Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages«<141142143
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hạ Vi  
#2841 Posted : Tuesday, December 1, 2020 6:53:05 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

.


BÂY GIỜ THÁNG MẤY (TỪ CÔNG PHỤNG)


UserPostedImage


Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm....


Lời bài hát thật đẹp. Tha thiết. Phiêu diêu.Lãng tử. Thật đúng với phong cách của Từ Công Phụng. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu cho tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 cùng với Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương...là tác giả của các ca khúc trữ tình được nhiều người biết đến như Bây Giờ Tháng Mấy, Mắt lệ cho người, Giọt Lệ Cho Ngàn Sau. Nguồn gốc của ca khúc đầu tay này của Từ Công Phụng là một sáng tác với những mơ mộng của chàng học sinh mới lớn, tâm tư của một tên học trò đọc quá nhiều tiểu thuyết lãng mạn, cho nên "Bây Giờ Tháng Mấy" đã bắt được nhịp đập con tim của giới trẻ lúc bấy giờ. Lúc họ đang sống thấp thỏm trong hoàn cảnh chiến tranh, khao khát một tình yêu trong sáng lãng mạn và Từ Công Phụng đã mang lại cho họ món ăn tinh thần ấy.

Sự phổ thông mạnh mẽ của nó đã khiến tựa đề của nhạc phẩm này được truyền khẩu thành Bây giờ...mấy tháng rồi hỡi em ?. Từ Công Phụng cho biết đã không hài lòng lắm khi tên đứa con đầu đời của anh bị đổi tên một cách châm biếm như vậy. Nhưng dù sao anh cũng thừa nhận nhờ đó mà tác phẩm đầu tay của anh được nhắc nhở tới nhiều hơn. Câu tự vấn "Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?" vẫn đủ sức làm lay động lòng người hơn 45 năm qua.

Nếu sự chia sẻ trong âm nhạc đạt mức cao nhất ở những lúc buồn thì âm nhạc của Từ Công Phụng là người bạn đồng hành tuyệt vời. Một cách âm thầm, từng lời hát của ông như chiếc chìa khóa bật mở những "hợp âm kỷ niệm", để mỗi khi giọng hát cất lên, cả người hát lẫn người nghe đều như sống lại một phần đời trong ký ức. Sự hụt hẫng nơi ông chưa bao giờ là đau đớn đến tuyệt vọng, bởi ông luôn quan niệm "Tình yêu là vĩnh cửu" và vẫn muốn sống trọn vẹn với chính mất mát của mình.


“Bây giờ là tháng mấy? mình xa nhau đây em
Chiều nay trời mây đầy, cho lạnh buốt vai gầy
Ngày cũ mình còn đôi, mà nay em hờn dỗi
Thất hẹn một lần thôi, để mộng vỡ tan rồi

Bây giờ là tháng mấy? Chiều nay sao mưa bay
Nhớ em mấy cho vừa đàn lạc phím ru hờ
Chiều rơi nhẹ vào mắt, trời chớm đông lạnh ngắt
Gió lay nhẹ hàng cây, dáng em mờ trên mây

Mai đây em đi về, có ai đưa chân mềm
Hôn làn tóc lưng thềm, mà từng đêm anh đã trót
Ngày đó có anh chờ và nay biết ai đợi
Để đưa em đi về, khi cuộc vui đã tan

Bây giờ là tháng mấy? Mùa hoa đã phai chưa
Tìm quên mùa thương này trong nhạc lắng cung đàn
Màu mắt em còn đó, nhìn áng mây chiều gió
Lướt bay về trời cũ, đâu nữa ngày mộng mơ

Bây giờ là tháng mấy? Chiều anh đi quên đường
Tìm màu hoa hương cũ, em cài áo làm duyên.”


Tác giả bài thơ này qua lời thuật lại từ một nhân viên của một đài phát thanh: Đó là một người con gái. Cô gái ấy, sau khi nghe nhạc phẩm “Bây Giờ Tháng Mấy” lần đầu tiên được phát sóng trên đài, đã cảm tác một bài thơ có cùng tên: “Bây Giờ Tháng Mấy” và mang đến đài phát thanh nhờ trao tặng cho Từ Công Phụng. Từ đó đến nay, TCP luôn có ý chờ người con gái đó lộ diện để biết được tên thật của tác giả, nhưng đã hơn 30 năm trôi qua, chưa hề một lần nào ông nghe được bất kỳ tin tức gì từ cô gái ấy cả.


UserPostedImage



Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em? Hỏi nhưng không có câu trả lời. Có thể là tháng 12, hay tháng 1, 2,...gì đó. Tháng mấy, không quan trọng, chỉ biết rằng Mùa đông chết đi rồi mùa xuân đang đến ở đất trời, và trong lòng người! Bài tình ca tươi mát lãng mạn đã trở thành một bài ca thời thượng của những người trong tuổi đang yêu. Lời nhạc tình tứ đã vỗ về cuộc tình của cả một thế hệ thanh niên.


“Mai đây anh đưa em đi về, mưa giăng chiều nắng tàn,
cho bớt lạnh chúng mình. Em ơi thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi để mùa đông buốt giá bờ vai mềm
.”


Đã ba thập niên trôi qua, lời nhạc chỉ làm mềm lòng người nghe mà thôi…

“Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi, trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ loi
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài.

Chiều nay nhớ em rồi và nhớ.
Áo em đẹp màu thơ,
Môi tràn đầy ước mơ.
Mai đây anh đưa em đi về,
Mưa giăng chiều nắng tàn cho buốt lạnh chúng mình.

Tôi không có đôi tai thẩm âm của một nhạc sĩ mà chỉ có một tâm hồn rộng mở đón nhận những dòng nhạc. Nhạc Từ Công Phụng như những ngọn suối ngọt ngào, như những dòng thác triền miên, như những triền sông bát ngát đưa tâm hồn ta tới một cõi nghệ thuật nào đó. Những khi chán nản với cuộc sống tầm thường, những lúc mỏi mệt với những thúc giục của cuộc đời, những lúc tâm hồn như một dải sa mạc cằn cỗi, tôi vẫn tìm về với những tình khúc Từ Công Phụng và tôi đã được đến một đỉnh an bình nào đó.

Tình ca không có tuổi. Khi trên đời còn những tình nhân thì tình ca vẫn vang vọng trong cuộc sống. Tình yêu không bao giờ cũ. Chính những tình nhân từ thế hệ này qua thế hệ khác luôn luôn làm mới tình yêu. Bởi vậy tình ca nói chung, tình khúc Từ Công Phụng nói riêng, không bao giờ phai mờ nét lấp lánh của chúng.

“Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau.”



UserPostedImage



~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~

~.~ Credit FB Tinh khuc bat tu

https://www.facebook.com.../posts/870278259663089:0





UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 12/10/2020(UTC)
Hạ Vi  
#2842 Posted : Tuesday, December 1, 2020 6:55:48 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


«ASIA 7» Tuấn Ngọc - Bây Giờ Tháng Mấy (Từ Công Phụng)







UserPostedImage
phamlang  
#2843 Posted : Thursday, December 10, 2020 6:20:21 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mai Hương – Nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật


UserPostedImage
Tưởng niệm ca sĩ Mai Hương (1941-2020)


Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình. Nhiều kỷ niệm vẫn còn in sâu trong trí tôi cho đến ngày hôm nay là những buổi tối mấy chị em chúng tôi quây quần bên chiếc máy thu thanh trong căn gác nhỏ, chờ đón những chương trình nhạc mà tất cả chúng tôi đều ưa thích. Tiếng Nhạc Tâm Tình do Anh Ngọc phụ trách, Tiếng Tơ Đồng của cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn là ba chương trình mà không có tuần nào chị em chúng tôi bỏ qua. Hơn ba mươi năm sau, ngồi cách xa quê hương hơn nửa vòng trái đất, tôi vẫn còn nhớ lại nhũng giây phút thật xa nhưng cũng thật ngọt ngào mà dễ thương ấỵ Đó là một ốc đảo yên bình tràn đầy âm nhạc và tình tự quê hương khi bên ngoài cuộc chiến đang ngày càng đến gần thành phố.

Ở trong cái thế giới âm nhạc tuyệt diệu ấy, một giọng hát nhẹ nhàng và đầy đam mê đã đến với chúng tôi như một làn gió mát, một thoáng hương hoa của buổi đầu xuân. Dịu dàng nhưng thiết tha. Đó là tiếng hát của Mai Hương. Sau này khi đã sống ở bên Mỹ tôi vẫn được nghe tiếng hát Mai Hương. Giọng hát của chị sau hơn muời lăm năm tôi không được nghe không những đã không bị thời gian làm phai nhạt, trái lại còn có phần trong và mạnh hơn. Có thể vì kỹ thuật hòa âm và thu thanh chăng? Tôi nghĩ đây chỉ là một lý do phụ thôi. Lý do chính là Mai Hương luôn luôn hát với cả tấm lòng yêu âm nhạc, một tình yêu mà chị đã có từ những ngày còn thật bé vì vốn dĩ sinh trưởng trong một đại gia đình văn nghệ sĩ. Nghe từng bài của Mai Hương hát trong các CD của chị chúng ta nhận thấy cái trau chuốt, từ sự chọn lựa các bài hát trong các đĩa nhạc, cho đến sự trân trọng của chị qua từng nốt nhạc. Sống ở xa quê hương chúng ta có cách hay nhất làm dịu nỗi nhớ quê nhà bằng sự thưởng thức các tác phẩm văn chương hoặc thơ, nhạc. Mỗi chúng ta ra đi mang theo trong ký ức ít nhiều hình ảnh của quê hương: những khúc nhạc hay, một cổng trường vôi trắng hay một khuôn mặt dễ yêu nào đó… Riêng tôi, mỗi lần nghe lại tiếng hát Mai Hương là như thấy lại cả một trời kỷ niệm. Quê hương và nỗi nhớ tưởng chừng đã quên nhưng vẫn còn y nguyên bên mình. Chính ở trong nỗi nhớ đó chúng ta càng cảm nhận tầm mức quan trọng của những văn nghệ sĩ đã trọn đời gắn bó với các bộ môn nghệ thuật Việt Nam. Bởi lẽ qua tiếng nhạc lời ca, qua ký ức và những kinh nghiệm sống và trình diễn nghệ thuật của họ là tiềm tàng những hình ảnh thân thương của quê nhà mà tất cả chúng ta hằng yêu mến. Để thấy rõ thêm về điều này, chúng ta hãy nghe Mai Hương tâm sự về gần 50 năm gắn bó với âm nhạc Việt Nam của chị trong bài nói chuyện sau đây.

Nghiêm Xuân Cường (NXC): Xin chị cho độc giả được biết đôi nét về chị. Chị đi hát từ năm nào và có những kỷ niệm đặc biệt gì về những ngày đầu tiên đi hát?

Mai Hương (MH): Tên thật là Phạm Thị Mai Hương, tôi chào đời tại Đà Nẵng năm 1941. Thân phụ của tôi là ông Phạm Đình Sỹ, (người anh cả của ban Hợp Ca Thăng Long gồm có Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng và Thái Thanh) và thân mẫu là nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, đã từng tham dự và thủ diễn trong nhiều vở kịch lớn (như Lôi Vũ, Trong Bóng Hậu Trường) cũng như trong nhiều phim ảnh (Sóng Tình, Chúng Tôi Muốn Sống…) Thời thơ ấu tôi sống ở nhiều nơi: Huế, Thượng Du Bắc Việt, Hà Nội, rồi đến năm 1952 cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và sống tại đây đến năm 1975. Lúc còn nhỏ, ở tuổi 12, 13 tôi không nghĩ là sau này mình lại là một ca sĩ chuyên nghiệp. Lúc ấy bố mẹ bảo sao thì mình nghe vậỵ Thế là các cụ ghi tên cho tôi và bảo đi thi hát ở rạp Norodom (sau này gọi là rạp Thống Nhất) do Đài Phát Thanh Pháp Á tổ chức. Cũng vì có khiếu và thích hát ngay từ bé nên tôi hớn hở đi thi ngay. Qua các kỳ sát hạch, tứ kết, bán kết, tôi được vào chung kết vào cuối năm 1953. Lúc ấy tôi được người cô ruột là ca sĩ Thái Thanh tập cho bài Xuân Và Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) để dự thi chung kết. Bài này điệu valse, tông Rê trưởng, cao và khó hát đối với một cô bé 12 tuổi. Tôi còn nhớ mỗi lần thi hát, ban tổ chức phải bắc một cái ghế để tôi đứng cho vừa với cái micro vừa cao lại vừa to che hết cả mặt mũi!

Qua khỏi lứa tuổi nhi đồng, bắt đầu hát với những ban người lớn thì tôi rất sợ. Nhiều người đã nổi tiếng và đã hát lâu năm trên các đài phát thanh. Đó là những người mà tôi phải gọi bằng cô chú, như chú Anh Ngọc, Ngọc Long, các cô Thái Thanh, Châu Hà, Mộc Lan, các anh chị Kim Tước, Duy Trác… Toàn những người hát giỏi, tôi lo sợ không biết mình có thể “cầm cự” nổi không. May nhờ có mấy năm tôi được theo học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, nên cũng không đến nỗi nào! Đó là cảm tưởng của những ngày đầu đi hát của tôi.

NXC: Chị có kỷ niệm gì về những lần đi lưu diễn?

MH: Thật ra tôi là ca sĩ hát ở đài nên rất ít đi lưu diễn. Tôi nhớ mãi một chuyến đi trình diễn ở Đà Lạt năm 1960 với một ban đại hòa tấu và hợp xướng dưới sự điều khiển của một nhạc trưởng người Đức, tên là Otto Soelner. Toàn ban có đến gần 100 người, cả ca sĩ và nhạc sĩ của Đài Phát Thanh Sài Gòn và nhạc sinh trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tôi và Quỳnh Giao là hai người trẻ nhất, tôi thì 19 tuổi, còn Quỳnh Giao thì mới 14. Lúc bấy giờ Việt Nam còn rất thanh bình nên đoàn chúng tôi đi bằng xe lửa từ Sài Gòn lên Đà Lạt và ở tại khách sạn Đà Lạt Palace. Chúng tôi trình diễn trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy. Đây là một tuyệt phẩm được thai nghén từ 1954, tức là khoảng thời gian chia cắt đất nước. Bốn năm sau, tức là khoảng 1958-1959 trường ca Con Đường Cái Quan được hoàn tất. Trước khi CĐCQ được trình diễn lần đầu tại Đà Lạt năm 1960 chúng tôi đã trình bầy tại Đài Phát Thanh Sài Gòn.

NXC: Xin chị cho biết về những tháng năm dưới mái trường QGAN

MH: Tôi theo học tại trường QGAN vài năm, từ năm 1958, song song với việc học chữ tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng. Các giáo sư nhạc của tôi có lẽ đã qua đời cả rồi. Ông Nguyễn Cầu môn Ký Âm Pháp, ông Nguyễn Hữu Ba môn đàn tranh đều là bạn của Ba Me tôi. Ông Nguyễn Cầu mất tại Maryland cách đây vài năm, ông Nguyễn Hữu Ba mất tại Việt Nam cũng đã lâu. Thầy Hải Linh, dậy môn hợp xướng ,mất tại Quân Cam nên tôi được may mắn dự đám tang của thầỵ Các thầy Phạm Gia Nhiêu (violon), thầy Hai Biểu (đàn thập lục) đã mấy chục năm rồi không gặp nên tôi không biết đuợc tin tức của hai thầỵ Các giáo sư của tôi ông nào cũng hiền lành và thật dễ thương. Tôi quý các ông vô cùng.

NXC: Thời kỳ phôi thai của Đài Phát Thanh Sài gòn có lẽ là từ những năm 1954-1960. Chị nhớ gì về những ngày tháng đó?

MH: Đối với tôi những năm đẹp nhất ở Đài Phát Thanh Quốc Gia (mà sau này đổi thành Đài Phát Thanh Sài Gòn), và các Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do, bắt đầu từ năm 1954 cho đến Tết Mậu Thân 1968. Những năm này thành phố Sài Gòn thật yên bình. Trở lại năm di cư 1954-55, một số ca nhạc sĩ từ Bắc vào Nam, tôi có thêm một bạn ca sĩ nhi đồng là Mai Hân, hiện đang phụ trách chương trình phát thanh của đài Little Sàigon vùng San Jose, bắc Cali. Các ca nhạc sĩ lớn tuổi hơn thì chúng ta có các nhạc sĩ Văn Phụng, Nhật Bằng, Đan Thọ, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Y Vân…, các ca sĩ Châu Hà, Ánh Tuyết (nổi tiếng với bài Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành), Mai Ngân, Vũ Huyến, Duy Trác…Các nhà văn/thơ Mai Thảo, Thái Thủy, Đinh Hùng, Quách Đàm, Thanh Nam, Nguyễn Đình Toàn…và còn nhiều người nữa mà tôi không thể nhớ hết.

NXC: Chị có những kỷ niệm gì về về những thập niên 1960, 1970?

