Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages<1234>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#21 Posted : Saturday, December 14, 2013 3:09:37 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ

Cao Bá Tuấn


Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).

Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa

UserPostedImage

Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp

Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt. Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ.

Trong sách Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: “Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... “ Sách này còn viết rằng: “Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện.”

Sử xưa cũng ghi lại rằng: “ Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…”

Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu.

UserPostedImage

Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu.

UserPostedImage

Chữ Việt cổ trên thân Trống Đồng Lũng Cú.

Tuy nhiên, với chí khí bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.

Nhìn chung Việt Nam vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1) nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân gian và ngày càng phong phú, súc tích.

Trong quá trình xã hội phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.

Vào thế kỷ XV. Sứ thần Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt.

(*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt Nam từng phải triều cống.

Giai đoạn năm 939, thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. Tổ tiên ta luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du, là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại.

Tuy nhiên, chữ Nôm vì được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng rộng rãi.

UserPostedImage

Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du

UserPostedImage
(Sách cổ viết chữ Nôm)


Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát triển nhanh chóng. Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên) http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt. Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ. Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.

Bản Kinh lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau:
UserPostedImage


Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và ”Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651.

UserPostedImage
Từ điển Việt-Bồ-La

UserPostedImage
Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu)

Link sách DOWN LOAD (Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày) (Tài liệu lưu trữ 88.3 MB dạng (pdf)
https://www.dropbox.com/...xandre%20de%20Rhodes.pdf

Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam. Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt. Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang. Sách không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.

UserPostedImage

Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học. Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ.

Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.

còn tiếp

Edited by user Saturday, December 14, 2013 3:10:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 12/15/2013(UTC)
Thanh Phong  
#22 Posted : Sunday, December 15, 2013 10:17:40 AM(UTC)
Thanh Phong

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,311
Man
Location: Netherlands

Thanks: 2489 times
Was thanked: 4253 time(s) in 1771 post(s)
Dù không đóng góp vì sợ sẽ làm giảm giá trị của topic thật hay này, nhưng TP ủng hộ chú Phạm Lang và topic "Tiếng Việt Kỳ Diệu". Đúng vậy, tiếng Việt rất kỳ diệu mà không có ngôn ngữ khác nào có. TP phải sự dụng tiếng Hoà Lan ở trong trương nhưng nói thật, nghe khá nặng và không có nhẹ nhàng như tiếng Việt. Nhưng qua âm nhạc cũng như Asia Forum, TP đã học được rất nhiều về ngôn ngữ tiếng Việt trong cách viết cũng như hiểu biết.

Thanh Phong
thanks 4 users thanked Thanh Phong for this useful post.
CatLinh on 12/15/2013(UTC), phamlang on 12/15/2013(UTC), thunder on 12/15/2013(UTC), Hạ Vi on 12/16/2013(UTC)
phamlang  
#23 Posted : Sunday, December 15, 2013 3:56:35 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
(tt)
Cao Bá Tuấn


Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có thể chia làm 3 giai đoạn sau:

(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Nghiên cứu của linh mục Ðỗ Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972).

Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626):

Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa.

Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm 1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ.


Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ:

- Annam = An Nam

- Unsai = Ông Sãi

- Ungue = Ông Nghè

- Bafu = Bà Phủ

- doij = đói

- scin mocaij = xin một cái

- Sayc Chiu = Sách chữ

- Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết


Giai Ðoạn Hai (1631-1648)

Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này, đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như:


· Nghệ An

· Bố Chính

Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác

· Thính hoa: Thanh Hóa

· oũ bà phủ: Ông bà Phủ

· hụyen: huyện

· sãy: sãi

Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) . Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) .

Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình.

Giai Ðoạn Ba (1649-1651)

Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc Lộ (7) . Hai cuốn ấy là:

· Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°

· Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn)

UserPostedImage

Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình)

Mãi cho đến ngày 18 tháng 9 năm 1924 (Giai đoạn Pháp thuộc), toàn quyền Đông Dương Martial Merlin (1923-1925) đã ký quyết định chính thức cho dạy chữ Quốc Ngữ ở ba năm đầu cấp tiểu học, được phổ biến rộng rãi toàn quốc. Sự ra đời và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt Nam, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây qua sách báo, nâng cao nhận thức, dân trí phát triển cao hơn và nhanh hơn so với các nước trong vùng.

Cũng nhờ từ đấy, người Việt, tiếng Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng chính sách Hán hóa của Trung Hoa đã đô hộ nước ta trong suốt gần 1000 năm.

UserPostedImage
Học sinh trường Công giáo tỉnh Nam Định

Tinh thần sĩ phu (Nho giáo) xưa, ít nhiều bị lệ thuộc chẳng những Nho giáo mà cả văn hóa Trung Hoa. Việc bãi bỏ Nho học và thay đổi chữ viết từ chữ Nho (chữ Hán ) sang Quốc ngữ, đã giúp Việt Nam chấm dứt vĩnh viễn giai đoạn lệ thuộc chữ Hán và văn hóa Trung Hoa.

Vì đắm chìm lâu đời trong văn hóa Trung Hoa, nên có người lầm tưởng rằng văn hóa Trung Hoa là văn hóa dân tộc, và những anh hùng, liệt nữ Trung Hoa là khuôn vàng thước ngọc cho văn hóa Việt, lịch sử Việt. Các tác giả chữ Nho xưa thường dùng điển tích về những vua quan, anh hùng, thần thánh, phong tục, tập quán của Trung Hoa để làm mẫu mực cho người Việt.

Nhưng từ khi có chữ Quốc ngữ, dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi văn hóa Trung Hoa, nhiều người mới có cơ hội tìm thấy lại cội nguồn, trở lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Từ đấy, nền văn hóa dân tộc càng ngày càng được đề cao trong nền văn học Quốc ngữ, trong Sử sách giáo khoa: Hai Bà Trưng, Triệu Nữ Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung mới là những anh hùng đích thực, những tấm gương sáng trong lịch sử của người Việt Nam.

Nhưng bất hạnh thay cho đất nước Việt Nam ngày hôm nay, (Hiểm Họa Mất Nước) mà mọi người Việt Nam khắp nơi đang phải lên tiếng báo động khi nhìn thấy cầm quyền cộng sản Việt nam đã và đang đưa dân tộc ta trở về vòng u tối của lịch sử. Nhiều lễ hội trang trí với hình thức, màu sắc nặng tính chất Trung Hoa, những phim ảnh Trung Hoa 24/24 giờ tràn ngập trên truyền hình, lập “viện nghiên cứu Khổng Tử”, mưu tính để chính thức đưa chương trình tiếng Hoa (Hán ngữ) vào trường phổ thông toàn quốc nhằm mục đích Hán hóa người Việt trong nước hiện nay cùng với nhiều hình thức khác. Song song là việc “Bộ giáo dục” cho xuất bản, in ấn trên “Sách Giáo Khoa Lịch Sử” với những hình ảnh bôi bác, bất kính, miệt thị, xúc phạm các bậc tiền nhân,tổ tiên của dân tộc Việt. Và còn nhiều chuyện đã xảy xa mới đây trong chủ trương Hán hóa, mà những ai đang quan tâm đến vận mệnh đất nước đều biết rõ.

UserPostedImage


Trong những năm trước đây, để làm vui lòng giặc Tàu trước những thất bại xâm lăng của giặc Tàu dưới thời Hai Bà Trưng. Bọn cầm quyền Việt cộng đã hèn hạ sai một đoàn văn công của chúng sang đóng giả vai Trưng Nữ Vương sang mếu thờ Mã Viện làm đủ trò để gọi là tạ tội!

Tội làm nhục quốc thể và thất lễ với Tiền Nhân - Liệt Nữ của dân tộc, dám mang Anh Hùng - Liệt Nữ của đất nước ra ngụy tạo làm trò mua vui, để vừa lòng giặc ngoại xâm của đảng CSVN, thì chỉ có xử theo cách của các triều Quân chủ Việt Nam trước đây mới mong hết tội của đảng CSVN mà thôi. Là lăng trì, chu di tam tộc hết bọn phản loạn đảng CSVN.

còn tiếp

Edited by user Sunday, December 15, 2013 4:01:36 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 12/15/2013(UTC)
phamlang  
#24 Posted : Monday, December 16, 2013 6:21:43 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam

Cao Bá Tuấn


Trường Trung học Adran (Collège d'Adran) (3) Là trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở ở Sài gòn từ năm 1861 - 1887.
Trường ADRAN Sài Gòn, đến năm 1954 được chia thành 2 Trường Trung Học: Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương.

UserPostedImage
Hình một lớp học trong buổi thực nghiệm ngoài trời.
Chấm dứt thời kỳ của nền giáo dục chữ Hán, chữ Nôm: Lối học từ chương.

UserPostedImage

Một lớp học trong giờ Địa lý.

UserPostedImage

Hình Thầy đồ và các học sinh ngày xưa.

UserPostedImage

Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912)

UserPostedImage

Giấy Khai Sinh năm 1938 còn sử dụng 4 ngôn ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ và Pháp)

UserPostedImage

Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ lần đầu tiên phát hành tại Sài Gòn, ngày 15/4/1865.

UserPostedImage

Trương Vĩnh Ký - Pétrus Ký (1837-1898)

Khi nói đến chữ Quốc ngữ, và Báo Chí Việt Nam thì cũng không thể quên công lao của Ông Trương Vĩnh Ký, ông là người đầu tiên sáng lập,khai sinh nền Báo Chí Quốc ngữ của Việt Nam, ông là Tổng biên tập tờ Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên:

Ông Pétrus - Trương Vĩnh Ký đã viết một bài khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, trong đó có đoạn như sau:

“…Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo (văn phạm) dạy tiếng Lang Sa (Pháp), có làm ra chữ Quốc ngữ (sic) để người ta dễ học. Những người ký lục (thư ký) giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ (khó dễ) cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ Quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết…”

Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, và chuyên khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.Với tri thức uyên bác, am tường và nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên ông được: - Tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp. - Được nêu tên trong Bách khoa Tự điển Larousse http://www.larousse.fr/a...word=Truong%20Vinh%20Ky, - Đứng vào vị trí “ Toàn Cầu Bác Học Thập Bát Quân Tử” tức là một trong 18 nhà bác học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 19. - Đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới, ông viết và đọc thông thạo 27 ngoại ngữ, một nhà thông thái biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam... (4) Ông đã để lại cho kho tàng Văn học Việt Nam hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật... Nhưng ngay sau tháng 4 năm 1975, khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, nhiều sách của ông đã bị cộng sản tiêu hủy trong chiến dịch “Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy, Phản Động”, trường trung học Trương Vĩnh Ký bị đổi tên là Lê Hồng Phong, và tượng đài vinh danh ông đặt cạnh Nhà Thờ Đức Bà - Sài Gòn bị cộng sản phá hủy.

Mãi đến thời gian gần đây, phần tượng lịch sử còn lại của ông được đem ra triển lãm "mỹ thuật" trong Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM.

Các nhà khoa bảng, trí thức, cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, kết hợp với nhiều nhà trí thức cấp tiến thời đó, khởi xướng ra các phong trào Duy Tân, Đông Du nhằm vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho (Hán) học, kêu gọi việc học Quốc ngữ để nâng cao dân trí, với lý do đơn giản: Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho (Hán). Các ông đã vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (Trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục,1907). Trong một bài thơ khuyến khích việc học quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết: “… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước, Phải đem ra tỉnh trước dân ta, Sách các nước, sách Chi-na, Chữ nào nghĩa ấy, dịch ra cho tường…”

Khi phong trào Duy Tân, và Đông Kinh Nghĩa Thục ngày càng lớn mạnh, khiến cầm quyền thuộc địa Pháp lo ngại tinh thần yêu nước và chống thực dân Pháp của đồng bào Việt Nam. Việt Nam Vong Quốc Sử của nhà ái quốc Phan Bội Châu xuất hiện lúc bấy giờ là một trong những tiếng chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc. Làn sóng yêu nước nổi lên khắp nơi, làm thực dân Pháp phải lo sợ, nên đã ngưng trợ cấp và đóng cửa một số trường.

UserPostedImage
Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu.

(Không có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà bàn việc nước! Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng đã bao phen lệ cạn huyết khô, mà cơ hồ không viết nổi chữ nào...)

Chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này vẫn ngày càng phổ biến, đã giúp dân chúng dễ dàng học, hiểu biết những sơ đẳng cần thiết trong đời sống, theo dõi sát các tin tức thời sự, các chuyển biến thời cuộc chính trị trong nước và thế giới qua sách báo, truyền đơn.Từ năm 1925 nhiều đảng phái chống Pháp được thành lập, truyền đơn, lời kêu gọi, sáng tác thơ văn yêu nước… đều viết bằng chữ Quốc ngữ.

Nền văn học Việt Nam vào năm 1933 chuyển biến mạnh, xuất hiện một thể loại Văn mới, là Văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ do ông Nguyễn Tường Tam, bút hiệu Nhất Linh và nhóm văn sĩ thành lập lấy tên: Tự Lực Văn Đoàn, với 10 năm sáng tác và hoạt động báo chí, khai sinh nên dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Nổi trôi trong những diễn biến lịch sử bất lợi, khó khăn của thời cuộc đất nước lúc bấy giờ, nhưng nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã cống hiến nhiều vào sự phát triển Văn Học của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Toàn bộ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vẫn được lưu truyền tự do và được đưa vào trong giáo trình giảng dạy Văn học tại các trường Trung học miền Nam sau 1954 mãi cho tới 1975.

UserPostedImage
Lớp học Mẫu giáo trong giờ Tập Viết, giáo dục miền Nam trước 1975


Trước năm 1975, ở miền Nam hầu như không có tranh cãi gì nhiều về tiếng Việt, chữ Việt, ngoại trừ một vài tranh cãi nhỏ về chữ I và Y , Lí do hay Lý do, quý vị hay quí vị …) hoặc có G hay không có G (sáng lạng hay xán lạn). Học sinh miền Nam khi học lên đến lớp 5 (Tiểu học), lớp 6 (Trung học) mà còn viết sai lỗi chính tả là một điều không thể chấp nhận được.

Nhưng từ khi Việt cộng cưỡng chiếm được miền Nam, thì Tiếng Việt, Chữ Việt đã bị Việt cộng thay đổi rất nhiều, và đôi lúc trở nên thứ ngôn ngữ quái thai. Thực ra thì chữ Việt đã được thay đổi từ lâu, ngay từ 1945 khi cộng sản còn ẩn núp dưới hai chữ Việt Minh đã dùng bạo lực,súng đạn để cưỡng đoạt, cướp đoạt chính quyền hợp pháp của chính phủ Trần Trọng Kim.

Không phải trong chế độ cộng sản Việt Nam không có người khá, người giỏi. Nhưng hầu hết những người này lại chẳng có quyền hạn gì, trong khi đó thì hầu hết bọn lãnh đạo lại ngu dốt, độc tài, ngoan cố, bạo lực nên chúng muốn nói ngang nói ngược, người dân ai cũng phải nghe theo, chẳng ai dại gì mà lên tiếng, phê phán hay cải sửa để bị chụp mũ là phản động và bị bỏ tù cải tạo, mang hoạ vào thân.

Edited by user Monday, January 6, 2014 4:55:23 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 12/20/2013(UTC)
CatLinh  
#25 Posted : Friday, December 20, 2013 10:25:43 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

Edited by user Friday, December 20, 2013 10:26:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 3 users thanked CatLinh for this useful post.
thunder on 12/20/2013(UTC), phamlang on 12/21/2013(UTC), Hạ Vi on 12/22/2013(UTC)
phamlang  
#26 Posted : Saturday, December 21, 2013 5:08:11 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 3 users thanked phamlang for this useful post.
thunder on 12/21/2013(UTC), Hạ Vi on 12/22/2013(UTC), CatLinh on 1/1/2014(UTC)
CatLinh  
#27 Posted : Wednesday, January 1, 2014 7:48:21 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage

Edited by user Wednesday, January 1, 2014 7:49:00 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 1/2/2014(UTC), thunder on 1/2/2014(UTC)
phamlang  
#28 Posted : Thursday, January 2, 2014 6:36:02 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 1/2/2014(UTC)
phamlang  
#29 Posted : Thursday, January 2, 2014 6:58:34 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)

NGÔN TỪ VIỆT NAM

Công cụ để giao tiếp là ngôn ngữ. Nhìn vào tiếng Việt, có thể thấy nó phản ánh rõ hơn hết linh hồn, tính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam

1. Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có tính biểu trưng cao.

Tính biểu trưng thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đối hài hòa.
Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con số biểu trưng. Trong khi người châu Âu nói một cách chặt chẽ, cụ thể: de toutes parts (từ tất cả các phía), he open his eye (anh ấy mở những con mắt của mình) thì người Việt nói một cách ước lệ: từ ba bề bốn bên, nó mở to đôi mắt. Ở những trường hợp người châu Âu dùng từ “tất cả” thì người Việt dùng các từ chỉ số lượng ước lệ: ba thu, nói ba phải, ba mặt một lời, năm bè bảy mối, ba chìm bảy nổi, tam khoang tứ đốm, chín suối, chín tầng mây, ba mươi sáu cái nõn nường, trăm dâu đổ đầu tằm, trăm khôn ngàn khéo…

Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ưa ổn định và có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ - một biểu hiện khác của tính biểu trưng . Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của tiếng Việt .

Theo loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng lớn những từ song tiết, cho nên trong thực tế ngôn từ Việt thì cấu trúc song tiết lại là chủ đạo. Các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt đều có cấu trúc 2 vế đối ứng (trèo cao/ngã đau; ăn vóc/ học hay; một quả dâu da/bằng ba chén thuốc; biết thì thưa thốt/ không biết thì dựa cột mà nghe…)

Tiếng Việt rất phát triển cân đối. Đó là một loại sản phẩm văn chương đặc biệt, nó vừa công phu tỉ mỉ, lại vừa cô đúc ngắn gọn. Trong một tác phẩm “mi ni” ấy thể hiện đủ cả cái đẹp nhịp nhàng của hình thức và cái uyên thâm của chiều sâu triết lý phương Đông. Ở Việt Nam xưa kia, nhà nhà, đình đình, chùa chùa… nơi nào cũng đều treo câu đối.

Truyền thống văn chương Việt Nam thiên về thơ ca: người Việt Nam hầu như ai cũng biết làm thơ; lịch sử mấy ngàn năm của Việt Nam chủ yếu là lịch sử của thơ ca – một thứ thơ có cấu trúc chặt chẽ (lục bát, song thất lục bát) và có vần điệu nghiêm ngặt thể hiện sự cân đối, hài hòa. Văn chương phương Tây thì ngược lại, có khuynh hướng thiên về văn xuôi.
Ở Việt Nam, văn xuôi truyền thống cũng là văn xuôi thơ, thế mạnh đó còn do tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu, tự thân thanh điệu đã tạo nên tính nhạc cho lời văn rồi. Từ những bài văn xuôi viết theo lối biền ngẫu như Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, hoặc tự do như thư dụ hàng của Nguyễn Trãi gửi địch, cho tới những lời văn Nôm bình dân… - khắp nơi đều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu, vần điệu.

Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi một cách bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ; không chỉ lời chửi mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi… cũng mang tính nhịp điệu. Với lối chửi có vần điệu, cấu trúc chặt chẽ, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không nhàm chán. Đó là một “nghệ thuật” độc đáo mà có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có được.

Đây là lời chửi của một người đàn bà mất gà được ghi lại trong tiểu thuyết “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan:

“Làng trên xóm dưới, bên sau bên trước, bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha thả nó ra, không tôi chửi cho đới!

Chém cha đứa bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn nó hãy còn, sáng hôm nay bà gọi nó hãy còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng con mày, thì buông tha thả nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam đại tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đỏ mỏ, nó mổ chồng mổ con, mổ cả nhà mày cho mà xem.

Ới cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xuống âm phủ thì quỷ sứ thần linh nó rút ruột ra…”

Ngay trong thể loại tiểu thuyết xuất hiện sau này do ảnh hưởng của phương Tây cũng vẫn mang đậm dấu ấn của truyền thống cân đối nhịp nhàng, biểu trưng ước lệ. Đây là những câu văn tả người của Tản Đà trong “Giấc mộng con”: “Tiếng nói nhẹ bao nhiêu, dáng người mềm bấy nhiêu; mềm bao nhiêu, chín bấy nhiêu; chín bao nhiêu, tươi bấy nhiêu; tươi bao nhiêu, tình bấy nhiêu. Như ghét, như yêu, như chiều, như ngượng. Lông mày ngài, đôi mắt phượng, cô chờ ai?” Không chỉ tiểu thuyết mà ngay cả văn chính luận Việt Nam cũng có thể mang đầy chất thơ nhờ cấu tạo cân đối nhịp nhàng.

2. Ngôn từ Việt Nam rất giàu chất biểu cảm – sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình.

Về mặt từ ngữ, chất biểu cảm này thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái nghĩa biểu cảm: Bên cạnh màu xanh trung tính, có đủ thứ xanh rì, xanh rờn, xanh rợn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè,… Bên cạnh màu đỏ trung tính có đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe… Các từ láy mang sắc thái biểu cảm mạnh cũng rất phổ biến trong tiếng Việt (ở các ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Hán, đều hầu như không có): không phải ngẫu nhiên mà trong thơ ca của ta có thể gặp rất nhiều từ láy. Ở trên vừa nói tiếng Việt thiên về thơ, mà thơ là mang đậm chất tình cảm rồi, cho nên từ láy với bản chất biểu cảm rất phù hợp với nó
Về ngữ pháp, tiếng Việt dùng nhiều hư từ biểu cảm như: à, ư, nhỉ, nhé, chăng, chớ, hả, hở, phỏng, sao, chứ… Cấu trúc “iếc hóa” có nghĩa đánh giá (sách siếc, bàn biếc…) cũng góp phần làm tăng cường hệ thống phương tiện biểu cảm cho tiếng Việt.

Sự phổ biến của thơ hơn văn xuôi đã nói ở trên không chỉ là sản phẩm của tính biểu trưng mà còn đồng thời là sản phẩm của tính biểu cảm. Khuynh hướng biểu cảm còn thể hiện ở chỗ trong lịch sử văn chương truyền thống, không có những tác phẩm anh hùng ca đề cao chiến tranh, có nói đến chiến tranh thì cũng chỉ nói đến nỗi buồn của nó (Chinh phụ ngâm).

3. Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam mang tính động, linh hoạt.

Tính động, linh hoạt này trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp. Trong khi ngữ pháp của các ngôn ngữ châu Âu là một thứ ngứ pháp chặt chẽ tới mức máy móc thì ngữ pháp tiếng Việt tổ chức theo lối chủ yếu dùng các từ hư để biểu hiện các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp, khiến cho người sử dụng được quyền linh hoạt tối đa. Ngữ pháp phương Tây là ngữ pháp hình thức, còn ngữ pháp Việt Nam là ngữ pháp ngữ nghĩa.

Nói bằng một ngôn ngữ châu Âu, ta bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi mà hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ đó yêu cầu. Còn trong tiếng Việt thì tùy theo ý đồ của người nói mà ta có thể diễn đạt, không diễn đạt hay diễn đạt nhiều lần một ý nghĩa ngữ pháp nào đó: Tôi đi Hà Nội, Tôi sẽ đi Hà Nội, Ngày mai tôi đi Hà Nội, Ngày mai tôi sẽ đi Hà Nội. Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năng khái quát rất cao, có thể nói một câu không thời, không thể, không ngôi.

Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ trong lời nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ: trong một câu có bao nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ; trong khi đó thì các ngôn ngữ phương Tây có xu hướng ngược lại – rất thích dùng danh từ.

Như vậy, có thể nói rằng trong giao tiếp, người Việt có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh (tâm lý, tình cảm, dẫn đến nghệ thuật thơ ca và phương pháp biểu trưng) bằng hình thức động (cấu trúc động từ, ngữ pháp ngữ nghĩa linh hoạt).

Theo Sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 1/2/2014(UTC)
phamlang  
#30 Posted : Monday, January 6, 2014 4:53:57 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam


Bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp. Chữ "nhân" với nghĩa là "tính người" bao gồm chữ "nhị" và bộ "nhân đứng" - tính người bộc lộ trong quan hệ giữa hai người. Với tư cách là công cụ của giao tiếp, ngôn ngữ nói chung và ngôn từ tiếng Việt nói riêng chịu sự chi phối to lớn của văn hóa giao tiếp của người Việt, vì thế một sự tìm hiểu về nghệ thuật ngôn từ Việt Nam rất cần chú ý đến văn hóa giao tiếp.

Quan hệ giao tiếp ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn từ

Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, có thể thấy được đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè. Vì coi trọng giao tiếp cho nên người Việt Nam rất thích giao tiếp. Việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai điểm: thích thăm viếng, tính hiếu khách. Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có một đặc tính hầu như ngược lại là rất rụt rè - điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự tồn tại đồng thời hai tính cách trái ngược nhau (tính thích giao tiếp và tính rụt rè ) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị: Đúng là người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao tiếp, nhưng đó là khi thấy mình đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng đồng (liên kết) ngự trị. Còn khi đã vượt ra khỏi phạm vi của cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tự trị phát huy tác dụng thì người Việt Nam, ngược lại, lại tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy không hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam.

Xét về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm - lấy sự yêu, sự ghét - làm nguyên tắc ứng xử, sống có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cần cân nhắc giữa tình với lý thì tình được đặt cao hơn lý. Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá. Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái,...) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm. Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh. Mặt khác, do phân biệt chi li các quan hệ xã hội, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô riêng, nên nếu không có đầy đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp được.

Tính cộng đồng còn khiến cho người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự: "Tốt danh hơn lành áo"; "Đói cho sạch rách cho thơm"; "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng". Danh dự được người Việt Nam gắn với năng lực giao tiếp: Lời nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm, nó được truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng. Không phải ngẫu nhiên mà từ "tiếng" trong tiếng Việt, từ nghĩa ban đầu là "ngôn ngữ" (vd : tiếng Việt ), đã được mở rộng ra để chỉ sản phẩm của ngôn ngữ ( vd: tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa), và, cuối cùng, chỉ cái thành quả mà tác động của lời nói đã gây nên - đó là "danh dự, uy tín" (vd: nổi tiếng).

Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận. Lối giao tiếp ưa tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp "vòng vo tam quốc", không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây. Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải vấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn. Cũng để tạo không khí, để đưa đẩy, người Việt Nam trước đây có truyền thống "miếng trầu là đầu câu chuyện".

