Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

7 Pages«<567
Options
View
Go to last post Go to first unread
havi  
#121 Posted : Sunday, October 3, 2010 10:40:14 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
UserPostedImage~.~ OKAY...good day or good nite nha Cactus

UserPostedImage
TUS  
#122 Posted : Friday, October 22, 2010 9:52:24 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
UserPostedImage
SIS VI IU..ENJOY WEEKEND há..MISS U VERY VERY ...!

UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#123 Posted : Sunday, October 31, 2010 5:00:27 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage


UserPostedImage

Màu Tím Huế


Thôi thế là em cách biệt rồi!
Đường đi mỗi bước lại xa xôi
Tim tím rừng chiều, tim tím núi
Tim tím chiều hôm, tim tím mai

Ban chiều tim tím nhớ mong nhau
Đêm tối kìa em tím rất nhiều
Anh cúi xuống hôn màu tím giấy
Thư về em, tím nét thương đau

Mai mốt rồi đây lầm cát bụi
Anh lại đường xa trải kiếp người
Tim tím rừng chiều, tim tím núi Chiều hôm nhiều tím thế em ơi!


Nguyễn Bính




UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage
TUS  
#124 Posted : Friday, November 5, 2010 1:00:14 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
UserPostedImage SIS VI IU...MISS YOU!

UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#125 Posted : Sunday, November 28, 2010 10:57:55 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage
Tục Ngữ - Ca Dao - Mối liên hệ giữa Ca Dao và Dân Ca


Ðịnh Nghĩa Tục Ngữ - Ca Dao
… Chọn một số sách biên khảo về văn chương bình dân hay nói rõ hơn, về thi ca truyền miệng, xuất bản tại Việt Nam trong vòng 50 năm, từ công trình của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1928) cho tới khảo luận của Vũ Ngọc Phan (1978) để rút ra một kết luận riêng cho việc dẫn dắt tuổi trẻ Việt Nam trở về con đường dân ca như chúng tôi mong muốn.
Tục ngữ là gì?

Trước hết, các vị tiền bối đã cho ta thấy trong phạm vi tục ngữ mà các cụ định nghĩa là "câu nói có ý nghĩa, dễ nhớ vì có vần có điệu, lưu hành bằng cách truyền khẩu từ đi này qua đi khác", có nhiều danh từ cũng có chung một định nghĩa như tục ngữ. Chẳng hạn :

ngạn ngữ = lời xưa truyền lại.
thành ngữ = câu nói có sẵn, không thi vị người ta quen dùng.

Trong tục ngữ lại còn có cả :

sấm ngữ = lời tiên tri.
mê ngữ = câu đố.
lí ngữ = lời phải trái.
Và cũng trong gia đình tục ngữ, người xưa còn có thêm :
phương ngôn = tục ngữ của một địa phương.
châm ngôn = câu nói khuyên răn đi.
Ca dao là gì ?

Còn chữ "ca dao" mà các cụ định nghĩa là : "bài hát ngắn lưu hành trong dân gian" (tức là dân ca theo quan niệm thời nay) thì ngoài danh từ đó ra còn có :

phong dao = câu hát dân gian, tả phong tục tập quán.
đồng dao = bài hát của trẻ em (nhi đồng ca).
dân dao = ca dao do dân chúng làm ra.



UserPostedImage


Cuối cùng, lại có cả một danh từ, có vẻ như là câu nói tắt của hai chữ "tục ngữ -- ca dao":

tục diêu (dao) = tục ngữ bằng thơ lục bát.
Ai sáng tác ca dao ?

Một giả thuyết rất hấp dẫn được đưa ra, mà Phạm Văn Diêu là người cả quyết nhất, chủ trương : Ca dao là thi ca truyền miệng có tác giả chứ không hẳn chỉ là của quần chúng vô danh.
Hơn nữa, dù là của quần chúng vô danh hay của tác giả, ta vẫn thấy công dụng của ca dao là : Ca dao làm ra để hát, ngoài những câu hay những bài có tính chất mô tả tình phong tục tập quán còn là những câu hát về thời tiết, về thời sự, tóm tắt lại là những câu hát, những bài hát có dính dấp đến chính trị, có tính chất tuyên truyền nữa.
Dân ca cổ = Ca dao

Mối liên hệ giữa dân ca cổ và ca dao là : Toàn thể hình thức thơ truyền miệng hoặc một bộ phận trong đó là ca dao, không hoàn toàn trở thành những bài hát dân gian, tức dân ca, nhưng ta có thể nói rằng một phần lớn dân ca cổ đều xuất xứ từ ca dao. Nếu các vị tiền bối của chúng ta chỉ mới khẳng định là có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa ca dao và dân ca qua những tác phẩm vừa được nêu ra thì qua phần tới của tiểu luận này, chúng ta sẽ tìm hiểu sự liên hệ đó ra sao với phương pháp nhạc học thuần lý.

Ta có thể lập luận một cách rõ ràng hơn nữa về sự liên hệ giữa ca dao và dân ca :

Theo truyền thống văn học nghệ thuật bình dân Việt Nam, thơ không tách rời khỏi nhạc. Lời thơ đầu tiên có thể là câu hát đầu tiên. Như vậy, giữa dân ca và ca dao không có ranh giới. Có phân biệt thì chỉ là khi nói tới ca dao, ta nghĩ đó là thơ dân gian. Khi nói tới dân ca, ta nghĩ đó là một thể loại ca nhạc. Hiểu theo cách thông thường :
Phân Loại Dân Ca Cổ
Ngâm, Ru

Bởi vì dân ca gắn liền vào đời sống của người dân cho nên tôi phác họa ra những bước tiến của dân ca, khởi đầu bằng hai loại "ngâm" và "ru" là những loại ca dành cho từng cá nhân, hát một mình hay để ru cho con ngủ. Ðó là hình thức dân ca thô sơ nhất vì (như đã nói ở trên) chỉ dùng một giai điệu nào đó, chưa cần phải sáng tạo nhịp điệu cho câu "ngâm" hay câu "ru" ngoài việc hát theo vận tiết của thơ (phần nhiều là thơ lục bát).
Ngâm Kiều:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau... vân vân...

Ru Con:
Cái ngủ mày ngủ y y y cho à lâu
Mẹ mày đi cấy ý y a ruộng sâu Chưa à về ...



UserPostedImage

Hò Làm Việc

Bước tiến thứ hai là từ dân ca của lúc ngồi hay lúc nằm trong nhà tiến tới dân ca dùng trong công việc hàng ngày (tức là loại hò làm việc) như "hò dô ta", "hò đẩy xe", "hò chèo thuyền", "hò cấy lúa", "hò đạp nước", "hò giã gạo" , "hò nện" v.v... Ở đây, dân ca không còn là bài hát tâm tình mà trở thành bài hát trợ sức làm việc, người hò (hò = hô to lên) bắt buộc phải tạo ra nhịp điệu (tiết tấu) của công việc. Dân ca không còn tính chất cá nhân mà mang tính chất tập thể, có giọng chính, giọng phụ, có hò cái, hò con. Ví dụ :
Hò Dô Ta:
Giọng chính (Hò cái) : Ta dô ta
Giọng phụ (Hò con) : Dô
Giọng chính (Hò cái) : Ta kéo gỗ
Giọng phụ (Hò con) : Dô
Giọng chính (Hò cái) : Gỗ làm đình
Giọng phụ (Hò con) : Dô v.v...

Hò Nện

(công việc nện đất làm nền xây nhà)
Hò cái : Mời bạn hò khoan này
Hò con : Hụ là khoan
Hò cái : A lá khoan hò khoan là
Hò con : Hụ là khoan
Hò cái : Biết răng chừ
Hò con : Hụ là khoan
Hò cái : Cho tới tháng hai
Hò con : Hụ là khoan
Hò cái : Con gái làm ruộng
Hò con : Hụ là khoan
Hò cái : Con trai be bờ
Hò con : Hụ là khoan
Hò cái : A lá khoan hò khoan là
Hò con : Hụ là khoan... v.v...


Hò Nghỉ Ngơi

Hò của người Việt Nam khi xưa không hẳn chỉ là "hò làm việc" (work song) mà còn là "hò nghỉ ngơi" (rest song) nữa. Làm việc đầu tắt mặt tối đến mấy thì cũng có lúc phải ngưng tay chứ. Ðây là lúc trai gái trao tình với nhau, và khi trao đổi câu hát như thế thì họ cũng gọi luôn là hò. Và chúng ta có "hò giao duyên", "hát huê tình", "hò chơi", "hò đối đáp" v.v...
Hò Giao Duyên:
Gặp nhau đây mới đầu trăng gió Hỏi một lời : đã có chồng chưa ?

Hò Chơi mang tính chất địa phương và huê tình thì có :
Ghe anh nhỏ mũi trảng lườn Ở trên Gia Ðịnh xuống vườn thăm em...


(Xin chú ý: Hò Nghỉ Ngơi không giàu tiết tấu bằng Hò Làm Việc).


UserPostedImage

Hò Hội hay Hát Hội

Sau giai đoạn hát tâm tình, hát làm việc, hát nghỉ ngơi... dân ca Việt Nam bước tới giai đoạn hát đám, hát hội. Người dân đem nhau ra trước công chúng để thi hát với nhau trong những hội hè đình đám. Trước tiên là hình thức "hát soan" (túc là hát trong hội mùa xuân), "hát đúm" (túc là hát đám), "hát ví" v.v... Rồi có bàn tay nghệ sĩ (nghệ nhân) nhúng vào một loại hát cần phải phong phú hơn các loại chỉ có tính cách tự phát của người dân. Phải có tổ chức trong Hát Hội, ví dụ : "hát trống quân" cần cái trống đất để đệm cho người hát. Và tổ chức cao nhất của hát hội phải là "hát quan họ" vì người ta cần phải phát minh ra rất nhiều lối hát, điệu hát khác nhau.


Trong Dân Ca Cổ Việt Nam, tổ chức Hát Quan Họ được coi là hình thức nghệ thuật cao nhất của lớp nông dân, phát sinh từ vùng Bắc Ninh, Bắc Việt. Nó không còn là loại ca hát giản dị hằng ngày dành riêng cho từng người mà trở thành trò tiêu khiển của đám đông và luôn luôn cần có bàn tay nghệ thuật làm cho nó thêm phong phú.
Hát Ví

(trong Hát Quan Họ) Cô cả cô hai đó ơi !
Ở nhà tôi mới tới đây
Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà
Ba cô tôi lạ cả ba
Bốn cô lạ bốn biết là quen ai?
Ðến đây lạ cả bạn trai
Lạ cả bạn gái biết ai mà chào
Bây giờ biết nói làm sao
Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa Cô cả cô hai đó ơi !

Hát Trống Quân :
Trên trời (mà) có đám mây xanh
Dưới đất (thì) mây trắng
Chung quanh mây vàng
Thình thùng thình...
Ước gì (mà) anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng đem về xây Thình thùng thình..



UserPostedImage


Hát Quan Họ

Mở đầu cuộc hát thi là những câu hát giản dị như bài Hát Mời Trầu :
Mời cô sơi miếng trầu nầy
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng Ăn dăm ba miếng cho lòng anh vui



Rồi cuộc thi hát trở nên phứt tạp hơn với những bài hát có rất nhiều tính chất nghệ thuật như Ngồi Tựa Mạn Thuyền hay là Se Chỉ Luồn Kim...
Hát Thờ

Dân ca có mặt trong đời sống tình cảm, đời sống xã hội và có mặt luôn trong đời sống tâm linh của người dân nữa. Do đó ta có "Hát Chầu Văn", "Hát Bóng"... là loại hát thờ. Không cần nói thì ta cũng thấy về phần nhạc thuật, người đàn, hát (cung văn), người đánh trống phải làm sao để người hầu bóng có thể bị thôi miên và lên đồng được.
Giọng Cờn
Hát Bóng Cô
Ðằng vân giá võ về nơi Thủy Tề
Các quan vui trên ngàn dưới địa
Vui đền thờ qúy địa danh lam
Quần thần văn võ bá quan Công đồng yến ẩm thạch bàn còn ghi...


Hát Rong

Dân Ca khi xưa còn là những tờ báo truyền miệng, đem chuyện vùng này tới vùng kia qua hình thức hát rong với lối "hát vè", "hát xẩm"...

