Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#1 Posted : Tuesday, March 22, 2011 8:46:44 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
UserPostedImage

Thân mến chào tất cả các bạn ghé thăm trang Y Dược Và Sức Khoẻ
Mong được các bạn hưởng ứng , góp ý cùng những bài vở y dược để
giúp cho trang này được thêm phong phú và hoàn hảo hợn

thunder

thunder  
#2 Posted : Tuesday, March 22, 2011 8:54:04 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Truyền thuyết con rắn trong biểu tượng ngành y dược học


Ngành y dược học đã lấy hình con rắn làm biểu tượng. Vậy nguồn gốc xuất phát từ đâu để biểu tượng hình con rắn trở thành con vật tổ của ngành y dược học.

Ngành y dược học đã lấy hình con rắn làm biểu tượng. Vậy nguồn gốc xuất phát từ đâu để biểu tượng hình con rắn trở thành con vật tổ của ngành y dược học.

Truyền thuyết con rắn

Theo truyền thuyết cổ Hy Lạp, con trai của thần Appolon (Thần Thái Dương) và Coronis, con gái của Phlégyas, vua xứ Thèbes là Esculape được xem là ông tổ của ngành y dược. Esculape không những có khả năng chữa bệnh mà còn có cả biệt tài làm cho người chết sống lại.

Thần Esculape (tiếng Latin) còn có tên gọi khác là Asclépios (tiếng Hy Lạp) có lẽ sinh ra ở Thessalie thuộc miền Bắc Hy Lạp vào khoảng năm 1260 trước Công Nguyên. Truyền thuyết cho rằng bà mẹ ông qua đời khi đang còn mang thai ông và cha ông đã phải mổ lấy ông ra khỏi bụng mẹ. Vì mẹ mất nên ông bị đem bỏ lên núi gần thành phố Epidaure, nhờ được dê cho bú và chó canh chừng nên ông đã sống sót. Sau đó ít lâu, Esculape được cha mang đến cho Chiron, vị thần Nhân Mã (đầu người, hình ngựa) nuôi dạy. Do bản tính ưa quan sát và lớn lên trong khung cảnh thiên nhiên nên Esculape sớm nhận ra các loại cây cỏ có dược tính chữa bệnh hoặc có thể cải tử hoàn sinh. Cũng theo truyền thuyết, một ngày nọ, Esculape trên đường đi thăm bạn gặp một con rắn, ông đã đưa cây gậy ra và con rắn liền bám lấy rồi bò lên quấn quanh cây gậy. Esculape thấy vậy nên cầm cây gậy đập xuống đất để giết chết con rắn nhưng sau đó ông lại thấy một con rắn khác bò tới, miệng ngậm một loại thảo dược bò đến cứu và làm cho con rắn đã bị chết sống lại. Từ đó ông để tâm tìm kiếm các loại cây cỏ trong núi để chữa bệnh cho con người. Bởi vì vậy, Thượng đế Jupiter (Zeus) sợ Esculape quá tinh thông y học sẽ giúp cho loài người trở thành bất tử nên sai anh em nhà Cyclopes tạo mũi tên sấm sét để trừng phạt. Nhờ thần Apollon kêu xin, Jupiter tha tội và cho tham dự vào hàng tinh tú trong chòm sao Nhân Mã (Sagittaire), từ đó Esculape được xem như thần bổn mệnh của các thầy thuốc.

Gia đình của thần Esculape


Esculape lấy vợ là Lampetie, có hai người con gái là Hygia và Panacée, ba người con trai là Thelesphore, Machaon và Podalire. Tất cả 5 người con của ông bà đều có danh tiếng không kém người cha. Cũng theo truyền thuyết, Hygie đã nuôi rắn thần để chữa bệnh và về sau trở thành Nữ thần biểu tượng cho việc giữ gìn sức khỏe con người, do đó môn Vệ sinh học được đặt tên là Hygène. Cô con gái thứ hai Panacée là vị Nữ thần có khả năng chữa mọi bệnh tật, do đó thuốc chữa bệnh được gọi là Panacée. Hai người con trai đều có tham gia chiến trận thành Troie và đã được Homère ca ngợi trong tập trường ca Iliad. Machaon có tài chữa mọi vết thương cho các chiến binh, còn Podalire là một thầy thuốc ngoại khoa tài năng. Người con trai của Podalire là Hipocoon, tổ tiên của Hippocrate, sau này được tôn vinh là bậc y tổ của thế giới.

Trong nhiều thế kỷ, có thể vào thời kỳ Pindare, đầu thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên; Esculape mới được tôn thờ như một vị thần linh của y học Hy Lạp. Cũng có lẽ từ thời điểm này, những đền thờ đầu tiên được xây dựng để ghi ơn ông, đồng thời còn được dùng làm nơi khám chữa bệnh. Chữ Esculape về sau đã trở thành danh từ chung để chỉ những người hành nghề y dược.

Để tưởng nhớ Esculape, hậu thế đã dựng bức tượng của ông, tay cầm chiếc gậy làm bằng cây nguyệt quế và một con rắn quấn chung quanh. Con rắn này có tên là Elaphe longissima, một loài rắn lành có màu sắc đẹp, sống phổ biến ở châu Âu. Cũng theo truyền thuyết, loài rắn đã được đưa đến La Mã để cứu nguy cho người dân bị nạn dịch hạch đang hoành hành khủng khiếp lúc bấy giờ. Có người còn cho rằng, những con rắn của thần Esculape đã chữa bệnh cho người bằng cách liếm các vết thương của người bệnh trong lúc họ đang ngủ.

UserPostedImage

UserPostedImage


Biểu tượng con rắn của ngành y dược học

Dựa vào truyền thuyết trên, ngành y học đã dùng biểu tượng con rắn thành quấn quanh cây gậy phép của Esculape. Con rắn quấn quanh cây gậy tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh và kéo dài tuổi thọ. Trong biểu tượng của ngành dược học cũng sử dụng con rắn này nhưng nó quấn quanh một cái ly có chân cao. Chiếc ly tượng trưng cho chén thuốc của Nữ thần sức khỏe Hygia, bên trong có chứa đựng chất dịch được chiếc xuất từ các loại cây cỏ. Con rắn tượng trưng cho sức khỏe và sự trẻ trung. Biểu tượng của ngành dược học nhanh chóng đã được quốc tế công nhận giống như biểu tượng con rắn và cây gậy của ngành y học

ThS. Nguyễn Thị Minh Thu
thunder  
#3 Posted : Tuesday, March 22, 2011 8:57:54 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Hippocrate- người sáng lập ra nền y học hiện đại

UserPostedImage


Hippocrates được xem là người sáng lập ra nền y học hiện đại và cũng được xem là thầy thuốc vĩ đại nhất trong thời đại của ông. Ông đã thực hành y khoa của mình trên cơ sở các quan sát và các nghiên cứu cơ thể con người. Ông tin tưởng rằng bệnh tật là do nguyên nhân có thể tìm hiểu được. Ông bác bỏ những quan niệm cho rằng bệnh gây nên do các sức mạnh siêu nhiên và do người ta có những ý nghĩ tội lỗi hay báng bổ thần thánh.

Tương truyền rằng, ông sinh ra ở đảo Cos, một hòn đảo nằm ven bờ biển Tiểu á, gần Rhodes. Ông đã học nghề y từ người cha, vốn là một thầy thuốc. Ông đã từng đi một số nơi, có lẽ là Athen, để nghiên cứu, và sau đó ông trở lại đảo Cos để hành nghề, giảng dạy và viết sách. Trường phái Hypocrates, hay trường phái Cos hình thành xung quanh ông đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tách y học ra khỏi những suy luận mê tín và triết học, đưa y học thành phạm trù khoa học chính xác dựa trên quan sát khách quan và lập luận suy diễn chặt chẽ.

Ông cho rằng cơ thể phải được nhìn nhận như là một tổng thể chứ không phải là một tập hợp rời rạc của các bộ phận. Ông đã miêu tả chính xác nhiều triệu chứng bệnh và là thầy thuốc đầu tiên mieû tả các triệu chứng của viêm phổi cũng như động kinh ở trẻ em. Ông cũng tin tưởng vào quá trình lành bệnh tự nhiên thông qua nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng hợp lý, không khí trong lành và sự sạch sẽ. Ông cũng nhận thấy các cá thể khác nhau có những biểu hiện bệnh với mức độ khác nhau, có những cá thể có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt hơn cá thể khác. Ông cũng là thầy thuốc đầu tiên cho rằng tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm xuất phát từ não chứ không phải từ tim như nhiều người cùng thời quan niệm. Hippocrates đã đi khắp Hy Lạp để hành nghề y, sau đó quay về đảo Cos và thành lập trường y và bắt đầu giảng dạy những tư tưởng y khoa của mình. Một số tài liệu cho rằng ông cũng tiếp cận với nền y học phương Đông. Các tư tưởng và bài giảng y khoa của ông được tập hợp thành "Tập Sao lục của Hippocrates" (Corpus hippocraticum) bao gồm 60 tác phẩm về nhiều lĩnh vực y khoa gồm chẩn đoán, dịch tễ học, sản khoa, nhi khoa, dinh dưỡng và phẫu thuật.

Mặc dù Hypocrates theo quan niệm thời bấy giờ cho rằng bệnh tật là hậu quả của sự mất cân bằng của bốn loại thể dịch, ông kiên trì quan điểm rằng sự rối loạn chịu ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài cơ thể, và thể dịch là chất tiết ra từ các tuyến. Ông tin rằng mục đích của y học là bồi đắp sức khỏe cho bệnh nhân thông qua chế độ ǎn hợp lý và các biện pháp vệ sinh, và chỉ nên sử dụng đến những biện pháp điều trị quyết liệt hơn khi các triệu chứng bắt buộc phải làm như vậy. Quan niệm này trái ngược với trường phái Cnidius cùng thời, nhấn mạnh đến việc chẩn đoán chi tiết và và phân loại bệnh mà bỏ qua bệnh nhân. Có lẽ Hypocrates đã có ý niệm mơ hồ về các yếu tố Mendel và bộ gen trong di truyền, vì ông không chỉ chú ý đến dấu hiệu của bệnh, mà còn đến các triệu chứng biểu hiện trong gia đình hoặc trong cộng đồng, thậm chí biểu hiện qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau.

Trong bộ sách đồ sộ gồm những tác phẩm viết bắt nguồn từ trường phái Cos, chỉ một số ít được cho là do chính Hipocrates viết ra, mặc dù người ta có thể cảm nhận được ảnh hưởng xuyên suốt của ông. Trong số này, cuốn Cách ngôn, tóm tắt những quan sát và suy luận của ông, cùng với cuốn Không khí, Nước và Nơi sống, thừa nhận mối liên quan giữa môi trường và bệnh tật, được xem là quan trọng hơn cả. Bộ sách này đã được dịch thành một số bản, trong đó nổi tiếng là bản dịch của Littré.

Ông soạn thảo "Lời thề Đạo đức Y khoa" (còn gọi là "Lời thề Hippocrates") để y sinh noi theo. Có một số nhà nghiên cứu không cho rằng Hippocrates là tác giả của lời thề này mà có thể là do những môn đồ của Pythagoras. Tuy nhiên, lời thề Hypocrates không trực tiếp mang lại danh tiếng cho ông, song, không nghi ngờ gì nữa, nó tiêu biểu cho những tư tưởng và nguyên tắc của ông. Vẫn chi phối việc thực hành y đức của các bác sỹ ngày nay, lời thề Hypocrates thường vang lên tại lễ tốt nghiệp của các trường y. Lời thề qui định chi tiết quyền được giữ bí mật của bệnh nhân, yêu cầu người thầy thuốc phải có cuộc sống riêng tư và nghề nghiệp đáng kính trọng, và đòi hỏi họ điều trị chỉ với mục đích chữa khỏi bệnh.

Lời Thề Hippocrate

UserPostedImage

Tôi xin thề trước Apollon thần chữa bệnh, trước Es-culape thần y học, trước thần Hygie và panacée, và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả nǎng để làm trọn lời thề và lời cam kết sau đây:

Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ đáp ứng những nhu cầu của các vị đó. Tôi sẽ coi con của thầy như anh em ruột thịt của tôi, và nếu họ muộn học nghề y thì tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà cũng không giấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của các thầy dạy tôi và cho tất cả các môn đệ cùng gắn bó bời một lời cam kết và một lời thề đúng với Y luật mà không truyền cho một ai khác.

Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tùy theo khả nǎng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.

Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng không tự mình gợi ý cho họ; cũng như vậy, tôi cũng sẽ không trao cho bất cứ người phụ nữ nào những thuốc gây sẩy thai.

Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết.

Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quang (1) mà dành công việc đó cho nhưng người chuyên.

Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ.

Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.

Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự qúy trọng mãi mãi của mọi người. Nếu tôi vi phạm lòi thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu một số phận khổ sở ngược lại!

Ban biên tập
Nguồn Cimsi

thunder  
#4 Posted : Tuesday, March 22, 2011 9:02:12 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

CÁC THUỐC CHỮA DỊ ỨNG MŨI


Bài kỳ này, xin tiếp tục câu chuyện dài về bệnh dị ứng mũi (hay viêm mũi do dị ứng), bàn về các cách chữa trị bằng thuốc. Những phương cách dùng để tránh một số chất hay gây dị ứng đã được trình bày trong bài trước.

Sự chữa trị dị ứng mũi bằng thuốc, muốn hữu hiệu, cần dựa vào những yếu tố:

- Định bệnh chính xác:

Đây đúng dị ứng mũi? hay viêm mũi do siêu vi trùng (viral rhinitis: khi bị cảm, cúm)? hoặc viêm mũi cùng các xoang quanh mũi do vi trùng (bacterial rhinosinusitis)? do một bệnh trong cơ thể (như bệnh suy tuyến giáp trạng, ..)? do dùng thuốc (thuốc uống hoặc thuốc xịt mũi)? Đã thế, cần xem trong mũi có gì khác bất thường như vách mũi lệch, thịt dư trong mũi, ...

