Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

144 Pages«<1617181920>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#341 Posted : Friday, August 26, 2011 4:41:03 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Bây giờ tháng mấy

Sáng tác : Từ Công Phụng
Trình bày : Sĩ Phú

http://www.youtube.com/watch?v=eBzYvS2ovbQ

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,
trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ đôi .

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài
Chiều nay nhớ em rồi và nhớ
áo em đẹp màu thơ,
môi tràn đầy ước mơ

Mai đây anh đưa em đi về,
mưa giăng chiều nắng tàn
cho buốt lạnh chúng mình.
Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm .

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau.

Hạ Vi  
#342 Posted : Friday, August 26, 2011 6:32:31 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


“Chiều chiều” - nỗi nhớ trong ca dao



Liên quan đến buổi chiều, ca dao có nhiều cấu trúc phổ biến như: chiều chiều, chiều hôm, chiều nay... “Chiều” là khoảng thời gian gần tối, trước khi bóng hoàng hôn đổ xuống, mang trạng thái tĩnh, hay gợi buồn.


Đây là thời gian rảnh rỗi nhất trong ngày, là thời điểm của gặp gỡ, đoàn tụ, trở về (con chim dáo dát bay về tổ, thủy triều cũng vội vã về với biển, con người cũng trở về với mái ấm, chỗ dựa của lòng mình là tình yêu và tình cảm gia đình). Ấy vậy mà vào thời điểm ấy, các chàng trai, cô gái cô đơn xa cách người thương, còn người phụ nữ lấy chồng xa quê thì bơ vơ nơi đất khách quê người. Vì vậy khi câu hát của họ vang lên là cả một khoảng trời nhớ thương nhức buốt, là những khoảng trống vô hình, là những lời tâm sự thiết tha chân tình.

Đây là lời của cô con gái nhớ mẹ:


Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều


Chiều chiều! Nốt nhạc đã dạo đầu cho một môtíp gợi buồn. Đằng sau nốt nhạc ấy hiện lên chân dung một cô gái với một nỗi buồn khắc khoải. Nỗi buồn của một cô gái mới về nhà chồng còn lạ lẫm chưa quen, trong lòng cồn cào bao nỗi nhớ về gia đình, cha mẹ và những kỷ niệm đẹp. Thế là chiều nào cũng vậy, cô lén ra ngõ sau nhà, nơi ít người lại qua, ít ai để ý, ở đó cô có thể tránh mọi con mắt dò xét để thả hồn qua những nỗi nhớ, để “trông về quê mẹ”. Mà có xa xôi gì cho cam. Có khi chỉ cách có một quãng đồng mà hóa ngàn dặm tít mù, bởi một lẽ thời phong kiến người con gái có chồng là đóng khung cuộc đời mình ở nhà chồng. Bài ca dao mở ra là “chiều chiều” khép lại là “chín chiều” như đóng chặt tất cả những con đường mà cô có thể về với mẹ. Thật xót xa cho thân phận những người phụ nữ thời phong kiến.

Ở một lời ca khác nỗi nhớ đã trở thành nỗi đau tột cùng khi người con gái chạm vào màn sương của sự mất mát:


Chiều chiều xách giỏ hái rau
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần


Hình ảnh người mẹ đã tan vào khói sương của hoài niệm. Chỉ còn lại trong trái tim người con gái xa quê một nỗi đau không bao giờ lành lặn. Nỗi đau ấy lại tiếp tục cộng hưởng ở những thế hệ bạn đọc mai sau.

Còn dưới đây là nỗi nhớ của những người yêu nhau:

Nhớ người quân tử:



UserPostedImage



Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai



Chiều chiều đã trở thành điểm hẹn của nỗi nhớ, điệp khúc của sự chờ đợi. “Người quân tử”- địa chỉ của nỗi nhớ ấy vừa gần gũi vừa xa xôi, vừa thực vừa mộng, vừa là một chàng trai cụ thể vừa là một chàng trai trong tâm tưởng, tưởng tượng.

Nhớ câu ân tình:


Chiều chiều mang giỏ hái dâu
Hái dâu không hái hái câu ân tình



Nỗi nhớ và tình yêu của một cô thôn nữ hái dâu nào đó sao mà thiết tha đằm thắm đến vậy. Có thật chăng khi yêu đầu óc con người ta mụ mị đi, hay thẫn thờ và hay xao lãng công việc? Lời ca như thủ thỉ thù thì, mộc mạc, chân chất diễn tả cái tình thật thà sâu nặng của cô gái hái dâu.

Chiều chiều là thời điểm diễn xướng chủ yếu của ca dao dân ca trữ tình. Câu hò câu hát vang lên trên dòng kinh, cây đa, bến nước, sân đình… nhiều nhất vào thời điểm ấy. Đây cũng là thời điểm phần tự do về cuộc sống bên trong con người bộc lộ rõ nhất.

Các chàng trai mạnh dạn bày tỏ tâm tư tình cảm của mình:



Chiều chiều ra đứng bờ ao
Nước kia không khát, khát khao duyên nàng


Hoặc:


Chiều chiều ra đứng bờ biền
Nhện giăng tơ đóng cảm phiền thương em.


Rồi các chàng tán tỉnh trêu ghẹo:


Chiều chiều vãn cảnh vườn đào
Hỏi thăm hoa lý rơi vào tay ai?


Hay:

Chiều chiều vịt lội bàu sen
Để anh lên xuống làm quen ít ngày



Dường như bao giờ các chàng cũng mạnh dạn hơn, chủ động hơn trong việc tỏ tình. Nhưng đôi lúc sự táo bạo của “phe tóc dài” cũng đâu thua kém gì “phái mày râu”.


Chiều chiều ra đứng cổng làng
Nghe trống bãi tràng em chạy đón anh


Và:

UserPostedImage



Chiều chiều vịt lội sang sông
Trời gầm đá nẻ thiếp không bỏ chàng



Qua đó chúng ta thấy tình cảm của các nàng sôi nổi, quyết liệt và cũng thật đằm thắm dịu dàng đầy nữ tính.

Đa số những câu có một ít chiều chiều người ta sáng tác ra để gửi gắm nỗi nhớ, niềm thương, nghiêng hẳn về mặt tình cảm. Song bên cạnh đó cũng có một số câu nghiêng về phần lý trí nhiều hơn, những câu ấy mang đậm chất triết lý:


Chiều chiều bóng bổ qua cầu
Con ong say vì mật, con bướm sầu vì hoa

Hay:


Chiều chiều âu lại lo âu
Kén ươm thành nhiễu, đá lâu thành vàng.



Mỗi sự vật, hiện tượng đều tuân theo một quy luật vận động nhất định. Và thời gian chính là chiếc chìa khóa vàng giúp người ta nhận ra giá trị đích thực của con người, của cuộc đời.

Vốn dĩ buổi chiều đã tạo cho người ta cảm giác buồn. Thế mà ở đây âm “iêu” trong tiếng “chiều” được lặp lại làm cho nỗi buồn như nhân đôi. Rồi việc sử dụng thanh bằng cũng tạo ra một âm điệu buồn cho lời ca. “Chiều chiều” chẳng gọi tên một buổi chiều cụ thể nào mà nó là một khái niệm mơ hồ chung chung cho tất cả những buổi chiều có cùng một tâm trạng một cảm xúc. Nó gợi lên trong ta một cái gì ngưng đọng, như lặp lại và không có sự thay đổi. Có phải chính cái âm hưởng dìu dịu nhè nhẹ, buồn buồn của nó mà tác giả dân gian đã dùng để phổ nhạc cho những bài hát ru:



Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Tay bưng cái rổ tay dìu con thơ



Môt bài hát ru phổ biến nhất là “chiều chiều lại nhớ chiều chiều”. Chữ “chiều” được láy lại nhiều lần, tạo ra một âm điệu đặc biệt dễ ru ngủ lòng người.

Trong hát ru như có một thế giới đặc biệt. Đó là thế giới dành cho trẻ, của trẻ. Đó là thế giới của thực vật, nhiều nhất là động vật. Ở đó cái mà con người làm, loài vật cũng làm:


Chiều chiều con quạ lợp nhà
Con cu chẻ lạt con gà đưa tranh
Chèo bẻo nấu cơm nấu canh
Chìa vôi đi chợ mua hành về nêm.



Nhưng hát ru đâu phải chỉ để hát ru, qua lời hát người ta muốn giãi bày tâm sự thầm kín trong lòng. Hát để trẻ ngủ còn mình thức, một mình mình đối diện với chính mình:


UserPostedImage



Chiều chiều bìm bịp giao canh
Trống chùa đã đánh sao anh chưa về?



Cũng như không gian, thời gian là một phạm trù có ý nghĩa đặc biệt đối với nhận thức và tình cảm con người. Trong ca dao chúng ta bắt gặp rất nhiều một ít về thời gian, nhất là thời gian “chiều chiều”. Đó là một ít chứa đựng rất nhiều thú vị nhưng cũng còn nhiều ẩn số chờ đợi chúng ta tiếp tục khám phá và tìm hiểu.



CAO VĨ NHÁNH





UserPostedImage
TUS  
#343 Posted : Friday, August 26, 2011 9:37:47 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
MƯỜI ĐIỀU TÂM YẾU


1/- Hạnh TỪ-BI.

2/- Hạnh HỈ-XẢ.

3/- Hạnh NHU-HOÀ.

4/- Hạnh NHẪN-NHỤC.

5/- Hạnh CHÍ-THÀNH.

6/- Hạnh TINH-TẤN.

7/- Hạnh BÌNH-ĐẲNG.

8/- Hạnh BÁC-ÁI.

9/- Hạnh TỰ-TẠI.

10/- Hạnh GIẢI-THOÁT


Trong không dấy lên vọng tưởng,
ngoài không mắc kẹt cảnh trần.
Tâm cảnh không hai, thân vật làm một;
tuỳ duyên với công việc mà không vướng mắc,
siêng làm mọi việc lợi ích quần sanh mà thật thấy như không làm;
ấy là hạnh GIẢI-THOÁT.

Người có lỗi lớn nhất trên trái đất này là tôi,
chính tôi và chỉ 1 mình tôi (Sangye Tenzin-Trúc Pháp)

Ta khôn, ta tìm cái khôn của kẻ ngu mà học hỏi
Ta ngu, ta tìm cái ngu của kẻ khôn mà chỉ trích chê bai
Ta tốt, ta tìm cái tốt của kẻ xấu mà bắt chước noi theo
Ta xấu, ta tìm cái xấu của kẻ tốt mà phê bình dèm pha (Trúc Pháp)
Hãy biết ơn những người khiển trách ta
Vì họ giúp ta tăng trưởng Định Tuệ.
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã
Vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ.
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta
Vì họ đã dạy cho ta biết tự lập.
Hãy biết ơn những người đánh đập ta
Vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta.
Hãy biết ơn những người lừa gạt ta
Vì họ tăng tiến kiến thức cho ta.
Hãy biết ơn những người làm hại ta
Vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta.
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được
Kiên Định Thành Tựu


UserPostedImage

Edited by user Friday, August 26, 2011 9:38:32 PM(UTC)  | Reason: Not specified




UserPostedImage
Hạ Vi  
#344 Posted : Saturday, August 27, 2011 4:41:37 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT


(tiếp theo)

Trong ngôn ngữ Việt Nam, ngoài vô số từ thuần Việt (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè, quê nhà, chim chóc, cỏ cây, hoa trái, đất mẹ, quê cha, trời đất, phất phơ, bảng lảng, lập lòe, chắc chắn, xa gần, tốt đẹp,….) và vô số từ thuần Hán-Việt ( từ Hán đọc theo giọng Việt như : đạo đức, tổ tiên, tiền nhân, gia tộc, quốc gia, sơn hà, diễm phúc, …), còn rất nhiều từ do ghép một từ thuần Việt với một từ Hán như : đất tổ, quê hương, bạn hữu, nhà sư, nhà văn, nhà giáo, gối mộng, tư riêng, thiện lành, bình lặng, đình đám, hội hè,…Điều nầy cho thấy phần nào tinh thần dung hóa của dân tộc ta về mặt ngôn ngữ , từ đó dung hóa về các mặt khác: tôn giáo, triết học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa.

Nơi đây, chỉ xin nêu ra một số từ thuần Việt tiêu biểu tính chất thân thiết, thơ mộng , thể hiện nếp sống tốt đẹp của dân tộc trong lối nói hằng ngày cũng như trong thơ văn, nghệ thuật. Xin độc giả xem đây là bài "phiếm luận", không mang tính cách biên khảo:




UserPostedImage



2/- Từ "MÌNH":

Những ngày còn ở bậc Tiểu học chương trình Pháp, chúng ta thường học: "Thân thể người ta gồm ba phần : đầu, mình và chân tay" (Le corps humain se compose de trois parties: la tête, le tronc et les membres). "Mình" (le tronc) là thành phần lớn nhất của cơ thể từ cổ cho đến mông bao gồm hai phần 'ngực và bụng' chứa đựng cả phổi, tim, dạ dày, lòng ruột, thận, gan, lá lách, hậu môn cùng cơ quan sinh dục. "Mình" giữ bốn phần vụ hệ trọng : hô hấp, tuần hoàn, bài tiết và sinh sản. 'Mình' cũng là nơi lưu giữ và phát tiết các hiện tượng tâm lý và sinh lý. Do tính cách quan trọng nầy mà người Việt Nam và Trung Hoa xem phần 'Mình' thường gọi là 'bụng dạ', 'lòng ruột' giữ phần căn bản của cuộc sống con người. Rồi 'Bụng dạ, lòng ruột', chuyển thành 'cái Tâm', 'tấm lòng' trong văn chương. Từ xưa, đã có những câu : 'Hung trung hữu họa" (trong bụng có họa) "Binh giáp tàng hung trung" (Nguyễn Công Trứ - binh giáp nằm trong bụng). "Trong khi nền văn hóa Tây phương xem căn bản của con người là Lý Trí và đặt Lý trí ngự trị trong óc não ở trên đỉnh đầu, đang khi nền văn hóa Ấn Độ xem căn bản của con người la Ý Thức và để Ý thức chiếu rạng trên vầng trán gọi là 'con mắt thứ ba' thì nền văn hóa Hoa-Việt lại xem căn bản của con người là Lòng Ruột nằm ở tận đáy bụng dạ của con người. Lòng ruột, bụng dạ không những chỉ là cơ quan dinh dưỡng, cũng không phải chỉ là điểm hội tụ sinh khí và năng lượng vũ trụ vào vùng 'đan điền' phía dưới bụng (cách ba lóng tay dưới rốn bụng), nhưng còn là cơ quan của cảm xúc, suy nghĩ, yêu thương và hành động, nghĩa là cho tất cả cuộc sống tình cảm, tinh thần và tâm linh của con người"

Nguyễn Công Trứ trong bài Hát nói "Chí làm trai"đã bảo:

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thử đan tâm chiếu hãn thanh

(Người ta sinh ra xưa nay ai không chết
Miễn lưu được tấm lòng son cùng sử sách)


Cô Kiều, trong 'Đoạn trường tân thanh', đã thút thít cùng mẹ giữa lúc bên ngoài yến tiệc để đưa Kiều lên xe về với họ Mã:

Lỡ làng nước đục bụi trong
Trăm năm để một tấm lòng từ nay.

(câu 879-880)

Có thể nào, do quan niệm trên mà người Việt chúng ta đã dùng từ "MÌNH" thay cho 'lòng ruột, bụng dạ' để gọi vợ hay chồng và để xưng hô với bạn bè thân thiết?

Xét về ý nghĩa, từ "MÌNH" thường được hiểu như sau :

a/- Từ MÌNH

chỉ 'tấm thân', chỉ 'con người thân xác' , chỉ 'thân mạng' hay 'sinh mạng', chỉ 'cái tôi riêng', chỉ 'cuộc sống riêng' của một người: Một MÌNH lủi thủi, một MÌNH bơ vơ:

Một MÌNH đứng giữa quãng trơ vơ
Biết có ai chăng để đợi chờ?


Tú Xương (Nhớ bạn)


Xin lấy thí dụ nơi "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du:

* Để có tiền chuộc Vương Oâng ra khỏi tội tù, Kiều quyết định:
-Dẽ cho để thiếp bán MÌNH chuộc cha (câu 605)

* Khẩn khoản cha mãi không được, Thúc Sinh ngõ ý 'tự vẩn' chứ nhất quyết không trả Kiều về lại lầu xanh:
-Bạc đen thôi có tiếc MÌNH làm chi! (câu 1402)

* Vương Oâng, lúc được chuộc khỏi tù, về nhà, thấy cảnh tình của Kiều, đau lòng toan tự tử:
-Liều MÌNH ông đã gieo đầu tường vôi (câu 666)

và Kiều vội vàng khuyên giải:
-Tan nhà là một, thiệt MÌNH là hai (câu 682)

*Lúc Mã Giám Sinh phá hoại đời con gái của mình, Kiều tĩnh thức, buồn đau:
-Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi MÌNH (câu 852)

*Tú Bà khuyên Kiều đừng dại dột hủy mình:
-Thiệt MÌNH mà hại đến ta, hay gì? (câu 1014)


UserPostedImage



b/- Từ MÌNH

chỉ tính cách đơn độc, lẻ loi, cô quạnh, không có ai bên cạnh để cảm thông, san sẻ, tương tri. Từ MÌNH nơi đây ám chỉ cảnh ngộ, thân phận, tâm trạng cô đơn, xót xa, buồn đau, hờn tủi trong bao ưu tư, thắc mắc, dằn vật, não phiền. Cũng xin mượn thí dụ nơi "Đoạn trường tân thanh":

*Tỉnh giấc chiêm bao họa thơ cho Đạm Tiên, nghe Đạm Tiên bảo "Ví đem vào sổ đoạn trường, thì treo giải nhất chi nhường cho ai", Kiều bàng hoàng ngơ ngẩn:

-Một Mình lưỡng lự canh chầy
Đường xa nghĩ nỗi sau nầy mà kinh
Hoa trôi, bèo giạt đã đành

Biết duyên MÌNH, biết phận MÌNH, thế thôi! (câu 217-220)

*Trả lời Kim Trọng khen tài thơ của mình và cho rằng được gặp Kiều là một phúc lớn do 'kiếp tu xưa ví chưa dày', Kiều đã phân vân về số kiếp và thân phận mình:

-Nghĩ MÌNH phận mỏng cánh chuồn… (câu 411)

*Kim Trọng lúc được thư cha gọi về Liêu Dương hộ tang người chú, vội vã qua nhà Kiều báo tin và lo lắng cho cuộc tình vừa nhen nhúm giữa hai người:

-Nỗi nhà tang tóc, nỗi MÌNH xa xôi… (câu 538)

*Tại lầu xanh Tú Bà, ngày ngày 'sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh', Kiều thở than thân phận:

-Giật MÌNH, MÌNH lại thương MÌNH xót xa… (câu 1234)

*Gặp lại gia đình và Kim Trọng, trước lời năn nỉ của chàng Kim chắp nối lại tình xưa, Kiều nghĩ đến tấm thân ô uế và cuộc đời xấu xa của mình, không xứng đáng vời người tình, đã đau đớn bảo:

-Nghĩ MÌNH chẳng hổ MÌNH sao? (câu 3103)

và: -Trông hoa đèn chẳng thẹn MÌNH lắm ru! (câu 3106)

Trong cuộc sống bình thường và trong thơ ca hiện nay, chúng ta cũng đã sử dụng từ MÌNH hoặc chỉ để tự sự, tự tình, tự diễn tả một tâm trạng buồn đau , một nguồn vui phấn khởi khó thể nói với ai hoặc không có ai bên cạnh để trao gởi như: 'nói một MÌNH, cười một MÌNH, tự trách MÌNH, 'riêng MÌNH, Mình biết, riêng MÌNH, MÌNH hay', …..

