Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages<1234>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#21 Posted : Wednesday, April 6, 2011 4:22:19 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Câu Chuyện Sức Khỏe: Bệnh rất lạ xuất hiện ở Trung quốc với các triệu chứng rất giống AIDs nhưng không phải là bệnh này


Monday, 04 April 2011 16:00

Cali Today News - Trong một khách sạn nhỏ thuộc Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Chống Dịch Bệnh Bắc Kinh, một ký giả của báo New Express Daily, ăn mặc y phục cách ly, phỏng vấn khoảng một chục bệnh nhân ‘bất thường’ từ nhiều miền ở TQ đổ về.

Các triệu chứng của họ là ‘đau nhức và gầy sút thấy rõ giống hệt bệnh AIDS’, nhưng kỳ lạ sau nhiều thử nghiệm với vi khuẩn HIV, họ đều cho kết quả âm tính. Lin Jun, một trong các bệnh nhân được phỏng vấn ngày 24 tháng 3 vừa qua, cho hay anh là người ‘lực lưỡng to chắc’, vậy mà bây giờ chỉ là ‘da bọc xương’

Lin được tất cả các bệnh nhân cùng bệnh gọi là ‘anh cả’ vì tính tình tử tế và luôn cổ động cho họ, vào những khi họ cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng và có nhiều người thậm chí muốn tự sát.

Năm 2008, mẹ của Lin được truyền máu tại một bệnh viện. Sau đó bà luôn xuất mồ hôi đêm, tay chân rã rời, đau nhức toàn thân, các khớp xương kêu răng rắc, ngứa ngáy hai tay và giảm cân rất rõ. Vào tháng 5 năm đó, bất ngờ Liu bị lây từ mẹ do một tai nạn có dính đến máu của bà. Chỉ 14 ngày sau, anh ngã bệnh với các triệu chứng y hệt mẹ của anh.

Ngoài ra anh bắt đầu nôn mửa sau mỗi bữa ăn và mặt bên trái sưng húp lên. Chỉ trong vòng 6 tháng, từ một trung niên vạm vỡ nặng 82 kí lô, anh chỉ còn cân nặng có 52 kí. Ba tháng sau đó, vợ và con anh cũng bắt đầu có những triệu chứng y hệt như anh.

Lin nói anh đã đi tất cả các bệnh viện lớn ở Thượng Hải nhưng không ai lần ra được căn bệnh chính xác của anh là gì. Anh đã được thử nghiệm với HIV đến 8 lần và lần nào kết quả cho ra cũng âm tính!

Sau đó anh khám phá trên mạng Net có một blog có tên là “The Negative Group” (Nhóm Âm Tính), có nghĩa là “Âm Tính với HIV”. Những người viết trên trang mạng này đều là những người có bệnh ‘kỳ lạ’ như anh, với cùng các triệu chứng và đang tuyệt vọng tìm một cách chữa chạy hiệu quả.

Nhiều phương tiện truyền thông TQ bắt đầu loan tin là Sở Y Tế tỉnh Quảng Đông xác nhận nhiều người dân ở Bắc Kinh, Thượng Hải và của Quảng Đông đã ngã bệnh vì một loại virus bí ẩn. Tất cả bệnh nhân đều nghĩ họ đã dính HIV nhưng các thử nghiệm của họ đều âm tính.

Tỉnh Quảng Đông đã điều hợp các chuyên gia y tế, các nhà tâm lý, các nhà dịch tể học để cùng tìm ra một giải pháp. Bộ Y Tế TQ loan báo tiến hành nhiều nghiên cứu dịch tể học với một số bệnh nhân từ Bắc Kinh, Thượng Hải, Zheijiang, Hồ Nam, Giangsu và Quảng Đông.

Trong số 30 trường hợp mà báo New Express Daily phỏng vấn và cho đăng bài phóng sự ngày 24 tháng 3, đa số các bệnh nhân cho hay thân nhân bạn bè của họ cũng đã bị lây nhiễm, có nhiều người qua đường sinh hoạt tình dục.

Tuy không phải là bệnh AIDS, nhưng loại bệnh kỳ dị nói trên rất dễ phát tán qua đường dung dịch lỏng của người bệnh, chỉ cần hôn nhau (qua miệng), xài chung đồ dùng như khăn tắm, bàn chải và thậm chí khi giao hợp có mang dụng cụ phòng ngừa vẫn có thể bị như thường.

Một khi vào cơ thể, có vẻ virus tấn công hệ miễn nhiễm liền, với hậu quả là số lượng bạch huyết cầu giảm đột ngột và cơ thể phòng vệ chống các loại bệnh truyền nhiễm khác rất yếu ớt. Đa số bệnh nhân lúc mới phát bệnh cứ ngỡ họ bệnh cúm.

Điểm nguy hiểm của loại bệnh mới bí ẩn là các bệnh nhân chỉ được thử nghiệm virus HIV, nên khi biết kết quả âm tính, họ không còn phòng ngừa với người thân nữa, vì thế mới có nhiều thân nhân và bạn bè bị lây nhiễm thêm.

Hồng Quang theo the Epoch Times

Edited by user Wednesday, April 6, 2011 8:46:04 PM(UTC)  | Reason: font color change

xuan hoang  
#22 Posted : Wednesday, April 6, 2011 6:04:28 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Ô nhiễm hóa chất và bệnh tự kỷ (autism)



UserPostedImage



Bệnh tự kỷ (autism) hiện nay đang là một đề tài rất quan trọng được bàn cãi ở Mỹ. Hiện nay có nhiều thống kê khác nhau về căn bệnh này, mỗi ngày càng nhiều hơn. Trước đây có thống kê cho rằng khoảng 1/250 trẻ em bị mắc phải nhưng gần đây thống kê của CDC cho biết là có thể lên tới 1/100, một tỷ lệ quá lớn và sẽ tạo nên một gánh nặng ghê gớm cho ngân sách Y tế Mỹ và gia đình có con cái bị chứng bệnh này.


Autism là gì?

Căn bệnh này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1943 và sau đó thì được nghiên cứu nhiều hơn, nhất là mấy năm gần đây khi các triệu chứng được xác tiêu chuẩn hóa chính xác hơn khiến việc định bệnh (diagnosis) dễ dàng hơn. Mấy năm gần đây con số trẻ em bị bệnh tự kỷ gia tăng rất cao, có thể vì định bệnh chính xác hơn, bệnh được nghiên cứu nhiều hơn nhưng cũng có một số khoa học gia cho rằng vì nạn ô nhiễm môi sinh, ô nhiễm thực phẩm hoặc nước uống, dụng cụ làm bếp.. bởi hóa chất làm cho căn bệnh này gia tăng và đây là một vấn đề hết sức quan trọng cần được lưu tâm nhiều hơn vì bệnh autism cho đến nay vẫn chưa có thuốc chữa và phần lớn phải dùng tâm lý trị liệu hết sức tốn kém và lâu dài.

Đây là một căn bệnh của trẻ em thường xuất hiện rất sớm khi đứa trẻ được trên 12 tháng hoặc có khi phát triển bình thường rồi tự nhiên các chức năng về tâm lý, ngôn ngữ thay đổi bất thường. Trình độ khác biệt rất xa, có những em chỉ bị nhẹ và có thể sinh hoạt, học hành gần như bình thường, có những trường hợp nặng làm cho đứa trẻ không thể sinh hoạt trong xã hội và gia nhập tập thể..


UserPostedImage



Triệu chứng gồm có những trở ngại về ngôn ngữ như chậm nói, sau 12 tháng vẫn chưa biết nói hoặc trở nên lầm lỳ, tránh giao thiệp, ứng đối với cha mẹ, anh em, bạn bè hoặc đôi khi ăn nói những câu vô nghĩa.
Trở ngại về đời sống xã hội. Nặng thì có thể trở nên cô lập hoàn toàn, sống riêng rẽ, không nghe, không nhìn, không nói.. còn nhẹ thì có thể bị coi là nhút nhát, e dè.

Một số có thể có những cử chỉ khác thường, máy móc vô nghĩa như gõ đập, múa may, lắc lư hoặc quậy phá lung tung bất thường..
Phần lớn các trẻ bị chứng autism thường học rất kém, không bình thường và sau này trở thành một gánh nặng cho xạ hội. Có một thiểu số rất nhỏ bị autism rất nặng, tâm trí gần như hoàn toàn tê liệt nhưng lại có một vài tài năng vô cùng xuất chúng trong lãnh vực âm nhạc và nhất là toán học. Các em này có khả năng làm được những bài toán cực kỳ phức tạp, khó khăn bên cạnh một trí nhớ siêu phàm về các cuốn lịch cũng như thời tiết cả chục năm về trước mà chỉ có máy điện toán cực mạnh mới làm nổi.

Có một vài trường họp các em không hề được học về âm nhạc, điêu khắc, hội họa nhưng chỉ cần nghe qua một lần cũng có thể chơi được những bản nhạc cổ điển khó khăn nhất hoặc làm được những tác phẩm nghệ thuật xuất chúng. Có những trường hợp trẻ em bị autism không biết đọc, biết viết bình thường nhưng có thể nhớ được cả một cuốn niên giám điện thoại sau khi đọc qua có 1 lần..
Hiện tượng này gọi là "idiot savant" được quay thành phim Rainman do tài tử Dustin Hoffman đóng và được giải Oscar! Cho đến nay khoa học vẫn chưa giải thích được hiện tượng những trường hợp autism lạ lùng này..

Khoảng 1% các trường hợp autism có nguyên nhân di truyền do một vài genes chưa được tìm ra. Những gia đình có con em bị autism thì tỷ lệ cao hơn có thể lên tới 11 %. Cha mẹ lớn tuổi mới sinh con cũng có tỷ lệ autism cao hơn.
Các Bác sĩ đang cố gắng tìm tòi ra những nguyên nhân gây bệnh để tìm cách phòng ngừa căn bệnh khó khăn và tốn kém này..
Một trong những giả thuyết được bàn cãi nhiều trước đây là quan hệ giữa bệnh autism và thuốc chủng ngừa MMR nhưng giả thuyết này đã bị phủ nhận hoàn toàn, không còn được công nhận nữa.

Ô nhiễm môi sinh và chất phtalates...

BS Philip Landrigan thuộc Đại Học Mt Sinai School of medicine vừa làm một báo cáo mới đăng trên tạp chí Current Opinion of Pediatrics cho rằng chứng autism có thể bị gây ra bởi việc não bộ của bào thai bị nhiễm độc bởi một số hóa chất do người mẹ bị nhiễm phải khi mang thai, có thể dưới hình thức thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất hoặc những dụng cụ nấu bếp, tồn trữ thực phẩm bị nhiễm độc bởi chất phthalate.

BS Landrigan tin tưởng là bệnh autism và một số căn bệnh khác có nguyên nhân do tình trạng não bộ của bào thai bị nhiễm độc bởi một số hóa chất. BS nói rằng “nếu não bộ của bào thai đang trong thời kỳ tăng trưởng hoặc của đứa trẻ vừa mới ra đời bị nhiễm phải chất độc thì có thể sẽ bị ảnh hưởng suốt đời..”

Trước đây Y học đã khám phá ra một số trường hợp autism ở những trẻ em mà người mẹ đã lỡ dùng phải một vài dược phẩm trong khi mang thai như trường hợp của thuốc thalidomide, misoprostol, valproic acid.

Những trường hợp thường xảy ra khi bào thai mới được 3 tháng là thời gian mà não bộ bắt đầu thành hình và tăng trưởng trong bụng mẹ.

Một số trường hợp tật nguyền bẩm sinh của não bộ cũng xảy ra khi người mẹ đang mang thai bị nhiễm phải bệnh do siêu vi gây ra như chứng bệnh German measles hoặc chất độc Da Cam (Agent Orange). Gần đây một vài hóa chất như acrylamide, bisphenol đã bị cấm ở Âu châu vì gây ra ung thư hoặc tổn hại cho thần kinh và ở Mỹ đã có một vài nơi cấm dùng chất này.
Y học đã ghi lại những trường hợp nhiễm độc do chất chì, chất thủy ngân, chất cadmium..nhưng phải một thời gian khá lâu mới được xác nhận trong khi hàng ngàn, hàng vạn trường hợp nhiễm độc đã bị gây ra.
Một số chai lọ, hộp đồ nhựa, bát đĩa bằng plastic để dùng trong các lò microwave cũng có chất phtalates.


Thượng Nghị Sĩ Frank Lautenberg (N J) đang đưa ra một dự luật gọi là Toxic Substances Control Act vì trên 80000 hóa chất trong công nghiệp thì hiện nay cơ quan EPA mới khảo sát có 200 hóa chất mà thôi.

Một trong những hóa chất đang được nghiên cứu hiện nay là chất phtalates thường có trong nước hoa, keo xịt tóc, thuốc sơn móng tay, thuốc gội đầu, mỹ phẩm.. Một vài khảo cứu trên những phụ nữ mang thai có nồng độ phtalates cao trong nước tiểu thì tỷ lệ trẻ em bị autism cao hơn mức bình thường.

BS Alan Goldberg, Đại Học Johns Hopkins tin rằng sự gia tăng một số chứng bệnh ung thư và bệnh autism có thể do một số hóa chất trong công nghiệp nhựa dẻo gây ra. Vì thế trong khi chờ đợi có thêm những bằng chứng về bệnh autism có thể do chất phtalates trong các mỹ phẩm, thuốc sơn móng tay trong ngành “làm nail” mà hiện nay 99 % do người Việt Nam độc chiếm ở Mỹ thì những bà mẹ đang mang thai chỉ nên dùng những loại mỹ phẩm được xác nhận là phtalates- free 100 %..



BS Vũ văn Dzi, MD., Chuyên Khoa Nội Thương


TAGS: Bệnh tự kỷ (Autism), phtalates, Acrylamides, Chất độc da cam (Agent Orange)
UserPostedImage
thunder  
#23 Posted : Thursday, April 7, 2011 8:47:46 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Thuốc có chứa chất PHENYLPROPANOLAMINE đều bị thu hồi



Ref. links
:

http://iicph.org/phenylpropanolamine

http://altnews.com.au/drop/node/111

Drug Recall - Very Serious



Tất cả những loại thuốc có chứa chất PHENYLPROPANOLAMINE đều bị thu hồi vì nó sẽ làm cho chảy máu ơ trong óc. Duới đây là danh sách những loại thuốc có chưá chất này và trong số đó có chứa cả thuốc cho trẻ em nữa.

PLEASE READ, THIS COULD SAVE LIVES


MAKE SURE YOU PASS THIS ON TO EVERYONE IN YOUR EMAIL LIST EVEN IF THEY DON'T HAVE KIDS. THEY MIGHT HAVE FAMILY MEMBERS THAT HAVE KIDS.
Drug Recall - Very Serious
CONFIRMED BY: SNOPES.COM& FDA
All drugs containing PHENYLPROPANOLAMINE are being recalled.
STOP TAKING anything containing this ingredient. It has been linked to increased hemorrhagic stroke (bleeding in brain)
among women ages 18-49 in the three days after starting use of medication The FDA recommended that everyone (even children) seek alternative medicine.
The following medications contain Phenylpropanolamine:
Acutrim Diet Gum Appetite Suppressant
Acutrim Plus Dietary Supplements
Acutrim Maximum Strength Appetite Control
Alka-Seltzer Plus Children's Cold Medicine Effervescent
Alka-Seltzer Plus Cold medicine (cherry or orange)
Alka-Seltzer Plus Cold Medicine Original
Alka-Seltzer Plus Cold & Cough Medicine Effervescent
Alka-Seltzer Plus Cold & Flu Medicine
Alka-Seltzer Plus Cold & Sinus Effervescent
Alka-Seltzer Plus Night-Time Cold Medicine
BC Allergy Sinus Cold Powder
BC Sinus Cold Powder
Comtrex Flu Therapy & Fever Relief
Day & Night Contac 12-Hour Cold Capsules
Contac 12 Hour Caplets
Coricidin D Cold, Flu & Sinus
Dexatrim Caffeine Free
Dexatrim Extended Duration
Dexatrim Gelcaps
Dexatrim Vitamin C/Caffeine Free
Dimetapp Cold & Allergy Chewable Tablets
Dimetapp Cold & Cough Liqui-Gels
Dimetapp DM Cold & Cough Elixir
Dimetapp Elixir
Dimetapp 4 Hour Liquid Gels
Dimetapp 4 Hour Tablets
Dimetapp 12 Hour Extendtabs Tablets
Naldecon DX Pediatric Drops
Permathene Mega-16
Robitussin CF
Tavist-D 12 Hour Relief of Sinus & Nasal Congestion
Triaminic DM Cough Relief
Triaminic Expectorant Chest & Head
Triaminic Syrup Cold & Allergy
Triaminic Triaminicol Cold & Cough

I just found out and called the 800# on the container for Triaminic and they informed me that they are voluntarily recalling the following medicines because of a certain ingredient that is causing strokes and seizures in children

Orange3D Cold &Allergy Cherry (Pink)
3D Cold &Cough Berry
3D Cough Relief Yellow 3D Expectorant

They are asking you to call them at 800-548-3708 with the lot number on the box so they can send you postage for you to send it back to them, and they will also issue you a refund. If you know of anyone else with small children,

PLEASE PASS THIS ON.. THIS IS SERIOUS STUFF!
DO PASS ALONG TO ALL ON YOUR MAILING LIST so people are informed. They can then pass it along to their families.


To confirm these findings please take time to check the following:
http://www.fda.gov/cder/drug/infopage/ppa/

PLEASE PASS THIS ON TO YOUR CHILDREN IN CASE THEY GIVE IT TO THEIR CHILDREN OR TO FRIENDS WHO HAVE CHILDREN AND GRANDCHILDREN
xuan hoang  
#24 Posted : Thursday, April 7, 2011 6:33:24 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU (Urinary Tract Infection)



Nhiễm trùng đường tiểu rất hay làm phiền phái nữ. Ở Mỹ, tính chung, mỗi năm phụ nữ đi khám bác sĩ khoảng 8 triệu lần vì nhiễm trùng đường tiểu, và ít nhất, có 100.000 trường hợp phải vào bệnh viện để chữa trị.

Nhiễm trùng đường tiểu bắt đầu đến thăm phụ nữ ở tuổi học trò (schoolgirl), rồi xảy ra nhiều nhất trong khoảng tuổi 20 đến 50, khi đời sống tình dục người phụ nữ ở mức độ phong phú nhất.

Đường tiểu là cơ quan bài tiết nước tiểu, từ trên xuống dưới gồm hai quả thận, hai ống dẫn tiểu (ureters: dẫn nước tiểu từ hai quả thận xuống bọng đái), bọng đái, ống dắt tiểu (urethra: dắt nước tiểu từ bọng đái ra lỗ tiểu) và ngoài cùng là lỗ tiểu. Ống dắt tiểu ở đàn ông dài, ngoằn ngoèo, ngược lại ở phụ nữ, thẳng và ngắn, chỉ khoảng 4 cm. Đường tiểu nhiễm trùng khi vi trùng (bacteria) từ ngoài xâm nhập lỗ tiểu, đi ngược lên bọng đái qua ống dắt tiểu.

Lúc vi trùng xâm nhập và tấn công bọng đái, người phụ nữ có những triệu chứng của bệnh nhiễm trùng bọng đái cấp tính (acute cystitis). Chúng ta bảo: đây là nhiễm trùng đường tiểu dưới. Không chữa trị, các vi trùng bò ngược lên các ống dẫn tiểu (ureters), đến thận, tạo bệnh nhiễm trùng thận (pyelonephritis). Trường hợp này là nhiễm trùng đường tiểu trên. Nguy hiểm hơn, vi trùng từ thận có thể vào máu gây nhiễm trùng máu, và theo máu tới tấn công các cơ quan khác.