Vè Kể Chuyện Con Gái Mê Hát Bội
Nghe giống trống kỳ
Rủ nhau ra đi
Ðến làm chật chỗ
Lúc này không ngộ (hay)
Mới đánh đầu tuồng
Chạy thẳng vô buồng
Thấy hai chú tướng
Tướng này không sướng
Không bằng tướng kia
Ai về thì về Tôi coi tới sáng..



UserPostedImage Hát Xẩm thời xưa ở Bắc Việt
Dân Ca Cổ

Dân Ca Cổ còn tồn tại, nghĩa là còn thấy có ít nhiều sinh hoạt trong đời sống Việt Nam vào khoảng đầu thế kỷ 20, gồm các loại hát như ru, lý, hò, ví, xẩm v.v... thường là những câu thơ truyền miệng (oral poetry) được hát lên với nhạc điệu và nhịp điệu khác nhau, tùy theo địa phương và công dụng của bài hát hoặc của loại hát. Dân ca cổ vẫn được coi là sáng tác tập thể của nhân dân, của vô danh, dù đã có thuyết cho rằng nó cũng phải bắt đầu từ một người nào đó, trong một thời đại nào đó, rồi vì có giá trị cho nên đã được lưu truyền bằng cửa miệng và trở thành gia tài của tập thể.
Dân Ca Mới

Dân Ca Mới phát sinh vào giữa thập niên 40 sau khi nền nhạc mới, được gọi là nhạc cải cách (về sau gọi là tân nhạc) vừa ra đời và chịu ảnh hưởng của nhạc Âu Tây, rồi vì muốn cho tân nhạc có dân tộc tính cho nên một số nhà cải cách thời đó đã quay về nghiên cứu dân ca cổ để khởi sự từ cái vốn cũ, sáng tác những bản nhạc mà họ gọi là dân ca cải biên, dân ca phát triển, dân ca phục hồi hay dân ca mới.
Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau đi vào kho tàng của dân ca cổ để tìm hiểu gia tài quý báu đó, trước khi đi tới dân ca mới.
Mối Liên Hệ Dân Ca Cổ và Ca Dao

Trong ngành nghệ thuật bình dân cổ truyền Việt Nam, đã có một sự liên hệ chặt chẽ giữa dân ca và ca dao. Dân ca cổ, như đã nói trên, thường là thơ truyền miệng được hát lên. Muốn hiểu kỹ dân ca cổ, phải nghiên cứu văn học dân gian trong đó có thi ca truyền miệng. Thơ truyền miệng Việt Nam trong dĩ vãng đã mang nhiều tên như ca dao, phong dao, đồng dao... và đã được nhiều học giả sưu tập, nghiên cứu và san định.
Tục ngữ là câu nói có ý nghĩa, dễ nhớ vì có vần có điệu, lưu hành bằng cách truyền khẩu
Ca dao là dân ca tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy. Dân ca là ca dao đã trở thành câu hát, bài hát, điệu hát.



UserPostedImage

Trích “Khái Quát về Dân Nhạc Dân Ca Việt Nam” – tác giả Phạm Duy


UserPostedImage
havi  
#126 Posted : Tuesday, December 14, 2010 5:57:12 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
TRẦU CAU QUA THI CA

UserPostedImage

Duyên anh sánh với tình anh tuyệt vời Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh



Ngày xưa người Việt thường có thói quen ăn trầu trở thành phong tục, chuyện thần thoại Trầu Cau ( truyền tụng qua dân gian nêu lý do tại sao có tục ăn trầu. Thời đó đàn ông hay đàn bà thường có mang theo túi trầu, trong nhà có giỏ trầu cau, bình vôi bằng sứ hay bằng sành, con dao nhỏ để bổ cau, rọc trầu, cái khay gỗ hình vuông cẩn ốc xa cừ để diã trầu mời khách.

Qua thi ca trầu cau liên quan đến tình duyên, về hôn nhân đôi khi không đòi hỏi mâm cao cổ đầy, bạc vàng châu báu, nhưng tuyệt đối phải có trầu cau, các vùng thôn quê đôi khi hai gia đình nhận lễ vật trầu cau, chai rượu trở thành suôi gia. Mặc dù ngày nay, con người đã tiến xa hơn trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa, nhưng đây là một phong tục đẹp, thể hiện bản sắc riêng, lưu lại mỹ tục đó, trầu cau làm sính lễ tăng thêm phần long trọng, nhà gái nhận lễ vật tặng bà con, hàng xóm gói trà, cái bánh, trái cau lá trầu, dù ít người còn ăn trầu chẳng ai từ chối.

Tuy nhiên đời sống tại Việt Nam các vùng quê ít người lớn tuổi còn ăn trầu có hàm răng đen. Các quốc gia Âu Châu không trồng trầu cau, như Việt nam và các nước Tích Lan, Lào, Cambodia, Thái Lan, còn tục ăn trầu và trồng trầu cau. Nguồn gốc cây cau dây trầu ở Mã lai, được ảnh hưởng nhiều người sinh sống vùng bán đảo Ðông Nam Á. từ đó du nhập vào Việt Nam (2) Các nước Cambodia, Mã lai. Indonesia, Ấn độ còn ăn trầu. Tôi phỏng vấn một số sinh viên du học từ các nước trên, được biết ở vùng quê của họ còn tục lệ ăn trầu. Tích Lan (Sri lanka) ngày nay mọi nghi lễ đều dùng trầu; ngay cả việc dâng cau trầu lên cúng Phật (3)

Sự Tích Trầu Cau của Việt Nam có thể hoang đường? câu chuyện ấy dù sáng tạo nhưng khuyên người đời sống phải thủy chung, đạo đức gia đình luôn được đề cao, phong tục thời xa xưa đàn bà dù không ăn trầu nhưng phải nhộm răng đen “bỏ công trang điểm má hồng răng đen “ Dù giàu hay nghèo tại thôn quê đều có trồng trầu cau. Qua ca dao hay các hội hè đình đám, xướng họa nhiều đề tài về trầu cau, được các nhạc sĩ phổ thành những ca khúc bất hủ. Ca dao phản ảnh tình cảm, gia đình và xã hội. Hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, thi ca phát xuất tận đáy lòng đơn sơ, bóng bẩy, ấm áp như ánh nắng ban mai, mát mẽ như ngọn gió chiều dịu dàng như ánh trăng non.


UserPostedImage


Trầu cau không phải thứ đắt tiền, dùng nó làm lễ vật hôn nhân như là giao ước giữa hai họ. Trong vườn miền quê thường trồng cau ngay hàng thẳng lối, thân cây cau có dây trầu leo quanh. Từ Saigon theo quốc lộ 1 về phía Tây Bắc khoảng 10km, qua cầu Tham Lương, rẽ trái một đoạn vào tỉnh lộ 14 là đến địa danh 18 Thôn Vườn Trầu gọi là (Thập Bát Lưu Viên) (Hóc Môn Bà Điểm)


Em về, anh gởi buồng cau Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

Lịch sử ghi lại vua Lê Ðại Hành ngồi trên mình ngựa mời sứ giả nhà Tống cùng ăn trầu, đó cũng là nghi lễ ngoại giao.Trầu cau giúp cho nhiều người nên vợ chồng. Ngày xưa quan niệm hôn nhân cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Cha mẹ hai bên quyết định rồi con cái không thể cãi lại. Chàng yêu nàng tha thiết “tình trong như đã mặt ngoài còn e” Cha mẹ nàng nhận lễ vật trầu cau qua lễ hưá hôn của người khác. Chàng trách em sao vội lấy chồng, để anh chờ đợi biết mặn nồng cùng ai ? Nhưng nàng nhẹ nhàng giải thìch
Ba đồng một mớ trầu cây
Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thưở nào ra


Tục lệ trao trầu cau là một trong những nghi lễ không thể bỏ qua trong việc biểu lộ tình yêu của thanh niên nam nữ . Đó cũng là một trong những lệ làng được quy định trước khi đôi trai gái tiến đến hôn nhân. Trầu cau làm sính lễ, người con gái băn khoăn muốn từ chối ngay từ lúc đầu trong lễ cầu hôn
Ai bưng cau trầu đến đó
Xin chịu khó mang về ,
Em đang theo chân thầy gót mẹ Ðể cho trọn bề hiếu trung


Miếng trầu là đầu câu chuyện, gặp nhau thường mời trầu, để dễ dàng gợi chuyện thăm hỏi
Tiện đây ăn miếng trầu
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là ?
Có trầu mà chẳng có cau Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm


Nhưng người con gái khi đã yêu đôi lúc giấu cha giấu mẹ, têm trầu đưa cho bạn trai ngầm nói với bạn trai khi vào nhà, biết cách cư xử.

Miếng trầu có bốn chữ tòng
Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà
Nào là chào mẹ chào cha
Cậu cô chú bác... mời ra xơi trầu


UserPostedImage


Vườn quê thơm mùi hoa của những buồng hoa cau đang nở rộ dưới nắng ấm miền quê đôi trai tài gái sắc qua một lần gặp gỡ, để rồi nhớ rồi thương tình yêu chân thành thiết tha
Vào vườn hái qủa cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu nầy têm những vôi tàu
Ở giửa đệm quế, đôi đầu thơm cay
Mời anh sơi miếng trầu này
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù mồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương



khi bước vào tuổi trưởng thành, con trai, con gái được tự do trong tình yêu đôi lứa. Họ biết nhau rồi quen nhau nhờ các buổi làm nương rẫy hay những lần gặp nhau trong dịp lễ hội của làng, và miếng trầu đã làm môi giới cho tình yêu của họ để rồi hứa hẹn mơ ước tương lai tươi sáng, hay để rồi tuyệt vọng ngẩn ngơ
Cho anh một miếng trầu vàng
Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm
Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già

Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em trồng ké dây trầu một bên
Mai sau trăm họ lớn lên Cau kia ra trái làm nên cửa nhà.


Tùy theo phong tục mỗi địa phương sính lễ thường khác nhau, tuy nhiên không thể thiếu được buồng cau, anh chàng kín đáo với nghệ thuật tán gái tinh tế hoặc với giọng bông lơn như chuyện nhờ khâu áo nhờ khâu hộ chỉ đường tà để khi nào lấy chồng sẽ trả công, người tình nguyện giúp từ lễ nghi cho đến việc ăn ở chiếu nằm, chăn đắp ..chàng không nói rõ mà người con gái đó thừa hiểu chú rể là chàng rồi


UserPostedImage

Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Ðôi chăng em đắp đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau


Nếu chẳng may tình duyên không thành mà tình cảm còn nguyên vẹn, lời chàng cũng xót xa đưa

Nụ tầm xuân nở ra xinh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay

Các bà mẹ thường răn dạy con gái lúc trưởng thành, phải có những đức tính : công-dung-ngôn-hạnh, không nên vội vàng lẫn lơ nhận trầu cau của người khác, luân lý gia đình được xem là một nền tảng vững chắc
Ði đâu cho đổ mồ hôi
Chiếu trãi không ngồi trầu để không ăn
Thưa rằng bác mẹ tôi răng Làm thân con gái chớ ăn trầu người


Có thể nàng từ chối miếng trầu, cũng có nghiã từ chối sự tiếp xúc để tiến đến tình yêu với thái độ dè dặt, kín đáo nghi kỵ
Sáng nay tôi đi hái dâu
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu
Thưa rằng tôi đi hái dâu
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn Làm thân con gái chớ ăn trầu người


Trầu cau dù gói đẹp xanh tươi hấp dẫn, nhưng cần cẩn thận khi ăn phải kín đáo mở ra xem có nhiều vôi hay bùa mê thuốc độc trong đó chăng ?
Ăn trầu thì mở trầu ra
một là thuốc độc hai là mặn vôi

Miếng trầu ăn nặng bằng chì
Ăn rồi em biết lấy gì đền ơn
Miếng trầu ăn chẳng là bao Muốn cho đông liễu, tây đào là hơn



UserPostedImage


Người ghiện trầu đôi khi run tay dù đói no phải ăn một miếng trầu cau. Nhưng với tình yêu mời nhau ăn trầu có những băn khoăn thương nhớ đợi chờ ? có khi lời nói thì bình tĩnh nhưng không che giấu mối cảm tình nồng nhiệt đang như chìm xuống để thấu tâm can nàng Miếng trầu như là một phương tiện mở đầu, là chất keo cố kết những tình cảm thiêng liêng, thầm kín mà cả đôi bên không thể nói bằng lời. Miếng trầu quả cau sẽ là "người mối" nói hộ tình yêu cho họ.
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tầu
Giữa thêm cái cánh hai đầu quế cay
(Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay)
Trầu này ăn thật là say
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương


Trầu bọc khăn trắng cau tươi
Trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh
Ăn cho nó thỏa tấm lòng
Ăn nó thỏa sự mình sự ta


Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu
Một thương hai nhớ , ba sầu Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.