MH: Khoảng năm 1963, Đài Phát Thanh Sài Gòn đón nhận một con chim họa mi xứ Thần Kinh. Đó là chị Hà Thanh, giọng ca số một ở Huế, một giọng ca cao vút và trong sáng. Trước khi chị Hà Thanh vào Nam, tôi đã được nghe nói đến tên chị rồi. Thế rồi các ca sĩ nhi đồng nhỏ tuổi hơn tôi như Quỳnh Giao, Hoàng Oanh cũng bắt đầu góp mặt trong các chương trình tân nhạc của các đài phát thanh. Riêng Hoàng Oanh có biệt tài về ngâm thơ ngoài lãnh vực ca hát nên cô góp giọng rất nhiều trong các chương trình thơ nhạc như Tao Đàn, Thi Nhạc Giao Duyên của cố thi sĩ Đinh Hùng. Đối với chúng tôi, những năm họat động ở trên các đài phát thanh là những năm đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Tất cả các ca nhạc sĩ già, trẻ, lớn bé đều xem nhau như anh chị em trong một đại gia đình, yêu thương, kính trọng nhau, không có sự chèn ép hoặc ganh tị trong đài. Nói về các chương trình tân nhạc thì gồm toàn những bài bản giá trị, được các nhạc sĩ trưởng ban soạn cho ban nhạc và ca sĩ rất công phu. Hoà âm được viết cho từng nhạc cụ và từng bè của mỗi ca sĩ riêng biệt. Mỗi người nhìn vào phần của mình mà ráp với nhau. Ở đài chúng tôi thường hát theo hòa âm của các nhạc sĩ Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Nhật Bằng, Y Vân…

Nhưng từ năm 1968 trở đi không khí đài phát thanh mất vui nhiều lắm. Sau biến cố Tết Mậu Thân, Sài Gòn không còn vẻ thanh bình của những năm trước đó. Chúng tôi phải hát thêm loại nhạc “chiến dịch”, nghĩa là khi được tin quân đội ta đánh thắng những trận nào, tin tức đưa về, là các anh nhạc sĩ Lê Dinh, Nhật Bằng, Minh Nhật, Trầm Tử Thiêng, phải sáng tác ngay một bài hát mới và đưa vào phòng vi âm cho chúng tôi thâu “ké” để kịp phát thanh ngay mừng chiến thắng vì lúc ấy chúng tôi đang thâu cho các chương trình tân nhạc. Rồi đến “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, khắp miền dồn dập những trận đánh lớn, nhỏ. Các bài hát chiến dịch tiếp tục được sáng tác và chúng tôi vẫn thâu thanh. Có nhiều hôm vừa ăn cơm tối xong, được điện thoại trên đài gọi đi thu thanh gấp. Tôi và Quỳnh Giao vừa lên đến nơi thì anh Minh Nhật dúi vào tay một bài hát mới toanh, bảo thu ngay bây giờ để phát thanh liền. Thế là chúng tôi mở to con mắt ra để mà nhìn, mà đọc, mà hát. Không có thì giờ để tập vì phải về nhà trước giờ giới nghiêm. Tôi chưa về đến nhà thì bài hát mình vừa thâu đã được phát ra rồi .Tôi vừa bước chân vào nhà, me tôi đã nói: “Me vừa nghe con hát trên đài. ” Ba Me tôi ở cách chúng tôi có vài căn nên hay qua chơi với các cháu.

Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4-1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người. Gia đình tôi gặp gia đình Quỳnh Giao trong trại tỵ nạn ở Guam. Chúng tôi vui mừng, cảm động đuợc gặp nhau mà nước mắt ròng ròng. Cũng tại nơi này chúng tôi gặp gia đình anh chị LưuTrung Khảo là hàng xóm sát vách của mình ở đường Bùi Thị Xuân. Lại khóc.

NXC: Chị có thích hát loại nhạc nào hơn không?

MH: Nói về sở thích loại nhạc mình hát thì tôi thích loại nhạc cũ, thể điệu êm dịu vì tôi thấy hợp với giọng của mình. Nhưng đã là ca sĩ ở đài phát thanh rồi thì mình không có quyền lựa chọn bài mình thích mà hát. Tất cả các chương trình thâu thanh đều do các người trưởng ban làm chương trình, bảo ca sĩ hát bài nào thì mình hát bài ấỵ Cho nên chúng tôi hát đủ các thể điệu, từ Boston, Slow, Rumba, Cha Cha Cha, Boléro, Tango Swing, Marche… Nếu là nhạc dân ca, cũng phải hát đủ cả ba miền, cả dân ca miền Thượng nữa. Ngoài những bài đơn ca, ca sĩ còn hát song ca, tam ca, tứ ca, hợp ca, đơn ca phụ họa. Khi thì mình hát solo người khác phụ họa, hoặc ngược lại. Vì vậy mới có ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà người ta thường ví với các ban của Ed Sullivan hoặc Lawrence Welk của Hoa Kỳ, cũng với hình thức như vậy!

Nói về tam ca, thì tôi cảm thấy hát hợp nhất với chị Kim Tước và Quỳnh Giao. Vì vậy khi ra hải ngoại chúng tôi tìm đến nhau lập ra ban Tam Ca “Tiếng Tơ Đồng” để nhớ đến nhạc sĩ Hoàng Trọng còn kẹt lại ở Việt Nam. Đến năm 1992, nhạc sĩ Hoàng Trọng qua Mỹ đoàn tụ với các con, ban tam ca chúng tôi đuợc đổi thành “Tơ Vàng”. Sau khi ông qua đời, chúng tôi dùng lại tên “Tiếng Tơ Đồng” để tưởng nhớ đến ông, và vẫn hoạt động đến bây giờ. Mỗi khi có một đêm tổ chức âm nhạc thì chúng tôi lại có dịp hát chung với nhau.

NXC: Mỗi lần hát chung như vậy các chị có phải tập dượt trước nhiều không?

MH: Mỗi người chúng tôi đều vững nhạc lý rồi nên không cần tập dượt cho mấy nhưng tất nhiên là khi hát với ban nhạc thì phải tập với ban nhạc chứ.

NXC: Có những sinh hoạt nghệ thuật nào ở hải ngoại mà chị cho là đáng kể?

MH: Tôi không theo dõi sinh hoạt âm nhạc hải ngoại sau 1975 vì quá bận rộn với công việc sở làm và gia đình nên chắc chắn không thể biết hết được, chỉ có thể nói về các sinh hoạt mà mình có tham dự. Tôi nhớ là vào năm 1977 nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nay đã quá cố, hướng dẫn một đoàn văn nghệ gồm các bộ môn ca, vũ, nhạc, kịch sang Pháp trình diễn. Đây là chuyến trình diễn đầu tiên tại nước ngoài sau năm 1975 của tôi. Mấy năm sau nhạc sĩ Cung Tiến tổ chức một đêm âm nhạc “Bốn Mươi Năm Phạm Đình Chương” tại Minnesota, rồi anh Lê Văn của đài VOA cũng tổ chức “Bốn Mươi Lăm Năm Âm Nhạc Phạm Đình Chương” tại Washington, D.C. Đến năm 1987 cũng anh Lê Văn hướng dẫn một phái đoàn văn nghệ đi trình diễn ở các nước Âu Châu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ. Khoảng năm 1990, một “Đêm Nhạc Cung Tiến” đuợc tổ chức ở San Jose, California với giàn nhạc giao hưởng của San Jose. Sau đó “Đêm Nhạc Cung Tiến” được tổ chức ở Disney Hotel tại Anaheim, CA với giàn nhạc đại hoà tấu của Orange County.

Cũng khoảng thời gian này, có sự xuất hiện của ban đại hoà tấu và hợp xướng Ngàn Khơi với thành phần ca sĩ và nhạc sĩ ngót 100 người. Ban Ngàn Khơi do hai chị em chị Nguyễn Thị Nhuận (bác sĩ) và Nguyễn Thị Ngọc Sương (nha sĩ) sáng lập. Đây là một ca đoàn lớn và một ban nhạc lớn mà phần phụ soạn hoa âm do các nhạc trưởng Lê Văn Khoa và Trần Chúc đảm nhiệm. Phần nhạc và phần hát tập luyện rất công phu mà tất cả các ca, nhạc sĩ đều hết lòng làm việc. Đây là một công trình văn hóa rất đáng khen.

Gần đây nhất phải kể đến một đêm “Tình Ca Ngô Thụy Miên Qua Bốn Thập Niên” vào tháng 9 năm 2000 tại Quận Cam do hai người bạn thân của anh Ngô Thụy Miên là Phạm Duy Quang và Nguyễn Cửu Tuấn tổ chức để vinh danh người nhạc sĩ với thật nhiều bản nhạc tình bất hủ này. Buổi tổ chức quá chu đáo, thành công mỹ mãn và được giới thưởng ngoạn đón nhận thật nồng nhiệt. Thế rồi vào tháng 2, 2001 cũng các bạn trong nhóm này tổ chức hai buổi “Nhạc Thính Phòng Và Các Nhạc Phẩm Tiền Chiến” tại San Jose và Quận Cam đều được đón nhận rất nồng nhiệt. Theo tôi, có lẽ những đêm âm nhạc kể trên là đáng ghi nhớ nhất.

NXC: Chị có so sánh gì về nhạc Việt và nhạc ngoại quốc?

MH: Nói chung thì những bản nhạc của Tây phương nhất là nhạc phổ thông (pop music) đều có lời ca rất đơn giản, đôi lúc còn có nét ngây ngô. Trái lại, nhạc Việt, nhất là những bản nhạc tiền chiến thì lời ca thật là công phu, nhiều lúc phần lời cũng quan trọng không kém phần nhạc, thí dụ điển hình nhất là những bản nhạc của Đoàn Chuẩn lời Từ Linh, hoặc các bài của Văn Cao, Phạm Duy… Thêm vào đó, mỗi chúng ta đều có ít nhiều kỷ niệm với một hay nhiều bản nhạc thành ra khi nghe những bài ấy thì giòng nhạc lại gợi cho chúng ta bao nhiêu là kỷ niệm thân yêu về gia đình, bạn bè, quê hương, thân phận… Vì thế, nếu chúng ta đã lớn lên với âm nhạc Việt Nam thì nó đã trở thành một phần đời của mình rồi, nhạc ngoại quốc dù hay đến đâu cũng không thể nào cho mình cái rung cảm như khi nghe nhạc Việt.

NXC: Có một điều mà ít người biết đến là chị cũng hát thánh ca khá nhiều. Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần nói: “Mai Hương là người ca sĩ có giọng ca thật điêu luyện và được đánh giá là người hát thánh ca hay nhất.” Chị có thể nói qua về các sinh hoạt này không?

MH: Lúc còn nhỏ, tôi được cha mẹ cho đi học tại các trường Công Giáo, trường tiểu học Thánh Linh của các sơ và sau đó là trung học Nguyễn Bá Tòng của các cha. Khi học ở trường Thánh Linh tôi đã tham dự vào các sinh hoạt của trường trong các dịp lễ lớn như Giáng Sinh và Phục Sinh. Lúc ở trung học Nguyễn Bá Tòng tôi được hân hạnh hát trong ban nhạc Hương Quê do nhạc trưởng Hải Linh, bấy giờ mới ở Pháp về, hướng dẫn. Sau này khi qua Mỹ, tôi cũng có dịp cộng tác với các chương trình thánh ca của Đài Phát Thanh Viễn Đông (Far East Broadcasting Corporation, FEBC) do ông Nguyễn Hữu Ái phụ trách. Một điều làm tôi rất được khích lệ là các anh chị em trong đài FEBC nhận được khá nhiều thơ do thính giả của đài gởi về từ những nơi thật xa xôi hẻo lánh như các tỉnh miền Trung, miền Nam nói là họ có nghe những bài ca do tôi hát với lời ca thật rõ ràng, và những bài ca đó đã truyền đạt thật thấm thía cho họ những lời giảng dậy của Chúa.

NXC: Một số các nhạc sĩ lão thành và tên tuổi của nền âm nhạc Việt Nam lần luợt từ giã chúng ta. Gần đây nhất, ngày 15 tháng 10 vừa qua, nhạc sĩ Ngọc Bích (tác giả của nhiều nhạc phẩm bất hủ Mộng Chiều Xuân, Trở Về Bến Mơ, Khúc Nhạc Chiều Mơ…) vừa từ trần. Chị nhớ gì về người nhạc sĩ lão thành này?

MH: Năm 1952 gia đình tôi dọn vào Nam vì Ba tôi là công chức bị thuyên chuyển đi nhiều nơi. Gia đình tôi lúc bấy giờ sống rất thanh bạch vì chỉ có mình thân phụ tôi đi làm nuôi vợ và ba con. Hàng xóm của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngọc Bích. Năm 1953, ông Ngọc Bích và vợ là ca sĩ Lệ Nga được một người con trai tên là Kim Ngọc. Me tôi vẫn hay sang giúp bà Lệ Nga tắm cho cậu con trai. Một chi tiết ít người biết đến là nhạc sĩ Ngọc Bích còn là một ca sĩ và khi đi hát thì ông dùng tên Kim Ngọc. Ông cũng sáng tác dưới một tên khác là Thái Thu một bản nhạc điệu Swing cũng rất là dễ thương tên là Hương Tình “Ngồi bên em dưới trăng mơ màng. Lòng ngây ngất nhịp mấy cung đàn…” Khoảng năm 1954, ông lập ra ban hợp ca Hồng Hà gồm có ông, các ca sĩ Ánh Tuyết và Thùy Dương. Ban này hoạt động chỉ được một thời gian ngắn. Năm 1956 ông làm trưởng ban cho một ban nhạc của Đài Phát Thanh Quân Đội tôi và hai chị em Mai Ngân, Mai Hân được mời cộng tác với ông trong một thời gian ngắn. Tuy đã biết sinh ly tử biệt là định luật bất di bất dịch của trời đất, nhưng mỗi một mất mát là một lần làm tôi không khỏi ngậm ngùi và càng thấy cần thiết việc giới thiệu những bản nhạc hay mà giới yêu nhạc ít biết đến.

NXC: Chị có dự tính gì cho tương lai?

MH: Dự tính gì cho tương lai ư? Tôi không có dự tính gì to tát hơn là vui với các con và các cháu nội ngoại. Tôi và nhà tôi, anh Trương Dục vừa kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành hôn. Chúng tôi được 2 trai, 2 gái; cháu lớn nhất 38 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi. Tôi rất mãn nguyện vì mình đã làm tròn bổn phận với gia đình: dựng vợ gả chồng cho 4 đứa con; các con tôi đều tốt nghiệp đại học và có công ăn việc làm tốt đẹp, lại có thêm những đứa cháu nội, ngoại thông minh và dễ thương. Quả thật tôi không thể đòi hỏi gì hơn nữa.

Tôi cảm thấy hài lòng với những gì mình có, và không phủ nhận là mình đã gặp được nhiều may mắn. Bây giờ tôi có nhiều thì giờ hơn để có thể làm những mình muốn làm và thích. Sau 22 năm làm cho Bank of America, tôi vừa xin nghỉ việc vào tháng giêng năm 2000 vì cảm thấy mệt mỏi và chán công việc. Tôi đang cố gắng sưu tầm các bài hát cũ rất có giá trị của các nhạc sĩ tên tuổi mà lâu nay hầu như bị bỏ quên. Đó là những bài hát quá hay từ nét nhạc đến lời ca mà sao ít người biết đến!!? Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh…cũng không ngoài mục đích kể trên.

NXC: Xin cảm ơn chị Mai Hương đã dành cho những người yêu nhạc một cuộc nói chuyện thật thích thú và mong sẽ tiếp tục được đón nghe những CD nhiều giá trị nghệ thuật của chị.

oOo

Trong tất cả các bộ môn nghệ thuật, tôi nghĩ văn chương và âm nhạc là hai thứ thân thuộc với tâm hồn chúng ta nhất. Trời bắt đầu trở thu chúng ta lại càng cảm thấy sự cần thiết phải gần gũi với những đoạn văn, thơ, nhạc để giữ lại phần nào cái Việt Nam tính trong cuộc sống tha hương của mình. Mấy ai trong chúng ta lại không thấy lòng se lại trong buổi đầu thu, nhìn các em bé cắp sách đến trường và lòng nhớ đến một đoạn văn thật trong sáng của Thanh Tịnh: “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nao những kỷ niệm đầu tiên của buổi tựu trường …” Một buổi chiều thu nhiều lá vàng rơi gợi lại cho ta những hình ảnh về thu, tuyệt vời như trong thơ Bích Khê “Ô hay, buồn vương cây ngô đồng. Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông... ” và lòng liên tưởng đến “Buồn Tàn Thu” của Văn Cao “Ai lướt đi ngoài sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng...” Mùa thu mênh mông lại trở về trên đất khách, càng nhớ nhà, chúng ta lại càng trân trọng chút di sản văn hóa của quê hương còn đọng lại trong trí nhớ. Ngậm ngùi và đáng tiếc xiết bao nếu một hoặc hai thế hệ nữa con cháu chúng ta không còn biết đến nguồn gốc hay văn hóa của mình, và những người nhạc sĩ, thi văn sĩ còn sống hay đã khuất cũng sẽ cùng một tâm trạng như văn hào Nguyễn Du “Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như” (tạm dịch: Không biết rồi ba trăm năm nữa, Thiên hạ ai người khóc Tố Như).

Điểm lại những CD mà Mai Hương đã thực hiện tại hải ngoại chúng ta thấy đây là những ca khúc thật chọn lọc, tiêu biểu cho một thời vàng son của nhạc Việt. Bước vào thế giới của những ca khúc đó chúng ta tưởngtượng mình đang đi vào một thời đại khác khi ngôn ngữ và âm nhạc thật xúc tích, lời và nhạc như quyện vào nhau. Đối tượng của những bài hát này cũng không ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ở đây không chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi mà còn là tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên. Qua CD mới nhất của chị có tên là Lỡ Chuyến Đò phát hành vào tháng 7-2001, hãy để tiếng hát nhẹ nhàng và trong sáng của Mai Hương đưa chúng ta trở về quá khứ thật êm đềm qua giòng nhạc của nhạc sĩ Anh Việt, tác giả của những bản nhạc trữ tình khác như Bến Cũ (1946), Thơ Ngây (1951)…Lỡ Chuyến Đò (1947) diễn tả nỗi phân vân của người trai thời loạn, bên nợ nước, bên tình riêng “…Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương Đây người sang với con đò xưa. Và chiều chiều thôn nữ thôn nữ vấn vương. Duyên tình xưa êm thắm còn đâu. Người nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Tơ đàn say đắm quên sầu thương. Dành tình này cho kẻ khổ đau. Quên tình xưa thôn nữ chờ mong …” Tiếp đến, ta hãy lắng nghe giọng ca của Mai Hương, nhẹ nhàng, trong vút và bay bổng trong ca khúc Hương Quê của Nhật Bằng và Huỳnh Hiếu “Chiều nay nắng êm đềm sau lũy tre. Trên trời xanh bầy chim bay trở về. Tiếng tiêu mục đồng hát trên đê. Sáo vi vu chìm lắng đê mê. Xa xa xa đoàn nông phu vác cuốc cùng đàn trâu đi trên đường về đâu...” Như chiếc đũa thần huyện diệu của nàng tiên Âm Nhạc, giọng hát trìu mến và đầy đam mê của chị đưa chúng ta tiếp tục trong chuyến đi ngược giòng thời gian trở lại quê hương trong một trời yên bình không tưởng “Lùa theo gió êm đềm bao tiếng tiêu. Chuông chùa ngân chìm lắng trong sương chiều. Khói lam bên đồi phất phơ baỵ. Bóng đêm chìm lặng giấc mơ say…” Lòng người tha hương như say sưa theo tiếng hát và giòng nhạc. Ngắm trăng thu xứ người, chúng ta không khỏi nhớ đến ánh trăng huyền diệu của thuở ấu thơ, được mô tả tài tình qua nhạc và lời của cố nhạc sĩ Văn Phụng trong Hình Ảnh Một Đêm Trăng: “Khi ấu thơ, ngồi trong bóng trăng nhìn theo áng mây đưa. Nghe má ba kể trong ánh trăng Cuội đang sống say sưa. Rồi thôn xóm bừng lên tiếng reo hòa theo khúc ca ngân. Tiếng ngây thơ bầy em múa ca, mời trăng thu xuống trần…” và lòng khách tha hương không khỏi xót xa vì “Thu đã đem nguồn vui tới đây, điểm tô ánh trăng mơ. Nhưng thấy đâu mùa trăng ấu thơ, mùa trăng lúc ngây thơ. Mầu trăng sáng cùng muôn khúc ca ngày xưa đã trôi qua. Ánh trăng xưa lòng tôi vẫn ghi, thời gian chưa xóa mờ”.

