Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

103 Pages«<101102103
Options
View
Go to last post Go to first unread
Duy An  
#2041 Posted : Saturday, November 6, 2021 10:11:56 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Việt Nam Cộng Hòa trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam


October 16, 2021
Vann Phan/Người Việt


SANTA ANA, California (NV) – Sự tồn tại ngắn ngủi có 21 năm, từ 1954 đến 1975 của Miền Nam Tự Do, trong đó nền Cộng Hòa Việt Nam tính ra chỉ có 19 năm, từ 1956 đến 1975, đã khiến cho đa số người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, không khỏi ngậm ngùi.

UserPostedImage

Lễ Khánh Thành Đường Xe Lửa Xuyên Việt Đông Hà-Sài Gòn, 7 Tháng Tám, 1959. (Hình: vi.wikipedia.org)


Ai nấy đều tiếc nhớ về một giai đoạn lịch sử vàng son và một chế độ chính trị tốt đẹp của dân tộc sau khi những người Cộng Sản Việt Nam thành công đặt ách thống trị lên toàn cõi đất nước Việt Nam, với việc Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Lý do dẫn đến những ngậm ngùi, tiếc nhớ này bắt nguồn từ nỗi thất vọng lớn lao và ê chề của một bộ phận lớn trong dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc về thành tích cai trị bết bát của đảng Cộng Sản Việt Nam, vừa độc quyền vừa phi nhân bản.

Sau ngày Cộng Sản Việt Nam chiếm được miền Nam Việt Nam, chủ trương của họ là bóp nghẹt hết những tiếng nói đối lập và loại trừ tất cả những đảng phái khác ra khỏi guồng máy cai trị của nhà nước, từ chính phủ cho tới quốc hội và hệ thống tư pháp.

Chính quyền hiện nay tại Hà Nội vẫn muốn xóa bỏ hết mọi vết tích huy hoàng xưa của Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi lịch sử dân tộc và ra khỏi tâm hồn của người Việt Nam từ Ải Nam Quan (dù nơi này ngày nay đã mất vào tay Trung Quốc) cho tới Mũi Cà Mau. Nhưng họ đâu biết rằng Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống mãi trong lòng dân tộc và trong dòng lịch sử Việt Nam qua những di sản vô cùng quý báu mà chế độ Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam đã cống hiến cho đất nước.


Những di sản quý báu mà Việt Nam Cộng Hòa để lại cho đất nước và dân tộc


Trong bài viết nhan đề “30/4: Việt Nam Cộng Hòa để lại nhiều di sản quý báu cho ngày nay và tương lai” trên trang mạng bencublog.wordpress.com, ngày 23 Tháng Tư, 2019, tác giả Vũ Thăng Long kể ra các di sản về giáo dục, kinh tế, chính trị-hành chính và xã hội, ngoài cái di sản hết sức đáng yêu để lại cho các thế hệ mai sau của Việt Nam, đó là nền âm nhạc tuyệt vời do các văn nghệ sĩ và nhạc sĩ Miền Nam Tự Do sáng tác.

Theo tác giả, Việt Nam Cộng Hòa là chế độ đầu tiên đã thành công trong kế hoạch phát huy nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, trong đó vai trò kinh doanh của tư nhân được đề cao.

Khác với Miền Bắc Cộng Sản, Miền Nam Tự Do đã tiến hành cuộc Cách Mạng Xanh một cách êm thắm và không phải đổ một giọt máu nào qua các chương trình “Cải Cách Điền Địa” thời Đệ Nhất Cộng Hòa và “Người Cày Có Ruộng” thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đem lại no cơm, ấm áo cho hàng triệu nông dân và nhà trồng trọt từ đồng bằng Sông Cửu Long cho tới vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Việt Nam Cộng Hòa cũng là “thủy tổ” của ngành khai thác dầu khí tại miền Nam Việt Nam sau khi khám phá và định vị được một số vùng mỏ có thể khai thác thương mại được ngoài Biển Đông, nơi Việt Nam có chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà vì nạn chiến tranh kéo dài nên chưa kịp khai thác.

Nhưng thành tích sáng chói nhất của Việt Nam Cộng Hòa vẫn là xây dựng một nền tự do, dân chủ trẻ trung cho miền đất này sau khi thoát khỏi xiềng xích của cả thực dân lẫn phong kiến. Bản Hiến Pháp của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, và cũng là bản Hiến Pháp dân chủ đầu tiên của đất nước, được công bố vào ngày 26 Tháng Mười, 1956, và bản Hiến Pháp của nền Đệ Nhị Cộng Hòa được công bố vào ngày 1 Tháng Mười Một, 1967, đều nói rằng chế độ Cộng Hòa luôn tôn trọng nhân quyền: “Mọi người dân nhân vị được trọng.”


Cuộc hội thảo về “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975” lần đầu tiên được tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt hôm 6 Tháng Mười Hai, 2014, và tòa soạn nhật báo Việt Báo hôm 7 Tháng Mười Hai, 2014, do nhật báo Người Việt, nhật báo Việt Báo, báo mạng Tiền Vệ, báo mạng Da Màu tổ chức. Trong hình, hội thảo tại nhật báo Người Việt. (Hình: Người Việt)
Cũng trong khuôn khổ của một chế độ tự do, dân chủ, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã khuyến khích sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự, hoạt động với quy chế tự trị cả về hành chánh và tài chánh, tiêu biểu là Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam cùng các tổ chức chình trị và hiệp hội của mọi công dân trên toàn quốc. Điều này hoàn toàn trái ngược với chủ trương bóp nghẹt các tổ chức xã hội dân sự trong chế độ Cộng Sản tại Việt Nam ngày nay.