Vì sao phụ nữ dễ nhiễm trùng đường tiểu?

Tại sao phụ nữ hay nhiễm trùng đường tiểu hơn nam giới trong khoảng tuổi 20-50? Có nhiều lý do giải thích việc này:
·
Ống dắt tiểu của phụ nữ vừa ngắn, lỗ tiểu lại nằm ngay phía trước âm đạo (vagina). Hậu môn (anus) cũng gần ngay đó, đằng sau âm đạo một chút. Bình thường, lúc nào cũng có sẵn các vi trùng, vi trùng bạn và vi trùng thù, sinh sống quanh vùng hậu môn, âm đạo và lỗ tiểu. Trong lúc giao-hợp (intercourse), khi ống dắt tiểu bị chà xát, vi trùng có sẵn quanh đó, như con E. coli chẳng hạn, dễ xâm nhập lỗ tiểu, rồi đi ngược lên ống dắt tiểu và xâm nhập bọng đái. (Đi tiểu ngay sau khi giao-hợp có thể làm giảm nhiễm trùng đường tiểu, vì giúp “ đuổi ” bớt các vi trùng đã xâm nhập bọng đái trong lúc giao hợp.)
·
Thế giới quanh ta là một chung sống hoà bình giữa “ thù ” và “ bạn ”. Nói đến vi trùng (bacteria), ta nghĩ ngay đến những kẻ thù nguy hiểm mắt ta không thấy, chỉ chực tấn công và phá rối cuộc sống yên lành của ta. Thực ra, ta cũng có những người bạn tốt, những vi trùng tốt gọi là “ normal flora ”, ngày đêm sống chung và canh chừng bọn vi trùng xấu hộ ta.

Đã bao lần ta phản bội những người bạn đáng yêu, giết chết những đồng minh trung thành này khi dùng trụ sinh không đúng cách. Như lúc nhiễm cảm, cúm do siêu-vi-trùng (virus), các sinh vật trụ sinh không giết được, nhiều người chúng ta vẫn hay dùng trụ sinh, nghĩ trụ sinh sẽ đuổi cảm, cúm đi mau hơn. (Có vị trong nhà lúc nào cũng trữ Ampicillin, bị gì cũng đem một, hai viên ra uống... “ cho yên tâm ”. Như dùng thuốc an thần.)

Chung quanh hậu môn, âm đạo và lỗ tiểu, như nhiều nơi khác trong cơ thể ta, luôn có sẵn các vi trùng bạn và thù chung sống hòa bình. Trụ sinh, dùng để chữa một bệnh nhiễm trùng, hoặc dùng lung tung không cần thiết, có thể giết nhầm những người bạn tốt, để các vi trùng xấu tha hồ tác yêu tác quái, gây nhiễm trùng đường tiểu khi gặp cơ hội. Cùng một cơ chế, thuốc giết tinh trùng đặt trong âm đạo để ngừa thai (spermicide), cũng có thể giết bớt các vi trùng tốt. Người ta còn nghĩ rằng thuốc ngừa thai, màng chắn ngừa thai đặt tại âm đạo (diaphragm) làm thay đổi tính chất của các vi trùng tốt, khiến chúng yếu đi, không đủ sức làm nhiệm vụ canh phòng.

Từ 2% đến 8% phụ nữ mang thai nhiễm trùng đường tiểu. Đặc biệt, phụ nữ mang thai hay bị thể nhiễm trùng đường tiểu nặng hơn phụ nữ không mang thai, tức thể nhiễm trùng thận (đường tiểu trên). Khi mang thai, vì nhiều yếu tố khác nhau, đường tiểu làm việc trì trệ, chậm hơn bình thường. Đâu có hiện tượng ứ đọng, đó dễ nhiễm trùng hơn nơi khác.
Phụ nữ mang thai nhiễm trùng đường tiểu dễ sanh non, nhất là khi nhiễm trùng thận. Trẻ sanh ra cũng dễ chết hơn các trẻ sanh bởi các bà mẹ không nhiễm trùng đường tiểu.

Ngoài ra, ở cả hai phái nam và nữ, bất cứ tình trạng tật bệnh nào làm nước tiểu ứ đọng (do có bướu, sạn thận, đường tiểu hẹp, to tuyến nhiếp-hộ ở đàn ông trên 50 tuổi, bọng đái làm việc bất thường sau tai biến mạch máu não, ...) đều có thể gây nhiễm trùng đường tiểu. Trong những trường hợp nhiễm trùng thận vì nước tiểu ứ đọng do các tình trạng tật bệnh kể trên, thận bị vi trùng tàn phá nhanh hơn bình thường. Cho nên, để cứu vãn quả thận đang trong tình trạng kêu cứu, không những phải chữa nhiễm trùng bằng trụ sinh, mà ta cần khám phá và nếu có thể, sửa chữa các tình trạng tật bệnh gây sự ứ đọng nước tiểu.

Định bệnh

Khi nhiễm trùng đường tiểu dưới (nhiễm trùng bọng đái), bạn có triệu chứng đi tiểu nhiều lần. Mới xong, chút xíu lại muốn đi nữa. Nước tiểu không ra nhiều mỗi lần đi tiểu. Đã thế, còn đi tiểu đêm, đau (rát, nóng) lúc đang tiểu hay lúc sắp tiểu xong.
Đồng thời, khác với bình thường, bạn cảm thấy rất khó nín tiểu, mót tiểu là phải đi ngay. Vùng bọng đái phía bụng dưới bạn đau, khó chịu. Nước tiểu bạn đục, hôi, lắm khi có máu. Tưởng do “ nóng ” trong người nên bỏ qua, không đi bác sĩ, khi vi trùng đã lên đến thận gây nhiễm trùng đường tiểu trên, bạn thêm nóng sốt (có thể cao đến 103 độ F), lạnh run, nhức mỏi khắp người, buồn nôn, ói mửa và tiêu chảy. Bạn đau một bên lưng dưới, vùng thận. Triệu chứng xảy ra nhanh chóng trong vòng vài giờ, một ngày. Giai đoạn này, với triệu chứng nóng sốt và lạnh run, có người tưởng mình sốt rét. Có vị tưởng mình ăn trúng độc vì buồn nôn ói mửa, tiêu chảy.

Điểm đáng lưu ý: thường bệnh tiến triển như trên, các triệu chứng của nhiễm trùng đường tiểu dưới trước, sau đến triệu chứng của nhiễm trùng đường tiểu trên. Nhưng cũng có người đột nhiên bị nhiễm trùng đường tiểu trên (nhiễm trùng thận) mà không hề có triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu dưới (nhiễm trùng bọng đái) xảy ra trước đó vài ngày.

Khi được thăm khám, người nhiễm trùng thận cảm thấy đau lắm khi bác sĩ sờ nắn hay dùng tay đấm nhẹ vào vùng thận.
Cũng như với các bệnh khác, định bệnh nhiễm trùng đường tiểu dựa vào bệnh sử (lời kể bệnh của bạn), thăm khám, và thử nghiệm. Thử nghiệm quan trọng nhất là xem nước tiểu dưới kính hiển vi (urinalysis) và cấy trùng nước tiểu (urine culture).

Đa số các trường hợp (80%), kẻ thù của những phụ nữ nhiễm trùng đường tiểu là vi trùng E. coli (đọc “I-cô-lai”). 20-30% các vi trùng E. coli đã lờn mặt Ampicillin, coi Ampicillin như... pha. Gần đây, một số bọn chúng còn coi thường cả Septra, Bactrim, những thuốc rất tốt để chữa nhiễm trùng đường tiểu ngày trước.

Sau E. coli, nhiều vi trùng khác cũng bắt chước, gây nhiễm trùng đường tiểu: Staphylococcus saprophyticus, Kebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis, Enterococcus faecalis, P. aeruginosa, Enterobacter cloacae, Citrobacter, ... Mỗi con lại
" chịu ” một vài trụ sinh khác nhau, và đa số đã kháng Ampicillin.

Chữa trị

Sự trị liệu rất khác biệt, tùy từng trường hợp nhiễm trùng đường tiểu.

1. Nhiễm trùng bọng đái cấp tính (acute cystitis):

Hiện thuốc tốt để chữa là Cipro, uống chỉ 3 ngày nếu bạn đến khám bác sĩ sớm. Bạn đến khám sau một tuần; bạn đang dùng màng chắn ngừa thai (diaphragm); bạn mang bệnh tiểu đường; bạn mới nhiễm trùng đường tiểu gần đây, nay bị lại; bạn có sạn thận, hay những bất thường trong đường tiểu, ..., ta nên cấy trùng nước tiểu để nhận diện vi trùng, rồi dùng trụ sinh đủ 7 ngày cho chắc ăn.

Chữa 3 hay 7 ngày như vậy, trong vòng 2 tuần sau khi chữa, rủi bạn có triệu chứng bất thường nữa, ta nên cấy trùng nước tiểu lại, rồi dùng đúng loại trụ sinh vi trùng còn “ chịu ” (sensitive) đến 2 tuần hay hơn. Bác sĩ cũng khuyên, nếu bạn đang ngừa thai bằng thuốc giết tinh trùng đặt trong âm đạo (spermicide), hoặc màng chắn ngừa thai (diaphragm), có lẽ bạn nên đổi, dùng cách ngừa thai khác để tránh nhiễm trùng tái phát.

2. Nhiễm trùng thận cấp tính (acute pyelonephritis):

Nếu triệu chứng của bạn không nặng lắm bạn vẫn uống thuốc được, sau khi lấy nước tiểu gửi phòng thí nghiệm để xem dưới kính hiển vi (urinalysis) và cấy trùng (urine culture), bác sĩ sẽ cho bạn dùng trụ sinh (Cipro, Levaquin, Noroxin, ...) và xem lại bạn trong vòng vài ngày. Thuyên giảm, bạn tiếp tục dùng trụ sinh đến 10-14 ngày, không thuyên giảm, bạn... vào nhà thương.

Còn trông bạn nặng quá, sốt trên 102 độ, ói mửa, ... nên không dùng thuốc uống được, bác sĩ sẽ khuyên bạn vào nhà thương để chữa trị bằng trụ sinh truyền qua đường tĩnh mạch (thuốc Cipro, hoặc Levaquin, Rocephin, Ofloxacin, Norfloxacin...). Nếu sau vài ngày, bạn vẫn sốt cao và không thuyên giảm, bác sĩ sẽ cho chụp phim hoặc làm siêu âm thận để tìm xem có gì lạ chăng, chẳng hạn sạn thận, bọc mủ quanh thận, ... khiến sự chữa trị không hiệu quả.

Điểm quan trọng cần nhớ:

Dù thuyên giảm và được cho về để tiếp tục trụ sinh ở nhà, bạn cần uống trụ sinh đúng chỉ dẫn và dùng thuốc đủ 2 tuần. Sau 2 tuần, bạn nhớ đến tái khám và thử nước tiểu lại. Tùy kết quả thử tiểu, sự trị liệu xem như đã đủ hoặc có thể sẽ tiếp tục, có khi đến 6 tuần lễ.

Phòng ngừa. Làm thế nào để ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu?

Sau khi giao hợp, bạn uống nước và đi tiểu sớm, để “ đuổi ” bớt các vi trùng xâm nhập ống dắt tiểu và bọng đái trong lúc giao hợp.

Chữa trị đến nơi đến chốn lúc nhiễm trùng đường tiểu lần đầu.

Nếu bị đi bị lại nhiều lần (quá 2 lần mỗi 6 tháng), và các lần nhiễm trùng đều xảy ra vài ngày hay trong vòng 1 tuần sau giao hợp, chữa trị cho sạch vi trùng trong nước tiểu, rồi bác sĩ sẽ biên toa cho bạn mua một loại trụ sinh (Septra, Keflex, hoặc thuốc mà con vi trùng thích làm khổ bạn chưa kháng)... để sẵn đầu giường. Sau mỗi lần giao hợp, bạn uống một viên để ngừa nhiễm trùng tái phát. Cách ngừa bằng... thôi không giao hợp nữa, chẳng thực tế, không khéo lại làm mất hạnh phúc gia đình bạn.
Nếu bệnh nhiễm trùng đường tiểu của bạn hay tái phát, nhưng không do giao-hợp, sự phòng ngừa bằng trụ sinh có khác hơn phương pháp phòng ngừa vừa nêu trên. Bác sĩ sẽ khuyên bạn dùng thuốc mỗi ngày hay 3 ngày mỗi tuần.

Còn đàn ông thì sao?

Đàn ông chúng ta ít bị nhiễm trùng đường tiểu trước tuổi 50. Sau tuổi 50, nhiễm trùng đường tiểu có thể xảy ra do tuyến nhiếp hộ (tuyến nằm ngay phía dưới bọng đái) to lên, khiến ta đi tiểu không sạch, nước tiểu hay ứ đọng trong bọng đái.
Nói là ít, nhưng trước tuổi 50, ngoài mấy bệnh truyền qua đường tình dục (sexually transmitted diseases, gọi tắt STDs) do... những thú vui ngoài gia đình, đàn ông vẫn có thể nhiễm trùng đường tiểu do vi trùng E. coli. Người dễ nhiễm trùng đường tiểu trước tuổi 50 là người không cắt da qui đầu lúc mới cất tiếng khóc chào đời, người hay làm tình kiểu mấy anh “gay” đồng tính luyến ái (anal intercourse). Cũng có người chân chỉ hạt bột, cơm nhà quà vợ, nhưng vẫn nhiễm trùng đường tiểu do E. coli, chỉ vì con vi trùng này... sinh sống trong âm đạo của vợ.

Trước khi dùng trụ sinh để chữa nhiễm trùng đường tiểu cho... đàn ông, bác sĩ luôn nên cấy trùng nước tiểu, dù nhiễm trùng đường tiểu mới xảy ra lần đầu. Sau đó, trụ sinh (Cipro, Noroxin, Levaquin, ...) được dùng 7-14 ngày. Nếu triệu chứng mau chóng thuyên giảm, thì thôi. Nếu chữa đúng thuốc mà bạn vẫn không khỏi, hoặc bạn bị nhiễm trùng lại, hoặc nhiễm trùng đường tiểu trên (nhiễm trùng thận) xảy ra, có lẽ đường tiểu của bạn có gì bất thường rồi đây: sạn thận, to nhiếp hộ tuyến, thận nằm chỗ bất thường, ... Ta cần tìm hiểu bằng phim chụp thận, hoặc siêu âm, soi bọng đái, ... Có gì bất thường, cái bất thường ấy cần được sửa chữa, chứ không, nhiễm trùng đường tiểu sẽ xảy ra nữa.

Nhiễm trùng đường tiểu có thể nặng và rất tốn kém. Đi tiểu có gì bất thường, bạn đừng tưởng tại nó “nóng” trong người nên bỏ qua, nhưng nên nghĩ đến bệnh nhiễm trùng bọng đái, không chữa biết đâu sẽ thành nhiễm trùng thận, lúc ấy thì lôi thôi lắm.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức


UserPostedImage
khoaitay  
#25 Posted : Thursday, April 7, 2011 10:02:37 PM(UTC)
khoaitay

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/14/2011(UTC)
Posts: 41
Location: Đất Mẹ

Thanks: 2 times
Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
ĂN KHOAI MÔN TỐT LẮM CHỨ.


Khoai môn là loại thực phẩm rất phổ biến của các dân tộc ven Thái Bình Dương. Khoai môn dùng thêm trong bữa ăn càng làm tăng giá trị dinh dưỡng. Khoai môn thường dùng để thay thế khoai tây trong những món như cà ri, ragu…

Cũng như những loại rau củ khác, khoai môn rất tốt cho người đang kiêng chất béo. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), cứ một chén khoai môn luộc (132 gam) cung cấp 187 calori và chứa lượng chất béo chỉ khoảng 0,1 gam.

UserPostedImage

Đặc tính nổi trội của khoai môn là giàu chất xơ. Cũng theo USDA, cứ một chén khoai môn luộc 132 gam sẽ cung cấp 7 gam chất xơ (chiếm 27% lượng chất xơ được đề nghị cho cơ thể hằng ngày). Chất xơ rất có lợi cho cơ thể vì “hành hiệp” theo thế “song cước”: hỗ trợ hệ tiêu hóa và giảm cholesterol.

Bản thân khoai môn cũng không chứa cholesterol, hàm lượng sodium thấp nhưng lại giàu vitamin, đặc biệt là những loại vitamin quan trọng mà cơ thể cần. Cứ một chén khoai môn 132 gam chứa khoảng 11% lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể mỗi ngày. Khoai môn cũng chứa nhiều loại vitamin khác như vitamin E, B6.

Ngoài vitamin, chất xơ… khoai môn còn chứa rất nhiều khoáng chất như magnesium, phosphorus, potassium (kali). Potassium rất quan trọng cho sự điều hòa chức năng tim và huyết áp. Magnesium giúp chuyển hóa mỡ, chất béo, protein, tăng cường miễn dịch bên cạnh việc hỗ trợ những hoạt động chức năng của tế bào.

DS NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG


Hi...hi..hi Glare hùi nhỏ ăn khoai môn cứ sợ,...nhưng bây giờ thì không rồi...hiiiRollEyes
Yêu lắm mùa thu chiếc lá rơi
Trên cao gió lộng bốn phương trời.
thunder  
#26 Posted : Friday, April 8, 2011 7:57:20 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Tóc bạc


Thursday, April 07, 2011 2:45:46 PM Bookmark and Share

LTS. Mục này chỉ nhằm giải đáp các thắc mắc về sức khỏe có tính cách tổng quát. Cho các vấn đề cụ thể, chi tiết của từng bệnh nhân, xin liên lạc với bác sĩ để được thăm khám trực tiếp. Các tin tức trong mục này và nhiều thông tin thiết thực và bổ ích khác về sức khỏe cũng được phát trên đài New Saigon Radio, 1480AM ở vùng Orange County, California, vào mỗi sáng Chủ Nhật, từ 8 giờ 15 đến 8 giờ 45, trong chương trình Câu Chuyện Sức Khỏe Sáng Chủ Nhật với Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng. Ngoài ra, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng còn có mục “Ðiểm Tin Sức Khỏe” mỗi Thứ Sáu trên báo “Việt Tide” và “Bác Sĩ Ơi” mỗi Thứ Ba trên báo “Việt Herald.”

Hỏi:

-Trong bài kỳ rồi bác sĩ có viết “sống lâu trăm tuổi bạc đầu râu.” Tôi năm nay mới có phân nửa của trăm tuổi mà đầu, râu, lông mũi... đều bạc rất nhiều. Xin cho biết tại sao như vậy? Có cách gì chữa để cho trẻ trung một chút không?

-Tại sao có người già mà vẫn nhìn rất trẻ, còn có người trẻ mà nhìn rất già, đầu tóc bạc, lòm khòm như sắp về trời? Tôi năm nay mới khoảng 40 mà đã bắt đầu thấy tóc bạc, có cách nào để chặn lại hay không?

Ðáp:

Tuổi tác, tình trạng sức khỏe, di truyền và các yếu tố môi trường tất cả đều là những yếu tố ảnh hưởng đến việc tóc bị bạc đi. Trong đó tuổi tác có vẻ là yếu tố quan trọng và thường gặp nhất.

Có người cho rằng tóc bạc là khởi đầu của sự già cỗi. Có người coi nó như là một dấu hiệu của sự từng trải. Nhiều người tin rằng bạc tóc là hậu quả của sự lo âu căng thẳng.