Trong một buổi chiều thu giá lạnh của Bắc Mỹ, lòng người tha hương như được sưởi ấm khi nghe lại giọng ca quen thuộc, thân thương của Mai Hương qua những bản nhạc tưởng chừng không bao giờ được nghe lại như Tạ Từ (khoảng 1946) của Tô Vũ. Lời và nhạc như vọng về từ một cõi xa xưa mơ hồ nào đó “Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh, gió dâng khúc đàn thanh bình. Ta đi tìm thơ muôn phương gót in núi rừng thâm u, và lướt trên muôn trùng sóng. Lời anh thầm ước khi nao, dưới trăng giữa mùa hoa đào. Trong ánh dư âm còn vang tiếng đồng. Lầu chiều còn luyến ánh hồng, lầu xây trong không, sóng gió rót chia ly. Phồn hoa em chia tay ra đi, đưa chân dừng bước bên cầu, giã từ mấy câu. …Tình anh như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo.” Bản nhạc đem cho tôi nhiều cảm xúc nhất là một bài cũng rất hợp với giọng của chị: nhẹ nhàng, không chải chuốt nhưng tràn đầy thiết tha. Tôi đã có những giây phút tuyệt vời khi nghe lại Khúc Nhạc Chiều Mơ của nhạc sĩ Ngọc Bích, người vừa từ giã chúng ta cách chúng ta vài tuần trước đây, “Chiều nay nhớ về phía xa mờ. Ngoài khơi sóng dạt dào ước mơ. Phút say sưa lời nguyền hoà với tiếng tơ. Chờ ngày mai gió reo lời thơ. Về đâu hỡi bầy lũ chim rừng. Ngừng đây nhắn dùm lời nhớ thương. Nhớ đêm nao ôm đàn lòng thổn thức vấn vương. Nhạc sầu mơ khúc ca hồi hương… Còn đâu những đêm dưới trăng mờ. Còn đâu những lời nguyền ước xưa. Nét môi ngây thơ dịu dàng làn tóc gió đưa. Lòng ta xao xuyến trong chiều mơ. ..” Những tình cảm được ghi lại bởi người nhạc sĩ tài hoa mấy chục năm trướcvẫn có một sức quyến rũ kỳ lạ với người nghe. Người nhạc sĩ tuy đã khuất, nhưng tinh hoa của những ca khúc của ông sẽ mãi mãi còn với thời gian. Sau bao nhiêu năm tôi mới được nghe lại những giòng nhạc thật thiết tha và hợp với tâm trạng xa quê hương của mình, quả thật đó là một hạnh phúc không nhỏ. Những bản nhạc bất hủ khác trong CD như Nhạc Sĩ Với Cây Đàn (Nguyễn Văn Khánh), Cô Hàng Hoa (Thẩm Oánh), Bến Nước Tình Quê (nhạc Mạnh Phát, lời Mộng Bảo), Lỡ Cung Đàn (Hoàng Giác) Ước Hẹn Chiều Thu (Dương Thiệu Tước), đều gây cho người nghe cảm giác lâng lâng khi tìm lại được một quãng đời đánh mất. ”

Dư âm tiếng hát đã lắng, giòng nhạc đã dứt, nhưng người nghe còn vương vấn mãi trong tâm tưởng một hình ảnh của quê hương Việt Nam những ngày chưa khói lửa chiến tranh. Xin cảm ơn tất cả những nhạc sĩ tài hoa, và những người làm nghệ thuật nói chung, đã đem đến cho đời những bông hoa đầy hương sắc. Và cảm ơn Mai Hương, vì qua giọng hát điêu luyện của mình, chị đã nhắc lại cho chúng ta những nét đẹp tuyệt vời của nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Mai Hương luôn đem đến cho người yêu nhạc những giây phút thật ấm lòng, và nếu ngày nào còn người Việt ly hương với nỗi sầu ưu quốc, ngày ấy tiếng hát của chị, như tiếng mẹ ru ta vào đời khi còn thơ dại, sẽ theo chúng ta trên các nẻo đời, sẽ mãi mãi bay cao “Như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo.”

Nghiêm Xuân Cường

Edited by user Thursday, December 10, 2020 6:22:17 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#2844 Posted : Monday, December 21, 2020 2:00:44 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
.


Khi Mùa Đông Tới Lại Nhớ ..."Đêm Đông"


UserPostedImage

Đêm Đông,Ôi ta nhớ nhung đường về xa xa


Từ ngày 21.12, mùa đông trở lại với các nước bắc bán cầu và ở lại cho tới tháng ba năm 2021. Cũng là theo lẽ tuần hoàn của vũ trụ mà thôi, thu đi thì đông tới và rồi nhường chỗ cho mùa xuân.
Mùa đông...chiều chưa đi mà màn đêm rơi xuống như lời của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương khi một mình lang thang ở Hà nội.. Không còn những ngày dài như mùa hè, chín giờ tối mà trời còn sáng. Nhìn lên thấy đôi chim đang bâng khuâng cùng đám mây xám bay ngang lưng trời.
Đêm đông, mây bay gió cuốn và lòng người, khi nghĩ tới thân phận mình thấy càng thêm tê tái.

TRÊN NẺO ĐƯỜNG HÀ NỘI

Bài ca Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương đã hớp hồn những những người yêu thích nhạc Việt. Như là một sự tình cờ, mùa đông năm 1939, tác giả không về nhà mà ở lại Hà nội nơi đang du học.
Buổi chiều, trời rét căm căm, đi dạo khu phố Hà nội tác giả đem hết áo ra mặc vào vẫn còn rét. Đi từ Ga Hàng Cỏ qua phố Khâm Thiên rồi lang thang khắp nẻo đường cho đến khuya mới trở về căn gác trọ. Tâm trạng được diễn qua lời ca viết đêm hôm đó.

Nhiều thế hệ đã thuộc lòng Đêm Đông và nuôi những nỗi sầu của tác giả...như nỗi sầu của chính mình...Với xa trông cố hương buồn lòng chinh phu, bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư và ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng. Những cảnh giả tạo nhưng vẫn làm xúc động lòng người như thiệt.

VÀO KHO TÀNG NHẠC VIỆT

Ca khúc này được rất nhiều bậc tài danh hát lên. Trước năm 1975, ba bản thu thanh thành công nhất của ca khúc này là do Thanh Thúy, Lệ Thu và Bạch Yến ca diễn.
Đặc biệt, Ca sĩ Bạch Yến đã có sáng kiến đổi phong cách thể hiện bài hát này.
Lúc ban đầu, tác giả viết bài Đêm Đông theo điệu Tango và chính Ca sĩ Bạch Yến đã đổi từ Tango qua Slow Rock, theo Wiki trên mạng.

Trong một thư, Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương nhắc đến chuyện ông đã cảm ơn Ca sĩ Bạch Yến về « sự đóng góp đầy ý nghĩa trong cách thể hiện tác phẩm của tôi. »
« Và từ ngày nghe băng nhạc của Bạch Yến, tôi đã bỏchữ Tango để thay vào đó là Slow Rock, » ông viết, theo như ghi lại trên mạng Wiki.


BẠCH YẾN CHO BIẾT RÕ HƠN

Mới đây, người viết đã biên thư hỏi Chị Bạch Yến và dù đang bận rộn nhiều chuyện, chị đã cho biết thêm như sau :
Tôi hát bài Đêm Đông vào năm 1957. Bài hát rất được ưa thích có lẽ vì tôi đã đổi từ điệu Tango thành Slow Rock. Thời đó, nhịp điệu Slow Rock vừa mới tới Sài gòn và đang được nhiều khán thính giả yêu chuộng.
Riêng tôi, không phải tôi đổi vì nhịp điệu Slow Rock đang thịnh hành mà là vì tôi thấy bài Đêm Đông hát điệu Tango nghe ”kém buồn” hơn Slow Rock.
Ngoài việc đổi nhịp điệu tôi còn đổi Đêm Đông thành một bản nhạc để diễn hơn là chỉ đế nghe mà thôi.
Nếu ai để ý thì sẽ nghe tôi hát đoạn đầu theo nhịp điệu tự do

Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống
Đâu đây buông lững lờ tiếng chuông
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời
Cùng mây cám về ngang lưng trời......


Rồi từ đoạn này tôi mới dìu ban nhạc chậm rãi theo tôi vô điệu Slow Rock:

Thời- gian- như ngừng -trong tê tái ____ cây trút lá cuốn theo chiều may
Mưa giăng mắc nhớ nhung tiêu điều
Sương thướt tha bay ôi điu hiu

Đêm Đông
Xa trông cố hương buồn lòng chinh phu
Đêm Đông
Bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng
Đêm Đông
Thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Đêm Đông
Ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng
Gió nghiêng chiều say
Gió lay ngàn cây
Gió nâng thuyền mây
Gió gieo sầu miên
Gió đau niềm riêng
Gió than triền miên
Đêm Đông
Ôi ta nhớ nhung đường về xa xa
Đêm Đông
Ta mơ giấc mơ gia đình yêu thương
Đêm Đông
Ta lê bước chân phong trần tha phương
Có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà.


NGUYỄN VĂN THƯƠNG Ở HUẾ

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sinh năm 1919 tại Huế.
Năm 1936, học xong Quốc Học Huế, ông sáng tác bài Trên Sông Hương, một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Huế.
Năm 1939 du học Hà nội...và Tết năm đó, không có tiền tàu về Huế nên đã đi lang thang trên nẻo đường Hà nội.

Ta lê bước chân phong trần tha phương/ Có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà ?



Từ Nguyên Paris




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2845 Posted : Monday, December 21, 2020 2:06:18 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
,

Bạch Yến - Đêm Đông


.


Thái ThanhĐêm Đông (Tango)






.
UserPostedImage
CỏThơm  
#2846 Posted : Thursday, January 7, 2021 1:32:16 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Tình Gió Tình Mây Tình Thơ


Em về níu áo tháng năm
Níu trăng hạ nhớ trải rằm vào mây
Em về níu bờ vai gầy
Bỏ Thu trong áo men say hạ hồng

Em về trút hết mùa Đông
Nhấn sâu đáy biển bụi hồng lên hương
Hôn bùa làm phép chữ thương
Cho anh ở lại miên trường tuổi mơ

Em về buộc áo treo khờ
Gom hoa phượng tím thắt nơ chữ tình
Giăng thơ gài bẩy niệm kinh
Anh đi không đặng vướng tình gió mây

Ngồi đi anh ngồi xuống đây
Thơ trăng biển thơ rừng cây tỏ lời
Này sương này gió tuyệt vời
Bao la trời rộng khơi khơi sóng tràn

Em về nắn nót cung đàn
Tung tăng vần điệu miên man khúc rời
Kìa xuân yểu điệu đón mời
Hạ ơi mê khúc tuyệt vời... Hạ ơi...!



Mỹ Trinh




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2847 Posted : Saturday, January 30, 2021 11:17:07 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
.


UserPostedImage


Trào lưu Lãng Mạn trong Văn Học VIỆT NAM


Trào lưu văn học nghệ thuật lãng mạn được phát triển trước nhất ở Anh. Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) phát xuất đầu tiên ở Anh và Đức vào cuối thế kỷ thứ 18 và sau đó lan sang Pháp và những nước khác. Trong văn chương Anh, chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện qua thi ca của William Blake (1), William Wordsworth (2), Samuel Taylor Coleridge (3), Lord Byron (4), Percy Bysshe Shelley (5) và John Keats (6). Những vần thi ca mơ mộng của Blake không phải lúc nào cũng dễ hiểu vì nhà thơ sáng tạo ra những huyền thoại riêng để diễn tả tư tưởng của mình. Thơ ông biểu lộ sự tưởng tượng đầy nghệ thuật dạt dào sức sống. Byron là thi sĩ nhiều màu sắc nhất của trào lưu văn chương lãng mạn Anh. Thơ Byron có lúc dữ dội, có khi lại mềm mại nhưng luôn luôn nhấn mạnh đến chủ điểm là con người phải được tư do lựa chọn lối sống của mình. Shelley không chỉ là một thi sĩ lãng mạn mà còn là nhà thơ tình vĩ đại của văn học Anh. Keats, với nhiều lối thi ca khác nhau, hướng vào sự vui thích, sung sướng trước cái đẹp của nhân loại, buồn rầu với những đau khổ không thể tránh được xảy đến cho con người. Thơ ông là nhịp cầu giữa thế giới sụp đổ với thế giới vĩnh cửu. Coleridge cùng Wordsworth mở đầu trào lưu văn chương lãng mạn ở Anh và cũng là của thế giới bằng thi tập Lyrical Ballads xuất bản năm 1798. Thi phẩm này gồm đa số thơ của Wordsworth nhưng trong đó có bài thơ bất hủ The Rime of the Ancient Mariner của Coleridge là một thành tựu lớn nhất của nền văn chương Anh.

Chủ nghĩa lãng mạn đòi hỏi tự do cá nhân triệt để, nhờ thế từ lúc khởi hứng tới khi sáng tác người làm văn học nghệ thuật có những say sưa, thích thú, tâm hồn với lửa đam mê bay bổng nảy sinh ra từ và ý đột khởi độc đáo tạo nên những tác phẩm bất hủ để đời.

CHỦ NGHĨA VĂN HỌC LÃNG MẠN

Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc trong khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.

SỰ HÌNH THÀNH TRÀO LƯU LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Năm 1932 đánh dấu sự thay đổi đột biến của nền văn học Việt Nam, thi văn chưa bao giờ có một thời kỳ phong phú như giai đoạn 1932-1945. Chỉ trong thời gian hơn một thập niên văn học Việt Nam nhảy vọt từ tình trạng ấu trĩ sang phát triển bằng đôi hia bảy dậm, không thua sút những nền văn học Tây phương. Trước đó tuy có một số nhỏ sáng tác mang tính lãng mạn nhưng còn tản mác, rời rạc chưa tạo được một phong trào. Từ 1931 đã có sự xuất hiện vài bài thơ lãng mạn của Lan Sơn (7), Lưu Trọng Lư (8), Thế Lữ (9). Tác phẩm lãng mạn xuất bản trước 1932 có tập thơ Khối Tình Con của Tản Đà (10)ø, Linh Phượng Ký của Đông Hồ (11) và hai quyển gây được ảnh hưởng một thời gian là Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách (12) và Giọt Lệ Thu của Tương Phố (13), nhưng phải chờ tới khi Nhất Linh (14) du học ở Pháp về chủ trương tuần báo Phong Hóa, thành lập Tự Lực Văn Đoàn (15) hô hào thay cũ đổi mới, và dấy lên phong trào thơ mới thì trào lưu văn chương lãng mạn mới thực sự có mặt trong dòng văn học Việt Nam. Cùng lúc với Phong Hóa, phải kể đến Phụ Nữ Tân Văn là tờ báo đã góp công vào việc giúp cho phong trào thơ mới nở rộ bằng những bài thơ lãng mạn của các nhà thơ không cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

Sau ngày17/06/1930, Nguyễn Thái Học (16) và 12 yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (17) lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, Pháp đẩy mạnh việc đàn áp, khủng bố, bắt bớ, tù đày các nhà ái quốc nhằm dập tắt các cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước để củng cố nền đô hộ. Các phong trào tạm thời lắng xuống, các tổ chức ái quốc bị dao động mạnh buộc phải tạm ngưng các hoạt động rút vào bóng tối nhằm bảo toàn tổ chức và nhân sự. Cuộc khủng bố qui mô toàn quốc những năm 1930 đã gây một không khí hoang mang, lo sợ trong tầng lớp thanh niên và trí thức. Chỉ trong hai năm 1930 và 1931 riêng ở Bắc Kỳ, chính phủ bảo hộ Pháp đã mở 21 phiên tòa đặc biệt gọi là Hội Đồng Đề Hình xét xử tất cả 1094 vụ án chính trị, trong đó có 164 bản án tử hình, 114 khổ sai chung thân, 420 lưu đày biệt xứ. Đây là thời kỳ thoái trào của các hoạt động cách mạng chống Pháp dành độc lập cho đất nước.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 từ Pháp tràn về Đông Dương thuộc địa như một thiên tai khiến cuộc sống xã hội trở nên khó khăn. Hàng hoá rẻ mạt nhưng lại không kiếm ra tiền, các xí nghiệp kinh doanh thi nhau phá sản, sa thải nhân công. Ngân quĩ nhà nước bảo hộ thất thâu không đủ khả năng tuyển dụng thêm công chức, nạn trí thức thất nghiệp là mối lo âu chung của những người được Pháp đào tạo. Trộm cướp, thuốc phiện, bài bạc, đĩ điếm trở thành những vấn đề nan giải. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới càng tăng thêm bi quan cho bàu không khí u ám, buồn thảm vốn đang căng thẳng, ngột ngạt.

