Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages<12345>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#41 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:34:08 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


R -

Rả -- cười ra rả, rả rich, mưa rỉ rả.

Rã -- rời nhau ra, mỏi mệt rã bèn, rã bọt mép, rã đám, rã hùn, rã rời, rã sòng, rã thây, tan rã, mỏi rã chân, kêu rã họng, đói rã ruột, rã rượi, ròng rã, rộn rã.

Rải -- phân ra nhiều nơi rải của, rải rác, rải truyền đơn.

Rãi -- chậm rãi, chẫm rãi, rộng rãi, rỗi rãi.

Rảy -- vung tóe ra rảy mực, rảy nước, búng rảy, phủi rảy.

Rẩy -- run rẩy

Rẫy -- đất trồng tỉa rẫy bái, đất rẫy, làm rẫy, ruộng rẫy; --bỏ rẫy vợ, rẫy chồng, ruồng rẫy, phụ rẫy.

Rảng -- lớn tiếng rang rảng, rổn rảng; --bớt, giảm lần mây rảng, mưa đã rảng.

Rảnh -- ở không rảnh mắt, rảnh nợ, rảnh rang, rảnh rỗi, rảnh tay, rảnh việc, rảnh trí, giờ rảnh.

Rãnh -- đường thoát nước mương rãnh, cống rãnh đào rãnh, khai rãnh.

Rảo -- bước mau rảo bước, rảo phố, rảo quanh, chạy rảo.

Rẩm -- rên rẩm.

Rẫm lẫm rẫm, rà rẫm, rờ rẫm.

Rẻ -- không đắt tiền rẻ mạt, rẻ rề, rẻ thúi, bán rẻ, của rẻ, giá rẻ; --khinh khi coi rẻ, khinh rẻ, rẻ rúng, chim rẻ quạt.

Rẽ -- chia, tách ra rẽ duyên, rẽ đường ngôi, rẽ ròi, rẽ thúy chia uyên, chia rẽ, con đường rẽ, rành rẽ, riêng rẽ, cái rỏ rẽ, tàu rẽ sóng, rẽ tay trái.

Rể -- chồng con gái mình con rể, cô dâu chú rể, chàng rể, kén rể, làm rể, ở rể, phù rể.

Rễ -- rễ cây rễ cái, rễ con, rễ chùm, bén rễ, cội rễ, đâm rễ, gốc rễ, mọc rễ.

Rểu -- qua lại chạy rểu, đi rểu, thưa rểu, rểu qua rểu lại.

Rỉ -- mưa rỉ rả, chảy ri rỉ, rỉ hơi, rên rỉ, rỉ tai, rủ rỉ, sắt rỉ.

Rĩ -- rầu rĩ, rền rĩ, rầm rĩ.

Rỉa -- rứt từng miếng rỉa ráy, rỉa rói, rúc rỉa, cá rỉa mồi, chim rỉa lông.

Rỉnh -- bụng binh rỉnh.

Rỏ -- thèm rỏ dãi, cái rỏ rẽ (róc rách).

Rõ -- minh bạch, tỏ rõ ràng, rõ rệt, tỏ rõ, hiểu rõ, nghe rõ, thấy rõ, rõ khéo, hai năm rõ mười.

Rỏi -- rắn rỏi.

Rõi -- rõi bước.

Rỏm -- cỏm rỏm.

Rỏn -- đi rình đi rỏn, tuần rỏn.

Rỗng -- không có ruột rỗng không, rỗng ruột, rỗng tuếch, trống rỗng, thùng rỗng kêu to.

Rổ -- rổ may, rổ quảu, rổ rá, rổ xúc, cải rổ, chơi bóng rổ, thúng rổ.

Rỗ -- lỗ thẹo mặt rỗ chằng, rỗ hoa mè, gót rỗ.

Rổi -- đi rổi, ghe rổi, phường rổi.

Rỗi -- ít việc phải làm rỗi hơi, rỗi rãi, nhàn rỗi, rảnh rỗi, ngồi rỗi; --xin cho khỏi tội rỗi tội, rỗi xin, cứu rỗi, tâu rỗi, tiêu rỗi.

Rổn -- tiếng khua chén dĩa khua rổn rảng, ăn nói rổn rảng.

Rỡ -- rỡ danh, rỡ mặt rỡ mày, rỡ ràng, càn rỡ, mừng rỡ, rạng rỡ, rực rỡ, sáng rỡ.

Rởm -- lố lăng ăn mặc rởm, hàng rởm, đài các rởm, bọn rởm đời, tính rởm, trò rởm.

Rởn -- sợ rởn tóc gáy, rởn gai ốc.

Rỡn -- không nghiêm nói cà rỡn, chơi cà rỡn.

Rủ -- bảo theo rủ nhau, rủ ren, rủ rê, rủ rỉ, quyến rủ [xem GHI CHÚ 1].

Rũ -- lả xuống vì kiệt sức rũ rượi, rũ liệt, cú rũ, ủ rũ, già rũ, héo rũ, tù rũ xương; -- rung cho sạch (Dũ) rũ sạch lo âu, rũ sạch nợ đời.

Rủa -- câu chửi trù chửi rủa, nguyền rủa, rủa độc, rủa thầm, rủa sả.

Rủi -- không may rủi ro, rủi tay, gặp rủi, may rủi, phận rủi, cuộc đời dun rủi, may ít rủi nhiều, một may một rủi.

Ruổi -- ruổi ngựa đuổi theo, ruổi mau, giong ruổi.

Rủn -- mềm, hết hăng rủn chí, sợ rủn người, bủn rủn, mềm rủn.

Ruỗng -- rỗng bên trong ruỗng nát, đục ruỗng, ruỗng xương, mọt ăn ruỗng gổ.

Rửa -- làm cho sạch rửa hận, rửa hờn, rửa hình, rửa mặt, rửa ráy, rửa tay, gột rửa, phép rửa tội, tắm rửa.

Rữa -- rã, vữa, tàn héo chín rữa, thúi rữa, úa rữa, hoa tàn nhụy rữa.

Rưởi -- phân nửa của đơn vị trăm rưởi, ngàn rưởi, cân rưởi, chỉ rưởi, ngày rưởi, giờ rưởi, thước rưởi, chục rưởi, triệu rưởi [xem GHI CHÚ 2 về chữ Rưởi].



Ghi chú :

GHI CHÚ 1:

Chữ rủ trong quyến rủ viết dấu hỏi, vì chữ rủ nầy có nghĩa rủ rê, rủ ren, dụ dỗ đến với mình. Chữ rũ dấu ngã có nghĩa rũ rượi, mệt mỏi, kiệt sức, không đúng theo nghĩa dụ dỗ, rủ ren của quyến rủ. (Đ-s-T)

GHI CHÚ 2 - VỀ CHỮ "RƯỞI"

Việt Nam Tự Điển (Lê văn Đức), quyển Hạ, trang 1258, ghi:

* RƯỞI phân nửa của số trăm, số ngàn sắp lên (muôn rưởi, ngàn rưởi, triệu rưởi)

* RƯỠI nửa phần của một số dưới số trăm, hay của một đơn vị có kể tên (cắc rưỡi, cân rưỡi, chỉ rưỡi)

Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị (Lê ngọc Trụ), trang 385 ghi:

* RƯỞI phân nửa, số trên một trăm (ngàn rưởi, trăm rưởi, thiên rưởi)

* RƯỠI (dùng với danh từ) nửa phần (cắc rưỡi, cân rưỡi, chục rưỡi, đồng rưỡi)

Việt Nam Tự Điển Hội Khai Trí Tiến Đức, trang 477 ghi:

*RƯỞI nửa, rưởi (trăm rưởi, nghìn rưởi)

*RƯỠI phần nửa (một đồng rưỡi, một ngày rưỡi)

Từ Điển Tiếng Việt ( Hoàng Phê, Viện Ngôn Ngữ, Hà Nội 1994), trang 811 ghi:

* RƯỞI như RƯỠI (nhưng thường chỉ dùng sau số đơn vị từ hàng trăm trở lên): Vạn rưởi.

* RƯỠI một nửa của đơn vị: Một đồng rưỡi. Hai tháng rưỡi. Năm trăm rưỡi. Tăng gấp rưỡi (tăng 50%)

Cả bốn quyển đều không giải thích vì sao khi số lượng đơn vị TRÊN MỘT TRĂM thì viết dấu HỎI, và DƯỚI MỘT TRĂM thì viết dấu NGÃ.

Theo thiển ý của chúng tôi thì Rưởi có nghĩa là THÊM PHÂN NỬA CỦA ĐƠN VỊ vào số lượng đơn vị đang có.

Ví dụ nói:

2 Ngàn rưởi, là 2 Ngàn + Nửa Ngàn.
3 Chỉ rưởi, là Ba Chỉ + Nửa Chỉ.
5 Ngày rưởi, là 5 Ngày + Nửa Ngày.
1 triệu rưởi, là 1 triệu + Nửa triệu.

Như vậy thì Rưởi của Một Triệu, hay của Một Ngày, của Một Chỉ, hay của Một trăm, Một Ngàn, đều mang một nghĩa duy nhất là phân nửa của đơn vị ấy được thêm vào số lượng đơn vị đang có.

Tỷ lệ của Rưởi đối với Đơn vị luôn luôn là NỬA PHẦN của đơn vị dù đơn vị đó là Một chỉ, Một ngày, Một cân, Một trăm, Một ngàn, hay Một triệu, thì Rưởi vẫn là nửa phần của đơn-vị ấy. Từ đó ta có thể nói:

1. Định nghĩa của Rưởi là: NỬA PHẦN CỦA ĐƠN-VỊ, được THÊM VÀO số ĐƠN-VỊ NGUYÊN đang có.

2. Tỷ Lệ 50% giữa Rưởi và Đơn vị luôn luôn KHÔNG THAY ĐỔI.

Nói theo Toán học, thì ĐƠN VỊ Chục, Trăm, Ngàn, Muôn, Triệu, Cân, Chỉ, Ngày, đều là 1/1. Và Rưởi của Cân, của Chỉ, của Ngày, của Chục, của Trăm, của Triệu, lúc nào cũng là nửa phần, tức là 50% của đơn vị ấy.

Vậy, khi mà trong mọi trường hợp, Định Nghĩa của Rưởi và Tỷ Lệ giữa Rưởi với Đơn vị không thay đổi, chúng tôi không thấy lý do tại sao lại THAY ĐỔI DẤU chữ Rưởi chỉ vì Đơn vị đứng trước chữ Rưởi ấy có tên gọi khác nhau (tên đơn vị lớn hơn Trăm hay khác hơn Trăm thì viết Hỏi, nhỏ hơn Trăm hay khác hơn Trăm thì viết Ngã?!)

Ngoài ra, theo Luật Hỏi Ngã thì Rưởi là Tiếng Nôm có Gốc Hán là chữ BÁN. Chữ Hán BÁN có nghĩa là Phân nửa. Thí dụ:

Ba ngày rưởi, chữ Hán nói: Tam nhật bán.
Năm giờ rưởi, nói: Ngũ điểm bán.
Hai chỉ rưởi, nói: Nhị tiền bán.
Bốn lượng rưởi, nói: Tứ lượng bán.
Sáu cân rưởi, nói: Lục cân bán.

Cũng theo luật Hỏi Ngã, tiếng Nôm có gốc chữ Hán phải tùy Thinh của chữ Hán gốc mà bỏ dấu. Chữ Hán "BÁN" thuộc Thanh Thinh (Bổng) thì tiếng nôm RƯỞI phải viết dấu Hỏi.

Còn như không muốn nhận Rưởi là có Gốc Hán, thì phải nhận Rưởi là TIẾNG NÔM LÕI, có gốc là chữ "NỬA" (Nửa phần). Theo Luật Hỏi Ngã cho Tiếng Nôm Lõi thì tiếng Rưởi cũng phải tùy Thinh của tiếng gốc là chữ NỬA mà viết dấu. Thinh của NỬA là Thanh Thinh (Bổng), thì RƯỞI phải viết dấu Hỏi.

Vì các lẽ trên, chúng tôi thiển nghĩ nên viết chữ Rưởi với dấu Hỏi trong mọi trường hợp, cho nên trong sách này chúng tôi không có ghi chữ Rưởi với dấu Ngã.

Chúng tôi xin trình bày ra đây để rộng đường dư luận và xin sẵn sàng đón nhận mọi điều chỉ giáo của quý vị độc giả uyên bác [Đ.s.T.].

S -

Sả -- cỏ lá dài mùi thơm bụi sả, củ sả, dầu sả, lá sả, muối sả ớt; --chẻ ra sả làm hai, sả thịt, bổ sả ra, chém sả.

Sã -- suồng sã, sòng sã.

Sải -- lội sải, ngựa sải, té nằm sải tay, dài hai ba sải.

Sãi -- sư ông thầy sãi, sãi vãi, lắm sãi không ai đóng cửa chùa.

Sảy -- mụt nhỏ, ngứa nổi trên da mọc sảy, em bé nổi sảy, rôm sảy, sảy cắn, cái sảy nảy cái ung; --hất cho sạch sảy gạo, sảy thóc, sàng sảy, gằn sảy.

Sản -- sản lượng, sản ngạch, sản nghiệp, sản phẩm, sản xuất, bất động sản, di sản, điền sản, động sản, gia sản, hằng sản, khoáng sản, lâm sản, sự sản, tài sản, thổ sản, tán gia bại sản; --sinh đẻ sản dục, sản hậu, sản khoa, sản phụ, sinh sản, tiểu sản.

Sảng -- sợ, mê man sảng kinh, sảng sốt, mê sảng, nói sảng; --tỉnh táo, sáng suốt sảng khoái, thanh sảng; giọng sang sảng.

Sảnh -- nhà lớn thị sảnh, sảnh đường.

Sảo -- sảo thai, sắc sảo, rổ sảo.

Sẵn -- có thể xử dụng ngay sẵn bày, sẵn dịp, sẵn lòng, sẵn rồi, sẵn sàng, sẵn trớn để sẵn, sắm sẵn.

Sẩm -- trời sẩm, sẩm tối, á sẩm.

Sẫm -- màu sắc đậm, thẫm sẫm da, đen sẫm, đỏ sẫm, màu sẫm, tím sẫm, sờ sẫm (rờ rẫm).

Sẩy -- vuột, thoát, hụt sẩy chân, sẩy cha còn chú, sẩy tay, sẩy thai, sơ sẩy, sẩy đàn tan nghé, sẩy lời khó chữa.

Sẩu -- bực, thối chí sẩu mình, sẩu gan.

Sẻ -- sẻ áo chia cơm, bắn sẻ, chia sẻ, chim sẻ, san sẻ, tra con sẻ (tra chốt bằng gỗ).

Sẽ -- chỉ việc sắp đến sẽ biết, sẽ hay, sẽ liệu, sẽ làm, sẽ thấy; --nhè nhẹ sẽ thức lắm, đi sẽ chân, nói se sẽ chút, làm sẽ tay, giơ cao đánh sẽ, sẽ lén, sạch sẽ.

Sẻn -- hà tiện ăn sẻn, bỏn sẻn, dè sẻn, tiêu sẻn.

Sể -- chổi sể, lông mày chổi sể.

Sỉ -- buôn bán lớn mua sỉ bán lẻ, giá sỉ; --xấu hổ sỉ nhục, sỉ vả, liêm sỉ, quốc sỉ.

Sĩ -- học trò, người có tài sĩ khí, sĩ phu, sĩ tử, ẩn sĩ, bác sĩ, chí sĩ, cư sĩ, đạo sĩ, hàn sĩ, học sĩ, nghĩa sĩ, nghệ sĩ, nữ sĩ, thi sĩ, tiến sĩ, trí sĩ, văn sĩ; --binh lính sĩ quan, binh sĩ, chiến sĩ, hạ sĩ, quân sĩ, tướng sĩ.

Siểm -- nịnh hót siểm nịnh, gièm siểm.

Sỏ -- đầu sỏ, sừng sỏ, trùm sỏ.

Sỏi -- đá nhỏ sỏi đá, đất sỏi, sạn sỏi, sành sỏi.

Sõi -- khoẻ mạnh nói sõi, ông già còn sõi, người bịnh đã sõi, có vẻ sõi đời lắm.

Sổ -- sách để biên chép sổ bộ, sổ sách, sổ tay, biên sổ, ghi sổ, khóa sổ, tính sổ, xét sổ; --kéo từ trên xuống sổ dọc, sổ toẹt, nét sổ; --sút ra, tuột sổ đầu tóc, chim sổ lồng, sổ mũi, sổ sữa, cửa sổ, sút sổ.

Sỗ -- không giữ lễ phép, sỗ sàng.

Sổng -- chạy thoát gà chạy sổng, tù sổng.

Sở -- sở cầu, sở cậy, sở dĩ, sở đắc, sở đoản, sở hữu, sở nguyện, sở tại, sở tổn, sở thích, sở trường, khổ sở, Sở-Khanh, đầu Ngô mình Sở; --chỗ sở làm, công sở, cơ sở, hội sở, trú sở, trụ sở, xứ sở; --một khu sở đất, sở ruộng, sở vườn.

Sỡ -- sặc sỡ, sàm sỡ.

Sởi -- bịnh hay lây bịnh sởi, lên sởi.

Sởn -- em bé sởn sơ, sởn tóc gáy, sởn gai ốc.

Sủ -- cá sủ.

Sủa -- chó sủa, sáng sủa.

Sủi -- sôi bọt nhỏ sủi bọt, sủi tăm.

Sủng -- chỗ khuyết lỗ sủng, đường sủng; --thương yêu đắc sủng, thất sủng, sủng ái, ân sủng.

Sũng -- đẫm nước ướt sũng, sũng nước.

Suyển -- lòng tin không suy suyển.

Suyễn -- tên bịnh hen hen suyễn, khí suyễn, lên cơn suyễn.

Sử -- sử dại, sử dụng (xử dụng), sử lược, sử quan, sử sách, sử xanh, bí sử, dã sử, giả sử, hành sử, kinh sử, lịch sử, ngự sử, quốc sử, thứ sử, thanh sử, tình sử, tiểu sử.

Sửa -- làm lại, chữa lại sửa chữa, sửa dạy, sửa đổi sửa lại, sửa lưng, sửa phạt sửa sai, sửa sang, sắp sửa, sửa soạn, sắm sửa.

Sữa -- sữa bột, sữa bò, sữa dê, sữa mẹ, sữa tươi, bơ sữa, bánh sữa, mọc răng sữa, cây vú sữa, sữa đậu nành, miệng còn hôi sữa.