Nếu quan niệm rằng “trẻ” là khả năng có thể hấp thụ được chất bổ, những điều hữu ích, để thay đổi, vươn lên, thì dù bao nhiêu tuổi, tóc xanh hay bạc, đều vẫn “trẻ.”

Còn nếu không biết rút tỉa kinh nghiệm từ cuộc sống, cố chấp, sai bao nhiêu lần vẫn cứ hoàn sai không học được gì, thì dù đầu bạc đến đâu, có “lên voi xuống chó” đến đâu, có lẽ cũng không thể gọi là “từng trải.”

Dù có nhiều truyền thuyết về một số nhân vật chỉ quá lo lắng trong một đêm mà tóc chuyển sang bạc trắng, cho đến nay vẫn chưa có chứng cớ khoa học nào cho thấy rằng sự lo lắng có thể làm thay đổi các tế bào sắc tố khiến cho tóc chuyển màu qua đêm.

Tại sao tóc bạc
?

Tóc bạc bắt đầu khi cơ thể chúng ta ngưng sản xuất một chất tạo ra màu gọi là sắc tố (melanin). Cả mái tóc của chúng ta bao gồm nhiều dải tóc (strands of hair). Mỗi dải tóc mọc ra từ một nang tóc (follicle) trong đó có chứa các tế bào chứa sắc tố gọi là các tế bào sắc tố (melanocytes). Các tế bào sắc tố chuyển sắc tố sang các tế bào tạo ra lớp bọc ngoài của tóc (keratinocytes) làm cho tóc có màu và sáng mượt. Có hai loại sắc tố:

-Eumelanin có màu nâu đậm hay đen.

-Pheomelanin có màu vàng hoe (reddish yellow).

Theo thời gian, số lượng sắc tố trong keratinocytes giảm đi. Tóc bạc đi, đơn giản chỉ là tóc đã bị giảm sắc tố. Khi không còn chút xíu sắc tố nào cả thì tóc bạc trắng. Sự suy giảm sắc tố cũng làm cho tóc bớt mượt đi. Do đó, khi tóc bạc đi, nó cũng trở nên khô và thô hơn.

Tóc bạc đi như thế nào
?

Trong quá trình bạc tóc, các nang tóc tạo ra các dải tóc bạc một cách ngẫu nhiên. Các dải tóc bạc đầu tiên thường xuất hiện ở vùng màng tang (thái dương) và đỉnh đầu. Người ta vẫn chưa rõ tại sao tóc bạc thường bắt đầu ở các khu vực này trước tiên.

Thật ra, mỗi sợi tóc không chuyển từ đen sang bạc. Mỗi ngày, một cách bình thường, bao giờ cũng có một số tóc rụng đi và được thay thế bằng tóc mới. Vào bất cứ lúc nào cũng vậy, khoảng 85 đến 90 phần trăm số lượng tóc của cả mái tóc ở trong tình trạng hoạt động, trong khi phần còn lại trong tình trạng nghỉ ngơi.

Bình thường, mỗi dải tóc phát triển trong vòng hai tới bốn năm. Sau đó, nó sẽ bước vào giai đoạn nghỉ ngơi khoảng hai tới bốn tháng. Cuối cùng, nó sẽ rụng đi và được thay thế bằng tóc mới. Trung bình, mỗi người chúng ta rụng khoảng 50 đến 100 dải tóc mỗi ngày. Tóc đen thường che phủ tóc bạc, khi tóc rụng nhiều trong một thời gian ngắn, như khi bị quá căng thẳng, bệnh nặng, sau khi mổ, số tóc đen bên ngoài rụng đi nhiều làm cho mớ tóc bạc “lòi” ra, khiến cho người ta có cảm giác như là tóc bạc đi chỉ sau một đêm. Các tình trạng bị stress như kể trên có thể làm rụng đi đến 300 dải tóc mỗi ngày.

Khi nào tóc bắt đầu bạc
?

Trong giai đoạn đầu của quá trình bạc tóc, các tế bào sắc tố vẫn hiện diện nhưng không hoạt động. Dần dần, chúng bắt đầu giảm đi. Quá trình bạc tóc tự nhiên này có thể bắt đầu ngay từ lúc mười mấy tuổi. Tuy nhiên, tóc bạc thường bắt đầu được ghi nhận vào lứa tuổi ba mươi ở đại đa số. Một số nghiên cứu cho thấy rằng đàn ông thường bắt đầu có tóc bạc vào khoảng tuổi ba mươi, trong khi ở phái đẹp, tóc thường bắt đầu bớt xanh vào khoảng tuổi băm lăm.

Di truyền cũng là một yếu tố. Ở một số gia đình, nhiều người bắt đầu có tóc bạc vào tuổi 20.

Tuy nhiên, việc khi nào tóc bắt đầu bạc rất khác nhau giữa người này với người khác, sắc dân này với sắc dân khác. Và do đó các chuyên gia về da và tóc cũng như các nhà nghiên cứu về di truyền đã kết luận rằng tuổi tác không phải là yếu tố chính xác nhất để biết được khi nào tóc bắt đầu bạc.

Một số tình trạng có thể là nguyên nhân bạc tóc

Vì thiếu tài trợ cho việc nghiên cứu về vấn đề bạc tóc, người ta vẫn không có nhiều chứng cớ khoa học về chuyện này. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lẻ tẻ cho thấy một số yếu tố có thể góp phần vào việc làm cho tóc bạc:

Thuốc lá: Một nghiên cứu cho thấy rằng những người hút thuốc dễ bị bạc tóc sớm gấp bốn lần so với những người không hút.

Ðôi khi, tóc bạc đi bất thường có thể là dấu hiệu của một số bệnh như:

-Bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia): thường do thiếu sinh tố B12. Ðôi khi liên quan đến việc giảm việc sản xuất các sắc tố.

-Hội chứng Werner (một hội chứng bao gồm các triệu chứng lão hóa vào tuổi 20).

-Bất cứ bệnh nào làm rụng tóc đều làm cho tóc bạc bị “lòi” ra (như đã trình bày bên trên).

-Một số thuốc gây ra rụng tóc cũng làm cho mái tóc nhìn có vẻ bạc đi. Ví dụ như thuốc lithium thường dùng trị bệnh hưng trầm cảm (bipolar disorder), methotrexate thường dùng trị ung thư và viêm khớp dạng thấp.

Tuy nhiên, có một hiện tượng người ta vẫn chưa giải thích được là ở một số bệnh nhân bị rụng tóc bạc do hóa trị liệu (chemotherapy-thường dùng để trị ung thư), khi tóc mọc trở lại, nó có thể lại đen trở lại. Hiện tượng này gợi ý rằng các tế bào sắc tố tạo ra ít sắc tố có thể được kích thích để tạo ra nhiều sắc tố hơn. (Hy vọng hiện tượng này sẽ được nghiên cứu kỹ hơn để chế ra thuốc trị bạc tóc sau này).

Có cách nào trị bạc tóc không?

Nếu bị bạc tóc một cách bất thường do rụng quá nhiều tóc, cách điều trị là trị hoặc tránh các nguyên nhân (nếu có thể được) như đã kể trên.

Trên thị trường, có một số sản phẩm hứa hẹn sẽ làm cho tóc bạc trở lại màu như lúc còn trẻ. Tuy nhiên, cho tới nay chưa có chứng cớ khoa học nào về sự hiệu quả của các loại thuốc này.

Cho tới nay, cách trị bạc tóc duy nhất là... nhuộm tóc thường xuyên. (Tuy nhiên nếu lông mũi cũng bị bạc thì rất khó che giấu).

Bạc tóc có thể là một dấu hiệu (đáng tự hào) của sự từng trải (thật sự). Bạc tóc chưa hẳn là già.

Già (cỗi) hay trẻ (trung) thường được quyết định bằng những gì nằm bên dưới mái tóc.

Thân mến

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng
xuan hoang  
#27 Posted : Sunday, April 10, 2011 4:26:26 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Nữ Giới với Bệnh Tim



UserPostedImage

................

Vì mỗi khi nói đến tình yêu, thì ta lại liên tưởng tới trái tim. Không hiểu từ bao giờ, trái tim đã được coi như trung tâm của suy luận, cảm xúc cũng như biểu tượng của tình yêu, của sự thân thương. Nữ tu bác ái Teresa từng nói : “"A joyful heart is the inevitable result of a heart burning with love." Một trái tim tràn ngập niềm vui là kết quả không tránh được của trái tim nóng bỏng với tình yêu”.

Trái tim của phụ nữ cũng nhiều tình yêu như vậy, mặc dù nó chỉ bé nhỏ bằng bàn tay nắm chặt , nặng có 234 gr, nhẹ hơn trái tim nam những 76 gr. Tuy nhỏ nhưng tim phụ nữ đập nhanh hơn nam 5 nhịp mỗi phút. Và với 80 nhịp/ phút, trái tim bơm gần 3,500 lít máu một ngày vào 170,000 km mạch máu lớn nhỏ để mang oxy, thực phẩm nuôi dưỡng cơ thể. Tim là bộ phận không những quan trọng mà còn cần thiết cho cơ thể, vì khi trái tim ngưng làm việc thì sự sống của con người cũng không còn. Do đó, sách Proverbs 4:23 có nói :

“ Trên hết mọi sự, hãy bảo vệ trái tim vì đây là suối nguồn của sự sống”.

Dông dài như vậy là để nhấn mạnh tới sự thiết yếu nhưng cũng mỏng manh, dễ bệnh hoạn của trái tim khi mà tim ta ngày đêm liên tục làm việc.
Vậy mà theo thống kê, bệnh về tim của nữ giới đã có một thời kỳ lâu dài không được y giới, công luận và chính quý phụ nữ lưu tâm. Đã có nhiều vị ngộ nhận cho rằng mình ít bị bệnh tim mạch hơn là đàn ông. Đúng ra , đây không phải sơ sót từ phụ nữ mà từ các nhà khoa học.

Số là vào thập niên 1950, nghiên cứu do Framingham Heart Study thực hiện đã kết luận là trái tim nữ giới, nhìn chung, được miễn nhiễm với bệnh tim và y giới lập lại, tin theo. Hậu quả của ngộ nhận này là, theo một báo cáo đặc biệt của Hội Tim Hoa Kỳ, chỉ có 21% nữ giới ý thức được rằng bệnh tim là sát thủ số 1 của mình. Về phía y giới thì chỉ có 8% bác sĩ gia đình, 17% bác sĩ tim mạch biết rằng tử vong vì bệnh tim ở nữ giới cao hơn nam giới. (National Study of Physician Awareness and Adherence to cardiovascular Disease Prevention Guidelines." Circulation: Journal of the American Heart Association. 2005 111: 499-510).

Từ đó người ta đã ít bao gồm nữ giới vào các nghiên cứu y khoa học về bệnh tim và đã áp dụng điều trị, phòng ngừa bệnh tim của quý bà quý cô với kết quả nghiên cứu từ người nam.
May mắn là tới thập niên 1980, các nghiên cứu khác đã điều chỉnh sai sót này với chứng minh rằng ở tuổi cao niên , phụ nữ cũng mắc bệnh tim như nam.

Rồi phải đợi tới năm 2001, Viện Y học Hoa Kỳ mới đưa ra kết quả nghiên cứu cho hay có một số khác biệt giữa bệnh tim của nam và nữ, đặc biệt là nguyên lý sinh bệnh, về dấu hiệu.

Thực tế ngày nay đã chứng minh rằng tại Hoa Kỳ:

-tỷ lệ phụ nữ mãn phần vì cơn đau tim dẫn đầu trong số các tử vong ở nữ giới;
-rằng cứ 1 trên 4 phụ nữ chết vì bệnh tim thì tử vong vì ung thư vú thấp hơn, chỉ có 1/30;
-rằng 23% phụ nữ sẽ thiệt mạng trong vòng 1 năm sau khi bị cơn đau tim heart attack và chỉ có 2/3 là phục hồi hoàn toàn ;
-rằng trong vòng 6 năm sau đó thì 46% trong số này rơi vào tình trạng suy tim;
-rằng mỗi năm có 450,000 nữ nhân thiệt mạng vì bệnh tim mạch và 64% nữ nhân bất chợt từ giã cõi đời ra đi vì bệnh tim mà không có dấu hiệu triệu chứng rõ ràng.

Ở tuổi trẻ, phụ nữ tương đối ít bị bệnh tim nhờ được hormon nữ estrogen bảo vệ, nhưng gần tới tuổi mãn kinh thì bệnh xảy ra nhiều hơn. Với nữ nhân tuổi từ 45 tới 64 thì cứ 8 người có 1 người đã mang một loại bệnh tim nào đó và khi tới tuổi 65 thì nguy cơ tăng tới 1 trên 4.
Ngoài ra, nghiên cứu cho hay bệnh tim ở nữ giới có một số khác biệt so với nam giới:

-Ở nam giới, cholesterol quá cao kết tụ thành mảng ở lòng động mạch lớn thì ở nữ giới chúng phân tán mỏng tại các mạch máu nhỏ cho nên xét nghiệm X-quang đôi khi không khám phá ra được. Sự phân tán mỏng này cũng đủ để gây ra trở ngại tuần hoàn nuôi dưỡng tế bào tim.

-Nữ giới thường chần chừ lâu hơn mới tới bệnh viện khi có dấu hiệu cơn đau tim vì cứ cho rằng các dấu hiệu này là do khó khăn tiêu hóa hoặc stress hoặc trì hoãn vì không muốn tạo ra lo lắng cho người thân. Mà khi tới bệnh viện thì các bác sĩ cũng chậm chạp trong việc chẩn đoán, điều trị vì dấu hiệu bệnh không rõ ràng.

-Sau mỗi cơn đau tim, các thuốc đặc trị, đặt stent, phẫu thuật nối cầu động mạch cũng ít được dùng ở bệnh nhân nữ so với nam bệnh nhân.

-Một năm sau cơn đau tim, tỷ lệ tử vong ở nữ là 38% trong khi nam chỉ có 26%.

-Trong mấy tuần lễ đầu sau cơn đau tim thì tỷ lệ tử vong ở nữ cao gấp đôi so với người nam.

-Sáu năm sau suy tim, tình trạng bất lực ở phụ nữ cũng cao hơn nam.

-Tử vong sau phẫu thuật nối cầu động mạch tim ở nữ giới cao hơn nam, nhất là bệnh nhân trong tuổi 49-50.

-Nữ giới thường bị bệnh tim ở tuổi trẻ hơn nam nhưng biến chứng lại tai hại hơn. Riêng phụ nữ đau tim mà hút thuốc lá thì sẽ thiệt mạng ở tuổi trẻ hơn.

Ngày nay bệnh tim của phụ nữ đã được y giới cũng như các tổ chức dân sự lưu ý rất nhiều. Và trong vòng mươi năm vừa qua, rất nhiều phụ nữ cũng đã tham gia tìm hiểu bệnh tình và tìm kiếm điều trị bệnh tim hơn là trước đây.

Tại Hoa Kỳ, tổ chức “ Truth ” Sự Thực về Trái Tim đã liên tục nhắc nhở rằng nữ giới cũng bị bệnh tim như nam giới, đôi khi còn trầm trọng hơn. Họ cũng khích lệ quý bà dành nhiều cố gắng trong việc phòng tránh các rủi ro gây ra bệnh tim mạch. Chiếc áo đầm màu đỏ Red Dress mặc trong tháng 2 hàng năm là biểu tượng cho chiến dịch này. Nó nhắc nhở mọi người rằng Bệnh tim mạch là Sát thủ số 1 ở nữ giới.

Năm 2007, Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đưa ra một hướng dẫn nhấn mạnh tới sự phòng tránh, điều trị bệnh tim ở nữ giới từ tuổi 20 trở lên. Hướng dẫn tập trung đặc biệt vào đời sống lành mạnh, lưu tâm tới các rủi ro gây ra bệnh tim và sử dụng thuốc đúng theo chỉ định.

Những điều cần làm để trái tim được luôn luôn khỏe mạnh, hoàn thành mỹ mãn việc bảo vệ sự sống con người và tiếp tục cho và nhận tình yêu.

Dấu hiệu bệnh tim

Cần thuộc lòng các dấu hiệu chính ở nam cũng như nữ như sau:

1-Cảm giác ĐAU:

-Đột nhiên thấy khó chịu hoặc đau trước ngực, cổ, hàm, vai, tay. Cơn đau kéo dài trên vài phút
-Đau như có gì cháy bỏng, siết ép đè nặng lên ngực.
-Đau không hết khi ngồi nghỉ.

Với nữ giới, cơn đau nhiều khi không rõ ràng: đau khi gắng sức, hết khi nghỉ ngơi.

2-Khó thở, thở hụt hơi

3-Buồn nôn, cảm thấy đầy bụng khó tiêu

4-Đổ mồ hôi, da lạnh, ẩm.

5-Tâm trạng sợ hãi, lo âu


Thấy các dấu hiệu này, Phôn 9-1-1 hoặc điện thoại cấp cứu ngay.

Rủi ro gây bệnh tim mạch

Những rủi ro gây cơn đau tim gồm có:

1-Cao huyết áp, tim phải gắng sức hơn mới đẩy máu vào động mạch, lâu ngày mệt mỏi, suy yếu.

2-Cholesterol trong máu quá nhiều, đóng mảng trong lòng động mạch gây trở ngại lưu thông máu nuôi tim và cơ thể.

3-Tiểu Đường. Phụ nữ mang bệnh tiểu đường có rủi ro bị bệnh tim gấp đôi so với người thường và 2/3 sẽ sớm thiệt mạng vì cơn đau tim, tai biến não. Nguyên nhân chưa được biết rõ, có thể vì cao huyết áp, cao cholesterol…

4-Béo phì, quá ký làm tăng cholesterol, huyết áp đưa tới bệnh tim mạch.

5-Hút thuốc lá làm tim đập nhanh, tăng huyết áp, giảm khả năng chuyên chở oxy của hồng cầu, tăng thán khí có hại trong cơ thể, khiến cho cholesterol dễ kết tụ với tế bào máu đưa tới khối huyết, làm mạch máu co hẹp, tăng sức làm việc của tim.

Ngoài ra stress cũng là rủi ro gây ra bệnh tim mạch bằng cách tăng nhịp tim, tăng huyết áp, gây tổn thương lòng động mạch, cholesterol có cơ hội kết tụ gây ra nghẽn tắc tuần hoàn rồi lại ăn uống quá nhu cầu, đưa tới béo phì.

Phòng tránh

Rất nhiều phụ nữ có thể tránh được bệnh tim mạch nếu họ có những hiểu biết về bệnh, biết đặt câu hỏi liên quan tới bệnh với bác sĩ cũng như nhận được sự hỗ trợ của mọi người trong việc duy trì nếp sống lành mạnh.

Hội Tim Hoa Kỳ đưa ra hướng dẫn như sau:

-Không hút thuốc lá
-Chịu khó vận động cơ thể mỗi ngày 30 phút
-Giảm béo phì qua cân bằng ăn uống. Giữ chỉ số khối cơ thể BMI từ 18.5 tới 24.9 và vòng hông nhỏ hơn 88 cm.
- Ăn nhiều rau, trái cây, giảm chất béo động vật.
-Không uống rượu.
-Giảm căng thẳng tinh thần. Điều trị ngay khi bị trầm cảm.
-Phụ nữ mới thoát khỏi cơn đau tim, cơn đau thắt ngực, đã thông tim, nhận stent cần gia nhập các chương trình tập luyện phục hồi để giảm thiểu tái phát bệnh.