Trong khung cảnh đó những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng tiêu cực muốn thoát ly khỏi những vấn đề bức xúc của cuộc tranh đấu dành độc lập. Họ có thái độ chán nản, xa lánh chính trị. Thái độ này được củng cố trên cơ sở mối bất hòa tuyệt vọng giữa họ và hoàn cảnh xã hộiù đương thời. Sự ra đời của trào lưu văn chương lãng mạn giải quyết được bế tắc, đáp ứng được nhu cầu cho giới trí thức trong bối cảnh xã hội bi quan đó. Con đường làm văn học nghệ thuật bằng chủ nghĩa lãng mạn là lốt thoát trong sạch, nơi trú ẩn tinh thần tương đối an toàn có thể gửi gấm tâm sự, và cũng là phương cách bày tỏ lòng yêu nước (18).
Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự do cá nhân đã đáp ứng được khát vọng giải phóng bản ngã, khát vọng tự do yêu đương cho hạnh phúc cá nhân, cho quyền sống cá nhân. Điều này giải thích được quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật của những người trong trào lưu văn chương lãng mạn thuộc giai đoạn 1932-1945 của văn học Việt Nam.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

Tất nhiên để có một trào lưu văn học thì bao giờ cũng cần có một hay nhiều người khởi xướng với sự tham gia tích cực của văn giới, và được đón nhận đông đảo của độc giả. Từ 1932 đến 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc tranh luận văn học sôi nổi được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà thơ: tranh luận về thơ mới thơ cũ, tranh luận về bỏ cũ theo mới, tranh luận về hôn nhân và gia đình, tranh luận về nghệ thuật phục vụ cái gì. Các cuộc tranh luận này phản ảnh cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và tư tưởng gò bó với cảm xúc cá nhân được tự do bày tỏ. Hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay do Nhất Linh và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương là cơ quan ngôn luận cổ võ mạnh mẽ cho sự thay cũ đổi mới và là nơi qui tụ văn chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu văn học lãng mạn gồm có Nhất Linh, Khái Hưng (19), Thế Lữ, Huy Cận (20), Thạch Lam (21), Xuân Diệu (22), Thanh Tịnh (23), Vũ Đình Liên (24), Đoàn Phú Tứ (25).

Sự thành công của trào lưu văn chương lãng mạn cũng phải kể đến các tờ Hà Nội Báo, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tao Đàn, Thanh Nghị với sự tham gia của các tác giả như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên (26), Hàn Mặc Tử (27), Phạm Huy Thông (28), Bích Khê (29), Nguyễn Tuân (30), Vũ Hoàng Chương (31), Nguyễn Xuân Sanh, v.v. Sự toàn thắng của phong trào thơ mới cũng là tiếng trống khải hoàn cho trào lưu văn học lãng mạn, chấm dứt hoàn toàn lối thơ văn cũ từ thời Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong trở về trước.

ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN CHUƠNG LÃNG MẠN THỜI KỲ 1932-1945

Văn chương lãng mạn đánh dấu một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam đã thay đổi hệ thống tư tưởng thời phong kiến bằng cách thay thế cái ta trong văn chương lịch triều sang cái tôi của văn học hiện đại. Cái tôi không còn là cái đáng ghét nữa (32). Trước kia, cái tôi cá nhân không có địa vị trong văn học và xã hội. Cá nhân được sử dụng như một hình ảnh tượng trưng và bị hòa tan trong cái chung. Trong nền văn chương lịch triều tính cách phi ngã ngự trị hầu hết tác phẩm văn học Việt Nam. Ngay cả những nhà thơ lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến cũng chỉ nói đến cái tôi một cách sơ sài, mờ nhạt, ước lệ.
Chủ nghĩa lãng mạn thực sự đã thỏa mãn được nhu cầu tự do sáng tác và phát huy bản ngã của người làm văn học nghệ thuật. “Sự xuất hiện ý thức về cái tôi cá nhân là một bước tiến quan trọng trong hành trình tư tưởng và nghệ thuật của nhân loại. Bởi vì sáng tạo nghệ thuật mang tính đặc thù, đó là sự sáng tạo của một cá nhân... Cho nên sự giải phóng bản ngã, giải phóng cái tôi của chủ thể sáng tạo sẽ phát huy khả năng sáng tạo của nghệ sĩ, làm xuất hiện nhiều phong cách cá nhân” (33).

Nhờ thế, trong giai đoạn văn chương lãng mạn 1932-1945 với 13 năm ngắn ngủi, văn học Việt Nam đã sản xuất được nhiều phong cách cá nhân độc đáo (34). Về thi ca có Thế Lữ với hồn thơ rộng mở, Lưu Trọng Lư mơ màng, Huy Thông hùng tráng, Nguyễn Nhược Pháp trong sáng, Huy Cận ảo não, Nguyễn Bính quê mùa, Chế Lan Viên huyền bí, và một Xuân Diệu tha thiết, rạo rực, băn khoăn. Trong văn xuôi, cái tôi khinh bạc, giang hồ lãng tử thể hiện trong tập Tùy Bút của Nguyễn Tuân, cái tôi người hùng có mặt trong hầu hết các tiểu thuyết của Lê Văn Trương như Một Người, Tôi Là Mẹ, Chồng Chúng Ta. Đòi hỏi giải phóng cá nhân ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến được phản ảnh qua tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn của Nhất Linh, Làm Lẽ của Mạnh Phú Tứ.

KẾT LUẬN VỀ TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN THỜI KỲ 1932-1945

Chỉ trong thời gian 13 năm 1932-1945, văn học Việt Nam đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng của tổng hợp hơn 100 năm văn học Pháp từ trường phái lãng mạn hồi đầu thế kỷ thứ 19 như Hugo (35), Lamartine (36), Chateaubriand (37), Musset (38), Vigny (39), đến nhóm thi sơn (40) với Gautier (41), Leconte de Lisle, Sully Prud’homme, qua trường phái tượng trưng (symbolism) với Rimbaud (42), Verlaine (43), Mallarmé (44).

Victor Hugo là người dẫn đạo trào lưu văn học lãng mạn ở Pháp. Thơ cũng như văn của ông biểu lộ tình yêu tự do, công lý và lòng thương người. Cái chết của người yêu đã là nguồn cảm hứng bất tận cho Lamartine qua những vần thơ muôn thuở trong thi tập Poetic Meditations xuất bản năm 1820. Chính thi phẩm này đã đóng vai trò chính yếu cho sự phát triển trào lưu văn chương lãng mạn Pháp. Musset cho rằng người làm văn chương phải thực sự trải qua khổ đau thì mới sáng tạo được những áng thơ văn tuyệt tác, làm rung động lòng người. Đề tài chính trong thơ văn của Vigny là sự cô đơn của con người. Còn Gautier thì lại nhấn mạnh, qua thi phẩm Enamels and Cameos, thơ văn muốn hay thì phải cảm nhận qua sự nhìn thấy, không thể chỉ thuần túy có trong ý tưởng hoặc cảm giác.

Trong tác phẩm Art (Nghệ Thuật) xuất bản năm 1857 Gautier khai triển lý thuyết nghệ thuật là sáng tạo cái đẹp theo đúng tiêu chuẩn mà không lệ thuộc vào luân lý, trí thức, hay những giá trị tình cảm. Những bài thơ giàu tưởng tượng tạo nên tên tuổi của Rimbaud chính là những bài được sáng tác trong thời niên thiếu xáo trộn khi ông mất niềm tin vào cuộc sống. Mallarmé, người dẫn đạo trường phái tượng trưng, cho rằng nhà thơ không được quyền mô tả sự vật mà phải dẫn ý. Thi sĩ phải dụng tâm tạo những hình ảnh thơ thật mơ hồ, thực tế chói gắt phải trình bày trong bàu không khí huyền bí.


UserPostedImage



Chúng ta không thể nào phủ nhận được sự kiện văn chương Việt Nam giai đoạn 1932-1945 chịu ảnh hưởng nặng nề văn chương thế kỷ thứ 19 của Pháp, nhưng thơ văn Việt đã không có tính cách ngoại lai, vẫn mang bản sắc riêng chứa đựng hồn Việt. Tuy nhiên, vì tiếp thu quá nhanh trong khoảng thời gian quá ngắn nên trào lưu lãng mạn văn học Việt Nam thiếu bề sâu và dễ chuyển biến.

Trên bình diện tư tưởng, sáng tác trong thời gian đầu của trào lưu văn chương lãng mạn đã đáp ứng được khát vọng đương thời về nhu cầu giải phóng tư tưởng, giải phóng cá nhân. Tuy nhiên, vào cuối trào lưu một số tác gia đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan ca ngợi tình yêu xác thịt, đề cao khoái lạc, triết lý sức mạnh nông nổi, trụy lạc và trác táng, điển hình là tác phẩm Thanh Đức của Khái Hưng, Trường Đời, Tôi Thầu Khoán của Lê Văn Trương, Tàn Đèn Dầu Lạc của Nguyễn Tuân, Thơ Say, Mây của Vũ Hoàng Chương.

Với những thành tựu văn học to lớn của thời kỳ 1932-1945, Tự Lực Văn Đoàn và những người làm văn học nghệ thuật cùng thời đã tạo được trào lưu văn chương lãng mạn có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam. Việc thay đổi quan niệm phong kiến cũ, điển hình là mối quan hệ giữa cá nhân và đại gia đình, đã hẳn là một thành công về phương diện xã hội, nhưng đối với lịch sử văn học Việt Nam thì trào lưu văn chương lãng mạn đã có công đem lại sự thay đổi bộ mặt của các thể loại văn học, làm cho ngôn ngữ Việt gọn gàng, trong sáng và phong phú hơn.



TRẦN BÍCH SAN


Tài Liệu Tham Khảo:

- Jean Claude Tadié, Introduction à la Vie Littéraire du 19è Siècle, nxb Bordas, Paris, France 1984.
- Jennifer Bothamley, Dictionary of Theories, nxb Gale Research International, Ltd, United Kingdom, 1993.
- Hoài Thanh & Hoài Chân, Thi Nhân Viêt Nam, nxb Nguyễn Đức Phiên, Hànội, VN, 1943.
- Lê Văn Siêu, Văn Học Sử Thời Kháng Pháp 1858-1945, nxb Trí Đăng, Sàigòn, VN, 12/1974.
- Một số tác giả (Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức), Văn Học Việt Nam 1900-1945, nxb Giáo Dục, Hànội, VN, 05/1999.
- Nguyễn Q. Thắng, Từ Điển Tác Gia Việt Nam, nxb Văn Hóa, Hànội, VN, 09/1999.
- Phạm Thế Ngũ, Viêt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quyển 3, Văn Học Hiện Đại 1862-1945, nxb Anh Phương, Sàigòn, VN, 1965.
- Phan Cự Đệ, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX, nxb Giáo Dục, Hànội, VN, 11/2005.
- Phan Quang Định, Lịch Sử Văn Học Pháp, nxb Văn Hóa Thông Tin, Hànội, VN, 1997.
- Terry Eagleton, Literary Theory, Second Edition, nxb The University of Minnesota Press, Minneapolis, MN, USA, 1996.
- Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, nxb Tân Dân, Hànội, 1942, nxb Thăng Long tái bản, Sàigòn, VN, 1960.
- Xavier Darcos, Littérature Francaise, nxb Hachette, Paris, France, 1992.