Việt Nam Cộng Hòa không phải là chế độ tồn tại ngắn nhất trong lịch sử


Nhiều người Việt Nam, và cả những người ngoại quốc yêu mến nền tự do, dân chủ của Miền Nam Việt Nam, vì quá xót thương cho cái kết liễu đột ngột của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cứ nghĩ rằng 21 năm tồn tại của chế độ này là quá ngắn.

Thật ra, lịch sử thế giới vẫn đầy những triều đại huy hoàng và nhà cai trị tài ba có tuổi thọ rất ngắn, tức là còn ngắn hơn cả chế độ Việt Nam Cộng Hòa nữa. Triều Đại Nhà Tần, tuy có công lớn nhờ thống nhất nước Trung Hoa, chỉ tồn tại có 15 năm (từ 221 đến 206 Trước Công Nguyên); Vua Alexander the Great (A Lịch Sơn Đại Đế) của xứ Macedon (Cổ Hy Lạp) chỉ tại vị có 13 năm (từ 336 đến 323 Trước Công Nguyên); Hoàng Đế Quang Trung chỉ ở ngôi có bốn năm (từ 1788 đến 1792) trong khi Nhà Tây Sơn chỉ tồn tại có 13 năm (từ 1789 đến 1802)…

Nói thế để thấy rằng chính những thành tựu to lớn của các triều đại huy hoàng và các nhà cai trị tài ba, như được đề cập tới ở trên, mới là điều quan trọng, trong khi việc tồn tại ngắn hay dài của chế độ này hay lãnh tụ nọ, nghĩ cho cùng, đều là do ở phước phần của các đất nước và dân tộc liên hệ, và đó là điều mà con người trên trần thế không làm chủ được, bởi vì tất cả đều là “sự do tiền định, phù sinh không tự mang,” người xưa từng nói vậy.

Lý do và mục đích tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa

Vậy thì, lý do và mục đích tồn tại (raison d’être, justification for existence) của Việt Nam Cộng Hòa là gì? Các yếu tố sau đây có thể giải thích cho lý do và mục đích tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa trong dòng lịch sử thăng trầm, vinh có, nhục có, của dân tộc Việt Nam:

Thứ nhất, Việt Nam Cộng Hòa là chế độ khai sáng nền tự do, dân chủ chân chính, tức không phải là thứ giả hiệu. Đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, cho dù đó là một nền tự do, dân chủ non trẻ của một đất nước vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến tại Á Châu sau Thế Chiến Thứ Hai.

Thứ nhì, Việt Nam Cộng Hòa đã đạt được nhiều thành tích sáng chói cả về nội trị lẫn ngoại giao trong suốt thời gian tồn tại, từ chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, văn học cho đến nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh, y tế, thể thao…

Thứ ba, ngày nay, một số trong các thành tích sáng chói nói trên đã nghiễm nhiên trở thành những di sản quý báu và đáng tự hào trong nền văn minh và văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành biểu tượng của “những ngày tháng cũ tươi đẹp” (“the good old days”) như câu nói cửa miệng của mọi người khắp nơi, không biết phát xuất tự thuở nào nhưng, éo le thay, hễ nhân loại càng văn minh, tiến bộ chừng nào thì lại cảng thấy câu ngạn ngữ đó cứ đúng mãi, y như lời văn sĩ – kiêm thi sĩ và nghệ sĩ – Pháp Michel Houellebecq từng nói: “Quá khứ luôn tươi đẹp” (“Le passé est toujours beau, the past is always beautiful”).

Thứ năm, dù muốn hay không, sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa trong quá khứ còn là lời nhắc nhở chế độ Cộng Sản đang cai trị Việt Nam bây giờ, rằng họ vẫn chưa thực hiện tốt đẹp được – nếu không nói là tồi tệ – những lời hứa hẹn vừa đường mật vừa hão huyền của họ, dù đã nửa thế kỷ trôi qua, khi hô hào thế giới và dân chúng Việt Nam hãy ủng hộ họ trong cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam Tự Do và thống nhất đất nước, với cùng đích là đem lại công bằng xã hội, độc lập, tự do, hạnh phúc và no ấm cho dân tộc Việt Nam.


UserPostedImage

Cuộc hội thảo về “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975” lần đầu tiên được tổ chức tại tòa soạn nhật báo Người Việt hôm 6 Tháng Mười Hai, 2014,
và tòa soạn nhật báo Việt Báo hôm 7 Tháng Mười Hai, 2014, do nhật báo Người Việt, nhật báo Việt Báo, báo mạng Tiền Vệ, báo mạng Da Màu tổ chức. Trong hình, hội thảo tại nhật báo Việt Báo. (Hình: Người Việt)


Phải biết rằng sau khi chiếm được Miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Bắc Việt đã trở thành chủ nhân ông của một miền đất trù phú và nhiều tài nguyên thiên nhiên nhất, nhì tại Viễn Đông, những thứ mà các dân tộc văn minh, cỡ Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, đều thèm rỏ dãi mà không có được.