Điều trị

Ngày nay, khoa học đã cống hiến nhiều phương pháp điều trị rất hữu hiệu đối với bệnh tim mạch, NẾU bệnh nhân nhập viện sớm ngay khi có dấu hiệu. Chẳng hạn tắc nghẽn mạch máu nuôi tim vì khối huyết sẽ được khai thông tức thì nếu thuốc đặc trị được dùng trong vòng vài giờ. Cứu bệnh như cứu hỏa. Xin gọi 9-1-1 hoặc điện thoại cấp cứu ngay khi cảm thấy có các dấu hiệu báo động cơn đau tim, bệnh tim mạch. Ở bệnh viện về, dùng thuốc theo đúng hướng dẫn. Tiếp tục các chương trình phòng tránh sự tái phát của bệnh.

Tiện đây xin nhắc về công dụng của viên Aspirin trong phòng tránh bệnh tim, vì nhiều người cũng thắc mắc.
Hội Tim Hoa Kỳ đề nghị (Recommend) Aspirin được dùng cho những người đã từng bị cơn đau tim, cơn đau thắt ngực không ổn định, tai biến vì máu cục, hoặc cơn tai biến thoảng qua, nếu không có chống chỉ định và với mục đích phòng tránh sự tái phát của bệnh. Aspirin cũng được gợi ý (suggest) dùng để phòng tránh các bệnh vừa kể ở những người có rủi ro gây bệnh như cao huyết áp, cholesterol cao, tiểu đường, thân nhân bị bệnh tim. Không nên tự ý dùng Aspirin khi chưa tham khảo ý kiến bác sĩ vì Aspirin cũng có tác dụng phụ đôi khi hiểm nghèo.
Rủi ro và ích lợi của Aspirin thay đổi tùy theo từng người. Nếu đang dùng Aspirin nên cho bác sĩ hay khi nhổ răng hoặc có giải phẫu để tránh xuất huyết quá độ.

Kết luận


Để kết luận, tôi xin mượn ý kiến của nữ bác sĩ chuyên khoa tim mạch Julia Shin, Trung tâm Y Khoa Montefiore, thành phố Nữu Ước:

“ Nữ giới trẻ cũng bị cơn đau tim thường kết thúc bằng tử vong” và “ Nếu bạn là người vận động đều đặn, đang chạy 8,5 km mỗi ngày mà đột nhiên bây giờ chỉ chạy được 1.5 km thì đó là điều cần lưu ý. Nếu bạn thấy buồn nôn, khó chịu dạ dày mỗi khi tập luyện cơ thể thì cũng cần tham khảo ý kiến bác sĩ ngay”.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D., Dallas- Texas

UserPostedImage
thunder  
#28 Posted : Monday, April 11, 2011 6:00:09 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Thuốc lá và tiểu đường: Một kết hợp tai hại


Monday, March 28, 2011 6:05:34 PM

ANAHEIM, California - Nghiên cứu mới nhất được công bố trong cuộc họp hằng năm của American Chemical Society, trong đó cho thấy chất nicotine tìm thấy trong thuốc lá chính là thủ phạm khiến lượng đường trong máu tăng cao nơi người hút thuốc đang mắc bệnh tiểu đường, theo bản tin trên trang mạng webMD.com.

Lượng đường trong máu đều đặn tăng cao đưa đến nguy cơ biến chứng của tiểu đường nghiêm trọng như trụy tim, tai biến mạch máu não, suy thận và hư hại thần kinh.

Tiến Sĩ Xiao-Chuan Liu, nhà nghiên cứu thuộc trường Ðại Học Cal State Polytechnic, Pomona, công bố khám phá của mình trong cuộc họp báo hôm Chủ Nhật, trong đó ông nói: “Những ai có bệnh tiểu đường mà đang hút thuốc thì hãy nên quan tâm đến điều này.”

Tại phòng thí nghiệm ông trưng ra các mẫu máu có nicotine, theo đó nicotine càng cao thì hemoglobin A1c cũng tăng tương ứng, trái với điều nhiều bác sĩ được biết trước đây.

Tuy nhiên theo Bác Sĩ Liu, trước khi có cuộc nghiên cứu, người ta chưa biết được trong hơn 4,000 hóa chất có trong thuốc lá, hóa chất nào mới chính là thủ phạm.

Bác Sĩ Liu trích hồng huyết cầu của bệnh nhân tiểu đường rồi thử nghiệm với glucose và nicotine ở nhiều liều lượng khác nhau.

Ðể đo lường hiệu ứng của nicotine với mức đường trong máu, ông dùng phương pháp thử máu hemoglobin A1c. Lối thử máu này đo lường mức chế ngự đường trung bình trong máu.

Kết quả cho con số càng cao lượng đường trong máu càng trở nên khó chế ngự.

Ông nhận thấy lượng HbA1c tăng từ 9% lên 34%, tùy theo lượng nicotine ít hay nhiều.

Bác Sĩ Liu nói kết quả nghiên cứu này sẽ dùng để khuyên bệnh nhân tiểu đường hãy nên bỏ thuốc. Tuy nhiên ông khuyên không nên dùng sản phẩm giúp cai thuốc như miếng dán có tẩm nicotine.

Theo Hiệp Hội Tiểu Ðường Hoa Kỳ, ở Mỹ có 26 triệu người mắc bệnh tiểu đường, mặc dù 7 triệu trong số họ chưa hề được chẩn đoán. (T.P.)

xuan hoang  
#29 Posted : Monday, April 11, 2011 5:55:11 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


Những cơn đau tim yên lặng (silent heart attack)




UserPostedImage



Trường hợp của viên phi công Craig Lennel, 60 tuổi, bị một cơn đau tim rồi từ trần trong khi đang lái một chuyến bay Boeing 777 của hãng hàng không Continental trên đường bay Brussels - New Jersey, đã khiến cho vấn đề phòng ngừa và điều trị chứng bệnh đau tim yên lặng (silent ischemia) cần phải được nghiên cứu lại. Mặc dù viên phi công phụ đã thay thế Craig Lennel và hướng dẫn phi cơ đáp xuống an toàn tại phi trường Newark (NJ) nhưng vì vấn đề an ninh tính mệnh của các hành khách thì việc bảo trì sức khỏe của người phi công lái máy bay cũng quan trọng như việc bảo trì máy móc của phi cơ trong những chuyến báy liên lục địa.

Sau khi tin Craig Lennel từ trần vì cơn đau tim thì gia đình cho biết là tình trạng sức khỏe của anh ta rất tốt và mỗi năm các phi công hành không dân sự đều phải trải qua hai cuộc khám nghiệm sức khỏe hết sức gắt gao. Hiện nay cơ quan FAA cho phép các phi công trên 60 tuổi vẫn được lái máy bay cho tới 65 tuổi mới phải nghỉ hưu nếu các cuộc khám nghiệm sức khỏe vẫn bình thường.
Tuy vậy hiện nay vẫn còn một số trường hợp bệnh đau tim yên lặng (silent ischemia) mà Y học không thể phát hiện sớm được với những phương tiện dò tìm, screening, hiện nay.

Bệnh đau tim yên lặng


Bình thường khi một cơn đau tim (heart attack) xảy ra thì người bệnh có những triệu chứng báo trước như tức ngực, khó thở, toát mồ hôi lạnh nhưng một số trường hợp thì lại hoàn toàn yên lặng, có khi xảy ra trong giấc ngủ hoặc đang nghỉ ngơi tĩnh dưỡng (xem TV), trồng cây, chơi thể thao, đang lái xe, hoặc như trường hợp của viên phi công Craig Lennel trong khi đang lái máy bay.

Một cơn đau tim xảy ra khi một cục máu đông làm tắc nghẽn một động mạch vành (coronary artery) có nhiệm vụ nuôi dưỡng cơ tim (myocardium) khiến bị hư hoại rồi làm cho quả tim bị ngừng đập vì loạn nhịp hoặc nếu không chết thì để lại những vết thẹo (scar) trên cơ tim và có thể dẫn đến một cơn đau tim khác trong tương lai. Những vết thẹo thường để lại những dấu vết trên điện tâm đồ (EKG).

Những trường hợp đau tim yên lặng nguy hiểm hơn những trường hợp đau tim thông thường vì người bệnh không hay biết gì về bệnh trạng và không đi khám Bác sĩ hoặc làm những thử nghiệm cần thiết để được điều trị đúng mức phòng ngừa một cơn đau tim trong tương lai.

Gần đây các Bác sĩ quan tâm nhiều hơn đến các trường hợp đau tim yên lặng nhưng vì các khảo cứu vẫn còn ít nên vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được giải đáp. Những nguyên nhân gây ra một cơn đau tim yên lặng cũng giống như các trường hợp khác như hút thuốc lá, bệnh tiểu đường, mập phì, cao huyết áp, cholesterol lên cao, thiếu hoạt động thể dục, di truyền,stress. Một số sắc tộc dễ bị đau tim yên lặng hơn người da trắng ví dụ như người da đỏ, Á Đông và nhất là người di dân gốc Ấn độ có tỷ lệ đau tim yên lặng cao nhất nước Mỹ. Nguyên nhân chưa rõ, có thể do di truyền hoặc có thể vì cơ thể người Á Đông không quen với lối dinh dưỡng và nếp sống ở Mỹ, theo một khảo cứu của Đại Học Yale.

Dò tìm bệnh đau tim yên lặng

Một khảo cứu của Đại Học Duke (North Carolina) cho biết là những trường hợp đau tim yên lặng rất phổ biến, còn nhiều hơn cả những trường hợp đau tim bình thường. Mỗi khi một cơn đau tim xảy ra thì thường để lại những dấu vết trên điện tâm đồ (EKG) như là những làn sóng Q wave. Nhưng phần lớn những trường hợp đau tim yên lặng không có làn sóng Q wave.

Đại Học Duke làm một cuộc giảo nghiệm trên 185 người có sức khỏe bình thường, chưa hề bao giờ bị một cơn đau tim nhưng có một số yếu tố có thể gây bệnh như cao huyết áp, hút thuốc, cholesterol lên cao. Các BS dùng một phương pháp cao kỹ là delayed enhancement cardiovascular magnetic resonance để theo rõi trong vòng hai năm và thấy là 35 % đã từng bị một cơn đau tim và những trường hợp đau tim yên lặng nhiều gấp 3 bình thường và không hề có làn sóng Q wave trên điện tâm đồ. Những người này có nguy cơ bị chết vì một cơn đau tim gấp 11 lần bình thường.

Hiện nay chưa có phương pháp dò tìm nào có thể tiên đoán và điều trị một cách thật chính xác một cơn đau tim yên lặng ở một người hoàn toàn bình thường như trường hợp của Craig Lennel, được khám nghiệm kỹ lưỡng hai lần mỗi năm bởi các BS của công ty Continental!

Cuộc khảo cứu của Duke tuy chỉ được thực hiện trên một số nhỏ nhưng giúp cho mọi người ý thức hơn về nguy cơ của chứng bệnh đau tim yên lặng và hy vọng trong tương lai sẽ có những khảo cứu khác chứng minh được những trường hợp nào có thể được phát hiện sớm và có biện pháp điều trị cũng như phòng ngừa và cụ thể hơn là giúp cho các phi công hàng không dân sự hoặc trong Không Quân được khám nghiệm bằng nhưng phương tiện chính xác hơn.

Việc làm này rất quan trọng vì không những liên quan tới tính mạng của hành khách mà còn cả tới lãnh vực quốc phòng nữa ví dụ như giá tiền của một chiếc máy bay chiến lược B2 là 1 tỷ USD mỗi chiếc!
Hiện nay việc điều trị một trường hợp đau tim yên lặng hay có triệu chứng cũng giống nhau là bằng thuốc beta blocker, giảm huyết áp, giảm cholesterol, aspirin. Một số trường hợp có thể phải giải phẫu bypass hay làm thủ thuật angioplasty.

Phòng ngừa

Những phương pháp dò tìm và đề phòng bệnh đau tim do sơ cứng động mạch vành (coronary artery disease) hiện nay chỉ hạn chế ở những thử nghiệm máu bình thường, đo cholesterol (LDL và HDL), C-reactive protein, uric acid, điện tâm đồ (EKG) hoặc làm thêm thủ thuật stress test.

Phương pháp chính xác nhất là làm thủ thuật thông tim (cardiac cath) nhưng dĩ nhiên phương pháp này không thực tế vì tốn kém và gây thương tổn cho bệnh nhân (invasiveness) và chưa được phép làm nếu không có lý do chính đáng.

Phương pháp được “quảng cáo“ khá nhiều gần đây là dùng CT scan đo mức calcium score vì không gây tổn thương (non invasive) chưa được công nhận là chính xác và có thể dẫn đến những sự lạm dụng của giới BS làm những thủ thuật hay giải phẫu by pass không cần thiết!

Hiện nay các BS đều khuyến cáo là việc đề phòng một cơn đau tim, dù yên lặng hay không yên lặng vẫn là quan trọng nhất bằng cách chống lại những yếu tố gây ra chứng sơ cứng động mạch vành, nguyên nhân tử vong hàng đầu ở Mỹ. Thứ nhất là bỏ tật hút thuốc lá, giảm huyết áp, giảm cholesterol, giảm cân nặng, tập thể dục thường xuyên, giảm stress, tĩnh tâm, tập yoga, tăng cường đời sống tinh thần, hoạt động xã hội.

Dĩ nhiên những người có những yếu tố gây bệnh kể trên thì có thể nhờ BS gia đình thẩm định sức khỏe thường xuyên mỗi năm và làm một số thủ thuật như stress test, echocardiogram, khiến có thể phát hiện sớm những tổn thương trong động mạch vành và có những biện pháp điều trị thất sớm hòng tránh một cơn đau tim. Những người thuộc diện metabolic syndrome thì cần phải để phòng kỹ hơn hết (giảm cân nặng, tăng HDL, giảm uric acid).

Các khảo cứu trên những sắc tộc ít bị đau tim cho thấy là vấn đề tập thể dục đều đặn hết sức quan trọng và hiện nay là trọng tâm của việc điều trị cũng như đề phòng một cơn đau tim. Một khảo cứu của Đại Học Harvard trên sắc dân Hunza được biết là có tuổi thọ cao nhất thế giới thì đã thấy rằng mạch máu cơ tim của họ có rất nhiều các nhánh phụ (collaterals) và đã giúp cho nhiều người bị một cơn đau tim thoát khỏi chết.
Một số đã từng có một cơn đau tim yên lặng nhưng hoàn toàn bình thường nhờ các nhánh phụ này bảo đảm cho cơ tim không bị thiếu dưỡng khí nếu không may xảy ra một cơn đau tim. BS Kenneth Cooper đã khám phá ra vai trò của các nhánh phụ của các mạch máu cơ tim của người Hunza nên khi ông trở về Mỹ thì đã phát động ra phong trào tập thể thao aerobics, chạy đua marathon để chống lại bệnh sơ cứng động mạch vành, kẻ thù số một của người dân Mỹ.

BS Vũ văn Dzi, M.D., Chuyên Khoa Nội Thương

www.yduocngaynay.com
UserPostedImage
thunder  
#30 Posted : Wednesday, April 13, 2011 2:39:05 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Những cách thức đơn giản để làm giảm nổi khổ dị ứng


Monday, 11 April 2011

Cali Today News - Mùa xuân đã về, từng đàn bướm sặc sỡ lượn trên các thảm cỏ xanh và hoa nở rộ khắp nơi, từ cánh đồng hoang dã, đến công viên, sau vườn nhà bạn và trên các bệ cửa sổ nhà hàng xóm…

Hoa nở khắp nơi?

Ái chà, câu này làm đau khổ một dạng bệnh nhân. Đó là những người dị ứng với phấn hoa, con số như thế ở California phải lên đến hàng triệu. Người bị nhẹ thì chỉ thấy ngứa ngáy ở mắt và mũi chút đỉnh, kẻ bị nặng thì…chia động từ hắt hơi suốt ngày suốt đêm, mũi chảy, nhức đầu, nghẹt cứng hai mũi đến nỗi ban đêm phải ngủ ngồi và thở bằng miệng!

UserPostedImage


Bác sĩ Brunilda Nazario, chủ biên trang WebMD, cho hay: “Khuynh hướng lớn nhất trong việc trị bệnh dị ứng không phải là kỹ thuật, cũng không phải là thuốc uống, mà chính là ‘những phương cách tự nhiên”. Vì thế nếu bạn là loại bệnh nhân ‘mỗi năm đến mùa phấn hoa, lòng man mác buồn’ thì bạn nên chú ý những cách thức sau đây:

Cần thay đổi cách thức sống một tí. Thí dụ vào những ngày xuân nhiều nắng và nhiều gió, phấn hoa trong không khí sẽ cao, bạn nên ở trong nhà. Nếu có phải ra ngoài, về đến nhà nên thay ngay quần áo. Bạn đã được ‘phủ đầy’ phấn hoa dù bạn không thấy bằng mắt chuyện này!

Tốt hơn là nên đi tắm liền, theo bác sĩ Nazario. Trước khi lên giường ngủ, nên dùng loại thuốc súc saline để ‘lấy’ phấn hoa từ màng nhầy của mũi ra. Ngày nay các dược phòng tung ra nhiều sản phẩm chống dị ứng mới, nhưng bạn nên...nén lòng, nên dùng dược thảo cái đã.

Một thứ dược thảo có tên là Butterbur, theo bác sĩ David Rakel, sáng lập viên chương trình Integrative Medicine Program của đại học Wisconsin thì đây là loại dược thảo khá nhất chống dị ứng với phấn hoa. Một số nghiên cứu cho thấy nó tác dụng như một antihistamine, nhưng không làm buồn ngủ.

Báo Wall Street Journal trong mục y học có nói rõ các ‘pollen blockers’ được vẽ kiểu và chế tạo là để ngăn chận các tác nhân gây dị ứng xâm nhập vào mũi và vào phổi. Nó giống như mặt nạ của các bác sĩ giải phẫu hay kiểu ‘khẩu trang’ chúng ta hay đeo để tránh bụi bặm trong các đô thị.

Corinna Bowser, bác sĩ chuyên gia về suyễn và dị ứng của Viện American Academy of Allergy, Asthma & Immunology cho hay các măït nạ chận phấn hoa sẽ làm giảm lượng thuốc mà bạn phải dùng khi bị dị ứng.

Các chuyên gia giới thiệu loại kem có tên là Dr. Theiss Alergol Pollen Blockers Cream, vốn được thoa bên trong mũi và một loại phấn (hít vào), được bán dưới nhiều nhãn hiệu, kể cả hiệu Nasal Base, sẽ có tác dụng ngăn chận tương tự.

Nếu đã dùng các biện pháp như trên mà vẫn còn bị dị ứng khá nặng thì lúc đó hãy dùng thuốc, theo ý kiến của bác sĩ Nazario. Nếu bạn chỉ bị dị ứng nhẹ, sơ sài, có thể mua thuốc trong các tiệm tạp hóa loại antihistamine thông thường, một loại thuốc xịt chống nghẹt mũi hoặc cả hai.

Còn nếu bạn là kiểu bệnh nhân thường xuyên, bị suốt mùa thì có lẽ nên cần một loại thuốc khác thay thế hay thêm một loại steroid xịt qua toa bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra có lẽ bạn cũng nên biết tin mới nhất này, có thể làm bạn chống đỡ những lần bị hành hạ khổ sở thâu đêm vì dị ứng.

Đó là một khảo sát gần đây cho thấy bệnh nhân bị dị ứng ít khi bị ung thư não (nhảy mũi dữ dội như thế tumor nào chịu cho thấu), và bị dị ứng càng nặng thì khả năng dính vào ung thư não càng ít !