Với thời gian, trong chức năng "mở đầu câu chuyện" này, "miếng trầu" từng được thay thế bằng chén trà, điếu thuốc, ly bia... Để biết người đối ngoại với mình có còn cha mẹ hay không, người Việt Nam thường hỏi : "Các cụ nhà ta vẫn mạnh giỏi cả chứ?". Để biết người phụ nữ đang nói chuyện với mình có chồng hay không, người Việt Nam ý tứ sẽ hỏi: "Chị về muộn thế liệu anh nhà (ông xã) có phàn nàn không?". Còn đây là lời tỏ tình rất vòng vo của người con trai Nam Bộ - nơi mà người Việt có tiếng là bộc trực hơn cả: "Chiếc thuyền giăng câu, Đậu ngang cồn cát, Đậu sát mé nhà, Anh biết em có một mẹ già, Muốn vô phụng dưỡng, biết là đặng không?"(Ca dao).

Lối giao tiếp "vòng vo tam quốc" kết hợp với nhu cầu tìm hiểu về đối tượng giao tiếp tạo ra ở người Việt Nam thói quen chào hỏi - "chào" đi liền với "hỏi": "Bác đi đâu đấy?", "Cụ đang làm gì đấy?"... Ban đầu, hỏi là để có thông tin, dần dần trở thành một thói quen, người ta hỏi mà không cần nghe trả lời và hoàn toàn hài lòng với những câu "trả lời" kiểu: "Tôi đi đằng này một cái" hoặc trả lời bằng cách hỏi lại: "Cụ đang làm gì đấy?". Đáp: "Vâng ! Bác đi đâu đấy?". Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy coi trọng các mối quan hệ (tư duy biện chứng). Nó tạo nên một thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ; "Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói"; "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe"; "Khôn cũng chết, dại cũng chết, ai biết thì sống"; "Người khôn ăn nói nửa chừng, Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo",...Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm thiếu tính quyết đoán.

Để tránh phải quyết đoán, và đồng thời để không làm mất lòng ai, để giữ được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất hay cười. Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất. Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú. Trước hết, đó là sự phong phú trong hệ thống xưng hô bằng các từ chỉ quan hệ họ hàng. Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm: Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trong tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình. Thứ hai, có tính chất xã hội hóa, cộng đồng hóa cao - trong hệ thống từ xưng hô này, không có cái "tôi" chung chung.

Quan hệ xưng hô phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp - "chú khi ni , mi khi khác". Cùng là hai người, nhưng cách xưng hô có khi đồng thời tổng hợp được hai quan hệ khác nhau : Chú-con, bác-con, bác-em, anh-tôi,... Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư...). Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kỹ lưỡng: Người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính). Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai đều cùng xưng hô là em và đều gọi nhau là chị. Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: người ta chỉ gọi tên cái ra để chửi nhau; đặt tên con cần nhất là không được trùng với tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội. Vì vậy mà trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai, hỏi tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói lệch đi).

Nghi thức lời nói trong lĩnh vực cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Do truyền thống nặng về tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có những từ cảm ơn, xin lỗi khái quát dùng chung cho mọi người, mọi trường hợp như người phương Tây. Cũng như trong xưng hô, đối với mỗi người, ta có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: "Con xin chú" (Cảm ơn khi nhận quà), "Chị chu đáo quá", "Anh tốt quá" (cảm ơn khi được quan tâm), "Bác bày vẽ quá" (cảm ơn khi được tiếp đón nồng hậu), "Quý hóa quá" (cảm ơn khi có khách đến thăm), "Anh quá khen" (cảm ơn khi được khen),...

Các đặc trưng cơ bản trong nghệ thuật ngôn từ Việt Nam

Công cụ của giao tiếp là ngôn ngữ. W. Humboldt, nhà văn hóa lớn của nhân dân Đức, từng nói ngôn ngữ là "linh hồn của một dân tộc". Nhìn vào tiếng Việt, có thể nhìn thấy đúng là nó phản ánh rõ hơn đâu hết linh hồn, tính cách của người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam. Trước hết, nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có tính biểu trưng cao. Tính biểu tượng thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, công thức (ước lệ) hóa với những cấu trúc cân đối, hài hòa. Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích những cách diễn đạt bằng các con số biểu trưng. Trong khi người châu Âu nói “de toutes parts” (từ tất cả các phía), “he opens his eyes” ( nó mở những con mắt của nó) thì người Việt nói từ “ba bề bốn bên”, “từ khắp bốn phương trời”, “Nó mở to đôi mắt”. Ở những trường hợp, người châu Âu dùng từ "tất cả" thì người Việt dùng các từ chỉ số lượng ước lệ: ba thu, nói ba phải, ba mặt một lời, năm bè bảy mối, tam khoanh tứ đốm, yêu nhau tam tứ núi cũng trèo..., trăm dâu đổ một đầu tằm, trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm họ, vạn sự, muôn dân, muôn vật,...

Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ - một biểu hiện khác của tính biểu trưng. Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của tiếng Việt. Theo nguyên lý cấu trúc loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng không nhỏ các từ song tiết; điều quan trọng hơn nữa là mỗi từ đơn tiết lại hầu như đều có thể có những biến thể song tiết, dạng láy, cho nên thực chất trong ngôn từ, lời nói Việt thì cấu trúc song tiết lại là chủ đạo. Các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt đều cấu tạo theo cấu trúc có 2 vế đối ứng: trèo cao/ ngã đau; ăn vóc/học hay; một quả dâu da/ bằng ba chén thuốc; biết thì thưa thốt/ không biết thì dựa cột mà nghe.

Tiếng Việt rất phát triển hình thức câu đối, rất phát triển thơ. Câu đối là một loại sản phẩm văn chương đặc biệt, nó vừa công phu tỉ mỉ, lại vừa cô đúc ngắn gọn. Trong một tác phẩm "mini" ấy thể hiện đủ cả cái đẹp cân đối nhịp nhàng của hình thức và cái uyên thâm của chiều sâu triết lý Đông Phương. Ở Việt Nam xưa kia, nhà nhà, đình đình, chùa chùa... nơi nào cũng đều có treo câu đối. Người Việt Nam, hầu như ai cũng biết làm thơ. Văn hóa gốc nông nghiệp trọng âm, trọng tình cảm tất yếu sẽ có khuynh hướng thiên về thơ; văn hóa gốc du mục trọng dương, trọng lý trí tất yếu dẫn đến khuynh hướng thiên về văn xuôi. Văn học phương Tây mạnh về văn xuôi. Trung Hoa cũng thiên về văn xuôi hơn thơ, trong khi đó suốt lịch sử nhiều nghìn năm của Việt Nam đều là lịch sử của thơ ca - một thứ thơ ca có cấu trúc chặt chẽ ( lục bát, song thất lục bát) và vần điệu nghiêm ngặt thể hiện sự cân đối hài hòa.

Đây là một sự khác biệt mang tính chất nguyên lý, nó bắt nguồn từ chính sự khác biệt gốc rễ giữa hai loại hình văn hóa : Văn hóa gốc Du mục với bản tính Động tất thiên về trình bày các tình tiết sự kiện với bút pháp tả thực và lối diễn đạt tự do phóng túng - tất cả những đặc trưng đó chỉ có thể tìm thấy sự biểu hiện tập trung trong văn xuôi (ngay cả thơ phương Tây chủ yếu cũng là thơ tự do). Văn hóa gốc Nông nghiệp với bản tính Tĩnh tất thiên về trình bày tâm lý tình cảm với bút pháp biểu trưng và lối diễn đạt cân xứng nhịp nhàng - tất cả những đặc trưng đó chỉ có thể tìm thấy sự biểu hiện tập trung trong thơ (ở Việt Nam, thơ tự do chỉ mới xuất hiện sau này - vào đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của phương Tây).

Ở Việt Nam, văn xuôi truyền thống cũng là một thứ văn xuôi thơ, thế mạnh đó còn do tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu, tự thân các thanh điệu đã tạo nên tính nhạc cho câu văn rồi. Từ những bài văn xuôi viết theo lối biền ngẫu như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, hoặc tự do như thư dụ hàng của Nguyễn Trãi gửi địch, cho tới những lời văn nôm bình dân... khắp nơi, ta đều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu, vần điệu. Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi nhau một cách có bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ. Với lối chửi có vần điệu, có cấu trúc chặt chẽ, người Việt Nam có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không hề nhàm chán. Đó là một thứ "nghệ thuật" độc nhất vô nhị mà không một dân tộc nào trên thế giới có được.

Đây là lời chửi của một người đàn bà mất gà được ghi lại trong tiểu thuyết “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan: “Làng trên xóm dưới, bên trước bên sau, bên ngược bên xuôi ! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha thả nó ra, không tôi chửi cho đơới!.Chém cha đứa bắt gà nhà bà ! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn nó hãy còn sáng hôm nay con bà gọi nó nó hãy còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đỏ mỏ; nó mổ chồng mổ con, mổ cả nhà mày cho mà xem. Ới cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xuống âm phủ, mày bị quỷ sứ thần linh rút ruột ra. Ơi cái thằng chết đâm cái con chết xỉa”.

Ngay trong những tiểu thuyết xuất hiện dưới ảnh hưởng của văn xuôi phương Tây cũng vẫn mang rất đậm dấu ấn của truyền thống cân đối nhịp nhàng, biểu trưng ước lệ. Đây là những câu văn tả người của Tản Đà: “Tiếng nói nhẹ nhàng bao nhiêu, dáng người mềm bấy nhiêu; mềm bao nhiêu, chín bấy nhiêu, tươi bấy nhiêu, tình bấy nhiêu. Như ghét, như yêu, như chiều, như ngượng. Lông mày ngài, đôi mắt phượng, cô chờ ai?” (Giấc mộng con). Không chỉ tiểu thuyết, mà ngay cả văn chính luận Việt Nam cũng có thể mang đầy chất thơ nhờ sự cấu tạo cân đối nhịp nhàng. Đọc Tuyên ngôn độc lập hay những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc những câu sau đây của Người, ta thấy rõ chất thơ đó: "Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường"; "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh".

Đặc điểm thứ hai của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam là nó rất giàu chất biểu cảm- sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình cảm. Về mặt từ ngữ chất biểu cảm này thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái nghĩa biểu cảm: Bên cạnh màu xanh trung tính, có đủ thứ xanh rì, xanh rờn, xanh rợn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè... Bên cạnh màu đỏ trung tính có đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe... Các từ láy mang sắc thái biểu cảm mạnh cũng rất phổ biến trong tiếng Việt (ở các ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Hán, đều hầu như không có). Ở trên vừa nói tiếng Việt thiên về thơ, mà thơ là mang đậm chất tình cảm rồi, cho nên từ láy với bản chất biểu cảm rất phù hợp với nó (xem thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,...).

Về mặt ngữ pháp, tiếng Việt sử dụng rất nhiều các hư từ có sắc thái biểu cảm: à, ư, nhỉ, chăng, chớ, hả, hở, phỏng, sao, chứ... Cấu trúc "iếc hóa" mang sắc thái đánh giá (sách siết, bàn biếc,..) cũng góp phần quan trọng làm tăng cường hệ thống các phương tiện biểu cảm cho tiếng Việt. Sự phổ biến của thơ hơn văn xuôi đã nói đến ở trên không chỉ là sản phẩm của tính biểu trưng mà rõ ràng cũng đồng thời là sản phẩm của tính biểu cảm. Khuynh hướng biểu cảm còn thể hiện ở chỗ trong lịch sử văn chương truyền thống, không có những tác phẩm anh hùng ca đề cao chiến tranh; có nói đến chiến tranh chăng thì cũng chỉ là nói đến nỗi buồn của nó ( vd: Chinh Phụ Ngâm). Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có đặc điểm thứ ba là tính động, linh hoạt.

Tính động, linh hoạt này trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp. Trong khi ngữ pháp biến hình của các ngôn ngữ châu Âu là một thứ ngữ pháp chặt chẽ tới mức máy móc thì ngữ pháp tiếng Việt tổ chức chủ yếu theo lối dùng các từ hư để biểu hiện các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp, khiến cho người sử dụng được quyền linh hoạt tối đa. Ngữ pháp phương Tây là ngữ pháp hình thức, còn ngữ pháp Việt Nam là ngữ pháp ngữ nghĩa. Nói bằng một ngôn ngữ châu Âu, ta bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi tai quái mà hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ đó yêu cầu. Còn trong tiếng Việt thì tùy theo ý đồ của người nói mà anh ta có thể diễn đạt, không thể diễn đạt hay diễn đạt nhiều lần một ý nghĩa ngữ pháp nào đó: Tôi đi Hà Nội, Tôi sẽ đi Hà Nội, Ngày mai tôi đi Hà Nội, Ngày mai tôi sẽ đi Hà Nội. Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năng diễn đạt khái quát rất cao, có thể nói một câu không thời, không thể, không ngôi. Khả năng diễn đạt khái quát, mơ hồ chính là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển thơ ca đã nói đến ở trên.

Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ trong lời nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ: trong một câu có bao nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ; trong khi đó thì các tiếng phương Tây có xu hướng ngược lại- rất thích dùng danh từ. Trong khi người Việt nói: “Cảm ơn anh đã tới nhà chơi” thì người Anh nói: “Thank you for your coming” (Cảm ơn về sự đến chơi của anh).Tính linh hoạt, năng động còn là nguyên nhân khiến cho tiếng Việt rất ít dùng cầu trúc bị động. Người Việt thậm chí dùng cấu trúc chủ động ngay cả trong câu bị động: Trong khi người Việt nói: “Lan bị thầy giáo phạt” thì người Anh nói “Linda was punished by the teacher” (Linda bị phạt bởi thầy giáo). Như vậy, có thể nói rằng trong giao tiếp, người Việt Nam có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh (tâm lý, tình cảm, dẫn đến nghệ thuật thơ ca và phương pháp biểu trưng) bằng hình thức động ( kiến trúc động từ, ngữ pháp, ngữ nghĩa linh hoạt). Trong khi đó thì người phương Tây nói riêng và truyền thống văn hóa trọng dương nói chung lại có thiên hướng nói đến những nội dung động (hành động, sự việc, dẫn đến nghệ thuật văn xuôi và phương pháp tả thực) bằng hình thức tĩnh (kiến trúc danh từ, ngữ pháp hình thức chặt chẽ). Mới hay, ngôn ngữ thực sự là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc và tác động của luật âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm; âm sinh dương, dương sinh âm) thật là rộng lớn và sâu xa
!

nguồn (E-cadao)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#31 Posted : Tuesday, January 7, 2014 8:18:56 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiếng Việt dồi dào

Bs Nguyễn hy Vọng


Tiếng Pháp thì nói : lent, lentement, avec lenteur, au ralenti, ralentir, tard, attardé, retardé, …

Tiếng Anh Mỹ thì : slow, slowness, to slow down, sluggish, tardive, …

Tiếng Việt : chậm chạp, chậm rì, rù rờ, lù đu, lù rù, kề rề cà rà, kề cà, con cà con kê, chậm lụt, chậm trễ, trễ nãi, bê trễ, trì trệ, trì hoãn, hoãn đai - chúng ta thấy tiếng Việt có rất nhiều cách nói, còn nhiều hơn cả tiếng Anh Mỹ lẫn tiếng Pháp; .đó là chưa kể những tiếng Việt ghép với lòng # 250 tiếng, làm cho chúng ta có rất nhiều cách để bày tỏ nỗi lòng [xem bảng kê], con số đó nhiều hơn tiếng Pháp cả 10 lần !

Các bạn hãy làm bảng kê với tiếng Anh Mỹ [heart, feeling, sentiment …] xem đuợc bao nhiêu ?!

Có nguời thắc mắc không biết dịch positive ra tiếng Việt thế nào, cho là tiếng Việt nghèo; thật ra có cả hàng chục cách :

quả quyết, chắc chắn, quả thật, thật là, vững tin, vững chắc, tin chắc, tin tưởng, xác đáng, thấy rõ là, nhấn mạnh, lạc quan, tốt đẹp, xây dựng, đáng khích lệ, đáng mừng, đáng khen,

[còn nhiều nữa tùy theo cái sức hiểu biết tiếng Việt của chúng ta].

Phải hiểu rằng tiếng Việt là một thứ tiếng ghép ý, ghép từ, ghép tiếng, ghép chữ y hệt như các tiếng nói khác vậy thôi nhưng mà cách ghép thì khác:

paradoxically………. một cách mâu thuẫn

grammaticalement ……..về văn phạm

[cái ý vẫn thế, cách ghép ý thì mỗi nơi mỗi khác !]

Quan niệm cho là tiếng Âu Mỹ là đa âm, tiếng Việt là đơn âm, độc âm là một quan niệm sai lầm vì quá chú trọng đến cái âm mà không biết rằng cái ý nghĩa mới là quan trọng hơn cả, khi nào diễn tả cái ý ra trọn vẹn thì mới gọi là ngôn ngữ.

Một nửa dân Việt thì phát âm, đọc như thế này :

"buồn chông cửa bệ chiều hôm,

thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

buồn chông ngọn nước mới xa,

hoa chôi man mác biết là về đâu,

buồn chông ngọn cỏ zầu zầu

chân mây mặt đất một mầu xanh xanh,

buồn chông zó cuốn mặt ghềng,

ầm ầm tiếng xóng kêu quanh ghế ngồi"

trong khi nửa kia của dân Việt thì đọc, nói là :

"buồng trông cửa bể chiều hôm

thuyềng ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

buồng trông ngọnk nước mới sa

hoa trôi mang mác biếc là về đâu

buồng trông ngọnk cỏ jầu jầu

châng mây mặk đấk mộk màu xanh xanh

buồng trông gió cuống mặk ghềnh

ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"

Vậy mà đều hiểu một cách giống nhau. Tại sao?

Vì là cái âm, cái tiếng, cái lời nói đi vào lỗ tai ta chưa làm cho ta hiểu đuợc ngay, cái chữ đi vào mắt ta cũng vậy thôi, chỉ sau khi cái satna suy nghĩ của đầu óc ta đem lại cái satna tư tưởng thống nhất tổng hợp góp chung ý nghĩa lại khi ấy 80 triệu người Việt mới hiểu là thơ Kiều ! À hé !

Cái giàn máy tinh vi đó, lạ thay, lại chỉ có một người điều khiển khi ta từ 1 tuổi cho đến 5 tuổi, đó là người trong gia đình ta, mẹ cha anh chị họ nói và ta bắt chước làm theo, làm trước rồi mới hiểu sau : ăn uống, chạy, nhảy …Cái tiếng mẹ đẻ quả thật là cái tiếng của mẹ dạy cho

Con số từ ngữ ghép trong tiếng Việt cũng nhiều hơn là trong tiếng Pháp hay tiếng Anh, một bằng chứng về tiếng Việt dồi dào từ ngữ không thua kém một ngôn ngữ nào khác trong thế giới, bà mẹ Việt không thua mà cũng không hơn bà mẹ nào khác, cũng thì ăn, uống mà có # 6000 cách khác nhau để nói lên nói xuống cái động tác ấy vì vậy mà sinh ra 6000 tiếng nói của loài nguời !

Bộ Từ Điển nguồn gốc tiếng Việt này đã đếm đuợc # 250 ngàn tiếng Việt ghép đôi, ghép ba hay bốn nữa, cũng nhiều như bất cứ một từ điển lớn nào của Anh Pháp Mỹ; và đó là một sự thực mà chúng ta ít biết, vì ta cứ phàn nàn là tiếng Việt của chúng ta nghèo, trong khi chính chúng ta "nghèo tiếng Việt" mà không biết, chúng ta vụng múa mà lại chê đất lệch !

Còn cụ Nguyễn Du thì không vụng tí nào, phải không các bạn ?.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#32 Posted : Wednesday, January 15, 2014 5:23:01 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
10 đặc trưng lớn của Tiếng Việt



Tiếng Việt được kể là rất phong phú về nguyên âm, có tới 12 nguyên âm, trong khi tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm. Lại có nhiều kép đôi, kép ba cả nguyên âm và phụ âm cộng thêm 6 dấu thinh tức dấu giọng nên số âm vị biến hóa thành khoảng 15.000 âm.

Cali Today News - Bài này nguyên đánh trên máy Mac, có cả chữ Hán và bản in có chữ Nôm… nhưng khi chuyển mã đưa qua máy Window, đã phải bỏ hết chữ Hán nên đôi khi việc giải thích không được rõ ràng, xin thông cảm cho

10 ĐẶC TRƯNG LỚN CỦA TIẾNG VIỆT

1- 9 yếu tố cấu thành thế chân vạc, mỗi chân vạc là 1 kiềng 3 chân.
- Tiếng Nôm - Hán-Việt - Ngoại lai
- Giọng Bắc - Trung - Nam
- Chữ Hán - Nôm - La Tinh
2- Ngôn ngữ duy nhất thuộc hệ chữ Hán (Trung Hoa - Nhật Bản, Triều Tiên, Mông
Cổ, Mãn Châu) chuyển sang La Tinh.
3- Nhiều âm nhất: ước khoảng 15.000 âm (29 ký tự và 6 dấu giọng, có phụ âm đơn
hay đôi ở đầu và cuối, có nguyên âm đơn, đôi , ba).
4- Phức tạp trong xưng hô, tùy theo quan hệ, vị thế của những người liên hệ, cách
dùng từ mang tính tương đối tùy theo vị trí giữa người và ngoại cảnh hay vật…
5- Dễ đảo ngữ trong câu, như câu: “Tôi cho anh con gà.”, có thể cho ra 24 câu với
nghĩa khác nhau, có khi đảo được cả 1 bài thơ thất ngôn bát cú, đọc xuôi cũng được, đọc ngược từ dưới lên cũng được.
6- Dễ tạo ra những bài ngắn độc vần (dùng 1 phụ âm như b, c, đ, h, t, v…).
“Bà Ba béo bán bánh bò bên bài biển…”.
7- Nói láy, là giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của 2 âm tiết để tạo
nghĩa khác hẳn, như: đại phong  lọ tương, đầu tiên  tiền đâu...
8- Từ đôi, như: có “một, hai, ba…” lại có “nhất, nhị, tam...” (song song nhau
khoảng 70%). Văn bình dân có khoảng 70% từ Nôm, văn bác học có khoảng 70% từ Hán-Việt.
9- Văn phạm đôi, như: nhà trắng - bạch ốc, viện bảo tàng - bảo tàng viện; không
chia động từ, tính từ...
10- Loại chữ đơn âm tiết, mỗi chữ 1 âm, nhưng có một số ký tự thì lại đa âm như:
l, m, n, x, y... (chữ “nghiêng”, có 7 ký tự, dài nhất và duy nhất).

- - - - -

TẠI SAO CHỈ CÓ CHỮ VIỆT ĐỔI RA LA TINH?

Trong các ngôn ngữ thuộc hệ chữ Hán như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Mãn Châu và Việt Nam, chỉ có Việt Nam đổi ra dùng mẫu tự La Tinh. Tiếng nói các nước trên đều có thể ghi bằng La Tinh, có phần còn dễ hơn tiếng Việt, nhưng mỗi quốc gia có hoàn cảnh riêng nên không thay đổi được.

Việt Nam do bị Pháp đô hộ hoàn toàn, nên năm 1911 (1918) nhà cầm quyền Pháp ra nghị định dùng chữ Quốc Ngữ và khoảng năm 1945 nhà cầm quyền cả hai miền Nam và Bắc chính thức áp dụng. Nhưng cũng do yếu tố quan trọng là tiếng Việt có tới khoảng 15.000 âm, nên ít bị đồng âm dị nghĩa. Về các chữ Hán đồng âm và dị nghĩa, nhiều nhất là âm "kỳ" có 22, chữ "hoàng" có 17, chữ "hoa" có 10, chữ "kiều" có 7, chữ "minh" có 5... còn đa số 1 âm chỉ có 1 hay 2 chữ Hán, nhưng 1 chữ Hán thường có nhiều nghĩa.

Nhật Bản do chỉ có 120 âm, nên đồng âm dị nghĩa rất nhiều, như âm "kò" có khoảng hơn 400 chữ Hán, "yoshi" hay "shò" mỗi âm có khoảng 300 chữ Hán, nên nếu viết bằng La Tinh thì không rõ nghĩa. Đôi khi người Nhật nói rằng họ ganh với người Việt vì tiếng Việt chuyển sang La Tinh được, trong khi tiếng Nhật thì không. Việc đổi sang La Tinh có lợi lớn, nhưng cũng có hại là hầu hết người Việt ngày nay không đọc được văn kiện của người xưa.

Trung Hoa với tiếng Bắc Kinh, Phổ Thông hay Quan Thoại có 1.300 âm, còn Quảng Đông, Phúc Kiến cũng 5.000 đến 7.000 âm. Nhưng nếu viết La Tinh theo tiếng Bắc Kinh hay Quan Thoại thì các vùng khác không hiểu được. Vì Trung Hoa rộng lớn, có 8 tiếng nói chính và hằng trăm tiếng nói của người thiểu số. Chỉ viết bằng chữ Hán thì cả nước mới có thể đọc và hiểu được, do đó, chữ Hán là văn tự duy nhất có thể dùng để thống nhất cách viết, còn vùng nào cũng vẫn cứ đọc theo tiếng vùng đó.

1 一 2 二 3 三
Quan Thoại: di (yi) ớ (èr) san (san)
Quảng Đông: dách dì xám
Việt Nam:_ nhất nhị tam

Về tình trạng chữ Hán tại một số nước khác. Triều Tiên chủ trương bỏ bớt chữ Hán, chuyển sang Hangul (nghĩa là vĩ đại, trước có khi gọi là Ganmon hay Onmon = Ngạn Văn) do họ tự đặt ra, đây là loại văn tự ký âm tương tự như La Tinh vậỵ Ở trung học, Nam Hàn chỉ học 1.300 chữ Hán và Bắc Hàn chỉ học 500 chữ Hán (thường để viết tên người cho khỏi bị lẫn lộn vì trùng âm và các từ truyền thống quen thuộc...), nên thế hệ ngày nay không còn đọc được văn kiện cổ của tiền nhân. Vì vậy, ở Nam Hàn đang có chương trình cổ động học chữ Hán. Ở Singapore (Tân Gia Ba), sau thời gian dài chạy theo tiếng Anh thực dụng, các thế hệ Hoa Kiều trẻ không đọc được sách Hoa nên cũng đang đẩy mạnh việc học chữ Hán.

9 YẾU TỐ KẾT TINH THÀNH TIẾNG VIỆT

Huyền diệu thay, có 9 yếu tố đã kết tinh thành Tiếng Việt theo thế 3 chân vạc, mỗi chân vạc là 1 trụ, mỗi trụ là 1 kiềng 3 chân.

3 trụ đó là tiếng nói, giọng nói và chữ viết.

