Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

103 Pages«<100101102103>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamlang  
#2021 Posted : Tuesday, November 10, 2020 12:46:52 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,543

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dạy tiếng Việt cho trẻ con, cần phải cẩn trọng lắm!

UserPostedImage

Một lớp học trước năm 1975. (Hình: Cựu Chủng Sinh Huế)

“Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi. Có lần chính mắt tôi đã thấy ông tán đinh đồng. Chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng. Ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.”

Bạn đọc đoạn văn có thấy lợn cợn gì không?

Theo tôi, đây là một ví dụ về tình trạng dung tục hóa tiếng Việt. Tôi chỉ tình cờ nhặt ra từ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3. Vì nó nằm trong sách đó, nên mới thấy cần nói đôi lời.

Bỏ qua cái nội dung có thể gây khó cho những đứa trẻ của hôm nay, chỉ xét về cách hành văn, tôi cho rằng đây là thứ có-vẻ-là-tiếng-Việt chứ không phải là tiếng Việt chân chính. Những đứa trẻ ở bước đầu học tiếng Việt, cần được tiếp xúc với những văn bản Việt ngữ thuần túy, để cảm thụ được chính xác vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ, chứ không phải những thứ rác rưởi như thế này.

Một đứa cháu kể về ông mình bằng ngôn ngữ đậm tính quan phương: “ông… VÀO LOẠI GIỎI.”

Đây là ngôn ngữ báo cáo, ngôn ngữ hành chánh, lạnh lùng, trung tính… Nó phù hợp với một quan chức nhận xét, xếp loại nhân viên chứ không phải một trần thuật mang cảm xúc của đứa cháu về ông mình.

Đừng coi nhẹ tiểu tiết này. Những đứa trẻ học cách nói như này sẽ không học được sự tôn kính chân thành, chúng cũng không cảm nhận được những sắc thái biểu cảm của lời nói phù hợp với tình huống phát ngôn.

“Có lần CHÍNH MẮT tôi đã thấy…” Tôi thấy là tôi thấy, lẽ nào có kiểu thấy bằng “chính mắt người ta?” Đây, đáng buồn, là kiểu nói/viết đã thành tập quán của rất nhiều người Việt hiện nay, giống như sự lây lan từ các loại nghị quyết và phát biểu của quan chức Cộng Sản “có lý luận.” Họ không hài lòng với những lời vừa-đủ để thể hiện ý muốn nói. Luôn phải có những nhấn mạnh, những thêm thắt cho trầm trọng ý nghĩa, khiến lời nói trở nên thừa thãi, ngô nghê. Nó chỉ tố cáo một lối tư duy rối rắm và ti tiểu, khiến tiếng Việt bị nhồi đầy những phụ kiện vô nghĩa, bị tước đi vẻ giản dị, trong sáng và gãy gọn vốn có.

“Ông là niềm tự hào của CẢ gia đình tôi.” Cũng là kiểu nhấn mạnh vô duyên như trên. Gia đình, không phải là bao gồm tất cả thành viên trong nó hay sao? “Cả gia đình” hay chỉ là “gia đình” thì nó cũng đâu bỏ sót ai? Hoặc giả cảm thông cho ý tác giả muốn tỏ rằng “cả” đây là nói “mọi thành viên trong gia đình, từng người một” đều tự hào về “ông tôi,” thì câu viết ấy cũng không thích hợp với văn cảnh. Nếu bỏ chữ “cả” đi, câu văn sẽ mang sắc thái giản dị và khiêm nhường. Ngược lại, cái chữ nhấn mạnh ấy lại khiến lời nói mang vẻ phô phang hợm hĩnh.

Tiếng Việt đẹp lắm, tế nhị lắm. Dạy tiếng Việt cho trẻ con, cần phải cẩn trọng lắm!

Nhưng tôi biết, chưa bao giờ nền giáo dục của chế độ Cộng Sản này tôn trọng ngôn ngữ (và văn hóa) dân tộc. Nó cũng không có mục đích đào tạo những thế hệ người Việt biết yêu nước thương nòi thông qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ của mình.

Le Thanh Truong
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#2022 Posted : Thursday, November 12, 2020 2:17:28 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhà Sách Tú Quỳnh, Vàng Son Một Thuở



Trong cuộc sống lưu vong của người Việt hải ngoại, những món ăn tinh thần cần thiết đã là một đòi hỏi không thể thiếu, nhất là những năm đầu trong cuộc sống trôi dạt khắp nơi của người Việt hải ngoại. Sự thèm khát được đọc một tờ báo, cuốn sách tiếng Việt hay nghe một băng nhạc cải lương, tân nhạc đã thúc đẩy người ta tìm về nơi đông đúc người Việt sinh sống. Một trong những điểm hẹn lý tưởng trên lộ trình hoài hương của người Việt là tìm đến một hiệu sách. Nhà sách Tú Quỳnh ra đời ở Little Saigon ở Quận Cam như một quyến rũ mời gọi thiết tha không riêng gì với cư dân quận Cam, mà còn với nhiều người Việt tha hương hay khách vãng lai. Phải nói đây là một địa điểm lịch sử đã có nhiều người Việt tị nạn tìm đến trong rất nhiều năm, kể từ ngày khai trương vào năm 1979. Tú Quỳnh có mặt ở Bolsa Mini Mall lúc quanh vùng này còn rất nhiều các mảnh đất trồng dâu và lèo tèo trong khu thương mại được gọi là Mini Mall chỉ có đôi ba cửa tiệm. Đối diện Tú Quỳnh là nhà hàng Thiên Cung sau đổi là Thành Mỹ cho tới nay. Sau đó lần lượt các cửa tiệm khác ra đời như: tiệm bán băng nhạc của nhạc sĩ Trường Hải, nhà in của Du Miên, văn phòng bán bảo hiểm của luật sư Nguyễn Xuân Phước, dịch vụ gửi hàng của ông Thuận, bán vé máy bay của ông Vượng, bán hàng nội thất của ông Đề và chợ Ái Hoa của ông Bói. Quán cà phê Lục Huyền Cầm của cặp nghệ sĩ Lê Uyên Phương sau này cũng có mặt, khiến nơi này trở nên một chốn kinh doanh đa dạng.


Riêng về khoản sách báo, khi ấy Tờ Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan đã in ấn bản đầu tiên từ năm 1975. Báo Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập năm 1978 thì được in ấn trong nhà để xe của ông. Văn Nghệ Tiền Phong của Nguyễn Thanh Hoàng ở Virginia đã bán rất chạy do độc giả đặt mua ở khắp nơi trên toàn nước Mỹ. Tờ Văn của Mai Thảo góp mặt cuối năm 1982 sau này, thu hút được những độc giả yêu văn đặt mua dài hạn.

Nhà xuất bản sách lớn nhất là Đại Nam hoạt động rất mạnh với chủ trương thu góp những sách báo, tiểu thuyết thời VNCH trước 75 của những người Việt tị nạn mang theo được, đem in lại rồi bán ra. Họ cũng thu thập và sang lại các băng cassette cải lương và tân nhạc. Nhà Xuất bản Xuân Thu do Kim Xuân chủ trương cũng gởi sách đi các nơi. Sau này nhà xuất bản Văn Nghệ của ông Võ Thắng Tiết ra đời vào cuối năm 1985 với một mục tiêu độc đáo là chọn tác phẩm để in. Do thế, sách của ông in vừa có chất lượng lại vừa có số lượng cao nhờ tầm phổ biến rất xa đi toàn thế giới những nơi có người Việt định cư. Ngoài ra, ông còn có những nhà văn thân hữu giúp ông tìm các tác phẩm hay và để in có giá trị.

Trong thời gian đầu, Tú Quỳnh trở thành một tiệm bán lẻ sách báo và băng nhạc. Ông bà chủ Tú Quỳnh là Thạnh và Yến đã đóng cửa một nhà hàng có tên là Quê Hương ở Hawaii rồi đến Bolsa lập nghiệp chỉ vì bạn bè rủ rê về Cali nhiều người Việt cho vui. Vài năm đầu tiệm còn ế ẩm, nhưng sau số lượng người Việt về Quận Cam ngày càng đông, khiến tiệm sách đi vào thời gian cực thịnh trong thập niên 1980. Tiệm trở nên nổi tiếng khiến người Việt địa phương đã dùng "khu Tú Quỳnh" để làm địa điểm mốc khi có người cần chỉ đường đến một tiệm nào đó trên đường Bolsa.


Bà Yến tiết lộ,
- Khoảng 1983 trở đi, sách bán chạy lắm. Thường thì một đầu sách in khoảng 50 tới 100 cuốn bán hết sạch. Có khi lên tới cả ngàn cuốn. Các nhà xuất bản gởi sách tới tấp. Sản phẩm của Thúy Nga Paris thì mỗi lần mua cả ngàn cuốn video bán hết bay, bây giờ 20 cuốn bán cũng không hết. Sách bán chạy nhất là hồi ký. Ngày đó, băng cassette chạy nhất là cải lương, thứ nhì mới tới tân nhạc. Như rồng gặp mây, chúng tôi mở nhà in tự in lấy sách và tự phát hành băng nhạc Tú Quỳnh Nhạc Tuyển với chủ đề. Cuốn băng bán chạy nhất là cuốn "Nhạc phim bộ chọn lọc", thứ nhì là "Phút bên em". Chúng tôi cũng quay video nữa, là cuốn "Tiếu Vương Hội" ngay tại Little Saigon này. Tiệm nới rộng làm 3 căn, chúng tôi cộng tác với Thuý Nga Paris, Trung tâm Giáng Ngọc và các trung tâm khác để trở thành trung tâm phát hành các sản phẩm âm nhạc tại Quận Cam kể cả bán vé show ca nhạc và đại nhạc hội. Thời vàng son kéo dài 20 năm. Ông Thạnh, chồng tôi mất năm 2018. Giờ thì buồn lắm, không dám chạy ngang tiệm luôn.

Người bạn của ông bà Tú Quỳnh là ông Yersin, chồng ca sĩ Thanh Mai, kiêm chủ nhân nhà hàng Thanh Mai tới giúp bà Yến bán sách, đã chia sẻ thêm về sách hồi ký bán chạy.


- Tôi rất thích đọc hồi ký. Sách có bao nhiêu tôi đọc hết bấy nhiêu. Thật ra, theo tôi, trong những cuốn hồi ký có những tác giả đã viết về mình quá lố nên không được trung thực. Riêng các cuốn hồi ký lịch sử viết về Ngô Đình Diệm thì trong 10 cuốn ra, thì 7 cuốn khen ông, còn 3 cuốn chê. Có cuốn nhận xét trung dung. Hồi ký về Bảo Đại hoặc Trần Văn Đôn cũng hay. Càng ngày càng có những cuốn viết đàng hoàng, hay và trung thực. Lịch sử trả lại lịch sử. Chỉ tiếc 1 điều rất uổng trong thời đại mình sống khoảng từ 1950 tới giờ ít có sách nói về ông Ngô Đình Nhu là 1 người rất hay, rất giỏi. Chỉ có vài cuốn của người trong nước viết chê trách ông theo thiên kiến. VN mình cũng khổ không bị bên này cũng bị bên kia. Như hình thể chữ S nằm ở giữa có cái eo, khi gió thổi, nó cứ lồng lộn hoài. Từ ngày ra khỏi nước tới giờ, 45 năm rồi, nó cũng như vậy !!!

Tôi xin bà Yến kể vài kỷ niệm từng có với văn nghệ sĩ.

- Tác giả thì có Duyên Anh từ Pháp qua. Tại đây, thì Mai Thảo rất thân với vợ chồng tôi, nhất là ông Thạnh. Hồi ấy Mai Thảo còn ở căn phòng cho người lớn tuổi ở khu nhà hàng Song Long. Hai người hay kéo nhau, đi ăn đi nhậu hoài. Các tác giả thì ra đây trò chuyện hàng ngày. Còn nghệ sĩ gần đây thì khỏi nói. Các ca, nhạc sĩ bên VN hay các nước khác ghé Mỹ đều đến đây, tôi có nhiều hình kỷ niệm chụp chung với họ. Thập niên 1980, khi phim bộ thịnh hành, Tần Hán, Huỳnh Nhật Hoà qua đây làm show có ghé đây và chụp hình nữa.


UserPostedImage
Ông bà Tú Quỳnh với Cố Nhà Văn Mai Thảo


UserPostedImage
Bà Yến với Tài Tử Hồng Kông Huỳnh Nhật Hoà


UserPostedImage
Bà Yến với Tài Tử Đài Loan Tần Hán


Thể theo lời yêu cầu của tôi, bà Yến mang hình ra chia sẻ. Tôi thấy ngày đó bà Yến thật đẹp và duyên dáng mặn mà. Hình bà chụp bên các tài tử phim bộ như Huỳnh Nhật Hòa (Quách Tĩnh), Tần Hán (vai nam chính trong các phim truyện của Quỳnh Dao), khiến tôi sống lại thời quá khứ của dân tỵ nạn VN say mê phim bộ. Ngày ấy, hầu như nhà người Việt hải ngoại nào cũng chết mê chết mệt với phim bộ kiếm hiệp hay phim bộ Quỳnh Dao từng lấy bao nhiêu nước mặt của phụ nữ. Coi sáng, trưa chiều, tối, khuya, quên ăn, quên ngủ, hết cuốn này sang cuốn khác, mắt mũi trỏm lơ!!! Đó cũng là thời huy hoàng của các tiệm cho thuê phim bộ.

Mấy mươi năm sau, đời sống thay đổi, con người thay đổi, món ăn tinh thần cũng thay đổi. Những em trẻ sinh ra tại VN sau 75, lớn lên ở hải ngoại, còn đọc và viết tiếng Việt như Trang Đài Glassy Trần-Nguyễn không có nhiều. Tôi rất mừng khi gặp em tại nhà sách hôm nay. Em cho biết:

- Em thật cảm động khi thấy tiệm sách đông người, không còn chỗ để vào. Em rất vui được gặp Chị và càng vui hơn khi biết Chị đang làm phóng sự. Nhìn quanh, thấy toàn những người tha thiết với chữ nghĩa, văn hóa, văn nghệ Việt Nam, em cũng bớt chạnh lòng. Riêng em đã tham gia dạy tiếng Việt với tư cách thiện nguyện ngay tại đây từ ngày đầu tiên đến Mỹ hơn 26 năm nay, nên đối với em, tiếng Việt rất quan trọng và là linh hồn của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, cái dây nối cho tất cả chúng ta ở khắp nơi trên thế giới. Em tin, dù TQ có phải đóng cửa thì em vẫn tin là văn hóa Việt Nam tại hải ngoại sẽ không mai một. Mai này, ắt sẽ có những nổ lực mới, những 'Cô Yến' mới, triển khai những hình thức sinh hoạt mới cho văn hóa, văn nghệ. Ngày xưa, thế hệ thuyền nhân đến tỵ nạn, gặp nhiều khó khăn, ngỡ ngàng, mà đã gầy dựng được nên Thủ Đô Tỵ Nạn tại Quận Cam như ngày hôm nay, thì em vẫn có niềm tin mãnh liệt vào một sự tiếp nối và bừng nở của sinh hoạt văn hóa sau khi đại dịch qua đi. Em tin vào những tấm lòng của các thế hệ đang lớn, những trái tim hướng về cội nguồn, những bạn trẻ sinh ở hải ngoại, tự trao dồi tiếng Việt, muốn học nhạc cụ dân tộc, muốn thấm nhuần văn hóa Việt Nam. Nhìn vào chặng đường 45 năm của cộng đồng Việt tỵ nạn tại hải ngoại và tại Quận Cam nói chung, em dám đặt niềm tin vào một tương lai vẫn đậm đà bản sắc dân tộc ở xứ người.


11/11/2020
Trịnh Thanh Thủy
UserPostedImage
Duy An  
#2023 Posted : Friday, January 1, 2021 12:18:47 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Trang Nguyên
December 17th, 2020
Dầu gió “trị bá bệnh”


Dầu Nhị Thiên Đường làm mưa làm gió suốt một thời gian dài, cho đến khi dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đứng vững trên thị trường từ thập niên 1950 và trở thành đối thủ xứng tầm. Cả hai đều được dân chúng ủng hộ và trở thành dầu gió thông dụng trong đời sống hằng ngày. Với dầu gió bác sĩ Tín được mệnh danh là “dầu bà đẻ”, còn Nhị Thiên Đường là dầu “trị bá bệnh” một thời.

Do quá tín nhiệm dầu gió Nhị Thiên Ðường nên người dân cho rằng nó “trị bá bệnh”. Thật ra cả hai loại dầu nói trên đều trị những bệnh thông thường nhức đầu sổ mũi. Ðau đầu thì xoa hai bên thái dương, đau bụng xoa lên bụng, sổ mũi thoa lên hai lỗ mũi, ho khục khặc thì xức dầu lên cổ. Thậm chí cảm thấy ớn lạnh nhỏ vài giọt dầu vào nồi nước sôi, trùm mền xông hơi mồ hôi ra như tắm thấy hồi phục lại ngay, trầy da chảy máu lấy dầu thoa lên như loại thuốc sát trùng. Chai dầu gió lúc nào cũng có trong nhà, trong túi áo mấy bà, mấy chị, hễ thấy người khó chịu cứ xoa dầu, cạo gió là xong. Buồn buồn lấy chai dầu ra xức lên thái dương, cổ họng để giữ cơ thể cho ấm, riết thành thói quen. Ngồi gần mấy bà già trầu ngồi trên xe thổ mộ hay xe lam chật chội, mùi dầu gió nồng nặc trong xe nhưng cũng cảm thấy dễ chịu hơn mùi dầu khói của xe lam xả mịt mù.

Trước khi có các loại dầu gió, người Việt mình hay dùng dầu cù là Mac Phsu. Nhớ hồi nhỏ tụi tôi chơi trò chi chi chành chành, cải biên lời ca đồng dao thành “Bòn bon si-cu-la, bánh tây sữa hột gà, dầu cù là mác-su” dù rằng thuở đó, dầu gió Nhị Thiên Ðường, rồi dầu khuynh diệp đã phổ biến khắp nơi. Người dân vẫn dùng cả ba loại dầu gió nhưng dầu nước thuận tiện hơn dầu cù là thoa lên người thấy nhớp nháp. Dầu Nhị Thiên Ðường có màu nâu đỏ, nhãn hiệu cầu chứng là hình Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.
Xem thêm: Tầm phào thời hiện đại

Còn một lời đồng dao vui nhắc đến dầu Nhị Thiên Ðường mà tôi tin rằng các vị tuổi trung niên đều biết: Nhất dương chỉ, Nhị thiên đường, Tam tông miếu, Tứ đổ tường, Ngũ vị hương, Lục tàu xá. Nói chung là trộn lẫn hằm bà lằng xá cấu, chỉ có món chè Lục tàu xá là ngon thôi.

Trong cuốn Phê bình và cảo luận, nhà phê bình Thiếu Sơn viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường. Tôi để ý tới tiểu thuyết của cụ rồi kiếm coi ở loại sách như những truyện Tàu in xấu, để giá 4 cắc mà luôn luôn bán dưới giá đó…”.

Xem ra ngoài các quảng cáo báo chí thông thường, nhà thuốc Nhị Thiên Ðường còn có sáng kiến tạo ra cách quảng cáo độc đáo để sản phẩm dầu gió được công chúng bình dân biết đến rộng rãi.

Tác giả Phạm Trường Giang ghi nhận: “Ðể quảng bá nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường, ông chủ đã chọn cách khá độc đáo. Ðó là thay vì đăng quảng cáo trên sách, báo thì ông ta thuê một số trí thức viết ra các bộ sách quảng cáo bằng chữ Quốc ngữ, luôn cả chữ Pháp và Hán tự, gọi là Vệ sinh chỉ nam. Trong cuốn sách này in đầy hình ảnh và chữ quảng cáo cho các cao đơn hoàn tán của Nhị Thiên Ðường, đồng thời in kèm vào trong đó các loại thơ văn để người mua có thể đọc thêm. Chẳng hạn bên cạnh quảng cáo dầu cù là Ông Tiên là trích đoạn thơ Lục Vân Tiên, bên cạnh nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường là từng phần Nghĩa hiệp kỳ duyên, bộ truyện tình cực kỳ ăn khách về mối tình Việt – Khmer lúc đó của Nguyễn Chánh Sắt hay còn gọi Chăn Cà Mum (tên nhân vật chính). Nhiều khi khách đang đọc quảng cáo thuốc xổ lãi thì được đọc thêm Hậu chàng Lía, hay các mối tình uyên ương ly hận của Hồ Biểu Chánh… Vì sao nhà văn Hồ Biểu Chánh không muốn in sách đẹp? Vì ông biết nếu sách in đẹp sẽ phải bán mắc và như vậy sẽ không đến được tay những độc giả bình dân thân thiết của ông. Chính nhờ những cuốn sách quảng cáo giá rẻ, in xấu như Vệ sinh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường mà văn chương chữ Quốc ngữ bình dân giai đoạn đó đã cực kỳ phong phú và phổ biến rộng khắp trong tầng lớp dân chúng…”.

Dầu Nhị Thiên Ðường do gia đình họ Vi người Quảng Ðông sang Chợ Lớn sáng lập. Không thấy tài liệu ghi nhà thuốc Nhị Thiên Ðường thành lập năm nào, chỉ biết ngoài dầu gió, nhà thuốc còn làm ra các loại đông dược trị các loại bệnh, đặc biệt là ngoại cảm tán, một loại thuốc trị cảm rất hiệu nghiệm, bán rất chạy, thậm chí cả thương hàn. Trong cuốn niên giám Ðông Dương 1933-1934 còn ghi lại: Nhị Thiên Ðường Pharmacie asiatique 47 rue de Canton (Triệu Quang Phục), Telephone no 58 Directeur Vi-Khai Chợ Lớn.

Ngược dòng thời gian về mấy chục năm trước nữa, trên địa bàn quận 5, Chợ Lớn (nay thuộc quận 8) điểm nguồn của quốc lộ 50 Long An đã có một cây cầu gỗ bắc ngang kênh Ðôi cho người dân qua lại. Ðến năm 1925, nhà thầu Vallois-Perret xây một cây cầu bê tông, trang trí hai bên ban công bằng những trụ đèn bằng sắt và từ đó cây cầu được đặt tên chính thức là cầu Nhị Thiên Ðường.

Theo những người dân cố cựu tại khu vực này thì, cây cầu gỗ hồi đó không có tên, do nhà thuốc Nhị Thiên Ðường dựng lên để thông thương hai bờ cho người dân dễ đi lại. Từ đó mà thành tên.

Theo ghi nhận của tác giả Phạm Trường Giang đăng trên báo Pháp Luật thì “nhà máy sản xuất thuốc và dầu Nhị Thiên Ðường nằm ở bên phía đường Trần Hưng Ðạo và Nguyễn Văn Dũng, còn công nhân thì ở khu vực ngoại thành phía bên kia kênh Ðôi. Hằng ngày để đi đến chỗ làm các công nhân đều phải đi đò qua kênh Ðôi rất mất thời gian và nguy hiểm. Ông chủ Nhị Thiên Ðường quyết định bỏ tiền cùng với chính phủ Nam Kỳ lúc đó xây nên cây cầu này làm việc thiện cho dân chúng thuận tiện đi lại, trong đó có các công nhân của ông. Cũng có giai thoại cho rằng khi xây cầu, chính phủ Nam Kỳ vận động ông chủ Nhị Thiên Ðường ủng hộ một phần tiền để đổi lấy việc đặt tên cầu chứ không phải toàn bộ kinh phí xây cầu vì số tiền này rất lớn. Cũng có một giai thoại khác là kinh phí xây cầu đều do chính phủ Nam Kỳ lúc đó bỏ ra. Do ở gần ngay nơi chân cầu vốn có một dãy nhà kho lớn là nơi chứa gạo và sản phẩm của dầu Nhị Thiên Ðường, được dân chúng gọi là kho Nhị Thiên Ðường nên khi xây cầu xong, người ta lấy luôn tên Nhị Thiên Ðường đặt cho cây cầu. Không rõ trong các giai thoại trên cái nào là chính xác nhưng chắc chắn là đều có liên quan đến nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường”.
Xem thêm: Cuộc sống trên trạm không gian

Sau 1975, dầu Nhị Thiên Ðường ngừng hoạt động. Dòng họ Vi ra định cư nước ngoài và tiếp tục sản xuất dầu gió “trị bá bệnh”. Những năm sau đó, trong nước xuất hiện lại dầu gió Nhị Thiên Ðường nhưng là hàng giả mạo.

Edited by user Friday, January 22, 2021 12:53:30 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2024 Posted : Thursday, January 14, 2021 12:17:38 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Mùa Hè Đỏ Lửa 1972: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, "Người Ở Lại Charlie"


Jan 2, 2021
Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Các trận đánh trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, trong đó nổi bật nhất là các cuộc giao tranh tại ba mặt trận lớn ở An Lộc, Kon Tum và Quảng Trị.


UserPostedImage
Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (trái). (Hình: Tài liệu)

Từ những ngày đầu Tháng Tư, 1972, tại vùng Tân Cảnh-Dakto ở phía Tây Bắc Kon Tum diễn ra các cuộc giao tranh trước tiên, trong khuôn khổ Chiến Dịch Bắc Tây Nguyên của quân đội Cộng Sản Bắc Việt, và nhắm vào các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Vùng II Chiến Thuật.


Bối cảnh trận đánh tại căn cứ Charlie


Quân Lực VNCH trấn đóng tại vùng phía Tây Bắc tỉnh Kon Tum gần biên giới Việt-Miên-Lào gồm các lực lượng Bộ Binh, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, và Nhảy Dù, với nhiệm vụ chính là bảo vệ sườn phía Tây của Vùng II Chiến Thuật, đồng thời theo dõi các hoạt động chuyển quân từ Bắc vào Nam của Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt trong mưu đồ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Mỗi khi phát hiện các đoàn quân Cộng Sản xâm nhập này, phía VNCH sẽ báo cáo lại cho Hải và Không Quân Hoa Kỳ, đặc biệt là các phi đội oanh tạc cơ khổng lồ B-52, bay đến tiêu diệt họ cùng với số vũ khí, quân trang, quân dụng, và lương thực mang theo.

Hai căn cứ Charlie và Delta, nằm trong tuyến phòng thủ gồm nhiều cứ điểm của Quân Đoàn II Quân Lực VNCH ở phía Tây Sông Pôkô và Quốc Lộ 14, là những mục tiêu bị Cộng Quân tấn công đầu tiên trên đường tiến quân của họ về hướng Tân Cảnh, Dakto và thị xã Kon Tum, một trong ba mặt trận lớn trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Trận đánh quyết định tại Đồi Charlie diễn ra từ ngày 11 đến 14 Tháng Tư, 1972, trong đó Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù (Tiểu Đoàn Song Kiếm Trấn Ải), tử trận, và Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, quyết định rút quân khỏi Charlie.

Từ đầu Tháng Ba, 1972, biết được kế hoạch của Cộng Sản Bắc Việt là sẽ dùng các Sư Đoàn 320A, Sư Đoàn 322, và Sư Đoàn F10 cùng các đơn vị du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tấn công vào các cứ điểm của Quân Lực VNCH, Trung Tướng Ngô Du, tư lệnh Quân Đoàn II và Vùng II Chiến Thuật, đã điều động các lực lượng Bộ Binh và Thiết Giáp của Sư Đoàn 22 Bộ Binh lên Tân Cảnh để đối phó. Tướng Du còn điều động Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân đến các căn cứ biên phòng, đặc biệt là đồn Ben Het, để bảo vệ các tuyến giao thông đi vào Vùng II.

