Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

107 Pages«<105106107
Options
View
Go to last post Go to first unread
Duy An  
#2121 Posted : Tuesday, September 14, 2021 10:43:03 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,287

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Người yêu thơ, yêu sách vở Nguyễn Mạnh Trinh đã ra đi vĩnh viễn

UserPostedImage
Nguyễn Mạnh Trinh (1949-2021)

Bài PHÚC QUỲNH

Nhà thơ, nhà biên khảo Nguyễn Mạnh Trinh đã từ biệt gia đình, từ giã bạn bè, và giã biệt cõi đời vào một buổi sáng sớm của một ngày hứa hẹn nắng gắt của tháng Tám tại Nam California. Tin ông mất được loan đầu tiên trên trang Facebook của Văn Học Press, sau đó được bạn bè truyền tay, chia sẻ lại trong sự sửng sốt, bất ngờ, cùng sự thương tiếc dành cho một người bạn rất khiêm tốn, hiền lành.

Nhà văn Trịnh Y Thư, một bạn thân của ông Nguyễn Mạnh Trinh, cho biết nhà thơ đã qua đời lúc 4 giờ sáng thứ Ba, ngày 24 tháng 8, 2021 tại tư gia. Ông chỉ mới vừa từ nhà thương về nhà được một hôm thì ra đi vĩnh viễn, để lại người vợ thân yêu là bà Nguyễn Thị Thế, thọ 73 tuổi. Lễ hỏa táng sẽ được cử hành ngày 10 tháng 9.

Trong bốn thập niên, Nguyễn Mạnh Trinh ban đầu xuất hiện trong giới văn chương là một nhà thơ, dần dần ông chuyển sang biên khảo và trở thành một trong những nhà bình luận văn thơ viết khỏe nhất tại hải ngoại. Trong tình thân, các bạn văn thường nói giỡn Nguyễn Mạnh Trinh là “một nhà thơ to con,” vì ông có thân hình vạm vỡ (ông từng đi lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa), không phù hợp với ấn tượng một thi sĩ phải là một anh chàng thư sinh, thân hình ẻo lả, ốm yếu, tay cầm điếu thuốc, miệng nhắp ly cà phê (hay rượu), mắt mơ màng nhìn xa xăm, vân vân. Ông sống rất lành mạnh, chừng mực, không hút thuốc, không bia rượu, cũng không lăng nhăng chuyện tình cảm, có nụ cười rất hiền hòa và thường híp mắt cười mỗi khi bị bạn bè chọc ghẹo. Ông chỉ có một đam mê là thơ, hay thi ca theo lời ông từng nói với ký giả Mặc Lâm của đài RFA trong một cuộc phỏng vấn năm 2009.

Khi đó Mặc Lâm cho biết “Nguyễn Mạnh Trinh không nhận mình là cây bút phê bình văn học chuyên nghiệp, ông tự nhận mình chỉ là một người đọc văn, ghi lại cảm nghĩ và chia sẻ những bài viết ấy trên mặt báo với những người yêu văn học như ông.”

Ông đã nói với Mặc Lâm về việc viết bài phê bình thơ văn, “Thật ra tôi là người yêu thơ và yêu mến sách vở. Vì yêu thơ thành ra tôi muốn làm một nhịp cầu giữa độc giả và người sáng tác. Tác phẩm đầu tiên mà tôi viết là tập thơ của nhà thơ Nguyên Sa số 1. Có những bài viết mà tôi nghĩ rằng là phản ảnh tâm tư của một số đông độc giả.”

Dưới đây là trích đoạn từ một bài viết của nhà văn Trịnh Thanh Thủy đăng trên Facebook cá nhân chiều thứ Năm, 26 tháng 8, về tiểu sử và tác phẩm của Nguyễn Mạnh Trinh:

“Vô cùng thương tiếc nhà thơ, nhà biên khảo và truyền thông Nguyễn Mạnh Trinh đã ra đi mãi mãi (1949-2021). Tháng Tám chưa qua, hạ chưa tới. Thu còn xa lắc, lá chưa kịp chín vàng, mà anh đã rụng rơi. Thủy mãi nhớ nụ cười hiền của một Nguyễn Mạnh Trinh nho nhã điềm đạm. Thành kính chia buồn cùng gia đình anh. Xin thắp nén hương lòng gởi đến anh, một tài hoa vừa thong thả rong chơi về miền phương ngoại.

“Nguyễn Mạnh Trinh sinh năm 1949 tại Hà Nội, lớn lên ở miền Nam. Năm 1969, ông tình nguyện gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ tại Không Đoàn 60 Bảo Trì Tiếp Liệu thuộc Sư Đoàn 6 Không Quân Pleiku từ khi thành lập đơn vị này vào những năm 1971 cho đến ngày tàn cuộc chiến.

“Sau biến cố 1975, ông tị nạn tại Hoa Kỳ và bắt đầu dấn thân vào những sinh hoạt văn học nghệ thuật tại tiểu bang California. Ngoài viết văn và làm thơ, ông thường viết những nhận định văn học liên quan đến tác phẩm của những tác giả nổi danh như Xuân Vũ, Trần Văn Minh, Dương Hùng Cường, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Vũ Hữu Định, Quang Dũng, Phạm Đình Chương, Phạm Công Thiện, Tô Thùy Yên, Kim Tuấn, Du Tử Lê… Những bài viết của ông xuất hiện trên hầu hết các tạp chí văn học tại hải ngoại.

“Ông chủ trương tủ sách tác giả tác phẩm Đời và là thành viên trong nhóm chủ trương Hợp Lưu - Hoa Kỳ. Nguyễn Mạnh Trinh cùng với Nhã Lan chủ trương chương trình “Tản Mạn Văn Học” trên đài phát thanh Little Saigon mỗi sáng thứ Bảy, được đông đảo người Việt tại California theo dõi.

“Tác phẩm đã xuất bản: Thơ Nguyễn Mạnh Trinh (Người Việt, 1985). Tập truyện Hai Mươi Ba Người Viết Sau 1975 (biên tập cùng Trịnh Y Thư, Văn Nghệ Hoa Kỳ, 1989). Rì Rào Sóng Vỗ, tập truyện ngắn.”

Nhà văn Vĩnh Hảo, chủ bút Nguyệt San Chánh Pháp, từng viết về thơ của Nguyễn Mạnh Trinh như sau:
“Thơ mới của Nguyễn Mạnh Trinh đọc lên, nghe như nhạc. Một loại nhạc buồn thấm thía. Một loại buồn rất đau. Nhất là bài này, Dặn Anh Khói Sóng, giọng thơ thật trầm tĩnh, mà nỗi đau thì lạnh tê vào tận tim gan:

Anh, rẽ thẳng ngôi em làn tóc xõa
Không quanh co khuất khúc mối tình em
Dù biển gió sẽ rối tung trăm ngả
Anh vuốt ve cho giấc ngủ em mềm

Anh, ru em lời ca dao mật ngọt
Cho em quên cơn khát biển nhọc nhằn
Nhìn thẳng mắt em chân trời hy vọng
Cho mênh mông anh trán phẳng vết nhăn

Anh, vuốt khẽ cho em tà áo mộng
Khép sau lưng tia nắng đẹp phố phường
Ô kìa anh tung tăng đôi bướm đẹp
Đang nô đùa bãi cỏ biếc quê hương

Anh đọc nhỏ thơ anh lời dưới mộ
Có phải em đang dần rã xác thân
Có phải đang bập bềnh muôn khói sóng
Đường hải hành trăm lối dạt phân vân

Anh, hãy hôn em bờ môi vời vợi
Ấm vòng tay tà áo đẹp em đan
Đợt phiêu bạt gió bên trời tiếng gọi
Ơi nụ cười sao đau xót vô vàn

Anh, em đã vùi trong lòng biển thẳm
Vèo cánh chim qua nhịp sóng đoạn trường
Rêu xanh sẽ muôn đời xây nấm mộ
Trái tim không ngưng nhịp đập quê hương.


Thành kính phân ưu cùng gia đình nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh trước sự mất mát đau buồn này.


Nguồn VienDongDaily
UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2122 Posted : Tuesday, October 5, 2021 3:38:59 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 66
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)
.

Nguồn Nguoi-viet.com

Một bài thơ cũ: Nhà thơ Vũ Hoàng Chương



Vũ Hoàng Chương sinh ngày 5 Tháng Năm, 1916, tại Nam Định. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931, ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ tú tài năm 1937.

Năm 1938, ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm phó kiểm soát Sở Hỏa Xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh-Na Sầm.


