Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages«<36373839>
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#741 Posted : Monday, January 26, 2015 11:33:25 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

BỆNH VIÊM DA

QUANH MIỆNG


Da hàng trăm bệnh, không phải chỉ một bệnh “lác” như chúng ta vẫn tưởng. Giống chúng ta, mỗi bệnh có một tên riêng, gọi đúng tên, bác sĩ nào trên đất Mỹ cũng hiểu.

Đã hơn 30 năm trôi qua, kể từ ngày lần lượt kẻ trước người sau rời bỏ đất nước đi tìm tự do, chúng ta nay cần thành thạo với tên tộc của các bệnh, cố nhớ tên tiếng Anh của chúng, để dễ dàng cho các bác sĩ giúp chúng ta. Nhất là khi chúng ta gặp các bác sĩ người Mỹ, người Tàu, ... không biết tiếng Việt. Việc càng quan trọng trong trường hợp khẩn cấp như tại phòng cấp cứu của bệnh viện, khi chúng ta cần biết cách nhanh chóng kể bệnh và dùng đúng tên bệnh. Nếu qua thông dịch, lại cần kể bệnh mạch lạc, chính xác hơn, để họ còn dịch cho đúng, chúng ta ậm ờ, họ dịch sai, bác sĩ định bệnh lầm, chỉ khổ thân chúng ta.

Hơn nữa, ngày nay Internet là nguồn giúp ta tìm hiểu bệnh tật rất lợi hại. Biết tên tiếng Anh của bệnh, đánh vào vài chữ, nhiều bài viết về căn bệnh trên Internet sẽ hiện ra tha hồ ta đọc. Chúng ta nên tận dụng nguồn chỉ dẫn này để học hỏi, mở mang kiến thức giúp cho chính bản thân và gia đình, tránh để người khác hướng dẫn sai lầm.

Bệnh viêm da quanh miệng (bạn nhớ tên tiếng Anh của nó, “perioral dermatitis”, cũng chẳng khó nhớ phải không bạn) xuất hiện trên toàn thế giới, tấn công mọi sắc dân. Nó xảy ra nhiều nhất ở phụ nữ trong hạn tuổi 16 đến 45, tuy ai cũng có thể bị nó đến thăm, kể cả người lớn tuổi và trẻ em.

Nguyên nhân đích thực nào gây ra căn bệnh không được biết rõ lắm. Có thể bệnh do sự tổn thương của da nơi có mụn.

Một số người bị viêm da quanh miệng do dùng thuốc thoa chứa chất steroid lâu ngày trên mặt. (Thuốc thoa chứa chất steroid, như triamcinolone, clobetasone, ..., rất hay bị lạm dụng, người bệnh xin, dù chẳng có chỉ định dùng gì cả, bác sĩ chiều lòng cứ cho bừa. Thuốc nào, uống hay thoa, cũng cần có định bệnh, chỉ định dùng rõ rệt ghi đàng hoàng trong hồ sơ.) Có thể chất thuốc steroid làm tổn thương vùng da ta thoa thuốc, khiến bệnh dễ xuất hiện.

Nhiều trường hợp bệnh được nghĩ có thể do dùng kem đánh răng chứa chất fluorine (fluorinated toothpaste), kem hay nước chống khô da (skin moisturizers), son phấn làm đẹp (cosmetic products), vi trùng fusobacteria, nấm Candida albicans, do sự thay đổi lên xuống của các kích thích tố phái tính trong cơ thể người phụ nữ, và do uống thuốc ngừa thai.

Bệnh tạo những vết mụn nhỏ 1-2 mm lấm tấm màu đỏ chi chít quanh miệng, có khi trong chứa chất nước hoặc mủ. Vì các mụn này xuất hiện quanh miệng nhiều nhất nên bệnh có tên “perioral dermatitis”, nhưng thỉnh thoảng có trường hợp mụn mọc ở quanh mũi hoặc mắt. Chúng trông khác với các mụn của bệnh mụn trứng cá (bệnh mụn trứng cá acne vulgaris có thêm những mụn cám comedones trong khi bệnh viêm da quanh miệng perioral dermatitis không có những mụn cám comedones). Da vùng mụn có thể cảm thấy nóng hoặc như kim châm chích khó chịu.

Bệnh lành, không nguy hiểm, song khiến ta trông kém đẹp. Cũng may, khi khỏi, nó không để lại thẹo.

Không chữa, bệnh dằng dai lúc nặng lúc nhẹ nhiều tháng hay năm. Có khi nó bị định sai thành bệnh khác, bác sĩ cho thuốc thoa chứa chất steroid xài hoài, nó lại càng tệ hơn. Định đúng và chữa trúng trong vòng vài tuần đến vài tháng, bệnh sẽ khỏi; tuy sau đó nó có thể tái phát, song sẽ nhẹ hơn, và cũng dễ chữa hơn lần sau.

Việc chữa trị không khó
.

Đầu tiên, nếu bạn đang dùng chất thuốc thoa nào chứa chất steroid trên mặt, chúng ta cần ngưng nó ngay. Hoặc nếu ta nghi nguyên nhân nào đang gây bệnh, như son phấn (cosmetics), các sản phẩm dưỡng da (skin care productus), ..., nếu có thể, ta thử ngừng dùng nó.

Những trường hợp nhẹ, chúng ta thoa kem Elidel, kem trụ sinh metronidazole hay erythromycine cũng đủ. Những trường hợp nặng hơn, chúng ta dùng thuốc trụ sinh uống tetracycline, doxycycline, minocycline, hay erythromycin. Sự chữa trị thường từ vài tuần đến vài tháng.

Ở các cháu bé dưới 12 tuổi chưa thể dùng các thuốc tetracycline, doxycycline, minocycline, chúng ta dùng trụ sinh erythromycine hoặc kem thoa trụ sinh metronidazole.

Bệnh da rất nhiều, và ở Mỹ, không có bệnh da nào tên “lác” cả; giúp các bác sĩ, chúng ta cố nhớ tên bệnh tiếng Anh bác sĩ nói chúng ta biết. Mà không riêng bệnh về da, tất cả các bệnh khác cũng vậy, bác sĩ nên giúp người bệnh biết tên bệnh tiếng Anh, và người bệnh biên vào sổ riêng của mình tên bệnh này, xem đi xem lại để nhớ.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức


Ngoc N Hao  
#742 Posted : Sunday, February 1, 2015 11:26:36 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Bệnh Dội Ngược Bao Tử-Thực Quản


UserPostedImage


Tuy bệnh dội ngược bao tử-thực quản (gastro-esophageal reflux disease, hay viết tắt là GERD) rất hay xảy ra, song nhiều người chúng ta còn mơ hồ về căn bệnh.

Thường khi có triệu chứng ở vùng bụng trên, chúng ta chỉ kể một cách giản dị: tôi bị bệnh bao tử, hoặc “yếu” bao tử. Thực ra, có nhiều loại bệnh bao tử khác nhau: bệnh dội ngược bao tử-thực quản, bệnh loét bao tử, loét tá tràng, bệnh đau song không có vết loét (non-ulcer dyspepsia), bệnh ung thư bao tử, ...) Việc chữa trị, tất nhiên, tùy vào sự định bệnh, vì có thể khác biệt rất xa.
Thức ăn sau khi ta nhai nát trong miệng, được đẩy vào họng, và xuống thực quản (esophagus) lúc ta nuốt. Thực quản là một ống cấu tạo bởi những bắp thịt đặc biệt, giữ nhiệm vụ dẫn thức ăn xuống bao tử(stomach). Ở chỗ tiếp nối giữa thực quản và bao tử, có một bắp thịt nhỏ, hoạt động như một van đóng lại mở ra. Khi thức ăn đang từ thực quản xuống bao tử, bắp thịt này mở lỏng ra để thức ăn đi xuống. Khi thức ăn đã trong bao tử, bắp thịt này khép kín để thức ăn không đi ngược lên lại thực quản. Nếu vì một hay nhiều lý do sẽ được thảo luận ở một đoạn sau, có sự dội ngược các chất ở trong bao tử lên lại thực quản, hay cao hơn nữa, lên đến cổ họng, ta sẽ có triệu chứng của bệnh dội ngược bao tử-thực quản.

+Triệu chứng

Triệu chứng của bệnh rất đa dạng. Triệu chứng hay xảy ra nhất là nóng ngực (tiếng Mỹ nôm na là "heartburn" (nóng tim), nhưng trong Việt ngữ, chúng ta dùng chữ “nóng ngực” chính xác hơn). Nóng ngực thường xảy ra sau khi ăn. Người bệnh có cảm giác nóng ở vùng bụng trên hay ở vùng giữa ngực đằng sau xương ức. Cảm giác nóng có thể lan lên đến vùng cổ họng. Các triệu chứng điển hình khác của bệnh: ợ hơi, ợ chua, hoặc ợ cả thức ăn lên miệng, khó nuốt thức ăn.
Bệnh dội ngược bao tử-thực quản kinh niên cũng gây những triệu chứng khác như khan tiếng (nhất là vào buổi sáng). Ngoài ra, bệnh còn làm đau hoặc khó chịu cổ họng hoài, khò khè ban đêm. Có khảo cứu cho thấy, hơn 80% người lớn bị suyễn có những dội ngược bất thường từ bao tử lên thực quản. Nhiều vị ho tháng này qua năm khác, chỉ vì bị bệnh dội ngược bao tử-thực quản.
Quan trọng hơn nữa, bệnh có thể gây triệu chứng đau ngực rất khó phân biệt với cơn đau ngực do bệnh hẹp tắc động mạch vành tim (coronary artery disease). Định bệnh trong trường hợp này cần sự hỏi bệnh tỉ mỉ, đôi khi cần phải làm thêm các phim chụp hoặc thử nghiệm, đo tim đặc biệt.

Do sự đa dạng của các triệu chứng, và, trong nhiều trường hợp, vì có triệu chứng nhẹ, nhiều người bệnh không đi khám bác sĩ, nên rất khó xác định bệnh xảy ra nhiều đến mức độ nào.

Tại sao lại thế?

Bình thường, trong lúc ta ăn uống, thế nào cũng có chút nước bao tử dội ngược lên phần thực quản tiếp giáp với bao tử. Điều này bình thường, vì khi ta ăn, bắp thịt nhỏ giữa thực quản và bao tử đóng mở liên tục, một ít nước bao tử dội ngược lên thực quản là điều khó tránh. Thỉnh thoảng, trong lúc ăn, ta có thể thấy hơi nong nóng vùng ức. Triệu chứng này thường chỉ thoáng qua, do khi thực quản tiếp tục co bóp để đưa thức ăn xuống bao tử, đưa luôn cả những nước bao tử đi ngược đường xuống trở lại bao tử, mặt khác, nước miếng của ta đi theo thức ăn xuống thực quản, cũng sẽ trung hòa được một phần chất acid có trong chất nước bao tử dội lên thực quản.

Tuy nhiên, khi sự dội ngược xảy ra nhiều hoặc thường xuyên, cái bình thường trở thành bất thường, nhẹ hay nặng tùy mức độ dội ngược ít hay nhiều.

Nghiên cứu cơ chế của sự dội ngược bao tử-thực quản, người ta nhận thấy muốn có sự dội ngược, có hai điều kiện cần hội đủ: các chất trong bao tử dội ngược lên, và cơ chế chống dội ngược bị xáo trộn.

a- Các chất trong bao tử dễ dội ngược lên thực quản:

Các chất chứa trong bao tử dễ dội ngược lên thực quản khi khối lượng trong lòng bao tử tăng lên (như sau khi ta ăn no).
Các chất trong bao tử cũng dễ dội ngược, khi ở quá gần chỗ tiếp giáp bao tử và thực quản. Như khi ta vào giường ngay sau khi ăn, bao tử ở vị trí nằm ngang, khiến các chất chứa trong bao tử dễ lên lại chỗ nối bao tử-thực quản (gastroesophageal junction), và dội lên thực quản.
Khi áp suất trong lòng bao tử tăng cao (như khi ta béo mập, có thai, hoặc đeo giây lưng thắt hơi chặt), các chất chứa trong bao tử cũng dễ bị đẩy ngược lên phía thực quản.

b- Cơ chế chống dội ngược bị xáo trộn:

Như chúng ta đã biết, ở chỗ tiếp giáp giữa thực quản và bao tử, có một bắp thịt đặc biệt (sphincter), hoạt động như một van đóng lại mở ra. Khi thức ăn đang xuống bao tử, bắp thịt này lỏng ra để thức ăn đi xuống. Khi thức ăn đã vào hẳn bao tử, bắp thịt này khép kín để thức ăn và các chất trong bao tử không dội ngược được lên thực quản. Có sự dội ngược khi bắp thịt van đóng mở ấy bị yếu, không thường xuyên khép chặt.

Bắp thịt van yếu trong trường hợp ta bị những bệnh tấn công các bắp thịt, mang thai, hút thuốc lá, giải phẫu trong quá khứ làm hư hoại bắp thịt van, ... Một số thuốc như thuốc chữa cao áp huyết (Procardia, Adalat, Verapamil, ...), thuốc suyễn (Theo-dur, Slo-bid, ...) cũng làm bắp thịt van yếu đi. Hoặc ngược lại, dù bắp thịt này làm việc bình thường, nhưng khi áp suất trong bao tử tăng cao (béo mập, ăn quá no, ...), quá sức chịu đựng của bắp thịt van, bắp thịt van khép không được kín, lúc đó cũng có sự dội ngược.

+Biến chứng

Ngoài những triệu chứng khó chịu chúng ta đã có dịp tìm hiểu ở một đoạn trên, bệnh dội ngược bao tử-thực quản còn có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm. Trong các chất dội ngược từ bao tử lên thực quản, có các chất hóa học, trong đó chất acid (tiết bởi các tế bào lót thành bao tử) là chất quan trọng nhất gây biến chứng.

Chất acid, khi dội ngược lên thực quản lâu ngày, có thể làm hư hoại niêm mạc của phần thực quản tiếp giáp với bao tử, gây bệnh viêm thực quản (esophagitis). Chỗ thực quản bị viêm kinh niên sau này có khi sẽ hẹp lại (stricture) gây khó nuốt, vì trên đường từ thực quản xuống dạ dày, thức ăn đi qua một chỗ hẹp, sẽ len lách xuống khó khăn hơn. Hẹp thực quản được chữa bằng cách nông chỗ hẹp với những dụng cụ y khoa đặc biệt, hoặc bằng giải phẫu.

Tuy nhiên, biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh dội ngược bao tử-thực quản là ung thư thực quản, một trong những ung thư nguy hiểm và khó chữa. Những tế bào bình thường của thực quản, phải thường xuyên tiếp xúc với chất acid, bị chất acid biến đổi, lâu ngày có thể biến thành tế bào ung thư.

+Định bệnh

[Gastroesophage-2] Như tất cả mọi tật bệnh khác trong y học, định ra bệnh dội ngược bao tử-thực quản dựa vào bệnh sử, thăm khám và các phương pháp khác như phim chụp, soi thực quản và bao tử, ...
Bao giờ phần bệnh sử (phần bạn kể bệnh) cũng là phần quan trọng nhất. Vì lời kể của bạn là đầu mối bác sĩ dựa vào để suy luận và định bệnh. Giúp bác sĩ mau chóng định bệnh, bạn cần kể bệnh mạch lạc, có đầu có đuôi, và đầy đủ các chi tiết cần thiết. “Bao tử tôi hay bị yếu khi ăn đồ nóng, hoặc “Tôi hay bị đầy hơi khi ăn đồ nóng”, rồi... cười, không đủ để bác sĩ định xem bạn bị: bệnh dội ngược bao tử-thực quản, bệnh loét bao tử, bệnh loét tá tràng, bệnh đau nhưng không có loét (nonulcer dyspepsia), hay bệnh ung thư bao tử,... Hoặc bạn thực ra bị bệnh hẹp tắc động mạch vành tim (coronary artery disease), và đầy hơi ở đây là một triệu chứng đau ngực trá hình (atypical chest pain) của loại bệnh nguy hiểm này.

Vậy, khi kể bệnh cho bác sĩ nghe, bạn nên kể theo thứ tự thời gian, dùng con số để diễn tả và lần lượt đi qua 8 điểm sau đây:

1. Bạn bị đau hay có triệu chứng bất thường từ bao lâu nay (how long): mới vài ngày qua, một tuần qua, vài tháng qua, hay đã nhiều năm, ...? (không nên dùng những chữ mơ hồ như “lâu rồi”, “mới đây”).

2. Bao lâu triệu chứng bất thường xảy ra một lần (how often): mấy lần mỗi ngày, hay mấy lần mỗi tuần? hay chỉ thỉnh thoảng vài lần một năm, ...?

3. Mỗi khi bạn có triệu chứng bất thường, triệu chứng kéo dài bao lâu (how long does it last): vài giây, vài phút, vài tiếng, cả ngày, liên tiếp vài ngày, ...?

4. Triệu chứng bất thường xảy ra trong trường hợp nào (in what circumstance does it occur): ngày hay đêm? lúc đang hoạt động hay nghỉ ngơi? sau khi ăn? mấy tiếng sau khi ăn? Triệu chứng xảy ra sau khi ăn một thức ăn đặc biệt nào? (Chúng ta hay dùng chữ “đồ nóng” một cách mơ hồ để chỉ một số những thức ăn. Y học Mỹ chỉ dùng khái niệm nóng lạnh để nói về nhiệt độ. Nên diễn tả một cách chính xác: “Tôi bị đầy hơi ở vùng bụng trên mỗi khi ăn thức ăn có mỡ, có ớt, hay khi uống nước cam chua, ...” thay vì: “Tôi bị đầy hơi mỗi khi ăn đồ nóng”, kẻo bị bác sĩ Mỹ, qua thông dịch, hiểu lầm là bạn có triệu chứng mỗi khi ăn thức ăn nóng nấu trên bếp.)

5. Triệu chứng bất thường hay đau đích xác ở đâu và có lan truyền đi chỗ khác hay không (where is it): nếu có thể được, bạn chỉ chỗ có triệu chứng bất thường hay bị đau bằng một ngón tay.

6. Đau ra sao (how is the pain): đau như dao đâm? đau như lửa đốt? đau như có vật nặng đè?

7. Các triệu chứng bất thường khác đi kèm khi bị đau (what are the associated symptoms): khi bị đau, bạn có bị khó thở, choáng váng, toát mồ hôi, buồn nôn hay ói mửa? hoặc bất cứ triệu chứng gì khác đi kèm khi đang bị đau?

8. Khi có triệu chứng bất thường hay bị đau như bạn vừa kể trên, bạn làm gì cho dễ chịu hơn (what do you do to get relief?): bạn phải ngồi hoặc nằm nghỉ, hay vẫn có thể tiếp tục làm việc, hoặc phải đi đi lại lại cho bớt đau. Khi bị đau, bạn hay dùng thuốc gì ở nhà để chữa đau (Aspirin, Tylenol, Maalox, Mylanta, ...) và kết quả ra sao?