Vị tư lệnh Quân Đoàn II cũng yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH cho tăng cường thêm Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù để làm lực lượng trừ bị tại Kon Tum và sẵng sàng cứu ứng cho Tân Cảnh khi cần thiết. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù đóng tại làng Võ Định, cạnh Quốc Lộ 14, giữa khoảng Kon Tum và Dakto. Các đơn vị trực thuộc được bố trí tại các cao điểm trên Dãy Rocket Ridge về phía Tây quốc lộ 14, với các căn cứ Alpha, Yankee, Charlie, Delta, Hotel… Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù dưới quyền Trung Tá Nguyễn Đình Bảo được chỉ định trấn đóng căn cứ Charlie, gồm các cao điểm 960, 1020, và 1050.

UserPostedImage
Nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. (Hình: Tài liệu)


Cộng Quân tấn công căn cứ Charlie, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh

Từ ngày 3 Tháng Tư, các lực lượng Sư Đoàn 320A khởi sự tấn công căn cứ Charlie và cứ điểm Rocket Ridge. Cuộc tấn công diễn ra nhiều đợt, và cho đến ngày 11 và 12, Cộng Quân liên tục nã hàng ngàn quả đạn 130 ly, 122 ly, và hỏa tiễn đủ loại vào hệ thống phòng ngự của căn cứ Charlie, quyết dứt điểm căn cứ này.

Khoảng 9 giờ sáng 12 Tháng Tư, Cộng Quân tiếp tục pháo loại đạn nổ chậm. Hầm chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tại cao điểm 1020 bị trúng nguyên một trái đạn 130 ly và bị sập toàn bộ, xác vị chỉ huy tiểu đoàn bị mảnh đạn cắt đứt nhiều chỗ. Khoảng 10 giờ rưỡi đêm đó, các lực lượng Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320A đã chiếm được nhiều nơi trên căn cứ Charlie.

Ngày 13 Tháng Tư, Đại Úy Hùng “Móm” dẫn Đại Đội 112 tổ chức phản công với ý định chiếm lại cao điểm 960 để bảo vệ nguồn nước và bãi đáp dành cho trực thăng ở khu yên ngựa của cụm đồi Charlie, nhưng cuộc phản công bị Cộng Quân đầy lui.

Ngày 14, Cộng Quân tiếp tục tấn công vào các cao điểm cón lại của căn cứ Charlie bằng những trận mưa pháo ghê gớm. Vừa dứt pháo, Cộng Quân tràn lên tấn công vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù do Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, chỉ huy. Vào lúc này, Thiếu Tá Mễ biết rõ là đơn vị đã hết đạn và cạn lương thực, bởi vì từ ngày 7 Tháng Tư đến nay, tiểu đoàn không nhận được tiếp tế đạn dược và lương thực. Trước hoàn cảnh bi đát đó, Thiếu Tá Mễ bàn với Thiếu Tá Đoàn Phương Hải, trưởng Ban 3 tiểu đoàn, là cần phải rút quân để tìm lấy cái sống trong cái chết cận kề.

Để thực hiện kế hoạch này, vị chỉ huy Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã ra lệnh cho các đại đội rời căn cứ Charlie theo hướng Đông-Bắc và tìm đường rút về Tân Cảnh (bộ chỉ huy hành quân của Sư Đoàn 22 Bộ binh) thay vì về Võ Định (nơi đóng quân của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù) vì vị trí này quá xa căn cứ Charlie. Thiếu Tá Mễ cũng xin Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, nửa giờ sau khi lính Dù đã rút đi, cho bắn đạn nổ chụp ngay trên đồi Charlie để tiêu diệt quân tấn công đang tràn ngập căn cứ.


UserPostedImage
Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo (phải) và Ðại Tá Trương Vĩnh Phước trong chiến dịch Damber, Cambodia, Tháng Tám, 1971. (Hình: Tài liệu)


Vĩnh biệt Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie”

Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, cả năm đại đội và bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng nhau rời cao điểm 1020, vĩnh biệt Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie.” Cộng Quân tràn lên chiếm đồi thì bị trọng pháo của Nhảy Dù từ các căn cứ hỏa lực gần đó đồng loạt bắn vào. Sau đó, một phi đội pháo đài bay B-52 xuất hiện, dội hàng trăm tấn bom xuống căn cứ Charlie vừa bị bỏ lại. Các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt mới tiến lên căn cứ và chưa kịp chấn chỉnh hàng ngũ thì đã bị tan nát dưới trận mưa bom của Không Lực Hoa Kỳ.

Cái chết của vị sĩ quan anh hùng này đã gây nhiều xúc động trong lòng các chiến hữu Nhảy Dù và cả các chiến binh thuộc các quân, binh chủng bạn, bởi vì Trung Tá Bảo nổi tiếng là vị chỉ huy tài ba, gan dạ và hết lòng yêu thương đồng đội.

Charlie hay Tân Cảnh, Dakto, Kon Tum… không phải là những chiến trường duy nhất mà gót giày sô của vị trung tá đã đi qua, mà còn những địa danh khác nữa, như “Toumorong, Dakto, Dam-be, Đức Cơ, Krek, Snoul, Khe Sanh, Hạ Lào…” như được kể đến trong ca khúc “Người Ở Lại Charlie” của Trần Thiện Thanh, và còn nhiều, nhiều nữa những “địa ngục trần gian” khác từng “dàn chào” bao người chiến binh Quân Lực VNCH như Nguyễn Đình Bảo trong suốt cuộc chiến bảo vệ miền Nam Tự Do trước cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Quốc Tế hồi hạ bán thế kỷ trước.

Giữa mùa tao loạn, cái chết ngay tại chiến trường mới là vinh dự thật sự của người chiến binh, cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, lúc sinh thời, vẫn thường nói vậy. Nếu Trung Úy Nguyễn Văn Đương chỉ nhờ một trận đánh trên Đồi 31 tại chiến trường Hạ Lào mà trở thành “người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương” thì Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, “người ở lại Charlie,” trở thành người anh hùng trong cuộc chiến. Không phải chỉ vì một trận chiến trên một ngọn đồi tại vùng núi rừng Kon Tum heo hút mà là vì những chiến công của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo qua biết bao nhiêu lần vào sinh, ra tử tại các mặt trận khác, bởi vì danh vị anh hùng đó còn tùy thuộc vào chiều dài của đời quân ngũ và bề dày của những hy sinh, gian khổ mà người chiến binh cống hiến cho quốc gia, dân tộc.

Trong trận chiến trên đồi Charlie, thiết tưởng hai chiến sĩ khác, một Việt, một Mỹ, cũng rất đáng được khâm phục và ngợi ca.

UserPostedImage
Bản đồ căn cứ Charlie, 1972. (Hình: nhayduwdc.org)


Theo các bài viết về trận đánh tại căn cứ Charlie của tác giả Vương Hồng Anh trên các trang mạng vietbao.com và dongsongcu.wordpress.com, người thứ nhất đáng được vinh danh là Trung Sĩ Lung thuộc Đại Đội 111, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, người chiến sĩ can trường đã xung phong bắn mở đường cho đồng đội tháo lui, rồi sau đó còn gan lì đoạn hậu để che chở cho anh em rút đi yên ổn trước khi hy sinh vì trúng đạn của Cộng Quân.

Người thứ nhì là Thiếu Tá Duffy, John Duffy, một sĩ quan Lục Quân Mỹ, sau trở thành Cố Vấn Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù Quân Lực VNCH. Trong cuộc rút quân khỏi căn cứ Charlie, vị sĩ quan Mỹ gan dạ này luôn nằm trong số những người sau cùng lên trực thăng di tản vì có lòng tốt muốn nhường chỗ cho các chiến binh Nhảy Dù lên máy bay trước. Và, vào phút chót, khi đã đặt chân được lên trực thăng rồi mà Thiếu Tá Duffy, bất chấp nguy cơ có thể bị bỏ lại vùng địch chỉ vì đây là chuyến trực thăng chót trong cuộc di tản khỏi Charlie, vẫn còn phải nhảy xuống đất để kịp đỡ Thiếu Tá Hải lên trực thăng, sau khi vị thiếu tá Dù bị trúng đạn địch mà rớt khỏi phi cơ.

Phải biết rằng Quân Đội Thiên Hoàng Nhật Bản (hồi Đệ Nhị Thế Chiến) và Quân Lực VNCH (thời Chiến Tranh Việt Nam) vẫn nổi tiếng là hai đạo quân có các chiến binh dũng cảm nhất thế giới. Điều lý thú là các sĩ quan Mỹ từng tâm sự rằng họ rất “ngán” khi được phái đến làm cố vấn cho các đơn vị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, và Biệt Động Quân, bởi vì ai cũng lo sợ mình không đủ gan dạ để theo kịp những người bạn chiến đấu đó trong Quân Lực VNCH.

(Vann Phan)
UserPostedImage
Duy An  
#2025 Posted : Monday, February 15, 2021 7:33:58 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhớ mùi nước mắm quê, bèn gầy dựng hãng nước mắm ở Mỹ


Feb 14, 2021
Đằng-Giao/Người Việt


WESTMINSTER, California (NV) – Nước mắm thơm ngon là niềm đam mê mà ông Phạm Thế Cường, một kỹ sư 25 năm của hãng Apple Inc., theo đuổi trong nhiều năm. Như mọi thuyền nhân Việt Nam, cuộc đời ông Cường gắn liền với những chiếc thuyền, nhưng ông lại đi xa hơn với một con thuyền khác.

UserPostedImage

Thuyền đỏ Red Boat quanh Phú Quốc, nơi có cá cơm than ngon nhất. (Hình: Andrew Bordwin)

Ông kể: “Ký ức thời ấu thơ của tôi mặn mà hương vị nước mắm nhĩ Phú Quốc. Hồi tôi còn nhỏ, mẹ tôi chỉ nấu ăn bằng nước mắm này.”


Do vậy mà trước sau như một, ông Cường một lòng khôi phục lại một sản phẩm quốc hồn, quốc túy đã từ lâu thiếu vắng trên thương trường hải ngoại.

Hương vị nước mắm nhĩ Phú Quốc

Vượt biên năm 1979, ông mang trong đầu những bữa cơm thịt kho “dậy mùi” mẹ nấu trong những chiều mưa quê nhà. Ở Mỹ, trong thâm tâm, ông luôn khao khát không khí hạnh phúc gia đình quây quần quanh mâm cơm đầm ấm của những ngày đã qua.

“Qua Mỹ, vô chợ, tôi thấy hàng chục loại nước mắm, tên Việt có, tên Anh có, nhưng tôi không tìm được nước mắm nhĩ ngon như ngày xưa nữa,” ông kể. “Tôi thất vọng lắm.”

Thời gian đã lâu, nhưng không bôi xóa được hương vị những bữa ăn đậm đà quê nhà năm xưa.

Bảo lãnh mẹ sang Mỹ năm 1990, hai mẹ con ông đều đồng ý là những món ăn bà làm không ngon như xưa nữa dù bà không đổi công thức. Mãi sau, ông mới biết chắc chắn đó là vì không có nước mắm ngon như năm xưa.

Ông biết muốn có món ăn ngon, phải có nước mắm ngon.

Năm 2005, ông về Phú Quốc, ghé thăm “nhà thùng” và mua tặng mẹ mấy chai nước mắm nhĩ. “Đem qua đây, nếm xong, mẹ tôi mừng muốn khóc,” ông hồi tưởng. “Đúng là nước mắm ngày xưa rồi.”

Khi thấy mẹ mình khư khư cất giữ mấy chai nước mắm như bảo vật, không dám thoải mái dùng vì sợ hết; ông biết rằng ông phải sản xuất nước mắm này và đưa qua Mỹ. “Tôi không muốn trở thành nhà sản xuất chỉ vì tiền mà vì tôi muốn làm nước mắm ngon cho mọi người,” ông bày tỏ.

Mẹ ông cũng đóng một vai trò quan trọng trong quyết định này của ông.

“Lý do quan trọng nhất là làm mẹ tôi vui,” ông tâm sự. “Lý do thứ nhì là có nước mắm ngon thì gia đình, con cái mình được ăn ngon.”

“Hơn nữa, nước mắm Việt Nam quá ngon mà sao mình không phổ biến cho thế giới,” ông tiếp.

Phải chăng đây cũng là công thức làm nước mắm của ông? Lòng hiếu thảo, lòng thương yêu gia đình, nỗi hoài niệm, một chút tự hào dân tộc, một chút cầu toàn?


UserPostedImage

“Nhà Thùng” Red Boat với thùng chứa bằng gỗ để giữ nguyên truyền thống. (Hình: Tiffany Phạm cung cấp)

Bốn năm mới sản xuất được “như mùi nước mắm quê”


Ngay năm 2005, ông Cường hợp tác với một “nhà thùng,” một lò nước mắm tại Phú Quốc, và năm sau, 2006, bắt đầu sản xuất. “‘Nhà thùng’ nhỏ nên lúc đầu, chúng tôi sản xuất ít thôi,” ông nói. “Tôi thích sản xuất kiểu thủ công cổ truyền.”

Bốn năm đầu, trong thời gian thử nghiệm, phẩm chất nước mắm chưa đúng với yêu cầu quá cao của ông. Phải một thời gian nữa, sau khi tỉ mỉ chỉnh sửa, đến năm 2009, ông mới cảm thấy vừa ý.

Ông muốn Red Boat, thương hiệu của ông, phải là nước mắm nguyên chất và tinh khiết nhất thế giới. Red Boat phải là một sự hòa quyện vô cùng tinh tế của thịt, xương cá cơm than với muối và thời gian mà thôi.

Từ những tặng phẩm thiên nhiên của biển, ông đã biến thành những giọt nước mắm đậm đà ánh vàng sóng sánh, chất chứa bao nhiêu tinh hoa văn hóa ẩm thực của tổ tiên; bởi vì, với ông, nước mắm là quê hương, nước mắm là tuổi thơ, là kỷ niệm. Nước mắm tượng trưng cho những ngày êm đềm một thuở đã qua.

“Nước mắm thì vô số trên thương trường tại Mỹ nhưng nước mắm chính gốc Phú Quốc, tôi tìm hoài không có. Bởi vậy tôi mới quyết định tự sản xuất,” ông Cường nói.

Nước mắm của ông phải đạt những tiêu chuẩn cao nhất, khó khăn nhất.

Cá cơm lưới lên quanh Phú Quốc phải được ướp muối ngay lập tức để giữ độ tươi ngọt. “Vừa kéo lưới lên, sau khi loại bỏ ‘cá tạp,’ chúng tôi ướp cá liền rồi cho vô hầm. Muối chúng tôi sử dụng cũng là loại muối biển tinh khiết cao cấp,” ông nói. “Sau đó chúng tôi ‘ủ chượp’ tức là làm cho cá lên men, ít nhất là 12 tháng.”

Ông nhấn mạnh: “Vì công thức của chúng tôi rất đơn giản nên chúng tôi phải cẩn thận theo dõi mọi bước trong từng công đoạn. Càng đơn giản, người ta càng dễ làm sai.”

Chính vì đơn giản nên từng bước phải hết sức chính xác.

Ngay cả những thùng chứa cá để “ủ chượp” cũng phải được đóng bằng gỗ trong rừng tại địa phương như bời lời, vên vên, trai hay mè điếc.

Dù từng là một kỹ sư cho hãng Apple tại Mỹ, nhưng ông Cường lại không thích cơ khí hóa cơ sở của mình mà lại muốn “nhà thùng” của Red Boat hoạt động theo kiểu thủ công truyền thống.

Đây là một quyết định táo bạo giữa thời buổi mà máy móc, cơ khí, điện toán đã len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống vì tiện lợi hơn và nhanh chóng hơn nhiều. Hơn ai hết, vị cựu kỹ sư biết quá rõ điều này. Nhưng ông cương quyết muốn Red Boat phải là nước mắm truyền thống đã làm đậm đà bữa cơm Việt Nam từ bao đời nay để có thể đạt được phẩm chất mà nước mắm Phú Quốc được ca ngợi từ trước đến giờ.

Ông cười: “Nước mắm truyền thống Phú Quốc quá tuyệt vời xưa nay. Tôi muốn bảo vệ, duy trì và phát triển món ngon truyền thống này.”

UserPostedImage

“Phamily Red Boat,” từ trái, Tiffany Phạm, Cường Phạm và Tracy Phạm. (Hình: Tiffany Phạm cung cấp)

Độ đạm cao nhất


Chính vì vậy mà Red Boat phải hoàn toàn do thịt, xương cá hòa tan vào muối mà ra chứ tuyệt nhiên không có một giọt nước nào cả.

Chính nhờ vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, Red Boat đã trở nên vượt trội trên thương trường ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới.

Chính nhờ vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, Red Boat đã trở thành lựa chọn duy nhất của nhiều đầu bếp nổi danh hàng đầu trên thế giới. Chính những đối thủ của Red Boat phải công nhận rằng nhờ Red Boat mà nước mắm Việt Nam mới thực sự có tên trong công thức nấu nướng của các nhà hàng hàng đầu được phong tặng sao Michelin.

Không chỉ người Á Châu mê Red Boat, ngay cả những cựu quân nhân Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam cũng rất ngạc nhiên khi tìm được hương vị cũ.

Tại sao vậy?

Ông Cường khẳng định: “Red Boat có độ đạm là 40°N (40 gram Nitrogen trong một lít). Và vì làm bằng phương pháp truyền thống nên hương vị rất thanh khiết.”

Một trong những lý do để Red Boat có độ đạm cao hàng đầu như vậy là vì hãng này chỉ dùng nước mắm nhĩ, còn gọi là nước mắm cốt mà tiếng Anh là “first press.”

“Red Boat hoàn toàn là nước mắm nhĩ, là ‘first press,’” ông Cường khẳng định. “Đó là lý do Red Boat luôn có hàm lượng đạm cao.”

Độ đạm càng cao, nước mắm càng thơm ngon.

Mãi về sau, Red Boat mới có loại “nước hai” (“second press”). Loại này rẻ hơn và được dán nhãn màu trắng để khách hàng dễ dàng phân biệt với loại thượng hảo hạng.

Nhà sản xuất không muốn có sự nhầm lẫn giữa “nhĩ nhất” với “nhĩ hai.”

Tuy loại hai không thể bì với loại nhất nhưng vẫn là nước mắm ngon.


UserPostedImage

Ông Phạm Thế Cường (thứ ba, từ phải) cùng một nhóm nhỏ nhân viên Red Boat tại Phú Quốc. (Hình: Denis Bissonnette)

Nước mắm ngon không được có mùi


Ông nói: “Sau khi thấy nước mắm đã ổn định và đạt được tiêu chuẩn khó khăn của tôi, tôi mới sản xuất hàng loạt, nhưng vẫn giữ tính chất thủ công.”

Vượt qua bao thử thách khó khăn, mãi đến năm 2011, Red Boat đã thực sự có đủ phẩm lượng để đi vào thương trường với đầy đủ uy tín.

Nước mắm ngon, theo ông Cường, sẽ làm làm tăng thêm hương vị món ăn. “Khi dùng nước mắm ngon, món ăn sẽ thơm lừng, sẽ ‘dậy mùi,’” ông nói.

Ông nhấn mạnh: “Với tôi, nước mắm ngon không được có mùi, không được làm hôi nhà mà chỉ làm tăng thêm mùi vị món ăn thôi.”

“Có nhiều phụ nữ gốc Việt lấy chồng ngoại quốc và không được nấu món nào có nước mắm trong nhà. Nhưng từ khi có Red Boat, họ rất mừng vì có thể nấu món Việt Nam một cách thoải mái vì không có mùi gì cả,” ông kể.

Ông tự hào: “Đó là đặc điểm của Red Boat. Chỉ làm tăng hương vị món ăn thôi.”

Làm tăng hương vị món ăn là điều kiện ông muốn Red Boat phải đạt được. “Cho một chút Red Boat vô thịt heo thì mùi thịt heo thơm nức. Hoặc giả, cho một chút Red Boat vô dĩa rau xào thì mùi rau lại nổi bật lên,” ông Cường hãnh diện nói.

Ông chia sẻ thêm một chuyện: “Hồi còn sống, cha tôi rất thích ăn ‘steak.’”

Vì thế, ông nghĩ đến chuyện chế ra Red Boat dạng muối để ướp thịt.

Ông thường mua “steak” ở Costco về làm cho cha. Ông hãnh diện kể: “Một lần cha tôi hỏi, ‘Thịt bữa nay mua ở đâu mà ngon vậy?’ Tôi trả lời vẫn mua ở Costco như mọi bữa thôi cha.’ Cha tôi nhai một miếng nữa rồi nói, ‘Kỳ này Costco bán thịt ngon ghê” làm tôi rất vui vì bữa đó tôi ướp thịt bằng muối ướp Red Boat.”

Nói về lý do Red Boat không nặng mùi nước mắm cố hữu, ông giải thích: “Trong ngành computer có câu ‘Garbage in, garbage out’ (GIGO), nghĩa là nếu làm việc dựa trên một khái niệm không hoàn chỉnh thì kết quả sẽ không thể tốt đẹp được. Cũng như, cho rác vô thì chỉ nhận được rác là chuyện tất nhiên.”

Đó là lý do Red Boat chỉ dùng toàn nguyên liệu tươi nhất, tinh chất nhất và “ủ chượp” bằng phương cách vệ sinh nhất. “Hơn nữa, cá cơm của Red Boat được ướp muối biển thượng hạng khi còn tươi nên không thể có mùi hôi,” ông nói.

Nhận nước mắm từ Phú Quốc, trong thời gian đầu, ông bán “online” từ nhà.

Ông nói: “Thời gian đầu chỉ có vài chợ bán Red Boat thôi, nhưng tôi bán ‘online’ khá nhiều.”

Tiffany Phạm, cô con gái út của ông Cường, còn nhớ rất rõ những ngày phôi thai của Red Boat.

Cô góp chuyện: “Cháu nhớ lúc đó cả nhà quây quần lại giúp ba cháu. Người thì nếm coi đủ ngon chưa, người thì phụ đóng gói dưới ‘garage.’ Cả gia đình phụ nhau. Vui lắm.”

Nói về nguyên liệu tự nhiên của nước mắm Red Boat, cô nghiêm giọng: “Red Boat quá ngon nên không cần ‘trốn’ sau lưng bất cứ chất điều vị hay chất bảo quản nào cả. Red Boat nguyên chất 100%.”

UserPostedImage

“Red Boat Concentrated Nước Chấm” sản phẩm mới nhất của công ty Red Boat. (Hình: Marie Buck)

Gắn bó với những con thuyền


Như mọi thuyền nhân Việt Nam, cuộc đời ông Cường gắn liền với những chiếc thuyền. Năm 1979, ông lên đường vượt biên bằng thuyền đánh cá.

Năm 2011, con thuyền có cánh buồm đỏ Red Boat của ông đã vượt hải phận Thái Bình Dương để trở thành thương hiệu quen thuộc của những đầu bếp thượng thặng thế giới tại những nhà hàng đoạt danh hiệu Michelin cao quý như State Bird Provisions và Mister Jius ở San Francisco, California; Le Bernadin ở New York và Tim Raue ở Berlin, Đức.

Nhờ con thuyền thay đổi cuộc đời, ông Cường chọn tên Red Boat làm thương hiệu cho mình. Ông nói: “‘Boat’ là vì tôi từng là ‘boat people,’ là thuyền nhân, còn ‘red’ là vì đây là màu của sự may mắn, của sự phát triển.”

Nhờ cánh buồm Red Boat, nước mắm nhĩ, linh hồn ẩm thực Việt Nam, đã hòa quyện vào văn hóa ẩm thực thế giới, từ Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha đến tận những nơi chốn xa xôi.

Niềm vui của sáng lập viên công ty Red Boat Phạm Thế Cường không phải là số lít nước mắm bán ra ngày một tăng dần hằng năm, mà niềm vui của ông là được thấy khách tiêu thụ trân trọng sản phẩm của mình. “Tôi rất mừng khi các cụ nhận xét rằng Red Boat cũng y như nước mắm nhĩ Phú Quốc hồi xưa,” ông chia sẻ. “Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc to lớn nhất cho tôi.”

Ông vui lắm khi lúc đầu, khi Red Boat chỉ mới được bày bán ở vài chợ, các cụ rủ nhau khệ nệ mua từng thùng. Ông cười: “Hồi đó, mỗi thùng chỉ có sáu chai thôi nên các cụ cứ rủ nhau cùng đi mua về để dành, sợ mai mốt hết thì không còn để mua.”

Nhìn các cụ khó khăn khuân từng thùng nước mắm bước ra khỏi chợ, ông biết ông đã sản xuất được một sản phẩm có giá trị.

Bây giờ, Red Boat đã có mặt ở mọi nơi xa gần.

Tại Mỹ, nước mắm Red Boat được bày bán tại các chuỗi siêu thị tầm vóc như Dean & DeLuca, Whole Foods Market, Trader Joe’s và Costco Wholesale cũng như tại các siêu thị Á Châu.

Theo dự trù của ông Cường, nước mắm Red Boat sẽ bước vào thị trường Trung Đông trong một ngày thật gần.

Không biết cánh buồm Red Boat sẽ đi đến nơi nào trên thế giới, chỉ mong nước mắm này sẽ mãi là món quà văn hóa ẩm thực thuần Việt quý báu từ thiên nhiên, là tinh hoa chắt lọc từ lòng đại dương Việt Nam.
[qd]

Bài đăng trên Giai Phẩm Người Việt Xuân Tân Sửu 2021

Edited by user Monday, February 15, 2021 7:38:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2026 Posted : Monday, February 22, 2021 4:08:14 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage

Hải Quân Trung Tá Tín Trần (bên phải) nhận bàn giao chức hạm trưởng USS John McCain ngày 19 Tháng Hai, 2021. (Hình: 7th Fleet)


Hải Quân Trung Tá gốc Việt làm hạm trưởng USS John McCain


YOKOSUKA, Japan (NV) – Một Hải Quân Trung Tá gốc Việt vừa được cử làm hạm trưởng khu trục hạm USS John McCain thường xuyên hoạt động trên Biển Đông.

Bản tin của Đệ Thất Hạm Đội (Hạm Đội 7) mới đây cho hay Hải Quân Trung Tá Tín Trần đã nhận bàn giao chức hạm trưởng khu trục hạm trang bị hỏa tiễn dẫn dường USS John McCain trong một buổi lễ tại căn cứ ở Yokosuka, Nhật Bản, hôm 19 Tháng Hai, 2021.

Khu trục hạm USS John McCain trực thuộc Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, có mặt thường xuyên trên Biển Đông và đã một số lần đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của quần đảo Hoàng Sa và các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi đắp thành căn cứ quân sự ở quần đảo Trường Sa thời gian gần đây.


Theo bản tin của Đệ Thất Hạm Đội, trước đó, ông Tín Trần đã là hạm phó (executive officer) của USS McCain, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của chiến hạm này hàng ngày trong khi hạm trưởng tập trung vào chiến lược và tính toán các bước hoạt động kế tiếp. Ông là hạm trưởng thứ 19 và cũng là hạm trưởng gốc Việt đầu tiên của USS John McCain.

“Thưa các bằng hữu và gia đình, tôi đứng trước mặt quý vị ngày hôm nay trong tư cách hạm trưởng thứ 19 của USS John McCain, là một bằng chứng xác nhận các cơ hội vô giới hạn của mọi công dân Hoa Kỳ, dù là người bản địa hay di dân.” Ông Tín Trần phát biểu trong buổi lễ bàn giao.

“Tôi là nhân chứng cho tiềm năng vô giới hạn mà Hải quân cống hiến cho các thanh niên nam nữ tình nguyện phục vụ”.