“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng”…

Việt Nam Cộng Hòa tuy mất đi, nhưng đó chỉ là vì cái phần xác hữu hình thì phải tuân theo luật hữu sinh, hữu tử của Tạo Hóa, nhưng phần hồn, tức là cái tinh túy của chế độ – và trong trường hợp này là của chính thể tự do, dân chủ tại Miền Nam Tự Do – thì vẫn ở mãi với đất nước và dân tộc Việt Nam như mọi người thấy đó, y như lời đại thi hào Nguyễn Du nói trong “Truyện Kiều” qua cửa miệng của nhân vật Thúy Kiều: “Kiều rằng: Những đấng tài hoa/ Thác là thể phách, còn là tinh anh.”

Nhớ về thời đại vàng son của Việt Nam Cộng Hòa trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cũng để thay cho lời kết, xin mượn hai câu thơ sau đây – mô tả tấm lòng nhớ nhung, luyền tiếc của Thúy Kiều đối với người tình xưa Kim Trọng (cũng trong “Truyện Kiều”) mà định mệnh nghiệt ngã đã không cho nàng được thỏa lời nguyện ước ba sinh: “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”… (Vann Phan)
UserPostedImage
Duy An  
#2042 Posted : Monday, January 17, 2022 1:32:17 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,286

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Những nhà văn Hoa Kiều và đất nước Việt Nam


UserPostedImage

Nhà thơ Hồ Dzếnh


Những nhà văn Hoa Kiều? Trải dài suốt chiều dài văn học chúng ta cũng có những nhà văn có nguồn gốc đó. Họ viết văn, ở nơi chốn họ sống nhưng vẫn nhớ nhung và hướng vọng về quê hương thứ hai ở bên nội hay bên ngoại của mình. Tâm tư ấy, tâm sự ấy, đã tạo thành một vóc dáng văn chương đặc biệt.

Năm 1943, vào lúc thịnh thời của thơ mới, nhà xuất bản Á Châu cho ra đời một tập thơ khá lạ: Tập thơ Quê ngoại của Hồ Dzếnh với lời giới thiệu: “Lần đầu tiên thi ca Việt Nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của một nhà thơ ngoại quốc…” Thực ra, nói nhà thơ ngoại quốc là chưa chính xác lắm, nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (phát âm theo giọng Quảng Ðông là Hồi-Tsìu-Ding, thu gọn lại là Hồi Dinh, nghe âm không được hay lắm nên tự đổi lại là Hồ Dzếnh). Hồi đó những người trong làng văn nghệ vẫn cứ trêu đùa gọi ông là Hồ Dinh và có người còn đặt ra một vế đối “Hồ dinh dính hồ hồ chẳng dính” và có người đối là “Ngọc Giao giao ngọc ngọc không giao (mượn tên nhà văn Ngọc Giao) hoặc là “Vũ Bằng bằng vũ vũ chưa bằng” (mượn tên nhà văn Vũ Bằng), nhưng tất cả đều chưa được hay và chỉnh lắm..

Ông là một người có cha Tàu mẹ Việt. Ông viết về đất nước quê hương của mẹ: Quê Ngoại. Cha ông tên là Hà Kiến Huân, gốc người Quang Ðông, Trung Hoa di cư sang Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19 gặp mẹ ông là bà Ðặng Thị Vân, một cô gái chở đò trên sông Ghép, Thanh Hóa. Hai người lập gia đình và sinh sống bằng cách buôn bán và đổi chác hàng hóa trên một con đò dọc nhỏ xuôi theo các bến chợ ven sông. Có lần ông viết:

“Dòng máu Trung Hoa đến tôi không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng đó là dòng máu của cội nguồn, quê cha đã hòa chung cùng dòng máu Việt nam để làm nên tâm tư tình cảm và văn phong của “Chân Trời Cũ”. Thêm vào đó là cuộc sống quá ư nghèo nàn tù túng của một làng quê với những số phận của con người hẩm hiu nghèo khổ và tôi gần gũi thân yêu ngay tứ khi còn thơ ấy đã tạo dựng cho tôi cái “đất” để viết văn và trở thành cảm hứng khơi nguồn cho tôi trong sáng tạo.”

Tập thơ “Quê ngoại” từ khi ra đời đã là một viên châu ngọc của thi ca Việt Nam. Nhiều bài thơ, đã trở thành bất tử và ngôn ngữ ấy đã biểu hiện được tâm tình một thời của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Tri Tân đã có nhận xét: “Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu những nhà văn hữu tài khác,..”

Trong tập thơ ấy, người yêu thơ đã tìm ra được rất nhiều những bài thơ tuyệt tác. Có những bài thơ được phổ nhạc và trở thành quen thuộc đến nỗi như là một ngôn ngữ thường hằng và sống động.