Hồng Quang theo Reader’s Digest 4/2011
thunder  
#31 Posted : Friday, April 15, 2011 9:30:31 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

HỒ SƠ BỆNH LÝ


Hai tháng trước, theo tin trên báo New York Times, nhà chức trách liên bang vây bắt một đường giây gian lận Medicare ở 5 tiểu bang, số tiền gian lận lên đến 251 triệu đô la. 94 người bị kết tội, 36 người bị bắt giữ, trong đó có một số bác sĩ và y tá. Họ đòi tiền Medicare cho những dụng cụ y khoa, những dịch vụ ma không cần thiết. Báo New York Times cho biết, mỗi năm Medicare thất thoát 60 đến 90 tỉ đô la vì gian lận y tế (tiền của những người công dân Mỹ đi làm đóng thuế chúng ta). Medicare ra những thông báo khuyến khích và chỉ dẫn người thụ hưởng Medicare tố cáo những việc mình tin là trong đó có sự gian lận (How to Report Medicare Fraud
.
Có thể tố cáo qua điện thoại: 1-800-447-8477; Fax: 1-800-223-2164; Email: HHSTips@oig.hhs.gov, hay đường thư bưu điện: Office of the Inspector General HHS, TIPS Hotline, P.O. Box 23489, Washington, DC 20026.)

Medicare bây giờ cũng bắt đầu kiểm soát chặt chẽ việc ghi chép hồ sơ của bác sĩ. Các tổ hợp y tế Medicare HMO đang nhắc nhở và mở những lớp hướng dẫn các bác sĩ ghi chép hồ sơ đúng theo đòi hỏi mới của Medicare. Nay mỗi món thuốc biên phải có một định bệnh đi kèm, và bác sĩ phải ghi chép sao để có thể giải thích rõ ràng rằng thuốc cho này dùng chữa bệnh này, còn thuốc cho này dùng chữa bệnh này, và tại sao tôi cho thuốc này, v.v.. Không phải cho thuốc bừa bãi theo lệnh của người bệnh như một số bác sĩ hiện đang hành nghề theo kiểu này làm mà còn được. Nếu cần, Medicare sẽ phái người đến tận văn phòng bác sĩ để xem xét hồ sơ mà không báo trước, và có gì nghi ngờ, Medicare có quyền giam tiền, không trả bác sĩ. Hồ sơ bệnh lý của bác sĩ, chuyên khoa nào cũng thế, gồm 4 mục: Subjective, Objective, Assessment, Plan.

S: Subjective (Kể bệnh)


Ðây là phần người bệnh kể các triệu chứng của mình, trong lúc bác sĩ lắng nghe để thu thập dữ kiện, đồng thời tìm hiểu xem người bệnh nghĩ thế nào về vấn đề bệnh tật của mình. Cụ thể, khi nghe kể bệnh, bác sĩ sử dụng phương pháp được đặt tên "phương pháp 5 nguyên âm: AEIOU": nghe (Audition); và trong lúc nghe, lượng định (Evaluation) các chi tiết vừa được người bệnh cung cấp, xem chi tiết nào có tầm quan trọng giúp vào sự định bệnh, chi tiết nào không; hỏi (Inquiry) những câu hỏi đúng để hiểu rõ thêm một vài chi tiết, để có thêm những dữ kiện cho các giả thuyết đang đặt ra trong đầu; đồng thời quan sát (Observation) cử chỉ, dáng điệu người bệnh để so sánh, đối chiếu với lời kể bệnh; hầu hiểu (Understanding) vấn đề, và cả tâm lý của người bệnh rõ hơn. Cũng trong phần Subjective này, bác sĩ sẽ xem xét các hồ sơ bệnh lý cũ, nếu có, và các thuốc men người bệnh đang dùng. Tùy theo các triệu chứng và vấn đề người bệnh kể, bác sĩ sẽ ghi chép vào mục này nhiều hay ít.

O: Objective (Thăm khám)


Ðây là phần bác sĩ thăm khám để tìm các dấu chứng khách quan, sau khi đã lắng nghe người bệnh kể bệnh. Sự thăm khám tùy mục đích của cuộc thăm khám, tùy lời kể bệnh của người bệnh, lại biến chuyển tùy theo các dấu chứng vừa tìm thấy, nên có khi phải toàn diện (complete examination: thí dụ người bệnh than bị xuống cân, mệt mỏi, ...), có khi chỉ cần chú trọng đến cơ quan đang gây triệu chứng (focus examination: thí dụ chỉ cần khám mặt, và lưng trong trường hợp người bệnh khai bị mụn ở mặt và lưng). Các vị thụ hưởng Medicare thường có nhiều vấn đề (cao áp huyết, tiểu đường, cao mỡ trong máu, mang bệnh tim, bệnh phổi, …) nên Medicare đòi hỏi các bác sĩ phải thăm khám ít nhất 4 cơ quan, và ghi chép trong hồ sơ những gì tìm thấy khi thăm khám 4 cơ quan này. (Nhiều bác sĩ gian họ có thăm khám cho người bệnh gì đâu, người bệnh đòi xin thuốc gì, họ cho thuốc nấy, rồi đem hồ sơ về nhà bịa ra là khám thấy thế này thế kia.)

A: Assessment (Nhận định)


Ðây là phần nhận định và ghi chép những vấn đề của người bệnh, sau khi nghe người bệnh kể bệnh và đã thăm khám cho người bệnh. Medicare nay đặc biệt chú trọng đến mục này trong hồ sơ của bác sĩ, buộc bác sĩ phải viết ra rõ ràng những nhận định và hướng chữa trị của mình. Thí dụ, định bệnh bác sĩ ghi trong mục này là người bệnh có 1. Cao áp huyết và 2. Tiểu đường, họ buộc bác sĩ nay phải viết rõ ràng rằng vấn đề cao áp huyết của người bệnh đã được kiểm soát hay chưa, nếu chưa, thì bác sĩ sẽ làm gì; còn tiểu đường cũng vậy, đã ổn định chưa, nếu đã ổn định, bác sĩ phải viết rõ là sẽ tiếp tục các thuốc đang dùng, còn chưa ổn định, thì sẽ giải quyết cách nào (tăng thuốc uống, đổi sang thuốc chích, …).

P: Plan (Hoạch định)

Mục này là chỗ ghi chép những kế hoạch chữa trị, sau khi bác sĩ tổng hợp các dữ kiện (dựa vào lời kể bệnh, dựa vào thăm khám), và dùng lý luận y khoa để đi đến những định bệnh. Trong mục này, bác sĩ ghi chép các thuốc dùng (phân lượng, ngày uống mấy lần, …), các việc cần làm (chụp phim, gửi đi soi ruột già, làm siêu âm, …). Medicare nay cũng rất chú trọng đến mục này trong hồ sơ bác sĩ. Họ buộc bác sĩ cho thuốc gì, làm gì, thì những việc này phải được nối kết (link) trực tiếp với các định bệnh ghi chép trong mục Assessment (Nhận định) ở trên: hoặc ghi cùng hàng với định bệnh, hoặc bác sĩ phải làm một ký hiệu cho biết thuốc này, việc này để giải quyết vấn đề này, vấn đề này, … Mục đích là để khi Medicare họ đến xem hồ sơ, họ sẽ nhận ra ngay thuốc bác sĩ cho có thực đúng vào mục đích chữa bệnh hay không.

Giúp bác sĩ

Trước những bắt buộc mới của Medicare trong việc ghi chép hồ sơ, tất nhiên các bác sĩ sẽ ghi chép hồ sơ lâu hơn một chút. Các vị đến khám bệnh có thể giúp bác sĩ rất nhiều, bằng cách lúc nào cũng đem theo thuốc dùng (những chai thuốc mới nhất) và kể bệnh rõ ràng, mạch lạc để bác sĩ dễ ghi vào hồ sơ, thăm khám cho các vị đầy đủ theo đòi hỏi của Medicare. (Những lời kể bệnh như vầy hoàn toàn không được Medicare và các bác sĩ làm việc đàng hoàng chấp nhận: tôi không có bệnh gì cả, chỉ đến xin bác sĩ các thuốc này để gửi về Việt Nam; tôi muốn có thuốc trụ sinh này cho con cháu tôi ở nhà nó không có bảo hiểm, tôi đi bác sĩ kia ông ấy dễ lắm, muốn thuốc gì ông ấy cũng cho, chẳng cần phải kể bệnh, thăm khám gì cả; …) Cách ghi chép hồ sơ theo đòi hỏi hiện nay của Medicare không ảnh hưởng các bác sĩ trước giờ vẫn làm việc đàng hoàng, nhưng có lẽ sẽ khiến các bác sĩ gian lận Medicare (cho thuốc, sữa Ensure, … bừa bãi theo lệnh của người bệnh cũng là một hình thức gian lận Medicare, cung ứng những dịch vụ, thuốc men không cần thiết cho sức khỏe người bệnh, làm thất thoát tiền của Medicare) phải chùn tay. Tất nhiên, họ vẫn còn có thể tiếp tục gian, cứ cho thuốc bừa bãi, rồi tối đem hồ sơ về nhà ngụy tạo lời kể bệnh, các thăm khám ma như trước, nhưng từ nay sẽ phải mất thì giờ hơn nhiều, phải bóp óc thêm để ngụy tạo bệnh này bệnh nọ, phải vất vả chép vào những việc họ bịa ra hơn, phải xếp đặt trong hồ sơ những thuốc cho sao cho ngang hàng với những định bệnh ma, …. Chúng ta hy vọng họ sẽ bớt gian để đất Mỹ thân yêu này đỡ bị đục ruỗng, tiền đóng thuế của chúng ta đỡ mất vào túi họ. Ðây cũng chính là mục đích của Medicare trong nỗ lực ngăn chặn sự gian lận.

BÁC SĨ NGUYỄN VĂN ĐỨC

thunder  
#32 Posted : Monday, April 18, 2011 11:25:14 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
ĂN NHIỀU HÀNH VÀ TỎI CÓ THỂ

GIÚP NGĂN NGỪA BỆNH UNG THƯ



MILAN, Italy (WebMD) - Một cuộc nghiên cứu mới cho thấy rằng ăn nhiều hành và tỏi có thể giúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

Các nhà nghiên cứu ở Ý nhận thấy những người ăn theo chế độ dinh dưỡng có nhiều hành, tỏi và các thứ rau cùng họ với cây hành - như củ kiệu, tỏi tây (leek), hẹ - thì giảm được nhiều nguy cơ mắc vài loại bệnh ung thư hơn những người tránh ăn những thứ này.

Nhà nghiên cứu Carlotta Galeone, thuộc viện Istituto di Ricerche Farmocologiche Mario Negri ở Milan, và các đồng nghiệp nói rằng những phúc lợi về sức khỏe của hành và tỏi đã được nói tới trong nhiều thế kỷ đã qua, nhưng chưa có những nghiên cứu đầy đủ để chứng minh những phúc lợi đó.

Trong cuộc khảo sát của họ, các nhà nghiên cứu đã dùng những số liệu từ vài cuộc nghiên cứu về bệnh ung thư ở Ý và Thụy Sĩ để tìm kiếm sự liên hệ giữa sự tiêu thụ hành và tỏi và bệnh ung thư tại vài nơi trong thân thể, như miệng, thanh quản (larynx), thực quản (esophagus), ruột kết (colon), vú, buồng trứng (ovary), và thận.

Nói tổng quát, trong số những người đã mắc bệnh ung thư thì họ có mức tiêu thụ hành từ số 0 cho tới 14 phần (portion) mỗi tuần lễ; trong khi đó, những người không mắc bệnh ung thư thì đã thường ăn hành ở mức từ 0 cho tới 22 phần mỗi tuần.

Sự tiêu thụ tỏi cũng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư, ngoại trừ những người mắc những bệnh ung thư vú, buồng trứng và tuyến tiền liệt.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sự tiêu thụ hành ở mức vừa phải có vẻ làm giảm nguy cơ mắc những bệnh ung thư ruột kết, thanh quản, và buồng trứng.

Những hiệu ứng bảo vệ cũng mạnh hơn trong số những người ăn nhiều hành nhất so với những người ăn ít nhất. Những người ăn nhiều hành nhất cũng giảm nguy cơ mắc những bệnh ung thư trong miệng và thực quản so với những người ăn ít nhất.

Sự tiêu thụ tỏi ở mức vừa phải cũng giúp giảm nguy cơ mắc những bệnh ung thư ruột kết và thận.

Ngoài ra, hiệu ứng chống ung thư cũng gia tăng khi tiêu thụ nhiều tỏi hơn. Qua sự khảo sát những số liệu. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những người ăn nhiều tỏi nhất thì giảm nguy cơ mắc tất cả những bệnh ung thư, ngoại trừ hai bệnh ung thư vú và tuyến tiền liệt - hai bệnh này phần lớn liên quan tới những vấn đề thuộc kích thích tố và hệ thống sinh sản, theo lời các nhà nghiên cứu.

Họ nói rằng sự tiêu thụ hành và tỏi có thể được coi là một dấu hiệu của một lối sống lành mạnh và của một chế độ dinh dưỡng bao gồm nhiều thứ thảo mộc và rau có tiềm năng chống bệnh ung thư. (n.m.)
xuan hoang  
#33 Posted : Monday, April 18, 2011 5:29:27 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Thực Phẩm và Hạt Phóng Xạ



UserPostedImage



Từ sau khi thiên tai động đất mang tai họa đến cho những con dân dũng cảm xứ Mặt Trời Mọc, tại một thị trấn nhỏ ven biển miền đông nước Nhật, thì dân chúng khắp nơi đều bày tỏ cảm tình, chia xẻ niềm đau của họ. Những lời cầu nguyện, những hỗ trợ tinh thần, vật chất đều tới tấp gửi tới, kể cả lời ca ngợi sự kiên tâm bình tĩnh, trật tự và kỷ luật của dân chúng địa phương, từ người cứu giúp lẫn nạn nhân. Trên blog Kênh Bắc Giang một bạn trẻ viết rằng: ”Người Nhật đang dạy chúng ta một điều rằng trong mọi khó khăn ta phải có niềm tin. Và chính niềm tin của người Nhật sẽ đưa Nhật thoái khỏi thảm họa này một cách kỳ diệu. Niềm tin của họ có sức lay động toàn thế giới và mong rằng niềm tin ấy sẽ lay động được bạn , để mong bạn chung tay giúp đỡ người Nhật cũng cố niềm tin vào con người, rằng chúng ta đang làm tất cả những gì chúng ta có thể. Việc còn lại là nguyện cầu nữa thôi”.

Đồng thời nhiều người phương xa cũng tỏ vẻ lo ngại khi được tin mấy lò nguyên tử sản xuất điện năng đang ở trong tình trạng rò rỉ, gây bất ổn thêm cho sức khỏe cũng như thực phẩm thảo động vật. Bà con người mình cũng e ngại không kém, cho nên xin gửi tài liệu này để kính tường. Bài viết dựa vào các dữ kiện do cơ quan y tế uy tín như CDC, Đại học Idaho phổ biến rộng rãi.

Trước hết, là tình hình các lò nguyên tử tại Nhật vào ngày hôm nay 22/3/2011.

-Có 6 nhà máy nguyên tử tại khu Fukushima Daichi thì 4 lò có vấn đề. Từ đó một lượng chất phóng xạ đã thoát ra ở ngay tại nhà máy với mức độ 400 millisieverts/giờ còn ở vùng kế cận là 10 millisieverts. Lưu ý là mỗi lần mình làm cat Scan bụng có 15 millisieverts thoát ra, X-ray cột sống có 1 millisieverts.
-Theo Cơ quan Y tế Thế giới: chưa có sự lan tỏa hạt phóng xạ vào các quốc gia lân bang xa gần.
-Có 2 loại phóng xạ thoát ra từ lò là caesium và iodine. Không có uranium và plutonium.

Chất caesium đựoc thấm vào lớp đất và tồn tại khoảng 1 năm trong cơ thể. Hạt iodine tự hủy hoại trong vài tháng và ở mức độ cao có thể gây ra ung thư tuyến giáp trạng (thyroid).

Chẳng hạn như tại nạn lò nguyên tử Chernobyl bên Nga vào năm 1986 đã có khoảng 6000 ca ung thư thyroid được ghi nhận với 15 tử vong vào năm 2005. Dân chúng quanh Chernobyl là 17 triệu người. Sau vụ thả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki vào thế chiến 2 có 87,000 nạn nhân sống sót. Tới năm 1992, 40,000 người trong nhóm này mãn phần nhưng chỉ có 690 người chết vì phóng xạ.

Trong khi đó, theo CDC, tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 70 triệu CT Scan đựoc thực hiện, gây ra ung thư cho 29,000 người vào năm 2007.

Rủi ro nhiễm hạt phóng xạ vào thực phẩm tại vùng thiên tai như rau và sữa cũng đã được ghi nhận nhưng theo các nhà chuyên môn, phải tiêu thụ 1 kg spinach để có một lượng phóng xạ tương đương với phóng xạ do CT Scan vùng bụng gây ra.

Theo các nhà khoa học, rủi ro bệnh gây ra do phóng xạ thoát ở Nhật còn rất thấp. Hiện nay, theo các báo cáo, Tokyo cách Fukushima hơn 200 cây số có mức độ phóng xạ cao hơn mức độ bình thường 10 lần và mỗi giờ người dân có thể bị nhiễm khoàng 0,809 microsievert (1/1000 milisievert), tương đương với 1/10 phóng xạ khi đi chụp X-quang.

Bác sĩ chuyên khoa ung thư James Cox tại MD Anderson Cancer Center ở Houston cho hay số lượng phóng xạ trong các thực phẩm này không gây ra rủi ro sức khỏe tức thì cũng như có rất ít rủi ro về lâu dài cho loài người. Tiến sĩ Richard Wakeford, Đại học Manchester có cùng ý kiến.
Cũng lưu ý là Mỹ chỉ nhập cảng khoảng 0,4% thực phẩm từ Nhật cho nên xin bà con cứ yên tâm.

Thực ra, con người luôn luôn tiếp cận với phóng xạ vì chúng có tự nhiên trong thực phẩm, nước, đất và không khí.. Ánh sáng, sóng vi ba mang tín hiệu radio, TV, nướng vỉ thực phẩm cũng do phóng xạ. Phóng xạ cũng được dùng trong việc kiểm soát hành lý tại phi trường, làm vỏ bánh xe bền hơn, trong y khoa, diệt vi trùng trong thực phẩm để cất giữ lâu hơn. Chỉ với việc sống trên trái đất này hoặc đơn giản là du hành trên một máy bay thì tất cả mọi người đều bị nhiễm một lượng nhỏ phóng xạ. Lượng phóng xạ tích tụ trong cơ thể mỗi con người trung bình vào khoảng 2,4 millisievert mỗi năm, thông thường trong khoảng từ 1 đến 10 millisievert tùy thuộc vào địa phương mà người đó sinh sống.

Nhân dịp này, xin nói thêm về Thực phẩm Rọi phóng xạ (Food Irradiation), là chuyện ăn uống mà nhiều bà con cũng thắc mắc. Vì trong tương lai gần, thực phẩm chế biến này sẽ rất phổ biến trên thị trường.

1-Tại sao lại chiếu rọi hạt phóng xạ vào thực phẩm?

Rọi phóng xạ vào thực phẩm là một kỹ thuật an toàn và mới có thể loại trừ bệnh gây ra do vi khuẩn, nấm độc, sâu bọ trong thực phẩm. Các vi sinh vật này thường làm thối rữa hư hao thực phẩm. Kỹ thuật này cũng đựoc dùng để khử trùng trong y học. Thực phẩm mà các phi hành gia không gian Hoa Kỳ dùng cũng đã được rọi phóng xạ để tránh nhiễm trùng trên không gian..