- Triệu chứng của người bệnh:

Triệu chứng nào làm bạn khổ nhất: ngứa mũi, ngứa mắt, ngứa tai và cổ họng, hắt hơi, chảy mũi nước, hay nghẹt mũi, ..? Tùy triệu chứng nào làm khổ bạn nhất, ta sẽ dùng thuốc thích ứng.

- An toàn:

Nhiều thuốc chữa dị ứng mũi gây buồn ngủ, khiến bạn không làm ăn gì được, hoặc đi trong cuộc đời như đi trong mơ, lái xe gây tai nạn. Dùng thuốc như vậy, dù hữu hiệu, đời cũng mất thú, có khi ra tòa.

- Ý thích của người bệnh:

Bạn thích cách chữa nào, xin cho biết. Tất nhiên, điều này lại tùy thuộc vào sự hiểu biết của bạn về các cách chữa trị, đồng thời, cũng vào... túi tiền của bạn. Cũng xin bạn cho biết, bạn đã từng dùng những thuốc gì, kết quả ra sao. Thử qua nhiều thuốc, có khi thuốc bạn mua bên ngoài không cần toa bác sĩ lại giúp bạn hơn cả những thuốc mắc tiền bác sĩ biên toa cho bạn. Nên, trên đường chạy chữa cái mũi dị ứng khốn khổ, bạn nhớ ghi chép lại tên những thuốc nào bạn đã dùng qua, thuốc nào giúp, thuốc nào không.

Bác sĩ trước khi ngoáy bút trên toa thuốc, sẽ đắn đo, cân phân những điều kể trên. Thêm vào đó, sự trị liệu cũng khác biệt tùy người bệnh là trẻ em, vị cao niên, hoặc phụ nữ mang thai, lực sĩ thi thế vận hội, ...

Thuốc uống

1. Các thuốc antihistamines:

Xin nhắc lại một chút, dị ứng mũi gây do các phản ứng dị ứng khi chất gây dị ứng (gọi là allergens, như những phấn hoa trong mùa này) bay vào mũi, tiếp xúc với các tế bào mast cells nằm ngay trong màng mũi. Phản ứng làm phát sinh nhiều chất hóa học, trong đó có các chất histamine, leukotrienes, ... Histamine là một trong những thủ phạm chính gây các triệu chứng. Thuốc antihistamines (chống lại histamine), bất lực hóa tác dụng của chất histamine, nên làm giảm các triệu chứng dị ứng mũi.
Các thuốc antihistamines hiện được chia làm hai nhóm:

- Các thuốc gây buồn ngủ (sedating antihistamines): các thuốc có thể làm ta dật dừ, buồn ngủ, như Benadryl, Chlor-Trimeton, Tavist, Atarax, Phenergan, ...

Những thuốc này được cái rất rẻ, mua không cần toa bác sĩ. Song chúng hay khiến ta dật dờ, mệt mỏi. May ra, bạn sẽ quen dần với những phản ứng bất lợi của chúng sau 3-4 ngày dùng thuốc. Thuốc còn có thể làm khô miệng, bí tiểu, áp huyết xuống thấp, lên cân, chóng mặt, ù tai, mờ mắt, buồn nôn, ói mửa, ... Thêm vào đó, thường chúng cần được dùng nhiều lần trong ngày, vì có tác dụng ngắn.

Thuốc mới Zyrtec, cũng thuộc nhóm gây buồn ngủ, song ít gây dật dừ và những phản ứng phụ khác như các thuốc cùng nhóm, lại chỉ cần dùng ngày 1 lần.

- Các thuốc không buồn ngủ (nonsedating antihistamines): gồm các thuốc Allegra, Claritin, Clarinex. (Khi đi mua thuốc, lúc móc ví trả tiền, bạn còn tỉnh hẳn người... vì chúng khá đắt). Allegra, Claritin, Clarinex ít làm khô miệng, bí tiểu, tiện lợi vì chỉ cần dùng ngày 1 hay 2 lần. Claritin nay mua được không cần toa bác sĩ.

Do ít gây phản ứng phụ, ba thuốc này được các bác sĩ dùng rất nhiều. Song, mỗi cơ thể một khác, có khi bạn lại thấy một thuốc mua bên ngoài không cần toa bác sĩ giúp bạn hơn cả thuốc mắc tiền bác sĩ biên toa. Nếu thuốc ấy không gây phản ứng gì khiến bạn khó chịu, thì ta cứ tiếp tục dùng nó, vừa tốt vừa rẻ.

2. Các thuốc co màng mũi (decongestants):

Các thuốc antihistamines, loại gây buồn ngủ hoặc loại không gây buồn ngủ, đều chỉ làm bớt chảy mũi, hắt hơi, ngứa mũi, ngứa mắt, ngứa cổ họng, nhưng không làm bớt nghẹt mũi.

Các thuốc co màng mũi mới chữa nghẹt mũi. Sudafed là một thuốc co màng mũi điển hình, chắc ai trong chúng ta cũng đã có dịp dùng.

Thuốc co màng mũi có thể khiến ta nhức đầu, hồi hộp do tim đập nhanh, khó ngủ, bứt rứt, dễ nổi nóng (irritability). Thuốc cũng làm co thắt các mạch máu toàn cơ thể, nên có thể gây cao áp huyết, cao áp suất trong mắt (glaucoma). Các vị mang bệnh cao áp huyết, tiểu đường, bệnh tim, cường tuyến giáp trạng (hyperthyroidism), cao áp suất trong mắt, chỉ nên dùng thuốc co màng mũi dưới sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ.

Thuốc co màng mũi chữa nghẹt mũi, nhưng ngược lại, không làm giảm chảy mũi, hắt hơi, ngứa ngáy. Để chữa mọi triệu chứng của dị ứng mũi, kể cả nghẹt mũi, người ta mới cộng cả hai thuốc antihistamine và decongestant, thành một loại thuốc tổng hợp gọi là antihistamine/ decongestant. Các thuốc tổng hợp antihistamine/decongestant hiện được dùng nhiều trên thị trường: Dimetapp, Actifed, Tavist-D, Allegra-D, Claritin-D, ...

Cái giá của người dùng thuốc tổng hợp antihistamine/decongestant thường phải trả là khó ngủ (insomnia) và khô miệng (dry mouth).

3. Thuốc có chất steroid:

Trong những trường hợp dị ứng mũi nặng, ta phải dùng đến vũ khí mạnh: chất steroid. Ở Mỹ, Prednisone là thuốc steroid hay được dùng nhất. Prednisone dễ sử dụng, và ít gây hại hơn những thuốc cùng loại. Dẫu vậy, trường hợp dị ứng mũi cần đến Prednisone, thuốc cũng chỉ nên dùng trong một thời gian ngắn (3 đến 5 ngày).

4.Thuốc antileukotrienes:

Gần đây, thuốc Singulair, thuộc nhóm antileukotrienes (chống lại leukotrienes), chữa suyễn, cũng được dùng để chữa dị ứng mũi. Singulair hữu hiệu ngang với thuốc Claritin song đắt hơn

Thuốc xịt mũi

1. Thuốc xịt chứa chất steroid:

Như các thuốc xịt Beconase, Flonase, Nasacort, Nasalide, Nasonex, Rhinocort, Vancenase, v.v., giá 35 đến 64 mỹ-kim một bình (dùng khoảng một tháng). Thuốc cần có toa bác sĩ mới mua được.

Trong các thuốc chữa dị ứng mũi, thuốc xịt mũi chứa chất steroid hữu hiệu nhất. Chúng có tác dụng chống viêm ngay tại chỗ, trị cả dị ứng mũi theo mùa lẫn dị ứng mũi quanh năm. Chảy mũi, nghẹt mũi, ngứa mũi, hắt hơi, nước sau mũi chảy xuống họng, chúng trị tất. Có điều, nếu ta ngứa cả mắt, tai hay cổ họng, thuốc không giúp được. Trường hợp này, ta dùng thêm thuốc uống antihistamine để bớt ngứa mắt, tai, cổ họng. Gần đây, nhiều thuốc nhỏ mắt chống dị ứng ra đời, giúp mắt bớt ngứa.
Điểm quan trọng ta cần hiểu là những thuốc xịt mũi chứa chất steroid thường không tác dụng ngay. Cần khoảng vài ngày đến một tuần thuốc mới phát huy đầy đủ uy lực của chúng. Bỏ thuốc sớm trước khi thuốc có tác dụng, sẽ mất tiền, mà chẳng nên cơm cháo gì.

Trước khi dùng thuốc nên hỉ mũi sạch sẽ để thuốc dễ tiếp xúc với màng mũi. Tốt nhất, nên dùng thuốc co màng mũi decongestant 1-2 giờ trước, giúp màng mũi co lại bớt, thuốc xịt dễ hít vào sâu trong mũi. Và bạn nhớ xịt thuốc chếch ra ngoài, về phía cánh mũi, để thuốc bám vào màng mũi ở hai bên cánh mũi, chứ không lọt ra sau cổ họng uổng thuốc.

Thuốc xịt mũi chứa chất steroid ít khi gây phản ứng bất lợi đáng kể. Không gây lừ nhừ, cũng chẳng làm mất ngủ. Có người dùng thuốc cho biết thuốc làm mũi hơi khó chịu (irritation). Xịt mũi bằng nước muối saline (saline spray), trước khi dùng thuốc xịt chứa chất steroid, có thể ngừa được tác dụng phụ khó chịu này. Có người dùng thuốc lâu bị mọc nấm Candida trong mũi. Điều này cũng hiếm khi xảy ra.

2. Thuốc xịt chứa chất Cromolyn sodium:

Thuốc xịt chứa chất Cromolyn sodium (tên thương mại: Nasalcrom) rất lành, không gây hại cho trẻ em và thai nhi, nên có thể dùng được cho trẻ em dưới 3 tuổi và các phụ nữ mang thai. Tuy vậy, thuốc xịt chứa chất Cromolyn sodium không hữu hiệu bằng thuốc xịt chứa chất steroid. Thuốc chậm tác dụng, được dùng vào mục đích phòng ngừa nhiều hơn chữa trị. Thuốc phải dùng ngày nhiều lần. Thuốc mua được không cần toa bác sĩ.

3. Thuốc xịt làm co màng mũi (nasal decongestant):

Như các thuốc xịt mũi Afrin, Dristan, Neo-Synephrine, Otrivin, Privine, .. mua bên ngoài không cần toa bác sĩ.

Loại thuốc xịt này nhanh chóng làm co màng mũi, khiến mũi bớt nghẹt ngay, rất dễ chịu. Tuy nhiên, dùng lâu ngày, chúng gây hiện tượng “nặng hơn sau khi dùng thuốc” (rebound phenomenon): lúc dùng thuốc, mũi thở thông lắm, nhưng khi tác dụng của thuốc tan, màng mũi sưng thêm lên, gây nghẹt nhiều hơn. Những thuốc xịt làm co màng mũi chỉ nên dùng ngắn hạn, từ 3 đến 7 ngày.

Ngoài các thuốc xịt kể trên, còn có nước muối (saline spray, mua không cần toa), thuốc xịt Atrovent chứa chất ipratropium bromide, và thuốc xịt Astelin chứa chất antihistamine. Khi mũi khô, khó chịu nhiều, nước muối saline xịt vào mũi giúp mũi bớt khô. Ngược lại, khi mũi chảy nước nhiều quá (do dị ứng mũi; do bị cảm; ăn thức ăn cay, nóng; uống rượu; ..), dùng thuốc xịt Atrovent sẽ làm mũi khô ngay trong vòng 30 phút, và tác dụng của thuốc kéo dài khoảng 8 đến 12 tiếng (thuốc không chữa hắt hơi, ngứa, nghẹt mũi). Thuốc xịt Astelin chứa chất antihistamine, nên có tác dụng cũng như phản ứng phụ tương tự những thuốc uống antihistamine loại gây buồn ngủ.

Immunotherapy

Thỉnh thoảng, có trường hợp dị ứng mũi nặng quá, dùng thuốc không ăn thua mấy, cần được chữa thêm bằng cách giúp cơ thể quen dần với các chất gây dị ứng. Cách chữa này được gọi immunotherapy (miễn dịch trị liệu). Cách chữa này công phu, tốn kém. Đầu tiên cần tìm ra đúng những chất là thủ phạm gây dị ứng (bằng cách thử phản ứng da, hoặc thử máu), rồi chích những chất ấy vào cơ thể, cứ mỗi 1-2 tuần, với lượng cao dần, để cơ thể từ từ quen với chúng.

Sự trị liệu kéo dài 3 đến 5 năm. Phản ứng nguy hiểm hiếm khi xảy ra, nhưng cẩn thận, sau khi chích thuốc, bạn nên nán lại văn phòng bác sĩ 30 phút, để được theo dõi xem có phản ứng gì không.

Dùng cách chữa nào bây giờ?

Nhiều cách chữa thế, biết dùng cách nào? Việc chữa trị tùy vào sự nhận định của bác sĩ, và dựa vào những yếu tố trình bày ở đầu bài.

Nói chung, trong sự trị liệu dị ứng mũi, khuynh hướng chữa trị mới có vẻ ủng hộ việc dùng thuốc chống histamine không hoặc ít gây buồn ngủ (các thuốc Allegra, Claritin, Clarinex, Zyrtec) và thuốc xịt mũi chứa chất steroid (Beconase, Flonase, Nasacort, Nasalide, Nasonex, Rhinocort, Vancenase, ..). Trường hợp dùng một trong hai cách chữa kể trên, triệu chứng vẫn không thuyên giảm mấy, ta dùng cả hai cách: trong uống ngoài... xịt (có điều, ta sẽ trả một giá đắt, trên dưới 100 mỹ-kim mỗi tháng). Nếu triệu chứng vẫn không bớt nhiều, ta mạnh tay hơn, dùng thuốc tổng hợp antihistamine/decongestant (như Allegra-D, Claritin-D, ..), cùng lúc vẫn dùng thuốc xịt chứa chất steroid. Nặng hơn nữa, ta dùng thêm thuốc uống Prednisone trong 3 đến 5 ngày.