UserPostedImage

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương. (Hình: tienglongta.com)


Năm 1941, ông bỏ Sở Hỏa Xa đi học cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội.” Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.


Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc” của Việt Nam Cộng Hòa với tập thơ “Hoa Đăng.” Trong năm này ông sang Âu Châu tham dự hội nghị Thi Ca Quốc Tế tại Bỉ.

Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai. Ông còn được vinh danh là “Thi Bá” Việt Nam.

Ngày 13 Tháng Tư, 1976, ông bị giam tại khám Chí Hòa. Bệnh nặng đưa về nhà được năm ngày thì ông mất ngày 6 Tháng Chín, 1976, tại Sài Gòn.



UserPostedImage
Tuổi thơm mười sáu tình thơm mới. (Tranh: Mai Thứ)

Phố cũ

Ôi chốn này xưa vai sánh vai
Trán cao hoài vọng tóc buông cài
Tuổi thơm mười sáu tình thơm mới
Duyên đượm hàng mi ngập nắng mai.

Hồ Gươm sóng lụa bờ tơ liễu
Hàng Trống Hàng Khay rộn bước người
Sách vở lên hương trầm ngát nẻo
Hoa soan hoa phượng chói màu tươi

Thấp thoáng hè qua đài phượng rụng
Lào rào thu muộn lá soan rơi
Tay trong tay nắm, tình trong mắt;
Lòng bốn mùa xuân, nguyệt bốn trời.

Đôi lứa mê say cùng gắn bó
Mẹ cha cùng hẹn sẽ dành nơi
Trường chung một hướng nhà chung ngõ
Hoa gấm cùng mơ dệt cuộc đời

Thế mà tan tác mười năm mộng
Có kẻ ra đi chẳng một lời!
Nửa kiếp lênh đênh dừng phố cũ
Một mình trơ với tuổi ba mươi.

Lớp học nào tan, đường rộn rã
Tình thơm mộng nhỏ tóc buông vai…
Hàng Khay Hàng Trống hoa nào rụng?
Màu tím thờ ơ vạt áo ai!




UserPostedImage
Duy An  
#2123 Posted : Monday, December 6, 2021 12:06:26 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,287

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage


Búi tóc ngày xưa

Ngày xưa, búi tóc không chỉ dành cho phụ nữ mà cánh đàn ông cũng búi tóc. Và để trông đẹp hơn, người ta dùng chiếc khăn vải che đầu và che cả cái búi tóc sau gáy. Chiếc khăn có nhiệm vụ vừa bảo vệ tóc tránh cháy nắng và vướng víu cũng như giữ ấm phần đầu vừa che mớ tóc loà xoà trước trán cho gọn gàng và duyên dáng.

Tất nhiên, đối với nam giới dùng khăn búi tóc không phải để cho mình thêm duyên dáng, nó nghiêng về sự tươm tất che kín cái “củ tỏi” cho gọn gàng. Kiểu vấn khăn nam giới thường có một điểm chung là không để lộ mái tóc trước trán. Hầu hết nam giới đều chỉ vấn theo một kiểu búi tóc cột riêng sau gáy, và khăn vấn vòng cao trên đầu. Còn đối với phụ nữ, dùng cái khăn búi tóc có phần nghiêng về làm duyên cho nên các bà có nhiều kiểu vấn khăn, khá đa dạng. Các bà các cô luồn tóc vào khăn vấn quanh đầu, trùm khăn mỏ quạ hay quấn khăn vành, không trùm búi tóc. Các kiểu quấn khăn đầu này thường thấy ở miền Bắc và miền Trung. Khăn vấn đầu được xem như là một trang phục không thể thiếu đối với người phụ nữ và đã đi vào văn chương: “Miệng cười như thể hoa ngâu/Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”.

Khi những người miền Trung đi mở đất phương Nam, họ mang theo cái khăn vấn đầu của lề thói cha ông vào vùng đất mới. Cái khăn vấn đầu che “củ tỏi” của đàn ông tồn tại cho đến những thập niên đầu của thế kỷ trước. Sau đó, nó được đơn giản lại chỉ còn chiếc khăn vấn trên đầu mà không che “củ tỏi”. Còn phụ nữ thì dùng khăn vuông rộng bản có thể che kín cái đầu và khuôn mặt chỉ hở đôi mắt khi làm đồng áng hoặc vắt ngang vai. Có lẽ khí hậu phương Nam nắng mưa hai mùa oi bức, vấn khăn đơn giản là điều sáng tạo. Cái búi tóc của nam giới trong miền Nam vẫn còn tồn tại ở một số ít người cho đến cuối thập niên 1960, mặc dù từ hơn nửa thế kỷ trước, khi phong trào Duy Tân của cụ Phan Châu Trinh vận động ở miền Trung kêu gọi đàn ông Việt Nam nên cắt tóc ngắn, cắt móng tay, miền Bắc hưởng ứng bỏ tục nhuộm răng đen, ăn trầu sống theo lối văn minh của người châu Âu. Thế mới biết, để thay đổi một lề thói sinh hoạt của cha ông không dễ dàng gì.

Trong tác phẩm “Tuấn, chàng trai nước Việt” của nhà văn Nguyễn Vỹ kể lại nhân vật Tuấn, một thư sinh biểu hiện sự cách tân, đổi mới trước nhất là bản thân cúp tóc (cắt tóc) húi cua để được học ở một trường Tây theo yêu cầu của nhà trường. Khi hay tin đứa con trai mình cúp tóc, cả cha mẹ khóc oà lên la oán: “Ông cha đập bàn đập ghế, la hét om sòm: “Con có cha như cái đầu có tóc. Theo phong tục nước An Nam ta, con phải để tóc, ấy là để thờ cha mẹ, ấy là có hiếu. Cắt tóc đi cũng như là từ bỏ cha mẹ. Tao theo sách thánh hiền dạy lễ giáo từ xưa tới nay của nước An Nam như thế. Tao đây đã 50 tuổi, ông nội bà nội mầy đã quá vãng rồi, mà tao còn búi tóc để giữ đạo làm con cho trọn chữ hiếu. Huống chi ngày nay tao còn sống mà mầy lại cắt cái búi tóc bỏ đi sao được! Mầy mà nghe lời người ta cắt bỏ cái búi tóc, thì là tao nhảy xuống giếng tao tự tử. Chiều nay vô trường thưa với quan Ðốc học như thế”.

Mặc dù bối cảnh xã hội của nhân vật sống trong nền văn minh làng xã phong kiến nhưng tác phẩm này ra đời vào năm 1969 và tóc của nhà văn khi ấy được cắt tỉa gọn gàng. Phải chăng đây là hồi ức của chính tác giả mượn hình ảnh nhân vật Tuấn thay mình? Mái tóc dù của nam hay nữ dưới mắt Nho giáo luôn được xem như một phần thân thể của mình do cha mẹ, ông bà tạo ra. Nhưng quy luật phát triển xã hội thay đổi không ngừng, cái đẹp thì giữ cái không còn hợp thời thì nên bỏ. Cha mẹ Tuấn đành theo thời đại nhưng phải dâng cúng lễ trình thưa: “Trên bàn thờ ông bà, có bày một hộp trầu cau, một nải chuối chín và một con gà luộc. Một mâm gỗ lớn đựng mười chén cháo, và mười đôi đũa, đặt trên bộ ván kê trước bàn thờ. Ông Xã thắp đèn hương, đứng khấn vái hồi lâu. Khấn xong ông lạy ba lạy, đến lượt mình, trong chiếc áo dài, khăn đen với cái búi tóc trên đầu, anh cũng lạy ba lạy. Anh gỡ cái khăn trên đầu ra, cung kính đặt nó trên một chiếc khay bên cạnh mâm cháo gà, vái thêm vái nữa rồi mới ngồi xuống ghế. Búi tóc được xổ ra. Một lọn tóc đen mướt chảy lòng thòng xuống đến nửa lưng. Mỗi mớ tóc xác xơ rơi xuống đất là một chút dĩ vãng đang rơi khỏi đầu óc của chàng trai nước Việt đương buổi giao thời”.
Xem thêm: Nhớ... từ một lần coi phim

Cùng trong thời gian “Tuấn, chàng trai nước Việt” ra đời, tôi còn là một đứa trẻ học lớp Tư, bắt đầu hiểu biết đôi chút chuyện làng trên xóm dưới. Trong khu xóm của tôi vẫn có số ít ông lão đầu tóc bạc phơ còn đeo “củ tỏi” sau gáy.