Sửng -- kinh ngạc sửng sốt, sửng sờ, ngó sửng, chết sửng.

Sững -- sừng sững, đứng sững lại, nhìn sững, xe đứng sững.

Sưởi -- hơ cho ấm đốt sưởi, sưởi ấm, máy sưởi, lò sưởi.

Sửu -- vị thứ nhì của 12 Địa Chi năm Sửu, tuổi Sửu, giờ Sửu.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#42 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:37:01 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


T -

Tả -- bịnh tiêu chảy dịch tả, đi tả, tả dược, ẩu tả, tả lỵ, thổ tả; --bên trái tả ban, tả biên, tả dực, tả đảng, tả hữu, tả phái, tả khuynh, tả ngạn, cánh tả, tả xung hữu đột; --bày tỏ ra tả chân, mô tả, diễn tả, miêu tả, tả cảnh; --rách, rời tả tơi, lả tả.

Tã -- vải quấn trẻ con tã lót, giẻ tã, quấn tã, mưa tầm tã.

Tải -- chở tải lương, tải thương, áp tải, trọng tải, vận tải.

Tản -- di chuyển tản bộ, tản cư, tản lạc, tản mác, di tản, nhàn tản, tản văn, Tản-Đà.

Tảng -- tảng đá, tảng lờ, tảng sáng nền tảng.

Tảo -- tảo hôn, tảo mộ, tảo trừ, tảo thanh, buôn tảo bán tần, chinh Nam tảo Bắc.

Tẳn -- tẳn mẳn tỉ mỉ.

Tẩm -- ngâm cho thấm tẩm bổ, tẩm dầu, tẩm giấm, tẩm muối, tẩm rượu, tẩm nhiễm, tẩm cung, tẩm điện, tẩm miếu, lăng tẩm.

Tẩn -- để tử thi vào hòm tẩn liệm, quàn tẩn; tẩn mẩn.

Tẩu -- chạy, trốn tẩu tán, tẩu thoát, bôn tẩu đào tẩu, hát bài tẩu mã; --chị dâu đại tẩu, tẩu tẩu.

Tẩy -- tẩy chay, tẩy não, tẩy trần, tẩy trừ, tẩy uế, tẩy xoá, tẩy vết mực, bôi tẩy, lộ tẩy, lật tẩy, thuốc tẩy.

Tẻ -- gạo ít dẻo gạo tẻ, bột tẻ, nếp tẻ; --buồn, vắng vẻ tẻ lạnh, tẻ ngắt, tẻ nhạt, tẻ vắng, buồn tẻ, lẻ tẻ, tém tẻ.

Tẽ -- tách ra, làm rời ra tẽ bắp, tẽ đậu, tẽ bột, phân tẽ, tẽ ra, tách tẽ.

Tẽn -- thẹn, mắc cỡ tẽn tò, tẽn mặt.

Tẻo -- ít lắm, nhỏ lắm chút tẻo, bé tẻo teo.

Tể -- tể tướng, chúa tể, đao tể, đồ tể, thái tể.

Tễ -- thuốc huờn đông y dược tễ, uống thuốc tễ.

Tễnh -- đi tập tễnh.

Tỉ -- tỉ dụ, tỉ lệ, tỉ mỉ, tỉ muội, tỉ như, tỉ phú, tỉ số, tỉ tê, tỉ thí, tỉ trọng, tỉ võ, hiền tỉ, ngọc tỉ, nói giả tỉ, say bí tỉ, một tỉ (1,000 triệu).

Tỉa -- cắt bớt tỉa bớt, tỉa cây, tỉa gọt, tỉa lá, tỉa nhánh, tỉa râu, chặt tỉa, hớt tỉa, trồng tỉa.

Tiễn -- đưa lên đường tiễn biệt, tiễn chân, tiễn đưa, tiễn hành, tiễn khách, cung tiễn, hoả tiễn, lịnh tiễn.

Tiểu -- tiểu ban (subcommittee), tiểu bang (state), tiểu dẫn, tiểu công nghệ, tiểu đoàn, tiểu đệ, tiểu đội, tiểu đồng tiểu học, tiểu khu, tiểu liên, tiểu luận, tiểu nhân, tiểu quỷ, tiểu sản, tiểu sử, tiểu tâm, tiểu tiết, tiểu tổ, tiểu yêu, tiểu tư sản, tiểu thuyết, tiểu thừa, tiểu thơ, tiểu thương, tiểu xảo, chú tiểu, cực tiểu, gạch tiểu, nhược tiểu, nước tiểu.

Tiễu -- dẹp, trừ tiễu trừ, tuần tiễu.

Tĩu -- tục tĩu.

Tỉm -- cười tủm tỉm.

Tĩn -- tĩn nước mắm.

Tỉnh -- không say, không mê, hiểu rõ tỉnh bơ, tỉnh dậy, tỉnh giấc, tỉnh hồn, tỉnh lại, tỉnh mộng, tỉnh ngộ, tỉnh ngủ, tỉnh táo, bình tỉnh, cảnh tỉnh, chợt tỉnh, định tỉnh, lai tỉnh, làm tỉnh, sực tỉnh, thức tỉnh, tu tỉnh, dở tỉnh dở say; --khu vực, tỉnh bộ, tỉnh đường, tỉnh lỵ, tỉnh thành, tỉnh trưởng, tỉnh ủy, chủ tỉnh, hàng tỉnh.

Tĩnh -- yên ổn, im lặng tĩnh dưỡng, tĩnh mạch, tĩnh mịch, tĩnh tâm, tĩnh tọa, bình tĩnh, điềm tĩnh, động tĩnh, thanh tĩnh, yên tĩnh.

Tỏ -- bày ra, sáng rõ tỏ bày, tỏ dấu, tỏ lòng, tỏ phân, tỏ ra, tỏ rạng, tỏ rõ, tỏ thiệt, tỏ tình, tỏ vẻ, tỏ ý, chứng tỏ, mắt còn tỏ, sáng tỏ, trăng tỏ.

Toả -- tủa ra toả ánh sáng, toả khói, toả nhiệt, toả ra, bế quan toả cảng, cương toả, giải toả, phong toả, kiềm toả.

Tỏi -- củ tỏi, nói hành nói tỏi, ỏm tỏi.

Tõm -- rơi tõm xuống nước

Tỏn -- lỏn tỏn, tỏn mỏn.

Tổ -- ổ của chim, thú tổ ấm, tổ chim, tổ chuột, tổ ong, bánh tổ; --lớn, đứng đầu tổ bố, tổ cha, tổ phụ, tổ sư, tổ tiên, tổ tông, tổ truyền, tổ quốc, cúng tổ, đất tổ, giỗ tổ, Phật tổ, thủy tổ, bài tổ tôm, tổ chức, tổ hợp, tổ trưởng, cải tổ.

Tổn -- tốn, hao mòn tổn đức, tổn hại, tổn phí, tổn thất, tổn thọ, lao tổn, tổn thương, hao tổn.

Tổng -- người cai quản tổng binh, tổng đốc, tổng quản, tổng tài, tổng thống, tổng trưởng, cai tổng, làng tổng; --họp lại, chung cả tổng cộng, tổng đài, tổng hành dinh, tổng hội, tổng hợp, tổng kết, tổng khởi nghĩa, tổng luận, tổng nha, tổng quát, tổng số, tổng tắc, tổng bãi công, tổng đình công, tổng động viên, tổng giám đốc, tổng lãnh sự, tổng tuyển cử.

Tở -- tở mở.

Tởm -- ghê tởm, kinh tởm, thấy phát tởm.

Tởn -- chừa, khiếp sợ tởn đòn, tởn mặt, tởn kinh, chưa tởn, một lần tởn tới già.

Tủ -- tủ áo, tủ kiếng, tủ lạnh, tủ sách, tủ sắt, tủ thuốc, hộc tủ, ngăn tủ, trúng tủ; --che khuất lại tủ lại bằng chiếu, tủ lại bằng rơm.

Tủa -- toả ra, phân ra tủa ra, chạy tủa ra, râu mọc tua tủa, tên bắn ra tua tủa.

Tuẫn -- chết vì việc gì tuẫn đạo, tuẫn nạn, tuẫn tiết.

Tủi -- đau buồn riêng tủi duyên, tủi hổ, tủi lòng tủi nhục, tủi phận, tủi thân, tủi thầm, tủi thẹn, buồn tủi, sầu tủi.

Tuổi -- tuổi cao, tuổi già, tuổi hạc tuổi tác, tuổi thọ, tuổi trẻ, tuổi xanh, coi tuổi, đứng tuổi, luống tuổi, quá tuổi, vàng y đủ tuổi.

Tuỷ -- nước ở giữa xương cốt tủy, não tủy, xương tủy.

Tuyển -- lựa chọn tuyển binh, tuyển chọn, tuyển cử, tuyển dụng, tuyển lựa, tuyển mộ, tuyển tập, tuyển thủ, trúng tuyển.

Tủm -- cười tủm tỉm.

Tũm -- xem Tõm.

Tủn -- vụn vặt nhỏ mọn tủn mủn tẳn mẳn.

Tử -- con tử cung, tử tôn, tử tức, công tử, dưỡng tử, mẫu tử, nam tử, nghĩa tử, nương tử, tặc tử, thái tử, thần tử, trưởng tử; --thầy, tiếng chỉ người Tử Cống, Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, quân tử, sĩ tử, tài tử, phàm phu tục tử; --tước quan phong tước Tử (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam) --chết tử biệt, tử chiến, tử địa, tử hình, tử khí, tử nạn, tử sĩ, tử táng, tử thần, tử thi, tử thủ, tử thương, tử thù, tử tiết, tử tội, tử trận, tử tù, tử vong, sanh tử, tự tử, xử tử, yểu tử, con nhà tử tế, số tử vi.

Tửa -- giòi mới sanh giòi tửa.

Tửng -- tửng nhà, chú tửng.

Tưởi -- tất tưởi, tức tưởi.

Tưởng -- nghĩ rằng tưởng bở, tưởng chừng, tưởng là, đừng tưởng, thiết tưởng, trộm tưởng; --nghĩ ngợi về tưởng nhớ, tưởng niệm, tưởng tới, tưởng tượng, hoài tưởng, mặc tưởng, mộng tưởng, mơ tưởng, suy tưởng, thương tưởng, tư tưởng, vọng tưởng; --khen ngợi tưởng lệ, tưởng lục, tưởng thưởng.

Tửu -- rượu tửu bảo, tửu điếm, tửu gia tửu hứng, tửu lầu, tửu lực tửu lượng, tửu quán, tửu sắc, ẩm tửu.

Tỷ -- xem Tỉ.


- Th


Thả -- buông ra thả bom, thả buồm, thả cửa, thả diều, thả đà, thả đòn tay, thả lỏng, thả neo, thả ra, thả rểu, thả rông, thả trôi, buông thả, cẩu thả, thong thả, thư thả.

Thải -- thải hồi, thải phương, công thải, đào thải, phế thải, sa thải.

Thãi -- thừa thãi (chữ THÃI nầy là tiếng đệm của THỪA nên viết dấu Ngã, đừng lộn với THẢI là tiếng chánh viết dấu Hỏi).

Thảy -- tất cả cả thảy, hết thảy; --ném, vứt, quăng thảy banh, thảy lỗ lạc, thảy xuống ao.

Thảm -- đau đớn, đáng thương thảm bại, thảm cảnh, thảm đạm, thảm độc, thảm hại, thảm họa, thảm kịch, thảm khốc, thảm lắm, thảm não, thảm sát, thảm sầu, thảm thiết, thảm thương, thảm trạng, bi thảm, thê thảm, trông thảm quá, gió thảm mưa sầu; --tấm khảm lót thảm cỏ xanh, trải thảm.

Thản -- như không có gì xảy ra thản nhiên, bình thản.

Thảng -- thảng hoặc, thảng thốt.

Thảnh -- thảnh thơi, thảnh thót.

Thảo -- có lòng tốt thảo ăn, thảo ngay, hiếu thảo, lòng thảo, thơm thảo, thuận thảo, dâu hiền rể thảo, mời dùng lấy thảo; --sơ lược, thảo một bài văn, bản thảo, dự thảo, khởi thảo, thảo luận; --cỏ, cây thảo am, thảo dã, thảo dược, thảo lư, thảo mộc, thảo xá, cam thảo, thảo cầm viên, vườn bách thảo, quần thảo, hội thảo, thểu thảo, thảo nào!

Thẳm -- sâu hay xa lắm sâu thẳm, xa thẳm, biển thẳm, hang thẳm, thăm thẳm, vực thẳm, rừng thẳm.

Thẩm -- khảo xét kỹ, xử thẩm cứu, thẩm định, thẩm lượng, thẩm phán, thẩm quyền, thẩm tra, thẩm vấn, bồi thẩm, phúc thẩm, sơ thẩm, thượng thẩm; thẩm mỹ.

Thẫm -- đậm, sậm đỏ thẫm, xanh thẫm.

Thẳng -- ngay thẳng băng, thẳng bon, thẳng cánh, thẳng cẳng, thẳng đứng, thẳng giấc, thẳng góc, thẳng óng, thẳng rẵng, thẳng tánh thẳng tay, thẳng tắp, thẳng thắn, thẳng thét, thẳng thớm, thẳng thừng, bằng thẳng, căng thẳng, ngay thẳng, thủng thẳng; --thằng ấy (nói tắt) thẳng và cỏn.

Thẩn -- thơ thẩn, lẩn thẩn.

Thẫn -- thẫn thờ.

Thẩu -- nhựa nha phiến cây thẩu, trái thẩu.

Thẻ -- thẻ căn cước, thẻ cử tri, thẻ ngà, cắm thẻ, đeo thẻ, đường thẻ, ngậm thẻ, phát thẻ, thỏ thẻ.

Thẻo -- cắt từng miếng một thẻo đất, thắt thẻo, thẻo một miếng thịt.

Thể -- tánh chất thể đặc, thể hơi, thể lỏng; --cách thế thể ấy, thể chất, thể chế, thể diện, thể dục, thể hiện thể lệ, thể nào, thể tất, thể tích, thể tình, thể thao,thể theo, thể thống, thể thức, thể xác, chánh thể, có thể, cụ thể, được thể, luôn thể, không thể, như thể, quốc thể, sự thể, tập thể, tiện thể, thân thể, toàn thể, hồn bất phụ thể.

Thểu -- thất tha thất thểu.

Thỉ -- thủ thỉ.

Thiểm -- tiếng xưng thiểm chức, thiểm nha, thiểm tòa, thiểm ty.

Thiển -- cạn, hẹp, ngắn thiển cận, thiển ý, thiển kiến, thô thiển, tài sơ trí thiển.

Thiểu -- buồn khổ thiểu não; --không nhiều thiểu số, đa thiểu, giảm thiểu, tối thiểu.

Thỉu -- bẩn thỉu, thiu thỉu ngủ, buồn thỉu buồn thiu.

Thỉnh -- thỉnh an, thỉnh cầu, thỉnh kinh, thỉnh mời, thỉnh nguyện, cung thỉnh, thỉnh thoảng, thủng thỉnh.

Thỏ -- thỏ lặn ác tà, thỏ thẻ, nhát như thỏ đế.

Thoả -- vừa ý, thích thoả chí, thoả dạ, thoả đáng, thoả hiệp, thoả lòng thoả mãn, thoả nguyện, thoả thích, thoả thuận, thoả ước, ổn thoả.

Thoã -- đĩ thoã.

Thoải -- thoải mái, đường đi thoai thoải.

Thoảng -- bay lướt qua thoảng mùi hương, gió thoảng, thỉnh thoảng, thoang thoảng.

Thỏi -- thẻo, miếng dài thỏi đồng, thỏi sắt, thỏi đất, thỏi phấn.

Thỏm -- thấp thỏm.

Thỏn -- hơi nhọn mặt thỏn, cằm thỏn, thon thỏn, thỏn mỏn.

Thõng -- buông thẳng xuống tóc buông thõng sau lưng, ngồi bỏ thõng chân.

Thổ -- nhà chứa điếm nhà thổ, chứa thổ; --tên giống dân dân Thổ (thượng du miền Bắc), người Đàn Thổ (Cam Bốt) --đất thổ công, thổ cư, thổ dân, thổ địa, thổ ngữ, thổ phỉ, thổ sản, thổ thần, sao Thổ Tinh, thổ trạch, bổn thổ, điền thổ, độn thổ động thổ, hạ thổ, phong thổ, thủy thổ; --mửa, ói thổ huyết, thổ tả, ẩu thổ, thổ lộ, xe thổ mộ.

Thổi -- thổi bễ, thổi bong bóng, thổi còi, thổi cơm, thổi kèn, thổi lửa, thổi phồng, thổi sáo, thổi xôi, cóc thổi, gió thổi.

Thổn -- thổn thức.

Thở -- đưa hơi ra vào thở dài, thở dốc, thở hắt, thở phào, thở ra, thở than, thở hồng hộc, nín thở, thở hổn hển, tắt thở, làm không kịp thở, hồ Than Thở.

Thủ -- tay, cầm giữ, đầu thủ bút, thủ cấp, thủ cựu, thủ công, thủ đoạn, thủ đô, thủ hạ, thủ hiến, thủ khoa, thủ lãnh, thủ lễ, thủ môn, thủ phạm, thủ phủ, thủ quỹ, thủ thành, thủ thuật, thủ tiết, thủ tín, thủ trại, thủ trưởng, thủ túc, thủ tướng, bảo thủ, chấp thủ, cố thủ, đấu thủ, địch thủ, độc thủ động thủ, hạ thủ, nguyên thủ, pháo thủ, phật thủ, phòng thủ, thủy thủ, thế thủ, trấn thủ, nói thủ thỉ, xảo thủ.

Thủa -- xem Thuở.

Thuẫn -- hình thuẫn, bánh thuẫn, diều thuẫn, nón thuẫn, mâu thuẫn, hậu thuẫn.

Thủi -- thui thủi, lủi thủi, đen thủi đen thui.

Thủm -- mùi hôi thúi mùi thum thủm.

Thủng -- lủng, rách chọc thủng, đâm thủng, lỗ thủng, thâm thủng, trống thủng khó hàn, thủng thỉnh, thủng thẳng.

Thũng -- lõm xuống thũng xuống; --bịnh phù da phát thũng, phù thũng, thủy thũng.

Thuổng -- cái xuổng cuốc thuổng, cuốc xuổng.