Từ cuối Tháng Chín, 2020, đến nay, khu trục hạm USS John McCain đã tham gia nhiều cuộc tập trận đa quốc gia từ biển Ấn độ dương tới Biển Đông, biển Nhật Bản. Mới ngày 5 Tháng Hai gần đây, khu trục hạm McCain đi vào phạm vi 12 hải lý của một số đảo tại quần đảo Hoàng Sa hiện đang bị Trung Quốc chiếm giữ (cướp của VNCH hồi Tháng Giêng 1974), thách thức chủ quyền ngang ngược của Bắc Kinh.

Trước đó, khu trục hạm USS John McCain hôm Thứ Ba, 22 Tháng Mười Hai 2020, đã đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của đảo nhân tạo Trung Quốc bồi đắp bất hợp pháp ở quần đảo Trường Sa.

Bản tin của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ nói rằng chuyến đi nhằm khẳng định quyền tự hải hành ở vùng biển Trường Sa, phù hợp với luật lệ quốc tế.

Hồi Tháng Mười năm ngoái, khu trục hạm USS John McCain cũng đã đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của quần đảo Hoàng Sa.


UserPostedImage
Khu trục hạm USS John McCain đi trong phạm vi 12 hải lý đảo nhân tạo Trung Quốc bồi đắp tại Trường Sa hồi Tháng Mười Hai 2020. (Hình: 7th Fleet)



Khu trục hạm USS John McCain của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ từng bị thiệt hại nặng khi va chạm với chiếc tàu hàng mang cờ hiệu Liberia trên eo biển Malacca giữa Singapore và Malaysia hồi Tháng Tám, 2017.

Tháng Sáu năm 2020, bản tin của Viện Nghiên Cứu Hải Quân Mỹ (USNI) cho hay sau khi được sửa chữa, tái trang bị và tân trang tối tân hơn, chiến hạm đã được đưa trở lại Đệ Thất Hạm Đội. Sau đó, cả thủy thủ đoàn đã trải qua huấn luyện thêm hơn nửa năm nữa.

Khu trục hạm USS John McCain đặt theo tên của vị thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, từng là phi công hải quân bị bắn rơi máy bay khi oanh tạc miền Bắc Việt Nam năm 1967. Ông bị giam giữ và tra tấn, nhục hình tại nhà tù Hỏa Lò hơn 5 năm và chỉ được thả ra Tháng Ba năm 1973. Ông mất năm 2018 vì ung thư.

Hải quân Hoa Kỳ hiện có hai tướng lãnh gốc Việt là Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn và nữ Phó Đề Đốc Vũ Thế Thùy Anh.

(TN) Nguoi-Viet.com
Feb 22, 2021
[kn]

Edited by user Monday, February 22, 2021 4:09:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2027 Posted : Tuesday, March 9, 2021 3:49:42 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

CUỘC RÚT QUÂN BI TRÁNG CỦA TIỂU ĐOÀN 11 NHẢY DÙ KHỎI PHÒNG TUYẾN CHARLIE
THÁNG 4/1972


UserPostedImage........UserPostedImage
Huy Hiệu Tiểu Đoàn 11 Dù .......Huy Hiệu Sư Đoàn Dù

Như đã trình bày, trận chiến khốc liệt tại cụm phòng tuyến Charlie, tỉnh Kontum,
đã diễn ra từ 11 đến 14 tháng 4/1972 giữa tiểu đoàn 11 Nhảy Dù-đơn vị có biệt danh chiến trường là Song Kiếm Trấn Ải, và 2 trung đoàn CQ thuộc sư đoàn 320 CSBV.

UserPostedImage

Người ở lại Charlie, Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo (phải), Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải 11 Dù (với Đ/U Dù Đoàn Phương Hải. trái)


2 sĩ quan của Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 11 N

* Từ Charlie về Võ Định: cuộc rút quân đầy bi tráng của người lính Dù tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải:

Như đã trình bày, trận chiến khốc liệt tại cụm phòng tuyến Charlie, tỉnh Kontum, đã diễn ra từ 11 đến 14 tháng 4/1972 giữa tiểu đoàn 11 Nhảy Dù-đơn vị có biệt danh chiến trường là Song Kiếm Trấn Ải, và 2 trung đoàn CQ thuộc sư đoàn 320 CSBV. Chiến đấu trong một tình thế vô cùng nghiệt ngã, không có sự yểm trợ của Không quân chiến thuật, tương quan lực lượng là 1 người lính Nhảy Dù đối đầu với 6 CQ và cả tiểu đoàn phải chịu trận hàng trận mưa pháo của 1 trung đoàn pháo CSBV, chưa tính đến 1 trung đoàn phòng không của đối phương đã khống chế các phi vụ trực thăng tiếp tế, tải thương. Cuối cùng, để bảo toàn quân số, với khoảng 150 chiến binh còn lại, tiểu đoàn đã phá vòng vây để rút về tuyến sau.

Trước khi trình bày cuộc rút quân đầy bi tráng của tiểu đoàn Song Kiếm Ải, xin được lược ghi về 4 ngày bão lửa của những người lính Nhảy tiểu đoàn Song Kiếm Trấn tại cụm đồi hỏa lực Charlie:

Ngày 11 và 12 tháng 4/1972, Cộng quân đã mở trận hỏa công với hàng ngàn quả đạn: 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại vào các cứ điểm 960, 1020, 1050 thuộc hệ thống phòng ngự của căn cứ Charlie. Gần 9 giờ sáng ngày 12/4/1972, Cộng quân tiếp tục pháo loại đạn nổ chậm. Trung tá Nguyễn Đình Bảo-Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù bị trúng nguyên một trái đạn xuyên qua hầm. Thiếu tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó được bộ chỉ huy lữ đoàn cử xử lý thường vụ chức vụ tiểu đoàn trưởng.

Ngày 13 tháng 4/1972, Đại đội 111 của Trung úy Thinh (từ đỉnh đồi 960 rút về đỉnh đồi 1020 trong ngày 12) được lệnh tung quân đi tìm nguồn nước và làm bãi đáp trực thăng để di tản thương binh và quân nhân tử trận. Cả đại đội 111 chỉ còn hơn 50 chiến binh, tất cả tuột đồi 1020 để xuống hướng Đông Nam. Di chuyển được 200 mét thì Cộng quân bố trí sẵn để phục kích. Trong lúc đang điều động quân sĩ chống trả, Trung úy Thinh đã bị một tràng đạn AK bắn vào người. Đại đội trưởng tử trận, Chuẩn úy Ba, một trung đội trưởng đã nhào lên điều động quân sĩ bắn trả để vượt thoát vùng vây nhưng cũng bị trúng đạn tử trận. Quân nhân có cấp bậc cao nhất lúc đó là Thiếu úy Khánh-sĩ quan tiền sát viên tiểu đoàn 1 Pháo binh Nhảy Dù đã chỉ định Trung sĩ Lung dẫn tổ khinh binh xung phong mở đường máu để phá vòng vây. Người hạ sĩ quan can trường này đã cầm đại liên quạt tứ phía để mở đường cho đồng đội rút đi. Cuối cùng, Trung sĩ Lung đã bị 1 quả B 40 bắn vào người.

Ngày 14/4, Cộng quân mở đợt tấn công mới, một phần tuyến phòng ngự của đại đội 114 bị địch tràn chiếm. Vào lúc này, đơn vị đã hết đạn và cạn lương thực. Trước tình hình vô cùng nguy kịch, để bảo toàn quân số còn lại, Thiếu tá Lê Văn Mễ đã quyết định cho rút quân. Anh đã xin bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù nửa giờ sau cho bắn đạn nổ chụp ngay trên đồi 1020, rồi sau đó, ra lệnh cho các đại đội rời cao điểm 1020 đi về hướng Đông Bắc, phương giác 800 để tìm đường rút về Tân Cảnh thay vì về Võ Định (nơi đóng quân của bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù) vì vị trí này quá xa căn cứ Charlie. Ba tiểu đoàn Cộng quân tràn lên chiếm Charlie thì bị 6 chiếc B 52 xuất trận dội hàng ngàn tấn bom, Cộng quân bị tan nát dưới trận mưa bom này.

* Phá vòng vây, vượt thoát khỏi vùng tử địa, đại đội trưởng 110 tử chiến với CQ:

5 giờ chiều cả tiểu đoàn đồng loạt xuống núi theo sườn thoai thoải. Những trái bom đầu tiên từ B 52 đã nổ xuống khi người lính cuối cùng của đại đội 112 vừa xuống đến chân núi. Đoàn quân di chuyển hàng một và đi suốt đêm. Rạng sáng ngày 15 tháng 4/1972, tiểu đoàn đi tới một bãi lau sậy trống trải. Quan sát địa hình, thiếu tá Mễ thấy khu vực này có thể làm bãi đáp để trực thăng xuống bốc nên cho lệnh dừng quân. Anh điều động một toán qua suối để bảo vệ cạnh sườn, và dặn các đại đội chia ra từng toán 8 người đợi trực thăng đến bốc. Sau đó, Thiếu tá Mễ chỉ cho Thiếu tá Duffy-cố vấn trưởng tiểu đoàn, vị trí điểm dừng quân và yêu cầu vị cố vấn này gọi trực thăng Hoa Kỳ đến bốc đoàn quân về Võ Định. Liên lạc với Không quân, cố vấn Duffy báo cho Thiếu tá Mễ biết là khoảng 15 phút nữa, trực thăng sẽ đến.

Nhưng không còn thời gian chờ đợi nữa, Cộng quân đã phục sẵn quanh bãi đáp và tràn ra tấn công. Đại úy Nho, đại đội trưởng đại đội 110 đã điều động binh sĩ chống trả để bảo vệ ban chỉ huy tiểu đoàn. Anh tả xung hữu đột để chống trả các toán Cộng quân vây kính anh. Địch kêu gọi anh đầu hàng nhưng Nho không chịu khuất phục, người đại đội trưởng này ấn tay vào cò súng, ria từng loạt đạn về đối phương. Trong khi đang chiến đấu, một báng súng Cộng quân đập trúng đầu, anh bị bất tỉnh và sau đó bị địch quân bắt. Nhờ sự chiến đấu can trường của đại đội trưởng Nho, nên ban chỉ huy của Thiếu tá Mễ vượt thoát được vòng vây của địch. Trung úy Long-trưởng ban 2, kiểm điểm lại quân số chỉ còn có 37 người. Ngay sau đó, có 3 trực thăng Mỹ bay vào vùng, một chiếc hạ xuống bốc người, hai chiếc kia nhờ xung quanh có lau sậy thấp nên các xạ thủ phi hành quan sát thấy rõ địch quân, họ đã tác xạ liên tục vừa đại liên vừa rocket để đuổi Cộng quân ra khỏi khu vực ban chỉ huy tiểu đoàn.

Về Thiếu tá Mễ, do bị ảnh hưởng bởi quả lựu đạn bộc phá của địch ném ngày hôm trước, nên lúc di chuyển phải nhờ Trung úy Long đỡ phụ, nhưng khi trực thăng sà xuống để đón, Thiếu tá Mễ nói:

– Mình là cấp chỉ huy và có máy truyền tin nên cần phải đi sau chót.

Trung úy Long sắp xếp cho toán 7 người bị yếu sức và bác sĩ Tô Phạm Liệu-y sĩ trưởng tiểu đoàn đi chuyến đầu tiên, số còn lại vừa chạy vừa trông chờ trực thăng xuống, họ yêu cầu cố vấn Duffy gọi trực thăng bay nhanh hơn vì địch quân cận kề. Khi trực thăng trở lại thì phi công yêu cầu cố vấn Duffy lên trước, nhưng vị sĩ quan Hoa Kỳ này đã khẳng khái từ chối và nói với phi hành đoàn:

– Tôi đi rồi thì các anh đâu chịu trở lại cứu các bạn Nhảy Dù của tôi.

Chuyến thứ 4 bốc thêm một số người, còn lại 5 người là Thiếu tá Mễ, Thiếu tá Hải-trưởng ban 3, Thiếu tá Duffy cố vấn, Trung úy Long và Hạ sĩ Long, “đệ tử” của Thiếu tá Mễ. Chuyến chót vừa đến thì Cộng quân đã theo sát, mọi người cố gắng trèo nhanh lên trực thăng. Vừa lên hết thì bỗng nghe một loạt đạn, nguyên 1 tràng AK bắn trúng trực thăng, phi công phụ và 1 xạ thủ phi hành bị chết ngay, riêng Thiếu tá Hải bị trúng đạn ngay bàn chân, cả người anh rớt khỏi máy bay ở cao độ 3 mét. Lập tức Thiếu tá Duffy nhảy theo để đỡ Thiếu tá Hải, vì nếu ông không nhảy xuống thì phi công có thể vì hốt hoảng có thể bay đi luôn. Từ trực thăng, Trung úy Long nhìn thấy Thiếu tá Duffy đang đứng bơ vơ phía dưới, anh vừa khâm phục vừa cảm mến người bạn Đồng minh tốt bụng và vô cùng can đảm này. Long tự nghĩ nếu trực thăng không đáp anh cũng sẽ nhảy xuống cùng sống chết để bảo vệ người bạn Mỹ đầy lòng nghĩa khí này.

Trực thăng hạ thấp, cố vấn Duffy bồng Thiếu tá Hải đưa lên sàn phi cơ, Trung úy Long và Thiếu tá Mễ giơ tay cố kéo Thiếu tá Duffy. Lên tới, cố vấn này đã vội kéo xạ thủ phi hành vừa bị trúng đạn định băng bó anh đã chết. Còn viên phi công phụ, theo lời của Thiếu tá Hải kể lại, anh đã được về Mỹ, nhưng hôm đó thiếu người, nên anh đã đi bay thế.

* Câu chuyện về hai đại đội trưởng Hùng “móm”, Hùng “mập” và một số chiến binh trên đường vượt thoát

Về trường hợp của đại đội 112 của Đại úy Hùng “móm” và 113 của Đại úy Hùng “mập” đã bị Cộng quân vây đánh. Đại đội trưởng Hùng mập quật ngã được vài Cộng quân nhưng do đối phương quá đông nên anh đành thúc thủ, bị bắt. Đến tháng 3/1973, anh mới được trao trả ở bờ sông Thạch Hãn theo Hiệp đình ngưng bắn ký ngày 27/1/1973.

Riêng đại đội trưởng Hùng “móm”, anh và một số binh sĩ bị Cộng quân bắt ngay từ đầu, nhờ có kinh nghiệm về thoát hiểm mưu sinh, sau đó, anh đã vượt thoát và gom được anh em còn lại về đến gần Tân Cảnh và sau đó được trực thăng bốc.Một sĩ quan của tiểu đoàn 11 Nhảy Dù là Trung úy Đinh Viết Trinh bị Cộng quân bắt làm tù binh, nhưng khi đi ngang qua đám sậy gần ngã ba Tam Biên (biên giới ba nước Đông Dương), đã nhanh chân nhảy vào bụi lùm và thoát được. Dù bị thương tích đầy mình, và nhịn đói nhiều ngày trong rừng nhưng cuối cùng anh đã về đến Võ Định.


VƯƠNG HỒNG ANH


UserPostedImage
Duy An  
#2028 Posted : Monday, March 29, 2021 6:10:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Họp mặt Du Ca Mùa Xuân 2021, tưởng nhớ nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang


Mar 28, 2021
Văn Lan/Người Việt


GARDEN GROVE, California (NV) – Buổi họp mặt thân hữu Du Ca Mùa Xuân 2021 vào chiều Thứ Bảy, 27 Tháng Ba, tại Quán Hội Ngộ, thành phố Garden Grove, để tưởng nhớ nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang nhân ngày giỗ thứ 10 của ông (27 Tháng Ba, 2011 – 27 Tháng Ba, 2021), cùng gặp gỡ và ôn lại kỷ niệm một thời du ca sôi nổi.


UserPostedImage
Corey Cao Nguyễn (phải), cháu ngoại nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và bạn Lý Thùy Trang, cho biết kế hoạch làm bộ phim “Người Con Của Việt Nam Nguyễn Đức Quang.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)



Buổi hội ngộ gồm những gương mặt bạn bè du ca, nhớ về một thuở với cây đàn guitar thùng gỗ cùng những trái tim cháy bỏng đi xây dựng quê hương, nhớ về nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang, một trong những người sáng lập phong trào Du Ca Việt Nam hồi thập niên 1960 ở miền Nam Việt Nam.


Mở đầu với bài “Chiều Qua Tuy Hòa” của một thời tuổi trẻ và chiến tranh đã quá xa, vẫn còn lưu dấu đến hôm nay với tiếng guitar bập bùng của Nguyễn Thiện Cơ qua giọng hát của du ca Nguyễn Thị Nhuận hòa cùng bạn bè du ca tham dự.

Trưởng Hoàng Ngọc Tuệ, cánh chim đầu đàn phong trào du ca Việt Nam phát biểu: “Nói về những đóng góp của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang cho giới trẻ miền Nam và phong trào Du Ca, ai cũng nghĩ đến ảnh hưởng của nhiều ca khúc do ông sáng tác trong 10 năm từ 1965 đến Tháng Tư 1975 thật là lớn lao và sâu rộng tại các tình thành, trong lớp học cũng như ngoài sân cỏ sân vận động hoặc các trường trung học miền Nam thời bấy giờ.”

Ông cũng cho thấy thêm rằng, ai cũng phải đồng ý một điều là nếu không có Nguyễn Đức Quang thì đã không có du ca.

“Phải công bình mà nói nhạc du ca do anh Quang và các trưởng du ca sáng tác đã đem đến cho xã hội miền Nam một làn gió văn nghệ mới lạ, trong sáng, đầy nhân bản không ai chối cãi… Nhưng quan trọng hơn cả, đối với anh Quang là vấn đề con người, con người Việt Nam và lịch sử đã nung đúc lòng dũng cảm để bảo vệ quê hương đất nước do tổ tiên để lại,” trưởng Tuệ nói.

Nói về sự đa dạng trong sáng tác, trưởng Tuệ cho thấy nhạc của Nguyễn Đức Quang tạm chia thành sáu thể loại.

1-Nghi Thức Ca: Đoàn Ta Ra Đi (Đoàn Ca); Từ Nay Gánh Vác (Bài ca tuyên hứa); Lời Nguyện Cầu (Mừng đám cưới);…

2-Nhi Đồng Ca: “Đầu Bếp Kỳ Tài” (Trời mùi gì khen khét chị (ông, anh) đầu bếp của tôi ơi/ Sao chị cho tôi xực món chi lạ đời/…)

3-Dân Ca: Gồm dân ca Việt Nam (Lý Con Sáo); Dân ca quốc tế lời Việt (Bầu Trời Quê Hương Ta Đi),…

4-Sinh Hoạt Ca: (Hy Vọng Đã Vươn Lên); (Dưới Ánh Mặt Trời),…

5-Tình Ca: Gồm tình ca quê hương (Chiều Qua Tuy Hòa; Người Yêu Tôi Bệnh),… và Tình ca làm người (Như Mây Trên Cao)

6-Nhận Thức Ca: Tác Động Ca, khác với Động Tác Ca (chưa có): Là những bài ca khai phá, những bài Trầm Ca với giá trị tác động cao độ, thường gọi chung là Nhận Thức Ca.


“Nhận Thức Ca của anh Quang thúc đẩy người nghe cũng như người hát nảy sinh lòng yêu thương quê hương, yêu xóm làng, yêu người đau yếu già nua. Nhạc của anh đi vào tim hay qua khối óc để đưa đến những hành động đầy tình yêu thương và sự can trường. Như bài ‘Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ’/ Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn/ Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang,…” trưởng Tuệ chia sẻ.


Từ Nhạc Nhận Thức của Nguyễn Đức Quang


Nhạc Nhận Thức đã có giá trị và ảnh hưởng lớn lao vào một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Việt Nam Cộng Hòa, thời kỳ 1965-1975, và cho đến nay vẫn còn có giá trị và ảnh hưởng tại hải ngoại. Nhạc của ông đã vang dậy khắp các tỉnh thành miền Nam, trong lớp học và trên sân cỏ ở các vận động hoặc các trường trung học thời bấy giờ.

Những đặc tính khai phá trong nhạc Nguyễn Đức Quang trong giai đoạn các ca khúc ra đời là lời ca, âm điệu mới lạ vui tươi, rất dễ hát dễ nhớ. Chính đặc tính nhận thức này đã làm cho người du ca trở thành con người sống với trách nhiệm và lòng nhân ái.

“Ngày nay sống trong xã hội Hoa Kỳ, các tệ trạng xã hội và hoàn cảnh xã hội, chính trị, văn hóa không giống như ngày xưa, nhưng xin đừng quên xóm làng ngày xưa vẫn còn ở nơi đây vì chúng ta có láng giềng là những gia đình bên cạnh, là cộng đồng, là những người vô gia cư khổ đau đang cần sự giúp đỡ của chúng ta,” trưởng Tuệ nhắc nhở.

“Mỗi chúng ta sẽ liên tục say sưa hát các bài du ca do anh Quang để lại và xin hứa cùng anh là mỗi chúng ta sẽ nổ lực gánh vác, không từ nan khổ nhọc để thực hiện nhiệm vụ của mỗi người trong xã hội này,” trưởng Tuệ tiếp.

Trong phần giới thiệu của du ca Nguyễn Thiện Cơ, đồng trưởng ban tổ chức buổi họp mặt, cho biết: “Trước 1975, tại Việt Nam có toán Du Ca Mùa Xuân gồm hơn 10 anh em đi sát với ban chấp hành để giới thiệu và trình diễn những ca khúc du ca được công chúng thích thú, và họ đã thành lập những toán du ca. Ở đây có Toán Du Ca Mùa Xuân của bốn người, rất tiếc anh trưởng toán đã mất trên đường vượt biên, những người còn lại hôm nay là Trần Quang Oánh, chuyên viết hòa âm, viết bè cho bài hát; chị Nguyễn Thị Nhuận là một thành viên của Toán Du Ca Mùa Xuân, hiện vẫn còn sinh hoạt thường xuyên với du ca; chị Nguyễn Thị Minh Phương; và Nguyễn Thiện Cơ.”

Trong phần tâm tình chia sẻ, Bác Sĩ Nguyễn Thị Nhuận cho biết thêm: “Anh Phạm Công Ngân là người bạn rất lâu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, là người đầu tiên được ủy nhiệm thành lập toán Du ca Mùa Xuân, và anh Ngân cùng anh Quang luôn có mặt trong các buổi trình diễn, anh Oánh viết hòa âm cho các bài hát, với 4 cô gái tươi trẻ hát phụ họa là Nguyễn Ngọc Yến, Nguyễn Minh Phương, Ngọc Hoàn và Nguyễn Thị Nhuận.”

Tiếp nối là những tâm tình chia sẻ của các du ca Nguyễn Cửu Lâm và những du ca khác, với những tình cảm khó phai thưở ban đầu của du ca Việt Nam.


UserPostedImage
Nhóm Du Ca Nam Cali hợp ca “Hy Vọng Đã Vươn Lên” trong buổi tưởng niệm cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. (Hình: Văn Lan/Người Việt)



Tuổi trẻ hải ngoại tìm hiểu du ca Nguyễn Đức Quang


Phong trào Du Ca Việt Nam với những trái tim cháy bỏng một thời đi khắp nơi để dựng xây đất nước, hôm nay cùng hòa nhịp với thế hệ trẻ hải ngoại, khi em Corey Cao Nguyễn là cháu ngoại nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và người bạn Theone Ly (Lý Thùy Trang) đang tìm hiểu về Nguyễn Đức Quang và hoạt động của phong trào du ca Việt Nam.

Corey Cao Nguyễn cho hay ông ngoại chưa hề nói cho em biết ông là một nhạc sĩ du ca được mọi người biết đến qua những hoạt động và nhạc phẩm của ông có ảnh hưởng lớn cho các thế hệ thanh niên miền Nam thời trước đến thế.

“Khi lớn lên cháu cũng không biết những thành tích của ông, chỉ biết là ông ngoại là người thường hay ăn cơm chung với em. Mười năm sau ngày ông mất, cháu muốn tìm hiểu về ông, về những gì ông đã làm khi còn sống, và dự định sẽ làm một bộ phim tài liệu với tựa đề ‘Người Con Việt Nam Nguyễn Đức Quang,’ đây là cơ hội của cháu muốn đem cuộc đời của ông để thế hệ trẻ hải ngoại hiểu biết về ông,” Corey Cao Nguyễn cho biết.

“Cứ mỗi hai tuần sẽ có một bài viết về ông của cháu, cũng như những đoạn phim hoặc tài liệu, có những điều gì biết về ông, xin cô chú kể cho chúng cháu biết, để chúng cháu tìm đến xin phỏng vấn cho bộ phim này. Để thực hiện được bộ phim, chúng cháu xin phép được gây quỹ giúp đỡ, nếu được sự tiếp tục ủng hộ, xin liên lạc với chúng cháu để câu chuyện du ca Việt Nam được nhiều người biết đến hơn,” Corey Cao Nguyễn nói thêm.

Hai tiếng đàn guitar Nguyễn Thiện Cơ và mandolin Khánh Phan réo rắt sôi nổi, mọi người cùng hợp ca “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” để kết thúc buổi họp mặt du ca Mùa Xuân 2021 tưởng nhớ Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ đã dành suốt cuộc đời mình cho tuổi trẻ và quê hương.

Xin vào trang web: sonofvietnam.com, để có thể theo dõi hành trình làm phim về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang của em Corey Cao Nguyễn, hoặc liên lạc qua Facebook: Son Of Vietnam: Nguyen Duc Quang. Email: sonofvietnam@gmail.com hoặc điện thoại Thùy Trang (714)-452-7576. [kn]


UserPostedImage
Hạ Vi  
#2029 Posted : Monday, March 29, 2021 12:37:52 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Nhớ người nhạc sĩ Du Ca, bên kia sông…

Kỷ niệm ngày mất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, 27-3-2011


UserPostedImage


Nguyễn Đức Quang (1944-2011), linh hồn của phong trào Du Ca trước năm 1975, không chỉ để lại những bài hát nhận thức, kêu gọi, quần hợp… mà ông còn có môt loạt những bản tình ca ngọt ngào, góp vào dòng nhạc thưởng thức quen thuộc qua các giọng hát lừng danh một như Thái Hiền, Julie, Khánh Ly, Vũ Khanh, Tuấn Anh, Ngọc Lan…

Thời của Nguyễn Đức Quang, với tinh thần trung lập, mơ về một Việt Nam mới, đã chịu không ít những lời thầm thì cay độc. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì có người từng nghĩ Du Ca là nơi dung dưỡng những thành phần Việt Cộng nằm vùng, còn phía miền Bắc Cộng Sản nghi ngờ, từng đưa vào danh sách đấu tố sau 1975 với nhận định cánh tay nối dài của CIA. Thậm chí, ông cũng bị đưa đi học tập cải tạo ba năm.

Âm nhạc của Nguyễn Đức Quang ngay từ khi ra mắt, đã khác lạ với dòng chảy âm nhạc lúc đó. Nguyễn Đức Quang xắn tay áo, nhập cuộc cùng giới trẻ, kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin. Do đó, nhạc của ông có khía cạnh phản đối chiến tranh, với tâm cảm của một con người khao khát hòa bình, nhưng không thiên về bên nào, như theo lời ông, không làm chính trị cho dù mang ý thức chính trị cao. Cũng như vậy, Nguyễn Đức Quang tự hào vì tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cá nhân hoặc phe nhóm nào của phong trào Du ca, điều khiến nó có được tác động mạnh mẽ và sâu rộng trong cộng đồng. Trần Trọng Thảo, một thành viên khởi đầu của Du Ca đã giải thích cho tâm thế của Du Ca là âm nhạc về với dân tộc. Âm nhạc ý thức của một người Việt Nam kiêu hãnh và mang trách nhiệm với quê hương.