Tôi nhớ chú Năm của thằng bạn trong xóm. Gia đình cha mẹ nó từ Bến Tre lên Sài Gòn sinh sống từ chục năm trước. Thỉnh thoảng chú Năm nó khăn gói lên Sài Gòn mang theo một giỏ đệm ốc bươu lên tặng ông anh Hai. Chú Năm lúc đó không phải tuổi trung niên, tóc còn đen nhưng búi một “củ hành” sau gáy. Một hôm, tôi qua nhà bạn ăn ốc bươu hấp sả, trong lúc ăn uống tôi nghe ba thằng Dũng nói: “Sao chú không cắt cái búi đi cho gọn mà cứ búi như tóc đàn bà?”. Chú Năm trả lời: “Ông bà mình từ nào giờ để vậy, thì mình để vậy có sao đâu. Hơn nữa tôi là dân làm ruộng, có sống ở thị thành đâu mà quan tâm lời dị nghị của thiên hạ”.

Chuyện để búi tóc tôi từng nghe mấy người lớn tuổi trong xóm kể là theo truyền thống ông bà. Thoạt đầu tôi nghĩ chú Năm là người theo đạo Hoà Hảo. Những người tu đạo này thường vận quần áo bà ba trắng, chân mang guốc mộc, đầu để búi tó sau gáy. Nhưng hôm đó mới biết không phải theo đạo Hoà Hảo người ta mới để tóc dài búi tó “củ hành”.

Má tôi cũng vậy, tóc búi tó như bao phụ nữ có tuổi khác dù đang sinh sống ở thị thành. Ðây là một kiểu thời trang của hầu hết phụ nữ thời đó chứ không phải theo truyền thống của ông bà ngày trước. Những phụ nữ đứng tuổi, sinh đẻ nhiều, nguồn nước sinh hoạt hằng ngày không tốt dễ làm rụng tóc nên má tôi hay những người tóc ít đều phải dùng một lọn tóc mượn cặp thêm để búi tóc lên trông nó dày dặn, thẩm mỹ hơn. Búi tóc xong, má lấy cái túi lưới đen thưa trùm lên và gút lại cho khỏi bị bung ra khi làm việc. Nhiều khi ta vẫn thường nghe câu nói cửa miệng của mấy bà làm việc vất vả, than: “mần muốn sứt cái đầu tóc mượn” luôn.

Tóc mượn là tóc thiệt đàng hoàng không phải tóc của người chết. Nhiều chợ lớn ở Sài Gòn có sạp chuyên bán tóc mượn bảo đảm “tóc thiệt”. Tóc mượn chưa thành lọn còn gọi là “tóc rối”. Thỉnh thoảng mấy người mua bán ve chai đi ngang qua nhà tôi cất giọng rao “Có ai bán tóc rối không?”. Tóc trên đầu không còn là điều thiêng liêng như quan niệm của Khổng giáo hồi xưa nữa. Có người vì nghèo túng còn đi bán tóc của chính mình. Tóc mượn thường là tóc của mình rụng ra hằng ngày, nhặt nhạnh, vuốt lại cất vào cái hộp để chục năm sau đem ra bó lại thành lọn tóc nhỏ để dùng. Có khi là tóc xin của người khác, dài quá cắt ngắn đi. Không biết má tôi có lọn tóc mượn hồi nào nhưng khi còn bé tôi đã biết đến nó. Mỗi tối trước khi đi ngủ má tôi lấy lọn tóc mượn ra, thoa chút dầu dừa lên rồi lấy lược chải cho đến khi bóng mượt, xong rồi mới đem cất vào hộp sắt tây đặt bên đầu giường như một vật bất ly thân.

Ngày nay, phụ nữ lớn tuổi búi tóc kẹp theo tóc mượn quả là hiếm hoi. Còn đàn ông dù sống ở vùng nông thôn quê mùa chắc cũng không còn để búi tóc “củ tỏi” nữa. Tôi mượn một truyện ngắn Tóc mượn 100 chữ của tác giả Minh Tâm đăng trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 324 vào cuối thế kỷ 20 khơi lại ký ức của các bà các mẹ để kết thúc câu chuyện búi tóc ngày xưa.

“Thuở trước mỗi khi bới đầu bà thường dùng một lọn tóc nhỏ thêm vào búi tóc. Bà bảo đó là “tóc mượn”. Tôi hỏi: -Mượn của ai? Bà cười. Bà bệnh nhiều không bới tóc nữa, thỉnh thoảng bà thoa dầu dừa tay run run chải lọn tóc mượn. Tôi hỏi: -Bà chải tóc làm gì? –Ðể dành cho mẹ con.

Bà mất, mẹ không bới đầu, lọn tóc mượn không ai nhớ tới. Một lần dọn dẹp chợt thấy lọn tóc, mẹ dửng dưng: -Ngoại mầy thiệt…

Tôi thấy nhớ bà, thương bàn tay run run chải tóc.”.

Trang Nguyên - Trẻ Magazine
UserPostedImage
Hạ Vi  
#2124 Posted : Monday, January 10, 2022 12:52:54 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


UserPostedImage

Một Chút Mưa Thơm

Mưa thân ái trên tay
Tay mỏi rời trong tóc
Tóc nhớ ai mọc dài
Mắt nhớ ai muốn khóc

Tay của em
tóc của em, và
mắt của em
Của mưa của mưa,


của mưa
Tay em tay mưa
tóc em tóc mưa
mắt em mắt mưa ...



mường mán



UserPostedImage
CỏThơm  
#2125 Posted : Monday, February 14, 2022 1:11:45 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 195
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Gió Đưa Trong Tục Ngữ, Ca Dao


"Ngày xưa, xã hội Việt Nam đã trải qua những năm tháng dài dưới chế độ phong kiến. Từ đó, mọi sinh hoạt trong đời sống đều bị lệ thuộc vào những ràng buộc của phong tục tập quán thời bấy giờ, cũng như thân phận con người nói chung, người phụ nữ nói riêng, cũng không thoát ra khỏi những lễ nghi, những nề nếp giáo dục của xã hội mà Việt Nam nằm sát bên nước Tàu và bị Bắc thuộc hơn một ngàn năm, nên tổ tiên chúng ta bị ảnh hưởng nền văn hóa của Tàu, đó là lẽ tất nhiên, không tránh khỏi.

Qua những sách vở còn ghi chép lại ràng ràng về phong tục tập quán Việt Nam như quyển Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính, trước kia; Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam của Sơn Nam, sau này; và còn nhiều tài liệu sách vở về nền văn hóa Việt Nam xưa, đều khẳng định tổ tiên chúng ta dựa vào sách Chu Lễ tức là lễ nghi đời nhà Châu, qui định đến 300 điều " lễ lớn " và thêm 3.000 điều " nghi tiết nhỏ". Mặc dù vậy, ngay cả trung Hoa còn chưa thi hành hết những điều lễ nghi này, huống hồ gì nước mình, bởi lẽ có nhiều điều không phù hợp về nhiều phương diện như nguồn gốc dân tộc, phong thổ, khí hậu, địa lý vân vân ... Trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trải có viết rất minh bạch về điều này : "Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam đã khác." (Bắc là chỉ nước Tàu).

Với cái nhìn tổng quát như vậy, cho phép chúng ta hiểu được phần nào thân phận người phụ nữ Việt Nam ngày xưa, một thân phận thả trôi theo dòng đời, theo số mạng, theo duyên nợ tiền định ... Một thân phận đã được an bài sẵn, người phụ nữ Việt Nam chỉ còn biết chấp nhận, cam phận mà chấp nhận , mà nhất là những phụ nữ sống ở thôn quê với đời sống ruộng đồng còn hẩm hiu bội phần !

Thể hiện rõ rệt nhất sự cam chịu để dòng đời đẩy đưa này, trong kho tàng văn chương bình dân, một kho tàng văn học được xuất xứ từ nông thôn, trong giới bình dân, dường như được truyền khẩu dưới những câu tục ngữ, ca dao không phải là hiếm hoi gì .

Trước nhất, cái quan niệm "nam trọng nữ khinh" hoặc "con gái ở nhà ngoài", rồi "tam tòng" nghĩa là "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" ... tất tất, cho thấy người phụ nữ Việt Nam không cách nào thoát ra khỏi cái vòng cương tỏa buộc ràng đó. Chẳng khác nào bị xô đẩy vào, bắt buộc trôi dạt vào bởi những ngọn gió do tạo hóa tạo ra như những cây chổi của Trời đùa đi, mà không ai có thể phản ứng gì:

"Gió thổi là chổi trời."