Những câu thơ thật quen thuộc và hình như lúc nào cũng tiềm tàng những cuộc sống riêng, những tâm tư riêng nên đã thành những ấn tượng không thể phai nhòa trong cảm quan người nhận

Năm 1942, Hồ Dzếnh in “Chân trời cũ”. Một gia đình dòng tộc người Minh Hương được phác thảo lại trong những thiên truyện ngắn rất gần với những trang tự thuật. Nhân vật xưng tôi, có khi là chính bóng dáng của tác giả, tuy được phác họa trong sự cố ý làm mờ nhạt đi để những nhân vật khác nổi bật lên. Một người cha người Hán giang hồ đi sang xứ người lập nghiệp gặp người mẹ người Việt và thành một tiểu gia đình mà số phận họ buộc trói theo dòng đời trôi nổi. Người mẹ Việt, là hình bóng muôn đời của sự hy sinh, là gà mẹ xòe cánh ra ấp ủ đàn con giữa những đe dọa của cuộc đời. Rồi những người thân của nhân vật xưng tôi: chú Nhì, người anh cả, đứa cháu đích tôn, cô em Dìn, chị đỏ Ðương, người chị dâu Trung Hoa, ông anh hai trụy lạc,… tất cả sống trong một xã hội mà những lề thói, những phong tục là những sợi dây buộc chặt vào một đời sống mà sự thiếu thốn và nghèo khổ luôn luôn lai vãng…

Trong “Chân trời cũ” chúng ta thấy một đời sống cũ đã qua nay trở lại từ cái tâm hoài cổ, từ những suy tư bắt nguồn từ sự nâng niu những kỷ niệm khó quên của một đời người. Và, vì sống ở xứ sở bên mẹ nên quê ngoại lại gần gũi hơn và chan chứa tình cảm.

Hồ Dzếnh cũng có lần nói về tác phẩm Chân Trời Cũ của mình:

“Tôi là kẻ ít tin nhất rằng loài người đẻ ra đã sẵn cái tài trong óc. Cho nên được mang danh là Nhà Văn tôi thấy thẹn thùng biết mấy! Do những tình cờ của hoàn cảnh cọ xát với cõi đời chúng ta để cố gắng nói ra nỗi lòng u kín đã nghiêng về cuộc sống bên trong. Nhưng trên cả Tình và Tài, trên những vinh hạnh chói lòa nhiều khi rất không chân thật, một điểm sáng lấp lánh từ ngàn thu, một “Triều Thiên” mà thế kỷ nào cũng ao ước, thèm khát đó là Tấm Lòng”

oOo

UserPostedImage
Nhà văn Lý Lan


Lý Lan, là một nhà văn nữ khá nổi danh ở Việt Nam có truyện ngắn được giảng dạy ở chương trình văn, bậc trung học ở trong nước. Cô cũng là một thi sĩ và là một dịch giả đã chuyển ngữ truyện Harry Potter sang Việt ngữ. Trong thực tế, cô là một nhà văn người Việt gốc Hoa, và cũng là một nhà văn người Mỹ gốc Việt. Cha cô người Quảng Ðông, huyện Triều Dương, thành phố Sán Ðầu. Mẹ cô người Lái Thiêu và cô sinh ra ở Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Và cô lấy chồng người Mỹ, một giáo sư đại học, định cư ở cả hai nơi, Việt Nam và Hoa Kỳ.Nhưng tôi vẫn gọi cô là một nhà văn nữ Hoa Kiều.

Tại sao? Bởi vì, trong các tác phẩm của cô, tôi thấy rõ nét chân dung của một người gốc Hoa với tất cả tâm tư, vóc dáng, đời sống… được thể hiện. Những người gốc Hoa này không phải là hình ảnh của những ông chủ bụng bự, những bang chủ chi phối đời sống kinh tế chính trị ở Việt Nam. Họ cũng xa lạ với khung cảnh của Chinatown mà bất cứ ở quốc gia nào trên thế giới cũng hiện diện. Ở trong truyện của Lý Lan, nhân vật có thể là một cô gái nhạy cảm ngây thơ, là những cô cậu thiếu nhi bé nhỏ, là những ông già “các chú” , những bà “xẩm” của những xóm lao động ồn ào, những nhân vật mà thường ngày chúng ta bắt gặp trong cuộc sống gần cận. Ở trong những khung cảnh quen thuộc của Chợ Lớn, nhịp đập nhân sinh đã được vẳng nghe từ những tâm sự bình thường của những đời thường tiếp diễn. Trong đời sống ấy, của những ngày sau 1975, dường như lẩn khuất đâu đó có tiếng thở dài, “trầm và sâu.”

Có thể, vì cảm nhận từ những cuộc dời đổi. Lúc Cộng sản chiếm miền Nam, Lý Lan là một sinh viên, rồi sau đó đi dạy học, viết văn, làm báo. Cô không viết về thời sự, nhưng ghi nhận lại cuộc sống bằng con mắt quan sát của mình. Kinh nghiệm sống làm cho cô chín chắn hơn trong những đãi lọc để có một quan niệm viết trung thực. Ðời sống thực tế với biết bao nhiêu dời đổi và cuộc sống người dân cũng ảnh hưởng theo với những khó khăn những nghiệt ngã. Lý Lan phác họa lại cuộc sống ấy, nhẹ nhàng đi tìm những chi tiết tưởng nhỏ nhoi nhưng sống động. Ðọc những truyện ngắn, độc giả có cảm tưởng như lần trải theo những tâm sự những đoạn đời mà người kể chuyện, với tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng nhân hậu, đã viết ra.