Bạn cũng đừng quên mang theo tất cả những thuốc men đang dùng ở nhà đến cho bác sĩ xem, kể cả những thuốc mua không cần toa. Điều này vô cùng quan trọng, giúp vào sự định bệnh rất nhiều. Vì nhiều thuốc có thể gây đầy hơi, khó chịu, hoặc đau vùng bụng trên. Thí dụ những thuốc chống đau như Motrin, Advil, Naproxen, ..., những thuốc có chứa chất Aspirin như Anacin, Alka-Selzer. Biết bạn đang dùng thuốc gì, bác sĩ có thể đoán biết các bệnh bạn đang bị, hoặc triệu chứng bạn đang có có phải do thuốc gây ra hay không. Nếu nghi triệu chứng do thuốc gây ra, cùng với sự chữa trị bằng các thuốc bao tử, bác sĩ còn khuyên bạn nên ngưng thuốc nghi gây triệu chứng.

Sự thăm khám trong trường hợp bệnh dội ngược bao tử-thực quản thường không cho thấy gì đặc biệt. Một đôi khi, bạn thấy vùng bụng trên khó chịu, hay hơi đau khi vùng này được bác sĩ sờ nắn.
Sau phần bệnh sử và thăm khám, nếu định bệnh đã khá rõ (người bệnh khéo kể bệnh, có các triệu chứng điển hình của bệnh, thăm khám không cho thấy có bệnh gì khác), bác sĩ thường bắt đầu chữa cho bạn ngay. Nếu chưa có định bệnh rõ rệt, hoặc khi sự chữa trị không cho những kết quả mong muốn, bác sĩ có thể sẽ cho bạn chụp phim hoặc soi thực quản và bao tử, để xác định xem có đúng bạn bị bệnh dội ngược bao tử-thực quản hay không.

Các cách chẩn đoán khác như: theo dõi sự chuyển động của thực quản, đồng thời đo nồng độ acid (pH monitoring) trong lòng thực quản, cũng có khi được sử dụng để định bệnh.

+Chữa không dùng thuốc

Sự chữa trị bệnh dội ngược bao tử-thực quản nhắm bốn mục tiêu: làm giảm sự dội ngược, trung hòa các chất dội lên từ bao tử, giúp các chất dội lên mau xuống lại bao tử, và bảo vệ niêm mạc thực quản trước tác dụng độc hại của các chất dội lên.
Để đạt được các mục tiêu trên, có nhiều cách chữa trị riêng rẽ hay phối hợp. Đầu tiên, chúng ta bàn đến những phương cách chữa trị không dùng thuốc.
- Nếu nặng cân, chúng ta nên xuống cân.
- Khi ngủ, nên nằm với tư thế đầu và ngực cao hơn bụng, bằng cách kê đầu giường cao lên 4-6 inches (chèn gỗ hoặc vật cứng dưới đầu giường).
- Nên mặc quần áo rộng rãi không thắt chặt làm tăng áp suất trong bụng.
- Tránh một vài loại thực phẩm như thức ăn mỡ màng, chocolate, peppermint, vì chúng làm lỏng bắp thịt van giữa thực quản và bao tử. Uống nhiều rượu cũng vậy. Ngoài ra, chúng ta cũng nên tránh các thức ăn thức uống biết chắc cứ mỗi khi dùng lại khiến chúng ta có triệu chứng, chẳng hạn những thức uống chứa nhiều chất acid như colas, nước cam, rượu vang đỏ (red wine).
- Tránh ăn quá no, tránh uống nhiều nước trong lúc ăn.
- Trong vòng 2-3 tiếng sau khi ăn, không nên đi nằm ngay, và nên tránh ăn trước khi đi ngủ.
- Bỏ hút thuốc lá và bớt uống rượu. Nước miếng trong miệng ta có tác dụng tốt, làm trung hòa chất acid dội lên thực quản từ bao tử, thuốc lá khiến nước miếng bớt tiết ra.
- Nhai kẹo chewing gum cũng tốt, vì khi nhai chewing gum, nước miếng trong miệng chúng ta sẽ tiết ra nhiều.

+Chữa với thuốc

Triệu chứng nhẹ, thỉnh thoảng nóng ngực chút sau khi ăn dù đã thực thi những cách chữa không dùng thuốc kể trên, ta chỉ cần dùng các thuốc có tác dụng trung hòa acid (antacids) như Maalox, Mylanta, Gaviscon, … vào lúc có triệu chứng.
Khi triệu chứng xảy ra thường hơn, ta dùng những thuốc làm bao tử bớt tiết chất acid như Tagamet, Zantac, Pepcid, ...
Triệu chứng nặng hơn nữa và dùng những thuốc trên không kết quả, chúng ta dùng những thuốc như Omeprazole, Prilosec, Prevacid, … có tác dụng chống tiết chất acid trong bao tử rất mạnh. Những thuốc này mắc hơn nhiều, và có thể gây một số tác dụng phụ quan trọng nếu dùng dài lâu, như gãy xương, cơ thể thiếu sinh tố B12, thiếu muối Magnesium, … Sau một thời gian dùng thuốc, khi triệu chứng đã thuyên giảm nhiều, chúng ta nên ngưng thuốc, hoặc chuyển qua những thuốc nhẹ hơn Tagamet, Zantac, Pepcid.
Với những trường hợp nặng, thường sự chữa trị kéo dài vài tháng, có khi cả năm.

+Giải phẫu

Một số trường hợp bệnh dội ngược bao tử-thực quản cần đến giải phẫu, vì dùng thuốc tối đa không kết quả, triệu chứng vẫn làm cuộc sống người bệnh mất vui, hoặc vì những lý do khác như dùng thuốc lâu quá năm này sang năm khác có thể đưa đến những vấn đề không tốt do tác dụng phụ của thuốc, v.v..

Có nhiều kỹ thuật giải phẫu khác nhau, giúp bắp thịt van giữa thực quản và bao tử chắc hơn, làm việc hữu hiệu hơn, khiến các thức ăn trong bao tử bớt dội lên thực quản.

Tóm lại, bệnh dội ngược bao tử thực quản xảy ra nhiều, có trường hợp nhẹ, có trường hợp nặng. Nhẹ, chúng ta chữa bằng những cách giản dị, xuống cân, nằm ngủ đầu và ngực cao hơn bụng, tránh một số thực phẩm, bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, …, và thỉnh thoảng triệu chứng xảy ra, dùng những thuốc như Maalox, Mylanta, Gaviscon, Tagamet, Zantac, Pepcid. Nặng, chúng ta cần thuốc mạnh hơn như các thuốc Omeprazole, Prilosec, Prevacid, …, những thuốc này mắc hơn và có thể gây một số vấn đề cho cơ thể nếu dùng dài lâu. Khi bệnh nặng quá, dùng thuốc không kết quả, hoặc phải dùng thuốc dài lâu vừa tốn kém vừa sợ tác dụng phụ của thuốc, chúng ta cần đến giải phẫu.


Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức
Ngoc N Hao  
#743 Posted : Wednesday, February 4, 2015 10:56:26 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Dược thảo bị ngưng bán ở bốn hệ thống bán lẻ lớn ở New York


Bộ Tư Pháp New York hôm Thứ Hai tố cáo bốn công ty bán lẻ lớn ở tiểu bang bày bán các dược thảo giả mạo, có hại cho sức khỏe, đồng thời yêu cầu phải lấy xuống hết khỏi các kệ thuốc, theo tường thuật của báo New York Times.

Nhà chức trách cho hay, họ thử nghiệm các thuốc bồi bổ bằng dược thảo với nhãn hiệu bán chạy nhất tại bốn hệ thống bán lẻ GNC, Target, Walgreens và Walmart, và nhận thấy bốn trong năm sản phẩm hoàn toàn không có chất dược thảo như đã ghi trên nhãn.

UserPostedImage

(Hình minh họa: Mario Tama/Getty Images)

Thử nghiệm cho thấy những viên thuốc ghi là dược thảo, không có gì ngoài bột gạo, măng tây và rau cỏ trồng trong nhà, đôi khi có thêm những chất gây nguy hiểm cho người bị dị ứng.

Cuộc điều tra được giới chuyên gia y tế hoan nghênh vì từ lâu họ thường than phiền về phẩm chất lẫn sự an toàn của những sản phẩm được cho là bồi bổ cơ thể, vốn được miễn không bị kiểm soát gắt gao như thuốc biên toa.

Cơ quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) thường chỉ để ý đến những sản phẩm có chứa thành tố gây nguy hiểm.

Nhưng loan báo hôm Thứ Hai là lần đầu tiên các hệ thống bán lẻ và nhà thuốc tây bị dọa sẽ bị kiện vì bán các sản phẩm cố ý lường gạt người tiêu dùng.

Trong số sản phẩm bị phát giác, có thuốc viên sâm bán ở Walgreens, nói là giúp “chịu đựng dẻo dai và cường tráng,” thật ra chỉ chứa bột gạo và tỏi.

Bày bán tại Walmart, bạch quả, loại dược thảo của Trung Quốc, giúp tăng cường trí nhớ, nhưng nhà chức trách khám phá thấy chỉ có bột củ cải, rau cỏ và bột mì, mặc dù ngoài nhãn ghi rằng không có bột mì và gluten.

Ba trong sáu dược thảo bán tại Target như bạch quả, St John's wort và rễ cây hoa valerian, có tác dụng giúp dễ ngủ. Kết quả thử nghiệm cho thấy tất cả đều không có như ghi ở nhãn mà chỉ là bột gạo, đậu, cà rốt.

Còn ở GNC, ngoài nhãn không thấy ghi những chất tìm thấy trong những thuốc viên bày bán như đậu phộng và đậu nành, vốn có hại đối với người bị dị ứng.

Bốn nhà bán lẻ nói trên nhận được giấy “Cease and Desist Notification” hôm Thứ Hai, bắt giải thích họ sử dụng phương pháp nào để xác định các thành phần trong những thuốc bồi bổ bày bán.

Ông Eric T Schneiderman, bộ trưởng Tư Pháp New York, nói: “Ghi nhãn sai, chứa uế tạp và quảng cáo gian dối là hành vi phạm pháp. Tất cả tạo cho các gia đình cư dân của New York đứng trước rủi ro không thể chấp nhận được, đặc biệt là đối với người bị dị ứng với những thành tố không kê ra.”

Kết quả điều tra của Bộ Tư Pháp đưa đến một bài báo đăng trên New York Times năm 2013, làm dấy lên nhiều nghi vấn về sự giả mạo lan tràn trong kỹ nghệ thuốc bồi bổ.

Trường Ðại Học Guelph ở Canada sau đó mở cuộc nghiên cứu và thấy rằng một phần ba dược thảo thử nghiệm không chứa những chất ghi trên nhãn, thay vào đó, là những chất bột rẻ tiền.

Bác Sĩ Pieter Cohen, giáo sư Ðại Học Harvard Medical School, nhận xét: “Nếu đúng như vậy thì tai hại quá.”

Ông tiếp: “Chúng ta bàn đến những sản phẩm bày bán tại những nhà buôn thuộc dòng chính như Walmart và Walgreens, nơi mà chúng ta trông mong có phẩm chất tuyệt đối cao nhất.”

Ðể đáp lại, Walgreens nói họ sẽ lấy khỏi kệ tất cả sản phẩm bán ở khắp toàn quốc, mặc dù chỉ mới có tiểu bang New York yêu cầu.

Walmart nói cũng sẽ làm tương tự, đồng thời sẽ tiếp xúc với các nơi cung cấp.

GNC nói sẽ hoàn toàn hợp tác với cuộc điều tra nhưng vẫn bênh vực phẩm chất lẫn sự tinh khiết của sản phẩm họ bán.

Họ cho biết đã thử nghiệm tất cả sản phẩm bằng “những phương pháp tin cậy và được dùng rộng rãi.”

Target không đưa ra lời bình luận nào.



Theo NVonline
thunder  
#744 Posted : Sunday, February 8, 2015 9:33:51 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Gỏi càng ngon càng độc!


Để “phù phép” cho các món gỏi hấp dẫn nhằm thu hút thực khách, nhiều nhà hàng, quán ăn, nơi nấu tiệc... sẵn sàng sử dụng đủ loại hóa chất độc hại

Gỏi là món khai vị không thể thiếu trong các bữa tiệc. Lâu nay, ai cũng biết ngó sen là loại “rau sạch” vì sen sống trong môi trường ao hồ nước ngọt. Song, điều mà các bà nội trợ thường thắc mắc là dù chế biến món gỏi ngó sen có đủ các thành phần đến mấy thì dĩa gỏi cũng chẳng thể nào trắng, giòn và ngon như nhà hàng chế biến.

Thấm đẫm hóa chất

Trong vai người đi học nấu ăn để kiếm việc làm, tôi được chị Thọ (nhà ở quận 10 - TPHCM), một đầu bếp đã có kinh nghiệm gần 20 năm đứng bếp cho nhiều nhà hàng lớn ở quận 3, “chỉ giáo” vài món ăn cơ bản mà mở màn là các món gỏi.

Căn nhà của chị Thọ nằm sâu trong một con hẻm trên đường 3 Tháng 2, với mặt bằng chỉ rộng chừng hơn 20 m2 nhưng ngày nào cũng có 6 người tất bật nấu các món ăn đãi tiệc phục vụ tận nhà. Chỉ huy chính là chị Thọ còn chồng chị chịu trách nhiệm mua thực phẩm. Theo chị Thọ, thông thường, các món lạ, độc chỉ chế biến khi có yêu cầu, còn những món mà bất cứ bữa tiệc nào cũng có như gỏi và lẩu thì phải chuẩn bị trước nhiều ngày, thậm chí cả tuần. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, chị giải thích: “Làm cho cả “làng” ăn nên phải chuẩn bị thật nhiều, trữ sẵn trong tủ mát nhiều ngày, vừa chủ động thời gian mà các món gỏi cũng thấm hơn”...

UserPostedImage
Ngó sen được ngâm trong nước hóa chất tạo trắng. Ảnh: THANH NGỌC

Lâu nay, nhiều người vẫn nghĩ ngó sen đã giòn và trắng thì cần gì phải phù phép nhưng thực tế không phải vậy. “Đã là nấu tiệc, quán ăn thì đầu bếp nào cũng phải sử dụng hóa chất để đánh lừa thực khách” - bài học đầu tiên chị Thọ truyền cho tôi là vậy. Để bắt đầu vào khâu sơ chế ngó sen, tôi phải dùng miếng cước nhám rửa chén tuốt từng cọng sao cho hết màu xám bám bên ngoài, sau đó dùng dao cắt hết phần búp (để lại xào ăn). Phần thân ngó sen sẽ được ngâm trong nước đã pha sẵn chất tẩy trắng khoảng 2 giờ. Lúc này, những cọng ngó sen nhìn trắng phau rất bắt mắt sẽ được cho vào xô nước chứa hàn the ngâm khoảng 2 giờ nữa để tạo độ giòn...

Cứ tưởng như vậy là xong công đoạn ngâm tẩm nhưng không phải. Cọng ngó sen tiếp tục ngâm trong phoóc-môn (để không bị úng thối), rồi ngâm trong đường và giấm hóa học cho thấm trước khi trữ lạnh. Với cách làm này, ngó sen có thể sử dụng dần trong cả tuần cũng không hư...

Không chỉ có ngó sen, những nguyên liệu làm gỏi khác như bắp chuối bào, dưa leo, rau nhút, rau tiến vua, chuối chát, khổ qua, cần tây, hành…, tất thảy đều trải qua giai đoạn ngâm hàn the và nhiều loại hóa chất khác. “Nếu không có những hóa chất này thì chúng sẽ nhạt màu, thâm đen và dai như cọng dây thun”- chị Thọ giảng giải.

Mực, tôm... tẩy trắng, ngâm giòn

Nguyên liệu không thể thiếu trong các món gỏi phải kể đến là chân gà, chân vịt, tai, lưỡi heo, tôm, sứa, mực... Tất cả các loại nguyên liệu này đều phải tẩy trắng, ngâm giòn. Riêng thịt bò trước khi chế biến phải ướp bột mềm; tôm luộc trong nước có phẩm màu tạo đỏ; sò lông luộc trong nước có hàn the… Với cách làm này thì dù tôm, thịt, mực, sứa... có ươn cỡ nào cũng trở nên cứng chắc, tươi tắn rất bắt mắt.

Chị Thọ vừa làm vừa hướng dẫn: Thường thì thành phần của dĩa gỏi khá phong phú nên không thể để các nguyên liệu lẫn vào nhau vì sẽ kém hấp dẫn. Muốn vậy, từng loại thực phẩm phải được tẩm nhuộm, xử lý màu sắc ở mức cao nhất có thể. Thậm chí, đậu phộng rang cũng phải có hóa chất để cho từng hạt sẽ bể đều có nhiều cạnh chứ không nát khi giã và bảo đảm giòn lâu, ngay cả khi ngập trong nước gỏi...

Để dĩa gỏi thật hấp dẫn, sau các công đoạn tẩm ướp, chế biến cho từng thứ nguyên liệu theo cách riêng như trên, đầu bếp sẽ trộn chung trước khi đưa lên bàn tiệc chừng nửa giờ. Như vậy, gỏi sẽ giữ được màu đặc trưng khiến người ăn có cảm giác tươi, ngon mà không thể biết được những vật liệu này đã “oằn mình” thấm đẫm nhiều hóa chất độc hại...

Thấy tôi có vẻ tư lự, chị Thọ hạ giọng: “Không làm thế này thì chẳng ai đặt tiệc mình nấu đâu, vì ở đâu họ cũng làm vậy. Băn khoăn mà làm gì cho... mau già!”.

Có nguy cơ mù mắt, ung thư

Theo BS Nguyễn Văn Ký, phụ trách an toàn vệ sinh thực phẩm phía Nam, Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn vệ sinh thực phẩm Việt Nam, những loại chất tẩy trắng, phẩm màu rẻ tiền thường là hóa chất công nghiệp và không được phép có mặt trong thực phẩm. Hóa chất được dùng trong thực phẩm có giá cao gấp vài chục lần so với hóa chất dùng trong công nghiệp dệt, nhuộm, tẩy, rửa. Hóa chất công nghiệp khi thâm nhập cơ thể với số lượng nhất định có thể gây mù mắt, ăn mòn da, tổn hại tiêu hóa và có thể gây ung thư.
(T. Trúc)


NGỌC MAI

Duy An  
#745 Posted : Sunday, February 15, 2015 7:40:13 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Bệnh sởi


VienDongDaily.Com - 13/02/2015

Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa sởi, bệnh sởi ít xảy ra ở những quốc gia tiến bộ như Mỹ chẳng hạn, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước chậm tiến. Do đó, người Việt thường lo sợ khi nghe nói tới bệnh sởi.Hầu như không một người Việt Nam nào không từng nghe nói tới bệnh sởi. Đứa bé nào bị mọc nhiều nốt đỏ trong người cũng được cho là đang bị “ban sởi”. Một đứa bé dưới 5 tuổi có thể bị rất nhiều thứ bệnh có kèm theo triệu chứng nổi những vết đỏ khắp người và lần nào cũng cho là lên ban, phải cữ ra nắng gió, phải cữ nước, nếu không thì sẽ bị “chạy hậu”.