Nên họ phải tùy duyên để mà định phận với từng cảnh đời, tùy trường hợp để mà sống , vì

" Phận gái có hai bến sông,
Bến đục thì chịu, bến trong thì nhờ . "


Và phải biết mình đang ở đâu, ngồi chỗ nào như :

" Gió nam đưa xuân sang hè ."


Chứ không thể ngồi đó mà mơ hoa mai vàng của mùa xuân lúc nào cũng rực trời trong lúc hè sang với những chùm hoa phượng đỏ ối ở góc sân trường ...

Thông thường, tục ngữ ca dao là mượn cảnh vật để biểu lộ cảm xúc, cũng như nỗi lòng với những đắng cay, vui buồn, yêu thương, hờn giận, trách móc . Có biết bao trường hợp trong ca dao đã nhờ cảnh vật để chuyên chở những điều muốn nói bằng những lời nói bình dị mà thâm thúy . Nói như nói vậy nhưng cần hiểu theo mỗi cảnh đời, chứ không thuần nhất, nhưng cũng chẳng xa rời với mỗi một thực tế của cuộc sống đời thường mặc dù có khác nhau nhiều về những nét riêng tư. Đặc biệt, dường như " gió đưa " là một thực tế của trời đất, sự chuyển dịch của không khí được dùng trong ca dao cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng thật linh động mà vẫn dễ nhận ra ẩn dụ . Chẳng hạn :

" Gió đưa ông đội vào kinh,
Bà đội thương tình cắp nón chạy theo . "

Ở đây là một thực tế với sự gặp gỡ giữa hai người xa lạ rồi hợp nhau qua ánh mắt, qua giọng nói, qua tấm lòng rồi người con gái quê trở thành vợ một " ông đội " như một xui khiến, một duyên nợ tự kiếp nào .

Chúng ta còn bắt gặp rải rác những " gió đưa " như vậy trong ca dao như :

" Gió đưa tờ giấy lên mây,
Gió đưa cô tú vào đây ăn trầu . "

Hoặc :

" Gió đưa tờ giấy lên mây,
Gió đưa cô ấy lại đây ăn trầu .
Yêu nhau thì ném bã trầu,
Chớ ném gạch, đá vỡ đầu nhau ra . "


Cả hai chùm ca dao trên đã ví von sự gặp gỡ như đã hẹn hò, đã ước nguyện từ kiếp nào rồi . Nên dẫu có thế nào, cũng nên nhường nhịn, nhỏ to để còn ăn đời ở kiếp với nhau, bởi tất cả đều là nợ duyên, là " gió đưa " , không rời nhau được .

Đến những chỗ khác, chúng ta cũng thấy vì nghèo hèn so với sự sung túc của chàng trai, nên không môn đăng hộ đối, người con gái nghĩ càng tủi hổ cho thân mình nên đành chấp nhận sự hẩm hiu đến mức độ nhiều lúc phải hy sinh cả danh dự của riêng mình, để cho chàng trai được tròn " danh thơm " , có được vợ giàu sang, môn đăng hộ đối với đời :

" Gió đưa buồm hạnh rảnh rang,
Tiếng nhơ thiếp chịu, để chàng danh thơm . "

Quả thật, người phụ nữ nhà quê ít học ấy, sao mà cao thượng đến như vậy ! Thật đáng để làm gương cho đời .

Trong lúc mới quen nhưng lại đã thầm yêu nhớ trộm , anh chàng đã liều lĩnh, táo bạo cũng do bởi những đưa đẩy như " gió đưa cành mận, gió lận cành đào " ngoài thiên nhiên với nghĩa đen thật hiển hiện, cùng nghĩa bóng như một gặp gỡ tiền định : nào "đào", nào "mận" để cho chàng vừa chìm vào cái thơm của hoa " mận " hay cái kiều diễm của hoa "đào" như mấy câu ca dao dưới đây :

" Gió đưa cành mận, gió lận cành đào,
Vì em, anh phải ra vào tối tăm .
Tối tăm, thì mặc tối tăm,
Chờ cho bác mẹ đi nằm sẽ hay . "


và rồi :

" Thoạt vào anh nắm cổ tay, "


nhưng anh chàng đã biết lo lắng cho sự đánh liều của mình :

" Xin em đừng hô hoán việc này nên to . "

Trong mỗi duyên phận, mỗi người như mỗi chiếc lá giữa dòng đời, mỗi thổ sản của mỗi vùng đất . Tùy theo dòng đời bằng phẳng hay phong ba, mỗi vùng đất chua phèn hay nước ngọt mà có những phước duyên hay những bạc bẽo cho từng hoàn cảnh :

" Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về bưng ăn cá, về đồng ăn cua . "

Theo sách Phong Tục Miền Nam Qua Ca Dao của ông Đoàn Văn Hội có dẫn chứng và qua những chữ dùng, cho chúng ta biết được câu ca dao này xuất xứ ở miền Nam . Do đó, ở " rẫy " thì được ăn " còng " vì như chúng ta biết những miếng đất thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long được gọi là đất rẫy phần lớn là đất bãi mới bồi, đất cồn dọc theo các dòng sông cái . Ở đó người ta thường trồng sậy, lau lách, cây bần dưới mé bãi . . . là những loại cây vừa có nhiều rễ phụ để giữ đất phù sa, vừa che bớt gió dông và cũng là những chỗ trú ngụ rất lý tưởng cho loài còng, gần giống như con cua lửa ở đồng, con ba khía ở biển, bò rất lẹ, mỗi lần kẹp thường hay bỏ càn lại . Những hang còng dọc theo mé rẫy dày đặt . Ở trong " bưng " nghĩa là trong chỗ còn hoang dã chưa khai mở, cỏ lác, lung vũng nhiều vô số kể, thì ăn ' cá ", vì ở đây cá sanh đẻ lưu lai, không thể nào bắt hết cá . Ở " đồng " ăn " cua " như một điều hiển nhiên, vì cua thường ở nhiều nhất trên ruộng, trên đồng .


UserPostedImage



Suy cho cùng, nghĩa bóng hai câu ca dao này chẳng khác nào số phận người con gái gặp phải duyên nợ nào được tấm chồng nấy, có thể gánh lấy những rủi may, những xấu tốt, những khổ sở, những hạnh phúc như một sự sắp đặt, an bài sẵn rồi .

Câu ca dao trên đây, có nơi còn viết khác đi đôi chút, nhưng cũng mang cùng ý
nghĩa :

" Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về giồng ăn dưa . "

Vì dưới sông lúc nào cũng nhiều cá như câu ca dao quen thuộc miệt sông Hậu Giang, với cù lao Ông Chưởng thuộc vùng Chợ Mới, Long Xuyên :

" Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm . "


hoặc có nơi còn viết :

" Ba phen quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng còn nhiều cá tôm . "


Và những tỉnh thuộc vùng hạ lưu của sông Cửu long, người nông dân thường trồng dưa rất nhiều trên những đất giồng tức là những giồng đất cao ráo, không bị ngập nước vào mùa nước lụt từ tháng bảy đến tháng mười âm lịch .

Trong tình chồng nghĩa vợ cũng không ra khỏi cái thói thường đưa đẩy :

" Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ . "

Có lẽ, nhiều người mỗi lần nghe đọc hai câu ca dao này, đều cho rằng người thiếu phụ bị chồng phụ bạc , ngồi một mình ruột héo gan sầu, chỉ còn biết nhìn cây cối, cảnh vật gần gũi chung quanh như " bụi chuối sau hè " trước ngọn " gió đưa " mà than trách, giải bày chút lòng xót xa của mình .

Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận ra một thực tế mà người thi sĩ bình dân muốn gửi gắm với hình ảnh " bụi chuối sau hè " đong đưa trước gió . Đó là thói đời với bao biến đổi của lòng dạ con người cùng số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến . Họ luôn luôn nhận lấy cho mình những thua thiệt, không có một chọn lựa nào khác hơn là chấp nhận điều mà họ không mơ ước bao giờ .

Trong vườn, có lẽ loài chuối là loại cây tầm thường, trồng chỗ nào cũng được . Chuối có thể trồng ở ngoài bờ, ngoài bụi, ở góc chái, góc hè, không được nâng niu, chăm sóc như các loài hoa quí để làm kiểng như mai, lan, cúc, thược dược hoặc cùng lắm như các loài hoa ở nơi thôn dã thường trồng như bông trang, bông điệp, bông vạn thọ . . . Sánh với thân phận người phụ nữ cũng tương tự, nghĩa là lúc còn trẻ đẹp kẻ đón người đưa, chồng yêu, chồng kính được coi như hoa quí, hoa hiếm, hoa thơm . Khi có một " bè con thơ " rồi cùng với bao cơ cực, chịu đựng, nhan sắc phai tàn, nắng mưa dầu giãi, bị chồng hất hủi, xem thường, bỏ bê, phụ bạc, người thiếu phụ trong trường hợp này chẳng khác nào đang ở vị trí một loài hoa bị đẩy xuống thân phận của những " bụi chuối " tầm thường, chỉ được trồng ở " sau hè ", sau chái , ngoài bờ, ngoài bụi .