UserPostedImage


Nguyễn Đức Quang từng kể lại rằng, cuối năm 1965, sau khi đã sáng tác một số ca khúc, ông cùng một nhóm bạn học rất thân tại Đà Lạt cùng học hành, chơi đùa, ca hát và làm việc với nhau. Tuy nhiên, như ông nhớ lại: “Các bạn trong nhóm tôi không có ai sáng tác, chỉ có mình tôi làm nhạc, hát cho các bạn tôi nghe. Tôi không đi vào những con đường cũ của các nhạc sĩ đàn anh”.

Hầu hết những người làm thơ, viết nhạc đầu đời là những bài thơ tình, nhạc tình, và sống mãi với dòng nhạc đó. Phần tôi, sau những ngày tập tễnh với nhạc tình trẻ con, tôi quay hẳn sang một hướng khác không có mấy người làm. Nhạc của tôi sau này người ta gọi là nhạc cộng đồng, nhạc sinh hoạt, hay là một loại nhạc nào đó, một thứ tình cảm khác, một thứ tình cảm không phải chỉ dành cho hai người đang yêu nhau, mà là một thứ tình cảm thiết tha nói lên cái liên hệ giữa vùng đất và con người“.

Đứng giữa những ngược xuôi thời cuộc, đủ loại ngôn từ chụp mũ và hoang tưởng, bài Bên Kia Sông từng có thời bị đồn đãi là bài hát ngầm ủng hộ cộng sản miền Bắc, với ý ngầm nói phía bên kia sông của Vĩ tuyến 17. Nhưng thật ra, đơn giản, đó chỉ là bài phổ ý thơ, quanh một cuộc rượu của Nguyễn Đức Quang với bạn bè.

Bên Kia Sông, ý thơ của Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Đại Lộc, là bài hát đã quyến rũ nhiều thế hệ người nghe nhạc suốt hơn nửa thế kỷ, và quyến rũ ngay từ những phút đầu lắng nghe giai điệu.

Giai điệu và lời bài hát của Bên Kia Sông mơ mộng về cuộc đời mới, tương lai mới, như khi sinh thời ông từng trả lời một bài phỏng vấn ở San Jose, Hoa Kỳ: “Chúng tôi vẫn tin vào trực giác của chúng tôi, trực giác nhạy cảm của những người làm văn nghệ, và chúng tôi tin rằng sẽ có một lúc nào đó chúng tôi sẽ trở về, dựng lại nhà trên một cái nền đổ nát, hệt như lời của một bài thơ, của một ca khúc nào đó của anh em chúng tôi. Ngày đó bắt buộc sẽ phải đến. Nó có thể là sáng mai, nó có thể là năm tới, nó có thể là năm năm, mười năm. Nếu tới ngày đó, và anh em chúng tôi còn sống, cho dù chỉ còn thoi thóp thở chúng tôi cũng sẽ trở về. Trở về để nhắm mắt trên mảnh đất chúng tôi đã sinh ra, đã lớn lên, đã bảo vệ và đã phải bỏ đi chỉ để trở về”.



TUẤN KHANH (tổng hợp)




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2030 Posted : Monday, March 29, 2021 12:43:48 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ - Nhạc Sĩ: Nguyễn Đức Quang
ASIA Hợp Ca







UserPostedImage
Duy An  
#2031 Posted : Friday, April 30, 2021 2:22:31 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage

Nhớ lại ngày tháng Tư Đen

Bảo Định


Là đơn vị cuối cùng rời mặt trận Xuân Lộc, bị tổn thất khá nặng, sau khi vượt thoát vòng vây địch về đến Long Thành, Tiểu đoàn 2/43, được quân xa đón về căn cứ Long Bình, nhận nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tư Lệnh SĐ18BB.

Những ngày này tình hình thật bát nháo. Dân chạy loạn từng đoàn người lũ lượt đi ngang qua cổng BTL, hướng về Sàigòn. Dù tình hình khẩn trương, nhưng để khuyến khích và tưởng thưởng quân nhân các cấp thuộc TĐ2/43 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong cuộc hành quân triệt thoái này, Thiếu tướng Tư lệnh chỉ thị cho Tiểu đoàn đi phép 50%. Thời gian là 24 tiếng.

Thủ đô Sàigòn đang lộn xộn, một số viên chức cao cấp của chính phủ bỏ nhiệm sở, vài cấp chỉ huy quân đội đào ngũ. Người Mỹ đang dùng mọi phương tiện để chuyên chở người dân có liên hệ với Mỹ ra biển đông. Không quân được lệnh bay qua Thái Lan. Hải quân chuẩn bị ra khơi trực chỉ Phillipines. Trong hoàn cảnh như vậy, một số quân nhân nặng gánh gia đình, hay bị giao động bởi làn sóng di tản, nấn ná ở lại Sài Gòn, hầu hết đã trở lại đơn vị đúng hạn kỳ, và đợt 2 vẫn tiếp tục.

Đêm 29 rạng ngày 30/4/1975, vào lúc 1 giờ sáng, đơn vị tôi cùng đại đơn vị SĐ18BB được lệnh rời căn cứ Long Bình, Biên Hòa, di chuyển về Thủ Đức lập phòng tuyến phòng thủ bảo vệ thủ đô Sàigòn. Tiểu đoàn 2/43 chịu trách nhiệm bố trí bờ Nam sông Đồng Nai. từ cầu Đồng Nai đến cầu Ghềnh. Phía ĐB Sàigòn là SĐ5BB; phía TB là SĐ25; phía TN là SĐ22BB; phía ĐN do TQLC. Tất cả các cây cầu bắt qua sông Đồng Nai sẽ bị đánh sập. Tôi nghĩ, nếu diễn ra một trận thư hùng, QLVNCH sẽ đủ sức chống trả quân xâm lăng CSBV. Quân đội Miên của Lolnol, trình độ tác chiến kém, cũng đã giữ được Thủ đô Pnompenh trong mấy tháng.

Chiều ngày 29/4, một phái đoàn chính phủ Vũ Văn Mẫu do Giáo sư Bùi Tường Huân, Bộ trưởng Quốc phòng hướng dẫn ra xa lộ Đại Hàn tiếp xúc với VC; một phái đoàn khác vào TSN, đến trại David tiếp xúc với Võ Đông Giang, tên Đại tá Trưởng Phái đòan VC trong ban Liện hợp 4 bên.Nhưng cả hai phái đoàn đều bị VC giữ lại làm con tin.

Tại Dinh Độc Lập, Tướng DVM, TT 48 giờ, chờ tin tức từ Thượng tọa Thích Trí Quang về việc dàn xếp cho sự ra đời của một chính phủ ba thành phần. Trong lúc đó, Tướng Vanuxem, một tướng lãnh hồi hưu Pháp vào gặp Tướng DVM, yêu cầu DVM ra lệnh cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu, và chỉ cần 24 tiếng đồng hồ thì sẽ có giải pháp có lợi choVNCH, rằng quân Trung cộng sẽ tràn qua biên giới Việt Trung, áp lực Hànội, buộc CSBV phải rút các sư đoàn thiện chiến về Bắc chống đở. QLVNCH sẽ chiếm lại phần lãnh thổ bị mất. Một cuộc hòa đàm sẽ diễn ra, VNCH sẽ thương thuyết trong thế mạnh. Nhưng DVM đã từ chối! Thượng tọa TTQ bị CSBV lừa, hai phái đoàn do chính phủ VVM gửi đi đàm phán bị bắt làm con tin.

Đứng trước tình hình tuyệt vọng, một số chỉ huy cao cấp của QLVNCH đào ngũ, các viên chức chính phủ bỏ nhiệm sở. Cuối cùng, vào khoảng 9 giờ sáng, DVM ra lệnh QLVNCH “ngừng chiến đấu, đâu ở đó, chờ bàn giao chính quyền cho ‘người anh em’phía bên kia”, và sau đó, do áp lực của CSBV, đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện !

QLVNCH được xếp vào hàng tứ tư trên thế giới, chỉ sau Mỹ, Nga, và Trung cộng, và là đội quân tinh nhuệ nhất vùng ĐNÁ, nhưng do thế nước đến hồi mạt vận, đã tức tưởi buông súng, tan hàng trong tủi nhục !

Trong chiến tranh, QLVNCH luôn luôn làm chủ trên chiến trường, quân CSBV đã đại bại khắp các mặt trận, từ Trị-Thiên quật khởi, Kontum kiêu hùng, đến Bình Long anh dũng. QLVNCH đã thắng lớn trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, tại Kontum, tại Sàigòn. Tướng William C. Westmoreland, cựu TL quân đội Mỹ tại VN nói: “Chúng ta không thua tại VN, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với QLVNCH.

Thay mặt cho Quân đội HK, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của QLVNCH, vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn”. (On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the Veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys).

Sự sụp đổ nhanh chóng của VNCH không chỉ do “Đồng minh tháo chạy”, mà chính yếu là do các cấp lãnh đạo cao cấp của chúng ta thời Đệ Nhị Cộng hòa tính toán sai lầm về mặt chiến lược.

Đã 44 mùa Quốc Hận, mỗi năm Tháng Tư lại về, lòng kẻ tha hương lại nhớ về Quê Mẹ. Quê Mẹ VN đang rên xiết, người dân Việt đang bị đọa đày dưới sự cai trị bạo tàn của chế độ CS vô nhân. Mỗi năm, chúng ta lại ước mong rằng đây là mùa QH cuối cùng chúng ta phải sống tha hương, chúng ta sẽ trở lại Sài Gòn, trở lại Quê hương Việt Nam yêu dấu để xây dựng lại một đất nước Việt Nam hoà bình, dân chủ, độc lập, tự do, và hạnh phúc, giàu mạnh.

Tháng Tư đen lần thứ 44


Bảo Định
UserPostedImage
Duy An  
#2032 Posted : Friday, April 30, 2021 2:26:19 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

30 tháng Tư ngày ấy…


UserPostedImage


Tháng Tư lại về !
Người Việt tự do trên toàn thế giới ai không khỏi ngậm ngùi và uất hận mỗi lần tháng Tư về. Chúng ta ngậm ngùi vì phải sống cuộc đời lưu vong tỵ nạn. Chúng ta uất hận vì phải thua một kẻ thù hèn hạ, độc ác, và ngu dốt.

Cuộc chiến tranh Quốc - Cộng khởi đi từ ngay sau khi Hiệp định Đình chiến Genève 1954 được ký kết có hiệu lực. Theo qui định của bản Hiệp định, Miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở trở lên, do chính phủ VNDCCH của Hồ Chí Minh quản trị; Miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống, do chính phủ Quốc Gia của Quốc Trưởng Bảo Đại, mà người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng Ngô Đình Diệm quản trị. Chính phủ VNCH của Miền Nam đã được hơn 50 quốc gia công nhận, trong lúc đó, chính phủ VNDCCH của Miền Bắc chỉ có 13 quốc gia trong khối cộng sản công nhận.Trên thực tế đó là hai quốc gia riêng biệt, dù có cùng chung một ngôn ngữ, và cùng một mẹ Âu Cơ sinh ra !

Nhưng với tham vọng bành trướng chủ nghĩa Cộng sản, nhuộm đỏ thế giới, CSBV là tên lính tiên phong, đã tiến hành ngay cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam Việt Nam của VNCH.

Cuộc chiến tranh từ 19 tháng 12 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954, hay còn gọi là “Trường kỳ kháng chiến”, kéo dài 9 năm, chỉ là cuộc chiến giữa lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh và lực lượng Liên Hiệp Pháp. Người Việt quốc gia tạm thời đứng chung trong lực lượng Liên Hiệp Pháp để chống lại một kẻ thù chung là Cộng sản.

Trong lúc Miền Nam, dù không ký vào bản hiệp định chia đôi đất nước, vẫn tôn trọng những điều khoản không gây bất lợi cho chính quyền VNCH non trẻ. Trái lại CSBV của Hồ Chí Minh, dù đã long trọng ký vào bản hiệp định, đã tiến hành ngay cuộc chiến tranh xâm lược một đất nước có chủ quyền, và được cộng đồng quốc tế công nhận là VNCH. Chúng cài người và chôn dấu vũ khí. Chúng tổ chức những cuộc hôn nhân vội vàng giữa bộ đội sẽ tập kết ra Bắc và các thôn nữ ngây thơ. Lê Duẩn, sau này là Bí thư thứ nhất của Đảng CSBV, đã được cài ở lại, và chỉ bí mật ra Bắc sau năm 1957. Ngoài ra còn có Phạm Hùng, sau này là Thủ tướng, và Nguyễn Văn Linh, sau này là Tổng Bí Thư,…

Cuộc chiến tranh Quốc - Cộng, rõ ràng CSBV là kẻ xâm lược, và VNCH là đất nước bị xâm lược, phải tiến hành cuộc chiến tự vệ. Nhưng dư luận quốc tế, và ngay những kẻ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” lại lập lừa đánh lận con đen, đã phớt lờ tình trạng thực tế này.

Việt Nam Cộng Hòa phải đương đầu với quân xâm lăng CSBV, được Nga, Tàu và toàn khối cộng sản Đông Âu trợ lực. Để sống còn, VNCH buộc phải yêu cầu thế giới Tự do, đứng đầu là chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ giúp đở.

Nhưng với luận điệu tuyên truyền xảo trá, đổi trắng thay đen, VNCH trở thành kẻ hiếu chiến, Hoa Kỳ trở thành kẻ xâm luợc !

Cuối cùng vì mệt mỏi, vì đã dính líu đến một cuộc chiến tranh kéo dài không thấy ánh sáng cuối đường hầm, người bạn đồng minh Hoa Kỳ đành bỏ cuộc! Giờ đây, VNCH phải một mình đương đầu với bầy quỷ đỏ !

Với sự trợ giúp toàn lực của Tàu cộng, Nga cộng, và khối cộng sản Đông Âu, bọn CSBV đã tiến hành ngay kế hoạch xâm lược VNCH.

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, cuộc tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972 đều thất bại, chúng liền phát động cuộc tổng tấn công Đông –

Xuân 1974 – 1975, sau khi quân đội Mỹ chính thức rút khỏi VNCH, khi hiệp định đình chiến Paris 1973 có hiệu lực.

Khi phát động cuộc chiến tranh xâm lược ở giai đoạn chót, 1975 này, bọn đầu sỏ Hà Nội dự trù sẽ kết thúc vào năm 1976.

Nhưng với trận đánh thăm dò vào tỉnh lỵ Phước Long đầu năm 1975, thấy Mỹ không có phản ứng. Sau đó trận đánh vào Ban Mê Thuột vào đầu tháng 3 năm 1975, thấy giới lãnh đạo cao cấp của Sài Gòn lúng túng. Rồi “lệnh lạc” giữ Huế, bỏ Huế, và các đơn vị tinh nhuệ của QLVNCH bị chôn chặt ở bãi biển Thuận An, bãi biển Sơn Trà, rồi cuộc lui quân hỗn loạn và thất bại của Quân đoàn II đã khuyến khích bọn Lê Duẫn và Lê Đức Thọ quyết định tiến hành gấp cuộc chiến tranh xâm lược “giải phóng Miền Nam”, mà không cần phải đợi đến 1976 mới hoàn thành, vì chúng đã biết chắc chắn Mỹ sẽ không can thiệp, “cho kẹo Mỹ cũng không vào” như lời nhận định của tên Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Có lẽ cái ngày định mệnh đó là ngày 30 tháng Tư !

Đêm ngày 11 tháng 4, 1975, một toán phục kích Tiểu đoàn 3/52 của Thiếu tá Phan Tấn Mỹ, tại Đồi Móng Ngựa, gần ngã ba Dầu Giây, bên cạnh QL20, đường đi Đà Lạt, tiêu diệt gọn 17 tên giặc, trong đó có 4 cán bộ cao cấp, thu 4 địa bàn Trung cộng, 4 bản đồ nổi pictomaps, và một công vụ lệnh ghi: “Đoàn nghiên cứu quân sự đặc biệt 301- Nay đề cử 4 đồng chí …lên đường nghiên cứu thực địa chiến trường Thủ Biên - Xuân Lộc. Ngày lên đường: 2 tháng 4 năm 1975. Ngày chấm dứt nhiệm vụ: 30-4-1975”.

Ngày 14 tháng 4, 1975, Tướng Đảo chuyển xuống các đơn vị trực thuộc một công điện của Cộng quân, viết: “Tụi Ngụy và Sư đoàn 18 ra sức chống giữ Xuân Lộc, ngăn cản quân ta thi hành phương án đúng kỳ hạn”.

Phương án đúng kỳ hạn! Phải chăng đó là ngày 30 tháng 4 năm1975?

Khi cứ điểm ngã ba Dầu Giây, cách Xuân Lộc lối 12 cây số về hướng Tây, do Trung đoàn 52 của Đại tá Ngô Kỳ Dũng trấn thủ thất thủ vào lúc chiều tối ngày 15-4, thì vào lúc 1 giờ sáng ngày 16-4, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH cho lệnh đánh hai trái bom BLU-82 xuống vùng tập trung quân của bộ đội CSBV. Đó là chỉ huy sở của Sư 341, và điểm “tập kết” của các đơn vị bộ đội thuộc Quân đoàn 4/CSBV chuẩn bị tiến về Sài Gòn !

Theo Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng BTTM/QLVNCH, cuối tháng 2-1975, BTTM xin Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam những loại bom chiến lược mà Không quân VNCH có thể xử dụng được. Hoa kỳ hứa gửi cho 27 quả bom. Giữa tháng 4, bảy trái được chở đến trong hai đợt, nhưng chỉ đưa theo hai đầu nổ! (Những Ngày Cuối của VNCH).

Khi chuyển những trái bom BLU-82 đến Việt Nam, người Mỹ hứa gửi chuyên viên huấn luyện gắn ngòi nổ, cách vận chuyển bom trên phi cơ,… nhưng họ đã không đến. Trong tình trạng khẩn trương của chiến trường, BTTM và Bộ TL/KQ quyết định chọn một phi công giàu kinh nghiệm cho nhiệm vụ thả bom. Được biết đó là một phi công cấp bậc Thiếu tá, thuộc PĐ435, và máy bay xử dụng cho phi vụ ném bom là là chiếc C-130, đã cất cánh lúc quá nửa đêm ngày 16-4-1975. Có nhiều nguồn tin về mục tiêu ném bom, nhưng ngày nay tại Xuân Lộc, người dân địa phương vẫn gọi một cây cầu nhỏ bắc qua một con suối cạn, trước đây không có tên, là cây cầu 6 ngàn, nằm trong vùng đồn điền cao su Bình Lộc, cách Xuân Lộc lối 6 cây số về hướng Bắc. Phải chăng 6 ngàn là 6 ngàn bộ đội CSBV đền tội ?

Bom BLU-82 cân nặng 15 ngàn pounds. Đó là chữ viết tắt của Bom Live Unit – 82, xử dụng loại máy bay MC-130E. Tùy theo tính chất của mục tiêu, bom có loại văng miểng, có loại gây hơi ép. Bom nổ tạo ra áp lực 1.000 pounds/square inch. Bom sẽ đốt hết dưỡng khí trong một khu vực rộng 2 mẫu Anh. Những sinh vật chết trong tư thế tự nhiên.

Hai trái bom đã loại khỏi vòng chiến hơn 10 ngàn bộ đội CSBV, làm chậm bước tiến quân về Sài Gòn của chúng trong một thời gian. Một thời gian vừa đủ cho Tòa Đại sứ Mỹ cuốn cờ, bay ra Hạm đội 7 đang thả neo ngoài khơi Vũng Tàu.

Quân đội CSBV có 21 sư đoàn quân chính qui. Chúng đã cho xâm nhập vào Nam 16 sư đoàn, chỉ để lại 5 sư đoàn giữ nhà! Hai trái BLU-82 thả xuống vùng đồn điền cao su Bình Lộc đã tiêu diệt hơn 10 ngàn bộ đội/CSBV. Mặc dù bị thiệt hại nặng do sự tàn phá của của hai trái bom, làm chậm bước tiến quân về Sài Gòn, nhưng quân CSBV đang trên đà thắng lợi. Phòng tuyến Phan Rang, tuyến phòng ngự xa nhất của VNCH đã bị vỡ, Tướng Nghi, Tư lệnh mặt trận đã bị bắt. Giờ đây chỉ còn Xuân Lộc, Xuân Lộc chỉ cách Thủ đô Sài Gòn lối 80 cây số, nhưng đang bị cầm chân. Với thời cơ thuận lợi như vậy, bọn đầu sỏ Bắc Bộ phủ quyết định mở chiến dịch tấn công Sài Gòn, và được đặt tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Chúng bao vây Thủ đô Sài Gòn với 5 hướng tiến quân. mỗi hướng có số lượng quân ít nhất là 1 quân đoàn. Hướng Đông do 2 quân đoàn là 4 và 2. Nếu người bạn đồng minh Hoa Kỳ gửi cho chúng ta đủ 27 trái với đầy đủ ngòi nổ theo lời yêu cầu, và chúng ta đánh ngăn chặn mỗi hướng tiến quân 2 hoặc 3 trái bom BLU-82 thì nhất định ngày 30 tháng Tư oan nghiệt đã không xảy ra! Không biết chừng, những trái còn lại sẽ tặng luôn cho những sư đoàn giữ nhà ở ngoài Bắc, thì phe thua cuộc không phải là chúng ta! Nhưng đã không có chữ “nếu”!

Cuộc chiến Việt Nam, phía VNCH phải tiến hành cuộc chiến với tính cách tự vệ. Chính phủ Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh cũng chỉ giúp chúng ta để tự vệ. Chúng ta bị trói buộc trong cuộc chiến. Chúng ta phải tiến hành cuộc chiến với quan niệm chiến lược là không được thắng!

Khi Đà Nẵng thất thủ, Kissinger than:”Sao chúng (VNCH) không chết phứt cho rồi ? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài.”

Vì vậy ngày 30 tháng Tư nhất định phải đến. hai trái BLU-82 thả xuống đầu giặc Cộng lúc 1 giờ sáng ngày 16-4-1975 đã tạo nên khoảng cách vừa đủ theo ý định của người Mỹ.

Đã 45 năm qua, kể từ ngày 30 tháng Tư oan nghiệt đó, gần 3 triệu người dân Việt, từ Nam chí Bắc đã phải bỏ nước ra đi tìm tư do. Người dân trong nước thì phải sống những ngày đen tối, nhục nhã và lầm than! Chế độ bạo tàn vẫn ngự trị trên cuộc sống của người dân.

Một điều khá phi lý là chúng ta có chính nghĩa, có binh hùng, tướng giỏi. Nhưng chúng ta đã thua, thua một kẻ ngu dốt, độc tài và gian ác. Nói như lời nhận xét của cố Thượng nghị sĩ Jonh McCain: “Kẻ công chính đã thua, và kẻ ác đã thắng !”

Trong hơn 20 năm chiến tranh, Miền Bắc đã có hơn 2 triệu “sinh Bắc, tử Nam”; Miền Nam có lối 282 ngàn thanh niên hy sinh trên chiến trường. Nhiều triệu người dân Việt bị chết trong lửa đạn chiến tranh. Sau chiến tranh, đã có hơn 1 triệu lính bên phe thua cuộc bị cầm tù trong các trại tù cải tạo, hay trong các vùng “kinh tế mới”, và đã có hơn 165 ngàn tù nhân bị chết trong các trại tù khổ sai từ Nam chí Bắc. Đất nước hết chiến tranh, nhưng đã có gần 3 triệu người dân Việt phải bỏ nước ra đi tìm tư do. Nói như Quái kiệt trần văn Trạch; “Ở Việt Nam nếu cột đèn biết đi, thì cũng ra đi tìm Tự do!”, nhưng không phải ai cũng đến được miền đất hứa, mà đã có hơn 200 ngàn đồng bào kém may mắn bỏ xác nơi rừng sâu, hóc núi, hay vùi thây dưới lòng đại dương.

Cứ mỗi độ tháng Tư về, chúng ta lại ngậm ngùi nhớ đến tháng Tư đen. Lòng kẻ tha hương lại nhớ về Quê Mẹ. Quê Mẹ Việt Nam đang rên xiết, đọa đày dưới sự cai trị của chế độ CS bạo tàn.

Đã 45 tháng Tư qua, chúng ta ngậm ngùi thương xót cho thân phận của kẻ thua trận phải sống cuộc đời lưu vong tỵ nạn, và phần đông đã phải sống cuộc đời lưu vong ngay chính trên quê hương của mình.

(Mùa đại dịch Corona Virus 2020)
Bảo Định Nguyễn Hữu Chế


UserPostedImage
Duy An  
#2033 Posted : Wednesday, May 19, 2021 1:48:25 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Câu chuyện cải lương, câu chuyện Việt Nam Cộng Hòa


Sự suy tàn của hai biểu tượng một thời rực rỡ

“Trong các vở cải lương, khán giả chỉ muốn nghe phần hát, vọng cổ. Nhiều nghệ sĩ phô trương độ dài của hơi thở bằng cách hát hàng trăm từ trong một hơi, nhưng không thể hiện được nội dung gì.


UserPostedImage

Rạp Nguyễn Văn Hảo giới thiệu chương trình của đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga, Sài Gòn, đầu xuân 1961. (Hình: Ngành Mai/Người Việt)



Hành vi, cử chỉ của người diễn thường sáo rỗng hoặc theo thói quen, họ thậm chí còn không cố gắng thể hiện cảm xúc nhân vật hay bối cảnh thực tế.

Mặt khác, họ trưng bày sự xa hoa sặc sỡ của các bộ quần áo mới của đoàn hát, họ phô trương vẻ trẻ đẹp của dàn diễn viên, nhưng khi diễn thì không làm gì hơn là để lộ vài phần cơ thể để chọc cười rẻ tiền […].”

Hoàng Như Mai, một học giả nhà nước có tiếng, bình luận như vậy trong bài viết “Sân khấu các tỉnh phía Nam trong mười năm qua,” thuộc quyển “Mười năm xây dựng nền văn hóa mới, con người mới tại miền Nam (1975-1985)” (*).

Đây là một dạng báo cáo tổng kết quen thuộc trong mọi lĩnh vực để đánh giá liệu con người của vùng đất mới bị chinh phạt đã có những “tiến bộ” gì để bắt kịp với văn hóa chủ nghĩa xã hội hay chưa.

Trớ trêu hơn, Hoàng Như Mai vẫn thường được tụng xưng là “người thầy giáo,” “người đóng góp lớn” cho sự “phát triển” của cải lương miền Nam.

Góc nhìn của ông cho thấy phần nào góc nhìn của nhà nước Việt Nam nói chung đối với cải lương, cũng như cách tiếp cận của họ với bộ môn nghệ thuật này.

Cải lương vẫn thường bị các trí thức Cộng Sản phê phán là một hình thức sân khấu lai căng, thừa mứa và ủy mị. Nhưng mặt khác, họ cũng nhận thấy ở cải lương khả năng thao túng cảm tình đám đông để xây dựng tính cách xã hội chủ nghĩa.

Sự lo ngại của đảng Cộng Sản trước năng lực tạo nên bản sắc danh tính riêng ngoài danh tính xã hội chủ nghĩa và tính trung hòa lịch sử của cải lương trước các lực lượng ngoại bang từ Trung Quốc, Pháp đến Hoa Kỳ, lý giải phần nào mong muốn kiềm chế và “cải tổ” cải lương ngay sau 1975.

Khác với hình ảnh huy hoàng, danh giá; khác với tiếng tăm và khả năng làm giàu của các đoàn cải lương trong thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa, cải lương đương đại đã đi đến thời khắc cuối cùng của nó. Cải lương giờ đây chỉ có thể sống lang bạt ở các viện bảo tàng và các chương trình bảo tồn di sản, thay vì đóng góp tích cực vào việc định hình danh tính, tâm tư và ý chí riêng của một cộng đồng dân cư như nó đã từng.