Những giao tiếp giữa nam nữ thời phong kiến thường bị giới hạn, tình yêu trai gái tưởng như xa xôi rời rạc.. nhưng tình yêu chân thành và nồng nhiệt tương tư

Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc dấu bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ, quên cha
làm cho quên cửa, quên nhà
làm cho quên cả đường ra, lối vào
làm cho quên cá dưới áo quên sông tắm mát, quên sao trên trời



Con gái xa gia đình về nhà chồng làm dâu, ngày xưa thường va chạm sinh hoạt gia đình « mẹ chồng nàng dâu », hay bị ép buộc lấy nhau để rồi đêm nằm cạnh chồng thở than cuộc tình
Ðêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau khô ăn với trầu vàng xứng không ?

Người đời thường nói “thương nhau bỏ chím làm mười, hay thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau trái bù hòn cũng méo“, trái cau cũng được phân chia cho sự ghét thương
Thương nhau cau sáu bửa ba
Ghét nhau cau sáu bửa ra làm mười

Yêu nhau trầu vỏ cũng say Ghét nhau cau đậu đầu khay chẳng màng




Các hội hè đình đám trai tài gái sắc dùng đề tài trầu cau hát đối nhau hồn nhiên trong sáng, lời hát đối đáp ngọt ngào trong lễ giáo gia đình không sàm sở, nhưng vượt qua ảnh hưởng lâu đời của nho giáo “ Nam nử thụ thụ bất thân“
Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghiã cũ về sau mà chào
Miếng trầu đã nặng là bao
Muốn cho đông liễu tây đào là hơn!
Miếng trầu kể hết nguồn cơn Muốn cho đây đãy duyên nào hợp duyên


Hay là

Trầu nầy trầu quế, trầu hầu
Trầu loan trầu phượng, trầu tôi lấy mình
Trầu nầy, trầu nghiã, trầu mình lấy nhau
Trầu nầy têm tối hôm qua
Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng
Trầu nầy không phải trầu hàng
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn
Hay là chê khó chê khăn Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.



Nữ sỉ Hồ Xuân Hương lận đận tình duyên, đời sống tình cảm kém may mắn, làm cho bà nghi ngờ màu xanh của lá trầu, màu trắng của vôi (lạt như ốc bạc như vôi)
Qủa cau nho nhỏ miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đã quẹt vôi
Có phải duyên nhau thì thắm lại Ðừng xanh như lá bạc như vôi


Tiếng hát ru con của mẹ hiền, đề cập đến trầu cau nhu cầu không thể thiếu trong những lần đi chợ,
Ru con con thét cho muồi
Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam phổ mua trầu chợ Dinh (Tùy theo mổi điạ phương có thể thay đổi tên chợ )


Các cụ bà nhai trầu khó khăn, nên dùng cối đá nhỏ giả trầu, hay cái ống xoáy bằng đồng, có chià dài phần dưới 3 cái răng nhỏ, bỏ trầu cau vào đó xoáy nhỏ. Ăn trầu cũng có nghệ thuật, chọn lựa cau tươi vỏ mỏng ruột nhiều, trầu tươi kèm theo quế hay vỏ của loại cây chay, ăn kèm với cục thuốc lá nhỏ vôi phải màu hồng.. Trần Tú Xương thi hỏng mãi, bất mãn với đời nghe người ta chúc tết sống lâu hưởng phước lộc cho đến đầu bạc răng long .Làm thơ trào phúng
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu ra
Phen nầy ông quyết đi buôn cối Thiên hạ bao nhiêu đứa giả trầu


Ngày xưa đàn ông hay đàn bà thường bới tóc, họ quan niệm “cái răng cái tóc là vóc con người”, thời ấy hàm răng đen như huyền thì sang trọng quý phái. Nhưng vào thế kỷ thứ 19 .Văn hóa Tây phương du nhập vào Việt nam, đời sống văn minh thay đổi. Phong trào Duy Tân phát xuất từ Quảng nam (1905-1908) khởi đầu cuộc cách mạng khai trí dân sinh đã phá các hủ tục, kêu gọi đàn ông hớt tóc ngắn, cắt móng tay dài lá răm, mặc âu phục…..Mỹ phẩn nhập vào Việt Nam như son, phấn dầu thơm..giúp đàn bà trang đìểm cho nét đẹp, sống ở thành phố phần nhiều bỏ hẳn tục nhộm răng đen ăn trầu.. Bởi vậy khuynh hướng thay đổi qua thi ca


UserPostedImage

Năm quan mua lấy miệng cười Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen


Ðời sống thay đổi đàn ông ít mặc áo dài khăn đóng, hay khăn nhiễu bịt đầu được thay thế bộ Âu phục gọn gàn, khăn điều vắt vai đôi guốc gổ từ từ biến mất thay vào đó đôi giày da, thêm chiếc cà vạt xinh đẹp. Hàm răng của các nàng trắng đẹp như hạt bắp, môi son đỏ tươi nở nụ cười đẹp như hoa . Làm cho các chàng say đắm nên hỏi nàng rằng
Người về có nhớ ta chăng ? Ta về ta nhớ hàm răng người cười
Ca dao được ca tụng qua dân gian, hiện hữu trong đời sống của người dân Việt. Chúng ta rời quê hương, khó tìm được lại kỷ niệm như những ngày sống tại quê nhà trong những buổi trưa hè, đêm trăng thanh gió mát mùi hương cau từ những buồng non mới nứt thơm ngát, nghe tiếng hát ru con của mẹ hiền với những câu ca dao quen thuộc len lỏi vào hồn.


UserPostedImage


UserPostedImage



Nguyễn Quý Đại Munich Germany

1/ lượt truyện Trầu Cau theo Lĩnh nam chích quái ghi rằng:

ngày xưa gia đình họ CAO sinh đôi được hai người con trai đặc tên là Tân và Lang được gia đình gởi theo học người thầy giáo họ LƯU.
Nhà người thầy có một người con gái xinh đẹp gọi là Liên, Nàng thấy hai chàng đẹp trai chăm học đêm lòng yêu mến. và muốn lập gia đình với người anh, nhưng không thể phận biệt được vì hai người giống nhau..Một hôm Liên đem bát cháo và đôi đủa ra mời hai người, để thử xem ai là anh. Lang mời Tân ăn trước.( người em nhường cho anh. Liên nhận ra người anh nên xin thân phụ kết hôn với Tân)
Hai vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng người em là Lang cảm thấy buồn vì tình anh em bị san sẽ với Lang phần nào khi người anh lập gia đình sống riêng với hạnh phúc. Lang âm thầm bỏ nhà đi về quê. Ði mãi , Lang gặp một dòng suối lớn chận ngang phía trước. Lang ngồi buồn bên bờ suối khóc cho đến chết, rồi hóa ra một cây CAU. Tân thấy vắng em qúa lâu lên đường đi tìm em. Ðến bên bờ suối thấy xác em, Tân thương em, và nghĩ rằng vì mình xảy ra việc nầy nên liền đập đầu vào cây CAU để chết hóa thành Tảng Ðá vôi, người vợ thấy chồng đi tìm em không trỡ về. lại đi tìm chồng gặp xác chồng bên bờ suối cạnh cây CAU , Liên vật mình vào tảng đá từ trần rồi hóa thành Dây trầu , bám vào Tảng đá leo lên Cây cau.
Thân phụ của bà Liên xúc động trước tình cảm thiên liêng, cho lập miếu thờ ba người đã ra đi trong Tình yêu và Ðạo nghiã làm người. Mãi cho đến một hôm vua Hùng Vương di qua xứ đó, ngồi bên bờ suối , thấy cây xanh lá mọc bên Tảng đá bu quanh cây .Liền hỏi người điạ phương biết được sự tích. sai người bổ qủa cau ,lấy một miếng nhai với trầu, và nhổ nước hổn hợp trầu cau lên tảng đá, bổng nhiên tảng đá vội có màu đỏ. Vua truyền mọi người lấy giống về trồng để dùng từ đó nước ta có tục ăn trầu

2/ Trần gia Phụng sđd Quảng nam trong lịch sử trang 21 .trích theo tài liệu trong mục Betelnut. Encyclopaedia Britannica q.3 trang 551 USA 1972 3/ Giữa chốn cung vàng của Thích Như Ðiển trang 169


UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#127 Posted : Thursday, December 23, 2010 4:32:45 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

"Có răng...rồi mới rứa"
Người ở mô răng mà kỳ dữ rứa

Giờ ra chơi, cứ ngó miết người ta

Và reo lên khi thoáng thấy đi qua

Tụi bạn tưởng, "có răng rồi mới rứa"


UserPostedImage


Thôi từ đây không qua bên nớ nữa

Cho anh chàng cứ đứng ở hành lang

Ngâm nga câu, " Hoa cúc áo vàng"

Và tương tự, chàng tập làm thi sĩ


Người ở mô, mà vô duyên rứa hỉ

Trao phong bì rồi hấp tấp bỏ đi

Ờ thương thương, nhớ nhớ làm chi

Về ba mạ biết ri la chết


UserPostedImage


Mắc cớ chi, theo người ta cho mệt

Người răng mà ưa lẽo đẽo làm đuôi

Lỡ một lần, như rứa cũng vui vui
Nhưng ngày mai, thôi đừng theo nữa hí ?!


UserPostedImage

T.K


UserPostedImage
havi  
#128 Posted : Friday, December 31, 2010 7:06:39 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage
HÒ MIỀN NAM
(PHẠM VĂN TƯƠI, Sài Gòn, 1956)


1. Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang
Một tiếng anh than,
Hai hàng lụy nhỏ,
Anh có một mẹ già biết bỏ ai nuôi.
Nước chảy xuôi, cá buôi lội ngược.
Anh muốn thương nàng, Biết được hay chăng?...

2. Thiên cao đằng đẵng,
Nguyệt chiếu phát hiện hằng,
Một ngày gặp mặt cũng bằng ba thu.
Trên xuân thu, dưới cũng xuân thu.
Có hò thì lựa, câu nhu bỏ mình.
Đôi ta gá ngãi (nghĩa) thình lình,
Phụ mẫu tôi chưa biết, phụ mẫu mình chưa hay.
Ngó lên trời thấy chín tầng mây,
Ngó xuống sông đầy, thấy ba con chạch lội,
Tiếc công anh chìm nổi lại đây,
Buồm căng gặp trận gió Tây khổ lèo.

3. Đá cheo leo, trâu trèo trâu trượt,
Ngựa trèo ngựa đổ .
Tiếc công lao khổ.
Tự cổ chí kim.
Mất em đi, anh khó kiếm khó tìm,
Cùng giả tỷ như cây kim mà lòn sợi chỉ.
Sao em không biết nghĩ suy,
Em ham nơi quyền quý, em không có nghĩ gì tới anh.
Hoa kia gió thổi lìa cành,
Mẹ cha ép gả, em đành chịu sao?

4. Thương ai ruột sắt, gan bào
Nghĩ ai tủi phận ba đào thở than.
Họa hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất tri tâm (l)
Thuở xưa kia, anh không biết anh lầm
Bây giờ anh đã biết, Sao nàng cầm chẳng buông.



UserPostedImage

5. Con cá đối nằm trên cối đá,
Con chim đa đa đậu nhánh đa đa.
Anh bảo em đừng có lấy chồng xa,
Mai sau cha yếu mẹ già, Chén cơm đôi bữa, khay trà ai dưng?

6. Con chim nho nhỏ,
Cái mỏ xanh xanh.
Nó đậu trên cành,
Nó kêu anh Sáu hỡi;
Công cha nghĩa mẹ sinh thành,
ơn non nợ nước tình anh thế nào?
Thuyền quyên phải sánh anh hào,
Phụng hoàng đây có sánh bao với điều.
Chậu kiểng kia ai để bìm leo, Gái khôn ai gá ngãi theo người loàn.


7. Con chim nho nhỏ,
Cái lông nó đỏ,
Cái mỏ nó vàng.
Nó kêu người ở trong làng, Dừng ham lãnh lụa phụ phàng vải bô.

8. Ngó vô nhà nhỏ,
Thấy đôi liễn đỏ .
Thấy bốn chữ vàng,
Thành suy chưa biết, thấy nàng vội thương. Ngọc còn ẩn sĩ chờ nàng lớn khôn.

9. Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu.miên.
Đêm khuya nghe tiếng khách thuyền quyên. Hỏi thăm quân tử vượt miến đi đâu.



UserPostedImage

10. Em nghiêng tai trước gió,
Qua kể nhỏ cho em rành.
Đôi ta vướng sợi tơ mành,
Đó chẳng đành, đây anh cũng gắng. Sóng ba đào mưa nắng chẳng nao.

11. Thủy để ngư, thiên biên nhạn,
Cao khả xạ đề, đê khả điếu.
Chỉ xích nhân tâm bất khả phòng.
E sau lòng lại đổi lòng, Nhiều tay tham bưởi chê bòng lắm anh.

12. Gặp lúc trăng thanh gió mát,
Thú vui nào vui bằng thứ hát huê tình
Này bạn mình ơi! Trời xui hội ngộ, hai đứa mình kết duyên.

13. Sông sâu sóng bủa láng cò,
Thương anh vì bởi câu hò có duyên.
Làm thơ chẳng biết cậy ai đem,
Cậy con chim nhạn nó đem cho mình.
Mình đau tương tư,
Tôi vái cho mình,
Vái cho mình mạnh, vô đình cúng heo.
Mình vái rồi tôi lại vái theo.
Vái cho lành mạnh mấy heo chẳng cần.
Phải gần năm ngoái thì gần, Năm nay vái miễu cúng thần cũng xa.

14. Đêm nằm day mặt trở ra,
Ngày nay mới biết cô ba thương mình.
Mình giữ chữ trung chữ hiếu,
Còn thiếu chữ ân tình.
Đạo chồng nghĩa vợ sao mình vội mong.
Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương ngãi (nghĩa) nhớ ở trong thơ này.

15. Đôi ta chẳng đặng sum vầy.
Cũng như chim nhạn lạc bầy kêu sương.
Tôi xa mình cô bác đều thương.
Trên trời vân vũ, bốn ngọn dương xây vần.
Dầu cho lạc Tấn qua Tần,
Thương ai cũng để dành phần thương em.
Phụng hoàng đậu nhánh vông nem,
Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi.
Ngã tư Chợ Gạo (l) nước hồi,
Tôi chồng mình vợ còn ngồi thương ai.
Phụng hoàng đậu nhánh cẩm lai,
Dặn lòng người ngãi chớ sai lời thề.
Ghe lê n ghe xuống dầm dề , Sao em không gửi thư về thăm anh.



UserPostedImage

16. Trông mây thấy cặp rồng xanh,
Thương mình thao thức năm canh khóc ròng.
Thỏ giỡn trăng, thỏ lại mắc vòng;
Mình có lâm nơi sinh tử, chốn loan phòng có tôi.
Sông Tiền Đường cá lội giao đuôi. Kiều thương Kim Trọng giả như tôi thương mình.

17. Năm Thìn trời bão thình lình,
Kẻ trôi người nổi hai đứa mình còn đây.
Tơ hồng nay đã về tay,
Bà Nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình.
Điệu (đạo) phu thê mình giữ trọn tình. Để phụ mẫu hay đặng đánh mình đau tôi.

18. Nước Cửu Long sóng dồi cuồn cuộn,
Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi.
Bậu với qua hai mặt một lời.
Trên có trời, dưới có đất.
Ngãi trăm năm vương vứt sợ tơ mành.
Tử sanh sanh tử tận tình,
Dầu ai ngăn đón, tôi cứ mình tôi thương.
Cách bấy lâu mới gặp lại mình.
Khác chi vạn thọ gặp bình nước tiên,
Chưa chồng ở vậy cho nguyên..
Để anh dọn chiếc thuyền quyên rước về. (1) chợ Gạo: Nay thuộc tỉnh Tiền Giang.

19. Chim bay về núi Biên Hòa,
Chồng đây vợ đó ai mà muốn xa.
Sự này cũng bởi mẹ cha,
Cho nên đũa ngọc mới xa mâm vàng.
Phải chi lên đến Thiên đàng. Tôi xem sổ bộ, coi duyên nàng ra sao.

20. Đũa vàng đầu bịt đầu sơn;
Mấy lời bạn nói cám ơn quá chừng.
Đó xa nhân ngãi đó mừng,
Đây xa nhân ngãi như gừng xát gan.
Ngồi buồn nhớ bạn thở than.
Kiểng xanh sao héo hỏi nàng tại ai?
Cá nằm trong chậu sè đuôi, Mình về ở bển cho tôi theo cùng.

21.Chợ Sài Gòn cẩn đá,
Chợ Rạch Giá cẩn xi môn (ciment)
Giã em ở lại vuông tròn,
Anh về xứ sở không còn ra vô.
Sách có chữ họa phước vô do,
Ung không minh nói tôi lo cho rồi.
Công cha ngãi mẹ đền bồi,
Còn lo một nỗi đứng ngồi với em.
Trăng rằm dọi xuống bên rèm.
Tường trăng là bậu bên thềm thướt tha.
Cây oằn là bởi tại hoa,
Qua thương nhớ bậu chẳng qua vì tình.
Thương nhau, thương dạng thương hình,
Thương lời ăn nói thương tình ngãi nhân.
Phải duyên Hồ, Việt cũng gần, Trái duyên Tần, Tấn dầu gần cũng xa.



UserPostedImage

22. Mồ cha ai đốn cây bần,
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.
Một đằng anh thêu nên nhạn,
Một đằng anh mạng nên bông,
Anh ngó lên mây bạc trời hồng. Thương em, anh muốn hỏi có chồng hay chưa?

23. Phải chi anh chưa vợ,
Hãy còn nợ còn duyên.
Em cũng cậy yên như thuyền cậy lái,
Ai ngờ phận trái như lái nghịch chèo.
Thôi anh phải giữ lấy lèo.
Chớ ham thả lỏng hiểm nghèo có khi.
Nói ra mực viết còn ghi.
Mai sau trắc trở việc chi còn tờ.
Tui đang đau khổ,
Bảo mình chờ bao năm.
Dù xa xa cách mấy năm,
Thì tôi cũng gởi thơ thăm bạn vàng.
Trâm xa vàng, vàng lại xa trâm, Tôi xa người nghĩa lá gan thâm tím bầm.

24. Ngọn lang trắng, ngọn vắn ngọn dài,
Rau tần ô, lá dọc lá ngang.
Trái dưa gang, sọc đen sọc trắng.
Ngọn rau đắng trong trắng ngoài xanh.
Chim quyên uốn lưỡi trên cành, Bớ em ở bạc ông trời nào đành để em.

25. Lộ bất hành bất đáo.
Chung bất đả bất minh (l)
Bây giờ tôi mới rõ sự tình,
Tại ba với má ở độc, hai đứa mình mới xa.
Ôm lòng sầu, khuya sớm vào ra,
Tai nghe trống điểm canh ba nhớ mình,
Phải chi phụ mẫu thuận tình,
Phụng loan sum hợp phỉ tình ước mơ.
Thương mình chép đặng bài thơ, Chẳng thương mình giở từng tờ mình coi.

26. Trường đồ tri mã lực;
Sự cửu kiến nhân tâm. (2)
sen trong đầm lá xanh bông trắng,
Sen ngoài đầm bông trắng lá xanh.
Chim khôn lót ổ lựa nhành,
Gái khôn tìm chỗ trai lành kết duyên.
Vô dược khả y khanh tướng bệnh,
Hữu tiền nan mãi tử tôn hiền.
Bạc muôn khó chuộng bạn hiền sánh đôi.
Ở trên trời có ngôi sao Bắc Đẩu,
Ở dưới hạ giới có con sông Giang hà,
Sông Giang hà chảy ra biển rộng
Bắc đẩu tinh quay ngõng chầu trời,
Tôi thương mình lắm mình ơi,
Biết sao kể nỗi khúc nhôi ớ mình!
(1) Lộ bát... bất minh: Đường không đi không đến. chuông không đánh
không kêu.
(2) Trường đồ... 'thản tâm: Đường dài mới biết sức ngựa, gặp sự đớn đau mới biết lòng người.

27. Trời mưa nóng đất,
Cá cất lên đồng.
Thuở xuân xanh không gặp,
Để có chồng gặp anh.
Em ở nhà nền đúc đá xanh. Lên xe xuống ngựa, chớ quên anh là chồng.

28. Tiền tài như phấn thổ,
Nhân ngãi trọng thiên kim.
Anh thương em anh kiếm anh tìm,
Phụng hoàng cắn bức thư đem, Kêu em thúc dậy để xem thư nầy.



UserPostedImage

29. Tay chùi nước mắt ướt mem,
Tại anh chậm bước nên em có chồng.
Đêm năm canh luống những phập phồng,
Ruột gan nùi rối, nước mắt hồng tuôn rơi.
Ở chàng quân tử kia ơi!
Cửa song lan sớm mở tối gài,
Em đứng trong than thở,
Anh đứng ngoài thở than.
Màn rồng một bức che ngang,
Nỗi lòng kể mấy quan san hai đứa mình.

30. Nhện sa trước mặt thình lình,
Chiều nay phản bội gởi mình lại đây;
Trăng tà trăng ngã về Tây,
Người buồn người ngã đêm nay gối sầu.
Trông sao Bắc đầu, Nam tào; Hỏi coi duyên nợ ra sao hai đứa mình.

31. Tay cắt tay sao nỡ,
Ruột cắt ruột sao đành.
Mấy khi mà gặp con bạn lành,
Trách trời vội sáng mới tan tành đôi ta.
Nhị nhân đối khẩu giao hòa,
Hò chơi chồng vợ, tối về người dưng.
Đóm bò miệng chậu sáng trưng,
Thấy mình có nghĩa lòng ưng đã đành,
Hai đứa mình đành, phụ mẫu cũng đành,
Phụ mẫu đâu nỡ dứt duyên lành của con.
Tai nghe trống điểm lầu son.
Sầu tình một bữa héo hon nỗi lòng.
Mình không thương hỏi việc bao đồng,
Lộ dương ông Chánh biểu dân trồng chớ ai.
32. Đèn treo cột đáy, ..
Nước chảy cột đèn rung. ' .. .
Anh thương em thảm thiết vô cùng,
Biết cha với mẹ có bằng lòng hay không
33. Đèn treo trong quán,
Tỏ rạng bờ kinh.
Em có thương anh.
Em nói thật tình,
Kẻo anh lên xuống một mình bơ vơ.
34. Lúc em bước chân ra,
Má ở nhà có dặn.
Công sanh thành là nặng,
Điều tình ái là khinh.
Hãy đừng tham sắc đắm tình, Lánh xa tửu điếm trà đình chớ vô.



UserPostedImage


35. Trái cau nho nhỏ,
Cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần,
Mai anh học xa.
Anh hứa lời sao chẳng lại qua,
Trách ai đem dạ tây tà bỏ nhau.
Nhắc đến nhau lòng lại càng đau,
Cùng nhau đan díu buổi đầu,
Giờ đây sao khiến phai màu nhụy tan.
Anh ra đi giọt lệ em hai hàng,
Tình lang ơi!
Đêm đông lạnh lẽo phòng loan em buồn.
Trách ai đặng cá quên nơm, '
Vô ơn đèn nọ gặp hôm sáng trời.
Sống mà chẳng đặng một nơi,
Cũng liều một thác cho rồi tấm thân.
Chẳng qua duyên phận số phần.
Căn duyên thiên đình chẳng gần thời thôi.
Vắng tiếng tăm kêu chẳng thấu trời
Hỏi thăm duyên số đổi đời tại ai?

36. Trên rừng có cây bông kiểng,
Dưới biển có cá hóa long.
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Tới đây trời khiến đem lòng thương em.
Nhớ em tưởng bóng ngày đêm,
Nhớ rằng em trắng má em đỏ hồng.
Nhớ em vắng vẻ cô phòng,
Một mình vò võ đêm đông lạnh lùng.
Nhớ em lụy nhỏ ròng ròng,
Xe duyên thẳng đặng đau lòng trời ơi.
Chỉ còn đêm nữa mà thôi, Giã từ em ở lại, anh hồi cố hương.