Người dị ứng mũi quanh năm, thỉnh thoảng triệu chứng lại trở nặng vào một mùa nào đó, cách tốt là dùng thuốc xịt mũi chứa chất steroid liên tục, và dùng thêm thuốc uống vào những mùa triệu chứng trở nặng.

Các thuốc xịt chứa chất steroid được sử dụng nhiều vì rất hữu hiệu, lại ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, chúng không thành công trong những trường hợp hợp sau:

- Nếu mũi có những bất thường như vách mũi lệch, thịt dư to che lấp màng mũi, màng mũi sưng nhiều quá, v.v., khiến thuốc không vào sâu trong mũi, không thấm sâu vào được màng mũi.

- Nhiều người vẫn thích dùng thuốc uống thay vì thuốc xịt (một phần vì thuốc xịt còn khá đắt).

- Nhiều trẻ em và các vị lớn tuổi không biết cách dùng thuốc xịt.

Và sau cùng, như đã bàn, những trường hợp dị ứng mũi nặng quá, thuốc nào cũng không giúp mấy, cần chữa thêm bằng immunotherapy.
Sự chữa trị bệnh dị ứng mũi bằng thuốc, theo những khảo cứu mới, sẽ tốn kém nhiều hơn ta tưởng (có thể cả trăm mỹ-kim mỗi tháng). Nhưng với những vị viêm mũi vì dị ứng nặng, cái tốn kém ấy có lẽ đáng theo đuổi, do nó giúp lấy lại niềm vui của cuộc đời, đồng thời giúp tránh các biến chứng. Một khi biến chứng xảy ra, sự chữa trị sẽ mất thì giờ và tốn kém thêm.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức, Chuyên Khoa Nội Thương
thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
thạch thảo on 7/19/2011(UTC)
xuan hoang  
#5 Posted : Wednesday, March 23, 2011 5:09:00 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Thận trọng với thuốc ho, cảm lạnh



UserPostedImage



Cảm Lạnh (Common Cold) là bệnh thường xảy ra nhất là từ tháng 11 tới tháng 4.
Trong khoảng thời gian này, bệnh xuất hiện với ba cao điểm: vào mùa Thu khi trẻ em bắt đầu đi học rồi giữa mùa Đông và cuối cùng là vào mùa Xuân khi mà mọi người tưởng là đã không còn bị cảm lạnh viếng thăm.
Cũng như bệnh Cúm (Flu), Cảm lạnh do virus gây ra với cả vài trăm loại khác nhau nhưng nhóm rhinovirus ( virus mũi) là thường thấy hơn cả.
Như tên gọi, virus này xâm nhập cơ thể qua mũi và miệng.
Virus nằm trong các giọt nước nhỏ li ti từ miệng mũi bệnh nhân thoát ra khi họ ho, hắt xì hơi hoặc nói. Chúng bay lởn vởn trong trông khí cả mấy tiếng đồng hồ và người lành hít phải là mang bệnh.
Virus cũng lây lan qua các đồ dùng của bệnh nhân như điện thoại, khăn mặt, bát đĩa, bàn viết máy vi tính…Sờ đụng vào các vật dụng đó rồi đưa tay lên miệng, lên mũi là mắc Cảm lạnh ngay.

Hiện nay, chưa có vaccine ngừa cảm lạnh.

Phương thức phòng bệnh giản dị và hữu hiệu là không tiếp cận quá gần với người bệnh, bệnh nhân che miệng mũi khi ho; rửa tay thường xuyên; không dùng chung cật dụng với bệnh nhân, nghỉ ngơi tại nhà khi mắc bệnh, uống nhiều nước.
Trẻ em từ 1 tới 5 tuổi thường hay bị cảm lạnh cả chục lần mỗi năm và cũng thường hay bị các biến chứng như sưng phổi, viêm tai trong, viêm phế quản. Lý do là hệ miễn dịch của các em chưa mạnh, các em cũng hay tụ tập tại nhà giữ trẻ, mẫu giáo, rồi cũng chưa có thói quen rửa tay, che mũi miệng như người lớn.
Người lớn ít bị cảm lạnh hơn, nhưng cũng được virus tới thăm dăm sáu lần mỗi năm. Với họ, sự mệt mỏi thể xác, căng thẳng tinh thần, kém dinh dưỡng là những rủi ro khiến cảm lạnh dễ xảy ra, vì sức đề kháng miễn nhiễm suy giảm.
Cũng có nhiều ngộ nhân cho là gặp luồng gió độc từ phương bắc thổi tới, phơi dầu trong mưa, tắm nước lạnh buổi sang gây ra Cảm lạnh. Nhưng đó cũng chỉ là do truyền khẩu kể lại, chứ nếu không có virus thì cũng không bị bệnh này.
Kể từ khi xâm nhập mũi miệng, virus cần từ 1 đến 4 ngày để âm thầm bố trí rồi ra mặt gây bệnh. Đây là thời kỳ mà y học gọi là ủ bệnh (incubation period) và cũng là lúc mà bệnh lan truyền mạnh mẽ sang người khác.

Mới đầu, bệnh nhân cảm thấy một chút mơ hồ uể oải mệt mỏi, giảm năng lực hoạt động, nhức xương nhức thịt…Vài ngày sau thì sự hành hạ của virus rõ ràng, khó chịu hơn.
Khởi thủy là mũi nghẹt và khô. Nghẹt vì sung huyết tĩnh mạch màng niêm ở mũi khiến cho bệnh nhân khó thở.
Rồi tới chẩy nước nhớt từ mũi, dấu hiệu tiêu biểu của Cảm lạnh. Nước mũi có thể loãng rồi trở nên đặc xệt, màu vàng hoặc xanh có lẩn bạch huyết cầu chông cự với virus. Khi vi khuẩn trong mũi tái hoạt động thì nước mũi chuyển sang mầu xanh nhạt. Hiện tượng này tuy gây khó chịu nhưng công bình mà nói nó lại có ích để loại bỏ các virus mai phục trong mũi. Nếu không bị tống xuất, chúng sẽ xâm nhập cuống họng, lan ra các xoang ở mặt hoặc chạy tọt vô phổi gây viêm nhiễm.
Vào thanh quản, virus gây viêm cơ quan phát âm này, dọng nói khan khan. Xuống họng, virus gây đau khiến cho bệnh nhân không muốn cả nuốt thức ăn lẫn nói. Xương mặt có mấy cái xoang thông với mũi và miệng. Rhinovirus cũng có thể lan tới và gây viêm xoang, tắc nghẽn ống thông. Bệnh nhân cảm thấy đầy đầy và đau nhức trên đầu, trên mặt. Phù viêm xoang cũng là dấu hiệu khó chịu nhất cho người bệnh.

Ngoài ra bệnh nhân cũng bị ho, lên cơn nóng số nhẹ (102◦F hoặc 39◦C), chẩy nước mắt, mệt mỏi, không muốn làm việc gì, chỉ muốn nằm. Ho là phản ứng tự nhiên của cơ thể khi có vật gì như đàm nhớt, bụi bặm hiện diện ở họng. Ho là để tống xuất vật này ra.
Thường thường các dấu hiệu của Cảm lạnh chỉ kéo dài từ 5 tới 7 ngày. Một số ít bệnh nhân có biến chứng như viêm tai trong, viêm xoang, viêm họng, sưng phổi, viêm phế quản, khò khè như hen suyễn.
Người lớn nên đi bác sĩ khám bệnh nếu có các dấu hiệu như nóng sốt trên 102◦F hoặc 39◦C, đau nhức cơ thể, đổ mồ hôi, ho ra đàm có màu xanh, sưng hạch cổ, đau xoang mặt.
Với cháu bé, đi bác sĩ ngay nếu có nóng sốt cao, run lạnh, ho liên tục, nôn ói, đau tai, đau bụng, khó thở, không ngủ được, khóc luôn miệng.

Về điều trị Cảm lạnh, có mấy điều quan trọng cần được mọi người lưu ý:
- Không có phương thức nào trị khỏi được Cảm lạnh
- Kháng sinh không công hiệu với virus gây Cảm lạnh.
- Thuốc chống cảm, ho, nghẹt mũi trên thị trường không những không làm cảm lạnh lành hoặc mau chấm dứt mà còn có nhiều tác dụng phụ cần biết để tránh.

Trên thị trường có cả trăm loại thuốc chữa Cảm lạnh được quảng cáo, vì nhu cầu của dân chúng quá cao và là có thực. Cứ thấy hắt hơi sổ mũi ho là bổ nháo bổ nhào ra tiệm thuốc tây mua thuốc. Thuốc do các viện bào chế uy tín sản xuất cũng có mà thuốc rỏm vô danh cũng nhiều. Lại còn thuốc quáng cáo là có thêm vitamin, khoáng chất, antioxidant. Bệnh nhân hoa cả mắt không biết lựa thứ nào.
Theo các nhà chuyên môn y tế, trong đa số các trường hợp, không cần thuốc men mà chỉ cần áp dụng vài sự tự chăm sóc là bệnh cũng qua đi. Vì bản chất của Cảm lạnh là vậy: có vẻ như hung dữ nhưng hiền như “ma sơ”, tiền hung hậu cát. Nếu thấy cần có thuốc để giảm bệnh thì cân nhắc coi dấu hiệu nào cần đến thuốc, thuốc gì, dùng bao lâu và liệu có phản ứng phụ nào không.
Có 3 loại thuốc để giảm dấu hiệu cảm lạnh:

1- Thuốc chống nghẹt mũi

Hoạt chất chính của thuốc này là một chất tổng hợp tương tự như epinephrine (adrenaline) do phần tủy tuyến thượng thận tiết ra. Cả hai thứ có tác dụng làm co mạch máu. Tại mũi, thuốc làm giảm sung huyết, niêm mạc xẹp xuống, lỗ mũi thông, bệnh nhân thở dễ dàng. Nhưng thuốc cũng làm nhịp tim nhanh, tăng áp xuất huyết ở người đang bị cao huyết áp, kích thích thần kinh với sợ hãi, nóng nảy, run tay, khó ngủ, chóng mặt, nhức đầu, đổ mồ hôi, nôn ói…Đang bị cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường không nên uống thuốc này nếu chưa hỏi ý kiến bác sĩ.
Có hai dạng thuốc: thuốc uống hoặc nhỏ xịt vào mũi.

a- Thuốc nhỏ xịt, hít vào mũi

Nhiều người, ngay cả bác sĩ dược sĩ, thích dạng này vì thuốc tác dụng trực tiếp vào mũi nhanh hơn, ít gây ra tác dụng phụ cho cơ thể cũng như ít có tương tác với thuốc trị bệnh khác.
Tuy nhiên dạng này thường gây ra mấy rủi ro như:
- Tác dụng ngược lại (rebound action), mũi nghẹt hơn khi tác dụng của thuốc hết. Để bớt nghẹt mũi, bệnh nhân phải dùng thuốc thường xuyên hơn, thậm chí tăng liều lượng. Lâu ngày có thể ghiền thuốc xịt, thuốc nhỏ mũi.
- Một vấn đề nữa là dùng nhiều, các sợi tóc bé tí ở mũi có nhiệm vụ ngăn cản vi khuẩn, bụi bậm vào mũi, sẽ bị hủy hoại, con người dễ bị bệnh. Đó là hiện tượng viêm mũi do thuốc (Rhinitis medicamentosa)
Thuốc không nên dùng ở cháu bé, trẻ em vì thường gây ra nhiều tác dụng ngoại ý như tăng huyết áp, ảnh hưởng tới tim. Với các em, nghẹt mũi được giải quyết dễ dàng với vài giọt nước muối sinh lý, nhỏ vào lỗ mũi dăm lần trong ngày.

b- Thuốc uống

Thuốc uống có thể là nước hoặc viên. Khi uống vào, thuốc sẽ đi qua qua nhiều cơ quan trong cơ thể trước khi có tác dụng trên mũi. Do đó, thuốc sẽ gây ra tác dụng phụ tại các nơi này.
Lợi điểm trước hết của thuốc uống là không gây ra hiện tượng nhờn thuốc và viêm mũi do thuốc. Ngoài ra, tác dụng của thuốc lâu hơn, có khi cả 12 giờ, bệnh nhân chỉ uống hai lần/ngày là đủ. Thuốc ảnh hưởng lên niêm mạc ở mũi, miệng, các xoang cho nên người bệnh bớt khó chịu hơn.

Thuốc chống nghẹt mũi thường dùng là pseudoephedrine hoặc phenylephrine.

2- Thuốc chống đau, giảm nóng sốt.

Đau mình, nhức đầu là chuyện thường xảy ra khi bị cảm lạnh, nhưng may mắn là chúng không kéo dài quá vài ngày và không quá dằn vặt.
Thuốc thường dùng là acetaminophen, ibuprofen rồi đến aspirin.
Aspirin thường gây ra xuất huyết bao tử nên cần dè dặt. Cũng nên nhớ là không bao giờ cho các cháu dưới 12 tuổi dùng aspirin, vì có thể gây ra hội chứng Reye, tổn thương thần kinh, đôi khi chết người.
Acetaminophen hoặc paracetamol được dùng nhiều hơn vì tương đối an toàn. Tuy nhiên không dùng quá thường và quá liều lượng chỉ định để tránh tổn thương cho gan. Thuốc có trong nhiều dạng thuốc chống cảm lạnh khác nhau, cho nên cần coi kỹ nhãn hiệu để tránh ngộ độc do quá liều lượng cho trẻ em.