Nghĩ MÌNH lại gớm cho MÌNH nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!


Nguyễn Khuyến (Tự thán)


c/- Từ MÌNH

được dùng dưới hình thức Đại danh từ trong xưng hô giữa vợ chồng, giữa hai người yêu hay giữa bạn bè hoặc giữa một số người đang hàn huyên hay đang cùng một công việc nào đó. Trong những trường hợp nầy, từ MÌNH thường chỉ riêng đối tượng trong lúc xưng hô: MÌNH đừng nghĩ thế, MÌNH nói thế mà nghe được sao?, Mình chỉ biết có MÌNH, không nghĩ đến tôi sao?, MÌNH làm thế, kẻ khác sẽ nghĩ sao về mình? Nếu chỉ chung cả chủ thể và đối tượng thì thường có những từ 'Chúng, bọn, lũ, ta' đi kèm theo : chúng MÌNH cùng đi; Bọn MÌNH cùng làm; Lũ MÌNH chẳng được tích sự gì ráo; Ta MÌNH chẳng nợ, chẳng duyên,…


UserPostedImage



Trong thơ ca dân gian, người bình dân đã sử dụng từ MÌNH khá nhiều.

MÌNH về, MÌNH nhớ ta chăng
Ta về, ta nhớ hàm răng MÌNH cười…
MÌNH về, ta chẳng cho về
Ta nắm lấy áo, ta đề câu thơ…..


d) Từ MÌNH

đi đôi với từ TA nhiều khi không chỉ hai chủ thể riêng biệt mà nêu ra một hòa nhập cả hai vào trong nhau, biểu hiện một liên kết tự nguyện giữa hai tự thể:

Dân mừng nào nghĩ gần xa
Ngỡ rằng giờ đã trong ta có MÌNH

Huy Phong

-Một đi là một dăng trình
Một đi để thấy lại MÌNH trong nhau

N.T.


Không ai không nhớ câu ca dao dưới đây hàm ngụ một ý nghĩa cao xa ra ngoài ái tình nam nữ, MÌNH và mọi người hòa nhập vào nhau:

MÌNH với ta tuy hai mà một
Ta với MÌNH tuy một mà hai.


Hai câu ca dao nói lên tính cách keo sơn, gắn bó giữa hai người yêu nhau hay giữa đôi vợ chồng dẫu nhiều khác biệt nhưng thủy chung bền chặt vì nghĩa vì tình, ăn đời ở kiếp bên nhau, không một lý do nào có thể chia cách được. Nói rộng ra, hai câu ca dao khiến ta liên tưởng đến hai yếu tố Âm Dương trong Đạo Học; đấy là cặp "Lưỡng nhất mà bất Nhị' vì 'trong Âm có Dương, trong Dương có Âm', hai cái 'Nhất' nhưng là 'Hai trong Một' luôn luôn 'bồng bế' nhau, luôn luôn 'cõng' nhau (dựa theo lời Lão Tử trong Đạo Đức Kinh, theo học giả Nguyễn Duy Cần) để sinh sinh hóa hóa tạo nên muôn vật trong cõi hiện hữu. Dựa vào ý kiến nầy, nơi tác phẩm "Ngụ ngôn – Trùng ngôn", người viết (N.T.) đã giả tưởng lới Phật giải thích từ 'Viên Giác' trong Kinh Phật : "Cái 'Viên giác' chỉ là cái biết nhìn, cái thái độ nhìn, nhìn mọi sự vật đều có góc tròn hay đều tròn góc 'viên', từ Hán, có nghĩa là 'tròn; 'giác', từ Hán có nghĩa là 'thức giác, tri giác' cũng có nghĩa là 'góc, cạnh' : hình tam giác, tứ giác… .

Vật nào cũng có cạnh, có góc; vì có cạnh có góc nên sinh ra cọ xát, làm sây sướt nhau, từ đó sinh ra hỗn loạn. Tìm được cái "tròn" trong những góc cạnh đó, đưa góc cạnh của sự vật đến chỗ tròn trịa, biết mài nhẵn những cạnh góc thì là hòa hợp, hài hòa. Hòa hợp hài hòa giữa nhau thì cả chủng loại sẽ cùng hoàn hảo, tròn trịa cái chu kỳ biến dịch của mình tương ứng với từng chu kỳ biến dịch của Lẽụ Đạo hằng cửu…. ". Viên giác tức làm cho mọi pháp không còn huyễn nữa chứ không phải là vứt bỏ các pháp đi. Muốn thế, phải làm sao cho các góc cạnh của pháp trở nên tròn. Từ cạnh góc đến không cạnh góc, -từ huyễn làm thành thật, mà sự vật nào rồi cũng tiến triển như thế – để rồi đừng trụ vào cái thật đó vì nó sẽ có những cạnh góc mới và con lại tiếp tục làm tròn những cạnh góc mới đó. Đấy là ý nghĩa của "lưỡng nhất mà bất nhị", có thế mới có cái gọi là "tiến bộ" chứ.

Bên Việt Nam còn có một câu rất ngộ nghĩnh "Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai", câu nói về ái tình đôi lứa nhưng thật ra là cái nhìn không cạnh góc giữa nhau. Tục đế và Chân đế ơ ũ trong nhau. Đừng bao giờ trụ chết cứng ở một điểm nào: "bất trụ vô vi, bất tận hữu vi" (kinh Duy Ma) là vậy…Không một ai viên giác cả vì người nào cũng có pháp thân, cũng có góc cạnh. Chính người nầy làm cho kẻ nọ thành viên giác và cứ thế tất cả cùng viên giác. Giữa các quốc gia, dân tộc với nhau cũng thế. Người đời mải miết lao tâm khổ trí đi tìm cái biết tròn đầy mà quên đi cái thái độ làm cho tròn đầy". Làm thế nào để MÌNHTA luôn luôn được 'tuy hai mà một, tuy một mà hai' như câu ca dao đã bảo trong đạo vợ chồng và trong đối đãi nhau hằng ngày trong xã hội, cái khó nầy nằm nơi Tấm Lòng ăn ở của mỗi người.

Một đoạn ca dao khác như sau:

MÌNH nói dối ta MÌNH hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con MÌNH
Con MÌNH những trấu cùng tro
Ta đi xách nước rửa cho con MÌNH
(*)



Bài ca dao dung dị, hồn nhiên, mộc mạc, thoạt nghe không có gì khó hiểu. Chúng ta tìm thấy cái đức tính độ lượng, bao dung của người bình dân, nơi đây là người chồng đối với vợ. Không trách người cũng chẳng trách mình, chỉ cam chịu và làm một sự việc tốt đẹp hơn (xách nước rửa cho con mình sạch sẽ, hết mọi thứ tro trấu bẩn dơ), vượt lên trên mọi thở than, trách móc, hờn đau . Người đàn bà hẳn sẽ tự thẹn và cảm tạ tấm lòng yêu thương cao quí của đấng trượng phu. Chàng đã vượt lên trên cái lẽ thường tình để thăng hoa tình cảm, đưa đến hành động thiện hảo, thiện lương. Ta có cảm tưởng chữ 'Nhẫn' của nhà Phật, cái đạo 'quân tử' của nhà Nho và cái ý nghĩa 'tha thứ' cùng 'quan tâm' cho nhau trong tình yêu Ky-Tô-giáo bàng bạc qua bài ca dao đơn giản, thoạt nghe như lời tình tự thương cảm phận mình (ngày còn ở Việt Nam, người viết có đọc đôi học giả Cọng sản trích và nhận xét đoạn ca dao nầy nhưng rất đơn sơ, chẳng có gì sâu sắc). Nhưng bài ca dao không dừng ở đấy.


UserPostedImage



Những câu ca dao, những bài dân ca tương tự như bài nầy, mặc dù xuất phát từ một sự việc bình thường hay một tình tự gái trai vẫn hướng đến một nội dung sâu kín, xa xôi nào đó mà chính tác giả lúc diễn đạt cũng không ngờ. Vì không phải chính tác giả nói ra mà chính là cái tâm thức của cả một dân tộc âm ỉ nơi lòng tác giả đã lên lời, nhất là một dân tộc giàu tình cảm như dân tộc Việt Nam mà tình tự sâu kín luôn ẩn tàng nơi vô thức. Tính cách biểu tượng và viễn mộng ẩn chứa nơi những lời đơn giản trên là do từ kết tinh của cả tâm thức dân tộc qua dòng lịch sử sinh hóa của giống nòi đã tiềm tàng sống động nơi lòng người bình dân, xuất hiện đột ngột qua một lần ngẫu hứng.

Xét trên cách cấu từ (mình, nói dối, còn son, qua ngõ, con mình, trấu tro, xách nước rửa cho con mình), chúng ta sẽ thấy bài ca dao không chỉ nói lên tấm lòng độ lượng, bao dung của người chồng đối với người vợ đã dốt gạt mình mà còn đề cập đến một vấn đề nào khác, một vấn đề ra ngoài ý nghĩ của tác giả lúc đó, ra ngoài cả ý nghĩ mọi người, ý nghĩ chúng ta nếu chúng ta không sống với cái thân phận dân tộc suốt quá trình lịch sử thương đau, không sống với dòng sử mệnh dân tộc đưa đẩy dân tộc ta phải triền miên trong tâm thức lãng mạn lưu đày ngay trên quê hương đất nước. Bài ca dao mượn một cảnh đời hiện thực (người chồng bị vợ dối gạt), nâng lên thành ẩn dụ, đề cập cả quá trình lịch sử của giống nòi, biểu hiện nếp sống tình nghĩa cao đẹp cùng hành động thiện hảo, thiên luơng hướng đến tương lai tốt đẹp của con người, của lẽ sống.


Grenoble (France), Neward (CA),15/04/2003
Nguyễn Thùy & Trần Minh Xuân



…………………………………………………………………………

Chú thích:

Xin xem "Tinh thần Việt Nam" (hay: "Việt Nam: cơn khổ nạn sinh thành") của TMX & NT, nxb Mekong Tỵ nạn, San Jose, CA, 1992.
*Trong một bài báo nào đó, chúng tôi thấy câu đầu bài ca dao nầy được viết: "Mình nói dối ta mình chữa có con". Có thể người đầu tiên sáng tác nói như thế nhưng sau đó được người khác sửa chữa, thấy hai từ 'con' cùng âm, thanh và vần trong cả "hai câu 6 và 8 chữ không mấy ổn nên đổi 'mình chữa có con" thành 'mình hãy còn son". Chỉ đổi mấy chữ thôi, bài ca dao chuyển sang một ý nghĩa cao rộng vượt hẳn lên cái ý nghĩa của sự việc hiện thực thông thường.




UserPostedImage
TUS  
#345 Posted : Saturday, August 27, 2011 7:37:55 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến


UserPostedImage


Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, sinh năm 1952 tại Hà Nội, hiện công tác tại Hãng phim truyện VN. Sau tập Những câu thơ viết đợi mặt trời (1983), thì tập Xúc xắc mùa thu (1992) được Giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn VN.

Gần đây, anh ít làm thơ mà viết khá nhiều kịch bản phim như Đêm hội Long Trì, Hà Nội- mùa đông năm 1946, Áo chàm Bắc Sơn... và còn tham gia... đóng phim nữa! Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến là một trong những bài thơ hay của anh viết từ thời trẻ, nay một người trẻ là Nguyễn Thu Thủy "tiếp cận" bằng lời bình cũng trẻ (Nhà thơ Lê Minh Quốc).


UserPostedImage


Bình thơ

Có những hẹn hò làm tình yêu thêm thi vị. Có những hẹn hò để rồi xa nhau. Có những hẹn hò để rồi có bài thơ như Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến của Hoàng Nhuận Cầm. Tôi vẫn luôn thích những sự lỡ làng trong thơ anh. Một hạnh phúc tưởng như đến tay rồi chợt vỡ, một tình yêu vẹn tròn rồi chia xa, và những hẹn hò từ từ khép lại ….

Đây là một trong những bài thơ viết hay về sự hẹn hò trong tình yêu. Vốn dĩ, hẹn hò là một phần của tình yêu, thật hiếm có những tình yêu mà không hò hẹn. Nhưng cách cảm nhận của Hoàng Nhuận Cầm lại thật đặc biệt. Đặc biệt trong nỗi đợi chờ không phải là vô vọng, vì cuối cùng thì "em cũng tới", nhưng khi em tới thì không phải anh không còn đợi nữa, mà chính mùa thu đã không còn kiên nhẫn với cuộc tình…Bởi lẽ:


Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi


UserPostedImage


Hoàng Nhuận Cầm vốn giỏi dùng những hình ảnh thật cụ thể để diễn đạt những cảm giác vô cùng mơ hồ, tinh tế. Thấy bông hoa sót lại cuối cùng để biết một mùa thu đã qua, và người đọc cũng cảm nhận được nỗi đợi chờ đã mòn mỏi thế nào! Cuối cùng em cũng đến, nhưng đến chỉ để thấy có những điều quý giá đã trôi qua...

Ta đã chán lời vu vơ, giả dối
Hót lên! dù đau xót một lần thôi


UserPostedImage


Tiếng thơ như chưa bao giờ thành thật đến thế, thành thật để kiếm tìm một tiếng nói chân thành từ trái tim không toan tính, để con người đối diện với nhau không qua một tấm mặt nạ nào! Có lẽ cũng bởi sự thành thật một cách hồn hậu đó, mà thơ Hoàng Nhuận Cầm tìm đến được với bao tấm lòng, bao tình cảm tri âm!

Khổ thơ thứ ba của bài thơ, tôi thích nhất, vì nó chất chứa trong đó rất nhiều suy tưởng. Một sự suy tưởng giản dị, nhưng nó không phải không chứa trong đó một quan niệm rõ ràng về tình yêu!


Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa


UserPostedImage



Không hiểu vì đâu nhiều bạn trẻ thường hay chép lệch thành "Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói/ Rằng bồ câu không chết lẻ bao giờ". Nếu như thế, câu thơ vẫn hay nhưng lại hay theo một cách khác. Tôi thích cách suy tưởng của anh, bồ câu không chết trẻ cũng như những mong ước về tình yêu là vĩnh viễn. Tình yêu một mặt nào đó cũng là hiện thân của cái Đẹp mà con người hằng khát khao vươn tới và chiếm lĩnh một cách trọn vẹn. Vì thế mà bồ câu không chết trẻ, cũng như những tình yêu không có quyền chết trẻ, những khát khao không có quyền lụi tàn. Em hay là cơn bão tự ngàn xa. Tứ thơ không mới, nhưng lại lạ trong nỗi sợ hãi của con người, sợ hãi mà vẫn đón nhận, vẫn đợi chờ, vẫn phấp phỏng trong âu lo và hạnh phúc.

Khổ thơ cuối cùng là một sự so sánh có phần chua chát, nhưng chua chát một cách ngộ nghĩnh, một các bâng khuâng và tiếc nuối, cái chua chát của một người còn trẻ:


Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào - nếu chán gió - lại ra


UserPostedImage


Tưởng như tình yêu chỉ là một trò đùa, dễ dàng và chóng vánh với người con gái. Nhưng nếu để ý thì ta lại nhận ra một sự bao dung. Trái tim ấy là một tấm lòng, một tình yêu luôn chờ đợi, dẫu bé nhỏ nhưng vẫn là tổ ấm đủ để chở che cho những cơn gió vô tình một lần lạc bước. Để rồi cuối cùng, có một lần em đến, một lần em nói, một lần em đứng đó…. Chỉ có điều "mùa thu hoa cúc cướp anh rồi"… Đã bao lần đọc câu thơ này, tôi vẫn cảm thấy nỗi chông chênh của một con người, vừa quyết định sẽ lên tàu thì con tàu vụt chạy đi mất. Tàu thiếu đi một hành khách và người đi thành kẻ lỡ đường….

UserPostedImage



Câu thơ cuối cùng của bài thơ lưu lại trong ấn tượng người đọc bởi từ "cướp" rất đậm "chất" Hoàng Nhuận Cầm. Nó giúp ta không quên những ngày anh còn là người lính làm thơ. Chất lính tráng ấy vẫn đôi lần trở về trong thơ anh như một gợi nhớ, một dấu ấn, một nét riêng đặc biệt.

Thoáng đọc Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, người ta có thể nghĩ, ừ, bài thơ này "kết thúc có hậu" vì cuối cùng em cũng đến kia mà. Nhưng dư âm bài thơ, cách kết thúc của bài thơ lại cho ta một cảm nhận khác. Ấy là dư âm của sự lỡ làng... Ta có thể đợi nhau, nhưng cuộc đời không đợi ta. Vì thế mà đã có rất nhiều tình yêu đẹp trong cuộc đời, nhưng chẳng biết có bao nhiêu trong số đó, đi trọn vẹn được đến cuối đường?


Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi

Hò hẹn mãi cuối cùng em đã tới
Như cánh chim trong mắt của chân trời
Ta đã chán lời vu vơ, giả dối
Hót lên! Dù đau xót một lần thôi

Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa

Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào - nếu chán - gió lại ra

Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó
Dẫu mùa thu, hoa cúc cướp anh rồi...