37. Đoạn sầu mình dễ thở than,
Sầu tôi khác thể nhang tàn đêm khuya,
Buồn rầu muốn bỏ ra đi,
Sợ em thết hiếu lỗi khi sanh thành.
Dứt đi thì dạ không đành,
Mà xa nhân ngãi như chỉ mành thắt gan.
38. Tửu lăng hồng nhân diện,
Tài năng động nhân tâm.
Thế gian miệng nói không lầm,
Lụa tay vóc trắng vụng cầm cũng đen.
39. Nước có khi trong khi đục,
Người có kẻ đục kẻ thanh.
Hễ con cá khôn lựa vịnh, con chim khôn lựa cành.
Mặc ai nay dỗ mai dành,
Bền lòng quân tử tánh lành chẳng xiêu.
40. Nhân tham tài tắc tử,
Điểu tham thực tắc vong.
Ban sơ ai dễ rõ lòng,
Lửa kia dù nóng, vàng ròng chẳng nao.

41. Phàn Lê Huê sa mê Thái tử,
Oán thù dữ còn đổi ra hiền.
Huống chi em là phận thuyền quyên, Chẳng qua căn số định giận phiền uổng công.

42. Phú tắc cộng lạc,
Bần tắc cộng ưu.
Hoạn nạn tương cứu,
Sinh tử bất ly.
Bây giờ em đặng chữ vu quy.
Em ham nơi quyền quý,
Em xá gì nghĩa anh.



UserPostedImage

43. Lầu nào cao bằng lâu ông Chánh.
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông.
Đạo nào sâu bằng đạo vợ chồng, Đêm nằm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi.


44. Đêm thổn thức ngồi khêu đèn phụng,
Canh sang năm gần lục khúc rồng,
Trách ai ở chẳng hết lòng.
Phụ tình gần gũi có chồng xa xôi.

45. Đêm thanh gió mát,
Nghe đó hát, tôi thương tấm lòng.
Gặp mặt em là bán lộ trình, Nếu chẳng gần nhau một phút lửa tình thiêu gan.


46. Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai.
Nước sông trong sao lại chảy hoài,
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.



UserPostedImage


LÊ THỊ MINH



UserPostedImage
havi  
#129 Posted : Saturday, January 8, 2011 4:06:52 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Áo Bà Ba




UserPostedImage Duyên dáng áo bà ba
Áo bà ba từ muôn đời nay đã được xem là biểu trưng của nét đẹp tâm hồn, nét đẹp văn hóa của người phụ nữ miền Nam nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung.

Áo bà ba mang đến nét duyên đằm thắm, dịu dàng cho người mặc. Nếu nhắc đến áo tứ thân, người ta nghĩ ngay đến những cô gái Kinh Bắc thướt tha, đẹp sắc sảo, nếu nói đến áo dài, người ta hình dung ra vẻ đẹp thùy mị, quyến rũ của những cô gái Huế bên bờ sông Hương thì khi nói đến áo bà ba, người ta liên tưởng ngay đến vẻ đẹp dung dị, hiền hòa giữa mênh mông sông nước miền Tây.

Không biết áo bà ba có nguồn gốc từ đâu. Có người nói, áo ra đời khi ông cha ta vào miền Nam khai hoang khẩn đất. Khi đó, không thể lao động nhọc nhằn trong trang phục áo dài – vốn là trang phục truyền thống lúc bấy giờ, ông cha ta đã biến tấu và làm nên chiếc áo bà ba – giản dị, nhẹ nhàng và tiện lợi cho người mặc trong quá trình lao động sản xuất mà vẫn giữ được nét đẹp mềm mại, dịu dàng.


UserPostedImage



Áo bà ba vốn là loại áo không có cổ. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống. Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Độ dài của áo chỉ trùm qua mông, gần như ôm nhẹ thân mình người phụ nữ. Cùng kết hợp áo bà ba với chiếc quần đen dài chấm cổ chân hoặc gót chân sẽ làm tăng thêm nét đẹp mềm mại, thanh thoát, làm tôn thêm hìnhhài vóc dáng dịu dàng của người phụ nữ với chiếc lưng ong nhẹ nhàng làm say đắm lòng người.


Áo bà ba gắn liền với hình ảnh người phụ nữ miền Nam mạnh mẽ, trung kiên trong hai cuộc chiến tranh giữ nước. Khăn rằn, nón lá, áo bà ba theo các mẹ, các chị xông pha trong các cuộc chiến tranh. Có biết bao chiếc áo bà ba nâu chàm, lam lũ đã thấm đẫm mồ hôi và máu của những nữ anh hùng miền Nam – những người phụ nữ anh hùng đã chiến đấu và hi sinh cho Tổ quốc. Vậy mà hình ảnh các mẹ, các chị trong chiếc áo bà ba vẫn đẹp, vẫn lung linh trong sáng và mãi mãi dệt nên trang sử đẹp của một thời hào hùng dân tộc.

Ngày nay, giữa nhịp sống ồn áo náo nhiệt, áo bà ba vẫn giữ nguyên nét đẹp dịu dàng, đằm thắm, nét duyên dáng thướt tha cho người phụ nữ. Áo bà ba thấp thoáng bên những rặng dừa xanh, áo bà ba thơm mùi khói bếp, áo bà ba đảm đang giữa chợ đông người, hay những thiếu nữ e ấp trong chiếc áo bà ba đang chèo thuyền trên sông, áo bà ba phấp phới bay trên những chiếc cầu lắc lẻo qua sông. Dù ở đâu, khi nào đi nữa, người ta cũng dễ dàng say đắm trước vẻ đẹp mộc mạc, duyên dáng của chiếc áo bà ba, và nhớ người con gái trong chiếc áo bà ba nền nã đó đến nao lòng…


UserPostedImage

Miền Nam khí hậu nóng ẩm quanh năm với hai mùa mưa nắng đi về, nên vải để may áo bà ba luôn là loại vải mềm, mát, nhằm giúp người mặc cảm thấy thoải mái, mát mẻ ngay trong những ngày nắng nóng gay gắt. Nếu ngày xưa, người ta dùng lá bàng, vỏ cây đà, cây cóc… để nhuộm lên màu nâu của áo, thì nay, màu sắc, họa tiết và hoa văn đã được đưa vào áo bà ba, làm cho áo thêm đẹp, thêm duyên. Phải chăng vì thế mà áo bà ba vẫn muôn đời là đại diện cho nét đẹp mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ miền đất miền Nam thân thương này.

Nguồn: netdepviet.org


UserPostedImage
havi  
#130 Posted : Tuesday, January 18, 2011 11:24:21 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

Sự tích Ngưu Lang Chức Nữ

Ngưu Lang - Chức Nữ hay Ông Ngâu - Bà Ngâu là chuyện cổ tích. Có hai phiên bản, một của Việt Nam và một của Trung Quốc. Truyện cổ tích này có liên quan đến các sao Chức Nữ (Vega) và sao Ngưu Lang (Altair), dải Ngân Hà và hiện tượng mưa ngâu diễn ra vào đầu tháng Bảy âm lịch ở Việt Nam. Trong truyện cổ tích Trung Quốc cũng có nhắc tới Ngưu Lang (牛郎) và Chức Nữ (織女) nhưng nội dung câu chuyện cũng như các dị bản thì không giống với truyện của Việt Nam.
1.Phiên bản Việt Nam

Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình nên ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.

Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.

Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.
2.Phiên bản Trung Quốc


UserPostedImage

Chàng chăn bò trẻ tuổi có tên gọi Ngưu Lang (牛郎 - tức sao Altair hay chàng chăn bò, là sao Ngưu Lang) nhìn thấy bảy cô tiên xinh đẹp đang tắm trong hồ và đang đùa giỡn vui vẻ với nhau. Được cổ vũ bởi người bạn đồng hành tinh quái là một con bò đực, chàng đã lấy trộm váy áo của họ và chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra. Các nàng tiên đã cử cô em út và xinh đẹp nhất có tên gọi là Chức Nữ (織女 - tức sao Vega hay nàng tiên dệt vải) ra để lấy lại váy áo. Nàng đành phải làm theo, nhưng do Ngưu Lang đã nhìn thấy thân thể trần tục của Chức Nữ nên nàng đành chấp thuận lời cầu hôn của chàng (đúng như câu "Nam nữ thụ thụ bất thân" của lễ giáo phong kiến). Nàng đã chứng tỏ mình là một người vợ tuyệt vời, còn Ngưu Lang là một người chồng tốt và họ đã sống bên nhau hạnh phúc. Nhưng Thiên Hậu (trong một số dị bản là mẹ Chức Nữ) nhận ra rằng một kẻ tầm thường (tức Ngưu Lang) lại dám cưới một nàng tiên đẹp và bà đã điên tiết (trong các dị bản khác, Thiên Hậu bắt Chức Nữ quay lại làm công việc dệt các đám mây ngũ sắc trên bầu trời vì nàng đã không làm công việc đó kể từ khi lấy chồng). Rút cái kẹp tóc của nàng ra, Thiên Hậu đã vạch ra một con sông rộng trên bầu trời để chia cắt đôi tình lang mãi mãi (vì thế tạo ra sông Ngân và trên thực tế người ta nhìn thấy các sao Ngưu Lang và Chức Nữ nằm ở hai bên của dải Ngân Hà).


Chức Nữ phải vĩnh viễn ngồi trên một bờ sông, buồn bã dệt vải, còn Ngưu Lang chỉ nhìn thấy vợ mình từ xa và phải chịu trách nhiệm nuôi hai con (tức hai ngôi sao bên cạnh nó là Aquila -β và -γ).

Nhưng có một ngày, tất cả các con quạ cảm thấy thương hại họ và chúng bay lên trời để làm cầu (鵲橋, "Ô kiều") phía trên sao Deneb trong chòm sao Cygnus để đôi vợ chồng có thể gặp nhau trong một đêm, là đêm thứ bảy của tháng Bảy âm lịch.

Truyền thuyết này có thể là gốc cho thành ngữ tắm tiên.

Dị bản

* Dị bản này cho là Ngọc Hoàng, hay cha của Chức Nữ là người đã tách đôi tình nhân ra để họ chú tâm vào công việc thay vì chuyện yêu đương.
* Sao Deneb là nàng tiên đi kèm khi đôi tình nhân gặp nhau trên cầu Ô Thước.


UserPostedImage



Trong thi ca

Câu truyện Ngưu Lang Chức Nữ trở thành một đề tài phổ biến trong thi ca, nghệ thuật. Có thể kể một số tác phẩm:

Trung Quốc:

Trong Cổ thi thập cửu thủ (古诗十九首 - Mười chín bài cổ thi- vô danh), có bài thơ về đề tài này:
Phiên âm
Điều điều Khiên Ngưu tinh, kiểu kiểu Hà Hán nữ.
Tiêm tiêm trạc tổ thủ, trát trát lộng ky trữ.
Chung nhật bất thành chương, khấp thế linh như vũ.
Hà Hán thanh thả thiển, tương khứ phục ki hứa ?
Doanh doanh nhất thủy gian, mạch mạch bất đắc ngữ.”

Dịch thơ

Xa xa kìa sao Ngưu, sáng sáng Ngân Hà nữ.
Nhỏ nhỏ tay trắng ngần, rì rào khung cửi gỗ.
Trọn ngày không thành lời, khóc nghẹn lệ như mưa.
Ngân Hà xanh lại nông, ngăn trở xa thế hử ?
Nhởn nhơ một dòng nước, cách biệt không ra lời.

Việt Nam:

Âm nhạc

* Giọt mưa thu - Đặng Thế Phong
* Chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ - Mạc Phong Linh
* Sầu Ô Thước - Văn Giảng
* Vợ chồng Ngâu - Thẩm Oánh
* Hẹn hò - Phạm Duy

Thơ

* Thương - Hồ Xuân Hương
* Thu khuê hành - Tản Đà


UserPostedImage
( sưu tầm )



UserPostedImage
havi  
#131 Posted : Thursday, January 27, 2011 10:02:18 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage

Gái Huế


Tôi biết em là gái Huế
Vì con mắt “háy” có đuôi
Môi vễu cong như trái ớt
Bao người Huế thèm ăn tươi

Tôi biết em là người Huế
Làn da bánh mật mịn màng
Thường hay ửng hồng mắc cở
Khi tôi đắm mắt dịu dàng


UserPostedImage



Tôi biết em là gái Huế
Bởi suối tóc thề buông lơi
Năm ngón thiên thần khẽ vuốt
Gió chiều và nắng nghiêng rơi !

Tôi biết em là gái Huế
Thưa gởi …thỏ thẻ, đoan trang
Nhưng khi bực mình quá đổi
Tam bành, lục tặc … còn phang !