3- Thuốc ho

Ho không phải là một bệnh mà chỉ là triệu chứng của một bệnh nào đó trong cơ thể. Ho cũng là một phản ứng tự nhiên khi có chất kích thích ở họng, như nhớt từ mũi từ miệng, vật lạ từ ngoài bay vào họng. Ho là để tống xuất các vật này ra ngoài. Nhiều bệnh nhân sau giải phẫu còn được khuyến khích ho để thông đàm, loại vi khuẩn.
Nhưng cảm lạnh mà ho liên tục thì quả là cũng đau ngực, khó chịu. Do đó mới có thuốc chống giảm ho.Có thể là ho khan hoặc ho ra đàm và với nhiều người, thuốc ho đều có thể phần nào làm nhẹ.
Tuy nhiên, nhiều bác sĩ có ý kiến là không nên uống thuốc ho, vì thuốc không chữa được nguyên nhân gây ra ho, hôi khi lại tạo ra tác dụng phụ không muốn, đặc biệt là ở trẻ em.

Cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ khuyến khích không nên dùng thuốc cảm ho ở trẻ em dưới 2 tuổi. Các viện bào chế cũng tự nguyện ghi cảnh báo lên nhãn hiệu là không nên cho trẻ em dưới 4 tuổi dùng thuôc cảm ho bán tự do trên thị trường. Sự ngộ độc khi các em uống quá liều lượng có thể đưa tới tử vong.
Ho khi cảm lạnh chỉ kéo dài vài tuần. Nếu ho quá lâu, lại ra đàm có màu thì nên đi khám bệnh ngay, vì có thể bị bội nhiễm, vi khuẩn, sưng phổi.

Thuốc ho thường dùng là Dextromethorphan, Guaifendesin.

Ngoài các thuốc kể trên, một số người còn dùng thêm thuốc chống dị ứng diphenhydramine, sinh tố C, kẽm (zinc), và cho hay cảm lạnh cũng bớt quấy rầy.
Kháng sinh tuyệt đố không có vai trò nào, trừ khi bị bội nhiễm vi khuẩn, sưng phổi.

Cảm lạnh ở trẻ em

Với trẻ em, các nhà chuyên môn đề nghị là:

- Để các cháu nghỉ ngơi thoải mái. Nếu ở tuổi mẫu giáo, đi học nên giữ em ở nhà. Không tiếp xúc với em bé khác để tránh lan truyền.
- Tránh sống trong môi trường có khói thuốc lá.
- Cho các cháu uống nhiều nước (cam…) để làm loãng đàm rãi, nước mũi cũng như tránh khô nước vì nóng sốt, chẩy nước mũi, nhất là khi cháu tiêu chẩy, nôn ói..
- Cho các cháu dùng thêm nước súp gà nóng có chất cysteine có tác dụng giảm nghẹt mũi.
- Với cháu không bú sữa mẹ và bú bình, nên giới hạn sữa vài ngày, vì sữa làm nhớt mũi khô, khó loại bỏ.
- Không khí trong phòng khô làm giảm sức đề kháng với bệnh nhiễm. Dùng máy phun bụi nước để giảm kích thích mũi, tránh khô khó thở. Nhớ không hướng bụi nước vào giường các cháu. Muốn tránh meo mốc, nên thay nước mỗi ngày và rửa máy bơm bụi nước theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Khi cháu bị nghẹt mũi, nhỏ vài giọt nước muối sinh lý vào một lỗ mũi để làm loãng nhớt, rồi cũng làm như vậy ở lỗ mũi bên kia. Hút nhớt mũi với ống hút làm bằng cao su. Nước muối này có thể mua ở tiệm thuốc tây hoặc làm lấy ở nhà với một chút muối và nửa ly nước lã tinh khiết. Có thể dùng nước muối ở mọi tuổi, ngay cả bé sơ sinh.
- Cũng có thể đặt cháu nằm úp trên đùi mình, lấy bàn tay vỗ nhẽ vào lưng hoặc để cháu ngồi trên lòng, hơi cong người về phía trước, lấy bàn tay dập nhẹ lên lưng.
- Thoa một chút petroleum gel Vaseline quanh lỗ mũi để tránh cho da khỏi bị viêm do nước mũi kích thích.
- Để bớt ho: ½ thìa mật ong cho bé từ 2-5 tuổi, 1 thìa từ 6-11 tuổi, 2 thìa cho cháu từ 12 tuổi trở lên. Đừng cho trẻ dưới 1 tuổi dung mật ong vì không an toàn.
- Với trẻ trên 4 tuổi có thể cho kẹo ho (không bao giờ cho trẻ dưới 4 tuổi, sợ hóc nghẹn).
- Nếu các cháu kêu đau khô cố: cháu lớn cho súc miệng với nước muối hoặc vài giọt dung dịch 1 thìa nước chanh pha với 2 thìa mật ong để họng bớt kích thích. Trẻ trên 4 tuổi có thể ngậm kẹo ho.
- Giữ đầu cháu cao và ở vị trí ngồi nhiều hơn để giúp loại đàm nhớt.
Nếu sau ba bốn ngày mà cháu không bớt, lại có nóng sốt cao, đau họng, nôn ói…nên đưa cháu đi bác sĩ ngay.


Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D (Texas- Hoa Kỳ)

Edited by user Wednesday, March 23, 2011 11:48:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked xuan hoang for this useful post.
mike86 on 1/1/2013(UTC)
xuan hoang  
#6 Posted : Wednesday, March 23, 2011 5:54:29 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Chứng trầm cảm ở người cao tuổi




UserPostedImage



Ở người già, trầm cảm thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe. Nó có thể diễn tiến thành bệnh Alzheimer và các hình thức khác của chứng mất trí. Bệnh thường khó chẩn đoán và điều trị vì bệnh nhân không thừa nhận là mình bị trầm cảm.


Trầm cảm biểu hiện bằng sự buồn phiền, chán nản và mất niềm tin kéo dài. Những triệu chứng này thường đi kèm theo sự suy giảm nghị lực, mất tập trung, mất ngủ, chán ăn và đi đến gầy yếu.

Triệu chứng phổ biến:

Chán nản hoặc dễ cáu, cảm thấy bản thân sống không có ý nghĩa, không tham gia hoặc không mặn mà với những hoạt động hằng ngày, dễ tức giận, dễ bị kích động. Bệnh nhân thay đổi khẩu vị, thường ăn không ngon miệng, trọng lượng cơ thể thay đổi (sút hoặc tăng cân), khó ngủ, thức giấc nhiều lần trong đêm, tỉnh giấc sớm, thèm ngủ ngày... Một số biểu hiện khác là mệt mỏi, mất tập trung, giảm trí nhớ, tư duy khác thường, có ý nghĩ phạm lỗi và ý định tự vẫn, thậm chí có kế hoạch hoặc đã thử tự vẫn.
Nếu những triệu chứng trên xuất hiện liên tục hơn 2 tuần nghĩa là người cao tuổi đã mắc chứng trầm cảm.



UserPostedImage



Những biểu hiện trầm cảm ở người cao tuổi tương đối phức tạp, thường thấy nhất là mệt mỏi, chán ăn, khó ngủ đi kèm với quá trình lão hóa. Ngoài ra, họ còn có các biểu hiện khác như xa lánh vợ/chồng, bạn thân, đau ốm liên miên, không hoạt bát, hay thất vọng, giảm trí nhớ, khó thích nghi với những thay đổi như việc chuyển chỗ ở hoặc những thay đổi trong nội bộ gia đình. Trầm cảm ở người cao tuổi còn biểu hiện bởi sự rối loạn chức năng não đi kèm với quá trình lão hóa mà người ta thường gọi là bệnh Alzheimer.
Đôi khi chứng trầm cảm có thể được làm dịu đi bằng những can thiệp mang tính cộng đồng.



UserPostedImage



Người cao tuổi cần được giúp đỡ để thoát khỏi tình trạng bị cách ly hoặc cô đơn. Để làm được điều này, nên hướng người cao tuổi tự rèn luyện sức khỏe hoặc thường xuyên đưa họ đi thăm hỏi bạn bè, người thân. Nếu có thể, nên tạo hoàn cảnh tiếp tục hoạt động nghề nghiệp cho họ, hoặc tổ chức học thêm để bổ sung kiến thức, tăng khả năng giúp đỡ con cháu.
Điều trị bằng thuốc chống suy nhược cũng góp phần mang lại hiệu quả; cần lưu ý đến tác dụng phụ và nên dùng với liều lượng thấp. Các loại thuốc an thần cũng giúp người già giảm nguy cơ bị kích động. Nếu chúng không mang lại hiệu quả thì liệu pháp sốc điện có thể được áp dụng.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Edited by user Wednesday, March 23, 2011 11:49:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
khoaitay  
#7 Posted : Wednesday, March 23, 2011 7:49:34 AM(UTC)
khoaitay

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/14/2011(UTC)
Posts: 41
Location: Đất Mẹ

Thanks: 2 times
Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
hi....hihi.. Hôm nay KHOAI TAY xin post bài về KHOAI LANG Cool


LỢI ÍCH CỦA KHOAI LANG TRONG VIỆC PHÒNG, CHỮA BỆNH.
(bài do bạn HuuDinhNguyen giới thiệu)

UserPostedImage


Khoai lang, tiếng Mỹ được goi là sweet potatoes (tên khoa học: Ipomoea batatas), là một phần của thực phẩm không thể thiếu trong Lễ Tạ Ơn. Trong hệ thống phân loại, khoai lang có “họ hàng” với khoai tây-potato (Solanum tuberosum) cùng có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Lịch sử khoai lang trên thế giới là một trong những loại lương thực lâu đời nhất được biết của con người. Ngày nay những nghiên cứu khoa học cho thấy khoai lang không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà có những công dụng phòng chữa bệnh tốt và là một trong những thực phẩm tạo miễn dịch tốt cho cơ thể.



Protein duy nhất có hiệu quả chống oxy hóa (Antioxidant)

Khoai lang chứa loại protein độc đáo có khả năng đáng kể antioxidant. Nghiên cứu cho thấy các protein có khoảng một phần ba hoạt tính antioxidant của glutathione - một trong những sản phẩm quan trọng của cơ thể có vai trò trong việc tạo antioxidants trong cơ thể. Mặc dù còn cần nhiều nghiên cứu trong tương lai nhưng những protein này đã giúp giải thích về những đặc tính chữa bệnh của củ khoai.



Một chất liệu dinh dưỡng có giá trị

Trong hệ thống xếp hạng thực phẩm cho thấy khoai lang là loại thực phẩm truyền thống giàu chất dinh dưỡng. Củ khoai như là một nguồn tuyệt vời của vitamin A (dưới dạng beta-caroten) , một nguồn đáng kể của vitamin C và mangan, trong khoai còn có sản phẩm đồng, một nguồn chất xơ rất tốt cho cơ thể, lượng cao vitamin B6, kali và sắt. Những dinh dưỡng của khoai lang giúp cho sức khỏe như thế nào.



Giàu chất Antioxidant, thực phẩm chống viêm

Với lượng đáng kể vitamin A (dưới dạng beta-caroten) và vitamin C, khiến khoai lang là thực phẩm chống viêm nhiễm có tác dụng phòng và chữa trị bệnh. Cả hai dạng beta-caroten và vitamin C có tiêm năng lớn antioxidants giúp hiệu quả cho cơ thể loại bỏ các gốc tự do. Thành phần các gốc tự do có hóa chất gây thiệt hại cho các tế bào và màng tế bào và chúng kết hợp với sự phát triển của các điều kiện như bệnh vữa xơ động mạch (atherosclerosis), bệnh tiểu đường, bệnh tim, ung thư ruột. Ðiều này có thể giải thích tại sao cả beta-caroten và vitamin C giúp ích hiệu quả để ngăn ngừa các gốc tự do.

UserPostedImage

Từ những chất dinh dưỡng chống viêm, khoai lang có thể hữu ích trong việc giảm những khả năng phát sinh những bệnh viêm nhiễm, ví dụ như bệnh suyễn, viêm khớp (osteoarthritis) , và viêm đa khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis.) Ngoài ra, khoai lang là một nguồn vitamin B6, là cần thiết để chuyển đổi homocysteine, một sản phẩm trong tiến trình tạo ra acid amin quan trọng trong các tế bào gọi là methylation thành các phân tử không gây hại. Khi homocysteine cao có liên quan làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Trong một số quốc gia khu vực nhiệt đới, nó là loại lương thực chủ yếu. Cùng với tinh bột, củ khoai lang cũng chứa nhiều xơ tiêu hóa, vitamin A, vitamin C và vitamin B6. Tất cả các giống đều cho củ có vị ngọt, dù nhiều hay ít. Mặc dù có vị ngọt, nhưng khoai lang trên thực tế là thức ăn tốt cho những người bệnh tiểu đường, các nghiên cứu cho thấy nó hỗ trợ cho sự ổn định nồng độ đường trong máu và làm giảm sức kháng insulin.


Trồng trọt khoai lang trên thế giới.

Hiện nay có trên 100 giống khoai lang. Khoai lang trở thành phổ biến từ rất sớm tại các đảo trên Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Polynesia.

Ngày nay, khoai lang được trồng rộng khắp trong các khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm với lượng nước đủ để hỗ trợ sự phát triển của nó. Theo số liệu thống kê của FAO sản lượng toàn thế giới là hơn 130 triệu tấn trong đó phần lớn tại Trung Quốc với sản lượng khoảng xấp xỉ 100 triệu tấn.