Còn đâu nữa của thời kỳ mới yêu nhau lấy trăng hẹn ước thề nguyền, không muốn rời nhau :

" Gió vàng hiu hắt đêm thanh,
Đường xa dặm vắng xin anh đừng về .
Mảnh trăng đã trót lời thề,
Làm chi để gánh nặng nề riêng ai ! "

Hoặc tình tứ như người con gái quê mang nặng khối tình vừa chớm nụ qua mấy vần điệu sau đây :

" Anh về Giồng Dứa qua truông,
Gió lay bông sậy để buồn cho em."


Thật là thơ mộng mà cũng thật là dạt dào, lãng mạn . Gió làm " lay bông sậy " mà cô nàng đã miên man tơ tưởng với cõi lòng vương vương nỗi nhớ, mang mang nỗi buồn ...

Cái thuở mà :

" Thương nhau cởi áo cho nhau,
Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay . "

Để mẹ biết được, hỏi dồn :

" Gió bay cầu thấp cầu cao,
Gió bay cầu nào con chỉ mẹ coi . "

Và đứa con còn viện lẽ này lý nọ :

" Tại mẹ may áo rộng tay,
Con quen gió mát, gió bay mất rồi . "

Có lẽ đã hết rồi cái thời kỳ thơ mộng, gấm hoa với bao năm tháng mật ngọt trong yêu thương của tình chồng nghĩa vợ rồi chăng ! ? Bây giờ chỉ còn lại một hiện tại " anh mê vợ bé " để cho người thiếu phụ bạc phận vò võ một mình phải lo nuôi dưỡng " một bè con thơ " , mà người chồng nhẫn tâm có thấu hiểu cho vợ nhà không ! ?

Ở một nơi khác, " gió đưa " còn là một cơ hội để cho thấy rõ lòng dạ của những đôi uyên ương khi sống chung nhau không trọn đạo vợ chồng, khi chia tay còn để vương bao phiền lụy . Hoặc đôi bạn thân không vẹn chữ bằng hữu, mà phản phúc nhau, gây bao tiếng oán tiếng than cho người ngay, người nghĩa lúc chia xa :

" Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay . "

Chẳng khác nào hai loài " cải " và " rau răm " cùng loài là rau , cùng được trồng chung một vườn . Thế nhưng, các giống cải được trồng đến đúng ngày tháng hạn kỳ, tất cả được nhổ lên làm dưa, nấu canh, ăn sống hoặc đem ra chợ bán . . .Rồi đến mùa khác được trồng lại lớp khác như cổi lốt về trời vì có một loài cải được gọi là " cải trời " . Cải trời là môt loại cải mọc trong vườn hoặc theo mấy liếp cà, liếp hành, liếp rau thơm vào mùa nước vừa mới giựt, tháng mười . Dân quê có thể hái về ăn sống với cá lóc nướng trui cùng với những loại rau khác ở thôn quê như rau đắng, rau má, lá xoài non, lá lụa ... hoặc nấu canh với cá trê vàng rất ngon, không thua gì bông so đủa, cải ngọt, cải bẹ xanh . Còn "rau răm " trồng một lần cứ để vậy ăn hoài . " Rau răm " lại có vị cay cay . Dựa vào những tính chất đó, các tác giả vô danh của ca dao tục ngữ đã cho chúng ta một bài học thực tế đầy ý nghĩa trong cuộc sống đời thường về những phản phúc, những tai tiếng không tốt đẹp về những người gần gũi của mình, mà tục ngữ đã có câu :

" Lươn bò để tanh cho rỗ . "

Ở phương diện khác, " gió đưa " còn mang một ý nghĩa gợi nhớ của người con hiếu thảo phải xa cha mẹ già, một tấm gương cho những ai ít để ý săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già thường hay yếu đau, bịnh tật:

" Gió đưa cây Cửu lý hương,
Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn .
Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,
Đã bưng lấy bát, lại dằn lấy mâm . "

Đến " Gió đưa cành trúc là đà " mà ông Thái Văn Kiểm, trong quyển Việt Nam Gấm Hoa, đã giải thích câu ca dao sau đây, trước nhất là tả cảnh đẹp ở một vùng nơi cố đô vào buổi hừng đông và sau đó mang dấu ấn lịch sử về cuộc nam tiến của tiền nhân :

" Gió đưa cành trúc là đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ xương .

Để chứng minh cho lời giải thích này, ông còn đưa ra hai câu ca dao sau đây, khi cuộc nam tiến đã đến được vùng đất mới ở phương Nam :

" Gió đưa tàu chuối là đà,
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm . "

Dù sao, đây cũng là cách giải thích của người am tường thế cuộc, có lý riêng của nó . Chúng ta có thể có những hiểu biết về hai câu ca dao này theo cách khác, miễn sao phù hợp với ý nghĩa mà nó chuyên chở .

Chẳng hạn, chúng ta có thể cảm nhận đây là hai câu nhằm tả cảnh sáng sớm ở Huế với tiếng chuông chùa Thiên Mụ công phu ngân vang cùng tiếng gà gáy của làng Thọ Xương báo thức lúc hừng đông . Với nghĩa đen này thật rõ ràng, minh bạch .

Nhưng phần ẩn dụ có lẽ là tâm trạng của một vị công thần nào đây bị thất sũng, tự ví đời mình như trúc, một loài cây được dùng để ám chỉ những hạng người quân tử , trượng phu, mà nay phải " là đà " trước gió, rồi miên man tơ tưởng , nhớ về cố đô hay nhớ lại vương triều mà mình đã bao năm đem tài hèn sức mọn ra phò tá, rồi chẳng đặng gì . " Gió "vốn dĩ là chuyển vận của đất trời, là sức mạnh, là tượng trưng cho quyền bính triều đình chăng ?


UserPostedImage


Hoặc tình tứ hơn, chúng ta có thể nghĩ đây là trường hợp chàng trai hay cô gái nào không trọn chữ yêu rồi chia tay, để thương để nhớ cho nhau, đêm đêm trằn trọc suốt năm canh dài, nghe văng vẳng tiếng chuông Thiên Mụ, tiếng gà làng Thọ Xương như nghe tiếng vọng của người thương trôi đi trong gió, vang động đến nơi khuê phòng . . .mà nhớ về những lần gặp gỡ, hẹn hò ngày nào ..

Từ " cành trúc " đến " tàu chuối " đủ cho chúng ta thấy một nét đặc thù của những cư dân từ hai vùng đất dù cùng chung cội nguồn . Mỗi hoàn cảnh sinh ra mỗi hạng người . Nơi cố đô thì quân tử , công thần . Chốn thôn trang miền Nam thì dân dã tầm thường trong câu ca dao sau :

" Gió đưa tàu chuối là đà,
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm . "

Mỗi lần đọc câu ca dao này, rồi liên tưởng đến câu ca dao trên, khế hợp với hoàn cảnh lịch sử nước nhà, thấy như đâu đây hình ảnh của chúa Nguyễn với những năm tháng lưu lạc về phương Nam thời kỳ Tây Sơn chăng ?

Hoặc bình dân hơn, câu ca dao này chuyên chở những cõi lòng của đôi trai gái trong thôn xóm miền Nam , vùng Bến Nghé, Gia Định, Nhà Bè, yêu nhau mà không gần nhau được , nhưng đêm đêm vẫn cùng nghe " tàu chuối " lao xao, nghe tiếng chuông chùa Xá Lợi, tiếng gà Thủ Thiêm như mãi hoài nhớ tưởng đến những lời tình tự như mật ngọt .