Lý Lan kể lại đời sống và thấp thoáng ở đó, những tiếng thở dài, “trầm và sâu”. Có thể là một cảm hoài về đời sống. Có thể là một cảm giác phải có của người hay nhìn ngoái lại thời gian cũ xưa trong cơn dời đổi của xã hội. Trong truyện ngắn “Bé Sáo vào đại học”, thấp thoáng tiếng thở dài. Người mẹ, Ðiệp, bạn gái của tác giả, như một thí dụ cho tiếng thở dài ấy:

“Với lý lịch của mình, Ðiệp không thể nào vào đại học và cũng không thể kiếm được một việc làm ở thành phố. Người yêu học tập cải tạo ba tháng trở về, đám cưới rồi Ðiệp theo gia đình chồng “hồi hương” Bân tôi xa Sài Gòn từ đó, 18 tuổi, quần jeans bạc màu sơ mi xắn tay áo cao trên cùi chỏ. Hai vợ chồng trôi dạt qua mấy vùng đất khai hoang, hồi đó gọi là kinh tế mới. Mười năm trước bắt đầu ổn định, Ðiệp rủ tôi về thăm rẫy nhà nó. Bé Sáo quấn quít gần như nhại theo cách ngồi cách đứng cách trò chuyện của “dì Lan ở Sài Gòn”. Con Sáo nhỏ mếu máo chạy theo tôi níu chéo áo tôi đòi cho lên thành phố. Ðiệp dỗ con: “Ráng học giỏi mới được lên Sài Gòn.” Sau làn khói xe và bụi đường con sáo nhỏ của tôi mím môi ghìm nước mắt nhìn theo hướng chiếc xe đò lao đi.”

Chuyện kể thật, và tràn lan ở đời sống này, quen thuộc đến thành bình thường mà sao vẫn gợi ra một nỗi niềm nào trắc ẩn. Những người có lý lịch liên hệ nhiều đến chế độ cũ trong xã hội này liệu có chỗ đứng không? Hay chuyện lên Sài Gòn học đại học như một giấc mơ của những con sáo, sang sông, nhưng vẫn còn đầy bẫy sập chực chờ từ một xã hội mà con người phải tranh sống để vượt qua những khó khăn chồng chất của cuộc nhân sinh…

Một truyện ngắn khác “Dân Ngã Tư” trong tập “ Sài Gòn Chợ Lớn Rong Chơi” lại là một truyện của những người không nhà chọn lề đường hè phố làm nơi cư ngụ. Và một điều lạ lùng, là sinh hoạt của góc phố ấy vẫn bình thường dù hứa hẹn cơn mưa bão sắp kéo tới. Họ, những người nghèo nhất của thành phố, vẫn an phận với cái nghèo nàn cơ cực của mình. Ai buôn bán lặt vặt cứ buôn bán, ai gây lộn cãi cọ cứ tự nhiên, và thời tiết có bão bùng cũng mặc kệ.

Lý Lan viết: “Tôi nói với chị Bình: “sắp bão gió cấp 12 không lo thân mình chưa có chỗ trú lại đi lo chuyện bao đồng” Chị cười thản nhiên (hay hồn nhiên quá?)

– Ôi, bất quá gió thổi bay tấm ni -lông hay mấy giỏ đồ rách. Cầm như xui xẻo bị “hốt” lòng lề đường vậy mà. Mình lo sao nổi chuyện tự nhiên của trời đất.

Nói vậy nhưng khi mưa bắt đầu lắc rắc, chị lật đật giành giật với cơn gió tấm ni lông đang bay phần phật, cột hai chéo vô cửa sắt, còn hai chéo kia chèn mí bằng gạch để tạo một không gian hẹp hình tam giác nơi thằng Tẹo đang ngủ say…”

Và tác giả kết luận:

“Nhà là gì? Là một nơi ta quen thuộc, nơi ta là ta, nơi ta chia sẻ với người thân cuộc sống ở cõi đời này” Tôi hiểu vậy khi anh Su đứng ở ngã tư mà nói rằng “Nhà tiu là đây” Nhưng anh Su à, tôi vẫn không muốn đính chính điều đã viết. Ngã tư không phải là nhà”

Có phải tác giả muốn diễn tả về cuộc sống mà sự cam chịu đã thành một quán tính để vượt qua những khó khăn của kiếp người hiện tại. Hình như, tôi thoáng nghe được tiếng thở dài, “trầm và sâu”…

Lý Lan là người Việt gốc Hoa, cha người Quảng Ðông, mẹ người Thủ Dầu Một. Cô lớn lên trong một xóm người Hoa và có lẽ chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Có lẽ, có lúc cô cũng thấy mình đang chơi vơi giữa hai văn hóa Việt và Trung Hoa. Nhất là khi đế quốc phương bắc đang dòm ngó và tạo cho cô có cảm giác bị kỳ thị. Trong khi viết văn, cô kể chuyện nhiều khi với tư cách tự thuật và trang trải vào đó những tâm sự của mình. Những nơi chốn, khi cô sống tự thuở ấu thơ trải ra biết bao nhiêu kỷ niệm. Những nhân vật, qua những góc cạnh nhìn ngắm, ngầm chuyên chở những tâm tư, mà, qua cuộc sống, vẫn lấp lánh trong tâm thức những dư vị êm đềm, của tấm lòng đối với quê hương.

Lý Lan viết về sinh hoạt của cộng đồng người Hoa nơi cô đã sống cả một thời tuổi trẻ. Những chuyện ghi nhận từ những nơi quen thuộc hàng ngày được phác họa lại, có một chút hoài niệm và một chút trăn trở.