Thuở -- lúc ấy thuở ấy, thuở nào, thuở nay, thuở trước, thuở xưa, đời thuở nào, từ thuở, ăn theo thuở ở theo thời, ngàn năm một thuở.

Thuỷ -- nước thuỷ binh, thuỷ cầm, thuỷ chiến, thuỷ đạo, thuỷ điện thuỷ đĩnh, thuỷ hoả, thuỷ lôi, thuỷ lợi, thuỷ lưu, thuỷ mạc, thuỷ nạn, thuỷ nông, thuỷ ngân, thuỷ quân, thuỷ sản, thuỷ tạ, thuỷ tai, thuỷ thổ, thuỷ thủ, thuỷ thũng, thuỷ tiên, thuỷ tinh, thuỷ tộc, thuỷ triều, thuỷ vận, dẫn thuỷ, đường thuỷ, hồng thuỷ, phong thuỷ, sơn thuỷ, kiếng tráng thuỷ, ống thuỷ lấy thuỷ bịnh nhân; --đầu tiên khởi thuỷ, thuỷ tổ, thoạt kỳ thuỷ, thuỷ chung; Tần Thuỷ Hoàng.

Thử -- ướm xem thử áo, thử coi, thử lòng, thử lửa, thử máu, thử nghiệm, thử sức, thử tài, thử thách, thử vàng, thử xem, thử ý, ăn thử, hỏi thử, ướm thử, ví thử; --nóng, nắng cảm thử, trúng thử, hàn thử biểu.

Thửa -- sở, khu thửa đất, thửa ruộng.

Thưởng -- cho để ban khen thưởng công, thưởng phạt thưởng tiền, ban thưởng, được thưởng, hậu thưởng, lãnh thưởng, phát thưởng, phần thưởng, phong thưởng, trọng thưởng, tưởng thưởng; --ngắm xem thưởng hoa, thưởng lãm, thưởng ngoạn, thưởng thức, thưởng xuân.



Tr -


Trả -- hoàn lại, đáp lại trả bài, trả đũa, trả lại, trả lễ, trả miếng, trả nợ, trả oán, trả ơn, trả tiền, trả treo, vay trả; --mặc cả trả giá, trả lên, trả xuống, trả rẻ rề.

Trã -- nồi đất rộng miệng nồi ơ trách trã, trã xôi, trã thịt kho.

Trải -- từng biết qua trải mùi đời, từng trải, trải gió dầm mưa, trải qua thử thách; --mở rộng ra trải chiếu, trải thảm; trang trải, trống trải.

Trãi -- Nguyễn Trãi.

Trảm -- chém trảm quyết, xử trảm, trảm thảo trừ căn, tiền trảm hậu tấu.

Trảng -- chỗ trống lớn trảng cát, đồng trảng, trảng nắng; Trảng Bàng.

Trảo -- móng vuốt cây ngũ trảo.

Trẫm -- tiếng vua tự xưng.

Trẩy -- đông người cùng đi trẩy hội, trẩy thuyền.

Trẻ -- còn nhỏ tuổi trẻ con, trẻ dại, trẻ em, trẻ măng, trẻ nít, trẻ nhỏ, trẻ thơ, trẻ trung, trai trẻ, già trẻ bé lớn.

Trẽn -- ngượng, xấu hổ trơ trẽn, trẽn mặt.

Trẻo -- trắng trẻo, trong trẻo.

Trễ -- chậm, không kịp trễ giờ, trễ nải, bê trễ, chậm trễ, đến trễ; --giăng lưới bắt cá tôm ghe đi trễ, trễ cá, trễ tôm; --xệ xuống môi trễ xuống, mặc quần trễ rốn.

Trển -- trên ấy ở trển, lên trển.

Trĩ -- ấu trĩ, ấu trĩ viên, chim trĩ; --ghẻ ở hậu môn mắc bịnh trĩ.

Triển -- triển hạn, triển khai, triển lãm, triển vọng, phát triển, tiến triển.

Trỉnh -- rít dầu, rít mỡ trỉnh dầu, gà trỉnh đít.

Trĩnh -- tròn trĩnh.

Trĩu -- nặng trì xuống gánh nặng trĩu vai, trĩu nặng ưu phiền.

Trỏ -- lấy tay chỉ ngón tay trỏ, trỏ lối.

Trõm -- lõm vào vì ốm mắt trõm lơ.

Trỏng -- trong ấy ở trỏng.

Trổng -- không chỉ rõ ai kêu trổng, nói trổng, chơi đáng trổng.

Trổ -- thông, xuyên qua trổ đường mòn, trổ đường nước; --phát ra, mọc ra cây trổ bông, trổ lá, chuối trổ buồng, da trổ đồi mồi, trổ chứng, trổ tài, trổ tật; --xoi khoét trổ cửa, chạm trổ, trộm trổ nóc nhà.

Trỗ -- phai màu, áo đã trỗ màu.

Trổi -- vượt, cất lên trổi hơn, trổi nhất, trổi tiếng đàn, trổi giọng.

Trở -- biến ra thế khác trở bịnh, trở chứng, trở gót, trở lại, trở lực, trở mặt, trở mình, trở mùi, trở nên, trở ngại, trở quẻ, trở ra, trở vô, trở tay không kịp, trở trời, cách trở, day trở, để trở, hiểm trở, ngăn trở, tráo trở, trắc trở, xoay trở.

Trũng -- lõm xuống trũng sâu, trũng mắt, đất trũng, ruộng trũng, nước chảy chỗ trũng.

Trữ -- chứa, giấu, vựa trữ hàng, trữ kim, trữ tình, dự trữ, lưu trữ, oa trữ, tàng trữ, tích trữ.

Trửng -- nuốt trọn nuốt trửng.

Trững -- giỡn chơi trững giỡn, trững mỡ.

Trưởng -- lớn, đứng đầu trưởng ban, trưởng đoàn, trưởng giả, trưởng lão, trưởng nam, trưởng nữ, trưởng thành, trưởng tộc, trưởng ty, bộ trưởng, đảng trưởng, gia trưởng, hội trưởng, khoa trưởng, lý trưởng, sinh trưởng, tổng trưởng, xã trưởng, viện trưởng.



U -


Ủ -- buồn, không tươi ủ dột, ủ ê, ủ rũ, mặt ủ mày chau; --phủ kín ủ ấp, ủ men, ủ mốc, ủ nấm, ủ thuốc, ấp ủ.

Ủa -- tỏ ý ngạc nhiên ủa, sao còn ở đây? ủa, tại sao vậy?

Uẩn -- sâu kín uẩn khúc, ngũ uẩn.

Uể -- mỏi mệt uể oải.

Ủi -- bàn ủi, giặt ủi, ủi áo, an ủi, bị xe ủi.

Ủm -- ủm thủm, tròn ủm.

Ủn -- heo kêu ủn ỉn.

Ủng -- giày ủng, trái cây chín ủng tiền hô hậu ủng, ủng hộ.

Uổng -- tiếc, vô ích uổng công, uổng của, uổng mạng, uổng phí, uổng quá, uổng tiền, uổng tử, bỏ uổng, chết uổng, ép uổng, oan uổng.

Ủy -- ủy ban, ủy hội, ủy nhiệm, ủy phái, ủy quyền, ủy thác ủy viên, ủy lạo, ủy mị, cao ủy, nguyên ủy, tỉnh ủy.

Uyển -- uyển chuyển, ngự uyển, vườn thượng uyển.

Ửng -- đỏ hồng hồng ửng đỏ, vàng ửng, má ửng hồng, mặt trời đỏ ửng.

Ưỡn -- ễn, nẩy, chìa ra ưỡn bụng, ưỡn ẹo, ưỡn ngực, ưỡn ngửa.

Ưởng -- mét chằng mét ưởng.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#43 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:39:25 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


V-

Vả -- vất vả, vả chăng, vả lại, nhờ vả, vả vào mặt, vả rớt răng, xỉ vả.

Vã -- toát ra vã mồ hôi, vã bọt mép, ăn vã, cãi vã, vật vã, vội vã, vồn vã, vùi vã.

Vải -- hàng dệt bằng sợi bông vải bông, vải bố, vải màu, vải sồ, vải vóc, dệt vải, trái vải, ông bà ông vải, vải thưa che mắt thánh.

Vãi -- bà vãi, sãi vãi, mắng vãi, chua vãi đái, vung vãi, vãi chài, vãi hột giống.

Vảy, Vẩy -- lớp ngoài da cá vảy cá, đóng vảy, đánh vảy, tróc vảy; --miểng kim khí vảy vàng, vảy bạc, thợ bạc giũa vảy; --quăng xòe ra vảy bùn, vảy mực, vảy nước.

Vãn -- vãn bối, vãn hát, vãn hồi, vãn sinh, chuyện vãn, cứu vãn, ve vãn.

Vảng -- lảng vảng.

Vãng -- qua, đến thăm vãng cảnh, vãng lai, dĩ vãng, phát vãng, quá vãng.

Vảnh -- vểnh, ngảnh lên vảnh mặt, vảnh râu, vảnh tai.

Vãnh -- vặt vãnh.

Vẳng -- tiếng vọng từ xa nghe văng vẳng.

Vẩn -- vẩn bùn, vẩn đục, vẩn vơ, vớ vẩn.

Vẫn -- cứ vậy hoài vẫn biết, vẫn còn, vẫn thế, vẫn vậy, vờ vẫn, tự vẫn (tự vận).

Vẩu -- nhô ra hàm răng vẩu.

Vẫy -- cựa quậy vẫy tay chào, vẫy vùng, vẫy gọi, chó vẫy đuôi.

Vẩy -- ve vẩy, vẩy cá, trầy da tróc vẩy.

Vẻ -- dáng bề ngoài có vẻ, lộ vẻ, tỏ vẻ, mỗi người một vẻ làm ra vẻ, văn vẻ, vắng vẻ, vui vẻ, vẻ vang.

Vẽ -- họa, bày đặt, chỉ vẽ hình, vẽ kiểu, vẽ trò, vẽ lông mày, vẽ viên, vẽ vời, bánh vẽ, bày vẽ, chỉ vẽ, khéo vẽ chuyện; --lấy đũa banh ra vẽ cá, vẽ thịt, vẹn vẽ, em bé nói võ vẽ, ong vò vẽ.

Vẻo -- ngồi vắt vẻo.

Vểnh -- xem Vảnh.

Vỉ -- để lót hay chận vỉ bánh, đương vỉ, tấm vỉ.

Vĩ -- đuôi thủ vĩ, vĩ cầm; --lớn, lạ vĩ đại, hùng vĩ, vĩ nhân; --đường dọc vĩ đạo, vĩ tuyến.

Vỉa -- vỉa hè, vỉa đường.

Viển -- viển vông.

Viễn -- xa, viễn ảnh, viễn chinh viễn du, Viễn Đông, viễn khách, viễn thông, viễn phương, viễn thị, viễn tượng, vĩnh viễn, viễn vọng kính.

Vĩnh -- lâu dài, đời đời vĩnh biệt, vĩnh cửu, vĩnh quyết, vĩnh viễn, Vĩnh Long, Vĩnh Yên, vòi vĩnh, vờ vĩnh.

Vỏ -- lớp bọc ngoài vỏ cây, vỏ dưa, vỏ dừa, vỏ hột gà, vỏ ốc, vỏ xe, vỏ xe đạp, vỏ quít dày.

Võ, Vũ -- thuật đấu chiến họ Võ, võ bị, võ biền, võ công, võ dõng, võ đài, võ khí, võ khoa, võ lâm, võ lực, võ nghệ, võ phu, võ quan, võ sĩ, võ thuật, võ trang, võ trường, võ tướng, diễn võ, đấu võ, luyện võ, nghề võ, tập võ, văn võ bá quan, tinh thần thượng võ, võ vàng, vò võ, võ vẽ, linh thần thổ võ.

Vỏi -- vắn vỏi.

Vỏn -- vỏn vẹn.

Võng -- lưới võng lọng, đưa võng, đòn võng, nằm võng, võng mạc của mắt.

Vổng -- chổng đầu lên vổng đòn cân, vổng phao câu.

Vỗ -- đập bàn tay lên vỗ bàn vỗ ghế, vỗ bụng, vỗ cánh, vỗ đùi, vỗ ngực, vỗ tay, vỗ về an ủi, sóng vỗ bờ.

Vở -- vở kịch, vở tuồng, bài vở, kiểu vở, sách vở, tập vở.

Vỡ -- bể, rã tan, khai phá vỡ bụng, vỡ đê, vỡ lẽ, vỡ lòng, vỡ lở, vỡ mặt, vỡ mộng, vỡ nợ, vỡ ổ, vỡ tan, đổ vỡ, gãy vỡ, vạm vỡ, cười như vỡ chợ.

Vởn -- nghểu nghến vởn vơ, lởn vởn.

Vũ -- họ Vũ, vũ bão, vũ bị, vũ biền, vũ công, vũ dũng, vũ đài, vũ điệu, vũ khí, vũ khúc, vũ lực, vũ nữ, vũ phu, vũ thuật, vũ trang, vũ trụ, vũ trường, phong vũ biểu, trời vần vũ, ca vũ, khiêu vũ.

Vũm -- hũm, trõm lòng đục vũm, nắp vũm, vanh vũm.

Vũng -- chỗ nước đọng vũng bùn, vũng máu, vũng nước, ao vũng, hào vũng, chợ Vũng Tàu.

Vữa -- rữa, rã, biến mùi cháo vữa, hột vịt vữa.

Vửng -- choáng váng xửng vửng xơ vơ.

Vững -- bền, chắc vững bền, vững bụng, vững chãi, vững chắc, vững dạ, vững lòng, vững mạnh, vững tâm, vững vàng, đứng vững.

Vưởng -- vất vưởng.



- X


Xả -- buông thả, mở ra xả buồm, xả hơi, xả tang, bỏ tóc xả, xả hết tốc lực, xả ly, xả bỏ xả súng bắn, chơi xả láng --xông vào lăn xả vào, nhảy xả vào, xán xả vào; --bỏ, hy sinh xả mạng, xả thân, xả rác, xả thân cầu đạo, xả thân cứu thế, hỉ xả; -- đổ nhiều nước xả quần áo, mưa xối xả, xong xả.

Xã -- làng, thôn, nhiều người hợp lại xã đoàn, xã giao, xã hội, xã luận, xã tắc, xã thuyết, xã trưởng, xã ủy, xã viên, hàng xã, hợp tác xã, làng xã, thôn xã, thi xã, thư xã, thương xã, bà xã, ông xã.

Xải -- xấp xải, xơ xải.

Xảy -- chợt, bỗng chốc xảy đâu, xảy đến, xảy gặp, xảy nghe, xảy ra, xảy thấy, đi xay xảy.

Xảm -- không trơn ăn nghe xảm xảm; --trét vào lỗ hở xảm ghe, xảm tàu, xảm thùng lủng, trét xảm.

Xảnh -- làm bộ làm tịch xảnh xẹ.

Xảo -- không thật gian xảo, người xảo, xảo ngôn, xảo ngữ, xảo quyệt, xảo trá; --khéo, giỏi xảo công, xảo thủ, kỹ xảo, tinh xảo, đấu xảo.

Xẵng -- mặn quá, gay gắt xẵng lè, nước mắm xẵng, xẵng giọng hỏi.

Xẩm -- xây xẩm chóng mặt --người đàn bà Tàu thím xẩm, xẩm lai, mặc áo xẩm; --người mù đi hát rong phường xẩm, hát xẩm, như xẩm vớ được gậy.

Xẩn -- xẩn bẩn một bên, làm ăn xân xẩn.

Xẩu -- xương xẩu.

Xẻ -- cắt, mổ xẻ gỗ, xẻ mương, mổ xẻ, xẻ rãnh, chia xẻ.

Xẻn -- thẹn thuồng bộ xẻn lẻn.

Xẻng -- dụng cụ để xúc đất cuốc xẻng, cái xẻng.

Xẻo -- xẻo tai, xẻo thịt, xui xẻo.

Xẽo -- ngọn rạch nhỏ xẽo mương, xẽo vườn, xẽo cạn, rạch xẽo, bơi xuồng trên xẽo.

Xể -- trầy, sướt xể da, xể mày, xể mặt, trầy xể, xài xể.

Xễ -- xệ xuống vạt áo xễ, xễ cánh, vú xễ.

Xển -- kéo xển.

Xỉ -- răng ung xỉ, xỉ tẩu mã, lồi xỉ; --mắng nhiếc, xỉ mắng, xỉ vả, xỉ vào mặt, xỉ xỏ, xa xỉ, xấp xỉ.

Xỉa -- xỉa xói, xỉa thuốc, xoi xỉa, xỉa bài, xỉa vào mặt, xỉa tiền, tăm xỉa răng không đếm xỉa gì đến, đừng xỉa vô chuyện đó.

Xiểm -- nói xiểm, xiểm nịnh.

Xiểng -- thua xiểng liểng, bước đi xiểng niểng.

Xỉn -- bủn xỉn, ít xỉn.

Xỉnh -- xó xỉnh.

Xĩnh -- xoàng xĩnh.

Xỉu -- ngất, lả đi xỉu xuống, mệt xỉu, té xỉu; --ít, môn cờ bạc chút xỉu, đánh tài xỉu.

Xỏ -- luồn vào, đút qua xỏ áo, xỏ chỉ, xỏ chuỗi, xỏ kim, xỏ lỗ tai, xỏ mũi, xỏ xâu; --xen vào, xía vào nói xỏ, xỏ lá, xỏ xiên, xỉ xỏ, chơi xỏ, xin xỏ, xỏ ngọt, xỏ miệng vào.

Xõ -- gầy xõ.

Xõa -- buông thả xuống buông xõa, lõa xõa, bỏ tóc xõa.

Xoảng -- tiếng khua loảng xoảng, xoang xoảng.

Xõm -- nhẹ lắm nhẹ xõm.

Xỏn -- nói hỗn hào trả lời xon xỏn.

Xõng -- làm biếng xõng lưng chẳng làm gì, ngồi xòng xõng cả ngày.

Xổ -- mở, tháo ra xổ buồm, xổ cờ, xổ gà, xổ số, xổ tục, xổ xui, xổ phong long, thuốc xổ, xổ chữ nho, đâm xổ đến, nhảy xổ vào.

Xổi -- tạm bợ ăn xổi ở thì, buôn xổi, làm xổi, tiền lời xổi.

Xổm -- nhóng đít lên bò xổm, xổm đít lên, ngồi xổm, nhảy xổm.

Xở -- gỡ lần hồi xoay xở, xở bớt nợ, xở bớt công việc.