Tôi biết nỗi lòng gái Huế
Con tim thường tính đa mang
Yêu người, nguyện đời chung thủy
Ghét ai, núi tình cũng tan !

Dzạ Lữ Kiều


UserPostedImage
havi  
#132 Posted : Monday, January 31, 2011 10:50:59 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Mắt Huế


UserPostedImage


...Dù ở đâu không thể nào lẫn được
Đôi mắt em thăm thẳm mộng bên trời
Mắt đợi chờ làm điếng cả hồn tôi
Tình như rứa làm răng tôi cất bước?


Dù ở đâu không thể nào quên được?
Mắt - Huế - em là lạ thuở yêu người
Mắt - Nội - thành soi rõ trái tim tôi
Thương là tặng dẫu ngày sau vô phước...


Dù đi đâu cũng không thể nào xa được
Mắt - Huế - xưa theo dõi bóng giang hồ
Tôi phải trôi về những cơn mơ
Áo - tím - Huế bay trong chiều lụa - bạch



UserPostedImage


Đôi mắt ấy thoạt nhìn như sắp khóc
Dẫu đời tôi hoá đá cũng chao lòng
Mắt u buồn vẫn liếc dáng thuỷ chung
Như mắt mạ chờ cha nơi phố cũ...


Dù ở đâu tôi không thể nào quên được
Mắt - Huế - em ngái ngút vẫn đâm gần
Mắt níu đời quen cho đến trăm năm Tình như rứa làm răng tôi cất bước?

Trần Dzạ Lữ


UserPostedImage
havi  
#133 Posted : Thursday, February 3, 2011 8:58:02 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Mâm ngũ quả -- ngày Tết


UserPostedImage

Tết, hầu như không gia đình nào lại thiếu được mâm ngũ quả cũng như thiếu bánh chưng xanh, dưa hành, cành hoa, đôi nến. Nó là sản vật quê hương quen thuộc, có quanh năm hoặc mang tiếng nói của mùa này, vùng khác.

Mâm ngũ quả có nải chuối tiêu, còn xanh, một mầu óng ả, quả nây đều, cái "đầu ruồi" chưa rụng. Nải chuối như bàn tay ngửa, hứng lấy nắng sương đọng thành quả ngọt. Cam Thanh Hà tròn, da đỏ au, bày ngũ quả đẹp như tranh. Cam Bố Hạ mới là quả quý. Nó còn gọi là cam sành vì da sần sùi, ánh xanh chưa tan hết thì mầu vàng đã hiện, xen vào nhau, hòa vào nhau như một thứ sành già lửa, một gam mầu của họa sĩ tài hoa, có thể mua ở mọi quầy hoa quả, nhưng cũng có thể gặp thứ quả tươi vừa hái, đựng trong những cái lồng tre, lồng nứa còn xanh, đan mắt lục lăng của người Bắc Giang, Bố Hạ về Hà Nội sắm tết, mang theo ít cam làm tiền quà bánh tàu xe. Cam Vinh (Xã Ðoài) tròn quả, vàng tươi, nay có thêm quít tầu tròn vo, vỏ xanh.

Thêm đôi quả trứng gà có hình trái đào tiên, quả hồng xiêm xấu mã nhưng loại trồng ở Xuân Ðỉnh lại ngọt lừ. Cần chút đỏ tươi thì thêm quả cà chua, chùm ớt sừng trâu. Muốn óng ánh, sau những món ăn quá béo, mới nhìn đã ứa nước chân răng thì thêm quả khế mọng nước còn vương một nhánh lá xanh cho ta tưởng tượng đến mầu hoa khế tím...

Ðặc biệt nhất là quả phật thủ, chỉ có trên vùng lạnh giá Cao Bằng, Lạng Sơn, tết xuôi về thưa thoảng, nên có người, tết đến, cứ rong ruổi con "phượng hoàng" khắp băm sáu phố phường để tìm anh xe thồ, bà quang gánh mà rước nó về nhà. Ðó là bàn tay Phật chăng, một ngón tay giơ ra như để hướng dẫn cho mùa xuân lối về, còn những ngón khác nắm lại như cầm giữ hương xuân cho khỏi mờ tan. Một quả phật thủ sẽ làm thơm căn phòng ta, như thơm suốt mùa xuân, như thơm từ tết này sang tết khác đầy kỷ niệm, nó cao sang hơn hẳn quả bưởi, quả bòng và cũng quý hơn loài hoa quả bưởi lai mới xuất hiện, vỏ sần sùi, đẹp nhưng chua gắt.

Bàn thờ là nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình, mỗi căn hộ, là nơi để tâm linh ước nguyện có nơi về Tết, nếu thiếu bàn thờ thì cái hoang tàn xô đến, niềm cô quạnh dâng đầy, và hình như ta không còn là người dân Việt nghìn năm trọng tình, hiếu nghĩa, biết ơn tiên tổ. Bàn thờ có chân đèn, chân nến, đỉnh đồng, đài nước, hộp sắc vua phong, tam sự hay ngũ sự... Và ngày Tết, không thể thiếu hương sắc, hình ảnh của mâm ngũ quả.

Ngày nay, đời sống phong phú hơn, mâm ngũ quả có đến thất, đến thập quả cũng cứ được, vì thêm chùm quất chín tròn như những viên ngọc mầu da cam, thêm vài quả quít dẹt, quả táo, quả lê nước ngoài mới nhập về... Gọi là ngũ cũng chỉ là quy ước, nông thôn nhà nghèo, chỉ gồm nải chuối vườn mình, quả bưởi xin được... tuy lỏng chỏng đơn sơ, cũng không sao. Cái tình cái ý chứa đựng vào mâm ngũ quả mới là quan trọng chứ không phải thứ quả đắt tiền mới là quý báu. Ðó là tấm lòng cháu con hiền thảo nghĩ tới tổ tiên, đó là lòng người nghĩ về xóm làng, quê hương, mùa màng, thời tiết.

Riêng phía nam đất nước, mâm ngũ quả có khác đi chút ít. Mâm ngũ quả miền nam luôn có những trái xoài, trái dừa và trái đu đủ. Ba thứ trái này đã làm mâm ngũ quả thành chật chội vì quả nào cũng to, vì thế mà hai bên bàn thờ phải đặt hai trái dưa hấu riêng ra. Nó là trái đất tròn, hay bầu trời đêm một vòm cong sao chưa mọc. Trái dưa hấu thật hợp với mùa nắng Nam Bộ, đi chúc Tết toát mồ hôi, uống ly rượu đế, người đầm đìa mệt nhọc. Bổ một trái dưa hấu, được ấp vành môi đang se khô vào cái ruột mát lạnh của chiếc thuyền rồng mầu đỏ đáy xanh ấy cho nước ngọt và mát lạnh tan vào cơ thể, mới thấy nó quý giá như thế nào, có lẽ tương tự như cái rét cắt ruột phía bắc, được nâng chén trà sen, ấm ran lòng bàn tay sưởi vào thành chén sứ, rồi mới đưa lên miệng để tận hưởng...


UserPostedImage


Tuy mỗi miền có khác, nhưng là đại đồng, tiểu dị, gặp nhau ở hồn quả, hương cây, vị trái, ở ý nguyện, ở nếp sống văn hiến. Mà đã là ý nguyện thì ai có thể áp đặt được bao giờ. Tuy vậy, tuy không ai áp đặt, nhưng tết mà thiếu mâm ngũ quả thì nó trống trếnh, nó tẻ nhạt. Tết có trăm nghìn thứ để ăn và để chơi, có trăm văn hóa, trăm vật chất, trăm niềm vui nữa. Nhưng Tết Việt Nam không phải là gặt hái niềm vui ở ngoài đường hay nơi công cộng. Quan trọng nhất vẫn là Tết gia đình. Mà gia đình, trung tâm cho mọi con người, bất luận gái trai già trẻ, luôn hướng về để hòa đồng tâm tưởng, là bàn thờ, đặt nơi gian giữa hay nơi cao nhất, sạch sẽ, trang trọng nhất.

Bàn thờ ngày thường có thể đơn sơ, hương hoa nguội lạnh. Tết thì không thể. Tết phải khác. Ba ngày Tết, từ chiều ba mươi đến ngày khai hạ, hóa vàng... hương đèn, lửa thiêng phải luôn thơm ngát, tỏa sáng. Và có thế mới là Tết, mới là Tết Việt Nam.

Thật hạnh phúc được châm một nén nhang cắm vào bát hương mà trước mặt ta, ngang tầm mắt kia là mâm ngũ quả với hình, với hương, với mầu, với sự hài hòa, với những gì mà ta từ đấy nhớ về, mà từ đấy hy vọng ước mong..

Mỗi năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán, trên bàn thờ mọi gia đình người Việt đều bày mâm ngũ quả. Với màu sắc rực rỡ, hình dáng độc đáo cùng những ý nghĩa sâu xa, mâm ngũ quả làm cho ngày Tết sinh động hơn, thiêng liêng hơn...

Theo quan niệm của người phương Đông xưa, thế giới được tạo nên từ 5 bản nguyên - gọi là "ngũ hành": kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả(lửa), thổ (đất). Tư tưởng cùng hình ảnh "ngũ hành" xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của các dân tộc phương Đông với rất nhiều biểu hiện - một trong số đó là tục lệ thờ mâm ngũ quả ngày Tết của người Việt Nam.

Mâm ngũ quả truyền thống của người Việt thường chỉ gồm 5 loại quả, được xếp kiểu hình tháp lên đĩa to hoặc mâm, đặt trên bàn thờ. Ngày nay, cuộc sống hiện đại cùng sự giao lưu phong tục làm cho mâm ngũ quả ít nhiều biến đổi: số quả có thể nhiều hơn 5, cách xếp tự do hơn, trang trí hoa lá, cắm nến để tạo ánh sáng, kết những dây đèn điện tử nhiều màu xung quanh... Tất cả các loại quả trong dịp Tết đều có thể đem bày: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, trứng gà, hồng xiêm, táo v.v... Mỗi loại quả mang một ý nghĩa riêng: nải chuối, phật thủ như bàn tay che chở; bưởi, dưa hấu căng tròn, mát lành hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn; hồng, quýt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt...

Mâm ngũ quả ở miền Bắc nhìn chung nhỏ hơn mâm ngũ quả ở miền Nam và không thể thiếu 3 loại quả: chuối, bưởi, quýt (hoặc cam). Mâm ngũ quả miền Nam thì khó có thể thiếu cặp dưa hấu và 4 loại quả: mãng cầu (na), dừa, đu đủ, xoài, bởi vì cầu - dừa - đủ - xoài theo tiếng người miền Nam có nghĩa là "cầu vừa đủ xài" - mong ước phổ biến nhất của họ trong năm mới ! Một số nhà lại bày thêm trên mâm ngũ quả bình thường một chùm sung và quả đu đủ với ngụ ý cầu mong cuộc sống gia đình sẽ luôn "đầy đủ, sung túc".

Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hoà với màu xanh mát của dưa hấu, đỏ rực của hồng, nâu mịn của hồng xiêm, vàng tươi của bưởi, cam, dứa... Nó thể hiện sinh động ý nghĩa triết học - tín ngưỡng - thẩm mỹ ngày Tết cùng những ước vọng lạc quan mà mỗi gia đình mang theo khi bước vào năm mới.


UserPostedImage


Tết Việt, nhà nào cũng có mâm ngũ quả bày trên bàn thờ, cho dù nhà nghèo hoặc ngày Tết có thể thiếu vài thứ, nhưng mâm ngũ quả thì không thể thiếu trong ngày Tết.

Vài Triết lý nhân sinh quanh Mâm ngũ quả:


Ngoài triết lý về Ngũ hành (Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ) như bài viết trên, mâm Ngũ trong mâm ngũ quả còn có những triết lý nhân sinh dưới đây:

Mâm ngũ quả biểu trưng cho 5 lời ước là PHÚC, LỘC, THỌ, KHANG NINH, mâm ngũ quả cũng biểu thị lòng tôn kính, biết ơn tổ tiên của các thế hệ cháu con, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Tượng trưng cho sự “Viên tròn, Quả phúc” là khát vọng của gia đình trong năm mới.

Theo từ Hán Việt, thì:

- Chữ Phúc trong mâm ngũ quả chính là ước mong gia đình xum họp đông vui, hạnh phúc.

- Chữ Lộc cầu cho cả nhà được hưởng sự no đủ trong cuộc sống quanh năm.