UserPostedImage


(Theo bản in trong tập Xúc xắc mùa thu - NXB Hội Nhà văn - 1992)

NGUYỄN THU THỦY
Theo TuoitreOnline

Edited by user Sunday, August 28, 2011 3:18:57 AM(UTC)  | Reason: Not specified




UserPostedImage
coffeebean  
#346 Posted : Sunday, August 28, 2011 2:47:08 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Xin phép Thunder và các bạn cho hột cà phê có ý kiến nơi đây qua post của TUS về bài bình thơ Hoàng Nhuận Cầm "Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến"

Khi chúng ta tình cờ tìm được một bài thơ hay, một đoạn văn cảm động, hay một bản nhạc của kỷ niệm, một bài viết nào đó mà thích quá bèn đem post chia sẻ với các bạn trong forum và thỉnh thoảng chúng ta post những bài lạc điệu, nhưng cũng chẳng sao ...

Bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm cũng có câu dễ thương, tác giả chắc vẫn còn sống và đang sáng tác mạnh, đã từng được giải thưởng của hội nhà văn VN đương thời, và thơ của ông cũng được nhà xuất bản của hội này in bán khắp nước ... có nghĩa là thơ ông không sợ bị ... tuyệt chủng. Nếu thích có thể viết chuyền tay nhau, đọc cho nhau nghe đâu đó, chớ chưa nhất thiết phải gìn giữ bảo tồn ...

Đề tài "Bảo tồn và Lưu Truyền Văn Hoá " đăng tải rất nhiều tác phẩm lưu danh trong văn học Việt Nam, từ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, bà Huyện Thanh Quan, đến Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Phùng Quán rồi Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên sa, Mai Thảo, Phạm Thiên Thư và nhiều nữa ...
Chúng ta cố gắng gìn giữ được chút nào mừng chút nấy những điều quý giá về văn học dân tộc từ ngàn xưa đến cận đại để nhắc nhở ôn lại với nhau và lưu lại cho mai sau, mong thoát nạn đồng hoá, huỷ diệt văn hoá của dân tộc VN.

Thiển ý người viết, chúng ta không nên hoặc thật cẩn trọng khi đăng tải những bài trích từ các nhà xuất bản trong nước (trừ khi trích dẫn để bàn bạc, dẫn chứng, phụ đề v.v...). Nói như thế không có ý cho là tất cả những bài viết trong nước không có một giá trị nào đó. Ngặt một điều những tài liệu này đã in ấn phát hành khắp nơi trong nước và đang được vận động để cố gắng len lỏi vào trong các trường học ngoài VN có đông học sinh gốc Việt ... họ đã đủ khôn khéo đế không dùng những bài quá sắt máu, thô thiển giống như hô khẩu hiệu. Họ pha một chút lịch sử đã cạo sửa, chút thơ thẩn văn vẻ để chúng ta dễ dãi bỏ qua, văn thơ phi chính trị mà ! Ngày qua ngày chỉ còn lại văn học XHCN của họ, Bôi xoá dần văn hoá văn học VN chân chính

Vậy chúng ta có nên tiếp tay phát tán dùm họ ... trong diễn đàn này? trong mục Bảo tồn và Lưu truyền Văn Hoá ?

Yêu cầu Tus! tránh post những bài tương tự vào các đề tài có tính gìn giữ văn học không CS !

Sở dĩ viết lời yêu cầu này vì nghĩ "Tus" với 2 dòng chữ ký tên này là Cactus ngày trước. Dạo ấy (khoảng tháng 10, 11 năm ngoái trong forum cũ) Cactus, không biết vì vô tư hay vô ý đã đôi ba lần posted mấy bài thơ, một trong các bài đó nói về tâm tư (có lẽ) của tác giả đã "lột xác, thổ huyết, cả vũ trụ hiện hữu vụt tiêu tan hoán chuyển cho tác giả đầu thai một kiếp mới: kiếp giác ngộ CNCS". Kèm theo tấm hình của những sọ người xếp đống thành ngọn đang bị ... lửa thiêu đốt.
hột cà phê mấy hôm đó đang lu bu, 2 hôm sau mới thấy, tối đang viết reply định post thì thấy mấy câu thơ, sọ người mất tiêu rồi... tiếp theo sau đó Cactus bỗng vui thích gì đó mà liên tục cũng cỡ vài tuần lễ mỗi ngày trong khoảng hơn tiếng đồng hồ Cactus post liền tù tì 8 - 10 posts trong các topic khác nhau ...

Nhắc lại để Cactus hiểu, mỗi người có ý nghĩ, sở thích khác biệt ... Cactus tham gia forum rồi quen biết bạn bè trò truyện vui vẻ là điều đáng quý. Mong Cactus nhớ dùm khi post bài trong forum, vui lòng tránh cho những câu thơ "giác ngộ" như rứa, hình ảnh như guậy hay những bài cổ suý, loan truyền cho văn thơ của hội Nhà Văn trong nước đang được đăng tải tràn lan ở bên nhà.

Xin lỗi các bạn và Thunder, hột cà phê đã làm các bạn mỏi mắt.



xuan hoang  
#347 Posted : Sunday, August 28, 2011 4:56:13 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Originally Posted by: coffeebean Go to Quoted Post

Xin phép Thunder và các bạn cho hột cà phê có ý kiến nơi đây qua post của TUS về bài bình thơ Hoàng Nhuận Cầm "Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến"

Khi chúng ta tình cờ tìm được một bài thơ hay, một đoạn văn cảm động, hay một bản nhạc của kỷ niệm, một bài viết nào đó mà thích quá bèn đem post chia sẻ với các bạn trong forum và thỉnh thoảng chúng ta post những bài lạc điệu, nhưng cũng chẳng sao ...

Bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm cũng có câu dễ thương, tác giả chắc vẫn còn sống và đang sáng tác mạnh, đã từng được giải thưởng của hội nhà văn VN đương thời, và thơ của ông cũng được nhà xuất bản của hội này in bán khắp nước ... có nghĩa là thơ ông không sợ bị ... tuyệt chủng. Nếu thích có thể viết chuyền tay nhau, đọc cho nhau nghe đâu đó, chớ chưa nhất thiết phải gìn giữ bảo tồn ...

Đề tài "Bảo tồn và Lưu Truyền Văn Hoá " đăng tải rất nhiều tác phẩm lưu danh trong văn học Việt Nam, từ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, bà Huyện Thanh Quan, đến Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Phùng Quán rồi Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên sa, Mai Thảo, Phạm Thiên Thư và nhiều nữa ...
Chúng ta cố gắng gìn giữ được chút nào mừng chút nấy những điều quý giá về văn học dân tộc từ ngàn xưa đến cận đại để nhắc nhở ôn lại với nhau và lưu lại cho mai sau, mong thoát nạn đồng hoá, huỷ diệt văn hoá của dân tộc VN.

Thiển ý người viết, chúng ta không nên hoặc thật cẩn trọng khi đăng tải những bài trích từ các nhà xuất bản trong nước (trừ khi trích dẫn để bàn bạc, dẫn chứng, phụ đề v.v...). Nói như thế không có ý cho là tất cả những bài viết trong nước không có một giá trị nào đó. Ngặt một điều những tài liệu này đã in ấn phát hành khắp nơi trong nước và đang được vận động để cố gắng len lỏi vào trong các trường học ngoài VN có đông học sinh gốc Việt ... họ đã đủ khôn khéo đế không dùng những bài quá sắt máu, thô thiển giống như hô khẩu hiệu. Họ pha một chút lịch sử đã cạo sửa, chút thơ thẩn văn vẻ để chúng ta dễ dãi bỏ qua, văn thơ phi chính trị mà ! Ngày qua ngày chỉ còn lại văn học XHCN của họ, Bôi xoá dần văn hoá văn học VN chân chính

Vậy chúng ta có nên tiếp tay phát tán dùm họ ... trong diễn đàn này? trong mục Bảo tồn và Lưu truyền Văn Hoá ?

Yêu cầu Tus! tránh post những bài tương tự vào các đề tài có tính gìn giữ văn học không CS !

Sở dĩ viết lời yêu cầu này vì nghĩ "Tus" với 2 dòng chữ ký tên này là Cactus ngày trước. Dạo ấy (khoảng tháng 10, 11 năm ngoái trong forum cũ) Cactus, không biết vì vô tư hay vô ý đã đôi ba lần posted mấy bài thơ, một trong các bài đó nói về tâm tư (có lẽ) của tác giả đã "lột xác, thổ huyết, cả vũ trụ hiện hữu vụt tiêu tan hoán chuyển cho tác giả đầu thai một kiếp mới: kiếp giác ngộ CNCS". Kèm theo tấm hình của những sọ người xếp đống thành ngọn đang bị ... lửa thiêu đốt.
hột cà phê mấy hôm đó đang lu bu, 2 hôm sau mới thấy, tối đang viết reply định post thì thấy mấy câu thơ, sọ người mất tiêu rồi... tiếp theo sau đó Cactus bỗng vui thích gì đó mà liên tục cũng cỡ vài tuần lễ mỗi ngày trong khoảng hơn tiếng đồng hồ Cactus post liền tù tì 8 - 10 posts trong các topic khác nhau ...

Nhắc lại để Cactus hiểu, mỗi người có ý nghĩ, sở thích khác biệt ... Cactus tham gia forum rồi quen biết bạn bè trò truyện vui vẻ là điều đáng quý. Mong Cactus nhớ dùm khi post bài trong forum, vui lòng tránh cho những câu thơ "giác ngộ" như rứa, hình ảnh như guậy hay những bài cổ suý, loan truyền cho văn thơ của hội Nhà Văn trong nước đang được đăng tải tràn lan ở bên nhà.

Xin lỗi các bạn và Thunder, hột cà phê đã làm các bạn mỏi mắt.





Trước hết xin lổi Thunder cho mình được có chút ý kiến ở đây .

Coffeebean thân mến ,

Mình đọc đi đọc lại reply của Hột cà phê mà thật sự không hiểu Hột cà phê muốn nói gì ở đây ????

Xin cho mình nói một chút xíu :

1 - Bài " Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến " là bài mình đã post trong Topic Bảo tồn ở Forum củ , có lẽ Tus thích nên giử và post lại ở đây lại .

Đây là bài về văn hoá , không phải bài nào ở trong nước được viết bởi những nhà Thơ & Văn " không được may mắn ra nước ngoài " thì " không được Bảo Tồn " hay là " không được chúng ta tôn trọng "

2 - Trong " The Beauty of Vietnamese Culture " hãy Tìm và Đếm xem có bao nhiêu bài của Các Tác Giả " đang sống ở Việt Nam hiện tại " ???

3 - Ngay cả Trung tâm Asia vẫn hát " những bài ca được sáng tác từ những nhạc sĩ trong nước ( Việt Nam ).


4 - Nếu " VÔ TƯ " góp ý thì nên - mình thật sự lắng nghe ...nhưng nếu góp ý vì " LÝ DO KHÁC " thì xin Cofeebean suy nghỉ lại .

5- Nếu trong bài viết trên có chồ nào " THÂN CỘNG " cofeebean chỉ ra dùm - nếu THẬT SỰ THÂN CỘNG mình sẽ yêu cầu người post delete và mình thành thật XIN LỔI Cofeebean .

Thân
xuan hoang

Edited by user Sunday, August 28, 2011 5:03:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#348 Posted : Sunday, August 28, 2011 9:59:35 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Đài Truyền Hình VHN - TV Khởi Động Phong Trào: Hãnh Diện Là Người Việt, Nói Tiếng Việt

UserPostedImage
Ông Bruce Trần.


08/27/2011

Westminster (Bình Sa)- - Nhân dịp Đài Truyền Hình VHN-TV phát động phong trào với chủ đề: "Hãnh Diện Là Người Việt Nói Tiếng Việt," phóng viên Việt Báo tiếp xúc với Ông Bruce Trần Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình VHN được ông cho biết: Sau 36 năm ly hương người Việt tại hải ngoại càng ngày càng đông đảo hơn, trưởng thành và có mặt trong nhiều lãnh vực khoa học kỹ thuật cũng như các ngành nghề chuyên môn khác sánh vai cùng người bản xứ cũng như các cộng đồng bạn. Đây là điều đáng mừng khi thấy những người trẻ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra và lớn lên trên xứ người, lúc nào các em cũng tự hào mình là người Mỹ gốc Việt, khẳng định rỏ ràng là người Việt Nam, nói tiếng Việt. Chính vì những lẽ đó nên Đài truyền Hình Việt Hải Ngoại - Televison gọi tắt là VHN-TV đã có mặt với cộng đồng người Việt hải ngoại hơn 5 năm qua, đã góp phần vào công cuộc phát huy và bảo tồn văn hóa nơi xứ người nhất là chương trình học và nói tiếng Việt, tạo nhịp cầu để mọi gia đình người Việt hải ngoại có cơ hội dạy dỗ con em mình học và nói tiếng Việt.

Ông Bruce Trần tiếp: "Không gì vui và hạnh phúc đầm ấm trong gia đình là mọi người từ ông bà, cha mẹ, đến con cháu cùng nói chung một thứ tiếng đó là tiếng Việt trong các buổi sinh hoạt gia đình, nhất là trong những bữa cơm..."

Để khuyến khích chương trình "Hãnh Diện Là Người Việt, Nói Tiếng Việt." Để phát động phong trào nầy, Đài Truyền Hình VHN tổ chức cuộc thi có thưởng với chủ đề trên bằng cách: gởi về đài các đoạn phim ngắn quang cảnh con cháu trong gia đình quây quần bên nhau để nói câu: "Hãnh Diện Là Người Việt Nói Tiếng Việt" thời lượng từ 15 giây đến 1 phút, quang cảnh có thể trong nhà, ngoài phố nơi mà gia đình đang sinh hoạt, gởi đoạn phim trên về Đài VHN - TV theo địa chỉ: 16055 Brookhurst Street, Fountain Valley, CA 92708; hoặc hộp thư điện tử: noitiengviet@gmail.com điện thoại liên lạc (714) 531-8884.

Đài Truyền Hình VHN-TV sẽ có 3 giải thưởng cho những đoạn phim đươc chọn: Giải Nhất $500, Giải Nhì $300, Giải Ba $100 và nhiều giải khuyến khích. Những đoạn phim đồng hương gởi về sau khi chỉnh sửa lại sẽ được cho phát hình trên Đài VHN-TV để đồng hương được xem. Ban Giám Đốc Đài rất mong được khán giả hưởng ứng, vận động và kêu gọi mọi người cùng tham gia vào phong trào nầy.

Ông Bruce Trần cũng mời gọi qúy tổ chức văn hoá, hội đoàn, đoàn thể bất vụ lợi, qúy cơ sở thương mại, các mạnh thường quân tiếp tay ủng hộ cho phong trào nầy bằng cách cho giải thưởng. Phương danh của qúy vị cũng như của các tổ chức, các cơ sở thương mại sẽ được thông báo trên Đài Truyền Hình VHN-TV và phổ biến rộng rải trên các hệ thống truyền thông, báo chí tiếng Việt.

coffeebean  
#349 Posted : Monday, August 29, 2011 12:17:17 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Nước tôi

Nguyễn Văn Cổn


UserPostedImage


Tôi có một tình yêu vô tận,
Tự nghìn xưa chôn sẵn đáy lòng...

...Đời Thục Đế vẫn còn dấu cũ,
Thành Cổ Loa sụp đổ vì đâu?
Suối vàng nàng hỡi Mỵ Châu,
Nghe chăng tiếng quốc canh thâu gọi hồn?

Bóng Trưng Vương vẫn còn phảng phất
Trong khói hương non nước tôn sùng,
Nghìn thu tỏ rạng má hồng,
Ai tìm thấy dấu cột đồng hận xưa?

Chốn rừng Thanh, voi đưa giận dữ,
Rửa thù chung, Triệu nữ sôi gan,
Liễu bồ chọn bước gian nan,
Mất còn chung với gian san quản gì?

Ngọn cờ lau mở thì vương bá,
Động Hoa Lư dấu đá chưa mờ,
Nước non có tự bao giờ,
Đinh Tiên Hoàng dựng cõi bờ bốn phương.

Quân nhà Tống tìm đường chiếm cứ,
Lê Đại Hành chống giữ giang sơn,
Tranh phong những trận mê hồn,
Quân Tàu khiếp sợ dám còn vãng lai!

Lý Thường Kiệt đủ tài thao lược,
Giữ san hà khỏi bước xâm lăng,
Quân thù khoe rắn, khoe rồng,
Mới nghe danh đã rủn lòng tháo lui.

Quân Mông Cổ chọc trời khuấy nước,
Đoàn kỵ binh như sức cuồng phong,
Á, Âu thâu núi đoạt sông,
Gặp Trần Quốc Tuấn, hãi hùng thoát thân.

Chốn Lam Sơn nhớ lần khởi nghĩa,
Họp con em mạnh mẽ đứng lên,
Trên đài tổ quốc bia truyền,
Gươm thần Lê Lợi ghi thiên anh hùng.

Suốt một đêm lướt vòng súng đạn,
Phá quân Tàu tán loạn trên sông.
Bình minh rõ bóng Quang Trung,
Trong bầu hùng vỹ Thăng Long reo mừng...

...Nước tôi đã đúc thành một khối,
Tự Nam Quan cho tới Cà Mau.
Núi rừng khai khẩn bấy lâu,
Mồ hôi, nước mắt, giãi dầu, gian lao.

Núi Tản Viên dạn màu sương gió,
Sông Cửu Long thương nhớ đầy vơi.
Lúa vàng bát ngát Đồng Nai,
Rừng xanh bao phủ dãi giài Hoành Sơn.

Đây là nơi mồ chôn kẻ trước,
Đây là nơi hẹn ước kẻ sau,
Nghìn thu sinh tử chung nhau,
Chung thương, chung nhớ, chung sầu, chung vui.

Nước non thế, ai người biết tới?
Biết hay không cũng tại lòng ta!
Hỏi rằng nước ấy gần xa?
Thưa rằng: Nước ấy tên là Việt Nam.


thanks 1 user thanked coffeebean for this useful post.
phamlang on 8/31/2011(UTC)
thuylinh  
#350 Posted : Monday, August 29, 2011 10:47:37 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)
Cô tiểu thư "xôn xao cả kinh thành"

Bây giờ thì những cô gái Huế phóng xe Spacy, @ ầm ầm qua cầu Tràng Tiền chẳng ai để ý. Thế nhưng 70 năm trước, chuyện một cô gái đội nón bài thơ, mặc áo dài trắng đạp xe từ Gia Hội về Đông Ba thì đã làm xôn xao cả kinh thành… Cô gái ấy là ai?

UserPostedImage


Nguyễn Thị Thiếu Anh - "Tiểu thư" đi xe đạp đầu tiên ở Huế


Xin thưa đó là cô học sinh - con gái cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niệm đương chức Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên- kinh đô Huế: Nguyễn Thị Thiếu Anh.