CHÚ THÍCH

1. William Blake (1757-1827): sinh tại Luân Đôn, nhà thơ và họa sĩ sáng chói. Hai bài thơ nổi tiếng của Blake, The Lamb (Con Cừu) và The Tiger (Con Hổ), được ông gọi là “hai trạng thái đối nghịch của tâm hồn con người” (the two contrary states of the human soul). Tác phẩm: Songs of Innocence (1789), Songs of Experience (1794).
2. William Wordsworth (1770-1850): những bài thơ nổi tiếng: Tintern Abbey (trong thi tập Lyrical Ballads), Michael, Lucy, The Solitary Reaper, Resolution and Independence. Tác phẩm: Lyrical Ballads (1798, viết chung với Coleridge), The Prelude: Growth of a Poet’s Mind (viết giữa 1798 và 1805, in năm 1850), The Excursion (1814).
3. Samuel Taylor Coleridge (1772-1834): thi sĩ và nhà phê bình triết học của trào lưu văn chương lãng mạn Anh. Những bài phê bình văn học của ông hầu như ảnh hưởng đến tất cả các nhà phê bình sau này. Tác phẩm: Lyrical Ballads (1798, chung với William Wordsworth), Biographia Literaria (1817, phê bình văn học).
4. Lord Byron (1788-1824): tên thật George Gordon Byron, có cuộc sống đầy phiêu lưu mạo hiểm. Thơ Byron thú vị như cuộc đời giang hồ của tác giả, phản ảnh cuộc sống và niềm tin của ông. Tác phẩm: Hours of Idlenness (1807), Chide Harold’s Pilgrimage (1812), The Bride of Abydos (1813), The Corsair (1814), Manfred (1817), Cain (1821).
5. Percy Bysshe Shelly (1792-1822): thử nghiệm nhiều văn phong và đã ảnh hưởng lâu dài đến những nhà văn sau này, đặc biệt là với Robert Browning, Algernon Charles Swinburne, William Butler Yeats, George Bernard Shaw, và Thomas Hardy. Tác phẩm: Mont Blanc (1816), Ode to the West Wind (1819), Prometheus Unbound (trường thơ, 1818-1819), The Witch of Atlas (1920), Epipsychidion (1921) và Hellas (1921).
6. John Keats (1795-1821): với nhiều lối thi ca khác nhau, Keats sử dụng những hình ảnh chói sáng để diễn tả những cảm giác sâu đậm của ông. Tác phẩm: Poems (1817), Endymion (1818).
7. Lan Sơn (1912-1954): tên thật Nguyễn Đức Phong, sinh quán Hải Phòng, chánh quán phủ Anh Sơn, Nghệ An. Học trường Hải Phòng, Tourane và trường Bưởi Hà Nội. Công chức sở Công Chánh, Hải Phòng. Viết cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Tinh Hoa. Tác phẩm: Anh với Em (1934).
8. Lưu Trọng Lư (1911-1991): kiện tướng của phong trào thơ mới, quê làng Cao Lao Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, sau cư ngụ ở Huế và Hà Nội, thuộc gia đình Nho học. Học trường Quốc Học Huế sau bỏ dở học, cộng tác với các báo Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), Sông Hương (Huế), Phụ Nữ Thời Đàm, Tiến Hóa, Tân Thiếu Niên, Tao Đàn, Hà Nội Báo (Hà Nội). 1933 chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư ở Huế. Từ 1955 làm việc ở Bộ Văn Hóa Hà Nội, từng giữ chức Tổng Thư Ký Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu VN, Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn VN. Tác phẩm: Tiếng Thu (1939), Khói Lam Chiều (1941), Chiếc Cáng Xanh (1941), Tỏa Sáng Đôi Bờ (1959), Mùa Thu Lớn (1978), Nửa Đêm Sực Tỉnh (1989).
9. Thế Lữ (1907-1989): thành viên TLVĐ, cây bút cột trụ của Phong Hoá và Ngày Nay, tên thật Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại Thái Hà Ấp, Hà Nội, nguyên quán làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Học ở Hải Phòng, bỏ học năm thứ 3 trung học, lên Hà Nội dự thính trường Cao Đẳng Mỹ Thuật một năm. Từng giữ các chức vụ: Ủy Viên Thường Vụ Hội Văn Nghệ VN, Chủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu VN. Tác phẩm: Mấy Vần Thơ (1935), Vàng và Máu (1934), Ba Hồi Kinh Dị (1936), Bên Đường Thiên Lôi (1936), Đòn Hẹn (1939), Gói Thuốc Lá (1940), Gió Trăng Ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941), Mấy Vần Thơ, tập mới (1941), Dương Quí Phi (1942), Thoa (1942).
10. Tản Đà (1888-1939): tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, quê làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì ngoại thành Hà Nội), con Án Sát Nguyễn Danh Kế. Thi mãi không đỗ, hướng về làm báo, sáng tác văn chương. Chủ bút báo Hữu Thanh, chủ nhiệm An Nam Tạp Chí, viết cho Tiểu Thuyết Tuần San, Đông Pháp Thời Báo ở trong Nam. Tác phẩm: Khối Tình Con I & II (1916, 1918), Giấc Mộng Con I & II (1916, 1917), Thề Non Nước, Tản Đà Tùng Văn (1922), Trần Ai Tri Kỷ (1924), Tản Đà Xuân Sắc (1934),
11. Đông Hồ (1906-1969): tên thật Lâm Tấn Phác, quê làng Mĩ Đức, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), xuất thân là nhà giáo, sau bỏ dạy viết cho Nam Phong Tạp Chí, Phụ Nữ Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Việt Dân, Mai, Tri Tân, Bách Khoa, Tân Văn, Tin Văn, Văn Hóa Nguyệt San. 1950 lập nhà xuất bản Bốn Phương. 1953 chủ trương tạp chí Nhân Loại. Tác phẩm: Thơ Đông Hồ (1932), Lời Hoa (1934), Linh Phượng (1934), Cô Gái Xuân (1934), Bội Lan Hành (1969).
12. Song An (1896-1973): nhà văn lãng mạn tiên phong, tên thật Hoàng Ngọc Phách, quê làng Đức Phong, xã Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, viết văn và dạy học nhiều nơi. Nổi tiếng ngay sau tác phẩm Tố Tâm. 1945-1951 giám đốc học khu Bắc Ninh. 1947-1948 giám đốc giáo dục khu XII. 1951 giám đốc trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương. Từ 1952 làm tại Ban Tu Thư Bộ Giáo Dục. Tác phẩm: Tố Tâm (1925), Thời Thế với Văn Chương (1941), Đâu là Chân Lý (1941), Chuyện Trường Bưởi (1989).
13. Tương Phố (1898 – 1973: nhà thơ lãng mạn tiên phong, tên thật Đỗ Thị Đàm, quê làng Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, học trường Nữ Hộ Sinh sau bỏ học, thi vào học trường Sư Phạm Hà Nội. Vào làng văn từ 1927, nổi tiếng qua Giọt Lệ Thu đăng trên Nam Phong số 131 (07/1928). Tác phẩm: Giọt Lệ Thu (1929), Mưa Gió Sông Tương, Tình quê, Chia Phôi.
14. Nhất Linh (1905-1963): tên thật Nguyễn Tường Tam, gốc ở Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam, sinh ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 1926 học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội. Du học Pháp đỗ Cử Nhân Khoa Học (1930) và nghiên cứu thêm về báo chí, xuất bản. 1931 về nước dạy tư thục Thăng Long. 1932 chủ trương tuần báo Phong Hóa rồi thành lập TLVĐ. 1936 báo bị đình bản, ông ra tờ Ngày Nay. 1946 giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ liên hiệp, trưởng phái đoàn Hội Nghị Đà Lạt đàm phán với Pháp. 1958 chủ trương tập san Văn Hóa Ngày Nay.1963 uống thuốc độc tự vẫn để phản đối việc chính phủ Ngô Đình Diệm đem ông ra toà xét xử. Tác phẩm: Nho Phong (1926), Hai Chị Em (1927), Người Quay Tơ (1927), Đoạn Tuyệt (1936), Lạnh Lùng (1937), Hai Buổi Chiều Vàng (1937), Nắng Thu (1938), Đôi Bạn (1938), Bướm Trắng (1941), Xóm Cầu Mới (1960), Dòng Sông Thanh Thủy (1961), Mối Tình Chân (1961). Viết chung với Khái Hưng: Gánh Hàng Hoa (1934), Anh Phải Sống (1937).
15. Tự Lưc Văn Đoàn có 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, và Xuân Diệu (căn cứ trên dòng chữ Trong Tự Lực Văn Đoàn đề dưới tên tác giả của tác phẩm thì TLVĐ gồm 6 người, riêng Xuân Diệu thì được căn cứ trên bút tích của Nhất Linh).
16. Nguyễn Thái Học (1901-1930): đảng trưởng VNQDĐ, quê làng Phổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, học trường Cao Đẳng Sư Phạm và Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương. 1927 thành lập VNQDĐ. Khởi nghĩa ngày 20/02/1930, bị bắt cùng ngày tại làng Cổ Vịt, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương, bị Pháp xử tử hình cùng 12 đồng chí ngày 17/06/1930 ở Yên Bái.
17. 12 liệt sĩ VNQDĐ là Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Đào Văn Nhật, Nguyễn Văn Tiềm, Hà Văn Lao, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Văn A, Bùi Văn Cửu, Nguyễn Như Liên, Ngô Văn Du, và Đỗ Văn Tú.
18. Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng là những tác phẩm được dùng để gửi gấm tâm sự tác giả, có khuynh hướng yêu nước.
19. Khái Hưng (1896-1947): thành viên TLVĐ, cây bút nòng cốt của Phong Hóa, Ngày Nay, tên thật Trần Khánh Giư, quê làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Tác phẩm: Hồn Bướm Mơ Tiên (1933), Nửa Chừng Xuân (1934), Trống Mái (1936), Dọc Đường Gió Bụi (1936), Tiếng Suối Reo (1936), Tục Lụy (1937), Gia Đình (1938), Đợi Chờ (1939), Cái Ấm Đất (1940), Thoát Ly (1940), Hạnh (1940), Đẹp (1940), Những Ngày Vui (1941), Đồng Bệnh (1942), Đội Mũ Lệch (1942), Thanh Đức (1943), Cái Ve (1944). Viết chung với Nhất Linh: Anh Phải Sống (1934), Đời Mưa Gió (1934).
20. Huy Cận (1919- ?): tên thật Cù Huy Cận, quê làng An Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, học ở Huế, đậu Tú Tài Pháp, học trường Cao Đẳng Nông Lâm. Viết cho các báo Ngày Nay, Tràng An, Sông Hương. Tác phẩm: Lửa Thiêng (1940), Kinh Cầu Tự (1942).
21. Thạch Lam (1910-1942): thành viên TLVĐ, viết cho Phong Hoá, Ngày Nay, tên thật Nguyễn Tường Lân, em Nhất Linh, sinh tại Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đậu bằng Thành Chung năm 17 tuổi (1927). Tác phẩm: Gió Đầu Mùa (1937), Nắng Trong Vườn (1938), Ngày Mới (1939), Theo Giòng (1941), Hà Nội 36 Phố Phường (1942).
22. Xuân Diệu (1916-1985): thành viên TLVĐ, kiện tướng đưa phong trào thơ mới tới thành công, tên thật Ngô Xuân Diệu, sinh quán làng Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, công chức sở Thương Chánh. Đại Biểu Quốc Hội Khoá I (1946-1960), ủy viên trung ương Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật. Tác phẩm: Phấn Thông Vàng (1939), Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), Trường Ca (1945), Triều Lên (1958), Riêng Chung (1960), Hai Đợt Sóng (1967), Tôi Giàu Đôi Mắt (1970), Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi (1971), Hồn Tôi Đôi Cánh (1976), Thanh Ca (1982),
23. Thanh Tịnh (1911-1988): tên thật Trần Thanh Tịnh, quê làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc ngoại ô thành phố Huế), học trường Đông Ba, Pellerin Huế, đậu bằng Thành Chung, dạy các trường tư ở Huế. Cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tinh Hoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm. Sau 1954 chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội một thời gian. Tác phẩm: Hận Chiến Trường (1937), Quê Mẹ (1941), Chị và Em (1942), Ngậm Ngải Tìm Trầm (1943), Xuân và Sinh (1944), Những Giọt Mưa Biển (1956), Đi Giữa Một Mùa Sen (1973).
24. Vũ Đình Liên (1913-1996): nổi tiếng với bài thơ Ông Đồ, quê làng Châu Khê, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, học trường Hàng Vôi, trường Bưởi, Đại Học Luật Hà Nội, dạy trường Thăng Long, làm Tham Tá Thương Chánh ở Hà Nội. 1954 dạy Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Có thơ đăng trên các báo Phong Hóa, Thanh Nghị, Loa, Tinh Hoa, Phụ Nữ Thời Đàm.
25. Đoàn Phú Tứ (1910-1989): quê làng Tử Nê, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, đỗ bằng Tú Tài Pháp, cộng tác với các báo Đông Tây, Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Làm thơ và viết kịch. Trưởng nhóm thi phái Xuân Thu Nhã Tập.
26. Chế Lan Viên (1920-1989): tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh tại thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, học trường Quốc Học Qui Nhơn, đậu bằng Thành Chung, dạy học ở Thanh Hóa. Tác phẩm: Điêu Tàn (1937), Vàng Sao (1942), Gửi Các Anh (1954), Ánh Sáng và Phù Sa (1960), Vào Nghề (1962), Hoa Ngày Thường, Chim Báo Bão (1967), Hái Theo Mùa (1977), Hoa Trên Đá (1985).
27. Hàn Mặc Tử (1912-1940): mắc bệnh phong, sinh tại Lệ Mỹ (Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình, làm ở sở Đạc Điền, Qui Nhơn. 1935 xin nghỉ việc vào Sài Gòn giữ trang văn chương cho các báo Sài Gòn, Công Luận, Tân Thời, Trong Khuê Phòng. Tác phẩm: Gái Quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1957).
28. Phạm Huy Thông (1916-1988): quê làng Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương và Thạc Sĩ Sử Học ở Pháp. Làm thơ, viết kịch. Tác phẩm: Anh Nga (1934), Tần Ngọc (1937), Huyền Trân, Tiếng Địch Sông Ô (1945),
29. Bích Khê (1916-1946): tên thật Lê Quang Lương quê xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mở trường tư ở Phan Thiết. Có thơ đăng các báo Tiếng Dân, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Mới. Tác phẩm: Tinh Huyết (1939), Tinh Hoa, Mấy Dòng Thơ Cũ.
30. Nguyễn Tuân (1910-1097): quê xã Nhân Mục, huyện Từ Liêm, Hà Nội, nguyên quán Thanh Hóa, cộng tác với các báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn, Hà Nội Tân Văn, Trung Bắc Chủ Nhật, Thanh Nghị. Tác Phẩm: Ngọn Đèn Dầu Lạc (1939), Nhà Bác Nguyễn (1940), Vang Bóng Một Thời (1940), Một Chuyến Đi (1941), Tùy Bút (1941 & 1943), Tàn Đèn Dầu Lạc (1941), Chiếc Lư Đồng Mắt Cua (1941), Thiếu Quê Hương (1943), Quê Hương (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Chùa Đàn (1944), Nguyễn (1945), Thằng Càn (1953), Đường Vui (1949), Tình Chiến Dịch (1950), Tùy Bút Kháng Chiến (1955), Truyện Một Cái Thuyền Đất (1958), Sông Đà (1960), Chuyên Nghề (1976).
31. Vũ Hoàng Chương (1916-1976): quê ở Nam Định, học trường Albert Sarraut, bỏ dở trường Luật Hà Nội đi làm ở sở Hỏa Xa Bắc Kỳ. 1941 thôi việc đi dạy học tư. 1954 di cư vào Nam, sống ở Sài Gòn. Sau khi Miền Nam thất thủ năm 1975 bị bắt đi học tập cải tạo, chết trong trại tù của Việt Cộng. Tác phẩm: Thơ Say (1940), Mây (1943), Thơ Lửa (1947), Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Tâm Tình Người Đẹp (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Thi Tuyển (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Ánh Trăng Đạo (1966), Cành Mai Trắng Mộng (1968), Loạn Trung Bút (1970), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1971).
32. Ernest Fisher: chủ nghĩa lãng mạn thể hiện cái tôi (le moi) chống lại tất cả cái gì không phải là cái tôi (le non-moi).
33. Phan Cự Đệ, Trào Lưu Văn Học Lãng Mạn Chủ Nghĩa, (Văn học Việt Nam Thế Kỷ XX, trang 28.
34. Hoài Thanh và Hoài Chân, Một Thời Đại Trong Thi Ca (Thi Nhân Việt Nam, trang 29).
35. Victor Marie Hugo (1802-1885): tác phẩm: The Orientals (Đông Phương, thơ, 1929), Leaves of Autumn (Lá Thu, thơ, 1931), The Hunchback of Notre Dame (Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà, 1831, tiểu thuyết), The Contemplations (Trầm Tư, thơ, 1856), The Legend of the Centuries (Huyền Thoại Thế Kỷ, thơ, 1869) Les Misérables (Những Kẻ Khốn Cùng, 1862, tiểu thguyết).
36. Alphonse de Lamartine (1790-1869): tác phẩm: Poetic Meditations (1820), Jocelyn (1836), The Fall of an Angel (1838).
37. Francois-René de Chateaubriand (1768-1848): tác gia quan trọng trong trào lưu văn học lãng mạn Pháp. Tác phẩm: Atala (tiểu thuyết, 1801), The Spirit of Christianity (tiểu thuyết, 1802), Memoirs from Beyond the Grave (hồi ký, 1848).
38. Alfred de Musset (1810-1857): thi sĩ, nhà văn, kịch tác gia, người tình của nữ sĩ George Sand. Tác phẩm: Tales of Spain and Italy (thơ, 1829), Comédies et Proverbes (kịch, 1840).
39. Alfred de Vigny (1797-1863): kiện tướng của trào lưu văn học lãng mạn Pháp. Tác phẩm: Poèmes Antiques et Modernes (thơ, 1826), Cinq-Mars (tiểu thuyết, 1826), Chatterton (kịch, 1835), Military Service and Greatness (tập truyện, 1835), Les Destinées (thơ, 1864).
40. Phái Thi Sơn (Parnasse): Parnasse là tên một đỉnh núi ở Hy Lạp nơi ngự trị của thần Apollo, vị thần của cái đẹp, mang ý nghĩa không phải ai cũng đạt được cái đẹp, phải nỗ lực mới đạt được tới cái đẹp.
41. Théophile Gautier (1811-1872): thi sĩ, nhà văn, phê bình gia. Tác phẩm về thơ: Enames and Cameos (1852), Art (1857). Tiểu thuyết: Mademoiselle de Maupin (1835), The Novel of the Mummy (1858), Captain Fracasse (1863).
42. Arthur Rimbaud (1854-1891): bạn thân của Verlaine. Những bài thơ nổi tiếng của Rimbaud được sáng tác trong 5 năm xáo trộn tuổi trẻ từ 15 đến 20 tuổi. Le Bateau Ivre (Con Tàu Say, 1871), bài thơ đầu tiên khiến Rimbaud được chú ý tới, tượng trưng cho những khát vọng của con người về một thế giới mới. Nhìn chiếc tàu giả trong công viên, ông dùng sự tưởng tượng phong phú đưa con tàu căng buồm phiêu du qua những đại dương với cảnh sắc chói sáng. Tác phẩm: Les Illuminations (1886), Une Saison en Enfer (1873).
43. Paul Verlaine (1844-1896): bạn thân với Rimbaud. Những năm đầu thập niên 1870 Verlaine du lịch qua Anh, Hòa Lan, và Bỉ cùng với chàng thiếu niên Rimbaud, người bạn thơ của ông. Tình bạn của hai người chấm dứt năm 1874 khi Verlaine bắn Rimbaud bị thương trong một cuộc cãi nhau. Sau khi ở tù một thời gian ngắn, ông cho ra đời thi tập Sagesse (1881). Tác phẩm: Fêtes Galantes (1869), Art Poetique (1871-1873), Romances sans Paroles (1874).
44. Stéphane Mallarmé (1842-1898): thi sĩ, phê bình gia, nổi tiếng với tập thơ đầy mơ mộng L’Après Midi d’un Faune (1865). Bài thơ cuối cùng của ông: Un coup de dés jamais n’abolira le hasard (1897).




UserPostedImage
CỏThơm  
#2848 Posted : Thursday, February 18, 2021 7:38:08 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Ý xuân rời


Nghe rộn rã mùa Xuân em bỡ ngỡ
Khi anh hôn lên cánh bướm run run
Hồn phiêu lãng trở về từ xa cũ
Lại mịn màng trên êm ái mượt nhung

Em gói ghém trong đôi tay nắm chặt
Những tháng ngày nghiệt ngã vắng mùa Xuân
Đôi mắt sầu giữa hàng mi khép nép
Dấu âm thầm trong nhỏ bé giọt sương

Bờ vai nhỏ giờ chiêm bao mọc cánh
Em bay vào xứ mộng của trao dâng
Mái tóc xoã từ vùng đêm giá lạnh
Ngả u hoài trên góc cánh tay ôm

Anh ghé sát đôi môi bằng đất ẩm
Hôn nhị hoa nghe phấn ngọt ngào Xuân
Em đốt lửa từng ngón tay sưởi ấm
Nghe cơn say ngây ngất đẫm men nồng

Khẽ rùng mình cành khô thèm nẩy lộc
Bông cúc vàng còn đại đoá ái ân
Ôi mùa Xuân thuở Chiêm thành mất nước
Trần Khắc Chung gặp lại Trần Huyền Trân

Anh nâng chén môi hoa đào ướt mọng
Uống cho vơi từng mựïc rượu lưu vong
Đêm trừ tịch ngọn đèn khuya giao động
Khi âm ba thôi huyền hoặc gối chăn.


Hoàng Anh Tuấn




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2849 Posted : Thursday, March 4, 2021 12:29:59 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
.


Sao lại là Bolero?


UserPostedImage
Trúc Phương & Nhật Ngân


Hồi tôi còn đi học, khi tan trường về đôi khi có vài chàng lính đi theo sau lưng. Có một chàng trông cũng hiền lành, nho nhã, đóng quân ở Dục Mỹ. Chàng làm quen với em trai tôi. Mỗi lần xuống phố, chàng nhờ thằng em trao cho tôi một bản nhạc. Và cũng bởi những bản nhạc này mà chàng không còn cơ hội làm quen với tôi. Những bản nhạc chàng tặng nói cho tôi biết chàng mê nhạc Bolero! Và chàng không hề biết rằng cô học trò nhỏ rất không thích dòng nhạc này.

Cuộc đời của mỗi người đều có nhiều khúc quanh. Những năm đi học, tôi không quan tâm đến Lính, đến tâm trạng của những “Kẻ Ở Miền Xa”, của mấy người đàn ông:

“Quán nửa khuya đèn mờ theo hơi khói
Trút tâm tư vào đêm vắng canh dài.” (1).

Thời gian ấy, tôi say mê đọc Camus, Saint Ex, Yukio Mishima, Tagore, Gibran… Chữ nghĩa cuốn tôi vào một thế giới cách biệt, xa rời hiện tình của đất nước. Ngoài nhạc Pháp, Tôi chỉ thích nghe Thái Thanh, Lệ Thu mà hai ca sĩ này không hát nhạc Bolero.

Anh Lính ấy bây giờ ở đâu rồi? Có thể anh đã tử trận, có thể anh sống sót như một thương binh, có thể anh đã chết già ở một nơi xa xôi nào đó không phải là Việt Nam. Nhưng tôi biết từng có lúc, anh đã một mình đếm bước trên đường khuya và lẩm nhẩm hát:

“Thôi nhắc nhở để mà chi
Quay về xưa làm gì
Giờ hai lối mộng hai hướng đi
Niềm ưu tư tôi đếm
Từng bước trên phố nhỏ đau gót mềm.
Sao rụng nửa đường đêm.” (2)


Cuộc bể dâu 1975 như một trận động đất kinh hoàng đã đưa Miền Nam vào cảnh sụp đổ, tan hoang, chia lìa, nghi kỵ. Chúng tôi bị phá sản. Chúng tôi sống như người mộng du.

Tất cả người dân miền Nam như sống trong một nhà tù bao la. Những người tù ấy, mỗi năm được mua 4 m vải thô để may quần áo, mỗi ngày phải ăn cơm độn bo bo để ra đồng theo tiếng kẻng, muốn đi đâu phải có giấy phép.

Âm nhạc, sách báo trước 1975 đều bị cấm phổ biến. Chúng tôi chỉ được nghe nhạc, nghe tin tức từ chiếc loa phường. Đầu óc trống rỗng, chúng tôi đã già đi , biến thành những cây khô vô tri và không hề biết chuyện gì đã xảy ra bên ngoài nước Việt.

Một hôm có một xe bán kẹo kéo đậu ở góc phố. Xưa bán thuốc dạo phải “Sơn Đông Mãi Võ.” Nay bán kẹo kéo thì phải hát nhạc Bolero. Từ đó ngọn lửa Bolero bùng phát trở lại.

Thật ngạc nhiên khi người dân miền Bắc mấy mươi năm chìm đắm trong Chủ Nghĩa Cộng Sản lại vô cùng say mê những ca khúc viết theo điệu Bolero do các nhạc sĩ miền Nam sáng tác trước 1975!