Tác dụng của phóng xạ vào thực phẩm đã được nghiên cứu kỹ càng và được chứng minh rằng:

-Vi sinh vật gây bệnh bị giảm thiểu hoặc loại trừ.
-Thực phẩm không bị nhiễm phóng xạ
-Không có chất độc hại nào xuất hiện trong thực phẩm
-Giá trị dinh dưỡng của thực phẩm hoàn toàn không thay đổi.

An toàn vì tại Hoa Kỳ các cơ quan hữu trách liên bang và các nhà khoa học đểu xét đoán mức độ an toàn của các phương pháp rọi phóng xạ trước khi cho phép áp dụng. Các tổ chức như Cơ quan Y tế Thế Giới, Ủy ban Nguyên Tử Năng thế giới, Cơ quan CDC Hoa kỳ, Bộ Canh Nông Hoa kỳ và Cơ quan Thực Dược phẩm Hoa kỳ công nhận phương pháp này.
Khi dùng với rất ít hạt phóng xạ, sự mất mát chất dinh dưỡng không đáng kể và không đo lường được. Nếu dùng nhiều phóng xạ hơn để cất giữ thực phẩm lâu ngày hoặc để diệt hết vi khuẩn thì sự mất mát tương đương với nấu nướng hoặc làm đông lạnh. Với các phương pháp bảo quản khác, chất dinh dưỡng như vitamin có thể giảm.

Phương pháp này cũng tương tự như khi dùng nhiệt, đông lạnh, hóa chất để diệt vi sinh vật gây bệnh. Làm như vậy cũng cất giữ thực phẩm được lâu hơn.
Thực ra phóng xạ cũng không tiêu diệt được hết vi sinh vật gây hại, vì thế để an toàn, thực phẩm cần được cất giữ và nấu nướng đúng cách.

2-Rọi phóng xạ loại trừ được những bệnh nào?

Rọi phóng xạ thịt tươi sống tại lò sát sinh có thể loại trừ các vi khuẩn E. coli, Salmonella và Campylobacter. Các sinh vật này mỗi năm gây ra hàng triệu ca bệnh nhiễm và cả ngàn người phải nhập bệnh viện để điều trị. Ngoài ra, phóng xạ cũng loại trừ đựoc loại vi khuẩn Toxoplasma là tác nhân gây bệnh trầm trọng của mắt và nhiễm trùng bẩm sinh.

3-Phóng xạ tác dụng lên thực phẩm bằng cách nào?

Như đã nói ở trên, phóng xạ không thay đổi giá trị dinh dưỡng của thực phẩm và cũng không làm thực phẩm trở nên nguy hại. Thực phẩm có thể hơi ấm hơn và khi nếm có thể thấy vị hơi khác, chẳng khác chi vị của sữa khử trùng khác với sữa mới vắt từ con bò. Nếu thực phẩm còn tế bào sống như trong các loại hạt, khoai, động vật có vỏ (tôm, cua, sò, hến) thì các tế bào này sẽ bị hư hao hoặc hủy hại tương tự như là vi sinh vật gây bệnh. Thí dụ, để cất giữ khoai tây, phóng xạ sẽ ngăn không cho khoai nẩy mầm. Một vài loại vitamin như B1 cũng giảm nhưng không gây ra thiếu sinh tố. Các chất đạm, chất béo không bị ảnh hưởng.

4-Thực phẩm nào đã đựoc cho phép rọi phóng xạ

Không phải là thực phẩm nào cũng thích hợp cho rọi phóng xạ. Chẳng hạn như sò, tôm, cua.. có thể rọi được nhưng giá trị dinh dưỡng mất đi rất nhiều. Đôi khi phóng xạ cũng làm cho trứng gà, vịt trở lên đục lỏng như sữa. Thực phẩm đã được cho phép rọi phóng xạ là bột mì, khoai tây, thịt heo, rau trái cây, gà vịt, thịt bò.

5-Liệu công chúng đã sẵn sàng tiêu thụ thực phẩm rọi phóng xạ chưa?

Cũng có nhiều giới tiêu thụ sẵn sàng dùng loại thực phẩm này, nếu nhà sản xuất nêu rõ mục tiêu của phương pháp. Chẳng hạn như để diệt vi sinh vật gây bệnh.

6-Làm sao nhận ra thực phẩm rọi phóng xạ?

Không thể nhận ra thực phẩm phóng xạ bằng nhìn, ngửi, nếm mà nhận diện qua hàng chữ "Treated with Radiation" hoặc "Treated by Irradiation". Bao bì chứa thực phẩm rọi phóng xạ cũng mang logo quốc tế “raduara”.

Kết luận

Rủi ro gây bệnh do phóng xạ thất thoát ra ở vùng thiên tai bão lụt bên Nhật chưa có dấu hiệu gây nguy hiểm, bệnh tật cho cư dân.
Con người vẫn thường xuyên tiếp thu một lượng rất nhỏ phóng xạ từ môi trường sinh sống.
Thực phẩm khử trùng bằng cách rọi phóng xạ an toàn và giữ đầy đủ chất dinh dưỡng.
Không nên quá sợ mà đi mua chất Potassium iode về uống để phòng tránh rủi ro ung thư tuyến giáp vì nhiễm phóng xạ từ Nhật bay sang. Chúng ta ở quá xa Nhật. Hơn nữa dùng Potassium iode không đúng chỉ định cũng gây nhiều rủi ro cho sức khỏe.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Texas-Hoa Kỳ

UserPostedImage
xuan hoang  
#34 Posted : Tuesday, April 19, 2011 5:57:31 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


THUỐC GENERIC




UserPostedImage




"Bác sĩ, hồi trước nhà thuốc họ đưa tôi thuốc Tylenol, dạo này họ đưa tôi thuốc có tên lạ hoắc acetaminophen, hình dạng khác, mà mùi vị cũng hơi khác. Không biết thuốc này có phải là Tylenol?"

Acetaminophen là thuốc generic, tương tự với Tylenol, do một hãng thuốc khác chế tạo. Tylenol là thuốc mang tên thương mại (brand name) chúng ta từng quen biết, và trong Tylenol chứa chất acetaminophen có tác dụng chống đau nhức, nóng sốt. (Chúng ta để ý, rất nhiều thuốc trị cảm, cúm trên thương trường có chứa chất acetaminophen.)
Ngoài Tylenol, rất nhiều thuốc brand name khác hiện cũng đã có dạng generic, rẻ hơn thuốc brand name, một số rẻ hơn thuốc brand name rất nhiều.

Thuốc men ở Mỹ mắc nhất thế giới, và nền y tế ở Mỹ ngày càng đắt đỏ. Có thuốc 3-4 đô la một viên (như thuốc chống đau nhức Celebrex, thuốc trị cao mỡ Lipitor, thuốc cao áp huyết Diovan), có thuốc đến 18-20 đô la một viên (như thuốc cường dương Viagra, thuốc trị nấm Lamisil, thuốc chữa viêm gan B Baraclude), vì những thuốc này chưa có dạng generic.

Trong thời buổi kinh tế khó khăn, chưa biết ngày nào mới có cơ sáng sủa trở lại, thuốc generic ngày càng trở thành quan trọng. Không có bảo hiểm, MediCal, Medicare, ăn chắc mặc bền, mua thuốc bằng tiền mặt, tất nhiên chúng ta đều muốn mua thuốc nhẹ tiền hơn, và có cùng tác dụng. Còn bảo hiểm, MediCal hay Medicare, họ cũng khuyến khích các bác sĩ dùng thuốc generic thay vì thuốc brand name. Các nhà thuốc cho biết, bây giờ, nếu bác sĩ biên toa thuốc generic cho người bệnh, nhà thuốc sẽ được Medicare chi trả cho cao hơn là nếu bác sĩ biên toa thuốc brand name cho người bệnh. Nhiều bảo hiểm thường xuyên gửi thư nhắc nhở các bác sĩ nên dùng thuốc generic.

Vào năm trước, gần 60% các thuốc cho bởi Medicare là thuốc generic. Bảo hiểm cũng thế, vào năm 2006, 52.6% các thuốc họ cho dùng là generic. Các con số này chắc ngày càng tăng lên, vì nhiều thuốc brand name bây giờ bắt đầu có dạng generic rẻ hơn, và tình hình kinh tế tài chánh khó khăn, mọi nơi đều cần tiết kiệm.

Thế thuốc generic có an toàn và hữu hiệu như thuốc brand name đã thành danh nhiều năm?

Thực ra, thuốc generic được xem là bản sao của một thuốc brand name đã đến thời hạn hết bản quyền. Theo luật pháp Hoa Kỳ, sau một thời gian, một hãng thuốc sẽ mất độc quyền chế một thuốc trước giờ chỉ họ mới được quyền chế, thời gian này thường khoảng 20 năm. Các công ty chuyên chế và phân phối thuốc generic lúc đó có thể xin FDA (Food and Drug Administration, Cơ Quản Kiểm Soát Thực và Dược Phẩm Hoa Kỳ) cho phép họ được quyền chế một thuốc tương tự, có cùng công thức khoa học như thuốc brand name. Nhiều khi chính hãng thuốc trước đã chế thuốc brand name bây giờ lại xin FDA cho họ chế luôn thuốc generic, để bán trên cả hai thị trường, thuốc thành danh brand name cho những ai vẫn quen dùng thuốc này, không muốn đổi, và thuốc generic có mức độ an toàn, hữu hiệu ngang với thuốc brand name nhưng với giá nhẹ hơn, cho những người hiểu giá trị thuốc generic. Hiện có hàng ngàn đơn xin chế thuốc generic, FDA chưa giải quyết được, vì không đủ nhân lực. Có thể nói, cơ quan FDA của Hoa Kỳ là cơ quan kiểm soát thuốc men khó khăn nhất thế giới. Nhiều thuốc bên Âu châu họ đã cho dùng từ lâu, song ở Mỹ, vẫn chưa được phép lưu hành. Muốn được FDA chấp thuận cho chế thuốc generic, một hãng thuốc phải chứng minh được sản phẩm của họ dùng cùng một chất thuốc hoạt động y như trong thuốc brand name, thuốc cũng có tác dụng sinh hóa tương tự, tức vào máu cũng như ra khỏi máu nhanh chóng và hoàn toàn như thuốc brand name. Và như vậy, thuốc sẽ có công dụng trị liệu không khác thuốc brand name.

Về mặt an toàn, chúng ta không phải lo ngại thuốc generic kém an toàn hơn thuốc brand name. Trong tiến trình chế tạo thuốc, FDA áp dụng luật lệ kiểm soát thuốc generic y như với thuốc brand name, và cả khi thuốc generic đã được tung ra thị trường, FDA vẫn tiếp tục theo dõi thuốc, xem có an toàn cho người dùng nó hay không. Cho đến nay, FDA cho biết, về mặt các phản ứng phụ do thuốc gây ra, FDA không tìm thấy có gì khác biệt giữa các thuốc generic và các thuốc brand name.

Còn sao thuốc generic có hình dáng, màu sắc, mùi vị khác với thuốc brand name.

Thuốc brand name thường có hình dạng, màu sắc hấp dẫn bắt mắt, để dễ quảng cáo, chiêu dụ người dùng thuốc, vì hãng thuốc áp dụng các câu phương châm "nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm". (Viên thuốc bắt mắt chắc bỏ vào miệng thơm ngon dễ uống hơn?)

Thuốc generic, theo luật, làm gì thì làm, không được quyền bắt chước y chang hình dạng, màu sắc của thuốc brand name. Thuốc brand name và thuốc generic cũng dùng các chất đệm (inactive ingredients) khác nhau, nên mùi vị có thể khác nhau. Nhưng xin nhớ, hình dáng, màu sắc, mùi vị của thuốc không ảnh hưởng gì đến tác dụng của thuốc.

Để kết luận, với nguyên tắc sống "một đồng tiết kiệm là một đồng kiếm được" (one dollar saved is one dollar earned), chúng ta có thể yên tâm dùng các thuốc generic, nhẹ tiền hơn song có tác dụng y hệt thuốc brand name. Nếu bảo hiểm, MediCal, Medicare không còn cho chúng ta dùng thuốc brand name nữa, chỉ cho dùng thuốc generic, xin đừng buồn, vì họ có lý do rất chính đáng của họ: tại sao không tiết kiệm, dùng thuốc nhẹ tiền hơn mà hiệu quả vẫn thế. Đồng tiền của ai thì cũng là đồng tiền, chúng ta biết tiết kiệm tiền túi thì cũng nên tiết kiệm đồng tiền của bảo hiểm, MediCal, Medicare!

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức
Chuyên Khoa Nội Thương

UserPostedImage
thunder  
#35 Posted : Thursday, April 21, 2011 10:32:15 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Bấm huyệt chữa đau khớp gối


Đau khớp gối ở đây chỉ bệnh thoái hoá khớp xương từ độ tuổi trung niên về sau. Người bệnh cảm thấy tê nhức, mức cử động không còn linh hoạt, đặc biệt là buổi sáng ngủ dậy hoặc ngồi lâu, đứng lâu thì càng tê nhức trầm trọng. Nếu có hoạt động chốc lát thì sẽ giảm nhẹ đi nhưng sau đó lại đau hơn. Bệnh tiến triển chậm, thường là do tổn thương mạn tính mà ra. Lúc đầu chỉ phát sinh ở một khớp xương sau đó thì các khớp gối, cổ tay, cột sống đều đau nhức, tê mỏi.

Cách chữa

- Điểm huyết hải: Người bệnh ngồi hoặc nằm, hơi co gối, người chữa bệnh dùng một tay đỡ trên gối, tay kia dùng ngón cái điểm vào huyệt huyết hải để điều hoà khí huyết (hình 1).

UserPostedImage


Vị trí huyết hải: Bờ trong đầu xương bánh chè đo thẳng lên 4 - 5cm (2 thốn).

- Điểm bánh chè: Tư thế như trên, người chữa bệnh dùng hai ngón cái điểm vào hai bên bánh chè (hình 2).
- Đè đẩy: Tư thế như trên, người chữa bệnh chéo hai ngón tay cái đè vào dây chằng dưới khớp xương bánh chè, sau đó đẩy lên trên, lặp lại nhiều lần (hình 3).
- Đẩy vuốt: Người bệnh duỗi thẳng gối, người chữa bệnh đè hai ngón cái vào dưới xương bánh chè sau đó ấn dần lên trên rồi vuốt xuống (hình 4).
- Ôm vuốt: Người chữa bệnh chụm hai tay vào chỗ gối đau người bệnh, dùng cạnh chưởng bàn tay đẩy vuốt vùng gối (hình 5).
- Ấn vuốt: Người chữa bệnh dùng một tay ấn vuốt vào gối người bệnh (hình 6). Bệnh này đa số phát sinh ở hai bên (2 cạnh) cho nên sau khi xong cạnh bên phải thì thực hiện cạnh bên trái.

Lương y Hoài Vũ

xuan hoang  
#36 Posted : Friday, April 22, 2011 6:09:45 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


Công dụng của chất xơ



UserPostedImage



Chất xơ là một hỗn hợp carbohydrates nằm trong màng tế bào của thực vật.

Có 2 loại chất xơ:

-Loại không hòa tan trong nước có trong các loại hạt nguyên trạng, vỏ các loại hạt, rau, trái cây. Các chất này hút rất nhiều nước.
-Loại hòa tan trong nước có trong rau trái, gạo đỏ, yến mạch oats, lúa mạch (barley).

Nói chung, chất xơ có nhiều trong:

-Lá xanh của các loại rau. Cuống lá có nhiều xơ hơn rễ và củ;
-Thực vật tươi, không chế biến
-Vỏ các loại hột và vỏ rau trái cây;
-Hạt nẩy mầm (giá đậu).

Các chất này đều không được tiêu hóa và có rất ít giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên khi ăn vào thì chất xơ có một số tác dụng tốt được nhiều người tin theo và khoa học thực nghiệm cũng phần nào đồng ý.

1- Chất xơ với táo bón

Vì không hòa tan trong nước và khi được ăn với nhiều nước, chất xơ có thể là môn thuốc an toàn và hữu hiệu để phòng tránh bệnh táo bón. Nó làm mềm và tăng lượng phân để bộ tiêu hóa dễ dàng thải ra khỏi cơ thể. Ngoài ra, khi vào đến ruột già, nó được vi sinh vật tranh nhau ăn, tạo ra nhiều hóa chất có hơi (gas) . Các hơi này kích thích ruột già làm người ta mót “đi cầu”. Một nhận xét cụ thể là trâu bò ăn cỏ, rơm rất nhiều chất xơ nên phẩn rất to và mềm.

2- Chất xơ với bệnh viêm túi ruột già:

Trên vách ruột già thường nổi lên những túi nhỏ tý tẹo, mà theo bác sĩ Lauren V. Ackerman của đại học Nữu Ước thì hầu như người lớn nào cũng có. Mỗi khi thức ăn bị ngưng đọng trong những túi đó thì gây ra tình trạng viêm túi ruột già (diverticulosis).

Vì không hòa tan trong nước, chất xơ có thể ngăn ngừa sự thành hình các túi nhỏ đó bằng cách giảm thiểu sự táo bón và giảm sự căng phồng của ruột già trong việc tống khứ chất phế thải.

Tại Western General Hospital bên Ái Nhĩ Lan, người ta có thể ngăn ngừa sự tái phát ở bệnh nhân mới giải phẫu bệnh viêm túi ruột bằng cách cho ăn nhiều chất xơ.

3- Chất xơ với ung thư ruột già:

Ung thư ruột già hiện giờ đứng hạng thứ nhì trong các loại ung thư ở Mỹ và gây tử vong cho nhiều chục ngàn người mỗi năm. Dinh dưỡng đã được nhắc nhở đến như một cách để phòng ngừa bệnh này.

Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ và nhiều tổ chức y tế công tư khác chủ trương và khuyến khích bằng cách giảm tiêu thụ chất béo và tăng thực phẩm có chất xơ. Các khuyến cáo này được kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học hỗ trợ.

Có hàng chục cuộc khảo sát đã chứng minh chất xơ có khả năng phòng ngừa bệnh ung thư ruột già. Một cuộc nghiên cứu ở bệnh viện
Nữu Ước năm 1989 cho thấy là chất xơ ngăn chận sự xuất hiện của các mụn thịt thừa (polyp) ở ruột già và hậu môn. Những mụn này có khuynh hướng phát triển thành bướu ung thư.

Năm 1992, tờ công báo của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cũng thông báo kết quả một cuộc khảo sát rộng lớn cho thấy chất xơ giúp ngăn chận sự sinh trưởng của các mụn tiền ung thư (precancerous polyp).

Viện Ung thư Quốc Gia Hoa Kỳ, Hội Ung Thư Hoa kỳ khuyên nên dùng từ 25- 30 gr chất xơ mỗi ngày.

4-Chất xơ với bệnh tim mạch :

Bác sĩ James Anderson của Đại Học Y khoa Kentucky, Hoa Kỳ đã dành nhiều chục năm nghiên cứu công dụng chất xơ với bệnh tim mạch và tiểu đường. Theo ông ta, chất xơ nhất là từ lúa mạch, giảm cholesterol bằng cách làm gan bớt chế tạo mỡ béo LDL và tăng HDL.

Nghiên cứu của bác sĩ Hugh Trowell, Anh quốc, thấy là bệnh tim mạch ở quốc gia này tăng đều cho tới năm 1939 rồi giảm trong thời kỳ chiến tranh, khi mà vì hạn chế thực phẩm dân ăn nhiều lúa mỳ có nhiều chất xơ. Sau thế chiến bệnh tim mạch lại gia tăng.