Vậy bệnh sởi là gì?


Bệnh sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp gây ra bởi con siêu vi sởi có mặt trên toàn thế giới. Những vết đỏ khắp người có thể làm người ta chú ý tới bệnh sởi. Nhưng thực ra đây chỉ là một trong những triệu chứng bên ngoài, những thay đổi bên trong mới nguy hiểm hơn. Bệnh sởi có thể nguy hiểm chết người, nhất là ở những trẻ nhỏ.

Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa sởi, bệnh sởi ít xảy ra ở những quốc gia tiến bộ như Mỹ chẳng hạn, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước chậm tiến. Do đó, người Việt thường lo sợ khi nghe nói tới bệnh sởi.
Nhung gần đây, từ khoảng tháng 9 nam 2014, nhiều truờng hợp bệnh sởi đã được ghi nhận tại miền Nam California và một vài nơi khác. Con số bệnh nhân sởi đã tăng lên gấp 5-7 lần, khiến tình trạng dịch bệnh được báo động. Nguyên nhân có thể là do nhiều phụ huynh đã không cho con em mình chích ngừa bệnh sởi vì sợ chúng sẽ bị bệnh autism, một tin tưởng hoàn toàn không có căn cứ mà còn có thể đem đến nguy cơ là các bệnh dịch trẻ em như sởi, bạch hầu uốn ván ho gà, sốt tê liệt... có cơ hội bùng nổ trở lại.
Bệnh sởi rất hay lây và dễ dàng lan ra từ những người du lịch quốc tế. Hiện nay trên thế giới có đến 30 tới 40 triệu trường hợp bệnh sởi xẩy ra, gây ra hơn 750,000 cái chết.

Triệu chứng

Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với siêu vi sởi, những triệu chứng sau đây có thể xẩy ra:

1. Sốt
2. Ho khan
3. Chảy nước mũi
4. Mắt đỏ
5. Không chịu được ánh sáng
6. Những nốt đỏ nhỏ với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik.
7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau

Diễn biến của bệnh

Bệnh sởi thường bắt đầu với một cơn sốt khá nhẹ, kèm theo những triệu chứng như ho, chảy mũi, mắt đỏ và đau cổ họng. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên, đốm này là dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Sau đó, bệnh nhân có thể bị sốt cao lên tới 104 hay 105 độ F. Cùng lúc đó, những mảng đỏ nổi lên, thường là ở trên mặt, theo đường tóc và sau tai. Những vết đỏ hơi ngứa này có thể d?ãn lan xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân. Khoảng một tuần sau, những vết nhỏ này sẽ nhạt dần, vết nào xuất hiện trước sẽ hết trước.

Nguyên nhân

Bệnh sởi gây ra do siêu vi sởi. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây sởi nếu chưa chích ngừa. Siêu vi sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân.

Họ thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu có chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có thể hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại... Khi ta sờ vào những nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, ta sẽ bị lây bệnh
Một khi siêu vi sởi vào cơ thể bệnh nhân, chúng thường mọc vào trong những tế bào đằng sau cổ họng và phổi. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da.

Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta sẽ không mắc bệnh sởi lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Đó là vì bạn đã sống qua nhiều thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm siêu vi dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có miễn nhiễm.
Bệnh sởi ít có ở Mỹ nhưng vẫn xảy ra ở nhiều các nước khác và bệnh rất nặng nếu bệnh nhân bị thiếu vitamin A, một điều dễ thấy ở những nước chậm tiến, do dân chúng thường thiếu ăn.

Biến chứng

Bệnh sởi thường kéo dài từ 10 tới 14 ngày. Ở vài nơi trên thế giới, bệnh sởi là một bệnh nặng có thể gây ra chết người. Ở các nước tiến bộ Tây phương, ít khi xẩy ra cái chết.

Bệnh nhân có thể bệnh nặng nhưng thường qua khỏi. Tuy nhiên biến chứng có thể xẩy ra:
1 - Nhiễm trùng tai xẩy ra ở 1 trong 10 trẻ bị sởi.
2 - Viêm não: xẩy ra ở khoảng 1 trong 1000 người mắc bệnh sởi. Não bị nhiễm siêu vi trùng gây ra ói mửa, giật kinh, có khi hôn mê. Viêm não có thể xẩy ra sau bệnh sởi hoặc có thể x?y ra rất nhiều năm sau, vào tuổi vị thành niên, do một loại siêu vi mọc chậm, rất hiếm.
3 - Sưng phổi: xảy ra khoảng 1/20 trường hợp bị sởi. Có thể nguy hiểm chết người.
4 - Tiêu chảy và ói mửa: thường xẩy ra cho trẻ nhỏ.
5 - Sưng cuống phổi, sưng thanh quản hay “croup”.
6 - Đàn bà có thai mắc bệnh sởi có thể bị hư thai, sanh sớm hay sanh trẻ nặng cân.
7 - Thiếu tiểu cầu (platelets) khiến khó đông máu.

Ngăn ngừa sởi


Thuốc chích ngừa sởi rất công hiệu. Trước khi có thuốc ngừa, có chừng 450,000 trường hợp bệnh gây ra khoảng 450 cái chết mỗi năm trên đất Mỹ. Việc chủng ngừa rộng rãi đã giảm con số này 99%. Vào những năm 80 khi số trường hợp bệnh hơi tăng lên, việc chích ngừa đã được đẩy mạnh hơn khiến hiện nay con số bệnh xuống thấp nhất từ trước đến giờ.
Thuốc ngừa sởi thường được gồm chung trong một loại thuốc tên MMR chứa 3 thứ: sởi, quai bị và ban Đức. Thuốc được chích cho trẻ em từ 12 tới 15 tháng và thêm liều thứ hai chích lúc 4, 5 tuổi. Các em bé mới sinh được kháng thể của mẹ truyền qua nên được bảo vệ từ 4 tới 6 tháng. Nếu em bé được bảo vệ trước 12 tháng, thí dụ như sẽ đi du lịch những vùng nhiều bệnh, em có thể được chích ngừa nhưng phải chích lại lúc được 12 tháng.

Ai cần chích ngừa MMR (sởi, quai bị và ban Đức)?
Bạn sẽ KHÔNG cần chích nếu bạn
1. Là đàn ông sinh trước 1957
2. Thử nghiệm máu chứng tỏ có kháng thể bệnh trong máu
3. Là đàn bà sanh trước năm 1957 và không định sanh con nữa, đã có miễn nhiễm bệnh ban Đức hay đã chích ngừa ban Đức.
4. Lúc bé đã được chích ngừa liều MMR sau 1 tuổi.

Bạn cần chích ngừa nếu bạn không có một trong những điều kiện trên và bạn:
1 - Là đàn bà trong tuổi có thể mang thai và hiện đang không có thai.
2 - Đang đi học đại học.
3 - Làm việc ở những cơ quan y tế hay trường học, nhà giữ trẻ...
4 - Đang dự định đi du lịch.

Những người sau đây không nên chích ngừa:
1) Đàn bà có thai hoặc dự định có thai trong vòng 4 tuần kế tiếp.
2) Người đã từng có phản ứng dị ứng nặng nguy hiểm đến tính mạng với chất gelatin hay chất trụ sinh neomycin.
Nếu bạn đang bị ung thư, bệnh về máu hay một bệnh miễn nhiễm nào đó, bạn cần nói chuyện với bác sĩ trước khi chích ngừa.

Phản ứng phụ của thuốc ngừa

Đa số người được chích ngừa không bị phản ứng nào cả. Có khoảng 10% sẽ bị sốt từ 5 tới 12 ngày sau khi chích và khoảng 5% bị nổi đỏ nhẹ. Ít hơn 1 phần triệu bị phản ứng dị ứng nặng.

Trước kia người ta thường tin rằng người bị dị ứng với trứng không nên chích ngừa sởi. Tuy nhiên điều này không đúng. Người dị ứng với trứng có thể chích ngừa sởi hay MMR.

Gần đây thường có dư luận liên kết việc chích ngừa sởi với bệnh “tự kỷ” autism. Tuy nhiên, báo cáo từ nhiều cơ quan y tế chính của Mỹ đều cho thấy không có sự liên hệ nào giữa hai việc này. Đa số những trẻ em bị autism được định bệnh vào khoảng 18 tới 30 tháng, vài tháng sau khi chích MMR. Do đó người ta dễ liên kết hai sự việc. Tuy nhiên, không có dữ kiện khoa học nào hiện nay cho thấy có sự liên kết cả.
UserPostedImage
Duy An  
#746 Posted : Tuesday, February 17, 2015 1:57:57 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Nguy cơ tử vong do hút thuốc có thể cao hơn người ta tưởng

Sunday, February 15, 2015
nguoi-viet.com

ST. LOUIS, Missouri (NV) - Hút thuốc có thể là nguyên nhân khiến thêm từ 60,000 đến 120,000 người chết ở Mỹ mỗi năm, cao hơn nhiều so với người ta vẫn tưởng trước đây.

Reuters trích dẫn kết quả một nghiên cứu mới đăng trên tập san y khoa New England Journal of Medicine cho biết như vậy.

Qua khảo sát hơn 181,000 trường hợp tử vong lưu giữ trong kho dữ liệu, nhiều cái chết do thuốc lá trước đây lại không bị quy cho trách nhiệm, như suy thận, nhiễm trùng và có thể cả ung thư ngực lẫn nhiếp hộ tuyến.

Đến nay, 21 bệnh thông thường được quy cho hút thuốc gồm tiểu đường, 12 loại ung thư và sáu hình thức bệnh tim mạch khác nhau.

Ông Eric Jacobs, đồng tác giả bản nghiên cứu, nhận định: “Sự kiện là có thêm khoảng 17% những trường hợp tử vong do hút thuốc nhưng không thấy liệt kê trong danh sách của cơ quan y tế Hoa Kỳ khiến tôi ngạc nhiên không ít.”

Nếu khám phá này được áp dụng khắp toàn quốc, theo ông Jacobs, con số tử vong do thuốc lá trước đây chưa được công nhận có thể lớn hơn tổng số người Mỹ chết mỗi năm do dịch cúm hoặc bệnh về gan.

Cho đến khi làm nghiên cứu này, có khoảng 480,000 người chết ở Mỹ mỗi năm được tin là do liên quan đến thuốc lá.

Các nhà nghiên cứu còn nhận thấy, nguy cơ tử vong giảm nhiều nếu người hút chịu cai sớm.

Người hút thuốc có nguy cơ bị suy thận và các bệnh hô hấp khác cao gấp đôi so với người không hút.

Nguy cơ chết do nhiễm trùng cũng cao gấp 2.3 lần, và bị bệnh xơ gan cao gấp 3.1 lần.

Chết vì ung thư ngực cao hơn 30% và ung thư nhiếp hộ tuyến hơn 40%. (TP)

UserPostedImage
Duy An  
#747 Posted : Wednesday, February 25, 2015 6:15:21 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
UserPostedImage

Ích lợi của đậu phộng


Monday, February 23, 2015 11:39:16 AM
nguoi-viet.com

1. Thúc đẩy khả năng sinh sản


Đậu phộng có chứa nhiều axit folic mà loại axit này lại rất cần thiết cho khả năng sinh sản của phụ nữ. Các nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ thường ngày cần được cung cấp 400 microgram axit folic trước và trong thời kỳ đầu mang thai sẽ làm giảm nguy cơ khuyết tật ống thần kinh của em bé sau khi sinh ra đến 70%.


2. Hỗ trợ tuần hoàn máu



Một ounce đậu phộng (khoảng 28gr) có thể cung cấp 35% lượng mangan cần thiết cho cơ thể. Mangan là một khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa chất béo và carbonhydrate, sự hấp thụ canxi và quy định lượng đường trong máu.


3. Giúp ngăn ngừa sỏi mật



Một điều bất ngờ là đậu phộng có thể giúp ngăn ngừa sỏi mật. Nhiều nghiên cứu về vấn đề này đã chỉ ra rằng ăn 1 ounce (tương đương 28gr) đậu phộng hoặc bơ đậu phộng một tuần có thể làm giảm nguy cơ phát triển sỏi mật 25%.


4. Giúp ngăn ngừa trầm cảm



Đậu phộng cung cấp tryptophan, một axit amin thiết yếu và quan trọng đối với việc sản xuất seronin, một trong những hóa chất trong não quan trọng liên quan đến quy định tâm trạng. Khi một người bị trầm cảm, lượng seronin được tiết ra từ các tế bào thần kinh não bộ nhằm chống lại trầm cảm. Trytophan có thể làm tăng tác dụng chống trầm cảm bằng cách làm ra tăng lượng seronin trong máu.


5. Tăng trí nhớ


Đậu phộng được coi là thực phẩm của não bộ do vitamin B3 và niacin trong đậu phộng mang lại nhiều ích lợi cho não bộ bằng cách tăng cường hoạt động của não và tăng trí nhớ.


6. Giảm lượng cholesterol


Các chất dinh dưỡng trong đậu phộng không những làm tăng cường trí nhớ mà còn giúp làm giảm và kiểm soát lượng cholesterol trong cơ thể. Thêm vào đó, đồng chứa trong đậu phộng giúp giảm lượng cholesterol xấu và tăng lượng cholesterol tốt.


7. Làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim



Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đậu phộng có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh im. Đậu phộng rất giàu chất béo không bão hòa đơn, và chất chống oxy hóa như axit oleic.


8. Giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer



Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những loại thực phẩm giàu niacin như đậu phộng làm giảm ít nhất 70% nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Một ounce đậu phộng mỗi ngày có thể cung cấp nguồn niacin cần thiết trong một ngày.


9. Giúp chống lại bệnh ung thư


Một dạng của phytosterol gọi là beta – sitoserol (SIT) được tìm thấy rất nhiều trong một số dầu thực vật, các loại hạt như đậu phộng. Phytosterol không chỉ bảo vệ chống lại bệnh tim mạch bằng cách can thiệp vào sự hấp thu cholesterol. Đậu phộng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư bằng cách ức chế phát triển các khối u.


10. Giảm nguy cơ tăng cân


Nghiên cứu cho thấy rằng những người ăn đậu phộng ít nhất 2 lần/tuần có khả năng tăng cân thấp hơn so với những người hầu như không bao giờ ăn lạc.


11. Giúp ngăn ngừa nếp nhăn


Đậu phộng cũng rất tốt cho da vì nó giàu vitamin E, giúp làm giảm nếp nhăn trên da. Đồng thời, vitamin E cũng giúp cho việc nuôi dưỡng tóc tốt hơn.

UserPostedImage
thunder  
#748 Posted : Monday, March 16, 2015 12:20:57 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Thiền và Thở



Câu hỏi đặt ra là vì sao bệnh viện mở ra ngày càng nhiều mà lúc nào cũng “quá tải”? Vì sao con người bây giờ tiện nghi dồi dào mà đau ốm triền miên? Vì sao bệnh nhiễm gia tăng và bệnh do hành vi lối sống
ngày một phát triển trong khi khoa học y học tiến như vũ bão? Rõ ràng sức khỏe không phải là chuyện của y tế. Sức khỏe là chuyện của mỗi người, của mọi người. Đời sống càng tiện nghi, nhu cầu vật chất càng được thõa mãn thì con người càng xa lạ với tự nhiên, với chính mình.

Stress chính là nguyên nhân của 60-90% bệnh lý đưa người ta đến bác sĩ. Mà bác sĩ thì chỉ chữa được cái đau chứ không chữa được cái khổ, chữa được cái bệnh, chứ không chữa được cái hoạn.

Thiền có thể góp phần giải quyết căn cơ. Nhưng thiền là gì? Cách nào? Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, một nhà minh triết – Đức Phật- bảo đừng vội tin, cứ đến nếm thử đi rồi biết. Đến và nếm thử. Đến là thực hành. Làm đi, đừng nói nữa. Đừng “hí luận” nữa. Nếm thử là cảm nhận.

Phải tự mình cảm nhận, tự mình thể nghiệm để cảm nhận, không thể nhờ ai khác.

Hãy bắt đầu từ việc đơn giản nhất mà cốt lõi nhất: Đó là Thở. Và là Thở bụng. Ô hay, thở phải bằng ngực chứ, phổi nằm ở ngực kia mà? Phổi nằm ở ngực, nhưng thở nằm ở… bụng. Cứ nhìn một em bé đang ngủ say mà xem! Cứ nhìn một người bình thường đang ngủ yên mà xem! Chỉ có cái bụng là phình lên xẹp xuống, còn cái ngực thì… im re. Thật vậy, khi cái ngực mà khò khè, cò cử thì đã bị bệnh rồi. Nói khác đi, cách thở sinh lý, thở thiên nhiên, thở bình thường nhất chính là thở bụng.

Người khỏe thì luôn thở bụng nên thở bụng làm cho ta khỏe. “Bí quyết” nằm ở chỗ đơn giản nhất đó. Các phương pháp khí công, dưỡng sinh, yoga, thiền… đều bắt đầu bằng tập thở bụng. Tại sao phải tập? Bở không biết tự lúc nào con người lại xa rời cái nguồn gốc tự nhiên của mình, bày ra thở ngực, cũng như thay vì ăn những thức ăn lành mạnh sẵn có trong thiên nhiên thì bày đặt chế biến đủ kiểu cho nó hư đi! Do vậy, thở phải được rèn tập trở lại. Về sinh lý, cơ hô hấp chính của ta là cơ hoành, cơ vắt ngang giữa bụng và ngực chớ không phải cơ gian sườn hay cơ cổ. Khi các cơ gian sườn, cơ cổ mà ráng sức phì phò thì đã bệnh rồi!

Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là THỞ. Kinh viết “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn…”. Tóm lại, là luôn quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Nhưng khi đọc câu “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra…” có thể gây nhầm lẫn, bởi ai mà chả biết thở cơ chứ! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận được (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra kia kìa. Đó mới là điều cốt lõi! Nhận thức, ý thức, cảm nhận, ấy chính là niệm (nhớ), là quán ( quan sát, suy tưởng) về sự thở, về hơi thở. Nhờ đó mà một mặt, ta giải thoát tâm ta khỏi những vướng mắc lăng xăng, một mặt ta nhận ra ý nghĩa cuộc sống và từ đó, buông bỏ bao nỗi lo toan, sợ hãi của kiếp nhân sinh để có cuộc sống có sức khỏe và hạnh phúc.

