Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

11 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
TUS  
#1 Posted : Wednesday, April 7, 2010 4:00:00 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
DALAT - LangBiang Huyền Thoại


UserPostedImage
Nằm ở độ cao 2.169 m so với mặt biển, Langbiang ẩn chứa trong mình truyền thuyết về một tình yêu say đắm, vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến. Langbiang còn được ví như "nóc nhà" của Cao nguyên Lâm Viên, nóc nhà Đà Lạt, là chốn lý tưởng để du khách tận hưởng những cảm xúc bồng bềnh, là nơi mà bao lữ khách khát khao chinh phục, khám phá những bất ngờ và thoả thú phiêu lưu, tang bồng…



Dường như mỗi cảnh quan, mỗi điểm du lịch ở Đà Lạt đều gắn với một truyền thuyết, huyền thoại... Huyền thoại về núi Langbiang từ lâu trở thành "nơi không thể không đến" của bao lữ khách khi đặt chân đến vùng đất cao nguyên này. Vẻ đẹp, sức hấp dẫn và bí ẩn của Langbiang luôn mang đến cho du khách sự ngạc nhiên, tiếp đó là ham thích phiêu lưu, mạo hiểm "tìm đường" chinh phục...

Huyền thoại... núi

Câu chuyện tình về chàng K'lang (người dân tộc Lát) và người con gái tên Hơbiang (người dân tộc Chil) đã làm xúc động bao du khách khi đến đây. Nhà K'lang và Hơbiang đều ở dưới chân núi, họ tình cờ gặp nhau trong một lần lên rừng đi hái quả. Hơbiang cùng dân làng của mình gặp nạn và chàng K'lang đã dũng cảm cứu nàng thoát khỏi đàn sói hung dữ. Một lần gặp gỡ nhưng cả hai người đã cảm mến, rồi họ đem lòng yêu nhau. Nhưng do lời nguyền giữa 2 dòng tộc mà Hơbiang không thể lấy K’lang làm chồng. Vượt qua tục lệ khắt khe và lễ giáo phong kiến của 2 bộ tộc, hai người vẫn quyết tâm đến với nhau. Họ trở thành chồng vợ rồi bỏ đến một nơi trên đỉnh núi cao ngất để sinh sống. Khi Hơbiang bị bệnh, K'lang tìm mọi cách để chữa nhưng không khỏi. Chàng đành quay về báo cho buôn làng để tìm cách cứu nàng. Kết thúc câu chuyện, Hơbiang bị chết do nàng đỡ mũi tên có tẩm thuốc độc của buôn làng nhắm bắn K'lang. Đau buồn khôn xiết, K'lang đã khóc rất nhiều, nước mắt chàng tuôn thành suối lớn, ngày nay gọi là Dankia (Suối Vàng). Sau cái chết của hai người, cha của Biang đã rất hối hận, đứng ra nhận việc thống nhất các bộ tộc thành một dân tộc có tên là K'ho. Từ đó các đôi nam nữ trong làng dễ dàng đến với nhau. Ngọn núi cao ở làng La Ngư Thượng, nơi chàng K'lang và nàng Hơbiang chết lúc bấy giờ được đặt lên là Langbiang - tên ghép của đôi trai gái, để tưởng nhớ đến hai người và tình yêu thuỷ chung của họ.

Giao hoà cùng thiên nhiên

Cách trung tâm thành phố Đà Lạt 12 km về phía Bắc thuộc địa phận huyện Lạc Dương, hai ngọn Langbiang sừng sững như một chứng tích thần kỳ. Núi có hai đỉnh nên còn được gọi là núi Ông và núi Bà. Người dân nơi đây thường gọi tên núi Bà do quan niệm về chế độ mẫu hệ. Những ngày trời nắng đẹp, từ phía hồ Xuân Hương, du khách có thể nhìn thấy hai ngọn núi đứng cạnh nhau như để chở che cho nhau. Nhiều người còn ví dãy núi như người phụ nữ đang nằm, hai ngọn núi như hai bầu ngực căng tròn sức sống.

Bạn có thể khám phá đỉnh núi bằng cách đi bộ theo đường mòn hoặc đường xe chạy. Hay có thể thuê xe dịch vụ chở bạn lên tận đỉnh núi. Con đường quanh co uốn lượn giữa bạt ngàn thông reo... Cảm giác đầu tiên khi bạn đặt chân lên đỉnh núi thật dễ chịu. Một không gian rộng lớn giữa khoảng trời mênh mông và không khí lành lạnh đặc trưng của thành phố "tiểu Paris". Một màu xanh bạt ngàn hiện ra trước mắt. Mây và núi hoà quyện vào nhau. Đây còn là nơi bác sĩ Yersin đã từng đặt chân đến với "ấn tượng sâu sắc khi đứng trước một vùng cao nguyên mênh mông hoang vắng, gợi nhớ lại cảnh biển động vì đợt sóng khổng lồ màu xanh dâng lên. Ngọn núi sừng sững phía chân trời càng làm tăng thêm vẻ đẹp cảnh quan và tạo nên hậu cảnh tuyệt mỹ". Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, dòng Đankia với những dòng suối nhỏ uốn lượn dưới chân núi. Phóng tầm mắt ra xa, Đà Lạt hiện ra với những ngôi nhà nhấp nhô xen lẫn giữa núi và cây, như một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.

Lên núi thử sức

Langbiang được xem là một khu du lịch đặc thù về loại hình du lịch dã ngoại, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu nét văn hoá của người dân vùng này. Cả vùng đồi của Langbiang được bao phủ bằng một lớp cỏ dày, cao và xanh mướt vào mùa mưa. Trong thung lũng là nơi sinh sống của nhiều loại động thực vật đặc trưng của vùng. Lưng chừng núi có một thung lũng khá lớn, là nơi đã tổ chức thành công lễ hội 100 năm Đà Lạt hình thành và phát triển. Do đó, thung lũng này được gọi là Thung lũng trăm năm. Thung lũng trăm năm phía dưới chân núi được thiết kế như một khu du lịch sinh thái, giải trí. Nếu đi theo tour của các Cty du lịch, du khách có thể thưởng thức chương trình giao lưu, đốt lửa trại và uống rượu cần với đồng bào dân tộc tại địa phương, lắng nghe họ kể những câu chuyện và văn hoá của dân tộc mình.

Langbiang ngày nay còn là điểm thu hút những du khách có thú phiêu lưu mạo hiểm với chương trình leo núi, chinh phục đỉnh cao theo tour của Cty dã ngoại du lịch Lửa Việt.

Trong Festival hoa Đà Lạt vừa qua, Langbiang cũng được chọn làm nơi để các bạn trẻ của thành phố thử sức mình, chinh phục đỉnh cao. Từ trên đỉnh Langbiang, bạn cũng có thể khám phá vùng đất dưới chân núi, tìm hiểu cuộc sống của người dân nơi đây bằng cách men theo đường mòn đi xuống rồi vượt qua những con thác nhỏ để vào làng.
Dù bạn rong ruổi đếm từng bước lần tìm đến đỉnh núi hay bạn lên núi bằng xe thì cảm giác lâng lâng trong bạn sẽ còn đọng lại mãi. Trên đỉnh núi, đôi trai gái tên K'lang và Biang đứng bên nhau minh chứng cho sự tồn tại vĩnh hằng của một mối tình chung thuỷ, là chứng nhân cho những du khách đã từng đến, được nghe, được cảm và thấy yêu hơn dãy núi huyền thoại này.
ĐỈNH LANGBIANG
UserPostedImage
Langbiang – hay núi Langbiang, hay khu du lịch núi Langbiang là hai ngọn núi : Núi Ông và núi Bà nằm cách thành phố Đà Lạt 12km thuộc địa phận huyện Lạc Dương. Đỉnh Langbiang nằm ở độ cao 2.167 m so với mặt biển[1]. Lang Biang còn được ví như “nóc nhà” [2]của Đà Lạt, và là điểm tham quan du lịch hấp dẫn của thành phố Đà Lạt
Do nằm ở độ cao được xem là một trong những đỉnh núi cao nhất Đà Lạt, núi Langbiang được xem là khu du lịch đặc thù với loại hình du lịch dã ngoại, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu nét văn hoá của người dân nơi đây. Lang Biang còn là điểm thu hút du khách có thú phiêu lưu mạo hiểm với chương trình leo núi, chinh phục đỉnh cao. Từ dưới chân núi, Langbiang có đầy đủ các dịch vụ du lịch: như nhà hang, quán ăn, hang lưu niệm. Đặc biệt, tại đây có dịch vụ xe Jeep đưa khách lên đỉnh khá thú vị. Ngay dưới chân núi, có một thung lũng khá lớn, nơi tổ chức thành công lễ hội 100 năm Đà Lạt hình thành và phát triển. Do đó, nó được gọi là Thung lũng trăm năm, được thiết kế như một khu du lịch sinh thái, giải trí.


Đồi núi cao nguyên Lâm Viên nhìn từ đỉnh LangbiangTại đây, du khách có thể thưởng thức chương trình giao lưu, đốt lửa trại, uống rượu cần với đồng bào dân tộc, nghe họ kể những câu chuyện và văn hoá của dân tộc. Lang Biang còn là điểm thu hút du khách có thú phiêu lưu mạo hiểm với chương trình leo núi, chinh phục đỉnh cao. Nếu du khách không thích đi bằng xe Jeep lên đỉnh núi, du khách có thể chinh phục đỉnh núi bằng cách đi bộ theo con đường nhựa xuyên qua những cánh rừng thông và những nhà dân tộc.

Tại đỉnh núi Langbiang, có các dịch vụ như nhà hang, quán cà phê và các dịch vụ khác như: ống nhòm nhìn thành phố Đà Lạt từ trên cao, cưỡi ngựa chụp hình. Đặc biệt, trên đỉnh núi còn có vườn hoa, tượng chàng K’lang và nàng Hơbiang, khu bán hàng lưu niệm,..v..v…
Từ trên đỉnh núi, du khách có thể nhìn thấy Suối Vàng và Suối Bạc và toàn cảnh Đà Lạt trên cao.

UserPostedImage
ĐỈNH RA ĐA TRÊN DÃY LANGBIANG

UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
Nơi đây gồm hai ngọn núi : Núi Ông và núi Bà, là điểm tham quan du lịch hấp dẫn của Đà Lạt, đặc biệt, nó còn là điểm thu hút du khách có thú phiêu lưu mạo hiểm với chương trình leo núi, chinh phục đỉnh cao.
Ngay khi vừa đến dưới chân núi, đập vào mắt chúng tôi là cụm chữ LANG BIANG in đậm giữa nền trời, gợi nên cảm xúc gọi mời đầy hào hứng. Tại đây, có sẵn một đoàn xe Jeep túc trực sẵn sàng đưa khách lên đỉnh núi theo yêu cầu. Bên cạnh đó, là những chú ngựa một mình nhẩn nha qua lại, hoặc có khi ngồi trên là một gã “cao bồi” với trang phục đậm nét cao nguyên vẫy tay chào đón.
Dù vậy, không ít du khách, nhất là các bạn trẻ, vẫn thích chinh phục những triền núi đá cao ngất trời trên đỉnh Lang Biang bằng cách “cuốc bộ”. Hằng năm, thường vào dịp lễ tết, có rất nhiều nhóm sinh viên thích phiêu lưu mạo hiểm tổ chức dã ngoại leo núi lên đỉnh Lang Biang. Bởi họ cho rằng, muốn khám phá vẻ đẹp sâu thẳm trên những ngọn núi thông xanh này phải đi chậm, để ngắm nhìn như vậy.
Tham gia cùng đoàn chúng tôi, một bạn trẻ đang học tại Đại học Đà Lạt cho biết: “Khám phá Lang Biang luôn là điều thích thú, kể cả những người sinh ra tại Đà Lạt, bởi mỗi lần chinh phục là một lần thử thách mới, luôn có sự bất ngờ ở bên trong nó. Chỉ những ai yêu thiên nhiên và cái đẹp mới cảm nhận được thôi”.
Dọc đường đi, chúng tôi được nhìn thấy bên dưới chân núi, có một thung lũng rộng lớn, với những đàn ngựa đang tự do gặm cỏ dưới nắng xuân. Càng bước lên những khúc dốc cao, cảm giác càng thật dễ chịu, bởi màu xanh bạt ngàn luôn hiện ra trong tầm mắt.
Đến đỉnh núi cao nhìn xuống, đã dễ dàng nhận ra dòng Đankia với những con suối nhỏ uốn lượn bên chân núi. Xa xa, thành phố Đà Lạt hiện ra với những ngôi nhà ẩn hiện xen lẫn giữa núi và cây đẹp tựa bức tranh...
Điểm dừng tại đỉnh Lang Biang, rải rác có các hàng quán cà phê, giải khát và các dịch vụ như: nhìn cảnh quan qua ống kính viễn vọng, cưỡi ngựa chụp hình, khu bán hàng lưu niệm. Đặc biệt, ấn tượng nhất là tại đây có một vườn hoa, trưng bày tượng chàng K’Lang và nàng HơBiang, luôn được du khách quan tâm nhìn ngắm và chụp kỷ niệm.
Vào buổi xế chiều, khi quay trở về bên kia chân núi, những ngôi nhà văn hoá dưới chân đỉnh Lang Biang rực lên ánh lửa và rộn ràng những tiếng cồng chiêng. Người bạn sinh viên đi cùng đoàn cho hay: “Đoàn Thanh niên địa phương thường tổ chức những đêm giao lưu văn hoá để du khách tới dự, để biết về văn hoá của dân tộc. Hiện ở địa bàn xã Lát có khoảng trên dưới 10 nhóm nhạc chuyên phục vụ cho khách du lịch vào dịp cuối tuần. Những nhóm nhạc ấy có tên gọi như: Những người bạn Lang Biang, Người Con Của Núi, nhóm K’Đruynhs’ Kra Jãn, K’Soai... nên tạo cảm giác rất thân thiết, gần gũi”. Rời Lang Biang, chắc chắn chúng tôi còn sẽ quay lại một ngày không xa, bởi còn rất nhiều điều thú vị trên triền núi đầy mạo hiểm của cao nguyên Lang Biang đang chờ đợi...
UserPostedImage
cactus nè









UserPostedImage



UserPostedImage
TUS  
#2 Posted : Thursday, April 8, 2010 12:29:11 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Thêm Đôi Nét Về LangBiang
Lịch sử
Cao nguyên Lang Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú của các tộc người Thượng. Người Việt đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định của mình. Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng người Thượng ở Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai nhà thám hiểm đầu tiên đã tìm ra cao nguyên Lang Biang. Hành trình của Paul Néis và Albert Septans mở đường cho nhiều chuyến đi khác như A. Gautier (năm 1882), L. Nouet (1882), thiếu tá Humann (1884).

Ngày 3 tháng 8 năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này bất thành. Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm 1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mê Công (thuộc địa phận Campuchia).

Tháng 1 1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi... Từ ngày 8 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6 năm 1893, Yersin đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng. Và 15h30 ngày 21 tháng 6, Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt "3h30: grand plateau dénudé mamelonné" (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).

Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với châu Âu để xây dựng khu nghỉ mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul Doumer viết một bức thư hỏi ý kiến của Yersin, và Yersin đã trả lời là cao nguyên Lang Biang. Tháng 3 năm 1899, Yersin cùng toàn quyền Doumer thực hiện một chuyến đi lên cao nguyên Lang Biang và chuyến đi này có ý nghĩa quyết định về việc thành lập một trạm điều dưỡng ở đây.

Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung Kỳ tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành chính được thiết lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang. Đó có thể được xem là văn kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày 20 tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân đã ra đạo dụ thành lập thị tứ, tức thị xã (centre urbain) Đà Lạt, tỉnh lị tỉnh Lâm Viên. Đạo dụ này được Khâm sứ J.E. Charles chuẩn y ngày 30 tháng 5 năm 1916.

Trong hai thập niên 1900 và 1910, người Pháp đã xây dựng hai tuyến đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Đà Lạt. Hệ thống giao thông thuận lợi giúp Đà Lạt phát triển nhanh chóng. Vào năm 1893, vùng Đà Lạt ngày nay hầu như hoang vắng. Đến đầu năm 1916, Đà Lạt vẫn còn là một khu thị tứ nhỏ với độ 8 căn nhà gỗ tập trung hai bên bờ dòng Cam Ly, chỉ có 9 phòng khách sạn phục vụ du khách, đến cuối năm này mới nâng lên được 26 phòng. Cuối năm 1923, đồ án thiết kế đầu tiên hoàn thành, Đà Lạt đã có 1.500 dân.

Ngày 31 tháng 10 năm 1920, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuẩn y đạo dụ ngày 11 tháng 10 cùng năm của vua Khải Định về việc thành lập thành phố (commune- thành phố loại 2) Đà Lạt cùng với việc tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập. Nhằm biến Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ mát ở Đông Dương, Nha giám đốc các sở nghỉ mát Lâm Viên và du lịch Nam Trung Kỳ được thành lập. Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý, đại diện của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt. Năm 1936 một Hội đồng thành phố được bầu ra. Năm 1941, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Lâm Viên (Lang Bian) mới tái lập. Thị trưởng Đà Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

Trong thời gian Thế chiến thứ hai, những người Pháp không thể về chính quốc nên họ tập trung lên nghỉ ở Đà Lạt. Nhiều nhu cầu rau ăn, hoa quả của người Pháp cũng được Đà Lạt cung cấp.

Ngày 10 tháng 11 năm 1950, Bảo Đại ký Dụ số 4-QT/TD ấn định địa giới thị xã Đà Lạt.

Theo Địa phương chí Đà Lạt (Monographie de Dalat), năm 1953, thị xã Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, có diện tích là 67 km², dân số: 25.041 người.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân số Đà Lạt tăng nhanh bởi lượng người di cư từ Bắc vào Nam. Dưới chính quyền miền Nam, Đà Lạt được phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học.

Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức. Thị xã Đà Lạt có 10 khu phố.

Nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu được thành lập: Viện Đại học Đà Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện Đà Lạt (1960), trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), trường Chỉ huy và Tham mưu (1967)... Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng và sửa chữa, hàng loạt biệt thự do các quan chức Sài Gòn, nhiều chùa chiền, nhà thờ, tu viện được xây dựng... Đà Lạt cũng là một điểm hấp dẫn với giới văn nghệ sĩ.

Thành phần dân tộc[3]
STT Dân số Số người
01 Kinh 114.269
02 Tày 91
03 Thái 102
04 Mường 6
05 Nùng 88
06 Gia-Rai 1
07 Ê-Đê 4
08 Kơ Ho 1.407
09 Chàm 7
10 Hrê 1
11 M'Nông 20
12 Thổ 5
13 Mạ 12
14 Châu-ro 7
15 Chu-ru 8
16 Người nước ngoài 4 Dân số toàn thành phố 116.052




UserPostedImage



UserPostedImage
TUS  
#3 Posted : Thursday, April 8, 2010 12:33:38 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
DALAT Xưa
Hồ THAN THỞ
UserPostedImage
Thác CAM LY
UserPostedImage
Thác PRENN
UserPostedImage

UserPostedImage TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA DALAT
SÂN BAY LIÊN KHƯƠNG
UserPostedImage
VÀ ... NAY
Tôi sinh ra ở miền Bắc Việt Nam, sống ở Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng. Di cư vào Nam, suốt thời niên thiếu, đi học, lớn lên ở Sài Gòn, chỉ có những tháng Hè hoặc Tết, tôi mới được lên Đà Lạt sống với cô và các em con của cô tôi. Vậy mà tôi vẫn có cảm tưởng tôi là cư dân Đà Lạt, có lẽ vì kỷ niệm và tình yêu sâu đậm nhất của đời tôi gắn liền với Đà Lạt, cộng thêm những kỷ niệm của 4 năm thụ huấn tại quân trường Võ Bị.
Tuổi ngoài 60, tuổi già, hiện tại và tương lai là con đường bằng phẳng! Nên người ta thường ngoái cổ lại nhìn về quá khứ, sống với quá khứ. Như con bò buổi chiều về nằm nhai lại mớ cỏ nuốt vội vàng lúc ban ngày. Hình ảnh và hương vị của Đà Lạt vẫn còn đậm nét trong tôi, nên những buổi chiều buồn, những ngày mưa bão, tôi vẫn thường ngồi lặng lẽ một mình bên cửa sổ, trong một góc của căn phòng, trầm ngâm, mơ màng nhớ về những ngày tháng ở Đà Lạt. Đà Lạt những buổi sáng sương phủ trắng dưới thung lũng. Đà Lạt buổi chiều, buổi tối mù sương. Đà Lạt mây mù phủ trên rừng thông, đồi núi, mờ mịt đỉnh Lang Biang. Đà Lạt những ngày mưa bão lê thê, giá lạnh, ẩm ướt! Đà Lạt và người tình, Đà Lạt và nỗi buồn gậm nhấm hồn tôi suốt một đời.
Tôi nhớ con dốc từ khu chợ Hòa Bình dẫn xuống Hồ Xuân Hương, nhớ con đường ven hồ và đồi Cù, xa xa phía cuối hồ, ngọn tháp nhọn trường Lycée Yersin vươn cao in trên nền trời. Tôi nhớ bước chân lững thững trên những bậc thềm Palace, nhớ con đường dốc ven đồi phủ đầy lá thông khô và những hàng thông cao vút. Đà Lạt có một mùi thơm huyền hoặc suốt đời khó quên, mùi ẩm ướt của núi đồi, mùi rừng thông, nhựa thông, mùi ngo, mùi hoa Mimosa. Thời gian tôi sống ở Đà Lạt ít hơn ở Sài Gòn, nhưng Đà Lạt đã gói gọn những cảm xúc, rung động của đời tôi từ ngày bé, những ngày còn chạy nhảy, vui đùa, đá bóng với đám bạn nhỏ trong khu rừng thông bên trường Petite Lycée, băng rừng từ sau căn nhà ở đường Pasteur tìm đường ra thác Camly. Cho đến những ngày vừa đủ lớn để biết buồn, biết cất dấu hình người yêu trong ví lâu lâu lấy ra ngắm nhìn, biết ngồi Cà phê Tùng. Nên, một phần của lý do tại sao sau ngày xong tú tài phần hai, tôi không chọn làm giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, tôi cũng không chọn quân trường Hải Quân, Không Quân mà chọn trường Võ Bị Đà Lạt, nơi mà khi bước chân vào đã mường tượng đến một tương lai vô định, may rủi, chưa biết sẽ về đâu, một là xanh cỏ hai là đỏ ngực!.
Hôm nay, nhìn những tấm ảnh “Đà Lạt ngày nay”, đọc hàng trăm những bài viết về Đà Lạt, trên những trang Web, trên sách báo, tôi thấy nặng trĩu buồn, buồn bởi vì tôi thấy tôi mất mát quá nhiều, tôi mất một phần của đời tôi, mất Đà Lạt mất tình yêu!!!