Một nghiên cứu khác cho người tình nguyện ăn nhiều bơ thì cholesterol lên rất cao, nhưng khi thêm chất xơ vào khẩu phần thì cholesterol giảm xuống tới 20%. Cholesterol cao trong máu đã được coi như nguyên nhân gây một số bệnh tim mạch và là đề tài của nhiều nghiên cứu khoa học cũng như câu chuyện để nói khi mọi người gặp gỡ.

5- Chất xơ với bệnh tiểu đường

Tiểu đường là một nhóm bệnh trong đó đường glucose ở máu lên cao. Bệnh này do hoặc thiếu Insulin hoặc giảm tác dụng của Insulin trong cơ thể. Bệnh rất phổ biến và đưa đến nhiều điệu không tốt cho sức khỏe, khả năng làm việc, phẩm chất đời sống con người. Nó cũng ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc gia vì số bệnh ngày càng gia tăng, người bệnh hoạn nhiều, rất tốn kém cho sự chăm sóc lâu dài.

Ngoài dược phẩm, hướng dẫn dinh dưỡng và thay đổi nếp sống có thể giúp giữ bình thường đường glucose trong máu. Dinh dưỡng rất công hiệu lại rẻ tiền, an toàn.

Theo kết quả các nghiên cứu của các bác sĩ James W. Anderson, thực phẩm có chất xơ có nhiều khả năng bình thường hóa đường trong máu, giảm đường sau bữa ăn, tăng công hiệu của Insulin. Theo ông ta, loại chất xơ hòa tan trong nước rất công hiệu vì nó tạo ra một lớp keo (gel) lỏng ngăn không cho đường hấp thụ vào ruột và có thể làm giảm đường trong máu tới 30%.

Người mắc bệnh tiểu đường cũng hay bị chứng vữa xơ động mạch vì triglyceride lên cao. Bác sĩ Anderson cho hay chất xơ có thể làm giảm loại mỡ này và mỡ xấu LDL và làm tăng mỡ lành HDL.

6- Chất xơ với bệnh mập phì

Người bị phì mập thường vì ăn nhiều, nhất là chất mỡ, mà lại không sử dụng, nên năng lượng dư thừa tích tụ trong cơ thể. Tiết chế ăn uống là điều cần thiết để giảm ký.
Phần nhiều thực phẩm giàu chất xơ đều nghèo chất béo, không có chất dinh dưỡng cho nên là món ăn lý tưởng cho những người muốn xuống cân.

Ngoài ra, thực phẩm giàu chất xơ cần thời gian lâu hơn để ăn nhai, không được tiêu hóa và hấp thụ ở bao tử, thường làm người ta no mau và no lâu, do đó giảm nhu cầu ăn nhiều, một điều kiện để khỏi mập phì.
Chất xơ thiên nhiên có công hiệu hơn viên chất xơ.

7-Chất xơ với bệnh ung thư vú

Một nghiên cứu mới đây của Hội Sức Khỏe Mỹ Quốc (American Health Foundation) ở thành phố Nữu Ước cho thấy là cám lúa mì (wheat bran) rất giàu chất xơ không hòa tan trong nước, có khả năng giảm thiểu lượng estrogen trong máu. Từ đó người ta suy đoán rằng chất xơ trong cám lúa mì có thể giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Các khảo sát về vấn đề này đang còn tiếp diễn

Kết luận

Mặc dù chất xơ được coi như món quà thiên nhiên mà Thượng Đế tặng cho loài người để tăng cường sức khỏe, như lời bác sĩ Denis Burkitt nói cách đây từ hơn 30 năm, nhưng hầu như chúng ta không tận dụng món quà đó.

Theo các nhà chuyên môn, mỗi ngày nam giới nên tiêu thụ 30gr, nữ ít hơn: 21gr chất xơ. Tuy nhiên nhiều người chỉ ăn rất ít. Có lẽ nhiều người thấy rằng sự ích lợi của chất xơ mới chỉ được biết tới qua kết quả quan sát cách ăn uống của dân chúng, trên các thử nghiệm chứ chưa được khoa học chứng minh.

Trong khi đó, theo thống kê, quý vị lão trượng dường như biết tới công dụng của chất xơ cho sức khỏe nên rất năng dùng. Đó là nhờ ở kinh nghiệm của tuổi già. Cho nên các vị này dùng nhiều rau, trái cây để có nhiều chất xơ ngõ hầu sức khỏe được tốt lành hơn.

Mấy điều nên nhớ khi định dùng thêm chất xơ:

-Coi xem mình cần ăn bao nhiêu mỗi ngày rồi tăng dần dần chứ không nên ăn quá nhiều ngay từ lúc ban đầu.
-Nhớ uống thêm nước vì chất xơ hút nước rất mạnh.
-Dùng vừa đủ với nhu cầu.
-Nên ăn nhiều loại chất xơ khác nhau.


Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D., Texas-Hoa Kỳ
UserPostedImage
thunder  
#37 Posted : Sunday, April 24, 2011 2:50:45 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Thức ăn tốt và không tốt cho người bệnh gan?


Hỏi : Tôi bị bệnh viêm gan B, muốn nhờ bác sĩ cho biết những thức ăn tốt và không tốt cho bệnh này. (Văn Tiến)

Đáp : Gan là một cơ quan rất quan trọng của cơ thể, thực hiện rất nhiều chức năng khác nhau. Theo một số tài liệu, gan đảm nhiệm tới trên 500 chức năng khác nhau trong cơ thể, nhiều người ví gan như một nhà máy sinh hóa khổng lồ. Gan giúp giải độc cho cơ thể, tham gia vào các quá trình chuyển hóa, điều hòa hệ tiêu hóa và việc cung cấp năng lượng cho cơ thể. Gan cũng giúp cho việc cân bằng giữa các chất đường, đạm, mỡ; giữ cho cơ thể có được điều kiện sức khỏe tốt nhất.

Do vai trò quan trọng của gan nên khi gan bị viêm hay tổn thương không hồi phục thì sức khỏe của người bệnh bị đe doạ nghiêm trọng. Bên cạnh việc điều trị viêm gan thì chế độ ăn uống, dinh dưỡng và tập luyện cũng đóng góp vai trò vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ trong quá trình trị liệu bệnh gan. Vì vậy việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng cho những người mắc bệnh viêm gan là điều chúng ta cần quan tâm.

Chế độ ăn cho người bị viêm gan cần đảm bảo cả 2 yếu tố chất và lượng: Đảm bảo cho người viêm gan đủ những chất cần thiết để tồn tại và phát triển, bao gồm những chất cơ bản như đạm, bột - đường, sinh tố và các yếu tố vi lượng, chất xơ tùy theo thể trạng và tính chất bệnh lý của gan. Nhìn chung, ở cơ thể trưởng thành trung bình chúng ta cần từ 1800 đến 2500 kcal/ngày, trong đó đạm cần 1-1,5 gr/kg thể trọng. Ngoài ra cơ thể chúng ta cũng cần khoảng từ 20-30 gr chất xơ. Chất này có nhiều trong trái cây và rau như cam, chuối, cà rốt, đậu đỏ, đậu đen, gạo lức, các loại rau (muống, dền, cải cúc, rau ngót...). Chế độ ăn cụ thể cho tình trạng bệnh như sau:

1. Với người bị viêm gan B cấp tính: cần ăn thành nhiều bữa, tránh ăn quá no một lúc, không nên ăn những thức ăn khó tiêu có nhiều gia vị, dầu mỡ ; nên uống nhiều nước nhưng không uống nước đá, đặc biệt không uống bia rượu, cà phê, thuốc lá. Bên cạnh đó trong giai đoạn viêm cấp cần có chế độ nghỉ ngơi thường xuyên, không làm việc quá sức, tránh các căng thẳng tâm lý không cần thiết, hạn chế dùng thuốc một cách tối đa và nên tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ, không tự ý dùng thuốc bừa bãi. Khi tình trạng nhiễm độc gan trầm trọng cần được theo dõi chăm sóc trong bệnh viện, còn nếu mức độ nhẹ có thể nghỉ ngơi điều trị tại nhà. Tự điều trị ở nhà cần lưu ý nên ăn nhẹ và ăn nhiều hơn về buổi sáng vì một số nghiên cứu cho thấy buổi sáng cơ thể và khả năng hấp thu của gan tốt hơn so với chiều; buổi chiều nên ăn ít hơn để tránh bị đầy bụng và nên ăn thành nhiều bữa. Về cơ bản vẫn phải ăn đủ chất dinh dưỡng, đủ năng lượng. Sau khi gan bình phục có thể ăn uống trở lại bình thường chỉ cần giảm mỡ và các đồ uống có hại cho gan.

2. Với người bị viêm gan mạn tính: Một số tác giả cho rằng nguy cơ đầu tiên lại chính là sự thiếu dinh dưỡng, chính vì vậy những người bị viêm gan mạn tính được khuyên nên tiếp tục ăn uống một cách bình thường, tránh ăn kiêng quá mức cần thiết. Đồng thời, để tạo ra sự ngon miệng nên thay đổi nhiều loại thức ăn khác nhau trong chế độ ăn nhiều rau quả và trái cây để có đủ chất xơ, cũng như nên ăn nhiều đạm nhất là đạm thực vật, uống thêm một số thuốc bổ bổ sung vi tamin và khoáng chất. Tuy nhiên cần lưu ý không nên uống hay ăn những thực phẩm chứa nhiều chất sắt vì gan là cơ quan có chứa rất nhiều chất sắt, gan của người nhiễm siêu vi C có khuynh hướng giữ chất sắt nhiều hơn mức bình thường, vì vậy đưa vào cơ thể thêm nhiều chất sắt dễ làm tăng nguy cơ tổn thương các cơ quan khác như tim, tụy. Các chuyên gia cũng khuyên người bị bệnh gan nên tránh nấu ăn bằng nồi sắt vì một số phân tử sắt có thể hòa tan vào thức ăn.

Ở những bệnh nhân viêm gan mạn tính giai đoạn đầu có thể sự tiêu hóa chưa gặp trở ngại nào, nhưng về lâu dài hệ thống tiêu hóa sẽ yếu dần vì vậy dễ dẫn đến thiếu dinh dưỡng. Vì thế, các chất đa sinh tố, axit folic được khuyến khích sử dụng, nhất là trong những trường hợp viêm xơ gan do rượu.

Khi viêm gan mạn tính có vàng da, khả năng bài tiết mật có thể giảm vì thế sự hấp thu các chất béo trở nên khó khăn hơn, các loại sinh tố hòa tan trong mỡ như Vitamin A, D, E sẽ không hấp thụ đủ vì vậy nên bổ sung thêm các loại sinh tố trên mỗi ngày.

Việc cần bổ sung chất đạm trong viêm gan là rất cần thiết vì chất đạm giúp cơ thể nhanh phục hồi và có tác dụng chống đỡ lại bệnh tật, làm cho tế bào gan tăng trưởng và phục hồi. Nên ăn các chất đạm có nguồn gốc từ thực vật như đậu xanh, đậu nành và từ tôm cá…

Cần tránh tuyệt đối bia rượu, đây là kẻ thù rất nguy hiểm với gan. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở những người nghiện rượu bia lâu ngày dễ dẫn tới viêm gan, xơ gan, đặc biệt dễ nhiễm siêu vi C và làm các bệnh gan trở nên trầm trọng hơn do vậy sẽ giảm tuổi thọ so với những người bị viêm gan mà không uống rượu.

Tránh béo phì vì bệnh béo phì dễ dẫn đến các bệnh tim, mạch, huyết áp, tiểu đường, nhiễm mỡ gan làm cho gan đã bị viêm có nguy cơ trở thành xơ gan. Vì vậy những người viêm gan mạn tính cũng nên có chế độ tập thể dục một cách phù hợp và giảm bớt các thức ăn có chất béo, cholesterol và đường đồng thời có chế độ ăn uống ít calo hơn ở những người bị viêm gan mạn mà không mắc bệnh béo phì. Nhưng cũng cần lưu ý ở những người béo phì bị viêm gan mạn vẫn có thể bị thiếu dinh dưỡng trầm trọng mặc dù bên ngoài có vẻ như rất mập mạp.

Ngoài ra còn rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh có thể gây tổn thương các tế bào gan, nên người bị viêm gan cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng bất cứ một loại thuốc nào.

Tóm lại người bị viêm gan, ở với từng giai đoạn việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng hợp lý để cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể và tránh xa các chất độc hại là rất cần thiết nhằm góp phần tạo nên chất lượng sống tốt hơn cũng như kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.

BS Bạch Long
thunder  
#38 Posted : Sunday, April 24, 2011 3:11:31 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Chữa trị đau bụng, ăn không tiêu bằng bưởi


Việt Nam có nhiều giống bưởi quý: bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi, bưởi Thanh Trà… Dưới đây là một số cách dùng bưởi để phòng chữa bệnh.

UserPostedImage
Hình ảnh về trái bưởi

Chế nước pectin để uống

Hạt bưởi chọn loại to, sạch, đẹp. Để dùng trong ngày lấy khoảng 20 hạt. Cho hạt vào cốc, rót nước sôi ngập hạt đánh đều khoảng 5 phút rồi lắng lấy nước vào 1 cốc riêng. Đổ nước lần 2, lần 3 cho đến khi hạt bưởi hết chất nhầy. Dồn nước đã góp lại để dùng. Sau 3 giờ không dùng hết thì cho vào tủ lạnh sẽ tạo thạch. Dùng để uống cho mát vào ngày hè, tiêu hóa tốt, chống táo bón, giảm hấp thu chất béo gây béo phì, khống chế tăng đường huyết cho người bị đái tháo đường, các trường hợp chảy máu (trĩ, phẫu thuật).

Bưởi làm thuốc

Múi bưởi: Vị ngọt chua, tính hàn. Dùng để giã rượu, cầm nôn nghén.

Vỏ bưởi: Vị đắng ngọt, tính ấm. Giảm ho long đờm, điều khí giảm đau. Vỏ bưởi đào hay dùng làm thuốc hơn (lợi tiểu tiêu phù). Bóp tinh dầu chữa rụng tóc, hói đầu.

Hạt bưởi: Vị đắng, tính ấm, chữa ăn không tiêu.

Hoa bưởi: Thơm ngát làm hương liệu giúp tiêu hóa tốt.

Theo Tuệ Tĩnh, bưởi có vị chua, tính lạnh, làm cho thư thái, trị nôn nghén, biếng ăn, tích rượu. Vỏ bưởi tính vị đắng, cay, thông lợi, trừ đàm, hóa thấp, hòa huyết, giảm đau, tiêu phù (bỏ cùi trắng sao vàng).

Thân, lá, hoa cây bưởi đều có tác dụng chữa bệnh

- Chữa đau dạ dày: làm nước pectin từ hạt bưởi như đã nói trên để uống.

- Đau bụng ăn không tiêu: vỏ bưởi sao vàng 4 -12g, sắc lấy nước uống.

-Đau bụng do lạnh, đầy: lá bưởi non luộc hay nướng, đắp lên rốn.

-Trĩ: rễ bưởi rửa sạch 20g/ngày sắc uống.

-Hạ nang (bìu dái) sa xuống đau tức: bưởi non 1 quả, gọt vỏ sao vàng, hạ thổ, sắc nước uống.

- Thấp khớp: chùm gửi cây bưởi sao vàng sắc nước uống.

- Lá bưởi dùng cho nồi xông giải cảm lạnh.
Bưởi ướp mật ong

- Múi bưởi tươi 500g, mật ong 250g.

- Rượu trắng vừa đủ, múi bưởi bóc vỏ, bỏ hạt ngắt từng miếng nhỏ, bỏ trong bình sứ đổ rượu vừa phải, đậy nút, bịt kín miệng lọ, ngâm 1 đêm. Ngày hôm sau cho múi bưởi vào nồi đun đến khi đặc thì cho mật ong, trộn đều là được. Khi nguội đựng vào lọ sứ dùng dần. Ngày ăn 3g, ngày 3 lần. Công dụng trừ thấp, tan đờm, trị ho, kém ăn. Thầy thuốc Trung Quốc ca ngợi tác dụng của nó thanh phế nhiệt, hóa đàm khi dùng bưởi tươi. Nếu gặp ho đàm ở người có tiêu hóa không tốt thì nấu canh bưởi với thịt heo nạc, thêm mấy lát gừng già để trợ tiêu hóa thì sẽ có hiệu quả mong muốn.

Vào dịp Tết, nhà nào cũng mâm cao cỗ đầy, thường là thức ăn béo trệ. Do đó rất cần thường xuyên có rau trái tươi, nhất là bưởi và họ hàng cam, quýt, quất… Và phải nhớ bưởi “toàn bộ”, nghĩa là bóc lấy múi để ăn, không chỉ ép lấy nước, không dùng máy xay sinh tố (trừ trường hợp không có răng hoặc không nhai được) vì sẽ làm hỏng sự kết hợp hài hòa trong cơ cấu của nó, và tránh được gây suy dinh dưỡng cho trẻ. Để hoàn chỉnh hơn nữa, cần ăn thêm ít phần xốp cũng có nhiều tác dụng phòng chữa bệnh cho mọi người. Có tác giả còn viết phải chọn ăn loại bưởi có hột, vì hột ngâm nước chế thành những món ăn dân dã, thú vị như thạch trắng.
Những trường hợp nào kỵ ăn bưởi?

Các chứng bệnh kị chua như đau dạ dày thừa toan, không ăn lúc đói gây cồn ruột và một số bệnh về răng, miệng (gây xót, mòn men răng…).

Theo dinhduong

thunder  
#39 Posted : Tuesday, April 26, 2011 1:47:05 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

BỆNH BÉO PHÌ (Obesity)


* Tổng quát:

Theo thống kê năm 2005 của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), toàn cầu có khoảng 1.6 tỉ người trên 15 tuổi bị dư cân (overweight), trong đó có 400 triệu người béo phì (obesity).

Tại Hoa Kỳ, thống kê năm 2003-2004 của Trung Tâm Kiểm Soát Và Đề Phòng Bệnh Tật (CDC) cho biết 66% người dân Mỹ dư cân, trong đó 33% mắc bệnh phì. Năm 1980 con số này là 14.5%, năm 1994 là 23%. Khoảng 15% trẻ em ở tuổi vị thành niên (teenager) bị bệnh béo. Một điều đáng ngạc nhiên là nhóm sắc dân thiểu số (minority) lại có tỷ lệ mắc bệnh béo phì cao hơn. Phái nữ có khuynh hướng mập hơn nam giới. Ngoài ra, đa số người mắc bệnh béo không hề nghĩ rằng mình đang có nhiều rủi ro gặp phải các chứng bệnh nguy hiểm hiện tại cũng như tương lai.

Như thế bệnh béo phì ngày càng gia tăng tại Hoa Kỳ và trên thế giới. Đó cũng là bệnh của các nước nơi mà thực phẩm dư thừa. Và béo phì cũng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe.

* Định nghĩa

Béo phì là một bệnh mà trọng lượng mỡ trong cơ thể quá mức bình thường, vì thế mà sức nặng của cơ thể cũng lên cao. Khi một người có trọng lượng cơ thể 20% cao hơn trọng lượng bình thường, người đó được xem như mắc bệnh béo phì. Bệnh này còn được gọi là mập phì, quá khổ, nặng cân v.v..

Cơ quan Y Tế Quốc Tế (WHO) dùng chỉ số BMI (body mass index; chỉ số khối lượng cơ thể) để xác dịnh tình trạng một người có bị béo phì hay không.