Có phải tiếng lòng chân thật thì dễ ở lại với lòng người? Và có phải vì người ta đã quá chán ngán phải nghe những câu ca là những lời giả trá?

Khi Việt Nam bắt đầu thực hiện nền kinh tế gọi là Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, mọi người đều cảm thấy bất ổn với cái đuôi “Định Hướng”. Kinh tế thì chưa ra sao nhưng thị trường âm nhạc thật nhạy bén khi rầm rộ mang về sân khấu, màn hình những Chế Linh, Phương Dung, Giao Linh, Hương Lan, Trường Vũ… bất chấp họ đã trở thành ông nội, bà ngoại, bất chấp cả “Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Những cánh chim rời xa quê nhà hơn 30 năm đã quay về trên đôi cánh mỏi mệt. Nhưng không sao, khán giả vẫn nồng nhiệt chào đón họ, khao khát được nghe lại giọng ca gợi nhớ một thời dĩ vãng trong điệu Bolero pha phách giữa điệu nhạc bập bùng của Nam Mỹ với điệu xàng xê mang tính tự sự đặc trưng của miền sông nước.

Và tôi cũng bắt đầu cảm mến cuộc quay về ngoạn mục của dòng nhạc Bolero. Bolero đã chứng minh rằng nền văn hóa chơn chất có gì nói nấy của miền Nam không chết mà đang trổi dậy một cách âm thầm, lặng lẽ.

Tìm nghe qua internet những ca khúc của Trúc Phương, tôi tự trách mình trước đây đã bỏ qua giọng ca Thanh Thúy. Thật là một ca sĩ kỳ lạ khi bà có thể hát “Giọt Mưa Thu”, “Đêm Tàn Bến Ngự” một cách chững chạc khi còn rất trẻ rồi bước qua “Phố Buồn” theo điệu Tango nhịp nhàng thanh thoát và tiếng hát của bà cũng là con thuyền chở nổi những ca khúc Bolero trầm uất của Trúc Phương.

Không ai qua được Thái Thanh trong các ca khúc của Phạm Duy nhưng tôi tin rằng bà đã phải chịu thua và nhường “Ngày Em Hai Mươi Tuổi” cho Thanh Thúy.

Dòng nhạc Bolero đã cho tôi sống lại cuộc sống tội nghiệp của một lớp người trẻ hoang mang và cô đơn trong cuộc chiến mà tôi cho là phi lý.

“Nhiều đêm trong giấc mộng mồ hôi kêu tên em
Kêu chỉ một tên.” (3)


Tôi cũng nhớ đến chàng lính trẻ tặng nhạc Bolero cho tôi năm nào. Hồi đó, chàng khoảng bằng tuổi con trai út của tôi hiện giờ nhưng chàng đã phải sống qua một tuổi trẻ đầy gian truân nghiệt ngã:

“Mây mù che núi cao
Rừng sương che lối vào
Đồng ruộng mênh mông nước
Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù
Áo nhà binh thương lính, lính thương quê.



Gio Linh khói bom đạn về làm rừng cây thôi xanh lá.
Pleime gió mưa mùa.
Tây Ninh nắng nung người mà trận địa thì loang máu tươi.” (4)



Nếu chàng đã chết, xin thắp chàng nén hương lòng, nếu chàng còn sống, mong chàng cứ hãy vui cùng Bolero.



Huyền Chiêu

Tháng giêng 2017


(1) Quán Nửa Khuya – Tuấn Khanh – Hoài Linh
(2) Hai Lối Mộng – Trúc Phương
(3) Bông Cỏ May – Trúc Phương
(4) Trên Bốn Vùng Chiến Thuật – Trúc Phương


Nguồn: https://ongvove.wordpres...09/27/sao-lai-la-bolero/



UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2850 Posted : Friday, March 12, 2021 1:22:42 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 61
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)


UserPostedImage


Che Đời Mưa Bay


Hình như mưa đã vào mùa
Đường khuya im vắng rừng mờ hơi đêm
Buồn nghe mưa lại buồn thêm
Xe tương lai chở lãng quên vào đời

Nhớ nhau tròn một câu cười
Mùa Thu xưa vẫn nặng thời cổ sơ
Em về chết nửa giấc mơ
Một trang tâm sự bài thơ ân tình

Trăm sau ngàn trước mong manh
Lời ru thảo mộc túi hành trang theo
Đời như chiếc lá rụng vèo
Trót đa mang phải ít nhiều thương đau

Luyến lưu tự phút giây đầu
Chiều qua phố vắng nỗi sầu lên khuôn
Thương lên thác nhớ xuôi nguồn
Một vùng đêm lạnh nỗi buồn cố nhân



Anh Hoa

Pleiku, 1956



UserPostedImage
Hạ Vi  
#2851 Posted : Tuesday, March 23, 2021 11:59:44 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage

Cho một kiếp mơ được yêu nhau


Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.

Kiếp nào có yêu nhauĐừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập… mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.

Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách “Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh” do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:

“Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.


UserPostedImage
Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017)


Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.

Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979″…

Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà.

Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí… đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.

Theo quy định của Văn bút Quốc tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.

Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.

Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.

Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.

Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.

Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang vọng một thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân… bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con… ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.

Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”…

Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng ngôn từ của bà thì dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:

“Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh”


Hay

“Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ


Hoặc trong bài “Tình chúng mình sẽ được vẽ lên tranh” có đoạn:

“Anh còn sống là mình còn xa cách
Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau
Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách
Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau”


Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.



Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có: Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).


Tuấn Khanh
Nguồn: Blog Tuấn Khanh (RFA)




UserPostedImage
CỏThơm  
#2852 Posted : Monday, April 5, 2021 4:15:10 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


Nhà thờ xưa trên postcard

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


(from Manhhai's Flickr Acct)




UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2853 Posted : Friday, April 16, 2021 4:02:48 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 61
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)


UserPostedImage


Lục bát cho tình xưa


Bâng khuâng nhìn xuống đời mình
Nghe trong sâu lắng chút tình yêu xưa
Tôi còn giữ
một chiều mưa
Của mùa mưa cũ em vừa lãng quên

Chạnh lòng
rồi chạnh nhớ em
Đành mang một giọt mưa riêng cho người
Nghìn trùng
còn thương khôn nguôi
Em chia tay bỏ nụ cười lại đây

Câu thề bay như gió bay
Qua vườn tôi dụ dỗ bầy chim di
Lời hứa theo em ra đi
Về nơi đắm đuối xá gì phù vân

Tình buồn suốt cõi trăm năm
Một mai hoá đá ăn trầm như không
Thì thôi ừ em sang sông
Thì thôi biền biệt hoa hồng vỡ tan.



Vũ Xuân Chinh





UserPostedImage
Hạ Vi  
#2854 Posted : Friday, April 23, 2021 6:20:45 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


UserPostedImage


TẢN MẠN VỀ NỔI NHỚ TRONG CA DAO



Trong tình cảm riêng tư của mỗi người, còn gì đẹp hơn tình bạn, tình yêu? Tình yêu là một khúc ca, khó mà diễn tả hết từng giai điệu. Những cung bậc tình cảm, trạng thái tâm hồn của những người đang yêu được bộc lộ thật đa dạng, phong phú. Với ca dao tình yêu lứa đôi, điều này càng được thể hiện sinh động. Ở đây, ta chỉ dừng lại ở nỗi nhớ trong ca dao tình yêu ở một vài góc độ và sắc độ, qua chữ "Nhớ" vấn vương từng câu chữ.

Ca dao, dân ca Việt Nam có nhận định rằng: "Về mặt tả cảnh, tả tình thì không một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao". Bạn có thể tìm thấy ở đây những sắc nàu của nỗi nhớ đầy vơi, nỗi nhớ thâm trầm, nỗi nhớ mãnh liệt, mơ hồ hay khẳng định của những người đang chập chững bước vào yêu hoặc đang hạnh phúc, đang trăn trở trong mối tình đôi lứa. Đó là chữ Nhớ được thể hiện trực tiếp:


Mình ơi, có nhớ ta chăng
Ta như sao vược chờ trăng giữa trời


Đó là:


Ta về mình có nhớ chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười



Chữ Nhớ ở đây linh hoạt, gẫy gọn, lúc thì da diết một câu hỏi, lúc lại khẽ khàng dịu nhẹ trong câu kể để nhắc lại về những kỷ niệm mang dấu ấn không phai mờ. Nỗi Nhớ ấy được khẳng định thêm bởi phương pháp so sánh, phương pháp cụ thể hoá. Đó là nỗi nhớ của hai người cụ thể, trực tiếp, được thể hiện bởi một tấm lòng cởi mở, dạn dĩ. Nói cách khác, nỗi nhớ ấy đi theo đường thẳng, đi từ trái tim đến trái tim không chút ngại ngùng. Lại có những câu ca dao tràn đầy nỗi Nhớ, nhưng sao e ấp quá chừng:

Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này?


Ở đây, không còn là cặp từ "ta, mình" tương quan nữa, chỉ xuất hiện một nhân vật "Người dưng" đứng lẻ loi trong nỗi nhớ đơn phương da diết. Âm hưởng toàn bài ca dao là một nỗi man mác, u hoài, thấm đẫm từng câu chữ. Những từ "sao", "thế này" khi đặt trong bối cảnh của bài ca dao đã bổ sung cho nhau, tinh nghịch thể hiện một nỗi nhớ bất chợt và bướng bỉnh in mãi vào trong dạ như một định mệnh, như một quy luật tự nhiên không thể nào cưỡng được. Và như thế, bài ca dao mang đầy đủ nét ngơ ngác đáng yêu của một tâm hồn đang chớm nở những tình cảm mới lạ: Một nỗi nhớ không tên và mãi không quên - Không thể quên. Nỗi nhớ ấy đơn phương, cũng như những nỗi nhớ đơn phương thế này:

Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai


Tuy vậy, nỗi nhớ trong tình cảm đơn phương này đang chuyển sang cung bậc khác: Tình cảm nhớ nhung bộc lộ rõ hơn, cụ thể hơn. Tình cảm dường như đã chín, sâu nặng với "hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa", qua dáng vẻ "ra ngẩn vào ngơ" và được cụ thể hoá bằng chính động từ, điệp từ "Nhớ" trập trùng lan toả. Cô gái trong bài ca dao vẫn còn nguyên vẹn cái nét thẹn thùng khi nói "Nhớ ai" chứ không chỉ ra một con người cụ thể; nhưng tình cảm của cô thì đã có thể gọi tên và hình ảnh "ai" kia quả đã khắc sâu trong từng hơi thở!


Nỗi nhớ trong ca dao tình yêu thường là nỗi nhớ khi chia xa, nỗi nhớ không tên sau một lần gặp gỡ, nỗi nhớ mang đầy nỗi lòng day dứt... Và ta thường bắt gặp nỗi nhớ ấy ở tâm sự của những người con gái, những thiếu phụ... Nhưng cái chung nhất làm nên nỗi nhớ ấy là một tình yêu, một sự đồng cảm, là sự rung động con tim. Xúc động làm sao trước nỗi nhớ của người vợ xa chồng :

Anh đi đằng ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ai?


Nỗi nhớ này phản ánh rất chân thực tình cảm của người thiếu phụ thời xưa. Đó là nỗi nhớ vò võ, sâu nặng, mang cả nỗi buồn đơn côi, kéo dài và ray rứt đến vô cùng. Có cái gì đó trầm uẩn trong hơi thở. Nó làm cho câu hỏi cuối câu càng đầy thêm sắc thái biểu cảm. Người thiếu phụ như đang hoà tan trong nỗi niềm của chính mình, đối diện với lòng mình:

Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ai?


Cũng có khi, nỗi nhớ đọc lên nghe sao rối bời, cuống quít:

Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than


Đây hẳn là nỗi nhớ người yêu của một chàng trai; bởi nó không thể hiện qua "hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa", bằng hình ảnh "ôm bóng trăng tà năm canh"... Nỗi nhớ - vâng- vẫn là nỗi nhớ trong tình yêu nhưng sao có cái gì đó vừa mạnh mẽ, vừa nóng nảy: "Như đứng đống lửa, như ngồi đống than". Cách so sánh ở đây dùng thật đắt; những tiếng bằng, trắc làm nổi lên như một cung đàn mang giai điệu trẻ trung, mạnh bạo và khoẻ khoắn. Diễn tả nỗi nhớ nhung qua hình ảnh "Như đứng đống lửa, như ngồi đống than" là cách thể hiện thật thông minh, khéo léo và cũng rất nam tính.

Nỗi nhớ tình yêu quả là khó nói, khó diễn tả nhưng đã được thể hiện thật tinh vi, tinh vi đến mẫn tiệp. Ở những góc độ và sắc độ tình cảm khác nhau, ta bắt gặp vô vàn nỗi nhớ, vô vàn cách thể hiện:

Nhớ ai cơm chẳng muốn ăn
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm


Hoặc:


Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi


Có thể nói, nỗi nhớ được so sánh với bao hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống, gắn bó và đi vào lòng người. Đó cũng là tiền đề và cũng là sự thành công tất yếu trong ca dao tình yêu.

Nói đến nỗi Nhớ, ta không thể nào không nhắc đến vẻ đẹp của hai câu ca dao:

Thuyền ơi có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền



Bản thân cặp hình ảnh "Thuyền - Bến" đã mang nặng sức biểu cảm của sự gắn bó, thuỷ chung. Câu hỏi cất lên: "Thuyền ơi..." là một dấu hỏi trĩu nặng của lòng người ở lại - Hỏi để mà cho vơi băn khoăn day dứt, hỏi để mà âu yếm, yêu thương và hỏi để mà làm đòn bẩy cho lời hứa, lời phơi bày cõi lòng mình: "Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền".

Từ láy "Khăng khăng" ở đây dùng thật đắt. Nó làm câu ca dao mang sắc thái khẳng định một cách tuyệt đối. Vì thế, cặp hình ảnh "thuyền" và "bến" không gợi lên sự chia xa mà ấm áp sự trọn vẹn trong nhau bởi lòng thuỷ chung son sắc. Tôi cho rằng chính chữ Nhớ ấy là hình thức, là dáng vẻ, là thần thái, là âm vang của bài ca dao trên.

Sở dĩ bài ca dao thành công khi nói về lòng chung thuỷ là bởi thấm đẫm bao điều sâu sắc, ý vị của một cuộc tình trong chữ Nhớ. Thể Tỉ được dùng ở đây cũng góp phần làm nên vẻ đẹp của bài ca dao - Lạ thay, đó lại là bài ca dao man mác nỗi buồn trước sự chia ly: Con thuyền rời bến, mang theo mãi lời nhắn nhủ chung tình "bến thì một dạ...".

Làm sao có thể nói hết được những nỗi lòng của những người đang yêu truyền qua chữ Nhớ và nỗi Nhớ? Chỉ với vài bài ca dao tình yêu mang sắc màu chữ Nhớ, ta cảm nhận được vẻ đa dạng, phong phú và cuốn hút của cuộc sống tinh thần: Tình yêu. Nỗi-nhớ-tình-yêu: đó là một âm thanh trong trẻo của bài ca hạnh phúc. Chúng ta đang sống trong cuộc sống hiện đại, song với tình yêu vẫn có thể soi rọi lòng mình trước những bài ca dao dân tộc, nghe tiếng lòng, tiếng con tim mình đồng điệu với tiền nhân.



Sưu tầm




UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2855 Posted : Monday, May 10, 2021 12:04:55 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 61
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)


UserPostedImage



t h i .k h ú c .t r i .â m



những vần thơ gọi ngày xưa
huyền trang cổ tích xanh mùa yên nhiên
môi đêm góp một nụ hiền
nợ trăng nghìn lẻ một duyên rất tình

vắng thuyền con nước chông chênh
vắng mây gió lạnh dập dềnh sóng chao
vắng mùa xuân, chẳng mai đào
vắng thơ hòa quyện, hanh hao suối nguồn

thơ về lớp lớp xanh muôn
trời trong nắng hạ ru hồn bâng khuâng
thơ về lãng đãng phù vân
thu giăng phố núi sương gần nắng xa

những vần thơ gọi ngày qua
hồng lên ánh nắng thiết tha mấy chiều
liễu tình buông sợi tóc yêu
mùa nguyệt thực nhớ đèn khêu ngọn hồng

thơ mưa qua bến mùa đông
ngực tri âm ủ giấc nồng đón xuân
thơ duyên mở lối thanh tân
điệu luân vũ, khúc tri âm gọi tình!


h o à n g v ũ l u â n




UserPostedImage
CỏThơm  
#2856 Posted : Monday, May 24, 2021 5:46:01 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 192
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Thơ ơi


Tôi muốn ném câu thơ như tiếng sỏi
Rơi lòng sông chẳng vọng chút âm khan
Giữa ngã ba, thực mơ nào vẫy gọi
Mà đời ơi!
Dửng dưng sao được với trăng ngàn?

Chân cứ bước mà lòng ta như lửa
Gói hồn mơ cất tạm bên kia chiều
Sông vẫn chảy bên nhánh đời chia nửa
Câu thơ buồn ngoái nhìn phận hẩm hiu
.



Mộc Miên Thảo




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2857 Posted : Sunday, June 6, 2021 12:07:58 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,583
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage


Câu chuyện TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
và những điều chưa nói



Mục đích bài biên khảo này là tìm hiểu việc xây dựng báo Phong Hoá Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn trong suốt thập niên 1930, đưa đến việc hiện đại hoá nghề báo và thúc đấy nguyên một cuộc cách mạng văn chương, văn hoá Việt Nam. Đồng thời khám phá sự thực về đời sống của thành viên Tự Lực Văn Đoàn, cái phần lâu nay vẫn bị hiểu lầm.