- Trụ thứ 1, tiếng nói: Tiếng Nôm (người), Hán-Việt (nhân), Ngoại Lai (“va-li” từ tiếng Pháp, “phim” từ tiếng Anh, “Nha Trang” tứ tiếng Chàm, “Cái Răng” từ Chân Lạp)...
- Trụ thứ 2, giọng nói: Bắc (mẹ) – Trung (mệ) - Nam (má).
- Trụ thứ 3, chữ viết: Hán (漢) – Nôm (喃)- La Tinh (a, b, c).
Vạc hay kiềng đều có 3 chân, ở đây mình có đủ cả vạc và kiềng. Với sổ điểm hay chân ít nhất nhưng tao nên 1 mặt phẳng, dễ dàng tạo thế vững vàng nhất. Thế chân vạc là 3 trụ, mà mỗi trụ là 1 kiềng.


TIẾNG VIỆT CÓ GÌ LẠ?

1- Chữ Quốc Ngữ gốc La Tinh...

Văn tự hay ký tự ngày nay của người Việt gọi là Quốc Ngữ, là tiếng Việt viết bằng chữ La Tinh. Quốc Ngữ là một cái tên có lẽ đã được dùng để nhấn mạnh đến tính quốc gia dân tộc khi mới được công nhận và cho dễ được chấp nhận, chứ thực ra thì chữ Hán và chữ Nôm còn ở với dân tộc ta lâu đời hơn và đáng gọi là Quốc Ngữ hơn. Những năm 50, học sinh tiểu học thường ê a: "Chữ Quốc Ngữ, tiếng nước ta, con cái nhà, đều phải học"... Chính phủ còn phát hành cả tem khuyến học chữ Quốc Ngữ. Người Việt học chữ Quốc ngữ chỉ độ 6 tháng hay 1 năm là đọc được báo, trong khi người Nhật phải học chữ Hán ít nhất khoảng 5, 6 năm mới đọc được.

Còn chữ mà chúng ta thường gọi là La Tinh như a, b, c, ... i, ... y, z đôi khi bao gồm cả 1, 2, 3... thực ra, trong số này có cả "y dài" tức "y Greek (Hy Lạp)", chứ chữ La Tinh chỉ có "i ngắn" mà thôi. Thêm nữa, ai cũng biết số La Mã là I, II, III, IV... nên 1, 2, 3 thực ra là số Ả Rập, riêng số 0 là phát minh "vĩ đại" của Ấn Độ.

Chữ Quốc Ngữ giản dị bội phần so với chữ Hán và Nôm, nên giúp mau chóng giải quyết nạn mù chữ. Nhưng dân tộc Việt đã hơn 2.000 năm gắn liền với chữ Hán và 7, 8 thế kỷ với chữ Nôm. Các văn hiến cổ đều viết bằng hai thứ chữ này, nên khi đổi sang La Tinh, chúng ta có cái lợi rất lớn, nhưng cũng không thể tránh cái hại là bị đoạn lìa với văn hóa quá khứ.

Trước năm 75, dù có đến cả triệu người Hoa ở Việt Nam, người Việt hầu như không ai học tiếng Hoa, người Hoa muốn giao thiệp với người Việt thì phải học tiếng Việt, ít nhất là học nóị Nhưng từ khoảng năm 1985, người Việt bắt đầu học tiếng Hoa và Nhật vì đầu tư của các nước này tăng mạnh (chiếm 70%) và nếu biết một trong hai thứ tiếng trên đi làm sẽ có mức lương cao gấp bội. Từ đó đến nay, ước lượng có khoảng 300.000 người học tiếng Hoa và 250.000 người học tiếng Nhật.

Lại đúng vào thời đại điện toán, việc đánh máy chữ Hán và ngay cả chữ Nôm trở thành dễ dàng. Đây chính là cơ may thật hãn hữu, có thể giúp phục hồi văn hóa dân tộc Việt.


2- Tiếng Việt đơn âm

Tiếng Việt cũng như tiếng Hoa thuộc loại đơn âm tiết, nghĩa là mỗi chữ đọc lên chỉ có một âm, trong khi tiếng Nhật thuộc loại đa âm tiết. Nhưng có nghịch lý là nhiều ký tự như l, n, m, x, y... lại đa âm tiết.
Tiếng Việt ít ký tự nhất, chỉ có 1 ký tự như "a" (tiếng kêu tỏ vẻ vui mừng hay ngạc nhiên; chạy theo như "a dua"; cái "a"), "á" (tiếng la), "à" (tiếng gật gù tán đồng), ơ (tiếng thảng thốt)... Tiếng Việt nhiều ký tự nhất là chữ "nghiêng" có đến 7 ký tự, đặc biệt chữ này là chữ duy nhất có 7 ký tự và chỉ ở dạng không dấu, không đi với dấu thinh nào.

3- Kép đôi và kép ba các nguyên âm và phụ âm

Tiếng Việt có tổng cộng 29 ký tự, chưa kể f, j, w, z.
12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y
17 phụ âm: b, c, d, đ, g, h, k. l, m, n, p. q, r, s, t, v, x
Tiếng Việt được xếp vào loại âm đóng vì đa số tận cùng bằng phụ âm, trong khi tiếng Nhật được xếp vào loại âm mở vì đa số tận cùng bằng nguyên âm. Nếu tiếng Nhật thường đơn giản chỉ ghép 1 hay 2 phụ âm với 1 nguyên âm thì tiếng Việt có thể kép đôi, kép ba cả nguyên âm và phụ âm.

Nguyên âm đơn như: lo, na...
Nguyên âm đôi như: keo, hòa...
Nguyên âm ba như: người, quyên...
Phụ âm đôi như: nho, pha...
Phụ âm ba như: nghe, nghinh...
Từ có phụ âm đôi ở cả đầu và cuối cũng rất nhiều như: ngang, thang, thanh...

4- Sự phong phú về phát âm

Tiếng Việt được kể là rất phong phú về nguyên âm, có tới 12 nguyên âm, trong khi tiếng Nhật chỉ có 5 nguyên âm. Lại có nhiều kép đôi, kép ba cả nguyên âm và phụ âm cộng thêm 6 dấu thinh tức dấu giọng nên số âm vị biến hóa thành khoảng 15.000 âm. Trong khi đó, tiếng Nhật hầu như không có dấu thinh nên tổng cộng chỉ có khoảng 120 âm, tiếng Bắc Kinh tức Quan Thoại hay Phổ Thông có khoảng 1.300 âm, tiếng Quảng Đông hay Phúc Kiến có từ 5.000 đến 7.000 âm.

Ngoài sự lên xuống của dấu sắc và huyền, đặc biệt tiếng Việt có dấu hỏi và ngã phát âm uốn éo như sóng lượn, nên tiếng Việt rất giàu nhạc tính.

Khi dạy phát âm tiếng Việt cho các học viên Nhật, tôi thường vung tay và yêu cầu họ vung theo 6 dấu thinh. Nên nếu tiếng Việt mà có tới 8 dấu thinh như một âm giai bát âm của nhạc thì có lẽ chúng tôi sẽ thành nhạc trưởng hết lúc nào không biết.

Khi giảng dạy tiếng Việt, nhất là về phát âm cho người ngoại quốc ở Việt Nam và Nhật Bản... chúng tôi thấy hầu hết các giảng viên đều dùng hai đồ biểu trên, nhưng ở Hoa Kỳ và Úc hầu như không dùng. Qua kinh nghiệm giảng dạy tiếng Việt cho người Nhật cũng như trẻ em Việt, chúng tôi nhận thấy hai biểu đồ trên rất thiết yếụ Sự phức tạp về phát âm của tiếng Việt đã được thu gọn trong hai biểu đồ giản dị này. Người ngoại quốc nắm được hai biểu đồ này thì không lo gì phát âm không chính xác cả. Phát âm tiếng Nhật quá đơn giản nên người Nhật thấy khó khăn khi phát âm tiếng Việt, nhưng nếu luyện tập, họ có thể phát âm được, chỉ khó nhớ ngay và không nhớ hết mà thôị Nên vấn đề còn lại là thường xuyên tập luyện, thực hành để nhớ.


5- Bắc-Nam ai đúng, ai sai?

Trong khi tiếng Bắc được coi là tiêu chuẩn, nhưng người miền Bắc yếu về cách phát âm các ký tự s, x, ch, tr, một số người lẫn lộn giữa l và n, còn người Nam thì hay lẫn lộn giữa v và d, dấu hỏi và ngã. Về những thiếu sót trong phát âm của người Bắc chúng tôi không rõ nguyên nhân, nhưng về việc người Nam "sai" chính tả "hỏi, ngã" thì chúng tôi ngờ rằng thực ra họ đã viết rất chính xác đối với phát âm.

Xin xem bảng biểu diễn 6 dấu thinh sẽ thấy, dấu "hỏi" là dấu sóng (hình sin) viết đứng nhưng lại phát âm nằm, dấu "ngã" là dấu sóng viết nằm lại phát âm thành đứng. Như vậy chính tả viết "sai" chăng? Và người Nam viết đúng chăng?

Qua bảng biểu diễn trên, chúng ta thấy các dấu thinh không phải là các ký tự được viết ra một cách ngẫu hứng mà chính là đường biểu diễn phát âm. Nói cách khác, các dấu chính là hình thu nhỏ của biểu đồ phát âm. Khi chúng ta phát âm, đầu của chúng ta cũng lắc lư như các đường biểu diễn hay các dấu sẽ thấy dễ dàng hơn. Và chính các dấu thinh này chi phối sự lên xuống của âm cả chữ.

Tiếng Việt vốn phong phú về nhạc tính, mỗi chữ đã chứa sẵn âm điệu riêng, vì vậy khi trở thành lời trong một bài hát, có thêm âm điệu (melody) của bài hát nữa thì thành ra một âm điệu kép. Tuy nhiên, âm điệu bản nhạc là chính nên đôi khi âm điệu của lời hát tiếng Việt đã bị biến đổi đi, như lên giọng thành xuống giọng...

Thí dụ như hát chữ "hỡi" ở nốt la tròn, thì không phải chỉ ở cao độ la, mà còn phải diễn tả dấu "ngã", có thể tượng trưng bằng 4 nốt 1 móc liên tiếp nhau hình sóng như trong bảng biểu diễn thì mới ra tiếng Việt được.

6- Nhị trùng từ và nhị trùng văn phạm

Tiếng Việt chịu ảnh hưởng sâu đậm tiếng Hoa, nên không những một sự vật thường có hai từ là từ Nôm và Hán-Việt, còn có nhị trùng văn phạm nữa, tức vừa văn phạm Việt vừa Hoa (đặc biệt là danh từ ghép, về điểm này, tiếng Hoa và Nhật giống nhau, danh từ phụ trước, danh từ chính sau).

Thí dụ:
- người đọc = độc giả = 読者, "người đọc" là âm Nôm xếp theo văn phạm Việt, "độc giả" là âm Hán-Việt xếp theo văn phạm Hoa, Nhật.
- núi Phú Sĩ = Fuji yama/san =富士山, "núi" và "yama" là âm Nôm và Nhật, "núi" đứng trước theo văn phạm Việt, nhưng "yama" đứng sau theo văn phạm Hoa, Nhật. Phú Sĩ sơn = Fujisan, "sơn" và "san" là âm Hán-Việt và Hán-Nhật, đều đứng sau theo văn phạm Hoa, Nhật.
Hai từ Hán-Nôm cùng nghĩa như Đại-Cồ Việt (Đại = Hán-Việt, Cồ = Nôm), nhập-vào, xuất-ra, in-ấn, sao chép, phân chia, đường lộ, bao bọc, bồi đắp, kỳ lạ...

Học Giả Đỗ Thông Minh
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#33 Posted : Thursday, January 16, 2014 5:06:39 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Phần 2: Những cấu trúc trong Tiếng Việt

Đỗ Thông Minh

Tiếng Việt có nhiều chữ khởi đầu bằng vần "c" và "t" nhất, cho ra nhiều chữ khởi đầu bằng phụ âm vần "b", "c", "đ"… có thể đi với nhau thành câu chuyện ngắn

Lắm chữ "b", "c", "đ", "h", "m" và "t"...

Tiếng Việt có nhiều chữ khởi đầu bằng vần "c" và "t" nhất, cho ra nhiều chữ khởi đầu bằng phụ âm vần "b", "c", "đ"… có thể đi với nhau thành câu chuyện ngắn “độc vận” có ý nghĩa, nhất là vần "t" thì dễ làm nhất và có thề cho tới cả vài trăm chữ.

1- Trẻ em Việt Nam hay nghêu ngao:

Bà Ba béo bán bánh bò, bên bãi biển, bị bắt bỏ bót ba bốn bữa.

Xin bổ sung thành bài vần "b" với 50 chữ như sau:

BÀ BA BÉO

Bà Ba béo bán bánh bò, bánh bèo, bên bãi biển, bị bắt bỏ bót ba bốn bữa... Bèn bẻ bông bưởi bên bờ bến bán. Bà bị bệnh, buồn bã, bèn bỏ bê buôn bán. Bị bác Bảy bắt bồng bế bé bú bầu, bưng bô!

Hoặc:

Đêm đông đốt đèn đi đâu đó. Đốt đèn đi đái đó, đánh đổ đèn đếch đái được.

Xin bổ sung thành mẫu đối thoại vần "đ" với 82 chữ như sau:

ĐÁNH ĐỔ ĐÈN

- Đang đêm đầu đông, đất động đong đưa đến đổ đền. Đậu đốt đèn đi đâu đó?

- Đậu định đi đường đèo đầy đất đá, đầu đội đồ, đem đạp, đổng, đài, đến đâu đóng đô đấy. Đến đây đớp đậu đen đậm đà đều đều. Đốt đèn định đi đái đó.

- Đừng đái đường, đừng đụng đâu đái đó.

- Đậu đần độn, đánh đổ đèn, đếch đi đến đầu đường đái được, đằng đẵng đợi, đành đứng đầu đình đái đại!

Nếu “Đậu đốt đèn đãi đậu đen, đậu đỏ.” thì câu chuyện sẽ rẽ sang hướng khác.

2- Xin soạn 1 bài vần "c" với 162 chữ để vẽ nên một bức tranh quê trong đó có hai loại cò như sau:

CON CÒ

Chiều chiều, chim chóc, chuồn chuồn, châu chấu chọn chốn cao,

Chỗ chân cầu cuối chơ, cạnh chùa cổ, có chín con cò:

Cạnh các con cò cái chăm chỉ, cần cù, chịu cực,

Có các con cò cái chững chạc, cung cúc, cố, công,

Có con cò co co cẳng chân cặp càng cua cáy,

Có con cò chăm chăm canh chừng chờ cắp cà cuống,

Có con cò cong cong cổ chực chụp chú cá chốt,

Có con cò cúi cúi cắn cước cần câu cá chép,

Co con cò cau cau có có cuỗm cả cành cây,

Có con cò căng cánh chạy còn cố công cọng cỏ...

Cạnh các con cò cái chanh chua, cãi chày, cãi cối,

Có các con cò cái cười cợt, cà chớn, chán chường,

Chẳng cặp cũng chẳng cắp,

Chẳng chụp cũng chẳng cắn,

Chẳng cuỗm cũng chẳng chạy,

Chúng cóc cần chi cả, chỉ có chơi cho chán chê...

Chờ chết!!!

3- Xin soạn một bài vần "h" với 138 chữ, trong đó hầu hết là các cặp đối nhau như sau:

HÒA HỢP

1. Hồi hôm hãn hữu họ hàng hội họp hàng hiên...

Hảo hán Hoàng Huy Hùng hào hoa, hung hăng hậm họe hành hung hèn hạ, hà hiếp Hải Hương, hàm hồ hằn học hăm he hạch hỏị Ha ha!

Hiếu hạnh Hà Hải Hương ham học, hay hát hứa hẹn hát hay hơn hết, hao hao Hồng Hạnh, hết hồn hất hàm hậm hực hứa hãọ Hừ hừ!

2. Hồi hôm hiếm hoi hòa hợp hát hỏng hữu hảo...

Hài hước Hoàng Huy Hùng hạ hỏa, hòa hảo, hết ham hão huyền hư hỏng, hau háu hàn huyên hào hứng, hiện hình hiền huynh hào hùng. Hề hề!

Hoa hồng Hà Hải Hương hấp háy, hà hơi, hăm hở hát hò hả hê, háo hức hẹn hò hăng hái, hiển hiện hiền hòa, háu hỉnh. Hì hì!

4- Vần “t” tương đối dễ làm thành một bài, ai chịu khó suy ngẫm một lúc có thể nghĩ ra. Xin soạn một bài vần "t" với 202 chữ như sau:

TỰ TÌNH

Tôi tên Trần Thị Thanh Thủy, tự Thu Tâm, tuổi Thân, tuổi trăng tròn. Tính tình thật thà, thẹn thùng, thường tủm tỉm, tim thường thương trộm, thích thầm, thổn thức theo tình, tiếng thỏ thẻ trong trẻo, thích tỉ tê... Thân thì tròn trùng trục, tướng thì thấp tủn, thấp tịt... thành thử thường tự than thân: "Thôi thì tại trời tính thế.".

Tháng trước, tôi tức tốc từ Tân Thuận tới thăm thày tiếng Tây tên Trịnh Thành Tuấn, tự Tre Trúc, tuổi tứ tuần, tại tỉnh Thừa Thiên. Thày tôi trèo thang té, trặc tay, trầy trán, tét thịt thâm tím, thương tích trầm trọng. Thương thày, tôi tặng thày thang thuốc thật tốt. Thầy thấy thế thì tự trách: "Tại tôi, tại tôi thiếu thận trọng thôi.".

Thú thật tôi thương thày, tính thày thành thật, thày thương tôi thiệt tình thành thử tôi thót tim... Thứ Tư thượng tuần tháng Tám/Tám Tư, tôi - thày tình tự, tính tới tình tơ tóc. Tình tôi tưởng tốt theo thời thế. Từ từ tình tan, thày thẳng thừng tống tôi, tôi thương thân, toan tính tự tử, tưởng tượng thắt tòng teng thấy thật thê thảm. Tôi thôi!

5- Xin soạn bài vần "v" với 123 chữ như sau:

VÔ VỌNG!!!

Vô vi Võ Văn Việt võ vẽ viết văn vung vít và vấp váp vỏn vẹn vài vụ việc. Võ Văn Việt vui vẻ về với vợ, vừa vờ vĩnh vỗ vai vừa vén váy vợ vồn vã, ve vãn, vỗ về, vòi vĩnh... Vũ Vi Vân vợ Việt vóc voi, vầy vò vặt vãnh vô vàn vất vả, vùng vằng vặn vẹo ví von văng vẳng: "Vớ vẩn, vui với vầy, vầy với vò!". Và Vũ Vi Vân vội vã vun vén, vơ vét vàng, vải vóc vùn vụt vọt... Võ Văn Việt vò võ, vật vờ, vẩn vơ, vàng vọt, vòng vòng vất va vất vưởng, vì vậy viết vào vở: "Vuột, vời vợi vấn vương vẫn vô vọng!!!".

6- Anh Vĩnh Linh nghe thân hữu nói kể lại, tôi thêm câu 4 cho thành 1 bài thất ngôn tứ tuyệt (?):

Lâm li, lưu luyẽ'n, lòng lai láng,

Thất thểu, thì thầm, thấy thẩn thơ,

Đường đi, đất đỏ, đều đầy đá,

Cơm chiều, canh cá, có chén cà...

7- Không hiểu sao có rất nhiều từ bắt đầu bằng vần "m" tập trung ở "đầu" như:

má, lông mày, lông măng, lông mi, mắt, mặt, men răng, màng tang, mép, mí mắt, miệng (Nam)/mồm (Bắc), mỏ ác (trên đỉnh đầu), môi, mũi, tóc mai.

Rồi lại còn:

lá mía, màng não, màng nhày (mũi), màng nhĩ, màng óc, máu cam (máu mũi), mụn bọc, mụn trứng cá, nước miếng…

- - - - -

Nói lái!?

Một trong những đặc trưng của tiếng Việt là nói lái, nhằm mục đích đố chữ, vui đùa... Nói lái là nói bằng giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo nghĩa khác hẳn. Xin bạn đọc xem thử mẩu đối thoại tưởng tượng dưới đây

A: Bên đó thế nào?

B: Ồ, có đại phong!

A: Làm gì thì làm, nhớ thủ tục đầu tiến đấy nhé.

B: Vâng, biết rồi, khổ lắm nói mãi. À, anh thấy cô ấy thế nào

A: Người đẹp có đôi chân thảo bình nên hình chụp tôi lộng kiếng rồi!

B: Anh thì lúc nào cũng tếu, cũng vũ như cẩn.

A: Thôi chào, chúc anh mạnh sự lời...

Trong đó có mấy từ hơi ngớ ngẩn, vừa nghĩa này vừa nghĩa khác:

- "đại phong" là gió lớn, gió lớn thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, tượng lo là "lọ tương" (Giai thoại giữa Trạng và Chúa Trịnh).

- "đầu tiên" tức "tiền đâu".

- "thảo bình" là cỏ bằng, tức "cẳng bò".

- "lộng kiếng" tức "liệng cống".

- "vũ như cẩn" tức "vẫn như cũ".

- "mạnh sự lời" tức "mọi sự lành".

- - -

Đảo ngữ

Một câu đảo ngữ thành ra rất nhiều câu với nghĩa khác nhau.

Tuy rằng văn phạm tiếng Việt tương đối dễ, nhưng khó về âm, khó về xưng hô và khó cả về đảo chữ trong câu. Chỉ một câu đơn giản, ngắn 5 chữ sau mà có thể trở thành 24 câu khác nhau trong văn nói (có những từ hiểu ngầm):

1- Tôi cho anh con gà. I gave you a chicken.

2- Anh cho tôi con gà. You gave me a chicken.

3- Tôi cho anh gà con. I gave you a chick.

4- Anh cho tôi gà con. You gave me a chick.

5- Tôi (và) anh cho con gà. You and I gave a chicken.

6- Tôi (và) anh cho gà con. You and I gave a chick.

7- Anh (của) tôi cho con gà. My old brother gave a chicken.

8- Anh (của) tôi cho gà con. My old brother gave a chick.

9- Con tôi cho anh gà. My child gave you a chicken.

10- Con anh cho tôi gà. Your child gave you a chick.

11- Con gà tôi cho anh. The chicken that I gave yoụ

12- Con gà anh cho tôi. The chicken that you gave mẹ

13- Gà con tôi cho anh. The chick that I gave yoụ

14- Gà con anh cho tôi. The chick that you gave mẹ

15- Con gà tôi (và) anh cho. The chicken that you and I gavẹ

16- Gà con tôi (và) anh cho. The chick that you and I gavẹ

17- Con gà anh (của) tôi cho. The chicken that my old brother gavẹ

18- Gà con anh (của) tôi cho. The chick that my old brother gavẹ

19- Gà (mà) con tôi cho anh. The chicken that my child gave yoụ

20- Gà (mà) con anh cho tôi. The chicken that your child gave mẹ

21- Con gà cho tôi (và) anh. The chicken that gave me and yoụ

22- Gà con cho tôi (và) anh. The chick that gave me and yoụ

23- Con gà cho anh (của) tôi. The chicken that gave my old brother.

24- Gà con cho anh (của) tôi. The chick that gave my old brother.

ĐTM

Nếu chữ "Anh" (cả nam và nữ) và "Tôi" là tên người, thực tế chúng tôi biết có người tên như vậy, thì chúng ta còn có thêm một số câu khác nữa.

(*) Chữ "cho" có nghĩa là "give" mà cũng là "for" (phần của)... cho = give và còn có nghĩa làm cho, (I do it for you) tôi làm việc đó cho anh...

- - - - -

Đôi khi chúng ta còn có thể đảo ngữ nguyên cả một bài thơ thất ngôn bát cú, đọc từ trên xuống hay từ dưới lên đều có nghĩa như sau:

ĐỀN NGỌC SƠN

(đọc xuôi)

Linh uy tiếng nổi thật là đây

Nước chắn hoa rào một khóa mây

Xanh biếc nước soi, hồ lộn bóng

Tím bầm rêu mọc, đá tròn xoay

Cung tàn lúc đánh chuông âm tiếng

Khách vắng khi đưa xạ ngát bay

Thành thí tiếng vang đồn cảnh thắng

Rành rành nọ bút với nghiên này.

(đọc ngược)

Này nghiên với bút nọ rành rành

Thắng cảnh đồn vang tiếng thị thành

Bay ngát xạ đưa khi vắng khách

Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn cung

Xoay tròn đá, mọc rêu bầm tím

Bóng lộn hồ, soi nước biếc xanh

Mây khóa một rào hoa chắn nước

Đây là thật nổi tiếng uy linh.

(Vô danh)



Trích Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm,

Trung Tâm Học Liệu Bộ QGGD, Sài Gòn 1968, trang 133.

- - - - -

Những từ tượng thanh!?

Tiếng Việt rất phong phú với khoảng 15.000 âm, nên so với nhiều ngôn ngữ, việc diễn tả âm thanh hay các tiếng tượng thanh tương đối cũng phong phú và chính xác. Sau đây là hơn 130 từ diễn tả âm thanh.

- "á" (tiếng thốt ra vì sửng sốt hay đau đớn đột ngột).

- "à" (tiếng thốt ra vì ngạc nhiên, chợt nhớ ra hay ưng thuận).

- "ái" (tiếng người kêu khi chợt bị đau).

- "ái da" (tiếng người kêu khi chợt bị đau đớn).

- "ào ào" (tiếng gió hay nước phát ra dồn dập).

- "ầm" (tiếng động lớn do vật nặng rơi hay tiếng nổ).

- "ầm ầm" (tiếng đập mạnh hay sấm nổ liên tục).

- "ầm ì" (tiếng trầm nhỏ và kéo dài như tiếng sóng, tiếng động cơ (ở xa)).

- "băng băng" (tiếng súng nhỏ liên tiếp).

- "bịch" (tiếng vật rơi, người té hay tiếng đánh, đá vào người).

- "boong" (tiếng chuông kêu).

- "bôm bốp" (tiếng vỗ tay liên tục).

- "bốp" (tiếng tát hay vỗ).

- "bùm" (tiếng nhạc trầm hay trống, tiếng nổ lớn).

- "bùng bung" (tiếng nhỏ, trầm đục như trống cơm).

- "bùng bùng" (tiếng lửa cháy rực lên).

- "cạc cạc" (tiếng vịt kêu).

- "càng cạc" (tiếng vịt kêu).

- "cắc cắc" (tiếng gõ tang trống (thành trống)).

- "chát" (tiếng đập bằng vật dẹp, tiếng nhạc bổng...).

- "chan chát" (tiếng gõ hay nói đanh sắc nghe chói tai).

- "chóp chép" (tiếng nhai).

- "chíp chíp" (tiếng gà con kêu).

- "chụt" (tiếng hôn).

- "cóc cóc" (tiếng gõ).

- "cót két" (tiếng khô giòn và liên tiếp do vật cứng không bằng kim thuộc gây ra).

- "côm cốp" (tiếng vang và đanh do vật cứng nện liên tục xuống vật cứng khác).

- "cục cục tác" (tiếng gà mái sau khi đẻ trứng).