Khoai lang ở Hoa Kỳ

North Carolina là bang đứng đầu về sản xuất khoai lang, hiện nay cung cấp 40% sản lượng khoai lang hàng năm của Hoa Kỳ. Tiếp theo là Mississippi. Khoai lang từ Mississippi đóng góp khoảng 19 triệu Mỹ kim vào nền kinh tế của bang này, hiện nay có khoảng 150 trang trại ở Mississippi trồng khoai lang. Năm quận đứng đầu canh tác khoai lang ở Mississippi là Calhoun, Chickasaw, Pontotoc, Yalobusha và Panola. Lễ hội khoai lang quốc gia (Hoa Kỳ) được tổ chức hàng năm tại Vardaman vào tuần đầu tiên của tháng 11, và Vardaman được gọi là “The Sweet Potato Capital”

Thị trấn Benton, Kentucky kỷ niệm khoai lang hàng năm cùng với Lễ hội Ngày Tater vào thứ hai đầu tiên của tháng 4.



Khoai lang trên thế giới

Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới. Nó là đặc trưng trong nhiều món ăn ở Nhật Bản, Ðài Loan, Philippines và các quốc gia khác. Indonesia, Việt Nam, Ấn Ðộ cùng một số quốc gia Châu Á khác cũng là các quốc gia trồng nhiều khoai lang. Uganda (quốc gia đứng thứ ba sau Indonesia), Rwanda và một số quốc gia Châu Phi khác cũng trồng nhiều khoai lang do nó là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại các quốc gia này. Bắc và Nam Mỹ, quê hương của khoai lang nhưng ngày nay chỉ chiếm không quá 3% sản lượng toàn thế giới. Châu Âu cũng có trồng khoai lang, nhưng sản lượng không đáng kể, chủ yếu tại Bồ Ðào Nha.



Món ăn khoai lang ở Hoa kỳ

Khoai lang đã từng là một phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại Hoa Kỳ trong phần lớn lịch sử của quốc gia này, đặc biệt là tại khu vực Ðông Nam. Củ khoai lang thường được luộc, rán hay nướng. Chúng cũng có thể được chế biến thành tinh bột và có thể thay thế một phần cho bột mì. Trong công nghiệp, người ta dùng khoai lang làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và cồn công nghiệp.

Candied sweet potatoes (khoai lang tẩm đường) là món ăn phụ, được làm chủ yếu từ khoai lang, đường, kẹo dẻo, xi rô phong, mật đường hay các thành phần có vị ngọt khác. Nó thường được dùng trong lễ Tạ Ơn, nó là tiêu biểu cho ẩm thực truyền thống và thức ăn của người thổ dân.

Sweet potato pie (Bánh nướng khoai lang) cũng là một món ăn truyền thống được ưa thích trong ẩm thực miền nam Hoa Kỳ.

Baked sweet potatoes (Khoai lang nướng) tại Hoa Kỳ đôi khi cũng được dùng trong các nhà ăn như là sự thay thế cho khoai tây nướng. Thông thường, tại đây nó được phủ bằng đường nâu hay bơ.



Khoai lang được coi là một loại thực phẩm giúp giảm cân rất tốt

Giàu dinh dưỡng nhưng khoai lang lại có tác dụng giảm cân hiệu quả. Năng lượng có trong khoai lang rất ít, chỉ bằng 1/3 so với rice (cơm) và 1/2 so với khoai tây. Củ khoai lang không chứa chất béo và cholesterol, ngăn được tiến trình chuyển hóa đường trong thức ăn thành mỡ và chất béo trong cơ thể. Ăn khoai lang trước bữa ăn chính sẽ làm bạn giảm được một lượng lớn thức ăn sẽ đưa vào cơ thể mà không hề gây ra cảm giác đói. Ăn khoai lang rất có lợi cho hệ tiêu hóa vì thành phần vitamin C và các axit amin giúp kích thích nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa thức ăn trở nên nhanh hơn, ngăn ngừa tình trạng táo bón.



Chiết suất từ khoai lang trắng có thể trị bệnh tiểu đường

Khoai lang trắng thường mọc ở vùng đồi núi. Chiết suất thành phần Caiapo từ củ khoai lang trắng có thể kiểm soát tốt lượng đường máu và cholesterol trong bệnh tiểu đường type 2. Chất này đã được Nhật Bản điều chế thành dược phẩm bổ sung dành cho bệnh nhân tiểu đường. Nghiên cứu tại Ðại học Vienna (Áo), đã tìm hiểu phương thức hoạt động và tính hiệu quả của Caiapo từ khoai lang tử nghiệm trên những người mắc bệnh tiểu đường type 2, với liều dùng trong vòng 12 tuần. Kết quả cho thấy, khi điều trị bằng Caiapo chiết từ khoai lang đã làm giảm lượng hemoglobin A-1c (HbA1c) là yếu tố chỉ định lượng đường máu dư thừa. Lượng đường máu ở nhóm sử dụng Caiapo từ khoai lang cũng giảm hơn nhiều Ngoài ra, lượng cholesterol trong máu cũng giảm. Các kết quả trên chứng tỏ Caiapo chiết suất từ khoai lang là chất kiểm soát bệnh tiểu đường type 2 rất hiệu quả mà không gây ra một phản ứng phụ cho người bệnh, đây là một dược liệu mới cho bệnh nhân tiểu đường.

UserPostedImage

Cũng sản xuất ethanol

Một phát hiện của các nhà khoa học thuộc trường đại học North Carolina cho biết khoai lang có thể là nguyên liệu lý tưởng để sản xuất ethanol, và nhờ vậy ngành sản xuất nhiên liệu sinh học có thể bớt sử dụng ngô.

Nghiên cứu cho biết họ đang đạt được nhiều tiến bộ trong việc phát triển loại khoai lang công nghiệp có vỏ màu tía hoặc trắng, ruột màu trắng (khác khoai ăn thông thường có màu cam, vàng), chứa nhiều tinh bột và không quá ngọt. Loại khoai dùng trong công nghiệp này có thể sản sinh ra lượng ethanol nhiều hơn so với ngô tính theo trọng lượng. Hiện ở Hoa kỳ và Brazil người ta đã sử dụng nhiên liệu ethanol sản xuất từ ngô và mía để phần nào thay cho xăng. Nhưng nhu cầu ethanol lại đẩy giá thực phẩm tăng cao. Trong khi đó, việc sản xuất ethanol từ khoai lang rẻ hơn nhiều, và đặc biệt không gây ảnh hưởng tới nguồn cung cấp lương thực của thế giới. Trung Quốc là nơi trồng trọt khoai lang hàng đầu thế giới.

Edited by user Wednesday, March 23, 2011 7:50:19 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Yêu lắm mùa thu chiếc lá rơi
Trên cao gió lộng bốn phương trời.
thanks 1 user thanked khoaitay for this useful post.
mike86 on 1/1/2013(UTC)
xuan hoang  
#8 Posted : Wednesday, March 23, 2011 5:43:02 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Iodine

by Dr. Lynell Braught



Iodine is a very vital mineral in the body.

* Most people consider that they receive enough iodine within the iodized salt in their general food intake. A lot of the iodine within the salt has such an electrical charge that it is not released in the body; rather, it is carried on through the body and disposed of in the urine.*

One reason a lot of our metabolisms are slow is because of a lack of iodine in the body.

* Iodine is called the "metabolizer", as it has one of the highest vibratory frequency rates of all elements.* Its main effect within the body is on the thyroid gland, which controls many happenings within the body. When iodine is low, the thyroid cannot keep the body in a quickened state of health, so everything seems to slow down.*

Iodine restores the temperature or heat in the body and assists the calcium in the repair of tissue.

* Iodine is mostly stored in the thyroid, but smaller amounts are in the muscles and bones. Indirectly, iodine has a major effect on a lot of systems in the body through the thyroid gland. Hormones, which are produced by the thyroid gland, help control the metabolism of the body, increasing the assimilation of salts.* So the closer your metabolism is to being normal (faster), the more salt you process.* This results in an increase of iodine in the body, bringing it up to normal speed.* If you do not have enough iodine, the salt taken in cannot be processed and does nothing except upset the acid alkali of the body.*

Iodine, through the thyroid gland, also helps control a lot of the digestion that goes on, as well as heart rate, body temperature, nervous system, reproductive system, and body weight.

* Iodine is also known to destroy harmful toxins in the brain and helps neutralize toxins in the rest of the body.* Iodine aids in the assimilation of calcium and silicone. Dry and scaly skin is a good indication of iodine deficiency.*

Symptoms of iodine deficiency may include: acne, depression, frustration, goiter, hormonal imbalance, hyper and hypo-thyroidism, lethargy, miscarriages, scaly or dry skin, sterility or infertility.

* An accepted method of self-testing used by many natural doctors....is to take external iodine and place a one-inch square on a lower leg portion. After application, the color left from the iodine should last 24 hours. If it fades away prior to 24 hours, then you are low in iodine. So, for example, if it disappears in twelve hours, you are approximately 50% low.

* These statements have not been evaluated by the Food and Drug Administration and are not intended to diagnose, treat, cure, or prevent any disease; research is ongoing.

Iodine is a trace mineral that goes by the symbol I on the periodic table. Iodine is crucial for the human body because, among other things, it helps in the synthesis of various thyroid hormones. Iodine deficiency is an extremely serious health problem for many areas in the developing world, although many industrialized countries now put iodine in table salt to minimize the risk of deficiency.

Most of iodine's health benefits come from the mineral deficiency that it helps correct, of which there are many serious symptoms.

Some of the most harmful symptoms of iodine deficiency are mental effects. Iodine deficiency can cause depression and anxiety, which can all have a negative effect on the body.
UserPostedImage
thunder  
#9 Posted : Wednesday, March 23, 2011 10:30:08 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Tin Thuốc Mới


Thuốc mới Edarbi trị cao huyết áp. Ngày 25 tháng 2, 2011, FDA vừa chấp thuận cho phép dùng thuốc viên mơí Edarbi (azilsartan medoxomil) trị bệnh cao máu (high blood pressure) cho người lớn. Theo FDA thì dựa theo những kết quả thử nghiệm cho biết thuốc Edarbi có vẻ giảm hiệu nghiêm hạ cao máu (trong vòng 24 giờ), hơn 2 thuốc khác như Valsartan hay Ometarsan cũng đã từng được FDA cho phép trước đây trị cao huyết áp. Edarbi là loại ARB (Angiotensin II receptor blocker) tác dụng vào Angiotensin II, hạ thấp huyết áp. Không được phép dùng Edarbi cho đàn bà có thai vì thuốc này có thể gây thương tích hay tử vong cho bào thai khi có thai trong tam cá nguyệt thứ 2 hay thứ 3 (second or third trimester).

Loạn dưỡng mỡ bệnh nhân HIV. Ngày 28 May, 2010, FDA cho phép dùng thuốc Tesamorelin điều trị bệnh loạn dưỡng mỡ bệnh nhân HIV. Loạn dưỡng mỡ phát hiện khi bệnh nhân dùng thuốc điều trị HIV. Bệnh nhân bị loạn dưỡng mỡ, tăng cao tích tụ mỡ ở bụng, vú, cổ, nhưng bị teo mất mỡ tại chân tay và mặt. Theo FDA thì hiện nay có khoảng từ 200,000 tới 800,000 bệnh nhân nhiễm HIV bị bệnh loạn dưỡng mỡ. Muốn biết thêm chi tiết xin vào FDA.com.

Dùng lâu thuốc PPIs (Proton Pump Inhibitor drugs) liên hệ mức Magnesium thấp trong máu. Ngày 2 tháng 3, 2011, FDA ra thông cáo cho biết dùng lâu (phần lớn hơn một năm) thuốc PPIs có thể làm cho mức Magnesium hạ thấp trong huyết thanh. FDA cho biết sau khi khảo nghiệm thấy khoảng ¼ bệnh nhân được uống Magnesium phụ thêm nhưng vẫn bị thấp Magnesium nên phải ngưng PPIs. Dùng thuốc PPIs cho bệnh nhân là để giảm lượng acid trong bao tử, để trị một số bệnh như ợ chua, lở loét bao tử hay ruột non, và viêm ống thực quản. Hạ thấp Magesium trong huyết thanh có thể gây một số triệu chứng như: bắp thịt bị co thắt (tetany), tim đập thất nhịp (cardiac arrhythmias), kinh phong (seisures) (tuy nhiên cũng không phải luôn luôn bệnh nhân có những triệu chứng này). Theo FDA thì trị Magnesium thấp trong huyết thanh bằng cách cho uống phụ thêm chất Magnesium. Nhưng nếu bệnh nhân đang uống PPIs nếu bị thấp Magnesium trong máu cũng có khi phải ngưng PPIs. Theo FDA thì nên thử máu mức Magnesium cho bệnh nhân trước khi uống PPIs, trong trường hợp tiên đoán bệnh nhân phải uống Magnesium lâu dài, hoặc bệnh nhân uống PPIs đang uống digoxin, thuốc lợi tiểu (diuretics), hay đang uống những thuốc nào khác có thể làm cho Magnesium hạ thấp trong máu. Nhất là bệnh nhân bệnh tim đang uống Digoxin mà bị Magnesium thấp trong máu có thể gây nhiều phản ứng phụ nguy hiểm. Bác sĩ cần thử máu theo dõi mức Magnesium trong máu cho bệnh nhân.

FDA còn thêm những lời khuyên sau đây cho bệnh nhân đang uống PPIs mà bị những triệu chứng như tim đập thất nhịp, tim đập nhanh, hồi hộp, bắp thịt rung hay co thắt, cần phải được điều trị ngay. Trẻ em bị tim đâp thất nhịp có những triệu chứng như mệt mỏi, khó chịu bao tử, chóng mặt hay choáng váng.