Cuối thập niên 1920, Nguyễn Tường Tam đi Pháp du học ba năm, đỗ cử nhân giáo khoa Vật Lý, đồng thời tìm học thêm nghề báo, xuất bản, in ấn, và tham khảo văn chương các nước. Đối với ông văn bằng cử nhân chỉ dùng để dạy học kiếm sống khi cần, và là cái cớ để xin chính phủ thuộc địa cho đi du học, phần học thêm mới thật quan trọng. Ông hiểu sâu sắc rằng chỉ có báo chí và văn học mới giúp dân trí chóng tiến hoá, nên trước đó đã bỏ nửa chừng việc học Y khoa và Mỹ thuật. Chẳng khác người anh cả của làng báo Việt Nam Nguyễn văn Vĩnh, từ đầu thập niên 1920 đã mang hết cuộc đời đi mở mang báo chí và dịch tài liệu từ nhiều thứ tiếng sang tiếng Việt, để giúp dân nâng cao kiến thức, hiểu biết thế giới bên ngoài. Ông Vĩnh từng nói: "Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ ".

Về nước, ông Tam đi dậy trường tư thục Thăng Long của Phạm Hữu Ninh, chờ thời. Sau khi xin ra báo không xong, gập lúc báo Phong Hóa của ông Ninh sắp đình bản vì ế ẩm, không người đọc. Ông Tam xin mua tờ Phong Hoá, nghĩa là mua cái tên báo, cái giấy phép ra báo, rồi thay đổi toàn bộ ban biên tập: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam làm chủ bút, với hai người bạn: Khái Hưng Trần Khánh Giư, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, cùng hai em: Tứ Ly Nguyễn Tường Long và Việt Sinh Nguyễn Tường Lân.

Ngày 22/09/1932 báo Phong Hóa số 14 của nhóm Nguyễn Tường Tam ra đời, là tờ báo trào phúng đầu tiên của Việt Nam. Mục đích là:
Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết:
Xã hội, chính trị, kinh tế- nói rõ về hiện tình trong nước...
Nhờ tính thời sự và giọng trào lộng châm biếm với tư tưởng phóng khoáng về văn học, nghệ thuật, tờ báo lập tức nổi tiếng.
Đó chính là khởi đầu tinh thần dân chủ mở rộng và bình đẳng trong tư tưởng, văn chương, báo chí của cuộc cách mạng chữ nghĩa Việt Nam thế kỷ 20, mà chúng ta còn được hưởng tới ngày nay.

Nhất Linh hiểu rõ là dân chúng chán ngấy văn chương, báo chí cổ, chỉ đều đều một giọng mô phạm dậy đời, họ chờ đợi một tờ báo có tinh thần mới, phù hợp với nhu cầu muốn biết, muốn hiểu, muốn tiến về đời sống đang thay đổi mạnh mẽ. Cho nên Phong Hoá làm một cuộc lột xác báo chí: báo ngày càng gần gụi đời thường, qua những bài bình luận về thời sự, kinh tế, xã hội, chính trị mới mẻ sắc sảo, và những bài phóng sự diễu cợt rất được chờ đón.
Với dòng văn học nhẹ nhàng dễ đọc, dẫn đầu bởi Khái Hưng và Nhất Linh, Phong Hoá thay đổi sâu xa chữ nghĩa, câu văn Việt Nam với những tiểu thuyết ngắn, dài, kịch, thơ mới.... Tất cả được lồng trong hình thức mỹ thuật hay, lạ, dí dỏm, có duyên, với những truyện vui, văn vui, những bức tranh khôi hài. Một loạt nhân vật hoạt kê trào phúng được sáng tạo: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh... Lúc đầu chỉ có Đông Sơn (Nhất Linh) và Tứ Ly vẽ minh hoạ, về sau là do những hoạ sĩ hàng đầu, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương phụ trách.

Với tinh thần rộng mở vui vẻ, tinh nghịch tạo không khí trẻ trung yêu đời, Phong Hoá Ngày Nay dần trở thành món ăn tinh thần mới, không thể thiếu của dân chúng khắp nơi. Số báo phát hành tăng vọt, vượt trên 5000, rồi trên 10 000, những con số chưa từng có trong lịch sử báo chí.

Hai nhân tố làm cho Phong Hoá Ngày Nay nổi bật lên chính là : Sức trẻ tiên phong về văn học nghệ thuật và tinh thần chiến đấu trên mặt trận văn hoá kiêm chính trị. Ta thấy ở đây cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận đầy tinh thần đổi mới vì sự tồn vong và tiến bộ của dân tộc, đầy khí huyết của lớp nhà văn khao khát kéo đất nước đến với trào lưu chung của thế giới. Tóm lại, Phong Hoá Ngày Nay là cái mới, hứa hẹn điều tốt đẹp cho Việt Nam, vì vậy đã lôi cuốn hấp dẫn được trí thức và tầng lớp trung lưu đến thế.

Không lâu sau, Nguyễn Thế Lữ, một cây viết trẻ, đã có ít nhiều thành tựu về thơ văn, về hợp tác với Phong Hoá. Ngay khi thấy nhân sự đã đầy đủ, báo đã vững vàng, Nhất Linh đề nghị thành lập Tự Lực Văn Đoàn, một loại "hạt nhân", để giúp đỡ che chở nhau cùng tiến lên, tự lập, không dựa vào ai khác "Nguyên tắc là làm ăn dựa trên sức mình, theo tinh thần anh em một nhà, tổ chức không quá mười người nên không phải xin phép nhà nước, không cần có văn bản điều lệ: lấy lòng tin nhau làm cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ, mục đích , tôn chỉ, anh em tự giác tuân theo". (theo Tú Mỡ (1)), (Lúc đó Pháp trợ cấp cho Nam Phong của Phạm Quỳng 600fr mỗi tháng, Trung Bắc Tân Văn 500fr mỗi tháng, trong khi một lạng vàng giá 30fr).

Tự Lực Văn Đoàn thành lập vào trung tuần tháng 7/1933, gồm toàn bộ nhân viên toà soạn Phong Hoá : Nhất Linh, Khái Hưng, Tứ Ly (Hoàng Đạo), Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ. Trên Phong Hoá số 56 vào ngày 22 tháng 7-1933, nhóm chữ-Tự Lực Văn Đoàn đã xuất hiện lần đầu tiên trong hai khung quảng cáo sách Hồn Bướm Mơ Tiên, và Vàng và Máu :
Vì " Không cần có văn bản điều lệ : lấy lòng tin nhau làm cốt", cho nên lúc đầu Văn Đoàn không công bố tôn chỉ. Nửa năm sau, mới đưa ra trên báo Phong Hoá số #87 ngày 2/3/1934. Điều này không do ý muốn của văn đoàn mà vì bị bên ngoài hỏi thăm nhiều quá. Đó là:
1- Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi : mục đích để làm giầu thêm văn sản trong nước.
2- Soạn hay dịch những cuốn sách có giá trị xã hội, chủ ý làm cho Người, cho Xã hội ngày một hay hơn lên.
3- Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân, và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
4- Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách Annam.
5- Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời. có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6- Ca tụng những nết hay, vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả, quý phái.
7- Trọng tự do cá nhân.
8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9- Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam.
10- Theo một điều trong chín điều này cũng được, miễn là đừng trái ngược với những diều khác.

Hiện nay, căn cứ trên Di Cảo " Đời Làm báo " của Nhất Linh, được gia đình ông cho công bố, chúng tôi xác định :
Thành viênTự Lực Văn Đoàn: Ngoài sáu vị đầu tiên, không ai bàn cãi. Trên Di Cảo chỉ một mình Xuân Diệu có thêm hàng chữ "Có chân trong Tự Lực Văn Đoàn". Vậy, thi sĩ Xuân Diệu là thành viên thứ bẩy.

Những trường hợp dư luận có nghi vấn:
* Đỗ Đức Thu: Nhất Linh đã chính thức gửi thư mời, nhưng ông từ chối, vì không muốn bị ràng buộc vào tôn chỉ của bất cứ văn đoàn nào.
* Họa sĩ Nguyễn Gia Trí cũng như các hoạ sĩ khác, đều không thuộc Văn Đoàn vì không phải là nhà văn, tuy các ông làm việc sát cánh trong toà soạn Phong Hoá Ngày Nay nhiều năm.
* Cuối thập niên 1950 tại Saigon, ba nhà văn Duy Lam, Tường Hùng và Nguyễn thị Vinh, được Nhất Linh lựa chọn dự bị cho nhập văn đoàn, nhưng việc không thành.
Các nhà văn của Tự Lực Văn Đoàn cùng nhau làm việc rất hăng hái suốt gần một thập kỷ, trong tinh thần anh em bình đẳng, không ai làm chủ, mỗi người bắt buộc làm chủ bút trong 6 tháng, khiến Tự Lực trở thành một văn đoàn kiểu mẫu chưa ai so sánh được (chỉ Tú Mỡ và Xuân Diệu không làm việc toà soạn) . Nhờ con mắt tinh đời của Nhất Linh, các thành viên được mời đều là những tài năng độc đáo xuất sắc hiếm có. Và nhờ tinh thần dân chủ, đậm chất thân ái kính trọng nhau, đã tạo nên một tình thân bền chặt khiến mỗi thành viên đều hăng hái làm việc hết mình, tài năng ngày càng nẩy nở.
Sự nghiệp văn chương lừng lẫy của họ đã được nhiều nhà phê bình công nhận. Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam được ca tụng là những nhà văn hàng đầu, mở đầu cách viết văn mới, tiểu thuyết mới. Thế Lữ, Xuân Diệu là những thi sĩ sáng chói, tiên phong, xây dựng phong trào thơ mới. Trong khi lối viết trào phúng hoá chính trị; hài hước đen tố cáo thực tế khốn cùng của dân nghèo, cùng những lời thúc dục tuổi trẻ tiến lên theo mới, thay đổi xã hội của Hoàng Đạo, đã làm rung động bao trái tim thanh niên thuở đó.

Báo Phong Hoá và Ngày Nay được dân chúng hoan nghênh, tinh thần yêu tiếng Việt, yêu dân tộc được xây đắp, ẩn tàng lòng yêu giống nòi, yêu đất nước. Để tiến tới mục đích nâng cao dân trí, xây dựng tinh thần cho dân chúng, và mong mỏi người Việt trí thức nhìn ra tương lai của dân tộc mình, cũng như sửa soạn cho ngày đất nước thoát khỏi ách nô lệ; trong những năm về sau, nhất là từ khi Mặt trận bình dân lên nắm chính quyền ở Pháp, Phong Hoá đưa ra nhiều loạt bài như Công dân giáo dục, Trước vành móng ngựa, Thuộc địa ký ước,... cũng như viết những lá thư gửi những người Pháp có tinh thần rộng rãi, công bình, hiểu những bất công dân thuộc địa phải gámh chịu.

Những ngón đòn kiểm duyệt của Pháp :

Lẽ dĩ nhiên, thực dân muốn điều ngược lại vì quyền lợi của họ, nên luôn luôn rình rập sơ hở để đóng cửa báo. Vì vậy, muốn sống sót để tiếp tục nghĩa vụ của mình, thì phải che dấu hết sức khéo léo. Ngoài những bài viết bị Kiểm Duyệt xoá trắng tràn đầy trên báo, Tự Lực Văn Đoàn đã từng nếm trải những điêu đứng như sau:

1) Phong Hoá bị phạt đình bản 3 tháng, từ ngày 24/5/1935. Hồ sơ Mật vụ ở Aix en Provence, nơi tàng chữ những tài liệu thời thuộc địa của Pháp, cho thấy: Báo Phong Hoá bị phạt 3 tháng vì giễu nhại các quan lại Nam Triều.
2) Sau tờ báo số 190 ngày 5/6/1936, Phong Hoá bị đóng cửa, rút giấy phép vĩnh viễn, không lý do. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân cuối cùng đưa đến hình phạt tối hậu này là do bức tranh " Tam anh chiến nhất bố" trong số báo này.
Sau bao năm tháng chơi mèo rình chuột, thực dân Pháp cho rằng Phong Hoá đã dám hé tới điều cấm kỵ: Trong bức tranh này, Lý Toét, biểu hiệu dân tộc Việt, đang bị ba con chó tấn công xâu xé, mà con dân không hiểu, đứng reo hò bên cạnh! Những con chó đó là kẻ thù của dân Việt, là "mẫu quốc" chứ ai! Báo đã ra lọt, độc giả dân chúng thời đó, cũng như hậu thế chúng ta sau này, đã được coi tranh. Nhưng Phong Hoá không thoát khỏi sự trả thù của Tây, đã bị loại hẳn trò chơi, đóng cửa hẳn.
(Bức tranh không có chữ ký, có nghĩa là hoạ sĩ vẽ theo ý kiến của cả toà soạn. Ngoài ẩn ý chính trị chửi Tây, tiêu đề "Tam anh chiến nhất Bố" còn là một ý tưởng đùa giỡn trong văn chương tuyệt hay. Tam anh chiến Lã Bố là tên trận dũng chiến của đại tướng Lã Bố chống lại ba anh hùng Lưu Quan Trương trong sử Tầu thời Tam Quốc. Chỉ cần "nói trẹo" đi một chữ "Lã" thành "Nhất", thì các anh hùng trong sử Tầu hoá thành Lý Toét đánh nhau với 3 con chó ngay!).
Nhất Linh đoán biết sẽ có ngày Phong Hoá bị giết chết. Nên đã phòng hờ. Ông nhờ anh ruột là Nguyễn Tường Cẩm, một công chức, xin ra báo Ngày Nay từ 31/1/1935. Ban đầu, báo Ngày Nay rất hiền lành, chuyên về văn hoá, thử nghiệm ảnh mỹ thuật và phóng sự thực tế. Tuy lỗ vốn, báo vẫn được giữ cho sống lai dai tới khi Phong Hoá mất. Lập tức, toàn lực Tự Lực Văn Đoàn và cộng sự viên quay sang làm việc cho Ngày Nay, làm Ngày Nay trở thành một Phong Hoá thứ hai, lừng lẫy, hiện đại hơn nữa.
3/ Ngày 7/1/1939 Nguyễn Gia Trí vẽ tranh bìa Lý
Toét biếu gà cho quan tây trên bìa báo Ngày Nay số #144, cho hợp với biểu hiệu " con gà sống (trống)" của Pháp, (cocorico), mà hoạ sĩ xuýt bị kiện tù, chủ báo Nhất Linh bị khiển trách. Lý do: Nói cạnh quan tây thích gái (tiếng Pháp: gà mái= "poule").
4/ Ngày Nay bị đình bản một tháng, sau tờ Ngày Nay số #206, ngày 6/4/1940. Lần này do một bức tranh chửi thực dân của Nguyễn Gia Trí đăng trong phụ bản.(Hiện nay, chúng tôi không có tài liệu này).
5/ Cuối cùng, sau số 224 ngày 7/ 9/1940, Ngày Nay bị rút giấy phép, đóng cửa vĩnh viễn, không lý do.
Thế mà thời nay có những nhà phê bình viết rằng Tự Lực Văn Đoàn không biết ai là kẻ thù của dân tộc, không biết đả kích Tây, quả thật là quá ngây thơ.

Nhất Linh, thủ lĩnh văn đoàn Tự Lực,

Nhất Linh là một văn hào viết văn đầy hứng thú, đầy tài năng. Gập đúng lúc văn chương Việt Nam manh nha từ đầu thế kỷ 20, đang bắt đầu hiện đại hoá, cái nhìn rộng lớn của ông đã giúp văn học Việt Nam chuyển hoá từ cổ điển tới hiện đại vô cùng nhanh chóng. Không có một tác giả nào có tác phẩm đi qua đủ các thể loại tiểu thuyết đầy đủ bằng Nhất Linh: Từ phong thái cổ kính của những năm 1932 và trước đó, như Nho Phong, Người Quay Tơ, tới tiểu thuyết luận đề xã hội cũ mới với Giấc Mộng Từ Lâm, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, qua Nắng Thu lãng mạn ly kỳ rất được lòng độc giả, chuyển tới tâm lý xã hội với Bướm Trắng, Đời Mưa Gió (viết chung với Khái Hưng), rồi tiểu thuyết không cốt truyện Đôi Bạn, ... và sau cùng là hiện đại với Bèo Giạt, Xóm Cầu Mới. Đúng là chính Nhất Linh đã đi đầu, sau đó là cả Văn học Việt Nam tiến tới, xông pha vào những bộ môn mới của văn chương cùng thế giới.
Thêm nữa, giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn đã kích thích hoạt động văn hoá trong nước, tạo thêm người viết, văn sản trong nước và có su hướng khuyến khích người viết đi vào các bộ môn chưa được biết đến. Thế Lữ từng nói: "AnhTam dậy tôi nhiều điều. Giấc mơ của anh lớn quá..."