- "đoành" (tiếng nổ lớn như tiếng súng).

- "đùng" (tiếng nổ như pháo, súng...).

- "đùng đùng" (tiếng súng lớn liên tiếp).

- "gầm gừ" (tiếng kêu nhỏ trầm có vẻ tức giận của loài chó...).

- "gâu gâu" (tiếng chó sủa).

- "grú" (tiếng chó hú).

- "grừ" (tiếng gầm gừ trầm của con thú hay quái vật).

- "gù gù" (tiếng chim bồ câu kêu khi con đực con cái gần nhau).

- "ha ha" (tiếng cười lớn).

- "hắt xì" (tiếng người hắt hơi).

- "hây a" (tiếng hô lớn khi ra đánh võ).

- "hi hi" (tiếng cười hoặc khó nhỏ, liên tiếp).

- "hí hí" (tiếng cười nhỏ, hơi cao, liên tiếp, tỏ vẻ thích thú).

- "hích hích" (tiếng khóc nhỏ hơi đứt đoạn).

- "hừ" (tiếng thốt ra bằng giọng mũi, biểu thị sự bực bội).

- "hự" (tiếng nặng, khan do dồn hơi từ ngực, như khi bị đánh đau).

- "inh ỏi" (tiếng vang to theo nhiều nhịp độ, âm hưởng gây chói tai).

- "ken két" (tiếng đanh và chói phát ra liên tục do 2 vật cứng chạm nhau, nghiến răng...).

- "két" (tiếng thắng xe).

- "khò khò" (tiếng ngáy đều đều).

- "lách cách" (tiếng đanh gọn mà không đều như tiếng so đũa, xếp bát đĩa).

- "lách tách" (tiếng nổ nhỏ gọn phát ra đều của củi được đốt lửa...).

- "lạch cạch" (tiếng guốc, tiếng gõ nhẹ).

- "lâm râm" (tiếng nhỏ nhẹ và kéo dài hay tiếng cầu kinh nhỏ đều không rõ lời).

- "lập cập" (lạnh run hay sợ run nên răng đập vào nhau).

- "lật phật" (tiếng tấm vải hay bạt bị gió thổi bật qua lại, lên xuống).

- "leng keng" (tiếng vang dòn nghe vui tai do 2 vật nhỏ bằng kim khí chạm nhau).

- "loạt roạt" (tiếng nhỏ sắc liên tiếp như tiếng súng lên đạn).

- "loạt soạt" (tiếng nhỏ liên tiếp như lá cọ vào nhau).

- "lọc bọc" (tiếng trầm đục như tiếng khua nước trong bình kín).

- "lọc cọc" (tiếng trầm lúc nhỏ lúc to như tiếng khua trên mặt đất cứng, mặt đá).

- "lốp bốp" (tiếng nổ giòn nối tiếp nhau không đều).

- "lốp cốp" (tiếng ngắn gọn, lúc mạnh lúc yếu nối tiếp nhau không đều).

- "lộp bộp" (tiếng trầm và nặng, không đều và thưa).

- "lộp cộp" (tiếng ngắn gọn nối tiếp nhau của vật cứng trên nền cứng).

- "lộp độp" (tiếng nhẹ, trầm và gọn của hạt mưa...).

- "lục bục" (tiếng nổ trầm nhỏ nối tiếp).

- "lục cục" (tiếng trầm nhỏ nối tiếp của vật cứng va chạm nhau như cuốc đất).

- "lục cục lạc cạc" (tiếng trầm nhỏ nối tiếp của vật cứng va chạm nhau).

- "lục xục" (tiếng lục lạo đồ đạc...).

- "meo meo" (tiếng kêu của mèo).

- "ngheo ngheo" (tiếng kêu của mèo).

- "ò ó o ò..." (tiếng gà trống gáy, thường bắt đầu từ 5 giờ sáng).

- "oa oa" (tiếng khóc to của trẻ em).

- "oái" (tiếng người kêu khi chợt bị đánh thật đau).

- "oành" (tiếng nổ lớn (gây kinh hoàng)).

- "oăng oẳng" (tiếng chó kêu to khi bi đánh đau).

- "oang oang" (tiếng to vang xa).

- "oe oe" (tiếng khóc của trẻ sơ sinh).

- "oe oé" (tiếng kêu to với giọng cao phát ra liên tiếp nghe chói tai).

- "ọt ẹt" (tiếng kêu do ma sát và chậm như cối xay).

- "ô" (tiếng kêu lên khi ngạc nhiên).

- "ồ ồ" (tiếng nước chảy nhiều và mạnh).

- "ôi ối" (tiếng người kêu to dồn dập từng hồi do bị đau).

- "ối" (tiếng người kêu khi chợt bị đá hay đánh làm đau đớn).

- "ồm ộp" (tiếng kêu của ễnh ương).

- "ông ổng" (tiếng to trầm từng chuỗi khó nghe).

- "phập" (tiếng răng cắn hay dao cắm vào một vật).

- "pặc pặc" (tiếng đánh, đấm liên tiếp vào một vật hay người).

- "păng păng" (tiếng súng nhỏ bắn liên tiếp như súng lục..).

- "quạ quạ" hay "quác quác" (tiếng quạ kêu).

- "quang quác" (tiếng gà hay chim lớn kêu to vang. liên tiếp).

- "rào rào" (tiếng động xem vào nhau liên tiếp và rộ đều khắp như mưa hay vỗ tay).

- "rắc" (tiếng vật cứng gẫy như cành cây gẫy).

- "rầm" (tiếng đụng xe; làm ồn; cãi nhau).

- "rần rần" (tiếng ồn ào vang động của đám đông).

- "rè" (tiếng pha nhiều tạp âm, rất khó nghe như loa rè).

- "rè rè" (tiếng pha nhiều tạp âm phát ra liên tục).

- "réc réc" (tiếng dế đá gáy).

- "reng reng" (tiếng chuông điện thoại hay chuông điện).

- "réo rắt" (tiếng cao, thanh với nhịp điệu lúc nhanh cúc chậm như tiếng sáo diều).

- "rẹt" (tiếng lướt đi nhanh như tiếng thanh kiếm chém, máy bay bay).

- "ríu rít" (tiếng nói cười nhỏ không rõ, trong trẻo, liền nhau hay tiếng của bầy chim).

- "róc rách" (tiếng nước chảy nhẹ, luồn lách).

- "roẹt" (tiếng xé giấy, vải hay tiếng quất roi).

- "rột" (tiếng xé giấy).

- "sè sè = xè xè" (tiếng đi tiểu hay máy chạy đều đều).

- "soẹt" (tiếng cắt nhanh).

- "tạch tạch" (tiếng đạn nhỏ bắn liên tục).

- "tí tách" (tiếng nhẹ và gọn liên tiếp của hạt nước).

- "tíc tắc" (tiếng đồng hồ quả lắc...).

- "tòm tõm" (tiếng vật nhỏ rơi liên tiếp xuống nước hay ếch nhái nhảy xuống nước)

- "tõm" (tiếng 1 vật nhỏ nặng rơi xuống nước hay ếch nhái nhảy xuống nước)

- "tùm tũm" (tiếng vật nhỏ rơi liên tiếp xuống nước hay như ếch nhái nhảy xuống ao)

- "tủm" (tiếng đánh rắm, tiếng Hán-Việt là trung tiện bên cạnh đại tiện và tiểu tiện)

- "tùng tùng" (tiếng đánh trống, như trống trường báo hiệu giờ vào lớp, tan lớp...)

- "ù ù" (tiếng mạnh, trầm và kéo dài, tiếng vang lùng bùng trong tai).

- "ùng ục" (tiếng trầm đục phát ra liên tiếp như nước sôi).

- "ư ư" (tiếng nhỏ và cao, kéo dài trong cổ không rõ lời như hát ư ư).

- "ư ử" (tiếng rên nhỏ trầm).

- "ực ực" (tiếng uống nước nhiều và nhanh).

- "vèo vèo" (tiếng vật bay nhanh ngang qua).

- "ve ve" (tiếng ve kêu ran đều vào mùa hè).

- "vi vu" (tiếng gió thổi, tiếng sáo diều).

- "vo ve" (tiếng côn trùng có cánh như muỗi hay ong bay).

- "vo vo" (tiếng côn trùng có cánh như muỗi hay ong bay).

- "vù vù" (tiếng gió thổi mạnh).

- "vùn vụt" (tiếng roi quất liên tục hay tiếng nhiều vật di động vượt qua nhanh).

- "vụt" (tiếng roi quất trong gió hay tiếng vật di động vượt qua nhanh).

- "xào xạo" (tiếng cọ xát của nhiều vật nhỏ cứng).

- "xèo xèo" (tiếng lửa đốt cháy nhanh hay cho thức ăn vào chảo dầu nóng).

- - - - -

Đỗ Thông Minh

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#34 Posted : Tuesday, January 21, 2014 6:08:52 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiếng Việt tuyệt vời



Bài thơ này có 8 cách đọc.
Có lẽ chỉ có tiếng Việt mới phong phú như thế !

1. Bài thơ gốc (bài 1):

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên, ta được bài 2:

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.

4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Mắt ai bóng thướt tha
Ðàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.

5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu x bốn chữ ):

Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.

6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu x bốn chữ):

Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.

7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu x ba chữ):

Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Ðàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.

8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu x ba chữ):

Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta


lụm trên nét
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#35 Posted : Thursday, January 23, 2014 6:47:01 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
CHỮ NÔM - TINH HOA VĂN TỰ VIỆT


Theo các nhà nghiên cứu, chữ Nôm hình thành và phát triển từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở chữ Hán của người Trung Quốc. Trong suốt quãng thời gian này, chữ Nôm là công cụ duy nhất hoàn toàn Việt Nam ghi lại lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Người Việt sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt, tiếng Tày, tiếng Dao tạo thành các văn tự Nôm Việt, Nôm Tày, Nôm Dao. Cứ liệu sớm nhất về chữ Nôm là bài văn khắc trên quả chuông Vân Bản năm 1076, thời nhà Lý, thế kỷ XI. Ban đầu, chữ Nôm thường dùng để ghi tên người, tên đất, nhưng càng về sau, chữ Nôm càng trở nên phổ biến và tìm thấy ý nghĩa trong đời sống văn hóa của đất nước. Dưới thời nhà Hồ thế kỷ XIV, nhà Tây Sơn thế kỷ XVIII, chữ Nôm đã từng có xu hướng sử dụng trong các văn bản hành chính. Chỉ tính riêng ở lĩnh vực văn học Việt Nam, chữ Nôm đã có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên một nền văn học rực rỡ xuyên suốt nhiều thế kỷ.

Từ chữ Nôm, nền văn học Việt Nam sinh ra ba thể loại độc đáo của riêng Việt Nam là Truyện thơ Nôm Lục Bát, Ngâm Khúc (song thất lục bát) và Hát Nói (trong ca trù). Tác phẩm thuần Nôm sớm nhất còn lưu giữ được là “Thiền Tông Bản Hạnh” thời Trần thế kỷ XIII-XIV. Các tác phẩm chữ Nôm như “Quốc Âm thi tập” của Nguyễn Trãi – danh nhân văn hóa thế giới (1380-1442), “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn (thế kỷ XVIII) bản dịch của Đoàn Thị Điểm, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (1766-1820) – danh nhân văn hóa thế giới... đã vươn tới đỉnh cao trong nền văn học Việt Nam. Các tên tuổi như Hồ Xuân Hương (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX), Bà Huyện Thanh Quan (thế kỷ XIX)... cùng các tác phẩm truyện Nôm Tày, các khúc hát giao duyên của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã tô điểm thêm cho vườn hoa văn học Việt Nam thêm nhiều sắc mới...

Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt hiện đang lưu giữ hàng trăm ngàn đơn vị tư liệu chữ Nôm ở nhiều mảng lĩnh vực: văn học, tư tưởng, triết học, ngôn ngữ, luật pháp, đạo đức... Những tư liệu chữ Nôm này rất có giá trị trong việc nghiên cứu đời sống của người Việt thời xa xưa. Tuy nhiên, chữ Nôm ngày nay chưa được đánh giá đúng với giá trị của nó, rất ít người học, người sử dụng. Giáo sư Ngô Thanh Nhàn, Phó Chủ tịch Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm Hoa Kỳ cho biết: “Hiện trên thế giới chỉ còn khoảng 100 người đọc và viết thành thạo chữ Nôm trong lúc trên 90% thư tịch Nôm chưa từng được dịch sang chữ quốc ngữ. Một bộ phận không nhỏ tư liệu chữ Nôm còn lưu lạc trong dân gian dưới nhiều dạng sách vở, hoành phi, câu đối, bia, chuông...”. Để giải quyết vấn đề này, cần thiết phải truyền dạy chữ Nôm cho thế hệ trẻ cũng như dịch các tác phẩm chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ. Điều đó sẽ không chỉ giúp cho người Việt mở mang tri thức mà còn góp phần đáng kể trong việc đưa văn hóa Việt Nam đến với kho tàng văn hóa, văn minh thế giới.

Sưu tầm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#36 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:17:43 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


Trích từ bài "PHÉP BỎ DẤU HỎI-NGÃ TRONG TIẾNG VIỆT & VIỆT NGỮ HỎI NGÃ TỰ VỊ" (tác giả: L.s. Đinh-sĩ-Trang)

A -

Ả -- chỉ người đàn bà ả đào, cô ả, êm ả, oi ả, óng ả, Ả-Rập.

Ải -- tiếng hét của kép hát ải ải! --chỗ qua lại ở biên giới ải quan, biên ải, cửa ải, đày ải, tự ải (thắt cổ tự tử)

Ảm -- tối tăm ảm đạm.

Ảng -- cái chậu lớn ảng đựng nước.

Ảnh-- ám ảnh, ảo ảnh, hình ảnh, màn ảnh, nhiếp ảnh, tranh ảnh, ảnh hưởng; --anh ấy ảnh đã đi rồi.

Ảo -- mập mờ, như thật ảo ảnh, ảo giác, ảo mộng, ảo thuật, ảo tưởng, ảo vọng, huyền ảo; --buồn phiền ảo não.

Ẵm -- bế, bồng trên tay con còn ẵm ngửa.

Ẳng -- tiếng chó con kêu chó con kêu ẳng ẳng.

Ẩm -- ẩm độ, ẩm mốc, ẩm thấp, ẩm ướt, âm ẩm, ẩm thực, độc ẩm, đối ẩm, ê ẩm, ế ẩm.

Ẩn -- trốn, lánh đi, giấu ẩn cư, ẩn danh, ẩn dật, ẩn hiện, ẩn náu, ẩn nấp, ẩn nhẫn, ẩn sĩ, ẩn số, ẩn tình, ẩn ý, bí ẩn, trú ẩn.

Ẩu -- mửa ẩu thổ, thượng ẩu hạ tả; --không cẩn thận làm ăn ẩu tả, nói ẩu quá; --đánh lộn ẩu đả.



B -

Bả -- bà ấy bả đi rồi; -- mồi bả vinh hoa, ăn phải bả, bả vai, bươn bả.

Bã -- hết cốt, chỉ còn xác bã hèm, bã mía, bã rượu, bã trầu, cặn bã; buồn bã.

Bải -- bải hoải, chối bai bải, bơ hơ bải hải.

Bãi -- chỗ rộng và dài bãi biển, bãi bùn, bãi cát, bãi cỏ, bãi cốt trầu, bãi chiến trường, bãi mìn, bãi phân, bãi sa mạc, bãi tha ma; --ngưng, thôi, nghỉ bãi binh, bãi bỏ, bãi chợ, bãi công, bãi chiến, bãi chức, bãi học, bãi khoá, bãi miễn, bãi nại, bãi thị, bãi trường; bãi buôi, bợm bãi, bừa bãi.

Bảy -- số 7, bảy nổi ba chìm, bóng bảy.

Bãm -- dữ, thô tục ăn bãm, bổm bãm.

Bản -- tờ, tập, bài, bản án, bản đàn, bản đồ, bản hiệp ước, bản kịch bản nhạc, bản nháp, bản sao, bản thảo, bản chất, bản chức, bản họng, bản kẽm, bản lãnh, bản lề, bản mặt, bản ngã, bản mệnh, bản năng, bản quyền, bản tánh, bản thân, bản thể, bản vị, bản xứ, ấn bản, bài bản, biên bản, căn bản, cơ bản, tái bản, tục bản, văn bản, vong bản, xuất bản, ván bản để đóng xuồng, xuồng tam bản; Nhật Bản.

Bảng -- bảng cửu chương, bảng đen, bảng số, bảng tin, bảng hổ đề danh, bảng nhãn (đậu nhì), bảng thống kê, bảng vàng, bảng yết thị, đăng bảng, treo bảng, vẽ bảng, bảng lảng.

Bãng -- thước bãng, thiết bãng.

Bảnh -- vẻ sang bề ngoài bảnh bao, bảnh tẻn, bảnh trai, chơi bảnh, diện bảnh, xài bảnh, bảnh mắt.

Bảo -- quý bảo kiếm, bảo tháp, bảo vật, bảo (bửu) quyến, gia bảo; --chỉ dạy, biểu chỉ bảo, dạy bảo, răn bảo, khuyên bảo, bảo ban; --giữ, che chở bảo an, bảo bọc, bảo chứng, bảo dưỡng, bảo đảm, bảo hoàng, bảo hiểm, bảo hộ, bảo lãnh, bảo mật, bảo phí, bảo quản, nhà bảo sanh, bảo tàng, bảo toàn, bảo tồn, bảo thủ, bảo trì, bảo trọng, bảo trợ, bảo vệ.

Bão -- gió lớn bão bùng, bão lụt, bão táp bão tố, bão tuyết, mưa bão, góp gió làm bão --ôm ấp hoài bão; --no, nhiều bão hoà, bão mãn.

Bẳm -- chăm bẳm.

Bẩm -- trình lên bẩm báo, bẩm cáo, bẩm trình, phúc bẩm; --do trời phú cho bẩm chất, bẩm sinh, bẩm tính, châm bẩm, lẩm bẩm.

Bẫm -- mạnh, thô bạo cày sâu cuốc bẫm, bụ bẫm.

Bẵng -- im bặt, vắng lâu im bẵng, quên bẵng, bẵng đi một dạo.

Bẩn -- dơ dáy bẩn thỉu, dơ bẩn; --túng thiếu bẩn chật, túng bẩn, lẩn bẩn, xẩn bẩn.

Bẩu -- thiếu lễ độ, vô phép ăn nói bẩu lẩu.

Bẩy -- ướt át, lầy lội đường bẩy lầy, giậm bẩy sân; --dùng đòn bắn lên bẩy lên (xeo, nạy lên) đòn bẩy, bẩy cột nhà, run bây bẩy, lẩy bẩy.

Bẫy -- cạm để lừa bẫy chim, bẫy chuột, cạm bẫy, gài bẫy, đặt bẫy, mắc bẫy, vướng bẫy.

Bẻ -- bứt, làm cho lìa ra bẻ cổ, bẻ gãy, bẻ khúc, bẻ măng, bẻ trái cây; --bác đi, sửa lại bác bẻ, bắt bẻ, bẻ tay lái, vặn bẻ, vọp bẻ.

Bẽ -- ngỡ ngàng, thẹn duyên phận bẽ bàng, làm bẽ mặt người ta.

Bẻm -- nói nhiều bẻm miệng, bẻm mép, bỏm bẻm.

Bẽn -- dáng hổ thẹn bẽn lẽn.

Bẻo -- bẻo mép, chút bẻo, chim chèo bẻo.

Bẽo -- bạc bẽo.

Bể -- tan vỡ ra bể nát, bể tan, bể vỡ, đập bể, đổ bể, rớt bể; --biển bể ái thuyền tình, bể cả, bể dâu, bể khổ, bể khơi, bể nghể muốn bịnh.

Bễ -- ống thụt thổi lửa thổi bễ, thụt bễ, ống bễ thợ rèn.

Bển -- bên ấy (nói tắt) ở bển, qua bển.

Bễu -- mình nước, bệu thịt bễu.

Bỉ -- khinh khi bỉ mặt, bỉ ổi, khinh bỉ, thô bỉ; --kia, người kia bỉ nhân, bỉ thử; bền bỉ; nước Bỉ.

Bĩ -- vận xấu bĩ cực thái lai, vận bĩ.

Biển -- vùng nước mặn biển cả, bãi biển, bờ biển, cá biển, rong biển; --tấm sắt, gỗ... trên có chữ biển hiệu, biển số xe; --lấy cắp, lừa bịp biển lận, biển thủ.

Biểu -- bày ra, tỏ ra biểu diễn, biểu dương, biểu hiệu, biểu lộ, biểu đồng tình, biểu thị, biểu ngữ, biểu quyết, biểu tình, đại biểu, đồ biểu, tiêu biểu; --bà con bên ngoại biểu huynh, biểu muội; --tờ tấu dâng vua biểu chương, biểu tấu; --đồng hồ đo hàn thử biểu, phong vũ biểu; --bảo, ra lịnh chỉ biểu, dạy biểu.

Bỉu -- trề môi dưới ra bỉu môi, dè bỉu.

Bỉnh -- bỉnh bút, bướng bỉnh.

Bĩnh -- phá bĩnh.

Bỏ -- không giữ lại nữa bỏ bê, bỏ chồng, bỏ dở, bỏ hoang, bỏ lẩy, bỏ liều, bỏ lửng, bỏ mứa, bỏ phí, bỏ qua, bỏ quên, bỏ rơi, bỏ sót, bỏ vợ, bỏ xó, bác bỏ, phế bỏ, ruồng bỏ; --thêm vô, để vào bỏ bùa, bỏ hành, bỏ muối, bỏ ngải, bỏ ống, bỏ ớt, bỏ tiêu, bỏ phân, bỏ phiếu, bỏ tù; --tiếng chưởi thề bỏ bố, bỏ mạng, bỏ mẹ! bỏ ngõ, bỏ nhỏ.

Bõ -- cho đáng cho bõ ghét, cho bõ giận, chẳng bõ công; vú bõ (cha mẹ đỡ đầu), bõ già (người tớ già).

Bỏm -- nhai bỏm bẻm.

Bõm -- lội bì bõm, rơi lõm bõm, nhớ bập bõm.

Bỏn -- hà tiện, rít róng bỏn sẻn.

Bỏng -- phỏng bỏng lửa, bỏng nước sôi, nóng bỏng; xôi hỏng bỏng không, bé bỏng, lỏng bỏng.

Bổ -- bửa cho vỡ ra bổ cau, bổ củi, bổ dừa, bổ làm đôi; --đánh vào sóng bổ gành, đánh bổ vào đầu, đau như búa bổ; --bù vào, thêm sức bổ cứu, bổ dưỡng, bổ khỏe, bổ khuyết, bổ sung, bổ trợ, bổ túc, bồi bổ, tẩm bổ, thuốc bổ, tu bổ, vô bổ; ván bổ kho, ngã bổ chửng, chạy bổ sấp, bổ ngửa, bổ dụng, bổ nhậm, bổ nhiệm.

Bổi -- mồi nhạy lửa củi bổi, dăm bổi, thuốc bổi, giấy bổi.

Bổn (Bản) -- bổn báo, bổn chức, bổn đạo, bổn mạng, bổn phận, bổn xứ.

Bổng -- giọng cao, lên cao bổng trầm, bay bổng, bắn bổng, dở bổng, nhắc (nhấc) bổng lên; --tiền cấp phát học bổng, lương bổng, bổng cấp, bổng lộc, hưu bổng; tha bổng.

Bỗng -- không ngờ trước bỗng chốc, bỗng dưng, bỗng đâu, bỗng không, bỗng nhiên, nhẹ bỗng.

Bở -- mềm, dễ rời ra bở rẹt, đất bở; --được lợi dễ dàng kiếm được món bở, béo bở, tưởng bở.

Bỡ -- ngỡ ngàng, lúng túng bỡ ngỡ.

Bởi -- nhân vì, nguyên cớ bởi đâu, bởi thế, bởi vậy, bởi vì.

Bỡn -- đùa, giỡn, trêu bỡn cợt, đùa bỡn, dễ như bỡn, nói bỡn mà hóa thật.

Bủa -- vây chung quanh bủa giăng, bủa lưới, bủa vây.

Bủn -- nát, ươn cá bủn, thịt bủn; --rời rã, thối chí bủn rủn tay chân; --nhỏ nhen, keo kiết bủn xỉn.

Bủng -- da xanh bủng, mặt bủng da chì.

Buổi -- một phần ngày buổi sáng, trưa, chiều, nửa buổi, buổi lễ, ngày hai buổi, thời buổi.

Bửa -- sả ra, bổ ra bửa cau, bửa củi, bửa khúc.

Bữa -- buổi ăn bữa ăn, bữa cháo bữa rau --một ngày bữa nay, bữa nọ, bữa kia, mỗi bữa, mấy bữa rày.

Bửng -- ngăn chận ván bửng, đắp bửng.

Bưởi -- múi bưởi, trái bưởi, bưởi Biên Hòa.

Bửu / Bảo -- quý báu bửu bối, bửu quyến, bửu tháp, bát bửu.



C -

Cả -- cả cười, cả gan, cả giận, cả kinh, cả làng cả nước, cả mô, cả nhà, cả lũ, cả nể, cả quyết, cả sợ, cả thảy, cả vợ lẫn chồng, cả vú lấp miệng em, anh cả, biển cả, cao cả, cây cao bóng cả, con cả, chả đi đâu cả, đến cả, giá cả, già cả, kẻ cả, vợ cả, mặc cả, ruộng cả ao liền, ông hương cả, tất cả.

Cải -- loại rau lớn lá cải bắp, cải bẹ xanh, cải rổ, cây cải trời, củ cải --thay đổi cải biến, cải cách, cải chính, cải dạng, cải hóa, cải hối, cải huấn, cải lương, cải tạo, cải tổ, cải táng, cải tiến, cải thiện, cải trang, cải lão hoàn đồng.

Cãi -- chống lại cãi bừa, cãi bướng, cãi cọ, cãi lẫy, cãi lộn, cãi nhau, cãi vã, bàn cãi, trạng sư cãi trước tòa.

Cảy -- lắm, khá dơ cảy, trộng cảy.

Cảm -- dám, không sợ cảm tử, dũng cảm, quả cảm --biết bằng cảm tính cảm động, cảm giác, cảm hóa, cảm hứng, cảm kích, cảm mến, cảm nghĩ, cảm ơn, cảm phục, cảm tạ cảm tình, cảm tưởng cảm thông, cảm ứng, cảm xúc, ác cảm, đa cảm, giao cảm, mặc cảm, tình cảm, thiện cảm thương cảm; --nhiễm phải cảm gió, cảm hàn, cảm mạo, cảm nắng.

Cản -- ngăn lại, chống cản đường, cản ngăn, cản trở, truy cản.