BMI là tỉ lệ giữa trọng lượng cơ thể (tính bằng kilogram kg) đối với bình phương của chiều cao (tính bằng mét m)2, công thức như sau:
BMI = Trọng lượng (kg) : (chiều cao mét)2

Thí dụ: Một người cân nặng 70 kilogram, cao 1.50 m, BMI sẽ là:
BMI= 60 : (1.5)2 = 60 : 2.25 = 31.1 (BMI = 31.1)

Cũng theo định nghĩa của WHO, nếu BMI bằng hoặc nhỏ hơn 25, bạn có cân lượng bình thường. Tuy nhiên, nếu BMI nhỏ hơn 18.5, bạn được coi là thiếu cân (underweight).

Nếu BMI từ 25 đến 29.9, bạn được coi là “dư cân” hoặc “thừa cân” (overweight).
Nếu BMI lớn hơn 30, bạn coi như đã mắc bệnh “béo phì” (obesity). Béo phì được chia làm 3 loại:

Loại I: BMI từ 30 đến 34.9
Loại II: BMI từ 35 đến 39.9
Loại III: BMI từ 40 trở lên

Muốn tính BMI tự động, xin vào xem website: http://www.nhlbisupport.com/bmi/
Người ta đã chứng minh rằng BMI càng cao thì nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm càng lớn (xem phần biến chứng ở dưới).

Một phương pháp khác để xác định béo phì là đo vòng bụng. Các vòng bụng dưới đây có thể xác định ta có dư cân hoặc béo phì hay không:

Nam giới > 40 inches (> 102 cm)
Nữ giới > 35 inches (> 88 cm)

Một điều cần ghi nhớ là phương pháp này chỉ có giá trị khi chỉ số BMI nằm trong khoảng 25.5 và 34.9.

Cách đo vòng bụng (nên có một người khác phụ giúp):

1- Đứng thẳng lưng
2- Bỏ bớt quần áo dầy
3- Dùng thước giây, quàng xung quanh bụng, ngang mép trên của xương hông và dưới bờ xương sườn thấp nhất
4- Vòng tròn ngang bụng phải song song với mặt đất.
5- Đừng siết dây quá chặt hoặc để quá lỏng.

* Nguyên nhân của bệnh béo phì


Có rất nhiều nguyên nhân gây ra béo phì, ta có thể tóm thu vào 3 nguyên nhân chính:

1- Nguyên nhân di truyền
2- Chế độ dinh dưỡng
3- Thiếu sự năng động

1- Nguyên nhân di truyền
Yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến bệnh béo phì trong nhiều gia đình. Nếu cha mẹ béo phì, con cái dễ có khuynh hướng mắc bệnh này.

2- Chế độ dinh dưỡng

Thức ăn, thức uống hoặc cách ăn uống không lành mạnh dễ gây ra bệnh: như thói hay ăn vặt; loại thức ăn nhanh (fast food); thức ăn có nhiều chất béo (fat), tinh bột; nước ngọt (soda)…

3- Thiếu vận động cơ thể

Trong thời đại văn minh, người ta thường xử dụng phương tiện máy móc thay cho chân tay, làm giảm tính năng động cơ thể. Thiếu vận động, thân thể không đốt hết năng lượng thu nhập nên được tích trữ trong cơ thể dưới hình thức mỡ thừa, gây ra béo phì.

Tóm lại, người ít hoạt động, ít thể dục thể thao dễ bị tăng cân và béo.

4- Các nguyên nhân khác:

Một số nguyên nhân khác cũng có thể gây ra béo phì như
:

- Phụ nữ mang thai.
- Một số dược phẩm như steroids (cortisone, prednisone, prednisolone…), thuốc ngừa thai, kích thích tố nữ..
- Một số bệnh tật làm cho cơ thể béo phì như bệnh giảm tuyến giáp (hypothyroidism), bệnh Cushing (tăng tuyến thượng thận), bệnh viêm khớp xương (cơ thể khó di động)..

* Triệu chứng:

Triệu chứng của bệnh béo phì thường thể hiện dưới một hay nhiều các dấu hiệu như sau:

- Ngủ ngáy
- Nghẹt thở khi ngủ
- Đổ nhiểu mồ hôi; luôn luôn cảm thấy nóng nực
- Buồn ngủ ban ngày
- Rất dễ mệt khi cơ thể hoạt động dù chỉ rất nhẹ.
- Lở da, nhiễm trùng da nơi các nếp nhăn
- Dễ buồn chán (depression)
- Xét nghiệm máu thường thấy lượng mỡ cao, đường cao…

* Biến chứng: Béo phì thường tạo ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho cơ thể như:

- Nghẹt thở khi ngủ.
- Bệnh tim mạch, bệnh động mạch tim, nhồi máu cơ tim, cao máu..
- Tai biến mạch máu não.
- Bệnh tiểu đường lọai II (loại tiểu đường khó điều trị bằng Insulin).
- Viêm xương, viêm khớp xương (cơ thể thiếu vận động)
- Gia tăng nguy cơ các bệnh ung thư (ruột già, vú, tử cung…)
- Bệnh sỏi túi mật.
- Mất chủ động tiểu tiện (Stress incontinence)
- Rối loạn kinh nguyệt

* Chữa trị bệnh béo phì
:

Mục tiêu chữa trị bệnh béo phì là làm giảm cân (weight loss) trong dài hạn. Kết quả của sự giảm cân dù chỉ rất nhỏ đều làm lợi cho cơ thể và sức khỏe bệnh nhân. Chỉ cần giảm đi 10 cân (pound, lbs), chúng ta đã giảm đi rất nhiều nguy cơ tác hại lên cơ thể. Tuy nhiên, việc điều trị giảm cân rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ý chí và quyết tâm cao của bệnh nhân.

Nguyên tắc của điều trị giảm cân: Mỗi tuần người bệnh phải giảm tối thiểu từ 1 đến 2 cân (pound). Sau 6 tháng, trọng lượng cơ thể phải giảm ít nhất 10% trọng lượng ban đầu. Việc giảm cân phải được tiến hành liên tục, không được ngừng, cho dù trọng lượng cơ thể đã trở lại bình thường. Người bệnh phải tiếp tục điều trị bảo trì (xem ở phần dưới).

Những phương cách làm giảm cân như sau
:

1- Giảm năng lượng thu nhập hàng ngày. Đa số năng lượng đều từ thực phẩm, thức uống. Đơn vị năng lượng được tính bằng calori. Tùy theo chỉ số BMI, mỗi ngày phải giảm từ 500 đến 1000 calori:
a. Nếu BMI nằm trong khoảng 27-35, mỗi ngày cần giảm 300-500 calori.
b. Nếu BMI trên 35, cần giảm 500-1000 calori mỗi ngày

Phụ nữ ít hoạt động cần một năng lượng 1600 calori mỗi ngày. Đàn ông hoặc phụ nữ năng động cần 2500 calori mỗi ngày.

Chú ý: trên nhãn của bao, hộp đựng thực phẩm trên thị trường đều có ghi rõ số lượng calori, ta cần đọc cho kỹ để tính số năng lượng có trong thực phẩm đó.
2- Gia tăng hoạt động cơ thể:
a. Đi bộ, thể dục, thể thao thường xuyên là phương pháp hữu hiệu để giảm cân và phòng bệnh béo phì.
b. Theo cơ quan IOM (Institute Of Medicine), người lớn cần vận động vừa phải (moderate activity) tối thiểu khoảng 1 giờ mỗi ngày và dài hạn.

3- Điều trị bằng dược phẩm:

Khi các phương pháp kể trên không kết quả, chúng ta mới phải dùng dược phẩm. Đa số dược phẩm điều trị bệnh béo phì có tác dụng làm giảm sự thèm ăn mà ta gọi là thuốc “chống đói” hoặc “giảm đói” (appetite suppressant), cần phải được bác sĩ cho toa và theo dõi vì có nhiều tác dụng phụ. Những người có các bệnh về hệ tim mạch như bệnh cao máu, bệnh tim.. thì không nên dùng. Tên một số dược phẩm đó là: phentermine (Adipex-P), phendimetrazine (Bontril), sibutamine (Meridia)...

Một loại thuốc khác có tên thương mại Alli được bán tự do ngoài thị trường, tên tổng quát là orlistat. Tác dụng của thuốc là ngăn cản sự hấp thụ mỡ trong thức ăn. 1 viên Alli chứa 60 mg chất orlistat. Thuốc này uống sau các bữa ăn có mỡ, mỗi ngày tối đa 3 lần, mỗi lần 1-2 viên. Nếu bữa ăn không mỡ thì không cần uống. Thuốc Xenical trị béo mập có 120 mg orlistat cần phải có toa bác sĩ.

Xin vào website dưới đây để biết thêm chi tiết
.

http://www.mayoclinic.com/health/alli/WT00030www.Myalli.com

Sau khi ngưng thuốc, trọng lượng có thể gia tăng trở lại, do đó cần được điều trị bảo trì và đề phòng bệnh tái phát.

4- Giải phẫu:

Nếu bệnh nhân có chỉ số BMI cao hơn 40, hoặc trên 35 kèm với nhiều nguy cơ bệnh như cao máu, cao mỡ, cao đường, nghẹt thở khi ngủ v.v., và khi mà các cách điều trị nói trên không kết quả, chúng ta cần đến phương pháp giải phẫu. Giải phẫu trị béo phì bao gồm cắt nhỏ bao tử, làm ống dẫn tắt tiêu hóa (gastric bypass). Dĩ nhiên phải có bác sĩ chuyên môn quyết định và thực hiện phẫu thuật.

5- Điều trị bảo trì (maintenance)

Sau khi sự giảm cân có kết quả, người bệnh cần phải điều trị bảo trì, nghĩa là tiếp tục phương pháp tránh tăng cân lượng bằng sự thay đổi lối sống, thay đổi về cách ăn uống, năng vận động cơ thể…

* Phòng ngừa

Đề phòng là phương pháp tốt nhất để tránh bệnh dư cân hoặc béo phì và các nguy hại cho sức khỏe của nó. Những phương pháp ngừa bệnh chính như sau:

- Áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh (ít mỡ, ít chất bột, ít chất ngọt..), nhiều rau, đậu, trái cây…
- Theo dõi lượng calori thu nhập mỗi ngày.
- Năng vận động cơ thể, thể dục thể thao thường xuyên.
- Giảm thì giờ ngồi trước màn ảnh (“screen time”) như bớt xử dụng TV, computer, chơi game, nhất là trẻ em.
- Khám tổng quát hàng năm dù bên ngoài ta không thấy có bệnh.
- Theo dõi trọng lượng cơ thể, chỉ số BMI của mình.
- Săn sóc và theo dõi cẩn thận sức khỏe trẻ em, nhất là cho ăn thức ăn lành mạnh, hạn chế giờ chơi game, xem TV..

KẾT LUẬN

Bệnh dư cân và béo phì là hậu quả của sự ăn uống thực phẩm không lành mạnh, cơ thể thiếu hoạt động, không theo dõi tình trạng sức khỏe của mình.

Bệnh này tạo nên nhiều nguy cơ các bệnh nguy hiểm khác cho cơ thể. Đề phòng bệnh rất quan trọng, vì khi đã mắc bệnh, việc chữa trị rất khó khăn. Việc điều trị phải được thực hiện đúng cách và liên tục.

BS Đỗ Văn Hội

Weight and Body Solutions, Inc.
Tampa, Florida.
www.WeightAndBody.com

(Tháng 1, 2011)

Tài liệu tham khảo:

- The practical guide: Identification, Evaluation and Treatment of Overweight and Obesity. National Institutes of Health.
- Obesity, Author: Gabriel I Uwaifo, MBBS, Clinical and Research Attending, Assistant Professor of Medicine and Endocrinology, MedStar Clinical Research Center, MedStar Research Institute and Washington Hospital Center. Coauthor(s): Elif Arioglu, MD, Assistant Professor of Medicine, Division of Endocrinology and Metabolism, University of Michigan; Updated: May 21, 2009
- www.Webmd.com
- www.Mayoclinic.com
- Diagnosis and Treatment of Obesity in Adults: An Applied Evidence-Based Review
A. John Orzano, MD, MPH; John G. Scott, MD, PhD;
From Journal of the American Board of Family Medicine
- Http://www.ehow.com/how_...waist-circumference.html
- Cách tính BMI: National Heart, Lung and Blood Institute (National Institutes of Health), website: http://www.nhlbisupport.com/bmi/

thunder  
#40 Posted : Wednesday, April 27, 2011 11:20:59 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


Phương pháp lấy sạn thận mà không cần mổ


Ba tài liệu về sạn thận, sạn mật và tẩy gan rất có gía trị. Ngoài ra có một phương pháp lấy sạn cổ điển ở VN thường dùng cũng có hiệu qủa mà tôi vẫn thường áp dụng cho những bệnh nhân như sau :

- Mua 1 qủa dứa, gọt vỏ, cắt phần đầu làm nắp đậy, khoét một lỗ sâu 3cm, đổ vào lỗ một muổng nhỏ (muỗng cà phê) bột phèn chua, rồi đậy nắp lại, bỏ qủa dứa vào lò nướng cho chin vàng, lấy ra, vắt lấy nước cốt, được chừng 2 ly.
Tối đi ngủ uống 1 ly, mục đích làm cho sạn thận và bàng quang mềm ra như trứng gà non.

Sáng vừa thức giấc, uống 1 ly còn lại, nằm nghỉ 30 phút, mục đích làm cho vỡ sạn thành bột bụi, rồi đi tiểu. Để ý nước tiểu đục như nước vo gạo hay như nước vôi, mùi nước tiểu rất khai.

Triệu chứng của sạn thận là có cơn đau thắt từ bụng lan ra sau lưng, có khi đau từ thắt lưng sang bụng, mệt mỏi, nói không ra hơi, đi lại mạnh thì đau, không ăn uống được, có lúc nghĩ là bệnh đau lưng, có lúc nghĩ là bệnh đau bụng, nhưng không đi cầu…Sau khi uống nước dứa phèn chua một ngày, những triệu chứng kể trên biến mất, không còn đau đớn, thở dễ, nói cười sang sảng như người hết bệnh…

Sở dĩ tôi chỉ dẫn những bệnh nhân bị bệnh sạn thận dùng bài thuốc này là do một người bạn ở VN bị sạn hai bên thận do kết qủa khám nghiệm thấy một bên thận có sạn to bằng nửa ngón tay cái, đã phải mổ gấp ở BV Bình Dân, anh xin cục sạn đó về làm kỷ niệm, còn sạn bên thận kia 1-2 tháng sau chờ anh hồi phục sức khỏe mới mổ tiếp.

Trong thời gian chờ đợi, thường xuyên anh bị đau phải nghỉ làm để dưỡng bệnh, nhưng triệu chứng trên lại tái phát.
May mắn thay, anh gặp được một vị lương y lão thành chỉ cho bài thuốc dân gian này, anh không tin mấy, vì sợ phèn chua có độc, nhưng anh có ý định làm nước dứa phèn chua này, rồi lấy cục sạn đã mổ, ngâm vào đó xem kết qủa ra sao.

Ngày hôm sau, anh cầm cục sạn, nó có vỏ mềm như vỏ trứng non trong chứa chất lỏng chứ không cứng như cục sạn hôm qua. Anh hỏi tôi :

- Dung dịch này uống vào có sao không ?

Tôi trả lời : Dân quê miền Bắc chúng tôi trước kia đều dùng những cục phèn chua để khuấy lọc nước sông dùng làm nước ăn uống hàng ngày từ đời ông bà cha mẹ đến nay có thấy hại gì đâu. Thế là anh áp dụng để chữa cục sạn thứ hai. Kết qủa là anh thấy khỏe, hết những triệu chứng đau và mệt mỏi kể trên.

Cho nên đến ngày hẹn mổ với bác sĩ, anh đem theo một chai nước dứa phèn chua, và kể chuyện cho bác sĩ nghe, bác sĩ cho kiểm tra thận không thấy còn cục sạn, bác sĩ xin chai nước dứa phèn chua để ngâm thử mấy cục sạn mà bác sĩ sẵn có để thử nghiệm. Mấy hôm sau, bác sĩ cho hay, qủa thật các cục sạn đã mềm ra, bóp dễ vỡ chảy ra nước, ông công nhận dung dịch này có kết qủa làm tan vỡ sạn thận.

Sang đến Canada, bà nhạc của tôi cũng có những triệu chứng như trên, đi BV Jean Talon khám, bác sĩ thấy có sạn to, hẹn một tuần sau mổ. Nhưng về nhà, cụ đau không đi lại được, uống thuốc giảm đau không kết qủa. Tôi đề nghị với cụ uống nước dứa phèn chua để giảm đau, còn việc đến ngày hẹn đi mổ thì cứ đi. Cụ bằng lòng.

Trái dứa ở Canada to gấp 2 lần trái dứa VN, cho nên tôi làm 2 lần. Tôi cho cụ uống 1 ly vào buổi tối, sang hôm sau uống 1 ly, khi đi tiểu, để ý thấy nước tiểu đục nhiều, sau đó cụ đi lại không đau, nói cười vui vẻ. Cụ nghi ngờ không biết sạn có hết không. Tôi nói còn nửa trái dứa nữa, cụ uống tiếp, khi đi tiểu, nước tiểu bình thường không vẩn đục. Đến ngày hẹn mổ, tôi sợ bác sĩ chỉ nhìn theo kết quả cũ thì chắc chắn cụ sẽ phải bị mổ oan uổng, nên đề nghị với bác sĩ cho khám lại trước khi mổ vì nói rằng mình đã khỏe hết đau như trước. Bác sĩ khám lại rồi cho về, hẹn sẽ thông báo kết qủa sau 1 tuần. Chúng tôi đợi 2 tuần không thấy bác sĩ cho biết kết qủa, nên đã phone hỏi bác sĩ, ông cho biết không có sạn nên không phải mổ.

Con trai tôi đi làm, có những bạn Canadien bị sạn thận, muốn giới thiệu họ dùng nước dứa phèn chua nhưng sợ có chuyện gì xảy ra mình mang họa, nên chỉ cho họ ra tiệm thuốc bắc mua loại thuốc thuốc bào chế sẵn của đông y cổ truyền có tên là Thạch Lâm Thông ( thạch là đá, lâm là đi tiểu, thông là cho thoát ra ngoài), một hộp 40 viên, thành phần chính của thuốc là 100% Kim tiền thảo (cỏ đồng tiền). Tối uống 5 viên, sáng uống 5 viên, nước tiểu buổi sang bị vẩn đục. Uống 2 ngày nếu nước tiểu còn vẩn đục mới cần uống hết 1 lọ. Nhiều người uống cũng có kết qủa.

Những người bị sạn mật uống 4 ngày hết một lọ, uống 1-2 lọ, đi khám lại cũng thấy mất sạn không cần phải cắt túi mật. Người bình thường như chúng ta, cứ mỗi năm uống một lần, làm sạch sạn trong thận, bàng quang, sạn mật, và nhất là chữa được bệnh viêm tuyến tiền liệt (prostate) cũng có kết qủa.

Kèm theo đây là email rất qúy về tiêu trừ Sạn do chị Phung từ Germany gửi tới. Chị Phung nguyên là Dược Sĩ Chủ Nhiệm (Manager) cho công ty Dược Pham Hochst Germany, nên tin tức về Y Khoa của chị rất đáng tin tưởng.
(From: Phi-Phung Koster koster@msn.com)

S/T Net
Users browsing this topic
Guest (2)
39 Pages<1234>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.