Đà Lạt ngày xưa có nét đẹp thiên nhiên, trong lành, thác nước, hồ nước trong xanh, im vắng bên rừng thông, đồi núi ngút ngàn, Đà Lạt ngày nay, Đà Lạt nhân tạo, xanh xanh đỏ đỏ với những kiến trúc rẻ tiền của đám lãnh đạo có trình độ thấp kém, vô học, trong chế độ cộng sản. Kiểu kiến tạo giả dối, tiểu công nghệ, ăn xổi ở thì, chỉ mong mau tay móc túi du khách, kiểu xin tiền lẻ, moi bạc cắc. Đà Lạt ngày xưa như người con gái đẹp thơ ngây, hồn nhiên, mộc mạc không son phấn, Đà Lạt ngày nay như cô gái ăn sương, đứng chờ khách trong đêm tối, lòe loẹt phấn son!

Để nhớ thương Đà Lạt của những ngày xa xưa, tôi phỏng dịch tặng các bạn một đoạn trong “Tracing the forgotten path to the lost Shangri-La” nói về lịch sử con đường “Xe Lửa Răng Cưa Lâm Viên” chạy từ Phan Rang lên Đà Lạt, nay không còn nữa. Và, nói về cái ngu xuẩn của những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam cùng với sự phá hoại, tàn phá đất nước của họ
Đa số người ta biết đến Đà Lạt có một nhà ga xe lửa Đà Lạt đẹp vào bậc nhất Đông Nam Á, đặc sắc với kiến trúc và xây cất theo kiểu Art-Deco, một kiểu kiến trúc được ưa chuộng và thịnh hành ở Âu Châu và cả thế giới vào đầu thế kỷ thứ 20 từ 1925 đến 1939. Nhưng không mấy ai chú ý đến một điều, đường xe lửa lên Đà Lạt là một đường xe lửa răng cưa (cog railroad), độc đáo và hiếm có trên thế giới. Bạn sẽ ngạc nhiên và kỳ thú khi nói đến đường xe lửa răng cưa! Đúng vậy, hệ thống đường rầy xe lửa loại này có thêm một đường rầy ở chính giữa có răng móc như lưỡi cưa, ăn khớp với bánh xe của đầu tầu kéo cũng có răng, được chế tạo đặc biệt không có ở các đầu tàu xe lửa loại thường, để kéo đoàn tàu lên dốc và để giữ cho đoàn tàu không bị tuột nhanh khi xuống dốc. Chúng ta hãy khảo sát qua để biết công trình khó khăn và làm thế nào để người Pháp đã thiết lập được hệ thống đường xe lửa lên Đà Lạt vào đầu thế kỷ thứ 20
Năm 1903, người Pháp bắt đầu kiến tạo đường xe lửa nối liền thành phố Đà Lạt mát mẻ trên cao nguyên và thành phố Phan Rang nóng nực nằm ven duyên hải với mục đích tạo điều kiện giao thông thuận tiện cho các kiều dân Pháp lên sinh sống, làm việc hoặc nghỉ ngơi trên thành phố Đà Lạt có khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm. Đoạn đường xe lửa Đà Lạt-Tháp Chàm chỉ có 84 cây số. 41 cây số từ Tháp Chàm đến Sông Pha (Krong Pha) được hoàn tất và xử dụng từ năm 1919 còn 43 cây số từ Sông Pha lên Đà Lạt phải mãi đến năm 1932, 13 năm sau mới hoàn tất và xử dụng được, 43 cây số cuối cùng này là núi đồi dốc, 3 nơi phải làm hệ thống đường rày có móc răng cưa và 5 chỗ phải làm đường hầm xuyên qua núi. Tổng cộng công trình kiến tạo là 30 năm để hoàn tất 84 cây số đường xe lửa Phan Rang-Đà Lạt.
Tiến trình kiến tạo đường xe lửa Tháp Chàm-Đà Lạt:

Khởi đầu từ 1893 đến 1913:

- Từ Tháp Chàm (Tourcham) đến Tân Kỳ, 41 Km, hoàn tất và xử dụng năm 1913.

- 1919 hoàn tất từ Tân Mỹ đến Sông Pha (Krongpha)

- 1928 - - - từ Sông Pha đến Eo Gió (Bellevue)

- 1929 - - - từ Eo Gió đến Đơn Dương (Dran)

- 1930 - từ Đơn Dương đến Trạm Hành (Arbre Broye)

- 1933 - - - - từ Trạm Hành đến Đà Lạt

tổng cộng 84 Km từ Tháp Chàm (tourcham) đến Đà Lạt.
Năm 1932, hai kiến trúc sư người Pháp, ông Moncet và Reveron thiết lập đồ án nhà ga xe lửa Đà Lạt và thuê một công ty Việt Nam để xây cất cách Hồ Xuân Hương khoảng 2 Km. Nhà ga được thiết kế đặc biệt theo kiểu Tây phương cộng thêm một vài điểm đặc thù của vùng cao nguyên, phòng hành khách chính giữa mái cao và dốc. Nhà ga được chia làm ba gian nhà, mỗi gian đều rộng lớn với những cửa kính mầu và trần hình vòm cung.

Sau khi đường Hỏa Xa Lâm Viên với đường xe lửa có răng cưa (Cog railway) hoàn tất. Công ty Hỏa Xa “Chemin De Fer” (CFI) của Pháp nhập cảng đầu máy xe lửa chạy được trên đường xe lửa răng cưa vào Việt Nam làm hai đợt.

- Đợt đầu 7 đầu máy. 5 đầu tầu kiểu HG 4/4 của công ty Thụy sĩ SLM Winterthurand (Schweizerische Lokomotiv- und Maschinenfabrik Esslingen) và 2 đầu tầu cũng kiểu HG 4/4 do Công Ty của Đức (German MFE - Maschinenfabrik Esslingen) sản xuất.

- Đợt hai, giữa năm 1930 - 1947 công ty CFI mua được 6 đầu máy cũ (used locomotives) của công ty Swiss FO (Furka-Oberwald), 2 loại HG 4/4 (serial number CFI 40-308 và 40-309) năm 1930 và 4 kiểu HG 3/4 (serial number CFI 31-201 đến 31-204 ) năm 1947
Trong thời gian Nhật chiếm đóng Đông Dương, công ty CFI bị lấy mất 3 đầu tầu HG 4/4 không giấy tờ. Số đầu máy còn lại sau này khi người Pháp rút lui khỏi Việt Nam được chuyển giao cho Hỏa Xa Việt Nam. Số hiệu (serial number) của các đầu máy vẫn giữ nguyên, chỉ thay đổi 3 chữ đầu là VHX (hỏa xa Việt Nam) thay vì CFI (Chemin De Fer).

Với kỹ thuật cổ xưa, đầu máy kéo chạy bằng hơi nước, nấu bằng than, có công xuất từ 600 đến 820 Mã Lực (CV - Chevaux Vapeur). Vì Việt Cộng liên tiếp phá hoại và đặt mìn nên cố gắng lắm hỏa xa Việt Nam mới duy trì được những chuyến xe lửa chạy trên tuyến đường Đà Lạt-Phan Rang cho đến năm 1968, sau đó đành phải ngưng hoạt động.

Phải mất đến một khoảng thời gian dài 30 năm, với nỗ lực cố gắng lớn lao của người Pháp trong thời kỳ Đông Dương mới kiến tạo được một tuyến đường xe lửa có răng cưa kỳ diệu này (extraordinary cog railway). Chỉ một năm sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, năm 1976, Cộng Sản đã tuyên truyền cong queo láo lếu về lịch sử con đường xe lửa Lâm Viên (Langbian railway) và đổ tội cho người khác đã phá hủy con đường sắt lịch sử này. Chúng ta hãy đọc những bài viết lếu láo của Việt Cộng dưới đây:
Đà Lạt được tạo dựng năm 1907 . . . .

Nhà ga Sông Pha và cây cầu sắt đen gần đó là dấu vết, tàn tích sự hiện diện của người Pháp tại Việt Nam.

Người Pháp dự định kiến tạo một đường hỏa xa từ Đà Lạt đến thành phố duyên hải Phan Rang. Con đường xe lửa này phải vượt qua những giải núi, những đèo đẹp nhất ở Việt Nam, Đèo Dran và Đèo Sông Pha mà người Pháp gọi là Đèo Bellevue. Đường xe lửa Sông Pha là một trong hai đường xe lửa răng cưa (Cog railway) duy nhất trên thế giới nhưng đã không được hoàn tất sau khi người Pháp rút lui (Was unfinish after the French withdrawal).

Mặc dù, vẫn còn có thể tìm thấy bên cạnh đường ..... rất nhiều dấu tích về con đường sắt ấy
Và Việt Cộng đổ tội cho Đế Quốc Mỹ đã phá hoại con đường xe lửa răng cưa Đà Lạt trong chiến tranh:

“ ... Ngay sau khi nhà ga xe lửa Đà Lạt được xử dụng năm 1936, những chuyến xe lửa với đầu máy kéo mới toanh của Nhật chuyên chở hành khách và hàng hóa chạy trên ba tuyến đường: Tháp Chàm - Đà Lạt, Nha Trang - Tháp Chàm - Đà Lạt, và Saigon (nay là thành phố ****) - Tháp Chàm - Đà Lạt. Nhà ga Đà Lạt có ba đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước được đốt bằng củi, đun sôi 12 thước khối nước, hơi nước tạo sức kéo lên đến 700 tấn. Vì bị Mỹ ném bom, nên những chuyến xe lửa chuyên chở hành khách này chỉ kéo dài được đến năm 1972 sau đó hoàn toàn chấm dứt. Khoảng 20 năm về trước, hai trong ba đầu máy kéo loại chạy trên đường răng cưa này được bán ra ngoại quốc, người ta thấy được trưng bày tại bảo tàng viện ở Hòa Lan”.

Trên thực tế, những đầu máy xe lửa này được sửa chữa, tân trang và mới đây đã được xử dụng, hoạt động trên dường xe lửa răng cưa Furko của Thụy Sĩ.

(nguồn: Vienam Economic News Online) - Ghi chú: Web-page này đã bị xóa bỏ và tất cả dữ kiện viết trong bài đều hoàn toàn sai sự thật.
Sau khi Việt Cộng chiếm được miền Nam năm 1975, một điều đáng chú ý là, chính quyền Hà Nội khi phát triển đường xe lửa Thống Nhất Saigon-Hanoi, vì thiếu hụt đường rầy, họ đã ngu xuẩn quyết định tháo gỡ đường rầy đoạn đường Song Pha- Đà Lạt, tưởng rằng có thể giải quyết được việc thiếu hụt đường rầy để hoàn thành đường xe lửa Thống Nhất. Đây không phải chỉ là một sai lầm lớn mà là một sự ngu si đần độn của Cộng Sản Việt Nam. Bởi vì, đường rầy xe lửa của đoạn đường Sông Pha Đà Lạt là loại đường rầy được đặt chế tạo riêng cho đường xe lửa răng cưa với một kỹ thuật sáng chế đặc biệt dùng cho địa thế dốc, có thể chịu được lực ép, sức kéo lớn khủng khiếp khi leo dốc trong một khoảng thời gian dài và trục của đường rầy phải chế tạo toàn bằng loại thép tốt, rất cứng. Ngay cả đến những con ốc và “bu-loong” cũng đặc biệt, khác với loại đường xe lửa thường. Dĩ nhiên những đường rầy này không ăn khớp với loại đường rầy cho xe lửa chạy ở nơi bằng phẳng. Quá là ngu đần! Cuối cùng những đoạn đường sắt này thành sắt phế thải, quan chức Việt Cộng cưa vụn ra bán rẻ lấy tiền. Đúng là một thảm kịch của lịch sử hỏa xa Đông Dương! Nếu đường xe lửa này không bị tháo gỡ, thì ngày nay đã có thể dễ dàng sửa chữa, tân trang để có những chuyến xe lửa du lịch thú vị từ vùng duyên hải Nha Trang, Ninh Chu, Mũi Né lên Đà Lạt . . . . .

Đường Xe lửa Sông Pha – Đà Lạt cũng tạo thêm nét đẹp cho phong cảnh vùng Đông Nam Á Châu, đặc biệt với loại đầu máy xe lửa cổ điển chạy bằng hơi nước, kéo những toa tàu dài chở hành khách, ngoằn ngèo như con rắn không lồ, chạy ven theo vách núi, lượn theo những sườn núi toàn là thông mọc thẳng đứng. Khi đoàn tàu leo lên đèo Ngoạn Mục (Bellevue pass), hành khách sẽ có cảm giác kỳ diệu với cảnh trí một bên là triền núi xanh, một bên là khoảng không gian mênh mông, bất tận, trải dài đến chân trời mờ mờ phía xa là bờ biển Thái Bình Dương. Phong cảnh thay đổi ngoạn mục theo từng địa thế cho đến khi con tầu lên đến đỉnh, vùng cao nguyên Lâm Viên mù sương, mát dịu và bắt đầu thấy thoang thoảng mùi thơm của rừng thông, của nhựa thông hòa lẫn với mùi gỗ cháy mang theo từ những cột khói tầu phụt ra đen ngòm. Một cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời khó quên
Ngày nay, không còn cách nào để tái tạo lại đường xe lửa răng cưa Sông Pha–Đà Lạt này nữa! Nhất là với sự suy sụp của chế độ cộng sản. Một khi đã phá hủy thì chẳng còn hy vọng gì tạo dựng lại được nữa! Người Pháp đã tốn 30 năm để kiến tạo 84 cây số đường xe lửa Tháp Chàm–Đà Lạt, nhưng Việt Cộng trong thời bình sau năm 1975, chỉ tốn vài năm để “dọn sạch” dấu vết của con đường xe lửa tuyệt đẹp này, ngay cả “dọn sạch” cây cầu sắt lịch sử ở Đơn Dương (Dran) năm 2004 để lấy sắt vụn !!
Mời các bạn xem nhưng hình ảnh dưới đây, bạn sẽ khiếp đảm về sự phá hoại, tàn phá di tích lịch sử của chế độ Hà Nội trong thời bình. Sau một thời gian dài bỏ hoang phế, cỏ cây đã phủ kín dấu vết của con đường xe lửa ngày xưa. Nhưng, trong những ngày gió lộng, trên đỉnh cao nguyên Lâm Viên, từ trong những cánh rừng thông, hình như người ta còn mơ hồ nghe tiếng vọng lại lẫn trong tiếng gió hú, hồi còi tầu rúc lên, âm điệu sầu thảm như thương tiếc cho một thời của quá khứ đã mất đi.
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage










UserPostedImage



UserPostedImage
TUS  
#4 Posted : Thursday, April 8, 2010 12:39:28 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Quote:
Originally posted by cactus20113
DALAT - LẠI CHỦ ĐỀ XƯA VÀ NAY

UserPostedImage

Ðà Lạt Ngày Xưa:

"Khi mới lớn lên, tôi nghe ông Chú của tôi kể lại ông và tất cả học sinh của thành phố Ðà Lạt được chính quyền vận động đi trồng những cây thông quanh bờ Hồ Lớn, sau này được đặt tên là Hồ Xuân Hương".
Lúc bấy giờ người Pháp đã xây đập chặn nước của dòng suối lớn Ðà Lạt chảy từ hướng Bắc về, qua các ghềnh thác lớn nhỏ rồi đổ xuống tận sông Ðà Rằng ở vùng Bảo Lộc, Ðịnh quán. Trong khi đó, ho cũng ngăn đập ở thượng nguồn làm hồ nước Suối Vàng với đập Thủy Ðiện Ðan Kia bên dãy núi Bà ở phía Bắc thành phố. Trên đường mở vòng quanh thành phố, họ đã chặn nước tạo nên hồ Than Thở và hồ Saint Benoit, sau này được đổi tên là Chi Lăng. Xa hơn, về hướng chính Bắc là hồ nước nhân tạo ở ấp Ða Thiện với dòng nước chảy về Thác Cam Ly. Riêng với Hồ lớn, họ đã phải dùng cốt mìn để khoét sâu thêm trước khi làm đập ngăn dòng nước trên đoạn đường từ hướng Nhà Thờ Con Gà qua dốc lên phố chính thương mại được mang tên là Khu Hòa Bình. Chiếc cầu trên đập nước được gọi là cầu Ông Ðạo. Sau này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tức cảnh qua cầu nên thơ với tà áo trắng học sinh tung bay viết nên bản nhạc "Có một Dòng Sông". Khi ghé thăm Ðà Lạt, nhạc sĩ Lam Phương cũng viết bản nhạc "Thành Phố Buồn" góp mặt với một số bài ca của các nhạc sĩ khác như "Chiều Vàng", " Xứ Hoa Ðào" , "Ðà Lạt sương mờ" v.v...

Dòng suối từ cầu Ông Ðạo chảy xuôi theo thung lũng bên ấp Ánh Sáng mới được dựng lên sau năm 1955, mở rộng như một dòng sông nhỏ qua cầu Bá Hộ Chúc bằng gỗ, đến ấp nhỏ với vườn rau cải xanh mướt quanh năm rồi qua cầu Nhà Ðèn, khu "Abattoire" chuyên mổ lợn giết bò, qua xóm Lò Gạch rồi đổ về Thác Cam Ly với một ấp người Thượng gốc sắc tộc Kơ Ho với nhà sàn tập thể ở đầu nguồn. Với trợ cấp của một chủ nông trại người Pháp tên Farraut, còn chìm trong cảnh núi rừng hoang dã và nguồn nước chảy rất mạnh qua ghềnh đá nhấp nhô. Từ đây, người ta còn nghe tiếng nai bép xép và tiếng hổ gầm. Từ Thác đi về hướng Tây chừng hai trăm thước dẫn lên ngọn núi cao với rừng thông dày đặc xanh thẫm là lăng mộ của ông Nguyễn Hữu Hào, cha ruột của Nam Phương Hoàng Hậu, Chánh phi của Hoàng Ðế Bảo Ðại, cuối đời nhà Nguyễn. Chính phủ thuộc địa Pháp đã trao lại thành phố Ðà Lạt do Bác Sĩ người Pháp, tên Yersin khám phá và lập nên cho Nam Triều nên ông Vua Bảo Ðại đã lấy làm ỏõ Hoàng Triều Cương Thổ ỏõ dành cho Hoàng thân quốc thích và tất nhiên là người Pháp cai trị.

Ngược lên hướng Tây Bắc từ Thác nước là Phi trường Cam Ly, với đồi núi trùng điệp vây quanh, nhưng phi trường rất ít được sử dụng vì thời tiết mây mù và núi cao vây quanh. Từ đây, đi ngược về thành phố, trên một ngọn núi lớn với rừng thông già là khu trường nổi tiếng của các Bà Sơ là "Couvent des Oiseaux" với các nữ sinh xinh đẹp như mộng, trong bộ đồng phục váy đầm xếp nếp màu xanh Ðại dương từ những gia đình khá giả ở khắp miền Nam gửi đến nội trú. Ở phía Nam là ấp Du Sinh gồm những người Bắc di cư vào Nam trốn chạy Cộng Sản hồi năm 1954 lập nghiệp sinh sống tại đây. Qua một núi thấp với những ngôi biệt thự sang trọng nhìn về hướng thung lũng xóm Lò Gạch sẽ đến khu trường nội trú Tiểu học "Petit Lycée" với cơ sở khang trang nằm ẩn khuất trong rừng cây thơ mộng. Về hướng Ðông, qua nhà máy Ðiện thường được dân chúng gọi là Nhà Ðèn, qua Cầu Ðúc rồi leo dốc Duy Tân gần như thẳng đứng dẫn lên phố Hòa Bình. Nếu tiếp tục đi về hướng Ðông Nam sẽ qua những ngôi biệt thự lộng lẫy, kiêu kỳ hơn nữa trên con đường mang tên Bác Sĩ YERSIN với khu Tòa Án, rẽ vào Trung Tâm Thí Nghiệm Chủng Ngừa của Cố Bác Sĩ Yersin, vào Biệt Ðiện số 1 của Vua Bảo Ðại, gần bên rừng ái ân với cảnh trí thật thơ mộng và vắng vẻ.

Lúc còn học ở trường Tiểu Học Ðà Lạt, là trường Tiểu học duy nhất lúc ấy dạy tiếng Việt, vào năm 1951, tôi được đề cử cùng những học sinh khác vào Dinh Vua Bảo Ðại ở Biệt Ðiện số 1 để nhận quà Tết do chính tay ông Bảo Ðại trao cho. Dinh cơ nguy nga và tráng lệ như cảnh phim Vua Chúa của Tây Phương thời đó. Tôi cũng có được món đồ chơi duy nhất từ bé đến lớn là con gà con bằng nhựavới máy móc làm nó nhẩy từng bước trên hai chân.
Ở ngã ba rẽ vào Biệt Ðiện số 1 là cơ sở hành chánh của chính quyền, sau này có khi được lấy làm Tiểu Khu cho đến lúc dời lên cơ sở của Ðại Biểu Cao Nguyên Trung Phần do các ông Tôn Thất Hối và Nguyễn Văn Ðãi đảm trách đến ngày cuối cùng.

Ngay sau lưng đường Yersin là thung lũng sâu hẹp của ấp Xuân An, Dốc Nhà Bò, Suối Cát dẫn về Suối Tía xuống tận Núi Voi dưới chân đào Prenn. Một bên là trường Dòng Domaine de Marie tức là địa phận Ðức Bà, một bên là sân vận động nhỏ rồi đến ngôi Nhà thờ Con Gà với tháp chuông cao có hình con gà trên cùng.
Kế đến là khách sạn Du Parc với Tháp cao làm Ðài Phát Thanh, Ngân Khố, Bưu Ðiện và khách sạn Palace nằm trên đồi nhìn xuống hồ nước Xuân Hương với đường bậc cấp thoai thoải, rộng lớn đưa xuống đường vòng quanh Hồ với Nhà Thủy Tạ sơn trắng đứng trên doi đất chồm ra mặt nước. Một bên đường là Câu Lạc Bộ Thể Thao với sân quần vợt.Ở lưng đồi, có một khu biệt thự trước năm 1959 dành làm trường Quốc Gia Hành Chánh với khóa học đầu tiên.