Câu hỏi đặt ra là tại sao quán sát hơi thở? Quán sát hơi thở thì có gì hay? Sao lại không chọn các đối tượng khác để quán sát? Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không” hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở là tốt nhất, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. Tim đập cũng lúc nhanh lúc chậm, nhưng khó theo dõi, hoàn toàn ngoài ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm vịệc âm thầm, khó quan sát. Các bộ phận khác cũng vậy. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi!

Mỗi phút lại phải thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm dịu. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp. Khi mệt, ta mệt “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái!

Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở.

Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi “Ta bà”! Mỗi hơi thở vào ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt.

Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hóa cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng cách quán sát hơi thở để tự kiểm sóat cảm xúc và hành vi của mình. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại tức khắc- không còn đắm mình trong dĩ vãng hay tương lai.
Bởi vì thở là thở trong hiện tại. Ở đây và bây giờ.

Giận dữ , lo âu, sợ hãi tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Cho nên những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức! Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng, nhưng vẫn còn co cơ, vẫn còn chiêm bao. Một đêm ác mộng sẽ thấy bải hoải toàn thân khi thức giấc!Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng thái nhẹ nhàng sảng khóai đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, phải chăng đó chính là trạng thái hỷ lạc (thiền duyệt?).

Phổi ta như một cái máy bơm, “phình xẹp” để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động lùa vào, tuôn vào, lấp đầy phổi và các phế nang, cho đến một lúc lượng khí bên trong đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, phổi sẽ đẩy khí ra. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, áp suất bằng không (0=zéro), thì khí bên trong cơ thể và bên ngoài vũ trụ chan hòa thành một, không phân biệt. Đó chính là quãng lặng. Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng, yên tịnh, vì không hề tốn năng lượng. Như chim lượn bay, không phải vỗ cánh, như xe ngon trớn chạy ở số không, không tốn nhiên liệu! Đó chính là giai đoạn “Prana”. Pra có nghĩa là trước và Ana là thở vào ( trước thì thở vào cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Yoga, khí công, cũng như y học Đông phương nói chung đã nói đến Prana từ thời cổ đại. Trong yoga có “pranayama” là kiểm soát hơi thở. Trong thiền định, không còn phải là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở sẽ tự kiểm soát! Đến một lúc nào đó, khi vào sâu trong thiền định, hành giả sẽ không cảm nhận mình thở nữa. Hơi thở nhẹ gần như ngưng bặt. An tịnh. Hòa tan. Tan biến.

Có thể nói đến một phương pháp thiền tập- tạm gọi là “Pranasati” chăng?- tức đặt “niệm” vào quãng lặng, và thực chất cũng không còn cả niệm, một sự “vô niệm” hoàn toàn chăng? Những hành giả giàu kinh nghiệm (thiện xảo) cho biết có thể vào định ngay hơi thở đầu tiên có lẽ nhờ rèn tập mà khoảng lặng ngày càng dài ra, mênh mông ra như không còn biên giới, như hòa tan vào hư không, lắng đọng, thanh thoát. Lúc đó không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người… Tiến trình hô hấp vẫn diễn ra, sâu trong các tế bào, nhưng ở mức thấp nhất, nhẹ nhàng nhất, tiêu thụ năng lượng tối thiểu và do vậy nhu cầu sản xuất năng lượng không còn đòi hỏi nữa, các tế bào ở trong trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng, “nghỉ ngơi”!

Khi nói đến thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi: ngồi thiền. Rồi nào kiết già, bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải ngồi, không nhất thiết phải kiết già, bán già. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được. Người Nhật, người Tây Tạng có cách “ngồi” thiền riêng của họ, người Tây phương có cách khác hơn, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợ ích hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho hoạt động các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”. Khi đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ thấy hai chân bớt mỏi rất nhanh. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ thuật này để trị liệu rất có hiệu quả sự mỏi mệt, không kể ngồi theo cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy đáng kể!

Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền. Ta dễ có khuynh hướng chiều theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực- và nhất là do tuổi tác- dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính, nếu nghỉ ngơi hoàn toàn và uống thuốc theo toa bác sĩ chừng mươi ngày sẽ khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh. Bởi nguồn gốc sâu xa hơn của đau cột sống, đau thắt lưng lại là do stress, nếp sống căng thẳng phải chịu đựng, dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta “tỉnh ngộ”! Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay tivi thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về cột sống. Một người đi chùa lạy Phật mà tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị đau cột sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi “xì” ra một bên, chèn ép gây đau. Do vậy, giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với tập thể dụng bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ làm chậm tiến trình lão hóa.

Trong thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân,“buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân như rủ xuống, xẹp xuống,
bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói cơ thể ta như chỉ gồm có hai thành phần: “thân xác” và “thân hơi”. Thả lỏng là “xì” cho xẹp cái thân hơi đó- mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là “xả hơi”! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì ta cần “xả hơi”! Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ ( tonus musculaire) và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn, giúp chữa nhiều thứ bệnh hoạn một cách hiệu quả.

Cơ thể ta có khoảng trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy ( để kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là oxyt-hóa) nhằm tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động. Nhưng oxyt-hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm cho cơ thể mau mệt mỏi, mau già nua! Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị oxyt-hóa thành rỉ sét ngay. Khi cơ thể có cách nào làm giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn (bột, đạm, dầu mỡ)… vốn là nguồn tạo năng lượng! Ăn ít mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu trên sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thấy sống lâu hơn và trẻ lâu hơn!

Các nghiên cứu y sinh học cho thấy các nhà sư có thể làm giảm nhu cầu oxygen đến 40% trong lúc thiền. Lúc đầu các nhà khoa học nghĩ thiền chắc cũng giống như ngủ hay nghỉ ngơi tích cực, nhưng thật ra khác hẳn! Thiền khoảng 30-40 phút thì mức lactate trong động mạch giảm, phenylalanine tăng 20%, giảm các họat động hệ giao cảm trên bề mặt da, giảm nhịp tim và hô hấp đáng kể.

Cortisol và ACTH cũng giảm, do đó, không bị stress; trong khi Arginine và Vasopressin, được coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ gia tăng đáng kể. Nhiều nghiên cứu ngày càng sâu hơn về beta-endorphin, corticotropin, melatonin, DHEA… hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của thiền trên nhiều mặt… trong tương lai.

Những năm gần đây, nhờ có các phương tiện như PET (positron emission tomography) hay SPECT (single photon emission tomography) và fMRI (functional magnetic resonance imaging) để đo hoạt động tưới máu não, cho thấy một số vùng được tưới nhiều hơn vùng khác, chứng minh thiền khác với giấc ngủ, mà đó là một trạng thái tỉnh giác an tịnh (state of restful alertness). Kỹ thuật fMRI cho thấy hoạt động tưới máu não gia tăng ở vùng liên quan đến sự chú ý (vùng lateral prefrontal và parietal), cũng như gia tăng ở vùng kiểm soát tự động, tỉnh thức (pregenual anterior angulate, amygdala, midbrain và hypothalamus). Nhưng nói chung, tưới máu não trong thời gian thiền rõ ràng là giảm một cách đáng kể, chỉ tập trung vào một số vùng nhất định như đã nêu trên. Điều này cho thấy thiền giả không tiêu hao nhiều năng lựơng cho các hoạt động vỏ não.

Các nghiên cứu về sinh lý học trong thiền vẫn còn đang tiếp tục nhưng rõ ràng thiền có khả năng làm giảm stress, giảm huyết áp và tạo sự sảng khoái, là yếu tố của sức khỏe, của chất lượng cuộc sống. Thiền ngày càng trở nên một kỹ thuật trị liệu hiệu quả trong y sinh học, nhất là lĩnh vực tâm lý trị liệu, nên đã có nhiều ứng dụng thực tiễn trong y khoa.

Nghiên cứu về lâm sàng cho thấy thiền giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân, giảm lo âu, trầm cảm, giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung. Người hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác. Học sinh cấp 2 có thực tập thiền trên 2 tháng, có kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung, thói quen làm việc, cải thiện hành vi (giảm xung đột, hung hăng), tự tin hơn, có khả năng hợp tác và quan hệ tốt hơn với người khác. Thiền giúp làm giảm cân, giảm béo phì, giảm nghiện thuốc lá, rượu, các chất ma túy nói chung.

Bầu khí quyển chúng ta thở hôm nay so với cách đây 700 triệu năm – tức là khi có những sinh vật đơn bào đầu tiên trên trái đất- thì cũng chẳng khác biệt! Với người anh em đơn bào đó thì ta cũng đang cùng hút chung một bầu khí, cùng bú chung một “núm vú” vũ trụ, cùng với muôn loài khác nữa! Các sinh vật cùng chia sẻ một cách…bình đẳng, không phân biệt và theo nhu cầu như vậy. Ta hút lấy oxy của không khí, lại tạo ra carbonic; trong khi cây cỏ hút carbonic lại tạo ra oxy. Con thằn lằn, con tắc kè, con ễnh ương… cũng phình ra xẹp vào như ta vậy. Bầu khí quyển vẫn không thay đổi, không thêm bớt. Nhưng chính con người có thể làm hại môi trường sống của mình mà không hay nếu cứ theo đà hủy diệt sự sống của thiên nhiên và muôn loài trên hành tinh xanh
này!

Hãy nương tựa chính mình. Bởi nói cho cùng, ai có thể “thở” giùm ai Ai có thể “thiền” giùm ai?


Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc
phamlang  
#749 Posted : Tuesday, April 14, 2015 12:35:04 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Làm sao cho trẻ em ăn vặt lành mạnh và những câu hỏi khác

(VienDongDaily.Com - 27/03/2015)

Ăn vặt là một cái thú cho cả người lớn lẫn trẻ em. Nhưng thức ăn vặt đa số đều quá ngọt hay quá béo khiến số calories lấy vào nhiều khi còn cao hơn những bữa ăn chính.

Làm sao cho trẻ em ăn vặt lành mạnh

Ăn vặt là một cái thú cho cả người lớn lẫn trẻ em. Nhưng thức ăn vặt đa số đều quá ngọt hay quá béo khiến số calories lấy vào nhiều khi còn cao hơn những bữa ăn chính. Tuy nhiên, muốn trẻ em ăn vặt một cách lành mạnh vẫn có thể được nếu chúng ta theo 10 lời khuyên sau đây:

Không giữ những “junk foods” trong nhà


“Junk foods” là những thức ăn vặt quá ngọt hay quá béo, làm ngon miệng nhưng không có giá trị dinh dưỡng mà còn có hại nữa. Con bạn sẽ không kêu gào đòi ăn “cookies”, kẹo hoặc “chip” nếu bạn không chứa sẵn chúng trong nhà. Mà chính bạn cũng nên ăn những thứ này đề làm gương cho chúng.

Ăn các loại ngũ cốc nguyên hạt


Các loại thực phẩm làm bằng ngũ cốc nguyên hạt (chưa sàng xẩy để trắng ra) chẳng hạn như bánh pretzel hoặc bánh bột bắp tortilla và cereal làm bằng ngũ cốc nguyên hạt, cung cấp năng lượng tốt cho cơ thể.

Kết hợp nhiều loại thức ăn

Cho các em ăn cà rốt baby hoặc các loại rau khác với nước xốt không chất béo hoặc hummus (chất trét làm bằng đậu chickpeas). Chấm bánh graham cracker hoặc trái cây tươi trong sữa chua không béo. Trét bơ đậu phộng vào cần tây, táo hoặc chuối.

Mở rộng menu
Cho ăn những thức ăn lạ, ngoài những thứ thông thường, như dứa, cranberries, ớt chuông đỏ hoặc vàng, xoài, quít hoặc hạt đậu nành rang.

Ăn bữa ăn sáng vào chiều tối:
Cho ăn thức ăn sáng - như trứng và bánh mì nướng ngũ cốc nguyên hạt – như thức ăn vặt vào buổi xế trưa.

Làm tăng vị ngọt
Thức ăn vặt lành mạnh cho trẻ em không cần phải nhạt nhẽo. Để đáp ứng chuyện thèm ngọt của trẻ con, có thể cho ăn bánh pudding không chất béo, sữa chua đông lạnh hoặc trái cây đông lạnh. Làm smoothies với sữa không béo, sữa chua không béo, và trái cây tươi hoặc đông lạnh.

Làm mọi thứ thành vui tươi
Dùng đồ cắt cookie để cắt cheese ít chất béo, bánh mì nguyên hạt hay bánh tortilla nguyên hạt thành những hình dạng ngộ nghĩnh. Xỏ xâu trái cây hoặc chỉ cho trẻ cách ăn trái cây cắt nhỏ bằng đũa. Xếp bánh lạt nguyên hạt thành cái tháp, đánh vần các chữ bằng bánh pretzel, hoặc làm những khuôn mặt hài hước trên dĩa bằng các loại trái cây khác nhau.

Để cho các em tự làm

Để các loại rau làm sẵn trong tủ lạnh. Để trái cây tươi trên quầy. Có sẵn cereal nguyên hạt ít đường và trái cây hộp không đường trong một tủ nhỏ dễ mở cho các em. Để các em tự chọn lựa thức ăn vặt từ những thứ này.

Đừng để bị lừa bởi mánh lới quảng cáo trên các nhãn hiệu

Thực phẩm bán trên thị trường ghi là ít chất béo hoặc không có chất béo vẫn có thể chứa lượng calories và muối cao. Tương tự như vậy, các loại thực phẩm quảng cáo là không chứa cholesterol vẫn có thể có nhiều mỡ, chất béo bão hòa và đường. Đọc kỹ nhãn dinh dưỡng để biết rõ.

10: Chỉ định một khu vực ăn vặt
Hạn chế ăn vặt vào một khu vực nhất định, chẳng hạn như nhà bếp. Bạn sẽ tiết kiệm được cho các cháu vô số calories khi chúng gặm thức ăn vặt mà không để ý gì cả ở trước chiếc TV. Nếu con của bạn cần phải ăn nhẹ trên đường đi, nên cho ăn string cheese, que sữa chua, bánh ngũ cốc, chuối.
Dạy con tự lựa chọn những món ăn vặt lành mạnh sẽ giúp thiết lập những thói quen tốt cho cuộc sống sau này. Hãy bắt đầu ngay hôm nay!

Trứng gà tốt hay xấu đối với cholesterol? Tại sao gần đây có ý kiến từ các BS Mỹ trên TV cho rằng trứng gà rất tốt, ăn nhiều không sao?

Trứng gà chứa nhiều cholesterol, và ăn nhiều cholesterol có thể làm mức cholesterol trong máu tăng cao. Tuy nhiên, số lượng cholesterol ăn vào bao nhiêu để làm tăng cholesterol trong máu của bạn thay đổi từ người này sang người khác.

Khi quyết định ăn ít hay nhiều trứng, hãy xem xét những điều sau:
o Nếu bạn khỏe mạnh, nên hạn chế lượng cholesterol trong khẩu phần ở mức ít hơn 300 miligram mỗi ngày.

o Nếu bạn có bệnh tim mạch, tiểu đường hay chất LDL(hay “cholesterol xấu”) cao thì bạn nên hạn chế tiêu thụ cholesterol của bạn xuống dưới 200 mg một ngày.
Một quả trứng lớn có khoảng 213 mg cholesterol, tất cả nằm trong lòng đỏ. Vì vậy, nếu bạn đã ăn một quả trứng trong ngày thì cần hạn chế các nguồn khác của cholesterol cho ngày hôm đó bằng cách ăn rau và tránh các sản phẩm từ sữa giàu chất béo.
Nếu bạn thích trứng nhưng không muốn dư cholesterol, nên chỉ ăn lòng trắng trứng là phần không chứa cholesterol. Bạn cũng có thể sử dụng những sản phẩm thay thế trứng không chứa cholesterol, được làm với lòng trắng trứng. Nếu bạn muốn giảm cholesterol trong một công thức nấu ăn, nên dùng hai lòng trắng trứng hoặc 1/4 chén (59 ml) chất thay thế trứng cho một quả trứng.

3. Bác sĩ gia đình của tôi nói rằng mức cholesterol của con trai tôi quá cao. Làm thế nào để trị cholesterol cao ở trẻ em?

Điều trị cholesterol cao ở trẻ em là chuyện vẫn còn gây tranh cãi. Nhiều bác sĩ cho rằng ăn kiêng và tập thể dục là điều trị ban đầu tốt nhất cho trẻ em từ 2 tuổi trở lên và có cholesterol cao hoặc bị béo phì.
American Academy of Pediatrics khuyên điều trị cholesterol cao ở trẻ em với các loại thuốc theo toa, chẳng hạn như statins, cho trẻ em từ 8 tuổi trở lên nếu đứa trẻ có mức lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL, hay cholesterol xấu) cao. Một số nhà nghiên cứu nghĩ rằng bệnh tim ở tuổi trưởng thành có thể bắt đầu từ tuổi trẻ em nếu mức cholesterol của bé quá cao.
Tuy nhiên, nhiều bác sĩ không đồng ý rằng các loại thuốc hạ cholesterol là một điều trị thích hợp, vì có ít nghiên cứu được thực hiện về sự an toàn và hiệu quả của các loại thuốc này ở trẻ em. Một số bác sĩ cũng nghĩ ít trẻ em có mức cholesterol đủ cao để phải trị bằng các loại thuốc hạ cholesterol.
Những tác dụng xấu về lâu dài khi sử dụng thuốc hạ cholesterol để điều trị cho trẻ em chưa được nghiên cứu nhiều. Ngoài ra, thuốc cholesterol như niacin không được khuyên dùng cho trẻ em vì lý do an toàn.

Làm sao để lên cân một cách khỏe mạnh? Tôi hay bị chê là ốm tong teo, dù tôi ăn khá nhiều. Làm sao để lên cân một cách khỏe mạnh?