Ngoài ra, FDA còn nhiều lời khuyên quan trọng khác như không nên tự ngưng PPIs mà phải báo cho bác sĩ hay nhân viên y tế biết, bàn luận vơí họ nếu có những thắc mắc khi uống PPIs, hỏi bác sĩ trước khi mua thuốc PPIs tự do ngoài quầy, báo cho bác sĩ biết ngay nếu bị triệu chứng công phạt thuốc, và khi đi khám bệnh cũng cho bác sĩ biết hiện mình đang uống PPIs. Nên vào FDA.com hay hỏi bác sĩ, dược sĩ để biết thêm chi tiết.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

thunder  
#10 Posted : Thursday, March 24, 2011 2:06:01 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

UserPostedImage


Ích Lợi Từ Trái Ổi

Hãy ăn ổi vì những lợi ích sau:

1. Phòng ngừa bệnh ung thư


Ổi là nguồn thực phẩm tuyệt vờicung cấp lycopene và chất chống ôxy hóa chống lại bệnh ung thư.
Chất lycopene có trong ổi được cơ thể chúng ta hấp thụ một cách dễ dàng hơn so với cà chua vì sự khác nhau trong cấu trúc tế bào, cho phép chất chống ôxy hóa được hấp thụ dễ dàng dù nấu chín hay ăn sống ổi.
Lượngchất lycopene trong ổi có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm thấp tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt và kìm chế sự phát triển của các tế bào gây ra breast cancer - ung thư vú cho phụ nữ
Lycopene giúp cơ thể chúng ta khỏe mạnh bằng cáchchống lại ảnh hưởng của các gốc tự do, có thể gây hại đến tế bào làm bệnh ung thư và các bệnh về tim phát triển.
Tất cả các loại ổi đều chứa chất chống ôxy hóa nhưng những quả ổi có phần thịt màu đỏ sẽ chứa chất chống ôxy hóa nhiều hơn ổi có thịt màu trắng.
-Lượng chất lycopenetrong quả ổi có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm thấp tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt và kìm chế sự phát triển của các tế bào gây breast cancer

2. Điều trị bệnh cholesterol

Ổi chứa chất hypoglycemic tự nhiên (nếu ăn không có vỏ) và giàu chất xơ. Chúng có tácdụng hạ huyết áp và cholesterol trong máu.
Do đó, ổi rất có ích đối vớinhững người có nguy cơ mắc bệnh tim và cao huyết áp.
Ngoài ra, một quả ổi nặng 165g có thể cung cấp khoảng 20% lượng chất potassium hàng ngày cho cơ thể.
Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy, những người tiêu thụ potassium nhiều sẽ có chỉ số huyết áp thấp hơn những ai ít tiêu thụ potassium.

3. Điều trị bệnh tiêu chảy

Trái ổi có tác dụng điều trị tiêu chảy rất tốt vì trong quả ổi có chất làm se (hợp chất hóa học có xuhướng làm co rút các thành phần khác trong cơ thể).
Ngoài ra, hợp chất kiềm trong ổi có khả năng phòng chống và ngăn ngừa các vi khuẩn pháttriển trong quá trình bệnh lỵ.
Thêm vào đó, ổi có các chất carotenoids, vitamin C và potassium hỗ trợ cho việc chữa lành các trườnghợp viêm dạ dày.

4. Điều trị ho và cảm lạnh

Nước thuốc sắc từ lá ổi hoặc nước ép của trái ổi sống có thể làm giảm bệnh hovà cảm lạnh vì nước ổi chứa chất làm se.
Nước ổi sẽ làm giảm ho, sổ mũi, giúp cho đường hô hấp, cuống họng và phổi không bị ảnh hưởng lan truyền.
Trái ổi giàu vitamin C và sắt giúp cơ thể chống lại bệnh cảm lạnhvà sự lây nhiễm virus

5. Chăm sóc da

Chất làm se của quả ổi sẽ cân bằng cách cấu tạo da và làm khít vùng da bị trầy. Thực ra, ổi hoạt động hiệu quả hơn các sản phẩm dưỡng da trên thị trường.
Nước thuốc sắc từ lá hoặc quả ổi sống có thể đắp lên da để điều trị và làm da bị trầy se khít lại.
Thêm vào đó, ổi chứa nhiều vitamin A, vitamin C và potassium có tác dụng như chất chống ô xy hóa giúp da khỏe mạnh và hạn chế vết nhăn.

6. Phòng ngừa bệnh táo bón


Vì ổi chứa nhiều chất xơ nên có tác dụng phòng ngừa bệnh táo bón. Một quả ổi cỡ vừa có thể cung cấp 36% lượng chất xơ hàng ngày cho cơ thể. Hạt của quả ổi cũng có tác dụng hiệu quả trong việc nhuận tràng và làm sạch hệ thống đường ruột.

7. Điều trị bệnh tiểu đường

Ổi là thực phẩm có thể giúp bạn giảm cân vì ổi giàu chất fiber
Cácnghiên cứu khoa học của trường đại học Allahabad (Ấn Độ) đối với chuột bạch cho thấy lá và quả ổi có khả năng giảm thiểu lượng đường gluco trong máu.
Tuy nhiên, nếu ăn cả vỏ ổi sẽ không tốt cho lượng đường trongmáu của bạn. Cách tốt nhất khi ăn ổi để điều trị bệnh tiểu đường là gọtbỏ vỏ.

8. Gíup giảm cân

Ổi là thực phẩm có thể giúp bạn giảm cân vì ổi giàu chất xơ, protein và vitamin. Điều này có nghĩa là những ai muốn giảm cân không phải lo lắng lượng chất dinh dưỡnghấp thụ vào cơ thể bị thiếu hụt khi ăn ổi
-. Ổi không có cholesterol và ít carbohydrates có thể mang lại cho bạn cảm giác no.
Ăn một trái ổi cỡ vừa vào bữa ăn trưa sẽ cung cấp cho cơ thể đủ chất dinh dưỡng đến buổi tối.

9. Điều trị bệnh Scurvy (căn bệnh do thiếu vitamin C)

Lượngvitamin C có trong quả ổi thông thường (ổi ruột trắng) cao gấp 4 lần sovới quả cam chín, do đó ăn ổi là phương thuốc điều trị bệnh Scurvy hiệuquả.

10. Chăm sóc răng

Nước lá ổi có chứa chất làm se và vitamin có thể điều trị bệnh đau răng và viêm loét nướu răng ở miệng rất tốt.

Theo PNO
thunder  
#11 Posted : Friday, March 25, 2011 3:46:59 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Triệu chứng Đau bụng – Nguyên nhân và hướng xử trí

UserPostedImage


Đau bụng là một triệu chứng rất thường gặp. Ổ bụng có nhiều cơ quan, nội tạng, do đó chẩn đoán một trường hợp đau bụng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Bài viết sau đây sẽ điểm lại phần lớn các nguyên nhân đau bụng nhằm giúp bệnh nhân có một cái nhìn tổng quan, hướng xử trí ban đầu ở nhà và trong những tình huống cần thiết phải đi khám bệnh.

1. Định nghĩa:

Đau bụng là đau ở bất cứ vị trí nào giữa ngực và vùng bẹn. Danh từ thay thế (Đau dạ dày; Đau vùng bụng; Bụng đau; Đau quặn bụng).

2. Tổng quan
:
Ổ bụng có nhiều cơ quan. Đau vùng bụng có thể xuất phát từ một trong những cơ quan ấy, bao gồm:

Các cơ quan của hệ tiêu hoá – dạ dày, phần cuối thực quản (tâm vị), ruột non và ruột già (Đại tràng) , gan, túi mật, tuỵến tuỵ.
Động mạch chủ – động mạch lớn đi thẳng từ ngực xuống bụng.
Ruột thừa – một bộ phận nhỏ ở bụng dưới phía bên phải không còn tác dụng gì nhiều.
Hai thận – hai cơ quan có hình giống hạt đậu nằm sâu trong ổ bụng.
Tuy nhiên, đau có thể xuất phát từ một nơi khác – như ở ngực hay vùng chậu. Nhiễm trùng lan toả sẽ ảnh hưởng đến nhiều phần của cơ thể, như cúm hoặc viêm họng do vi khuẩn streptococcus chẳng hạn.

Cường độ của cơn đau không nhất thiết phản ánh độ trầm trọng của nguyên nhân gây đau. Đau bụng dữ dội đôi khi chỉ vì những tình trạng nhẹ như đầy hơi, hoặc đau quặn khi bị viêm dạ dày ruột do virus. Ngược lại, đau ít hoặc không đau lại có thể biểu hiện cho những tình trạng nặng đe doạ tính mạng như ung thư đại tràng hoặc viêm ruột thừa giai đoạn sớm.

3. Nguyên nhân thường gặp

Rất nhiều bệnh có thể gây đau bụng. Điều quan trọng nhất là hiểu rõ khi nào cần phải đi khám bệnh ngay. Trong đa số các trường hợp bạn chỉ cần chờ đợi, dùng các thuốc đơn giản trong tủ thuốc gia đình và sau cùng nên đi khám bệnh nếu triệu chứng đau không giảm bớt.

Các nguyên nhân có thể gặp bao gồm:

+Trướng hơi hệ tiêu hoá; Táo bón mãn tính
+Không dung nạp đường lactose (không dung nạp sữa)
+Viêm dạ dày ruột do virus (tiêu chảy cấp do siêu vi)
+Hội chứng ruột kích thích; Chứng xót thượng vị và khó tiêu
+Trào ngược dạ dày thực quản; Loét dạ dày tá tràng
+Viêm túi mật cấp do sỏi hoặc không do sỏi; Viêm ruột thừa cấp
+Bệnh túi thừa Meckel, Viêm túi thừa nhỏ ở ruột (diverticulitis)
+Tắc ruột—ngoài triệu chứng đau còn có thêm buồn nôn, sình bụng, nôn ói và bí trung tiện, đại tiện
+Dị ứng thức ăn; Ngộ độc thực phẩm (do vi khuẩn salmonella, shigella)
+Thoát vị (ruột không nằm đúng vị trí)
+Sỏi thận; Nhiễm trùng đường tiểu; Viêm tuyến tuỵ
+Lồng ruột – tuy ít gặp nhưng đây là một tình trạng nghiêm trọng, trẻ bị lồng ruột thường nằm bó gối và kêu khóc.
+Phình bóc tách động mạch chủ bụng – chảy máu vào thành động mạch chủ.
+Nhiễm ký sinh trùng (Giardia);
+Cơn tán huyết do hồng cầu liềm (Sickle cell crisis)
+Bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng; Viêm bờm mỡ đại tràng (Epiploic appendagitis)
+Đau do zona vùng ngực bụng, rất khó chẩn đoán ở giai đoạn đầu khi chưa có biểu hiện ngoài da

- Khi một cơ quan trong ổ bụng bị viêm, vỡ ra và thoát dịch, bệnh nhân không những bị đau dữ dội mà bụng còn cứng và thường kèm sốt. Đó là tình trạng viêm phúc mạc do nhiễm trùng lan toả ổ bụng. Viêm phúc mạc do vỡ ruột thừa viêm là một cấp cứu y khoa.

- Ở trẻ nhỏ, khóc lâu không rõ nguyên nhân thường do đau bụng và sẽ hết khi trẻ đánh hơi hoặc đi tiêu được.

- Đau bụng khi hành kinh (thống kinh) có thể do co thắt cơ trơn hoặc do một vấn đề ở bộ phận sinh dục. Thống kinh có thể do lạc nội mạc tử cung (endometriosis) xảy ra khi niêm mạc tử cung đóng ở những vị trí khác thường như vùng chậu hoặc buồng trứng, do u xơ tử cung, u nang buồng trứng, ung thư tử cung, hoặc do bệnh lý viêm vùng chậu – viêm bộ phận sinh dục, thường do các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

- Đau bụng có thể do nguyên nhân từ một cơ quan trong lồng ngực, như phổi ( viêm phổi) hoặc tim (nhồi máu cơ tim), hoặc đau do vặn cơ ở thành bụng.

- Ung thư đại tràng và các loại ung thư khác ở ống tiêu hoá là những bệnh lý nặng nhưng tương đối ít gặp hơn.

- Một nguyên nhân khác gây đau bụng ít gặp là rối loạn cơ thể hoá (somatization disorder), có căn nguyên là rối loạn cảm xúc nhưng biểu hiện bằng những bất ổn trên cơ thể (như đau bụng tái đi, tái lại). Viêm họng do vi khuẩn Streptococcus ở trẻ em có thể có triệu chứng đau bụng.

4. Chăm sóc tại nhà

Khi đau nhẹ, bạn nên

Uống một ít nước lọc
Tránh thức ăn đặc. Nếu có nôn ói, nhịn ăn trong 6 tiếng. Sau đó ăn một ít thức ăn nhẹ.
Nếu đau thượng vị và đau sau bữa ăn, các thuốc kháng acid có thể làm dịu đau, nhất là khi bạn cảm thấy xót ruột hay no hơi. Tránh dùng chanh, thức ăn béo, thức ăn chiên xào, các sản phẩm có cà chua, cà phê, rượu và nước ngọt có gaz. Bạn có thể thử dùng các thuốc ức chế H2 (cimetidine, nizatidine, hoặc ranitidine) được phép bán tự do. Sau khi dùng thuốc nếu tình trạng vẫn tiếp tục xấu đi, hãy đi khám bệnh sớm.
Tránh dùng aspirin, ibuprofen, các loại thuốc giảm đau có á phiện nếu không có ý kiến của bác sĩ. Nếu biết chắc chắn cơn đau không liên quan đến gan, bạn có thể dùng paracetamol.

5. Hãy đi khám bệnh cấp cứu ngay khi


Đau đột ngột và dữ dội ở bụng,
Đau lan đến ngực, cổ và vai
Nôn ói ra máu hoặc có máu trong phân (đặc biệt khi phân có màu nâu đen hoặc đen)
Bụng cứng như tấm bảng, ấn đau
Không đi tiêu được, đặc biệt khi kèm nôn ói
Hãy đi khám bệnh nếu:

Đầy hơi kéo dài hơn 2 ngày
Tiêu chảy kéo dài hơn 5 ngày
Khó chịu ở bụng lâu hơn 5 ngày
Đau kèm theo sốt trên 38 độ C
Tiểu lắt nhắt và cảm giác nóng buốt khi đi tiểu
Đau vùng bả vai kèm buồn nôn
Đau trong thai kỳ (hoặc nghi ngờ có thai)
Biếng ăn kéo dài
Sút cân không rõ nguyên nhân
Bác sĩ sẽ làm gì?