Vào năm 1937, chính cô học trò này đã nổi tiếng khi đoạt giải nhất văn toàn quốc với số điểm 20/20, được nhà vua đích thân trao giải thưởng gồm một xấp vải đẹp, một chiếc đàn banjolin và một cuốn Larousse Ménager (Từ điển gia chánh).

Vì sao phải tập xe đạp? Giỏi văn, Cô học trò tuổi mới 15 lúc ấy đã tự nguyện tham gia vào "học sinh văn đoàn" vừa chịu trách nhiệm biên tập vừa lo công việc quản trị tờ báo phải chạy "phát hành" và giao dịch nên phải tập đi xe mới đủ thời gian.

Và người cổ vũ động viên cô gái tập đi xe ấy chính là người anh ruột - Nguyễn Khắc Viện, một nhà văn, nhà báo, nhà văn hoá, một bác sĩ nổi tiếng không chỉ ở ta mà cả ở Pháp.

Cô gái giỏi văn ấy, không chỉ học giỏi điểm cao mà ngay từ tuổi trăng tròn đã có bài thơ Chiếc nón Huế làm cho các bậc thi sĩ đàn anh như Xuân Diệu, Tế Hanh, Thanh Tịnh phải để mắt đến… Và 10 năm sau, GS. Nguyễn Lân đã chọn để đưa vào sách Giáo khoa văn tuyển lớp 6.


UserPostedImage
Bìa cuốn Thơ văn chọn lọc
Nguyễn Thị Thiếu Anh - NXB Phụ Nữ


"...Sung sướng cầm chiếc nón
Đội nghiêng nghiêng lên đầu
Thướt tha hơi làm dáng
Thèn thẹn... em bước mau...
Me cười: Ồ con me
Dí dỏm học làm sang
Chỉ thiếu chiếc kiềng vàng
Con thành "cô gái Huế"...

Học giỏi, tiểu thư nhà đại quan NTTA "nổi tiếng", nhưng cô càng nổi tiếng hơn khi bị thất học. Lúc đó, NTTA đang là nữ sinh Đồng Khánh (Huế) - lớp 2e année, tương đương lớp 7 bây giờ.

Vì nghi ngờ học sinh quay cóp, bà "đầm" dạy tiếng Pháp đã giận dữ đập bàn quát: "Người An Nam các cô đều là quân ăn cắp!" (Toutes les Annamites sont des voleuses!")

Lòng tự trọng dân tộc bốc lên ngùn ngụt, NTTA đứng vụt dậy, đanh thép đáp trả: "...Tất cả những người Pháp sang xâm chiếm Việt Nam mới là quân ăn cướp!"

Mặc cho bà Hiệu trưởng khuyên NTTA xin lỗi thì nhà trường sẽ cho qua, nhưng NTTA nhất quyết không cúi đầu thà "bị đuổi học và bị cấm thi 3 năm vì có tư tưởng phản nghịch."

NTTA thất học từ đó. Chuyện cô tiểu thư con quan Phủ doãn Thừa Thiên bị đuổi học càng làm cô thêm nổi tiếng, đến mức ông TK (sau này là cán bộ Việt Minh Nghệ An) đã làm thơ vịnh Người đẹp như sau:

"Lừng lẫy đức tài giữa đế kinh
Xứng nền thi lễ nếp trâm anh
Giữa rừng văn học vang ngòi bút
Trong chốn phồn hoa vẹn chữ tình
Ăn ở nêu gương người tín nghĩa
Vào ra tỏ rõ nét đan thanh
Khen ai khảng khái bênh nòi giống
Muôn thuở Hương Binh vẫn rạng danh"
.


Nguyễn Thị Thiếu Anh - cái tên gắn với nhiều giai thoại


Thời học trò của NTTA có thể nói ngắn ngủi, nhưng đọc lại đôi nét phác thảo qua các tác phẩm được xuất bản gần đây thì nhiều chuyện rất cuốn hút. Chuyện bà đi học chữ Nho, chuyện "đối thoại" với Nam Phương hoàng hậu, chuyện những người bạn trai thời đi học… tất cả đều rất đời thường nhưng nó gợi lên nhiều tư liệu quý về một thời đáng nhớ!

Ở cái tuổi 80 viết lại những chuyện tình có có, không không của tuổi ô mai, mực tím thời "Tự lực văn đoàn" đang làm say đắm bao người! Phải chăng, lúc này không còn sự xô bồ tính toán nào khác mới có thể ghi nhớ được những tình tiết lãng mạn tươi nguyên đẹp đẽ đến vậy
!


UserPostedImage
Bài thơ Chiếc nón Huế - sáng tác năm 1937 in ở bìa 4
cuốn Thơ văn chọn lọc - Nguyễn Thị Thiếu Anh


Người đọc sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác: Một cô gái suốt đêm mê đọc tiểu thuyết, sáng dậy không kịp chuẩn bị đi đón Nam Phương hoàng hậu. Một cô gái thuộc thơ tình Pháp bằng tiếng Pháp… Ấy vậy nhưng cô chấp nhận lời cầu hôn về làm dâu một gia đình, mà cuộc đính ước được sắp đặt từ trước khi cô sinh ra 13 năm!

Bởi khi người cha đỗ Hoàng giáp vinh quy bái tổ, cụ Hoàng giáp khoá trước là thầy học của ông không có con gái để gả cho nguời học trò yêu quý của mình, liền hẹn về sau nếu ông tân khoa có con gái kha khá thì gả cho cháu nội của thầy. Bởi giữ Lễ ấy, mà hơn 30 năm sau, Nguyễn Thị Thiếu Anh đã hoàn toàn tự nguyện lấy người "đính ước".

Nhưng mối tình "sắp đặt" ấy lại rất đẹp, đẹp ngay cả khi cô tiểu thư từ kinh đô về quê chồng nuôi mẹ và trở thành một thôn nữ, một nông dân cày cuốc nuôi ba con nhỏ để chồng yên tâm ra chiến trường.

Trong chúng ta, nhiều người thuộc bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung, nhưng nhà thơ nổi tiếng một thời này cũng chỉ là người đứng trên bờ ruộng để làm thơ, còn Thiếu Anh làm thơ mùa gặt, chính là những xúc cảm chân thật khi chính mình đang "Chân ngập dưới bùn sâu, Mồ hôi đầy nước mắt”.

Cô tiểu thư khuê các ngày xưa lại là một người nông dân thực sự làm ruộng đổ mồ hôi sôi nước mắt:

"Ngày nay em đi gặt
Chân ngập dưới bùn sâu
Mồ hôi đầy trước mặt
ướt đầm vụ áo sau
Em cầm hái đưa mau
Lá cành kêu soàn soạt?
Lúa vàng reo lao xao..."

nặng nhọc hơn cả người thôn nữ bình thường khi cô phải đảm nhiệm cả công việc của người đàn ông:

Trao liềm hái cho con
Em thu xếp gánh gồng
Về mau trục lúa sớm
Kẻo đêm qua trời giông


UserPostedImage
Bà Nguyễn Thị Thiếu Anh năm 1942


Cũng là bài thơ Mùa gặt, nhưng bài thơ khi tác giả đứng dưới ruộng khác hẳn những gì tác giả viết khi còn là môt cô tiểu thư đứng trên bờ viết về mùa gặt:

"ngồi dưới bóng cây cao / nhìn sóng lúa lao xao …Dưới ruộng sâu, Anh chị nông dân làm những gì, nghĩ những gì, em nào có biết…"

Đã có nhiều sáng tác thơ văn nói lên tình cảm tiền tuyến hậu phương… Thơ văn Nguyễn Thị Thiếu Anh về chủ đề này hoàn toàn chỉ là những cảm xúc riêng tư, viết cho mình chứ không phải viết để đăng báo, viết là để trăn trở, chiêm nghiệm, cảm xúc phải chăng cũng vì thế mà người đọc đồng cảm rất nhanh và cũng rất tự nhiên.

Đêm nay tối giao thừa
Vườn cau lất phất mưa
Trong gian phòng vắng vẻ
mình em trước án thờ
Con thơ quên đón Tết
Mẹ già già hơn xưa
Ai châm hương nến tết
Ai khêu ngọn đèn mờ
Giờ đây trên chiến khu
Nơi rừng thẳm hoang vu
Anh còn thức không nhỉ
Anh có đợi giao thừa?

Thơ văn Nguyễn Thị Thiếu Anh chỉ tập trung quanh mối quan hệ trong gia đình, bạn bè thân thuộc, thậm chí bà viết về những cô gái ôsin, em bé đánh giày mà bà gặp… nhưng nhân vật nào cũng để lại trong lòng bạn đọc những suy nghĩ khó phai.

Dân gian có câu: Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng, nhưng bà đã khiến người đọc thực sự ngạc nhiên và xúc động với những câu thơ chan chứa lòng biết ơn:
Mồ côi mẹ từ khi lên một
Nhưng không hề chịu cảnh cô đơn
Tôi là kẻ trời ban riêng diễm phúc
Thấy trong đời bánh đúc có nhiều xương...

Nhận xét về bài thơ Mẹ kế tôi, nhà văn Thanh Hương (Nguyên Tổng Biên tập báo Phụ nữ Việt Nam) viết: đây là một bài thơ hay bởi đó là những câu thơ thốt lên từ trái tim chân thật và làm xúc động lòng người đọc . Càng đọc càng yêu mến cảm phục tấm lòng và đức độ của người mẹ kế.

Cám ơn tác giả đã đem đến cho người đọc những cảm xúc thật đẹp và lành mạnh - những cảm xúc làm cho người ta thấy thương yêu cuộc sống và muốn sống sao cho ngày càng xứng đáng hơn cao đẹp hơn.


Viết như "chơi" mà ngấm, mà thấm...

Thất học từ năm 17 và phải đợi đến ngày chống Pháp thắng lợi, khi vào tuổi 40 mới lại được cắp sách đến trường học nghề thuốc và ra làm nghề thuốc cho đến khi về hưu. Nhưng lòng yêu mến văn chương, sự tìm tòi chắt lọc, ghi nhận của bà đối với cuộc sống hàng ngày thì không lúc nào ngưng nghỉ.

Bởi vậy, sau khi về hưu từ 1989 bà đã cho xuất bản liên tục các tác phẩm: Gửi Huế, Tình yêu thuở ấy, Hoài niệm, Tình đời tình thơ, mãi mãi bên nhau, Góp nhặt cuối đời, Ơn sâu nghĩa nặng tình thâm...

Một bà lão 80 ngồi bán chè, thuốc lá điếu dưới tán cây sung trước nhà; vừa bán hàng vừa làm thơ, vừa bán thơ. Đó cũng chuyện xưa nay hiếm! Chắt chiu từng đồng lẻ tiền lãi hàng ngày để xuất bản sách, mang thơ đến với đời...

Một tiểu thư con quan lớn chịu thất học về quê làm ruộng nuôi con cho chồng xa nhà đi đánh đánh giặc, đến cuối đời tuổi đã rất cao tưởng được an nhàn thì lại tự mình chăm sóc chồng nằm liệt suốt mấy năm liền... Vậy mà mạch văn bà vẫn rất sáng, cái nhìn cuộc đời của bà vẫn rất nhân hậu.



UserPostedImage
Cụ Thiếu Anh tuổi 80 tại Hà Nội


Ngay trong lời di chúc của bà vẫ cho người đọc thấy cái hóm hỉnh và cả tấm lòng bao dung rộng mở:

Nam Tào đã gọi họ tên tôi
Săp phải ra đi vĩnh viễn rồi
Chỉ mong đất nươc mau cường thịnh
Dân nghèo sớm được sống yên vui
Thôi chào vĩnh biệt TA đi nhé!
Xin gửi tình thương đến mọi người. (TA viết hoa cả hai chữ là cách chơi chữ ghép T và A - Thiếu Anh.)

Ai đã từng đọc thơ, văn Nguyễn Thị Thiếu Anh chắc sẽ rất đồng tình với lời bày tỏ của nhà thơ, nhà văn Đông Trình - một tác giả được nhiều người biết đến từ trước 1975 .

"Trong thời gian dưỡng bệnh, tôi có đọc được cuốn Tình yêu thuở ấy của chị. Chị viết rất lôi cuốn. Đã đọc là không thể ngừng lại. Chỉ cần một cuốn ấy thôi, tôi có thể hình dung ra một con người, một nhân cách, một thời đại, đúng như anh Hoàng Phủ Ngọc Tường giới thiệu.

Vốn liếng là cuộc sống thực, chị đưa vào văn, văn chị thâm thuý giàu chất hiện thực mà dí dỏm và "đáo để". Tôi có cảm giác chị viết như chơi, như trò chuyện với người thân. Thế mà ngấm, mà thấm. Lối viết ấy trong văn học ta hiện nay không nhiều, đối với phái nữ thì lại càng hiếm…"

Là người bất ngờ được đọc cuốn sách Thơ văn chọn lọc - Nguyễn Thị Thiếu Anh, tôi cũng đã không thể ngừng lại


Nguyễn Lương Phán

Edited by user Wednesday, August 31, 2011 7:34:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#351 Posted : Tuesday, August 30, 2011 1:05:54 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Quê Hương Với Cái Đòn Gánh Thân Quen


UserPostedImage



Xem ra, các dân tộc trên thế giới, người đàn bà, con gái không nơi nào dùng đòn gánh như người Việt Nam. Người Tây phương, người Ả Rập, người Phi Châu, người Mỹ, Nam Mỹ, họ chỉ đội trên đầu, tay xách hay ôm, vai mang (như mang ba-lô) chớ không gánh như người Việt Nam.

Có lẽ nền “Văn Minh Cây Tre” sinh ra “Văn Minh Cái Đòn Gánh” bởi vì cây đòn gánh làm bằng tre, không làm bằng gỗ. Gỗ cứng ngắt, không uyển chuyển, không “mềm” nên không làm đòn gánh được. Đòn gánh làm bằng gỗ gánh đau vai lắm. Đòn gánh làm bằng tre uyển chuyển hơn, hai đầu nặng của đòn gánh nhún nhảy hơn nên đỡ đau vai nhiều.

Người Việt Nam dùng tre trong nhiều việc, cũng từ đó mà sinh ra cây đòn gánh để người ta dùng. Đòn gánh thường làm bằng tre đực (tre đực là tre đặc ruột), bị đẻo mất mộ nửa, giữa hơi dày để chịu sức nặng, hai đầu hơi mỏng để dễ uyển chuyển. Đầu đòn gánh có mấu để giữ cho đầu gióng không di chuyển được, không vuột ra khỏi đòn gánh.

Có khi ở đoạn giữa đòn gánh, người ta cặp thêm một đoạn tre ngắn để chịu được nhiều sức nặng hơn. Gánh những món hàng tương đối nhẹ, như bán chè, bán cháo… người ta dùng loại đòn gánh không cặp thêm cho nhẹ vai. Với những vật dụng nặng hơn như gánh lúa, gánh gạo, người ta dùng loại đòn gánh có cặp thêm tre.

Với những món hàng nặng hơn nữa, như cá, củi, than, người ta không dùng loại đòn gánh ngang bằng mà dùng loại hai đầu cong vễnh lên. Gánh hàng rong là người ta gánh bún, phở, cháo lòng đi bán rong quanh xóm, quanh
làng từ sáng tới chiều. “Gánh hàng hoa” - Như tên một truyện của Khái Hưng - là cô gái gánh hoa ra chợ bán, có khi chợ sớm, có khi chợ chiều.

Do đó mới có câu ca dao:
“Thân em như gánh hàng hoa, Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều.”

Gánh lúa là người ta gánh lúa từ đồng về nhà. Gánh củi là gánh từ rừng về, cũng hơi xa. ,Gánh cá là xa nhất. Để kịp chợ, để cá được tươi,người gánh cá vừa gánh vừa chạy, thành từng đám cho vui bạn bè. Gánh lúa cũng có thể dùng đòn gánh hay dùng đòn xóc. Đòn xóc là một loại đòn gánh nhưng hai đầu nhọn để đâm mũi nhọn vào bó lúa cho dễ. Gánh lúa là hình ảnh tiêu biểu cho nông dân Việt Nam, nên việc gánh lúa đi vào trong thơ, trong nhạc, và cả trong địa lý.


UserPostedImage



Trong thơ thì có: “Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” (Ca dao), trong nhạc thì có “Gánh, gánh, gánh… Gánh lúa về…” (Gánh Lúa - Phạm Duy và Lê Yên). Về địa lý, người ta ví đồng bằng sông Nhị và đồng bằng sông Cửu Long như hai thúng gạo, miền Trung là cái đòn gánh. Phạm Duy viết: “Gạo Nam, gạo Bắc, đòn miền Trung, gánh đừng để rơi.” đòn gánh làm bằng tre, rất uyển chuyển làm cho người gánh bớt đau vai và thấy nhẹ, nên người Tây dịch chữ đòn gánh là fléau, lấy từ nghĩa của động từ flechir là bẻ cong, còng, làm xiêu, làm dịu, oằn, giảm bớt, hạ xuống.

Sở dĩ người Tây phải dịch là vì xứ họ cũng như Tây phương, Mỹ, Nga không có đòn gánh.


Như mọi người biết, cây tre rất đa dụng. Trước hết, tre làm hàng rào, bảo vệ từng nhà, từng làng. Giặc cướp, quân xâm lăng khó vượt qua được những lũy tre làng để tiến vào làng nên nhiều nhà sử học cho rằng, cây tre, lũy tre đã góp phần vào việc giúp người Việt Nam giữ vững nền độc lập. Đó là nói về chiều sâu, chiều xa.

Gần gủi và cụ thể thì tre giúp người Việt Nam làm nhà như cột kèo, phên vách, cửa nẽo, kết tranh; làm dụng cụ như thúng, mũng, trẹt, nong… và đòn gánh, đòn xóc.Người không chuyên thì chỉ gánh được một vai, thường là vai phải. Có người gánh được cả hai vai, nhất là những người phải gánh đường xa.

Lúa gánh từ đồng về nhà có khi cũng xa lắm. Gạo gánh từ nhà ra chợ bán cũng xa lắm. Nhứt là mấy bà gánh cá như tôi nói ở trên thì lại quá xa. Vì vậy, khi gánh một vai bên nầy lâu quá, mỏi thì người ta đổi qua vai kia. Trên đường dài, người gánh phải đổi vai nhiều lần như vậy.