Cảng -- bến tàu, bến xe hải cảng, phi cảng, nhập cảng, xuất cảng, thương cảng, xa cảng, Hương-Cảng (Hongkong); --tiếng đồ sành bể cổn cảng, lảng cảng.

Cảnh -- bờ cỏi nhập cảnh, xuất cảnh --phòng giữ, báo tin cảnh binh, cảnh bị, cảnh cáo, cảnh giác, cảnh sát, cảnh tỉnh, cảnh vệ; --hình sắc, sự vật trước mắt cảnh éo le, cảnh huống, cảnh khổ, cảnh ngộ, cảnh sắc, cảnh trạng, cảnh trí, cảnh tượng, cảnh vật, bối cảnh, hoàn cảnh, phong cảnh, quang cảnh, tả cảnh, tình cảnh, tức cảnh.

Cẳn -- cằn nhằn cẳn nhẳn.

Cẳng -- chân ba chân bốn cẳng, chỏng cẳng, chưn cẳng, nhà cao cẳng, cẳng ghế, giậm cẳng kêu trời, chó con kêu cẳng cẳng.

Cẩm -- quý cẩm bào, cẩm nang, cẩm thạch, cẩm tú, thập cẩm, bông cẩm nhung, màu lá cẩm, cây cẩm lai, nói lẩm cẩm.

Cẩn -- khảm vào cẩn ốc xa cừ, tủ cẩn; --dè dặt, cung kính cẩn cáo, cẩn mật, cẩn phòng, cẩn tín, cẩn thận, cẩn trọng, bất cẩn, kính cẩn, tín cẩn, hợp cẩn giao bôi.

Cẩu -- không cẩn thận cẩu thả; --chó cẩu trệ, cẩu tặc, hải cẩu, tranh vân cẩu; --cậu ấy cẩu vừa đi ra.

Cỏ -- cỏ cây, cỏ rác, bãi cỏ, đông như kiến cỏ, giặc cỏ, ma cỏ, nhổ cỏ, rau cỏ.

Cỏi -- cứng cỏi.

Cõi -- cảnh, vùng cõi âm, cõi biên thùy, cõi chết, cõi đời, cõi lòng, cõi tiên, cõi trần, cõi tục, làm vua một cõi, bờ cõi, còm cõi, già tới cõi.

Cỏm -- ki cỏm, cỏm rỏm.

Cỏn -- con nhỏ ấy cỏn vừa đi với thẳng; -- nhỏ nhít cỏn con.

Cõng -- mang trên lưng, chị cõng em, cõng rắn cắn gà nhà.

Cổng -- cửa ngõ cổng làng, cổng xe lửa, đóng cổng, gác cổng, kín cổng cao tường.

Cổ -- cô ấy; --bộ phận của cơ thể cổ chân, cổ họng, cổ tay, cắt cổ, kiền cổ, mắc cổ, ngóng cổ, ngửa cổ, rút cổ, cứng cổ; --nước cốt trầu cổ trầu; --xưa, cũ kỹ cổ điển, cổ hủ, cổ lệ, cổ lỗ sĩ, cổ kim, cổ kính, cổ ngữ, cổ nhân, cổ sơ, cổ sử, cổ thụ, cổ tích, cổ truyền, cổ văn, hoài cổ, khảo cổ; cổ đông, cổ phần, cổ võ, cổ phiếu, cổ động, cổ xuý, cổ quái, bịnh cổ trướng.

Cỗ -- cỗ xe, cỗ quan tài cỗ bài tứ sắc; --một bàn ăn ăn cỗ, dọn cỗ, cỗ cưới mâm cao cỗ đầy, tiếng chào cao hơn cỗ.

Cổi -- lột bỏ, tháo ra cổi áo, cổi giáp, cổi giày, cổi trần, cổi gỡ, cổi mở.

Cỗi -- còi, già cằn cỗi, cây đã cỗi, đất cỗi, già cỗi; --gốc, cội cỗi rễ.

Cổn -- tiếng khua cổn cảng, lổn cổn.

Cỡ -- loại, độ, chừng cỡ chừng, cỡ nào? lỡ cỡ, quá cỡ, đủ các cỡ, mắc cỡ, vừa cỡ.

Cởi -- xem chữ Cổi

Cỡi, Cưỡi -- ngồi trên lưng cỡi cổ, cỡi hạc về trời, cỡi ngựa, cỡi sóng, cỡi trâu, cỡi xe đạp.

Cỡn -- động cỡn, ngắn cũn cỡn.

Củ -- củ ấu, củ cải, củ gừng, củ hành, củ khoai, củ mì, củ nghệ, củ sắn, củ tỏi; --có tổ chức, nền nếp việc làm có quy củ.

Cũ -- không còn mới cũ kỹ, cũ mèm, cũ rích, cũ xì, quê cũ làng xưa, ngựa quen đường cũ, tình xưa nghĩa cũ.

Của -- chỉ quyền sở hữu của cải, của chìm, của nổi của tôi, của gian, lắm của, của gia bảo, của hồi môn, của đáng tội, ỷ của, của phi nghĩa.

Củi -- thân, cành cây để đốt củi đuốc, củi lửa, củi quế gạo châu, chở củi về rừng, con bửa củi.

Cũi -- lồng để nhốt nhốt tù vào cũi, tháo cũi sổ lồng.

Củm -- cắp ca cắp củm.

Cũn -- ngắn khó coi mặc quần áo cũn cỡn.

Củng -- lủng củng, củng cố.

Cũng -- cùng, như nhau cũng bằng, cũng bởi, cũng được, cũng khá, cũng nên, cũng phải, cũng vậy, cũng xong.

Cuỗm -- chiếm và mang đi trộm cuỗm đồ đạc, cuỗm vợ người ta.

Cử -- cử chỉ, cử đảnh, cử động, cử hành, cử lên, cử nhân, cử quân, cử tọa, cử tri, bầu cử, công cử, đề cử, thi cử, tuyển cử, ứng cử, nhất cử lưỡng tiện.

Cữ -- lúc, thời kỳ cữ ghiền, cữ rét, làm cữ, uống thuốc chận cữ; --kiêng, cấm cữ ăn, cữ mỡ, cữ thịt, cữ rượu, cữ tên, kiêng cữ, ở cữ, đàn bà đẻ nằm cữ.

Cửa -- lối thông để ra vào cửa ải, cửa biển, cửa hiệu, cửa công, cửa hàng, cửa lá sách, cửa nẻo, cửa ngõ, cửa sông, cửa sổ, cửa tử, cửa thiền, cửa Phật, cạy cửa, đóng cửa, gài cửa, gõ cửa, mở cửa, cửa Khổng sân Trình, nhà cửa, ngưỡng cửa, chết một cửa tứ, răng cửa, trổ cửa, vé vô cửa.

Cửi -- máy dệt canh cửi, dệt cửi, khung cửi, mắc cửi.

Cưỡi -- xem Cỡi

Cửng -- nhảy nhót nhảy cà cửng.

Cưỡng -- tên chim con chim cưỡng; --bắt ép cưỡng bách, cưỡng bức, cưỡng chế, cưỡng chiếm, cưỡng dâm, cưỡng đoạt, cưỡng ép, cưỡng gian, cưỡng hành, cưỡng hiếp, miễn cưỡng.

Cửu -- chín cửu chương, cửu huyền, cửu ngũ, cửu phẩm, cửu trùng, cửu tuyền, sông Cửu Long; --lâu vĩnh cửu, trường cửu.

Cữu -- cái hòm di cữu, linh cữu.



Ch -

Chả -- tiếng than cha chả! --không, chẳng chả dám, chả nhẽ; --cha ấy thằng chả; --tên thức ăn chả cá, chả lụa, chả giò, chả quế, bún chả, khô lân chả phụng; --bả vai chả vai .

Chã -- lệ rơi lã chã.

Chải -- gỡ cho suôn chải chuốt, chải đầu, chải giày, chải gỡ, chải tóc, cái bàn chải, bươn chải.

Chãi -- vững chãi.

Chảy -- di chuyển thành dòng chảy máu, chảy xối, chảy ròng ròng, chảy xiết, thùng lủng chảy re, nấu cho chì chảy.

Chảng -- nhánh cây chảng hai, nắng chảng như thiêu.

Chảnh -- làm bộ chảnh.

Chảo -- để chiên, rang, xào chảo đụn, chảo sắt, chảo gan, chiên áp chảo.

Chão -- thứ dây lớn đánh chão, dai như chão.

Chẵn -- số nguyên, trọn chẵn cặp, chẵn chòi, chẵn chục, ngày chẵn, chẵn một trăm.

Chẳng -- chả, không chẳng bao giờ, chẳng bù, chẳng bõ, chẳng cùng, chẳng cứ, chẳng cần, chẳng hạn, chẳng lẽ, chẳng mấy khi, chẳng những, chẳng qua, chẳng thà, chẳng trách, cực chẳng đã.

Chẫm -- hoãn, chậm chẫm rãi.

Chẩn -- xác định chẩn bịnh, chẩn đoán, chẩn mạch; --trợ giúp chẩn bần, chẩn tế; --lấy bớt chẩn bớt tiền lương, ăn chẩn tiền huê hồng, bịnh ban chẩn.

Chẩu -- chúm và trề môi chẩu mỏ đấu láo, chẩu môi, chẩu mồm.

Chẻ -- tách ra theo chiều dọc chẻ củi, chẻ lạt, chẻ nan, chẻ làm đôi, chẻ nhỏ ra, chẻ rau muống, chẻ tre, tính chẻ sợi tóc làm hai.

Chẽ -- chặt chẽ.

Chẻm -- cá chẻm, bà con chem chẻm.

Chẽn -- quần áo chật mặc áo chẽn; --vách ngăn tấm chẽn dừng.

Chễm -- ngồi chễm chệ.

Chểnh -- chểnh mảng.

Chỉ -- ngăn, cầm cấm chỉ, đình chỉ; --mạng lịnh chỉ dụ, chỉ đạo, chỉ định, chỉ thị, phụng chỉ, sắc chỉ, thánh chỉ; --giấy tờ bài chỉ, chứng chỉ, tín chỉ; --sợi nhỏ để may, thêu chỉ hồng, chỉ len, chỉ tơ, chỉ vải, bắt chỉ, chạy chỉ, kim chỉ, ống chỉ, rút chỉ, canh tơ chỉ vải; --trỏ, hướng về chỉ chọc, chỉ dẫn, chỉ điểm, chỉ giáo, chỉ nam, chỉ nẻo, chỉ rõ, chỉ thiên, chỉ trích, chỉ trỏ, chỉ vẽ, ám chỉ, địa chỉ, tôn chỉ, chăm chỉ, cử chỉ, chỉ huy, ý chỉ, Giao chỉ, coi chỉ tay; --chị ấy ảnh và chỉ; --phạm vi hạn định chỉ có, chỉ là; --1/10 của 1 lượng hai chỉ vàng.

Chĩa -- cuốc chĩa, cây chĩa ba; --trỏ về hướng chĩa súng vào hông, chĩa miệng vào.

Chiểu -- căn cứ vào chiểu chi, chiểu dụ.

Chỉnh -- sửa lại chỉnh bị, chỉnh đốn, chỉnh hình, chỉnh huấn, chỉnh lý, chỉnh tề, chỉnh trang, điều chỉnh, nghiêm chỉnh, tu chỉnh, câu văn chỉnh.

Chĩnh -- giống cái lu chĩnh đựng gạo, chĩnh rượu, chĩnh tương.

Chỏ -- cùi chỏ, cánh chỏ.

Chõ -- nồi 2 tầng có lỗ ở đáy cái chõ để xôi nếp; --xen vào chõ miệng vào, chõ vào chuyện người ta; --chồm ra ngoài nhánh cây chõ ra ngoài.

Choảng -- đánh mạnh choảng vào đầu, choảng nhau kịch liệt.

Chỏi -- chống đỡ chỏi lại, chống chỏi, la chỏi lỏi.

Chỏm -- đỉnh, ngọn chỏm đầu, chỏm núi, lúc còn để chỏm.

Chỏn -- lỏn chỏn.

Chỏng -- giơ cao lên chỏng gọng, lỏng chỏng, nằm chỏng cẳng.

Chõng -- giường tre nhỏ chõng tre, giường chõng, lều chõng.

Chổng -- vổng lên chổng gọng, chổng khu, chổng mông, ghe chổng mũi, thằng chổng chết trôi.

Chỗ -- nơi chốn chỗ hay, chỗ dở, chỗ làm, chỗ nào, chỗ ngồi, chỗ ở, chỗ anh em với nhau, đàn bà nằm chỗ, lỗ chỗ.

Chổi -- đồ dùng để quét chổi chà, chổi lông gà, sao chổi, rượu chổi.

Chỗi -- chỗi dậy, chỗi bước.

Chổm -- lổm chổm, nợ như chúa chổm.

Chở -- chuyển đi chở chuyên, chở hàng, chở củi về rừng, che chở, chớn chở.

Chởm --n họn bén chơm chởm, lởm chởm.

Chủ -- kẻ đứng đầu chủ bút, chủ chốt, chủ động, chủ hôn, chủ hụi, chủ khảo, chủ mưu, chủ não, chủ sở, chủ sự, chủ tọa, chủ tịch, chủ trì, bá chủ, giáo chủ, minh chủ; --người có quyền sở hữu chủ điền, chủ hãng, chủ nhà, chủ nhân, chủ tiệm, điền chủ, nghiệp chủ, sở hữu chủ; --có chủ trương chủ chiến, chủ đề, chủ đích, chủ hòa, chủ kiến, chủ lực, chủ nghĩa, chủ tâm, chủ ý, chủ yếu, chủ nhật, chủ quan, chủ quyền, dân chủ, phản chủ, khổ chủ, tín chủ, thân chủ, thí chủ.

Chuẩn -- sửa soạn chuẩn bị, chuẩn chi, chuẩn đích, chuẩn hành, chuẩn miễn, chuẩn nhận, chuẩn phê, chuẩn tướng chuẩn úy, chuẩn y, tiêu chuẩn.

Chủm -- tiếng kêu khi rớt vào nước rớt nghe cái chủm.

Chủn -- ngắn, lùn thấp chủn, ngắn chủn.

Chủng -- giống, loại chủng loại, chủng sinh, chủng tộc, chủng viện, binh chủng, dị chủng, diệt chủng, đồng chủng; --trồng chủng đậu, chủng tử.

Chuỗi -- hột xỏ xâu chuỗi bồ đề, chuỗi hổ, chuỗi ngọc, xâu chuỗi; --thời gian chuỗi ngày, chuỗi sầu.

Chuyển -- làm thay đổi chuyển biến, chuyển bụng, chuyển động, chuyển mưa, lay chuyển, luân chuyển, uyển chuyển --dời, gởi đi chuyển di, chuyển đạt, chuyển đệ, chuyển giao, chuyển hoán, chuyển hướng, chuyển ngân, chuyển nhượng, chuyển tả, chuyển tiếp, chuyển vận, thuyên chuyển.

Chữ -- ký hiệu ghi tiếng nói chữ Hán, chữ hiếu, chữ ký, chữ nho, chữ nôm, chữ nghĩa, chữ quốc ngữ, chữ tòng, chữ trinh, chữ viết tháu, hay chữ, mù chữ, không có một đồng một chữ.

Chửa -- có thai có chửa có nghén, bụng mang dạ chửa, chửa năm một, chửa hoang; --chưa chửa được, chửa rồi, chửa xong.

Chữa -- trị, cứu chữa bịnh, chữa cháy, chữa trị, chạy chữa; --sửa lại chữa lỗi, chữa thẹn, bào chữa, sửa chữa.

Chửi -- nói lời xúc phạm chửi bới, chửi bông lông, chửi đổng, chửi mắng, chửi rủa, chửi thề, chửi tưới, chửi xối, chửi xiên chửi xéo.

Chửng -- nuốt chửng (nuốt trộng), té bổ chửng.

Chững -- chưa vững chững chạc, chững chàng, chập chững, lững chững.

Chưởng -- chưởng ấn, chưởng khế, chưởng lý, chưởng quản, chấp chưởng, phim chưởng, tiểu thuyết chưởng.

Edited by user Saturday, January 25, 2014 1:21:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#37 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:19:38 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


D -

Dả -- dư dả

Dã -- làm cho bớt dã độc, dã lã, dã rượu; --buồn, mệt dã dượi; --chỗ hoang, quê mùa dã chiến, dã man, dã sử, dã thú, dân dã, sơn dã, thôn dã, khỉ dã nhân, công dã tràng, dã tâm, trắng dã.

Dải -- có hình dài và hẹp dải áo, dải cờ, dải yếm, dải thắt lưng, dải sông, dải núi, dải đồi, dải đất.

Dãi -- nước miếng chảy nước dãi, dễ dãi, thèm nhỏ dãi, mũi dãi lòng thòng, dãi dầu mưa nắng.

Dãy -- hàng dài liền nhau dãy nhà, dãy núi, dãy phố, dãy dinh thự, hai dãy ghế.

Dãn / Giãn -- tăng độ dài dây cao su dãn (giãn), dãn (giãn) gân cốt.

Dão -- nước nhì, đã lạt mùi nước mắm dão, trà dão, nước cốt dão, cà phê dão.

Dẫm -- dò dẫm, dọa dẫm. Xem thêm Giẫm, Giẵm.

Dẩn -- câu hỏi dớ dẩn.

Dẫn -- dắt đi, đưa đến, dẫn chứng, dẫn dụ, dẫn đạo, dẫn điện, dẫn độ, dẫn đường, dẫn giải, dẫn hỏa, áp dẫn, chỉ dẫn, chú dẫn, tiến dẫn, tiểu dẫn, dẫn thủy nhập điền.

Dẩu -- dữ lắm nhiều dẩu, dẩu lên; --chìa môi ra dẩu mồm ra chê ít.

Dẫu -- dầu, dù dẫu cho, dẫu mà, dẫu rằng, dẫu sao.

Dẫy -- có nhiều lắm đầy dẫy.

Dẻ -- da dẻ, mảnh dẻ, hột dẻ.

Dẽ -- sát xuống, hết xốp dẽ cứng, dẽ dặt, dẽ khắt, đất đã dẽ.

Dẻo -- mềm mại, bền dai dẻo dai, dẻo nhẹo, dẻo sức, mềm dẻo bánh dẻo, gạo dẻo cơm.

Dể -- không kính nể, khinh dể ngươi, khi dể, khinh dể

Dễ -- không khó dễ bảo, dễ chịu, dễ coi, dễ dãi, dễ dàng, dễ dạy, dễ dầu gì, dễ dúng gì, dễ gì, dễ hôn! dễ ợt, dễ sợ, dễ tánh, dễ thường.

Dỉ -- hé, hở dỉ hơi, dỉ lời, dỉ răng, dỉ tai; --nói tắt chữ "dì ấy" dỉ là vợ của dưởng.

Dĩ -- dĩ chí, dĩ hạ, dĩ hậu, dĩ lỡ dĩ nhiên, dĩ vãng, dạn dĩ, gia dĩ, khả dĩ, sở dĩ, bất đắc dĩ, hột ý dĩ, dĩ ân báo oán, dĩ đông bổ tây, dĩ hòa vi quý, dĩ thực vi tiên .

Dĩa -- dĩa hát, dĩa nhạc, chén dĩa, đánh sóc dĩa.

Diễm -- đẹp rực rỡ diễm lệ, diễm phúc, diễm tình, kiều diễm.

Diễn -- diễn biến, diễn binh, diễn ca, diễn dịch, diễn đàn, diễn đạt, diễn giả, diễn giải, diễn giảng, diễn kịch, diễn nghĩa, diễn tả, diễn tiến, diễn thuyết, diễn tuồng, diễn từ, diễn văn, diễn viên, diễn võ, diễn xuất, biểu diễn, thao diễn, trình diễn.

Dĩnh/ Đĩnh -- thông minh dĩnh đạt (đĩnh đạt), dĩnh ngộ (đĩnh ngộ).

Dõi -- tiếp nối theo dòng dõi, nối dõi, dõi gót, theo dõi.

Dỏm -- dí dỏm.

Dỏng -- dựng thẳng lên dỏng tai nghe, chó dỏng đuôi, dong dỏng cao.

Dõng -- mạnh mẽ dõng dạc, đứng dõng lưng

Dỗng -- trần truồng ở truồng chồng dỗng.

Dỗ -- dụ, khuyên dỗ dành, dỗ ngọt, cám dỗ, dạy dỗ, dụ dỗ, khuyên dỗ.

Dỗi -- giận dỗi, hờn dỗi.

Dổm -- xem Dởm

Dở -- đỡ lên cao, mở ra dở bổng, dở hỏng lên, dở sách ra; --trổ ra, lòi ra dở thói vũ phu, dở trò; --không hay dở ẹt, dở mạt, dở quá, dở tệ, giỏi dở, hay dở; --lỡ chừng dở bữa, dở chừng, dở hơi, dở dang, bỏ dở, lỡ dở; --không rõ tính dở dở ương ương, dở khóc dở cười, dở khôn dở dại, dở người dở ngợm, dở ông dở thằng, dở sống dở chết.

Dỡ -- lấy ra dỡ cơm, dỡ chà, dỡ nón, dỡ nhà, dỡ khoai, dỡ tốc, dỡ từng món, bốc dỡ hàng hoá, càn dỡ (càn rỡ).

Dởm -- giả, không tốt đồ dởm không bền, mua lầm hàng dởm.

Dũa -- Giũa dũa cưa, dũa móng tay, giũa cưa, giũa móng tay.

Dũng -- mạnh, can đảm dũng cảm, dũng lực, dũng lược, dũng mãnh, dũng sĩ, dũng tướng, anh dũng, trí dũng.

Duỗi -- giãn ra duỗi cẳng, duỗi tay, duỗi thẳng ra.

Dữ -- hung bạo dữ ác, dữ dằn, dữ dội, dữ quá, dữ tợn, giận dữ, hung dữ, thú dữ; --quá lắm độc dữ, mắc dữ, nhiều dữ, xấu dữ, dữ kiện (xem thêm Giữ).

Dửng -- dựng lên dửng tóc gáy; --động lên dửng mỡ; --không lo tới dửng dưng.

Dưỡng -- nuôi dưỡng bịnh, dưỡng dục, dưỡng đường, dưỡng già, dưỡng khí, dưỡng lão, dưỡng mẫu, dưỡng nhi, dưỡng sinh, dưỡng sức, dưỡng tâm, dưỡng thai, dưỡng thân, dưỡng tử, an dưỡng, bảo dưỡng, bổ dưỡng, bồi dưỡng, cấp dưỡng, dung dưỡng, điều dưỡng, hoạn dưỡng, phụng dưỡng, tiếp dưỡng cha sinh mẹ dưỡng.



Đ -

Đả -- đánh đả đảo, đả động tới, đả hổ, đả kích, đả phá, đả thông, đả thương, ấu đả, ẩu đả, đả đớt, đon đả.

Đã -- đã đời, đã đành, đã giận, đã khát, đã lắm, đã qua, đã rồi, đã xong, đã vậy thì, đã giỏi lại ngoan; --tiếng bảo ngưng khoan đã! chờ hết mưa đã! nghỉ cái đã! rồi làm tiếp, cực chẳng đã.

Đãi -- thết, xử với đãi bôi, đãi đằng, đãi khách, đãi ngộ, bạc đãi, biệt đãi, chiêu đãi, đối đãi, khoản đãi, ngược đãi, tiếp đãi, trọng đãi, đãi lịnh, ưu đãi; --trễ nải huỡn đãi, giải đãi; --sàng để gạn lọc đãi sạn, đãi cát tìm vàng, bòn tro đãi trấu, đồn đãi.

Đãy -- túi to bằng vải đãy gấm, đãy gạo, cắp đãy, mang đãy, chim già đãy.

Đảm -- nhận trách nhiệm đảm bảo, đảm đang, đảm đương, đảm nhiệm; --gan dạ đảm lực, đảm lược, can đảm, khiếp đảm.

Đản -- Phật đản, huỳnh đản, quái đản.

Đảng -- phe, bọn đảng cướp, đảng bộ, đảng phái, đảng trị, đảng viên; bè đảng, chính đảng, phe đảng.

Đãng -- đãng trí, đãng tử, du đãng, lơ đãng, phóng đãng, khoáng đãng.

Đảnh -- phần cao nhứt đảnh núi, đảnh đầu; đỏng đảnh.

Đảo -- quay lộn vị trí đảo điên, đảo lộn, đảo ngược, lừa đảo; --nghiêng ngả, đổ đảo chánh, đảo loạn, áp đảo, khuynh đảo; --cù lao bán đảo, hòn đảo, quần đảo.

Đẵm -- lội trong nước trâu đẵm bùn.

Đẵn -- chặt từng đoạn đẵn cây, đẵn mía, đẵn khúc, đẵn tre.

Đẵng -- kéo dài ròng rã đằng đẵng mấy năm trời

Đẳng -- bậc, tầng đẳng cấp, đẳng hạng, bình đẳng, cao đẳng, đồng đẳng, sơ đẳng, trung đẳng, đăng đẳng, ở đẳng, ghế đẳng, đeo đẳng.

Đẫm -- ướt nhiều đẫm máu, đẫm mồ hôi, ướt đẫm; bé đi lẫm đẫm.

Đẫn, Đẵn -- chặt ra từ khúc từ đẫn; lẫn đẫn lờ đờ.

Đẩu -- ghế đẩu; sao Bắc Đẩu.

Đẩy -- xô mạnh, xô ra đẩy cửa, đẩy lui, đẩy ra, đẩy xe, đẩy mạnh, xô đẩy, đưa đẩy, chối đây đẩy.

Đẫy -- hơi to, hơi mập đẫy đà, người béo đẫy.

Đẻ -- sanh nở đẻ chửa, đẻ con so, đẻ non, sanh đẻ, ngày sanh tháng đẻ, tiền cho vay đẻ lời, nói đỏ đẻ, tiếng mẹ đẻ.

Đẽ -- đẹp đẽ.

Đẻn -- tên rắn

Đẻo -- lẻo đẻo.

Đẽo -- vạt bằng búa đẽo gọt, đẽo gỗ, đẽo khoét chặt đẽo, đục đẽo.

Để -- nhường lại để lại giá bao nhiêu? --lưu lại để bụng, để dành, để của, để giống, để phần, để gia tài lại cho vợ con, vết thương để lại thẹo; --bỏ, thôi nhau vợ chồng để bỏ nhau; --chịu để tang, để chế; --cầm thế để áp, để đương; --chỉ mục đích cơm để ăn, nhà để ở; --thêm vào để dành, để muối, để ớt, để tiêu; --đặt vào vị trí để đâu? đễ trên bàn, để trong tủ, để chỏm, để (đề) kháng, để lộ ra, để râu, để tâm, để ý, đại để, triệt để.