Dựa trên bệnh sử và thăm khám lâm sàng, bác sĩ sẽ cố gắng định ra nguyên nhân đau bụng. Các yếu tố như: vị trí đau, thời gian đau, các triệu chứng kèm theo như sốt, mệt mỏi, cảm giác rũ rượi toàn thân, buồn nôn, nôn, thay đổi về tình trạng của phân sẽ hỗ trợ bác sĩ rất nhiều trong chẩn đoán.

Trong lúc thăm khám lâm sàng, bác sĩ sẽ tìm thử xem đau có khu trú ở một điểm (điểm đau khu trú) hoặc đau lan toả. Bác sĩ sẽ kiểm tra xem đau có liên quan đến màng bụng (viêm phúc mạc). Nếu thấy có bằng chứng của viêm phúc mạc, tình trạng lúc đó sẽ đựơc gọi là “bụng ngoại khoa” và đòi hỏi phải phẫu thuật khẩn cấp.

Bác sĩ có thể hỏi một số điều liên quan đến tình trạng đau bụng của bạn:

Đau lan toả hay khu trú ở một chỗ? Đau ở vùng nào của bụng? Thấp hay cao? Bên phải, bên trái hoặc ở giữa? Đau quanh rốn?
Đau nhiều không, đau nhói hay đau quặn, đau liên tục kéo dài, đau từng cơn và thay đổi cường độ? Đau có làm bạn thức giấc về đêm?
Trước kia bạn có đau tương tự? Mỗi đợt đau bao lâu?
Bao lâu thì đau một lần? Có đau vài phút sau khi ăn? Đau trong vòng 2 đến 3 giờ sau khi ăn? Đau càng lúc càng nhiều hơn?
Có đau khi hành kinh (thống kinh)?
Đau có lan ra sau lưng, giữa lưng, dưói bả vai phải, đau lan xuống bẹn, xuống mông hoặc xuống đùi? Có đau nhiều hơn khi nằm ngửa?
Đau nhiều hơn sau khi ăn uống? Sau khi ăn chất béo, sản phẩm từ sữa, sau khi uống rượu?
Có đau nhiều hơn khi bị stress? Sau khi gắng sức?
Đau có bớt sau khi ăn hoặc sau khi đi tiêu?
Đau có bớt sau khi uống sữa hoặc uống thuốc kháng acid?
Bạn có đang dùng thuốc gì không? Bạn có bị chấn thương nào gần đây không?
Bạn có thai không? Có trễ kinh? Có rối loạn kinh nguyệt?
Có triệu chứng nào khác xảy ra cùng lúc?
Các xét nghiệm dùng trong chẩn đoán có thể bao gồm: Chụp đại tràng có cản quang; Chụp dạ dày tá tràng có cản quang; Xét nghiệm máu, nước tiểu và phân; Nội soi thực quản, dạ dày, tá tràng; Siêu âm bụng; Chụp bụng đứng; Đo điện tâm đồ; Chụp MSCT bụng …

6. Đề phòng: Để đề phòng đau bụng bạn nên

Chia nhỏ các bữa ăn.
Cần đảm bảo bữa ăn phải cân đối và đủ chất xơ.
Ăn nhiều rau củ quả.
Giới hạn những thực phẩm sinh nhiều hơi.
Uống nước nhiều mỗi ngày.
Tập luyện thường xuyên.

Để tránh các triệu chứng ợ nóng hoặc chứng trào ngược dạ dày thực quản:

Bỏ thuốc lá.
Giảm cân nếu cần thiết.
Ngưng ăn ít nhất 2 giờ trước khi đi ngủ.
Duy trì tư thế ngồi thẳng ít nhất 30 phút sau khi ăn.
Nâng cao đầu giường.

Kết Luận

Đau bụng có thể do rất nhiều nguyên nhân. Không phải lúc nào cũng cần phải đi khám bệnh ngay khi đau bụng. Một số rối loạn tiêu hoá nhẹ có thể tự xử trí được bằng cách sử dụng những thuốc thông thường trong tủ thuốc gia đình. Tuy nhiên cần phải phân biệt được những triệu chứng và dấu hiệu nguy hiểm để có được sự can thiệp kịp thời

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH

xuan hoang  
#12 Posted : Sunday, March 27, 2011 10:43:18 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)


show details Mar 20 (6 days ago)



Thiền và sức khỏe



UserPostedImage



Nói đến thiền, đa số chúng ta đều cảm thấy xa lạ và có thái độ muốn xa lánh vì chữ thiền gợi ra một cái gì thuộc về tôn giáo, tu hành..., không trần tục như chúng ta. Bạn thử đọc bài này để xem cái cảm giác ban đầu ấy có đúng không, và thấy được ích lợi của thiền đến sức khỏe của bạn. Không chừng đọc xong, bạn sẽ muốn thiền ngay tức khắc.
Thiền được vô số người thực hành từ nhiều ngàn năm qua. Thoạt kỳ thủy, thiền được dùng như một cách để con người có thể đến gần được những năng lực bí ẩn và thiêng liêng của cuộc sống. Nhưng hiện nay, thiền là một phương cách giúp xả bỏ những áp lực của đời sống và để thư giãn.
Ngồi thiền, chúng ta có thể đạt đến một trạng thái tịch lặng và thư giãn hoàn toàn khiến chúng ta cảm thấy yên bình và thanh thản. Chấm dứt thời thiền, chúng ta vẫn còn cảm nhận được sự yên bình này vì tác dụng của thiền ảnh hưởng đến cả thân và tâm của chúng ta.
Nhiều người có thể cho rằng thiền rất khó khi họ chưa bắt đầu. Nhưng không phải thế, ai cũng có thể tập thiền được. Hiện nay, nhiều phương pháp đã được truyền dạy khiến chỉ cần bỏ thời giờ ra tập luyện, chúng ta đều có thể hưởng được sự lợi ích của thiền.

Thiền và bệnh tật

Người khỏe mạnh thiền để thư giãn và bớt đi căng thẳng của cuộc sống. Nhưng thiền cũng có tác dụng tốt đối với nhiều bệnh tật của cơ thể, nhất là những bệnh do căng thẳng gây ra. Nhiều cuộc nghiên cứu về tác dụng lên bệnh tật của thiền đã và đang được thực hiện, trong đó những bệnh sau đây được cho là có thể giảm bớt nhờ thiền:
-Bệnh dị ứng, suyễn
-Bệnh bồn chồn lo lắng
-Bệnh thấp khớp
-Bệnh ung thư
-Bệnh trầm cảm
-Đau nhức kinh niên
-Bệnh cao huyết áp
-Bệnh tim

Nhưng nên nhớ: Thiền không thể được dùng thay thế những chữa trị y khoa mà chỉ là phần thêm vào những chữa trị đang được dùng.
Khi ngồi thiền chúng ta dẹp bớt những góp nhặt thông tin tích lũy mỗi ngày trong óc chúng ta. Một khi đầu óc đã trống bớt những ý tưởng tạp nhạp, bạn sẽ dễ có cái nhìn bớt chật hẹp và tìm ra được cách giải quyết vấn đề cũng như bớt căng thẳng. Bạn trở nên “tỉnh thức”, “tự tri” hơn và chú ý vào hiện tại hơn là lo lắng về những chuyện phải làm mỗi ngày.

Có rất nhiều phương pháp thiền: thiền siêu nghiệm (transcendental), thiền Zen, thiền chuyển động, thiền minh sát... nhưng mục đích chỉ là một: tìm được sự bình yên trong tâm hồn. Không một phương thức nào là đúng hay sai cả. Bạn có thể theo học một lớp thiền cùng với những môn như yoga, taichi, khí công, thiền theo hướng dẫn... nhưng điều quan trọng là chính bạn phải thực tập. Chúng ta có thể thực tập thiền bất cứ lúc nào trong ngày và cũng có thể định ra một số giờ nào đó để thực tập thiền, thí dụ 1 giờ buổi sáng khi thức dậy và 1 giờ buổi tối...

Làm sao để tập thiền?

Sau đây là một vài cách để bắt đầu tập thiền. Bạn có thể tập vài phút mỗi ngày hay tập lâu hơn, ở nhà, ở sở, bất cứ đâu.

Thở sâu:

Người mới bắt đầu nên theo cách này vì thở là một chuyện tự nhiên nhất của con người. Chú ý vào hơi thở. Hít vào biết là mình đang hít vào, thở ra biết là mình đang thở ra. Thở sâu, nhẹ nhàng và chậm. Khi nhận thấy mình đang lo ra, chỉ cần chú ý trở lại vào hơi thở.

Rà soát thân thể:

Trong lúc rà soát bằng tâm tưởng, chú ý đến từng phần của cơ thể. Nhận biết những cảm giác của từng cơ phận như đau, căng cứng, thư giãn, nóng, lạnh. Tưởng tượng đang thở sức nóng hay sự thư giãn vào những bộ phận khác nhau của cơ thể.

Tụng kinh hay niệm chú:

Chú là tên của những vị thánh hoặc bồ tát hay những câu thần bí mà bạn có thể đọc thầm hay ra tiếng. Bạn cũng có thể tự đặt ra một câu chú của chính mình. Chú là căn bản của phương pháp thiền transcendental. Những thí dụ về chú: cầu nguyện Chúa, đọc tên Chúa trong truyền thống đạo Juda, tụng chữ Om trong truyền thống đạo Hindu hay đạo Phật.

Thiền hành:


Thiền hành là một cách thư giãn hữu hiệu. Chúng ta có thể thiền hành bất cứ nơi nào: trong rừng vắng, trên đường phố, ngay cả trong khu thương xá tấp nập. Khi thiền hành, bạn nên đi chậm và chú ý vào cử động của chân mình mà không cần chú ý lắm là sẽ đi đến một nơi nào đó.

Cầu nguyện:

Cầu nguyện là hình thức thiền thông dụng và xưa nhất. Đạo nào cũng có sẵn những lời cầu nguyện được viết ra hay đọc lên. Bạn cũng có thể tự viết những lời cầu nguyện cho chính mình.

Đọc sách hay nghe băng, nghe nhạc và suy nghiệm:

Nhiều người tìm được sự yên bình bằng cách đọc sách đạo thầm hay ra tiếng rồi suy nghiệm về những gì vừa đọc. Bạn cũng có thể nghe nhạc đạo, những lời đọc hay âm nhạc làm cho bạn nhẹ nhàng thư giãn hay hứng khởi. Bạn cũng có thể viết lại những suy nghiệm của mình và chia sẻ với bạn bè hay người hướng dẫn tâm linh của mình.

Chú ý vào tình thương và sự biết ơn:

Trong phương pháp này, bạn chú ý vào một đấng hay một vật thiêng liêng nào đó, mang tình thương và sự biết ơn vào tâm của mình. Bạn có thể nhắm mắt và tưởng tượng hay nhìn chăm chú vào biểu tượng của đấng thiêng liêng đó.
Khi mới bắt đầu tập thiền, bạn không cần phải quá cố gắng. Nếu óc bạn đi lạc, bạn chỉ cần chú ý trở lại khi nhận biết ra. Cứ thử nghiệm và sau cùng bạn sẽ tìm ra một lối thiền thích hợp, đem nó vào thời khóa biểu hằng ngày của mình. Nên nhớ rằng không có lối thiền nào đúng hay sai. Điều quan trọng là thiền sẽ giúp bạn được giảm thiểu căng thẳng khiến bạn cảm thấy vui khỏe và yên bình hơn.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nhuận
www.yduocngaynay.com
UserPostedImage
thunder  
#13 Posted : Sunday, March 27, 2011 7:55:30 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Chanh trừ được các bệnh ung thư


UserPostedImage


Đây là một tin mới nhất của Y Khoa, để chống lại bệnh ung thư
Các bạn hảy chú ý đọc nó thật kỹ bản điện tín nầy mà người ta mới vừa gởi cho tôi, và tôi hy vọng các bạn sẽ phổ biến gởi đi tiếp……

Nhửng điểm lợi ích của trái chanh :

-Trái chanh là một sản phẩm kỳ diệu chuyên giết các tế bào ung thư

- Nó mạnh gấp 10.000 lần hơn liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

- Tại sao chúng ta không biết gì về nó (cho dến giờ nầy)

- Bởi vì có những nhà bào chế (labo) thích bào chế ra một loại thuốc với thủ thuật hổn hợp nào đó để đem lại nhiều lơi nhuận cho họ hơn mà thôi.

- Từ đây về sau quí vị có thể giúp bạn bè nào cần bằng cách cho họ biết là nước chanh rất cần thiết để ngừa bịnh.

- Mùi vị của chanh rất là tốt và nó không có gây ra những tác dụng kinh khủng như các loại liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

-Nếu có thể, quí vị nên trồng một cây chanh trong vườn của quý vị

- Đã có biết bao nhiêu người chết trong lúc bí mật nầy (của trái chanh) được dấu kín để không đụng tới tiền lời hang tỹ bạc của những nhà kinh doanh ?

- Như quý vị đã biết, cây chanh thấp, lại không tốn chỗ bao nhiêu. Và được biết có nhiều loại chanh (như chanh giấy ?)

- Quí vị có thể dùng chanh với nhiều cách khác nhau: quí vị có thể ăn cả võ, vắt chanh ra uống, uống nước đá chanh đủ kiểu, làm bánh v.v.v.v……

-Người ta cho trái chanh hay nhiều thứ lắm nhưng quan trọng và hay nhất là hiệu quả của nó đối với ung nhọt và bướu.