Xởi -- làm cho rời ra xởi cơm, xởi đất, xởi tơ, xởi thuốc hút.

Xởn -- xén, hớt cụt xởn lông, xởn cánh, xởn tóc, bị xởn đầu.

Xủ -- rủ, buông xuống xủ tay áo, xủ cánh, cây xủ lá, xủ màng, xủ quẻ, xủ rèm.

Xuẩn -- ngu dại, bậy xuẩn động, ngu xuẩn.

Xuể -- nổi, kham coi sóc không xuể, làm không xuể, nói chẳng xuể.

Xủi -- làm tróc lên xủi bụi tùm lum, xủi cát, xủi cỏ, xủi đất.

Xuổng -- dụng cụ xắn đất cuốc xuổng, ngay như cán xuổng.

Xử -- phán đoán, phân xử xử án, xử bắn, xử đoán, xử giảo, xử hiếp, xử hòa, xử huề, xử kiện, xử lý, xử phân, xử quyết, xử trảm, xử trị, xử tử, phán xử; --cách ăn ở, đối đãi xử sự, xử tệ, xử thế, xử trí, cư xử, đối xử, khu xử.

Xửa -- hồi xửa hồi xưa.

Xửng -- cái vỉ để hấp xửng hấp bánh, kẹo mè xửng (mè thửng); --choáng váng xửng vửng xơ vơ.

Xưởng -- chỗ thợ làm xưởng dệt, xưởng máy, xưởng đóng tàu, chủ xưởng, công xưởng; --tên thức ăn lạp xưởng.


************
Trích từ bài "PHÉP BỎ DẤU HỎI-NGÃ TRONG TIẾNG VIỆT & VIỆT NGỮ HỎI NGÃ TỰ VỊ" (tác giả: L.s. Đinh-sĩ-Trang)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#44 Posted : Monday, January 27, 2014 6:27:55 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
sưu tầm
Vĩnh biệt tác giả Ông Đồ

Nhưng trong văn chương xưa nay lại có một loại tác giả hoặc viết quá ít, hoặc nhiều cái đều đều, gần như không có gì nổi, song lại có một tác phẩm duy nhất vượt hẳn lên về giá trị và được truyền tụng rộng rãi, khiến cho nói tới tên tuổi người đó là người ta nhớ ngay tới cái thành tựu “cây có một cành, cành có một quả” độc đáo nọ. Cái mẫu hình Thôi Hiệu với bài Hoàng Hạc lâu trong thơ Đường còn thấy lặp lại nhiều lần trong văn học Việt Nam hiện đại. Đó ...cũng là trường hợp của Vũ Đình Liên, nhà giáo lão thành, một vừng trán lớn của giới giáo dục Việt Nam – Vũ Đình Liên từng có mặt trong Thi nhân Việt Nam 1932-1941 của Hoài Thanh- Hoài Chân với tư cách là tác giả bài Ông đồ và thường trở đi trở lại trong nhiều tuyển thơ thế kỷ, với chính bài Ông đồ đó.

Ông đồ có gì lạ, mà có sức sống dai dẳng như vậy? Ra đời hơn sáu chục năm trước, bài thơ ghi lại một nét tâm trạng của con người Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Trong khi xã hội tưng bừng và ồ ạt làm cuộc Âu hoá toàn diện, người ta cảm thấy một nền văn minh đang qua đi, và lòng người ta xót xa, luyến tiếc. Những vẻ đẹp sắp tàn lụi là những vẻ đẹp không chói lọi. Nó gợi tình thương. Bởi nó mong manh dễ vỡ. ấy thế nhưng nó lại có sự bền chắc riêng. Vẻ mộc mạc trong bút pháp, cái kín đáo trong tình cảm mang lại cho Ông đồ một thứ dư ba kỳ lạ. ý ở ngoài lời. Và càng đọc, người ta càng thấy mình không chỉ thương cảm với một lớp ông đồ hay chữ nay quá thời lạc lõng, mà còn cảm thấy bùi ngùi trước tất cả những gì tốt đẹp, bị thời gian đẩy vào quên lãng. Và hình như thơ nảy sinh ở chỗ đó, thơ nảy sinh để chống lại quên lãng!

UserPostedImage


Sinh năm 1913, có thơ đăng từ những năm 1930, nhà thơ Vũ Đình Liên qua đời tại Hà Nội ngày 18-1-1996. Giữa khung cảnh đại hàn mưa phùn giá rét, nhiều người đi xe tang tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng, trong đầu óc không khỏi thoáng qua cái hình ảnh những ông đồ trải chiếu viết câu đối thuê trên vỉa hè mấy phố Lãn Ông, Hàng Bồ hồi nào. Chắc chắn là vào những ngày này, khó lòng bói ra một ông đồ như vậy trên các phố cổ Hà Nội. Nhưng chính bởi thế người ta tìm ra một chút ấm lòng trước những gì Vũ Đình Liên để lại. Chỉ bằng một bài thơ nhỏ 25 câu, 100 chữ, ông đã ghi lại được một hình ảnh đã qua đi cùng lịch sử, để nó có thể vĩnh viễn tồn tại trong tâm tưởng nhiều thế hệ bạn đọc. Và đó chính là sức mạnh kỳ lạ đến ma quái của thơ ca, của văn chương.

Ông đồ

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bầy mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ

Vũ Đình Liên
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#45 Posted : Wednesday, January 29, 2014 5:52:44 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

Edited by user Wednesday, January 29, 2014 5:53:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
Hạ Vi  
#46 Posted : Thursday, January 30, 2014 3:00:27 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


UserPostedImage




UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/2/2014(UTC), thunder on 2/2/2014(UTC)
Hạ Vi  
#47 Posted : Friday, January 31, 2014 6:14:20 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


UserPostedImage





UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/2/2014(UTC), thunder on 2/2/2014(UTC)
CatLinh  
#48 Posted : Friday, January 31, 2014 4:55:35 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

Edited by user Friday, January 31, 2014 4:56:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 2/2/2014(UTC), thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#49 Posted : Sunday, February 2, 2014 7:35:22 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Con ngựa trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam

TƯỜNG MINH
29/01/2014 10:01:54 PM

Ngựa là con vật thứ bảy trong 12 con giáp. Từ thời xa xưa, ngựa đã là một trong những con vật gần gũi với đời sống của con người. Ngựa không chỉ được con người nuôi để lấy sức kéo trong sản xuất nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa, mà còn là vật cưỡi của những tướng lĩnh, những chàng kỵ sĩ, những sĩ tử đỗ đạt cao khi vinh quy bái tổ. Chính vì sự quen thuộc ấy mà hình tượng con ngựa đã được nhân dân ta sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ để so sánh hoặc ẩn dụ nói lên những đức tính tốt cũng như những thói hư tật xấu trong xã hội.

UserPostedImage

Mã Đáo Thành Công

“Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau”: Câu này ý nói sự thành công, thành đạt của một sĩ tử sau kỳ vượt “vũ môn” và trên đường về quê để “vinh quy bái tổ”.

“Mồm chó, vó ngựa”: Câu này có ý nói về những người “ruột để ngoài da”, những người bạ đâu nói đó, những người không biết giữ miệng, nói không đúng lúc, không đúng chỗ và không đúng đối tượng.

“Như ngựa bất kham”: Câu này ý nói về những người hư hỏng, những người không biết vâng lời cha mẹ, khó giáo dục, khó dạy bảo.

“Thiếu voi phải dùng ngựa”: Ý nghĩa của câu này là chỉ những trường hợp bất đắc dĩ, vì không có cái tốt hơn nên phải dùng cái không tốt bằng vào việc đó. Câu này đồng nghĩa với câu: “Không có trâu bắt bò đi cày”.

“Mó dái ngựa”: Câu này ý nói những người dại dột, ngờ nghệch, ngớ ngẩn và thiếu thận trọng trong cuộc sống nên thất bại và đôi khi phải gánh tai họa vì sự thiếu hiểu biết của mình hoặc những người biết hậu quả không tốt nhưng vẫn cố tình làm.

“Ngựa hay có tật”: Câu này muốn nói những người có tài thường có những tật xấu và nó đồng nghĩa với câu “người có lắm tài cũng là người có nhiều tật”.

“Ngựa nào gác được hai yên”: Chỉ việc người ta không thể đồng thời phụng sự hai sự nghiệp lớn. Câu này tương đương với “Một gáo, hai chĩnh”.

“Ngựa non háu đá”: Câu này chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, vội vàng, hấp tấp, thiếu chín chắn và ắt sẽ dẫn đến thất bại. Câu này cũng đồng nghĩa với câu “Ong non ngứa nọc”.

“Ngựa quen đường cũ” hay “Ngựa quen dấu cũ”: Câu này muốn nói người ta không dễ dàng bỏ được một thói quen xấu. Câu này còn đồng nghĩa với câu: “Chứng nào tật nấy” hay “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”.

“Ngựa xe như nước..
.”: Câu này dùng để chỉ việc có nhiều người qua lại tại một nơi vào một thời điểm nào đó.

“Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã
”: Chỉ việc những người giống nhau về tính cách, phẩm chất thường tập hợp lại với nhau, tìm đến với nhau và cũng có nghĩa là những người xấu thường hay tụ tập với nhau.

“Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ
”: Câu này nói về tình đoàn kết giữa những người trong cùng một nhóm hay một cộng đồng có chung tình cảm hay lợi ích với nhau nên họ quan tâm đến nhau.

“Thẳng ruột ngựa
”: Nói về việc không úp mở, thẳng thắn vào đề luôn, không vòng vo hay không nói bóng nói gió.

“Chạy như ngựa vía” hay “Chạy như ngựa”: Ý nghĩa của câu này nói chạy rất nhanh một cách vội vã, nhưng không rõ mục đích.

“Da ngựa bọc thây”: Câu này thời xưa dùng để nói về một người lính đã ngã xuống trên chiến trường (xác họ thường được bọc trong da ngựa thay cho quan tài). Còn ngày nay người ta dùng để chỉ sự sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cao đẹp mà người đó đã chọn. Trong bài Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn có viết: Dẫu cho trăm thây này phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.

“Đầu trâu mặt ngựa”: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô lại, kẻ đại bất lương, bất nhân và không còn tính người.

“Đơn thương, độc mã” - một ngựa với một cây thương: Câu này chỉ người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của bất kỳ ai.

“Đường dài hay sức ngựa”: Câu này ý nói cùng với thời gian, người ta có thể tạo lập cho mình những phẩm chất tốt, một đức tính hay, một sự kiên trì, bền bỉ phấn đấu. Câu này cũng đồng nghĩa với: “Đi lâu mới biết đường dài, ở lâu mới biết con người phải chăng” hay “Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết con người phải chăng”.

“Lên xe, xuống ngựa
”: Câu này ý nói về một người có cuộc sống xa hoa, phú quý, đồng nghĩa với câu “Ra hán vào giày” hay “Chân giày, chân dép” hay “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”.

“Mặt dài như ngựa” hay “Mặt ngay cán tàn”: Nói về việc một người đứng lặng trước cấp trên khi bị bắt quả tang đang hoặc vừa làm một việc sai trái nào đó.

“Thay ngựa đổi chủ”: Câu ngày dùng để chỉ một người rời bỏ một phe phái để đi theo một phe phái khác. Tức là người đó không có bản lĩnh vững vàng, không thủy chung, không có chính kiến hoặc có lòng phản phúc.

“Được đầu voi đòi đầu ngựa”: Nói về người có lòng tham không đáy hay không biết dừng lại đúng mức. Câu này đồng nghĩa với câu: “Được voi đòi tiên”, “Được đàng chân lân đàng đầu” hay “Được con em thèm con chị” hoặc câu “Có thịt đòi xôi”...

“Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm” - Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy: Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.

“Tái ông mất ngựa”: Có ý chỉ trong cái rủi có cái may. Câu này có nguồn gốc từ một câu chuyện kể về một người đánh mất con ngựa tưởng là vận hạn đến, nhưng sau một thời gian con ngựa trở về dắt thêm một con ngựa nữa.

“Cầm cương nảy mực” hay “Cầm cân nảy mực”, “Đứng mũi chịu sào”: Câu này chỉ người lãnh đạo gương mẫu và khôn ngoan, xử lý mọi việc một cách trung thực, chính xác, công bằng.

“Muốn đi xa phải giữ gìn sức ngựa”: Câu này dùng để khuyên người ta muốn trụ vững hay kéo dài một công việc gì thì cần phải biết dè xẻn sức lực cũng như tiền bạc.

Qua những câu tục ngữ, ca dao và thành ngữ trên đây cho thấy cha ông ta đã rất tài tình trong việc sử dụng ngôn ngữ, cũng như hình tượng con ngựa để phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống thường ngày. Điều này cũng cho chúng ta thấy rõ kho tàng văn học dân gian là tài sản vô giá của cha ông để lại và hậu thế mãi mãi về sau phải luôn luôn biết trân trọng, giữ gìn, phát huy, biến nó thành động lực phát triển đất nước.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#50 Posted : Sunday, February 2, 2014 5:28:41 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Ý NGHĨA VÀ TỤC LỆ TẾT NGUYÊN ĐÁN

VI KHUÊ


I. Ý Nghĩa Tết Nguyên Đán

Đã từng có nhiều định nghĩa về Tết Nguyên Đán của Việt Nam, tìm hiểu từ nguyên nghĩa xem Tết là gì. Nguyên là gì, Đán là gì; thậm chí có người trở về bàn từ nguồn gốc để xác định xem dân tộc nào trước tiên trên thế giới, và đặc biệt là trong khối người da vàng, đã khởi xướng ra truyền thống tổ chức Tết trước nhất ở Châu Á để ngày nay chúng ta có ngày Tết Nguyên Đán.

Thiết tưởng không cần phải đi xa quá như thế để phức tạp hoá vấn đề. Chỉ cần biết một điều rất giản dị, nói lên mối giao cảm sâu xa giữa con người khắp nơi trên quả địa cầu từ thuở tạo thiên lập địa, đó là: Dân tộc nào trên thế giới đều cũng có Ngày Tết. Thật thế, dân tộc nào cũng đều có Ngày Tết, lấy ngày đầu tiên của năm mới làm cái mốc, và đó là ngày lễ lớn nhất trong năm của mỗi dân tộc.

Người Việt Nam cũng như người Trung Hoa và một số dân tộc khác chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa bắt đầu thực sự “ăn Tết” vào ngày mồng một của năm mới, và gọi những ngày lễ này là Tết Nguyên Đán.

Tết Nguyên Đán Việt Nam năm nay nhằm vào ngày 17 tháng 2 năm 2007; trong khi người Nhật Bản xưa kia cũng ăn Tết cùng ngày với người Trung Hoa và người Việt Nam thì ngày nay, cùng với trào lưu “đổi mới tất cả theo Tây Phương”, cũng đã lấy ngày mồng 1 tháng Giêng dương lịch làm Ngày Tết, như người Âu người Mỹ vậy.

Vậy, dân tộc nào trên thế giới cũng đều có Tết, coi như ngày lễ trọng đại nhất của một năm, và Tết ở đâu - dù gọi là Nouvel An và New Year - thì thiết tưởng cũng mang ý nghĩa như nhau cả.

* Tết, đó là dịp để mọi người dẹp bỏ mọi lo toan thúc dục hằng ngày của đời sống sau một năm làm lụng vất vả, để mà vui chơi, an hưởng hạnh phúc được chừng nào hay chừng ấy.

* Tết, đó là dịp để nhắc nhở loài người ý thức về sự đổi mới của đất trời, về lẽ tuần hoàn của tạo vật: Đông qua Xuân tới, Thu đi Hạ về; ý thức như thế để mà phấn khởi hân hoan nuôi mầm hy vọng khi 365 ngày cũ chấm dứt, 365 ngày mới bắt đầu.

* Tết, đó là nghi thức do loài người khắp nơi trên trái đất không hẹn mà cùng tổ chức nên, để tạo cơ hội cho những khởi đầu đầy ý nghĩa của 365 ngày sống mới mà ngày mồng một là ngày khai nguyên: cơ hội để gia đình sum họp, tưởng nhớ tổ tiên, đền ơn trả nghĩa...

* Tết, đó là dịp trọng đại nhất trong năm mà trong đó mọi người đều cố gắng để tạo niềm vui cho mình và cho người, cùng cố gắng để nở nụ cười thân ái chào nhau, và, nếu có thể, sẵn sàng bắt tay nhau ngầm hứa hẹn xoá bỏ hận thù, giận hờn, nghi kỵ, để cho cuộc đời được tốt đẹp ý nghĩa hơn cùng với năm mới bắt đầu.

Tất cả được lặp đi lặp lại lâu đời làm nên những tập tục mà sau đây chúng ta cùng ôn lại để mọi người, đặc biệt là giới trẻ xa quê hương được hiểu rõ về Ngày Tết Cổ Truyền của Dân Tộc.


II. Tục Lệ Ngày Tết


Trên nguyên tắc, Tết bắt đầu từ ngày mồng một nhưng trên thực tế, Tết kể như đã chuẩn bị cả tháng trước. Thời thái bình xa xưa, người ta đón Tết bằng tất cả tâm hồn, một cách nồng nàn và trịnh trọng, theo những tục lệ như sau:

1. Trang hoàng nhà cửa là mục đầu tiên.

2. Sẵn sàng các thứ để gói bánh chưng, làm dưa hành, trồng cây nêu, dán câu đối và đốt pháo là mục thứ hai, đúng với câu : "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh".

3. Biếu Tết là dịp chứng tỏ lòng tôn kính và biết ơn, như con đối với cha mẹ, trò nhớ ơn thầy, người làm công biết ơn ông chủ, bạn bè cũng biết ơn nhau về những điều tốt đẹp trong cách cư xử với nhau.

4. Thăm mộ gia tiên còn gọi là chạp mộ, là đến thắp hương cúng vái trước mồ mả ông bà tổ tiên cùng những người thân đã qua đời, và điều quan trọng là quét dọn, làm cỏ, sửa sang lại ngôi mộ, để người chết cũng được ăn Tết như người sống.

5. Lễ cúng ông bà. Sau khi chạp mộ thường là vào ngày 30 tháng chạp, chiều đến là lễ cúng ông bà. Sau khi cúng đèn nhang phải được giữ cháy mãi suốt mấy ngày Tết.

6. Đòi nợ cuối năm. Mọi thứ nợ nần cần phải được thanh toán trước Tết, vì Tết mà còn mắc nợ người thì quanh năm sẽ túng bấn như thế, ngược lại, để cho người ta không trả nợ cũng là điều không hay, xui xẻo lắm!