- Chữ Thọ mang lời ước được sống trọn đời khoẻ mạnh, sống trăm tuổi

- Chữ Khang có nghĩa là an khang, an nhàn, tự tại, luôn minh mẫn, hoạt bát trong suốt cả năm

- Chữ Ninh là lời ước gia đình ấm êm, tai quan nạn khỏi của cả gia đình và nhà cửa.

Mâm ngũ quả còn là sự tượng trưng cho luật cân bằng Âm - Dương của vũ trụ và của cuộc sống con người. Người xưa quan niệm màu xanh của hoa quả mang tính âm (nải chuối xanh, đu đủ xanh...), trái chín có tinh dương (quả hồng, quả cam...)
Mâm ngũ quả cũng tượng trưng cho hương vị cuộc sống mà con người phải trải qua: Ngọt, Bùi, Chua, Cay, Đắng (ngũ vị, ngũ quả).



UserPostedImage
TUS  
#134 Posted : Tuesday, February 8, 2011 8:07:24 AM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Lời Ru Của Mẹ
GIA TÀI CỦA CON

http://www.youtube.com/watch?v=o9Q4JrwNnI4

UserPostedImage
Làm sao gầy dựng, chắt chiu và trao ban gia sản để giúp con cái thuận lợi hơn trong việc lập thân, là ước muốn đáng trân trọng của các bậc làm cha mẹ. Tuy nhiên, có một gia tài không đo bằng giá trị tiền bạc hay đếm bằng vật chất, nhưng là cơ sở vững chắc để giúp con cái có thể tìm kiếm thành công, hạnh phúc và ý nghĩa thực sự của đời mình. Đó là tất cả những gì tốt đẹp và tinh tế mà cha mẹ dành cho con cái trong những năm tháng đầu đời, để định hình nên nhân cách sau này của trẻ.

Vào thế kỷ 19, người ta cho rằng những hành vi sai trái của con người là do di truyền. Đến thế kỷ 20 và 21, quan niệm này dần thay đổi và môi trường được xem là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến hành vi con trẻ.

Có lẽ không nhiều người trong số chúng ta nhớ được chút ký ức gì ở tuổi lên 3, nhưng theo các công trình nghiên cứu khoa học và theo Maria Montessori, một trong những nhà giáo dục nổi tiếng được công nhận ở thế kỷ XX, cho rằng: ba năm đầu đời có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến sự phát triển một tính cách. Tính cách có thể được hiểu là điều tạo nên con người. Tính cách không phải tự nhiên có, mà được hình thành qua quá trình học hỏi và rèn luyện.

Sau khi rời khỏi cơ thể mẹ, trẻ bắt đầu làm quen với thế giới xung quanh, dần có những suy nghĩ và cảm nhận theo cách riêng. Hầu hết thời gian từ khi sinh ra cho đến tròn một tuổi, trẻ dùng để khám phá cha mẹ mình và thiết lập mối quan hệ yêu thương, an toàn.

Trẻ cần có những sản phẩm thu nhỏ đồ dùng của người lớn, để cảm thấy thoải mái trong môi trường của mình và cảm giác được tiếp nhận.

Các nhà chuyên môn thường gọi ba năm đầu đời của trẻ là ba năm “vàng”. Trong giai đoạn này, trẻ có tốc độ phát triển trí tuệ và thể chất cực lớn. Nếu phụ huynh không tận dụng, thì sau ba năm đầu đời, dù có nỗ lực đến đâu cũng không thể bù đắp được vì mọi sự đã “an bài”.

Bốn lãnh vực cơ bản liên quan đến sự phát triển trong những năm đầu đời của trẻ là sự tăng trưởng cơ thể (kích thước, sức khỏe, sự phối hợp), sự phát triển của trí tuệ (suy nghĩ, ngôn ngữ, giải quyết vấn đề), sự phát triển của nhân cách (mối quan hệ, hiểu biết xã hội, tình cảm) và sự tăng trưởng của não bộ (sự phát triển của tế bào thần kinh, khớp thần kinh).

Nguồn sữa mẹ là thức ăn lý tưởng nhất, với tính ưu việt giúp trẻ phát triển hoàn chỉnh, giảm rối loạn tiêu hoá, có khả năng chống nhiễm trùng, tránh các bệnh dị ứng; sữa mẹ còn giúp phát triển trí thông minh, có lợi cho sự phát triển tế bào não của trẻ; sữa mẹ chứa nhiều chất tham gia vào quá trình hình thành màng tế bào võng mạc ở mắt; giúp trẻ hấp thu tốt các vitamin và khoáng chất.... Cho con bú mẹ không chỉ là cho con nguồn dinh dưỡng vô giá, mà còn cho trẻ cái quyền lợi thiêng liêng, căn bản và cảm giác hạnh phúc, an toàn trong vòng tay mẹ.

Các nghiên cứu khoa học cho thấy bằng cách đánh thức, kích thích các giác quan, đặc biệt là thính giác và thị giác trong giai đoạn đầu đời, sẽ giúp khơi dậy tối đa tiềm năng trí tuệ của trẻ. Kết quả nhiều công trình nghiên cứu mới nhất đã chứng minh: việc đọc truyện cho trẻ dưới tuổi lên 3, được xem là giai đoạn then chốt để phát triển ngôn ngữ và khả năng đọc sau này. Đây cũng là cách vừa trau dồi từ vựng cho trẻ, vừa giúp trẻ hình thành và nuôi dưỡng trí tưởng tượng, tô vẽ cho cuộc sống bằng những hình ảnh thần tiên, cổ tích.

Trẻ trong giai đoạn chập chững (< 3 tuổi) thường kinh ngạc và tò mò về năng lực hành vi của mình. Đây cũng là thời kỳ trẻ chập chững tập đi và là giai đoạn cha mẹ có nhiều bối rối, lo lắng.
Sự trải nghiệm trong những năm tháng đầu đời sẽ quyết định trẻ có ham học hay không.

Các món đồ chơi mang tính khoa học giúp kích thích vận động bộ não, và từ đó rèn luyện tư duy của trẻ. Do đó, việc đầu tư giải trí qua các món đồ chơi cũng không kém phần quan trọng so với một chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Tình thương yêu của cha mẹ là chất liệu quý báu tạo nên gia tài cho con cái. Chính tình yêu ngọt ngào của cha mẹ làm cho trẻ an tâm, không cảm thấy bị lạc lõng giữa một thế giới xa lạ và đầy thách đố này.

Cha mẹ cần tạo cơ hội cho trẻ tự làm những việc phù hợp với lứa tuổi, để rèn tính tự lập, tự tin và tinh thần trách nhiệm. Điều này đòi hỏi cha mẹ phải bỏ thời giờ và chấp nhận những hành động chậm chạp ban đầu của chúng. Nếu mọi hành vi của trẻ đều được người lớn can thiệp, làm giúp thì trẻ không học được bài học cơ bản về tính chịu khó và nỗ lực, đồng thời lòng tự tôn của trẻ bị tổn thương. Một đứa trẻ học được tính kiên nhẫn thường có khả năng kiên trì và thành công hơn.

Gia tài cho con còn là kết quả của ý thức bảo vệ con trẻ khỏi những biến động và căng thẳng của môi trường. Điều này giúp cho con cái cảm nhận sự an toàn và học cách tin cậy vào người lớn. Nếu không có đức tính này, trẻ sẽ phải vật lộn cách vất vả trong quá trình phát triển.

Gia tài cho con còn là tính kỷ luật được chuẩn bị để trẻ sớm hoà nhập vào môi trường học đường. Đôi khi cha mẹ phải nói “không” một cách dứt khoát với con cái, để trẻ hiểu rằng không phải tất cả mọi đòi hỏi cá nhân đều được đáp ứng. Từ đó, trẻ dần dần học cách điều chỉnh bản thân.

Trẻ con có thói quen bắt chước người lớn và thường lặp lại những gì đã ghi nhận từ môi trường trước đó. Đôi khi vì muốn trẻ tuân thủ một điều gì ngay tức khắc, cha mẹ thường hay hứa hẹn và quên giữ lời hứa. Trẻ sẽ rút ra được bài học về sự thất tín từ những tình huống như thế.

Ngoài việc làm gương cho con trẻ về cách hành xử đạo đức và những hành vi tích cực, chúng ta còn cần khuyến khích, động viên và khen ngợi trẻ mỗi khi chúng cư xử đúng.

Người ta thường nói đến tình thương vô biên của cha mẹ dành cho con, mà đôi khi quên chiều kích ngược lại. Gia tài cho con cái còn là thái độ cha mẹ đón nhận tình thương tinh tuyền, vị tha của trẻ. Thứ tình thương dào dạt, vô vị lợi này, dường như làm cho trẻ cao lớn hơn so với những ni tấc hữu hạn của mình. Và hơn thế nữa, tình yêu ấy sẽ làm cho người lớn phải sống tích cực hơn.

Gia tài dành cho con còn là sự đáp lại lời mời gọi thu hút sự chú ý của người lớn, để có được niềm vui của trẻ: “Nhìn con này! Chơi cùng con đi!”

Tâm hồn của trẻ còn là một câu đố khó lý giải đối với người lớn và đôi khi khiến họ lúng túng, vì người lớn chỉ quan sát hiện tượng bề ngoài mà không phân tích đến hoạt động tâm lý xuất phát từ bên trong. Không ít người lớn đã phải vật lộn với trẻ trong vai trò làm cha làm mẹ của mình. Tình thương và hiểu biết là hai phạm trù bổ sung cho nhau để đạt đến một tương quan tốt đẹp. Do đó, ngoài tình thương yêu, người lớn phải học để biết trẻ, phải học để hiểu trẻ.

Bằng kinh nghiệm của một người làm cha và với cái nhìn của một nhà xã hội học, Ths. Trần Đình Dũng đã trao đổi với khán giả những trải nghiệm thực tế trong việc giáo dục con cái, đặc biệt là trong ba năm đầu đời nhằm giúp khơi gợi những tiềm năng và xây dựng nền móng nhân cách của trẻ. Anh đã chia sẻ với khán giả bằng cả trái tim và tấm lòng của mình.

Một đứa trẻ hỏi nhiều thường là biểu hiện của sự năng động, thông minh, tính thích tìm tòi, khám phá… Đôi khi cha mẹ cần phân định rõ ràng giữa tranh luận và hỗn (láo) của trẻ để có những khuyến khích hay điều chỉnh hợp lý. Trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, lắm bậc phụ huynh không đủ thời gian và kiên nhẫn để cùng trẻ khám phá những điều bí ẩn trong cái nhìn trẻ thơ, cũng như không có những câu trả lời giải đáp thỏa đáng cho trí tò mò, tìm hiểu của trẻ. Nhiều sự quát tháo thô bạo của cha mẹ làm cho trẻ khựng lại, và những chuyến phiêu lưu tìm kiếm điều mới mẻ phải kết thúc khi chỉ vừa mới bắt đầu.
Làm người lớn, cha mẹ thường có xu hướng nhìn thấy cái sai và tỏ thái độ chỉ trích. Lên ba, trẻ chưa có khả năng tư duy về mặt logic, chỉ phân biệt đúng - sai, nên làm hay không nên làm. Cha mẹ cần có cái nhìn bao dung và làm nhẹ vấn đề qua cách quan tâm, gợi ý và hướng dẫn trẻ nhìn được hiện tượng, nguyên nhân và hậu quả của sự việc, nhằm kích thích tư duy trẻ tự nhìn nhận vấn đề.

Trẻ trên 2 tuổi đã bắt đầu tự có ý thức và đòi hỏi người lớn phải tôn trọng chúng. Cái bướng bỉnh của tuổi lên 3 là một ví dụ: trẻ nằng nặc đòi tự mặc quần áo mặc dù chúng cứ xỏ hai chân vào một ống, hoặc vẫn đòi được tự xúc cơm dù làm vương vãi ra ngoài. Đó là dấu hiệu trẻ muốn khẳng định mình và bắt đầu ý thức được mình là ai. Tuy nhiên, nhiều khi phụ huynh hiểu lầm là do con bướng bỉnh, không biết vâng lời nên đôi khi trừng phạt trẻ khắt khe bằng đòn roi. Điều vô tình này dần khiến con trẻ ngày càng chai lì roi đòn hoặc có những hành động chống trả quyết liệt để tự bảo vệ mình hoặc ở dạng tiềm ẩn, chờ cơ hội thích hợp sẽ “bùng phát”.