Nhất Linh, người điều hành Phong Hoá Ngày Nay,

Nhất Linh điều khiển báo Phong Hoá, Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay đặc biệt xuất sắc, có phương pháp, có nghề, làm các báo đối thủ không sao chèn chân được. Ông có con mắt tinh đời, nhận xét rất xác đáng tài năng, sở trường của từng tác giả, tìm được nhân tài, cũng như giao phó trách nhiệm rất đúng người, đúng việc. Điều này giúp các cộng sự viên tin tưởng theo đuổi sự nghiệp của mình đến cùng. Nhất Linh thường không ép buộc mọi người phải theo ý kiến của mình, chỉ khuyến khích. Theo nhiều người kể lại mỗi khi ông có một ý tưởng, một dự án nào đó, thường tìm đến người thích hợp nhất, cùng bàn luận suy nghĩ làm chung, khi việc chạy tốt, ông giao hẳn cho người công sự, còn ông đi sang một dự án khác. Như nhiều truyện ngắn, truyện dài lúc đầu có hai tên tác giả, nhưng sau chỉ còn một. Tuy nhiên, có khi ngược lại: Hình tượng Lý Toét, lúc đầu do Đông Sơn " đẻ " ra, sau có vô số người vẽ tiếp!
Nhất Linh có rất nhiều ý tưởng mới với những quyết định đặc biệt. Ngoài ý kiến tuyệt vời là mua lại báo Phong Hoá cũ, và ra thêm tờ báo Ngày Nay phòng hờ, ta có thể kể một vài:

1* Thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Đó là việc ông hài lòng nhất trong suốt cuộc đời văn chương của mình.
2* Khuyên Khái Hưng đổi loại viết từ nghị luận sang tiểu thuyết. Kết quả: Cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên là cuốn thử tay của Khái Hưng, cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn đoàn Tự Lực, đã được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt. Còn chúng ta được một văn hào thay đổi cả cách viết văn, viết truyện Việt Nam.
3* Đề nghị Tú Mỡ chỉ nên tập trung viết thơ trào phúng trong Mục Dòng Nước Ngược. Nhờ đó Tú Mỡ phản ứng rất nhạy bén dí dỏm trước mọi diễn biến thời sự. Được nhiều thế hệ yêu thích, Tú Mỡ nổi tiếng một thời, như một Tú Xương đời mới, lại có dọng Hồ Xuân Hương!
4* Sáng tác ra hình tượng Lý Toét, tượng trưng cho quốc hồn quốc tuý Việt nam, một nhân vật hý lộng đi vào văn học sử. Đông Sơn, Nhất Linh vẽ tranh Lý Toét trước hết để vui cười, sau để diễu nhại những thói hư tật xấu, hủ lậu, mê tín, tham lam ích kỷ... của dân ta, để sửa mình. Nhưng quan trọng hơn hết là làm dụng cụ thay thế người dân để phê bình các quan tham, thúc dục họ làm việc đắc lực cho dân cho nước, sửa soạn lòng dân cho việc tranh đấu đòi độc lâp sau này. Hay hơn nữa, Nhất Linh không giữ tác quyền Lý Toét riêng mình, mà rủ tất cả các hoạ sĩ trong và ngoài toà soạn cùng vẽ. Ông tạo ra những cuộc thi vẽ tranh Lý Toét để có thêm hứng thú, thêm ý tưởng, thêm bạn và mở rộng ảnh hưởng của Lý Toét.
5* Thành lập An Nam xuất bản, Cục Xuất Bản ( Société anamite d'Edition) (1933). Đến 1934 đổi tên là Đời Nay. Xin độc giả lưu ý, các Nhà Xuất Bản thường không có nhà in, họ chỉ đưa tác phẩm cho các nhà-in-ngoài như Lê văn Tân, Tân Dân, Thuỵ Ký... in thành sách, rồi mang về bán (bây giờ vẫn vậy). Vì vậy tiền lời chui vào túi các đầu nậu giấy, chủ nhà in, các ông tư bản, gần hết. Anh em Nhất Linh hiểu chuyện đó, nên nhất định để dành vốn đầu tư mua nhà in. Việc mua nhà in còn xa, chúng tôi sẽ nói tới sau.

Thoạt đầu An Nam xuất bản các tác phẩm của các thành viên Tự Lực. Theo cách in tại các nhà in ngoài rồi mang về bán (ngay các báo Phong Hoá Ngaỳ Nay cũng vậy). Sau đó xuất bản cả sách của các bạn văn ngoài văn đoàn, như Vũ Trọng Phụng, Hoạ Sĩ Cát Tường, HS Trần Bình Lộc, Vũ Hoàng Chương... Từ đó ra sách và bán sách ngày mỗi nhiều, tới 5 vạn bản một năm, mỗi cuốn sách in khoảng 5 ngàn bản. Nổi tiếng đắt khách chẳng kém gì Phong Hoá Ngày Nay, Đời Nay là nhà xuất bản đầu tiên của nước ta chia lãi cùng tác giả, để các tác giả vẫn được giữ bản quyền, khỏi bị bóc lột như khi bán tác quyền cho con buôn sách.

Trên thị trường lúc đó, khi một tác giả có tác phẩm văn chương muốn xuất bản, phải đưa cho một nhà in hay một hiệu sách, họ thường bị ép bán đứt bản quyền với giá rẻ mạt. Đó là một cách: "chiếm đoạt tư tưởng của người ta, cả một quãng đời niên thiếu của người ta, vì theo hợp đồng hai bên đã ký thì những tác phẩm kia đã nghiễm nhiên trở nên vật sở hữu của ông buôn chữ rồi!" !.Rồi (sách) mãi mãi là của họ, của con cháu họ, nó sẽ là di sản của nhà họ. Thực, hạng buôn người cũng không tàn nhẫn bằng hạng buôn chữ... mà khắp trong nước không có lấy một nhà xuất bản sách- xuất bản sách theo như các nước văn minh, nghĩa là để tác giả được hưởng chung lãi, mà vẫn được giữ bản quyền về cuốn sách đã soạn" (4)(Nhị Linh Khái Hưng, Viết Sách, Xuất Bản Sách).

6* Đưa tiểu thuyết trinh thám lên báo Việt ngữ và tìm ra người sẽ viết thành công những tiểu thuyết đó. Theo chuyện kể trong gia đình Thế Lữ:
Bạn có biết tại sao Thế Lữ viết truyện trinh thám không?
- Đơn giản lắm. Hồi ấy báo bắt đầu giảm số lượng phát hành, chính Nhất Linh nghĩ rằng phải viết truyện trinh thám cho người ta đọc, và Thế Lữ là người có khả năng làm việc đó. Hết chuyện.
Sau đó, không chỉ có báo Phong Hoá đăng tiểu thuyết trinh thám, mà các báo chí Việt cùng nhiều văn sĩ khác cũng theo chân. Theo các nhà phê bình có hai nhà văn viết truyện trinh thám nổi nhất thời đó là Phạm Cao Củng và Thế Lữ. Nhưng Lê Phong phóng viên của Thế Lữ có phần được yêu mến hơn Kỳ Phát.
7* Đưa lên báo vấn đề cải cách y phục phụ nữ Việt Nam, giao cho Nguyễn Cát Từơng, một hoạ sĩ còn rất trẻ, 22 tuổi, phụ trách. (Nhất Linh cũng vẽ vài mẫu áo). Thế là các bà các cô có Áo dài Lemur, một chiếc áo thay đổi cách ăn mặc của phụ nữ, và làm chúng ta thật hãnh diện.
8* Thiết lập Hội Ánh Sáng, cùng các kiến trúc sư "Tiếp và Luyện" xây dựng "Nhà ánh sáng" thoáng đãng hợp vệ sinh cho người nghèo, thay thế nhà ổ chuột...Mời gọi các nhà hảo tâm tới họp, làm việc xã hội tập thể tại nhiều tỉnh thành của Việt Nam. Việc này đã gây một phong trào lớn trong nước, dân chúng chung lòng làm việc giúp người nghèo, như tham gia các việc cứu trợ cho các nạn nhân thiên tai, bão lụt hàng năm, cũng như các tai nạn lớn, tới cả giúp nạn đói năm 1945.
9* Đăng những bản nhạc mới đầu tiên của Tân Nhạc Việt Nam lên báo Ngày Nay, giúp các nhạc sĩ trẻ tiên phong phổ biến tác phẩm tới quảng đại quần chúng, giúp phong trào lan rộng. Ngày nay chúng ta có được cả một nền Tân nhạc to lớn thật đặc biệt.
10* Lập trò chơi văn chương cổ điển "Câu Đối" dưới dạng "Thách đối" cũng do Thế Lữ phụ trách, làm điên đầu biết bao người đọc!

Nhân đây, tôi xin kể lại một câu chuyện xẩy ra cho chính tôi:
Khoảng hai năm trước đây, được biết tôi có trong tay một bộ báo Phong Hóa, Ngày Nay cũ, đang cùng các bạn hữu tìm kiếm cho đủ, làm số hóa từng trang, sửa soạn đưa lên mạng cho tất cả mọi người cùng đọc. Một người bạn, học giả Cao huy Thuần, người đã được đọc toàn bộ Phong Hoá Ngày Nay trong tủ sách gia đình từ trước năm 1946, viết cho tôi:
"Tôi không ngờ chị giữ được của quý văn hóa đó cho đến nay. Vậy tôi xin đố chị:
Ngày Nay đã ra câu đối này trong số nào : "Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà"
Câu đố này đọc lên rối tinh, thật ra có nghĩa là:
(Báo) Ngày Nay ngày (hôm) nay, in (tại) nhà-in (của) nhà.
Nhận được thư, tôi ngẩn người, tự hỏi: Làm sao có thể tìm nổi một câu đối trong 224 số báo Ngày Nay, mỗi số lúc đầu là 16 trang, sau tới hơn 24 trang? Nên đành xin hàng, với lý do:"Thời gian báo Ngày Nay phát hành thì tôi... chưa sinh ra đời, nên bây giờ mù tịt, không biết tìm ở đâu."

Hôm sau, tôi nhận được một thư dẫn:
"...Cho tới hôm đó, Ngày Nay phải mang đi in tại một nhà in. Sau một thời gian, xu hào rủng rỉnh, Ngày Nay tậu được máy in, in ấn ngay tại nhà in của mình. Cho nên hôm đó là một ngày có thể gọi là vinh quang. Trí nhớ tôi bây giờ đã bắt đầu khập khiễng, nhưng hình như câu đối "Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà" được phô trương như một chiến công, đánh dấu một trang sử mới của tờ báo.
Chuyện chẳng có gì, nhưng cái gì trong Ngày Nay cũng đều có duyên như thế. Tự Lực Văn Đoàn là một cách mạng ngôn ngữ mà hậu thế ghi ơn đời đời...".

Thế là nhờ được "mách nước", tôi biết cách đi tìm câu thách đối trong núi báo Ngày Nay cũ. Kết quả là: Trên tờ Ngày Nay số 208, ra ngày18/5/1940, có câu đố nói trên, trong 2 thông báo, và Ngày Nay số #209 ra ngày 25/5/1940 là tờ báo đầu tiên in tại nhà-in Ngày Nay.

Báo Phong Hóa và Ngày Nay ngày một nổi tiếng, hoàn toàn không có đối thủ trong làng báo. Bên ngoài tưởng rằng họ là những "nhà tư bản, báo có nhà in!", mà không biết rằng, muốn có tiền mua nhà in, họ đã sống cần kiệm, thanh bạch như thế nào:
Nhất Linh kể trong Phong Hoá số #154, ra ngày 20/9/1935, bài Lời Nói Đầu (về việc thành lập báo Phong Hoá): " Mỗi người mỗi tháng chỉ cần một số tiền đủ sống, còn tiền lãi, nếu có, sẽ là của chung và sẽ dùng vào những công cuộc chung phải làm sau này"

Tú Mỡ, viết trong cuốn Tiếng Cười (5) : "Họ tập trung chung lo tờ báo, anh em quyết tâm đem hết tài lực làm việc quên mình, không vụ lợi. Bốn anh rường cột trong tòa soạn (anh Tam, anh Long, anh Giư, anh Thế Lữ) tình nguyện chỉ lĩnh mỗi tháng 50 đồng (có nhiều nguồn tin nói 30đ) đủ sống (1 người), để dành tiền lãi làm vốn cho báo phát triển"
Và họ đã làm được điều họ muốn: "Xuất thân từ những bàn tay trắng, đoàn đã có một số vốn khá to, đủ để xây dựng một nhà in riêng, để có thể từ nay:
"Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà"
Đó là câu đối báo đưa ra để thách đối, đồng thời để báo tin mừng với bạn đọc".

Nhưng, đằng sau tất cả những vinh quang đó, mấy ai biết tới những cảnh này:
Báo Ngày Nay bị Tây rút giấy phép sau số #224 ngày 7/9/1940. (Đóng cửa hẳn, chấm dứt hẳn sự nghiệp của hai tờ báo nổi tiếng nhất nước ta. Hồ sơ mật vụ Tây để ở Aix en Provence nín thinh, không hề nói nguyên do).
Nghĩa là: Sau 8 năm làm báo, với biết bao tâm lực, bao cố gắng về tài chính, hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay chỉ được in tại nhà in Ngày Nay từ số #209 tới #224. Hay, báo chỉ được in tại nhà-in nhà 16 số tất cả, trên 401 số (tổng cộng cả Phong Hoá và Ngày Nay) (hay 4%).

Để gia đình, con cái sống qua nổi những ngày tháng thanh bạch đó (từ 1932 tới 1940, và sau đó), phải có người làm lụng buôn bán tần tảo ngược xuôi. Người đó chính là những người mẹ, người vợ cuả các thành viên nổi tiếng như cồn của Tự Lực Văn Đoàn, những tác giả được (bị) mang nhãn hiệu "tư bản", bị ghen tị vì thành công lừng lẫy.

Bây giờ tôi xin kể những việc làm của các bà Tự Lực:
- Bà Nhất Linh buôn cau khô nuôi gia đình. Bà kể với các con (anh Nguyễn Tường Thiết thuật lại qua điện thoại): "Khi đi dậy học ở trường Thăng Long thì lương của cậu mang về là 200 đồng, đến khi làm báo, báo bán chạy lắm, nhưng cậu chỉ mang về có 20 đồng thôi" (chắc ông chủ báo giữ lại ít tiền túi, để tiêu vặt suốt tháng: nào xe cộ, chè tầu, thuốc lá, nào giúp gia đình, giúp người nghèo...).
- Bà Hoàng Đạo nuôi gia đình hoàn toàn. Anh Nguyễn Lân, con Hoàng Đạo nói qua điện thoại: "Bác Tam còn mang về 20đ, chứ ba tôi chẳng bao giờ đưa một đồng nào về cho vợ con hết".
Theo hồi ký của bà Nguyễn thị Thế, em gái Nhất Linh, thì lúc này các vị Nguyễn Tường còn chung nhau trả tiền nuôi mẹ, tiền thuê nhà ở Hà Nội để đưa cụ bà Nguyễn Tường Nhu về sống gần các con các cháu.
- Bà Khái Hưng dù có hoa lợi riêng, cũng phải mua bán tần tảo thêm mới đủ chi tiêu (Trần Khánh Triệu, Ba tôi).
- Bà Thế Lữ, ở Hải Phòng hành nghề bà lang, chữa bệnh trẻ con gia truyền (truyền dạy từ gia đình mẹ của Thế Lữ). Bà làm thuốc, đầu tắt mặt tối cơm nước nuôi một đàn con và thay chồng phụng dưỡng mẹ già. Thi sĩ đang ở Hà Nội làm báo, mỗi tháng về thăm một, hai lần. Ông bán cả đất mẹ cho để lấy tiền làm kịch với bạn bè.

Chúng ta đừng quên các bà vợ trong bóng tối đó, họ không phải là những nhà tư bản, rủng rỉnh xu hào. Sau này đọc bài Tâm tình của người con, Nguyễn Tường Thiết viết về Nhất Linh, tôi đã thật sự cảm động: "...Chúng tôi thường hay nói đùa: "Cậu có nhiều cái "sĩ" quá, này nhé: văn sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, và kiêm cả "chiến sĩ" nữa. Nhưng không mấy ai biết là ông còn có một cái "sĩ" nữa mà có lẽ ông hãnh diện nhất trong những sĩ vừa kể, đó là "hàn sĩ". Ông sống nghèo, trong sạch, và rất kiêu hãnh về điều này.

Trong hai năm 1962-63, tất cả bố mẹ con chúng tôi chen chúc nhau ở trên một căn gác rộng 4mx12m lầu 2 chợ An Đông, vì dưới nhà là giang sơn buôn bán của bà cụ tôi mà các bồ (đựng) cau đã chiếm hơn nửa. Chính tôi cũng không chịu được cảnh bần hàn này, nên có lần trong bữa ăn có ai than thở về cảnh sống chật chội. Ông cáu, cầm bát đứng dậy, cái bát run run trong tay:
"Mình phải hãnh diện là nhà mình nghèo chứ!".

Suốt đời chúng tôi không bao giờ quên được câu nói này. Tiếc rằng lúc đó chúng tôi không hiểu được cái chiều sâu của câu nói, chắc ông cũng cảm nhận được điều đó, nên càng tỏ ra buồn phiền hơn."
(6)

Khoảng đầu những năm 1940, Nhất Linh bị thực dân Pháp theo dõi. Để mật vụ cho rằng mình mê nhạc, không làm chính trị, ông tạo ra việc đi thổi kèn cho một dàn nhạc, có lẽ là ban nhạc đầu tiên của người Việt, tên là Diễm Hoa của Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước. Sau đó thoát ra hải ngoại. Khi báo Ngày Nay bị đóng cửa, nhà in Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay còn hoạt động, đã xuất bản thơ, tiểu thuyết, sách Hồng nhiều hơn trước. Lúc này các thành viên nhận được ít tiền chia lời thất thường của Đời Nay. Nhờ vậy, cũng đã giúp được các gia đình qua ngày, trong thời buổi rất khó khăn.

Một vài cố gắng của Thạch Lam và Khái Hưng ra báo Chủ Nhật, rồi cũng sớm bị rút giấy phép. Năm 1941, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng bị Pháp bắt tại Hà Nội, mấy tháng sau bị đưa lên phát vãng tại Vụ Bản, Hòa Bình. Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí bị tra tấn tàn nhẫn. Tới 1943, Pháp đưa Nguyễn Gia Trí về quản thúc ở Thủ Đầu Một. Hoàng Đạo, Khái Hưng ở Hà Nội.

Vắng bóng các anh, Thạch Lam trông nom nhà xuất bản một mình. Năm 1942, ông mất trong thiếu thốn vì bệnh lao, khi mới 32 tuổỉ. Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, người em út, đứng ra tiếp tục nhà xuất bản Đời Nay. Tháng 4/1945 ra cuốn Hoa Niên (tức Nghẹn Ngào) của Tế Hanh là cuốn cuối cùng.

Năm 1946 Tự Lực Văn Đoàn tự giải tán. Nhà in mang bán, mỗi thành viên có cổ phần được chia 6 nghìn đồng. Thế Lữ mang tiền về Hải Phòng chia cho mẹ và vợ con, trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ (7).

80 năm trôi qua, Phong Hoá Ngày Nay vẫn còn là đỉnh cao của văn chương, báo chí Việt Nam. Đó là một kho tàng văn hoá mà chúng ta còn học được nhiều điều...



Phạm Thảo Nguyên (CHIM VIỆT CÀNH NAM)


_______________________________________________________________________

Thư Mục:
(1) Tú Mỡ, Tạp chí Văn học, HN, số tháng 5,6/1988.
(2) Nhất Linh, Di cảo " Đời làm báo".
(3) (5) Tú Mỡ,Tiếng Cười NXB Hội Nhà văn, HN, 1993.
(4) Khái Hưng, Viết Sách, Xuất Bản Sách, PH#101.
(6) Nguyễn Tường Thiết, Tâm tình của người con, Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ. Người Chiến Sĩ, nhiều tác giả, Thế Kỷ, California, USA, 2004.
(7) Song Kim, Hồi ký : Những chặng đường sân khấu, 1995.




UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (6)
143 Pages«<141142143
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.