Người ta phải tập mới gánh được. Mấy cô gái quê, 15, 17 tuổi là phải tập gánh. Không biết gánh, công việc đồng áng tất phải trở ngại. Ban đầu, người ta gánh vài ba chục ký.Sau đó, khi gánh quen, bớt đau vai thì trọng lượng gánh được tăng lên. Đàn ông lực lưỡng, nếu quen, có thể gánh tới 150 Kg. Những gia đình ở gần sông, phần đông các cô các bà đều biết gánh nước. Tắm giặt có thể ở sông, nhưng phải gánh nước về nhà để nấu ăn.

Ngày xưa, người ta gánh nước trong cái thùng gỗ, thùng tre trét nhựa đường cho khỏi chảy. Sau nầy, khi có dầu hôi thì người ta thường dùng thùng dầu hôi để gánh nước. Thùng dầu hôi hiệu Con Gà (Có hình con gà bên hông) hay Con Sò (Có hình con sò bên hông) dung tích 20 lít, nặng 20Kg. Hai thùng hai đầu là 40Kg. Gánh 40 Kg đi lên dốc bờ sông, nhiều khi đường trơn trợt, cũng là một khổ nạn.


UserPostedImage




Tuy nhiên, nước sông khi trong khi đục, khi dơ khi sạch, nhứt là khi có nước lũ thì nước đục ngầu, không nấu ăn được.
Để có nước nấu ăn, ở thôn quê, người ta thường đào giếng. Làng có những cái giếng chung, xây bằng gạch hay đá. Giếng rộng và sâu, đủ nước cho nhiều gia đình. Giếng thường đào bên cạnh gốc đa để có bóng mát cho mấy bà mấy cô ngồi giặt giũ hay chuyện trò.

Giếng làng là nơi tập trung cho mấy cô thông minh; thông minh nên “nhiều chuyện”. Đi gánh nước cũng là dịp mấy cô gặp nhau để “nhiều chuyện”, chuyện nầy chuyện kia, chuyện mấy cô mấy cậu, chuyện ông nọ bà kia. Người gánh nước giếng phải mang theo cái gàu; gàu mo hay gàu sắt, gàu tre. Bạn có biết cái đòn gánh tạo ra cái áo nối vai hay không?


Người Huế, nói chung là người miền Trung, không như người Nam, mỗi khi ra các mệ ,các O xứ Huế ra đường đều mặc áo dài. Mặc áo dài mà đòn gánh đằn vai thì chỗ đòn gánh đặt lên vai áo mau sờn, mau rách. Chỗ vai áo thì đã sờn mà cái áo còn tốt nên người ta cắt miếng vải nối vai.Cái áo trở thành áo nối vai, có khi đồng màu, có khi không. Tôi từng thấy những cái áo dài đen hay nâu nối vai vải trắng. Cái áo nối vai chứng tỏ cho người ta thấy nỗi khó khăn, gian khổ, vất vả của người đàn bà Việt Nam. Nói tới “Áo Dài Việt Nam” mà quên cái áo nối vai là một thiếu sót lớn!

Cách đây ít lâu, đọc cuốn “Hiền Lương Chí Lược” của một ông chú họ, nói về quê nội tôi, tôi thấy ông chú dùng chữ “Đòn gánh đằn vai” để mô tả sự đảm đang của người đàn bà quê nội tôi. Nó cũng có nghĩa như buôn tảo bán tần vậy. Hễ buôn bán thì “đòn gánh đằn vai.” Mấy tiếng ấy, lâu ngày đã quên, nay có người nhắc lại, tôi thấy xúc động lắm.




UserPostedImage




Tuệ Chương





UserPostedImage
Khoaitây  
#352 Posted : Tuesday, August 30, 2011 10:33:57 PM(UTC)
Khoaitây

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/27/2011(UTC)
Posts: 336
Location: Đất Mẹ

Thanks: 147 times
Was thanked: 278 time(s) in 160 post(s)
MỘT THỜI GUỐC MỘC - YÊN XÁ.

UserPostedImage


Thưở ban sơ, guốc “mộc” là vật dụng đi chân của cả nam và nữ, đế bằng, thấp bằng gộc tre, quai mây cốt bảo vệ đôi chân trong mùa giá rét và tránh nóng. Sau đó, guốc mộc được chau chuốt hơn về hình dáng với loại gỗ có trong vườn nhà nông như mít, xoan, de, mỡ, dàng dàng, kiểu “tự cung tự cấp” …

Lốc cốc khắp làng trên xóm dưới, phố phường, thị tứ là tiếng guốc mộc. Lẹt quẹt là của các cụ già, đĩnh đạc là của cụ đồ, lách cách, nhẹ nhàng là của các cô các chị, rộn ràng là của lũ trẻ ranh, đến độ, thân quen như hơi thở cuộc sống. Guốc mộc đích thị là sản phẩm thể hiện sự thích ứng với điều kiện tự nhiên khá tinh thông của người Việt, trong điều kiện nắng lắm, mưa nhiều. Năm 1944, Hilda Arnhold, một tác giả nữ người Pháp, làm việc ở Hà Nội có viết cuốn ký sự nhan đề Bắc kỳ - phong cảnh và ấn tượng đã có hẳn một “bài ca guốc gỗ” với cảm nhận tinh tế như của một người con đất Việt.


Hà Nội có hai làng chuyên đóng guốc là Kẻ Giày, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng và làng Yên Xá, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì. Trong đó, làng Yên Xá được ví như “kinh đô” của nghề guốc, nơi cung cấp một lượng guốc lớn cho khắp vùng Hà Đông, Hà Nội… Giờ thì “kinh đô” guốc mộc thuở nào đang dần chìm vào dĩ vãng. Dấu xưa, nghề cũ chỉ còn thấp thoáng trong vài hộ yêu nghề.

“Kinh đô” guốc mộc
Trước khi có các loại giày, dép bằng nhựa, bằng da như hiện nay, người Việt thường dùng tre, gỗ để làm guốc đi. Hình ảnh áo the, khăn xếp, đôi guốc mộc đã thành quen thuộc với người dân Việt. Vào những ngày giá rét, phụ nữ và đàn ông khi dự hội hay vào đám thường đi guốc gộc tre, còn trong nhà thì đi guốc gỗ mũi cong, quai tết bằng mây. Những năm 1950-1960 của thế kỷ trước, guốc mộc được sản xuất ở Yên Xá và Kẻ Giày, sau đó được gom về phố Hàng Gà hay phố Bạch Mai ở Hà Nội để sơn, xì hoa rồi mới đem đi bán.
Có hai thôn Triều Khúc và Yên Xá trong lịch sử nổi tiếng với nghề dệt và làm guốc. Nay nghề truyền thống của cả hai thôn đều suy giảm, trong khi đó, nghề thu gom phế liệu, đồng nát lại lên ngôi. .
Vào các năm 1980 đến 1985, gần như 100% số hộ dân ở làng Yên Xá làm nghề guốc. Làng quê chẳng khác nào một công xưởng lớn, từng đoàn xe tấp nập chở gỗ về làng và cất hàng đi tiêu thụ. Guốc Yên Xá lúc ấy gồm 2 loại chính là guốc 5 phân và 7 phân, có đóng triện hình con voi lên đôi guốc; cũng có hộ còn làm hàng cao cấp bằng gỗ thông. Người Yên Xá làm guốc mộc bằng gỗ vạng, bồ đề, xoan, gáo, thông… vừa dễ cưa xẻ, vừa nhẹ lại bóng đẹp.

Tùy theo kích thước của cây gỗ, người thợ cắt gạn rồi pha gỗ, đục, đẽo, tạo dáng, đánh nhẵn, gắn quai… Tất cả các khâu đều được làm thủ công nên kỹ thuật tạo dáng vô cùng quan trọng. Mà thợ Yên Xá rất giỏi, không cần máy móc mà các đôi guốc vẫn đều tăm tắp. Đến năm 1995-1996, kỹ thuật làm guốc được cải tiến mạnh, bắt đầu dùng máy cưa, máy bào, máy đánh bóng, phun sơn… thay vì làm thủ công. Nhờ vậy, mỗi ngày làng nghề cung cấp cho thị trường hàng nghìn đôi guốc các loại, thêm thu nhập cho người làm nghề. Nhớ về một thời vàng son của làng nghề guốc, ông Nguyễn Huy Hưng, Phó trưởng thôn Yên Xá, cũng là một trong những hộ từng tham gia sản xuất guốc thời ấy cho hay: “Ngoài làm ruộng, người Yên Xá còn dệt, làm nón, làm chổi lông gà, lông vịt, đóng hòm, làm guốc… Đặc biệt, nghề làm guốc mộc Yên Xá nức tiếng gần xa về quy mô sản xuất và tính thẩm mỹ”.

Mai một làng nghề

Đến thôn Yên Xá bây giờ, nhiều người không nhận ra nơi đây từng tồn tại nghề guốc mộc nổi tiếng. “Khi các loại giày dép thời trang vô cùng phong phú, đẹp mắt tràn ngập thị trường thì cũng là lúc guốc mộc Yên Xá không còn được chuộng nữa. Số hộ làm guốc giảm nhanh chóng. Nếu như cách đây 20 năm, cả thôn Yên Xá có hàng trăm hộ làm guốc thì nay chỉ còn lại 3 hộ giữ nghề”.

Khó khăn lắm người viết bài này mới gặp được một hộ còn làm guốc ở thôn. Đó là gia đình ông Dương Công Đức, xóm Hoa Xá. Ông Đức cho hay, cách đây khoảng 5 năm, ông cùng một nhóm nghệ nhân ở làng nghề đã tham gia đẽo gọt thành công đôi guốc lớn kỷ lục Việt Nam để trưng bày tại triển lãm Vân Hồ (Hà Nội). Đây là niềm tự hào của ông và bao người dân làng nghề. Ông Đức bảo: Trong làng còn rất nhiều hộ yêu nghề truyền thống, nhưng khó sống bằng nghề này nên giờ cũng đã bỏ nghề cả rồi. Số hộ còn tồn tại được như nhà tôi phải liên tục cải tiến mẫu mã theo xu hướng thời trang hiện đại mới trụ được, nhưng cũng rất lay lắt.

Sự thất thế của đôi guốc mộc trước cơ chế thị trường xem ra khó tránh, nếu không có sự sáng tạo đột phá. Nguy cơ mai một làng nghề đang hiện hữu ở ngay “kinh đô” guốc mộc lớn nhất một thời. Âm vang của làng nghề đã để lại những hình ảnh đẹp trong ký ức của bao người dân làng Yên Xá.

UserPostedImage


Còn đâu guốc mộc ngày xưa.
Theo LV.Trích Vifash

Edited by user Tuesday, August 30, 2011 10:42:32 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chiều loang màu tím nhớ thương
Ngõ về nhạt nắng một đường chân mây
...KT...
phamlang  
#353 Posted : Wednesday, August 31, 2011 10:15:48 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,549

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Gia Pháp - Gia Lễ - Gia Phong


Tác giả Nguyễn Đức Quỳnh

Gia Pháp

Đặc biệt nhất trong văn hoá gia đình Việt là có một gia pháp cho từng thành viên của gia đình cần phải gìn giữ.
Gia pháp là phép tắc của một gia đình, phép tắc này không ghi thành bản văn, mỗi gia đình có một gia pháp riêng, nhưng cũng rất chung nhiều cho các gia đình.

Gia pháp bao gồm:

Những phép tắc trong hành xử: làm con phải hiếu, làm anh chị phải nhường…
Những phép tắc về kính: giỗ chạp, kiêng tên, báo ân, họp mặt chúc tết ông bà…
Những nguyên tắc khi phải sửa dạy..

Gia pháp là một thứ luật lệ không văn bản trong một gia đình, cho nên người Việt được dặn khi đi đến đâu, khi đến ở gia đình nào, cần phải tuỳ cơ ứng biến mà: “Nhập gia tuỳ tục”. Giữ gìn phép tắc của gia đình người khác như gia đình của minh mới là người được đáng tôn trọng trong xã hội Việt Nam chúng ta.

Gia lễ

Lễ (nghi thức) của gia đình có thể tóm tắt trong: "quan, hôn, tang, lễ".
Quan không có nghĩa là làm quan, quan ở đây chính nghĩa là đội mũ, là hình thức lễ trân trọng chào mừng đứa bé mới ra đời;
Hôn có nghĩa là lễ thức hôn nhân của gia đình làm đẩ chúc mừng cho đôi trẻ thành hôn;
Tang là lễ thức tiễn đưa một người về chầu tiên tổ;
Tế là những hình thức tế lễ để kinh nhớ ông bà tổ tiên.

Gia pháp - Gia Lễ định hình cho một cấu trúc gia đình, không thành văn, mọi người đều cần được học biết để: "Nhập gia tuỳ tục", theo đó mà đánh giá được mức độ hiểu biết và lòng tôn trọng của người đến thăm.

Gia Phong

Từ những gia pháp - gia lễ của các gia đình hình thành nên gia phong của các gia đình ấy. Gia Phong nghĩa là phong cách sống của một gia đình, nó là danh dự của gia đình ấy, không được phép làm nhục gia phong, người làm nhục có thể bị khai trừ khỏi họ.

Ví dụ đời nhà Trần có Trần Ích Tắc, Trần Kiện bán mình cho quân Nguyên đã bị xoá tên trong họ để khỏi làm nhục cho gia phong.
Để gìn giữ gia phong nên mới có những gia huấn ca. Có rất nhiều sách gia huấn ca dành cho trẻ con cũng như người lớn. Điển hình sách dạy cho trẻ em thì có: Bùi Gia Huấn Hài của Bùi Dương Lịch, Khải Đồng huyết ước của Phạm Vọng, Sở học chỉ nam của Nguyễn Huy Oánh, Sách học vấn tân của Đặng Huy Trứ, về vè thì có Hiếu tự ca, Nữ tắc thường lẽ.. của cụ Sáu Trần Lục.

Những sách cho nhiều người làm sách gối đầu thì có gia huấn ca của Nguyễn Trãi, Huấn Đồng thi tập của phùng Khắc khoan (Hoàng giáp năm 1580), Nữ huấn tân thư của Ngô Thế Vinh (tiến sỹ năm 1829), Ngũ huấn quốc tự âm của Nguyễn Tông Khuê (hoàng giáp năm 1721), Phụ châm tiện lãm của Lý văn Phức (cử nhân năm 1820)… các sách thuộc loại gia huấn ca có chỗ đứng rất cao trong các thể loại sách từ xưa đến nay.

Từ hình thức văn chương đến hình thức kịch nghệ, sân khấu, đến phim ảnh là khoa học hiện đại, chủ đề gia huấn ca vẫn là một đề tài hấp dẫn nhiều người bằng nhiều cách thức diễn tả khác nhau. Các phim ảnh có ảnh hưởng nhiều nhất đối với người Việt là loại phim ảnh tâm lý giáo dục hôn nhân gia đình.Thấy những giá trị của gia huấn ca mới thấy được tầm quan trọng của nét gia phong, chính ở đó hình thành những nhân cách cá nhân tuyệt vời cho xã hội.

Gìn giữ và phát triển gia phong là cách bảo tồn văn hoá gia đình cách thiết thực và chinh phục nhất và cũng là cách thức bảo tồn phong phú nhất cho bản sắc văn hoá gia đình Việt.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
TUS  
#354 Posted : Thursday, September 1, 2011 1:04:06 AM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
VỘI VÀNG

Xuân Diệu




Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.


UserPostedImage


Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.


UserPostedImage


Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng chợt tắt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?


UserPostedImage


Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa...
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,


UserPostedImage


Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
-


UserPostedImage


Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!


UserPostedImage



UserPostedImage
Hạ Vi  
#355 Posted : Thursday, September 1, 2011 3:51:34 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Back To School - Giã biệt mùa hè


UserPostedImage



Mùa hạ đã qua. Cổng trường học đã mở lại, một niên học mới bắt đầu. Hình như tuổi học trò có lẽ là thời điểm đẹp nhất của đời người. Có khi, đó là đôi mắt ngây thơ hừng hực sức sống hướng về tương lai của một chặng khởi hành. Có khi, đó lại là những tình cảm ấm áp của những trái tim rộn ràng vừa biết yêu. Có khi, là nỗi niềm chia ly của những mối tình học trò, là những mộng ngoài cửa lớp, mơ đến ngàn phương. Văn chương, thi phú, âm nhạc, ... hình như tràn đầy tâm cảm ấy.

Mùa tựu trường đã tới. Với cái nhìn ngoái lại quá khứ, tìm về kỷ niệm đối chiếu trong văn học và đời thường, trong sách vở và đời sống, bài viết này như một tản mạn về những ngày tháng đầy mộng mơ, nhiều lãng mạn của thời điểm bắt đầu mùa thu và giã biệt mùa hè. Mong ước rằng, chúng ta sẽ cùng nhau nhìn vào hiện tại, nhớ về quá khứ và hướng vọng về tương lai để cùng chia sẻ với nhau những tâm tình thiết tha lạc quan nhất của đời người.

Mỗi năm cứ vào khoảng thời gian đầu tháng 9, chúng ta lại thấy hàng chữ “back to school” xuất hiện trên báo chí và các phương tiện truyền thông. Ngoài ý nghĩa thông thường “Back to school” là ngày mà học sinh trở lại trường học bắt đầu một niên học mới, mà còn là tên của một bộ phim nổi tiếng được đạo diễn Alan Metter thực hiện năm 1986 với các tài tử như Rodney Dangerfield, Keith Gordon, Sally Kellerman, Burt Young, William Zabka, Sam Kinisson và Robert Downey. Bộ phim là câu chuyện quanh một nhân vật tên là ThorntonMelon một người cha giàu có nhưng ít học, đã trở lại học ở trường mà người con là Jason Melon đang học và ông ta đã học được một bài học lớn là ông ta không thể mua học vấn và hạnh phúc bằng tiền bạc. Bộ phim cũng có những nhạc khúc nổi tiếng kèm theo như Back To School, I will Never Forget Your Face, Everybody’s Crazy, …

Hình như bất cứ ở quốc gia nào, ngày khai trường cũng là một ngày quan trọng? Thí dụ như ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam chẳng hạn…Ở Hoa Kỳ, tổng thống Barack Obama đến trường tiểu học Wakefield ở Arlington, Virginia để đọc lá thư gửi cho tất cả các học sinh trên toàn quốc nhân ngày tựu trường. Và qua đó chúng ta cũng hiểu rằng quan tâm chính của lãnh đạo Hoa Kỳ là lãnh vực học đường và Hoa Kỳ có vị trí số một trên thế giới là nhờ sự tiến triển về giáo dục... Dù rằng, ở hiện tại vì suy thoái kinh tế nên ngân sách dành riêng có bị sút giảm.