Với khoảng 1.000 từ vựng và cái nhìn trong sáng, cách diễn đạt của trẻ con hoàn toàn khác với người lớn. Trẻ thường ngây thơ đồng hóa sự dễ thương của con vật như chó, mèo với sự dễ thương của ông bố, bà mẹ. Nếu cha mẹ không đi vào thế giới của trẻ để có cùng một nhãn quan và ngôn ngữ, sẽ dễ dàng quy kết tội hỗn láo cho con.

Giúp trẻ nói đúng và tròn chữ không chỉ góp phần làm tăng khả năng học hỏi, tiếp thu của trẻ trong 12 năm tiếp theo, mà còn xây dựng lòng tự tin nơi trẻ.

Dân gian có câu: "Trẻ lên ba, cả nhà tập nói". Câu tổng kết gồm sáu từ này gói gọn cả nghệ thuật và quan niệm giáo dục của ông cha. Cả nhà không chỉ nói chuyện với trẻ, mà còn phải tự tập điều chỉnh lời ăn tiếng nói của chính mình. Đầu óc trẻ không phù hợp với những điều cao siêu hay những mớ lý thuyết giáo điều, trẻ sẽ học nói qua những gì tai nghe mắt thấy hằng ngày. Người lớn không thể chờ đợi ở trẻ sự tinh tế khi họ nói năng một cách thô bạo. Người lớn không thể buộc trẻ phải trung thực khi họ biểu lộ toàn sự dối trá…

Tâm hồn của những đứa trẻ lớn lên bằng lời hát ru ầu ơ sẽ nhạy cảm và sâu sắc hơn. Những lời hát ru này sẽ không bao giờ lạc điệu cho dù cuộc đời có biến đổi tới đâu. Hát ru không chỉ thể hiện tình cảm ấm áp của người mẹ dành cho đứa con yêu dấu, mà nội dung mỗi câu hát còn thể hiện trí tuệ, sự hiểu biết về cuộc đời của người mẹ. Sự thiếu vắng những lời hát ru trong các gia đình trẻ ngày nay, đang trở thành nỗi lo lắng không của riêng ai.

Hạt Cát




UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#135 Posted : Wednesday, February 9, 2011 6:20:12 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Nắng chiều

Vũ Đức Sao Biển

UserPostedImage

Nắng chiều được viết năm 1952, sau khi tác giả của nó về quê hương để tránh chiến tranh. Có tài liệu cho rằng "Nắng chiều" ra đời trong một lần hứng tác của Lê Trọng Nguyễn trên cầu Vĩnh Điện khi chiều xuống ở bến sông Thu Bồn.

Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn đã nói: "Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành... Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!"

Tác giả Lê Trọng Nguyễn Thị Nga có một bài viết về "Nắng chiều", quãng đường sau khi nó ra đời:

Năm 1954 Lê Trọng Nguyễn ra Huế và Ðà Nẵng làm việc cho cơ sở thương mại ngoài đó. Cũng chính nơi đây, có dịp quen và làm bạn cho đến chót cuộc đời nghệ sĩ sáng tác của anh, với những Minh Trang, Dương Thiệu Tước, Kim Tước, Nguyễn Hiền v.v.. Và ca khúc Nắng Chiều được xuất bản trong lúc này. Người thâu tiếng hát đầu tiên bản Nắng Chiều vào dĩa nhựa là ca sĩ Minh Trang.

Giữa năm 1955(...), người em gái duy nhất của anh Lê Trọng Nguyễn là Lê Thị Ba qua đời, anh quá đau buồn và đem bản Nắng Chiều ra ký giao kèo tái bản để có một món tiền tác quyền khiêm nhường đưa về quê cùng mẹ lo liệu cho em gái và chuẩn bị nuôi nấng cháu.

Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sĩ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Ki Lo Ha, một ca sĩ người Hoa, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan và Hồng Kông. Nhờ mấy may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại ngoại quốc.



UserPostedImage

Nắng chiều

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ
Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh
Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm
Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương
Nay anh về qua sân nắng
chạnh nhớ câu thề tim tái tê
chẳng biết bây giờ
người em gái duyên ghé về đâu
Nay anh về nương dâu úa
giọng hát câu hò thôi hết đưa
hình dáng yêu kiều
kề hoa tím biết đâu mà tìm
Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn anh em nói em nói: "Mến anh!"
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi...




Bài hát viết theo điệu Rumba, giai điệu rộn rã phối hợp giữa ngũ cung và thất cung, lời ca đầy hình ảnh, màu sắc, nhưng nội dung phảng phất nét buồn. Phần lời nói lên tâm trạng hoài tiếc của một người khi thăm lại cảnh xưa. Trông thiên nhiên, cảnh vật vẫn hồn hậu sống động, lòng ấy bồi hồi nhớ lại một hình bóng đẹp tươi, nay đã không còn:

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
...anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh


Bản dịch tiếng Hoa về nội dung nhìn chung vẫn giữ ý chính của bài:
我又來到昔日海邊,海風依舊吹皺海面
那樣熟悉那樣依戀,只有舊日人兒不見

(Tôi về thăm lại bến nước xưa, gió biển như năm cũ, thổi lộng vào mặt, bóng dáng cũ vẫn in đậm trong tâm trí tôi, nhưng người xưa thì không thấy nữa).


(theo * Giới thiệu Wikipedia)


UserPostedImage




Trong thập niên 50 của thế kỷ trước, âm nhạc Việt Nam tỏa sáng một tên tuổi: nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Lúc bấy giờ, chưa hề có kỹ thuật truyền hình, cũng chẳng có kỹ thuật video. Sự truyền bá và sức lan tỏa của một ca khúc rất hạn chế, rất khó khăn; người ta chỉ nghe nhạc qua đài phát thanh hoặc loại đĩa bằng nhựa cứng có đường kính cỡ 40 cm. Ấy vậy mà từ lớp thiếu niên đến người lớn tuổi, ai cũng có thể thuộc và hát được những lời ca: "Qua bến nước xưa lá hoa về chiều. Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa...". Đó là Nắng chiều, một ca khúc viết theo điệu rumba mới mẻ của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

Lê Trọng Nguyễn sinh ra tại Quảng Nam trong một gia đình khá giả. Nhà ông ngày ấy là Trường tư thục Hoàng Hồ ở Hội An. Ông xuất thân là một nhà giáo, dạy nhạc ở Trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu (huyện Điện Bàn, Quảng Nam). Bản chất ông là người lãng mạn, tài hoa; khi ra đường luôn luôn có mấy tờ giấy kẻ sẵn dòng nhạc và cây bút máy Kalo trong túi áo. Khi nhạc nổi hứng lên, ông đứng lại ở một nơi nào đó hoặc ngồi bệt xuống bên vệ đường và... viết nhạc. Nắng chiều ra đời trên cầu Vĩnh Điện khi chiều xuống trên bến sông Thu; Chiều bên giáo đường ra đời trong sân nhà thờ Hội An; Bến giang đầu ra đời ở vùng cồn dâu Gò Nổi (Điện Bàn); Lá rơi bên thềm ra đời trong khuôn viên chùa Bà Mụ (Hội An)...

Cổng sau của nhà nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có một cái giếng nước lớn. Đó là nơi tôi ở trọ, học những năm đầu tiên ở bậc trung học. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có một người cháu học cùng lớp với tôi, gọi ông là cậu ruột. Theo cách gọi của bạn, tôi cũng gọi ông là cậu. Và tôi may mắn đã được ông hướng dẫn, chỉ dạy một đôi chút trong bước đầu đi vào con đường âm nhạc. Thật hạnh phúc cho tôi khi được xem ông là một trong các bậc thầy đầu tiên trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc của mình bên cạnh các bậc thầy khả kính như Lê Chấn Quang, La Gia Đinh, Huỳnh Nhâm.

Lê Trọng Nguyễn thuộc thế hệ nhạc sĩ Quảng Nam hậu chiến, đồng thời với các nhạc sĩ Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lan Đài... Thế nhưng, nét độc đáo nhất của ông là vận dụng một thang âm ngũ cung Quảng Nam kết hợp với các điệu thức mới của âm nhạc phương Tây như rumba, boléro, slow, calypso. Ông đẩy các điệu thức mới ấy chậm lại một chút, bớt chất rộn ràng sôi nổi để ca khúc đậm đà hơn, gợi nhớ hơn. Và ông viết ca từ một cách thận trọng, sang trọng, giàu tính nghệ thuật.

Nay anh về nương dâu úa.

Giọng hát câu hò thôi hết đưa

Hình bóng yêu kiều kề hoa tím

Biết đâu mà tìm.

(Nắng chiều)


UserPostedImage



Chiều nhạt nắng nhắc anh lời em

Nói khi mùa trăng giữa khung trời êm

Nếu mà ngày sau giàn hoa tím xưa héo gầy

Thì tình ta vỡ tan làm đôi

Mắt ta càng xa cách nhau ngàn đời
(Bến giang đầu)



UserPostedImage

Lá rơi cho lòng hoài cố nhân

Tìm trong lá thu màu xanh ái ân thời dĩ vãng.

(Lá rơi bên thềm)


UserPostedImage


Đó chính là phong cách âm nhạc trữ tình bán cổ điển, một phong cách rất riêng, rất Quảng Nam của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, không thể lầm lẫn với ai được. Nói theo ngôn ngữ của người xưa, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã tạo ra một dạng âm nhạc "Hòa nhi bất đồng". Với chín ca khúc đã được công bố, ông đứng riêng một cõi, trong đó Nắng chiều là ca khúc đưa ông vào đội ngũ những nhạc sĩ có tác phẩm để đời.

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn qua đời ngày 9.1.2004 tại California (Mỹ), sau một cơn bệnh. Ông ra đi nhưng huyền thoại vẫn ở lại. Chuyện kể rằng thời đôi mươi, ông rất yêu mến một người con gái xinh xắn ở Quảng Nam. Tình yêu của họ không thành, người ấy ra đi và ông trở thành một... nhạc sĩ. Xuyên suốt trong sự nghiệp sáng tác của ông chỉ có hình bóng duy nhất của người ấy. Thật hạnh phúc cho người phụ nữ Quảng Nam nào được nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn yêu mến !!

Có phải vì anh bềnh bồng mãi trong gió sương

Nên khiến đời em dưới hiên tranh khói lạc hướng ?

Rã rời chờ nhau tình rạn nứt duyên nát nhàu.

Bến xuân giang đầu mây che kín một niềm đau.



~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

KÍNH DÂNG gửi my Daddy & Mẹ bài hát Nắng Chiều, bài hát kỹ niệm của Ba Me từ thuở yêu nhau.
~ Cỏ thơm ~

Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn) Trình bài: Thế Sơn

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dRMCR266hY


UserPostedImage



UserPostedImage
havi  
#136 Posted : Wednesday, March 2, 2011 10:48:42 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Chiêm Bao

Tác Giả: Xuân Diệu


UserPostedImage


Đêm qua anh thấy chiêm bao
Cảm ơn em đã đi vào giấc mơ
Biết anh thương nhớ đợi chờ
Một mình vương với nùi tơ tâm hồn


Nên nơi xa cách, em thương
Hóa ra giấc mộng canh trường tìm anh
Gặp rồi mái tóc em thanh
Hương ta lẫn với, mắt lành nhìn nhau



UserPostedImage



Thương em, anh vuốt mái đầu
Thương anh, em nán ngồi lâu bên màn
Gặp em, vui sướng chi bằng
Như thuyền trên nước, như trăng giữa trời


Mơ hay là thực em ơi?
Ước sao mãi mãi trong đời có em !



UserPostedImage




UserPostedImage
ThuLinh  
#137 Posted : Saturday, March 5, 2011 12:37:40 PM(UTC)
ThuLinh

Rank: Newbie

Reputation:

Groups:
Joined: 9/25/2011(UTC)
Posts: 75

Biển


Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng,
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê.

Bờ đẹp đẽ cát vàng
Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng.

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.

Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời.
Dù tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt.

Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Và lúc triều yêu mến
Ngập bến của lòng tin.

Anh không xứng là biển xanh,
Nhưng cũng xin làm sóng biếc,
Để hát mãi bên gành
Một tình chung không hết.

Có những khi bọt tung trắng xoá,
Và gió vi bay toả nơi nơi
Như hôn mãi ngàn năm không thoả
Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi!
Xuân Diệu
Users browsing this topic
Guest (2)
7 Pages«<567
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.