Cái kết của cải lương và Việt Nam Cộng Hòa, dù khác thời điểm, nhưng cùng chung đâu đó đều là câu chuyện về sự suy tàn của một cộng đồng từng phát triển rực rỡ.

Cải lương và Việt Nam Cộng Hòa: kết tinh riêng độc đáo của miền Nam Việt Nam

Khái niệm “cải lương” trong tiếng Việt khó hiểu hơn là thuật ngữ tiếng Anh tương đương của nó. Trong tiếng Anh, cải lương được gọi là “reformed opera” hoặc “renovated theatre,” chỉ một hình thức hát kịch sân khấu cải cách. Nhưng cải cách từ đâu?

Có ba nguồn ảnh hưởng chính của cải lương.

Trước tiên, dễ nhận thấy và dễ hiểu, là từ hát bội của Trung Quốc.

Hát bội được cho là phát triển tại Việt Nam từ sau khi Trần Hưng Đạo đánh bại lực lượng quân Nguyên giai đoạn 1228-1330. Trong số các tù binh nhà Trần bắt được, có một nghệ sĩ người Hoa theo hình thức hát bội (zaju) tên là Lý Nguyên Cát được giữ lại để dạy và phát triển hình thức nghệ thuật này tại Việt Nam.

Trong nhiều thế kỷ sau đó, hát bội tiếp tục phát triển tại Việt Nam với sự nhập khẩu của nghệ thuật hát bội từ Trung Quốc. Hình thức nghệ thuật này tương tác với văn hóa Chăm (vốn trở thành một phần của Việt Nam vào thế kỷ 15) và tạo nên một số biến thể địa phương mới như “hát nam.”

Cải lương vay mượn phong cách sân khấu, sự khoa trương thậm xưng của diễn xuất, cảm xúc, và sự nhấn mạnh vào hình thể của hát bội để tạo nên diện mạo của mình.

Về âm nhạc, cải lương sử dụng nguồn âm nhạc và ngôn ngữ thuần túy Nam Bộ.

Được biết đến với tên gọi “nhạc tài tử,” hoặc trước đó là “ca ra bộ,” âm nhạc trong cải lương có gốc là kiểu hát kịch có cử chỉ – một cách kể chuyện với âm nhạc. Ca ra bộ được người Pháp ghi nhận đã xuất hiện trong nhiều buổi gây quỹ địa phương hoặc trong các chương trình tạp kỹ tại Nam Kỳ từ đầu những năm 1900.

Cuối cùng, lối dẫn chuyện và phong cách kịch nói thì rõ ràng là chịu ảnh hưởng của chính kịch Pháp, từ kinh nghiệm dàn dựng sân khấu (hậu đài lẫn tiền đài), cách trang điểm, bối cảnh và kỹ thuật dẫn chuyện.

Cùng lúc đó, các sản phẩm âm nhạc cải lương là sự kết hợp liên hồi của ngôn ngữ, nhạc cụ và bối cảnh Tây-Hoa-Ta.

Ta thử lấy ví dụ về bài vọng cổ Dạ Cổ Hoài Lang của Cao Văn Lầu, tác phẩm được sáng tác vào năm 1918. Ngôn ngữ trong tiêu đề và lời ca vừa đậm tính Hoa, vừa đậm tính Việt. Trong khi đó, nhạc cụ được sử dụng thì vô cùng đa dạng, với sáo, tiêu, đàn tranh, đàn bầu cho đến guitar và violin.

Theo cách nói của Vương Hồng Sển trong quyển “Hồi Ký 50 Năm Mê Hát,” cải lương là cách con người Nam Bộ chôn giấu niềm yêu nước trong những năm tháng thuộc địa, nhưng cũng đồng thời là cách để thỏa hiệp và tìm niềm vui trong xã hội mới.

Đâu đó, chúng ta cũng thấy trong Việt Nam Cộng Hòa sự pha trộn, thỏa hiệp cũ-mới của cải lương.

Chúng ta thường được nghe rao giảng rằng chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa mới có tính chính danh lịch sử sau Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng thực tế thì không hề đơn giản như vậy.

Hiệp Định Sơ Bộ Pháp-Việt (Franco-Vietnam Agreement 1946, hay Ho-Sainteny Agreement) xác định rõ Pháp thừa nhận chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc (VNDCCH) có tư cách là một nền Cộng Hòa độc lập thuộc Liên Bang Đông Dương (Indochinese Federation), một thành viên không thể tách rời của Liên Hiệp Pháp (French Union). Tuy nhiên, hiệp định này cũng chỉ giới hạn chủ quyền của VNDCCH tại Bắc Kỳ (Tonkin); phần còn lại gồm Trung Kỳ (Annam) và đặc biệt là Nam Kỳ (CochinChina) thì vẫn còn danh nghĩa thuộc địa của Pháp.

Ai vi phạm Hiệp Định Sơ Bộ là một câu chuyện mà cả hai phía đều cáo buộc nhau, nhưng rõ ràng đến cuối cùng, VNDCCH vẫn thừa nhận mình chỉ có thẩm quyền khu vực phía Bắc, và từ bỏ nỗ lực đại diện cho một Việt Nam thống nhất, ít nhất là trên phương diện công pháp quốc tế.

Trung Kỳ và Nam Kỳ, vì vậy, vẫn còn mang danh nghĩa thuộc địa của Pháp.

Vì thế khó này, ở Nam Kỳ, con đường đấu tranh đòi độc lập chủ yếu phải thông qua con đường chính trị và thỏa hiệp. Trong đó, không thể xem nhẹ những nỗ lực của các gương mặt như Nguyễn Văn Xuân hay Cựu Hoàng Bảo Đại.

Kết tinh của quá trình này là Hiệp định Elysee (Elysee Accords) năm 1949. Đây là tập hợp của nhiều thư trao đổi giữa Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol.

Hiệp định thừa nhận một số điểm cơ bản như:

(i) danh nghĩa thuộc địa của Nam Kỳ sẽ phải bị xóa bỏ (và đã được Quốc hội Pháp trầy trật thông qua sau đó);

(ii) lần đầu tiên Pháp đồng ý thống nhất cả ba kỳ với tên gọi chung là Việt Nam;

(iii) chấp thuận trao lại chủ quyền (như dân sự, kinh tế, tư pháp, hành chính…) cho một chính phủ thống nhất đại diện cả ba miền. Tuy nhiên, các vấn đề về tài chính và quân sự vẫn còn phụ thuộc vào Pháp, lý giải bằng mối quan hệ với Liên Hiệp Pháp.

Từ đó, Quốc Gia Việt Nam (State of Vietnam) cũng có tính chính danh hình thức không kém cạnh so với VNDCCH, đặc biệt theo góc nhìn công pháp quốc tế.

Cải lương và Việt Nam Cộng Hòa: “Bật tận gốc, trốc tận rễ”

Cái chết của Việt Nam Cộng Hòa là hệ quả lộn xộn của địa chính trị quốc tế khó lường trước, nhưng cái chết của cải lương là một kết quả có thể dự báo.

Nhiều người cho rằng cải lương tự thân nó đã lỗi thời, không còn hấp dẫn, không thể cạnh tranh thì tự nhiên phải chết.

Nhưng nếu vậy thì điều gì xảy ra trước 1975, lúc cải lương vẫn có dư đất sống giữa thời điểm nhạc Âu-Mỹ đã rất phổ biến tại miền Nam, và hàng loạt thể loại nhạc Việt và các tác giả Tây hóa cũng đã được công chúng đón nhận? Nếu phải chết, tại sao cải lương không chết dần từ lúc đó?

Văn hóa, đến cuối cùng, tồn tại dựa vào cộng đồng gầy dựng và nuôi dưỡng nó.

Từ công cuộc “cải cách văn hóa” nhằm “tái xây dựng” miền Nam với việc cấm nhạc vàng, cấm tác phẩm văn chương và sách vở nổi tiếng trong giai đoạn Việt Nam Cộng Hòa, đẩy hàng triệu cư dân thành thị về các khu kinh tế mới và trại cải tạo, rồi kế đó là cuộc trốn chạy lịch sử của hàng trăm ngàn cư dân miền Nam Việt Nam, nền tảng văn hóa và cộng đồng văn hóa của vùng đất khốn khổ này hoàn toàn đứt gãy.

Trong bối cảnh đó, sự thù ghét của các nhà văn hóa Cộng Sản dành cho cải lương còn rõ hơn ban ngày.

Các tác giả như Trần Hữu Tá, Trà Linh, Hòa Lục Bình khá đồng thanh trong việc phê phán và chê bai cải lương trong một loạt các tác phẩm đả kích, mà khét tiếng nhất phải kể đến “Văn hóa-văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy.”

Từ việc gọi cải lương là công cụ để “đồi trụy hóa” con người cho đến việc cáo buộc cải lương là chỉ dấu của một nền văn hóa thực dân lai căng dị bản, các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa xã hội chủ nghĩa từ lâu đã xem cải lương là tội đồ.

Một lần nữa, theo cách nói của Hoàng Như Mai, cải lương là điển hình mô tả những gì “rẻ tiền, dơ bẩn và tội lỗi” của xã hội tư sản mại bản, là một sản phẩm văn hóa “giả nhái,” “vô giá trị.”

Sau năm 1975, với cộng đồng thưởng thức đã tan rã, và với những người “làm văn hóa” thù hận cải lương đến cực đỉnh, cải lương mất đi cả nền tảng văn hóa lẫn cơ hội chính sách để sống một cách đúng nghĩa.

***

Đây có thể là một nhận định khiến người nghe cải lương gần bốn thập niên trở lại đây phật lòng, nhưng cải lương sau 1975 không còn chút sức sống tự thân nào.

Tinh thần không còn. Con người không còn.

Tác giả không còn. Khán giả không còn.

Với công cuộc quốc hữu hóa cải lương và các đoàn diễn, sự áp đặt của những danh hiệu như “nghệ sĩ ưu tú,” “nghệ sĩ nhân dân,” cùng với sự thù ghét cải lương sẵn có của các nhà hoạch định văn hóa, hình thức kịch nghệ độc đáo một thời đã bị thao túng và trở thành công cụ để nhà cầm quyền sử dụng, cho đến khi nào hết dùng được thì thôi.

Riêng cái hạn dùng, có lẽ đã đến từ vài thập niên trước.

(*) Nhận định của Hoàng Như Mai được dịch lại từ tiếng Anh sang tiếng Việt, theo trích dẫn trong nghiên cứu A Personal Sorrow: “Cải Lương” and the Politics of North and South Vietnam của tác giả Khai Thu Nguyen, đăng trên tạp chí Asian Theatre Journal năm 2012. Người viết không tìm được bản gốc của tác phẩm tiếng Việt được trích dẫn.


Võ Văn Quản (Luật Khoa Tạp Chí)



UserPostedImage
Duy An  
#2034 Posted : Monday, May 31, 2021 8:17:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
TRẠI CẢI TẠO CỦA CSVN SAU NĂM 1975


Nguyễn Cao Quyền

LTS: Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH. Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khoá 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại học Luật khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, Đại tá Chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), Cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975), Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù cải tạo (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ từ năm 1990. Ông từng là Chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, nguyên Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng VN vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi. Ban biên tập nhật báo Cali Today hân hạnh giới thiệu bài viết này đến qúy độc gỉa.

Những đoạn viết sau đây sẽ trình bày một số sự kiện chính trị đưa dẫn đến việc những quân nhân VNCH bị Hà Nội tập trung cải tạo, mô tả chính sách cải tạo của CSVN sau năm 1975 và sau cùng đề cập đến thiện chí của Hoa Kỳ trong việc giải thoát tù cải tạo và cho họ cùng gia đình sang sinh sống tại Hoa Kỳ và tại những nước dân chủ trên thế giới.

I – GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ CHUNG CỦA HOA KỲ VÀ VIỆT NAM


Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam kể từ thập niên 1940 nhưng sự can thiệp này chỉ trở thành tích cực bắt đầu từ thập nhiên 1950. Sau khi Thế Chiến 2 chấm dứt và cục diện chính trị thế giới đã hình thành rõ rệt với hai khối Tự Do và Cộng Sản kình chống nhau trong một mô thức được goi là Chiến Tranh Lạnh thì tại Hoa Kỳ tổng thống D. Eisenhower tuyên bố rằng chiến tranh Đông Dương không còn là chiến tranh thuộc địa mà là cuộc chiến giữa Cộng Sản và Thế Giới Tự Do. Từ đó Hoa Kỳ viện trơ cho Đông Dương càng ngày càng nhiều để đánh trả lại Việt Minh hầu ngăn chặn sự bành trướng của phe cộng sản do Liên Xô và Trung Cộng lãnh đạo.

Sau Hiệp Định Genève 1954 ( chia cắt Việt Nam thành 2 miền Nam, Bắc,) Hoa Kỳ biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng. Tình nghĩa đồng minh mặc dù thắm thiết nhưng tới lúc cần tự mình đảm nhiệm cuộc chiến, Hoa Kỳ đã không do dự loại bỏ tổng thống Ngô Đình Diệm để được rảnh tay mang quân vào Việt Nam và Mỹ hóa chiến tranh. Ngày 8-3-1965 thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng mà không hề thỏa hiệp trước với chính phủ Saigon. Số quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam lớn dần theo thời gian và có lúc đã lên tới nửa triệu người.

Đến khi Hoa Kỳ cần oanh tạc Bắc Việt thì họ lại tạo ra sự kiện tàu Maddox. Tuy nhiên với những trận mưa bom trên đất Bắc và những chiến dịch lùng diệt rất quy mô tại miền Nam, Hoa Kỳ vẫn không đạt được mục tiêu và bị sa lầy. Số binh sĩ Mỹ tử trận tại miền Nam càng ngày càng gia tăng và số phi cơ bị bắn hạ tại miền Bắc cũng lên cao ( 1621 chiếc từ 1961 đến 1966 ).

Cuối năm 1967 nước Mỹ chìm trong xáo trộn và phân hóa vì chiến tranh Việt Nam.Tổng thống Johnson quyết định ‘’Việt Nam Hóa ‘’ cuộc chiến .
Được tăng cường, quân lực Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH )lần lượt thay thế quân lực Hoa Kỳ trong những trách vụ hành quân quan trọng.

Chiến tích lẫy lừng nhất của quân lực anh hùng này là chiến thắng Tết Mậu Thân ( 1968 ) Chiến thắng này bẻ gẫy kế hoạch tổng tấn công/tổng nổi dậy của tướng c.s Võ Nguyên Giáp và phá tan huyền thoại ‘’bách chiến bách thắng’’ của quân đội cộng sản Bắc Việt. Gần 60.000 quận cộng sản tung vào trận địa đã bị tiêu diệt hết phần nửa chỉ trong một tháng giao tranh. Phần còn lại bị thanh toán gần hết khi cuộc chiến chấm dứt. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, người ta ghi nhận bên phía VNCH chỉ có 4954 chiến sĩ hy sinh.

Sau chiến thắng Tết Mậu Thân, quân lực VNCH tự đảm nhiệm trọng trách tác chiến để quân Mỹ có thể rút về nước. Cuộc hành quân thần tốc vào Campuchia để truy lùng Việt Cộng và tiếp cứu Lon Nol, chiến dịch Lam Sơn 719 cắt đứt đường tiếp liệu của cộng sản, cuộc tử thủ An Lộc được ví như trận Verdun của Pháp, cuộc tái chiếm cổ thành Quảng Trị tranh nhau với binh sĩ cộng sản từng thước đất, đã chúng minh một cách hung hốn khả năng tác chiến và tinh thần dũng cảm của quân lực anh hùng ấy.

Song song với những chiến tích lẫy lừng của quân đội, công cuộc ‘’Bình Định và Phát Triển Nông Thôn ‘’cũng ở trên đà thành công tốt đẹp. Vào những năm đầu của thập kỷ 1970, theo cuộc thăm dò của Hamlet Evaluation Survey (HES) do các cố vấn Hoa Kỳ thực hiện khắp miền Nam Việt Nam thì trong 1333 xã ấp cuối cùng do chiến dịch Accelerated Pacification Campaign (APC) đảm trách, 1035 xả ấp đã có an ninh và 80% dân số miền Nam đã được sống trong vùng chính phủ kiểm soát.

Chương trình Viẽt Nam Hóa Chiến Tranh đang đi vào giai đọan thành công thì trên thế giới xảy ra một biến cố làm cho chương trình này đứt dọan và cuộc chiến thắng của VNCH bị bỏ lỡ. Năm 1969, trên sông USSURI , dọc theo biên giới Đông Bắc Trung Hoa, Liên Xô và Trung Cộng đã động binh giáp chiến. Sự kiện này chứng minh cho Hoa Kỳ thấy rằng sự nứt rạn, từ năm 1953, giữa hai đảng cộng sản anh em là có thật và Hoa Kỳ đã không bỏ lỡ cơ hội tìm cách ly gián để làm suy nhược hang ngũ đối phương.

Chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi từ giờ phút đó. Những cuộc vận động ngoại giao và chính trị dồn dập xảy ra nhằm hỗ trợ mục tiêu chiến lược vừa nói :
-Ngày 9-7-1971 Kissinger có mặt ở Bắc Kinh và được Chu Ân Lai tiếp kiến.
-Ngày 25-10-1971 tại Đại Hội Đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan để bắt tay với Trung Cộng.

-Ngày 21-2-1972 tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thăm viếng Trung Quốc trong 7 ngày.

-Ngày 28-2-1972 Thông Cáo Chung Thượng Hải ra đời. Tổng thống Nixon tuyên bố đây là ‘’một tuần lễ’’sẽ làm thay đổi thế giới ‘’.

Sự thay đổi thế giới khởi sự bằng tiến trình rút quân Hoa Kỳ khỏi Việt Nam.Bill Sullivan, phụ tá của Henri Kissinger tại hòa đàm Paris tuyên bố rằng :’’…người Trung Hoa đã khai thông với chúng ta. Làm cho người Trung Hoa tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phiá chúng ta quan trong hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam. ‘’

Điều không may cho miền Nam Việt Nam.là đúng vào lúc chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang thành công tốt đẹp thì, trên bàn cờ chính trị thế giới, Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu, còn trong nước thì làn sóng chống chiến tranh dâng lên như nuớc thủy triều. Cả một thế hệ xuống đường vào năm 1968, gồm toàn những thành phần trẻ mới vào đời, chiụ ảnh hưởng tiểu thuyết hiện sinh của Hemingway và Fitzerald. Họ sợ hãi. Một loại sơ hãi đặc biệt chỉ tìm thấy trong các xã hội giàu có. Đó là thứ sợ hãi trách nhiệm vì ham hưởng thụ và không chịu ràng buộc vào bất cứ vấn đề gì. Hoa Kỳ thay dổi chiến lược toàn cầu một phần vì muốn lợi dụng sự phân hóa trong khối cộng sản quốc tế nhưng phần khàc cũng tại áp lực của phong trào phản chiến trong nội địa.

Về phía miền Nam Việt Nam thì mặc dầu chiến đấu oanh liệt và thắng lợi như vậy, rốt cuộc quân lực VNCH đã phải tủi hờn rã ngũ để nhìn Việt Cộng chiếm trọn quê hương. Họ đã là thành phần phải trả giá đắt nhất cho một sự phản bội. Họ không thua vì hèn kém mà thua vì lộ đồ bại trận đã được đồng minh Hoa Kỳ vạch sẵn từ lâu.

Vào giờ phút hấp hối của VNCH, khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, 5 vị tướng tài ba và đảm lược nhất của quân đội đã tuẫn tiết theo truyền thống hào hùng của ông cha. Đó là các tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn 4, Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đòan 5, Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7 và Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2.Trong hàng sĩ binh sĩ cấp dưới cũng không ít những tấm gương hiên ngang và khí phách tương tự. Điểm son này cần ghi lại cho các thế hệ mai sau vì là một trong những nét kiêu hùng của nòi giống.

II – TIẾN TRÌNH CẢI TẠO


a/ THỦ ĐỌAN LỪA DỐI THAM ĐỘC CỦA CSVN:

Khi đồng minh Hoa Kỳ tháo chạy trước đà tiến quân của cộng sản Bắc Việt, họ đã để lại đằng sau 980.000 người lính của quân lực VNCH, những quân nhân đã từng sát cánh với binh sĩ Hoa Kỳ bảo vệ biên cương của thế giới Tự Do.

Vào giờ VNCH hấp hối thảm cảnh ‘’sống chết mặc bay ‘’diễn ra vô cùng chua sót. Người ta dẫm lên nhau chạy trốn cộng sản không kể gì đến sinh mạng và tài sản vì Hoa Kỳ không có một chương trình di tản nào tương xứng với tình nghĩa đồng minh. Khởi thủy Mỹ chỉ muốn di tản 50.000 người. Vào phút chót số nhân mạng được may mắn cứu vớt mới nhích lên được con số 130.000. Họ muốn moị chuyện diễn ra nhanh chóng cho xong việc.Người ta đoán được tâm trạng này qua lời nguyền rủa rất tàn nhẫn của Henri Kissinger :’’ Sao chúng không chết phứt cho rồi’’( Why don’t these people die fast ? ). Như vậy,chỉ cần làm một con tính nhỏ người ta có thể thấy ngay là hơn 800.000 binh sĩ của quân lực VNCH đã là nạn nhân của chế độ cải tạo của cộng sản Việt Nam.

Chỉ vài ngày sau khi chiềm trọn miền Nam, những người cộng sản đã lùa quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia vào tù bằng một thủ đoạn vô cùng hèn hạ. Trong một buổi ra mắt mừng chiến thắng, tướng cộng sản Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh ( Saigon ) với dụng ý hiểm độc đã tuyên bố trước báo chí một câu mà những người bị cải tạo không thể nào quên ‘’ Đối với người Việt Nam không có ai là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Chỉ có đế quốc Mỹ là bị đánh bại mà thôi.’’ Vì lời tuyên bố đường mật này mà các quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia đã tự nguyện đi học tập cải tạo với số lương thực tự túc là 10 ngày hay 1 tháng tùy theo cấp bậc, chức vụ.

Thế rồi một tháng trôi qua, không ai được tha. Khi giải thích sự việc này, bọn cai tù cộng sản, dương dương tự đắc nói rằng :’’Đó là nghệ thuật của Cách Mạng bắt các anh vào tù chứ làm gì có chuyện trả tự do, sau 1 tháng giam giữ, cho các con người có nợ máu với nhân dân như các anh. Các anh còn phải cải tạo dài dài.’’. Biết mình bị lừa nhiều người đã tự tử. Môt số người khác tìm cách trốn trại để rồi cũng bị bắt lại và đánh chết thảm thương như những con vật.

Sau một năm áp dụng lao động khổ sai cho chế dộ cải tạo, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, trước khi bị Hà Nội giả tán, công bố chính sách 12 điểm quy định thời gian cải tạo là 3 năm. Sự công bố này lại mang hy vọng cho những người đã mất hết tin tưởng vào viễn ảnh của một ngày về đoàn tụ với gia đình.

Đến cuối năm 1978 thì cái hy vọng mong manh nói trên lại tan tành ra mây khói.Thời gian cải tạo 3 năm như lời cộng sản hứa đã chấm dứt, song chẳng thấy ai được tha về.Trái lại, trong thời gian này, đa số đã bị lưu đầy lên những vùng rừng núi Bắc Việt ma thiêng nước độc với thân tàn ma dại và tinh thần sa xút đến cùng cực. Một làn sóng tự tử thứ hai lại xảy ra, nhưng lần này bên cạnh những xác chết vì thất vọng còn có thêm nhiều xác chết khác vì đói khát và bệnh tật.

Vợ con của những người bị bắt đi cải tạo cũng trở thành nạn nhân của các biện pháp kỳ thị và ngược đãi. Họ bị đuổi khỏi nơi cư trú và phải đi vùng kinh tế mới giữa những rừng núi hoang vu không có một chút tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Con cái họ bị kỳ thị gắt gao khi thi cử và không được phép vào đại học. Nhà cửa của họ bị cán bộ cộng sản chia nhau chiếm đoạt, tiền bạc của họ ở ngân hàng cũng không được phép lấy ra. Trong cơn túng quẫn những phụ nữ trẻ đẹp đã bị dồn vào thế làm lẽ mọn cho cán bộ cộng sản để có phương tiện nuôi thân và nuôi con còn nhỏ dại. Những người khác, rủ nhau chạy ùa ra biển, đem sinh mạng của chính mình và của con cái mình để đổi lấy tự do. Phong trào ‘’thuyền nhân tị nạn cộng sản ‘’ đã đánh động lương tâm nhân loại vì trong số hàng triệu ngưòi liều chết ra đi, gần một phần nửa đã nằm trong bụng cá hoặc làm mồi cho hải tặc.

b/NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG CẢi TẠO ( KINH NGHIỆM BẢN THÂN )

– Những ngày đầu giam lỏng : Sau khi trình diện để được ‘’học tập cải tạo’’chúng tôi được chở bằng xe bus đến Long Thành. Nằm trên đường Saigon-Vũng Tầu, không cách xa thị xã Biên Hòa là bao nhiêu, trại giam Long Thành là một cô nhi viện cũ bị cộng sản trưng dụng làm nhà tù.

Trong những ngày đầu, chúng tôi tương đối được tự do, ăn uống không thiếu thốn vì ngoài lương thực mang theo 1 tháng chúng tôi còn có thể mua thực phẩm tại căng tin của trại. Chúng tôi cũng chưa phải lao động mả chỉ phải học tập 10 bài chính trị và viết tự kiểm. Các bài học chính trị là những tài liệu đơn giản kể tội Mỹ-Ngụy, tuyên truyền lý thuyết cộng sản và phổ biến chính sách khoan hống nhân đạo của chính phủ cách mạng. Những buổi học tập này nhằm gieo vào đầu óc chung tôi mặc cảm tội lỗi để chúng tôi nhận tội và an tâm cải tạo lâu dài. Thỉnh thoảng cũng có cán bộ cao cấp từ trung ương về thuyết trình những đề tài chính trị và quân sự có tính cách vừa khoe khoang vừa đe dọa.

Cái mà những người cộng sản muốn đạt được không phải là vấn đề cải tạo chúng tôi thành những người ủng hộ chế độ mà chủ yếu là khai thác chúng tôi qua những bản tự kiểm để biết thêm tin tức về các mặt tình báo và tài nguyên của miền Nam. Trong thời gian làm tự kiểm cán bộ cộng sản đối xử với chúng tôi rất hòa nhã và tử tế. Họ khuyến khích khai thành thật với bằng chứng cụ thể và tố cáo thật nhiều để đái công chuộc tội với cách mạng. Phải nhìn nhận rằng về mặt khai thác này những người công an cộng sản rất lành nghề và làm việc có hiệu qủa cao.

Sau một tháng cải tạo không ai được tha . Đợt tha đầu tiên, gồm một số ít người có gia đình biết chạy chọt tiền bạc, chỉ xảy ra vào đầu năm 1976 trước khi chúng tôi bị lưu đầy ra Bắc. Chiến dịch lưu đầy này được cộng sản chuẩn bị chu đáo vì họ có thời gian một năm để xắp xếp và thực hiện. Các trại tù miền Bắc được xây cất thêm hoặc dồn lại để có chỗ tiếp nhận chúng tôi.Phương tiện chuyên chở thì gồm vừa hàng không vừa hàng hải. Chuyến máy bay duy nhất chở tù chính trị ra Bắc nhằm mục đích quảng cáo cho chế dộ và đánh lừa dư luận để người ta không để ý tới những chuyến hải hành khủng khiếp tiếp theo.