Những người quá ốm muốn lên cân thì cũng khó như người quá mập muốn xuống cân vậy. Dĩ nhiên là ốm thì vẫn hơn mập, nhưng nếu ốm là vì thiếu dinh dưỡng hay bị một bệnh nào đó thì cũng rất nguy hiểm. Bạn có thể đến gặp bác sĩ để khám bệnh và một chuyên viên dinh dưỡng để phân tích thực đơn của bạn xem có đầy đủ chất dinh dưỡng không.
Sau đây là những chỉ dẫn để bạn có thể lên cân một cách khỏe mạnh:
-Ăn nhiều bữa: Người gầy thường mau thấy no nên không ăn nhiều được. Do đó bạn nên ăn nhiều bữa hơn. Nên ăm 5-6 bữa ăn nhỏ hơn là 2-3 bữa ăn lớn.
-Chọn thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng: Chọn bánh mì từ ngũ cốc nguyên hạt, pastas,cereals; trái cây và rau; thức ăn từ sữa giảm chất béo; chất đạm ít béo (thịt trắng); và những loại hạt (nuts) hay đậu.
-Chọn nước trái cây xay: Không uống nước ngọt loại “diet”, cà phê hay những loại nước ít calories và không có chất dinh dưỡng. Nên uống nước trái cây xay làm bằng sữa không chất béo và nước trái cây có trộn thêm flaxseed xay nhuyễn. Cũng có thể ăn một bữa ăn bằng chất nước thay cho một thức uống. Chỉ nên uống nước ít nhất là 30 phút trước hay sau bữa ăn, đừng uống trong khi ăn để bớt thấy no.
-Ăn vặt bằng những thức ăn nhiều calories: Thí dụ như các loại hạt (nuts), bơ đậu phọng, cheese, trái cây khô, trái bơ. Trước khi đi ngủ có thể ăn sandwich bơ đậu phọng hay sandwich với trái bơ, thịt ít chất béo, cheese.
-Rắc thêm vào dĩa thức ăn những thứ như cheese, trứng... để thêm nhiều calories.
-Không ăn những thức ăn vặt có nhiều đường hay chất béo.
-Vận động thân thể thường xuyên, nhất là những vận động để làm tăng sức mạnh (strength training). Vận động sẽ làm bạn thích ăn hơn.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#750 Posted : Tuesday, April 21, 2015 5:49:37 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Sợ mùa Xuân

Hỏi:

Người ta hay nói khi mùa Xuân đến là khi trời đất hồi sinh, trẻ lại; là khi mùa Thu vàng úa, mùa Ðông lạnh lẽo, là lúc khó khăn, tàn tạ... trôi qua. Nhưng đối với tôi, khi mùa Xuân tới, là khi thấy tóc thêm sợi bạc, là khi càng “gần đất, xa trời,” là thấy thêm già, nua, “cổ lỗ.”

Có cách nào, thuốc nào để “trẻ mãi không già,” hay trẻ lâu chậm già, để tóc xanh lâu, chậm bạc? Ðể tôi bớt sợ những mùa Xuân?

Ðáp:

Tuổi tác, tình trạng sức khỏe, di truyền và các yếu tố môi trường tất cả đều là những yếu tố ảnh hưởng đến việc tóc bị bạc đi. Trong đó tuổi tác có vẻ là yếu tố quan trọng và thường gặp nhất.

Có người cho rằng tóc bạc là khởi đầu của sự già cỗi. Có người coi nó như là một dấu hiệu của sự từng trải. Nhiều người tin rằng bạc tóc là hậu quả của sự lo âu căng thẳng.

Nếu quan niệm rằng “trẻ” là khả năng có thể hấp thụ được chất bổ, những điều hữu ích, để thay đổi, vươn lên, thì dù bao nhiêu tuổi, tóc xanh hay bạc, đều vẫn “trẻ.”

Còn nếu không biết rút tỉa kinh nghiệm từ cuộc sống, cố chấp, sai bao nhiêu lần vẫn cứ hoàn sai không học được gì, thì dù đầu bạc đến đâu, có “lên voi xuống chó” đến đâu, có lẽ cũng không thể gọi là “từng trải.”

Dù có nhiều truyền thuyết về một số nhân vật chỉ quá lo lắng trong một đêm mà tóc chuyển sang bạc trắng, cho đến nay vẫn chưa có chứng cớ khoa học nào cho thấy rằng sự lo lắng có thể làm thay đổi các tế bào sắc tố khiến cho tóc chuyển màu qua đêm.

Tại sao tóc bạc?


Tóc bạc bắt đầu khi cơ thể chúng ta ngưng sản xuất một chất tạo ra màu gọi là sắc tố (melanin). Cả mái tóc của chúng ta bao gồm nhiều dải tóc (strands of hair). Mỗi dải tóc mọc ra từ một nang tóc (follicle) trong đó có chứa các tế bào chứa sắc tố gọi là các tế bào sắc tố (melanocytes). Các tế bào sắc tố chuyển sắc tố sang các tế bào tạo ra lớp bọc ngoài của tóc (keratinocytes) làm cho tóc có màu và sáng mượt. Có hai loại sắc tố:

-Eumelanin có màu nâu đậm hay đen.

-Pheomelanin có màu vàng hoe (reddish yellow).

Theo thời gian, số lượng sắc tố trong keratinocytes giảm đi. Tóc bạc đi, đơn giản chỉ là tóc đã bị giảm sắc tố. Khi không còn chút xíu sắc tố nào cả thì tóc bạc trắng. Sự suy giảm sắc tố cũng làm cho tóc bớt mượt đi. Do đó, khi tóc bạc đi, nó cũng trở nên khô và thô hơn.

Tóc bạc đi như thế nào?

Trong quá trình bạc tóc, các nang tóc tạo ra các dải tóc bạc một cách ngẫu nhiên. Các dải tóc bạc đầu tiên thường xuất hiện ở vùng màng tang (thái dương) và đỉnh đầu. Người ta vẫn chưa rõ tại sao tóc bạc thường bắt đầu ở các khu vực này trước tiên.

Thật ra, mỗi sợi tóc không chuyển từ đen sang bạc. Mỗi ngày, một cách bình thường, bao giờ cũng có một số tóc rụng đi và được thay thế bằng tóc mới. Vào bất cứ lúc nào cũng vậy, khoảng 85 đến 90 phần trăm số lượng tóc của cả mái tóc ở trong tình trạng hoạt động, trong khi phần còn lại trong tình trạng nghỉ ngơi.

Bình thường, mỗi dải tóc phát triển trong vòng hai tới bốn năm. Sau đó, nó sẽ bước vào giai đoạn nghỉ ngơi khoảng hai tới bốn tháng. Cuối cùng, nó sẽ rụng đi và được thay thế bằng tóc mới. Trung bình, mỗi người chúng ta rụng khoảng 50 đến 100 dải tóc mỗi ngày. Tóc đen thường che phủ tóc bạc, khi tóc rụng nhiều trong một thời gian ngắn, như khi bị quá căng thẳng, bệnh nặng, sau khi mổ, số tóc đen bên ngoài rụng đi nhiều làm cho mớ tóc bạc “lòi” ra, khiến cho người ta có cảm giác như là tóc bạc đi chỉ sau một đêm. Các tình trạng bị stress như kể trên có thể làm rụng đi đến 300 dải tóc mỗi ngày.

Khi nào tóc bắt đầu bạc?


Trong giai đoạn đầu của quá trình bạc tóc, các tế bào sắc tố vẫn hiện diện nhưng không hoạt động. Dần dần, chúng bắt đầu giảm đi. Quá trình bạc tóc tự nhiên này có thể bắt đầu ngay từ lúc mười mấy tuổi. Tuy nhiên, tóc bạc thường bắt đầu được ghi nhận vào lứa tuổi ba mươi ở đại đa số. Một số nghiên cứu cho thấy rằng đàn ông thường bắt đầu có tóc bạc vào khoảng tuổi ba mươi, trong khi ở phái đẹp, tóc thường bắt đầu bớt xanh vào khoảng tuổi băm lăm.

Di truyền cũng là một yếu tố. Ở một số gia đình, nhiều người bắt đầu có tóc bạc vào tuổi hai mươi.

Tuy nhiên, việc khi nào tóc bắt đầu bạc rất khác nhau giữa người này với người khác, sắc dân này với sắc dân khác. Và do đó các chuyên gia về da và tóc cũng như các nhà nghiên cứu về di truyền đã kết luận rằng tuổi tác không phải là yếu tố chính xác nhất để biết được khi nào tóc bắt đầu bạc.

Một số tình trạng có thể là nguyên nhân bạc tóc

Vì thiếu tài trợ cho việc nghiên cứu về vấn đề bạc tóc (chẳng làm chết ai) này, người ta vẫn không có nhiều chứng cớ khoa học về chuyện này. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lẻ tẻ cho thấy một số yếu tố có thể góp phần vào việc làm cho tóc bạc:

-Thuốc lá: Một nghiên cứu cho thấy rằng những người hút thuốc dễ bị bạc tóc sớm gấp bốn lần so với những người không hút.

-Ðôi khi, tóc bạc đi bất thường có thể là dấu hiệu của một số bệnh như:
•Bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia): thường do thiếu sinh tố B12. Ðôi khi liên quan đến việc giảm việc sản xuất các sắc tố.
•Hội chứng Werner (một hội chứng bao gồm các triệu chứng lão hóa vào tuổi hai mươi).
•Bất cứ bệnh nào làm rụng tóc đều làm cho tóc bạc bị “lòi” ra (như đã trình bày bên trên).

Một số thuốc gây ra rụng tóc cũng làm cho mái tóc nhìn có vẻ bạc đi. Ví dụ như thuốc lithium thường dùng trị bệnh hưng trầm cảm (bipolar disorder), methotrexate thường dùng trị ung thư và viêm khớp dạng thấp.

Tuy nhiên, có một hiện tượng người ta vẫn chưa giải thích được là ở một số bệnh nhân bị rụng tóc bạc do hóa trị liệu (chemotherapy - thường dùng để trị ung thư), khi tóc mọc trở lại, nó có thể lại đen trở lại. Hiện tượng này gợi ý rằng các tế bào sắc tố tạo ra ít sắc tố có thể được kích thích để tạo ra nhiều sắc tố hơn. (Hy vọng hiện tượng này sẽ được nghiên cứu kỹ hơn để chế ra thuốc trị bạc tóc sau này).

Có cách nào trị bạc tóc không?

Nếu bị bạc tóc một cách bất thường do rụng quá nhiều tóc, cách điều trị là trị hoặc tránh các nguyên nhân (nếu có thể được) như đã kể trên.

Trên thị trường, có một số sản phẩm hứa hẹn sẽ làm cho tóc bạc trở lại màu như lúc còn trẻ. Tuy nhiên, cho tới nay chưa có chứng cớ khoa học nào về sự hiệu quả của các loại thuốc này.

Cho tới nay, cách trị bạc tóc duy nhất là... nhuộm tóc thường xuyên. (Tuy nhiên nếu lông mũi cũng bị bạc thì rất khó... che giấu).

Nếu có triệu chứng gì khác bênh cạnh việc có vài sợi tóc bạc, ta nên đến bác sĩ để được thăm khám xem có bị bệnh gì (ví dụ như là thiếu máu ác tính) hay không.

Trẻ mãi không già?


Một trong những bí quyết của những người “trẻ mãi không già,” là, càng (có vẻ như là) càng còn ít thời gian, thì càng quí từng thời khắc (còn lại) để SỐNG đầy đủ nhất, không để phí một giây khắc nào cho những lo lắng buồn phiền, sân, si vô bổ. Vì cứu cánh, mục đích cuối cùng, của cuộc sống, có phải là niềm vui, niềm an lạc, cho mình, và cho người?

Rất nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, tỉ lệ vui sống của những người cao tuổi càng ngày càng cao hơn những người trẻ tuổi hơn (hình như, chưa kịp nhận biết sự quí giá của cuộc sống).

Có người cho rằng, một trong những bản chất quan trọng nhất của cuộc sống là sự thay đổi, tuần hoàn. Nếu biết nhận ra và chấp nhận sự thật đó, biết gạn lọc, để đổi mới (một cách thích hợp) cho kịp nhịp sống; biết cho những “lá vàng,” “hoa héo” (có có lúc từng rất đẹp) “rụng” đi, để có sức, có chỗ cho thanh xuân, cho cái mới đâm chồi, nầy lộc, thì ta sẽ “hồi xuân,” sẽ sống lại, sẽ có sức mới, sẽ trẻ ra, sẽ mạnh mẽ hơn, sau những “mùa Thu,” “mùa Ðông,” (dù muốn hay không) sẽ vẫn đến (cho hợp lẽ tuần hoàn).

Và dù bao nhiêu tuổi, ta vẫn (cứ) trẻ, vẫn có thể “hồi xuân” (theo nghĩa đẹp nhất). Ta vẫn cứ (có thể) “xuân,” cho đến ngày chia tay cõi tạm (? để lại tiếp tục vòng “tuần hoàn” lớn hơn).

***

Bạc tóc chưa hẳn là già.

Bạc tóc có thể là một dấu hiệu (đáng tự hào) của sự từng trải (thật sự).

Già (cỗi) hay trẻ (trung) thường được quyết định bằng những gì nằm bên dưới mái tóc.

Thân mến

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng
www.nguyentranhoang.com
(714) 531-7930

UserPostedImage
Duy An  
#751 Posted : Friday, April 24, 2015 2:17:11 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Có nên hoàn toàn tránh ăn carb?

(VienDongDaily.Com )

BS Nguyễn Thị Nhuận

Carbohydrates là một phần thiết yếu của việc ăn uống lành mạnh, và carbohydrates cũng cung cấp nhiều chất dinh dưỡng quan trọng. Tuy nhiên, không phải tất cả các carbs đều tốt như nhau. Dưới đây là cách dùng carbohydrates lành mạnh trong việc ăn uống cân bằng

Carbohydrate (nhóm đường) lâu nay vẫn bị mang tiếng xấu là gây ra béo phì và bệnh tiểu đường. Nhưng không phải “carb” nào cũng xấu. “Carb” có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và nên có một vị trí xứng đáng trong việc ăn uống. Trong thực tế, cơ thể chúng ta cần carbohydrates để hoạt động tốt. Nhưng một số carbohydrate có thể tốt hơn so với một số khác. Chúng ta nên tìm hiểu thêm về carbohydrates và cách lựa chọn những carbohydrates lành mạnh.

Carbohydrates là gì?

Carbohydrates là một chất dinh dưỡng được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm và đồ uống. Hầu hết các carbohydrates có tự nhiên trong những thức ăn từ thực vật, chẳng hạn như các loại ngũ cốc. Các nhà sản xuất thực phẩm cũng cho thêm carbohydrate vào những thực phẩm chế biến, dưới dạng tinh bột hoặc đường.

Carbohydrates thiên nhiên có trong:
-Trái cây
-Các loại rau
-Sữa
-Các loại hạt (nuts)
-Các loại ngũ cốc
-Hạt giống (seeds)
-Các loại rau đậu dạng legumes

Carbohydrates gồm ba loại chính:
-Đường. Đường là hình thức đơn giản nhất của carbohydrates. Đường có tự nhiên trong một số loại thực phẩm, gồm trái cây, rau quả, sữa và các sản phẩm từ sữa. Đường bao gồm đường hoa quả (fructose), đường ăn (sucrose) và đường sữa (lactose).
-Tinh bột. Tinh bột là một carbohydrate phức tạp, có nghĩa là nó được làm từ nhiều đơn vị đường kết hợp với nhau. Tinh bột có tự nhiên trong các loại rau, ngũ cốc và đậu khô nấu chín và đậu Hòa Lan.
-Chất xơ. Chất xơ cũng là một carbohydrate phức tạp. Chất xơ có tự nhiên trong trái cây, rau, ngũ cốc nguyên hạt, đậu khô nấu chín và đậu Hà Lan.

Những từ như “low carb thấp” hoặc “net carb” thường được thấy trên nhãn nhiều sản phẩm, nhưng Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm FDA không quy định những điều khoản này, vì vậy những chữ này không có ý nghĩa lắm. Thông thường “net carbs” được dùng để chỉ lượng carbohydrates trong một sản phẩm, không bao gồm chất xơ hoặc không bao gồm cả chất xơ và đường.

Ngoài ra chúng ta thường nghe nói về “chỉ số biến thành đường” (chỉ số glycemic index). Chỉ số glycemic phân loại thực phẩm carbohydrate theo độ làm tăng mức đường trong máu. Những cách ăn để giảm cân thường khuyên nên hạn chế các loại thực phẩm có chỉ số glycemic cao. Thực phẩm có chỉ số glycemic tương đối cao gồm có khoai tây và ngô, và những thức ăn ít lành mạnh như các loại snacks và món tráng miệng có chứa bột tinh chế. Nhiều loại thực phẩm lành mạnh, chẳng hạn như ngũ cốc, các loại đậu, rau, trái cây và các sản phẩm từ sữa ít chất béo, thường có chỉ số glycemic thấp.

Bản hướng dẫn ăn uống cho người Mỹ khuyên nên ăn carbohydrate từ 45 đến 65 phần trăm của tổng số calories hàng ngày. Vì vậy, nếu muốn ăn vào 2.000 calories một ngày thì 900 - 1.300 calories là nên từ carbohydrates, tức 225 - 325 gram carbohydrate mỗi ngày.

Có thể tìm thấy lượng carbohydrate của các loại thực phẩm đóng gói sẵn trên nhãn hiệu, mục Nutritional Facts. Các nhãn này liệt kê tổng số lượng carbohydrate, trong đó bao gồm tinh bột, chất xơ, đường rượu, tự nhiên hoặc cho thêm vào. Chúng cũng có thể liệt kê tổng số chất xơ, chất xơ hòa tan và đường riêng biệt. Cũng có thể tìm thấy tính chất dinh dưỡng từ trên mạng hoặc tìm kiếm thông tin trên trang web của nhà sản xuất.

Vai trò của carbohydrates
Mặc dù mang tiếng xấu, carbohydrates rất quan trọng cho sức khỏe của bạn vì một số lý do sau:

1. Cung cấp năng lượng
Cơ thể sử dụng carbohydrate như nguồn nhiên liệu chính. Đường và tinh bột được phân chia thành các loại đường đơn giản trong quá trình tiêu hóa. Sau đó, đường được hấp thụ vào máu, tạo thành mức đường trong máu (blood glucose). Từ đó, glucose được đưa vào các tế bào của cơ thể nhờ insulin. Glucose được sử dụng để tạo ra năng lượng, cần tất cả các hoạt động của cơ thể, như chạy bộ hoặc chỉ đơn giản là thở. Đường còn dư được lưu trữ trong gan, bắp thịt và các tế bào khác để sử dụng sau này hoặc được chuyển đổi thành chất béo.

2. Bảo vệ chống lại bệnh tật
Một số bằng chứng cho thấy rằng các loại ngũ cốc và chất xơ từ các loại thực phẩm giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Chất xơ cũng có thể bảo vệ chống lại bệnh béo phì và tiểu đường loại 2. Chất xơ cũng rất cần thiết để giúp tiêu hóa tốt.

3. Kiểm soát cân nặng
Bằng chứng cho thấy ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc có thể giúp kiểm soát cân nặng. Khối lượng lớn và lượng chất xơ giúp kiểm soát cân nặng bằng cách giúp bạn thấy no với lượng calories ít hơn. Trái với những gì mà các chế độ ăn kiêng “low-carb” hay nói, rất ít nghiên cứu cho thấy rằng ăn nhiều carbohydrate lành mạnh dẫn đến tăng cân hoặc béo phì.