Đễ -- kính nhường bậc anh hiếu đễ.

Đễnh -- lơ đễnh.

Đểu -- lừa đảo gian trá đểu cáng, đểu giả, chơi đểu.

Đĩ -- gái mãi dâm đĩ điếm, đĩ thõa, đĩ tính, làm đĩ, thói đĩ bợm.

Đỉa -- con đỉa hút máu đỉa mén, đỉa trâu, đeo như đỉa đói, dai như đỉa, giãy như đỉa phải vôi.

Đĩa -- dĩa để đựng thức ăn chén đĩa, đơm cơm ra đĩa, thi ném đĩa, đĩa nhạc.

Điểm -- điểm binh, điểm chỉ, điểm danh, điểm huyệt, điểm mặt, điểm tâm, điểm trang, điểm tựa, chấm điểm, chỉ điểm, cực điểm, tóc điểm bạc, địa điểm, giao điểm, khởi điểm, kiểm điểm, nhược điểm, quan điểm, tô điểm, trang điểm, ưu khuyết điểm, yếu điểm trống điểm canh.

Điển -- điển chế, điển chương, điển cố, điển hình, điển mại, điển tích, ân điển, cổ điển, kinh điển, từ điển, tự điển cây điên điển.

Điểu -- loài chim ác điểu, đà điểu, hải điểu.

Đỉnh -- phần cao nhất đỉnh chung, đỉnh đầu, đỉnh núi, chút đỉnh, cử đỉnh, tuyệt đỉnh, cây đủng đỉnh.

Đĩnh -- xem chữ Dĩnh

Đỏ -- màu hồng sậm đỏ au, đỏ bừng, đỏ chói, đỏ chót, cuộc đỏ đen, lúc đỏ đèn, đỏ gay, đỏ hoe đỏ hoét, đỏ lòm, đỏ lững, đỏ ngầu, đỏ ối, đỏ rực, đỏ ửng, số đỏ, vận đỏ.

Đoản -- ngắn đoản côn, đoản đao, đoản hậu, đoản kiếm, đoản kỳ, đoản mạng, đoản số, sở đoản, ăn ở đoản hậu, đoản thiên tiểu thuyết.

Đỏi -- dây to để buộc tàu buộc đỏi, dây đỏi, đứt đỏi, hụt đỏi, thả đỏi.

Đỏm-- làm đỏm.

Đỏng -- đỏng đảnh làm cao.

Đổ -- đổ bác, đổ bể, đổ bộ, đổ chuông, đổ dồn, đổ đồng, đổ giận, đổ hào quang, đổ khùng, đổ kiểng, đổ lỗi, đổ lửa, đổ máu, đổ mồ hôi, đổ nát, đổ nhào, đổ quạu, đổ riệt, đổ ruột, đổ tội, đổ tháo, đổ thừa, đổ trút, đổ vãi, đổ vạ, đổ vỡ, đổ xô, bán đổ bán tháo, sụp đổ, nước đổ đầu vịt, sập đổ, trống đổ hồi, tứ đổ tường; Tam nguyên Yên Đổ.

Đỗ -- các thứ đậu hột xôi đỗ, hạt đỗ; --họ Đỗ; --trúng tuyển kỳ thi đỗ đạt, đỗ trạng, thi đỗ;--ghé lại, đậu lại đỗ xe lại, đỗ thuyền lại; --loài chim đỗ quyên.

Đổi -- thay đi, dời đi đổi chác, đổi dời, đổi mới, đổi phiên, biến đổi, đổi trắng thay đen, đắp đổi, sửa đổi, trao đổi, vật đổi sao dời.

Đỗi -- không đến đỗi, quá đỗi, đi một đỗi khá xa.

Đổng -- đổng binh, đổng lý, chửi đổng, nhảy đông đổng; Phù Đổng Thiên Vương.

Đỡ -- trợ giúp đỡ dậy, đỡ đần, đỡ đẻ, bà đỡ (bà mụ), giúp đỡ, nâng đỡ, cha mẹ đỡ đầu; --hứng lấy, đón đỡ đòn, đỡ gạt, đỡ lời, đỡ ngăn, đỡ vớt, bợ đỡ; --giảm bớt đỡ bịnh, đỡ đói, đỡ khổ, đỡ ngặt, đỡ tốn, tạm đỡ.

Đởm -- xem Đảm.

Đủ -- không thiếu đủ ăn, đủ dùng, đủ điều, đủ loại, đủ lông đủ cánh, đủ số, đủ sức, đủ thứ, đông đủ, đu đủ, thiếu đủ.

Đũa -- 2 que dùng để gắp đũa bếp, đũa con, đậu đũa, chơi đánh đũa, cây so đũa, trả đũa.

Đuổi -- tống đi đuổi cổ, đuổi xô, xua đuổi --rượt theo đuổi bắt kẻ trộm, đeo đuổi, theo đuổi.

Đủng -- cây đủng đỉnh.

Đũng -- đũng quần.

Đững -- lững đững lờ đờ.



E -

Ẻn -- ỏn ẻn.

Ẻo -- dáng đi ẻo lả, trù ẻo.

Ẽo -- võng kêu ẽo ẹt.

Ể -- muốn bịnh, ể mình muốn cảm.

Ễnh -- phình bụng ra ễnh bụng, con ễnh ương .



G -

Gả -- kết hôn cho con gái gả con, gả cưới, gả bán.

Gã -- người đàn ông gã thiếu niên, gã kia.

Gãi -- cào nhẹ trên da gãi chỗ ngứa, gãi sồn sột, gãi đầu gãi tai, gãi ghẻ.

Gảy, Gẩy -- khảy đàn gảy đàn, đàn gảy tai trâu. Xem Khảy.

Gãy, Gẫy -- đứt rời ra gãy gánh giữa đường, té gãy xương, bẻ gãy, trâm gãy bình rơi; --rành mạch gãy gọn.

Gẫm -- ngẫm, nghĩ kỹ gạt gẫm, suy gẫm sự đời.

Gẫu -- góp chuyện cho vui tán gẫu, bàn gẫu.

Ghẻ -- bịnh ngoài da ghẻ chốc, ghẻ hờm, ghẻ lở, ghẻ ngứa, ghẻ phỏng, gãi ghẻ; --không phải ruột thịt cha ghẻ, mẹ ghẻ, dì ghẻ, dượng ghẻ, con ghẻ; --đối xử lạnh nhạt ghẻ lạnh.

Giả -- không thực giả bộ, giả cầy, giả chước, giả danh, giả dạng, giả dối giả đò, giả mạo, giả sử, giả tảng, giả tạo, giả thiết, giả thuyết, giả thử, giả tỉ, giả trang, giả trá, giả vờ, bạc giả, thiệt hay giả? --kẻ, người diễn giả, độc giả, học giả, ký giả, khán giả, soạn giả, sứ giả, tác giả, thính giả, thức giả, trưởng giả, vương giả, ác giả ác báo, giả lả, hoặc giả, khá giả.

Giả -- hoàn lại, xem Trả.

Giã -- giã biệt, giã gạo, giã từ, giặc giã, giòn giã, giục giã, thuốc giã độc.

Giải -- nói rõ, thoát ra khỏi giải đáp, giải nghĩa, giải thích, giải bài toán, biện giải, chú giải, giảng giải, phân giải, giải cứu, giải lời thề, giải oan, giải ngũ, giải tỏa, giải nghệ, giải phóng, giải thoát, giải trừ, giải vây --tranh thưởng giải thưởng, tranh giải, giựt giải quán quân; --đưa đến nơi nào đó giải giao, giải tù, áp giải; --làm cho dịu bớt giải buồn, giải độc, giải hòa, giải khát, giải khuây, giải khổ, giải lao, giải sầu, giải nhiệt, giải phiền, mồm loa mép giải, giải pháp, giải phẫu, giải quyết, giải tán, giải thể, giải trí.

Giãi -- bày tỏ lòng mình giãi tỏ, giãi bày tâm sự, giãi dạ trung thành, giãi bày nỗi oan ức.

Giãy, Giẫy -- cựa quậy mạnh giãy chết, giãy đành đạch, giãy giụa, giãy nảy, giãy tê tê, giãy khóc, cá giãy trên thớt.

Giảm -- làm cho bớt giảm bịnh, giảm giá, giảm hình, giảm khinh, giảm sút, giảm thọ, giảm tội, giảm thiểu, giảm thuế, ân giảm, tăng giảm, tài giảm, thuyên giảm, gia giảm.

Giản -- sơ lược, dễ hiểu giản dị, giản lược, giản tiện, giản yếu, đơn giản, Phan Thanh Giản.

Giãn -- co giãn, nới giãn, thun giãn (xem thêm Dãn).

Giảng -- giải thích giảng bài, giảng dạy, giảng đạo, giảng đường, giảng giải, giảng hòa, giảng sư, giảng viên.

Giảo -- gian xảo, lọc lừa giảo hoạt, giảo quyệt, gian giảo; --thắt, cột giảo ải (thắt cổ mà chết) giảo quyết, xử giảo --so sánh giảo giá, giảo tự.

Giãy -- cựa quậy mạnh cá giãy trên thớt, giãy chết, giãy giụa, giãy nảy.

Giẵm, Giẫm -- đạp lên giẵm bấy, giẵm bẹp, giẵm bùn, giẵm chân, giẵm nát, giẵm lên.

Giẫy -- cào cho sạch giẫy cỏ, giẫy mả; giẫy giụa (giãy giụa), giẫy nẩy (giãy nãy).

Giẻ -- vải cũ để lau chùi giẻ lau, giẻ rách, nùi giẻ, xé giẻ.

Giễu -- đùa bỡn, làm trò giễu cợt, chế giễu, hề giễu, nói giễu.

Giỏ -- đồ đan để đựng giỏ bội, giỏ cá, giỏ cần xé.

Giỏi -- có tài, hay giỏi giang, giỏi giắn, học giỏi, mạnh giỏi, tài giỏi.

Giỏng -- đưa lên con chó giỏng đuôi lên, giỏng tai mà nghe.

Giỗ -- lễ cúng ngày chết giỗ chạp, giỗ quải, giỗ tổ, đám giỗ, ăn giỗ.

Giở -- mở ra giở từng trang sách, giở mánh khóe lừa bịp, giở thủ đoạn, giở trò, giở giọng đe dọa --trở giở chứng (trở chứng), giở mình (trở mình) giở mặt (trở mặt) giở quẻ (trở quẻ) giở giời (trở trời).

Giỡn -- đùa, chọc cho vui giỡn cợt, giỡn chơi, giỡn hớt, giỡn mặt, cười giỡn, đùa giỡn, nói giỡn, trững giỡn (Xem Rỡn).

Giũ -- rung cho sạch giũ áo, giũ bụi, giặt giũ, giũ sạch nợ trần, chim giũ lông, Ngọc Hoàng giũ sổ (xem thêm Rũ).

Giũa -- mài cho láng cái giũa, mài giũa, giũa cưa, giũa móng tay.

Giữ -- cất lấy, theo đúng giữ của, giữ giá, giữ gìn, giữ kẽ, giữ lễ, giữ miếng, giữ mình, giữ ý, cầm giữ, canh giữ, chống giữ.

Giữa -- trung tâm giữa chừng, giữa dòng, giữa đường, giữa tháng, giữa vời, chính giữa, cửa giữa, kẽ giữa, khúc giữa.

Gõ -- đập nhẹ vào cho ra tiếng gõ cửa, gõ mõ, gõ nhịp; --loại gỗ quý cây gõ (gỗ gụ), bộ ngựa gõ

Gỏi -- tên món ăn ăn gỏi, gỏi gà, gỏi sứa, gỏi tôm thịt.

Gỏng -- gắt gỏng.

Gổ -- gây gổ.

Gỗ -- gỗ quý, gỗ gụ, gỗ tạp, đốn gỗ, khúc gỗ, tượng gỗ.

Gở -- điềm không lành điềm gở, nói gở, quái gở.

Gỡ -- làm cho hết rối gỡ rối, gỡ đầu, gỡ tội; --vớt lại gỡ canh bạc, gỡ gạc, gỡ thua, cạy gỡ.

Gởi, Gửi -- gởi gắm, gởi lại, gởi thơ, gởi rể, gởi lời thăm, gởi thân đất khách, gởi trứng cho ác, chọn mặt gởi vàng, ăn gởi nằm nhờ.

Gũi -- gần gũi.

Edited by user Saturday, January 25, 2014 1:20:41 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#38 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:23:14 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


H -
Hả -- tiếng hỏi vậy hả? tới rồi hả? --tiếng cười cười ha hả, hỉ hả; --mở ra đau chân hả miệng, hả miệng mắc quai; --thỏa lòng hả dạ, hả giận, hả hê, hả hơi, hả lòng.

Hải -- biển hải cảng, hải chiến, hải đảo, hải lý, hải ngoại, hải phận, hải quan, hải quân, hải sản, hải tặc, hải triều, đại hải, hàng hải; --tên cây hải đường; --tên xứ Hải Dương, Hải Phòng, Long Hải, Phước Hải.

Hãi -- sợ hãi hùng, kinh hãi, sợ hãi.

Hãm -- ép bức đễ hại hãm địch, hãm đồn, hãm hại, hãm hiếp, hãm tài, hãm thành, hãm trận; --giữ lại, cầm lại cầm hãm, giam hãm, hãm xe lại, hãm máy.

Hãn -- mồ hôi phát hãn, xuất hãn; --hung dữ hung hãn; --ít có hãn hữu.

Hảng -- bộ hỉnh hảng (điếc), đứng chàng hảng.

Hãng -- nhà buôn lớn hãng buôn, hãng tàu, hãng xưởng.

Hảnh -- hé trời hảnh nắng.

Hãnh -- hãnh diện, kiêu hãnh.

Hảo -- tốt hảo hán, hảo hạng, hảo sự, hảo tâm, hảo ý, bất hảo, hòa hảo, tuyệt hảo.

Hão -- vô ích lo hão, tiếc hão, hão huyền.

Hãy -- tiếng sai bảo hãy chăm học, hãy cẩn thận, hãy gác bỏ ngoài tai --vẫn hãy còn, trời hãy còn mưa --tạm thời hãy biết thế đã.

Hẳm -- hõm sâu xuống bực hẳm, hẳm đứng.

Hẩm -- hư, hết ngon gạo nầy đã hẩm; --không ai để ý hẩm hiu, hẩm hút; dọa hẩm, hâm hẩm.

Hẳn -- hẳn hoi, ắt hẳn, bỏ hẳn, chắc hẳn, điều đó đã hẳn, bịnh chưa dứt hẳn, không hẳn như thế, xong hẳn.

Hẵng -- tiếng bảo: hãy hẵng làm việc nầy đã! rồi hẵng hay! ăn xong hẵng đi!

Hẩy -- đẩy ra, hất ra hẩy đít, hẩy tay ra, gió hây hẩy.

Hẻ -- đường hở nhỏ lỗ hẻ, kẹt hẻ, ngồi chè hẻ.

Hẻm -- lối đi hẹp đường hẻm, ngõ hẻm, xó hẻm, nhà ở trong hẻm, hang cùng ngõ hẻm.

Hẻo --v ắng hẻo lánh.

Hể -- thỏa lòng, vui vẻ nói cười hể hả.

Hễ -- nếu mà hễ mà, hễ có tiền thì mua được.

Hển -- thở nhiều thở hào hển, thở hổn hển.

Hỉ -- hỉ hả, hỉ mũi, hỉ sự, hỉ tín, hỉ xả, báo hỉ, cười hi hỉ, cung hỉ, hoan hỉ, hủ hỉ, song hỉ, chi rứa hỉ? vui quá hỉ!

Hiểm -- nguy, độc hiểm ác, hiểm địa, hiểm độc, hiểm họa, hiểm hóc, hiểm nghèo, hiểm nguy, hiểm trở, hiểm yếu, bụng hiểm, chỗ hiểm, ớt hiểm, thâm hiểm, thoát hiểm.

Hiển -- sáng sủa, vẻ vang hiển đạt, hiển hách, hiển hiện, hiển linh, hiển nhiên, hiển thánh, hiển vi, hiển vinh.

Hiểu -- thấu rõ, biết hiểu biết, hiểu lầm, hiểu ngầm, chậm hiểu, dễ hiểu, thông hiểu.

Hỉnh -- phồng lên hỉnh mũi, mùi hinh hỉnh.

Hỏ -- ngồi chò hỏ.

Hoả -- lửa, gấp hoả bài, hoả công, hoả châu, hoả diệm sơn, hoả đầu quân, hoả hoạn, hoả lò, hoả lực, hoả mai, hoả mù, hỏa ngục, hỏa pháo, hoả tai, hoả táng, Hoả Tinh, hoả tiễn, hoả thiêu, hoả tốc, hoả xa, Bà hoả, cứu hoả, dẫn hoả, dầu hoả, hương hoả, phát hoả, phóng hoả, tá hoả, tàu hoả.

Hoải -- mệt mỏi bải hoải.

Hoãn -- chậm lại, không gấp hoãn binh, hoãn dịch, hoãn đãi, hoà hoãn, tạm hoãn, trì hoãn.

Hoảng -- sợ sệt hoảng hồn hoảng vía, hoảng hốt, hoảng sợ, khủng hoảng, kinh hoảng, la hoảng, mê hoảng.

Hoãng, Hoẵng -- loại hưu nhỏ chạy mau như hoẵng.

Hoảnh -- ráo nước ráo hoảnh.

Hỏi -- xin cho biết hỏi cung, hỏi han, hỏi tội, hỏi thăm, hỏi vợ, ăn hỏi, lễ hỏi, tra hỏi, xét hỏi, bánh hỏi, chõi hỏi, dấu hỏi, đòi hỏi, vay hỏi.

Hỏm -- lõm sâu và hẹp sâu hỏm, hỏm xuống.

Hõm -- khuyết sâu vào mắt hõm vì thiếu ngủ.

Hỏn -- đỏ lợt trẻ mới sanh đỏ hỏn.

Hỏng -- hư, thi rớt hỏng bét, hỏng mất, hỏng thi, hỏng việc, xôi hỏng bỏng không; --cao khỏi mặt đất hỏng cẳng, nhẹ hỏng, dở hỏng, treo hỏng lên.

Hổ -- thẹn, tủi hổ ngươi, hổ thẹn, tủi hổ, xấu hổ; --cọp hổ báo, mãnh hổ, hổ khẩu, hổ phách, bảng hổ đề danh, làm hùm làm hổ, cao hổ cốt, rắn hổ.

Hỗ -- lẫn nhau hỗ tương, hỗ trợ, hỗ giá viên.

Hổi -- nóng còn lên hơi bánh còn nóng hổi.

Hỗi -- hồi nãy (nói tắt) hỗi giờ (hồi nãy tới bâygiờ) hỗi ôi!

Hổm -- hôm ấy bữa hổm, hổm rày.

Hổn -- thở hổn hển.

Hỗn -- vô lễ, xấc láo hỗn ẩu, hỗn hào, hỗn láo, hỗn xược, làm hỗn, nói hỗn; --lộn xộn hỗn chiến, hỗn độn, hỗn hợp, hỗn loạn, hỗn tạp.

Hổng -- không kín trống hổng, lỗ hổng; --không nói hổng được, hổng biết.

Hở -- không kín hở cửa, hở hang, hở môi, hở răng, để hở, hăm hở, hớn hở, kẽ hở, khe hở, lỗ hở, sơ hở, áo hở lưng, làm không hở tay.

Hỡ -- hực hỡ.

Hởi -- vui dạ hởi dạ, hởi lòng.

Hỡi -- tiếng than hỡi ôi! hỡi đồng bào! trời ơi đất hỡi.

Hởn -- vui mừng hí hởn.

Hủ -- cũ kỹ hủ bại, hủ hỉ, hủ hoá, hủ lậu, hủ nho, hủ tiếu, hủ tục, đậu hủ.

Hũ -- lu nhỏ bé miệng hũ gạo, hũ mắm, hũ rượu, cổ hũ cau, cổ hũ dừa.

Hủi -- hất hủi, cùi hủi, phong hủi.

Hủng -- lún xuống chỗ hủng.

Hủy -- phá, bỏ hủy bỏ, hủy diệt, hủy hoại, hoài hủy, phá hủy, thiêu hủy, tiêu hủy.

Huyễn -- huyễn hoặc, đồn huyễn.

Hử -- hở? hả? đi đâu hử? không đi hử? mới về tới hử?

Hữ -- ừ hữ, hữ hẽ.

Hửng -- hừng trời hửng sáng, hí hửng.

Hững -- hững hờ.

Hưởng -- có được cho mình hưởng dụng, hưởng lạc, hưởng lộc, hưởng phước, hưởng thụ, hưởng ứng, ảnh hưởng, âm hưởng, cộng hưởng.

Hữu -- có hữu danh, hữu dụng, hữu duyên, hữu hạn, hữu hình, hữu ích, hữu sản, hữu tài, chấp hữu, chiếm hữu, cố hữu, cộng hữu, quyền sở hữu, hữu xạ tự nhiên hương; --bên tay mặt hữu dực, hữu ngạn, hữu phái, cực hữu, tả hữu; --anh em bạn ái hữu, bằng hữu, đạo hữu, giáo hữu, tình bằng hữu, hữu nghị.

Hỷ, Hỉ -- hỷ sự, hỷ tín, hỷ xả, báo hỷ, cung hỷ, hoan hỷ, song hỷ; hỷ hả, hỷ mũi, vui quá hỷ.



I -


Ỉ -- hơi ướt ẩm ỉ, i ỉ, ỉ ỉ; --ngầm ngầm đau âm ỉ, trời âm ỉ; --kêu than năn nỉ ỉ ôi.

Ĩ -- ầm ĩ, òn ĩ.

Ỉa -- đi tiêu, đại tiện ỉa chảy.

Ỉm -- cửa đóng im ỉm

Ĩnh -- con ĩnh ương ãnh ương

Ỉu -- bị ẩm làm cho mềm iu ỉu.



Y -


Ỷ -- cậy thế, dựa vào ỷ giàu, ỷ giỏi, ỷ lại, ỷ tài, ỷ quyền, ỷ thế, ỷ y.

Yểm -- trợ giúp yểm hộ, yểm trợ; --ém, ếm yểm bùa, yểm tài, yểm trừ

Yểu -- chết non yểu tướng, chết yểu; --mềm mại thướt tha yểu điệu.



K -


Kẻ -- người kẻ cả, kẻ cắp, kẻ gian, kẻ hèn, kẻ nghèo, kẻ thù; --vẽ, gạch hàng kẻ chữ, kẻ lông mày, giấy có kẻ hàng, thước kẻ; --bới ra kẻ vạch, tánh ưa kẻ xấu người ta.

Kẽ -- khe nhỏ, chỗ hở kẽ cửa, kẽ tay, cặn kẽ, giữ kẽ, xen kẽ.

Kẽm -- kim loại trắng dây kẽm gai, mái kẽm, mỏ kẽm, thùng bằng kẽm, tiền kẽm, tráng kẽm.

Kẻng -- diện sang ăn mặc kẻng.

Kẻo -- không thế thì phải chăm học kẻo dốt, mau mau kẻo trễ.

Kẽo -- tiếng võng kẽo kẹt.

Kể -- thuật lại, coi như kể chuyện, kể chết, kể công, kể lể, kể như, kể ơn, kể ra, kể rõ, kể trên, chẳng kể, cứ kể là, khóc kể, không đáng kể.

Kỉa -- hôm kỉa hôm kia.

Kiểm -- xem lại, soát lại kiểm chứng, kiểm duyệt, kiểm điểm, kiểm đốc, kiểm kê, kiểm lại, kiểm lâm, kiểm nghiệm, kiểm nhận, kiểm soát, kiểm thảo, kiểm tra.

Kiểng -- cảnh, cây nhỏ cây kiểng, chơi kiểng, trồng kiểng, kiểng chùa, một kiểng hai quê; --chuông nhà thờ đổ kiểng, kiểng chuông báo hiệu.

Kiễng -- nhón kiễng chân, kiễng gót.

Kiểu -- kiểu cách, kiểu cọ, kiểu mẫu, kiểu vở, chén kiểu, dĩa kiểu.

Kĩu -- tiếng võng đưa kĩu kịt.

Kỉnh -- kính, tôn trọng kỉnh làm anh, kỉnh nhường.

Kỷ, Kỉ -- kỷ vật, kỷ yếu, kỷ lục; --thân mình ích kỷ, tự kỷ, tri kỷ, vị kỷ; --phép tắc bắt buộc kỷ luật, kỷ cương; --chỉ thời gian kỷ niệm, kỷ nguyên, niên kỷ, thế kỷ, Kỷ Dậu, Kỷ Sửu; --ghế ngồi, mâm nhỏ ghế trường kỷ, kỷ trà.

Kỹ, Kĩ -- nghề kỹ nghệ, kỹ sư, kỹ thuật, kỹ xảo; --gái đĩ thõa kỹ nữ, ca kỹ, kỹ viện; --mất nhiều công kỹ càng, kỹ lưỡng, nhìn kỹ, ăn no ngủ kỹ.



Kh -


Khả -- có thể khả ái, khả dĩ, khả kính, khả năng, khả nghi, khả ố, khả quan, bất khả kháng, vô kế khả thi.

Khải -- khải hoàn, khải hoàn môn

Khảy -- khảy đờn, khảy móng tay; cười khảy.

Khảm -- khảm xa cừ, khảm vàng, tâm khảm, quẻ Khảm.

Khản -- khô ráo khản cổ, khản tiếng.

Khảng -- ăn nói khảng khái.

Khảnh -- nhỏ thó dáng người mảnh khảnh.

Khảo -- tra xét khảo chứng, khảo cổ, khảo của, khảo cứu, khảo duyệt, khảo giá, khảo hạch, khảo nghiệm, khảo sát, khảo thí, khảo xét, chủ khảo, giám khảo, phúc khảo, sơ khảo, tra khảo.

Khẳm -- nặng và đầy thuyền chở khẳm.

Khẳn -- khẳn tính (gắt gỏng); mùi khăn khẳn.

Khẳng -- gầy còm khẳng kheo, khẳng khiu; --thừa nhận là đúng khẳng định.

Khẩn -- khai phá đất hoang khẩn điền, khẩn hoang, khai khẩn, trưng khẩn; --cầu xin khẩn cầu, khẩn khoản, khẩn nguyện, khẩn yếu; --gấp khẩn cấp, khẩn thiết, khẩn trương, thượng khẩn, tối khẩn.

Khẩu -- miệng khẩu cung, khẩu đại bác, khẩu hiệu, khẩu khí, khẩu lịnh, khẩu phần, khẩu phật tâm xà, khẩu súng, khẩu thiệt, khẩu truyền, khẩu ước, khẩu thuyết vô bằng, khẩu vị, á khẩu, hải khẩu, cấm khẩu, cửa khẩu, già hàm lão khẩu, hộ khẩu khai khẩu, nhân khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu.