Tòa Ðại biểu Chính Phủ Cao Nguyên Trung Phần là một dinh thự bề thế nằm ngay trên đỉnh đồi nhìn về phía Hồ nước với đường trải nhựa vòng cung và hàng rào sơn trắng uy nghi. Về hướng Ðông là ngã tư đầu dốc Prenn đổ dốc vào thành phố. Bên kia là ngọn núi dành cho Biệt Ðiện số 2 của Vua Bảo Ðại. Khoảng năm 1959, mới có cây xăng Kim Cúc được xây dựng ngay góc ngã tư này. Từ đây, đổ xuống dốc là hai dãy biệt thự đối mặt kéo dài xuống tận cuối dốc với khách sạn và nhà hàng PHÁP tên ỏõ Au sans soucis ỏõ. Khi ngược lên là mấy ngôi biệt thự nằm lẻ trong rừng thuộc tài sản của một người Pháp ở Ðà Lạt lâu đời tên là Farraut. Ngay tại đây, từ trước năm 1975, chính quyền đã phá núi làm bến xe cho các loại xe đò, xe chở hàng để giảm bớt lưu lượng trong thành phố. Quen thuộc nhất là Nghiệp đoàn xe đò Minh Trung với loại xe hiệu Peugeot của Pháp được biến cải để chở cả 9, 10 người khách.

Vào năm 52, gia đình tôi tạm trú ở căn biệt thự số 17 đầu dốc Preen, bên kia đường là nhà của Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Liên Quân lúc ấy là Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu và tư dinh của Chỉ huy trưởng Ngự Lâm Quân là Thiếu Tá Trần Bá. Lúc ấy, đám con của láng giềng tôi đều có xe đưa rước đi học, chỉ có anh em tôi phải lội bộ điến trường. Hơn nữa, họ đâu có thèm học trường Việt. Người giàu sang phải học "trường Pháp".
Ðường đèo dốc Preen dài ngoằn ngoèo cả 10 cây số. Ðường hẹp với một bên là bờ núi đá và một bên là dốc sâu thăm thảm. Lúc còn đi Hướng Ðạo ở Ðà Lạt, bọn trẻ nhỏ chúng tôi từng nhiều lần đổ dốc bằng xe đạp khi đi cắm trại. Ở khoảng cây số thứ 4 là thác nước Ða Tăng La, lúc xưa gọi theo tiếng Kơ Ho là Dantania, với dốc đá cheo leo khuất trong rừng sâu dày đặc. Vừa hết đèo dốc là thác nước Preen ngay bên trái với màn nước chảy chồm qua mỏm đá trong cảnh rừng núi đầy thơ mộng.

Thoạt tiên, khi người Pháp mở đường lên Ðà Lạt, trên Quốc Lộ 20 sau này, từ Bảo Lộc, Di Linh đi lên họ đã mở một đường đèo ngắn hơn nhưng nguy hiểm hơn song song với đèo hiện hữu xuyên lên khu trại Hầm. Ngay ngọn đèo đã bỏ hoang ấy, với đường rải đá loang lỗ, có một ngôi Chùa Sư Nữ với những cây mít lâu năm cằn cỗi và vườn mận trái ngọt.
Từ ngã bao đầu dốc Preen mới, qua Biệt Ðiện sẽ đến khúc Ðại lộ Trần Hưng Ðạo rộng gấp ba bốn lần những con đường trên Ðà Lạt, với những ngôi biệt thự hai bên đường sang trọng dẫn đến khu Villa Alliance của các nhà Truyền Ðạo Tin Lành ở ngay đầu dốc Preen cũ, liền với ấp trại Hầm nổi tiếng với những khu vườn Mận ngọt lịm chớm vàng ươm hoặc màu tím sẫm đen. Từ đây dẫn xuống Biệt Ðiện số 3 nằm khuất trong rừng núi sâu là nơi Vua Bảo Ðại làm chỗ đi săn bắn. Ðầu dốc đường vào trại Hầm, có một biệt thự làm Nitgh Club, mãi đến tập niên 60 mới dẹp bỏ. Từ đây đi về hướng Ðông là đường đi Phan Rang với đèo qua Trại Mát, Trạm Hành, Ðơn Dương, đèo Ngoạn Mục, Sông Pha. Bên trái, trước khi đến khúc quan nhìn xuống hồ Than thở là một biệt thự lúc xưa làm chỗ "Mãi Dâm" công khai cho lính Viễn chinh Pháp ( Borden Militaire ). Bên phải là hai trụ sơ Ưcủa Hướng Ðạo Pháp để lại. Trại Mát là một làng nhỏ bên đường với ngôi nhà thờ Cao Ðài khá lớn và vườn cây cà phê, rau cải. Bên trong xa có ghền và thác nước nhỏ rất ngoạn mục nhưng chưa được khai thác thương mại và xóm dân gần đa số di cư từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vào. Từ Trạm Hành phải đổ con dốc 4, 5 cây số mới đến Ðơn Dương với Hồ nước Ðập Ða Nhim do người Nhật xây dựng thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

Song song với đường đi Trại Mát, nối dài đường vòng hồ Xuân Hương là con đường nằm ngang dưới chân biệt thự và phòng mạch của Bác sĩ Sohier, đã sống gần trọn đời tại nơi này, đưa vào Nha Ðịa Dư Quốc Gia và Trường Trung Học "Grand Lycée Yersin". Trường sở bề thế chiếm hẳn một chỏm núi rộng cả ngàn mét vuông với các dãy nhà hai tầng làm phòng ốc cho lớp học, nhà nội trú, phòng thể dục với sân rộng lớn hơn một sân bóng đá và một tháp chuông vươn lên khỏi chòm rừng thông, ở hướng Ðông, nhìn xuống hồ nước. Ðây là một cơ sở giáo dục lớn do Chính phủ Bảo hộ Thuộc địa Pháp xây dựng được đặt thống thuộc trực tiếp vớiBộ Giáo Dục của nước Pháp, với chương trình học, thi cử được sự công nhận của Mẫu Quốc với Chương trình học, Giáo sư và sách vở đến từ Pháp. Con em của dân Pháp thuộc địa và công chức Pháp đã gửi lên đây ở nội trú theo học cùng với các gia đình người Việt giàu có hoặc làm việc cho Pháp. Ngoài ra, còn có một số ít người Thượng của các sắc tộc trên Cao Nguyên được tuyển chọn cho vào học miễn phí trong kế hoạch lâu dài cho cuộc thống trị. Một số người Thượng gốc Kơ Ho, Ra Ðê còn được đưa qua Pháp du học để trở về phục vụ cho chính phủ thuộc địa Pháp. Ðây cũng là mầm mống đã nảy sinh ra Mặt Trận FULRO ở Cao Nguyên của người Thượng với sự tiếp tay của Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ sau này. Nơi này cũng thu hút nhiều nhà trí thức của Pháp muốn thay đổi không khí tìm đến dưới hình thức dạy học như Thi sĩ Jean O'Neil còn lăng mộ nằm sau lưng Nhà Thờ của địa phận Ðức Bà "Domaine de Marie" ở ấp số 4, Ða Nghĩa, trên một thế đất giữa thung lũng nhỏ với dòng nước bao quanh rất nên thơ.

Từ ngã ba vào Nha Ðịa Dư, đường vòng qua Ga Xe Lửa tọc lạc trên một mảnh đất khá rộng san bằng một chỏm núi với ấp Hồng Lạc nằm dọc theo khe nước. Ấp này mới thành hình từ năm 1951 với khu trại gia binh dành cho Ngự Lâm Quân đồn trú bảo vệ Hoàng Triều Cường Thổ. Ðường xe lửa chạy song song với đường bộ đi về Trại Mát đến Ðơn Dương. Ở những chặng đường đèo, xe lửa được giữ lại nbằng móc sắt ỏ giữa đường với thêm một đầu máy đẩy lúc lên dốc và hãm lại lúc xuống dốc. Sau này đường xe lửa ngưng chạy vì an ninh đã trở thành trụ sở của Hàng Không Air Việt Nam để lập thủ tục đưa hành klhách bằng xe ca về tận Phi trường Liên Khương ( cách 20 cây số về Nam ). Từ Ga xe lửa qua ấp Cô Giang, Cô Bắc là nơi có một biệt thự nghỉ mát cho Không Quân trước năm 75. Với nhiều biệt thự theo kiểu của Anh, Ý đến tận ngã rẽ vaò trường Võ Bị Ðà Lạt, trước khi vào khu phố Chi Lăng và hồ Than Thở ở phía Ðông, Trường Võ Bị được chính phủ Bảo Hộ Pháp thành lập để đào tạo cán bộ cho Quân đội thuộc địa. Bên cạnh là bệnh viện quân đội ỏõ Catroux ỏõ làm nơi chữa trị và dưỡng thương cho Sĩ quan Pháp từ các mặt trận chuyển về.

Bệnh viện với nhiều căn nhà trệt và một nhà lầu hai tầng bao quanh một sân rộng như sân bóng tròn, nằm trên một chỏm núi san bằng sâu vào bên trong, nối liền với cơ sở của trường Võ bị Liên Quân cũ. Bên ngoài là cơ ngơi của các Y sĩ, Sĩ quan phục vụ với gia đình. Vào năm 1960, trường Võ Bị Liên Quân được cải tổ thành trường Võ Bị Quốc Gia dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, với cơ sở bề thế, khang trang mới được xây dựng trên ngọn đồi 1515 san bằng bên cạnh trang trại của Farraut và gần hồ Than Thở. Với Chính phủ Quốc Gia và chương trình Ðại Học 4 năm lồng trong việc huấn luyện quân sự lấy theo khuôn mẫu của trường Võ Bị West Point bên Mỹ, đã thu hút nhiều thế hệ thanh niên ở miền Nam từ năm 60 đến 75.

Với 4 khóa học cùng một lúc trong trường, vào ngày nghỉ được ra phố cuối tuần, các sing viên Sĩ Quan đã tô điểm thêm cho vẻ sang trọng của Thành phố với các bộ quân phục mùa Hè và mùa Ðông thẳng nếp chỉnh tề, đẹp mắt. Bên trái của Trường Võ Bị nằm trên một ngọn Ðồi Cù, bên hồ là trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc được xây dựng vào năm 1960, đã cung cấp một số giáo sư du học từ Mỹ về cho trường Võ Bị và Trường Ðại Học Chính trị Kinh Doanh, Văn Khoa và Sư Phạm ở Ðà Lạt.

Cơ sở của Khu Ðại Học Ðà Lạt ở ấp Ða Thiện vốn là trường ốc nội trú của Thiếu Sinh Quân Pháp sau năm 1955 được chuyển về Vũng Tàu. Cũng như cơ sở của Trường Trung Học Trần Hưng Ðạo bên hồ nước nhân tạo bên ấp Ða Thiện cũng từ cơ ngơi của Thiếu Sinh Quân giao lại từ năm 1952 với tên trường Bảo Long là Hoàng Tử của Vua Bảo Ðại. Nằm trên sân Cù là nền đất đỏ san bằng ngọn núi thấp là trường Nữ trung Học Bùi Thị Xuân nguyên thủy là trường Trung Học Phương Mai tên của Công chúa con Vua Bảo Ðại, rồi được đổi thành Quang Trung khi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm lên chấp chánh. Sau cùng, tất cả nam sinh được dồn về Trung học Trần Hưng Ðạo và cơ sở này dành cho Nữ sinh với tên trường là Bùi Thị Xuân với đồng phục áo dài màu xanh, quần trắng. Ðối diện với trường Bùi Thị Xuân là trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị được lập năm 1961 đã cung ứng Sĩ quan CTCT cho các đơn vị quân đội. Ðây nguyên là cơ sở của trường Huấn luyện Hiến Binh của Quân Ðội Liên Hiệp Pháp, về sau giải thể nhập chung vào ngành Quân cảnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Dưới thung lũng hẹp của ấp Ða Thiện gồm đa số người Việt di cư từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào, chuyên trồng trái dâu tây. Kế đến là ngọn núi nghĩa trang thường được gọi là Mả Thánh được lập từ ngày có thành phố Ðà Lạt với mộ bia chồng chất từ dưới chân núi lên đến đỉnh phía Ðông là khu mộ Tử Sĩ của những thanh niên yêu nước chống Pháp đã hi sinh. Dưới chân núi phía Tây, theo đường lên núi Bà là làng Ða Nghĩa với ấp số 4, ấp số 6 gọi theo mốc cây số đường, lên đến Ðăng Kia, Suối Vàng với ngôi chùa Linh Sơn (1) lâu đời. Ở Ðan Kia, có một cao ốc Tu viện Thiên Chúa đồ sộ nổi lên giữa rừng núi của Dòng Ða Minh.
Cao sừng sững về phía Bắc là dãy núi Bà với hai chỏm núi gần như chìm trong sương mù quanh năm. Hàng năm, các khóa Võ Bị đã lần lượt vượt đồi núi chinh phục đỉnh Lâm Viên như một truyền thống trước khi chính thức trở thành Sinh viên Sĩ quan.

Từ ấp số 4 về khu phố Hòa Bình có hai đường gần như song song. Ðường trên các ngọnnúi nối liền chạy ngang trước mặt khu tu viện "Domaine de Marie" với ngôi nhà thờ Ðức Bà uy nghi trên đỉnh núi với bậc cấp rộng lớn, xoai xoải đưa lên cửa chính với các cơ sở nhà tu khang trang vây quanh dành cho các Nữ tu Dòng Thánh Mẫu Marie với cơ sở trường tiểu học đạo Thiên Chúa. Nằm khiêm nhừng bên dưới, bên đường Hai Bà trưng là trường Tiểu học Ða Nghĩa, bắt đầu bằng một ngôi nhà dành cho ba lớp sơ cấp từ năm 1945 đến 1959 mới phát triển thành trường Tiểu Học, Tiếp đến, trên đường Hai Bà Trưng bên dòng suối nhỏ chảy về Cam Ly là Cư xá công chức của Thị xã như Bưu Ðiện, Công chánh.v.v. . . Với các vườn rau cải dọc theo dòng nước tiếp liền qua đường Phan Ðình Phùng khởi đầu một khu phố buốn bán sầm uất. Gần nhà thờ Ðức Bà tọa lạc khu Nhà Thương dành cho quần chúng với sự chăm sóc nhân từ của các Sơ từ Tu Viện Domaine de Marie đến làm việc từ thiện bác ái.
Nhà Thương Ðà Lạt dành cho quần chúng nghèo và người Thượng từ các Buôn về. Dãy nhà lầu hai tầng rộng rãi cách khu nhà Thương chừng vài trăm mét về phía Nam là Bệnh viện Ðà Lạt với các Bác Sĩ, Y Tá người Pháp dành cho giới giàu sang. Về phía Tây, gần đấy là cơ sở nhà Ðoan đổ dốc nhỏ qua các biệt thự với vườn cây Mận dày đặc đưa lên ngọn núi với các cơ sở của Cảnh Sát và Công An đổ về miệt thác Cam Ly. Dưới chân núi Nhà Ðoan là xóm Lò Gạch, sau này đổi tên là đường Hoàng Diệu tiếp giáp đến khu nhà sàn định cư của một số người Kơ Ho làm việc cho Trang trị nhà Farraut. Các Bà Sơ dòng Tu cũng coÀ một thời mở một tiệm ăn ở đầu dốc gần nhà Ðoan để kinh tài với phong cách rất đặc biệt thu hút nhiều khách hàng từ xa đến.
Từ đường Phan Ðình Phùng, ở khoảng giữa, có ngả rẽ lên dốc với chùa Linh Sơn (2) trên lưng núi với cơ ngơi khá bề thế và trang trí đẹp mắt, hòa nhã nối tiếp qua con đường Võ Tánh đưa xuống hồ Ðội Có, là hồ nhỏ chứa nước dùng cho cả thành phố với nhà máy lọc nước. Từ đây đi ngược lên núi là đường độc đạo đưa lên Dinh Thị Trưởng, đường Hàm nghi dẫn vào phố chợ, trước được người Pháp bắt chước Tàu đặt tên là đường An Nam với ngôi nhà thờ Tin Lành hỏ gọn ở lưng chừng núi và rạp chiếu bóng nhỏ xíu nằm chênh vênh bên dốc đứng nhìn xuống đường Phan Ðình Phùng. Từ đây đi vào vào Bến xe cũ ngay dưới chân Dinh Thị Trưởng và Khu phố Chợ với Nhà Lồng Chợ ở giữa và tiêm buôn bán, nhà hàng bao quanh gồm một số đáng kể của người Tàu đã định cư lâu đời theo dân Pháp thuộc địa, nổi tiếng với những nhà hàng ăn sang trọng như Au Chic Sanghai, tiệm bánh mì Vĩnh Châu, tiệm thuốc Bắc, Tạp hóa xen lẫn một ít cơ sở buôn bán của người Việt vốn dòng dõi Hoàng tộc nhà Nguyễn. Các Ông thì đều là Tôn Thất và các Bà, các Cô đều là Tôn Nữ. Bà chủ tiệm vàng lâu đời Bùi Duy Chước vốn là Công Tằng Tôn Nữ. Ðấy là thời kỳ Hoàng Triều Cương Thổ. Ðến năm 54, những tiệm phở Bắc nổi lên với Phở Bằng ở đường Hàm Nghi, Phở Tín bên hông chợ và Càphê Tùng với cà phê Ban Mê Thuột và nhạc trào lưu mới quyện trong khói thuốc lá mịt mù. Vài năm sau có gia đình lưu lạc từ Nam Vang lên đây mở tiệm hủ tiếu Nam Vang lừng danh. Gần rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, đầu hẻm từ Phan đình Phùng đi qua đường Hai Bà Trưng là quán Mì Quảng với hương vị đặc biệt nổi danh lại do một ông người Bắc vào Nam từ những năm 1940 đứng nấu. Ngay góc đường đầu dốc Duy Tân có tiệm làm bánh mì Vĩnh Chân nóng giòn từ sáng sớm cho đến khuya. Sau này, vào khoảng năm 59, có người Do Thái "nhận nơi này làm quê hương" mở lò bánh mì ngon hơn hết. Về khuya, khi các tiệm tạp hóa đóng cửa, quanh khu chợ Hòa Bình và đường nhỏ trước mặt khách sạn Thủy Tiên đã mở ra các gánh bắp nướng, cháo gà, bún riêu, bún bò. . . cho khách đi chơi về đêm. Con đường nhỏ này chạy ngan cổng trường Tiểu học Ðà Lạt dẫn vòng theo triền núi qua Thư viện cũ, sân Quần Vợt, Cư Xá Sinh Viên Ðại Học Nữ và các biệt thự lên đến đỉnh núi với giao thông hào và hố chiến đấu còn sót lại từ thời quân Nhật chiếm đóng. Với một trang trại nhỏ của Farraut do mấy người Thượng ở trông coi. Ðầu dốc khu Hòa Bình, con dốc ngắn đổ xuống cầu ông Ðạo với hai hàng cây Mai Ðà Lạt nở hoa màu hồng tươi thắm rộ hai bên lề đường. Con đường phía trên qua dãy ỏõ Kiosque ỏõ nhỏ, đến rạp Ngọc Lan, với xe Phở Bắc nổi tiếng món phụ hành ngâm giấm và cải xà lách răng cưa, vòng ấp Ánh Sáng xuống cầu Bá Hộ Chúc. Năm 1958, Ấp này được lập cho dân nghèo với những căn nhà vách ván mái tôn. Ðầu ấp là Bến xe đò cũ sau ngày ngôi chợ mới được xây cất xong. Chợ mới này là công trình của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khởi công vào năm 1958 với khúc Ðại Lộ ngắn nguyên là hẻm núi giữa khu phố Hòa Bình và chân núi xoải dài từ Dinh Thị Trưởng ra đến hồ Xuân Hương. Trên núi là Nhà Giam Chính của Ðà Lạt, với một số biệt thự nhìn xuống hồ như biệt thự của Bảy Viễn, Luật sư Hoàng Cơ Ðịnh. . . Kiến trúc ngôi chợ hai tầng dựa lưng vào vách núi với bậc thang rộng rất ngoạn mục dẫn lên Khu Hòa Bình với Phòng Trà ỏõ La Tulipe Rouge ỏõ vang bóng một thời với các Ca sĩ Mỹ Thể và Khánh Ly thuở còn chưa nổi tiếng, cùng một vài khách sạn và nhà Kiosque làm tiệm ăn, bán hàng Len,vật Kỷ niệm. Ðường vòng hồ Xuân Hương được tô điểm thêm, năm 1959 với vườn Bích Câu trồng đủ các loại hoa đẹp, rực rỡ quanh năm thu hút khách du lịch từ phương xa tới với bầy ngựa núi làm cảnh.
Từ hồ Xuân Hương đi lên trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân là đường Võ Tánh với xóm nhà nhỏ và vườn cây đào, cây mận. Nơi này là chỗ sinh trưởng của Nhạc sĩ Lê Uyên với những khúc tình ca khác lạ với dòng nhạc đương thời làm rung động nhiều con tim của tuổi trẻ đang bước vào cuộc chiến ngày càng khốc liệt ở Một thành phần khác nữa là người Pháp thuộc địa và những kẻ làm việc cho họ hầu như đếu mang quốc tịch Pháp. Anh dấ gia nhập nhóm Tao Ðản. Ðải Phãt Thanh Saigon với giọng ngâm thơ truyền cảm và nức nở cùng với giọng ngâm Nữ Hồ Ðiệp.
Về người Ðà Lạt, ngoài người sắc tộc Ko Ho nguyên thủy, dưới triều đại Hoàng Triều Cương Thổ đời Vua BảoÐại, dân cư ai cũng có dính dáng đến Hoàng Tộc nhà Nguyễn di dân vào từ Huế.

