair / aller à une fête

vẩy cá - vảy cá - fish scale / écaille de poisson



Chú ý : có chiều hướng từ Đàng ngoài vào Đàng trong // từ Bắc qua Trung rồi vào Nam. Có từ buổi đầu Nam tiến # 1550 AD. Có rất nhiều trong từ điển Huình tịnh Của 1894. Tiếng Việt quả đúng là sinh ngữ, thay đổi khá mau, khá nhiều

Edited by user Monday, August 11, 2014 4:31:00 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#95 Posted : Monday, August 11, 2014 4:23:51 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
BS NGUYỄN HY VỌNG


Cái chữ đã là cái nợ ba đời của cái tiếng

sưu tầm & tản mạn



Đang được tự do chạy ngồng ngồng ngoài trời, bỗng không cách đây 5000 năm, ba thứ tiếng Ai cập, Tàu và Phenicien bị bó buộc phải có chữ…nghĩa là phải mặc quần. Nếu không có ba cái chữ đó thì vẫn có tiếng nói, cái bộ máy lúc đầu đời của con nguời để mà nói lên, nói ra việc gì mình làm, cái suy nghĩ của mình và cái tình cảm yêu, ghét, giận hờn của mình.

Giầc mơ của những kẻ đầu tiên bày ra chữ là làm sao để viết ra mà khi đọc, nhìn vào mặt chữ hay con chữ, thì phát âm ra, nói ra tiếng đúng với cái âm, cái tiếng mà mình đã nói ra từ muôn đời khi chưa có chữ…chứ đâu phải từ mới 5000 năm !

Vậy mà cái ước mơ tầm thuờng đó không bao giờ có được.

Đối với 1 ngàn triệu nguời Tàu hiện nay, giấc mơ đó vẫn là giấc ác mộng vì cái chữ Tàu không phải là chữ mà chỉ là một hình vẽ, khi thì quá đơn giản, như ao thì chúng nó vẽ một cái hình lõm xuống hay đột… thì vẽ một cái hình lồi lên, khi thì quá phức tạp như chữ Mường, hay chữ Mán, vì khi phải vẽ ra [sic] những ý niệm đó chúng nó cũng "bấn xúc xích" không biết phải đại diện cho triều đình của nó lúc đó, phải vẽ làm sao đây ? Thành thử suốt đời và cho đến mãi mãi , bọn Tàu chỉ là những đứa bé muốn viết ra cái tư tưởng của chúng nó, mà đành phải bó tay chỉ vẽ ra mà thôi kiểu như không có chó thì bắt mèo ăn cứt vậy thôi mà đã phải ăn 5000 năm rồi…

Các ông Hán Việt giờ thứ hai mươi lăm có lẽ tức khí, nhưng đành phải chịu thôi mà dù chữ Tàu, đon giản hay phức tạp cũng đều là những bó buộc phải phát âm như thế này thế kia mà không có một lý lẽ nào giải thích tại sao phải như vậy cả.

Rồi thì 1300 triệu người Tàu, sau khi học đến bạc tóc vẫn còn có chuyện vớ vẩn là nguời thì đọc và phát âm thế này nguời thì đọc và phát âm thế kia, không ai cho là nguời kia đúng cả. Vì thật ra ai cũng sai ! Từ Khổng tử cho đến không Không tử ! Không dựa vào con chữ mà dựa vào một cái hình vẽ thì làm sao mà phát âm được, cũng như không dựa vào tiền thì làm sao mà nói chuyện phát tiền ? Không dựa vào con đen mà chỉ đánh lận con đen, đánh lộn sòng cái chữ có âm với cái chữ hình vẽ để mà tìm cách đánh vần thì nào có vần đâu mà đánh ?

Đó là chưa kể ai giỏi … như Khổng tử thì biết nhiều mặt chữ, ai ít học thì biết ít, hay là đọc không ra, trái hẳn với lối viết chữ theo âm tiết của nguồn văn minh Ấn độ đã có sách văn phạm từ hơn 2200 năm [Panini] thì nguời Tàu chỉ có văn phạm mà không hề có tự phạm nghĩa là 10.000 cái hình vẽ mà họ gọi là tự đó chẳng qua chỉ là 10.000 cái ép buộc phải đọc như thế như kia. Tùy theo ông thầy của mình đọc theo như thế nào thì mình cũng phải đọc theo như thế ấy. Vì vậy mà một âm Tàu trung bình có đến 7 ý nghĩa khác nhau, các nhà ngữ học gọi là tiếng nói có nhiều homonyme nhất thế giới. Trong thời khoa học quá tiến bộ hiện nay, tiếng Tàu là một cái bẫy sập về từ ngữ luống cuống không biết ăn nói làm sao cho kịp với người ta, đành phải nhờ ông Japan đặt giùm tiếng mới cho họ dùng ké luôn mà cũng chẳng kịp, ngay chính anh chàng Nhật cũng đang cùng quẫn trong cái cách đặt tiếng mới mà dựa vào gốc Tàu xưa, vì nó kiệt quệ như một khúc sông cạn mà một chiếc tàu lớn phải đi qua ! Vì vậy mà không ai bảo ai, anh chàng Tàu phải bấm bụng nói thuôị theo hàng ngàn ngàn từ ngữ Âu châu và Mỹ nhưng chối bai bải và dấu như mèo dấu cứt và anh chàng Nhật thì khá hơn nhiều cứ ngang nhiên mượn và đọc theo các từ ngữ khoa học của Âu Mỹ [bin rù cho chữ building và jai rô sì cô pic sì ta pi lai za cho chữ gyroscopic stabilizer ! Thảm luôn !

Còn mấy ông Hán Việt "dổm" bên nhà thì cứ đòi hỏi phải lặp theo các tiếng mới ? của Tàu-Nhựt đặt ra mà cóp theo. Đâu có được! chúng nó nói cái gì đâu, không lẽ lại bắt chước cái bọn bắt chước, thì chẳng mấy lúc mà "đi đong" !

Chúng nó nói là ưu lực mẫn [super energy] trời đất ! Chả ai mà nói theo được ! Cứ xem mấý quyển tự điển Hán Việt thì quá chán mớ đời, toàn là những tiếng Tàu mà không bao giờ ta biết là gì nữa chứ đừng nói là đã "dùng qua"

Khác hẵn cái tuồng chữ abc mà một đứa bé 7 tuổi đọc như thế nào thì ông Nguyễn văn Vinh hay Phạm Quỳnh hay ông Đào duy Anh, Trần trọng Kim cũng đọc ra như vậy thôi, không hơn gì nó cả. Đó là cái hay không kể hết được cho tiếng Việt

Cái đó là một cái rất tiện lợi và quan trọng mà ít ai để ý vì khi đã đọc được chữ Việt rồi đứa bé được "xả cảng" để mà có tự do hiểu cái chữ ấy có nghĩa gì, không còn phải nhớ và tùy thuộc vài cái cách viết nữa. để mà bị gò bó vào đó nữa

Cả mấy chục ngàn em bé học viết chữ Việt, sau hai ba năm là nhiều thì cô giáo thầy giáo cũng đọc như chúng nó mà thôi … không hơn chúng nó được, không giống như ông thầy Tàu thì cứ là hơn học trò của ổng mãi vì ổng bắt học trò ổng phải viết như vầy và phải đọc như vầy mà nguời học trò không biết được cái lý, cái lẽ của ông thầy mình vì thật ra đó là một sự áp đặt ép buộc hoàn toàn có muốn giải thích bằng lý này lẽ nọ cũng không được. Thảm!

Muốn tránh khỏi cái lạc hậu của tiếng Tàu "kỳ đà cản mũi" cho sự học hiểu thì ta nên bắt chước Indonesia và Malaysia, dùng ngay từ ngữ khoa học Âu Mỹ [electrici thay vì cho điện] chỉ trong thời gian ngắn ta sẽ có hàng chục ngàn từ ngữ khoa học mà nói ngay, khỏi cần níu áo ông thầy Tàu vì ông này …thảm thay cũng đang níu áo ông thầy Nhật đó !

Đó là chưa kể sau này có thêm bao nhiêu là tiếng mới về khoa học cũng chỉ việc viết theo abc, thay vì bọn Tàu phải lo rằng mỗi tiếng mới ra lò lại phải tìm cho ra một cáí hình vẽ mới để mà vẽ.

Nhìn xem, các bạn trẻ người Việt trên khắp thế giới đang nói tiếng Anh Mỹ đó, có sao đâu ! nhất là hàng ngàn những từ ngữ về computer và , bạn biết không, theo kết quả ghi nhận của Rockfeller Research Institute ở Úc, thì trong 30 năm qua, người Việt bỏ nước ra đi bốn phương trời đã sáng chế ra được 15 ngàn bằng sáng chế trong khi cả nước Thái Lan chỉ có được 6 ngàn 5 trăm cái và Singapore [bây giờ còn ai thèm nói là tân gia ba nữa đâu !] chỉ có 7500 cái.