UserPostedImage



...Còn ở Việt Nam, thì nền giáo dục đang trong tình trạng suy đồi. Nếu có quan tâm thì cũng chỉ ở hình thức trong tình trạng thổi kèn đánh trống suông mà thôi và thực trạng càng ngày càng xuống cấp. Bao nhiêu vụ việc như bằng giả, học trò đánh thầy, hiệu trưởng làm ma cô dẫn các nữ sinh tuổi vị thành niên cho các quan chức, ... đã thành những nét đen tối bôi đen lên cuộc sống xã hội. Trước năm 1975, ở miền Nam học sinh sinh viên ở trung học và đại học hầu như được học miễn phí thì bây giờ, ở Việt Nam tất cả đều phải đóng học phí và tệ trạng là ở những vùng xa xôi đời sống cơ cực con trẻ bị thất học vì không có tiền đóng học phí để đến trường…

Nếu có lúc lái xe qua trường học giờ vào lớp, ở xứ sở này, chúng ta sẽ thấy một cảm xúc gì? Riêng tôi, trong không khí của ngày cuối hạ vào thu, khi cổng trường học mở ra để đón chào các em đến trường, khi thấy cảnh cha mẹ nô nức dẫn con vào lớp hay những đoàn xe đông đảo đưa đón học sinh, tôi lại thấy ngậm ngùi thương khi nhớ đến nhưngh hình ảnh trên báo chí ở Việt Nam, những cô bé cậu bé lầm lũi trong đống rác kiếm ăn trong khi đáng lẽ phải đến trường học hành. Ở xứ sở này, con cái chúng ta được đầy đủ cả từ tinh thần đến vật chất trong khi ở quê hương mình thì hàng triệu trẻ em thất học và suốt đời phải cam chịu những nghiệt ngã của nghèo đói và tiền của đáng lẽ phải giành cho tuổi thơ thì lại vào tay của bọn quý tộc đỏ phè phỡn hưởng thụ trong nỗi nghèo đói nhọc nhằn của dân tộc.


Thực tế sao đầy chuyện buồn phiền. Thôi thì, chuyển qua chuyện khác. Nói chuyện gì bây giờ ? Hay là mượn thơ văn, âm nhạc để tìm lại những kỷ niệm, có khi là riêng của từng người nhưng đôi khi là của chung nhiều người. Thí dụ như chuyện muôn năm không dứt của tuổi học trò chẳng hạn?

Thuở nhỏ chúng ta thường nghe một vài câu hò với ngôn ngữ của dân gian nhưng tạo ra xúc động rất lớn. Như câu

”Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con thi trường học mẹ thi trường đời”


Có rất nhiều tác phẩm viết về mùa thi. Từ thời tiền chiến đã có những tác giả như các nhà văn Chu Thiên với Bút Nghiên, Ngô Tất Tố với Lều Chõng, Nguyễn Triệu Luật với Ngược Đường Trường Thi, ... những tác phẩm đã như nhiều chứng liệu để người thế hệ về sau có thể hiểu được hệ thống khoa cử cũng như giáo dục của một thời đại đã qua của lịch sử.

Một truyện ngắn ”Báo Oán“ của nhà văn Nguyễn Tuân trong tập Vang Bóng Một Thời viết về thi cử mà tôi thích trong đó có đoạn:“... bên bờ đường cái quan hoa hòe nở vàng khè. Dậm hòe đất Sơn Nam Hạ trổ bông đã từ lâu. Hòe đã rầu cánh màu vàng tối mắt xuống.

“Hòe hoa vàng, cử tử mang”. Thấy dậm hòe ngả màu vàng, lòng những người có chữ bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi, hoa hòe nở đều, làm ấm lại lòng người sĩ tơ tưởng đến sự hiển đạt về sau này. Màu vàng của sắc hoa nơi dậm hòe dài đã nhắc bao nhiêu học trò vùng Sơn Nam Hạ nghĩ đến cái màu vàng một tấm giấy cáo trục phong tặng hoặc là phần hoàng mai sau cho hai đấng sinh thành... ”

Tại sao hoa hòe trổ màu vàng lại làm sĩ tử mênh mang cảm xúc. Hoa hòe, với tôi lạ lùng lắm. Giở tự điển, mới biết là một loại cây có hoa vàng dùng để nhuộm giấy vàng hoặc làm vị thuốc. Hoa hòe, xa lạ với tôi nhưng tự nhiên tạo thành ấn tượng đep trong tưởng tượng. Trong một giây phút tôi nghĩ đến hoa phượng, cũng mùa hè, cũng mùa thi, y hệt như hình ảnh ”hòe hoa vàng cử tử mang của cụ Nguyển Tuân…

Ngoài hoa hòe biểu tượng cho mùa thi, hoa phượng còn là biểu tượng cho ngày bãi trường của mùa hạ cổng trường cửa đóng.
Có rất…rất nhiều bài thơ về hoa phượng. Và có nhiều bài được phổ nhạc rất hay. Thơ và nhạc kết đôi, mở ra những khuôn trời tình tự của kỷ niệm. Thời tiền chiến, Xuân Diệu có bài “Phượng Mười Năm”:


“Phượng trong sáng nảy hồng trên một cõi
Như muôn đàn cùng gảy dưới mây cao
Ánh nắng trùm trong không gian vời vợi
Tấc lòng hè kiều diễm hóa ly tao

Biển bướm đỏ rào rào trong gió mát
Lá non xanh như suối chảy trên trời
Phượng phượng hỡi cớ sao mà man mác
Mỗi mùa hè run rẩy dưới triền môi

Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh
Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng
Ta mơ màng thấy gió đang sóng sánh
Trống sân trường văng vẳng, đánh, mười năm

Mười năm phượng phượng huy hoàng vẫn phượng
Áo trắng trong ngày tháng phất phơ soi
Ta cùng mình như cành cây riết quấn
Vương lòng nhau ràng rịt biết bao đời…”



UserPostedImage



Hoa phượng, không phải chỉ mười năm, mà, muôn đời trong ánh nắng mùa hè vẫn chói chang nỗi niềm. Đuốc phượng, có ai đã ví von như thế, để như một cột mốc thời gian thắp sáng lại những khung trời thân quen và những mảnh đời muôn năm không thể quên những tâm tư lẩn khuất...Mùa hạ mật thiết với mùa thi. Nhà thơ Xuân Diệu cũng có đôi vần thơ ghi lại. Thơ ngắn nhưng mà thật hay. Thơ trẻ trung và thơ nồng nàn tuồi trẻ. Bài Mùa Thi của Xuân Diệu:


“Thơ ta hơ hớ chưa chồng
Ta yêu muốn cưới mà không thì giờ
Mùa thi sắp tới! Em thơ
Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau”



Thơ, có thể là tên của người em gái nữ sinh, người tình trong mộng nhưng Thơ cũng có thể là nàng thơ, hình dáng của một trời thi ca. Nhưng bất cứ là ai, Thơ vẫn là nỗi niềm hối hả yêu vội sống cuồng. Thơ lãng mạn vô cùng, là biểu tượng của chàng Xuân Diệu thời tiền chiến…

Trong hai mươi năm văn học miền nam, thơ viết về tuổi học trò như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Trúc Ly, Kim Tuấn, … Và thơ của học trò như Mường Mán, như Từ Kế Tường, như Vũ Thành. Nhiều bài rất hay và thích hợp với tuổi học trò. Có bài thơ dễ thương của Từ Kế Tường, một thi sĩ rất trẻ lúc đó đã viết bài thơ ” các em học ở Gia Long" in trong tập “Khi Bỏ Trường mà đi” tập thơ in năm 1973:


“chiều nay theo nắng rất nhung
theo cây lá trải một vùng tịch liêu
anh đi với một cuộc liều
nghe hơi đất vỡ những điều nhớ thương
các em đứng trước cổng trường

áo bay qúa mỏng con đường quá thơm
bầy chim nhỏ dại trong hồn
đã kêu anh gửi nụ hôn thật nồng
cơn mưa nở hột tình không
cho anh lỡ bước phiêu bồng đến đây

các em cũng nhẹ như ngày
ở trên lá bụi cây dài kiếp xưa
anh chờ để trải lòng thưa
đôi tay mới chẻ một mùa tóc thơm”



Có người nhận xét thơ tình học trò thời thập niên 60, 70 hình như vắng bóng chiến tranh mặc dù lúc này cường độ chiến sự đã ở đỉnh cao. Tôi nghĩ nhận xét ấy không chính xác. Đã có nhiều bài thơ tình tuổi trẻ mà bóng dáng của chiến tranh rõ nét. Thí dụ như bài “Thơ Tình Mùa Hạ” của nhà thơ Đào Trường Phúc trong tập thơ cùng mang tên Thơ Tình Mùa Hạ in năm 1970:


"Nắng ngọt lịm trên sân trường trống không
trận lá nào đang rơi theo điệu nhạc ve sầu
tôi ngồi một mình đây
và chiều buồn bã vừa mang mùa hạ tới

điếu thuốc cháy lạnh lùng nơi hành lang
mặt kính đục
những ô cửa sổ không nói một lời gì
cuộc từ biệt bắt đầu bằng tiếng cây lá kia
lay động hoài trí nhớ….

... Hãy nhìn anh không bằng ánh sáng hỏa châu rọi đường trong đêm sương mù
hãy nhìn anh không như đôi mắt van lơn
trước hầm giây thép gai
hãy nhìn anh bằng ánh sáng tình yêu ta chứa chan vùng trời cũ

nơi cái chết đóng vai một tên hề xa lạ
nơi những người đã ngã xuống sẽ sống lại
nơi ở đó giấc mơ chúng ta là một tinh cầu cô đơn trong mưa bão
Rồi mùa hạ cũng trôi qua phải không
Như gió heo may rồi cũng đến một lần
Rồi giấc mơ cũng trôi qua phải không

Như những người thân yêu rồi cũng chết một lần
Rồi tuổi trẻ cũng phai nhòa phải không
Như bản nhạc cũ chỉ nghe một lần
phải không phải không Dung?
cho anh gọi nốt tên em trong những cơn mơ mùa hạ cuối cùng tuổi trẻ”



Bài thơ tôi đọc xong hình như còn âm hưởng điệp khúc “Phải Không”. Câu hỏi như một cật vấn mơ hồ về những cuộc sống trôi nổi theo dòng lịch sử. Và tình yêu, cũng chỉ là những câu hỏi chính mình, từ cái “Tôi” của đầu bài thơ chuyển sang tiếng gọi “Anh” thân gần của cuối bài thơ. Thơ Tình Mùa Hạ, sao nghe phảng phất nõi buồn của tan tác chia phôi...

Mùa hạ. Mùa thi. Mùa bãi trường. Mùa thu. Mùa tựu trường. Thời tiết hình như cũng ảnh hưởng sâu đậm đến tuổi học trò. Và trong văn chương đã có nhiều dấu ấn ghi chép lại từ ký ức mỗi người những đoạn đường khó quên của chính mình, của những kỷ niệm một đời chẳng thể nào quên. Những truyện ngắn, những bài tùy bút, những bài thơ, viết về đề tài này thường mang theo chất lãng mạn thơ mộng và với chất bàng bạc sương khói đã làm không gian thời gian như trong suốt và mong manh hơn. Cái cảm giác dễ vỡ của bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu làm cho chúng ta nâng niu trân quí hơn những áng văn chương này.


UserPostedImage



Đề tài về ngày tựu trường chắc cũng có rất nhiều trong văn chương Việt nam. Riêng tôi, tôi thích bài văn Tôi Đi Học của nhà văn Thanh Tịnh in trong tập truyện Quê Mẹ. Và tôi nghĩ rằng cũng rất có nhiều người cùng chung ý nghĩ ấy của tôi. Những câu văn quen thuộc, của những bài học thuộc lòng từ tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, mỗi khi nhắc lại từng câu từng chữ là cảm thấy hình như có cảm giác nào rung động trong bộ nhớ. Những câu như: ”Hàng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu truờng... ” Những câu văn ấy cứ ngân nga trong tôi một nỗi niềm nào mơ hồ khó tả của một thời gian đã qua nhưng khi nhớ lại thì cảm thấy như sống lại một phần đời sống mình…

Nhưng tôi lại biết có một đoạn văn về ngày khai trường trích trong cuốn sách Tâm Hồn Cao Thượng của dịch giả Hà Mai Anh từ nguyên tác của Amicis đã ảnh hưởng rất nhiều đến giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, một khoa học gia có tầm vóc quốc tế và cũng là Tư lệnh không Quân và cũng là nhà văn đoạt giải văn chưpơng toàn quốc với tác phẩm Đời Phi Công. Ông đã viết lại cảm giác của mình:

“Đoạn văn này tôi đã phải học thuộc lòng khi còn là học sinh lớp ba ở trường tiểu học Bonnal ở Hải Phòng, nghĩa là khi tôi vào tuổi ấu thơ, năm lên tám hay lên chín tuổi. Từ dạo đó đến nay, mỗi năm vào dịp cuối hè, cảnh tượng khai trường này lại đến với tôi, dù ở phương trời nào hay ở tuổi nào. Lúc còn nhỏ, vào dịp khai trường tôi thường theo mẹ đi mua giấy bút sách vở. Cho đến khi học xong lớp Nhất ở trường tiểu học Hải Phòng, mẹ tôi là người mua sắm mọi thứ cho tôi, kể cả đôi giầy và chiếc mũ mới, ở phố Cầu Đất không xa trường tôi học là mấy. Tôi cũng giống như cậu bé An Di ở trong cuốn truyên là mỗi năm được lên một lớp bao giờ tôi cũng thấy quyến luyến ông thầy ở lớp dưới, nhưng chỉ vài tuần lễ sau quen lớp quen thày tôi lại thấy quý mến ông thầy học mới... ”

Trở lại với thơ, có một bài thơ tình cờ đọc được ở trong một đặc san của sinh viên thấy thật dễ thương. Bài thơ viết về nỗi buồn của ngày tựu trường mà “không có em”:


“Em bi tròn. Anh bi vuông
Em tươi thắm. Anh chán chường. Gặp nhau
Trên cành có chú chim sâu
Cứ trêu chọc chuyện tình sầu em anh

Thịt da kề giữa cỏ xanh
Mùa hạ đỏ, ngỡ mong manh nắng hồng
Anh bi vuông. Em bi tròn
Đêm điên đảo, ngày mỏi mòn, nhớ ai?

Nhìn mắt nhau thấy tóc phai
Thấy mưa kỷ niệm đổ dài vu vơ
Đất trời. Trời đất mơ hồ
Mây rụng xuống ngõ tình cờ, mốt mai

Anh gà trống. Em thơ ngây
Trang sách giở mấy tháng ngày mù xa
Cửa trường vắng ngóng em qua
Đâu ngờ được buổi chiều tà ngút sương

Em cười nụ, em dễ thương
Góc lớp vắng sót mùi hương, ngậm ngùi
Ngày khai trường em xa rồi
Em chim nhỏ đã ngược xuôi cuối trời

Tháng chín có hạt mưa phai
Nghe dòn dã tiếng em cười, mù không”



Bài thơ này dễ thương thật, nhưng trong thi ca Việt Nam cũng có nhiều bài khác cũng làm rưng rưng cảm giác của chúng ta không kém...

...Một bài thơ cũng dễ thương là bài Chút Tình Đầu của Đỗ Trung Quân và được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ thành bài nhạc Phượng Hồng rất nổi tiếng.


“Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18
Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu

Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
là áo người trắng cả giấc ngủ mê
là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
giữa giờ chơi mang đến … lại mang về

mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây
người con gái mùa sau biết có còn gặp lại
ngày khai trường áo lụa gió thu bay...”



Mối tình học trò này hình như mọi người chúng ta đều có lúc diễn một vở kịch ngớ ngẩn như vậy lúc còn tuổi học trò. Hình ảnh tà áo trắng tung bay theo vành bánh xe đạp mini mà chiếc giỏ xe mang đầy hoa phượng chói chang là một hình tượng không thể nào quên của những chàng tuổi trẻ. Hoa phượng nở báo cho anh chàng si tình biết đã đến lúc chia ly. Không còn nữa những hình ảnh ấy khi cổng trường đóng lại. Ôi màu lụa, ôi đôi mắt, ôi mái tóc xõa dài, những hình ảnh ấy cứ lao xao làm thức giấc đêm khuya cơn ngủ…Tôi chỉ diễn tả như thế về một bài thơ mà tôi yêu thích như một kỷ niệm của riêng mình…

Lại có một bài thơ đăng trong đặc san Xuân của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt năm 1975 và sau đó được chọn đăng trên tạp chí văn học Bách Khoa được coi như là một bài thơ hay mặc dù tác giả của nó là một nữ sinh vô danh. Đó là bài thơ “Nói với em lớp sáu“ của Trần Bích Tiên. Tới bây giờ, có nhiều giả thuyết về tác giả thực của bài thơ này nhưng chưa rõ ràng lắm nên tôi cứ tạm coi như có một nữ sinh tên Trần Bích Tiên làm bài thơ này.


UserPostedImage



Nội dung bài thơ có gì đặc sắc? Đó là người chị lớp lớn đối thoại với một người em bé bỏng vừa vào trung học. Mặc dù vẫn còn trong tuổi chưa đến đôi tám nhưng cô chị đã già trước tuổi và tâm sự với em như muốn tâm sự với chính mình. Hoàn cảnh của đất nước chiến tranh khiến những thơ ngây của tuổi học trò tàn lụn đi và thay vào đó là những suy tư về cuộc sống, về những cảm nhận từ bi kịch trong đời. Bài thơ phác họa lên một biểu hiện của tuổi trẻ trong chiến tranh.



Này em lớp sáu này em nhỏ
Gặp em rồi không quên em đâu
Chiều nay hai đứa về qua phố
Rất tự nhiên mà mình quen nhau

Em chạy tung tăng không mắc cở
Chị thì bước bước chậm theo sau
Tuổi mười hai chị xa vời quá
Chị gọi em chờ, em chạy mau

Này em lớp sáu này em nhỏ
Em hãy dừng chân một chút lâu
Chị vuốt tóc em rồi chị nhớ
Tóc em thơm ngát mùi hương cau

Hương cau vườn chị xa như tuổi
Ba má chị nằm dưới mộ sâu
Vườn cũ nhà xưan tàn với lửa
Chị đi về hai buổi âm u

Gặp em ngoài phố mình như bạn
Thời mộng trong bàn tay nắm nhau
Chị ngắt cho em hoa cúc nhỏ
Em cười cái miệng mới xinh sao

Ngày xưa chị cũng như em chứ
Cũng rất ngây thơ rất ngọt ngào
Chị nhớ mổi chiều tan học sớm
bạn bè đuổi bướm thật xôn xao

Những con bướm lượn trên bờ cỏ
Chị cũng như em chạy đuổi mau
Bây giờ bướm biệt trên đường phố
Em đuổi sương mù chơi chiêm bao

Này em lớp sáu này em nhỏ
Gặp em rồi muôn thuở không quên
Trời ơi câu đó ngày hôm trước
ai rót vào hồn chị hỡi em?