Cách chọn carbohydrates tốt

Carbohydrates là một phần thiết yếu của việc ăn uống lành mạnh, và carbohydrates cũng cung cấp nhiều chất dinh dưỡng quan trọng. Tuy nhiên, không phải tất cả các carbs đều tốt như nhau. Dưới đây là cách dùng carbohydrates lành mạnh trong việc ăn uống cân bằng:

-Ăn nhiều các loại trái cây và rau quả giàu chất xơ. Chọn các loại trái cây và rau tươi, đông lạnh hay đóng hộp không cho thêm đường. Đây là lựa chọn tốt hơn so với nước ép trái cây và trái cây sấy khô, là những nguồn tập trung của đường tự nhiên và do đó có nhiều calories. Ngoài ra, trái cây và rau chứa nhiều chất xơ, nước và khối lượng lớn, giúp bạn cảm thấy no hơn với một lượng calories ít hơn.

-Chọn ngũ cốc nguyên hạt. Các loại ngũ cốc là nguồn tốt của chất xơ và các chất dinh dưỡng quan trọng khác, chẳng hạn như selenium, potassium và magnesium, hơn là ngũ cốc tinh chế. Ngũ cốc tinh chế thường qua một quá trình để thải ra các bộ phận của hạt, mất đi một số các chất dinh dưỡng và chất xơ.

-Dùng các sản phẩm sữa ít chất béo. Sữa, phô mai, sữa chua và các sản phẩm từ sữa khác là nguồn cung cấp calcium và protein, cộng với nhiều vitamin và khoáng chất khác. Nên chọn các loại ít chất béo để bớt đi calories và chất béo bão hòa. Và hãy tránh các sản phẩm sữa có thêm đường.

-Ăn nhiều đậu và các loại rau legumes. Các loại legumes bao gồm đậu Hà Lan và đậu lăng lentil, là một trong những loại thực phẩm đa năng và bổ dưỡng nhất. Các loại đậu thường ít chất béo; không chứa cholesterol; và có nhiều chất folate, potassium, sắt và magnesium. Chúng cũng chứa các chất béo có lợi và chất xơ hòa tan và không hòa tan. Là một nguồn tốt của protein, các loại đậu có thể là một thay thế lành mạnh cho thịt là món thường có chất béo bão hòa và cholesterol.

-Hạn chế thêm đường. Thêm đường không có hại với số lượng nhỏ. Nhưng thêm đường không có lợi gì cả. Trong thực tế, thêm quá nhiều đường, và trong một số trường hợp, đường tự nhiên, có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe như sâu răng, dinh dưỡng kém và tăng cân.

Vì vậy, hãy chọn carbohydrates một cách khôn ngoan. Hạn chế thức ăn có thêm đường và ngũ cốc tinh chế, chẳng hạn như đồ uống có đường, món tráng miệng và bánh kẹo, có rất nhiều calories nhưng ít chất dinh dưỡng. Thay vào đó, hãy chọn các loại trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt.

UserPostedImage
Duy An  
#752 Posted : Tuesday, May 5, 2015 5:09:44 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
NHO KHÔ

UserPostedImage

Tiện dụng mà bổ dưỡng như nho khô

Chuyên gia tâm lý ở CHLB Đức đã làm một thử nghiệm lý thú về sự lựa chọn nho tươi hay nho khô. Lạ là 7 trong 10 đứa trẻ 2 tuổi chọn ngay nho khô… Nho khô không chỉ hấp dẫn trẻ con mà thậm chí đã có chỗ đứng trân trọng trong lịch sử loài người.

Người tiền sử vì xem nho khô như quà tặng của thượng đế nên dùng món này làm vật trang sức, thậm chí khắc hình nho khô trên vách đá hang động. Theo truyền thuyết ở Trung Đông, cả ngàn năm trước công nguyên, người Do Thái đã dùng nho khô nộp thuế.

Nếu xét về giá trị dinh dưỡng thì nho khô là món ăn hữu ích cho sức khỏe vì rất ít chất béo nhưng lại sinh nhiều năng lượng, dễ bảo quản, nhờ đó là món ăn bỏ túi cho người phải lao tâm lao lực. Hơn thế nữa, nho khô là món ăn vặt như thuốc cho người bị cao huyết áp, nhờ tác dụng vừa lợi tiểu vừa bổ sung khoáng tố kalium.

Kết quả một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy huyết áp của người hâm mộ nho khô ổn định hơn nhóm không khoái món này. Một số nhà điều trị thậm chí khuyến khích người từ độ tuổi 40 trở lên nên thường ăn nho khô để cầm chân huyết áp.


Nho khô chứa nhiều chất xơ nên là món ăn bầu bạn của người khổ vì táo bón và bệnh trĩ. Cũng nhờ tác dụng kéo chất béo qua đường ruột nên nho khô gián tiếp hạ cholesterol.

Nhiều thầy thuốc vì thế đã không ngần ngại xếp nho khô vào nhóm thực phẩm thích hợp cho người bị bệnh mạch vành. Theo kết quả một công trình nghiên cứu ở Mỹ, sau một tháng áp dụng, lượng LDL trong máu giảm đáng kể trên số bệnh nhân có 80 – 100g nho khô mỗi ngày trong khẩu phần.

Nho khô còn là nguồn giàu chất sắt. Người thiếu máu, đối tượng vừa qua cơn chấn thương xuất huyết, phụ nữ mang thai, thiếu nữ hay bị rong kinh… nên chọn nho khô để bổ sung chất sắt cần thiết cho cấu trúc lành mạnh của huyết cầu thay vì trông cậy vào thịt, gan rồi khó tránh trục trặc với mỡ máu.

Nho khô thường được dùng để ăn chơi, tráng miệng hay làm các món mứt, bánh. Ăn nhiều nho khô rất có lợi cho sức khỏe.


Nho khô là món ăn vặt như thuốc cho người bị cao huyết áp, nhờ tác dụng vừa lợi tiểu vừa bổ sung khoáng tố kalium

1. Nho khô giàu chất chống oxy hóa, giúp máu lưu thông tốt. Chất chống oxy hóa có trong nho khô có thể bảo vệ bạn chống lại sự lão hóa và ung thư.

2. Nho khô có chứa lượng calorie cao, vì vậy nho khô giúp các vận động viên có thêm năng lượng dồi dào trước khi thi đấu.

3. Nho khô chứa nhiều chất xơ nên là món ăn bầu bạn của người khổ vì táo bón và bệnh trĩ. Cũng nhờ tác dụng kéo chất béo qua đường ruột nên nho khô gián tiếp hạ cholesterol

4. Nho khô có chứa chất axit oleanolic nên rất tốt cho răng và nướu, giúp ngăn ngừa và chống lại các vi khuẩn gây ra sâu răng.

5. Nho khô ngăn ngừa sự thoái hóa của da. Giống như cà rốt, nho khô rất có lợi cho thị lực.

6. Nho khô có chứa canxi làm xương cứng và chắc hơn. Nếu cơ thể bạn được cung cấp đủ lượng canxi, thì bạn sẽ không phải lo ngại về tình trạng loãng xương.

Nho khô còn là nguồn giàu chất sắt. Người thiếu máu, đối tượng vừa qua cơn chấn thương xuất huyết, phụ nữ mang thai, thiếu nữ hay bị rong kinh… nên chọn nho khô để bổ sung chất sắt cần thiết cho cấu trúc lành mạnh của huyết cầu thay vì trông cậy vào thịt, gan rồi khó tránh trục trặc với mỡ máu.

Theo BS Lương Lễ Hoàng
UserPostedImage
Duy An  
#753 Posted : Monday, May 11, 2015 6:14:14 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Những cách giúp ngủ ngon trong mùa dị ứng


Friday, 24 April 2015 14:33
nguồn: baotreonline.com

Khi khí hậu bắt đầu ấm hơn, hoa bắt đầu nở là dấu hiệu mùa xuân đến và cũng là thời điểm bắt đầu của mùa dị ứng phấn hoa. Nếu cơ thể bạn nhạy cảm với những thay đổi thời tiết, bạn sẽ bị những triệu chứng của bệnh dị ứng như ngứa, nghẹt hoặc nhảy mũi; ngứa hoặc đỏ mắt, và những khó chịu đó ảnh hưởng đến cả giấc ngủ của bạn. Mất ngủ vì những triệu chứng này chắc chắn sẽ làm bạn cảm thấy không thoải mái trong những tháng sau đó. Sau đây là vài cách giúp bạn chuyển phòng ngủ của mình thành nơi không còn tác nhân gây dị ứng cũng như những triệu chứng dị ứng.

1. Giữ sạch không khí trong nhà

Ở trong nhà là cách tuyệt vời để thoát khỏi phấn hoa, trừ khi không khí trong nhà bạn quá bẩn. Bụi trong nhà, lông vật nuôi và lông thú, chất gây dị ứng từ bên ngoài có thể góp phần tạo ra dị ứng trong nhà.

Để giữ cho không khí trong nhà càng sạch càng tốt, bạn nên dùng bộ lọc không khí hiệu quả cao (HEPA) cho phòng ngủ của bạn và đóng chặt các cửa sổ để tránh không khí từ ngoài vào. Nếu bạn có máy lạnh hoặc máy sưởi loại mạnh, bạn nên sử dụng các bộ lọc hiệu quả cao để giữ cho chúng khỏi thổi bụi ra khắp mọi nơi.

Thường xuyên kiểm tra cửa sổ và khe cửa nếu dị ứng ngoài trời gây trở ngại cuộc sống bạn. Khi nghi ngờ có mốc bất cứ nơi nào trong nhà, hãy liên lạc với nhà thầu hoặc những người chuyên môn diệt mốc để giúp bạn dọn sạch chúng và giảm rủi ro gây dị ứng. Ngoài ra, những cây lọc không khí có thể trồng trong nhà như cây lô hội (aloe) hoặc cây thường xuân (English ivy), chúng hấp thụ khí độc và thải ra khí oxy trong lành, cũng có thể giúp cải thiện phẩm chất không khí trong nhà.

2. Dùng máy hút ẩm

Không khí ấm áp và ẩm ướt là môi trường phát triển của những tác nhân dị ứng như nấm mốc, bọ ve trong bụi và vi khuẩn. Theo Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường Mỹ, độ ẩm lý tưởng trong nhà nên ở khoảng 30% đến 50%. Nếu bạn sống ở vùng mưa và ẩm ướt, nên đặt một máy hút ẩm trong phòng ngủ. Máy hút bớt ẩm làm cho chất gây dị ứng và nấm mốc khó phát triển.

Ngược lại, khí hậu khô hạn có thể gây ra viêm họng, ngứa da, ngứa mắt và thậm chí làm tăng nguy cơ viêm xoang. Máy hơi nước hoặc máy giữ ẩm có thể giúp cân bằng độ ẩm khi không khí trở nên quá khô.

3. Giặt tấm trải giường sạch sẽ

Giặt tấm trải giường thường xuyên là một trong những cách giúp ngủ ngon trong mùa dị ứng, do đó thay tấm trải giường ít nhất 1 lần 1 tuần để bảo đảm tấm trải giường không bị nhiễm bẩn và nên giặt bằng nước nóng. Bạn cũng có thể làm như vậy đối với màn cửa nhà mình. Ngoài ra, việc lau chùi đồ đạc trong nhà và hút bụi thảm một hoặc nhiều lần trong tuần cũng rất quan trọng.

4. Bộ giường kháng dị ứng

Mặc dù giặt mền, tấm trải giường và bao gối thường xuyên giúp bạn tránh chất gây dị ứng trên bề mặt giường ngủ và hệ thống hô hấp của bạn nhưng chất bẩn vẫn có thể đi vào tấm nệm bên dưới và nó không thể thoát ra được.

Bộ giường kháng dị ứng sử dụng các loại vải công nghệ tiên tiến có thể chặn phấn hoa, bụi vào nệm của bạn, giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn vào ban đêm. Không nên dùng những loại bằng lông hoặc len vì chúng không thể giặt thường xuyên và dễ hấp thu bụi hơn những loại sợi tổng hợp.

5. Tắm ban đêm thay vì buổi sáng

Sau một ngày ở ngoài đường, mái tóc, làn da và quần áo của bạn được phủ bởi lớp phấn hoa, bụi vô hình và những chất gây dị ứng này gây khó chịu mắt, mũi và phổi của bạn. Do đó, tắm ban đêm để tẩy đi những chất bẩn, hơi nước nóng từ phòng tắm giúp giảm nghẹt mũi và mặc quần áo mới sẽ không mang bụi lên giường, tất cả những điều này giúp bạn có giấc ngủ ngon hơn.

6. Thay nệm và gối mới

Nệm và gối càng cũ thì càng nhiều bụi, mồ hôi và các loại dầu cơ thể bị mắc kẹt bên trong đó - đặc biệt là nếu bạn không sử dụng tấm bảo vệ nệm. Nếu bạn là một trong số 20 triệu người Mỹ bị dị ứng với con bọ trong bụi thích ăn da chết, bạn sẽ bị dị ứng tệ hơn nếu bề mặt giường ngủ quá cũ. Các chuyên gia khuyên nên thay gối mới mỗi 6 tháng và thay nệm trong khoảng 5 đến 10 năm tùy vào loại và chất lượng.

Phòng ngủ là nơi mà hầu hết mọi người dành phần lớn thời gian khi ở nhà, vì vậy đối với người bị dị ứng, cách tốt nhất là đầu tư vào phòng ngủ hơn là phải chịu những ảnh hưởng do dị ứng gây ra, bằng cách chú ý đến không khí trong nhà, bụi trên các bề mặt và các biện pháp để giảm chất gây dị ứng ảnh hưởng đến giấc ngủ của bạn.

UserPostedImage
thunder  
#754 Posted : Friday, May 15, 2015 2:26:07 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


Loại bỏ đờm trong cổ họng mà không cần dùng kháng sinh


Đờm trong cổ họng khiến bạn vô cùng khó chịu. Đôi khi đờm xuất hiện kèm triệu chứng ho. Làm sao để loại bỏ chúng một cách nhanh chóng và đơn giản mà không cần dùng đến thuốc kháng sinh?

Nuốt chanh muối để trị đờm trong cổ họng


Để trị đờm, buổi tối trước khi đi ngủ bạn hãy ngậm 1/8 trái chanh muối, nuốt từ từ đến hết trái chanh muối rồi ngủ, không được uống nước vì sẽ làm trôi miếng chanh.

Dùng bắp cải giúp long đờm trong cổ họng


Trong bắp cải có chứa nhiều hợp chất sulfur – có tác dụng làm loãng đờm. Do vậy, bắp cải có thể giúp đường thở trở nên thông thoáng. Nếu như đờm quá đặc, bắp cải sẽ giúp làm lỏng đờm và dễ khạc ra hơn.
Dùng mật ong, gừng, quất tắc để trị đờm

Hấp cách thủy mật ong, gừng thái lát và quất tắc. Mỗi lần hâm nóng lại 1 - 2 thìa canh cho người bệnh uống vào sáng và tối.

Nước nóng giúp long đờm

Nước nóng là một trong những cách tốt nhất giúp làm loãng đờm. Buổi sáng thức dậy bạn thấy cổ họng tắc nghẽn, nói không ra tiếng, uống nước ấm vào thì giọng nói sẽ tự nhiên trở lại.

Thực phẩm nhiều gia vị giúp tan đờm

Bạn hãy dùng thực phẩm nóng và cay để giúp làm tan đờm. Đó là lý do tại sao ăn súp cay nóng có thể giúp bạn ho ra đờm.

Chữa đờm trong cổ họng bằng cam và rượu


Đây là cách ít sử dụng nhất, nhưng nó cũng rất hữu ích để loại trừ đờm trong cổ họng của bạn. Xắt cam ra thành từng lát và đem ngâm trong rượu vang qua đêm. Sau khi cam đã ngâm đủ, bạn hãy nấu miếng cam cho mềm và sau đó ăn chúng. Cách này không chỉ giúp bạn loại trừ đờm mà nó còn cung cấp cho cơ thể bạn hàm lượng vitamin C cần thiết.

Hoa hồng trắng trị ho có đờm hiệu quả

Hoa hồng trắng có công dụng trị ho đớm rất tốt. Bạn chỉ cần lấy cánh hoa hồng bạch rửa sạch trộn với một ít đường phèn, cộng với một ít nước lọc, đem hấp cách thủy. Mỗi lần uống vài thìa, ngày dùng 3-4 lần.

Nguồn: webtretho

phamlang  
#755 Posted : Monday, June 8, 2015 3:57:47 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Điều gì xảy ra khi bạn hiến tặng cơ thể mình cho khoa học sau khi qua đời?



Cali Today News. Biết chắc chắn bản thân một ngày nào đó sẽ từ giã trần thế, nhiều người lựa chọn được chôn cất khi qua đời. Số khác muốn được hỏa táng hoặc thậm chí đưa hài cốt của họ vào không gian.
Tất cả các phương pháp trên dường như không mang lại nhiều lợi ích cho những người ở lại. Tuy nhiên, việc chọn hiến tặng cơ thể cho khoa học có thể đảm bảo một người vẫn tiếp tục cống hiến cho xã hội ngay cả khi đã chết. Vậy điều gì sẽ xảy ra với xác người được hiến tặng?

Ở Mỹ, luật pháp và các tiêu chuẩn trong ngành công nghiệp đều đưa ra các hướng dẫn về thực hành và nguyên tắc xử thế đối với "món quà giải phẫu học". Một khi xác được hiến tặng cho khoa học, người hiến tặng thường không có yêu cầu về cách tử thi sẽ được sử dụng như thế nào, mặc dù một số ít các cơ quan vẫn tôn trọng những yêu cầu của họ, nếu có. Các thi thể sẽ được phân chia theo nhu cầu nghiên cứu và thị trường.

Một khi xác hiến tặng ở trong tay của các chuyên gia nghiên cứu hoặc chuyên gia y tế, chúng có khả năng được sử dụng cho nhiều mục đích khoa học khác nhau.


Theo Thư viện Y học quốc gia Mỹ, một người hiến tặng các cơ quan nội tạng và mô của mình có thể cứu sống hoặc cải thiện cuộc sống của tới 50 người khác. Các cơ quan nội tạng có thể được lưu trữ sau khi người chết bao gồm các quả thận, trái tim, phổi, tuyến tụy, ruột, da, giác mạc, ...

Trang OrganDonor.gov thống kê rằng, năm 2013, 28.954 người đã được cấy ghép nội tạng hiến tặng. Mỗi ngày, trung bình có 79 người trải qua quá trình này. Và trung bình mỗi ngày có 21 người cần được cấy ghép bộ phận cơ thể đã chết trong khi chờ đợi người hiến tặng phù hợp.