Một thành phần khác nữa là người Pháp thuộc địa và những kẻ làm việc cho họ hầu như đếu mang quốc tịch Pháp. Trước năm 60, thành phố có khá nhiều trẻ lai Pháp ở các trường dòng Ðạo Thiên Chúa như Adran, Domaine de Marie. Sau năm 60, dưới thời hòa bình của Tổng Thống Diệm, việc trồng trọt rau cải được người Pháp mang giống sang từ lâu như bắp cải,sà lách, cà rốt .v.v . .. được phát triển mạnh với từng đoàn xe vận tải chở về bán tại Saigon, Nha Trang, một số khá lớn người từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi nghèo khó đã đến định cư và tạo thành một khối nhân lực đáng kể. Với sức chịu đựng lâu bền, cần cù, họ đã chăm chỉ khai thác tối đa những thung lũng, hẻm núi để tạo nên thành những thửa vườn rau tươi tốt quanh thành phố từ Trại Mát, ấp Thái Phiên, cây số 6, Lò Gạch, Cam Ly Thượng đến Suối Cát, Suối Tía.
Trong cuộc chiến tranh khốc liệt ở miền Nam từ năm 1965 đến 1975, lớp thanh niên sinh trưởng ở Ðà Lạt đã vào quân đội đi chiến đấu và hi sinh khá nhiều ở các mặt trận. Phần lớn, vốn thích mặc đẹp và oai hùng, họ đã gia nhập vào Không Quân và Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa.
Nhắc đến Ðà Lạt, cũng không thể thiếu những địa danh ở ngoại ô. Dưới chân đèo Ðơng Dương là đập nước Ða Nhim. Bên dưới dốc Preen, ở cây số 17 là đường vào La Ba, Ðức Trọng với thảo nguyên rộng mênh mông trên cao và hồ nước trong xanh nổi tiếng với một loại khoai lang mật ngọt như mật đường được xẻ phơi khô và chuối trái nhỏ vỏ mỏng, quả thơm trái lớn.
Ngày xưa, tôi từng có mộng về hưu về đây mở trang trại trồng trọt với thú săn bắn về đêm. Vài cây số về phía Nam là Phi trường Liên Khàng về sau được đổi gọi là Liên Khương với thác nước rộng lớn đổ xuống khu làng Tùng Nghĩa của các sắc dân miền Bắc di cư vào năm 1954 lập nghiệp sinh sống. Thác nước hùng vĩ và ngoạn mục hơn nằm xa trên Quốc Lộ 20 về phía Nam độ 30 cây số là thác Gougah và Pongour nằm sâu vào bên trong phía Tây Quốc Lộ. Về phía Ðông Bắc của thành phố, bên ấp Thái Phiên là con đường đất bỏ hoang do người Pháp thiết lập để nối từ Ðà Lạt về Nha Trang. Về sau, có một Buôn người Thượng định cư ở đây gọi là Ða Rơ Hoa.

Một số không ít đã gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia tại Ðà Lạt và đã có hai Thủ Khoa. Chiến tranh chỉ nhớm chân ngoài rìa thành phố và một vài biểu tượng từ các Phi Hành đoàn Trực thăng của Không Quân ghé lại với chiến phục và súng đạn. Ngoại trừ, một vài lần vào năm Mậu Thân 68, một lực lượng yếu kém của Việt Cộng xâm nhập từ Ðan Kia, Suối Vàng về đến rạp Chiếu bóng trên khu phố Hòa Bình đã bị quân đội ở địa phương đánh đuổi ngay ngày hôm sau. Còn lại là những vụ pháo kích nhỏ, lẻ tẻ vào một vài nơi đồn trú của Quân Ðội. Dù vậy, chiến tranh cũng không để lại dấu vết nào đáng kể trên thành phố thơ mộng, êm đềm này.
Có nhiều nghi vấn về ngôi chùa Linh Sơn (3) đồ xộ, tráng lệ đã được xây cất lên sau 1975 ở vùng Suối Tía, từ đầu dốc Preen đi vào là nơi vốn là địa bàn hoạt động của Du kích Việt Cộng ngày xưa và trong lúc dân chúng nghèo đói cực khổ của một quốc gia được Liên Hiệp Quốc xếp hạng gần chót của các nước nghèo trên thế giới.
ÐÀ LẠT NGÀY NAY:

Sau năm 1945, trong cao điểm của thời kỳ chống Pháp với phong trào Việt Minh do Cộng Sản chủ mưu, một số thanh niên yêu nước đã hăng hái theo vào chiến khu rồi sau đó, ở thế kẹt, phải ra tận ngoài Bắc trong chiến dịch Tập Kết vào năm 1954. Một số lớn họ đã trở về Ðà Lạt sau năm 1975. Những người này với tinh thần ôn hòa đã cố giữ quê hương của họ tráng giai đoạn tàn sát của chủ nghĩa Cộng Sản cho đến thời kỳ được gọi là "Ðổi Mới".
Nhưng từ sau năm 1975 cho đến 79, 80, một số rất lớn những người có máu mặt, tiền của, trí thức đã chạy trốn khỏi Ðà Lạt. Ðặc biệt là những người có liên hệ đến chính phủ Pháp vốn có quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Hànội đã lần lượt được ỏõ Hồi Cư ỏõ về Pháp, để lại đằng sau những biệt thự rộng lớn, nguy nga, tráng lệ không có người ở, chăm sóc và cửa tiệm đóng cửa.
Năm 1984, khi được thả về từ Trại Tù Cải Tạo, tôi đã trở về thăm gia đình và lòng tràn đầy chua xót khi thấy ỏõ quê hương của mình đã mất ỏõ. Bây giờ chỉ còn người dân Ðà Lạt lam lũ, tất bật. Những người ở lại là những người sống bám theo những mảnh vườn rau cải. Ngoài ra,hơn 20 ngàn người từ miền Bắc được chính quyền mới đưa vào Nam với chính sách di dân khống chế Cao Nguyên Miền Trung đã phá rừng ở quanh khu lân cận thành phố khiến cho các dòng nước bị cạn, và thời tiết cũng không còn mát mẻ như xưa. Con đường Phan Ðình Phùng buôn bán thuỏ xưa, nay đã trở nên đông đúc, chật hẹp và ồn ào náo nhiệt như một khu phố của thành phố SàiGòn ngày trước. Với mức dân số tăng vọt sau chiến tranh, thành phố đã phát triển vô tổ chức, không kế hoạch đưa đến tình trạng bát nháo, từ khu vực Phan Chu Trinh, Nhà Ðèn đến Chi Lăng ăn vào tận Hồ Than Thở. Cơ sở của Trường Võ Bị nay tiêu điều, xơ xác như bị bỏ hoang. Các dòng nước bị ngăn chặn và lám cho các hồ Than Thở, Xuân Hương muốn cạn khô khiến vẻ đẹp thiên nhiên không còn nữa. Các loại xe máy nổ cũng tăng vọt làm cho không khí yên tĩnh của Ðà Lạt ngày xưa biến mất. Ðến thời kỳ đổi mới,người Nhật, người Tầu Ðài Loan, Hồng Kông đã đổ tiền vào khai thác như tu sửa khách sạn La Palace, làm sân Golf, xây khách sạn nghỉ mát trên vùng đồi núi bên hồ nước Suối Vàng. Ðà Lạt bỗng chốc biến dạng như một thiếu phụ đã luống tuổi vội vàng tranh điểm, thay đổi xiêm y. Một giai cấp mới được thành hình vừa ỏõ Rởm ỏõ lại vừa "lai căng". Tây không ra Tây, Tầu không ra Tầu. Ðà Lạt diễm kiều của ngày xưa nay đã mất. Thay vào đấy là cô gái Xã Hội Chủ Nghĩa đi giầy cao gót, đồng phục công nhân và mái tóc cắt ngắn đã được nhuộm màu vàng, đỏ với đôi mắt láo liên và đôi môi cong cớn. Ngọn núi nghĩa trang của Ðằ Lạt có từ những năm 30 đến nay đang bị đào xới và san bằng cho chương trình kế hoạch của người tư bản Nhật. Ở đấy, có cả một nhóm mộ ngày xưa được gọi là Mộ Tử Sĩ, ngày nay không còn ai công nhận để bị dẹp bỏ cho con đường đổi mới.
Những người cầm quyền như lưỡng lự đứng giữa ngã tư đường không biết nên đi theo hướng nào. Một thành phố Du lịch và Nghỉ mát có mâu thuẫn với Xã hội Chủ nghĩa không? Bây giờ dân số Ðà Lạt đã gấp ba lần trước năm 1975, chưa rõ phải sống trên nền móng kinh tế nào?
Cuộc khai thác du lịch như nửa mùa, quê kệch ở hồ Xuân Hương, Thác Cam Ly, Thác Da Tan La, Preen, Suối Tía, Rừng Ái Ân, Biệt Ðiện vua Bảo Ðại chỉ làm cho bộ mặt Ðà Lạt càng thêm diêm dúa như "gái đĩ về già".
Ðà Lạt ngày nay càng xói mòn vì mưa lở và khí hậu ngày cáng nóng bức vì trơ trụi mất rừng cây thông bạt ngàn bao quanh.

UserPostedImage



UserPostedImage
TUS  
#5 Posted : Thursday, April 8, 2010 12:42:36 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Quote:
Originally posted by cactus20113
HỒ THAN THỞ

Hồ Than Thở là một hồ nước tự nhiên thuộc thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) và cũng là một địa điểm du lịch của thành phố này.

Tạp chí Indochine (Đông Dương) số 28 ra ngày 13 tháng 3 năm 1941 chọn ảnh hồ Than Thở làm ảnh bìa.

Trước đây vùng hồ Than Thở có một cái ao gọi là Tơnô Pang Đòng. Vào năm 1917, người Pháp đắp đập xây dựng hồ chứa nước cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Lạt.

Người Pháp đặt tên hồ là Lac des Soupirs với nghĩa thứ hai (tiếng rì rào), nhưng khi dịch sang tiếng Việt lại dịch theo nghĩa thứ nhất: hồ Than Thở.

Vào lúc bình minh, sương mù bao phủ mặt hồ, tạo nên một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp, nên sau năm 1975 hồ Than Thở còn mang tên hồ Sương Mai
UserPostedImage
UserPostedImage
HỒ TUYỀN LÂM

Hồ Tuyền Lâm là một hồ nước thuộc thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.

Đây là hồ nước ngọt rộng nhất Ðà Lạt, với diện tích khoảng 320 ha, nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 7 km và cách thác Ðatanla 2km. Hồ nằm gần núi Phụng Hoàng, đây được xem là khu phức hợp tập trung nhiều cảnh quan đẹp và dịch vụ du lịch phong phú.

Hồ Tuyền Lâm là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam. Hồ có nhiều ốc đảo nhỏ và được bao bọc bởi khu rừng thông. Trúc Lâm Thiền Viện là một thiền viện nằm ở phía Đông Nam hồ nước này. Một đập nước được xây dựng tại đây với chức năng điều tiết nước. Hiện đang có dự án xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf và khu săn bắn bên hồ.
UserPostedImage
UserPostedImage cactus bên hồ Tuyền Lâm
THUNG LŨNG TÌNH YÊU
Toàn cảnh nhìn xuống
UserPostedImage
Bức tượng MÙA XUÂN VĨNH CỬU
UserPostedImage

Thung lũng Tình Yêu là một trong những thắng cảnh thơ mộng nhất tại Đà Lạt, cách trung tâm thành phố khoảng 6 km về hướng Đông Bắc. Đó là nơi đập Đa Thiện (xây năm 1972) quy tụ những dòng suối nhỏ chảy từ đồi núi cao, thành một hồ nước (hồ Đa Thiện) trong vắt uốn quanh thung lũng rợp bóng thông xanh. Ban đầu, người Pháp gọi nơi đây là Vallée d'Amour (Thung lũng tình yêu) sau nó được đổi tên thành Thung lũng Hòa Bình, và năm 1953 trở lại là Thung lũng Tình yêu.

Thung lũng Tình Yêu đẹp và cuốn hút bởi lũng sâu và đồi thông. Năm 1972, một đập ngăn nước được xây dựng vắt ngang qua thung lũng tạo thành hồ Đa Thiện, làm tăng thêm sức quyến rũ cho cảnh quan chung, đồng thời xuất hiện thêm hai tên gọi khác bên cạnh Thung lũng Tình Yêu là đập 3 và hồ Đa Thiện 3.

Du khách có thể men theo những lối mòn hoặc leo cả trăm bậc, đi qua những cổng hoa với màu sắc rực rỡ để lên đồi Vọng Cảnh. Từ đây, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa một bức tranh sinh động.

Theo Hà Nội Mới, những con đường đất đỏ uốn lượn vòng vèo đưa khách lên đồi hoặc dẫn đến tận đỉnh núi Langbian thấp thoáng trong mây. Du khách cũng có thể vượt qua chiếc cầu nhỏ để khám phá đồi Địa Đàng, một địa điểm lý tưởng nhờ được bao quanh bởi hồ nước.

Thung lũng Tình Yêu là một địa danh du lịch sinh thái lý tưởng và hấp dẫn đã trở nên quen thuộc với du khách gần xa.
THÁC DATANLA

Đatanla hay Datanla là một ngọn thác lớn nằm trong khu du lịch Đatanla – cách thác Prenn 2km và thành phố Đà Lạt 5km và là điểm tham quan, phiêu lưu mạo hiểm. Đatanla hay Đatania do các từ K'Ho ghép lại: "Đà-Tàm-N'ha" có nghĩa là "nước dưới lá"[1] - liên hệ đến cuộc chiến tranh Chăm- Lạch - Chil thế kỷ XV - XVII.

Thác Datanla có lượng nước dồi dào do thượng nguồn là nguồn nước ổn định. Thác Datanla không ồn ào do chảy qua nhiều thềm đá. Thác đổ từ ghềnh cao 20m, nước suối phần dưới tạo thành khu vực nước rất trong nên gọi là Suối Tiên, phần sâu hun hút phía trên có một vực sâu gọi là Vực Tử Thần. Theo truyền thuyết, do thác có vực sâu nằm lọt thỏm giữa một vùng đồi núi nên đã từng là nơi lánh nạn của một cánh quân của người dân tộc bản địa trong các cuộc chiến tranh với người Chăm từ cách đây hàng trăm năm trở về trước. Nhờ có ngọn thác này nên một cánh quân đã trụ lại và bảo toàn được lực lượng
Có truyền thuyết kể lại rằng, vào thời Pôrêmê, người Chăm từ Panduranga (Phan Rang) thường kéo lên tấn công người Lạt, người Chil ở cao nguyên Lang Biang để giành đất và bắt nô lệ. Trong lúc người Lạch sắp thua vì thiếu “cái nước” thì tình cờ họ phát hiện ra dòng thác này và có nước uống, nên người Lạt đã chiến thắng và bảo vệ được buôn làng. Còn người Chăm thua vì họ không biết “dưới lá có nước”. Từ đó bà con bộ tộc Lạt đặt tên là “Đạ Tam Nnha” (dưới lá có nước) để nhắn nhủ với con cháu sau này.”

Truyền thuyết kể rằng, Đatanla còn là thác mà các nàng tiên thường hay xuống tắm vì có dòng nước trong vắt, được che phủ bởi nhiều tầng lá. Vì không biết là dưới lá có nước nên khi phát hiện ra con thác, bà con dân tộc thiểu số đặc tên cho nó là “Đạ Tam Nnha” có nghĩa là “dưới lá có nước”. Sau này khi người Pháp và người Kinh đặt chân lên vùng cao nguyên đầy trữ tình này thì biến âm thành Đatina rồi là Đatanla
UserPostedImage
UserPostedImage

Hệ thống máng trượt
Hệ thống máng trượt tại Đatanla được xem là máng trượt duy nhất của Đà Lạt. Máng có chiều dài 1.000m uốn lượn quanh các sườn núi, có hệ thống phanh cảm biến để hãm bớt tốc độ của những xe đi quá nhanh nhằm giữ khoảng cách an toàn giữa các xe. Trượt trên máng ống là những chiếc xe đôi dành cho 2 người, có tay phanh để điều chỉnh tốc độ theo ý muốn. Tốc độ trung bình là 10-20km, tốc độ nhanh là 40km. Trước đây muốn xuống thác Datanla phải vất vả vượt qua hàng trăm mét đường dốc thẳng đứng và chỉ có cách duy nhất là đi bộ với thời gian từ 10- 15 phút, nay có thể lên hoặc xuống thác rất nhanh từ 1,5- 2 phút.

UserPostedImage
UserPostedImage
THÁC CAM LY
Cam Ly là thác nước ở gần trung tâm thành phố Đà Lạt, chỉ cách khu Hòa Bình 2,3 km về phía đông - nam.

Thác không đẹp và thường ít nước vào mùa khô nhưng nhờ vị trí gần trung tâm thành phố nên du khách thường ghé thăm.

Dưới chân thác là một vườn hoa nhỏ. Phong cảnh chung quanh thác không còn hoang vu như ngày xưa. Trong khu vực tháp có lăng Nguyễn Hữu Hào với nhiều kiến trúc độc đáo.

Người Lạch gọi thác Cam Ly là Liêng Tô Sra, về sau đổi thành thác Cam Ly mang tên đoạn suối chảy từ Liêng Tô Sra đến sông Đạ Đờng.

Hiện nay, thác Cam Ly do Công ty cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt quản lý khai thác nhưng đang trong tình trạng xuống cấp do không được tu bổ, sửa chữa thường xuyên. Lăng Nguyễn Hữu Hào bị đập phá, cảnh quan đang bị phá hủy
UserPostedImage
THÁC PRENN

Thác Prenn là một thác nước đẹp thuộc tỉnh Lâm Đồng. Thác mang một vẻ êm dịu, duyên dáng như một màn nước đổ nhè nhẹ từ độ cao 10 m xuống một hồ nước nhỏ, xung quanh đầy hoa lá và một đồi thông vi vu.

Thác Prenn nằm ở chân đèo Prenn cách trung tâm Đà Lạt khoảng 10 km, nằm ven quốc lộ 20.

Cái tên Prenn gợi nhớ đến một thời xa xăm vào khoảng thế kỷ XV – XVII, khi vùng núi rừng nơi đây còn là ranh giới chiến trường của các cuộc chiến tranh xâm lăng và bảo vệ lãnh thổ. Prenn gốc tiếng Chăm có nghĩa là "vùng xâm chiếm", còn các tộc dân bản địa như Lat, Chil, Sré lại gọi kẻ xâm lăng là "người Prenn".

Để vào thác, du khách phải qua một chiếc cầu ngắn bắc ngang dòng suối đã được kè chắn bằng bêtông nhằm tránh bị xói lở. Con đường xuống thác thật đẹp với những bậc đá ôm theo sườn đồi được bố trí một cách hợp lý; Du khách sẽ nhìn thấy một bức màn nước buông mình từ độ cao gần 10m xuống thung lũng nhỏ đã được chỉnh sửa thành vườn hoa mà từ đây có nhiều lối đẹp đưa chân lên các đồi thông thoáng đãng chung quanh.

Du khách có thể men theo các con đường dẫn đến vườn thú, vườn lan hay thư thả dạo gót hoa viên ngắm nhìn những bông hoa khoe sắc, những căn chòi xinh xinh trên ngọn cây hoặc đung đưa cùng cầu treo bắc ngang dòng suối nhỏ. Ở một góc độ khác, vườn đá Thái Dương với sự sắp xếp đầy ngẫu hứng tạo được một bất ngờ thú vị. Đặc biệt với hệ thống cáp treo, du khách có thể ngang qua dòng thác trong cảm giác phiêu bồng, tưởng như đang đi vào cõi thần tiên...

Hiện nay, thác Prenn do Công ty cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt quản lý khai thác nhưng đang trong tình trạng xuống cấp do không được tu bổ, sửa chữa thường xuyên
UserPostedImage
THÁC HANG CỌP

Thác Hang Cọp là một thác nước thuộc thành phố Đà Lạt. Thác có chiều cao khoảng 50 mét.

Thác nằm cách quốc lộ 20b khoảng 2,7 km về phía đông, thuộc ấp Túy Sơn, xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt. Thác có nhiều tên gọi khác nhau như: Thác Đạ Sar, Long Nhân, Hang Cọp, Thác Ông Thuận, Thiên Thai... Thác cách xa khu vực dân cư 3 km, nằm trong khu rừng thông với diện tích 308 ha, chiều cao thác khoảng 50 m, dài 500 m. Dưới thác có một cái hang trong tảng đá lớn người ta đồn rằng nơi đây ngày xưa là nơi trú ngụ của một con cọp cho nên mới lấy hang cọp mà đặt tên cho thác.

Thiên nhiên quanh thác Hang Cọp hiện nay vẫn còn giữ được vẽ nguyên thủy sơ khai.
Huyền bí thác HANG CỌP

Nếu đứng dưới chân thác, du khách sẽ thấy bên trên là hai thác nhỏ liên hoàn nhau, dòng nước từ trên cao khoảng 6-8m chảy xuống chân những tảng đá lớn, bọt nước trắng xóa uốn lượn 20m thì đến thác nước cuối cùng.

Dòng nước rộng chừng 10m từ trên độ cao thẳng đứng 20m đổ vào một chiếc hồ xinh xắn bên dưới. Tiếng thác phát ra như tiếng cọp gầm, vang xa 2km. Dòng nước từ thác lớn tạo ra 7 tầng thác phía dưới, cao trung bình 4m. Bên cạnh thác có một hang đá rộng chừng 40m3, có 3 ngăn, 1 ngách và 2 miệng hang được tạo một cách tự nhiên. Người Chill gọi là Hang Cọp, tương truyền có cọp ở đó. Trước năm 1975, người K’Ho sinh sống bằng nghề làm rẫy, đốt than, săn bắn và đánh cá cư trú rải rác dọc sông Đạ Kòn, sông Đạ Langbian thuộc địa phận xã Xuân Thọ. Khoảng năm 1950-1975, nơi đây là cơ sở cách mạng, quân giải phóng đặt tên thác này là thác Ông Thuận.

UserPostedImage

Thác Hang Cọp nằm cách quốc lộ 20B 2,7 km về phía đông, thuộc ấp Túy Sơn, Xã Xuân Thọ, Thành phố Đà Lạt. Có nhiều tên gọi khác nhau dành cho thác nước này: Thác Đạ Sar, Long Nhân, Hang Cọp, Thác Ông Thuận, Thiên Thai... thác cách xa khu vực dân cư 3 km, nằm trong khu rừng thông với diện tích 308 ha, chiều cao thác khoảng 50 m, dài 500 m.

Thác có truyền thuyết liên quan đến lịch sử của các vương quốc Chàm trong các đợt giao chiến. Người già dân tộc Chill kể rằng, ngày xưa, dưới cái hồ xinh xắn của thác có một tượng đá hình dáng như bức tượng mẹ bồng con. Khi vua Chàm gây chiến tranh lên Tây nguyên, dừng chân đóng trại dưới chân đèo Krông-fa (đèo Ngoạn Mục ngày nay). Suốt 10 đêm ở phòng tuyến, nhà vua không đêm nào ngủ được, trong những lúc thiếp đi chập chờn, vua nghe văng vẳng tiếng gầm rú man dại của núi rừng hòa lẫn với những âm thanh huyền bí. Tự mình thống lĩnh hàng trăm quân vượt đèo Krông-fa quyết tâm tìm cho được âm thanh huyền bí kia.