Sau khi những quân nhân và công chức cao cấp của VNCH đuợc chở bằng máy bay đi rồi chúng tôi được di chuyển từ Long Thành lên trại giam Thủ Đức. Cảnh tù đầy đầu tiên đến với chúng tôi tại trại giam này.Chúng tôi bị lùa vào những phòng giam chật chội thiếu vệ sinh, có cửa sắt khóa chặt dưới con mắt kiểm soát cú vọ của những người công an cộng sản với nét mặt căm thù và hống hách. Hai tháng không hoc tập, không lao động, chỉ ngồi ăn làm cho số lương thực dự trữ cuả chúng tôi dần dần khô cạn. Viễn tượng đói khát bắt đầu xâm chiếm tâm hồn nhưng mỗi người trong chúng tôi cứ phải thúc thủ với ý nghĩ riêng của mình mà không dám chia sẻ với ai vì sợ bị gán cho tội nói xấu chế độ. Chúng tôi ý thức rằng cuộc đời phiêu lưu gian khổ sẽ bắt đầu từ đây.

– Chuyến hải hành khủng khiếp :Thế rồi việc gì phải đến đã đến. Tại trại giam Thủ Đức, một đêm, chúng tôi bị đánh thức dậy, nhận lệnh sắp xếp quân áo để chuyển trại, bị còng tay và chở bằng xe hơi lên bến Tân Cảng Saigon. Tại đây một chiếc tàu thủy to lớn đã chờ sẵn. Chúng tôi bị lùa vào những hầm tâu dành cho súc vật, nằm chờ tàu nhổ neo để bắt đầu chuyến hành trình ra Bắc.Bóng tối của hầm tàu che dấu những giọt nước mắt tuôn ra vì lo sợ, đau buồn và tủi nhục.
Trong suốt ba bốn ngày đêm lênh đênh trên mặt biển chúng tôi phải thu hết can đảm và nghị lực để chịu đựng sự tanh tưỏi và hôi hám của hầm tàu. Ban đêm hầm tối đen như mực. Ánh sáng chỉ lọt qua những kẽ hở khi mặt trời ló rạng. Khi tàu chuyển máy ra khơi, phần đông anh em tù nhân bị say sóng và nằm mê man bất tỉnh. Cao điểm của cảnh khổ cực này xảy ra chỉ một ngày sau khi chuyến hải hành khởi sự. Ví say sóng, nôn mửa và bài tiét nhiều nên lượng bài tiết lớn hơn những thùng chứa đựng khiến phân và nước tiểu cứ tự do đào thoát ra ngoài và len lỏi vào chỗ nằm của các tù nhân mỗi khi tàu chao đảo.

Khi tàu cập bến Hải Phòng, mở nắp hầm ra, những người cai tù sa sẩm mặt mày vì mùi hôi thối sông lên nồng nặc. Họ tức tốc đóng cửa hầm lại, đi lấy khẩu tranh đeo vào mũi miệng rồi mới tiếp tục công việc chuyển tù lên đất. Riêng đối với tù nhân thì khi bước ra khỏi hầm tầu ai cũng có cảm giác như vừa từ địa ngục được bước lên thiên đàng, một cảm giác chết đi sống lại.

Thoát được cảnh hầm tàu hôi hám chúng tôi liền bị còng tay và nhồi nhét vào những chiếc xe hơi bịt bùng không cho nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Xe chạy rất lâu trong đêm tối. Mãi gần sáng chúng tôi mới được lệnh ra khỏi xe và nhập trại. Những người công an canh gác cho chúng tôi tắm rửa ngay ở miệng một giếng nước, giặt rũ qua loa rồi hối thúc chúng tôi vào những phòng giam kiên cố cuả nhà tù. Sau khi cửa sắt đóng lại và khóa chặt, họ nói vọng vào từ bên ngoài : ‘’Các anh đến đây an toàn rồi, bây giờ chỉ còn việc an tâm cải tạo để chờ ngày được chính phủ khoan hồng’’. Nói xong họ bỏ đi chỉ còn lại hai người công an trẻ cầm sung gác.

Hói thăm hai người công an trẻ chúng tôi được biết trai này là trại Quảng Ninh, nằm trên rừng núi cao và nhìn ra vịnh Bắc Việt. Trại này hoàn toàn cách ly khỏi xã hội bên ngoài vì đường giao thông rất khó khăn. Xã hội thu hẹp của chúng tôi bây giờ chỉ gồm có ba thành phần :nhóm tù cải tạo chúng tôi mới đến, những người tù hình sự bị giam giữ từ lâu và những người cai tù có nhiệm vụ canh giữ.

Ngày đầu tiên đến trại Quảng Ninh, chúng tôi có cảm tưởng hình như thời gian trôi nhanh hơn thường lệ.Mới sáng đấy mà đã tối ngay. Khí lạnh của độ cao rừng núi thấm vào phòng giam và vào cơ thể con người. Khi màn đêm đổ xuống, trong phòng chì còn lại một ngọn đèn dầu leo lắt và những tiếng thở dài não nuột trong im lặng buồn tanh và ghê rợn.

– Tiến trình diệt chủng bắt dầu : Sáng hôm sau chúng tôi bị phân chia thành đội để bắt đầu làm quen với lao động. Mỗi đội, 30 người, do một đội trưởng là tù nhân và một quản giáo là cán bộ công an phụ trách.Khi đội đi lao động , công an vác súng đi kèm.

Trong những ngày đầu chúng tôi chỉ phải lao động nhẹ chẳng hạn như trồng rau hoặc cuốc sắn gần khu trại giam. Dần dần chúng tôi phải đi xa và phải lao động nặng nhọc hơn chẳng hạn như vào rừng lấy gỗ làm nhà. Sau nhiều ngày làm quen với khung cảnh sinh hoạt trong trại chúng tôi thấy rằng mỗi trại tù cộng sản là một đơn vị kinh tế độc lập. Tù nhân phải lao động để nuôi cán bộ canh giữ mình, để xây trại giam hãm mình và để cung cấp tiện nghi cho khu gia đình là khu vợ con cán bộ ở. Nhà nước không cần chi phí gì nhiều cho trại tù nên nếu nói rằng dưới các chế độ cộng sản nhà tù nhiền hơn trường học thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Bị lưu đầy ra Bắc chúng tôi mất hết liên lạc với gia đình, cho nên mọi nguồn tiếp tế lương thực đều bị cắt đứt. Lao động cả ngày mệt nhọc, chúng tôi chỉ được trại cho ăn 2 bữa, với mỗi bữa hai chén cơm đầy sạn thóc và một ít rau muống luộc.Ngoài hai bữa cơm ra chúng tôi không có thứ gì khác để nuôi sống cơ thể. Mỗi ngày anh em tù nhân nhìn nhau chỉ còn biết thở dài.Ai cũng gầy ốm đi trông thấy.

Ở trại Quảng Ninh chừng hơn một tháng, tôi và một số tù nhân khác bị chuyển đi trại Thanh Cẩm. Trại này nằm trong vùng Bái Thượng, trên thượng nguồn sông Mã, sau những giẫy núi Lam xanh biếc.Từ trại sang biên giới Lào ước lượng chỉ vài cây số. Đến đây chúng tôi bị giam chung với khoảng 700 anh em tù chính trị khác và trong trại cũng có cả một số tù hình sự. Tôi bị giam ở trại này liên tục cho đến ngày được tha về.

Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ đươc ăn có 4 chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi.Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa sẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể nhũng vụ gánh phân đi bón nặng gẫy sương sườn và chốc lở sương vai.

Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày môt tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực.Sau hơn ba năm bị lưu đầy ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây súc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát.

Chính sách bắt lao động khổ sai kết hợp với bỏ đói là phương cách giết người tinh vi và thâm độc của những người cộng sản. Đó là sự nhẫn tâm và tàn ác nhất mà con người có thể đối xử với con người.

– Một vài cảnh đói ngoài tưởng tương : Xin kể ra đây vài cảnh đói mà người bình thường sống ngoài xã hội, cho dù óc tưởng tượng có xúc tích đến đâu, cũng không thể nào nghĩ tới :

Một hôm nhân lúc đội tù đang lợp nhà, thình lình anh em tù nhân phát giác một ổ rắn dưới tấm lá tranh. Tức thì một anh hô to ‘’Rắn, Rắn’’. Tiếng hô vừa rứt, đám tù nhân nhanh như cắt đã vây quanh ổ rắn và chỉ trong nháy mắt, bằng tay không, các anh đã bắt hết những con rắn độc, bẻ cổ vứt đi và nhét phần còn lại vào túi áo. Trong giờ giải lao, được phép của cán bộ canh giữ, các anh đã nổi lửa rồi đem rắn ra nướng và ăn ngon như chưa bao giờ ngon thế. Không phải chỉ có rắn mà cả rết, cả chuột, cả cóc nhái, sên ốc…nghĩa là tất cả những con gì cử động mà để cho các anh trông thấy thì đều chịu chung một số phận.

Một hôm khác, nhân ngày Chủ Nhật, không phải lao động, các tù nhân ôm bụng đói đang thiu thiu ngủ thì một anh nghe tiếng chuột con kêu trên mái nhà. Không bỏ lỡ cơ hội, anh liền chồm giậy, gọi thêm 2 người khác rồi cả ba, khiêng bàn, công kênh nhau lên bắt chuột. Họ bắt được một ổ chuột con hãy còn đỏ hỏn, chia nhau ăn sống như nhai những củ sâm.Mặc cho máu mê trào ra ngoài miệng trông như ác qủy, các anh thản nhiên nhai ngấu nghiến như không màng gì tới hoạt cảnh ghê rợn tạo nên.

Một buổi chiều sau khi đi lao dộng về, chúng tôi thấy một anh bạn tù nhân sắp chết đói đang ngồi bên một dòng nước tiểu chảy ta từ phía những thùng phân nổi trong cầu tiêu. Nhìn kỹ thấy anh đang bắt mấy con kiến, tha những mảnh ngô chưa tiêu kịp, di chuyẻn từ cầu tiêu về tổ. Anh lượm những mảnh ngô đó bỏ vào mồm rồi tha cho những con kiến để chúng tiếp tục làm công việc vận tải mà anh thèm muốn. Chương trình cướp ngô của kiến anh chỉ thực hiện được có một ngày. Ngày hôm sau anh trút hơi thở cuối cùng vì quá đói.

Bằng chính sách bỏ đói kết hợp với lao động khố sai những người cộng sản đã giết tù cải tạo mà không cần đem ra trường bắn, không cần nhốt vào lò hỏa thiêu như người Đức Quốc Xã đã làm. Họ cũng chẳng cần tạo ra những cảnh ‘’tắm máu’’ làm gì.

– Một chuyện tù vượt ngục : Trại cải tạo Thanh Cẩm có một khu kiên giam dành cho những thành phần được cộng sản coi là đặc biệt nguy hiểm. Những người bị giam trên khu này không phải lao động nhưng bị cùm chân ban đêm khi đi ngủ. Có một thời gian, tôi cũng là một tù nhân của khu vực kiên giam này. Nhờ không phải lao động nên tôi mới sống sót đến ngày nay. Tại đây tôi còn giữ lại một kỷ niệm hãi hùng mà suốt đời không bao giờ quên được, kỷ niệm liên quan đến một chuyện tù vược ngục.

Là những tù nhân không có ngày về và bị bỏ đói triền miên hết ngày này qua tháng khác, chúng tôi cam tâm kéo dài cuộc sống bị đầy ải và hoàn toàn tuyệt vọng giữa rừng núi hoang vu của biên giới Lào-Việt. Khi màn đêm đổ xuống, khu kiên giam lạnh lẽo và tĩnh mịch, nặng nề như một nhà quàn chất chứa những xác người chưa chết. Ban ngày, chúng tôi đau đớn nhìn nhau như nhìn những bộ xương khô biết cử động.Viễn tượng của ngày xum họp với gia đình, từ lâu, đã hoàn toàn tan biến. Tương lai duy nhất còn lại là sự chờ đợi ngày về với tổ tiên.
Thế rồi, một biến cố kinh hoàng đã xảy ra. Đêm ấy là đêm 1 tháng 5 năm 1979, đêm liên hoan của cộng sản nhân dịp lễ Lao Động. Bọn công an trẻ thuờng chểnh mảng trong nhiệm vụ canh gác mỗi khi có liên hoan. Bỗng nhiên trong bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya, chúng tôi nghe phát ra từ phòng giam bên cạnh, một âm thanh đào tường đều đều như máy chạy. Thỉnh thoảng lại có tiếng người rầm rì động viên nhau như hối giục.

Chúng tôi hiểu ngay đó là một kế hoạch trốn trại đang được tiến hành. Trong cơn tuyệt vọng, các anh mới đến từ trại Quyết Tiến, đang chọn đi vào chỗ chết để tìm đường sống. Mọi người trong phòng giam bên này đều nhắm mắt cầu nguyện cho các bạn đó thành công.

Đêm càng khuya chúng tôi càng hồi hộp. Âm thanh đào tường nghe mồi lúc môt yếu dần. Gà bắt đầu gáy sáng mà âm thanh vẫn còn tiếp tục.Khi âm thanh chấm dứt thì ánh nắng đã luồn qua khung cửa sắt chật hẹp của phòng giam.

Đang lo lắng cho số phận của mấy anh em trốn trại, chúng tôi giật mình vì những tiếng súng báo động nổ rến. Rồi tiếng chân người xô chạy về thượng nguồn song Mã xen lẫn với những tiếng la hét vọng lại từ xa. Trong phòng lúc đó không biết ai đã thở dài và thốt ra hai tiếng ‘’thất bại’’. Chúng tôi đau đớn chia sẻ sự thất bại đó và lo sợ đến tột cùng khi nghĩ tới những biện pháp trả thù của bọn công an cộng sản trong cơn tức giận.

Khi trời sáng hẳn, phòng giam của những người trốn trại bị công an lục soát rất kỹ. Một tên công an thản nhiên nói với đồng bọn :’’Thằng Tiếp chết rồi ‘’. Anh Đặng văn Tiếp là một cựu trung tá của không lực VNCH và dân biểu quốc hội trước khi miền Nam sụp đổ.Nghe hung tín đó chúng tôi đau đớn lặng người. Những giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má như một lời vĩnh biệt. Tất cả các anh khác bị bắt lại hết và bị đánh đập tàn nhẫn. Hai ngày sau, anh Lâm Thành Văn chết theo anh Tiếp. Riêng cha Nguyễn Hữu Lễ may mắn sống sót dù bị đả thương rất nặng. Sau 13 năm cải tạo, linh mục Lễ hiện đang phụ trách một họ đạo ở Tân Tây Lan.

Bài học của Bắc Kinh : Vào khoảng đầu năm 1979, tại trại Thanh Cẩm, anh em tú cải tạo chết đói khá nhiều. Trong khi ai cũng cam tâm chờ chết thì một đêm chúng tôi nghe thấy những bài bình luận lạ tai phát ra từ những loa tuyên truyền ngoài cổng trại. Sau nhiều ngày theo dõi tin tức chúng tôi được biết giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang có sự xích mích nặng nề.

Bắc Kinh đang chuẩn bị cho Việt Nam một bài học. Một quân đoàn Trung Cộng, trải dài trên 600 cây số tại biên giới phía Bắc sẽ xâm lăng Việt Nam và sẽ tiến vào Hà Nội trong vài ngày. Không khí chiến tranh bao chùm cả nước. Lệnh tổng động viên được ban hành và bộ đội đang di chuyển cấp tốc từ Campuchia về biên giới Việt-Trung. Các trại cải tạo nằm sát biên giới như Quyết Tiến, Phong Quang…được di tản sâu vào nội địa. Trại Thanh Cẩm phải nhận thêm một số tù nhân đến từ trại Quyết Tiến.

Chiến tranh đã thật sự xảy ra nhưng quân Trung Cộng, sau khi làm cỏ, mấy tỉnh miền biên giới, chỉ tiến đến Việt Trì rồi rút về nước. Hà Nội không bị bao vây và công hãm.

Bài học của Bắc Kinh đã cứu sống rất nhiều tù cải tạo, đó là điều mà ít người biết tới.Vì có bài học này nên chính sách cải tạo khắc nghiệt của Hà Nội có đôi phần nới lỏng. Sau 4 năm bị cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, chúng tôi được viết thư và nhận đồ tiếp tế trở lại. Không những thế, gia đình còn được phép đến trại thăm gặp và trong vài trường hợp đặc biệt tù nhân cải tạo còn được phép ở lại suốt đêm ngoài nhà khàch để sinh hoạt với gia đình.

Một chuyện khác mà không ai ngờ tới là những gói qùa tiếp tế không những đã cứu sống chúng tôi khói chết đói mà cón cho chúng tôi cơ hội cải tạo những bộ óc chậm tiến của những người tự cho có nhiệm vụ cải tạo chúng tôi.

Mỗi đợt khám quà của tù nhân là một dịp để các cán bộ làm quen với thế giới bên ngoài qua những đồ tiếp tế.Lần đầu tiên khám qùa một anh cán bộ trẻ thấy một gói lạp xưởng đòi tịch thu.Chúng tôi hỏi tại sao thì được trả lời :’’Tịch thu, vì các anh không được phép mang nến ( đèn cày) vào trong trại’’. Tội nghiệp, từ bé tới lớn anh chưa được ăn lạp xưởng bao giờ nên tưởng lạp xưởng là đền cày.

Những thứ lạ mắt như những cuốn giấy vệ sinh trắng muốt, những chai sà bông nước, những lon cà phê-sữa bột, những viên thuốc Tây xanh đỏ đựng trong những lọ có nắp khó mở….đều là những thứ mà trại thấy cần phải giữ lại để nghiên cứu. Sau này khi biết những thứ đó không có gì nguy hiểm và thỉnh thoảng lại được chúng tôi ‘’kỷ niệm’’(nghĩa là cho theo ngôn từ cộng sản) các công an trẻ dần dần làm thân và thường muốn nghe chúng tôi kể những chuyện của thế giới bên ngoài, trong giờ lao động. Kỷ luật trại giữa cán bộ và tù nhân cũng không còn gay gắt như trước nữa.

Ngày một số anh em chúng tôi được trả lại tự do ( 1985 ) những người công an trẻ đến chia tay bằng một câu nói cảm động :’’Thôi các anh về mạnh khoẻ rồi đi ngoại quốc. Chúng tôi thì còn ở đây chưa biết đến bao giờ.’’. Ngay lúc đó chúng tôi chưa nắm bắt được thông điệp ‘’rồi đi ngoại quốc ‘’ nhưng chúng tôi hiểu ngay rằng những thanh niên cộng sản đó đã bắt đầu tỉnh ngộ sau thời gian mấy năm được chúng tôi cải tạo.


còn tiếp


UserPostedImage
Duy An  
#2035 Posted : Monday, May 31, 2021 8:18:41 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
.

III – CHIẾN DỊCH GIẢI THOÁT TÙ CẢI TẠO

Có một thời gian, công an trại thường chỉ mặt chúng tôi và hăm dọa nhiều lần :’’ Nếu bọn Mỹ không chịu bồi thường 3 tỷ 2 thì các anh sẽ còn cải tạo mút mùa.’’. Câu hăm dọa này không làm chúng tôi lo sợ mà, trái lại, làm chúng tôi mừng thầm vì đoán rằng có thể ở bên ngoài xã hội đang diễn ra một cuộc thương lượng giũa Hoa Kỳ và Việt Cộng để giải thoát chúng tôi khỏi cảnh tù đầy. Cho dù đây chỉ là một hy vọng rất mong manh nhưng chúng tôi cứ bám viú lấy nó như người sắp chết đuối vớ được cọc, để có lý do và can đảm tiếp tục cuộc sống.
Thế rồi, không bao lâu sau, sự ước đoán của chúng tôi được thân nhân vào thăm xác nhận là đúng. Từ đó, trong lòng chúng tôi, ngày nào cũng như mở hội. Hy vọng được về xum họp với gia đình có nhiều triển vọng trở thành sự thật.

Tôi được trả tự do vào cuối năm 1985, sau 10 năm 4 tháng 10 ngày bị cộng sản bỏ tù. Hội nhập lại vào xã hội bên ngoài, tôi được biết vào năm 1976, Kissinger đã tuyên bố :’’Hoa Kỳ đang chuẩn bị bình thường hóa bang giao với Việt Nam ‘’. Việc bình thường hóa bang giao không thành vì trong cuộc đàm phán ở Paris vào đầu năm 1977 Hà Nội khăng khăng đòi Hoa Kỳ phải trả 3250 triệu Mỹ Kim để bồi thường chiến tranh. Lẽ cố nhiên là Hoa Kỳ bác bỏ đòi hỏi vô lý đó vì Hà Nội đã không tôn trọng hiệp định Paris năm 1973.

Nền kinh tế của Việt Nam mỗi ngày một sa sút. Sự vô hiệu của kinh tế hoạch định và tình trạng sa lầy trong chiến tranh Campuchia khiến chế độ Hà Nội đứng trên bờ vực thẳm. Trung Cộng đã trở thành thù nghịch còn Liên sô thì cũng đang gặp khó khăn nên không biết nương tựa vào ai. Hoa Kỳ là sinh lộ duy nhất còn lại. Làm găng không được, Hà Nội bắt đầu đấu dịu.

Đầu thập niên 1980, cả Phạm văn Đồng lẫn Nguyễn Cơ Thạch đều bắn tiếng là sẽ thả tù cải tạo nếu Hoa Kỳ tiếp nhận. Hà Nội dùng tù cải tạo như phương tiện măc cả để xin viện trợ của Hoa kỳ. Hoa Thịnh Đốn đáp ứng và diễn tiến của chiến dịch giải thoát tù cải tạo được ghi nhận như sau.

Ngày 11-9-1984 ngoại trưởng George Schultz chính thức yêu cầu Hà Nội trả tự do và cho phép các tù nhân chính trị được định cư tại Hoa Kỳ. Ba tuần sau tổng thống Reagan gủi văn thư chính thức đến các bộ ngoại giao, an sinh và tư pháp về việc thâu nhận những người tù cải tạo Việt Nam.

Hoa kỳ đồng ý gặp đại sứ Võ Đông Giang của Hà Nội tại Nữu Ước. Cuộc đàm phán tiến hành trong bí mật.

Tháng 7 năm 1988 phái đoàn Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại gao Hoa kỳ, đi Hà Nội họp với phụ tá bộ trưởng ngoại giao Việt Cộng Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do cho tù chính trị và đưa họ đi định cư tại ngoại quốc.

Ngày 30-7-1989, ông Robert Funseth và Vũ Khoan, thứ trưởng ngoại giao Việt Cộng ký kết tại Hà Nội văn kiện về việc định cư tù cải tạo.

Qua thỏa hiệp này 3000 tù cải tạo và gia đình đã đến Hoa Kỳ trong những tháng đầu tiên của năm 1990. Chương trình định cư này trù liệu đưa ra nước ngoài 400.000 người thì 20% đã đến bến tự do năm 1990, 30% năm 1991, 30% năm 1992, 10% năm 1993 và 10% còn lại vào những năm kế tiếp.

Dựa theo các tài liệu đáng tin cậy người ta cũng được biết là trong số quân nhân VNCH được sang Mỹ định cư sau thời gian cải tạo thì 61% là cấp úy, 35% là cấp tá và tướng và 4% là viên chức chính phủ.

Con số những người chết trong các trại cải tạo chưa được xác định là bao nhiêu. Tài liệu của Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Hawaii, thiết lập ngày 20-4-1993 đưa ra một con số rất thiếu sót là 587 người. Đây chỉ là một phần nhỏ của số ‘’tử vong vì cải tạo’’ trong thực tế.

Cũng theo một tài liệu khác chưa dầy đủ thì số trại cải tạo CSVN thiết lập trên toàn quốc sau năm 1975 là 80 trại ( bao gồm cả 2 trại ở các đảo Côn Sơn và Phú Quốc ).

Quyết định của Cộng Sản Việt Nam đưa quân cán chính VNCH đi cải tạo lâu dài sau năm 1975 là một sai lầm trầm trọng. Sau khi chiếm miền Nam, đáng lý ra Hà Nội phải biết lợi dụng thời kỳ vàng son này để hòa hợp hòa giải dân tộc và xây dựng tương lai phồn thịnh cho đất nưốc.

Giữa tháng 5-1975, bộ trưởng ngoại giao 5 nước ASEAN họp thường niên tại Kuala Lumpur đã bày tỏ ý muốn thiết lập bang giao với các nước Đông Dương. Trong thông cáo chung ngày 24-7-1975 Phi Luật Tân và Thái Lan minh định rõ là các căn cứ quân sự của nước ngoài trong khu vực chỉ là tam thời và khối SEATO sẽ giải tán.

Vào thời gian đó Nhật cũng trù liệu một ngân khoản 1600 triệu Mỹ Kim để giúp 5 nước ASEAN và 3 nước ĐÔNG DƯƠNG xây dựng khu thịnh vượng chung Đông Nam Á. Tiếp theo, tháng 8 năm 1977, Nhật lại kêu gọi sự hợp tác thân hữu giữa các nước trong vùng kể cả Miến Điện, và hứa viện trợ 5 tỷ Mỹ Kim cho kế hoạch phát triển Đông Nam Á tành một khu vực phồn vinh.

Sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam còn được gia nhập Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế với một khoản vay mượn đầu tiên là 35 triệu Mỹ Kim. Ngân Hàng Thế Giới cũng xúc tiến kế hoạch giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế thời hậu chiến. Thừa kế chỗ trống của VNCH, Hà Nội còn là hội viên của ngân hàng phát triển Á Châu.
Trong bối cảnh đó nếu không có chính sách cải tạo sai lầm thì nhân dân hai miền Nam Bắc đã cùng dồn nỗ lực vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện việc hoà hợp hòa giải dân tộc để nhanh chóng đưa đất nước đến cảnh phú cường.

Bị Hoa Kỳ giăng bẫy CSVN đã xé bỏ hiệp định Paris và xâm chiếm miền Nam để rồi liền sau đó lại bị Trung Cộng giăng bẫy nhử sang Campuchia và bị sa lầy ở đó. Hậu qủa của những quyết định mù quáng này là một nước Việt Nam kiệt quệ và tụt hậu, cam tâm làm chư hầu một lúc cho hai thế lực thù địch. Cắt đất dângTrung Quốc để duy trì mạng sống chính trị và qùy gối ôm chân Hoa kỳ để kiếm miếng ăn. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc lại có một thòi kỳ nhục nhã như hiện nay.

Đối với Hoa Kỳ, bỏ rỏi miền Nam Việt Nam trong trận đồ quốc tế để thắng Liên Xô và làm tan rã khối cộng sản là một vấn đề chiến lược. Tiến hành chiến dịch giải thoát tù cải tạo Việt Nam để họ được sang sinh sống và đoàn tụ tại Hoa Kỳ là một vấn đề của lương tâm. Đứng về phương diện quyền lơi cuả Hiệp Chủng Quốc mà xét thì trong cả hai việc làm này Hoa Kỳ đều khôn ngoan và thắng lợi./.
UserPostedImage
Duy An  
#2036 Posted : Tuesday, June 1, 2021 6:30:50 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
9 sĩ quan gốc Việt tốt nghiệp Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ


May 31, 2021 - Đoan Trang/Người Việt

ANNAPOLIS, Maryland (NV) – Có chín tân sĩ quan gốc Việt tốt nghiệp Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy – USNA) năm nay, theo facebook Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại (Republic Of VietNam Next Generations) đưa tin hôm 29 Tháng Năm.

UserPostedImage
Các tân sĩ quan gốc Việt tại lễ tốt nghiệp, hôm 28 Tháng Năm, tại U.S. Naval Academy. (Hình: FB Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại)


Chín tân sĩ quan người Mỹ gốc Việt này đều là thế hệ thứ ba VNCH sinh trưởng tại Hoa Kỳ.