Các bác sĩ tương lai đều được đào tạo trong các trường y. Việc giải phẫu một tử thi lần đầu tiên là nghi thức nhập môn bắt buộc từ lâu đối với các sinh viên trường y. Đặc biệt, trong vài năm học đầu tiên, họ học môn giải phẫu học không chỉ thông qua sách vở, mà còn qua việc giải phẫu và xem xét các tử thi.

Các bác sĩ phẫu thuật, từ những chuyên gia tim mạch đến chuyên gia thẩm mỹ, cũng học và thực hành những kỹ thuật mới thông qua sử dụng xác chết.

Các chuyên gia pháp y có thể sử dụng xác hiến tặng để nghiên cứu ra cách truy bắt kẻ giết người. Họ nghiên cứu về quá trình phân hủy xác để hỗ trợ các điều tra viên xác định thời gian và nguyên nhân cái chết.

Nếu bạn thích các bảo tàng, bạn có thể hiến tặng xác cho những cơ sở này để trưng bày. Có lẽ, việc sử dụng tử thi trong bảo tàng nổi tiếng nhất là cuộc triển lãm Body Worlds ở thành phố New York, Mỹ.

Là sản phẩm sáng tạo của nhà giải phẫu Gunther von Hagens, mỗi thi thể trưng bày đã trải qua một quá trình nhựa hóa, trong đó mỗi tế bào đơn lẻ được bảo quản trong silicone. Các cơ quan nội tạng, mô và hệ thống bên trong cơ thể đều rõ thấy vì cả 25 cơ thể toàn vẹn được trưng bày, đều đã bị loại bỏ hết lớp da.

Xác do những người chết vì các bệnh nan y hiến tặng có thể cung cấp cơ hội nghiên cứu vô giá cho khoa học, tiềm ẩn khả năng cứu sống vô số những người mắc cùng chứng bệnh đó trong tương lai.

Các nghiên cứu trên xác hiến tặng đã dẫn tới nhiều tiến bộ trong việc phòng và điều trị nhiều căn bệnh, không chỉ giới hạn ở bệnh tim, tiểu đường, bệnh Alzheimer hay nhiều chứng ung thư khác nhau. Những người hiến xác cũng có thể đóng góp cho nghiên cứu về các bệnh mạn tính, chẳng hạn như viêm khớp, loãng xương hay vẹo xương sống.

Các hãng xe đang cố gắng cải tiến độ an toàn sản phẩm của họ cũng thường sử dụng người nộm để mô phỏng các ảnh hưởng của va chạm giao thông. Họ cũng sử dụng cả xác người hiến tặng để kiểm nghiệm sự hữu ích của các tính năng mới trang bị cho xe, do dữ liệu thu được đầy đủ và đáng tin cậy hơn so với kiểm nghiệm bằng người nộm và phần mềm mô phỏng.

Theo những người trong nghề, việc kiểm nghiệm bằng tử thi có thể cung cấp chi tiết cách một va chạm có thể gây ra với các cơ quan nội tạng và mô mềm, do việc giải phẫu tử thi sau va chạm hé lộ mức độ tổn thương từ sự cố đó. Các hãng xe hơi không sẵn lòng thừa nhận hoặc tham gia trực tiếp vào việc dùng tử thi thử nghiệm sản phẩm. Thay vào đó, họ thường tài trợ cho các trường đại học hoặc tổ chức nghiên cứu tiến hành thử nghiệm và thu nhận, ứng dụng các kết quả sau đó.

Trong quá trình phát triển tàu vũ trụ Orion chuyên chở con người vào không gian, các nhà thầu của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) cũng sử dụng 3 tử thi của người để kiểm nghiệm mẫu trang phục du hành, ghế ngồi và các hệ thống hạ cánh của tàu.

Các binh lính khi làm nhiệm vụ có thể đối mặt với đủ loại nguy hiểm đe dọa đến tính mạng. Các nghiên cứu của quân đội sử dụng xác hiến tặng có thể giúp cải tiến và đảm bảo an toàn cho các trang thiết bị của họ, chẳng hạn như áp giáp.

Tuy nhiên, việc sử dụng xác người cho nghiên cứu quân sự từng dẫn đến tranh cãi. Chẳng hạn như năm 2003, Trường Y thuộc Đại học Tulane (Mỹ) từng khám phá ra rằng, 7 tử thi họ cung cấp cho lục quân Mỹ đã được dùng trong các thử nghiệm bom mìn để kiểm tra giày bảo vệ của các binh sĩ. Vì sự cố này, Đại học Tulane đã ngừng quan hệ với một công ty dịch vụ giải phẫu sau đó.

Edited by user Monday, June 8, 2015 4:02:33 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#756 Posted : Friday, June 19, 2015 2:21:18 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Bột ngọt lại gây tranh cãi

TM

Ðã từ lâu bột ngọt từng gây tranh cãi nơi các nhà khoa học, các chuyên viên dinh dưỡng và công chúng khắp nơi, tạo ra nhiều vấn nạn đối với những người quan tâm đến sức khỏe, có người e ngại không dám ăn, trái lại những chef nổi tiếng như David Chang lại ưa chuộng, coi đó như một phát minh của thời đại mới làm tăng tiến mùi vị của thực phẩm. Riêng đối với đa số người Việt thì nấu ăn là phải có nêm bột ngọt. Mới đây, vấn đề bột ngọt lại được nhiều người khơi dậy, khiến ta tự hỏi: nên ăn hay không nên?

Mà bột ngọt là gì?

Bột ngọt (monosodium glutamate, hoặc MSG) là chất liệu làm tăng mùi vị của thức ăn. Nơi thiên nhiên, glutamate có trong một số thực phẩm và trong óc não, nhưng MSG, là một sodium ion dính kết với glutamate, không phải tự nhiên mà có. Nó là một phụ chất được chế biến, một phát kiến do con người tạo ra từ rong biển vào năm 1908. Ngày nay, nó được chế tạo từ đường hoặc tinh bột.

Cách sử dụng ra sao?

Tuy MSG được cho là có mùi vị umami, nhưng để chính xác hơn phải nói là nó chuyên chở mùi vị này chỉ khi nào pha trộn với mùi vị thơm ngon khác. Umami là một từ mượn từ chữ tiếng Nhật có nghĩa là "vị ngon" thường được gọi là vị ngọt thịt, là một trong năm vị cơ bản cùng với vị ngọt, chua, đắng và mặn.

Ăn riêng một mình nó không ngon lắm, nhưng khi kết hợp đúng cách, nó làm cho thực phẩm có mùi vị ngon hơn, kích thích khẩu vị, do đó các nhà chế tạo thực phẩm dùng nó để nêm vào các món súp, salad dressings, sauces, thịt và muôn vàn thức ăn vặt khác.

Tại sao gây tranh cãi?

Ðối với một số người dị ứng với nó, MSG được cho là gây nhức đầu, đỏ mặt, ra mồ hôi, lo âu, nhịp tim đập nhanh và các triệu chứng khác, thường được gọi là phức cảm triệu chứng MSG (MSG symptom complex). Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm (The Food and Drug Administration -0 FDA), Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization) công nhận và cho phép công chúng dùng, tuy nhiên cuộc nghiên cứu mới đây lại đặt vấn đề về sự an toàn của MSG. Sau đây là ý kiến của Ryan Andrews và Haylie Pomroy, cả hai đều là chuyên viên dinh dưỡng đã sáng lập những tổ chức chuyên về ẩm thực.

Quan điểm của Pomroy:

Tránh dùng bằng mọi giá

1. MSG ngăn chặn óc ta không tiếp nhận được leptin (là hormone cảm nhận về no) do đó khi dùng bột ngọt, đầu óc ta không nhận được thông điệp rằng cơ thể ăn đã no rồi. Ðiều đó ảnh hưởng tiêu cực đến việc trao đổi chất (metabolism), vì nếu tiếp nhận tốt leptin, cơ thể ta đốt chất béo dễ dàng hơn.

2. Một cuộc nghiên cứu đăng trong Journal of Cellular and Molecular Medicine cho biết: nơi loài chuột đực, MSG làm tăng phì mập và ngăn chặn sự phân hóa của chất béo. Nơi chuột được bột ngọt làm cho phì mập, thấy có sự kháng insulin cũng như tăng LDL (cholesterol xấu) và triglycerides.

Lập trường của Andrews:

Dùng vừa phải được, nếu không nhạy cảm

1. MSG là thứ tôi không khuyên bạn dùng hàng ngày, nhưng nếu bạn không dị ứng với nó, thì có thể nó không gây hại cho bạn. Thực ra thì có thể bạn đã dùng nó rồi, mà không thấy phản ứng tiêu cực, vì nó có thể ẩn nấp dưới nhiều tên gọi ghi trên nhãn thành phần như hydrolyzed vegetable protein và các loại protein tách lập khác.

2. Nếu một đầu bếp nấu món rau bổ dưỡng hoặc món nào khác bạn chưa thử, và ông ta có cho thêm bột ngọt để làm tăng mùi vị, thì dù có phải đánh đổi chất bổ dưỡng, bạn cũng đáng ăn thử.


UserPostedImage
UserPostedImage
Duy An  
#757 Posted : Monday, June 29, 2015 12:40:55 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Chân rung


Hỏi:

-Khi ngủ, tôi thường có cảm giác khó chịu ở chân, tê tê, nhột nhột, có khi hơi nhức nhức, làm cho chân cứ phải rung rung, không ngồi hoặc ngủ yên được, nhiều khi phải dậy đi vòng vòng một chút mới bớt. Nghe nói hồi xưa ba tôi cũng bị như vậy.

-Xin cho biết đây là bệnh gì, nguyên nhân của bệnh, có cách gì chữa hay không? Có người nói tôi phải bỏ rượu, cà phê, thuốc lá bệnh mới bớt, có đúng không?

Ðáp:

Theo lời kể, có vẻ như là đây một vấn đề không phải ít gặp, tiếng Anh gọi là “restless legs syndrome,” tạm dịch là hội chứng đôi chân không (chịu) nghỉ (ngơi).

Hội chứng này có thể bắt đầu từ nhỏ, nhưng tuổi trung bình lúc bắt đầu có triệu chứng là khoảng 27 tuổi; càng lớn tuổi thì tỉ lệ bị chứng này càng cao; đàn bà bị nhiều hơn đàn ông. Tỉ lệ bị chứng này là từ 1 đến 10 phần trăm dân số, tùy theo từng sắc dân. Có nghiên cứu thấy tới 24 phần trăm các bệnh nhân của các bác sĩ gia đình có thể bị triệu chứng này ít nhất một lần mỗi tuần.

Về nguyên nhân, chứng này có hai dạng.

Dạng thường gặp nhất, chiếm 76 phần trăm các trường hợp, không có nguyên nhân rõ ràng (tiếng Anh gọi là idiopathic). Ở dạng này, có tới 92 phần trăm bệnh nhân có người trong gia đình cũng bị cùng vấn đề, tức là có tính cách di truyền.

Dạng thứ hai, chiếm 24 phần trăm, là dạng có nguyên nhân. Các nguyên nhân có thể liên quan đến bệnh thận kinh niên, thiếu chất sắt, viêm đa thần kinh (polyneuropathy), có bầu (thai), đau bắp thịt (fibromyalgia), bệnh thấp khớp (rheumatoid arthritis), đau đường thần kinh (radiculopathy), thiếu vitamin B12, thiếu acid folic, hội chứng Sjogren (hội chứng thường gặp ở phụ nữ trung niên hoặc lớn tuổi làm khô miệng, khô mắt, sưng tuyến nước bọt và nhiều triệu chứng khác), rối loạn về sự tập trung và quá “sung” (Attention-Deficit Hyperactivity Disorder).

Hội chứng đôi chân không nghỉ ngơi này thường có các triệu chứng như là cảm giác khó chịu, không hẳn là đau, nhưng như kiến bò, tê tê, ngứa ngứa, căng căng...ở chân, thường gặp nhất là vùng từ mắt cá tới đầu gối, có khi cả chân, một bên hoặc cả hai bên, có khi cả ở tay. Người bệnh phải rung chân (có khi cả tay), đi lại, di chuyển, thì triệu chứng mới giảm bớt.

Nếu triệu chứng này xảy ra vào ban đêm, có thể làm cho mất giấc ngủ của mình và nhất là người ngủ cùng giường thì lúc đó ta đã bị một rối loạn thường đi kèm với hội chứng chân không nghỉ ngơi. Rối loạn này được gọi là rối loạn chân tay quơ quào (nhúc nhích) từng lúc (periodic limb movement disorder). Tám mươi phần trăm những người bị chứng rung chân cũng sẽ mắc phải rối loạn này.

Ðể chữa chứng này, đầu tiên phải có chẩn đoán chính xác. Một bệnh sử chi tiết có thể giúp bác sĩ chẩn đoán hội chứng đôi chân không nghỉ ngơi (restless legs syndrome), trong khi rối loạn chân tay quơ quào từng lúc (periodic limb movement disorder) cần phải được chẩn đoán bằng một xét nghiệm nhằm đo hoạt động của bắp thịt trong lúc ngủ, gọi là polysomnography.

Nếu chứng rung chân có nguyên nhân, chữa trị các nguyên nhân sẽ giúp giảm bệnh. Do đó bác sĩ sẽ thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết để tìm xem có nguyên nhân nào không, sau đó chữa nguyên nhân nếu có.

Nếu chứng rung chân không có nguyên nhân, có nhiều cách chữa rất công hiệu. Chữa trị nên bắt đầu bằng các phương pháp không dùng thuốc, sau đó dùng các thuốc mua không cần toa bác sĩ, sau đó là các thuốc do bác sĩ kê toa sau khi thăm khám cẩn thận và theo dõi các tác dụng phụ trong lúc dùng thuốc.

Các biện pháp không dùng thuốc bao gồm các phương pháp vệ sinh về giấc ngủ (sleep hygiene) như nên đi ngủ đúng giờ, không coi phim trong lúc ngủ, ngủ đủ giấc, ăn uống đầy đủ, lành mạnh.

Vì thiếu sinh tố B12, folic acid có thể là nguyên nhân, dùng một viên B complex mỗi ngày có thể giúp ích và tương đối an toàn.

Ngoài ra cũng phải tránh các yếu tố làm cho triệu chứng trầm trọng (exacerbating factors):

-Uống rượu có thể làm tăng triệu chứng.

-Caffeine (có trong cà phê, trà, coca cola, vân vân) có thể làm tăng độ nhạy của các thần kinh xúc giác và làm tăng triệu chứng.

-Sự căng thẳng (stress), thay đổi công việc, hoạt động thể lực nặng (strenuous physical activities) gần giờ đi ngủ, cũng làm nặng thêm các triệu chứng.

-Một số thuốc chống trầm cảm (antidepressant) như fluoxetine, paroxetine, sertraline, mirtazapine, and mianserin; một số thuốc trị tâm thần (neuroleptics) như olanzapine and risperidone và một số thuốc khác như các thuốc beta-blockers, phenytoin, zonisamide, methsuximide, and lithium cũng có thể làm nặng thêm triệu chứng. Do đó nên thảo luận với bác sĩ, rà soát lại các thuốc đang dùng xem có thuốc nào có thể là nguyên nhân hay không.

Sau cùng, có nhiều thuốc trị hội chứng này rất hiệu quả, hầu như tức thì. Tuy nhiên, thuốc có các tác dụng phụ cần phải được theo dõi cẩn thận, và có thể phải tăng liều sau một thời gian, do đó cần phải hợp tác chặt chẽ với bác sĩ trong việc điều trị.

Thân mến

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng
www.nguyentranhoang.com
(714) 531-7930

UserPostedImage
Duy An  
#758 Posted : Monday, July 6, 2015 2:26:32 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
UserPostedImage

Thói quen có thể gây tổn thương thận


Theo thoibao.com

Bạn có thể sống bình thường với quả thận chỉ còn 20% chức năng. Điều đó giải thích tại sao sự suy giảm từ từ và tổn thương dần của thận có thể không được nhận ra trong thời gian dài.

Đôi khi một số thói quen phổ biến có thể gây tổn thương cho thận. Khi vấn đề được phát hiện thì có thể đã là quá trễ.
Thận thực hiện nhiều chức năng như sản xuất hormone, lọc máu, hấp thu khoáng chất, sản xuất nước tiểu và duy trì cân bằng axit-alkaline lành mạnh. Do vậy, con người không thể sống mà thiếu thận. Nếu bạn muốn thận phát triển và phục vụ sức khỏe tốt thì cần loại bỏ những thói quen gây hại dưới đây:

1. Uống soda có đường


Hay uống nước ngọt là một trong những thói quen chính gây hại cho thận. Một nghiên cứu chỉ ra rằng những người uống trên 2 cốc soda mỗi ngày có nguy cơ bị bệnh thận cao hơn. Protein sẽ lọt vào nước tiểu của bạn trong trường hợp thận bị tổn thương. Protein trong nước tiểu (protein niệu) là một dấu hiệu sớm của tổn thương thận. Khi được phát hiện ở giai đoạn sớm, bệnh có thể vẫn cứu chữa được.

2. Thiếu vitamin B6

Đây cũng là một trong những lý do gây tổn thương thận. Chế độ ăn lành mạnh là quan trọng để có chức năng thận tốt. Theo một nghiên cứu, thiếu vitamin B6 làm tăng nguy cơ bị sỏi thận. Để chức năng thận được hoạt động tối ưu, bạn nên dùng ít nhất 1,3miligram vitamin B6 mỗi ngày. Những nguồn thực phẩm giàu loại vitamin này nhất gồm cá, đậu xanh, gan bò, khoai tây và các loại rau giàu tinh bột.

3. Ít vận động

Tập luyện là cách tốt để bảo vệ thận. Một nghiên cứu chỉ ra rằng những người chăm chỉ tập luyện giảm 31% nguy cơ bị sỏi thận. Duy trì cân nặng vừa phải cũng sẽ làm giảm nguy cơ bị sỏi thận. Không tập luyện là một thói quen gây tổn hại cho chiếc máy lọc máu này.

4. Thiếu magiê

Thiếu magiê có thể gây rắc rối cho thận. Nếu bạn không hấp thu đủ magiê, canxi không thể được hấp thụ và tiêu hóa hợp lý. Điều này có thể dẫn tới canxi bị dư thừa và hình thành sỏi. Để dự phòng điều này, bạn cần có đủ magiê trong chế độ ăn, ăn nhiều rau lá xanh, đậu, hạt, và quả bơ.