7. Tiễn đưa Ông Táo, tức là ông vua bếp. Gọi là ông nhưng gồm có hai ông một bà, mặc áo nhưng không có quần. Ông Táo lên trời vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch với nhiệm vụ tấu trình Thượng Đế mọi việc xảy ra trong nhà để Trời soi xét mà thưởng hay phạt.

8. Chợ Tết thường được tổ chức trước ngày tiễn đưa Ông Táo chầu Trời, ngày xưa hết sức tưng bừng, mà cho đến nay ở hải ngoại vẫn còn được duy trì hằng năm. Chợ Tết là để mua bán những thứ không thể thiếu trong ngày Tết.

9. Cúng Giao Thừa vào đêm 30 còn gọi là đêm Trừ Tịch, thường bắt đầu vào lúc cuối giờ thứ 24 của ngày 30 tức là 12 giờ đêm, rạng sáng ngày một. Tết bắt đầu từ giờ này, gọi là giờ “tống cựu nghênh tân”.

10. Hết giai đoạn chuẩn bị, ngày Tết bắt đầu từ sáng mồng một. Kiêng cử là mục đầu tiên cha mẹ căn dặn con cái: Kiêng nghĩa là tránh không làm tất cả những điều không tốt, như: chưởi bớí, giận dữ, đánh lộn... Nếu Tết mà bị như thế thì sẽ bị cả năm, gọi là giông.

11. Xông nhà xông đất. Bắt đầu từ giờ Giao Thừa là bắt đầu năm mới, hễ người nào bước chân đến nhà mình trước tiên là người ấy xông nhà xông đất, nghĩa là mang sự may mắn hay xui xẻo đến cho mình, tuỳ theo cái vận của người ấy đang lên hay đang xuống. Thường, người ta tin cái vận của người đến xông đất nhà mình có thể đem lại phước hay hoạ. Ví dụ tên Phúc là tốt, tên Hoạ là xấu. Vậy, cũng nên cẩn thận khi đi đạp đất nhà người ta, tuy rằng thời bây giờ chẳng còn ai tin ở những chuyện hồ đồ ấy nữa.

12. Xuất hành. Cũng sau giờ Giao Thừa, người ta chọn giờ tốt, hướng tốt để đi ra khỏi nhà gọi là xuất hành, đi để tìm lấy cái may mắn, phúc lợi. Thường, xuất hành bao giờ cũng nhắm tới đền chùa hay nhà thờ.

13. Hái lộc. Ở nơi chọn để xuất hành tốt, còn có tục hái lộc, nghĩa là bẻ một cành cây, một nhánh lá để mang về nhà lấy hên, lấy may. Cành đa, cành đề, cành si, cây xương rồng quanh năm tươi tốt (ever green) được tin là nẩy lộc tốt lành.

14. Chúc Tết, mừng tuổi. Sáng ngày mồng một, con cái cháu chắt mặc áo mới, vòng tay cúi đầu trước ông bà cha mẹ và lạy mừng chúc tụng, dâng lên những món quà tượng trưng cho lòng tôn kính. Bậc bề trên mừng tuổi cho con cháu những món tiền đựng trong phong bao màu đỏ, gọi là lì xì. Tục lì xì đến nay ở hải ngoại vẫn còn rất được tán thưởng. Ngày xưa, còn có từng đoàn trẻ em nghèo kéo nhau đi đến các nhà giàu (phú hộ), bỏ những đồng tiền trong ống tre và lắc lên kêu “súc sắc súc sẻ” để chúc mừng và để xin tiền. “Súc sắc súc sẻ” là một tục lệ rất phổ biến ở thôn quê ta ngày xưa.

15. Khai bút đầu năm. Riêng giới văn nhân thi sĩ còn có mỹ tục khai bút tân xuân, nghĩa là viết lên vài hàng chữ nhân dịp xuân về, làm một bài thơ đón chào Xuân mới, thường là ngụ ý bày tỏ ý chí, nguyện vọng hay tâm tình. Bài khai bút thường được viết trên giấy màu đỏ (hồng điều) hay giấy có vẽ hoa (hoa tiên). Đến nay, trong kho tàng văn học Việt Nam còn truyền tụng nhiều bài thơ khai bút rất nổi tiếng, như bài sau đây của nhà thơ Nguyễn Khuyến, tức Tam Nguyên Yên Đỗ mà đến nay vẫn còn hợp thời:

Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ
Nay đã năm mươi, có lẻ ba
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già!
Xuân về, ngày loạn càng lơ láo
Người gặp, khi cùng cũng ngẩn ngơ
Lẩn thẩn lấy chi đèn tắt bóng
Sao còn đàn hát vẫn say sưa?


Trên đất nước định cư hiện nay của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn, số các ông bà trung niên, lão niên yêu thơ đã có điều kiện và hoàn cảnh để trở thành thi gia khá nhiều. Trên nguyệt san Kỷ Nguyên Mới một số Xuân nào đó, có một độc giả bói được vài đoạn thơ khai bút vui tươi lẫn nghẹn ngào:
Xuân về rồi đó em ta nhỉ
Đã hẹn nhưng lòng chẳng đợi trông
Ta chở nỗi đau đời quá nặng
Vẫn vui nhờ có nắng Xuân hồng
(Hoa Văn)

Và Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm - tờ báo tràn ngập thơ - thì chẳng thiếu gì thơ khai bút:
Sáng ra, mồng một đón chào
Nàng Xuân tươi thắm
Nàng Đào lẳng lơ
Lòng trần rũ sạch bụi nhơ
Cười Xuân một phát
Làm thơ tặng nàng...
(Vĩnh Liêm)


Về phía nữ lưu, thơ Xuân khai bút của Văn Thị Kiều Anh nghe thật ngậm ngùi:

Sáng nay tuyết đổ trắng khung trời
Gió lạnh càng thêm lạnh tím môi
Đường vắng phố buồn thân lữ thứ

Nỗi niềm cô quạnh nói sao vơi.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#51 Posted : Wednesday, February 5, 2014 6:38:25 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Hà Văn Thùy – KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “TỪ HÁN VIỆT”



Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80 % từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Đồng cảm với nỗi bức thúc của ông nhưng nhận thấy đây là vấn đề lớn và không hề đơn giản, chúng tôi xin thưa lại đôi lời.
1.I. Có đúng tiếng Việt vay mượn từ ngôn ngữ Hán?

Muốn giải quyết thỏa đáng chuyện này, không còn cách nào khác là phải đi tới tận cùng cội nguồn ngôn ngữ, không chỉ của người Việt mà cả của người Trung Hoa.

Nửa sau thế kỷ XIX, ngay khi chưa đặt xong ách đô hộ trên toàn cõi Vệt Nam, những học giả người Pháp đã có mặt để nghiên cứu thiên nhiên, con người, văn hóa, xã hội xứ Annam. Từ kết quả nghiên cứu, năm 1898, nhà nước bảo hộ Pháp cho thành lập Viện Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội. Đứng đầu lĩnh vực khoa học nhân văn là những nhà Hán học như E. Aymonier, L. Maspéro… Là học giả phương Tây, họ mang quan niệm Âu trung: châu Âu là trung tâm của văn minh nhân loại. Là nhà Hán học, họ theo thuyết Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của châu Á. Họ cũng chịu ảnh hưởng của tri thức sai lầm đương thời cho rằng, con người từ Tây Tạng xâm nhập Trung Quốc rồi sau đó xuống Việt Nam và Đông Nam Á nên ánh sáng văn minh cũng từ Trung Hoa lan tỏa tới phương Nam. Khi nghiên cứu tiếng nói của người Việt Nam, họ có trong tay những bộ từ điển Trung Hoa đồ sộ như Từ Hải, Tứ khố toàn thư, Khang Hy… Trong khi đó, tiếng Việt chỉ có Từ điển Việt-Bồ-La của Alexander de Rhodes cùng Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, hai cuốn sách nhỏ, tập hợp từ ngữ Việt chữ Latinh mới có khoảng 300 tuổi. Bằng thao tác đơn giản là thống kê, so sánh những từ được cho là gốc Hán có trong tiếng Việt, họ eureka: “Tiếng Việt mượn khoảng 70% từ Hán ngữ!”

Sự thật có đúng như vậy không?

Vào năm 1898, H. Frey, một đại tá người Pháp, từng công tác ở Tây Phi sau đó có mặt ở Việt Nam, đã xuất bản cuốn Tiếng Annam, mẹ của các ngữ (L’Annamite, mère des langues): Tiếng Annam, xuất xứ của các ngôn ngữ: Cộng đồng các chủng tộc Xentơ, Xémit, Xuđăng và Đông Dương. Bằng kinh nghiệm ở Châu lục đen, nhà ngữ học chân thực này cho rằng tiếng Việt gần gũi với tiếng các sắc dân châu Phi và là nguồn cội của mọi ngôn ngữ phương Đông. Tiếp đó ông còn cho ra hai cuốn khác khẳng định quan điểm của mình. Tuy nhiên, các viện sĩ của Viễn Đông Bác Cổ “không thèm chấp” gã tay ngang võ biền. Không chỉ vậy, vào năm 1937-1938 còn có cuộc tranh luận giữa nhà ngữ học trẻ người Ba Lan Prilusky với viện sĩ Maspéro. Từ khảo cứu của mình, Prilusky phát triển quan điểm của H. Frey nhưng kết cục phần thắng thuộc về bậc lão làng!

Kết luận của Viện Viễn Đông Bác Cổ dáng đòn hủy diệt không chỉ vào văn hóa mà cả vào tương lai dân tộc Việt Nam! Do ngón đòn ác hiểm này mà sau đó, khi phân loại ngôn ngữ phương Đông, đề xuất một họ ngôn ngữ Annam bị bãi bỏ do “không xứng đáng vì vay mượn quá nhiều từ nước ngoài!” Thay vào đó là họ ngôn ngữ mang cái tên không tiêu biểu: ngôn ngữ Mon-Khmer. Kết quả là cho đến nay, trong sách giao khoa ngôn ngữ của nhiều đại học hàng đầu thế giới vẫn viết “Tiếng Việt vay mượn khoảng 60% từ ngôn ngữ Trung Hoa (!)” Dù sao thì cũng được an ủi phần nào vì 60% ít hơn con số chúng ta tự nhận!

Điều khủng khiếp nhất là, vào thập niên 1920, các học giả tiên phong người Việt như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố… tiếp nhận tri thức sai lầm đó, dạy cho con dân Việt. Ý tưởng tiếng Việt vay mượn tiếng Hán như cỏ dại lan rộng trên cánh đồng tư tưởng, thấm tới toàn bộ người có học Việt Nam hiện nay! Gần suốt thế kỷ, học giả Việt không một lời cãi lại. Ở thập niên 80, trong công trình ngữ học công phu Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn “khám phá”: ngoài cái gọi là “từ Hán Việt”, trong tiếng Việt còn lớp từ Hán cổ và lớp từ Hán Việt Việt hóa (1). Không đưa ra con số thống kê nhưng với hai lớp từ được bổ sung đó, có lẽ tỷ trọng vay mượn của tiếng Việt còn tăng lên gấp bội!

Nhưng dù sao, đấy chỉ là tính toán của nhà bác học, còn với người dân Việt, ít người tin, chỉ vì lý do đơn giản: một dân tộc vay mượn đến bằng nấy tiếng nước ngoài không thể là dân tộc trưởng thành, chắc chắn đã bị đồng hóa sau nghìn năm nô lệ!

Năm 2006, từ nghiên cứu của mình, chúng tôi công bố bài viết Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa (2). Rất may là ý tưởng “điên rồ” đó chẳng những không bị ném đá mà còn không rơi vào im lặng. Ít lâu sau, từ Sacramento nước Mỹ, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thành gửi cho chúng tôi những bài viết chấn động: Phát hiện lại Việt Nhân ca, Phục nguyên Duy giáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn, Đi tìm nguồn gốc chữ Nôm…(3) trong đó dẫn ra hàng nghìn bằng chứng không thể phản bác cho thấy, tiếng nói nguyên thủy của người Trung Hoa là tiếng Việt. Người bạn Việt Triều Châu của tôi khẳng định: “Tất cả các chữ tượng hình được làm ra là để ký âm tiếng Việt. Vì vậy, mọi chữ vuông chỉ khi đọc và giải nghĩa bằng tiếng Việt mới chính xác!” Một sự ủng hộ vô giá! Càng may hơn là đầu năm 2012, chúng tôi nhận được tin: Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt tỉnh Quảng Tây Trung Quốc phát hiện chữ Việt cổ khắc trên xẻng đá, giống với chữ Giáp cốt (4)! Từ những nguồn tư liệu phong phú và vững chắc, chúng tôi nhanh chóng hoàn thành bài viết: Chữ Việt là chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa (5)!

Như vậy, sang thế kỷ này, nhờ tiến bộ của khoa học thế giới, nhờ tấm lòng và công sức của cộng đồng người Việt, không những chúng ta xác định được người Việt có đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư châu Á, có nghĩa, Việt Nam là cái nôi của các dân tộc phương Đông mà còn chứng minh được, tổ tiên ta để lại trên đất Trung Hoa không chỉ tiếng nói mà cả chữ viết.

Chúng tôi hình dung quá trình hình thành tiếng nói và chữ viết trên đất Trung Hoa như sau:

Nhiều dữ liệu khoa học cho thấy, 40.000 năm trước, người Việt cổ đã từ Việt Nam đi lên khai phá đất Trung Hoa. Tới 4000 năm TCN, người Việt đã xây dựng ở đây nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ do Hiên Viên dẫn đầu, vượt Hoàng Hà vào chiếm đất Việt, dựng vương triều Hoàng Đế. Trong vương quốc Hoàng Đế, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ. Người Hoa Hạ bú sữa mẹ Việt, học tiếng nói Việt. Do ngôn ngữ Mông Cổ nghèo nên tiếng Việt thành chủ thể của tiếng nói vương triều. Cùng với thời gian, người Hoa Hạ thay cha ông Mông Cổ lãnh đạo xã hội, đã áp đặt dân chúng nói theo cách nói Mông Cổ (Mongol parlance: tính từ đứng trước danh từ, hay như ta vẫn gọi là cách nói ngược.) Trên thực tế, ngôn ngữ của dân cư vương triều Hoàng Đế là tiếng Việt được nói theo văn phạm Mông Cổ. Sau này, nhà Tần, nhà Hán mở rộng lãnh thổ, ngôn ngữ tại các vùng bị kiêm tính cũng chuyển hóa theo cách tương tự. Do người Việt sống trên địa bàn rộng với thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau, nên ngôn ngữ bị phân ly thành nhiều phương ngữ. Trong đó, tiếng nói vùng Quảng Đông (Việt Đông), Phúc Kiến (Mân Việt) là chuẩn mực nên được gọi là Nhã ngữ với ý nghĩa ngôn ngữ thanh nhã. Đời nhà Chu, rồi nhà Hán, triều đình khuyến khích nói theo Nhã ngữ.

Vấn đề khác cũng cần minh định là ảnh hưởng của chữ viết tới sự hình thành ngôn ngữ phương Đông. Chữ tượng hình được phát hiện sớm nhất ở văn hóa Giả Hồ 9000 năm rồi ở văn hóa Bán Pha tỉnh Sơn Tây 6000 năm trước. Khảo cổ học cũng cho thấy, khoảng 4000-6000 năm cách nay, chữ tượng hình được khắc trên xẻng đá ở di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây. Chữ Lạc Việt sau đó được đưa lên đồng bằng Trong Nguồn, bây giờ là Trung Nguyên, vốn là một trung tâm lớn của người Dương Việt, để khắc lên xương thú và yếm rùa, về sau được gọi là văn Giáp cốt.

Chữ viết trên yếm rùa và xương thú là chữ đơn lập, không thể ghép vần. Tiếng Việt cổ vốn đa âm nên muốn được ký âm buộc phải đơn âm hóa. Do đó, tại trung tâm đầu não của người Việt, ít nhất là từ Quý Châu Quảng Tây tới Hà Nam, tiếng nói chuyển dần thành đơn âm. Một vấn đề khác nảy sinh: tiếng nói thì nhiều nhưng số chữ chế ra có hạn nên chỉ có những tiếng tiêu biểu mới được ký tự. Do vậy, chữ tượng hình tập hợp được những tiếng nói tiêu biểu nhất của người Việt. Đây là quá trình độc lập, diễn ra trong cộng đồng Việt mà người Hoa Hạ từ thời Hoàng Đế tới giữa đời Thương không biết. Khi vua Bàn Canh chiếm đất Hà Nam, lập nhà Ân (1384 TCN), mới biết chữ Giáp cốt của người Dương Việt. Với nhà nước được tổ chức tốt, Bàn Canh đã tiếp thu và cải tiến chữ của người Việt để ghi việc bói toán, cúng tế cùng địa lý, lịch sử (5). Trong triều đình nhà Ân, những “họa sư”- người vẽ chữ, “bốc sư”- thày bói, người Việt, được “lưu dụng” làm công việc này. Thay nhà Thương, nhà Chu chuyển sang viết chữ trên thẻ tre, trên lụa, cũng sử dụng nhiều ông thầy người Việt. Nhà Tần vốn là bộ lạc người Việt, khi dựng nước đã thể chế chữ Giáp cốt thành chữ Triện tồn tại tới nay. Như vây, có thể nói, không chỉ sáng tạo ra chữ Giáp cốt mà người Việt còn tích cực góp phần cải tiến, hoàn thiện chữ viết. Do đó quá trình đơn âm hóa tiếng nói được đẩy mạnh.