Các tân sĩ quan này gồm: Amy Khanh Hoàng, Andrew Quốc Duy Tôn, Bryan Duy Nhất Nguyễn, Dean Duy Nguyễn, Jared Tyler Arlett (có mẹ là gốc Việt), Jeffrey Quốc Nghiêm Trần, Harvey Hiếu Nguyễn, Lilian Ngô Usadi, Sarah Mai Lan Nguyễn.

Trong đó có hai tân sĩ quan tốt nghiệp hạng ưu (Top 10) là Andrew Quốc Duy Tôn và Lilian Ngô Usadi.

Đây là những tinh hoa của đất nước và thế hệ hậu duệ VNCH sau 46 năm của người Việt tị nạn Cộng Sản, đã góp phần làm nên sự hùng mạnh và thịnh vượng của Hoa Kỳ.


UserPostedImage
Các sĩ quan gốc Việt tại buổi lễ tốt nghiệp, hôm 28 Tháng Năm, tại U.S. Naval Academy. (Hình: FB Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại)

Trong số 1,084 tân sĩ quan năm nay, có khoảng 28% là phụ nữ, theo Navy Times.

Lễ tốt nghiệp của USNA tổ chức tại Annapolis, Maryland hôm 28 Tháng Năm, có Phó Tổng Thống Kamala Harris tham dự và đọc diễn văn. Phó tổng thống đứng bắt tay và chúc mừng từng tân sĩ quan.

Bà Harris làm nên lịch sử khi trở thành người phụ nữ đầu tiên thực hiện vinh dự chúc mừng sinh viên tốt nghiệp trong suốt 175 năm của học viện quân sự danh giá này, theo đài ABC News.

Nữ phó tổng thống nhắn nhủ các sinh viên tốt nghiệp, những quân nhân sẽ phục vụ trong lực lượng Hải Quân hay Thủy Quân Lục Chiến trong ít nhất năm năm tới, rằng “quý vị sẽ tuyên thệ, giống như tôi đã làm khi trở thành phó tổng thống, lời thề bảo vệ Hiến Pháp của nước Mỹ trước bất kỳ kẻ thù nào.”

Phó Tổng Thống Harris nhắc nhở các sinh viên tốt nghiệp đang bước vào “một kỷ nguyên mới, một thời đại mới,” trong đó bao gồm giai đoạn hậu đại dịch COVID-19.

Bà cũng lên tiếng cảm ơn các quân nhân đã nỗ lực trong công tác chích ngừa cho người dân Mỹ trên toàn quốc.

USNA tọa lạc tại thành phố Annapolis, Maryland, gần Washington DC, là học viện đào tạo các sĩ quan cho lực lượng Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến. Quy trình chọn lọc và đào tạo các học viên tại USNA cũng tương tự như Học Viện Không Quân và Học Viện Quân Sự West Point. [kn]

UserPostedImage
phamlang  
#2037 Posted : Saturday, July 3, 2021 11:58:33 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,543

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
PHI CÔNG THỜI CHIẾN

Công việc lái máy bay ở xứ Úc này là một việc mà đa số người Úc đều ham thích và thán phục. Việc lái máy bay có một tính cách phiêu lưu, đem lại những cảm giác mạnh đồng thời khi bay trên không trung người ta cảm thấy được tự do hơn, thoải mái hơn so với những công việc nhàm chán dưới đất.

Đối với giới thượng lưu, khá giả thì lái máy bay là một môn thể thao lý tưởng nhất. Đối với những người không đủ khả năng tài chánh để chơi môn thể thao này thì nghề của họ cũng rất có giá trị và có một lợi tức khá cao so với các ngành nghề khác...

Thế nhưng cái việc lái máy bay của những hoa tiêu Không Quân QLVNCH trước đây nó lại mang những mục đích và tính chất khác hẳn. Họ say mê công việc, nhưng không phải say mê như một môn thể thao, họ đem hết khả năng của mình ra để thi hành phận sự nhưng không phải vì đồng lương cao mà vì lý tưởng bảo vệ miền Nam tự do. Vào những ngày xa xưa đó, các hoa tiêu ưu tú cùng các chuyên viên tài giỏi của miền Nam đã tạo thành một đội ngũ Không Quân hùng mạnh, đủ khả năng để đảm đương nhiệm vụ chiến đấu và yểm trợ quân bạn, sau khi tất cả Không Lực Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam.

Về chuyên môn nghề nghiệp, về lòng dũng cảm, về kinh nghiệm chiến trường, họ đã chứng tỏ mình không thua kém bất kỳ một Không Lực Đống Minh nào trên thế giới.

Nhưng tiếc thay, cùng với vận nước trên một bàn cờ chính trị thế giới đảo điên, vì hậu quả sự phản bội của Đồng Minh và sự bất tài của một số nhà lãnh đạo, đã đưa đến sự sụp đổ của miền Nam.

Sau ngày 30-04-1975, hơn một triệu chiến sĩ QLVNCH trong đó có Không Quân, đã bị ép buộc phải bỏ cuộc, sau bao năm tháng chiến đấu vì lý tưởng. Họ uất ức cho những đồng đội còn sống và ngậm ngùi cho những chiến hữu đã ra đi.

Trong sự ngậm ngùi thương tiếc đó, người viết xin kể lại một chuyến bay đêm - chuyến bay định mệnh của một đồng đội trẻ...

Khánh, một thanh niên trẻ, vừa tròn hai mươi tuổi đời. Anh vừa tốt nghiệp khóa huấn luyện hoa tiêu từ Hoa Kỳ về nước, được mang cấp bậc Thiếu úy. Nhìn gương mặt anh, mọi người nghĩ rằng anh trẻ hơn cái tuổi của anh hiện tại. Anh em trong đơn vị gọi Khánh là “Khánh Sữa”, vì gương mặt Khánh búng ra sữa theo như lời anh em thường đùa cợt nhau.

UserPostedImage


UserPostedImage


Từ lúc Khánh về nhận đơn vị, Phi đoàn 819 Hắc Long, thuộc Sư đoàn 5 Không Quân, đến hôm nay vừa tròn ba tháng. Trong suốt thời gian này, Khánh được sắp xếp đi bay hàng đêm với một phi công trưởng, lớn tuổi đầy kinh nghiệm trong đơn vị để học hỏi kinh nghiệm chiến trường Việt Nam. Khánh đã chứng tỏ được sự thông thạo kỹ thuật lái và chiến đấu, trong điều kiện chiến trường Việt Nam một cách gan dạ và khéo léo.

Hôm nay Khánh lại được Phòng Hành Quân xếp tên đi bay với Trung úy Hùng, Trưởng Phi Cơ, trên danh sách phi vụ lệnh “Hắc Long 2”, phi vụ của Khánh và Hùng sẽ cất cánh vào lúc 6 giờ 30 tối.

Sau khi tham dự buổi thuyết trình ngắn về thời tiết trong đêm, tình hình, vị trí phòng không của Cộng sản trong vùng lãnh thổ trách nhiệm vào lúc 5 giờ chiều, mọi người kéo nhau tới khu gia binh của SĐ5KQ tọa lạc tại căn cứ Tân Sơn Nhất để ăn uống qua loa trước khi bắt đầu chuyến bay.

Tôi gặp Khánh trong một quán ăn của khu gia binh, hắn toét miệng cười vui vẻ, hai đứa trò chuyện về bồ bịch của nhau. Hắn khoe tôi, hắn mới quen được một em vừa đẹp, vừa là con nhà khá giả! Em, mới 18 tuổi, học lớp 12 Gia Long. Hắn say sưa kể về em cho tôi nghe, sau một hồi lâu nghe Khánh dệt mộng đẹp, nhìn đồng hồ thấy đã gần 6 giờ, tôi nhắc Khánh sắp đến giờ đi bay. Hắn vội vã trả tiền và trước khi rời quán, hắn còn nói với theo, sáng mai nhớ chờ hắn ở phi đoàn, sau khi đi bay về, đi uống cà phê, ăn sáng với nhau rồi hãy về nhà. Tôi “ừ” giục hắn đi nhanh cho kịp giờ. Đó là lần cuối tôi nói chuyện với hắn.

Sau khi ký tên vào sổ đi bay, Khánh cùng phi hành đoàn được xe pick-up của đơn vị chở đến Phòng Dù. Tại đây, mỗi người ký nhận dù cá nhân cho mình, sau đó được xe chở đến ụ đậu của phi cơ.

Trong bóng đêm chập choạng, những chiếc AC119G, được trang bị bốn khẩu đại liên sáu nòng(minigun) và dàn flare(hỏa châu) chiếu sáng, sơn màu ngụy trang, đậu ngạo nghể dọc theo hai bên phi đạo, trông như con quái vật khổng lồ, nhô hai cái đuôi cao lớn như hai tòa tháp nhà thờ.

Chiếc pick-up dừng lại tại chiếc phi cơ có số đuôi SA-007, mọi người trên xe nhanh chóng nhảy xuống và tiến lại phi cơ làm phận sự của mình.

Phi hành đoàn của một chiếc Hắc Long gồm 8 người, Hoa tiêu Trưởng, Hoa tiêu Phó, Sĩ quan Điều hành Viên, Sĩ quan Điều khiển dụng cụ trắc mục tiêu, Cơ khí Viên, Hai nhân viên tiếp đạn và một người phụ trách dàn flare.

Trung úy Hùng nhanh nhẹn nhảy lên phòng lái mở máy phát điện và kiểm soát bên trong phi cơ. Khánh đi một vòng xung quanh kiểm soát các hệ thống bánh đáp, cánh đuôi phi cơ v.v...Trong lúc đó, người cơ khí viên kiểm soát xăng trong cánh và dầu máy ở hai động cơ.

Mọi nhân viên trên phi cơ làm phận vụ mình một cách thành thạo và nhanh chóng.

Sau những thủ tục kiểm soát bên ngoài phi cơ, Trung úy Hùng ra hiệu với người bảo trì đứng dưới đất, cho biết ông bắt đầu bắt đầu hai động cơ. Trong lúc đó, Khánh liên lạc với đài kiểm soát, xin lệnh rời ụ đậu, di chuyển đến vị trí số 1 của phi đạo, để chuẩn bị cất cánh.

Tại vị trí số 1 của phi đạo 25. Hùng và Khánh kiểm soát lại lần chót những đồng hồ phi cụ, đoạn Hùng ra hiệu cất cánh, phi cơ hùng hổ chồm về phía trước. Những hàng đèn lái bên phi đạo chạy giật lùi về phía sau, tạo nên hai vệt sáng xanh mờ ảo. Trong phút chốc phi cơ đã lao vào không gian, Khánh liếc nhìn ra hai bên cánh, chỉ thấy hai vệt lửa xanh lè, phát ra từ hai động cơ như đôi chân của con rồng đang bay lượn.

Nhìn lên phía trên là bầu trời đen như mực, nhìn xuống phía dưới là khung cảnh rực rở, đầy ánh sáng náo nhiệt của thành phố Sài Gòn hoa lệ. Khánh miên man nghĩ đến Ly, không biết giờ này Ly đang làm gì, có lẽ nàng vừa ăn cơm tối xong, đang ngồi trước bàn học và mơ mộng...Bỗng nhiên có tiếng phát ra từ hệ thống liên lạc:

- Hắc Long 2, Paris gọi...
- Hắc Long 2 nghe, bạn nói đi
- Hắc Long 2 lấy cấp đi Cần Thơ, liên lạc với Buddy nhận lệnh hành quân
- Hắc Long 2 nhận rõ.

Hùng ra lệnh cho Khánh lấy hướng 180 độ trực chỉ Cần Thơ. Trong khoảnh khắc, vùng ánh sáng rực rở của Sài Gòn bị bỏ lại phía sau. Tiếng động cơ rầm rì một nhịp điệu đều đặng. Phi cơ đang ở cao độ 8000 bộ, bầu trời lúc này tương đối quang đãng với những vì sao lấp lánh trên cao. Khánh lại thả hồn về với tuổi thơ ấu, lúc còn học tiểu học, Khánh còn nhớ những buổi trưa hè oi bức ở miền quê, trốn ba má đi thả diều, rong chơi trên đường làng. Khánh cảm thấy tiếc nuối cái thủa thanh bình yên ấm xa xưa, phải chi đừng có chiến tranh, với cái tuổi 20 như Khánh, con người ta có biết bao mộng đẹp để thực hiện....Tư tưởng của Khánh bị ngắt quãng bỡi tiếng liên lạc của người sĩ quan Điều hành Viên với đài Kiểm bá

- Buddy, đây Hắc Long 2 gọi...
- Buddy nghe Hắc Long 2...
- Tôi đang ở vùng bạn, xin cho biết nhiệm vụ.
- OK, Hắc Long 2, tọa độ XT...liên lạc tần số quân bạn 25, danh hiệu Hồng Hà.
- Nhận rõ, lập lại XT...

Người sĩ quan Điều hành Viên cặm cụi đo đạc trên bản đồ, sau đó báo cho trưởng phi cơ biết thời gian và hướng bay đến mục tiêu, cách Cần Thơ 20 phút bay, nơi đơn vị bạn yêu cầu yểm trợ là một tiền đồn trong vùng Mỏ Vẹt, sát biên giới Việt Miên.

Phi cơ bay gần đến mục tiêu, Hùng ra lệnh tắt hết tất cả đèn ở cánh và đuôi phi cơ để địch không nhìn thấy, đồng thời thông báo cho các nhân viên trên phi cơ chuẩn bị ở vị trí chiến đấu.

Tiếng liên lạc giữa quân bạn ở dưới đất và phi cơ càng lúc càng rõ ràng hơn khi phi cơ tiến gần đến mục tiêu.

- Hồng Hà, Hắc Long 2 gọi...
- Hồng Hà nghe...
- Tình hình bạn hiện nay ra sao?
- Tình hình rất khó khăn, vì địch quá đông. Có thể bị tràn ngập.
- Chúng tôi sẽ “rải trấu” trên đầu bạn OK?
- Chúng tôi đã sẵn sàng, bạn cứ tiến hành.



Hùng ra lệnh bốn khẩu đại liên sẳn sàng, trong lúc đó, Khánh điều khiển phi cơ bay vòng trên mục tiêu.
Từ phi cơ nhìn xuống, những vệt lửa đỏ đan chéo nhau trong đêm tối. Thỉnh thoảng có những ánh chớp sáng lóe lên, đó là những viên đạn súng cối và hỏa tiển của địch quân bắn vào đồn, tạo nên một khung cảnh tàn bạo và chết chóc. Tiếng người Hiệu thính Viên của quân bạn và sĩ quan ĐHV với một giọng khẩn cấp, nghiêm trọng, chứng tỏ mức độ giao tranh giữa ta và địch đang diễn ra một cách quyết liệt, gay go.

- Hắc Long 2 gọi Hồng Hà. Yêu cầu bạn xác định vị trí địch bằng mũi hoả tiển.
- Nhận rõ Hồng Hà thi hành ngay.

Từ phòng lái phi cơ nhìn xuống, Hùng xác định được vị trí quân bạn và địch nhờ một trái sáng màu xanh, vừa được bắn lên trời từ trong vị trí phòng thủ, kế tiếp là những tràng đạn lửa được bắn ra về hướng địch đang tấn công.

Đèn màu đỏ trên hộp “gunsight” chiếu sáng, báo hiệu bốn khẩu minigun đã sẵn sàng. Hùng kéo cần lái hướng mùi phi cơ vào mục tiêu, đồng thời nhắc Khánh theo dõi, giữ cho độ cao phi cơ ổn định cùng với độ quẹo, đùng vượt quá giới hạn an toàn 60 độ. Hùng bắt đầu khai hỏa vào mục tiêu, từ bên hông, dưới cánh trái của phi cơ, một dòng suối lửa đỏ rực như những dòng nham thạch của hỏa diệm sơn, tuôn ra từ bốn khẩu đại liên. Phi cơ đột nhiên như bị một cánh tay khổng lồ nào kéo khựng lại, đồng thời một âm thanh ghê rợn phát ra như tiếng sấm ầm ù kéo dài vang dội trong không gian.

Những tiếng la hét và súng nhỏ vang từ dưới đồn qua hệ thống liên lạc đột nhiên im lặng nột cách nạng nề.

Trung úy Hùng tiếp tục điều khiển phi cơ, bay vòng trên mục tiêu, đồng thời tác xạ chính xác vào những vị trí tình nghi là có địch quanh đồn.

Đột nhiên, giọng người hiệu thính viên bộ binh phát ra từ hệ thống liên lạc một cách đầy phấn khởi:

- Bạn cứ tiếp tục rải trấu vào vị trí vừa rồi, kết quả rất khả quan, những đợt xung phong của địch đã bị chận đứng. Đồng thời xin bạn soi sáng chiến trường dùm.
- Hắc Long 2 nhận rõ.

Mọi người trên phòng lái nhìn nhau mỉm cười mãn nguyện, vì đã kịp trợ giúp được lực lượng bạn dưới đất thoát qua được tình trạng nguy kịch...

Bỗng từ hệ thống interphone, có tiếng của chuyên viên phụ trách về dàn phóng flare, từ phía đuôi phi cơ báo động khẩn cấp, thấy những cột khói bay lơ lửng từ sau đuôi và hông phi cơ, do những loạt đạn phòng không 37 ly của địch bắn lên.

Hùng bình tĩnh tạm ngưng tác xạ, lệnh cho Khánh đổi hướng phi cơ bay ra ngoài tầm phòng không địch.
Sau đó, ông ra lệnh cho hai người tiếp đạn chuẩn bị chu đáo lại cho bốn khẩu đại liên để trở vào đánh cú chót.

Sau khi điều chỉnh lại cao độ phi cơ, Hỏa Long 2 tiến vào mục tiêu và khai hỏa.

- Hắc Long2 đây Hồng Hà gọi.
- Hắc Long nghe
- Bạn đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, những cuộc tấn công của địch đã bị bẻ gẫy hoàn toàn, chúng tôi quan sát từ trong đồn, địch bị thương và chết nằm rải rác bên ngoài hàng rào phòng thủ khá nhiều. Bạn có thể tạm ngưng tác xạ, yêu cầu bạn tiếp tục soi sáng.
- Hắc Long 2 nhận rõ.

Hùng và mọi người nhìn nhau, thở ra thoải mái... Đột nhiên, phi cơ chao động mạnh như đụng phải vật gì và nghiêng hẳn về bên phải, Khánh liếc nhìn sang và hốt hoảng báo cáo động cơ bên phải đã biến mất, một vệt lửa lớn đang liếm dần từ vị trí động cơ ra đến cánh phi cơ. Hùng lớn giọng ra lệnh cho phi hành đoàn: “Bình tĩnh, tất cả mang dù cá nhân vào người”, cùng trong lúc đó cố gắng đưa phi cơ về hướng an toàn, xa vùng có dân cư để nhảy dù.

Sáu nhân viên đã lần lượt rời phi cơ, chỉ còn lại hai người – Hùng và Khánh - tiếp tục điều khiển phi cơ. Rồi Hùng ra lệnh cho Khánh rời ghế co-pilot tiến về hướng cửa phi cơ để nhảy dù. Còn lại một mình, Hùng cố gắng chống chỏi, cần lái phi cơ càng lúc càng khó điều khiển hơn. Đèn trong phi cơ chợt tắt phụt và cao độ dường như đang mất đi môt cách nhanh chóng. Hùng gài cần lái tự động, đoạn xiết lại dây nịt an toàn dù cá nhân, Hùng leo ra khỏi ghế lái một cách khó khăn. Lúc này mũi phi cơ hình như lao thẳng xuống về phía phải, hấp lực trái đất đang kéo phi cơ xuống đất, dù một động cơ bên trái vẫn còn hoạt động bình thường.

Thu hết sức lực, Hùng bò dần ra cửa đuôi phi cơ, cuối cùng, tay Hùng cũng chạm được cửa. Buông mình ra khỏi phi cơ, lao vào không gian, Hùng hoàn toàn mất cảm giác trong vài giây . Đột nhiên Hùng cảm thấy hơi nóng phà vào mặt , mở mắt ra, trước mặt là khối lửa đỏ rực của chiếc phi cơ đang lao vun vút vào đêm đen. Lập tức, Hùng đưa tay lên ngực kéo cái khóa dù giật mạnh, một sức mạnh vô hình đã giật kéo toàn thân lại. Nhìn ngược lên bầu trời, Hùng thở phào nhẹ nhỏm, chiếc hoa dù màu trắng đã nở rộng phía trên.

Sau khi đáp nhẹ nhàng xuống đất, Hùng đưa mắt quan sát cảnh vật chung quanh, nơi đây, một khu rừng tràm thưa thớt. Rút khẩu súng ruleau ra cầm tay để phòng thân, Hùng thấy cách xa khoảng đôi ba trăm thước, những cánh dù của những anh em trong phi hành đoàn nằm rải rác đó đây. Hùng cố gắn tiến đến liên lạc tập trung tất cả anh em trong phi hành đoàn, kiểm điểm lại, thấy mất Thiếu úy Khánh, Trung sĩ Lộc và hai người nữa bị thương nặng khi đáp xuống đất. Từ chổ tập trung, Hùng thấy thấp thoáng bóng nhiều người tiến về vị trí của phi hành đoàn, Hùng vội vã bảo mọi người phân tán, tìm chổ ẩn nấp để sẵn sàng đối phó. Tuy nhiên, khi những người này tiến đến gần, thì ra đó là những người lính Địa phương Quân của một đơn vị bạn đến cứu phi hành đoàn.

Mọi người mừng rỡ, rời chổ ẩn nấp. Sau khi người chỉ huy của đơn vị Bộ Binh liên lạc với toán cấp cứu Không Quân, khoảng nửa giờ sau, một thực thăng cứu thương đến bốc phi hành đoàn về Cần Thơ.

Sau khi nhận được tin Hắc Long 2 bị rớt, Khánh mất tích, mọi người trong phi đoàn hồi hộp chờ đợi, ai cũng cầu mong rằng dù của Khánh bay lạc đâu đó, quân bạn sẽ tìm được trong thời gian ngắn. Nhưng nhiều tiếng đồng hồ trôi qua, vẫn chưa thấy tin tức gi, có lẽ phải đợi trời sáng phi cơ của Sư đoàn 4 Không Quân bay lên tìm cứu thì mới có hy vọng, ít nhất cũng tìm được cái dù, trong trường hợp Khánh bị địch bắt mang đi.

Trời vừa hừng sáng thì có tin tức bay về: Trước khi trực thăng của SĐ4KQ kịp đến nơi, các chiến sĩ Bộ Binh đã tìm được Khánh – tìm được xác thì đúng hơn! - Khi nhảy dù xuống trong đêm tối, Khánh đã bị một cây tràm khô đâm xốc vào người. Cái chết đến với Khánh thật bất ngờ và hy vọng sống sót cũng biến thật nhanh, đến độ Khánh không đủ thời giờ để nhận ra...

Tôi bàng hoàng khi nghe tin Khánh, vẫn biết rằng đời phi công thời chiến là sẵn sàng chấp nhận ngày ra đi vĩnh viễn không trở lại, nhưng vẫn nghe đau đớn, chua xót, nhưng...tại sao lại là Khánh nhỉ! Khánh mới 20, Khánh mới bắt đầu bước vào tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, với những vui thú chưa kịp hưởng, những giấc mộng đẹp đang dệt dở dang... Bên tai tôi dường như còn nghe được tiếng cười đùa của Khánh tối qua, trước mắt tôi còn hiển hiện khuôn mặt của chàng phi công trẻ búng ra sữa, đã biết Tổ Quốc Không Gian mà chưa biết đến hương vị của ái tình. Tôi chợt nhớ đến nguời con gái Gia Long mà Khánh mới quen, bất giác bùi ngùi thương cảm. Lại thêm một trái tim rướm máu vì cuộc chiến này, một cuộc chiến không lối thoát cho cả một dân tộc, đang phải gánh chịu những tang tóc, đau khổ, hậu quả của những tranh chấp của những tư tưởng, lý thuyết ngoại lai, mà dân tộc hiền hòa của tôi có lẽ không bao giờ cần đến. Một cuộc chiến mà trong đó những người tuổi trẻ ở thế hệ của tôi, phải chịu nhiều thiệt thòi, phải hy sinh nhiều nhất... Chính vì thế mà mỗi lần thắp nén hương lòng để tưởng nhớ đến Khánh, một đồng đội đã hy sinh vì tổ quốc, tôi vẫn thấy đôi chút ngậm ngùi xót xa, xót xa cho những người đã chết, xót xa cho những người còn sống, trong đó có tôi, có người như nữ sinh Gia Long áo trắng năm nào...

Những người nằm xuống ở tuổi hai mươi như Khánh, có lẽ chưa đủ khôn lớn già dặn để nhìn ra những cái ngoắt ngoéo đó, họ chỉ biết nhìn thẳng và đi trên một con đường thẳng: Chiến Đấu và Hy Sinh cho Lý Tưởng Tự Do.

Nguyện xin anh linh của Khánh cùng với muôn vạn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã lấy máu đào tô thắm non sông, hãy phù trợ cho con dân nước Việt, sau gần một nửa thế kỷ đau thương, tang tóc, sẽ có ngày được hưởng thanh bình thực sự trên chính quê hương yêu dấu của mình.

Nguyễn Hữu Phước
Melbourne 11/1989.
(Biên Hùng chuyển)


UserPostedImage
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#2038 Posted : Tuesday, August 17, 2021 6:20:20 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhất Linh sống mãi


Trần Yên Hòa

ANAHEIM, California (NV) – Lớp tuổi của chúng tôi, những người sinh ra và lớn lên trong những thập niên 30, 40, 50 của thế kỷ trước, được cắp sách đi học đến bậc trung học, chắc có lẽ ai ai cũng biết đến nhà văn Nhất Linh, người sáng lập Tự Lực Văn Đoàn, cũng là nhà hoạt động cách mạng và chính trị Nguyễn Tường Tam.


UserPostedImage


Chân dung nhà văn Nhất Linh và cuốn sách của con trai Nguyễn Tường Thiết “Nhất Linh, Cha Tôi” được nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam tái bản vào Tháng Bảy, 2020.
(Hình: Nguyễn Vĩnh Nguyên/Một Thế Giới)


Hình ảnh của ông là biểu tượng cho một ước vọng tuổi trẻ – tuổi thanh niên lúc bấy giờ: Đó là khát vọng yêu nước, tự nguyện dấn thân làm cách mạng, chống thực dân Pháp, chống độc tài, giải phóng dân tộc, và thêm nữa, đổi mới hoàn toàn nếp sống cũ, nếp sống hủ lậu, nô lệ, của phong kiến, của thực dân.

Chương trình Việt Văn trung học đệ nhất cấp thời Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 có học về Nhất Linh. Tôi nhớ mãi một đoạn văn trong tác phẩm “Đoạn Tuyệt,” Nhất Linh tả tâm trạng cô Loan, nhân vật nữ chính trong truyện, là một cô gái tân thời, yêu Dũng, một thanh niên đi hoạt động cách mạng. Nhưng hoàn cảnh trớ trêu, Loan bị gia đình ép phải lấy Thân, một người nàng không yêu. Trong tâm trang đó, nửa muốn thoát ly ra khỏi nếp sống gia đình của xã hội cũ, nửa lo sợ không biết khi mình thoát ra khỏi chiếc lồng đó, rồi sẽ ra sao? Nhất Linh tả cảnh đó như sau:

“Loan đi rẽ lên đê Yên Phụ. Gió bãi thổi làm quần áo Loan phất phới. Tay giữ chặt lấy khăn san, nàng đi ngược lên chiều gió, hai con mắt buồn bã nhìn ra phía sông rộng.