5. Thiếu ngủ

Ngủ không hợp lý cũng góp phần gây tổn hại cho thận. Giấc ngủ ngon rất quan trọng đối với nội tạng này. Một nghiên cứu chỉ ra rằng sự gián đoạn giấc ngủ kéo dài có thể gây bệnh thận. Mô thận được tái tạo trong đêm, vì vậy sự gián đoạn giấc ngủ có thể gây tổn hại trực tiếp cho nó. Bạn cần ngủ ít nhất 8 tiếng mỗi đêm.

6. Không uống đủ nước

Bạn cần uống đủ nước để duy trì chức năng thận. Nếu không uống đủ, các độc tố có thể bắt đầu tích tụ trong máu. Uống ít nhất 12 cốc nước mỗi ngày là tốt cho thận. Một cách đơn giản để xem bạn có uống đủ nước hay không là kiểm tra màu nước tiểu. Nếu không uống đủ nước, nước tiểu sẽ có màu vàng sậm.

7. Nhịn tiểu

Khi cơ thể có nhu cầu bạn nên đáp ứng. Giữ lại nước tiểu trong bàng quang là không tốt. Nếu thường xuyên như vậy sẽ làm gia tăng áp lực nước tiểu lên thận và dẫn tới suy thận.

8. Sử dụng quá nhiều muối


Đây là một trong những nguyên nhân gây suy thận. Muối rất quan trọng với cơ thể nhưng bạn nên hạn chế việc hấp thu nó. Sử dụng quá nhiều muối có thể làm tăng huyết áp và tăng áp lực lên thận. Bạn không nên ăn quá 5,8 g muối mỗi ngày.

9. Dùng quá nhiều caffein

Bạn thường sử dụng nhiều caffein hơn mình nghĩ. Caffein có trong nhiều loại nước ngọt và soda, đồ uống năng lượng và cà phê. Huyết áp sẽ tăng do dư thừa caffein và thận của bạn có nguy cơ bị tổn thương. Vì vậy hãy sử dụng hạn chế caffein.

10. Lạm dụng thuốc giảm đau

Đôi khi bạn dùng thuốc quá thường xuyên và với liều quá lớn. Khi cơn đau xuất hiện, có thể khắc phục dễ dàng bằng việc uống thuốc. Nhưng bạn nên thận trọng vì tất cả các loại thuốc đều có tác dụng phụ và nhiều loại thuốc gây tổn thương cho thận.

11. Uống thuốc không đầy đủ


Huyết áp cao và tiểu đường là 2 bệnh phổ biến gây ra bởi lối sống và chế độ ăn không lành mạnh. Nếu bạn mắc các bệnh này, bạn có thể bị tổn thương thận từ từ. Tuy nhiên, nếu bạn uống thuốc đầy đủ, tổn thương sẽ được dự phòng. Hãy bảo vệ cơ quan thiết yếu này của bạn bằng cách dùng thuốc theo đơn.

12. Ăn quá nhiều đạm (protein)

Theo một nghiên cứu, việc sử dụng quá nhiều đạm trong chế độ ăn có thể gây hại cho thận. Sản phẩm phụ của tiêu hóa đạm là ammonia. Nó là một chất độc mà thận cần phải vô hiệu hóa. Nhiều đạm nghĩa là thận phải làm việc nhiều hơn, điều này có thể dẫn tới suy giảm chức năng thận.

13. Không điều trị những bệnh nhiễm trùng thông thường một cách nhanh chóng và thích hợp
Đôi khi bạn bị cảm lạnh đơn thuần. Bạn buộc cơ thể phải làm việc và không nghỉ ngơi hợp lý. Điều này có thể gây tổn thương cho thận. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người không nghỉ ngơi và điều trị hợp lý thường kết thúc với bệnh thận.

14. Uống quá nhiều rượu

Các độc tố trong rượu không chỉ gây tổn thương cho gan mà còn gây tổn thương cho thận. Điều này sẽ làm tăng áp lực cho nó và khiến thận bị tổn thương từ từ. Một cách để tránh bệnh này là uống rượu vừa phải.

15. Hút thuốc

Hút thuốc có liên quan tới bệnh xơ vữa động mạch. Việc thu hẹp và xơ cứng mạch máu ảnh hưởng tới việc cung cấp máu cho các cơ quan thiết yếu trong đó có thận. Theo nghiên cứu này, cứ hút 2 điếu thuốc mỗi ngày là có thể tăng gấp đôi số tế bào nội mô có trong máu. Đây là dấu hiệu của tổn thương động mạch.
UserPostedImage
Duy An  
#759 Posted : Sunday, July 19, 2015 5:12:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 211 times
Was thanked: 695 time(s) in 507 post(s)
Thiền và sức khỏe


nguồn VienDongDaily.Com - 05/06/2015


Ngồi thiền, chúng ta có thể đạt đến một trạng thái tịch lặng và thư giãn hoàn toàn khiến chúng ta cảm thấy yên bình và thanh thản. Chấm dứt thời thiền, chúng ta vẫn còn cảm nhận được sự yên bình này vì tác dụng của thiền ảnh hưởng đến cả thân và tâm của chúng ta.
Nói đến thiền, đa số chúng ta đều cảm thấy xa lạ và có thái độ muốn xa lánh vì chữ thiền gợi ra một cái gì thuộc về tôn giáo, tu hành..., không trần tục như chúng ta. Bạn thử đọc bài này để xem cái cảm giác ban đầu ấy có đúng không, và thấy được ích lợi của thiền đến sức khỏe của bạn. Không chừng đọc xong, bạn sẽ muốn thiền ngay tức khắc.

Thiền được vô số người thực hành từ nhiều ngàn năm qua. Thoạt kỳ thủy, thiền được dùng như một cách để con người có thể đến gần được những năng lực bí ẩn và thiêng liêng của cuộc sống. Nhưng hiện nay, thiền là một phương cách giúp xả bỏ những áp lực của đời sống và để thư giãn.
Ngồi thiền, chúng ta có thể đạt đến một trạng thái tịch lặng và thư giãn hoàn toàn khiến chúng ta cảm thấy yên bình và thanh thản. Chấm dứt thời thiền, chúng ta vẫn còn cảm nhận được sự yên bình này vì tác dụng của thiền ảnh hưởng đến cả thân và tâm của chúng ta.
Nhiều người có thể cho rằng thiền rất khó khi họ chưa bắt đầu. Nhưng không phải thế, ai cũng có thể tập thiền được. Hiện nay, nhiều phương pháp đã được truyền dạy khiến chỉ cần bỏ thời giờ ra tập luyện, chúng ta đều có thể hưởng được sự lợi ích của thiền.

Thiền và bệnh tật

Người khỏe mạnh thiền để thư giãn và bớt đi căng thẳng của cuộc sống. Nhưng thiền cũng có tác dụng tốt đối với nhiều bệnh tật của cơ thể, nhất là những bệnh do căng thẳng gây ra. Nhiều cuộc nghiên cứu về tác dụng lên bệnh tật của thiền đã và đang được thực hiện, trong đó những bệnh sau đây được cho là có thể giảm bớt nhờ thiền:

-Bệnh dị ứng, suyễn
-Bệnh bồn chồn lo lắng
-Bệnh thấp khớp
-Bệnh ung thư
-Bệnh trầm cảm
-Đau nhức kinh niên
-Bệnh cao huyết áp
-Bệnh tim

Nhưng nên nhớ: Thiền không thể được dùng thay thế những chữa trị y khoa mà chỉ là phần thêm vào những chữa trị đang được dùng.

Khi ngồi thiền chúng ta dẹp bớt những góp nhặt thông tin tích lũy mỗi ngày trong óc chúng ta. Một khi đầu óc đã trống bớt những ý tưởng tạp nhạp, bạn sẽ dễ có cái nhìn bớt chật hẹp và tìm ra được cách giải quyết vấn đề cũng như bớt căng thẳng. Bạn trở nên “tỉnh thức”, “tự tri” hơn và chú ý vào hiện tại hơn là lo lắng về những chuyện phải làm mỗi ngày.
Có rất nhiều phương pháp thiền: thiền siêu nghiệm (transcendental), thiền Zen, thiền chuyển động, thiền minh sát... nhưng mục đích chỉ là một: tìm được sự bình yên trong tâm hồn. Không một phương thức nào là đúng hay sai cả. Bạn có thể theo học một lớp thiền cùng với những môn như yoga, taichi, khí công, thiền theo hướng dẫn... nhưng điều quan trọng là chính bạn phải thực tập. Chúng ta có thể thực tập thiền bất cứ lúc nào trong ngày và cũng có thể định ra một số giờ nào đó để thực tập thiền, thí dụ 1 giờ buổi sáng khi thức dậy và 1 giờ buổi tối...


Làm sao để tập thiền?

Sau đây là một vài cách để bắt đầu tập thiền. Bạn có thể tập vài phút mỗi ngày hay tập lâu hơn, ở nhà, ở sở, bất cứ đâu.

-Thở sâu:
Người mới bắt đầu nên theo cách này vì thở là một chuyện tự nhiên nhất của con người. Chú ý vào hơi thở. Hít vào biết là mình đang hít vào, thở ra biết là mình đang thở ra. Thở sâu, nhẹ nhàng và chậm. Khi nhận thấy mình đang lo ra, chỉ cần chú ý trở lại vào hơi thở.

-Rà soát thân thể:

Trong lúc rà soát bằng tâm tưởng, chú ý đến từng phần của cơ thể. Nhận biết những cảm giác của từng cơ phận như đau, căng cứng, thư giãn, nóng, lạnh. Tưởng tượng đang thở sức nóng hay sự thư giãn vào những bộ phận khác nhau của cơ thể.

-Tụng kinh hay niệm chú:

Chú là tên của những vị thánh hoặc bồ tát hay những câu thần bí mà bạn có thể đọc thầm hay ra tiếng. Bạn cũng có thể tự đặt ra một câu chú của chính mình. Chú là căn bản của phương pháp thiền transcendental. Những thí dụ về chú: cầu nguyện Chúa, đọc tên Chúa trong truyền thống đạo Juda, tụng chữ Om trong truyền thống đạo Hindu hay đạo Phật.

-Thiền hành:
Thiền hành là một cách thư giãn hữu hiệu. Chúng ta có thể thiền hành bất cứ nơi nào: trong rừng vắng, trên đường phố, ngay cả trong khu thương xá tấp nập. Khi thiền hành, bạn nên đi chậm và chú ý vào cử động của chân mình mà không cần chú ý lắm là sẽ đi đến một nơi nào đó.

-Cầu nguyện:
Cầu nguyện là hình thức thiền thông dụng và xưa nhất. Đạo nào cũng có sẵn những lời cầu nguyện được viết ra hay đọc lên. Bạn cũng có thể tự viết những lời cầu nguyện cho chính mình.

-Đọc sách hay nghe băng, nghe nhạc và suy nghiệm:
Nhiều người tìm được sự yên bình bằng cách đọc sách đạo thầm hay ra tiếng rồi suy nghiệm về những gì vừa đọc. Bạn cũng có thể nghe nhạc đạo, những lời đọc hay âm nhạc làm cho bạn nhẹ nhàng thư giãn hay hứng khởi. Bạn cũng có thể viết lại những suy nghiệm của mình và chia sẻ với bạn bè hay người hướng dẫn tâm linh của mình.

-Chú ý vào tình thương và sự biết ơn:
Trong phương pháp này, bạn chú ý vào một đấng hay một vật thiêng liêng nào đó, mang tình thương và sự biết ơn vào tâm của mình. Bạn có thể nhắm mắt và tưởng tượng hay nhìn chăm chú vào biểu tượng của đấng thiêng liêng đó.

Khi mới bắt đầu tập thiền, bạn không cần phải quá cố gắng. Nếu óc bạn đi lạc, bạn chỉ cần chú ý trở lại khi nhận biết ra. Cứ thử nghiệm và sau cùng bạn sẽ tìm ra một lối thiền thích hợp, đem nó vào thời khóa biểu hằng ngày của mình. Nên nhớ rằng không có lối thiền nào đúng hay sai. Điều quan trọng là thiền sẽ giúp bạn được giảm thiểu căng thẳng khiến bạn cảm thấy vui khỏe và yên bình hơn.


UserPostedImage
overthestorm  
#760 Posted : Sunday, July 19, 2015 6:01:26 AM(UTC)
overthestorm

Rank: Newbie

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 9/26/2011(UTC)
Posts: 8
Woman
Location: San Jose

Thanks: 52 times
Was thanked: 10 time(s) in 4 post(s)
Một cách dễ dàng để cai thuốc lá

Tác giả: Dr. John Briffa | Dịch giả: ĐKN

13 Tháng Bảy , 2015


UserPostedImage
Một phụ nữ hút thuốc trên một con đường ở London, Ontario. (Geoff Robins/AFP/Getty Images)

Hút thuốc lá hoàn toàn không có lợi ích cho sức khỏe, và thường thì người đã ngừng hút sẽ đạt được một bước tiến lớn trong việc nâng cao sức khỏe và giảm nguy cơ mắc bệnh về sau này.

Việc cai thuốc không phải luôn tốt đẹp. Trước tiên, một số người phải vật vã với triệu chứng cơn nghiện. Hơn nữa, nhiều người khác nhận thấy việc dừng hút sẽ dẫn đến tăng cân không mong muốn.

Hôm nay, tôi đã đọc được một nghiên cứu xuất bản tại Obesity về đánh giá sức khỏe của những người đang hút thuốc, không hút, và đã từng hút. Sự hiện diện của hội chứng rối loạn trao đổi chất đã được đề cập đến cùng với hình thức lượng mỡ nội tạng (lượng mỡ cao trong các cơ quan nội tạng) và mỡ dưới da.

Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy hội chứng rối loạn trao đổi chất phổ biến hơn ở những người đã cai thuốc lá so với người đang hút và không biết hút. Người đã cai thuốc có xu hướng sở hữu lượng mỡ nội tạng, mỡ dưới da cao hơn.

Nghiên cứu này bản chất là theo dịch tễ học (nghiên cứu xác suất từ mẫu để xác định tần suất và dạng phân bố), có nghĩa là chúng ta không thể sử dụng nó để kết luận rằng ngưng hút thuốc sẽ tác động tiêu cực đến sức khỏe trên phương diện mức độ nhiễm mỡ và nguy cơ của hội chứng rối loạn trao đổi chất. Tuy nhiên, mỡ tích trữ sau khi ngừng hút thuốc lá là một thực tế phổ biền, và có vẻ như lợi ích rõ ràng của việc bỏ thuốc có thể được thay thế một phần bởi sự thay đổi mức độ mỡ, đặc biệt là đối với mỡ nội tạng.

Tôi đã từng hút thuốc, tôi bắt đầu lúc 13 tuổi. Khi lên 14, tôi hút ba đến bốn điếu mỗi ngày. Có lúc tôi dừng được tốt, tôi cũng đã từng hút khoảng 30 điếu thuốc trong một ngày.

Tôi đã cố gắng bỏ hút nhiều lần trước khi hoàn toàn làm được vào năm 1987. Dưới đây là những gì tôi nhớ được trong những lần cố gắng:

Những triệu chứng xấu ảnh hưởng bởi cơn nghiện, tôi đã suốt ngày tôi chỉ nghĩ về thuốc lá.

Các triệu chứng nghiện kéo dài trong nhiều tuần trước khi tôi chịu thua và hút trở lại.

Thèm ăn đến mức mà tôi ăn bao nhiêu vẫn không đủ.

Tháng này đánh dấu kỷ niệm tháng thứ 24 tôi bỏ hút thuốc. Cũng có một số thách thức, những gì tôi nhớ là những triệu chứng nhẹ và ngắn ngủi. Nhưng tôi không nhớ gì về sự thèm ăn.

Tôi đã từ bỏ thói quen hút 30 điếu một ngày. Nghịch lý thay, điều này dễ dàng hơn nhiều so với việc bỏ thói quen hút 3-5 điếu một ngày thủa tôi còn thiếu niên. Khi đã hoàn toàn bỏ thuốc, tôi không sử dụng bất kì hình thức nicotine thay thế nào. Vậy tại sao có sự khác biệt?

Tôi không biết chắc, nhưng tôi nghĩ phần nhiều là do cuốn sách tôi đã đọc. Sách —“The Easy Way to Stop Smoking” được viết bởi Allen Carr-cách tiếp cận chủ yếu là về tâm lý để bỏ đi thói quen.

Tôi đọc hết toàn bộ cuốn sách trong một lần, nhưng tôi vẫn còn nhớ những điểm chính của nó. Một phần nguyên nhân là cuốn sách khá lặp đi lặp lại và nó cần như vậy để phá vỡ những rào cản tâm lý.

Điểm mấu chốt của cuốn sách là làm cho chúng ta cố gắng để ngừng hút thuốc và nghĩ việc hút thuốc là một điều tồi tệ. Chúng ta sẽ có thể quên đi những ảnh hưởng của việc hút thuốc, chẳng hạn liên quan đến xã hội, và tưởng tượng làm thế nào có thể cảm thấy không có thuốc lá khi uống rượu hay cà phê hay thư giãn sau bữa ăn.

Cuốn sách khuyến khích người đọc để có một thái độ tích cực để ngăn chặn hút thuốc lá bằng cách tập trung vào tất cả những điều tốt đẹp về việc không hút thuốc, chẳng hạn như sự tự do nó mang lại, tăng cường sức khỏe và thêm lòng tự trọng. Cuốn sách cũng đưa ra luận điểm rằng nếu bạn không cảm thấy bạn đang thiếu một cái gì đó bằng cách không hút thuốc thì sẽ có xu hướng thay thế thuốc lá với cái gì khác (như thực phẩm).

Tôi không biết điều gì đã làm ra sự khác biệt khi lần cuối cùng ngừng hút, nhưng tôi có cảm giác có rất nhiều điều. Và cho đến ngày nay, khi nói chuyện với mọi người về việc ngừng hút thuốc, tôi hầu như luôn theo hai điều:

• Đặt tâm lý của mình ở vị trí phù hợp, đặc biệt tập trung vào các khía cạnh tích cực của việc ngừng hút thuốc

• Đọc cuốn sách của Allen Carr

Hai mươi bốn năm sau khi bỏ thuốc, tôi vẫn ủng hộ cuốn sách và cách tiếp cận tâm lý mà nó khuyến khích. Tôi đã thấy nhiều cá nhân sử dụng cuốn sách này để bỏ hút thuốc không phải chỉ là bỏ đi việc hút thuốc mà còn bỏ hẳn thói quen hút thuốc trong tâm lý.

Tiến sĩ John Briffa là một bác sĩ tại London, một người quan tâm đến dinh dưỡng và y học tự nhiên. Trang web của ông là DrBriffa.com

(http://vietdaikynguyen.com/v3/68907-mot-cach-de-dang-de-cai-thuoc-la/)

Edited by user Sunday, July 19, 2015 6:39:32 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
39 Pages«<36373839>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.