Khi đến thác nước này, nhà vua thấy nước dồn dập từ trên cao đổ xuống trên vai tượng đá có hình mẹ bồng con và từ đó phát ra những âm thanh huyền bí. Vua Chàm bèn xua quân lính đập phá tan tành tượng đá, sau khi phá được tượng đá, bị dòng nước cuốn trôi xuống dòng Đạ Langbian và chết gần hết. Với số quân còn lại ít ỏi, vua Chàm cho khiêng tất cả những mảnh đá vỡ về đất Chàm. Trên đường đi, binh sĩ Chàm chịu nhiều bệnh tật, kiệt sức, không ai đem được một cục đá nhỏ nào về nước được. Đá rơi xuống phía dưới thác tạo ra 7 tầng, về sau, người Cil thu lượm những viên đá rơi vãi dọc đường đem về làm đàn đá, treo trên nương rẫy để đuổi chim muông, thú rừng. Để tưởng nhớ đến người mẹ của họ, người Cil đặt tên cho dòng thác này là thác Long Nhân.

Những dịp lễ, tết, ngày nghỉ du khách thường đến thưởng ngoạn. Ở đây, cái vẻ hoang vắng, tĩnh mịch của núi rừng chưa bị phá vỡ, cảnh quan còn tương đối nguyên vẹn. Vùng rừng nguyên sinh với nhiều loại cây quý, nhiều cầm thú, thỉnh thoảng dân địa phương bắt gặp nai đỏ, heo rừng, chồn, cheo, thỏ, vượn, mễn... Suối nước chảy quanh năm hòa lẫn với tiếng hót của nhiều loài chim, hai bên suối dây leo chằng chịt... Thật là nên thơ và đầy thú vị
THÁC PONGOUR

Thác Pongour hay còn gọi là thác Bảy tầng là một ngọn thác tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, nằm cách Đà Lạt 50 km về hướng Nam.

Thác đổ từ độ cao gần 40 mét, trải rộng hơn 100 mét, qua hệ thống đá bậc thang bảy tầng. Bao quanh là khu rừng nguyên sinh có diện tích khoảng 2,5 ha với thảm thực vật đa dạng, phong phú
Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, vùng đất Phú Hội - Tân Hội - Tân Thành bây giờ do một nữ tù trưởng K’Ho xin đẹp tên là Kanai cai quản. Nàng có tài chinh phục thú dữ phục vụ lợi ích con người, trong đó có bốn con tê giác to lớn khác thường, luôn tuân lệnh Kanai dời non ngăn suối, khai phá nương rẫy trồng bắp, gieo lúa và sẵn sàng xung trận chiến đấu chống kẻ thù, bảo vệ buôn làng. Nhờ đó, cuộc sống cộng đồng ngày càng sung túc, thanh bình. Mùa xuân năm ấy, đúng ngày rằm tháng giêng, nàng nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng. Bốn con tê giác quanh quẩn đêm ngày không rời thân chủ nửa bước, chẳng buồn ăn uống cho đến chết... Bỗng một sáng bình minh vừa hé, mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy nơi nàng yên nghỉ sừng sững ngọn thác đẹp tuyệt trần. Thì ra, suối tóc Kanai đã hoá thành làn nước trong xanh, mát rượi, tung bọt trắng xoá, còn những phiến đá bàn xanh rêu xếp từ cao xuống thấp, làm nền cho thác đổ, chính là các cặp sừng của đàn tê giác hoá thạch - biểu tượng của sức mạnh đoàn kết, gắn bó vĩnh cửu giữa con người với thiên nhiên bao la.

Pongour là tên do người Pháp phiên âm từ tiếng bản địa K’Ho: Pon-gou có nghĩa là ông chủ vùng đất sét trắng. Theo một số tài liệu địa chất của người Pháp, vùng đất này có nhiều kaolin.

Pongour là thác nước duy nhất có ngày hội. Hằng năm cứ vào dịp rằm tháng giêng âm lịch, từ khắp nơi các nam thanh nữ tú không phân biệt dân tộc đổ về đây trẩy hội mùa Xuân. Đây là dịp mà mọi người sống cởi mở, chân tình, tự do tìm hiểu và yêu mến nhau.

UserPostedImage
UserPostedImage
HỒ XUÂN HƯƠNG
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage

Xuan Huong lake is the most beautiful lake in Da Lat. It is approximately 5 km2. In 1919 a dam was formed on a branch of Camly river creating a small lake. In 1923, another dam was built further down stream to create yet another lake. During a severe storm in 1932, both dams were destroyed. Between 1934-35, a larger dam was built of boulders (site of Ong Dao bridge today) below the sites of the two previous dam creating one large lake named Ho Lon or Large lake. Ho Lon was later renamed after Ho Xuan Huong, a famous vietnamese poet in the 17th-century.
Da Lat is also famous for its many waterfalls and lakes, one of which is Ho Xuan Huong (Xuan Huong lake). This man made lake was a site where many indigenous people of Langbian high land made their homes. In 1984, the lake was emptied for renovation purposes. At the bottom of the lake, scientists found many relics belonging to the hill tribe that once lived in this area. Xuan Huong lake is shaped like the crescent moon. Visitors to Da Lat and the town's people use the lake as a place to meet and talk. The lake is also where many honeymooners come to visit.
UserPostedImage ONG DAO Bridge
UserPostedImage
UserPostedImage

Lịch sử
Hồ Xuân Hương nguyên là thung lũng có dòng suối Cam Ly chảy qua, nơi quần tụ của các cư dân Lạch buổi ban đầu. Năm 1919, từ sáng kiến của viên công sứ Cunhac, kỹ sư công chánh Labbé đã tiến hành việc ngăn dòng suối làm thành hồ. Năm 1923, chính quyến đương thời lại cho xây thêm một đập phía dưới tạo thành 2 hồ. Tháng 3 năm 1932, một cơn bão lớn làm cả hai đập bị vỡ. Năm 1934 - 1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa lại thiết kế, xây dựng một đập lớn bằng đá: đó là cầu ông Đạo ngày nay. Người Pháp đặt tên là Grand Lac (Hồ Lớn).

Đập này nằm trước Dinh Quản Đạo mà vị Quản đạo bấy giờ là Phạm Khắc Hòe vẫn được dân địa phương xưng gọi "ông Đạo" nên khi đập cũng là cầu xây xong, người dân quen gọi là "Cầu Ông Đạo". Năm 1953, Nguyễn Vỹ, chủ tịch hội đồng thị xã, đề nghị đổi tên Grand Lac thành Hồ Xuân Hương. Mấy chục năm qua, Hồ Xuân Hương là tấm gương trong của thành phố đã làm tăng thêm vẻ yêu kiều, duyên dáng cho Đà Lạt sẽ đơn điệu, cô quạnh và lạc lõng với những rừng thông bạt ngàn

Hồ là con tim của thành phố Đà Lạt và là một trong những thành phố hiếm hoi có hồ nằm ngay trung tâm. [2]Hồ là địa danh nổi tiếng và còn là địa điểm tham quan du lịch khá hấp dẫn tạo nên nét đặc sắc cho Đà Lạt.

Hàn Mặc Tử đã viết về hồ Xuân Hương - một viên ngọc xanh giữa lòng thành phố Đà Lạt.

Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới nước đáy hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để nghe trời giải nghĩa yêu

Hồ Xuân Hương là một hồ đẹp nằm giữa trung tâm thành phố Đà Lạt. Xung quanh hồ có rừng thông và các bãi cỏ, vườn hoa. Đây là địa điểm du khách ưa thích đi dạo bộ hoặc xe ngựa khi đến tham quan thành phố Đà Lạt. Hồ Xuân Hương là hồ nhân tạo, rộng chừng 5km. Hồ có hình trăng lưỡi liềm kéo dài gần 7 km đi qua nhiều địa danh du lịch của thành phố Đà Lạt như: Vườn hoa thành phố, Công viên Lê Nin, Đồi Cù,...

Hồ Xuân Hương rộng 38ha, có độ sâu trung bình 1,5m, nằm trên độ cao 1478m, là trái tim của thành phố Đà Lạt.

Ngày xưa, nơi đây vốn là vùng đầm lầy mọc cỏ lác dùng để dệt chiếu và ruộng lúa của người Lạch sản xuất ven dòng suối Đạ Lạch (nay gọi là suối Cam Ly). Gần góc đường Nguyên Tử Lực- Bà Huyện Thanh Quan có một buôn của người Lạch.

Năm 1919, theo sáng kiến của công sứ Cunhac trong chương trình xây dựng Đà Lạt , kỹ sư công chánh Labbé xây dựng một đập nước từ nhà Thủy Tạ đến gần ngã tư các đường Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thái Học, Bùi Thị Xuân, Đinh Tiên Hoàng tạo thành một hồ nước. Người Pháp gọi hồ này là Grand Lac (Hồ Lớn) để phân biệt với hồ nước ở cư xá Saint Benoit (khu Chi Lăng ngày nay) gọi là hồ Saint Benoit.

Ruộng lúa nằm trong lòng hồ, do đó người Lạch phải dời đến buôn Rơhàng Kròc (Rơhàng: buôn cũ, kròc: cam; người Pháp phiên âm là Ankroet). Đến năm 1942, khi xây dựng đập Suối Vàng, người Lạch lại phải dời đến buôn Đờng Tiang Đe (Đờng: lớn, Tiang: đuôi, đe: con chuột) ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay.

Năm 1921-1922, theo lệnh của công sứ Garnier, đập nước được dâng cao và nối dài thêm.

Năm 1923, một đập thứ hai được xây dựng ở phía dưới đập đầu tiên tạo thành hai hồ nước. Cả hai đập này không có đập tràn kiên cố nên bị cơn bão dữ dội tháng 5 năm 1932 phá vỡ. Ngay sau đó, đập nước được xây dựng lại.

Năm 1934 - 1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa thiết kế, xây dựng một đập lớn bằng đất có chiều cao 6,9m, chiều dài 50m, xi phông xả lũ và cầu giao thông dài 37,5m. Cầu thường gọi là cầu Ông Đạo vì gần văn phòng viên quản đạo.

Từ năm 1953, Grand Lac được đổi thành hồ Xuân Hương và hồ Saint Benoit thành hồ Mê Linh. Công trình hồ Xuân Hương đã trải qua nhiều lần sửa chữa vào các năm : 1947, 1953, 1979, 1984, 1996.

Năm 1984, đáy hồ được nạo vét chủ yếu bằng thủ công và gia cố xi phông.

Từ năm 1996, hồ Xuân Hương được tôn tạo theo dự án gồm 4 hạng mục chính :

Sửa chữa gia cố công trình xi phông tháo lũ kết hợp với cầu giao thông;
Nạo vét hồ bằng phương tiện cơ giới, khôi phục diện tích mặt nước và dung tích hồ;
Tôn tạo bờ hồ chống sạt lở, xây dựng các vườn hoa nhỏ, đường đi dạo quanh hồ;
Xây dựng 4 hồ chứa ngăn chặn bồi lắng và chống ô nhiễm nguồn nước.
Vào mùa nắng, mặt hồ Xuân Hương trong xanh, phẳng lặng, nhưng vào mùa mưa, thỉnh thoảng nước đỏ ngầu do phù sa các dòng suối chảy về. Trên mặt hồ đã tổ chức đua thuyền buồm, thuyền độc mộc, ca-nô, lướt ván, biểu diễn máy bay điều khiển từ xa, bắn pháo hoa,…

Các con đường chạy quanh hồ Xuân Hương (Nguyễn Thái Học, Bà Huyện Thanh Quan, Yersin, Trần Quốc Toản, Lê Đại Hành) dài 5,1km, tương đối bằng phẳng, là nơi thường diễn ra đua xe đạp cúp truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh trước ngày 30-4, đi bộ vào buổi sáng và chạy việt dã trong những dịp lễ hội. Du khách có thể thuê xe đạp đôi chạy quanh hồ.

Chung quanh hồ Xuân Hương có nhà Thuỷ Tạ, khách sạn Sofitel Dalat Palace, công viên Xuân Hương, nhà hàng Xuân Hương, nhà hàng Thanh Thuỷ, đài phun nước, khách sạn Empress, khách sạn Hương Trà, toà giám mục giáo phận Đà Lạt, khu vui chơi giải trí Đà Lạt, đồi Cù, vườn hoa thành phố, chùa Quan Thế Âm, khách sạn Du lịch Công đoàn, công viên Yersin, quảng trường (sân vận động), Trung tâm Văn hoá - Thông tin Lâm Đồng, Trung tâm Lễ hội Văn hoá Du lịch Lâm Đồng.

Nhà Thuỷ tạ nguyên là Câu lạc bộ thể thao dưới nước dành cho những người thích bơi lội và những người yêu thích chèo thuyền buồm (yacht) và thuyền hai mái chèo (périssoire). Người Pháp gọi nhà Thuỷ tạ là Grenouillère (tổ ếch) vì nhà Thuỷ tạ có bục nhào dành cho người bơi lội nhào từ bục xuống giống như con ếch. Hiện nay, nhà Thuỷ tạ được dùng làm quán rượu - nhà hàng (bar - restaurant).

Trước nhà Thuỷ tạ là một vườn hoa nhỏ (ngày xưa gọi là vườn hoa Tao Đàn) với nhiều loài hoa đẹp, trong đó có một trong những cây phượng tím (Jacaranda acutifolia) xưa nhất trồng từ năm 1960.

Khách sạn Sofitel Dalat Palace nằm trên một ngọn đồi trông xuống hồ Xuân Hương. Khách sạn nguyên là Langbian Palace được khởi công xây dựng năm 1916, khánh thành năm 1922 và được Công ty Du lịch Lâm Đồng liên doanh với Công ty DRI nâng cấp năm 1991. Hiện nay, khách sạn Sofitel Dalat Palace là khách sạn 5 sao. Khách sạn giống như một dinh thự (palace) nguy nga, tráng lệ mang phong cách kiến trúc hiện đại kết hợp với trường phái cổ điển. Trước khách sạn là thảm cỏ xanh mượt với những cụm hoa chăm sóc công phu.

Năm 1946, Nguyễn Tường Tam - Trưởng đoàn và Võ Nguyên Giáp - Phó Trưởng đoàn của phái đoàn nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tham dự Hội nghị trù bị Đà Lạt đã ở tại khách sạn Langbian Palace.

Năm 1975, nơi đây cũng đã được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn để tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đài phun nước được xây dựng trước năm 1975, tôn tạo vào năm 2003 nhân dịp kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

Hàng tùng gai dọc đường Nguyễn Thái Học soi bóng xuống mặt nước hồ Xuân Hương
UserPostedImage

Trung tâm vui chơi giải trí Đà Lạt rộng 7.500m2 là đơn vị hợp tác kinh doanh giữa Công ty Quản lý Công trình Đô thị Đà Lạt và TOA Economic - Lab Co. LTD Kyoto Nhật Bản được thành lập ngày 24-3-1998 với chức năng: tổ chức các loại hình vui chơi, giải trí, văn hoá - thể thao - du lịch.

Trung tâm khai trương ngày 16-2-1999 với 16 trò chơi: Games, xe điện, xe đua, xe đụng, xe lửa, đu quay ngũ hình (5 con thú), đu quay thẳng đứng, đu văng, hoả tiển, nhà banh, nhà bong bóng, ngựa quay, thuyền đụng, xích lô, con sâu, con cá.

Ngoài khu vui chơi giải trí Đà Lạt ở đường Nguyễn Thái Học dành cho thiếu nhi, Trung tâm còn có Câu lạc bộ bơi thuyền thành lập năm 2001 cho thuê ca-nô du lịch, ca-nô cá heo, xe đạp nước, thuyền buồm, chèo Liên Xô, Kayak, tắc ráng, périssoire.

Đồi Cù gồm 3 ngọn đồi mấp mô rộng 65ha nằm giữa các đường Đinh Tiên Hoàng, Bà huyện Thanh Quan, Trần Nhân Tông, dành cho môn thể thao thời thượng : đánh cù (golf) .

Sân cù được thành lập vào năm 1922 với 9 lỗ. Năm 1992, sân cù được tôn tạo và sân cù mới 18 lỗ được khánh thành vào tháng 11-1993.

Vườn hoa thành phố Đà Lạt nằm ở phía Đông Bắc Hồ Xuân Hương. Vườn hoa được khởi công xây dựng ngày 21-6-1973 và phát triển từ năm 1985, rộng 11ha do Công ty Công viên hoa và cây xanh thành phố Đà Lạt quản lý. Đây là nơi hội tụ nhiều loài hoa đẹp của phương Đông và phương Tây. Trước năm 1975, gần vườn hoa thành phố Đà Lạt có vườn hoa Bích Câu là vườn hoa lớn nhất ở Đà Lạt thời bấy giờ trồng nhiều cây mai anh đào.

Công viên Yersin được khánh thành năm 2003.

Hồ Xuân Hương có nhiều điểm, góc chụp hình rất đẹp, là nguồn cảm hứng của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, nổi tiếng nhất là hai bài thơ sáng tác năm 1933: Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mặc Tử và Đà Lạt đêm sương của Quách Tấn.
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
ĐỒI CÙ
Vừa đặt chân đến trung tâm thành phố, du khách có thể nhìn thấy những quả đồi tròn trịa mấp mô tựa hồ một thảo nguyên soi bóng xuống mặt hồ nước phẳng lặng, đó là Đồi Cù mà có người ví như trái tim, như nhịp thở của Đà Lạt.
Đồi Cù và hồ Xuân Hương nằm kề bên thường được nhắc đến như một địa danh kép - nhiều người cho rằng Đà Lạt sẽ kém phần mỹ lệ nếu thiếu Đồi Cù và hồ Xuân Hương. Ngay từ 1942, khi thiết kế đồ án quy hoạch thành phố Đà Lạt kiến trúc sư Lagisquet đã khoanh vùng Đồi Cù như một khu vực “bất khả xâm phạm” nhầm tạo một tầm nhìn thoáng đãng cho Đà Lạt. Về sau, một kiến trúc sư người Anh đã thiết kế biến Đồi Cù thành sân golf 9 lỗ khá nổi tiếng của vùng Đông Nam Á.
Tên Đồi Cù không rõ có từ bao giờ, còn vì sao gọi “Đồi Cù” lại có hai hướng lý giải có người cho rằng những quả đồi thoai thoải nơi đây khi nhìn từ xa giống như tấm lưng trần của những con cù khổng lồ nên đã ví von gọi là “Đồi Cù”; cũng có người giải thích sở dĩ có tên “Đồi Cù” vì nơi đây là một địa điểm chơi golf hay còn gọi là đánh cù, và tên “Đồi Cù” đã từ môn chơi này mà có.
Hiện nay Đồi Cù đã được nâng cấp thành sân golf 18 lỗ, là liên doanh giữa công ty Du lịch Lâm Đồng và công ty Da Nao Hồng Kông.
UserPostedImage
Nhiều người Đà Lạt vẫn tiếc nuối cái thời Đồi cù bị bỏ hoang để ngựa lên gặm cỏ, cho học sinh vào mùa hè có chỗ đi bắt dế, cắm trại, thả diều, cho những đôi tình nhân có chỗ tâm tình. Tôi cũng vậy, thích đồi cù của ngày xưa với những buổi chiều lên đó chơi đá cỏ, thả diều… cùng bạn bè. Nhưng nhớ nhất là màu sắc và vị ngọt của loại cỏ đổi màu theo hai mùa mưa nắng, giờ đã được thay bằng cỏ bent mềm nhập tận bên Mỹ.

Lịch sử làng golf Việt Nam không thể không nhắc tới sân golf Đà Lạt (Đồi cù), người con cả của làng golf Việt Nam (ra đời năm 1935). Bảo Đại – ông vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam, một vị vua bị “Tây hoá”, là người VN đầu tiên khởi xướng phong trào golf ở VN cũng chính là ông chủ đầu tiên của sân golf này. Sân golf là một địa điểm lý tưởng để chơi golf và một địa điểm lý tưởng để ngắm phố núi mờ sương.

Gần thế kỷ sau, cũng chính sân golf này đã được một nhà đầu tư đến từ Mỹ chọn để tái khởi xướng phong trào chơi golf trở lại Việt Nam sau nhiều năm ngủ quên vì yếu tố lịch sử. Thế là từ 8 lỗ, thành 18 lỗ, sân golf thay da đổi thịt khoác lên mình chiếc áo thật sang trọng với cái tên cũng Tây - Đà Lạt Palace Golf Club.

Nhưng, người sang trọng này rất khó gần. Người Đà Lạt hay đùa với nhau: “vào các lâu đài hay dinh thự của vua còn dễ chứ đi chơi một vòng sân golf thì coi bộ khó.”
Hiện nay, GDP của Đà Lạt bình quân chỉ đạt sấp xỉ 9 triệu đồng/người/năm nhưng giá một tour chỉ 9 lỗ golf tại đây lên tới 80 USD (khoảng 1,2 triệu đồng).
Thế nhưng giờ đây, người Đà Lạt, một số lại tự hào khi nhắc tới sân golf mà họ quen gọi là Đồi cù – cái tên nhiều ý nghĩa và gần gũi với người dân Đà Lạt.

Đồi cù gồm có 3 ngọn đồi nhỏ: Đồi gặp gỡ, Đồi hẹn ước và Đồi ái ân, nối nhau bằng con suối Đẫm lệ (từng được tạp chí Golf của Mỹ xếp vào Top 100 sân golf đẹp nhất thế giới). Gần đây nhất, nhằm xoá định kiến “sân golf bên ta giá cả bên Tây”, Đà Lạt Palace Golf Club đã mở những lớp huấn luyện cấp tốc để chơi thử từ 30 tới 100 banh kết hợp thăm quan sân golf với giá vé chỉ 100 ngàn; 15.000 - 45.000/người/45 phút tập đánh từ 30 tới100 banh và đi thăm quan; một tour chơi và học bài bản hơn gồm cả lý thuyết (1 giờ lý thuyết) kết hợp thực hành 9 lỗ golf giá 300 ngàn. Giám đốc, ông Feff Phuchenski cho biết, Tour này mở ra chủ yếu phục vụ khách du lịch có nhu cầu thử chơi golf và thăm quan đồi cù nhằm khai thác vẻ đẹp và vị thế nằm trên một quả đồi lớn 62 ha giữa lòng thành phố.

Lưng dựa vào trường Đại học Đà Lạt, một trong những ngôi trường được đánh giá đẹp nhất Đông Nam Á, trước mặt là Hồ Xuân Hương, bên phải là vườn hoa thành phố, còn bên trái giáp với một con đường rất hữu tình, sinh viên Đà Lạt gọi là “Con đường tình”. Còn vị trí nào tuyệt hơn không?