“ Bây giờ đi dạo quanh khu vực này, nằm giữa đường Trần Hưng Ðạo và Nguyễn Trãi, khoảng gần Nguyễn Tri Phương tôi cố hình dung cảnh quan đã đập vào mắt cha tôi khi ông lần đầu tiên bước chân lên từ Bến đò La Cai: mấy cái xóm nhà lá đó đã cầm chân chàng lãng tử đến già! Ðất lạ quê người, nhiều địa danh nhân vật ngày đó bây giờ ông nhắc lại đọc theo âm tiếng Tiều, mà cảnh đã đổi, người không còn, chuyện chưa ghi trong sách, tôi không biết làm sao đối chiếu truy tìm. Vả lại làm sao hình dung “xóm nhà lá” ở giữa quận 5 Sài Gòn?..”

Cảnh cũng đổi và người đã thay, những phố Tàu ngày xưa không còn những đường nét cũ và sinh hoạt ngày nào cũng biến đổi đi. Lý Lan, làm người đi trở lại ngược dòng thời gian, trở về những con hẻm nhỏ, về những cuộc sống mà phong vị cũ đã thành những ký ức xưa. Chính cái thái độ chân thành đã làm sức lôi cuốn cho người đọc.Ði tìm lại những khoảng thời gian đã mất thật khó lắm thay!

Viết về đời thường, một công việc dễ mà khó. Làm sao trong cái hỗn độn đời sống ấy, ai cũng biết, ai cũng quen, tìm ra được những điều bất ngờ để thành lạ lùng và mang nhiều ý tình chuyên chở. Viết về một quán nước người Hoa thường hay nằm ở những ngã tư đường, đã có Sơn Nam, đã có Bình Nguyên Lộc…. Cũng tả về tiếng kêu ê a của phổ ky gọi nhà bếp làm thức ăn cho thực khách, cũng có những câu chuyện làm ăn mỗi ngày giao dịch trong quán,.. Nhưng ở trong “Tiệm nước “ của Lý Lan còn có một chút thoáng qua của thời sự, của ngày đổi tiền của Cộng sản, và lòng trung tín của những người nghèo như bác xích lô không lợi dụng thời thế để giựt tiền của người trao gửi. Lý Lan viết như người kể chuyện, không cố tình thêm thắt, không xử dụng kỹ thuật văn chương. Nhưng, ở chính điều đó, lại là một điểm để tác giả “Sài Gòn Chợ Lớn Rong Chơi” khác với những người cầm bút khác.

Có người nói văn chương của Lý Lan có những nét mộc mạc từ tả cảnh tả người của văn chương miền Nam Bộ với những Hồ Biểu Chánh, rồi Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc,…Riêng tôi, thì thấy rằng hình như trong các câu chuyện kể, nhiều khi giản đơn không cố tình phức tạp hóa sự kiện, lại ngầm chứa những điều gì mà tôi cho là mới lạ từ văn phong diễn tả của cô. Có lúc cô là người tự thuật, nhưng có khi cái tôi của nhân vật lại là một người khác mà tôi thường gặp phong cách này trong văn học hiện đại. Tôi cảm nhận một điều, cô đã cố gắng đi tìm kiếm những cái mới mà mọi người tưởng như đã cũ…

oOo

UserPostedImage
Nhà văn Vincent Lam

Một nhà văn Hoa kiều khác, rất yêu Chợ lớn, nơi anh đã có nhiều kỷ niệm. Ðó là nhà văn Vincent Lam. Mà đặc biệt hơn nữa, anh là con của một gia đình người Việt gốc Hoa sinh trưởng ở Chợ Lớn. Và anh đang viết một tiểu thuyết coi như là đầu tay mà chưa hoàn tất. Tiểu thuyết ấy viết về thành phố Chợ Lớn, nơi chốn mà anh không thể bao giờ quên được với những kỷ niệm của mình. Trong trang web của anh, anh có rất nhiều hình ảnh về thành phố ấy. Tôi đã có một chút thảng thốt khi nhìn lại những phong cảnh ấy. Những nóc chợ ngói rêu, những con đường với những căn nhà cổ xây dựng từ thuở nào…

Vincent Lam là một nhà văn đã đoạt giải thưởng Giller về văn học của Canada với tập truyện ngắn” Bloodletting and Miraculous Cures”. Vincent Lam còn là một bác sĩ làm việc trong phòng cấp cứu của bệnh viện Toronto East General Hospital.

Một năm ở trên thế giới trao tặng rất nhiều giải thưởng văn chương và có nhiều nhà văn tài năng kiệt xuất, mà tại sao tôi lại muốn tìm hiểu để viết về Vincent Lam? Lý do giản dị, vì tính tò mò khi có người viết về đất nước Việt Nam, cũng y hệt như khi tôi đọc và tìm hiểu về Marguerite Duras hay Graham Greene. Vincent Lam viết “Cholon, Near Forgotten”. Một cuốn tiểu thuyết coi như tự truyện của một người mà gia đình đã có thời sống trong cộng đồng Hoa Kiều ở Chợ Lớn. Xem qua những tấm hình trên website của Vincent Lam, tôi như thấy lại một đời sống của những người Việt gốc Hoa, mà có khi họ là làng xóm láng giềng của tôi. Tôi đã sống ở vùng Chợ Lớn, mẹ tôi có sạp vải và buôn bán ở Chợ Lớn và tôi có những đứa bạn cùng lớp người Hoa nói tiếng Việt còn ngọng đớt. Ðọc những trang sách viết về những con phố cũ, những ngõ hẻm xưa, có cái thú vị của những người trở về thăm lại những đoạn ấu thời đã qua đi mãi mãi…