Thảm hại nhất là Việt nam dưới thời Cọng Sản mạt rệp hiện nay chỉ có được vỏn vẹn 256 bằng sáng chế trong 30 năm qua. Ít hơn người Việt ngoài nước đến 58 lần trong khi số người Việt ấy chỉ bằng 1 phần 27 của dân số trong nước.

( trích Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt, tác giả BS Nguyễn Hy Vọng sẽ phát hành tại Paris, mùa Hè năm 2012)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#96 Posted : Friday, August 22, 2014 4:38:13 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Thực trạng quốc ngữ và quốc văn khi Nam Phong ra đời


UserPostedImage

Hoàng Yên Lưu



Vào năm 1919, ở tuổi chưa đầy ba chục (sinh 1892), sau hai năm giữ chức chủ bút tờ Nam Phong, Thượng chi Phạm Quỳnh thực hiện một chuyến viễn du về miền Nam sau lần thăm Huế (Phú xuân) mười ngày vào 1918. Dịp này, ông sửa lại một câu ca dao khi mở đầu thiên du ký Một tháng ở Nam Kỳ để tỏ ý muốn mở rộng tầm mắt bằng cách tới một miền đất tiền phong cho chữ quốc ngữ và văn học chữ quốc ngữ (gọi tắt là quốc văn):

Làm trai đã đáng nên trai
Phú xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng


Không phải Phạm Quỳnh chỉ muốn du sơn ngoạn thủy trong các chuyến viễn du mà đây là những cơ hội ông muốn mở rộng kiến thức qua việc tìm hiểu về đất đai, sinh hoạt nhiều mặt của phần đất nước đã trở thành xứ thuộc địa của người Pháp. Có lẽ quan trọng không kém, Phạm Quỳnh là nhà báo lại có nhiệt tâm xây dựng văn học chữ quốc ngữ, nên nhân chuyến du ngoạn, muốn thấy tận mắt sinh hoạt báo chí ở miền Nam khi ấy như thế nào và chữ quốc ngữ đã được phát triển ra sao ở miền đất, đất rộng dân giàu là Lục tỉnh Nam Kỳ.
Phần sau đây trích trong Một tháng ở Nam Kỳ của ông chủ báo Nam Phong giúp ta hiểu được thực trạng quốc ngữ và quốc văn khi Nam Phong ra đời và hoài bão của nhà báo Phạm Quỳnh:

Phạm Quỳnh nhận xét chung về sinh hoạt báo chí ở ba miền Trung-Nam-Bắc vào thời điểm 1919:
“Báo giới trong Nam Kỳ thạnh lắm, phát đạt hơn ngoài Bắc nhiều. Hiện nay có đến mười tờ báo bằng quốc ngữ. Không kể “Nam Kỳ tân báo” (La Tribune indigène) viết bằng chữ Pháp, – gần đây báo ấy cũng mới xuất bản thêm một tập phụ trương bằng quốc ngữ, mỗi tuần lễ một kỳ, đều là Quốc dân diễn đàn, – còn các báo khác thì có những tờ như sau này: Nông cổ mín đàm, chuyên chủ về nông nghiệp, thương nghiệp, mở ra đã lâu, là tờ báo có tuổi nhất ở Nam Kỳ, hiện ông Nguyễn Chánh Sắt làm quản lý và chủ bút, ông cũng là một nhà trước thuật có tiếng ở Nam Kỳ; – Nam trung nhựt báo, chủ nhân là quan huyện Nguyễn Văn Của chủ nhà in Union, là một bậc thân hào danh giá ở Sài Gòn, sinh ra quan hai Nguyễn Văn Xuân hiện tùng chinh bên Đại Pháp; chủ bút là ông Nguyễn Tử Thực, có ông Nguyễn Viên Kiều giúp; – Công luận báo, quản lý ông Nguyễn Kim Đính, chủ bút ông Lê Hoằng Mưu; – Lục tỉnh tân văn, của ông chủ nhà in Schneider, ông phủ Gilbert Trần Chánh Chiến làm chủ bút; Nữ giới chung (Femina annamite) là tờ báo riêng cho các bậc nữ lưu, chủ nhiệm là ông Trần Văn Chim và ông Lê Đức; – Nam Việt tề gia nhựt báo (Journal de la famille annamite), của một bà đầm làm báo ở Sài Gòn mở ra để riêng cho đàn bà con gái An Nam coi; – Nhựt báo tỉnh (Moniteur des provinces), là một tờ công báo, dịch những nghị định công văn của Nhà nước, đăng những tin thuyên chuyển trong quan lại; – Nam Kỳ địa phận, là một tờ báo của nhà chung. – Lại gần đây nghe nói mới xuất bản một tờ Thời báo, một tờ đặt tên nôm là Đèn nhà Nam.

Đèn nhà Nam, cái tên sáng sủa thay! Ước gì đèn được sáng tỏ mà chiếu khắp chốn kẻ chợ nhà quê, nơi hang cùng ngõ hẻm, phá được cái thành hôn mê mà soi tỏ con đường tiến bộ. Đó là cái mục đích chung của cả báo giới ta vậy. Mấy tờ báo trên đó là xuất bản ở Sài Gòn. Còn ở Long Xuyên có Đại Việt tạp chí, thể tạp chí, mỗi tháng một kỳ, của hội Khuyến học Long Xuyên, cái chủ nghĩa, cái tôn chỉ cũng giống như Nam Phong vậy. Lại ở Cần Thơ, có tờ An Hà nhựt báo, ông huyện Võ Văn Thơm làm quản lý, có một phần chữ tây, một phần quốc ngữ, chuyên về nông nghiệp thương nghiệp.

Một địa hạt Nam Kỳ mà bấy nhiêu tờ báo kể cũng đã nhiều lắm vậy. Cứ lấy cái “lượng” (quantité) mà xét thì thật đủ khiến cho Bắc Kỳ Trung Kỳ phải thẹn với Nam Kỳ rằng về đường ngôn luận còn chậm kém xa quá. Nhưng cái “phẩm” (qualité) có được xứng đáng với cái “lượng” không? Điều đó thì chưa dám chắc vậy. Xưa nay phàm cái gì muốn cho nhiều tất giá phải kém, không thể vừa nhiều vừa tốt cả được. Muốn giữ cho cái “phẩm” cao, tất phải hạn cái “lượng” lại mới được. Ấy công lệ từ xưa vẫn thế: nghề làm báo, nghề làm sách, có thể ra ngoài được cái công lệ ấy không? Thiết tưởng rằng không. Cho nên xét ra các đồng bào ta trong Lục tỉnh hình như có ý trọng cái “lượng” hơn cái “phẩm” vậy. Đó cũng là một điều khuyết điểm trong học giới báo giới xứ Nam Kỳ.”

Phạm Quỳnh nhận định chung về các ấn phẩm bằng chữ quốc ngữ ở miền Nam vào 1919:

“Nghề làm sách ở Nam Kỳ cũng thịnh lắm, có phần lại thịnh hơn nghề làm báo nhiều. Tuy vài năm gần đây đã bớt đi nhiều, mà trong khoảng năm năm mười năm về trước, cái số những sách quốc ngữ xuất bản ở Sài Gòn không biết bao nhiêu mà kể. Thứ nhất là những bản dịch các tiểu thuyết Tàu cũ, như Tam quốc, Thủy hử, Chinh Đông, Chinh Tây, Phản Đường, Tùy Đường, Đông Châu, Phong thần, Đại Hồng bào, Tiểu Hồng bào, v.v… nếu sưu tập cả lại thì làm được một cái thư viện nhỏ! Những tiểu thuyết Tàu tự tám mươi đời triều ấy văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn những truyện huyền hoặc quái đản, của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kinh thay! Không trách cái tư tưởng quốc dân những chìm đắm trong sự mê hoặc không cùng… Coi đó thì biết văn chương không phải là không có quan hệ đến nhân quần; các nhà làm sách há chẳng nên cẩn thận lắm rư? Chắc ai cầm bút viết trong bụng cũng có cái ý tốt cả, và như các nhà dịch tiểu thuyết Tàu kia là chỉ chủ làm một món mua vui cho các bạn đồng bào trong khi tửu hậu trà dư, lại vừa làm một mối lợi riêng cho mình; nhưng phải nghĩ đến cái ảnh hưởng những truyện vô bằng ấy vào trong óc mộc mạc của những kẻ ít học, chưa biết suy nghĩ sâu xa, thường lấy hư làm thật, lấy giả làm chân, nó hại biết dường nào!