Thêm nữa, Ông Feff nói, Đà Lạt Palace golf club, mặt sân được trồng loại cỏ bent mềm nhập từ Mỹ có độ mịn cao, giúp đường bóng đi chuẩn và nhanh, trong số những sân golf Việt Nam hiện có, chỉ duy nhất sân Đà lạt sở hữu loại cỏ này, sân golf lại có địa hình đẹp, độ thách thức cao
Một sân golf lý tưởng giữa khung cảnh lãng mạn, không chỉ đơn thuần là chơi golf mà còn có thể thu vào tầm mắt biết bao nét đẹp của thành phố cao nguyên lãng mạn đã tiêu tốn không ít giấy...



UserPostedImage
TUS  
#6 Posted : Thursday, April 8, 2010 2:21:56 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
THÁC DAMBRI - BẢO LỘC

Đambri là một thác nước đẹp, cao nhất vùng Lâm Đồng. Nguồn nước của dòng thác từ trên cao hơn 90 m đổ xuống, tạo nên một khung cảnh rất hùng vĩ.

Thác nằm cách thị xã Bảo Lộc khoảng 17 km, nằm giữa khung cảnh rừng nguyên sinh hoang sơ, hùng vĩ với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Ngày nay, khu du lịch sinh thái Đambri là một địa điểm du lịch hấp dẫn cho du khách thập phương.

Theo truyền thuyết, ngày xưa có một đôi trai gái người dân tộc K’ho yêu nhau và thường hẹn hò bên thác nước. Vào một ngày nọ, chàng trai bỗng mất tích không một dấu vết để lại. Cô gái khóc mãi, chờ mãi, nhưng không thấy người yêu quay lại. Lâu ngày, nước mắt của cô gái đọng lại và chảy thành dòng thác lớn. Người K’ho đặt tên thác là Đambri - nghĩa là "đợi chờ".

Đambri là một thác nước đẹp, cao nhất vùng Lâm Đồng. Nguồn nước của dòng thác từ trên cao hơn 90 m đổ xuống, tạo nên một khung cảnh rất hùng vĩ.
Thác nằm cách thị xã Bảo Lộc khoảng 17 km, nằm giữa khung cảnh rừng nguyên sinh hoang sơ, hùng vĩ với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Ngày nay, khu du lịch sinh thái Đambri là một địa điểm du lịch hấp dẫn cho du khách thập phương.
Theo truyền thuyết, ngày xưa có một đôi trai gái người dân tộc K’ho yêu nhau và thường hẹn hò bên thác nước. Vào một ngày nọ, chàng trai bỗng mất tích không một dấu vết để lại. Cô gái khóc mãi, chờ mãi, nhưng không thấy người yêu quay lại. Lâu ngày, nước mắt của cô gái đọng lại và chảy thành dòng thác lớn. Người K’ho đặt tên thác là Đambri - nghĩa là "đợi chờ".

Từ thị xã Bảo Lộc đi quá 18km, qua những đồi chè, cà phê, cây ăn trái xanh ngát... du khách đến với khu du lịch sinh thái Đambri để được thưởng thức cảnh đẹp hùng vĩ cùng khí hậu trong mát của rừng nguyên sinh nam Tây Nguyên.

Theo Du lịch Việt Nam, Đambri là ngọn thác cao gần 70m. Mùa mưa, nước thượng nguồn đổ về ầm ầm, đi xa vài km còn nghe thấy tiếng. Xung quanh thác là một khu rừng hầu như vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét đẹp hoang sơ chưa mấy người khám phá, diện tích gần 300ha với đủ loài chim. Nhiều cây cổ thụ quý hiếm như sao, kền kền, dổi... gốc to tầm vài ba vòng tay người ôm cũng có mặt ở đây.
Đường vào trung tâm khu du lịch có một cầu xi măng dài hơn 20m bắc ngang suối, gần đỉnh thác. Đứng trên cầu, khách du lịch có thể thưởng thức cảnh tượng hùng vĩ của dòng nước cuồn cuộn đổ từ đỉnh thác xuống. Khách muốn xuống chân thác có thể đi bằng hai đường: Thang máy hoặc đường bộ. Nhưng hầu hết du khách đều chọn đường bộ men theo sườn núi, đã được bê tông hoá nên đi lại thuận tiện và vừa được thưởng ngoạn phong cảnh.

Theo lối mòn ven suối đi về phía thượng lưu, muốn sang bờ bên kia khách sẽ được một lần thử độ khéo léo và lòng dũng cảm khi chênh vênh đi trên chiếc cầu dây theo kiểu của đồng bào dân tộc ở địa phương vẫn làm. Cầu được bện từ những thứ dây leo rất sẵn ở rừng như song, mây, giang, lồ ô... Vào buôn của người dân tộc Châu Mạ, một trong những làng văn hoá dân tộc ở Tây Nguyên, khách sẽ được thưởng thức những lễ hội cồng chiêng, khám phá tìm hiểu về nghề dệt thổ cẩm truyền thống và cũng có thể tự mang lều trại để tổ chức sinh hoạt dã ngoại.

Để những chuyến tham quan của du khách thêm sinh động, ban Quản lý khu du lịch sinh thái Đambri còn khoanh một khu vực nuôi các loài thú. Đảo khỉ tại đây có hàng trăm con, hươu nai được nuôi thả tự do khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng và thích thú khi bắt gặp. Cũng có cả những khu nuôi gấu, ba ba, rùa. Đặc biệt, có những chú voi đã được thuần dưỡng và ngoan ngoãn tuân theo sự chỉ dẫn của quản tượng, du khách có thể ngồi trên lưng voi để chụp ảnh lưu niệm.

Đi một vòng quanh khu du lịch rộng lớn, du khách có thể nghỉ chân bên hồ nước Đambri rộng hàng nghìn mét vuông, thuê một chiếc thuyền, hưởng thú câu cá trên hồ. Nếu muốn náu mình dưới bóng mát của rừng cây, hãy tạt thuyền vào ven bờ rồi chậm rãi khua mái chèo dưới những cây cổ thụ xoè tán vươn ra hồ... đường xuống thác
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
thác đổ
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
Cảnh hái trà ở Bảo Lộc
UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage
TUS  
#7 Posted : Thursday, April 8, 2010 11:22:11 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
LÂU ĐÀI MẠNG NHỆN ( Biệt thự HẰNG NGA)

UserPostedImage


Nằm tại số 3 đường Huỳnh Thúc Kháng, cách trung tâm Đà lạt chừng 1km về phía Tây-Nam, biệt thự Hằng Nga hay Lâu đài Mạng Nhện là tên gọi công trình kiến trúc của Tiến sĩ Đặng Việt Nga mà theo nhận xét của một du khách nước ngoài, đây là "tòa lâu đài độc đáo, khác thường và hoang tưởng nhất Việt Nam, nếu không nói là của vùng Đông Nam Châu Á".

Qua vòm cổng nhỏ, du khách sẽ như lạc vào một thế giới cổ tích, huyền thoại hay chốn thiên thai ở hồng trần. Với những “gốc cây cổ tích” thời hiện đại được làm bằng bê tông cốt thép mà ở đó những căn phòng được khoét lõm vào một cách độc đáo, huyền hoặc

Tham quan, hoặc nghỉ lại nơi đây, du khách sẽ ngỡ ngàng khi tiếp cận căn phòng "tự giới thiệu" với nhiều hình chân dung nữ chủ nhân qua các thời kỳ và các bài báo viết về công trình hơi vô thường này được trình bày cũng rất kỳ thú... một chút hoang tưởng hay một chút gì đó về cung đường nơi trần thế!? Du khách có dịp để tưởng tượng, hoài cảm những gì đã qua… ở chốn như thuở “hồng hoang” này.
Lâu đài Mạng Nhện - chốn Thiên thai trần gian

UserPostedImage
Lâu đài mạng nhện thu hút du khách bằng phong cách RẤT RIÊNG CỦA NÓ.

Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương - gió - mây - trời - cỏ cây …của nó. Ông trời quả thật đã quá ưu ái cho miền sương mù này.
Lãng mạn, phiêu lưu, bình yên, …bạn có thể tìm thấy tất cả cảm giác đó nơi Đà Lạt. Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” bạn vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho bạn cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây...

Và nếu trên đường chu du cùng Đà Lạt mà bạn vô tình đi lạc vào một thế giới cổ tích, bạn đừng tưởng mình đang mơ nhé mà là bạn đang bước vào chốn thiên thai giữa …cõi trần đấy! Nơi đây nổi tiếng và đi vào lòng người với những cái tên rất riêng: “Biệt thự kỳ dị”, “Lâu đài mạng nhện”, “biệt thự Hằng Nga” hay “Nhà cười Hằng Nga”.

Xuất hiện tại Đà Lạt vào năm 1990 như một công trình có lối kiến trúc kì dị, có thể nói vượt khỏi khuôn mẫu kiến trúc. Chủ nhân của nó là một nữ kiến trúc sư, tiến sĩ chị Đặng Việt Nga, công trình như một thông điệp về cuộc sống thực tại muôn màu muôn vẻ mà Đặng Việt Nga muốn gửi gắm đến mọi người.

Người chủ nhân đã viết nên câu chuyện cổ tích giữa chốn hồng trần với chủ đề chính là thiên nhiên, cảnh sinh hoạt đời thường của con người…Một em bé đang cắp sách đi học, cảnh hai ông bà đang cãi nhau, những màng nhện giăng tơ, đôi hươu cao cổ hay một ngôi nhà rông cách điệu
UserPostedImage

Với những phòng mang tên những con vật - tác giả ngôi nhà như muốn đưa du khách trở về thuở hồng hoang

Cách đặt tên phòng cũng mang một phong cách riêng, mang tên những con vật rất ngộ nghĩnh: Phòng Mối, phòng Konkuru, phòng con Kiến, con Hổ, phòng trái bầu…Khoảng cách giữa thiên nhiên và con người vì thế mà trở nên gần gũi, thân thiện.

Thuở hồng hoang được tái hiện với những gốc cây cổ tích được làm bằng bêtông cốt thép mà ở đó những căn phòng được khoét lõm đầy phá cách lẫn huyễn hoặc.

UserPostedImage

Từ những ô cửa sổ bạn có thể tha hồ ngắm mảnh vườn thiên nhiên

Ngôi biệt thự thu hút khách du lịch với tiếng nói riêng của nó, từ trần đến cửa, mái đều được thiết kế ngẫu hứng, không theo quy luật nào cả…Giống như cuộc sống vậy! Những ô cửa sổ lồi lõm, những hình thù kỳ lạ, cách phối màu huyền bí, đầy “ma thuật”…

Từ trên ban công hay những ô cửa sổ, du khách có thể thưởng thức khu vườn với cảnh thiên nhiên muôn sắc màu trong lâu đài được bao bọc bằng những sợi tơ mạng nhện sắt khổng lồ. Con người có thể tìm được những giây phút thanh thản trong mảnh vườn của hoa lá, chim muông này.

UserPostedImage

Những căn phòng được thiết kế 1 cách ngẫu hứng

Các phòng nghỉ ở đây có đầy đủ tiện nghi của một khách sạn sang trọng. Đặc biệt, phòng quả bầu luôn “quyến rũ” khách du lịch bằng lò sưởi độc đáo của nó, trong bụng quả bầu có thể đốt củi, du khách sẽ được sưởi ấm suốt cả đêm mà không cần đắp chăn.

Khi vạt nắng còn sót lại sau hoàng hôn, bạn sẽ ngạc nhiên pha lẫn chút rờn rợn bởi tiếng kêu của chẫu chuộc, âm thanh của núi rừng bí hiểm lại vang vọng về…
Kiến trúc độc đáo
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage





UserPostedImage



UserPostedImage
nhat-tam  
#8 Posted : Friday, April 9, 2010 10:17:04 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
ĐÀ LẠT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỚC 1975

UserPostedImage

Tánh linh, nằm trên đường mòn trao đổi hàng hóa giữa cao nguyên và đồng bằng. Lập trên cao nguyên Lâm viên đồi núi chập chùng, Ðà lạt là một đô thị nghỉ mát xinh đẹp nằm giữa những khu rừng thông, thác nước thơ mộng: Ðà lạt là thành phố của tuổi trẻ, tình yêu và kỷ niệm. Ai đã đến đó một lần, chắc chắn sẽ giữ lại trong lòng những hình ảnh và kỷ niệm thân thương.
Tài liệu viết bài này ngoài quyển sách "Những Ðứa Con của Rừng Núi" (The Sons of Mountains) của Gerald Cannon Hickey, còn nhiều tài liệu khác mà chúng tôi sưu tầm rải rác trong sách báo cũ. Trong chương viết về Ðà lạt, tác giả G. Hickey có nhắc đến tác phẩm, bài báo kê cứu hiếm như:

- Báo Indochine năm 1943-1944
- Monographie de la province Dalat do trường Viễn Ðông bác cổ Hà nội in năm 1931.
- Tạp chí Bulletin des Amis du vieux Hué năm 1938...

Trong các Toàn quyền Ðông Dương chỉ có P. Doumer, Pasquier và Decoux để lại nhiều kỷ niệm trên đất nước ta hơn hết. Mặc dù khi tạo lập đường xá, cầu cống, tiện nghi công cộng, người Pháp không nghĩ đến phúc lợi cho người bản xứ, nhưng dầu sao đi nữa các cơ sở hạ tầng ở các thuộc địa cũng đem lại lợi ích lâu dài.

Chúng tôi còn nhớ ngày 10 tháng 12 năm 1896, Toàn quyền Rousseau lâm trọng bện và từ trần ở bịnh viện Hà nội thì P. Doumer được lịnh qua Ðông Dương kế vị. Vừa đến Việt nam, P. Doumer liền nghĩ đến một chương trình kiến thiết đầy tham vọng. Mục đích nhằm khai thác kinh tế Việt nam. Hai dự án lớn lao nhất của P. Doumer là:

- Tìm các địa điểm lập các đô thị nghỉ mát ở miền núi Trung kỳ.
- Lập lại đường xe lửa xuyên Việt.

Năm 1879, P. Doumer gặp bác sĩ Yersin là người đã hướng dẫn nhiều cuộc thám hiểm sâu vào vùng rừng núi Tây nguyên để thảo luận việc tìm kiếm những địa điểm thuận tiện có thể lập khu nghỉ dưỡng. Nơi đó phải có khí hậu mát mẻ để các kiều dân Pháp và các viên chức Pháp ở Ðông dương đến nghỉ hè thay vì mỗi năm phải về Pháp. Bác sĩ Yersin khuyến cáo nên chọn đỉnh Lâm viên (Langbian). Sau đó P. Doumer ra lệnh cho một đoàn thám hiểm quân sự tìm kiếm một con đường từ miền duyên hải lên Lâm viên. Năm 1898, Pháp lập ra tỉnh Ðồng Nai thượng, cơ sở hành chánh đặt tại Ðà lạt. Ngoài ra, còn có một tỉnh nhỏ mới thành lập ở
Một đoàn thám hiểm khác khởi hành vào năm 1908 để phát quang dọn dẹp con đường mòn từ đồng bằng lên cao nguyên. Công việc này hoàn tất năm 1899. Với sắc lệnh 1-11-1899, người Pháp lập ra tỉnh Ðồng nai thượng với trung tâm hành chính đật tại Ðà lạt. Một tỉnh nhỏ hơn là Tánh linh với cơ sở hành chánh tại Djirinh (Di linh). Một ngôi nhà bằng thiếc đầu tiên được thiết lập coi như ngôi nhà nghỉ mát đầu tiên tại đây. Mấy năm sau, nhận thấy rằng vùng rừng núi này có nhiều vách đá dốc đứng, cheo leo, khó thiết lập đường xe lửa, nên họ chọn cách làm đường lộ cho xe hơi chạy. Từ đó, Pháp bỏ tỉnh Ðồng nai thượng, còn đại lý hành chánh Djirinh sát nhập vào tỉnh Phan thiết và Ðà lạt nhập vào Phan rang. Công việc đang tiến hành thì năm 1902, Toàn quyền P. Doumer đột ngột về Pháp, khiến nhiều chương trình kiến thiết bị đình trệ.

[img]UserPostedImage
[/img]

Tuy là một thành phố sinh non, nhưng nhiều người Pháp có đầu óc làm giàu chú ý ngay đến Ðà lạt. Lợi dụng sắc luật nhượng đất đai của chính phủ, vào ngày 1-4-1900, một người Pháp tên Gresieu được cấp cho không 885 mẫu đất thuộc Ðồng nai thượng. Ngày 18-10-1901, một người Pháp khác tên Armavon được cấp 300 mẫu ở gần Ðà lạt...

UserPostedImage Định Quán

Ngày nay du khách đi chơi Ðà lạt thường theo quốc lộ 20, từ ngả ba Dầu giây lên Ðịnh quán, Bảo lộc, rồi Di linh tới Ðà lạt, hay dùng quốc lộ 21 từ Phan rang đi lên, chớ ít ai ngờ rằng con đường lộ đầu tiên nối liền giữa Sài gòn và Ðà lạt đi qua ngả Phan thiết. Ðường ấy bắt đầu từ Ma lâm, qua đèo Datrum đến Di linh, rồi từ đó mới đi tiếp lên Ðà lạt. từ năm 1914-1915, Phan thiết là trạm dừng chân của lữ khách đi Ðà lạt. Từ năm 1908, Ðà lạt mới có ngôi nhà gạch đầu tiên là toà Công sứ Pháp. Năm 1912 Toàn quyền Albert Sarraut kế tục chương trình dang dở của P. Doumer, phát triển Ðà lạt thành một trung tâm nghỉ dưỡng. Ban đầu người Pháp khởi công làm con đường từ Phan rang lên Ðà lạt qua Ða nhim và đèo Ngoạn mục (Bellevue). Con đường ấy sau này mở rộng thành quốc lộ 21. Từ năm 1914, hãng xe hơi chở khách "Société des Correspondances Automobiles du Langbian" cho chạy những chiếc xe hiệu Lorraine-Dietrich trên lộ trình Sài gòn - Phan thiết - Di linh tới Ðà lạt. Người cố cựu cho biết rằng hồi đó người ta gọi tắt hãng xe đò này bằng chữ "SCAL". Năm sau, tỉnh Langbian thành hình vẫn lấy Ðà lạt làm tỉnh lỵ. Ðà lạt bắt đầu thu hút du khách đến nghỉ mát và săn bắn vào mùa hè. Năm 1916, Langbian Palace Hotel là khách sạn đầu tiên được xây dựng theo kiểu nhà sàn, nhưng có hành lang rộng và mái che. Cũng năm đó, Ðà lạt có trạm Bưu chính, sở Công chánh và trắc địa, toà Công sứ, Cảnh binh. Còn người Việt nam (kinh) đầu tiên đến cư ngụ Ðà lạt là những người phu khuân vác trắc địa hay những người buôn bán. Năm 1920, Pháp tái lập tỉnh Ðồng nai thượng, tỉnh lỵ đật tại Di linh, trong khi Ðà lạt trở thành một khu vực tự trị về hành chánh, do một Tổng ủy viên cai trị. Năm 1922, Ðà lạt bước qua một giai đoạn phát triển mới, kiến trúc sư được chỉ định vẽ đồ án nới rộng Ðà lạt, mở rộng thành phố thành một đô thị tân tiến. Ðặc biệt theo đồ án này không được xây cất gì che khuất đỉnh Lâm viên để giữ vẻ đẹp cho thành phố thơ mộng. Pháp muốn thành phố Ðà lạt sẽ là một góc của nước Pháp ở miền núi Alpes của Âu châu. Do đó Ðà lạt phải có:

- Hồ nhơn tạo
- Hàng trăm biệt thự rải rác trên các sườn đồi
- Xây dựng ngôi chợ trung ương hình khối chữ nhật với tháp chuông vươn cao. Ðó là vị trí rạp hát Hòa bình hiện nay.
Kể từ năm 1930 trở đi, Ðà lạt phát triển thành một đô thị có vườn hoa xinh đẹp, nhiều công viên cây xanh, ngàn hoa khoe sắc thắm vào mùa xuân. Người Mỹ đầu tiên có mặt tại Ðà lạt là vợ chồng nhà truyền giáo Tin Lành Hebert Jackson. Ông này đến Ðà lạt năm 1930, lập nhà truyền giáo đầu tiên cho đồng bào Thượng, có một mục sư Việt nam làm thông ngôn.

Năm 1925, Ðà lạt có chương trình gắn điện các đường phố chính bằng cách xây đập thủy điện Ankroet. Dự án này không thực hiện được vì thiếu ngân sách. Năm 1929 một nhà trồng tỉa Pháp làm một máy phát điện nhỏ sử dụng thác nước Cam ly để cung cấp điện lực cho Ðà lạt. Tháng 7 năm 1932, con đường quốc lộ 20 từ Sài gòn lên Bảo lộc đi Ðà lạt hoàn thành.

UserPostedImage

Ðúng 116 năm trước, vào lúc 3 giờ chiều ngày 21-6-1893, vừa từ một khu rừng rậm chui ra, bác sĩ Yersin và đoàn thám hiểm ngạc nhiên đến sững sờ trước một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú mà họ chưa bao giờ nhìn thấy trước đó. Trong nhật ký, bác sĩ Yersin đã ghi lại: "Một cao nguyên rộng lớn, không cây cối, đó đây thấp thoáng những trái đồi thấp, phủ một lớp cỏ xanh mịn màng".

UserPostedImage Đồi Cù

Vào năm 1905,một du khách người Anh có dịp đật chân đến Ðà lạt, đã ghi lại khung cảnh thành phố buổi sơ khai: "Nhiều đồi núi thấp nằm trên một diện tích rộng lớn, không cây cối, chỉ phủ một lớp cỏ ngắn. Tất cả cùng một cao độ, tựa hồ như những đợt sóng màu xanh nhấp nhô. Ở chính giữa, đỉnh Lâm viên vượt lên như một hòn đảo lởm chởm. Ðăng kia (Dankia) nằm dưới chân dãy núi ấy, ở phía bên kia cao nguyên. Cao nguyên thật yên tĩnh và mát mẻ, không dốc đứng, không một bụi rậm. Trong các thung lũng hẹp là những rừng thông nằm xen giữa những ngọn đồi."