Đại khái là vậy, mỗi người có những cảm nhận khác nhau, nhưng tựu trung, ca dao là một hình thái văn chương bình dân nhưng rất thực tế, phù hợp với từng trường hợp riêng tư của mỗi hoàn cảnh, mỗi vùng đất , giống như :

" Gió bên Đông, động bên Tây,
Tuy rằng nói đấy, nhưng đây biết rồi . "

Trong kho tàng văn chương bình dân truyền khẩu, " gió " còn được dùng rất nhiều trong ca dao, tục ngữ, mặc dù cố gắng thế nào cũng không làm sao góp nhặt cho hết được . Và điều cũng phải nói thật thà là chúng ta không làm sao hiểu hết được những ý tứ, những ví von, những ẩn dụ mà các thi sĩ bình dân đã gửi gắm qua những vần điệu ca dao, những câu tục ngữ thật bình dị với những hình ảnh, những nghĩa đen thật rõ ràng nhưng nghĩa bóng thâm trầm, sâu sắc . Ở đó tiềm tàng những bài học, những tấm gương cho hậu thế, mà không phải lúc nào chúng ta cũng dễ nhận ra . Nào là lòng hiếu thảo, nào là những hẹn hò , nào là tình bằng hữu cư xử không tròn, nào là thói đời, thế sự thăng trầm, nào là thân phận hẩm hiu của những kiếp người . . .

Chỉ riêng mỗi một khía cạnh nhỏ như từ ngữ "gió đưa " trong tục ngữ ca dao cũng đã là một cách diễn đạt về một tập quán, một phong tục, một nền giáo dục thời phong kiến của một xã hội như xã hội của tổ tiên chúng ta, mà người phụ nữ trong đó được nói đến như bọt bèo, như chiếc lá bị bay đi theo gió, như những phụ thuộc vào tiền định mà không được chọn lựa, được quyết định cho đời sống của mình . Tất cả đều bị " gió đẩy gió đưa " như một định mệnh, một dòng nước trôi xuôi nhưng không phải không gặp những thác , những ghềnh .

Bây giờ , cả thế giới đang ở vào những năm tháng cuối của thế kỷ hai mươi, chuẩn bị bắt đầu một thế kỷ mới, thế nhưng người phụ nữ Việt Nam ở những vùng thôn dã quê mùa vẫn còn bị ràng buộc bởi những lễ nghi, phong tục, tập quán có tự ngàn xưa . Chẳng hạn , họ còn bị ép duyên, ép nợ trong việc cưới hỏi hoặc mỗi khi ra đường họ không dám đi song đôi với chồng , mà vẫn còn phải luôn luôn đi phía sau người chồng như biểu lộ sự phụ thuộc suốt đời . Họ vẫn còn bị những " gió đưa gió đẩy " như thân phận hẩm hiu của họ nơi chốn ruộng đồng với heo, bò, gà, vịt, với quần vo áo vận, với đầu tắt mặt tối , lam lũ suốt ngày, với " một bè con thơ ", với nghèo túng, thiếu thốn đủ điều . Cuộc đời họ luôn luôn gắn liền với một thực tế của làng quê như vậy cùng những khuôn thước, những lời khen chê, những dư luận khắt khe của chòm xóm chung quanh buộc chặt.

Biết đến bao giờ những người phụ nữ Việt Nam ở thôn quê mới thoát ra khỏi cảnh " gió đưa " trong biết bao câu tục ngữ, ca dao luôn ở cửa miệng mọi người !!



Lương Thư Trung

Tranh vẽ Vũ Cao Đàm





UserPostedImage
phamlang  
#2126 Posted : Saturday, May 14, 2022 12:45:35 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,546

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
GẮN, GÙA VÀ GỤ

UserPostedImage

Trong Xóm Cầu Mới, Siêu với Mùi một hôm có dịp ghé vào chợ Keo, ngồi nghỉ chân một lúc, ăn vài món quà, rồi ra đi. Nhưng đối với Siêu, đó là một kỷ niệm tuyệt vời trong mối tình của chàng: “Siêu vừa nhận thấy trong đời chàng, chàng sẽ không bao giờ quên cái lúc ngồi với Mùi ở quán hàng trong cái chợ hẻo lánh này”, “Siêu cảm thấy trước cái buồn của lòng chàng một hôm nào, mười năm sau chàng lại sẽ đến cái chợ này một mình, để có lại được cái tâm hồn chàng hiện nay và để buồn rầu một cách êm ái nhớ lại một hôm đã xa xôi ở đúng chỗ này lòng chàng đã rung động vì yêu Mùi.”

Người đọc thầm nghĩ: Đối với Siêu thì chuyện đó cũng được đi. Được tất: bờ sông, chân núi, góc vườn, lều chợ v.v… chỗ nào cũng có thể đẹp, cũng đáng nhớ tới “mười năm sau”, miễn chỗ ấy có Mùi và có chàng. Nhưng đối với Nhất Linh thì lạ chứ: Bộ trên đời hết cảnh thơ mộng rồi sao mà lấy một khu chợ làm khung cảnh ái tình?

Siêu tình cờ gặp chợ Keo trên đường về làng; chứ Nhất Linh không tình cờ mà chọn. Ông quả yêu thích cái cảnh “bà cụ bán hàng có cái yếm đỏ thắm, cây đa với những cái lều chợ xơ xác, và tiếng ồn ào lẫn với mùi bèo, mùi mắm tôm, mùi bánh đa, khoai nướng thoang thoảng trong gió và trong nắng, với tiếng một con chim chích chòe vừa hót đâu đây.”

Vả lại ai bảo cảnh chợ không thi vị? Đoàn Văn Cừ đã không làm thơ về cảnh chợ và trở thành nổi tiếng đó sao?
Như thế, có một điều chắc chắn: là đã có những kẻ sĩ yêu chợ. Và tôi có thể ba hoa dăm ba điều về chợ búa mà không ngại bị chê cười là phàm phu tục tử.

oOo

Nhân bắt gặp Nhất Linh và Đoàn Văn Cừ tại chợ, chúng ta nhận thấy họ còn gặp nhau ở mấy điểm nữa. Trong cái “Chợ tết” của nhà thơ có:
“Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.”


“Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.”

lại có

“Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.”

Thì ra ở chợ Keo kia cũng như ở chợ tết này đều có chiếc yếm thắm, có bà cụ lão, và có cây đa. (Vào thời Đoàn Văn Cừ thì cô gái mặc yếm, thời Nhất Linh sau này chiếc yếm thắm được trao lại cho bà lão: chút khác biệt ấy cũng là tự nhiên.) Hình như đối với hai vị văn thi sĩ tiền bối chính những cái đó làm cho cảnh chợ đáng yêu: những cái nghèo nàn mà quen thuộc, những hình ảnh gợi lại nếp sống cổ truyền ở đồng quê miền Bắc.
Những kẻ sĩ yêu chợ và những cặp tình nhân yêu quà, ghé vào các ngôi chợ ở trong Nam bây giờ không gặp cây đa và yếm thắm nữa. Hình ảnh quen thuộc nhất có lẽ là cái nhà lồng giữa chợ, nơi xông lên mùi thịt nướng thơm không chịu nổi. Và thịt nướng không hay đi vào thơ.

Nhưng điều tôi lấy làm thích thú trong cái sự dạo chợ đó đây không phải là ở chỗ tìm lại một nếp sống cũ thân yêu, mà là ở cái chỗ được luôn luôn ngạc nhiên trước những dị biệt phong phú.
Một người từ các miền ngoài vào Nam thoạt tiên không thể không hoảng hồn trước cảnh tượng của loại chợ chuyên biệt như chợ cá, chợ rau, chợ trái v.v… ở Sài Gòn. Trời đất! rau trái cá tôm ở đâu mà như núi như non, bán buôn cái gì mà rầm rộ từ bốn năm giờ sáng.
Cái lớn lao qui mô thì đã đành thủ đô là nhất: những Trần Quốc Toản, Chánh Hưng, Cầu Ông Lãnh, Cầu Muối v.v… là nhất. Nhưng kẻ dạo chợ đâu có cao vọng tìm kiếm cái vĩ đại? Một chút gì ngộ nghĩnh, hay hay, cũng đủ rồi. Chẳng hạn ở cái chợ cá Vị Thanh, dọc theo bờ sông, khách trông thấy bày bán những con thịt trắng hếu, bằng nắm tay, bằng múi bông: “Cá gì vậy cà?” Khách lại gần xem cho kỹ: À! Thì ra chuột đó. Chuột đồng làm thịt sẵn, dàn bán la liệt.

Lại chẳng hạn, ở chợ Cà Mau, có những người bán hàng — một con bé, một cô gái — đặc biệt chăm sóc món hàng của mình. “Hàng” đem bán được đựng trong những cái thau bằng nhôm cũ kỹ, và người bán thì không ngớt sờ soạng vào trong thau, như vuốt ve mãi món hàng không nỡ rời tay. Gì mà âu yếm nâng niu quá đáng vậy? — Thưa, rắn đó.
Rắn hổ, rắn vi cá, rắn vi tượng v.v…, đem bán tại chợ có thứ đã bị đập nát đầu, nhưng có thứ bán sống. Rắn sống thì con nào con nấy bị may miệng bằng một sợi dây thép; hai đầu dây bị cắt cụt vểnh lên như hai sợi râu cá trê, hay như cái lưỡi rắn thè ra. Rắn sống lúc nhúc trong thau tất nhiên là tìm cách trườn thoát ra ngoài, vì vậy người bán hàng phải luôn luôn đặt một bàn tay vào đống rắn, luôn luôn rờ rẫm hết con nọ đến con kia: con nào trườn ra liền bị kéo vào kịp thời. Người bán rắn trông có vẻ âu yếm món hàng của mình hơn cả.