Ấy là cái tệ các tiểu thuyết cũ dịch của Tàu. Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay thì lại thậm hơn nữa, vì cách đặt để đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy. Tôi biết có bộ tiểu thuyết cực là dâm bôn mà lại rất là thịnh hành trong bọn phụ nữ. Coi đó thì biết cái hại sâu biết dường nào! Gia đình tan cũng vì đó, xã hội nát cũng vì đó, cái tương lai nước nhà nguy hiểm cũng vì đó. Các nhà làm sách có nghĩ tới không? Hay chỉ chủ bán cho chạy hàng, thâu được nhiều bạc, còn những lẽ cương thường luân lý mặc quách cho ai? Ôi! Cổ nhân đã dạy: làm người sĩ phu trong nước cái trách là phải phù cho thế đạo, giúp lấy cương thường. Nếu những nhà làm sách lại cố ý làm nghịch thế đạo, đạp đổ cương thường, thì một nước như vậy sống làm sao được? Thiết tưởng các bậc trí thức trong Lục châu ai trông thấy văn vận suy đồi như vậy, phong túc bại hoại như vậy cũng phải lo, mà tìm cách duy trì cho kịp. Nên mau mau, kẻo cái tệ đã sâu lắm rồi.”

Nhận định của Phạm Quỳnh về mức phổ biến chữ quốc ngữ ở ba miền nước Việt vào 1919:
“Song có một điều nên chú ý, là báo nhiều như thế, sách nhiều như thế, mà bán được chạy, có nhiều người mua, thời cũng là một cái chứng rằng dân Nam Kỳ có tính ham đọc sách và có tiền thừa mua sách. Như vậy mà nếu có những báo thiệt tốt, sách thiệt hay cho mà đọc thì ích lợi biết bao nhiêu. Chẳng bù với dân Bắc Kỳ Trung Kỳ, trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ, lại thêm dân nghèo, bỏ ra mấy đồng bạc mua báo một năm đã lấy làm một món tiền nặng; đến những bậc sĩ phu thì phần nhiều những quẩn quanh trong vòng danh lợi mà sao nhãng những việc văn chương; nghề làm báo làm sách thật không được đủ điều tiện lợi như Nam Kỳ. Cho nên khá tiếc thay cho những bậc trí thức trong Lục châu không biết khéo lợi dụng cái cơ hội tốt ấy mà đặt để ra những sách vở hay có ích cho phong hóa, nỡ để cho cái lòng ham đọc sách, ham mua sách của người dân ấy ngập vào những sách vở hoặc vô vị, hoặc tầm bậy không ra gì, thật uổng quá.”

Phạm Quỳnh nhận định chung về diễn tiến câu văn quốc ngữ ở miền Nam vào 1919:

“Chữ quốc ngữ thì đã thông dụng lắm rồi, đàn bà con trẻ thường biết đọc biết viết cả, nhưng đến văn quốc ngữ thì xem ra chưa được phát đạt lắm. Trừ mấy nhà văn sĩ có tiếng, còn thì cái trình độ quốc văn đại để hãy còn kém. Sự kém đó là bởi nhiều lẽ. Thứ nhất là Nam Kỳ bỏ nho học đã lâu, bao nhiêu cái văn điển cũ đã hầu mất hết không còn. Mà văn quốc ngữ ngày nay muốn cho thành văn chương, muốn cho phát đạt được, phi nương tựa, phi tổ thuật cái văn điển cũ ngày xưa thì không thể nào được. Lẽ đó tưởng tầm thường ai cũng hiểu, mà thật nhiều người chưa hiểu rõ, là vì nhiều người đặt sai cái vấn đề. Có người nói rằng nếu quả cần phải biết chữ nho mới làm được văn quốc ngữ thì muốn làm văn quốc ngữ tất phải học lâu năm chữ nho, tất phải trở lại những lối giáo dục hủ lậu ngày xưa, tất phải ra công rùi mài kinh sử, nghiền ngẫm một cái “tử văn” (lanque morte) vô dụng cho đời nay, như vậy thì chẳng uổng công lắm rư? Nay ta được nhờ nhà nước Đại Pháp dạy dỗ cho ta, mở mang cho ta con đường văn minh học thuật mới, đã mừng thay được thoát khỏi cái áp chế của chữ tàu trong mấy nghìn năm, có đâu ta lại mê cuồng đến nỗi lại đâm đầu vào cái chốn lao lung ấy lần nữa!”

Ý kiến của Phạm Quỳnh hoàn thiện quốc văn trong tình trạng còn phôi thai:
“Nước Nam ta học chữ nho đã mấy nghìn năm, bất luận rằng cái cách học đời xưa hay hay là dở, phải hay là trái, có một điều hiển nhiên, ai cũng phải công nhận, là chữ nho đã tiêm nhiễm vào trong tinh thần ta sâu quá rồi, cái vết nó đã in vào trong óc ta không thể nhất đán đem mà gột rửa đi được, đến nỗi tiếng nói của ta ngoài những tiếng nhật dụng tầm thường phải dùng quá nửa chữ nho mới thành văn được, như vậy mà nếu bỏ hẳn chữ nho không học thì sao cho thuộc hết tiếng nước mình được? Đã không thuộc hết tiếng nước mình thì sao đặt cho thành văn chương được? Nhưng nói rằng cần phải biết chữ nho, không phải rằng phải học chữ nho như lối ngày xưa đâu; không phải rằng phải học cho làm được thơ, được phú, được văn sách kinh nghĩa như xưa đâu; không phải rằng lại phải trở về cái lối thi cử phiền toái, khảo cứu tỉ mỉ như xưa đâu. Xưa học chữ nho là vị chữ nho mà học chữ nho, nay học chữ nho là vị quốc văn mà học chữ nho. Cái mục đích đã khác, cái phương pháp cũng không giống. Nay chỉ học cho đủ sự cần dùng về quốc văn mà thôi, chỉ học cho đủ hiểu hết một quyển Kim Vân Kiều hay một quyển Lục Vân Tiên mà thôi, thì có khó gì? Trước trăm phần nay không được một phần.

Nhưng cái một phần ấy rất cần, không biết thời không thể nào cầm ngọn bút mà viết thành bài văn quốc ngữ được, dẫu tài giỏi khôn khéo đến đâu cũng không làm thế nào ra cái “hơi” văn An Nam được, vì cái “hơi” ấy là tự mấy mươi đời truyền lại cho ta, không thể tự mình mà đặt lấy ra được. Cho nên những người nào đã quyết không cho văn quốc ngữ là cần, đành bỏ vào cái địa vị yếu hèn, chỉ đợi ngày tiêu diệt cho xong, thì không nói làm chi, còn ai đã có bụng thương đến tiếng nước nhà, muốn gây dựng cho thành một nền quốc văn có thể sống được ở đời này, thì phải noi theo lấy cái văn điển cũ của ông cha, mà cái văn điển cũ của ông cha ấy ngoài chữ nho không kiếm đâu cho thấy được. Nay ở Nam Kỳ cái văn điển cũ đã xa lạc đi mất rồi. Tuy cũng có mấy nhà có chí muốn ra sức mà vãn hồi lại, nhưng cái phần phản đối với chữ nho, cái phần khảng khái một cách sai lầm, muốn thị hùng ra tay tước hết những cái văn vẻ tốt đẹp thanh tao của mấy mươi đời nho học đã di truyền lại cho tiếng An Nam mình… cái phần ấy thì nhiều lắm. Những người có chí kia thể nào mà chống lại cho nổi, thể nào mà cứu vớt lại cho toàn được. Đó là một cái nhược điểm cho hậu vận quốc văn ở Nam Kỳ vậy. Còn một cái nhược điểm to hơn nữa, là hiện nay phàm những bậc thượng lưu, những người có học thức, thông giỏi chữ Pháp, phần nhiều khinh rẻ tiếng An Nam, không thèm nhìn đến, cho là một thứ chữ đê tiện để cho hạng tầm thường dùng mà thôi.

Như vậy thì quốc văn mong sao cho phát đạt được? Những người mong cho quốc văn có thể phát đạt được là thứ nhất trông cậy ở các nhà tân học ngày nay ra công giúp sức vào, đem cái tinh thần của văn minh học thuật Thái Tây mà đúc vào cái khuôn văn cũ của nước nhà, khiến cho thành được một nền văn thiết dụng với đời, không phải chịu mang cái tiếng hư văn như xưa nữa. Nếu những nhà ấy lại không để bụng sốt sắng vào, không những thế, lại khinh bỉ nữa, thì quốc văn còn trông vào đâu mà sinh tồn, mà phát đạt được?
Cái tình trạng văn quốc ngữ ấy không những ở Nam Kỳ, mà ở Bắc Kỳ Trung Kỳ cũng có cái hiểm tượng như vậy. Duy có ở Nam Kỳ là cái hiểm tượng ấy trình bày ra một cách rõ ràng hơn mà thôi. Cho nên mỗi lần nghĩ đến cái vấn đề này mà như nóng lòng sốt ruột, không biết giải quyết ra làm sao!…”

Qua phần trích dẫn trên có thể thấy mấy điều quan trọng liên quan đến chủ trương của Thượng chi Phạm Quỳnh trong lãnh vực ngôn luận:
- Cái chí xây dựng quốc ngữ, quốc văn ở một người trí thức khi tuổi đời chưa tròn 30 như ông, đã chứng tỏ rất nhiệt thành và đáng khâm phục.
- Quan niệm khá chính xác về vai trò báo chí nói riêng và văn học nói chung của Phạm Quỳnh trong giai đoạn khai thông dân trí ở ta đầu thế kỷ XX.
- Đề nghị hoàn thiện quốc văn của ông đáng gọi là kim chỉ nam cho người muốn xây dựng và luyện quốc văn. Lời hô hào cải cách của ông đã thuyết phục được phần đông thế hệ thanh niên Việt Nam trưởng thành sau Thế chiến Thứ nhất.
- Ông đã thực hiện được một phần quan trọng trong hoài bão xây dựng quốc ngữ, quốc văn từ khi mới có cơ quan ngôn luận trong tay (1917) cho tới lúc rời luận đàn (1932).