Khẻ -- đánh cho bể lần lần khẻ lần, khẻ miểng sành; --đánh nhẹ vào phạt khẻ tay, khẻ chân.

Khẽ -- nhè nhẹ khẽ gật đầu, nói khẽ, hỏi khẽ, khe khẽ.

Khểnh -- nằm khểnh, răng khểnh, đi khấp khểnh.

Khểu -- đi khất khểu.

Khỉ -- khỉ cùi, khỉ dộc, khỉ đột, khỉ khô, khỉ khọn, khỉ mốc, rõ khỉ, thằng khỉ, nơi khỉ ho cò gáy, rung cây nhát khỉ, cây cầu khỉ.

Khỉa -- liên tiếp thua khỉa ba bàn, trúng khỉa hai bàn.

Khiển -- sai khiến, trách điều khiển, khiển trách, tiêu khiển.

Khiễng -- bên cao bên thấp khiễng chân, khập khiễng.

Khỉnh -- kháu khỉnh, khinh khỉnh.

Khỏ -- đánh nhẹ vào khỏ cửa, khỏ đầu, khỏ mõ, khỏ nhịp.

Khoả -- khoả nước, khoả mặt, khỏa cho bằng mặt, khoả lấp, khuây khoả, khoả thân.

Khoải -- khắc khoải.

Khoản -- khoản đãi, bồi khoản, điều khoản, khẩn khoản, lưu khoản, tài khoản, tồn khoản, từng khoản.

Khoảng -- khoảng cách, khoảng đời, khoảng ba giờ khuya, khoảng chừng, khoảng đường, khoảng trống, khoảng thời gian, khoảng khoát.

Khoảnh -- khoảnh đất, khoảnh khắc, khoảnh ruộng, thành khoảnh.

Khoẻ -- mạnh, không đau khoẻ ăn, khoẻ khoắn, khoẻ mạnh, khỏe ru, khoẻ thân, bổ khoẻ, sức khoẻ, người bịnh đã khoẻ, nghỉ khoẻ, thuốc khoẻ.

Khỏi -- không còn khỏi bịnh, khỏi cần, khỏi lo, khỏi nói, khỏi sợ, chạy khỏi, đi khỏi, qua khỏi, thoát khỏi, tránh khỏi, trốn khỏi, tai qua nạn khỏi.

Khỏng -- lỏng khỏng

Khổ -- khổ ải, khổ chủ, khổ công, khổ dịch, khổ giấy, khổ hạnh, khổ hình, khổ não, khổ nạn, khổ nhọc, khổ nhục, khổ sai, khổ sở, khổ tâm, khổ thân, khổ vải, bề khổ, bể khổ, cùng khổ, cơ khổ, cực khổ, cứu khổ, đồ khổ, gian khổ, hẹp khổ, khắc khổ, khốn khổ, khuôn khổ, lao khổ, nỗi khổ, nghèo khổ, quá khổ, rộng khổ, tố khổ, sầu khổ, trái khổ qua.

Khổn -- nguy khổn, vây khổn.

Khổng -- Khổng Tử, Khổng Minh, Khổng giáo, Khổng Mạnh, cửa Khổng sân Trình; khổng lồ; --không khổng (hổng) chịu.

Khởi -- bắt đầu khởi chiến, khởi công, khởi đầu, khởi điểm, khởi hành, khởi hấn, khởi loạn, khởi nghĩa, khởi phát, khởi sự, khởi thảo, khởi thủy, khởi tố, khởi xướng, hứng khởi, phấn khởi, quật khởi, sơ khởi, mừng khấp khởi.

Khuẩn -- vi khuẩn.

Khủng -- sợ hãi khủng bố, khủng hoảng, khủng khiếp, kinh khủng.

Khuyển -- chó khuyển mã, khuyển ưng.

Khuỷnh -- khuỷnh đất (xem Khoảnh).

Khuỷu -- khuỷu tay, đường đi khúc khuỷu

Khử -- trừ, bỏ đi khử độc, khử tà, trừ khử, khử thổ, khử trùng.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#39 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:28:05 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


L -

Lả --yếu sức đói lả, mệt lả; --không đứng đắn lả lơi, lả lúa, lả lướt, ẻo lả; --rách, tét té lả đầu gối; --rời rạc mưa rơi lả tả.

Lã -- nước lã, làm ăn lỗ lã, lệ rơi lã chã.

Lải -- nói lải nhải.

Lãi -- lỗ lãi, lời lãi, tiền lãi, lấy công làm lãi, cho vay nặng lãi, lãi suất; --giun trong ruột lãi đũa, lãi kim, sán lãi, sên lãi, con lãi.

Lảy, Lẩy --dùng tay tách ra lảy bắp, lảy đậu, lảy lá, lảy cò súng.

Lảm -- nói lảm nhảm, nhai lổm lảm.

Lãm -- duyệt lãm, lịch lãm, nhàn lãm, triển lãm.

Lãn -- thợ lãn công đòi lên lương

Lảng -- lảng cảng, lảng ồ, lảng tai, lảng nhách, lảng tránh, lảng vảng, lảng xẹt, lảng sang chuyện khác, lảng đi nơi khác, lơ lảng, khuây lảng, lỉnh lảng, xao lảng, bảng lảng.

Lãng -- không bó buộc lãng du, lãng đãng, lãng mạn, lãng phí, lãng quên, lãng tử.

Lảnh -- âm thanh cao lanh lảnh, lảnh lót.

Lãnh -- lãnh chúa, lãnh cung, lãnh đạm, lãnh giáo, lãnh hội, lãnh lương, lãnh nợ, lãnh thổ, lãnh thưởng, lãnh vực, bản lãnh, bảo lãnh, cương lãnh, hàng lãnh, phát lãnh, quần lãnh; --chức quan lãnh binh, lãnh sự; --đứng đầu lãnh đạo, lãnh tụ, thống lãnh, thủ lãnh.

Lảo -- lảo đảo.

Lão -- già lão ấu, lão bá, lão bộc, lão gia, lão già, lão khẩu, lão luyện, lão phu, lão thành, lão trượng, cây đã lão, dưỡng lão, nguyệt lão, ra lão, trưởng lão; Lão Tử, Lão giáo.

Lảu -- thuộc làu lảu thông, thuộc lảu.

Lẳn -- săn chắt béo lẳn, đôi vai tròn lẳn; lẳn mẳn.

Lẳng -- lẳng lặng, khu lẳng, lủng lẳng, lẳng nhẳng; --khêu gợi lẳng lơ, cặp mắt lẳng, cười lẳng, tánh lẳng.

Lẳm -- giữ chặt lăm lẳm.

Lẩm -- lẩm bẩm, lẩm nhẩm, lẩm rẩm, chưa già mà đã lẩm cẩm.

Lẫm -- ắp lẫm, lẫm lúa, lẫm liệt, mới biết đi lẫm đẫm, oai phuông lẫm lẫm.

Lẩn -- lẩn khuất, lẩn lút, lẩn núp lẩn quẩn, lẩn quất, lẩn thẩn, lẩn tránh, lẩn trốn.

Lẫn -- cả tôi lẫn anh, giúp lẫn nhau, trộn lẫn; --lầm lộn, hay quên già lẫn, lẫn lộn, lầm lẫn, lú lẫn, nói lẫn.

Lẩu -- lẩu cá, lẩu lươn, nấu lẩu, ăn nói lẩu bẩu.

Lẩy -- run lẩy bẩy, lẩy cò súng, lẩy (trích ra) một câu Kiều.

Lẫy -- lẫy lừng, lộng lẫy, cãi lẫy, nói lẫy, lẫy nỏ, giận lẫy.

Lẻ -- không đủ đôi lẻ bạn, lẻ bầy, lẻ loi, lẻ tẻ, bán lẻ, chẵn lẻ, tiền lẻ, một trăm lẻ năm, số lẻ.

Lẽ -- lấy lẽ, phận lẽ mọn, vợ lẽ, lặng lẽ; --cái lý phải vậy lẽ dĩ nhiên, lẽ nào, lẽ phải lẽ ra, lẽ sự, lẽ thường, cãi lẽ, có lẽ, chẳng lẽ, đủ lẽ, hợp lẽ, không lẽ, lý lẽ, quá lẽ, trái lẽ.

Lẻm -- bén lắm sắc lẻm, lem lẻm.

Lẻn -- lén, lỏn đi lẻn trốn, lẻn đi mất, trộm lẻn vào nhà; --rụt rè cười lỏn lẻn, bộ xẻn lẻn.

Lẽn -- dáng hổ thẹn bẽn lẽn.

Lẻng kẻng -- tiếng khua

Lẻo -- lẻo lự, lẻo mép, hớt lẻo, lỏng lẻo, mách lẻo, thèo lẻo, chối leo lẻo, nước trong leo lẻo.

Lẽo -- lạnh lẽo, lạt lẽo, lẽo đẽo.

Lể -- dùng vật nhọn cạy lên cắt lể, lể gai, lể mụn, lể ốc bà thầy lể đẹn, dùng kim lể cái dằm ra, kể lể.

Lễ -- có phép tắc lễ độ, lễ phép, giữ lễ, ngày lễ, nghỉ lễ, thi lễ; --đem tài vật để cầu lễ cưới, lễ hỏi, lễ lộc, lễ vật, dâng lễ, sính lễ, lễ mễ --bày tỏ kính ý lễ bái, lễ bộ, lễ giáo, lễ nghi, lễ nghĩa, lễ nhạc, lễ phục, hành lễ, miễn lễ, tế lễ, thất lễ, vô lễ.

Lễn -- lễn thễn

Lểnh -- lểnh lảng, sâu bò lểnh nghểnh.

Lểu -- nhọn lểu, lểu ngoài da, may lểu mũi kim, lểu lảo, bập lểu.

Liễm -- nguyệt liễm, niên liễm, hưu liễm, thâu liễm.

Liễn -- liễn trướng, liễn đối, viết liễn, treo liễn, dán liễn, đôi liễn cẩn.

Liểng -- thua xiểng liểng.

Liễu -- liễu ngõ hoa tường, liễu bồ, liễu yếu đào tơ, bông tai lá liễu, dương liễu, mày lá liễu, bịnh hoa liễu, kết liễu.

Lỉnh -- lỉnh kỉnh, lỉnh lảng, lỉnh nghỉnh, láu lỉnh, nó lỉnh đâu mất rồi?

Lĩnh, Lãnh -- lĩnh giáo, lĩnh hội, lĩnh lương, lĩnh nợ, lĩnh ý, lĩnh thưởng, lĩnh vực, liều lĩnh, quần lĩnh.

Lỏ -- trợn lên lỏ mắt ngạc nhiên.

Lõ -- lồi lên, ló ra mũi lõ.

Loã -- loã lồ, loã thể, đồng loã, tóc loã xoã. (Để ý dấu "ngã" phải nằm trên chữ "o", tức là "lõa", không phải "loã". Có lẽ dấu bị đổi từ nguồn rồi!)

Loãng -- không đặc mực loãng, máu loãng, pha loãng, cháo loãng.

Lỏi -- len lỏi, lòn lỏi, luồn lỏi, trọi lỏi, thằng lỏi con.

Lõi -- lõi cây, lõi bắp, lõi đời, lọc lõi, ăn chơi đã lõi, lõi dầu hơn giác gụ, tiếng Nôm Lõi.

Lỏm -- lén lút học lỏm, nghe lỏm.

Lõm -- thụt vào má lõm đồng tiền, rơi lõm bõm, lõm chuối, giữa lõm, lồi lõm.

Lỏn -- lỏn cửa sau, lỏn chỏn, lỏn đi, lỏn lẻn, lỏn tỏn, lỏn vào, thon lỏn, quần xà lỏn.

Lỏng -- lỏng chỏng, lỏng khỏng, lỏng ngỏng, lỏng le, lỏng lẻo, cái lỏng bỏng, buộc lỏng, cháo lỏng, đặc lỏng, giam lỏng, nắm lỏng, thả lỏng, mối dây lỏng,

Lõng -- nồi canh lỏng bỏng, lõng thõng, lạc lõng. (Để ý: "nồi canh lõng bõng, không phải "lỏng bỏng"! Chắc là typo từ nguồn!)

Lổng -- lổng chổng, lêu lổng, trống lổng.

Lỗ -- bùa lỗ ban, lỗ đầu, lỗ nẻ, lỗ hang, lỗ hổng, lỗ kim, lỗ lã, lỗ lời, lỗ mãng, lỗ miệng, lỗ mộng, lỗ mũi, lỗ tai, đồ lỗ bộ, đào lỗ, giùi lỗ, khoét lỗ, lủng lỗ, thô lỗ, xoi lỗ, gần xuống lỗ, ăn bữa giỗ lỗ bữa cày.

Lỗi --sai, điều quấy lỗi duyên, lỗi đạo làm con lỗi hẹn, lỗi lạc, lỗi lầm, lỗi thời, cung đàn lỗi nhịp bắt lỗi, chữa lỗi, chịu lỗi, đổ lỗi, hối lỗi, phạm lỗi, sửa lỗi, tha lỗi, thứ lỗi, tội lỗi, xin lỗi.

Lổm -- lổm chổm, lổm ngổm lổm lảm.

Lổn -- lổn ngổn, khua lổn cổn.

Lở -- sứt ra, rớt ra núi lở, đê lở, vỡ lở, xoi lở trời long đất lở; --bị ghẻ khoét lở loét, lở lói, ghẻ lở.

Lỡ -- lỡ bữa, lỡ bước, lỡ cỡ, lỡ cuộc, lỡ chừng, lỡ dịp, lỡ dở, lỡ duyên, lỡ đường, lỡ làng, lỡ lời, lỡ thời, lỡ tay, lỡ tàu, lỡ lầm, dĩ lỡ.

Lởm -- đá lởm chởm.

Lởn -- lởn vởn.

Lũ -- bè lũ, cả lũ, lam lũ, lũ lụt, mưa lũ, lũ kiến đàn ong, lũ lượt, nước lũ, từng lũ.

Lủa -- lủa tủa .

Lủi -- lủi đi, lủi mất, lủi vô bụi, lủi thủi, lủi trốn, lằm lủi, trụi lủi, rau húng lủi.

Luỗi -- mệt quá sức đói luỗi, mệt luỗi.

Lủm -- ăn gọn cả miếng bốc lủm, làm không đủ lủm.

Lủn -- ngắn, vụn, nhỏ. áo ngắn lủn củn, thấp bé lủn củn, lủn mủn lẳn mẳn.

Lũn -- mềm lũn (mềm nhũn)

Lủng -- lủng lẳng, lủng lỉnh, nội bộ lủng củng, đồ đạc lủng củng, câu văn lủng củng, lung lơ lủng lưởng; --thủng lủng lỗ, chọc lủng, đâm lủng, xoi lủng, quần lủng đáy.

Lũng -- thung lũng, lũng đoạn.

Luỹ -- tích luỹ, luỹ thừa, luỹ tiến, luỹ tre xanh; --thành, rào chiến luỹ, đồn luỹ, hào luỹ, thành luỹ. (Để ý dấu ngã phải ở trên chữ "u", tức là "lũy", không phải "luỹ". Cũng cùng loại trục trặc ở nguồn)

Lử -- (lả) đói lử, mệt lử, nhọc lử, say lử.

Lữ -- lữ điếm, lữ đoàn, lữ hành, lữ khách, lữ quán, lữ thứ, lữ xá, quân lữ.

Lửa -- lửa củi, lửa dục, lửa hận, lửa lòng, lửa trại, bén lửa, binh lửa, chữa lửa, dế lửa dầu lửa, dừa lửa, đá lửa, kiến lửa, nảy lửa, núi lửa, nằm lửa, nhạy lửa, xe lửa, nhúm lửa, bò cạp lửa, rắn hổ lửa, thổi lửa, thử lửa, tánh nóng như lửa.

Lữa -- cứ lần lữa mãi.

Lửng -- bỏ lửng, lấp lửng, lơ lửng, lưng lửng, quên lửng, ăn lửng dạ, treo lửng lơ.

Lững -- mặt đỏ lững (đỏ lưỡng), sưng đỏ lững, lững chững, lững đững lờ đờ, lắc lơ lắc lững, lơ lững, lững lờ, đi lững thững, lững thờ lững thững.

Lưỡi -- lưỡi bào, lưỡi cày, lưỡi gà, lưỡi câu, lưỡi cưa, lưỡi lê, lưỡi dao, lưỡi gươm, lưỡi hái, lưỡi khoan, lưỡi không xương, trăng lưỡi liềm, đầu môi chót lưỡi, miệng lằn lưỡi mối, nón lưỡi trai, cá lưỡi trâu.

Lưỡng -- đỏ lưỡng, kỹ lưỡng; --hai, một đôi lưỡng ban, lưỡng cực, lưỡng diện, lưỡng lự, lưỡng quyền, lưỡng thể, lưỡng toàn, lưỡng ước, lưỡng viện quốc hội, nhất cử lưỡng tiện, tấn thối lưỡng nan, lưỡng đầu thọ địch.



M -

Mả -- chỗ chôn người chết mả mồ, bốc mả, đào mả, giẫy mả, gà mở cửa mả, mèo mả gà đồng.

Mã -- đồ bằng giấy để đốt cúng đồ mã, đốt mã, hàng mã, thợ mã, vàng mã; --dáng bề ngoài gái ra mã, trổ mã, tốt mã rã đám; --ngựa binh mã, phò mã, kỵ mã, khuyển mã, xe song mã, hát bài tẩu mã, mã thượng anh hùng, trường đồ tri mã lực; --tên cây, tên bịnh cây mã đề, cây mã tiền, bịnh xỉ tẩu mã; --dấu hiệu mật mã, mã số, mã tự; --tên đá quý mã não; --tên xứ Mã-Lai, La-Mã; bắn mã tử, dao mã tấu.

Mải -- ham mê, cứ mải ham chơi, mải học, mải mê, mải miết, mải lo.

Mãi -- luôn luôn, hoài mãi mãi, nói mãi, chờ mãi tới khuya, nghĩ mãi không ra; --mua bán (Mại) mãi dâm, mãi lộ, mãi võ, tạo mãi, thương mãi.

Mảy -- mảy may, mảy lông, ngồi tréo mảy.

Mãn -- trọn, đầy đủ mãn cuộc, mãn đời, mãn hạn, mãn khóa, mãn kiếp, mãn kỳ, mãn nguyện, mãn nhãn, mãn phần, mãn tang, mãn tiệc, bất mãn, nhân mãn, sung mãn, tự mãn, thỏa mãn, viên mãn; Mãn-Châu, Mãn Thanh.

Mảng -- mảng lo chơi quên học, tróc một mảng da, chiếc mảng (cái bè nhỏ), trái mảng cầu, bén mảng, chểnh mảng.

Mãng -- ăn nói lỗ mãng.

Mảnh -- mảnh bằng, mảnh chiếu, mảnh giấy, mảnh giẻ, mảnh gỗ, mảnh gương, mảnh hồng nhan, mảnh khảnh, ăn mảnh, mảnh mai, mỏng mảnh, mảnh vũ y, mảnh vườn, thân hình mảnh dẻ.

Mãnh -- ma mãnh, ông mãnh, ranh mãnh; --mạnh mãnh hổ, mãnh liệt, mãnh lực, mãnh thú, mãnh tiến, dũng mãnh.

Mão -- bao trọn mão hết món hàng, lãnh làm mão, mua mão hết; --mũ đội áo mão, mũ mão; --tuổi Mẹo năm Mão, giờ Mão, tháng Mão, tuổi Mão.

Mẳn -- hơi mặn măn mẳn, cá kho mẳn; --nhỏ lẳn mẳn, tẳn mẳn, tấm mẳn.

Mẩm -- chắc mẩm.

Mẫm -- mập tròn béo mẫm, trâu đực mẫm.

Mẩn -- mê mẩn, tẩn mẩn.

Mẫn -- mẫn cán, mẫn đạt, mẫn tiệp, cần mẫn, minh mẫn, muồi mẫn.

Mẩu -- đoạn ngắn, nhỏ mẩu bánh, mẩu chuyện, mẩu đời, mẩu gỗ.

Mẫu -- mẹ mẫu hạm, mẫu hậu, mẫu hệ, mẫu nghi, mẫu quốc, mẫu số, mẫu thân, mẫu tự, tình mẫu tử, bá mẫu, dưỡng mẫu, hiền mẫu, kế mẫu, lão mẫu, nhũ mẫu, phụ mẫu, sư mẫu, tổ mẫu, từ mẫu; --kiểu mẫu mực, gương mẫu, kiểu mẫu, khuôn mẫu, người mẫu, ra mẫu; --đơn vị đo đất, tên hoa sào mẫu, hoa mẫu đơn.

Mẩy -- mình mẩy.

Mẻ -- sứt, bể chút ít dao mẻ, chén mẻ, khờn mẻ, sứt mẻ; --chuyến, lượt một mẻ cá, kéo một mẻ lưới, bị một mẻ trộm, con mẻ (con mẹ ấy), mát mẻ, mới mẻ.

Mẽ -- mạnh mẽ.

Mễ -- gạo mễ cốc, gạo trầm mễ.

Mỉ -- tỉ mỉ

Mỹ -- mỹ cảm, mỹ lệ, mỹ mãn, mỹ miều, mỹ nhân, mỹ nghệ, mỹ nữ, mỹ sắc, mỹ phẩm, mỹ quan, mỹ thuật, mỹ tửu, mỹ viện, mỹ vị, mỹ ý, hoa mỹ, chân thiện mỹ; Âu Mỹ, Mỹ Châu, mỹ kim, Mỹ Quốc.

Mỉa -- mỉa mai, nói mỉa, cười mỉa.

Miễn -- cho, khỏi, tha miễn chấp, miễn cứu, miễn cưỡng, miễn dịch, miễn lễ, miễn nghị, miễn nhiễm, miễn phí, miễn thuế, miễn tố, miễn tội, miễn trách, miễn trừ, bãi miễn, xá miễn; --chỉ cần ... là được miễn là, miễn sao; --đừng xin miễn vào, miễn hỏi.

Miểng -- mảnh bể nhỏ miểng chén, miểng chai, miểng sành, miểng vùa.

Miễu -- chùa nhỏ, am miễu bà, miễu ông tà, miễu thánh, đình miễu, cao như tre miễu.

Mỉm -- cười hé miệng mỉm cười, mủm mỉm.

Mỏ -- miệng loài thú mỏ chim, mỏ chuột, mỏ heo, quẹt mỏ, khua môi múa mỏ; --vùng đất có khoáng chất mỏ bạc, mỏ chì, mỏ kẽm, mỏ than, mỏ vàng, đào mỏ, hầm mỏ, khai mỏ, phu mỏ; --tên vật mỏ ác, mỏ hàn, mỏ neo, cái mỏ vịt, chim mỏ nhát, nói mắt nói mỏ, mắng mỏ

Mõ -- nhạc khí bằng gỗ chuông mõ, đánh mõ, mõ toà, mõ hồi một, gõ mõ, thằng mõ.

Mỏi -- mệt, rũ riệt mỏi chưn, mỏi cổ, mỏi lưng, mỏi mắt, mỏi mê, mỏi mệt, mỏi miệng, mỏi tay, mong mỏi, mòn mỏi, nhức mỏi.

Mỏm -- phần de ra mỏm đá, mỏm núi, mỏm gành.

Mõm -- miệng loài thú mõm chó, mõm heo.

Mỏn -- hết hơi sức mỏn chí, mỏn hơi, mỏn sức, thỏn mỏn.

Mỏng -- không dầy mỏng dánh, mỏng lét, mỏng manh, mỏng mảnh, mỏng tanh, mỏng te, dày mỏng, giấy mỏng, môi mỏng, phận mỏng, vải mỏng, cam mỏng vỏ.

Mổng -- mông đít to mổng, vêu mổng.

Mổ -- dùng mỏ mà bắt cò mổ cá, gà mổ thóc, chày mổ; --xẻ banh ra khoa mổ xẻ, sả mổ, mổ bụng, mổ ruột, mổ tử thi.

Mỗ -- tôi, tiếng tự xưng như mỗ đây, mỗ tên là ...

Mỗi -- từng cái một mỗi khi, mỗi lần, mỗi lúc, mỗi mỗi, mỗi một, mỗi ngày, mỗi người, mỗi thứ, mỗi việc.

Mở -- tháo ra, khui ra mở banh, mở bét, mở cửa mở đường, mở hàng, mở hé, mở hí, mở hoác, mở hơi, mở lời, mở mang, mở màn, mở mắt, mở miệng, mở rộng, mở toang, mở trói, mở tung, cổi mở, úp mở, mở cuộc điều tra, gà mở cửa mả, mở đầu buổi họp.

Mỡ -- chất béo mỡ bò, mỡ chài, mỡ gà, mỡ gàu, mỡ sa, dầu mỡ, khoai mỡ, lăng mỡ, mạng mỡ, màu mỡ, thắng mỡ, thịt mỡ, tre mỡ, trững mỡ, rán sành ra mỡ, như mèo thấy mỡ.

Mởn -- hơi trắng, tươi, mượt nước da mởn, mơn mởn.

Mủ -- nhựa trong da cây mủ cây, mủ cao su, mủ mít, mủ sung, mủ trôm; --chất độc nơi ghẻ mủ máu, chảy mủ, chích mủ, nặn mủ, cương mủ, ra mủ, làm mủ làm nhọt hoài! --mụ ấy mủ mới vừa đi khỏi.

Mũ -- mão, nón mũ cánh chuồn, mũ ni, mũ lưỡi trai, ngả mũ chào mang râu đội mũ.

Mủi -- mủi lòng.

Mũi -- để thở và ngửi mũi cao, mũi dọc dừa, mũi gãy, mũi hỉnh, mũi dãi, mũi lõ, mũi xẹp, bịt mũi, hỉ mũi, khịt mũi, lỗ mũi, nghẹt mũi, nhảy mũi, nín mũi, sổ mũi, sống mũi, còn mặt mũi nào; --phần nhọn mũi dao, mũi dùi, mũi giày, mũi khoan, mũi kim, mũi lái, mũi nhọn, mũi tàu, lằn tên mũi đạn, chích một mũi thuốc, té chúi mũi.

Muỗi -- con muỗi muỗi cỏ, muỗi đòn xóc, muỗi mòng, đập muỗi, nhang muỗi, ruồi muỗi, thuốc xịt muỗi.

Mủm -- mủm mỉm.

Mủng -- thúng mủng, đi mủng (thuyền nan tròn)

Muỗng -- để múc thức ăn muỗng nỉa, muỗng xúp, muỗng cà phê.

Mửa -- ói vọt, nôn ra buồn mửa, ói mửa, muốn mửa, nôn mửa, ụa mửa, iả mửa, mửa máu, mửa tới mật xanh.