Sau đời Hán, Trung Quốc loạn lạc, nhiều triệu người thiểu số phía Tây thâm nhập, khiến cho tiếng nói bị pha tạp, theo hướng tăng cường giọng điệu du mục. Tiếng nói của cư dân trong vương triều thay đổi, dẫn tới việc người trong nước không hiểu được nhau. Để khắc phục, các vương triều dùng tiếng nói của kinh đô làm chuẩn mực giao tiếp của triều đình: quan thoại ra đời. Nhà Đường lấy tiếng nói của kinh đô Tràng An làm tiếng nói chính thức, được gọi là Đường âm. Đường âm là tiếng Việt được người Tràng An nói thời nhà Đường. Đấy là bộ phận tinh hoa của tiếng Việt được ký tự bằng chữ vuông. Đường âm được mang sang dạy và giao dịch ở Việt Nam. Khi giành được quyền tự chủ, nước ta thoát ách đô hộ của phương Bắc về chính trị, kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, văn tự tượng hình vẫn là chữ viết chính thống và Đường âm được duy trì dưới tên gọi là chữ Nho, chữ Thánh hiền. Trong khi đó, quan thoại của Trung Hoa biến cải theo sự thay đổi của vương triều và kinh đô. Tới giữa thế kỷ trước, tiếng Bắc Kinh là tiếng nói chính thống của Trung Hoa, chỉ được số lượng nhỏ người dùng. Nhà Mãn Thanh rồi chính quyền Quốc dân đảng không làm nổi việc thống nhất ngôn ngữ. Chỉ tới năm 1958, sau gần 20 năm nhà nước Trung Hoa nỗ lực thực hiện cuộc đồng hóa khốc liệt, tiếng Bặc Kinh mới được phủ sóng trên phần lớn lãnh thổ. Tuy nhiên, tới nay trong vùng Nam Dương Tử vẫn có khoảng 20% từ địa phương, truyền miệng trong dân gian mà không được ký tự.

Một vấn đề từ lâu được đặt ra: chữ Nho xuất hiện ở nước ta từ bao giờ? Chưa ai xác định được ! Chúng tôi không biết, hàng nghìn năm trong nước Văn Lang, vùng đất bây giờ là Việt Nam, chỉ cách Cảm Tang, Quý Châu khoảng 150 km, có sử dụng chữ tượng hình? Nhưng biết chắc, bộ lạc Thủy, di duệ của người Lạc Việt ở Quảng Tây, từ thời Tần Hán trốn vào rừng, bị thiểu số hóa, vẫn giữ được sách cổ ghi bằng chữ Thủy, tương tự Giáp cốt văn của tổ tiên Bách Việt, gọi là Thủy thư (5). Nay được coi là văn tự hóa thạch sống, một bảo vật văn hóa nhân loại. Một điều chắc chắn khác là, muộn nhất, chữ Nho có mặt ở nước ta thời Triệu Vũ Đế. Việc khám phá lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu với rất nhiều di vật khắc chữ Nho chứng tỏ điều này. Chắc chắn rằng, trong 100 năm xây dựng và bảo vệ Nam Việt, nhà Triệu đã dùng chữ Nho trong hành chính, luật pháp và dạy học. Vì vậy, khi sang nước ta, Mã Viện phát hiện “Luật Giao Chỉ có tới 10 điều khác luật nhà Hán”(6). Có phần chắc là luật Việt được viết bằng chữ Nho. Chúng tôi cũng nghĩ rằng, muộn nhất, tiếng Việt vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ, được đơn âm hóa từ thời nhà Triệu. Và cùng với việc phổ biến chữ Nho, tiếng Kinh ngày càng trở nên đơn âm.

Một câu hỏi: khi sang nước ta, người của Triệu Đà rồi quan quân nhà Hán nói tiếng gi? Sử ký viết, “Đà giết trưởng lại người Tần rồi đưa người của mình lên thay.” Triệu là một tiểu quốc của người Việt, nên Triệu Đà và tâm phúc của ông là người Việt (7). Xuống Giang Nam, người của ông gặp tiếng Việt Quảng Đông, Mân Việt, thứ tiếng Việt thanh nhã chuẩn mực. Thời Hán cũng tương tự, vì ngoài một số không nhiều quan cao cấp người phương Bắc thì tới nước ta phần lớn là người Giang Nam. Họ là người Việt, cho dù có nói ngược theo cách nói Hoa Hạ thì vẫn là tiếng Việt. Vì lẽ đó, rất có thể hai bên gần như hiểu được nhau. Vì vậy, việc học chữ Nho khá dễ dàng.

Về sau, qua mỗi thời đại, tiếng của quan quân phương Bắc lại khác đi. Đến thời Đường, tiếng nói của kinh đô Tràng An được dùng làm quan thoại. Thực chất, đó là tiếng Việt ở kinh đô Tràng An thời nhà Đường. Điều này cho thấy một bộ phận tiếng Việt trải qua quá trình biến đổi dài từ đa âm, không thanh điệu, tới đây đã thành đơn âm và sáu thanh. Có lẽ, tiếng nói của bộ phận cư dân mà sau này là người Kinh cũng được chuyển hóa như vậy?

Sau thời Đường, nước ta độc lập, chữ Nho trở thành quốc ngữ. Theo dòng thời cuộc, tiếng nói của người Trung Hoa thay đổi, ngày càng xa gốc Việt. Chẳng những người Việt không hiểu tiếng người phương Bắc mà người Trung Quốc cũng không còn nói được Đường âm. Di sản vô giá thơ Đường chỉ còn người Việt Nam thưởng thức trong âm điệu tuyệt vời.

Từ phân tích trên chứng tỏ rằng, tiếng Việt không những không vay mượn mà trái lại, còn là gốc gác, là mẹ đẻ của ngôn ngữ Trung Hoa. Cái mà nay người ta quen gọi là “từ Hán Việt” là sự lầm lẫn lớn bởi chưa hiểu cội nguồn sinh học cũng như văn hóa dân tộc, trong đó có quá trình hình thành tiếng nói và chữ viết.


II. Vai trò của lớp từ Việt cổ trong văn hóa dân tộc

Như đã nói ở trên, tiếng thì nhiều nhưng chữ làm ra quá ít nên tổ tiên ta bắt buộc phải chọn thật kỹ những tiếng cần ký tự. Đó là những tiếng có nội dung sâu sắc, hàm chứa ý nghĩa uyên thâm, mà sau này được gọi là ngôn ngữ hàn lâm. Dù có áp dụng cách tạo từ đồng âm dị nghĩa thì cũng còn vô số tiếng không được ký âm vì không đủ chữ. Ở phía bắc Trung Hoa, dần dần những tiếng không được ký tự bị mai một.

Trong khi đó, ở miền nam, chúng trở thành từ địa phương, được truyền miệng trong dân gian. Ở Việt Nam tình hình tương tự. Khi làm chủ đất nước, người Việt thấy quá nhiều tiếng không có chữ, nên vào đời Trần đã mô phỏng chữ Nho để tạo ra chữ Nôm. Tuy nhiên, vì nhiều lẽ, chữ Nôm không được coi là văn tự chính thức. Mọi giao dịch hành chính đều phải dùng chữ Nho, nên nhiều địa danh phải chuyển sang chữ Nho, việc làm bất khả kháng ngày xưa khiến nay nhiều người bức thúc.

Một vấn đề cũng cần bàn cho ra lẽ, đó là tìm tên gọi xác đáng cho lớp từ đặc biệt này. Thoạt kỳ thủy, nó là Đường âm. Tới lúc nào đó được gọi là chữ Nho. Ở miền Nam cho tới năm 1975, gọi là cổ văn. Vào thập niên 1960, các học giả miền Bắc gọi là “từ Hán Việt”. Một thời gian dài nửa thế kỷ ta chấp nhận tên gọi đó vì tưởng rằng hợp lý. Nhưng bản thân khái niệm “từ Hán Việt” lại mâu thuẫn và vô nghĩa. Thuật ngữ này hàm ý: chữ của Hán, còn cách đọc của Việt, ghép lại thành “từ Hán Việt.” Nhưng như phát hiện của Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc đó chính là tiếng nói ở kinh đô Tràng An thời nhà Đường! Như vậy, theo cách hiểu hiện nay, cả chữ viết và cách đọc đều của người Hán, nên không thể là “từ Hán Việt!”. Nay ta thấy không thể tiếp tục dùng thuật ngữ sai lầm cũ. Nhưng dùng tên nào thích hợp hơn?

Đường âm là đúng nhưng bây giờ không thể trở lại tên gọi này vì đó là sản phẩm của một thời điểm lịch sử. Tiếng Hán không đúng vì đó không phải là tiếng nói thời nhà Hán, càng không phải tiếng nói của người Trung Hoa hôm nay. Có lẽ tên gọi chữ Nho phù hợp hơn cả, vì nó có nghĩa là chữ của nhà nho, sâu xa hơn, như phát hiện của triết gia Kim Định, là sản phẩm của văn hóa Việt nho nguồn cội. Sở dĩ gọi là “từ Hán Việt” vì người ta lầm tưởng đó là sản phẩm vừa của Hán vừa của Việt. Tuy nhiên cách hiểu như thế vừa không chính xác vừa gây phản cảm, đè nặng lên tâm trí chúng ta một cảm giác lệ thuộc bên ngoài. Thực chất, đó không phải “từ Hán Việt” mà là tiếng Việt cổ. Khác với nhiều ngữ khác, tiếng cổ là tử ngữ, thì trong ngôn ngữ Việt, tiếng Việt cổ vô cùng sống động. Lý do nó trở thành cổ ngữ là vì lịch sử dân tộc có biến động lớn, chữ Nho bị bãi bỏ để thay bằng thứ chữ viết khác. Mấy trăm năm trước, khi chuyển giao chữ La Tinh quốc ngữ cho chúng ta, một học giả phương Tây từng nói đại ý: Chúng ta trao cho người Annam một thứ chữ dễ học, giúp họ nhanh chóng bắt kịp đà văn minh. Nhưng chắc chắn nó sẽ làm cho thế hệ tương lai của họ cắt đứt với nguồn cội. Hôm nay, lời cảnh báo đó đã trở thành hiện thực với toàn bộ nền văn hóa Việt. Về ngôn ngữ thì đó là lớp lớp người Việt không hiểu tiếng nói của tổ tiên, như tác giả Trần Kinh Nghị than phiền. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần nhìn nhận lại gia sản quý giá này để sử dụng tốt nhất.
1.Kết luận

Hàng ngàn năm nay do ngộ nhận nên ta cho rằng, bộ phận tinh hoa, quan trọng nhất của tiếng Việt là đồ vay mượn! Sự lầm lẫn này đã tạo nên nỗi đau ngàn năm khi ta vừa căm ghét một công cụ mà trong quá khứ kẻ thù dùng để đồng hóa, nô lệ mình lại vừa không thể chối bỏ! Không thể không dùng nhưng rồi mỗi khi dùng lại day dứt nỗi niềm cay đắng mặc cảm vay mượn!

Nay chúng ta phát hiện ra sự thật: không hề có cái gọi là “Từ Hán Việt”! Đó chính là chữ Việt, tiếng Việt được tổ tiên ta sáng tạo trong quá khứ. Việc khẳng định bản quyền tiếng Việt cổ là khám phá có ý nghĩa đặc biệt, nó giúp ta tự tin, làm chủ tài sản vô giá của dân tộc. Vấn đề hiện nay là tuyên truyền để mọi người cùng hiểu. Công việc quan trọng khác là nghiên cứu sử dụng vốn tài sản này, làm phong phú ngôn ngữ, góp phần xây dựng văn hóa dân tộc.

Cái to nhất ngăn trở ta dám nhận lại tài sản vô giá này là thói nô lệ, thói tự kỷ ám thị nặng nề khiến ta vô thức đẩy nhiều di sản quý báu của tổ tiên cho người ngoài để rồi cúc cung làm chú học trò ngu ngơ, bị đè bẹp dưới cái bóng hoang tưởng!

Một khi nhận ra chủ quyền, ta sẽ làm gì với tài sản vô giá này?

Nhiều người đã hiểu cơ sự nên kiến nghị khôi phục việc học chữ Nho. Đấy là việc không thể không làm. Trước hết vì giá trị lớn lao của chữ Nho. Tính triết lý sâu xa, ý nghĩa thâm thúy của nó khác với bất cứ chữ viết nào, giúp người học rèn trí thông minh, luyện tư duy… Chỉ điều này mới giúp chúng ta tiếp nối với truyền thống, tránh được mối nguy mất gốc như học giả nước ngoài cảnh báo mấy trăm năm trước. Đó là việc cần chủ trương và kế hoạch lớn. Trước mắt, việc có thể làm ngay là, trong chương trình tiếng Việt phổ thông, nên bổ sung một số tiết giảng tiếng Việt cổ, nhằm giải nghĩa những từ thường dùng để học sinh hiểu và sử dụng đúng, đồng thời tập cho họ cách tra Từ điển tiếng Việt.

Chúng tôi xin mạo muội đề nghị, cần một cuộc cách mạng loại bỏ thuật ngữ “từ Hán Việt” khỏi ngôn ngữ Việt để thay vào đó tên gọi đúng: tiếng Việt cổ! Đồng thời dùng lại thuật ngữ chữ Nho để gọi văn tự của tổ tiên mà xưa nay vẫn lầm tưởng là chữ nước ngoài.

*http://trankinhnghi.blogspot.com/2013/11/di-san-han-viet.html

Madrak, 1. 12. 2013

HVT

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Tài Cẩn – Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1979

2. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.

3. Đỗ Ngọc Thành. Nhannamphi.com

4. Hà Văn Thùy. Chữ Việt chủ thể sáng tạo chữ viết Trung Hoa http://huc.edu.vn/chi-ti...-chu-viet-Trung-Hoa.html
1.5. Lịch sử hình thành chữ viết Trung Hoa http://khoahocnet.com/20...hanh-chu-viet-trung-hoa/

6. Hậu Hán thư- Mã Viện truyện
1.7. Hà Văn Thùy – Nỗi bất an của lịch sử http://trannhuong.com/ti...-bat-an-cua-lich-su.vhtm


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
CatLinh  
#52 Posted : Saturday, February 8, 2014 1:40:39 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)

UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 2/11/2014(UTC)
phamlang  
#53 Posted : Tuesday, February 11, 2014 7:23:01 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Từ láy

--- Hoài Việt ---

Đã có nhà ngôn ngữ học thống kê tiếng Việt có đến trên dưới 5.000 từ láy, một khối lượng từ phải nói là quá lớn làm nên bản sắc riêng của ngôn ngữ Việt. Trong số đó, người ta ước tính có đến gần một nửa số từ láy, phần lớn là láy đôi, không thể xác định được từ nào là chính và nghĩa của mỗi từ tách riêng là gì và phần nửa số từ láy còn lại có thể giải thích được từ gốc.

Ví dụ như trong các từ láy đôi: Bươm bướm - chỉ một loài sâu có cánh rất quen thuộc với xứ sở nhiệt đới nhiều hoa thơm cỏ lạ, người ta có thể thấy ngay bươm là từ láy của bướm, và bướm là từ gốc, từ chính định danh một loài côn trùng. Tương tự các từ Nhanh nhẹn, Vuông vắn, Đẹp đẽ, Muộn màng... cũng có thể dễ dàng nhận ra các từ nhanh, vuông, đẹp, muộn là từ gốc và nhẹn, vắn, đẽ, màng chỉ là những từ láy lại theo kiểu láy âm; ở đây là các phụ âm đầu "nhờ - trong Nhanh nhẹn, vờ - trong Vuông vắn, đờ - trong Đẹp đẽ, mờ - trong Muộn màng". Người ta có thể dẫn ra hàng loạt từ láy đôi tương tự như thế: Hỏi han, Khẽ khàng, To tát, Chao chát... Trong các từ láy đôi này, từ gốc mang nghĩa rõ ràng là hỏi trong hỏi han, khẽ trong khẽ khàng, to trong to tát.

Trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ thường nhật, nhất là trong khẩu ngữ - tức là lời ăn tiếng nói thường ngày trong ngữ cảnh là đời sống muôn mặt đời thường, còn rất nhiều từ láy đôi không thể xác định được đâu là từ gốc có nghĩa như thế, ví như các từ Lẩn thẩn, Lẩm cẩm, Bẽn lẽn, Thình lình, Ngậm ngùi, Băn khoăn, Chấp chới, Mang máng, Tất bật, Thều thào,... Trong những từ láy đôi này, cả hai thành tố chẳng có một nghĩa gì rõ rệt, nhưng khi được kết hợp theo kiểu láy âm như Ngậm ngùi - láy âm "ngờ", hay láy vần trong Bâng khuâng - láy vần "âng" thì tổng hợp cả hai từ có thể xem là vô nghĩa ấy với người Việt thời hiện đại, thì họ vẫn cứ hiểu cái nghĩa của từ láy đôi như thường. Câu thơ của TH: "Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước - Chọn một giòng hay để nước trôi", không cần giải thích riêng từ láy Bâng khuâng, một em học sinh phổ thông vẫn hiểu được từ đó chỉ tâm trạng lơ lửng, chưa xác định được sự lựa chọn dứt khoát của con người trước một thực tế nước đôi nào đó. Tương tự, từ láy vần "ẽn" trong Bẽn lẽn, mặc dù thật khó đoán định bẽn và lẽn tách riêng ra, người cổ xưa hiểu là gì không ai biết thế nhưng từ láy đôi bẽn lẽn hoá ra ai cũng hiểu đấy là từ chỉ sự thẹn thùng ngần ngại của cô gái mới lớn trước người lạ chẳng hạn.

Đi sâu tìm hiểu từ láy trong ngôn ngữ dân tộc, do khối lượng từ láy phải nói là rất lớn, trên dưới 5.000 từ, người ta có thể rút ra được rất nhiều điều lý thú về cấu trúc, về đặc điểm của nó. Trên hết, nhận biết từ láy trong ngôn ngữ Việt cũng là một cách tiếp cận với đặc trưng ngôn ngữ Việt rất cần cho mỗi người trong công việc viết văn viết báo và giao tiếp, ứng xử giữa cộng đồng, nhất là đối với thế hệ hậu sinh ở xứ người quá xa môi trường tiếng mẹ đẻ thuần nhất là Việt Nam.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#54 Posted : Friday, February 14, 2014 5:26:52 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Từ "là" trong Tiếng Việt
Huy Hoàng

“Là” có phải là động từ?

Thông thường, các sách ngữ pháp tiếng Việt dùng để dạy học có thể qui từ “là” vào động từ, khi cần dịch ra tiếng Anh, người ta cũng rất dễ cho rằng “là” khá giống với động từ “to be”. “To be” là động từ, nó biến đổi hình thái tùy theo thời, theo số, theo cách, theo đại từ chủ thể, nó có thể là “be”, “been”, “is”, “are”, “am”, “was”… Tại sao “là” lại là động từ? Bởi đơn giản, nếu nó không phải động từ thì những câu như

(1) Anh ta là người Mỹ.
Sẽ không tìm đâu ra vị ngữ. Tất nhiên ta có thể nói:

(2) Anh ta người Mỹ.