Sách trên tay chị nghe chừng nặng
Sao cặp em đầy vẫn nhẹ tênh?
Thôi nhé em về con phố dưới
giữ hoài cho Chị tuổi hoa niên.




Nguyễn Mạnh Trinh





UserPostedImage
nhat-tam  
#356 Posted : Thursday, September 1, 2011 4:12:52 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Pleiku, thơ và thi nhân


http://images.yume.vn/blog/200906/06/12610131244306046.jpg

Có lẽ không có một thành phố nào như Pleiku được nhắc nhở nhiều đến như vậy trong văn học Việt nam. Những thi văn sĩ, đã sống và thở ở không gian đó, đã trải qua những ngày tháng tao loạn chiến tranh, nên tác phẩm của họ đã biểu hiện sinh động được tâm cảm của những người lính thú hay những nàng chinh phụ của một thời đại chiến tranh.

Với tôi, phố núi Pleiku gợi lại cho tôi rất nhiều vần thơ. Có thể là của riêng tôi mà cũng là của rất nhiều thi sĩ đã gần gũi với thành phố ấy. Thêm vào nữa, Pleiku còn là cả một kho tàng kỷ niệm của riêng tôi..

Ngay ngày đầu tiên đến Pleiku, tôi đã cảm thấy như mình là một dòng sông đang đến một khúc quành.

Năm tôi lên nơi chốn ấy, tôi vừa đến cái tuổi đôi mươi. Hai mươi tuổi, tâm hồn lúc ấy trắng bong, tràn đầy mơ với mộng. Chưa có kinh nghiệm trường đời nên thường phản ứng trước những điều mà mình thấy không vừa lòng. Tuổi trẻ lại hay thích thoải mái không ưa sự gò bó nên dù ở Nha Trang phong cảnh sơn thủy cũng hữu tình lắm nên khoái chuyện giang hồ lang thang. Ở đâu cũng xa nhà nên tôi tình nguyện đi biệt đội Pleiku mút mùa lệ thủy và khi lập không đoàn thì cũng là một trong những sĩ quan thuộc hàng khai sơn phá thạch của đơn vị kỹ thuật ở đây…

Thời gian ở thành phố biên trấn này chỉ hơn hai năm mà sao tràn đầy kỷ niệm. Có những lúc, cơm xấy đồ hộp ngày này qua tháng khác mà vẫn vui. Lãnh lương xong, chỉ một vài ngày là sạch nhẵn, thế mà tối nào cũng lang thang ở phố đến nửa đêm mới mò về phi trường. Ở đây, biết bao nhiêu đứa bạn, buổi sáng còn đùa giỡn chọc ghẹo nhau mà vài tiếng đống hồ sau thân xác đã thành sương khói cho những phi vụ không về. Ở đây có sáng mù sương, thấy đời mỏi mệt như chiếc xe dodge của biệt đội ì ạch leo lên đầu dốc. Dù rằng lúc ấy tôi chỉ vừa hai mươi tuổi…

Cảm giác đầu tiên của tôi khi đến Pleiku thật là lạ lùng.

Ngày đầu tiên khi tôi từ Nha Trang xuống phi trường Cù Hanh là một ngày mưa u ám. Phi cơ trực thăng khi bay qua Khánh Dương bị bắn và tôi hiểu chiến tranh đã đón chào tên lính trẻ làm thân lính thú đồn xa như thế. Mưa sủi bọt trên mặt nhựa phi đạo và bầu trời nặng nề u ám mầu mây đen. Gió ào ạt lồng lộng ngoài kia khiến cho tôi thấy mình quá nhỏ nhoi trong cái buồn mênh mang của đất trời. Lúc ấy, tôi thấy những câu thơ vẩn vơ trong óc. của Kim Tuấn, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bắc Sơn,… Thơ tự nhiên thành một phần của một ngày, một tháng, một năm,… của riêng tôi. Thơ để quên đi hiện tại. Những giọt mưa quất vào mặt, buốt rát. Những ngọn gió thốc vào ngực.Nặng tê… Tự nhiên tôi thấy mình thật gần gũi thân thiết với những vần thơ biết là bao nhiêu. Có lúc, tôi nghĩ thi ca là một phần đời sống mình…

Thi sĩ làm thơ cho Pleiku thì rất đông đảo. Và thơ hay cũng nhiều lắm, mỗi bài có ý vị riêng, có phong thái riêng. Tôi bắt đầu với nhà thơ Vũ Hữu Đinh...

Nếu nói bài thơ “Còn Một Chút Gì Để Nhớ” của thi sĩ họ Vũ đã làm cho Pleiku trở thành một nơi chốn cực kỳ lãng mạn và thơ mộng của thi ca Việt Nam thì cũng chắng phải là ngoa ngôn, những câu thơ dễ thương của một vài con phố nhỏ heo hút của vùng cao nguyên, với hình tượng của “Em”, của thời tiết lạnh lạnh để má em thắm để môi em hồng. Có ai hỏi là những nhân dáng này có thật không trong đời sống của người làm thơ không thì nhà thơ họ Vũ đã trả lời rằng đó chỉ là hình tượng tổng hợp từ nhiều hình ảnh trong thực tế để tổng hợp thành một hình tượng tuyệt diệu của tưởng tượng, của hư cấu. Và trong cái không gian của một phố núi nhỏ nhoi, con người thi sĩ và cảnh vật cũng như thiên nhiên ở đây hình như thở chung một nhịp đập của trái tim tràn cảm xúc. Con phố hoang sơ lạnh lùng nhưng dường như có một tâm hồn mà người thơ cảm thông được, hiểu được từ nỗi cô đơn mà trời riêng dành cho người là thơ.

Bài thơ ấy gồm chỉ mười hai câu thơ thôi mà chuyên chở rất nhiều tình, ý. Thơ có thiên nhiên hòa hợp với con người. Thơ làm đời sống có nhiều chất thơ hơn để quên đi những ám ảnh của chiến tranh:

“Phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật gần
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng
em Pkeiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong
xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.”


Hình như về sau này, khi Cộng sản chiếm miền Nam, thì trong các tuyển tập thơ có trích đăng bài này. Bài thơ này hình như vượt qua được giới tuyến của chiến tranh để trở thành một tài sãn văn hóa của dân tộc...

Bài thơ này được trích đăng hoặc in trong nhiều tuyển tập thơ xuất bản ở trong nước, nhưng không phải là nguyên văn bài thơ. Thí dụ như hai câu thơ cuối thì nguyên bản là “mai xa lắc trên đồn biên giới / Còn một chút gì để nhớ để quên“ Thì sửa lại là “mai xa lắc trên đồi biên giới / Còn một chút gì để nhớ để quên“. Chỉ sửa có một chữ mà ý tưởng đã khác nhau nhiều!

Tôi không rõ Vũ Hữu Định viết bài thơ này trong thời gian nào nhưng theo nhà thơ Luân Hoán một người bạn thân cùng quê với anh đã tả chân dung nhà thơ ấy như sau:

”với chiều cao khoảng một thước sáu nhưng có bề ngang, cộng với dáng đi chữ bát, cộng thêm lối an vận lè phè nhà thơ Vũ Hữu Định trông gần như hơi thấp. Anh không có khuôn mặt đẹp trai nhưng nhìn rất bắt mắt. Nụ cười xuề xòa luôn luôn đi trước giọng nói dí dỏm bộc trực đã thắp sáng khuôn mặt ngả màu nâu sậm của anh thơ miền Trung ra đời vào thập niên 40 này. Năm 1970 năm tôi không may mắn phải giã từ rừng núi và phố chợ Quảng Ngãi để trở về Đà Nẵng tôi đã gặp và quen thân với Vũ Hữu Định. Lúc đó hình như anh đang mặc áo cán bộ xây dựng nông thôn. Địa bàn công tác của anh lòng vòng ven rìa thành phố Đà Nẵng như Thanh Khê, Hà Khê, An Hải, Sôn Trà,.. Anh chợt đi, chợt về. Đặc biệt anh lúc nào cũng có vẻ thong dong giàu có thời giờ phất phơ phố xá. Anh làm thơ nhiều trong giai đoạn này. Thơ của anh hầu hết được đăng trên các tạp chí văn chương tại thủ đô Sài Gòn. Vũ Hữu Định có đời sống vật chất không mấy khả quan, quen biết nhau khá lâu nhưng anh từ chối không thuận cho tôi đến nhà chơi. Cũng không hề đề cập đến gia đình của anh. Biết anh có vô có con nhưng mãi về sau này tôi mới tình cờ được gặp trong một hoàn cảnh thật buồn!

Ông mất năm 1981 ở Đà Nẵng và có nhiều dư luận về cái chết của ông. Như ông đến nhà một người bạn văn chơi ở An Hải và vì nhậu qúa say trong lúc tìm chỗ đi tiểu thì bị té từ căn gác lửng xuống và chết. Một dư luận khác thì nói rằng trong cuộc nhậu ấy, ông bị một vài người cố tình từ trên gác xô xuống và bị ngã chết. Những người bạn ông thì nửa tin nửa ngờ và cũng hiểu rằng ỏ thời thế ấy thì chết vì bị cố tình mưu hại hay vì say mà té ngã cũng đều như thế, chính quyền không quan tâm và chỉ đau xót cho gia đình, bạn bè và những người yêu thơ ông …

Thi sĩ viết về Pleiku như thế thì rất nhiều nhưng tôi cũng muốn nói về một thi sĩ mà tôi rất mê thơ của ông. Đó là Nguyễn Bắc Sơn …

Nguyễn Bắc Sơn, một chứng nhân của cuộc chiến, làm thơ như một cách thế sống, đã coi công việc viết như một phần của đời người. Sống ở Pleiku và viết những bài thơ để gửi Pleiku. Thơ ông, có chút cảm khái ngậm ngùi của thời tao loạn nhưng cũng có những xúc động bềnh bồng của tâm tư lãng mạn hay đùa cợt với cuộc đời. Thơ, phảng phất vóc dáng một chàng cuồng sĩ…

Đọc bài thơ “Hoa Quì Vàng Lạnh Pleiku”, tự nhiên tôi như người trở về thời gian ấy, không gian ấy. Trở về những ngày tuổi trẻ, của những giây phút bốc đồng coi mọi việc như cuộc đùa chơi. Cái lạnh, chưa hẳn là lạnh lẽo mùa đông, mà còn chứa đựng một chút nồng ấm nào đó của mùa hạ. Lạnh ở bên ngoài nhưng rần rần nóng hồi ở tim óc bên trong. Sương mù ban đêm trên đỉnh cao nhìn về phố buồn, tâm thức cũng ào ạt như sóng theo tầm nhìn vời vợi…

“Đứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Đã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó…”


Đọc bài thơ dài của Nguyễn Bắc Sơn tôi chỉ thấy có hai câu nói về mầu hoa quì vàng. Thế mà cái mầu sắc hoa man dã ấy chỉ một nét thoáng qua nhưng lại gợi nhiều dư âm. Mầu vàng, có khi là mầu vàng lạnh, nhưng có khi là mầu nóng chói chang của nắng:

“Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh.
Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao.


Hoa quì vàng? Một loài hoa có lẽ chỉ có ở Pleiku. Hoa quì vàng, một loài hoa nhỏ, cây từa tựa giống như hoa cúc, tôi đã nhìn thấy miên man mầu vàng khi trên phi cơ nhìn xuống. Mầu vàng, mênh mang trên những ngọn đồi loang lổ mầu xám của đá và mầu đỏ của đất. Hoa quì, lẻ loi một cánh trên tay thú thực cũng chẳng hấp dẫn lắm nhưng nếu bạt ngàn dưới cánh phi cơ, rào rạt trong nắng trong gió sẽ trở thành một ấn tượng khó quên cho cảm xúc. Ơi hoa quì, mầu vàng không phải kiêu sa như mầu hoàng cúc của áo tôn nữ mà có sự gần gũi với tà áo vàng của dân dã, của thiên nhiên. Hèn chi, cũng có nhiều nhà thơ vấn vương với hoa quì vàng, như Nguyễn Xuân Thiệp, như Kim Tuấn,…?

Người thơ kể chuyện của mình, một câu chuyện có lẽ rất quen tai của những người lính thú. Cũng đi xuống, đi lên, cũng loay hoay bồn chồn như những chàng gà trống,..

“Đời lang bạt của một người lính thú
Sáng hôm qua tôi là người thiếp ngủ
Đi một mình lên xuống phố mù sương
Phố núi kia ơi, phố có con đường
Lên xuống dốc tìm không ra bạn hữu
Không có bạn tôi làm sao uống rượu
Tôi làm sao sống nổi một ngày đây
Phố núi kia ơi, kẻ lạ đông đầy
Nhìn gã lính không khác gì gã lính…”


Không có bạn tôi làm sao uống rượu. Tôi làm sao sống nổi một ngày đây. Nghe như một câu nói thường ngày, không có chất thơ mà sao nghe tràn đầy thi tứ. Chắc lúc ấy, sự cảm khái của người thơ đã lên cao độ, và, nỗi lạnh lùng thiên cổ như bám vào da vào thịt. Có nỗi nhớ mong, có niềm tiếc nuối. Người em, bây giờ lưu lạc ở đâu?

“… Tôi vận rủi làm một người lãng đãng
ngó mông hoài khuất bóng của người em
sáng hôm nay đời sống thật bình yên
sao phố lại đuổi đi người yểu điệu
vườn đá tảng bàn chân em huyền diệu
in gót hồng lên lớp bụi đời tôi
là từ khi tôi hạnh phúc rong chơi
và quên lãng con thú mù phẫn nộ
Ôi phố núi đêm nay là cổ mộ
Một hàng đèn sáng lạnh cõi bi hoang…”


Nguyễn Bắc Sơn làm thơ với tâm trạng u uất của thời đại trong một cuộc chiến kéo dài suốt gần hai chục năm. Ông có người cha là một cán bộ quân sự cao cấp của Cộng sản nên trong thời kỳ ông đi lính VNCH cũng bị ảnh hưởng. Cơ quan An Ninh Quân Đội bắt ông thuyên chuyển đơn vị và theo dõi. Sau đó ông đào ngũ và bị bắt lính lại và phục vụ tại một đơn vị địa phương quân ở Phan Thiết. Sau năm 1975, người cha trở về và là một viên chức cao cấp sau về hưu và bị chết một cách bất thường vì bị tai nạn giao thông. Có dư luận cho là bị mưu sát…

Đời sống của ông đã tạo cho thơ ông niềm đau xót của những người bị kẹt giữa hai giới tuyến. Thơ của ông hào sảng có nét chân thực thô nhám của đời lính trận có những câu như:

”Mai ta đụng trận may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
đốt tiền mua vội một ngày vui...”


Có người phê phán những bài thơ có chất phản đối chiến tranh của Nguyễn Bắc Sơn, nhưng họ phải công nhận ý thơ và tứ thơ mạnh mẽ của ông, một kỹ thuật làm thơ với ngôn ngữ tuy bình dị gần gũi đời thường nhưng đầy chất sáng tạo…

Có một nhà thơ nữ cũng nổi tiếng với một bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc khúc “Tưởng như còn người yêu”. Đó là nhà thơ Lê Thị Ý và bài thơ “Thương ca 1”.

Trả lời một câu phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái, tác gỉa Lê Thị Ý phát biểu :

“Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn rõ mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi đau của mình.”

Khi trả lời câu hỏi khi thơ phổ thành ca khúc thì có người chê là phản chiến, nhà thơ Lê Thị Ý nói :

”Khi tôi làm bài thơ tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên. Một người bạn của anh Vương Đức Lệ tôi đến nhà chơi thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyện Đức Quỳnh người trụ trì sinh hoạt Đàm Trường Viễn Kiến ở nhà cụ ỏ Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo - Cụ Quỳnh đọc thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên bài thơ của tôi được mọi người thưởng thức hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi chứ tôi không chú ý trước việc phổ biến bài thơ...”

Bài thơ rất cảm động, nguyên văn là ;

“Ngày mai đi nhận xác chồng
say đi để thấy mình không là mình
say đi cho rõ người tình
cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
tình ta không thể vuông tròn
say đi mà tưởng như còn người yêu
phi cơ đáp xuống một chiều
khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
dài hơi hát khúc thương ca
thân côi khép kín trong tà áo đen
chao ơi thèm nụ hôn quen
đêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
chiếc quan tài phủ cờ màu
hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
em không thấy được xác chàng
ai thêm lon giữa hai hàng nến chong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai”


Nếu hồi trước bản nhạc về phố núi của Phạm Duy phổ nhạc từ thơ Vũ Hữu Định thì về sau này những người yêu thương Pleiku cũng hay ngâm nga hoặc thích lắng nghe bản nhạc Phố Xưa của thi sĩ, nhạc sĩ Hoàng Khai Nhan. Bản nhạc với ca từ như “Chiều mờ trên phố cao / Đưa em về từ khi có nhau / những con đường từ khi có nhau / kết hoa ngày nào / chiều mờ sương thung lũng sâu / quán trong phi trường đèn đêm thắp sao...” đã thành một bài hát đáng yêu của những người lính trấn ải miền ba biên giới.

Bản nhạc thật hay và lãng mạn như trời đất của vùng biên trấn ấy. Nhạc sĩ Hoàng Khai Nhan còn là một thi sĩ và làm khá nhiều thơ về Pleiku.

Anh viết với cảm xúc của người lính, lên đường làm nhiệm vụ của người tuổi trẻ thời chiến tranh. Có một bài thơ anh làm để bắt đầu cho một cuộc lên đường, để làm người lính thú hôm nay. Thơ như chia sẻ với đồng đội của anh những nhiệt thành vào cuộc, với thân phận giống như bầy ngựa chiến đập móng đợi khởi sự vòng đua nhân sinh trong thời đại khói lửa mịt mù trên quê hương.