Mới đây, bên nhà, trên tạp chí Du Lịch Lâm Ðồng, tác giả Nguyễn Diệp có viết bài "Ai là người đầu tiên thám hiểm và tìm ra Ðà lạt?" nêu lên ý kiến cho rằng chính Nguyễn Thông (1827-1884) trong khi làm chức Dinh điền sứ đóng ở Bình thuận, đã có lần lên thăm vùng rừng núi cao nguyên Lâm viên ngày nay. Ông tìm ra vị trí Ðà lạt 25 năm trước khi bác sĩ Yersin đật chân tới.

Bài viết có vẻ là một phát kiến mới lạ, làm thỏa mãn tự ái người Việt, nhưng thiều những bằng chứng xác thực. Dù cho sau này chúng ta có thể tìm được thêm những chứng cớ nào đáng tin cậy hơn nữa để kết luận Nguyễn Thông là người đã khám phá cao nguyên Lâm viên, cũng không quan hệ đến sự ra đời của đô thị này. Cho dù Nguyễn Thôngtrong lúc làm Dinh điền sứ lo việc khẩn hoang có đến cao nguyên Lâm viên thực sự, rồi sau đó báo cáo về triều đình nhà Nguyễn, thì việc thực hiện công cuộc di dân lên khai phá, đặt nền tảng cho một đô thị như Ðà lạt hiện nay cũng không thể nào có được. Các khái niệm về thành phố nghỉ mát, trung tâm điều dưỡng, phải đợi người Pháp du nhập. Ngoài người Tây phương, không triều đại nào ở nước ta có thể thực hiện được.

Các thế kỷ trước khi chinh phục các quốc gia nhiệt đới làm thuộc địa, người Âu châu thường gặp phải vấn đề khí hậu oi bức so với đất nước họ. Hàng năm, các công chức thuộc địa phải về chính quốc để nghỉ hè. Việc ấy rất tốn kém thì giờ và tiền bạc. Chính vì lẽ đó mà người Anh lập thành phố Darjeeling ở Ấn độ,người Mỹ lập Baguio ở Philippines, người Hoà lan lập Bogor, rồi Thái mở rộng Chiengmai, và Pháp ở Ðông dương tìm kiếm những vị trí trên núi cao mát mẻ như Sapa, Tam đảo, Bạch mã, Bà ná, và Ðà lạt ở Việt nam ra đời.
Ðà lạt được khai sinh dưới thời Toàn quyền Paul Doumer. Khi đọc báo cáo của bác sĩ Yersin về cao nguyên Lâm viên, Doumer tỏ ra thích thú. Trong một chuyến du hành bằng ngựa từ Bắc vào Nam, Toàn quyền Paul Doumer đã yêu cầu bác sĩ Yersin dẫn mình đi quan sát địa điểm nói trên. Ðến nơi, thấy địa thế lý tưởng, khung cảnh mát mẻ, Doumer tỏ ra hài lòng. Về Hà nội, Paul Doumer liền ký sắc lệnh thành lập đô thị nghỉ mát Ðà lạt.
Một nhà nghiên cứu khác có mặt rất sớm ở Ðà lạt, đã viết trong một hồi ký nhan đề Connaissance de Dalat như sau: "Ở nơi hồ nước, có dòng suối của bộ tộc Lat chảy qua, người ta gọi là Dalat."

Lúc đó thác Cam ly (ở cuối đường Yersin trước năm 1975) là một dòng suối nhỏ, mùa mưa nước chảy khá mạnh. Tên Cam ly ngày nay bắt nguồn từ tên người tù trưởng bộ lạc Koho. Ông ta tên là K'mly, sau khi chết, bộ lạc này dùng tên ông mà đật tên cho con suối đó mà họ xem như là quê hương của người Koho ở cao nguyên Lâm viên. Về sau người Việt đọc trại thành Cam ly. Trong một tấm bưu ảnh hồi thập niên 1950 chụp thác Cam ly, phía dưới có hai câu thơ:
Cam ly nước chảy về đâu? Cho ta nhắn gửi mối sầu cố hương.

UserPostedImage

Thác Cam ly trở thành một thắng cảnh để du khách thăm viếng bắt đầu từ năm 1912. Nằm trên ngọn đồi lộng gió gần đó là lăng ông bà Nguyễn Hữu Hào, tức ông bà Quận công Long Mỹ, nhạc phụ hoàng đế Bảo Ðại. Ông Hào là một người theo đạo công giáo, có quốc tịch Pháp, người quê ở Gò công, có nhiều đồn điền ở Ðà lạt, Cầu Ðất. Ông Hào là rể của ông Huyện Sĩ, thân phụ bà Nam Phương hoàng hậu, mất năm 1939. Trong các bài "Hoàng Triều Cương Thổ", "Nam Phương Hoàng Hậu", chúng tôi có nhắc đến chi tiết này, nay xin miễn kể thêm.

Con đường nối liền cao nguyên Lâm viên với đồng bằng Phan rang hoàn tất năm 1899, chỉ dùng cho voi, ngựa chở đồ và người đi bộ. Năm 1912 ngôi chợ đầu tiên Ðà lạt được xây cất bằng gỗ, ngay vị trí rạp hát Hòa bình bây giờ. Năm 1936 chợ Hoà bình mới với hình tháp chuông nhô lên một góc, được xây dựng lại. Ngôi chợ mới Ðà lạt do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu, xây dựng hồi năm 1958.

Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ bên Âu châu, con đường hàng hải qua lại bị gián đọan, nên các công sứ, tham biện, thống sứ ngưòi Pháp thường lên nghỉ hè trên Ðà lạt. Năm 1923 Toàn quyền Maurice Long giao cho kiến trúc sư Hébrard vẽ đồ án mở rộng thành phố, giữ lại bối cảnh sân cù nhìn lên đỉnh Lâm viên, không cho xây dựng.

Con đường xe lửa Ðà lạt - Tháp chàm phải xây dựng trong nhiều năm, vì đèo Ngoạn mục dốc đứng, cao 980m trên mặt biển. Do đó người Pháp phải thuê kỹ sư Thụy điển là những chuyên viên làm đường sắt có răng cưa trên các triền núi cheo leo bên nước họ, qua xây dựng con đường rầy. Khởi công từ năm 1928, con đường phải chia làm nhiều đoạn, có răng cưa ở giữa cho xe leo dốc khỏi tuột, cuối cùng khánh thành vào năm 1933 cùng một lượt với nhà ga Ðà lạt. Ðó là một kiến trúc độc đáo hoàn toàn kiểu Âu châu màu đỏ, có những cửa kính hình vuông, xa trông như một toà lâu đài. Ngày khánh thành đường xe lửa Ðà lạt - Phan rang, có mặt Toàn quyền Pasquier và Khâm sứ Trung kỳ Thibaudau. Từ đó Pháp chở nhiều vật liệu nặng cho việc xây dựng các biệt điện.

[img]UserPostedImage
[/img]

UserPostedImage Ga Đà Lạt xưa

Cũng như nhiều thành phố khác, tới đâu Pháp cũng lo hưởng thụ các tiện nghi. Khu vực xây dựng đầu tiên gọi là "khu phố Tây" nằm trên đồi, thuộc khu vực rạp hát Ngọc Lan, chạy qua khách sạn Thủy Tiên, tới đường Phan Ðình Phùng, với nhiều nhà phố kiểu Tây phương, trên lầu có ban công nhìn xuống đường lộ để chiều chiều họ ra đó nhìn xuống đường phố. Dinh Toàn quyền, còn gọi là Biệt điện số 2, nằm trên một ngọn đồi gần ngã tư đường Nguyễn Tri Phương và Trần Hưng Ðạo, khởi công năm 1933 có 25 phòng, ba năm sau mới hoàn thành. Biệt điện quốc trưởng dành riêng cho vua Bảo Ðại gọi là dinh số 3, nằm cuối con đường Huyền Trân công chúa. Từ lúc xây cất xong cho đến năm 1945, biệt điện được gọi là Hoàng cung Ðà lạt. Ðây cũng là chỗ để hoàng đế tổ chức lễ Vạn thọ (sinh nhật), tiếp tân các toàn quyền, khâm sứ, và sau này là Cao ủy Pháp.

Trong biệt điện chia ra nhiều phòng:

- Văn phòng Hoàng đế, có bức tượng hình người thật của nhà vua bằng thạch cao và một bức tượng khác nhỏ hơn, bằng vàng, của vua Khải Ðịnh. Sau năm 1975 tượng này đã bị VC lấy mất.
- Trong phòng này cũng có ngọc tỉ, ấn tín. Phía trên lò sưởi, ngay giữa phòng là bức chân dung hoàng đế mặc triều phục, hoàng tử Bảo Long và Nam Phương hoàng hậu.
- Tầng lầu thứ hai dành riêng cho hoàng gia họp mặt. Phòng màu vàng dành cho thái tử Bảo Long. Phòng hình bán nguyệt dành cho hoàng hậu và các con, nơi cả gia đình họp mặt.

Ngoài ra, còn Dinh số 1 nằm trên một ngọn đồi từ ngả ba Trại Hầm đi lên. Những biệt điện kể trên xây cất cách nay hơn nửa thế kỷ, nhiều chỗ hư mục nhưng không được tu bổ.VC bán vé cho du khách vào xem nhưng không bỏ tiền để tái thiết, sau khi đã vơ vét hết những tài sản qúy giá ở những nơi đó cũng như trong cấm thành ngoài Huế hồi năm 1945.

UserPostedImage DINH - (nơi Tổng Thống nghĩ mát)

Dưới thời Ðệ nhất Cộng hoà (1955-1963), vợ chồng ông Ngô Ðình Nhu có xây một biệt thự nghỉ mát gọi là "biệt điện mùa hè" ở Ðà lạt. So với các dinh số 2, dinh số 3, biệt điện này nhỏ hơn, nhưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật, vật liệu mua từ ngoại quốc, trang bị tối tân hơn. Lần đầu tiên, một hồ tắm kiểu vua chúa Tây phương được du nhập dành cho cấp lãnh đạo thụ hưởng. Biệt điện xây trên một ngọn đồi nhìn xuống một thung lũng thơ mộng, và đồi ấy được đật tên là Châu Lâm (Jewel Forest). Mùa hè năm 1964, khi chế độ Ngô Ðình Diệm sụp đổ, gia đình chúng tôi có ra thăm biệt điện này, chứng kiến cảnh sống vương giả của gia đình họ Ngô. Biệt điện được trang hoàng theo sở thích của từng người. Phần bà Nhu là hồ tắm bằng cẩm thạch, nước trong vắt, có máy làm nuớc nóng về mùa đông. Trong nhà, phòng ngủ, bếp nấu ăn đều trang bị những tiện nghi đắt tiên vì bà là một trưởng giả khó tánh. Phòng khách có đến năm lò sưởi. Tường, trần nhà, sàn nhà đều lót bằng những phiến gỗ tếch hình vuông, đánh bóng. Khu vườn hoa là của ông Ngô Ðình Nhu, có trên một trăm loài hoa hiếm qúy được mua từ ngoại quốc đem về. Mỗi lần ra thăm, tổng thống Ngô Ðình Diệm thường bước ra sân im lặng ngắm hoa, như theo đuổi một ý tưởng riêng. Biệt điện chỉ có độ 12 phòng nhưng phải xây dựng mất năm năm mới hoàn thành vì nhiều chỗ phải đập đi làm lại nhiều lần mới vừa lòng bà Nhu. Riêng chiếc cổng vào, phải xây lại đến lần thứ năm.


Cũng trong thập niên 1930, Pháp xây dựng nhiều dinh thự khác như toà công sứ, dinh quản đạo (cho tỉnh trưởng người Việt), trường trung học Yersin, trường Couvent des Oiseaux, khách sạn Du Parc, nhà thờ chính tòa gần Ðà lạt Hotel được xây dựng sớm hơn, nhưng mãi đến năm 1942 mới hoàn thành. Cây thánh giá trên nóc tháp chuông, cách mặt đất tới 47 mét, dáng dấp một giáo đường thời trung cổ bên Âu châu. Khách sạn lớn nhất là Ðà lạt Hotel nằm cùng khu vực với nhà thờ, trên đường Yersin, được xây dựng sớm nhất, từ năm 1907, có 65 phòng. Sau năm 1945 khách sạn ấy bị hỏa hoạn làm hư hại một phần.

Tới đầu thập niên, Ðà lạt trở thành một đô thị tân tiến với các dinh thự to lớn, hơn 800 biệt thự, nhà nghỉ của tư nhân, các gia đình qúy tộc, giàu có khắp nơi trong nước. Mỗi biệt thự kiến trúc khác nhau nhưng đều giống nhau ở chỗ có sân cỏ, vườn hoa, và chỗ để xe hơi. Thuở đó, người Pháp hãnh diện coi Ðà lạt như "La Petite Paris" (tiểu Paris). Năm 1949 Quốc trưởng Bảo Ðại từ Hồng kông về chấp chánh. Ðà lạt là nơi quốc trưởng cư ngụ nên trở thành thủ đô hành chánh, các chính khách rộn rịp lên xuống yết kiến ngài. Lúc đó, Ðà lạt cũng còn là một địa điểm săn bắn hấp dẫn. Chỉ cách Ðà lạt chừng hai giờ lái xe, chúng ta sẽ lạc vào những khu rừng có đầy nai, mễn, heo rừng, chim phụng hoàng, gà rừng, gấu và cọp nữa. Năm 1972 có lần chúng tôi gặp bốn người Thượng khiêng một con cọp vừa mới bẫy được, đem ra chợ Ðà lạt bán. Món thịt nai gần như ngày nào cũng có, nhất là khi trời bắt đầu mưa cho đến tháng 11 hàng năm.

Theo thời gian, chế độ Hoàng triều Cương thổ bị bãi bỏ, Ðà lạt thu hút thêm nhiều người Việt từ ba miền lên lập nghiệp. Vì có khí hậu miền ôn đới nên Ðà lạt là nơi thích hợp cho các loại hoa và rau cải, trái cây xứ lạnh. Hồi đầu thập niên, người Pháp muốn mở rộng nghề trồng rau cải và trồng hoa để phục vụ nhu cầu của họ, nên cho phép một số người có kinh nghiệm trồng rau lên Ðà lạt lập nghiệp. Theo lệnh Pháp, tổng đốc Hà đông Hoàng Trọng Phu tuyển mộ mấy mươi gia đình từ các làng chuyên canh rau cải, trồng hoa ở Ngọc Hà, Nghi Tam, Quang Ba, Tây Từ... lên Ðà lạt, được cấp đất trồng hoa. Lớp người này lập ra ấp Hà Ðông để tưởng nhớ quê hương của họ. Ấp Nghệ Tĩnh do Phạm Khắc Hoè khi làm quản đạo Ðà lạt lập ra năm 1942, cũng tập họp những người phát xuất từ hai tỉnh đó.
Dưới thời Ðệ nhất Cộng hòa, chính phủ Ngô Ðình Diệm cho thiết lập nhiều cơ sở văn hoá tại Ðà lạt. Viện Ðại học Ðà lạt thành hình năm 1957, xuất phát từ chủng viện công giáo thuộc giám mục địa phận Huế cai quản. Viện Ðại học Ðà lạt ra đời với sự đỡ đầu của Tổng giám mục Ngô Ðình Thục và sự giúp đỡ của Hồng y Spellman ở New York, phát triển liên tục cho đến năm 1975.
Về tôn giáo, một trong các ngôi chùa cổ nhất là chùa Linh Phong trên đường đi Trại Hầm, chùa Linh Sơn, chùa Thiên Vương, chùa Sư Nữ. Nhà thờ Domain là nơi tu hành của các bà sơ, chuyên làm bánh kẹo, trồng hoa để bán. Vợ của toàn quyền Ðông Dương Jean Decoux tên Suzanne Humbert là bạn của hoàng hậu Nam Phương, là người đóng góp nhiều tiền bạc cho nhà thờ này. Bà bị tai nạn xe hơi trên đường Ðà lạt nhân một chuyến lên chơi với bà Nam Phương. Thi hài được chôn phía sau nhà thờ. Nói đến chùa Linh sơn Ðà lạt, người ta nhớ đến một thầy trụ trù từ năm 1945. Thầy là người cha Nhật mẹ Việt, sinh năm 1926. Khi Nhật vào Ðông dương, thầy bị bắt đi làm thông ngôn một thời gian. Năm 1951 thầy tốt nghiệp trung học yersin. Trong thời gian trụ trì ở chùa Linh sơn, thầy vẫn cầu học, dịch kinh sách, và ghi danh theo học ở viện Ðại học Ðà lạt, phân khoa văn chương và triết học. sau đó thầy chuyên về môn văn chương Anh Mỹ, tốt nghiệp cử nhân với đề tài tiểu luận "William Faulkner" vào năm 1975!

UserPostedImage
Nhà thờ
Ngoài ra, ở Ðà lạt còn có Trung tâm Nguyên tử lực do chương trình "Nguyên tử phụng sự Hòa bình" của Mỹ viện trợ.Trung tâm này sử dụng lò phản ứng nguyên tử Triga Mark II do Hoa kỳ chế tạo, áp dụng chất phóng xạ đồng vị trong nông nghiệp. Trung tâm được khánh thành dưới sự chủ tọa của Tổng thống Ngô Ðình Diệm trước sự hiện diên của đại sứ Henry Cabot Lodge. Hai công trình quân sự tốn kém khác nhưng có tính cách văn hóa hơn là trường Võ bị Quốc gia Việt nam, nằm trên một ngọn đồi cao, kiến trúc tối tân, gồm hàng chục dãy nhà lầu ba, làm cư xá cho sinh viên, khu văn hoá, bộ chỉ huy, nhà thí nghiệm nặng... để phục vụ chương trình giáo dục bốn năm cho các sinh viên sĩ quan hiện dịch. Khi tốt nghiệp, ngoài bằng cấp quân sự, các sinh viên còn được cấp phát văn bằng Cử nhân khoa học ứng dụng. Kế đến là trường Ðại học Chiến tranh Chính trị, trường Chỉ huy Tham mưu, cung cấp kiến thức chuyên nghiệp về quân sự cho các sĩ quan.

UserPostedImage

Mới viếng Ðà lạt, du khách sẽ ngạc nhiên không phải vì cái khung cảnh của một thành phố Âu châu nằm lọt trong lòng một vùng rừng núi xích đạo nước ta, mà chính là cái cảm giác khoan khoái, lâng lâng như vừa bước vào một căn phòng gắn máy lạnh. Xung quanh Ðà lạt là rừng thông hai lá và thông ba lá. Tiến vào rừng sâu, người ta còn tìm thấy một vài loại cây xứ lạnh khác như tùng, tắc bá diệp, bạch đàn.

UserPostedImage

Sống ở Ðà lạt nhiều năm, tôi nghiệm ra rằng mỗi năm ở đây có hai mùa rõ rệt. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Lúc đó, ra đường chỉ cần khoác một chiếc áo len mỏng nhẹ. Nhưng nếu phải đi bộ lên dốc xuống đồi thì chắc chắn cảm thấy nực vì mồ hôi. Mùa lạnh từ tháng 11 trở đi, khí hậu lạnh dần cho đến hết tháng 12 là cực điểm. Mùa Giáng sinh có những đêm ở phi trường Cam ly nhiệt độ xuống đến số 0. Ban ngày, bầu trời trong vắt, nắng hanh vàng, tuy nhiên nếu ra khỏi nhà phải mặc đồ đủ ấm, nếu không sẽ bị cảm lạnh. Trời lạnh đi bộ là một cái thú, cũng là một cách nạp lại năng lượng cho cơ thể. Trước cửa nhà, nhìn qua bên kia đồi, mấy biệt thự mái ngói đỏ au. Theo một con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đẫm ướt sương đêm là hình ảnh quen thuộc mỗi buổi sớm mai. Buổi sáng hay chiều đều có cái thú riêng của nó mà những người ở Ðà lạt lâu năm mới tìm thấy riêng cho mình. Mùa mưa, vừa thức giấc, sương mù còn tỏa trên các thung lũng một màu trắng đục. Thấp thoáng xa xa, mấy cái nhà sàn ẩn hiện như trong bức tranh thủy mạc. Trên mặt hồ Xuân hương là một màn mỏng lờ mờ cho đến khi nắng lên, sương tan dần.

[img]UserPostedImage
[/img]
Thành phố buồn


UserPostedImage Đà Lạt sương mù


UserPostedImage

UserPostedImage


Những buổi sáng mù sương là những đề tài cho các nhà săn ảnh mỹ thuật. Ở đây sương mỏng và hiền, không phải sương muối như nhiều nơi khí hậu khắc nghiệt khác. Những người làm nghề trồng tỉa cho biết lớp sương mù buổi sớm rất cần thiết cho cây trà, mà ở Cầu Ðất, trên đường từ Trạm hành đến Ðơn dương, nhiều đồn điền trà dầm dià những giọt sương sớm, lắng đọng trên cành lá. Cầu Ðất cũng có nhà máy pha chế trà của ngưới Pháp.

UserPostedImage

UserPostedImage

Có bạn ở Ðà lạt lâu năm nói với tôi rằng: "Một ngày Ðà lạt có đủ bốn mùa: sáng sớm trời lạnh, nhiệt độ còn thấp, nhiều sương phủ mờ trên thung lũng hay mặt hồ. Ðó là mùa xuân, cỏ hoa vươn mạnh, sau một đêm dầm dìa những giọt sương. Buổi trưa, mặt trời lên cao, nóng ấm, cũng là lúc giống mùa hè. Vào buổi xế, mặt trời Ðà lạt lặn sớm vì nhiều đồi núi, gió hiu hiu se lạnh, ta có cảm giác như trời vào thu. Về đêm, nhiệt độ xuống thấp nhất vào lúc nửa đêm, lạnh ngắt, đó là mùa đông." Ban đêm nhà nào cũng kéo lớp cửa kính lên để giữ nhiệt độ trong nhà được ấm. Hàng năm, trường Võ bị Quốc gia Việt nam làm lễ mãn khóa vào tuần thứ ba của tháng 12 trong không khí giá buốt. Khách đến dự lễ truy điệu vào ban đêm, súng sính trong những bộ dạ phục mùa đông đất tiền, chẳng khác gì ở những quốc gia ôn đới.

Nhưng cái hấp dẫn khác của Ðà lạt có lẽ là xứ hoa nở bốn mùa. Mùa xuân, nhiều loài hoa nở rộ, khoe hương sắc. Hoa mai nở quanh năm. Có nhiều loại hoa mai như mai đỏ, mai tứ qúy, mai hồng, và nhất chi mai. Vào tháng chạp có hoa đào báo hiệu ngày Tết. Hoa đào thuộc loại hoa qúy tộc, mầu hồng đậm nhạt. Những gia đình trung lưu ở Ðà lạt, ngày tết thường chưng một bình hoa có cành đào trong phòng khách. Còn hoa anh đào, một món quà tặng từ xứ Phù tang, được trồng ven bờ hồ Xuân hương. Hoa đào nở rộ vào hai tuần lễ cuối tháng 12. Hoa đào phơn phớt trắng hồng như má thiếu nữ khuê các. Con đường từ trước khách sạn Palace ra đến cầu ông Ðạo là cả một rừng hoa anh đào rực rỡ, tô điểm cho thành phố Ðà lạt vào xuân.