Ở Ban Mê Thuột, một buổi sáng đầu thu cách đây ba năm, một buổi sáng nắng đẹp, khí trời mát mẻ, tôi lăng quăng một hồi và có cảm tưởng rất lờ mờ về ranh giới thực sự của khu chợ. Trên lề đường, ở một góc phố cách chợ hàng trăm thước, một chú bé thượng du đứng thơ thẩn. Chú bé đứng như ngắm hàng hóa bày bán trong tiệm, như xem người qua kẻ lại: chú cũng có vẻ là du khách, nhưng coi lại thì chú ta có một con vượn lớn bằng chai la-ve: con vượn màu lông vàng óng, mõm đen, hai mắt nhắm khít lại, đang vòng tay ôm quanh cổ chú bé, hai chân sau ôm nách, dính vào ngực chú bé. Con vượn ấy, chú thách giá mười ngàn đồng: sự buôn bán đã bắt đầu từ một góc phố xa. Từ đó, người thượng dừng lại rải rác, hoặc với những gùi chứa bầu, bí, mướp, ớt, ổi…, hoặc với những chai mật ong. Các bạn hàng đặc biệt này không hề chiếm được thuê được các chỗ ngồi cố định trong lều chợ, không có sạp hàng: họ đi lơ ngơ, gặp ai hỏi mua đâu thì dừng lại đó. Cái “sinh hoạt chợ” lan rộng ra ngoài ranh giới chợ: nó thành ra là cái sinh hoạt của cả một khu phố.
Chợ lan rộng ra, mà thiên nhiên thì tràn lấn vào. Ở một góc đường có cái bót gác của nhân dân tự vệ: trên đống bao cát chất chồng cỏ mọc tùm lum, xanh tốt mơn mởn. Trong ánh nắng mai rực rỡ, bướm bay chờn vờn thật nhiều trên bót gác nọ. Bướm trắng bướm vàng, con nào con ấy to tướng, sung sướng nhởn nhơ từ đại lộ nọ sang đại lộ kia. Chúng quấn quít bên những người thượng quen thuộc, những con vượn, con sóc, con két quen thuộc vừa mới xuống chợ, chúng quấn quít trên những mớ ổi rừng mớ ớt rừng còn nguyên mùi hoang dại…

oOo

Chợ là thế giới của đàn bà và của cái ăn. Siêu có lý khi chàng ghé vào chợ để yêu Mùi và để ăn luôn mấy tô bún riêu.
Các món quà ở miền Bắc thường thường là đã cao niên cả, đã có một lịch sử lâu dài, đã phổ biến rộng rãi. Trong Nam, món ăn vặt thật là phong phú, thật là linh tinh, mà rất nhiều món chưa kịp tiến ra khỏi chỗ địa phương, cũng chưa kịp tiến đến hình thức cố định.
Vào các chợ miền Hậu Giang mà tìm bún riêu thì nhất định không có đã đành, thậm chí những phở, những bánh cuốn v.v… cũng không có nữa. Ngoại trừ vài chỗ “đô hội” như Cần Thơ ra, thì ở các nơi khác, chẳng những trong chợ không có mà khắp các phố cũng không hề có.
Ngược lại, món địa phương thì vô số kể: bún Kiên Giang của bà Ba tại chợ Rạch Giá, bún nước lèo ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, bún tằm bì Chương Thiện, hủ tiếu Mỹ Tho, cháo tấm giò heo với giá với gừng trên bến Ninh Kiều, hủ tiếu bò sa tế ở Cà Mau…

– Nói gì vậy? Những thứ đó đều có mặt ở Sài Gòn hết.
– Ở Sài Gòn thì có: hầu hết các món địa phương toàn quốc đều có về Sài Gòn trình diện. Như vậy không có nghĩa là “phổ biến rộng rãi.”

Chẳng hạn món mì Quảng có mặt ở Sài Gòn mà không ra đến Huế, không vào đến Qui Nhơn.
Vả lại, món ăn trong Nam tiếp tục biến đổi không ngờ. Hủ tiếu Mỹ Tho mà ăn tại Mỹ Tho, tại mấy cái quán dọc bờ sông, thì ăn với xà-lách, hoặc xà-lách-xoong (cresson), hoặc với giá, với cúc tần ô. Cũng món hủ tiếu ấy tại Sài Gòn thì nó đi với rau cần. Và cái sự phát giác ra thứ rau cần để kết hợp với hủ tiếu thật đã chứng tỏ cả một thiên tài: ngày ngày tại đường Tôn Thất Đạm, không biết bao nhiêu là giỏ rau cần tươi tốt đã “phục vụ” một cách vô cùng đắc lực, vì được dùng đúng cái khả năng sở trường của nó.
Còn nước dùng, có nơi cho luôn vào tô hủ tiếu, có nơi lại múc ra một chén riêng, như thể một món nhiệm ý, có cũng được không cũng xong, để tùy nghi sử dụng.

Lại như cái món bún nước lèo, bởi vì là một món ăn Việt gốc Miên cho nên còn phải trải qua nhiều chặng đường canh cải hơn. Tôi có dịp dự một bữa ăn với các vị sư sãi tại chùa Samrong Ek ở Trà Vinh, có món gỏi hoa đu đủ, có bún nước lèo… So chén bún hôm ấy với tô bún ngồi ăn ở chợ Sóc Trăng hương vị đã khác, cách trình bày cũng khác. Sang chợ Bạc Liêu, gặp thứ bún nước lèo bì (cái ý kiến cho bì vào tô bún nước không mấy sáng giá). Thế rồi lên đến Sài Gòn thì cái bún nước lèo nó canh tân quá trời: chẳng những thành phần tôm, thịt, cá… rải bên trên đã cải cách, mà thậm chí thứ nước dùng cũng ly khai chất mắm bò-hóc (Nó được thay thế bằng mắm cá sặc, và nghe đâu cả mắm… ruốc nữa!) Gió bụi kinh thành đã làm nó mất gốc đến thế đấy, các đồng bào gốc Miên ạ.

Phở Bắc, miến gà, bún thang, bún bò Huế, mì Tàu v.v… ở đâu cũng nấu như nhau. Chúng ta tiến đến những công thức gần như cố định, bất biến. Mỗi tiệm chỉ có thể có một vài bí quyết nho nhỏ, chứ không thêm bớt được gì vào “đại thể”: không thêm bì vào bún thang, không bớt được mùi ruốc và sả của bún bò v.v…
Đến như mì Tàu, lưu lạc sang xứ ta, nó vẫn giữ kỷ luật chặt chẽ. Ở Huế hay ở Sài Gòn, Cà Mau, gọi tô mì hoành thánh, chú Ba vẫn bưng đến một tô y hệt từ mùi vị đến cách thức trình bày; gọi tô mì vàng nhỏ sợi hai vắt, chú Ba làm xong vẫn bỏ lên một chiếc bánh tôm và xé rẹt rẹt một lá xà-lách…

Mì Tàu, phở Bắc v.v… so với các món trong Nam, một bên như thơ Đường như phú tám vế, một bên như thơ tự do, thơ phá thể. Từ địa phương này đến địa phương khác, từ chợ nọ sang chợ kia, bún nước lèo và hủ tiếu tha hồ biến cải: ai nấy được tự do sáng tạo trên các loại tác phẩm ấy. Đây là những món ăn còn đang tiến mạnh, những món ăn trẻ, nó chưa hoàn thiện, nó hãy còn khuyết điểm đấy nhưng mà sinh động, hướng về tương lai. Mười năm sau, tại chợ Keo, Siêu sẽ ăn một bát bún riêu y hệt như mười năm trước, chứ chúng ta sức mấy có thể ăn hai tô bún nước lèo giống nhau sau khoảng cách thời gian lâu dài đến thế.

oOo

Tuy nhiên, dẫu xa mười năm, tôi chắc không quên được một kỷ niệm về ăn uống ở Cà Mau dạo nọ. Hôm ấy đi quanh quẩn trong chợ một lúc, không tìm thấy chỗ nào bán rùa, bèn đứng lại, hỏi em bé bán rắn:
– Em có biết chỗ nào bán rùa?
– Muốn gắn có gắn, muốn gùa có gùa.
Quả nhiên. Em mở một cái bao nhà binh Mỹ vẫn dùng chứa cát xếp quanh lô-cốt: quả nhiên là có gùa. Độ vài chục con.
– Bao nhiêu một con, em?
– Mua làm chi một con? Mua ký đi ông. Ký gắn hai chăm, ký gùa ba chăm.