Vincent Lam sinh năm 1974 tại London, Ontario, trong một gia đình gốc Trung Hoa đã sinh sống ở Việt Nam trước khi di cư qua Canada. Cha của Vincent Lam đã có rất nhiều nghề nghiệp, từ nghề xây cất tới đầu bếp, và sau cùng là một chuyên gia canh nông tại Ấn Ðộ. Bốn năm sau,gia đình di chuyển tới Ottawa nơi mà Vincent Lam đã lớn lên từ những truyện kể của người cha cũng như từ các tác phẩm của C.S. Lewis và Roald Dahl, và manh nha trong óc và càng ngày càng in sâu là trở thành nhà văn. Hiểu rằng bản thân mình khó có đủ ngôn ngữ để sáng tạo của tác phẩm văn chương lớn, Lam ghi danh vào trường Y khoa của Viện Ðại học Toronto với hy vọng rằng từ những kinh nghiệm của đời sống thực tại và những chất liệu giàu có của nghề nghiệp sẽ giúp ích rất nhiều cho mong ước ấy.

Khi Lam làm việc trên tàu Arctic với nhiệm vụ là một bác sĩ, anh tình cờ gặp nhà văn nổi tiếng Margaret Atwood và được bà ưng thuận đọc trước và nhận định các truyện ngắn của anh. Sau đó bà gửi cho anh một email chỉ có vỏn vẹn một hàng chữ: “Chúc mừng anh! Anh có thể viết văn được!” Sau đó bà đã giới thiệu Lam với nhà xuất bản Doubleday ở Canada. Hơn thế nữa, bà còn lấy một truyện ngắn của Lam và thay đổi bố cục của nó cũng như gợi ý Lam viết một truyện ngắn khác dựa trên những hiểu biết về y học của bệnh SARS. Lam thực hiện theo gợi ý của bà và viết thành truyện ngắn “Contact Tracing”. Ðây là một truyện ngắn nổi bật nhất của Lam trong tuyển tập “Bloodletting & Miraculous Cures” đoạt giải Scotiabank Giller Prize. Lam thường xuyên dành cả buổi sáng để viết văn còn buổi chiều và ban đêm thì túc trực trong phòng cứu cấp của bịnh viện Toronto. Anh làm việc trong bịnh viện và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chống lại dịch bệnh SARS cũng như am hiểu những tình cảnh và tâm lý của người bệnh. Anh kể “ở phòng cấp cứu của bệnh viện, người y sĩ là tâm của cơn giông bão tạo ra bi kịch và căng thẳng. Chúng tôi làm việc trong một thế giới của cả hai tính chất y khoa và con người thường phối hợp lại, nơi mà tiêu chuẩn thật cao và có khi không tiên đoán trước được những trở ngại. Là bác sĩ, tôi đáp ứng tất cả những điều chung quanh tôi, và làm việc trong thế giới ấy. Là một người viết văn, tôi vận dụng tất cả để có chất sống động và mới lạ trên trang giấy”

Với những câu chuyện của bốn sinh viên y khoa: Ming, Fitz, Sri and Chen; Lam đã mở ra những thế giới của những người theo đuổi nghề nghiệp chữa bệnh cho người. Lam đã có một câu ví von:

“Tôi nghĩ rằng làm cha và làm nhà văn còn khó hơn là làm nhà văn và bác sĩ vì lý do với làm bác sĩ và nhà văn thì phải lập kế hoạch để có bằng cấp. Còn khi làm cha mẹ thì không bao giờ chấm dứt được vai trò và trách nhiệm của bậc cha mẹ. Khi bạn đang chăm chú với công việc của mình và đứa con trai dập cửa thình thình và hét “mở cửa! Mở cửa!” thì chắc chắn bạn phải đứng dậy và mở cửa.”

Người cha đã để lại nhiều ấn tượng cho tâm hồn Lam. Ðó là một người đàn ông sinh trưởng ở Trung Hoa nhưng đã sống lưu lạc ở nhiều quốc gia và đã lăn lộn với nhiều nghề nghiệp. Cuộc đời ấy đã thành một ám ảnh thôi thúc Lam viết một thiên tự truyện về gia đình mình. Cuốn truyện viết về một nơi chốn mà gia đình Lam đã sống một thời gian khá lâu.

Vincent Lam thố lộ: “Tác phẩm có tên là “Chợ Lớn, Near Forgotten”. Ðó là cuốn sách đầu tiên tôi định viết. Năm 14 tuổi tôi đã muốn viết nó. Khi tôi không còn làm công việc phụ trách về sức khỏe y tế cho cộng đồng, tôi lại muốn viết lại về nó. Nhưng rồi, lại băn khoăn bất địnhvà đành viết tập truyện ngắn “Bloodletting & Miraculous cures” trước. Vậy là cuốn tiểu thuyết này đã bị đình hoãn nhiều lần”

Một lần khác, trong một cuộc phỏng vấn của CBC Radio, người con của một gia đình Trung Hoa đã là cư dân của Chợ Lớn đã phát biểu về sự đam mê viết văn của mình:

“Tôi như đang bị kiệt sức như một nhà văn trong lúc đang chấm dứt một ngày cầm bút, nhưng thường thường lại làm tôi hài lòng khi đến nhà thương làm việc, bởi vì sau một ngày thất bại khi đối diện với trang giấy trắng tinh, đó là giây phút hồi sinh lại mênh mông, như khi đến phòng cấp cứu để nhìn thấy những bệnh nhân có thực của đời sống có thực với những bệnh tật, những cơn đau ngực, những vết cắt và những cơn sốt..’