UserPostedImage Ảnh nhìn từ trên khách sạn Palace xuống hồ Xuân Hương

UserPostedImage Hồ Xuân Hương khi sương mù


UserPostedImage
Trước năm 1975 những chùm hoa colico mọc ven hồ Xuân Hương

UserPostedImage Hoa For get me not (xin đừng quên tôi) có hương thơm ngào ngạt

UserPostedImage Xuân về hoa Mai anh Đào nở bên hồ Xuân Hương
Có lần Hàn Mặc Tử đến Dalat và đứng ngây người trước hồ Xuân Hương: Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều.
Để nghe dưới đấy nước hồ reo.
Để nghe tơ liễu rung trong gió. Và để nghe trời giải nghĩa yêu…

Ðà lạt đẹp một cách kiêu kỳ lãng mạn. Nhiều thi nhân, văn sĩ về đây không tiếc lời ca ngợi Ðà lạt. Mùa này, khi nắng lên, thị dân và du khách đổ ra đường, rồi đến trưa mọi người đều đổ về công trường chợ Hoà bình. Chợ Hòa bình tràn ngập giai nhân với muôn màu áo, hãnh diện khoác tay những chàng trai kiêu hùng trong bộ quân phục với chiếc alpha màu đỏ hay đen. có những buổi sáng, khi làn sương mù còn bao phủ trên ấp A'nh sáng, tôi thường theo vợ con đi chợ. Trong khi nhà tôi dẫn con đi mua sắm, tôi thường vào cà phê Tùng, nhâm nhi tách cà phê nóng bốc khói cho ấm lòng. Ở đây cũng là chỗ hẹn hò của các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ từ Sài gòn tới. Họ thường trầm ngâm, thả hồn qua khói thuốc để tìm ý thơ. Còn nhà Thủy tạ nằm trên một doi đất trước khách sạn Palace, là chỗ hẹn hò của các tình nhân, vì cái không khí tĩnh mịch lại nên thơ. Trước năm 1954 nhà Thủy tạ còn gọi là La Grenouillière.

[img][img]UserPostedImage[/img]
[/img] Nhà Thuỷ Tạ trên hồ Xuân Hương năm 1954


Hồi ở Ðà lạt tôi cũng có anh bạn thân, nhà văn Ðặng Ðình Tòng, có dáng dấp một triết gia với cặp kính cận, thường mặc bộ đồ veste, che cây dù đen dạo phố. Có lần anh về thăm ông bà nhạc ở Long xuyên, bị ông nhạc nói với con gái: "Tao không gả mày cho thằng cha thầy bói đó."

Chúng tôi có cái thú uống cà phê vào những buổi chiều cuối tuần để nhìn thiên hạ dạo phố. Từng cặp, từng cặp tay trong tay, chầm chậm trên các nẻo đường. Sở thích chúng tôi là cà phê pha đậm, uống bằng tách sành (không dùng ly thủy tinh). Còn nước trà phải nấu bằng nước suối múc trên nguồn thác Datanla, hoặc không thì cũng là nước mưa. Không biết cái không khí se lạnh buổi sáng hay cái nắng hanh vàng buổi chiều thoi thóp trên cành cây làm chúng tôi thú vị như thế nào, nhưng thói quen ấy chúng tôi không bỏ trong nhiều năm. Cũng có thể chúng tôi ghiền cái không khí bạn bè của người đồng điệu. Núi rừng cao nguyên chùng xuống. Mặt hồ gợn sóng lăn tăn. Ở phía xa hướng trường Yersin và Nha địa dư, trên mặt hồ có mấy cánh buồm sọc đỏ trắng, uể oải về bến. Trước hàng rào nhà chúng tôi là một hàng cây mimosa. Ðến mùa, hoa lấm tấm vàng, nở rực theo theo suốt con đường Nguyễn Tri Phương, Trần Hưng Ðạo, Pasteur... Hoa lưu ly thảo có người nói chính "forget-me-not", cánh mỏng như giọt sương. Còn hoa pensée hay hoa tư tưởng là hoa học trò, nở vào dịp gần gãi trường. Ai đã từng đi học mà không có lấn mơ mộng, ép hoa pensée vào trang giấy học trò kỷ niệm thời cắp sách. Ngoài ra, còn có nhiều loại hoa lạ như uất kim hương, glaieul (lay ơn) hoa croquelic.

Ở Ðà lạt nhiều năm, nhưng tôi cũng không ngờ các loại hoa mimosa, hồng nhung, glaieul... do chính bác sĩ Yersin du nhập vào nước ta. Ngoài các loại hoa, bác sĩ Yersin còn mang đến nhiều giống cây lạ như cà phê, canh ky na, ca cao. Bác sĩ Yersin cũng là ân nhân của Việt nam và cả nhân loại khi tìm ra được thuốc chích ngừa bệnh dại, bệnh dịch hạch.

UserPostedImage Hoa Mimosa

UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage

Người qúy phái thích hoa hồng. Tuy gọi hoa hồng nhưng thực sự nó có đủ màu sắc. Hoa hồng phấn còn mện danh là Grace Monaco, hồng vàng gọi là Joséphine, hồng nhung gọi là Brigite Bardot. Hoa cúc cũng nhiều thứ, đủ màu sắc khác nhau. Có người trồng hoa ở Liên khàng nói với chúng tôi có đến 19 loại hoa cúc cùng họ compositae như cúc vàng, cúc trắng, cúc Nhật bản, cúc đồng tiền, cúc đại đóa, cúc hoàng anh, hoa thủy, cúc qùy, thược dược, marguerite, souce... Hồi xưa, mỗi năm hoa cúc nở rộ vào tháng 9, đó cũng là mùa chia ly vì lính thú từ giã gia đình lên đường ra biên cương giữ nước.Ðến tháng 9 năm sau lại được về. Vì lẽ đó, thời kỳ đi lính thú thời xưa gọi là "hoàng hoa", và rượu để tiễn người lên đường cũng là rượu hoàng hoa. Trần Ðình Lượng, quan nhà Nguyễn, trên đường đi sứ qua Pháp đã viết bài "Như Tây Nhựt Trình" trong đó có câu:
Ðường mây sớm giục sứ trời Paris muôn dặm, mấy lời hoàng hoa

Ngoài ra, Ðà lạt còn là quê hương của hàng trăm loại lan rừng. Theo các sách nghiên cứu về hoa lan cho biết, có đến hàng ngàn loại khác nhau. Nhiều lần đi cắm trại ở các sườn núi cao hoặc vùng thac Datanla, chúng tôi gặp một loại hoa màu đỏ tím, đó là hoa đỗ quyên nở rực cả khu rừng. Ở trên đường từ lăng Cô di Bạch mã có thác Ðỗ quyên vì trên đường đi vào thác có hoa đỗ quyên rực rỡ. Ở trên đèo Ngoạn mục về phía Sông Pha có lan cẩm bác, hoa màu vàng nhạt đốm nâu. Hoa kim châm có lá dài, cọng nhỏ, màu vàng, có thể trang hoàng hay chưng cá, xào thịt, pha chế nước sốt để ăn vịt quay rất ngon. Ðà lạt vào xuân là thiên đàng của các loài hoa nở rộ. Nào hồng lan, hoàng lan, đoản kiếm, thanh lan, hạc đĩnh, hoàng phi hạc, kim điệp, long tu, nhất...
coffeebean  
#9 Posted : Friday, April 9, 2010 5:03:17 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Thiệt không biết nói sao để cám ơn Cactus rất công phu tìm kiếm tài liệu, hình ảnh về Đà Lat. Vừa cảm động nhìn lại đựợc hình ảnh đẹp như mơ của Dalat xưa, vừa ngậm ngùi, uất nghẹn vì mình ... bất lực trước sự huỷ hoại, biến dạng của miền đất cao nguyên tuyệt đẹp, thơ mộng, thanh lịch, hiền hoà, hiếu khách này. Dalat (trong khoảng 15 năm sau ngày mất nước) như một khuê nữ thập phần diễm lệ, tài sắc, phong cách vẹn toàn được đưa vào trong các Gulag lao động khổ sai ở Siberia ...
Về sau họ hiểu ra nếu để cô chết mòn trong gulag sẽ không có hiệu quả về nhiều mặt .. .Thế là họ bèn "phục hồi nhân phẩm" cho cô, đưa cô về lại nếp nhà xưa nay đã hoang tàn đổ nát, cha mẹ qua đời, anh em lưu lạc, quyến thuộc xa gần chẳng còn được mấy người. Gia trang xưa chia xẻ tứ tán, mọc lên những hình thù kỳ quái ... Với thân xác hao mòn, tinh thần hoảng loạn cô sống giữa những người chỉ biết đến mãi lực kinh tế mà cô có thể đem lại... họ mãi huênh hoang, tự đắc về việc giầu sụ từ trên trời rơi xuống, không ngần ngại đóng lên trán cô con dấu sở hữu chủ... cô được mang ra tô xanh tô tím, thử màu đỏ, pha màu vàng, cho mặc áo xường xám, đi giầy Nike, đầu đội khăn đóng, tóc lúc thì nhuộm vàng lúc đỏ hoe, tay xách cái bóp Louis Vuitton, vai kia vẫn không quên khoác cho cô cái ... khẩu súng trường (lẽ đương nhiên đạn được giữ chỗ khác)...
Có vài đoạn tài liệu mà Cactus gom góp từ các nguồn thông tin trong nước và có lẽ chưa được xác minh tính đúng đắn, trung thực, khách quan của nguồn tin...
Cactus chắc có nghe biết chủ nhân của biệt thự Hằng Nga (Crazy house) là ai mà phải không? Hột cà phê chỉ mới biết sau khi đọc bài viết về Đà lạt này, rồi lò dò lên google để tìm (hột cà phê vốn làm biếng lại dốt về computer). Chỉ muốn coi chút xíu thôi. cái đề mục số 1 (cua 1 du khách thăm VN viết lại), nói người nữ kiến trúc sư này là "eccentric daughter of the former Vietnam president" lại không biết "former" này... là ai nên phải đi tìm (không thôi lại nghi oan người khác) tới cái đề mục số 2, copy lại để Cactus thấy 1 ý kiến khác về "Lâu đài mạng nhện"
Architecture Of The Crazy House Jan 10, 2010 by Tom Ravenscoft
The communist country of Vietnam is not known for its architectural achievements as for many years individual artistic expression has been viewed with suspicion. Hang Nga’s status as the daughter of the former president of Vietnam, Truong Chinh, has undoubtedly given her license to build a structure unlike any other in the country. She trained as an architect and gained a PhD from the Moscow State University before embarking on the construction on her guesthouse cum art gallery cum museum, which certainly lives up to its billing as the “Crazy House”.

..... ...... ...

Rather than staying at the Crazy House many tourists choose to visit the museum during the day. Entrance costs less than a dollar and allows you to experience the Crazy House while enjoying the comfort of one of Dalat’s many other accommodation options.
The Crazy House would look out of place in any city in the world, and the fact that it exists in Vietnam makes it all the more surprising. Hang Nga’s guesthouse is undoubtedly inspired by Gaudi and although her building lacks the finesse and intelligence of the Spanish master, her creation is never the less still a special hotel that is unlike any other place you will ever stay.



mình bỏ qua cái đoạn 1 nghe, tạm diễn tá đoạn 2 một chút: Nhiều du khách viếng thăm Đà lat, chỉ bỏ ra khoảng 1 dollar vào cửa để quan sát thăm thú Crazy House này như là một trong rất nhiều phương tiện về du lịch ở Đàlat thay vì ở lại đây qua đêm.
Nếu có dời nó đi đặt xuống một thành phố nào đó trên thế gian này thì Ngôi nhà quái đản ấy chẳng thể thích hợp với bất kỳ một nơi chốn nào cả. Điều đáng ngạc nhiên hơn là nó lại được dựng lên ở Việt Nam (quê hương đau khổ của chúng ta, ở thành phố thơ mộng đang có những công trình tương tự). Khách sạn Hằng Nga với lối kiến trúc ảnh hưởng sâu đậm từ Gaudi nhưng thiếu đi nét tinh tế mỹ miều và cái tinh anh hài hòa của bậc thầy kiến trúc xứ Tây Ban Nha, Công trình của bà cũng là môt khách sạn đạc biệt, mà không như những nơi chốn (ở trọ) khác bạn không muốn ở lại!


Mong Cactus hiểu cho, hột cà phê không hề có ý trách bạn đâu. Vì đây là thông tin bạn có được, Chỉ muốn chia sẽ với bạn nhận xét của du khách đến VN về cái lâu đài quái đản đó mà báo chí trong nước cứ tán tụng như là ... không còn gì sánh bằng
Một lần nữa rất cám ơn Cactus đã bỏ rất nhiều công phu cho loạt bài về Đà Lạt
Và cũng cám ơn Nhật Tâm những bức hình xưa cảm động quoá chừng và những đoá hoa bên bờ hồ nữa. Còn ... thiếu Mimosa


TUS  
#10 Posted : Friday, April 9, 2010 7:19:30 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Không có chi đâu hột cafe...góp ý cho nhau là điều cần phải có..có thể cactus chỉ nhìn thấy 1 khía cạnh về kiến trúc và..khoái nó nên không nghĩ gì xa xôi hết..bỏ hết những ý tưởng khác sau lưng mình..rất cám ơn hột cafe nhé..

UserPostedImage



UserPostedImage
nhat-tam  
#11 Posted : Saturday, April 10, 2010 7:14:25 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
UserPostedImage

Và cũng cám ơn Nhật Tâm những bức hình xưa cảm động quoá chừng và những đoá hoa bên bờ hồ nữa. Còn ... thiếu Mimosa
THANKS coffeebean đã nhắc nhở đến hoa Mimosa.
Nhắc đên ĐÀ LẠT, là có ngàn lời để nhớ trăm điều để thương! Bấy nhiêu hình ảnh đó, chưa diễn đạt hết cái đẹp của thành phố ngàn hoa thơ mộng. nhat-tam vẫn nhớ có hoa Mimosa (có cả bài hát) và nhiều loài hoa đẹp khác, nhưng vì muốn tìm hình hoa Mimosa bên cạnh những cảnh vật chung quanh nên upload hơi chậm (cũng bận ). Chúc coffeebean có 1 weekend vui đẹp
!
havi  
#12 Posted : Saturday, April 10, 2010 10:35:35 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Hi Cactus, Nice topic..wooaaahh, những bài cactus post và những hình ảnh Đà Lạt sương mù thật là đẹp, nét trử tình của Đà Lạt lúc nào cũng còn mãi trong tâm tưởng của những ai mê thành phố đầy mộng mơ dù là xa xứ cả mấy chục năm ...nhưng nhìn lại những tấm hình mà ngỡ như ngày hôm qua, của những ngày thơ ấu cũ xa xưa, đâu bổng chợt quay về....

Thank you Cactus & Thank you Nhat-tam, đã post nhiều hình rất đẹp về Đà Lạt. Very nice

UserPostedImage
TUS  
#13 Posted : Saturday, April 10, 2010 12:17:35 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
wow..thanks Nhattam đã post dalat muabay dù cactus iu biển nhưng cũng phải động lòng vì photo này..wonderful!..Yêu thiên nhiên, iu cả kiến trúc là sở thích của cactus...thanks again!

UserPostedImage



UserPostedImage
coffeebean  
#14 Posted : Saturday, April 10, 2010 2:51:33 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Chời ui, Nhat-Tam post cho coi "Dalat mưa bay" phê thì thôi!
Gởi bạn mấy câu trong bài hát này.

Hoài công tìm kiếm trên bước đi thăng trầm
Còn đâu đẹp hơn bên gốc thông ngàn
Lặng nghe muôn tiếng ca quên niềm ưu phiền
Vì đời ai biết ta hơn mình .

Nếu có được một tách trà/ cà phê cũng được... Rồi thả hồn về một đêm trăng, sương hơi lãng đãng, quấn lại chiếc khăn quanh cổ, thọc tay vào túi áo khoác, thả bộ theo con dốc đầu đường Trần Hưng Đạo nơi đổ vào bờ hồ. Ngày ấy, bên phía tay trái có cây mimosa thiệt già (ngay cây xăng đó mà) không chỉ hương hoa thơm ngan ngát mát lòng mà lá cây ánh lên màu bàng bạc lay động theo gió dưới ánh trăng thật là huyền ảo lạ lùng ... theo coffee bean, Mimosa đẹp cả ban ngày lẫn ban đêm, nhất là những đêm trăng dù trăng vào rằm hay trăng mờ mờ ảo, lá cây xanh hơi thẫm lúc ban ngày giờ như có trải lên một phiến rất thanh mảnh màu bạc và nhẹ nhàng sáng lên dưới ánh trăng.
coffeebean  
#15 Posted : Saturday, April 10, 2010 3:02:40 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
quote:
Originally posted by cactus20113
Không có chi đâu hột cafe...góp ý cho nhau là điều cần phải có..có thể cactus chỉ nhìn thấy 1 khía cạnh về kiến trúc và..khoái nó nên không nghĩ gì xa xôi hết..bỏ hết những ý tưởng khác sau lưng mình..rất cám ơn hột cafe nhé..

UserPostedImage

Rất dzui khi đọc mấy lời này của Cactus, bạn còn trẻ (như nhiều bạn trẻ khác) nên ưa thích những gì độc đáo, khác thường nói lên ước muốn thích khai phá sáng tạo của tuổi trẻ ... Để coi ... chừng 10 năm nữa ... biết ra sao heng ! (biết đâu Cactus trẻ mãi hổng già thì sao)
nhat-tam  
#16 Posted : Saturday, April 10, 2010 3:59:20 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
coffeebean muốn TRĂNG hả? Thích thì chìu, có TRĂNG luôn nè!

UserPostedImage ÁNH TRĂNG XƯA
Tôi tìm tôi dưới đèn trăng
Tìm Em xa vắng, tìm trăn trở lòng
Mười năm! Sương lạnh cô phòng
Mười năm phố núi lạc dòng đời xuôi
Tôi về trên phố ngủ vùi
Núi rừng quạnh quẽ, bồi hồi đêm trôi
Trăng xưa rộn rã gọi mời
Trăng nay gác bóng bên trời cô liêu
Bước chân hụt hẫng. Buồn thiu!
Người xưa biền biệt, cảnh nhiều đổi thay
Bóng khuya huyền hoặc đêm nay
Thở sâu hun hút, khói bay chập chờn
Cà phê đắng mộng mỏi mòn
Lạnh đêm Thủy Tạ ai còn nhớ ai ?
Mười năm Đà Lạt u hoài
Mười năm tình vẫn liêu trai vào mùa
Lạnh đầy một ánh trăng xưa
Sương nay mấy độ cũng vừa bâng khuâng
Xuân Hương,Thủy Tạ, trăng gần
Mà hồn du mục bao lần vắng xa
Mười năm như thoáng mây qua
Nhìn trăng Đà Lạt nhớ tà áo sương
Thầm mơ cổ tích hoang đường
Để trăng gọi cánh hồn nương trăng tà
Tôi, Em, Đà Lạt, hương hoa Gần trong tâm tưởng nhưng xa ngàn trùng .

coffeebean chịu khó pha trà và thả hồn với đêm TRĂNG + thưởng thức bài thơ này nha!
TUS  
#17 Posted : Saturday, April 10, 2010 8:55:10 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
5" alt="UserPostedImage" class="UserPostedImage" style="max-width:800px;max-height:1200px" />
tặng anh hột cafe 1 photo trăng nè
anh hột cafe ơi có thưởng thức nổi ly coffee dưới đêm trăng như thế này không..hihihi?
UserPostedImage
mong anh hột cafe có những giây phút lãng mạn tuyệt vời này nhá

UserPostedImage

UserPostedImage



UserPostedImage
nhat-tam  
#18 Posted : Monday, April 12, 2010 7:31:52 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Hình ảnh Đà Lạt THỜI VIỆT NAM CỘNG HOÀ

UserPostedImage
Quang cảnh lý thú của Đà Lạt năm 1968 chụp từ trên cao, nhìn từ phía trường Lycee Yersin. Hồ Xuân Hương với làn nước trong xanh. Đồi Cù nằm ở bên phải. Khách sạn Palace là căn nhà màu trắng nằm ở bên trái của trung tâm bức ảnh, ngay bên cạnh tháp của Nhà Thờ "Con Gà". Mảnh sân cỏ màu xanh ở phía xa bên trái là sân banh Đà Lạt với khán đài nho nhỏ.

UserPostedImage Trường Lycée Yersin (sau này là Trường Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt) được đặt tên theo bác sĩ Alexandre Yersin, người có công không nhỏ với sự hình thành của thành phố Đà Lạt

UserPostedImage Hồ Xuân Hương góc cầu Ông Đạo

UserPostedImage Không khí êm đềm bên bờ hồ

UserPostedImage Khách sạn Mộng Đẹp

UserPostedImage Thác Pongour

UserPostedImage Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

UserPostedImage Hội Trường Hòa Bình nhìn từ đường Duy Tân

UserPostedImage Chợ Đà Lạt

UserPostedImage
Cảnh đánh bắt cá trong sương sớm trên hồ Xuân Hương Dalat trước năm 1975
UserPostedImage Một buổi sáng sương mù

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Núi Voi
UserPostedImage

UserPostedImage
nhat-tam  
#19 Posted : Monday, April 12, 2010 11:26:01 AM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)

UserPostedImage Tuyết rơi trên Thung Lũng Tình Yêu
THANKS thunder + coffeebean + havi + cactus!
Hãy cùng với nhat-tam đến Thung Lũng Tình Yêu qua hình ảnh này: thật tuyệt vời đó! Chúc tất cả 1 ngày vui!
TUS  
#20 Posted : Monday, April 12, 2010 4:07:12 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
TUYẾT RƠI....QUÁ ĐÃ...QUÁ ĐÃ...Thanks tất cả các anh đã bổ sung thêm những thiếu sót của cactus!
Anh Nhattam ui! design cho cactus 1 photo có Anh1 Trăng trên cành Liễu đi..cactus tìm wai mà ko có photos nào ưng ý hít..cám ơn Anh trước ha!
UserPostedImage



UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (3)
11 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.