Tuy nhiên, cần lưu ý, quan điểm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết còn nặng màu sắc bảo thủ vì lấy tiêu chuẩn đạo đức làm trọng. Hơn nữa, ông đã không nhận định rõ vai trò của các dịch phẩm truyện Tàu xuất hiện ở Lục tỉnh Nam Kỳ vào năm 1919 (khi trình độc giả còn quá thấp) đã góp công không nhỏ vào việc phổ biến chữ quốc ngữ.

Edited by user Friday, August 22, 2014 4:40:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#97 Posted : Saturday, August 23, 2014 5:43:19 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Quanh từ "tự"

Phanxipăng


Trong từ vựng tiếng Việt hiện đại, từ tự mang nhiều nghĩa khác nhau tuỳ ngữ cảnh:
1. Như từ từ, song có ý nhấn mạnh. Ví dụ (Vd): Ngay tự phút đầu.

2. Tại, bởi vì. Vd: Tự mày nên xôi hỏng bỏng không.

3. Tên chữ - một loại tên riêng mà các nho sĩ xưa thường đặt thêm cho mình bên cạnh tên chính thức và thường dựa vào mối quan hệ ý nghĩa giữa tên chính thức với điển cố, điển tích phù hợp. Vd: Cao Bá Quát tự Chu Thần.

4. Từ Hán-Việt được ghi 寺 dùng chỉ chùa là nơi thờ Phật. Vd: Tòng lâm tự viện.

5. Từ dùng chỉ bản thân chủ thể nhằm biểu thị:

- Việc được đề cập là do chủ thể làm hoặc gây ra bằng ý chí, sức lực, khả năng của riêng mình. Vd: Nàng tự khâu giày.

- Chủ thể đồng thời là khách thể chịu sự ảnh hưởng của hoạt động do bản thân thực hiện. Vd: Anh ấy tự phê bình rất thẳng thắn và thành thật.

Từ tự theo nghĩa thứ 5 là yếu tố quan trọng tạo thành động từ tự phản / verbe pronominal / reflexive verb hoặc tự động từ / mot automatique / automatic word. Với khả năng chuyển hoá và biến đổi từ loại một cách mạnh mẽ, phong phú của tiếng Việt, những từ kết hợp ấy có thể là động từ hoặc danh từ, tính từ, v.v., tuỳ trường hợp cụ thể. Vd 1: Vì nóng giận, nó chẳng tự chủ nổi. Vd 2: Trong công việc, nó bộc lộ tính tự chủ khá cao.

Bài này xin nêu vài từ kết hợp có yếu tố tự mà chúng ta hoặc dễ nhầm lẫn, hoặc chưa rõ nghĩa tường tận nên sử dụng thiếu chính xác.

Hãy phân biệt loạt từ: tự tử, tự sát, tự tận, tự thiêu, tự ải, tự trầm, tự vẫn

Khá nhiều tài liệu ghi: "Hai Bà Trưng gieo mình xuống sông Hát để tự vẫn". Còn đây là một câu trích nguyên văn từ bài tường thuật đăng trên tờ báo nọ: "Ông X đã treo cổ tự vẫn bằng dây điện thoại tại nhà riêng". Dùng từ thế là sai! Sai chỗ nào?

Tự vẫn / tự vận, chữ Hán ghi 自刎 (bộ đao), chỉ trường hợp chủ thể tự tay dùng dao cắt cổ mà chết. Trong bộ sách Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Hạng Vũ bản kỷ có câu: "Nãi tự vẫn nhi tử". Dịch đúng: "Hạng Vương bèn tự đâm cổ mà chết".

Nếu gieo mình xuống nước, tự dìm thân vào nước mà chết, thì gọi tự trầm / 自沈 (bộ thuỷ). Theo truyền tụng, Hai Bà Trưng tự trầm chứ chẳng tự vẫn.

Nếu chủ thể dùng dây tự thắt cổ hoặc treo cổ khiến ngạt thở rồi chết, phải gọi tự ải / 自縊(bộ mịch). Ải tử là cái chết bằng cách thắt cổ hoặc treo cổ.

Còn tự thân tìm đường "vân du cõi hạc" bằng cách dùng lửa nung đốt châu thân thì gọi tự thiêu / 自燒 (bộ hoả). Tham dự hội thảo Bồ tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân được Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức ngày 29-5-2005, một số tham luận dùng tiêu đề có từ này:Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu của Thích Đức Nghiệp, Nhân kỷ niệm ngày tự thiêu của Minh Chi.

Tất cả hành vi vừa nêu được gọi chung tự tử /自死. Từ này đồng nghĩa với tự sát /自殺, tự tận / 自盡, quyên sinh / 捐, quyên mệnh / 捐命.

Học giả Đào Duy Anh phân biệt rạch ròi ý nghĩa loạt từ đang xét trong Hán-Việt từ điển (Quan Hải Tùng Thư xuất bản, Hà Nội, 1936) bằng cách chua thêm tiếng Pháp:

Tự tử / tự tận / tự sát: Se suisider (mình giết mình).

Tự ải: Se pendre (tự treo cổ / thắt cổ chết).

Tự trầm: Se noyer (tự dầm mình xuống nước mà chết).

Tự vẫn: Se couper la gorge (tự cắt cổ mà chết).

Tự kiểm và tự phê

Tự kiểm là nói tắt, viết gọn cụm từ "tự kiểm điểm" hoặc "tự kiểm thảo". Vậy "kiểm thảo" mang nghĩa gốc là gì?

Nhà văn kiêm nhà báo Vũ Bằng ghi nhận trong tập Nói có sách (NXB Nguyễn Đình Vượng, Sài Gòn, 1971 - NXB Đồng Tháp tái bản, 1996): "Kiểm thảo nguyên là một chức quan trong Hàn lâm viện thời phong kiến, hàm tùng thất phẩm (Hàn lâm kiểm thảo). Sở dĩ người ta hay nhắc đến chữ kiểm thảo nhiều là vì tổ chức hay dùng chữ kiểm thảo, tức là kiểm soát và thảo luận xem có đúng hay không, để tìm nguốn gốc những khuyết điểm hay ưu điểm. Tự mình kiểm thảo lấy mình, là tự kiểm thảo; phê bình lấy mình, không do ai bắt buộc là tự phê bình".

Tra bộ Hán-Việt từ điển do Đào Duy Anh soạn năm 1931, chỉ thấy giải nghĩa kiểm thảo / 撿討 là: "Chức quan trong Hàn lâm viện, hàm tòng thất phẩm (7-2)". Vậy phải chăng kiểm thảo là từ ghép tĩnh lược kiểm tra + thảo luận xuất hiện về sau? Riêng từ kiểm điểm, bộ từ điển này ghi 撿點 và cắt nghĩa: "Chú ý đếm xét lại (examiner)".

Cũng theo Nói có sách của Vũ Bằng thì tự phê bình là "chữ tắt của tự ngã phê bình, nói tắt hơn nữa có thể dùng từ tự phê, tức là tự mình phân tích những hành động và tư tưởng của mình, tìm nguyên nhân và khuyết điểm để phát huy cái hay và khắc phục cái xấu".