Khi đó, vị ngữ sẽ là vị ngữ danh từ (người Mỹ). Tuy nhiên, khi phân tích câu (1), cách dễ dàng nhất vẫn là: “là” là vị ngữ chính, “người Mỹ” là bổ ngữ chỉ đối tượng (hay có người gọi là tân ngữ, nhưng sách giáo khoa phổ thông vẫn xếp vào bổ ngữ) cho động từ “là”. Cấu trúc “chủ + vị + bổ” trong đó vị ngữ là động từ rất phổ biến:

(3) Anh ta ăn ba bát cơm.

Nhưng thực tế, câu có từ “là” rất khác, nói cách khác, (2) khác (3) rất nhiều. Một cách kiểm chứng đơn giản: ta có thể bỏ từ “là” mà vẫn không ảnh hưởng gì tới nghĩa của câu. Nhưng (3) không thể bỏ từ “ăn” đi được. Vài ví dụ khác:

(4) Hôm nay (là) Chủ nhật.
(5) Ngày mai (là) Quốc khánh.
Thêm ví dụ nữa:

(6) Bin Laden là trùm khủng bố.

Câu 6) có bỏ “là” đi được không? Nếu bỏ đi, sẽ thành:

(7) Bin Laden trùm khủng bố.

Có người nói như vậy không thành câu. Nhưng rõ ràng ta vẫn gặp những câu như vậy:

(8) Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu. (Thép Mới)

Câu đặc biệt cũng là câu, câu tỉnh lược cũng là câu. Không thể nói bắt buộc phải đầy đủ chủ ngữ vị ngữ mới là câu. Hơn nữa, ta nên xem xét kĩ cái định nghĩa “chủ ngữ” và “vị ngữ” trong tiếng Việt. Áp dụng mô hình cấu trúc ngôn ngữ học phương Tây – một mô hình dựa trên các ngôn ngữ Ấn Âu – vào tiếng Việt, chắc chắn sẽ có sự lệch pha, đó là một hạn chế của ngữ pháp cấu trúc luận cổ điển.

Nếu cần thêm luận chứng thì ta có thể tiến hành phủ định. Có phải trường hợp nào của “là” cũng có thể phủ định đơn giản “ngon ơ”? Phủ định của “là” là “không là”, “không phải là”… (Vì sao không là gió, là mây để thấy trời bao la? – lời bài “Khát vọng”). Ta phủ định dễ dàng câu (2), (4), (5), (6):

(2′) Anh ta không phải (là) người Mỹ.

(4′) Hôm nay không phải (là) Chủ nhật.

(5′) Ngày mai không phải (là) Quốc khánh.

(6′) Bin Laden không phải (là) trùm khủng bố.

Nhưng tất cả những câu phủ định trên, đều có thể bỏ “là” đi được. Ngược lại, một động từ như “ăn” trong câu (3) không thể phủ định bằng cách bỏ “ăn” đi:
*(3′) Anh ta không phải ba bát cơm.

“Là” tóm lại là từ gì?
Và có trường hợp khá đặc biệt của “là”:

(9) Nghỉ ngơi tĩnh dưỡng mấy ngày là khỏe thôi.
Trường hợp này có coi là động từ được nữa không? Nó giống một phó từ hơn. Ta lấy ví dụ khác về phó từ để thấy sự tương tự:

(10) (Vết thương nhẹ thôi, nhưng phải) nghỉ ngơi tĩnh dưỡng mấy ngày mới khỏe.
(11) (Anh ta giỏi thật, bị thương nặng thế mà) nghỉ ngơi tĩnh dướng mấy ngày đã khỏe trở lại.

Từ “là” trong trường hợp rõ ràng có tính chất giống như những phó từ biểu đạt sự so sánh đánh giá về lượng (bạn đọc có hứng thú có thể xem lại những bài nói về lượng chủ quan của tôi). Vậy có thể là do động từ biến nghĩa, thay đổi từ tính của mình không? Cũng có thể như vậy, vì cái gọi là “từ loại”, “từ tính” trong tiếng Việt khá mơ hồ, nó không có sự biến đổi về hình thái khi đóng vai trò khác nhau trong câu (như tính từ good và trạng từ well trong tiếng Anh chẳng hạn). Một từ có thể vừa là danh từ trong trường hợp này, vừa là tính từ trong trường hợp khác. VD:
(12) Thằng cha này cáo lắm, không vừa đâu.

Dễ dàng nhận thấy, “cáo” đã biến thành tính từ, chỉ sự khôn ngoan, gian xảo. Sự biến đổi này có cơ sở ngữ nghĩa của nó, vì quan niệm dân gian cho rằng cáo là loài vật khôn ngoan, xảo quyệt. “Là” có biến đổi như vậy không, thực tế là hơi khó đoán định, vì như trên phân tích, cái nghĩa động từ của “là” cũng mơ hồ hơn những động từ “thực sự” khác. Tuy nhiên, vẫn có một sợi dây liên kết giữa các cách dùng khác nhau của từ “là”, đó là ý nghĩa.

Dù trong trường hợp nào, “là” cũng có một ý nghĩa chung, đó là liên kết giữa hai đại lượng đồng đẳng trong giới hạn ngữ nghĩa của diễn ngôn. “Anh ta” và “người Mỹ” là đồng đẳng trong trường hợp câu (2); “hôm nay” và “Chủ nhật” là đồng đẳng trong trường hợp câu (4); “nghỉ ngơi tĩnh dưỡng mấy ngày” và “khỏe” là đồng đẳng trong câu (9). Xét trên ý nghĩa này, “là” lại rất gần vớiliên từ.

Xét trên khía cạnh khác, động từ vốn được coi là thực từ. Thực từ là từ có ý nghĩa từ vựng cụ thể. Nhưng “là” chẳng có ý nghĩa từ vựng cụ thể gì cả! Nó chỉ mang ý nghĩa ngữ pháp, nó nên là một hư từ. Vậy là ta có tương đối nhiều lí do để cho rằng, “là” không phải động từ. Có nhiều người cũng đồng ý rằng “là” là một liên từ, tuy nhiên cũng có nhiều người không cho rằng như vậy, có lẽ vì nó không hẳn giống như những liên từ khác như “và”, “mà”, “rồi”, “nếu”, “nhưng”…

Còn “to be” trong tiếng Anh, khó có thể coi là liên từ được, bởi liên từ (and, if, or, because…) là hư từ, không thể biến đổi hình thái, mà “to be” thì biến đổi hình thái rất rõ ràng. Ta không thể xét từ “là” tương đương với “to be” trong tiếng Anh, hay (tiếng phổ thông: shì, âm HV: thị) trong tiếng Hán. Có thể trong những trường hợp nhất định, ba từ này tương đương với nhau, đều liên kết giữa hai đại lượng đồng đẳng:

(2) Anh ta là người Mỹ.
(2a) He is American.
(2b) 他是美国人。

Nhưng những câu như (9) thì không thể dùng “to be” hay 是 để dịch được. Trường nghĩa của từ “là” rộng hơn. Vậy ta có thể giả thiết được không, rằng “là” trong những trường hợp như (2), (4), (5) là một động từ yếu; còn trong những trường hợp như (9) thì trở thành phó từ?

Điều thú vị là, kể cả trong những trường hợp mang tính “định nghĩa” như (2), (4), (5), thì ta cũng có thể – trong chừng mực nào đó – thay bằng một liên từ hoặc phó từ:
(2”) Anh ta mà người Mỹ, thì tôi là người sao Hỏa!
(4”) Hôm nay đã Chủ nhật thì tôi xin đi đầu xuống đất!

Cũng có thể nói rằng từ “là” có thể tỉnh lược trong trường hợp (2”) và (4”). Dù nói gì, thì “là” cũng có thể biến mất bất kì lúc nào trong những trường hợp nó (được coi là) làm động từ. Ngược lại, trong trường hợp như (9), nếu bỏ “là” đi, câu nói sẽ không được chấp nhận:
*(9′) Nghỉ ngơi tĩnh dưỡng mấy ngày khỏe.

Như vậy đủ thấy rằng, nghĩa động từ của từ “là” mờ nhạt hơn nhiều so với nghĩa hư từ của nó. Ở đây khó mà kết luận rốt cuộc “là” thuộc từ loại gì, bởi bản thân khái niệm “từ loại” trong tiếng Việt là một khái niệm không rõ ràng, khó định nghĩa và thường xuyên bị đảo lộn; trừ phi sự phân loại từ được thực hiện lại, chính xác hơn cho tiếng Việt.

Nói thêm về câu (9):

Trong câu (9), “là” không chỉ liên kết giữa vế trước và vế sau, mà nó còn chỉ ra rằng, cả hai vế đều là lượng nhỏ theo đánh giá chủ quan của người nói. Có nghĩa là, người nói cho rằng “nghỉ ngơi mấy ngày” là một thời gian ngắn, “khỏe lại” là một việc đơn giản. Nếu thay “là” bằng “mới’ như (10), thì ý nghĩa đảo ngược: người nói cho rằng với vết thương ấy thì “nghỉ ngơi mấy ngày” là thời gian tương đối dài, “khỏe” là chuyện có chút khó khăn. Lấy thêm VD:

(13) Tôi bình thường ăn yếu lắm, ăn một bát cơm là no rồi.
(14) Sao anh ăn một bát cơm đã no rồi à?

Câu (13) và (14) khác nhau thế nào? Về mặt lựa chọn từ ngữ biểu đạt, thì (13) dùng “là”, (14) dùng “đã”. Khác nhau ở chỗ, (13) là đánh giá một khả năng chung, còn (14) là nhận xét về một việc đã xảy ra. Vì thế ý nghĩa lượng cũng khác nhau:

Trong câu (13), “ăn một bát” là ít, “no” là việc dễ xảy ra. Trong câu (14), theo đánh giá chủ quan của người nói thì “ăn một bát” cũng là lượng nhỏ, nhưng người nói cho rằng “no” phải là việc khó xảy ra hơn mới đúng.

Vậy trong câu (9) hoặc câu (13), “là” xuất hiện 2 ý nghĩa: 1) liên kết giữa hai đại lượng đồng đẳng, chỉ ra mối liên hệ tương đương giữa chúng; 2) đánh dấu lượng nhỏ, sự việc dễ dàng, điều kiện đơn giản, nói tóm lại là lượng chủ quan nhỏ. Hay ta có kết cấu chung cho trường hợp này:

i. <lượng nhỏ 1> là <lượng nhỏ 2>
Còn kết cấu của những câu như (2) là:
ii. <danh ngữ> là <danh ngữ>

Trông có vẻ giống nhau, nhưng từ “là” trong cấu trúc i. đã bớt đi ý nghĩa động từ và tăng thêm ý nghĩa phó từ so với cấu trúc ii., trở thành một kết cấu khác. Còn việc kết cấu i. có phải được tạo sinh từ kết cấu ii. hay không, thì đó là vấn đề hóc búa.

Edited by user Friday, February 14, 2014 5:27:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#55 Posted : Wednesday, February 19, 2014 6:02:04 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Chữ "Cà" trong tiếng Việt



Không biết có phải từ nguyên thủy tiếng cà được dùng để gọi loài cây quả không mấy giá trị cho nên khi tiếng cà được ghép vào với những tiếng khác để tạo thành những cụm từ nhằm diễn tả cách thế, hình thái, đặc tính của sự vật và con người, thì hình như tiếng gì kết hợp với tiếng cà cũng chỉ nhằm diễn tả cái mặt xấu, dở, yếu kém, hay có nhiều khiếm khuyết của một sự vật chứ không có tiếng cà nào nhằm diễn tả sự hay ho, sung mãn hoặc tốt đẹp cả.

Khi đánh giá sự vật hay con người thì loại dở dở ương ương được người ta gọi là loại "cà mèng" hay còn gọi là "cà là mèng". Người có vẻ như mất thần, không tập trung tư tưởng thì được gọi là "cà lơ". Chân bị đau khiến cho đi đứng cứ khập khiểng thì gọi là "cà nhắc". Chân mà bị cà nhắc có khi còn được gọi là "cà thọt" hay là "xi cà que".

Người nghèo ăn uống thiếu dinh dưỡng thì thân thể thường ốm "cà tong cà teo", hình dáng trông cứ như là que củi "cà khẳng cà kheo". Do cái bệnh ốm đói kinh niên cho nên đi đứng làm việc lúc nào cũng có vẻ uể oải theo kiểu "cà rịch cà tang", và thường thích "kề rề cà rà" chứ không xông xáo. Đường sá quê nghèo thì lồi lõm ổ gà, lỗ chân trâu, khiến cho xe chạy không lăn bánh êm ả như trên xa lộ mà hay bị dồi xóc nên gọi là "cà tưng". Những người đi đứng không chững chạc mà lúc đi lúc nhảy như con dê non thì gọi là "cà tửng".

Còn nhỏ mà không được đi học thì chỉ thích chạy "cà nhỏng" ngoài đường. Người lớn mà vô công rồi nghề không biết làm gì thì thường hay "la cà" chỗ này chỗ nọ. Gặp nhau chuyện gẫu hoài nhiều khi không còn biết chuyện gì để nói đành phải nói theo kiểu "cà kê dê ngỗng". Do cái tật cà kê dê ngỗng mà sinh ra tật nói "cà rởn" tức là nói chơi nói dỡn cho vui. Tuy nhiên đôi lúc vui quá cũng dễ sinh ra mất lòng gây bất hòa nên đâm ra "cà khịa", có nghĩa là nói thọc ngang, nói xóc hông người khác. Nếu tự ái của người nào đó bị xúc phạm quá nặng thì người đó có thể lên cơn giận đột xuất làm cho hệ thống thần kinh không còn làm chủ được cái lưỡi phát âm khiến cho nói không nên lời, mà cứ lắp ba lắp bắp vấp váp thành ra "cà lăm". Đúng ra thì cà lăm chính là tên gọi của một khuyết tật về nói bẩm sinh nơi một vài người mà khi sinh ra đã được trời ban cho họ một bộ máy phát âm không hoàn chỉnh, còn người bình thường thì chỉ cà lăm tạm thời rồi hết một khi cơn tức khí xung thiên đã qua đi.

Mặc dầu đã có nhiều tiếng được ghép với tiếng cà để diễn tả cái dở cái yếu kém nơi sự vật hay con người như đã nói trên, nhưng còn một tiếng nữa đáng nói đến nhất là tiếng "cà chớn". Thật ra thì tôi cũng không biết định nghĩa tiếng cà chớn này như thế nào vì tôi không có khả năng làm tự điển, nhưng thường thì tiếng này được dùng để nói về người và cứ xem trong mối tương quan xã hội của mọi người đối với nhau thì người bị cho là cà chớn là người hay có những thái độ bốc đồng, những cách hành xử như ưa thọc gậy bánh xe hay phá thối những công việc chung, ăn nói thì lời lẽ tiền hậu bất nhất v.v...

Anh nào mà xây mộng ước với một cô nàng " cà chớn" là có ngày bị leo cây. Một ông chồng hiền lành mà rước được một bà vợ "cà chớn" là coi như cuộc đời và sự nghiệp cũng tiêu tùng. Bà vợ nào mà lấy phải một ông chồng "cà chớn" là chỉ ôm hận. Làm ăn với người cà chớn có ngày vỡ nợ. Kết bạn với người "cà chớn" có ngày mang họa vào thân hoặc bị bán đứng. Đất nước mà được lãnh đạo bởi các chính khách "cà chớn" thì dân chúng chỉ có nước bị gậy ăn mày.

Sưu tầm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#56 Posted : Saturday, February 22, 2014 6:32:36 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Phong phú của tiếng Việt


sưu tầm


Ăn vụng ..... khác với ..... vụng ăn

vụng nói ....... “ ....... nói vụng

tình ngay ....... “ ....... ngay tình

mặt nóng ........ “ ....... nóng mặt

mặt lạnh ........ “ ........ lạnh mặt

tiếng lớn ....... “ ....... lớn tiếng

mặt xanh ........ “ ........ xanh mặt

bụng hẹp ........ “ ....... hẹp bụng

đồng tiền ....... “ ........ tiền đồng

đêm thâu ........ “ ....... thâu đêm

đêm qua ....... “ ...... qua đêm

chịu ăn ........ “ ....... ăn chịu

phải ăn ....... “ ........ ăn phải

phải biết ....... “ ....... biết phải

thường ngày ....... “ ....... ngày thường

đi quanh ....... “ ...... quanh đi

đi làm ....... “ ....... làm đi


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#57 Posted : Sunday, February 23, 2014 12:12:41 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Từ trái nghĩa



1. Vốn là một hiện tượng không hoàn toàn đơn giản, các quan niệm về từ trái nghĩa đã được đưa ra cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Tuy vậy, nét chung được đề cập trong tất cả các quan niệm là: sự đối lập về nghĩa.

Quan niệm thường thấy và được đa số chấp nhận, được phát biểu như sau:

Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau trong mối quan hệ tương liên. Chúng khác nhau về ngữ âm và phản ánh những khái niệm tương phản về logic.

Ví dụ: cao và thấp trong câu dưới đây là hai từ trái nghĩa:

Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

2. Quan niệm nêu trên, suy ra rằng: Những từ có vẻ đối lập nghịch nhau về nghĩa nhưng không nằm trong thế quan hệ tương liên thì nó không phải là hiện tượng trái nghĩa. Chẳng hạn, trong các câu: nhà này tuy bé mà xinh; cô ấy đẹp nhưng lười,... thì bé – xinh, đẹp – lười có vẻ đối nghịch nhau, nhưng chúng không phải là những hiện tượng trái nghĩa, vì không nằm trong quan hệ tương liên. Ngược lại, hai từ cao và thấp lại là trái nghĩa, vì chúng nằm trong quan hệ tương liên.

Những từ được cấu tạo bằng phụ tố, tạo ra những cặp từ có nghĩa ngược nhau (ví dụ như care – careless trong tiếng Anh) đều là những từ trái nghĩa cùng gốc. Chúng là kết quả của hiện tượng phái sinh trong từ vựng. Từ vựng học, trong trường hợp cần thiết, có thể đề cập tới hiện tượng này, nhưng mục tiêu nghiên cứu cơ bản của nó vẫn phải là những từ trái nghĩa khác gốc, tồn tại với tư cách của một kiểu tổ chức trong từ vựng, như: cao – thấp, ngắn – dài, dại – khôn, xấu – đẹp,...

3. Trong các nhóm từ trái nghĩa, không có từ trung tâm như trong nhóm đồng nghĩa. Mỗi từ ở đây có thể được hình dung như là nằm ở vị trí của một âm bản hay dương bản của nhau vậy. Từ này là một tấm gương phản chiếu của từ kia, và ngược lại.

Ví dụ:

- “buồn”: Có tâm trạng tiêu cực, không thích thú của người đang gặp đau thương hoặc gặp việc không ưng ý.