Thế thì cũng dễ chịu, không đắt. Nhưng đã có gắn có gùa, mấy ông bạn địa phương còn lo thêm một khoảng cần thiết: có gụ.
Và trong bữa nhậu trưa hôm ấy lần đầu tiên tôi được biết thế nào là một sự “cần thiết”. Chúng tôi không cầu kỳ, không chọn thứ rượu mạnh nào, chỉ là la-ve thôi; nhưng một anh bạn ngã chục chai, một anh khác cứ thong thả uống từ từ và cuối cùng xếp xuống sau lưng một đống mười tám cái vỏ chai.

Dĩ nhiên chuyện trò nở như bắp rang:
– Uống như vậy mà nhiều gì đâu? Ở đây, một người đàn bà, tức chị Sáu Đô-la đó mà, chĩ từng uống ba mươi tám chai. Nên nhớ là bắt đầu chĩ thổi kèn liên tục mười một chai, nghe!
– Thổi kèn?
– Ừa. Tức là uống ngay trong chai, không cần rót ra ly. Nói cho đúng, đó là la-ve 33.
– Trời! Khiếp quá.
– Khiếp gì? Ở chợ Sông Ông Đốc tôi đã gặp một bà trên năm mươi tuổi uống luôn hai lít rượu đế. Nghĩ sao chớ?
– Tôi nghĩ không biết tại sao ở đây ai nấy chịu nhậu quá vậy.
– Ờ ờ… Bị ở đây buồn quá, không có thứ gì tiêu khiển mà. Xa xôi, hẻo lánh…
– Nói vậy chớ ở chỗ núi non như Cheo Reo, Kontum… không buồn sao: ở đó đâu có nhậu nhiều. Có người cho là tại vùng Cà Mau nhiều muỗi, có bệnh sốt rét, nên dùng rượu ngừa bệnh. Thì miền sơn cước cũng sốt rét vậy… Có lẽ muốn thổi kèn liên tục mười một chai la-ve phải có một điều kiện nào đó. Thí dụ ở xứ này làm ăn dễ dàng, đồng tiền rời rộng hơn các nơi…
– Cũng có vậy. Vả lại Trời ổng khiến làm sao mà ở đây nhiều món nhậu quá: Không nhậu không được ông ơi. Hãy nói rùa với rắn: ông coi, được quá chớ. Nè, rắn xé phay, rắn xào lăn, rùa rang muối, cháo rắn v.v…: Ký rùa ký rắn là làm được đủ thứ. Mà hai loại đó dễ kiếm quá chừng. Gần đây mới sinh ra cái chuyện đi chợ mua rùa với rắn, chớ trước kia, hồi tôi còn nhỏ, ai mà bán buôn những loại đó? Nhà nào chẳng có, lúc nào không sẵn chớ hả? Nói giả thử lâu lâu mình muốn nhậu một bữa rủi thiếu rắn thì cứ sang nhà láng giềng bắt về dùng, trả lại mấy hồi? Đó! Trời cho mình sống giữa cái sẵn sàng như thế, Trời ổng mời mọc thường xuyên, mà mình cầm lòng không nhậu cũng khó chớ ông bạn?

Khó thật. Rồi câu chuyện hào hứng đi vào cái ăn: Rùa tiện lắm. Có bạn tới nhà, có rắn có rùa thì cứ việc bày rượu ra ngay: năm phút sau đã thấy thịt rùa dọn lên. Rùa rang muối nhanh hết sức. Dọn cũng giản dị: đừng chặt, đừng xé gì cả; cứ dọn nguyên con nóng hổi, chủ khách mỗi người lấy tay rút phăng ra một cái chân rùa mà gặm, chấm với muối tiêu. Miệng ngồm ngoàm, một tay cầm cái chân rùa, một tay ly rượu, thỉnh thoảng đặt ly xuống, nhón một cái lá rau răm. Cứ thế, trong khi chờ đợi các món khác.
Đến món khác, câu chuyện chuyển sang cái chơi, cái nghịch: Rắn vi tượng ăn không ngon bằng rắn hổ, nhưng nó không nguy hiểm. À, nhốt nó trong chum coi thì lờ đờ, vậy mà lanh lắm nghe. Cứ có người nhảy qua chum, thế nào nó cũng phóng lên cắn trúng phóc. Đã có nhiều anh chàng cá tiền đòi ăn thua: kẻ nhảy cao nhất cũng không tránh khỏi bị vi tượng để lại mấy chiếc răng vào bắp chân. Vậy đó: hễ cắn xong là răng dính luôn vào thịt, cũng như ong chích xong thì mất nọc. Hà hà…

Sau đó câu chuyện trở lại triết lý về cái nhậu: Bảo bà này uống hai lít đế ông kia bốn chục chai bia, không phải lúc nào cũng vậy đâu. Nhậu nó phải có hứng; có hoàn cảnh, có bạn bè thì mới nhậu được. Nhiều hôm, mình nằm nhà buồn thiu, vợ thấy thương hại, làm món ăn ngon, mua rượu về cho: uống một ly la-ve mình thấy đắng nghét. Uống một mình, cóc uống nổi một chai.
Nhưng hôm ấy phải nhận rằng các ông bạn của tôi có hứng.

Sau cùng chúng tôi lăn kềnh ra. Riêng về phần tôi, mặt đỏ nhừ, đầu nặng như đá, tôi dụi xuống, thiếp đi không biết được bao lâu. Buổi trưa nóng bức, cả khu phố vắng vẻ không có tiếng xe cộ gì.
Trong giấc ngủ nặng nề tôi mơ thấy loáng thoáng cảnh chợ búa lao xao, rồi người vật rắn rùa lùi xa dần, mất dạng, rồi còn lại mình tôi lên thác xuống ghềnh, gieo neo vất vả. Mình tôi lầm lũi hun hút, lòng chơi vơi lo lắng, chán ngán não nề.
Kìa! Mới đó chợ búa đông đảo mà sao vụt một cái chỉ còn lại mình tôi biền biệt? Tôi đi đâu vậy? Đi đâu mà heo hút khổ sở vậy? Lòng tôi thắt lại… Hắt hiu như “dạo chợ mình ta” [1]! Ồ, không! Như mất chợ…

Giật mình thức dậy, mồ hôi ướt dưới cổ, nhâm nhấp bên thái dương, tim đập thùm thụp. Biết rằng vừa rồi chỉ là một cơn mơ, nhưng cảm tưởng khi thức vẫn nối tiếp khi mơ; vẫn cái lo lắng chơi vơi, như thể một mình lên thác xuống ghềnh, gian nan cô quạnh một cách vô cớ.
Dần dần, để ý đến tiếng hát phát ra từ cái ra-dô nhà bên cạnh. Trong xế trưa vắng vẻ, giọng người nữ ca sĩ lên bổng xuống trầm, một mình nàng giữa nắng trưa. À, thì ra đây là lý do. Trong mơ tôi đã đi hun hút theo một giọng đơn ca cô quạnh buồn thảm này đây. Lên thác xuống ghềnh là do cái trầm bổng này đây. Mình tôi với mình nàng. Mình nàng dìu mình tôi, bằng âm thanh…
Tôi nghểnh đầu nhìn quanh: các ông bạn cao hứng vừa rồi vẫn ngoẹo đầu ngủ vùi, say sưa, mê mệt.

Nhìn xuống nhà dưới: bà bác của anh bạn chủ nhà, không hiểu đau gì, lúc nào, đang nằm sấp lưng, giác hơi: bốn cái bầu pha-lê dính trên lưng. Mái tóc trắng của bà cụ xõa quanh đầu, bù xù.
Cảnh nhà càng vắng vẻ. Tiếng hát một mình len lỏi trong buổi xế trưa.

Đã lâu mà tôi chưa quên được cái cảnh tượng ấy: một cơn vui quá độ vừa qua đi, một cơn hứng chí nhìn ở phía sau… lưng! Nó tiêu điều còn hơn cả “Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.”

Võ Phiến
[1] Dạo núi mình ta, tên một thi phẩm của Hà Thúc Sinh.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
107 Pages«<105106107
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.