Xét chung, tự kiểm và tự phê là cặp từ đồng nghĩa. Song trong thực tiễn sử dụng hiện nay, tự kiểm chỉ thao tác bản thân phân tích, rà soát lại mặt mạnh lẫn mặt yếu của mình, còn tự phê thì thiên về nhận khuyết nhược điểm. Tự phê thường dùng trong phát ngôn. Vd: Buổi họp tự phê. Tự kiểm thường dùng trong văn tự. Vd: Viết bản tự kiểm. Hầu hết trường hợp, hai từ tự phê vàtự kiểm có thể hoán đổi lẫn nhau.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#98 Posted : Wednesday, September 10, 2014 5:01:12 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Thực trạng quốc ngữ và quốc văn khi Nam Phong ra đời
Hoàng Yên Lưu



Vào năm 1919, ở tuổi chưa đầy ba chục (sinh 1892), sau hai năm giữ chức chủ bút tờ Nam Phong, Thượng chi Phạm Quỳnh thực hiện một chuyến viễn du về miền Nam sau lần thăm Huế (Phú xuân) mười ngày vào 1918. Dịp này, ông sửa lại một câu ca dao khi mở đầu thiên du ký Một tháng ở Nam Kỳ để tỏ ý muốn mở rộng tầm mắt bằng cách tới một miền đất tiền phong cho chữ quốc ngữ và văn học chữ quốc ngữ (gọi tắt là quốc văn):

Làm trai đã đáng nên trai
Phú xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng


UserPostedImage

Không phải Phạm Quỳnh chỉ muốn du sơn ngoạn thủy trong các chuyến viễn du mà đây là những cơ hội ông muốn mở rộng kiến thức qua việc tìm hiểu về đất đai, sinh hoạt nhiều mặt của phần đất nước đã trở thành xứ thuộc địa của người Pháp. Có lẽ quan trọng không kém, Phạm Quỳnh là nhà báo lại có nhiệt tâm xây dựng văn học chữ quốc ngữ, nên nhân chuyến du ngoạn, muốn thấy tận mắt sinh hoạt báo chí ở miền Nam khi ấy như thế nào và chữ quốc ngữ đã được phát triển ra sao ở miền đất, đất rộng dân giàu là Lục tỉnh Nam Kỳ.
Phần sau đây trích trong Một tháng ở Nam Kỳ của ông chủ báo Nam Phong giúp ta hiểu được thực trạng quốc ngữ và quốc văn khi Nam Phong ra đời và hoài bão của nhà báo Phạm Quỳnh:

Phạm Quỳnh nhận xét chung về sinh hoạt báo chí ở ba miền Trung-Nam-Bắc vào thời điểm 1919:

“Báo giới trong Nam Kỳ thạnh lắm, phát đạt hơn ngoài Bắc nhiều. Hiện nay có đến mười tờ báo bằng quốc ngữ. Không kể “Nam Kỳ tân báo” (La Tribune indigène) viết bằng chữ Pháp, – gần đây báo ấy cũng mới xuất bản thêm một tập phụ trương bằng quốc ngữ, mỗi tuần lễ một kỳ, đều là Quốc dân diễn đàn, – còn các báo khác thì có những tờ như sau này: Nông cổ mín đàm, chuyên chủ về nông nghiệp, thương nghiệp, mở ra đã lâu, là tờ báo có tuổi nhất ở Nam Kỳ, hiện ông Nguyễn Chánh Sắt làm quản lý và chủ bút, ông cũng là một nhà trước thuật có tiếng ở Nam Kỳ; – Nam trung nhựt báo, chủ nhân là quan huyện Nguyễn Văn Của chủ nhà in Union, là một bậc thân hào danh giá ở Sài Gòn, sinh ra quan hai Nguyễn Văn Xuân hiện tùng chinh bên Đại Pháp; chủ bút là ông Nguyễn Tử Thực, có ông Nguyễn Viên Kiều giúp; – Công luận báo, quản lý ông Nguyễn Kim Đính, chủ bút ông Lê Hoằng Mưu; – Lục tỉnh tân văn, của ông chủ nhà in Schneider, ông phủ Gilbert Trần Chánh Chiến làm chủ bút; Nữ giới chung (Femina annamite) là tờ báo riêng cho các bậc nữ lưu, chủ nhiệm là ông Trần Văn Chim và ông Lê Đức; – Nam Việt tề gia nhựt báo (Journal de la famille annamite), của một bà đầm làm báo ở Sài Gòn mở ra để riêng cho đàn bà con gái An Nam coi; – Nhựt báo tỉnh (Moniteur des provinces), là một tờ công báo, dịch những nghị định công văn của Nhà nước, đăng những tin thuyên chuyển trong quan lại; – Nam Kỳ địa phận, là một tờ báo của nhà chung. – Lại gần đây nghe nói mới xuất bản một tờ Thời báo, một tờ đặt tên nôm là Đèn nhà Nam. Đèn nhà Nam, cái tên sáng sủa thay! Ước gì đèn được sáng tỏ mà chiếu khắp chốn kẻ chợ nhà quê, nơi hang cùng ngõ hẻm, phá được cái thành hôn mê mà soi tỏ con đường tiến bộ. Đó là cái mục đích chung của cả báo giới ta vậy. Mấy tờ báo trên đó là xuất bản ở Sài Gòn. Còn ở Long Xuyên có Đại Việt tạp chí, thể tạp chí, mỗi tháng một kỳ, của hội Khuyến học Long Xuyên, cái chủ nghĩa, cái tôn chỉ cũng giống như Nam Phong vậy. Lại ở Cần Thơ, có tờ An Hà nhựt báo, ông huyện Võ Văn Thơm làm quản lý, có một phần chữ tây, một phần quốc ngữ, chuyên về nông nghiệp thương nghiệp.

Một địa hạt Nam Kỳ mà bấy nhiêu tờ báo kể cũng đã nhiều lắm vậy. Cứ lấy cái “lượng” (quantité) mà xét thì thật đủ khiến cho Bắc Kỳ Trung Kỳ phải thẹn với Nam Kỳ rằng về đường ngôn luận còn chậm kém xa quá. Nhưng cái “phẩm” (qualité) có được xứng đáng với cái “lượng” không? Điều đó thì chưa dám chắc vậy. Xưa nay phàm cái gì muốn cho nhiều tất giá phải kém, không thể vừa nhiều vừa tốt cả được. Muốn giữ cho cái “phẩm” cao, tất phải hạn cái “lượng” lại mới được. Ấy công lệ từ xưa vẫn thế: nghề làm báo, nghề làm sách, có thể ra ngoài được cái công lệ ấy không? Thiết tưởng rằng không. Cho nên xét ra các đồng bào ta trong Lục tỉnh hình như có ý trọng cái “lượng” hơn cái “phẩm” vậy. Đó cũng là một điều khuyết điểm trong học giới báo giới xứ Nam Kỳ.”

Phạm Quỳnh nhận định chung về các ấn phẩm bằng chữ quốc ngữ ở miền Nam vào 1919:

“Nghề làm sách ở Nam Kỳ cũng thịnh lắm, có phần lại thịnh hơn nghề làm báo nhiều. Tuy vài năm gần đây đã bớt đi nhiều, mà trong khoảng năm năm mười năm về trước, cái số những sách quốc ngữ xuất bản ở Sài Gòn không biết bao nhiêu mà kể. Thứ nhất là những bản dịch các tiểu thuyết Tàu cũ, như Tam quốc, Thủy hử, Chinh Đông, Chinh Tây, Phản Đường, Tùy Đường, Đông Châu, Phong thần, Đại Hồng bào, Tiểu Hồng bào, v.v… nếu sưu tập cả lại thì làm được một cái thư viện nhỏ! Những tiểu thuyết Tàu tự tám mươi đời triều ấy văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn những truyện huyền hoặc quái đản, của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kinh thay! Không trách cái tư tưởng quốc dân những chìm đắm trong sự mê hoặc không cùng… Coi đó thì biết văn chương không phải là không có quan hệ đến nhân quần; các nhà làm sách há chẳng nên cẩn thận lắm rư? Chắc ai cầm bút viết trong bụng cũng có cái ý tốt cả, và như các nhà dịch tiểu thuyết Tàu kia là chỉ chủ làm một món mua vui cho các bạn đồng bào trong khi tửu hậu trà dư, lại vừa làm một mối lợi riêng cho mình; nhưng phải nghĩ đến cái ảnh hưởng những truyện vô bằng ấy vào trong óc mộc mạc của những kẻ ít học, chưa biết suy nghĩ sâu xa, thường lấy hư làm thật, lấy giả làm chân, nó hại biết dường nào!

Ấy là cái tệ các tiểu thuyết cũ dịch của Tàu. Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay thì lại thậm hơn nữa, vì cách đặt để đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy. Tôi biết có bộ tiểu thuyết cực là dâm bôn mà lại rất là thịnh hành trong bọn phụ nữ. Coi đó thì biết cái hại sâu biết dường nào! Gia đình tan cũng vì đó, xã hội nát cũng vì đó, cái tương lai nước nhà nguy hiểm cũng vì đó. Các nhà làm sách có nghĩ tới không? Hay chỉ chủ bán cho chạy hàng, thâu được nhiều bạc, còn những lẽ cương thường luân lý mặc quách cho ai? Ôi! Cổ nhân đã dạy: làm người sĩ phu trong nước cái trách là phải phù cho thế đạo, giúp lấy cương thường. Nếu những nhà làm sách lại cố ý làm nghịch thế đạo, đạp đổ cương thường, thì một nước như vậy sống làm sao được? Thiết tưởng các bậc trí thức trong Lục châu ai trông thấy văn vận suy đồi như vậy, phong túc bại hoại như vậy cũng phải lo, mà tìm cách duy trì cho kịp. Nên mau mau, kẻo cái tệ đã sâu lắm rồi.”