Một người trẻ tuổi có khi đã muốn và đã quyết định làm nhà văn trước khi trở thành bác sĩ, Lam đã nói về quyết định của đời mình:

“Tôi nghĩ khi tôi ở tuổi 14,15 có lúc tôi đã ngồi vào bàn viết và đột nhiên tự nhận ra là tôi chẳng có một ý nghĩ nào để viết cả rồi tôi nghĩ tôi phải bắt buộc hội nhập vào thế giới để học hỏi một điều gì đó trước khi cầm bút viết về nó..”

Cuốn sách “Cho Lon, Near Forgotten” kể về nhân vật chính là Percival Chen sinh ra ở một ngôi làng nhỏ ở Quảng Ðông cùng thời gian với sự suy tàn của đế chế Mãn Thanh. Ông ta bị mồ côi cha mẹ và sau cuộc xâm chiếm của quân đội Nhật Bản vào Hồng kông thì chạy qua Việt nam và vào Sài Gòn sinh sống. Ông ta đã tạo được sự may mắn khi làm hiệu trưởng một trường dạy Anh ngữ ở Sài Gòn nhưng lại làm mất đi cơ hội khi làm nghề cờ bạc chuyên nghiệp trong những năm chiến tranh. Khi cuộc chiến bùng nổ Chen di cư ra khỏi Việt nam và khi sang sống ở Brisbane , Uùc Châu thì bị ung thư và ở trong hoàn cảnh thời gian đợi chờ cái chết.Trong tâm cảnh ấy, Chen chỉ chờ mong những cuộc viếng thăm của con cháu sống rải rác mọi quốc gia trên thế giới. Những đứa con và cháu là những mẫu người sống lưu lạc và không bao giờ muốn đối mặt với quá khứ sống ở những nơi không phải là quê hương mình và rất ngần ngại khi xác định lý lịch của mình….

Chợ Lớn, dần đã lãng quên. Những cửa hiệu, những sạp hàng, những con phố, những ngõ hẻm. Những người Tiều trồng rau. Những người Quảng buôn bán. Những người Hẹ dệt vải. Những người Hải Nam tiệm ăn. Những phố Tản Ðà, Ðồng Khánh, Nguyễn Tri Phương đầy tiệm ăn náo nhiệt… Vincent Lam đã trở về, đã chụp ảnh, đã gặp lại những người thân của gia đình. Những tấm ảnh mở ra những cuộc sống. Ở một nghĩa nào đó, viết về ngày đã qua tương tự như làm hồi sinh lại quá khứ. Mà quá khứ ấy, không phải là của Vincent Lam mà còn là của một gia tộc mà vì thời thế hoặc vì mưu sinh mà lưu lạc khắp bốn phương trời sinh sống ở mọi nơi mọi quốc gia trên thế giới.

Ðọc Marguerite Duras để nao nao nhớ lại bến Bắc qua sông Hậu Giang, để ngậm ngùi về tâm tình của một người đàn bà ngoại quốc đã để lại tâm tình nơi xứ sở tạm ngụ. Ðọc Graham Greene để nhớ tới Sài Gòn, nhớ tới quán cà phê bên lề đường của khách sạn Continnental, nhớ tới thời gian của chiến tranh của xáo trộn chính trị.

Còn đọc Vincent Lam, ý nghĩ nào hiện đến? Có còn tồn tại không cái thế giới của người Hoa, những người ngụ cư nhưng vẫn tồn tại văn hóa riêng, vẫn đèn nến sáng choang ở những ngôi chùa thờ Quan Thánh, thờ Bà Thiên Hậu?

Còn tôi, vẫn thỉnh thoảng bâng khuâng về những khi tuổi nhỏ, tinh nghịch đóng vai vua Quang Trung để tập kích đám học trò trường Tàu đi qua xóm mình. Nhưng, hình như Chợ Lớn là lãnh địa của họ. Buổi chiều đi học về muộn, nhìn bầy chim én bay lượn trên nóc Chợ Lớn, thấy những hàng quán bán ăn đêm với những tiếng người các chú ngọng líu ngọng lo, tự nhiên thấy mình đi lạc vào một lãnh địa khác. Cái cảm giác ấy, thật là kỳ lạ…Qua Hoa Kỳ, ngụ cư ở xứ người, tự nhiên lại thấy những người Tàu Chợ Lớn ấy với dân tộc mình cũng có điều gần gũi. Họ đi khắp nơi trên thế giới để sinh sống nhưng với Việt Nam họ vẫn còn nhiều điều quan hệ. Ít ra, họ cũng chịu chung số phận của những nạn nhân của Cộng Sản và đã mang cuộc đời mình thách đố với biển cả với bão giông để tìm kiếm tự do…

Nguyễn Mạnh Trinh

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
103 Pages«<101102103
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.