Sau mấy rặng xoan thưa lá, dòng sông Nhị thấp thoáng như một dải lụa đào. Bên kia sông gió thổi cát ở bãi tung lên trông tựa một đám sương vàng lan ra che mờ mấy cái làng con ở chân trời. Xa nữa là dãy núi Tam Đảo màu lam nhạt, đứng sừng sững to tát nguy nga, ngọn núi mù mù lẫn trong ngàn mây xám.

Loan đưa mắt nhìn một cánh buồm in trên nền núi xanh, nghĩ đến những cuộc phiêu lưu hồ hải ở nơi nước lạ, non xa. Loan ao ước được ở một chiếc thuyền kia tháng ngày lênh đênh trên mặt nước, mặc cho nó đưa đến đâu thì đến, để xa hẳn cái xã hội khắt khe nàng đương sống.

-Trốn!

Nghĩ đến rằng ở trong cái thuyền nhỏ ấy chắc lại thấy đủ các thứ khó chịu của xã hội kia, Loan mỉm cười thất vọng. Cái thuyền ấy biết đâu lại không phải là cái nhà tù trôi nổi…

-Trốn không được thì chỉ có một cách là can đảm nhận lấy cái đời hiện tại của mình, nhìn sự thực bằng đôi mắt ráo lệ không phiền muộn, không oán hờn, mạnh mẽ mà sống.”

Qua đoạn văn được học thuộc lòng từ hồi học trung học đệ nhất cấp, tôi bỗng thích Loan, thích Dũng và yêu mối tình đó. Loan là một cô gái tân thời, đẹp, có học, tâm hồn phóng khoáng, muốn thoát ra khỏi cái xã hội cũ với nhiều nề nếp ràng buộc. Còn Dũng, một thanh niên có tâm hồn tự do, nguyện hiến cuộc đời cho tha nhân. Mối tình ấy và hai con người ấy thật là lý tưởng. Trải qua bao nhiêu hoàn cảnh nghiệt ngã, Loan phải lấy Thân, rồi sống không hạnh phúc, rồi Thân chết, Loan bị tiếng oan là giết chồng… Sau đó Loan ra tòa, được trắng án… Nàng nghĩ ngay đến Dũng…

Tôi thích và say mê “Đoạn Tuyệt” nên yêu luôn tác giả. Nhất Linh thuở đó – thuở tôi còn học trung học, ông đã sáng ngời trong tâm trí tôi. Dù lúc đó, khoảng năm 1959, ông đã lên Đà Lạt, sống cùng với hoa lan, cùng suối Dame… ông đã quy ẩn, đã rút khỏi những hoạt động chính trị, rút khỏi những sóng gió của chính trường…

Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn Đoàn

Năm 1933, Nhất Linh cùng hai em là Hoàng Đạo và Thạch Lam xin ra tờ báo trào phúng Tiếng Cười, nhưng thiếu tiền chưa ra được báo thì giấy phép quá hạn, bị rút. Trong hai năm 1930 đến 1932, ông dạy học tại trường Thăng Long, ở đó ông quen biết với Trần Khánh Giư (Khái Hưng).

Năm 1932, cùng một số người khác, Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai. Ông chủ trương dùng tiếng cười trào phúng để đả kích lễ giáo phong kiến, hô hào “Âu hóa” và đề cao chủ nghĩa cá nhân. Nhất Linh làm giám đốc kiêm quản lý tờ báo Phong Hóa. Kể từ ngày 22 Tháng Chín, 1932, báo Phong Hóa ra tám trang lớn, chú trọng về văn chương và trào phúng, tạo ra ba nhân vật điển hình: Xã Xệ, Lý Toét và Bang Bạnh.

Tự Lực Văn Đoàn gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư) còn gọi là Nhị Linh, Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ).

Cơ quan ngôn luận của Tự Lực Văn Đoàn là báo Phong Hóa.

Năm 1936, tờ Phong Hóa bị đóng cửa vì Hoàng Đạo viết bài châm biếm Hoàng Trọng Phu. Tờ Ngày Nay, trước ra kèm với Phong Hóa, tiếp tục và kế tiếp Phong Hóa. Tháng Mười Hai, 1936, trên báo Ngày Nay, Nhất Linh cùng nhóm Tự Lực Văn Đoàn phát động phong trào Ánh Sáng, một tổ chức từ thiện với mục đích cải tạo nếp sống ở thôn quê, trong đó có việc làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo. Ngày Nay cũng là tờ báo hậu thuẫn mạnh mẽ cho tân nhạc trong những năm đầu hình thành.

Nhất Linh tự hủy mình

Trong hồi ký “Nhất Linh, Cha Tôi” của nhà văn Nguyễn Tường Thiết phát hành tại Sài Gòn năm 1964, những ngày cuối cùng của Nhất Linh được kể lại như sau:

…Buổi sáng ngày 7 Tháng Bảy, 1963, Nhất Linh đi thật sớm. Ông mở ngăn kéo, lấy mấy tập sách, tập bản thảo những tác phẩm cuối cùng, gói vào một tờ nhật báo. Các con đoán có lẽ ông đi họp ở đâu vì cũng đúng vào Chủ Nhật tuần trước, tức 30 Tháng Sáu, ông đã tới dự phiên họp đặc biệt của nhóm Bút Việt.

Khoảng gần 10 giờ Nhất Linh về. Ông không thay quần áo ngay như mọi lần, cứ để nguyên quần áo tây ngồi xuống ghế xích đu, bên cạnh người con trai. Điếu thuốc lá rung rung ở trên đầu hai ngón tay, ông mở bia, rót vào cốc nhỏ ra dáng suy nghĩ. Một sấp ronéo để trước mặt ông.

Đó là bản cáo trạng khá dày, trong đó có những lời kết tội như ‘phản quốc,’ ‘xâm phạm an ninh quốc gia.’ Trong suốt hơn một giờ, Nhất Linh vẫn giữ im lặng, suy nghĩ. Khoảng 11 giờ, với vẻ thảnh thơi, ông thay quần áo ngủ, rồi dặn người con trai Nguyễn Tường Thiết: ‘Chiều nay con lại Luật Sư Chính lấy hết các giấy bác sĩ về. Biết địa chỉ không?’

Con trai nói: ‘Con đoán họ chẳng làm gì cậu đâu, nếu họ muốn bỏ tù thì họ đã bắt từ lâu rồi. Việc này họ đem ra xử cho có lẽ, rồi kết mình vô tội để hạ nhục chơi. Vả lại nếu có ra Côn Đảo thì cũng chả sao, chỉ làm giàu thêm cuộc đời tranh đấu của cậu. Cứ coi như là một dịp đi nghỉ mát.’

Nhất Linh đáp lại: ‘Cậu chẳng sợ kết quả ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau. Có điều bực nhất là họ lấy tư cách gì mà lại đem xét xử những người quốc gia đối lập rồi gán cho họ tội phản quốc.’

Nhất Linh đã chủ ý cho độc dược vào rượu uống. Khi gia đình phát hiện ra thì đã muộn: Cuối phòng, vẫn trên cái ghế xích đu, ông gục đầu hơi ngoẹo về phía vai phải, một cánh tay buông lỏng thả xuống sàn nhà. Dáng điệu ấy thoạt trông thì khổ sở nhưng nhìn lên gương mặt thì tuyệt nhiên không một nét đau đớn. Ông như người ngủ gục.

Gương mặt êm ả, bình thản. Để ý lắm mới thấy một ít nước bọt rỉ ra ở khóe mép… Thân thể ông mềm, trong túi có một tờ giấy, đó là di ngôn. Ông đã viết hai bản di chúc, một để trong túi áo ngực, một tờ dặn đưa cho Bác Sĩ Đặng Văn Sung, nhờ ông ấy chuyển ra ngoại quốc.

Di ngôn đó là:

‘Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả.

Sự việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là một trọng tội đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cộng Sản.

Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.

Ký tên: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam,

Ngày 7 Tháng Bảy, 1963.


***


Sắp tới ngày 7 Tháng Bảy, tính ra nhà văn Nhất Linh mất đã tròn 57 năm (1963-2021).

Trong hai thập niên qua, nhà văn Phạm Phú Minh và nhật báo Người Việt đã tổ chức thành công:

-Năm 2013: Triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, tại Little Saigon, Nam California.

-Và nhà văn Phạm Phú Minh cùng xuất bản Thế Kỷ đã cho phát hành tập sách “Nhất Linh: Người Nghệ Sĩ – Người Chiến Sĩ” gồm các cây bút giá trị đóng góp bài vở như Nguyễn Tường Bách, Võ Phiến, Trương Bảo Sơn, Anh Thơ, Tú Mỡ, Nguyễn Thị Vinh, Thụy Khuê, Đông Hồ, Linh Bảo, Trần Thanh Hiệp, Lê Đình Thông, Khoa Hữu, Bùi Bích Hà, Trần Khánh Triệu, Nguyễn Tường Thiết, Trương Kim Anh, Lưu Văn Vịnh, Phạm Phú Minh…

Như vậy đã nói lên sự trân quý của thế hệ sau với Nhất Linh đến dường nào.

Với tôi, Nhất Linh sống mãi.


(Trần Yên Hòa)
UserPostedImage
phamlang  
#2039 Posted : Sunday, August 29, 2021 2:00:47 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,543

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Dầu là người Sài Gòn thâm căn cố đế hay người mới nhập cư, có lẽ đã không ít lần mệt mỏi với những tiếng ồn của Sài Gòn, tuy lúc bình thường thì cũng yêu thương, quý mến “chúng” (những tiếng ồn) lắm.

BÊN KIA HÀNG RÀO (của DU UYÊN)


Ví dụ như sáng cuối tuần mệt mỏi nào đó, ngủ chưa đã nư đã nghe tiếng rao lanh lảnh của bà bán xôi, mùi cơm tấm - mỡ hành - sườn nướng - bún bò - hủ tiếu - bún thịt nướng - phở bò... ào vô mũi không thèm gõ cửa. Không gì bất lịch sự bằng mùi thơm của món ăn mà mình yêu thích, chúng luôn chạy xộc vào mũi tôi đầu tiên trong tất cả các mùi vị hỗn tạp trên. Vì vậy mà không ít lần tôi chỉ “nghe” được mùi cơm tấm sườn bì chả. Dậy thì mệt, không dậy cũng mệt vì đói, ăn thì mập, không ăn thì vừa thèm vừa... mập (sẵn rồi), thôi dậy làm dĩa cơm coi như ủng hộ hàng xóm, chứ không thiết tha gì.Cuối tuần mà, ăn xong về uổng và cũng khó ngủ lại. Thôi ghé quán cóc mần thêm ly cà phê, nghe lén chuyện thời sự vỉa hè cho rõ, chứ trên nhà nghe lõm bõm câu có câu không. Các “chuyên gia online” dễ gì “thông thiên văn, tường địa lý” từ tây sang ta, từ Bắc chí Nam, từ tỷ phú đến ăn mày... bằng mấy chú xe ôm, mấy cô bán vé số, mấy bà nội trợ hay mấy chủ quán cóc? Nhà ai có con gái chửa hoang, con trai đàng điếm, ông già mất nết, bà già ăn nem... chỉ cần ngồi hóng hớt là “đủ tư liệu”. Nghe xong lên mạng méc lại, không khéo lại nổi tiếng. Đôi khi nghe trúng chuyện của mình mà hông phải, cũng ráng chịu trận chứ đừng đứng lên cãi, coi chừng chiều nay lại lên «trang nhất” của bản tin cả xóm. Rồi cũng có đứa nhiều chuyện như mình, đem học lại trên mạng là xong, hết đường sống ảo.

Ăn sáng, cà phê xong về làm lặt vặt, ngồi chưa nóng đít là đã nghe tiếng của mấy cô bán chè, bán đậu hủ nước dừa, bán kem, kẹo kéo... tiếng quảng cáo keo dính chuột, tiếng loa “bánh mì Sài Gòn - 5 ngàn một ổ - đặc ruột thơm bơ” của mấy chú đạp xe, tiếng đập trộm đồ (mà người ta bỏ hơ hỏng ngoài cửa) của mấy bà mua ve chai, tiếng con nít, tiếng chó, tiếng xe honda, xe hơi... rải tràn khắp hẻm. Ai hên (hoặc xui) nữa, ở trúng xóm có nhiều người “đam mê văn nghệ” còn được khuyến mãi tiếng nhạc vàng, nhạc đỏ kình nhau của hai/ba/bốn vị hàng xóm hông bằng mặt cũng không thích bằng... “gu” nhạc, coi như đi luôn những bữa trưa/chiều cuối tuần đầy thơ mộng (đã định sẵn trong đầu).

Hay ở trúng “khu ẩm thực”, tối lên đèn là người người lên đồ cùng xông tới dưới chân nhà bạn, cụng ly, bàn chuyện rôm rả... Hôm nào lòng bạn vui thì bạn thấy họ ăn uống vui chơi hẹn hò sao thấy vui quá chừng, muốn lên đồ chạy xuống góp vui ghê! Hôm nào quạu, tới ngày phụ nữ, tới deadline mà bí ý tưởng, tới cái gì đó hoặc đơn giản hết tiền tiêu... thì bạn lại thấy hối hận vì ở đây, sao ăn thôi mà cũng ồn ào quá vậy? Ông bà cha má không dạy là ăn không nói, ngủ không ngáy hay sao? Uống thôi đừng cụng ly được không? Trời ơi sao lại hôn nhau trước mặt người ế hả?

Đó là nhà trong hẻm chứ nhà ngoài đường lớn hay trong xóm chợ thì ba bốn giờ sáng đã nghe tiếng xe cộ qua lại rần rần, rồi tiếng xe đẩy, tiếng sắp bàn sắp ghế của mấy hàng ăn nhỏ, tiếng nói chuyện của tiểu thương, tiếng bốc vác hàng hóa... Vui thì bạn sẽ băn khoăn giữa dậy sớm hay là bịt tai ngủ tiếp, buồn thì bạn lại suy nghĩ về việc chuyển nhà. Nhưng cho dầu chuyển đi đâu, dầu nhà có cách âm cỡ nào thì những tiếng ồn cũng sẽ lọt vô tai bạn cho bằng được. Vui thì thấy nó là âm thanh cuộc sống, âm thanh đô thị; chứ buồn buồn lại ước mình có dinh thự, biệt phủ như mấy ông quan chức nhà nước, kín cổng cao tường, bên trong ăn chơi nhảy múa, đàn đúm xập xình... ngoài kia dân chới với khóc la bao nhiêu cũng không tới tai (nói chi mấy âm thanh xoàng trên).

Mà nhân loài luôn phức tạp, mất đi rồi mới thấy yêu quý những điều nhỏ nhặt nhất. Từ hồi Sài Gòn bị phong tỏa bởi dịch bệnh, người người nhà nhà lên mạng than thở thèm tiếng ồn, thèm đứng chịu trận giữa trời nắng mấy chục phút vì kẹt xe (còn hơn ngồi trong mát mà nghe bà xã cằn nhằn), thèm ăn đồ vỉa hè - mấy thứ luôn bị cho là không hợp vệ sinh an toàn - chứ ăn cơm nhà tuy có an toàn đường bụng nhưng trái tim cứ thấp thỏm hoài. Vì đầu bếp hay biến tấu món ăn theo công thức lạ...

Hôm rồi, người bạn tôi thở dài qua điện thoại, nói nhớ tiếng nhắc tắt đèn xi-nhan, gạt chân chống của tha nhân, nhớ tiếng tôi ngồi kế tay lái chỉ đường cho nó, dầu sau mỗi lần tôi chỉ đường xong thì hên lắm hai đứa mới không cãi nhau vì đi lạc.
Một người bạn khác của tôi, nhà ngay vòng xoay Lăng Cha Cả than thở với tôi là nhung nhớ tiếng tri hô... cướp... cướp giữa rừng người kẹt xe trước nhà nó. Rồi nó thở dài ra chiều yêu nước thương dân, hỏi “Dạo này dịch dã, đường vắng bóng ăn trộm, không biết họ sống sao? Có đủ “sở hụi” hay không?”

Hồi xưa, ông Trịnh Công Sơn có biên “Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”, giờ tôi thấy nhân loài bị “nhốt” trong nhà lâu quá cũng trở nên “từ bi bất ngờ” không ít. Chẳng những người bạn tôi ở trên, mùa dịch này có nhiều người bỗng lo cho những con người ngoài rìa xã hội ghê. Có anh họa sĩ kia đăng liền mấy bài tỏ vẻ quan tâm cho đời sống những con... nghiện và những người làm nghề... phạm pháp trong mùa dịch. Ảnh thắc mắc là những người nghiện sẽ sống và “phê pha” thế nào khi toàn dân bị cấm ra đường? Chốt chặn khắp nơi... Quan trọng là người ta một là chết vì bệnh vì dịch, hai là làm ăn thất bát, tiền đâu mua ma túy, tiền đâu để bị con nghiện ăn trộm, ăn cắp nữa...

Đọc qua, tôi thấy những người làm nghề phạm pháp (mà chưa «thành đạt») cũng... bấp bênh ghê. Chứ “thành đạt” rồi là một câu chuyện khác. Mới đây thôi, công an tỉnh Cao Bằng cho biết vừa ra quyết định khởi tố và lệnh bắt tạm giam đối với Đàm Văn Huy (30 tuổi, cán bộ Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Cao Bằng) và hai đồng nghiệp khác vì lẻn vào kho trộm ma tuý đi bán cho con nghiện, bạn nghĩ xem, những con nghiện này không “thành đạt” thì làm sao “sai khiến” được vị cán bộ của một ngành “thiết yếu” hàng đầu trong mùa dịch hiện nay?

Còn đây là ví dụ cho những người phạm pháp mà không “thành đạt”: Hôm rồi có một bạn trẻ nhắn tin cho một fanpage lớn để nhờ trang này truyền tin cho người đã trót ghé nhà bạn ăn trộm đêm qua, không phải là tiếc món đồ bị trộm, mà chỉ để nhắn nhủ rằng cả nhà bạn đã nhiễm cúm Vũ Hán, đang điều trị, nên bạn ăn trộm kia hãy bảo trọng, tranh thủ đi kiểm tra coi có lây hay không, kẻo đi trộm nhà khác lây cho người ta hoặc bệnh nặng rồi không còn sức trộm nữa.

Nói lo cho những người phạm pháp chứ có lẽ, người ta sẽ lo cho mình nhiều hơn. Vì sau dịch thường thì lượng người tốt trở thành người xấu tăng lên, mà người xấu sẵn vẫn đông như cũ, từ đó mà xã hội trở nên bất an hơn, tệ nạn hoành hành nặng nề hơn...
Điều tôi học được trong mùa dịch này là những thứ tốt đẹp, những khoảnh khắc đáng nhớ, những con người đáng trân trọng mà mất đi rồi thì coi như mất biệt - khó trở lại lắm. Đơn giản như bà chủ quán phở ngon nức tiếng kế nhà tôi. Bà vừa than thở: qua dịch này coi như “đứt vốn”, bà định về quê làm cái gánh phở ở trước sân nhà, bán cho bà con trong xóm, không trụ ở Sài Gòn nữa, có chết thì chết dưới quê cũng... an tâm hơn.

Tuy không hiểu là chết rồi thì sao còn quan trọng ở đâu nữa mà an tâm (vì tôi không có quê xa như bà), nhưng nghe mà buồn lắm, thứ nhất bà là một hàng xóm tốt, ít nhất thì bà chưa tung tin đồn nào sai trái về tôi, thứ hai là phở và con trai của bà đều rất... ngon. Nếu biết bữa đó là ngày cuối cùng bà bán phở, tôi đã ăn luôn hai tô một lần, không cần giữ kẽ với con trai của bà rồi. Dầu gì qua dịch ảnh cũng về quê cắm câu, mà tôi làm dâu miền Nam chưa biết được không? Nói gì “theo chàng về dinh” xứ Bắc xa xôi.
Bởi vậy, phải trân trọng những người, vật tốt đẹp. Ví dụ như những câu chuyện về tình người trong mùa dịch. Tình người thời “dịch dật” đâu chỉ thể hiện qua những túi đồ ăn cứu trợ, bình oxy không đồng từ các nhà hảo tâm đến tay người nghèo khổ, mà còn được tô đậm bởi nỗi lo cho kẻ ăn trộm đồ của mình, nỗi lo của cán bộ y tế dành cho các con nghiện “thành đạt”...

“Nhân văn” như vậy mà không nhà báo trong nước nào lên bài xào đi xào lại để ca ngợi, cứ thi nhau đăng mấy bài trùng lặp theo lối mòn tuyên giáo cũ rích (như cùng hình ảnh một người phụ nữ chích vaccine nhưng mỗi tờ báo chú thích tên khác nhau, chỉ để khuyến khích dân chích vaccine Tàu), khiến dân tình vừa chia sẻ vừa “khẩu nghiệp” quá trời.

Tuy bạn bè tôi là nhà báo trong nước rất nhiều, nhưng tôi cũng phải cảm thấy làm nhà báo trong nước dạo gần đây bị coi là một nghề “không thiết yếu” cho lắm, ít nhất trong mùa dịch này. Vì mỗi khi nhà báo lên bài là đa số các độc giả có chính kiến đều không tin, nhiều người âm thầm hoặc công khai khuyên nhau hãy nghĩ và làm ngược lại lời báo nói, nhất là những tin về “lệnh phong tỏa”. Còn những “tin mật”, tin không chính thống bị tuồn ra, đa số lại được “trọng dụng” (dầu không ai biết mấy cái tin hầu như sẽ chính xác đó là do ai tuồn?).

Dịch bệnh lấy đi của thị dân những tiếng ồn bình dị, có khó chịu thì lâu lâu cũng thấy thương... trả lại cho dân những tiếng kèn xe cấp cứu dồn dập. Lấy đi vốn liếng/cuộc sống thường nhật vốn đã vất vả của người nghèo, trả lại những tiếng than khóc không những vì kiệt quệ, thiếu thốn mà còn vì dịch bệnh và lẻ loi. Trước dịch bệnh, hơn 2/3 dân số trở nên “bình đẳng”, bây giờ thì chúng ta có thể nghe tiếng kêu than từ các chủ doanh nghiệp đến chủ quán cóc, “chủ” của mấy cọc vé số... tất cả đều đau đớn như nhau. Ngoài ra, dịch còn lấy đi của người dân không ít lòng tin vào nhà báo lẫn nhà nước nữa, đó là điều tôi đọc được từ các bình luận, video của người dân trên mạng xã hội.

Nhưng có lẽ, dầu là âm thanh gì, vui tươi hay đau đớn, tôn vinh hay bất bình - từ phía dân đen cũng đều bị kẹt lại bên ngoài bức tường của những biệt phủ rồi? Nên mỗi ngày, những quyết định, kiến nghị vô cảm cứ tuôn ra như suối trên tivi, báo chí - không cần biết dân có làm được không? Hay làm rồi thì dân có vui hơn không?
Quan ơi, muốn biết đời vui hay buồn phải thò tai qua khỏi bức tường biệt phủ mới nghe thấu được, chứ không thể như ông nội trong bài văn một học sinh cấp 2: Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm mền ngủ trong phòng, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: cơm chín chưa bây?


FB baotreonline.com
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#2040 Posted : Tuesday, October 5, 2021 11:33:53 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,283

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
VĨNH BIỆT PHI NHUNG


UserPostedImage

Ở Sài Gòn, tôi quen biết nhiều nhạc sĩ và cũng kha khá ca sĩ. Nhưng tôi không quen ca sĩ Phi Nhung dù cũng có đôi lần gặp đâu đó. Bởi tôi không phải là fan của chị, tôi cũng là loại kén nghe nhạc, không chọn dòng nhạc của chị để nghe. Nhưng qua báo chí và qua lời kể của nhiều người trong giới, tôi quý và trân trọng chị vì chị là người có ý chí, có tâm thiện.

Trong tôi, chị là người tốt và cũng là người hiếm trong đám xô bồ nghệ sĩ hiện nay. Vốn xuất thân là người con lai, sinh ra trong một gia đình nghèo lại mồ côi sớm. Chị đã chịu nhiều gian khó và thiệt thòi để cố gắng nuôi đàn em thay mẹ đã mất. Được đến Mỹ, với ý chí, quyết tâm và niềm đam mê âm nhạc cộng với những may mắn, chị đã trở thành ca sĩ được trong và ngoài nước mến mộ.

Thông thường, người con lai rất khó thành công. Ở Việt Nam, họ không được xem là người thuần Việt, bị dè bỉu, chọc ghẹo khi còn bé. Lớn lên thường bị người chung quanh dò xét, gièm pha. Lại ít được học hành nên cuộc sống khá khó khăn. Qua đến Mỹ, họ lại khó được cộng đồng người Mỹ chấp nhận, lại thêm bằng cấp, chữ nghĩa không có nên thường gặp nhiều trở ngại. Thường là đã đến tuổi trưởng thành rồi nên muốn học hành hay kiếm công việc cũng khó. Tôi đã gặp ở khu Bolsa, California khá nhiều người con lai là homeless. Thế cho nên tôi rất quý trọng những người con lai thành đạt trên đất Mỹ. Ca sĩ Phi Nhung là một trong số người đó dù tôi không nghe giọng ca của chị.

Tôi càng kính phục và trân trọng chị hơn khi biết chị đã nuôi 23 em bé, dùng tiền bạc làm được của mình để đến với những người nghèo, khó khăn. Đã trải qua những ngày thiếu thốn từ tuổi nhỏ, chị đồng cảm với người ở tận đáy xã hội, chị chia sẻ với những người khốn khó, những em bé mồ côi.

Tôi trân quý chị bởi chị là người có trái tim biết yêu thương, có tâm thiện lành chứ không vì chị là ca sĩ có tiếng tăm. Khi đại dịch tràn đến Sài Gòn, đáng lẽ chị đã trở về Mỹ để gặp con gái và thực hiện những dự án bên đấy. Nhưng chị đã chọn ở lại, ngày ngày nấu cơm, mang nước đến với dân nghèo. Chị vui vì được chia sớt những khó khăn của đồng bào, với những người yêu tiếng hát của chị. Nhưng rồi con virus quái ác đã không tha chị, và chị đã từ biệt mọi người để đến thế giới khác.

Nếu chị không chọn ở lại trong những ngày đại dịch, nếu chị chọn về Mỹ như dự định, chắc chị sẽ không chết. Âu cũng là số phận. Thấy được như thế ta lại càng thấy sự ra đi của chị ý nghĩa hơn nhiều và quý tấm lòng của chị hơn nhiều. Chị sống và cống hiến cho đời, cho những số phận bất hạnh đúng nghĩa một con người có lương tâm và trách nhiệm với đời. Chị đã sống thật đẹp như khuôn mặt thật đẹp của chị. Dù cuối đời, đã có kẻ mang đến chị những thị phi. Nhưng với lòng sáng trong, chị đã vượt qua và vẫn sống tốt. Chỉ tiếc chị rời thế giới này khi các dự định của chị còn ngổn ngang, dang dở.

Tôi xin vĩnh biệt chị, với ý nghĩa vĩnh biệt một người tốt, một trái tim bao la thương người, thương đời, một người với cái tâm thiện. Tôi không vĩnh biệt một ca sĩ vì dù chị mất đi nhưng tiếng hát của chị vẫn còn đó, người yêu tiếng hát của chị sẽ vẫn còn nghe giọng hát của chị mỗi ngày. Nhưng con người tốt của chị sẽ không còn nữa, đã trở về với cát bụi. Người con gái xinh đẹp đó giờ chỉ còn là một nhúm tro. Vĩnh biệt! Mong chị thanh thản ở thế giới mới không còn ganh ghét, không còn khổ đau.

28.9.2021
Đỗ Duy Ngọc

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (5)
103 Pages«<100101102103>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.