- “vui”: Có tâm trạng tích cực, thích thú của người đang gặp việc mình thích hoặc điều gì đó được như ý.

Vì thế, trong mỗi nhóm từ trái nghĩa sẽ chỉ gồm hai từ, và thường được gọi là một cặp trái nghĩa. Trong mỗi cặp như vậy, hai từ thường có quan hệ đẳng cấu nghĩa với nhau. Đặc điểm này chẳng những làm cho dung lượng nghĩa của chúng tương đương nhau mà kéo theo cấu trúc hình thức của chúng cũng thường tương đương hoặc gần tương đương nhau. So sánh:

+ nặng – nhẹ; nặng nề – nhẹ nhàng; buồn bã – vui vẻ;

+ high – low; fat – thin; long – short;...

Nói rằng hai từ trái nghĩa nhau tương đương với nhau về dung lượng nghĩa thì không phải chúng nhất thiết phải có số lượng nghĩa bằng nhau. Điều quan trọng là cái nghĩa làm cho hai từ đi vào quan hệ trái nghĩa, phải có dung lượng tương đương nhau. Bởi vậy, cũng như hiện tượng đồng nghĩa, ở đây, một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều cặp trái nghĩa khác nhau. Điều này cũng ngụ ý rằng một từ nào đó, có quan hệ trái nghĩa với nhiều từ trong nhóm đồng nghĩa. Ví dụ:

+ mềm – cứng; mềm – rắn (mềm nắn rắn buông);

+ già – trẻ; già – non (già giái non hột)...

4. Việc xác định các cặp trái nghĩa có nhiều phức tạp nên không thể dựa hẳn vào một tiêu chí nào đó. Thông thường, người ta hay dựa vào những tiêu chí sau đây:

4.1. Nếu hai từ là trái nghĩa thì chúng cùng có khả năng kết hợp với một từ khác bất kì nào đó mà quy tắc ngôn ngữ cho phép. Suy rộng ra là chúng phải cùng có khả năng xuất hiện trong một ngữ cảnh:

Ví dụ: người khôn – người dại; bóng tròn – bóng méo; no bụng đói con mắt; dốt đặc hơn hay chữ lỏng;...
Nếu hai từ là trái nghĩa thì chúng phải đảm bảo mối quan hệ liên tưởng đối lập nhau một cách thường xuyên và mạnh; bởi vì mỗi từ trong cặp trái nghĩa như là tấm gương phản chiếu của từ kia. Ở đây, để giảm bớt đến mức tối đa tính chủ quan của cái gọi là quan hệ liên tưởng, ta có thể thực hiện thêm hai thủ tục kiểm tra:

4.1.1. Phân tích nghĩa của hai từ đó xem chúng có đẳng cấu với nhau không.

4.1.2. Trường hợp nhiều liên tưởng và cũng bảo đảm tính đẳng cấu về nghĩa thì cặp liên tưởng nào nhanh nhất, mạnh nhất, có tần số xuất hiện cao nhất,... sẽ được gọi là trung tâm, đứng đầu trong chuỗi các cặp trái nghĩa.

Ví dụ:

cứng – mềm: Chân cứng đá mềm

cứng – dẻo: Thép cứng thay cho thép dẻo

cứng – nhũn: Khi quả xanh, vỏ cứng; khi chín, vỏ nhũn...

Trong ba cặp liên tưởng này, cặp “cứng – mềm”phải đứng ở vị trí trung tâm, vị trí hàng đầu.

4.3. Đối với từ trái nghĩa tiếng Việt, ngoài những tiêu chí nêu trên, còn có thể quan sát và phát hiện chúng qua những biểu hiện bổ sung như sau:

- Về mặt hình thức, hai từ trái nghĩa trong cặp thường có độ dài bằng nhau về số lượng âm tiết, rất ít khi lệch nhau;

- Nếu cùng là từ đơn tiết thì hai từ trong cặp trái nghĩa lại thường đi đôi với nhau, tạo thành những kết hợp như: dài ngắn, trẻ già, sớm muộn, đầu cuối, ngược xuôi, lớn bé,... biểu thị nghĩa khái quát tổng hợp, bao gồm hết các đối tượng “từ A đến Z” trong một phạm trù của đời sống và thế giới.

- Trừ vài ba cặp từ như: hồng hào – xanh xao, nhã nhặn – tục tằn,... còn nếu hai từ A và B là trái nghĩa thì:

+ Hoặc là cả hai cùng không có cấu tạo từ láy;

+ Hoặc là một bên có, một bên không;

+ Hoặc cả hai bên cùng có âm tiết láy sẽ không cùng khuôn vần.

Ví dụ: ra – vào, trong – ngoài, lên – xuống, mừng – lo, mừng – lo lắng; lành – rách; lành lặn – rách rưới,...

5. Nghiên cứu các từ trái nghĩa không thể bỏ qua trường hợp những từ vốn không trái nghĩa với nhau, nhưng trong một số ngữ cảnh chúng lại được dùng với tư cách những cặp trái nghĩa, chẳng hạn: đầu voi đuôi chuột, mặt sứa gan lim, miệng hùm gan sứa,...

Những từ như thế, người ta vẫn quen gọi là trái nghĩa ngữ cảnh, tức là chúng chỉ nằm trong thế đối sánh trái nghĩa tại một vài ngữ cảnh nào đó, chứ không phải là một quan hệ ngữ nghĩa trong tổ chức ngữ nghĩa của từ vựng. Cơ sở hình thành mối quan hệ trái nghĩa ngữ cảnh chính là ở các nghĩa ẩn dụ, hoán dụ, những biểu trưng,... của từ, nảy sinh trong từng ngữ cảnh cụ thể đó. Ví dụ:

Chồng người xe, ngựa người yêu
Chồng tôi áo rách tôi chiều tôi thương

Tình hình trên đây dẫn đến một hệ quả là: Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ đã có vô cùng nhiều trường hợp thiết lập và dùng trái nghĩa ngữ cảnh. Có thể gọi chúng là những từ đối nghĩa. Tính chất đối nghĩa này thể hiện rõ rệt nhất trong những lối nói muốn làm nổi bật sự đối lập giữa hai vế, hai mặt, hai đối tượng,... nào đó, mà người Việt rất hay dùng. Ví dụ: “Gò với núi cũng kể là cao, bể với ao cũng kể là trũng”; “Đói lòng ăn nắm lá sung, chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng”; “Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”; “Sổng cục đất mất cục vàng”...

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997.


Nguồn: Ngonngu.net
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Tai Tee  
#58 Posted : Thursday, March 6, 2014 3:40:18 PM(UTC)
Tai Tee

Rank: Newbie

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/6/2014(UTC)
Posts: 1
Man
Location: Raleigh - North Carolina

Là một người thuộc thế hệ sau này! Nhưng ít nhiều "Tôi" dùng tiếng Việt Nam đã 20 mấy năm rồi... Giờ mới nhận ra là ngoài việc dùng sai từ thì mình chỉ hiểu và biết tiếng Việt chừng một nửa...!
Tôi sống ở Việt Nam đã 20 mấy năm rồi... giờ hỏi tôi Lê Đại Hành, là ai? Hay đại khái một vị vua, một triều đại, những người đã tạo nên một Việt Nam, một giống nòi... Tôi hoàn toàn không biết! Tôi phải Google. Tôi chỉ nghe tên Quang Trung, Lý Thường Kiệt... qua những tên đường. Nhưng tôi biết rõ cụ thể Lê Văn Tám là ai? Phan Đình Giót là ai? Biết các ông đã làm gì? Các ông đã hi sinh oanh liệt cho 1 cuộc chiến "nhỏ" và thật bất ngờ tôi lại biết rõ Càng Long là con của Ung Chính, cháu của Khang Hy và là vị vua đời thứ 6 của nhà Thanh! Nực cười! Tôi tự nhận tôi quá dốt!
Đừng đi qua thời gian mà không để lại dấu vết!
phamlang  
#59 Posted : Sunday, March 9, 2014 4:47:21 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Từ đồng nghĩa


1. Đã có không ít quan niệm được nêu lên cho hiện tượng này với những dị biệt ít nhiều. Nhìn chung, có hai hướng quan niệm chính: một là dựa vào đối tượng được gọi tên, hai là dựa vào khái niệm do từ biểu thị.

Thực ra, từ đồng nghĩa không phải là những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa. Chúng nhất định có những dị biệt nào đó bên cạnh sự tương đồng (mặc dù phát hiện sự dị biệt đó không phải lúc nào cũng dễ dàng). Chính sự dị biệt đó lại là lí do tồn tại và làm nên những giá trị khác nhau giữa các từ trong một nhóm từ đồng nghĩa. Rõ ràng tính đồng nghĩa có những mức độ khác nhau, và ta có thể nêu quan niệm như sau:

Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách,... nào đó, hoặc đồng thời cả hai.

Ví dụ:

- start, commence, begin (trong tiếng Anh)

- cố, gắng, cố gắng (trong tiếng Việt)

là những nhóm từ đồng nghĩa.

2. Những từ đồng nghĩa với nhau tập hợp thành một nhóm gọi là nhóm đồng nghĩa. Trong các ví dụ vừa nêu, ta có các nhóm đồng nghĩa của từng ngôn ngữ tương ứng.

2.1. Những từ đồng nghĩa với nhau không nhất thiết phải tương đương với nhau về số lượng nghĩa, tức là các từ trong một nhóm đồng nghĩa không nhất thiết phải có dung lượng nghĩa bằng nhau: Từ này có thể có một hoặc hai nghĩa, nhưng từ kia có thể có tới dăm bảy nghĩa. Thông thường, các từ chỉ đồng nghĩa ở một nghĩa nào đó. Chính vì thế nên một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau: Ở nhóm này nó tham gia với nghĩa này, ở nhóm khác nó tham gia với nghĩa khác.

Ví dụ: Từ “coi” trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa. Tuỳ theo từng nghĩa được nêu lên để tập hợp các từ, mà “coi” có thể tham gia vào các nhóm như:

+ coi – xem: coi hát – xem hát

+ coi – giữ: coi nhà – giữ nhà

2.2. Trong mỗi nhóm từ đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung, được dùng phổ biến và trung hoà về mặt phong cách, được lấy làm cơ sở để tập hợp và so sánh, phân tích các từ khác. Từ đó gọi là từ trung tâm của nhóm.

Ví dụ trong nhóm từ “yếu, yếu đuối, yếu ớt” của tiếng Việt, từ “yếu” được gọi là từ trung tâm.

Tuy nhiên, việc xác định từ trung tâm của nhóm không phải lúc nào cũng dễ và đối với nhóm nào cũng làm được. Nhiều khi ta không thể xác định một cách dứt khoát được theo những tiêu chí vừa nêu trên, mà phải dựa vào những tiêu chí phụ như: tần số xuất hiện cao (hay được sử dụng) hoặc khả năng kết hợp rộng.

Chẳng hạn, trong các nhóm từ đồng nghĩa tiếng Việt như: hồi, thuở, thời; hoặc chờ, đợi; hoặc chỗ, nơi, chốn,... rất khó xác định từ nào là trung tâm.

(Vấn đề trung tâm sẽ được nhắc lại ở điểm 3 tiếp theo).

3. Tập hợp đủ các nhóm từ đồng nghĩa, phân tích cho hết được những nét giống nhau, khác nhau giữa các từ trong mỗi nhóm, luôn luôn làm mong muốn của những người nghiên cứu và xử lí vấn đề từ đồng nghĩa.

Có nhiều thao tác ít nhiều mang tính kĩ thuật và nguyên tắc hoặc kinh nghiệm trong khi phân tích nhóm từ đồng nghĩa, nhưng tất cả đều nhằm vào mục đích chung của hai bước cơ bản sau đây:

3.1. Lập danh sách các từ trong nhóm

Mỗi nhóm đồng nghĩa có thể nhiều hay ít tuỳ theo tiêu chí đưa ra để tập hợp nhưng phải luôn luôn dựa vào nghĩa biểu niệm của từ.

3.1.1. Trước hết phải chọn một từ đưa ra làm cơ sở để tập hợp các từ. Từ này thường cũng chính là từ trung tâm của nhóm, chẳng những nó được lấy làm cơ sở để tập hợp các từu khác mà còn là cơ sở để so sánh, phân tích và giải thích chúng. Ví dụ: Với từ “sợ” của tiếng Việt, ta tập hợp thêm một số từ khác và lập thành nhóm đồng nghĩa: sợ – hãi – kinh – khiếp – sợ hãi – khiếp sợ – ...

3.1.2. Khi lập nhóm đồng nghĩa phải luôn luôn cảnh giác với các cách diễn đạt đồng nghĩa, với các hiện tượng chuyển nghĩa có tính chất phong cách, tu từ. Đó là những trường hợp “đồng nghĩa ngữ cảnh” hoàn toàn có tính chất lâm thời và thuộc về kĩ thuật tạo lập văn bản, do phong cách học nghiên cứu. Ví dụ:

- Áo nâu cùng với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

3.2. Phân tích nghĩa của từng từ trong nhóm

Ở bước này phải phát hiện những tương đồng và dị biệt giữa các từ trong nhóm với nhau. Công việc cụ thể phải làm là:

3.2.1. Cố gắng phát hiện và xác định cho được từ trung tâm của nhóm. Từ trung tâm thường là từ mang nghĩa chung nhất, dễ dùng và dễ hiểu nhất. Về mặt phong cách, nó mang tính chất trung hoà. Chẳng hạn, trong nhóm “mồ – mả – mộ – mồ mả” thì “mộ” là từ trung tâm, vì nó đáp ứng được các đặc điểm vừa nêu.

Trong tiếng Việt, từ trung tâm có nhóm đồng nghĩa, nói chung có một số biểu hiện hình thức như sau:
•Nếu trong nhóm có cả từ đơn tiết lẫn đa tiết thì từ trung tâm thường là từ đơn;
•Nếu trong nhóm có những từ không có khả năng tạo từ phái sinh hoặc tạo từ phái sinh rất ít, thì còn lại, từ nào có khả năng phái sinh lớn nhất, từ đó cũng thường là từ trung tâm.
•Nếu một từ trực tiếp trái nghĩa với một từ trung tâm của một nhóm đồng nghĩa khác thì nó cũng sẽ chính là từ trung tâm trong nhóm của mình.

Chẳng hạn, xét hai nhóm:

1/ hiền – lành – hiền lành – hiền hậu – hiền từ – nhân hậu – nhân từ

2/ ác – dữ – độc ác – hiểm độc – ác nghiệt

Ta thấy ở nhóm 1, “hiền” là từ trung tâm vì nó thoả mãn tất cả những đặc điểm vừa nêu trên. Trong nhóm 2, “ác” sẽ được coi là từ trung tâm cũng vì những lí do như vậy và nó trái nghĩa với “hiền”.

Tuy nhiên, một từ đa nghĩa có thể đồng thời tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau nên có thể ở nhóm này nó là từ trung tâm nhưng ở nhóm khác thì lại hoàn toàn không có tư cách đó.

3.2.2. Lần lượt đối chiếu các từ trong nhóm từ trung tâm và đối chiếu giữa các từ không phải là từ trung tâm với nhau ta sẽ phát hiện những tương đồng và dị biệt về nghĩa. Sự tương đồng sẽ có ở tất cả mọi từ, còn dị biệt thì sẽ có ở từng từ trong nhóm. Vì thế, khi đối chiéu, ta nên đối chiếu với từ trung tâm trước, như so sánh với một mẫu số chung vậy.

Sự dị biệt giữa các từ đồng nghĩa nhiều khi rất tinh tế và khó phát hiện. Thường gặp nhất là những dị biệt sau đây:

+ Dị biệt về một số sắc thái ý nghĩa bổ sung như: mức độ trừu tượng, khái quát của khái niệm; hoặc phương thức, công cụ, chủ thể tiến hành, tiếp nhận hành động; hoặc thái độ của người nói đối với người nghe; hoặc sự đánh giá của người nói,...

Ví dụ: xét hai từ “cố” – “gắng”.

Nét chung của hai từ này là: Đưa sức ra nhiều hơn bình thường để làm cho được việc gì đó.

Nét riêng (dị biệt) của “cố” so với “gắng” là ở mục đích của hành động này: làm cho kì được, kì xong công việc mà chủ thể biết là khó khăn. Ví dụ: cố làm cho xong, cố quên những việc không vui đi, cố nhớ lại xem hôm qua đã nói gì.

Nét dị biệt của “gắng” so với “cố” là: làm cho tốt công việc mà biết là nên làm. Chẳng hạn, có thể nói: gắng lên chút nữa học cho giỏi, gắng chịu đựng khó khăn để động viên nhau.

+ Dị biệt về phạm vi sử dụng hoặc sắc thái phong cách, thái độ bình giá của người nói. Ví dụ:

“quả” – “trái”: “quả” có phạm vi sử dụng rộng hơn “trái”

“phụ nữ” – “đàn bà”: “phụ nữ” có sắc thái trang trọng hơn “đàn bà”.

+ Dị biệt về khả năng kết hợp cú pháp và kể cả kết hợp từ vựng. Ví dụ:

Ta có: trái na, trái bưởi, mặt trái xoan,.. nhưng không thể có: *trái chuông, *trái trứng vịt, *mặt quả xoan,...

Ta có: một mực, rất mực, mẫu mực, mức sống, mức lương, định mức, vượt mức,... chứ không có: *một mức, *rất mức, *mẫu mức, *mực sống, *mực lương, *định mực, *vượt mực,... mặc dù hai từ “mức” và “mực” là hai từ đồng nghĩa, trong rất nhiều trường hợp chúng thay thế được nhau.

4. Nhận biết để tập hợp, phân tích thấu đáo các nhóm đồng nghĩa sẽ giúp cho người ta sử dụng được chuẩn xác và tinh tế hơn, phù hợp với tâm lí và thói quen của người bản ngữ hơn. Điều đó rất quan trọng đối với việc dạy và học tiếng.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#60 Posted : Thursday, March 13, 2014 4:41:14 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam


Chữ Hán:

Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ). Điều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam.

Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

Chữ Nôm:

Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.

Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).

Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn "Thiền Tông Bản Hạnh". Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.

Chữ Quốc Ngữ hiện nay:


Việc chế tác chữ Quốc Ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt - Bồ - La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt - Bồ - La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt - Bồ - La (1772), tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.

Nguồn: e-cadao.com

Edited by user Thursday, March 13, 2014 4:42:21 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest (2)
11 Pages<12345>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.