Mửng -- lối, kiểu, điệu quen mửng cũ, cứ cái mửng đó hoài.

Mưỡu -- câu hát thể lục bát ở đầu hoặc cuối bài hát nói.



N -

Nã -- bắn mạnh nã đạn --tìm bắt nã tróc, tầm nã, tập nã, truy nã; Nã-phá-Luân.

Nải -- nhiều trái kết lại nải chuối, trễ nải, tay nải (túi vải có quai đeo).

Nảy -- trổ, phát ra nảy bông, nảy chồi, nảy lộc, nảy lửa, nảy mầm, nảy nở, nảy sanh, nóng nảy.

Nãy -- lúc vừa qua nãy giờ, ban nãy, hồi nãy, khi nãy, lúc nãy.

Nảy, Nẩy -- đưa ra, ễn ra nẩy bụng, nẩy ngực, giật nẩy mình, nẩy ngửa, nung nẩy, cầm cân nẩy mực.

Nản -- ngã lòng, chán nản chí, nản lòng, buồn nản, chán nản.

Nảng -- nàng ấy.

Nảo -- bài viết nháp nảo đơn, nảo thơ, ra nảo.

Não -- buồn, phiền não lòng, não nề, não nùng, não nuột, não ruột, ảo não, khổ não, phiền não, sầu não, thảm não; --óc, trí hóa cân não, chủ não, tâm não, trí não; --loại đá long não, mã não.

Nẳm -- năm ấy (nói tắt)

Nẻ -- nứt ra đất nẻ, lỗ nẻ, nứt nẻ, cười như nắc nẻ.

Nẻo -- chỉ nẻo đưa đường, khắp các nẻo đường.

Nể -- kiêng dè nể lời, nể mặt, nể nang, nể vì, cả nể, kiêng nể, kính nể, vị nể.

Nỉ -- vải dệt bằng lông áo nỉ, mền nỉ, nón nỉ, nỉ non, nài nỉ, năn nỉ.

Nỉa -- muỗng nỉa.

Niểng -- đi xà niểng, xiểng niểng.

Nỉnh -- nủng na nủng nỉnh.

Nỏ -- cái ná bắn nỏ, cung nỏ.

Noãn -- trứng noãn bào, noãn sào.

Nõn -- búp non, đẹp nõn cau, nõn tre, cây mới ra nõn, trắng nõn, nõn nà.

Nổ -- bật thành tiếng nổ bùng, nổ máy, nổ vang pháo nổ, sấm nổ, súng nổ

Nỗ -- nỗ lực

Nổi -- không chìm, nổi bật, nổi bọt, nổi cặn, nổi phình, nổi trôi, chạm nổi, của nổi, ghe nổi, trái nổi, ba chìm bảy nổi; --dậy lên, phát sinh nổi cơn, nổi danh, nổi dậy nổi dông, nổi điên, nổi giặc, nổi giận, nổi hạch, nổi khùng, nổi lửa, nổi loạn, nổi mụn nổi nóng, nổi ốc, nổi sóng nổi vồng, nổi xung; --kham được chịu nổi, làm nổi, trả nổi, vác nổi.

Nỗi -- tình cảnh, tâm trạng nỗi buồn, nỗi lòng, nỗi niềm tâm sự, nỗi sầu, nông nỗi nầy, đường kia nỗi nọ, không đến nỗi nào.

Nổng -- chỗ đất cao gò nổng, nổng cát.

Nở -- gà nở, hoa nở, nảy nở, niềm nở, nức nở, sinh nở, sâu nở, nở mày nở mặt, nở mũi, nở nang, nở gan, nở nhụy khai hoa, nở nụ cười, gà con mới nở

Nỡ -- đành lòng chẳng nỡ, sao nỡ đành, nỡ lòng nào.

Nỡm -- tiếng mắng đồ nỡm!

Nũng -- nhỏng nhẻo nũng nịu, làm nũng.

Nữ -- con gái, đàn bà nữ công, nữ giới, nữ nhi, nữ hoàng, nữ kiệt, nữ lưu, nữ sắc, nữ sinh, nữ sĩ, nữ trang, ái nữ, cung nữ, chức nữ, liệt nữ, mỹ nữ, phụ nữ, thục nữ, trinh nữ

Nửa -- phân nửa nửa buổi, nửa cân, nửa chừng, nửa đêm, nửa đường, nửa giờ, nửa mùa, nửa sạc, nửa vời, nửa nạc nửa mỡ, nửa người nửa ngợm.

Nữa -- hãy còn, chưa hết nữa thôi? còn nữa, chút nữa, hơn nữa, lát nữa, nữa là.

Nữu Ước -- tên thành phố.


- Ng

Ngả -- nẻo, lối đi phân chia đôi ngả, đường chia ba ngả, đi ngả nào? --nghiêng, hạ xuống ngả lưng, ngả mình nằm, ngả mũ chào, ngả nón, ngả nghiêng, ngả ngửa, áo cũ đã ngả màu, bóng ngả xế tà, ngả ngớn, ngả xiêu ngả tó, ngả qụy.

Ngã -- nghiệt ngã; --ta, tôi bản ngã, duy ngã, vô ngã; --nơi có nhiều đường rẽ ngã ba, ngã tư, ngã bảy, trước ngã ba cuộc đời; --té, đổ lăn xuống ngã bịnh, ngã bổ chửng, ngã chổng gọng, ngã chúi, ngã gục, ngã giá, ngã lòng, ngã lăn, ngã lẽ, ngã mặn, ngã lộn phèo, ngã nhào, ngã rạp, ngã ngũ, sa ngã, ngã nước, ngã ngửa, ngã rạp, ngã sấp, vấp ngã, vật ngã, xô ngã, dấu ngã, chị ngã em nâng.

Ngải -- cây thuốc ngải cứu, ngải diệp, ngải mê, ngải nghệ bỏ ngải, bùa ngải, mắc ngải, thầy ngải.

Ngãi -- nghĩa, tình nghĩa nhân ngãi, ân ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. (Xem Nghĩa)

Ngảnh, Ngoảnh -- xoay về một phía nào ngoảnh cổ, ngoảnh đi, ngảnh (ngoảnh) mặt làm lơ.

Ngẳn -- vắn, ngắn cụt ngẳn, ngủn ngẳn.

Ngẵng -- bóp hẹp lại thắt ngẵng cổ bồng.

Ngẩm -- ngán ngẩm, ngứa ngẩm.

Ngẫm -- suy gẫm, nghĩ kỹ ngẫm nghĩ, suy ngẫm, nghiền ngẫm, ngẫm sự đời.

Ngẩn -- đờ ra ngẩn mặt làm thinh, ngẩn người, ngẩn ngơ, ngẩn tò te, ngớ ngẩn.

Ngẩng -- ngửng lên ngẩng cổ, ngẩng đầu, ngẩng mặt, ngẩng nhìn.

Ngẫu -- tình cờ ngẫu duyên, ngẫu hứng, ngẫu hợp, ngẫu nhiên, biền ngẫu, giai ngẫu.

Nghẽn -- không thông nghẽn cổ, nghẽn lối, mắc nghẽn, tắc nghẽn.

Nghẻo -- xem Ngoẻo.

Nghẽo -- cười ngặt nghẽo.

Nghể -- bể nghể muốn bịnh, cây nghể, lá nghể.

Nghễ -- ngạo nghễ.

Nghển -- vương lên nghển cổ, nghển đầu.

Nghễnh -- nghễnh ngãng (điếc tai).

Nghểu -- ngất nga ngất nghểu, nghểu nghến.

Nghễu -- thật cao cao nghễu, nghễu nghện.

Nghỉ -- không làm việc nghỉ chân, nghỉ học, nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ mát, nghỉ ngơi, nghỉ phép, nghỉ việc, nằm nghỉ.

Nghĩ -- suy xét nghĩ bụng, nghĩ cách, nghĩ lại, nghĩ mưu, nghĩ ngợi, nghĩ tình, nghĩ tới, biết nghĩ, lo nghĩ, ngẫm nghĩ, suy nghĩ, thiển nghĩ, thiết nghĩ, trộm nghĩ, ý nghĩ, nghĩ thế nào? thật là khó nghĩ.

Nghĩa -- nghĩa bóng, nghĩa bộc, nghĩa cử, nghĩa đen, nghĩa địa, nghĩa hiệp, nghĩa huynh, nghĩa khí, nghĩa mẫu, nghĩa nữ, nghĩa phụ, nghĩa quân, nghĩa sĩ, nghĩa tử, nghĩa trang, nghĩa vụ, ân nghĩa, bạc nghĩa, bất nghĩa, cắt nghĩa, chánh nghĩa, chữ nghĩa, giải nghĩa, kết nghĩa, lễ nghĩa, phi nghĩa, tín nghĩa, tình nghĩa, tiết nghĩa, trọng nghĩa, trung nghĩa, ý nghĩa.

Nghiễm -- nghiễm nhiên.

Nghĩnh -- ngộ nghĩnh.

Ngỏ -- bày tỏ, không giấu ngỏ lòng, ngỏ lời, ngỏ ý, cửa bỏ ngỏ, thơ để ngỏ.

Ngõ -- lối đi ngõ cụt, ngõ hẻm, ngõ hầu, ngõ hậu, ngõ ngách, ngõ tắt, rào đường đón ngõ; cửa ngõ.

Ngoải -- ngoài ấy ở ngoải, ra ngoải, bịnh còn ngoắc ngoải.

Ngoảy, Nguẩy -- ngoay ngoảy, tréo ngoảy, ngoảy đuôi, ngoe ngoảy.

Ngoảm -- nhai ngổm ngoảm.

Ngoãn -- ngoan ngoãn.

Ngoảnh -- xoay nơi khác ngoảnh đi ngoảnh lại, ngoảnh mặt làm ngơ.

Ngoẳn -- ngủn ngoẳn.

Ngoẻo -- ngoẻo cổ, ngoẻo đầu, chết ngoẻo.

Ngoẻn -- cười ngỏn ngoẻn.

Ngỏm -- chết ngỏm, tắt ngỏm, em bé bò ngỏm dậy.

Ngỏn -- cười ngỏn ngoẻn.

Ngỏng -- vươn cao lên ngỏng cổ nhìn lên, cao ngỏng ngảnh, cao chê ngỏng thấp chê lùn.

Ngõng -- chốt để tra vào lỗ ngõng cối, ngõng cửa.

Ngổ -- táo bạo ngổ ngáo, tánh ngổ; ăn nói ngổ.

Ngỗ -- bướng bỉnh ngỗ nghịch, ngỗ ngược.

Ngổm -- bò lổm ngổm, nhai ngổm ngoảm.

Ngổn -- ngổn ngang.

Ngổng -- cao ngông ngổng, ngổng nghểnh,lổng ngổng

Ngỗng -- loại vịt to, dài cổ ngỗng đực, ngỗng trời, cà kê dê ngỗng.

Ngỡ -- ngỡ ngàng, bỡ ngỡ, ngỡ là, ngỡ rằng.

Ngủ -- ngủ gật, ngủ gục, ngủ khì, ngủ khò, ngủ li bì, ngủ mê ngủ nghê, ngủ nướng, ngủ quên, ngủ say, ngủ thiếp, ngủ vùi.

Ngũ -- số năm ngũ âm, ngũ cốc, ngũ cung, ngũ giác đài, ngũ gia bì, ngũ giới, ngũ hành, ngũ hổ, ngũ kim, tứ thư ngũ kinh, ngũ quan, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng, ngôi cửu ngũ, tam cang ngũ thường; --quân lính cơ ngũ, đào ngũ, đội ngũ, hàng ngũ, nhập ngũ, quân ngũ, tại ngũ, tựu ngũ.

Nguẩy -- ngoe nguẩy, nguây nguẩy.

Ngủi -- ngắn ngủi.

Ngủm, Ngỏm -- chết ngủm, tắt ngủm.

Ngủn -- cụt ngủn, ngắn ngủn, ngủn ngẳn, ngủn ngoẳn.

Nguyễn -- họ Nguyễn.

Nguỷu tiu nguỷu.????

Ngữ -- ngữ học, ngữ pháp, ngữ vựng, biểu ngữ, ngạn ngữ, ngoại ngữ, ngôn ngữ, quốc ngữ, tục ngữ, từ ngữ.

Ngửa -- ngước, trở mặt lên ngửa mặt, dựa ngửa, nằm ngửa, lội ngửa, ngã ngửa, ngang ngửa, nghiêng ngửa, sấp ngửa, té ngửa.

Ngửi -- hửi bằng mũi ngửi hoa, ngửi mùi, ngửi hơi.

Ngửng -- xem Ngẩng.

Ngưởng -- ngất ngưởng.

Ngưỡng -- ngưỡng cầu, ngưỡng cửa, ngưỡng mộ, ngưỡng vọng, ngưỡng trông, chiêm ngưỡng, tín ngưỡng.

Edited by user Saturday, January 25, 2014 1:29:21 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
phamlang  
#40 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:32:09 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,542

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tiep theo
Học thuộc lòng cách viết "hỏi ngã"


Nh

Nhả -- phun ra nhả mồi, tầm nhả tơ, nhả ngọc phun châu; --tróc, rớt ra nhả hồ, nhả sơn; --không lịch sự chớt nhả, nhả nhớt.

Nhã -- nhã giám, nhã nhặn, nhã ý, hoà nhã, nho nhã, khiếm nhã, nhàn nhã, nhục nhã, phong nhã, tao nhã, trang nhã, Bát-Nhã.

Nhải -- lải nhải.

Nhãi -- thằng bé thằng nhãi ranh, thằng nhãi con.

Nhảy, Nhẩy -- nhảy bậc, nhảy bổ, nhảy cà tưng, nhảy cửng, nhảy dù, nhảy dựng, nhảy đầm, nhảy mũi, nhảy nhót, nhảy nhổm, nhảy phóc, nhảy rào, nhảy sóng, bay nhảy, chạy nhảy, gà nhảy ổ, gái nhảy.

Nhảm -- bậy bạ nhảm nhí, nói nhảm, đồn nhảm, tin nhảm.

Nhản -- nhan nhản, chan nhản.

Nhãn -- con mắt nhãn khoa, nhãn lực, nhãn quang, nhãn tiền, ám nhãn, độc nhãn; --trái tròn, ngọt long nhãn, nhãn nhục, nhãn lồng; --dấu hiệu dán nhãn, nhãn hiệu.

Nhãng -- quên xao nhãng (xao lãng), nhãng quên (lãng quên). (Xem Lãng)

Nhảnh -- kém đứng đắn nhỏng nhảnh, nhí nhảnh.

Nhão -- mềm, lỏng nhão nhẹt, cơm nhão, đất nhão, nhểu nhão.

Nhảu -- cảu nhảu, lảu nhảu nhanh nhảu (nhẩu).

Nhẳn -- cằn nhằn cẳn nhẳn, đau nhăn nhẳn.

Nhẵn -- mòn lẵn, trơn nhẵn bóng, nhẵn lì, nhẵn nhụi, nhẵn thín, mòn nhẵn, hết nhẵn. (Xem Lẵn)

Nhẵng -- việc còn nhũng nhẵng, dài nhằng nhẵng.

Nhẩm -- lầm thầm đọc nhẩm, tính nhẩm, học nhẩm, lẩm nhẩm.

Nhẩn -- nhẩn nha.

Nhẫn -- cà rá nhẫn cưới, nhẫn xoàn; --hơi đắng nhân nhẫn, nhẫn nhẫn; --đến từ ấy nhẫn nay; --nhịn, dằn lòng nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục, kiên nhẫn; --nỡ lòng nhẫn tâm, tàn nhẫn, bất nhẫn

Nhẩu -- nhanh nhẩu.

Nhẻ -- biếm nhẻ, nhỏ nhẻ.

Nhẽ -- xem Lẽ.

Nhẽo -- nheo nhẽo, nhõng nhẽo.

Nhễ -- mồ hôi nhễ nhại.

Nhểu -- chảy từng giọt nhểu nhão, nhểu dầu, thèm nhểu nước miếng.

Nhỉ -- tiếng hỏi đẹp nhỉ? vui nhỉ? ừ nhỉ; --chảy từ chút nước mắm nhỉ.

Nhĩ -- lỗ tai lỗ nhĩ, màng nhĩ, mộc nhĩ.

Nhiễm -- nhuốm,vướng nhiễm bịnh, nhiễm độc, tiêm nhiễm, ô nhiễm, truyền nhiễm, nhiễm trùng.

Nhiễn, Nhuyễn -- bột xay nhiễn, nhiễn bân, nhiễn nhừ.

Nhiễu -- loại hàng dệt nhiễu điều, khăn nhiễu, dịu nhiễu; --phiền, loạn nhiễu hại, nhiễu loạn, nhiễu nhương, nhiễu sự, phiền nhiễu, quấy nhiễu.

Nhỏ -- bé nhỏ con, nhỏ dại, nhỏ lớn nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ nhẹ, nhỏ nhít, nhỏ nhoi, nhỏ to, nhỏ thó, nhỏ xíu, bỏ nhỏ, nói nhỏ, xắt nhỏ, thuở nhỏ, thằng nhỏ; --nhểu từng giọt nhỏ giọt, giọt lụy nhỏ sa, thèm nhỏ dãi.

Nhoẻn -- nhích miệng nhoẻn miệng cười.

Nhõi -- nhiều nhõi, nhờ nhõi.

Nhõm -- nhẹ nhõm.

Nhỏng -- nhỏng nha nhỏng nhảnh.

Nhõng -- nhõng nhẽo như trẻ con.

Nhổ -- bứng gốc nhổ cỏ, nhổ lông, nhổ mạ, nhổ neo, nhổ răng, nhổ sào, nhổ tóc, nhổ trại; --phun, phẹt ra nhổ cổ trầu, khạc nhổ, ống nhổ, phỉ nhổ, phun nhổ.

Nhổm -- nhớm lên nhổm dậy, nhổm tóc gáy, nhảy nhổm, nhấp nhổm.

Nhở -- nhắc nhở, nham nhở, nhăn nhở, nhớn nhở.

Nhỡ -- xem Lỡ

Nhởn -- nhởn nhơ, nhởn nha.

Nhỡn -- xem Nhãn

Nhủ -- khuyên bảo khuyên nhủ, nhắn nhủ, nhủ thầm, tự nhủ.

Nhũ -- vú, sữa, cho bú nhũ bộ, nhũ danh, cây nhũ hương, nhũ mẫu, nhũ nương, thạch nhũ.

Nhủi -- lủi tới nhủi đầu xuống, té nhủi, trốn chui trốn nhủi, chạy nhủi, dế nhủi.

Nhủn -- mất tinh thần sợ nhủn người.

Nhũn -- không kiêu nhũn nhặn, xử nhũn.

Nhũng -- gian dối nhũng lạm, nhũng nhẵng, nhũng nhiễu, tham nhũng

Nhuyễn -- mịn, mềm bột nhuyễn, nhuyễn cốt, nhuần nhuyễn (xem Nhiễn).

Nhử -- dụ bằng mồi câu nhử, nhử thú, nhử quân địch.

Nhửi -- cằn nhằn cửi nhửi

Những -- nói về số nhiều những kẻ, những ngày, những lúc, những tưởng, chẳng những.



O -


Oải -- oải gân, uể oải.

Ỏi -- inh ỏi, ít ỏi.

Ỏm -- la ỏm tỏi, cãi ỏm lên.

Ỏn -- ỏn ẻn.

Ỏng -- bụng ỏng.

Õng -- đi đứng õng ẹo.

Ổ -- ổ bánh mì, ổ khóa; --chỗ ở của chim, thú ổ chim, ổ gà, ổ kiến, ổ ong, ổ yến, truy tận ổ bọn cướp.

Ổi -- bỉ ổi, cây ổi, trái ổi.

Ổn -- yên, êm thuận ổn định, ổn thỏa, an ổn.

Ổng -- ổng bả, ông ổng.

Ở -- ở ác, ở ẩn, ở cữ, ở dơ, ở dưới, ở đậu, ở đợ, ở goá ở không, ở mướn, ở trần, ở trọ, ở vậy nuôi con, ăn xổi ở thì, kẻ ở người đi.

Ỡm -- ỡm ờ.



- P

Phả -- gia phả.

Phải -- phải biết, phải đạo, phải đấy, phải lòng, phải phép, phải trái, vừa phải; --phía tay mặt bên phải, tay phải; --bị, mắc phải bịnh, phải gió, phải phạt, lầm phải, mắc phải; --buộc, ước gì phải nghe lời cha mẹ, phải chi tôi trúng số ..., phải khi ấy ..., thái độ ba phải.

Phản -- chống lại, nghịch lại phản bạn, phản bội, phản chiếu, phản chủ, phản chứng, phản công, phản cung, phản đối, phản động, phản gián, phản hồi, phản kháng, phản lực, phản loạn, phản nghịch, phản pháo, phản phúc, phản quốc, phản trắc, phản ứng, phản xạ, tương phản; --giường phản bộ phản gỗ, kê phản.

Phảng -- phảng phất, lưỡi phảng.

Phẳng -- bằng, không lồi lõm phẳng lặng, phẳng lì, phẳng phiu, bằng phẳng sòng phẳng.

Phẩm -- màu nhuộm phẩm đỏ, phẩm xanh; --giá trị tốt xấu phẩm cách, phẩm chất, phẩm giá, nhân phẩm; --thứ bực quan lại phẩm cấp, phẩm hàm, phẩm trật, tột phẩm; --từng loại phẩm loại, phẩm vật, ấn phẩm, cống phẩm; --khen chê bình phẩm.

Phẩn -- cứt, phẩn bò, phẩn heo.

Phẫn -- bực tức phẫn chí, phẫn nộ, phẫn uất, căm phẫn, công phẫn.

Phẫu -- mổ xẻ giải phẫu, phẫu thuật.

Phẩy -- chấm phẩy, dấu phẩy, phây phẩy, phe phẩy.

Phễu -- dùng phễu rót nước vào chai hay vào lọ.

Phỉ -- phỉ báng, phỉ chí, phỉ dạ, phỉ lòng, phỉ nhổ, thổ phỉ.

Phỉnh -- nói khéo để gạt phỉnh gạt, phỉnh nịnh, phỉnh phờ, nói phỉnh.

Phỏng -- đoán đại khái phỏng chừng, phỏng độ, phỏng định, phỏng đoán, mô phỏng, tính phỏng, phỏng vấn, ví phỏng; --phồng lên vì nóng cháy da phỏng tráng, phỏng lửa, phỏng nước sôi.

Phổng -- lớn phổng, tầm phổng, sướng phổng mũi.

Phỗng -- phỗng đá, thằng phỗng, phỗng tay trên, bài tổ tôm nhiều phỗng.

Phổ -- phổ biến, phổ cập, phổ độ, phổ nhạc, phổ quát, phổ thông.

Phổi -- bổ phổi, đau phổi, lao phổi, sưng phổi.

Phở -- phở bò, phở gà, phở tái, phở xào.

Phỡn -- phè phỡn.

Phủ -- bao trùm phủ đầu, phủ lấp, bao phủ, che phủ, tuyết phủ, vây phủ, nhiễu điều phủ lấy giá gương; --đầy đủ ăn uống phủ phê; --khu vực phủ đường, phủ thủ tướng, âm phủ, địa phủ; --bác bỏ phủ định, phủ nhận, phủ quyết; --cuối xuống phủ phục; --người đàn ông ngư phủ; --chức quan tri phủ, tuần phủ, đốc phủ, phủ huyện; --vỗ về phủ an bá tánh, phủ dụ; --bộ phận trong người ngũ tạng lục phủ.

Phũ -- phũ phàng.

Phủi -- phủi bụi, phủi ơn, phủi tay, phủi nợ trần.

Phủng -- thấu qua, lủng đâm phủng, giùi phủng.

Phưỡn -- phồng bụng ra ăn no phưỡn bụng.

Phưởng -- hơi giống phưởng phất.



- Q


Quả -- hộp tròn có nắp quả bánh, quả đồ may, quả đồ lễ, quả trầu; --trái, hình tròn quả bom, quả bóng, quả cầu, quả đất, quả đấm, quả tạ, quả tim; --chắc chắn quả có, quả nhiên, quả quyết, quả tang, quả thiệt, quả vậy; --trái cây quả dưa, hoa quả; --kết cuộc của việc quả báo, hậu quả, hiệu quả, kết quả, nhân quả; --cô đơn, góa bụa cô quả, quả nữ (gái chưa chồng), quả phụ (đàn bà chồng đã chết).

Quải -- giỗ quải, cúng quải.

Quảy -- gác trên vai quảy gánh, quảy hàng, quảy khăn gói lên đường.

Quản -- để ý đến và ngại quản bao, quản chi, quản gì, quản ngại gian lao, chẳng quản nắng mưa; --ống tròn huyết quản, khí quản; --coi sóc quản chế, quản đốc, quản gia, quản hạt, quản lý, quản thủ, quản thúc, quản trị, cai quản, chưởng quản, tổng quản.

Quảng -- tên xứ Quảng Bình, Quảng Đông, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị; --rộng rãi quảng bá, quảng cáo, quảng đại, quảng giao; --tên bịnh sâu quảng.

Quãng -- một khoảng cách quãng, quãng trống, vào quãng ba giờ chiều, đi một quãng đường.

Quảu -- thúng nhỏ rổ quảu, một quảu lúa.

Quẳng -- vứt bỏ, quăng quẳng đi, quẳng xuống, quẳng vào thùng rác.

Quẩn -- loanh quanh lẩn quẩn, quanh quẩn, quẩn trí, nghĩ quẩn, gà què ăn quẩn cối xay.

Quẫn -- nghèo túng quẫn bách, cùng quẫn, khốn quẫn, túng quẫn.

Quẩy -- mang trên vai quẩy gánh đi chợ, quẩy gói lên đường, quẩy nước tưới hoa, bánh dầu chao quẩy, xúi quẩy.

Quẻ -- phép bói quẻ Diệc, bói quẻ, đặt quẻ gieo quẻ, sủ quẻ, trở quẻ.

Quẽ -- quạnh quẽ.

Quở -- rầy la quở mắng, quở phạt, quở trách, bị quở.

Quỷ, Quỉ -- quỷ kế, quỷ khốc, quỷ quái, quỷ quyệt, quỷ sứ, quỷ thần, ác quỷ, đồ quỷ, ma quỷ, quỷ thuật

Quỹ, Quỹ -- quầy, tủ tiền công quỹ, gây quỹ, ký quỹ, nạp quỹ, ngân quỹ, sung quỹ, thủ quỹ, quỹ đạo.

Quyển -- quyển sách, quyển vở, tiếng kèn tiếng quyển, té gãy ống quyển.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 2/2/2014(UTC)
Users browsing this topic
Guest (2)
11 Pages<1234>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.