Nhận định của Phạm Quỳnh về mức phổ biến chữ quốc ngữ ở ba miền nước Việt vào 1919:
“Song có một điều nên chú ý, là báo nhiều như thế, sách nhiều như thế, mà bán được chạy, có nhiều người mua, thời cũng là một cái chứng rằng dân Nam Kỳ có tính ham đọc sách và có tiền thừa mua sách. Như vậy mà nếu có những báo thiệt tốt, sách thiệt hay cho mà đọc thì ích lợi biết bao nhiêu. Chẳng bù với dân Bắc Kỳ Trung Kỳ, trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ, lại thêm dân nghèo, bỏ ra mấy đồng bạc mua báo một năm đã lấy làm một món tiền nặng; đến những bậc sĩ phu thì phần nhiều những quẩn quanh trong vòng danh lợi mà sao nhãng những việc văn chương; nghề làm báo làm sách thật không được đủ điều tiện lợi như Nam Kỳ. Cho nên khá tiếc thay cho những bậc trí thức trong Lục châu không biết khéo lợi dụng cái cơ hội tốt ấy mà đặt để ra những sách vở hay có ích cho phong hóa, nỡ để cho cái lòng ham đọc sách, ham mua sách của người dân ấy ngập vào những sách vở hoặc vô vị, hoặc tầm bậy không ra gì, thật uổng quá.”

Phạm Quỳnh nhận định chung về diễn tiến câu văn quốc ngữ ở miền Nam vào 1919:
“Chữ quốc ngữ thì đã thông dụng lắm rồi, đàn bà con trẻ thường biết đọc biết viết cả, nhưng đến văn quốc ngữ thì xem ra chưa được phát đạt lắm. Trừ mấy nhà văn sĩ có tiếng, còn thì cái trình độ quốc văn đại để hãy còn kém. Sự kém đó là bởi nhiều lẽ. Thứ nhất là Nam Kỳ bỏ nho học đã lâu, bao nhiêu cái văn điển cũ đã hầu mất hết không còn. Mà văn quốc ngữ ngày nay muốn cho thành văn chương, muốn cho phát đạt được, phi nương tựa, phi tổ thuật cái văn điển cũ ngày xưa thì không thể nào được. Lẽ đó tưởng tầm thường ai cũng hiểu, mà thật nhiều người chưa hiểu rõ, là vì nhiều người đặt sai cái vấn đề. Có người nói rằng nếu quả cần phải biết chữ nho mới làm được văn quốc ngữ thì muốn làm văn quốc ngữ tất phải học lâu năm chữ nho, tất phải trở lại những lối giáo dục hủ lậu ngày xưa, tất phải ra công rùi mài kinh sử, nghiền ngẫm một cái “tử văn” (lanque morte) vô dụng cho đời nay, như vậy thì chẳng uổng công lắm rư? Nay ta được nhờ nhà nước Đại Pháp dạy dỗ cho ta, mở mang cho ta con đường văn minh học thuật mới, đã mừng thay được thoát khỏi cái áp chế của chữ tàu trong mấy nghìn năm, có đâu ta lại mê cuồng đến nỗi lại đâm đầu vào cái chốn lao lung ấy lần nữa!”

Ý kiến của Phạm Quỳnh hoàn thiện quốc văn trong tình trạng còn phôi thai:

“Nước Nam ta học chữ nho đã mấy nghìn năm, bất luận rằng cái cách học đời xưa hay hay là dở, phải hay là trái, có một điều hiển nhiên, ai cũng phải công nhận, là chữ nho đã tiêm nhiễm vào trong tinh thần ta sâu quá rồi, cái vết nó đã in vào trong óc ta không thể nhất đán đem mà gột rửa đi được, đến nỗi tiếng nói của ta ngoài những tiếng nhật dụng tầm thường phải dùng quá nửa chữ nho mới thành văn được, như vậy mà nếu bỏ hẳn chữ nho không học thì sao cho thuộc hết tiếng nước mình được? Đã không thuộc hết tiếng nước mình thì sao đặt cho thành văn chương được? Nhưng nói rằng cần phải biết chữ nho, không phải rằng phải học chữ nho như lối ngày xưa đâu; không phải rằng phải học cho làm được thơ, được phú, được văn sách kinh nghĩa như xưa đâu; không phải rằng lại phải trở về cái lối thi cử phiền toái, khảo cứu tỉ mỉ như xưa đâu. Xưa học chữ nho là vị chữ nho mà học chữ nho, nay học chữ nho là vị quốc văn mà học chữ nho. Cái mục đích đã khác, cái phương pháp cũng không giống. Nay chỉ học cho đủ sự cần dùng về quốc văn mà thôi, chỉ học cho đủ hiểu hết một quyển Kim Vân Kiều hay một quyển Lục Vân Tiên mà thôi, thì có khó gì? Trước trăm phần nay không được một phần. Nhưng cái một phần ấy rất cần, không biết thời không thể nào cầm ngọn bút mà viết thành bài văn quốc ngữ được, dẫu tài giỏi khôn khéo đến đâu cũng không làm thế nào ra cái “hơi” văn An Nam được, vì cái “hơi” ấy là tự mấy mươi đời truyền lại cho ta, không thể tự mình mà đặt lấy ra được.

Cho nên những người nào đã quyết không cho văn quốc ngữ là cần, đành bỏ vào cái địa vị yếu hèn, chỉ đợi ngày tiêu diệt cho xong, thì không nói làm chi, còn ai đã có bụng thương đến tiếng nước nhà, muốn gây dựng cho thành một nền quốc văn có thể sống được ở đời này, thì phải noi theo lấy cái văn điển cũ của ông cha, mà cái văn điển cũ của ông cha ấy ngoài chữ nho không kiếm đâu cho thấy được. Nay ở Nam Kỳ cái văn điển cũ đã xa lạc đi mất rồi. Tuy cũng có mấy nhà có chí muốn ra sức mà vãn hồi lại, nhưng cái phần phản đối với chữ nho, cái phần khảng khái một cách sai lầm, muốn thị hùng ra tay tước hết những cái văn vẻ tốt đẹp thanh tao của mấy mươi đời nho học đã di truyền lại cho tiếng An Nam mình… cái phần ấy thì nhiều lắm. Những người có chí kia thể nào mà chống lại cho nổi, thể nào mà cứu vớt lại cho toàn được. Đó là một cái nhược điểm cho hậu vận quốc văn ở Nam Kỳ vậy. Còn một cái nhược điểm to hơn nữa, là hiện nay phàm những bậc thượng lưu, những người có học thức, thông giỏi chữ Pháp, phần nhiều khinh rẻ tiếng An Nam, không thèm nhìn đến, cho là một thứ chữ đê tiện để cho hạng tầm thường dùng mà thôi. Như vậy thì quốc văn mong sao cho phát đạt được? Những người mong cho quốc văn có thể phát đạt được là thứ nhất trông cậy ở các nhà tân học ngày nay ra công giúp sức vào, đem cái tinh thần của văn minh học thuật Thái Tây mà đúc vào cái khuôn văn cũ của nước nhà, khiến cho thành được một nền văn thiết dụng với đời, không phải chịu mang cái tiếng hư văn như xưa nữa. Nếu những nhà ấy lại không để bụng sốt sắng vào, không những thế, lại khinh bỉ nữa, thì quốc văn còn trông vào đâu mà sinh tồn, mà phát đạt được?
Cái tình trạng văn quốc ngữ ấy không những ở Nam Kỳ, mà ở Bắc Kỳ Trung Kỳ cũng có cái hiểm tượng như vậy. Duy có ở Nam Kỳ là cái hiểm tượng ấy trình bày ra một cách rõ ràng hơn mà thôi. Cho nên mỗi lần nghĩ đến cái vấn đề này mà như nóng lòng sốt ruột, không biết giải quyết ra làm sao!…”

Qua phần trích dẫn trên có thể thấy mấy điều quan trọng liên quan đến chủ trương của Thượng chi Phạm Quỳnh trong lãnh vực ngôn luận:
- Cái chí xây dựng quốc ngữ, quốc văn ở một người trí thức khi tuổi đời chưa tròn 30 như ông, đã chứng tỏ rất nhiệt thành và đáng khâm phục.
- Quan niệm khá chính xác về vai trò báo chí nói riêng và văn học nói chung của Phạm Quỳnh trong giai đoạn khai thông dân trí ở ta đầu thế kỷ XX.
- Đề nghị hoàn thiện quốc văn của ông đáng gọi là kim chỉ nam cho người muốn xây dựng và luyện quốc văn. Lời hô hào cải cách của ông đã thuyết phục được phần đông thế hệ thanh niên Việt Nam trưởng thành sau Thế chiến Thứ nhất.
- Ông đã thực hiện được một phần quan trọng trong hoài bão xây dựng quốc ngữ, quốc văn từ khi mới có cơ quan ngôn luận trong tay (1917) cho tới lúc rời luận đàn (1932).
Tuy nhiên, cần lưu ý, quan điểm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết còn nặng màu sắc bảo thủ vì lấy tiêu chuẩn đạo đức làm trọng. Hơn nữa, ông đã không nhận định rõ vai trò của các dịch phẩm truyện Tàu xuất hiện ở Lục tỉnh Nam Kỳ vào năm 1919 (khi trình độc giả còn quá thấp) đã góp công không nhỏ vào việc phổ biến chữ quốc ngữ.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#99 Posted : Sunday, September 14, 2014 7:57:12 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao dân ca Việt Nam

Trần Minh Thương



Thế nào là "chơi chữ"?

Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng. Có nhiều định nghĩa, khái niệm, … giải thích vấn đề này, xin được nêu một số ý kiến như sau: Tự điển Tiếng Việt giải thích: "Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói. (Hoàng Phê (chủ biên) – Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).

Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe". Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển "từ điển" này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ - người viết chú thêm). (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn học – Nhà xuất bản Giáo Dục . H. 2007

Tác giả Hữu Đạt thì xem chơi chữ là một đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ thơ Việt Nam và nêu định nghĩa: "Chơi chữ là một biện pháp tu từ nghệ thuật dựa vào những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ, vận dụng linh hoạt đơn vị cơ bản của tu từ học (là chữ hoặc tiếng) đặt nó trong mối quan hệ nhiều chiều, nhiều phía với các đơn vị cùng bậc và khác bậc, nhằm khai thác tính chất nước đôi của các đơn vị ngôn ngữ dựa vào sự hiện diện của văn cảnh". (Hữu Đạt – Ngôn ngữ thơ Việt Nam – Nxb Giáo dục. H. 1996).

Từ những cách lý giải trên soi rọi vào ca dao chúng ta dễ dàng thấy được nghệ thuật độc đáo mà ngày xưa cha ông ta đã vận dụng.
Từ những từ láy lại đơn giản:
Trong chúng ta ai đó đã từng nghe câu hát của những người làm "nghề " nói thơ dạo của những năm cuối thế kỷ trước:

Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên
Ai cho đồng tiền tôi kể Vân Tiên.


Vân Tiên là tên nhân vật chính trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả dân gian khi hát đã láy lại thành câu lục "Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên" trong cặp lục bát dẫn trên cho đủ lượng chữ cần thiết của một dòng thơ. Giá trị của việc chơi chữ ở đây chỉ có vậy.

Cũng tương tự như thế ta có thể dẫn chứng một trường hợp khác: chơi chữ bằng việc sử dụng từ láy kiểu như trên:

Con mèo, con mẻo, con meo
Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao?


Từ "con mèo" được láy lại hai lần nhằm tạo âm hưởng cho câu thơ!
Với cách chơi chữ lặp đi lặp lại như thế, nhiều câu ca dao đã gợi nên cuộc sống quẩn quanh bế tắc không lối thoát của phận cái kiến, con ong ở xã hội ngày trước:

Con kiến mà leo canh đa
Leo phải cành cụt leo ra, leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra.


Hoặc như trong một tình cảnh khác, chơi chữ kiểu láy này để thể hiện nét nghĩa gắn lết không muốn xa rời nhau của đôi nam nữ "đá trót dan díu"…

Rau má là lá lan dây,
Đã trót dan díu, ở đây đừng về.
Rau má là lá lan thề
Đã trót dan díu đừng về ở đây.


Đó là cách chơi chữ bình thường vốn dĩ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của ng dân quanh năm "một nắng hai sương" bên cánh đồng thửa ruộng. Trong thơ ca bình dân còn có nhiều kiểu "chơi chữ" khác mà dụng ý của nó cũng rất uyên thâm.

Chơi chữ bằng cách dùng hiện tượng từ đồng âm khác nghĩa giữa từ đơn tiết với tiếng trong từ đa tiết:
Xin dẫn bài ca dao quen thuộc sau đây để làm ví dụ:

Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?
Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang?
Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?
Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua?
Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa xin theo.


Muốn biết nghĩa của các từ "dầu"; "bắp"; "than"; "bạc" trong các câu hát đố trên, ta xem tiếp phần đáp lại thì hiểu được sự điêu luyện của nghệ thuật này.
Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp. (Một dị bản khác: Một trăm thứ dầu, dãi dầu thì không ai thắp)
Một trăm thứ bắp, bắp chuối thì chẳng ai rang. (Một dị bản khác: Một trăm thứ bắp lắp bắp mồm, lắp bắp miệng thì chẳng ai rang)
Một trăm thứ than, than thân là than không ai quạt.
Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua

Chơi chữ là cách dùng các từ đơn tiết đồng âm nhưng khác nghĩa:

Trời mưa, trời gió vác đó(1) ra đơm
Chạy vô ăn cơm chạy ra mất đó(2).
Kể từ ngày mất đó(3) đó(4) ơi
Răng đó(5) không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay?


Từ đó mà tác giả dân gian sử dụng trong bài ca dao trên vừa là danh từ chỉ một dụng cụ đánh bắt, vừa là đại từ chỉ nơi chốn được "mượn" làm đại từ nhân xưng chỉ người. Từ đó(2), đó(3), đó(4) là thú vị và đa tầng nghĩa nhất vậy.
Gợi lên một ý nghĩa khác "tục" mà thanh bởi từ "đẩy" đa nghĩa (cả nghĩa trong khẩu ngữ) của câu ca dao sau đây:

Em ơi nên lấy thợ bào
Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm


Xét từ ngữ nghĩa tường minh của văn bản thì không có gì hết, nó chỉ miêu tả một hành động bình thường của anh thợ mộc làm động tác bào cây, gỗ, nhưng xét về nghĩa hàm ẩn của nó thì thật là "độc", mà cái "độc" ấy là do nghệ thuật "chơi chữ' tạo ra.

Công dụng của nét chơi chữ ấy dùng để phê phán. Phê phán thầy đồ đạo cao đức trọng, cố ý "thanh cao" nhưng không tránh khỏi cái bản năng bình thường của con người, tác giả dân gian chơi chữ "đồ" để mỉa mai hết sức thâm thuý trong bài ca dao sau đây:

Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ
Ra hồ sen xem ả hái hoa
Ả hớ hênh ả để đồ ra
Đồ trông thấy ngắm ngay tức khắc
Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp
Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia


"Đồ nọ" tưởng "đồ kia" là hai từ đồng âm nhưng một từ với nghĩa là thầy đồ - một hạng người trong xã hội, và một từ "đồ" cũng là danh từ nhưng để chỉ sinh thực khí của phụ nữ!

Nhiều khi cách chơi chữ đồng âm này tránh được cái tục, một sự nói tránh hết sức tinh tế:

Sáng trăng em nghĩ tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời em bằng lá đa
Đen như mõm chó chém cha sự đời.


Cái sự đời mà câu ca dao đề cập bằng việc dùng nghĩa lấp lửng nước đôi như trên chắc chắn rằng ai cũng biết đó là cái gì rồi!
Phê phán "bà già" còn muốn chồng được tác giả dân gian mỉa mai bằng cách chơi chữ "lợi" trong một bài ca dao quen thuộc:

Bà già đi chợ Cầu Đông
Xem bói một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn


Lợi vừa là tính từ chỉ việc có ích, vừa chỉ một bộ phận trong vòm họng con người: cái " nướu răng"!
Đôi khi kín đáo hơn, nhẹ nhàng, để nói đến thân phận bấp bênh về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày trước dân gian có câu:

Thân em như cá rô mề
Lao xao giữa chợ biết về tay ai.


Ví "thân em" với cá rô mề, quả là khó còn từ ngữ nào đắc hơn trong văn cảnh vừa dẫn, bởi nói vừa chỉ được nhiều điểu mà người sáng tạo ra nó muốn nói.
Trái lại hiện tượng trên, là việc dùng từ đồng nghĩa để chơi chữ với dụng ý phê phán rõ ràng:

Có cứt thì lúa mới xanh
Quần hồ áo cánh bởi anh cứt này


Thực ra những từ không được sạch sẽ trên đây có từ "phân" đồng nghĩa với nó, nhưng dân gian không dùng "phân" mà thay "phân" bằng …(!) để nhắc nhở những người gần bùn mà vội "quên đi mùi bùn"(!)

Xong có lẽ hiện tượng dùng từ cùng trường nghĩa, gần nghĩa để tạo nét liên tưởng thú vị là phổ biến nhất trong ca dao:

Con quạ nó ăn tầm bậy tầm bạ nó chết,
Con diều xúc nếp làm chay,
Tu hú đánh trống bảy ngày,
Con bịp nó dậy, nó bày mâm ra.
Con cuốc nó khóc u oa,
Mẹ nó đi chợ đàng xa chưa về.