Đó là một bài lục bát, gửi tặng những người bạn chờ buổi lên đướng lên phố núi;

“một con ngựa đã lên đồi
hai con ngựa đứng bồi hồi ngó theo
ba con ngựa sải qua đèo
bốn con ngựa hí buồn thiu trong tàu
Năm con ngựa nối đuôi nhau
Sáu con ngựa đợi hôm sau lên đường.”


Những cuộc lên đường của những người lính trẻ. Bắt đầu một cuộc đua của những con tuấn mã chạy vòng trong cuộc chiến tranh. Hoàng Khai Nhan đã ví von ông và những đồng đội cùng mặc áo lính thú khởi sự hiểu được những bất toàn của cuộc đời nhưng hùng khí lúc nào cũng hừng hực như thuở đợi lúc lên đường.

Bây giờ là mùa thu nhưng nghe bản nhạc Anh Cho Em Mùa xuân của nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ từ thơ Kim Tuấn thì thấy trời đất vẫn dễ thương vô cùng. Thi sĩ Kim Tuấn cũng là người làm thơ về Pleiku độc đáo và trước năm 1975 đã có một thời cư ngụ lâu dài ở Pleiku. Với Pleiku, anh là một người cố cựu và đã sống đã thở với phố núi này với tâm tình của một người chọn lựa một quê hương thứ hai. Với riêng tôi thì thơ của ông có nhiều nét rất gần gũi với cuộc sống mình cũng đã một thời ở đó.

Chúng ta hãy thử đọc bài thơ “Buổi chiều ở Pleiku“ :

“Buổi chiều ở Pleiku có cà phê và có bạn hiền
Có biển hồ nước trong, có lúc buồn soi mặt
Ôi mặt mình sao bỗng gớm ghê
Ôi đời mình sao nhìn muốn khóc
Ta với ta xa lạ vô cùng
Buổi chiếu ở Pleiku có gì lạ đâu hở em
Có nỗi cô đơn trong cõi sương mù
Có phố buồn hiu có đêm giấu mặt
Có giấc sầu dài trong cõi thiên thu
Có bức tường vôi ghi dấu đạn thù
Có cuộc đời ta chìm trong khói lửa
Kiếp người sao đã lãng du
Buổi chiều ở Pleiku
Buổi chiều nghe mưa bay trên đầu ngọn núi
Buổi chiều như mọi buổi chiều
Tiếng phi cơ, tiếng xe và tiếng súng
Anh còn tiếng nào để nói yêu em.”


Những buổi chiều ở Pleiku,với “tiềng phi cơ, tiếng xe và tiếng súng”, đúng là tình cảnh chúng tôi nhưng khác với thi sĩ là chúng tôi vẫn còn nhiều lời yêu em chứ không phải ”anh còn tiếng nào để nói yêu em”.

Kim Tuấn làm thơ về Pleiku với nhiều nỗi niềm trăn trở quá. Nhưng thơ của “Nụ hoa Vàng Cho Em” phổ nhạc thành “Anh cho em mùa xuân“ hay “Kỷ Niệm” phổ thành “Những bước chân âm thầm” lại có nhiều yêu đương tình tự và lãng mạn của những người cảm thông được với thiên nhiên với thời tiết những vẻ đẹp của đất trời.

Thơ của ông cũng có nhiều bài rất lãng mạn thơ mộng chứ không phải chỉ có trăn trở suy tư. Có khi là thơ của tuổi học trò, của tuổi mười bảy mười tám mộng mơ...

Như bài “Ngày Em Còn Thắt Bím” chẳng hạn:

“tóc bím nghĩa là tóc dễ thương
tóc bâng khuâng lá rụng bên đường
tóc chia đường gió chia thương nhớ
chia nỗi buồn cho ai vấn vương
Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ
Để ai thương nhớ để ai chờ
Để ai ngơ ngẩn giờ tan học
Em vẫn vô tình vẫn giả lơ
Tóc bím nghĩa là tóc ngẩn ngơ
Tình ta xanh biếc mộng ơ hờ
Chiều xanh áo trắng mùa mây trắng
Em ngọt ngào và em ngây thơ.”


Có rất nhiều thi sĩ viết về Pleiku với tâm trạng của những người tham dự một cuộc chiến tranh mà ở đó sự sống chết nhục vinh gần cận nhau đến gần như không biên giới. Những người lính trước khi hành quân còn vui tươi chọc ghẹo nhau nhưng biết đâu chỉ trong giây phút đã thành những người đã rời xa cuộc sống. Hay, thành phố Pleiku này đầy kỷ niệm dễ thương cũng có lúc trở thành địa ngục mà ở đó những người dân và những người lính cuống cuồng trong vòng lửa hun của tàn phá chiến tranh của những ngày tháng ba chẳng thể nào quên của cuộc di tản đẫm máu về phía duyên hải qua con đường số 7 la liệt xác người…

Chiến tranh lại rõ nét hơn với nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Bài “Pleiku, tháng ba 1975”. Ba mươi năm trôi qua, nhưng ngày tháng đó vẫn còn sinh động. Thơ, không ghi chép lại nhật ký ngày tháng mà sao đầy dấu viết của một quãng đời. Ngày ấy, lửa cháy đỏ. Ngày ấy, là ngày thành phố cao nguyên quặn mình rồi gục ngã.

Người thi sĩ kể chuyện một mình. Đâu cần ai hiểu, chỉ để nỗi niềm loang vào sương đêm thành nỗi nhớ mịt mùng.

“cầm bút viết, tháng ba rực cháy
hàng dầu cao trong bình minh
cơn sốt của trái chín và cánh đồng
trận gió hung trưa ngày ấy
cầm bút viết, đồi hoa quỳ vàng
tháng ba xuống khu rừng. Bóng quạ
rung những nhánh cây màu tàn lửa
tiếng thét hư không. Chiều rượt qua ngàn…”


Tháng 3 năm 1975, có phải là thời điểm mà cao nguyên di tản và là một nỗi kinh hoàng còn ám ảnh mãi đến bây giờ. Nhà thơ hình như đã mang cả tâm tình của một người yêu Peiku vào thơ qua những hình ảnh thật là đặc biệt.

Những hình ảnh đan vào nhau với những liên tưởng tiếp nối. Ảnh tượng có khi như không liên quan nhau, chỉ là những nét phác sơ lược nhưng lại làm nổi bật được một không gian đầy biến động. Đồi hoa quỳ vàng, khu rừng, bóng quạ, nhánh cây màu tàn lửa, tất cả như chìm đắm trong nỗi bàng hoàng của thế thời. Cơn bão lửa dậy lên từ hoang vu :

“tháng ba, chân trời chớp tía
Những chuyến xe lên đường, cơn mưa chợt đến
Rào qua mái nhà, bàng hoàng. Mưa ngưng bặt
Đêm. Những căn nhà gỗ sáng đèn.
Tháng ba. Trên đồi vông nở
Tôi trở về thị trấn tháng ba
Những sợi dây trời cắt đau trí nhớ
Cườm tay em nhỏ máu hè xưa…”


Thơ như của lời chia biệt, như người đánh mất tất cả. Pleiku cũng như cả nước phải khoác khăn tang. Nhà Thơ Nguyễn Xuân Thiệp như đã viết lời trăn trối của một thành phố miền cao đầy lãng mạn dễ thương. Xa rồi những ngày thơ mộng. Gần lắm rồi những nỗi kinh hoàng. Cái linh cảm của một cuộc địa chấn là cái linh cảm chung của những người như những con chuột đang cuống cuồng trong rọ. Thị trấn sẽ thành biển lửa, nay mai. Sẽ đầy những cuộc chia ly đầy nước mát. Thảm họa xụp xuống, như cơn hồng thủy đến.

“… vò nát chiếc khăn và đừng khóc
chiều nay. Chớp bể mưa nguồn
chia tay nhau. Sương phụ
người đi râu bám bụi đường
tháng ba. Em. Những căn nhà gỗ
ánh đèn khuya. Vệt máu hè xưa
đừng tiếc chiếc khăn tay ngày ấy
sẽ bay trong lửa hoàng hôn
tháng ba. Cơn giông rền mặt đất.”


Đọc xong hai bài thơ, tôi như ngươì hụt hơi. Đời sống, như một hơi khói nhẹ, loãng bay vào hư không. Tự nhiên, thấy lòng mình chùng xuống những kỷ niệm. Những bài thơ. Thuở đã xa. Ngày còn trẻ. Và hoa quì vàng, cái màu vàng loang sắc nắng của buổi nào, bây giờ có còn vương trên núi đồi không? Cái sắc màu hỏa hoàng trong những buổi chiều nhạt nắng ấy sao nhức nhối ký ức...

Lại chiến tranh, và lại chiến tranh. Nhiều tác giả viết về Pleiku khói lửa với tâm cảm của người trong cuộc, của những người đã đổ mồ hôi và đổ máu cho đất tây nguyên. Có một nhà thơ đã viết những câu thơ để đời như:

“Chư Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi một khăn tang một tấc đường”.


Chư pao là một đỉnh núi khống chế con đường tiếp vận quốc lộ 14 từ Pleiku đi Kontum và chính nơi đây cả ngàn tử sĩ của hai bên đã nằm xuống trong những trận chiến ác liệt thời mùa hè đỏ lửa. Người thi sĩ ấy là Lâm Hảo Dũng, một pháo thủ đã có một thời gian chiến đấu ở tây nguyên. Ông làm thơ về tuổi thanh xuân chiến tranh của mình với những địa danh mà ông không thể nào quên trong trí nhớ...

Trong những tập thơ của Lâm Hảo Dũng có nhiều bài thơ ông đã viết về vùng tây nguyên như ”Ngày về Ban Het”, ”Miền Ba Biên giới”, ”Ba năm làm lính về Dakto”... Có một bài thơ mà tôi thích là bài “Chiều Hàm Rồng”. Hàm Rồng là một ngọn búi mà bất cứ ai đã sống ở Pleiku đều biết vì cái hình dạng độc đáo gợi cảm nhớ đến hình dạng của người thiếu nữ. Nhất là các chàng phi công, khi bay từ phía Ban mê Thuật về Pleiku mà nhìn thấy núi Hàm Rồng thì biết là đã gần đến phi trường Cù Hanh rồi. Cái hình dạng giống cái mu rùa ấy sao gợi hình lạ.

Lại những buổi chiều. Hình như cái thời khắc của cuối ngày ấy thường gợi trong lòng những người lính xa nhà những cảm giác bâng khuâng khó quên. Bài thơ ấy chỉ có 3 đoạn mười hai câu:

”con đường ấy vẫn hoen mầu bụi đỏ
Gió lơ thơ nghe nắng mới ngập ngừng
Anh sống thở trong tâm hồn trai trẻ
Nghe nỗi buồn đâu đó đến bâng khuâng
Hoa cúc dại thắm trên đường xa tắp
Và quê hương tha thướt lá xanh trà
Em có thả những chòm mây nhung nhớ
Cho rừng hoang im lắng tiếng chim ca
Đời viễn khách mơ hồ không biết được
Bước chân vang rộn rã buổi quay về
Em mắt biếc hồn nhiên bên cánh cửa
Gửi hương nồng quay quắt bóng người đi.”


Thơ Lâm Hảo Dũng đầy cảm khái. Nhưng hình như ở bên trong người lính vẫn còn hình bóng của cậu học trò mắt biếc với môi tươi...

Thơ ông lãng mạn nhưng vẫn lạc quan:

”nên ta cố sống dù câm điếc
Dù có xuôi tay mắt có mù
Để thấy em ngày vui áo biếc
Để ta buồn suốt một đời thu
Lắm khi gái thượng mà duyên dáng
Đi tắm hò reo đêm sáng trăng
Ta muốn buông mình con thú dữ
Bắt đầu trong suốt kiếp cô đơn
Có không ngày của thanh bình đến
Ta nhớ vườn xưa nhớ mẹ già
Còn hái mồng tơi ngoài dậu cũ
Lệ buồn năm tháng có phôi pha?”


Các nhà thơ Không quân ở Pleiku cũng có nhiều bài thơ độc đáo. Nói về thơ từ Pleiku mà không có những bài thơ này là một điều thiếu sót lớn theo cảm nhận của nhiều người. Nếu gọi tên những thi sĩ KQ thì không thể nhắc đến những tên tuổi như Lê Bá Định, như Hoàng Khai Nhan, như Lê Văn Trước, Võ Ý.

Ông Võ Ý là một phi công, phi đoàn trưởng phi đoàn quan sát 118 Bắc Đẩu. Ông cũng là người đã tình nguyện lên phố núi ”nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương” và làm thơ với cả tấm lòng của mình, một người bay ở trên cao để thấy thiên nhiên tươi đẹp biết bao, để thấy cuộc sống vẫn còn nét mơ mộng hào hoa và với ông những nơi chốn những địa danh của phố núi như ngập tràn nỗi nhớ...

Thơ của những người lướt gió đè mây có lúc lãng mạn hào hùng nhưng cũng có lúc thiết tha nhẹ nhàng của những tháng ngày đầy kỷ niệm như bài thơ "Xưa Trên Đó”

“Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống cô đơn
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền
mưa thì sình bụi mù thay nắng gió
gặp là vui cam khổ cũng cam đành
vui cho quên đâu bằng xưa trên đó
áo bay bay mờ ảo dấu Phượng Hoàng
quên được thì quên nhớ ai thì nhớ
quên cho rồi quyên gọi quốc từ đây
nhớ đâu đâu lạ lùng trăng đêm đó
tượng đá thần linh sao ta tỉnh say.
Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
Đồi như vương cây như vấn chân nàng
Phố cũng xưa và tim thì đau nhói
Quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn...”


Có người đọc câu “áo ai bay mờ ảo dấu Phượng Hoàng“ tưởng là chàng phi công nghĩ đến cánh chim thần truyền kỳ nào đó. Nhưng thực tế thì không phải. Phượng Hoàng chỉ là một khiên vũ trường của Pleiku mà các tay chơi mặc quần áo lính “đốt tiền mua vội một ngày vui”…

Với tôi thì một phần đời sống của mình ở đó mà không làm thơ cho được. Ngày lên Pleiku, có một bài thơ tôi đã làm như tiên đoán được cái không gian của biên tái, của những câu thơ như Lương Châu Từ của Vương Hạn thời Thịnh Đường xa xưa. Pleiku có khác nào Lương Châu, cũng là quan ải để trấn giữ biên cương. Ngày xưa thì ngăn giặc Hồ, giặc Mông. Ngày nay, thì canh chừng ba biên giới, với những trận đánh ác liệt mùa khô hàng năm tiếp diễn... Bài thơ ấy, làm vào một đêm trước khi sáng mai lên trực thăng vào phố núi:

“Ừ mai tao lên Pleiku
đêm căm hơi đá ngày mù núi xanh
uống say quên mộng quẩn quanh
về nơi gió cát cũng đành cuộc chơi
Ừ mai cánh vỗ ngang trời
ngóng thiên thu một cõi đời tịnh yên
máu xương mãi chuyện ưu phiền
còn đâu tiếng gọi cho em miệt mài
Ừ mai súng khoác lên vai
Ngẩn ngơ phố núi những ngày đao binh
Chắc đâu rượu uống một mình
Trong thân phiêu bạc nhục vinh nửa vời
Ừ mai thương bóng trăng trôi
Chim quên vẫy mỏi cuối trời chiến tranh
Uống đi mai hát quân hành
Nghe trong hơi bốc long lanh mắt người...”


Tuổi trẻ, ngây thơ và bốc đồng. Tưởng rằng, mình như một hiệp sĩ thời xưa đi vào nơi gió cát. Thơ cũng nghênh ngang kiểu “túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Tuổi trẻ, ơi những giấc mơ của ngày chân không chấm đất cật chẳng đến giời. Có phải là giấc mơ chung của những người lính trẻ chúng tôi…

Nguyễn Mạnh Trinh
thanks 1 user thanked nhat-tam for this useful post.
Hạ Vi on 9/1/2011(UTC)
nhat-tam  
#357 Posted : Thursday, September 1, 2011 4:28:57 PM(UTC)
nhat-tam

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/21/2011(UTC)
Posts: 1,133

Was thanked: 325 time(s) in 180 post(s)
Originally Posted by: Ha Vi Go to Quoted Post

UserPostedImage
NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT


Hạ Vi posted bài này phải mất nhiều thời gian: vừa có hình ảnh minh họa lại vừa tìm từng chữ đế bold đậm , quá công phu. THANKS nha ...ai đó !Smile
TUS  
#358 Posted : Thursday, September 1, 2011 4:48:58 PM(UTC)
TUS

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 2,946
Woman
Location: VN

Thanks: 53 times
Was thanked: 113 time(s) in 105 post(s)
Thế thái nhân tình
NGUYỄN CÔNG TRỨ

Thế thái nhân tình gớm chết thay
Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy
Hễ không điều lợi, khôn thành dại
Ðã có đồng tiền dở cũng hay
Khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi
Hẳn hoi không hết một bàn tay
Suy ra cho kỹ chi hơn nữa
Bạc quá vôi mà mỏng quá mây.


UserPostedImage



UserPostedImage
Hạ Vi  
#359 Posted : Thursday, September 1, 2011 5:54:39 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,595
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)
Originally Posted by: nhat-tam Go to Quoted Post
Originally Posted by: Ha Vi Go to Quoted Post

UserPostedImage
NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT


Hạ Vi posted bài này phải mất nhiều thời gian: vừa có hình ảnh minh họa lại vừa tìm từng chữ đế bold đậm , quá công phu. THANKS nha ...ai đó !Smile


UserPostedImage

wooaa, what a nice surprise anh mặt gziời viết reply khen & thanks "ai đó" à ..

híhí, yẹp, 2 bài...tìm chữ "EM" và chữ "MÌNH" mệt nghỉ ! nhưng mà trong lòng vui lắm vì tìm được bài viết hay hay, có giá trị, perfect & deserved to post trong topic Bảo tồn & Lưu truyền Văn Hoá của anh Thunder.

Merci, and good evening đến Nhat-tam nhé.

ps. còn 1 bài nữa tiếp theo của bài nầy "NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT" mà Hạ Vi đang set up, cũng phải tìm nhiều chữ "...." để put in bold đậm ....Anxious






UserPostedImage
thunder  
#360 Posted : Thursday, September 1, 2011 7:49:42 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage
NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT


Cám ơn HaVi posted những bài " NGHĨ VỀ MỘT SỐ TỪ TIẾNG VIỆT " hay và giá trị kèm theo những hình ảnh đẹp cho topic " BảO Tồn & Lưu Truyền Văn Hóa "

thunder

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 9/2/2011(UTC)
Users browsing this topic
Guest
144 Pages«<1617181920>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.