Bài ca dao tập hợp những con chim sống trọng bụi quạ, diều, tu hú, bìm bịp, cuốc, cho mỗi con đóng vai trò thích hợp với đặc điểm của chúng: diều với quạ cùng loại nên đóng vai trò chính; tu hu đầu mùa hè hay kêu; bìm bịp thường hay ở trong bụi rậm, ít bay đi đêm, như người nội trợ; cuốc lủi trong bụi như tìm ai, tiếng kêu của nó sầu não như khóc như than. Đây là cách chơi chữ dùng các từ cùng trường nghĩa để khắc hoạ lên những bức tranh dân gian về một đám ma nghèo nhưng đầy đủ lễ thức. Vừa phản ảnh một phong tục ngày trước với nhiều màu sắc độc đáo nhưng cũng không giấu tính châm biếm sắc sảo.

Cùng kiểu như vậy ta còn có thể gặp trong các bài ca dao tương tự:

Con cò chết rủ trên cây,
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Chim ri ríu rít bò ra chia phần
Chào mào thì đánh trống quân,
Chim chích cỡi trần vác mõ đi rao.


Hoặc:
Con cò mắc giò mà chết
Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
Con cu đánh trống bằng tay
Chào mào đội mũ làm thầy tế văn
Chiền chiện vừa khóc vừa lăn
Một bầy chim sẻ bịt khăn khóc cò


Chọn những con vật cùng trường nghĩa khác, bài ca sau đây cũng dùng cách chơi chữ ấy:

Cóc chết bỏ nhái mồ côi,
Chẫu ngồi chẫu khóc :" Chàng ơi là chàng"
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi!

Tác giả dân gian tập hợp trong bài ca dao này các con vật cùng loài với cóc: nhái, chẫu chuộc, chầu chàng (chẫu chàng thân và chi mảnh, dài; chẫu chuộc cũng giống như chẫu chàng nhưng lớn hơn); ễnh ương, ngoé là giống nhái bén. "Chàng" trong câu câu ca trên vừa là con vật (chẫu chàng) vừa là đại từ chỉ người trong cặp đại từ nhân xưng cổ: chàng – nàng. Như vậy, bài ca dao vừa chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm, vừa chơi chữ bằng cách dùng các từ cùng trường nghĩa.

Đôi lúc ghép những từ cùng trường nghĩa để chơi chữ với tính chất "trào lộng":

Chị Xuân đi chợ mùa hè
Mua cá thu về chợ hãy còn đông

Những từ đồng âm khác nghĩa (Xuân, thu, đông) và các kết hợp các từ cùng trường nghĩa với nhau tạo nên nét độc đáo: hoá ra đó là bốn mùa trong năm!
Một bài khác:

Anh Hươu đi chợ Đồng Nai
Bước qua Bến Nghé ngôi nhai thịt bò
Vui đùa với chữ là dụng ý chính của những câu ca dao này!

Hoặc để chỉ một cảnh sinh hoạt bình thường của một gia đình làm nghề chài lưới:

Cha chài mẹ lưới con câu
Chàng rễ đóng đáy con dâu ngồi nò.


Hay như để chỉ các sản vật là lương thực mà con người đổ không biết bao nhiêu giọt mồ hôi để tạo ra, tác giả dân gian gửi gắm:

Thấy nếp thì lại thèm xôi
Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm
Hai tay xới xới đơm đơm
Công ai cày cấy sớm hôm đó mà.

Chiết tự ra từ một từ láy, hoặc một từ ghép để "chơi chữ":

Cô giỏi cô giang, cô đang xúc tép
Cô thấy anh đẹp cô đổ tép đi


Từ "giỏi giang" được chiết tự ra làm hai thành tố để rồi kết hợp lại nhằm nhấn mạnh tính cách của chủ thể "cô" trong câu ca trên. Đó cũng là một dạng của nghệ thuật chơi chữ!
Việc dùng từ trái nghĩa trong cùng một câu thơ, cũng là một hiện tượng chơi chữ của dân gian:

Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít
Trầu cả khay sao dám gọi trầu không.
Hoặc như:

Lươn ngắn mà chê trạch dài
Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.


Chạch là loại cá trông giống lươn cỡ nhỏ, thân ngắn. Thờn bơn là loại cá thân dẹt, miệng và mắt lệch lên phía trên đầu. Trai là loại động vật thân mềm, vỏ cứng, gồm hai mảnh, thường há ra như cái miệng. Với nghệ thuật chơi chữ để giễu nhại giống như kiểu: "Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới trả lời cả họ mày thơm" tác giả dân gian muốn châm biếm những người đem chủ quan của mình gán ghép cho người khác mà không thấy được mình cũng có khuyết điểm tương tự như thế, chả ai hơn ai, chả biết mèo nào cắn mỉu nào!

Trong nhiều lời hát đối đáp cũng có hiện tượng như vậy:

Giàn hoa bể cạn nước đầy
Cá vàng hoá bạc chàng rày đối chi?

Chơi chữ là dùng cách nói lái, tức là đảo vị trí phần vần và thanh điệu của hai từ liền kề nhau:

Con cá đâu anh ngôi câu đó
Biết có không mà công khó anh ơi


Và:

Con cá đối nằm trong cối đá
Con mèo đuôi cụt nó năm mục đuôi kèo,…

Chơi chữ bàng cách dùng các từ thuần Việt đồng nghĩa với nhau:

Bạn vàng chơi với bạn vàng
Chớ chơi với Vện ra đàng cắn nhau.


Từ "bạn vàng" của "những con chó" làm cho người nghe liên tưởng đến "bạn vàng của con người" cũng là một dụng ý thật đắc mà nghệ thuật chơi chữ tạo ra.
Hoặc đôi lúc dùng một tiếng Việt đồng nghĩa với một từ Hán Việt để chơi chữ:

Có răng nói thật đi nha
Lúc trăng đang tỏ thì hoa đang thì.

"Nha" là từ Hán Việt tương đương với từ thuần Việt "răng"!

Hay như:
Rắn hổ đất leo cây thục địa
Ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên.

Rồi thì:
Cha con thầy thuốc về quê
Hồi hương phụ tử thì chàng đối chăng?


Cái độc đáo ở nghệ thuật chơi chữ trong câu thơ này là vừa có hai từ tương đương nghĩa "cha con" (thuần Việt) với "phụ tử" (Hán Việt); "về quê" (thuần Việt) với "hồi hương" (Hán Việt). Rồi "thầy thuốc" để chỉ nghề nghiệp của hai "cha con" mà "hồi hương", "rồi phụ tử" là những vị thuốc nổi tiếng trong đông y!

Cuối cùng hết của các dạng chơi chữ trong ca dao mà chúng tôi khảo sát được là việc đảo trật tự từ ngữ để tạo ra nghĩa ngược với thực tế:

Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt bé lên mười,
Con gà mâm rượu nuốt người lao đao
Lươn nằm cho trúm bò vào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn, có lác rình mò bắt trâu
Gà con đuổi bắt diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.


Tất cả các sự việc, các hành động và chủ thể tạo nên hành động trong bài ca dao trên đều ngược nghĩa so với hiện thực cuộc sống. Đều mà tác giả dân gian muốn gửi gắm ở đây có lẽ với hai dụng ý rõ rệt: vừa mua vui với chữ nghĩa, vừa muốn nói lên một sự bất công ngang trái trong xã hội ngày trước!

Như vậy, tuy khác nhau về lời lẽ song có thể thấy mấy điểm chung trong các cách hiểu trên về chơi chữ.

- Chơi chữ là một biện pháp tu từ được dùng trong ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn thơ)

- Biện pháp chơi chữ được thực hiện dựa trên các tiềm năng về chất liệu ngôn ngữ dân tộc. Các tiềm năng về âm thanh, chữ viết, từ đồng âm, đồng nghĩa, v.v, ...càng phong phú thì càng tạo điều kiện cho chơi chữ phát triển.

- Chơi chữ tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị về nhận thức, đồng thời có tác dụng châm biếm, hài hước, thư giãn bằng chữ nghĩa, v.v…

Riêng trong ca dao chơi chữ đã thể hiện nét phong phú độc đáo trong tâm hồn của người nông dân "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"./.

*Trong bài viết có tham khảo tài liệu chép tay (chuyên đề dành cho thạc sĩ Ngữ văn): "Truyền thống ngữ văn của người Việt" của T.S Trần Văn Minh, Trường Đại học Vinh.

Edited by user Sunday, September 14, 2014 8:03:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#100 Posted : Saturday, September 27, 2014 2:37:48 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 10/7/2014(UTC)
Users browsing this topic
Guest (3)
11 Pages«<34567>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.