- Cây chanh là một vị thuốc đã chứng minh là trị được tất cả các loại ung thư. Có những người khác còn xác nhận là nó có một công dụng rất lớn trong mọi loại biến thể của các loại ung thư

- Người ta cũng còn xem chanh như là một loại thuốc chống đủ loại vi trùng, chống các loại viêm do vi khuẩn, và nấm, rất hữu hiệu chống ký sinh trùng và sâu (mầm bệnh) trong máu, nó lại có thể điều hòa được huyết áp (quá cao hay quá thấp) chống áp xuất cao và rối loạn thần kinh

- Tài liệu nầy có được từ một trong những nhà bào chế thuốc lớn trên thế gìới, người nầy xác nhận là sau trên 20 lần thử nghiệm từ năm 1970 ở viện bào chế, mới thấy được là:

Chanh tiêu diệt các tế bào tinh quái trong 12 loại ung thư, gồm cả ung thư đường ruột ung thư ngực, vú , ung thư tiền liệt tuyến, phổi, lá lách (tuyến tụy)…

- Cây chanh và trái chanh được cho thấy có hiệu quả 10.000 lần hơn sản phẩm Adriamycin, một loại thuốc hóa học thường được dùng trên thế giới để làm chậm lại sự nẩy nở của tế bào ung thư

- Và còn lạ lùng hơn nữa là loại nước chanh trị bịnh nầy chẳng những diệt được các loại tế bào ung thư mà không bao giờ ảnh hưởng đến các tế bào sạch.


Viện Khoa Học và Sức Khỏe, L.L.C. 819 N. Causez Strêt, Baltimore, MD. 1201

Hảy gởi đi khắp nơi trên thế giới



Objet : LE CITRON...A LIRE ATTENTIVEMENT


Institut de Sciences de la santé, L.L.C. 819 N. Rue Charles Baltimore, MD 1201.

Ceci est la dernière nouveauté en médecine, effective pour contrer le cancer !!!
Lisez avec attention le message que l'on vient de m'envoyer, j'espère que vous le ferez suivre !!!

Bienfaits du citron.

Le citron (citrus) est un produit miraculeux pour tuer les cellules cancereuses.
Il est 10.000 fois plus puissant que la chimiothérapie.
Pourquoi ne sommes-nous pas au courant de cela?
Parce qu'il existe des laboratoires intéressés par la fabrication d'une version synthétique qui leur rapportera d'énormes bénéfices.

Vous pouvez désormais aider un ami qui en a besoin en lui faisant savoir que le jus de citron lui est bénéfique pour prévenir la maladie.

Son goût est agréable et il ne produit pas les horribles effets de la chimiothérapie.
Si vous en avez la possibilité, plantez un citronnier dans votre patio ou votre jardin.
Combien de personnes meurent pendant que ce secret est jalousement gardé pour ne pas porter atteinte aux bénéfices multimilionnaires de grandes corporations ?

Comme vous le savez, le citronnier est bas, n'occupe pas beaucoup d'espace et est connu pour ses variétés de citrons et de limes.

Vous pouvez consommer le fruit de manières différentes: vous pouvez manger la pulpe, la presser en jus, élaborer des boissons, sorbets, patisseries, ...
On lui attribue plusieurs vertus mais la plus intéressante est l'effet qu'elle produit sur les kystes et les tumeurs.

Cette plante est un remède prouvé contre les cancers de tous types. Certains affirment qu'elle est de grande utilité dans toutes les variantes de cancer.
On la considère aussi comme un agent anti microbien à large spectre contre les infections bactériennes et les champignons, efficace contre les parasites internes et les vers, elle régule la tension artérielle trop haute et est antidépressive, combat la tension et les désordres nerveux.

La source de cette information est fascinante: elle provient d'un des plus grands fabricants de médicaments au monde, qui affirme qu'après plus de 20 essais effectués en laboratoire depuis 1970, les extraits ont révélé que:
Il détruit les cellules malignes dans 12 types de cancer, y compris celui du côlon, du sein, de la prostate, du poumon et du pancréas...
Les composés de cet arbre ont démontré agir 10.000 fois mieux que le produit Adriamycin, une drogue chimiothérapeutte normalement utilisée dans le monde, en ralentissant la croissance des cellules du cancer.

Et ce qui est encore plus étonnant: ce type de thérapie avec l'extrait de citron détruit non seulement les cellules malignes du cancer et n'affecte pas les cellules saines.

Institut de Sciences de la Santé, L.L.C. 819 N. Causez Street, Baltimore, MD 1201


ENVOYER A TOUT LE MONDE
.
khoaitay  
#14 Posted : Monday, March 28, 2011 12:32:06 AM(UTC)
khoaitay

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/14/2011(UTC)
Posts: 41
Location: Đất Mẹ

Thanks: 2 times
Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
KHOAI TÂY TỐT CHO SỨC KHỎE

Nhiều người không ăn hoặc ít ăn khoai tây vì cho rằng hàm lượng tinh bột trong khoai tây tương đối cao, sợ ăn khoai tây sẽ bị béo.

UserPostedImage

Tuy nhiên các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, khoai tây được mệnh danh là "nhân sâm dưới lòng đất" bởi hàm lượng dinh dưỡng phong phú có trong thành phần của nó và nếu biết ăn khoai tây một cách khoa học, chúng ta vẫn hoàn toàn có thể giữ được vóc dáng thon thả mà không bị mập. Các chuyên gia cho biết, thành phần dinh dưỡng của khoai tây vô cùng phong phú, cứ 100g khoai tây thì có khoảng 2 - 2,5g protein, mà protein trong khoai tây có chất lượng khá tốt, gần bằng với protein động vật. Trong thành phần của nó chứa một chất nhầy đặc biệt, có tác dụng nhuận tràng và chuyển hóa lipid cũng như hỗ trợ quá trình chuyển hóa cholesterol. Ngoài ra, khoai tây còn có đủ 8 loại axit amin và rất nhiều loại vitamin, trong đó hàm lượng vitamin C tương đối nhiều. Hàm lượng canxi, photpho, kali trong khoai tây cũng rất cao.

Vậy ăn khoai tây thế nào thì tốt?


Trước tiên, bạn cần đảm bảo rằng mỗi ngày ăn đủ 80g thực phẩm thuộc họ khoai (khoai lang, khoai môn, khoai tây), tiếp đó là kết hợp rau - thịt hợp lý, chỉ cần kết hợp tốt, thì vừa có thể thoải mái ăn ngon, mà vừa có thể giữ được vóc dáng thon thả.

Còn về cách ăn khoai tây, các chuyên gia đề cử hai cách ăn có thể giữ được giá trị dinh dưỡng của khoai tây là khoai tây thái sợi trộn (nguyên liệu trộn kèm tốt nhất là ớt chuông đỏ, ớt xanh và rau thơm/ngò rí); và salad khoai tây (ăn kèm với các loại rau màu xanh).

Đối với các loại khoai tây nghiền, khoai tây chiên có trong đồ ăn nhanh, các chuyên gia khuyến cáo: trong quá trình nấu nướng, khoai tây nghiền đã bị oxi hóa, mất gần hết vitamin C, do đó không còn giá trị dinh dưỡng nữa. Còn khoai tây chiên thì được chiên qua dầu ăn ở nhiệt độ cao sẽ sản sinh hợp chất cao phân tử, không có lợi cho sức khỏe, vì vậy nên hạn chế ăn.


RollEyes RollEyes hii...hi...hi sau này mình sẽ không sợ bị chiên hay nghiền nữa roài...Whistle Whistle
Yêu lắm mùa thu chiếc lá rơi
Trên cao gió lộng bốn phương trời.
thunder  
#15 Posted : Tuesday, March 29, 2011 1:50:16 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Câu Chuyện Sức Khỏe: Những cách thức hồn nhiên
để sống thọ và yêu đời


Monday, 28 March 2011 11:43

Cali Today News - Con phù du là sinh vật được biết chỉ hiện diện trên cõi đời có 1 ngày, chuồn chuồn cũng thế, chỉ 4 tháng là biến mất, nhưng con dơi bé tí, cũng là một động vật hữu nhũ như sư tử núi lại có tuổi thọ gấp đôi con này, 30 năm so với 15 năm.

Trên thang bậc các sinh vật, con người chiếm thứ hạng khá cao trong sống thọ với tối đa là 122 năm, hơn cả hắc tinh tinh (59 tuổi) và voi (86 tuổi), nhưng vẫn còn thua rùa Galapogos (150), tôm hùm (170), cá koi (200) cá voi bướu (211) và nhất là cây thông Bristlecone (1,000 tuổi).


UserPostedImage
Ảnh minh họa


Có lẽ công trình nghiên cứu về tuổi thọ con người của các tác giả Howard S.Friedman và Leslie R.Martin, với cái tựa “The Longivity Project” là đáng chú ý nhất vì họ đã tổng kết các lời khuyên chí lý của một cuộc nghiên cứu khoa học kéo dài đến 8 thập niên, bắt đầu từ năm 1921, theo dõi cuộc đời của 1,500 cậu bé và cô bé.

Giáo sư Friedman cắt nghĩa: “Cần phải theo dõi họ trong suốt cuộc đời để biết tại sao có người sống thọ và có người mất sớm và chúng tôi khám phá nhiều chuyên ly kỳ về tuổi thọ con người, khiến chúng ta phải suy nghĩ"

Bất ngờ đầu tiên mà các nhà khoa học nhận thấy, theo lời ông, chính là ‘thái độ chú ý có ý thức’ (conscientiousness), tức là những người làm công việc hàng ngày một cách có ý thức rõ ràng, không nhầm lẫn, theo cái cách ông bà hay nói là ‘có cái đầu tỉnh táo’ (she has a good head on her shoulders). Những người này một khi có các thói quen tốt trong việc giữ gìn sức khỏe sẽ theo chúng suốt đời.

Thứ nhì hạnh phúc không phải là nguyên nhân của một cuộc đời kéo dài, mà là hậu quả của một kiểu sống sung mãn tràn đầy. Các nhà khoa học khám phá “người hạnh phúc không phải là người khỏe hơn mà ngược lại, người khỏe hơn đã được hạnh phúc”

Những người yêu nghề, có một nền học vấn tốt, có mối liên hệ với mọi ngươi bền vững, làm việc giúp ích có ý thức cho gia đình và cộng đồng, chan hòa với mọi người, những người như thế thường được khỏe mạnh và hạnh phúc.

Một ý tưởng lạ lẫm khác trong quyển sách nói trên là ‘stress không hoàn toàn xấu như bạn tưởng’. Giáo sư Friedman nói: ‘Bạn thường nghe nói stress có nhiều hiểm nguy, nhưng chính những người sống tràn đầy và dấn thân (engaged) để quyết chí thực hiện hoài bão thì mới sống khỏe và sống lâu”

Theo giáo sư thì ‘những người bị stress liên tục sẽ bị béo phì, nhưng những kẻ không muốn ngưng nghỉ và chịu thua mới có vẻ ‘bừng sáng’. Người nào đi làm mà không muốn về hưu sớm, vật ngã công việc chứ không để công việc vật ngã, kiên trì trong việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra, những kẻ đó mới có vẻ rắn rỏi khỏe mạnh’

Các nhà khoa học khuyên chúng ta hãy suy nghĩ tới loại người mà chúng ta dấn thân làm việc và giao dịch để được khỏe mạnh. Họ cho là nếu chúng ta làm việc với những người cao thượng có khuynh hướng giúp đỡ thực sự tha nhân, thì chúng ta sẽ lần lần bị ảnh hưởng.

Nghĩa là chúng ta sẽ ‘dậy sớm mỗi sáng (tức không thức khuya uống rượu tối qua), sẽ bắt tay vào lúc mỗi bình minh với lòng tràn đầy quyết tâm và hưng phấn. Theo các khoa học gia, những người như thế thuờng ít đau yếu, vì họ ít bi quan và ‘không cò thì giờ để lo âu và buồn bã về cá nhân họ’

Một trong các bí quyết sống thọ là hãy gia nhập các đoàn thể hoạt động xã hội, hay chọn các hobbies đầy tràn những hoạt động hấp dẫn và sảng khoái. Công việc không lo nghĩ thu vén cho cá nhân là công việc đầy sáng tạo. Niềm vui phục vụ khiến người ta có lối sống lành mạnh và chan hòa với mọi người.

Hồng Quang theo Reader’s Digest

xuan hoang  
#16 Posted : Wednesday, March 30, 2011 4:43:34 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Mice and Hantavirus




UserPostedImage



What is Hantavirus Pulmonary Syndrome (HPS)?

Hantavirus is a virus found in rodents, especially in deer mice. It is not a new virus but it has only been detected since 1993 when it was found to be the cause of Hantavirus Pulmonary Syndrome, or HPS. HPS is very rare but a serious illness. The illness was first detected in southwestern U.S.

What is the source of Hantavirus?

Rodents, especially deer mice are the primary carriers of Hantavirus.

The deer mouse (pale grey or reddish brown with white fur on the feet and belly) can be found in all parts of North America with the exception of the tree line in the Yukon in Canada and some of the southeastern states of the U.S.

The habitat of the deer mouse is primarily rural and semi-rural wooded areas, but generally not urban centres. The deer mouse should not be confused with the more common house mouse which is not known to carry Hantavirus.


UserPostedImage



How is Hantavirus Spread?

Hantavirus is spread to people when they breath in the virus or dust particles contaminated by infected rodent droppings, urine or saliva or by a bite from an infected rodent.

Hantavirus does not cause disease in pets or livestock and is not transmitted from these animals to people.

Hantavirus is not spread by food or water.

Hantavirus is not spread by ticks, fleas, blackflies, mosquitoes and other insects.


What are the symptoms of HPS?

Early symptoms resemble a "flu-like" illness and other viral infections with symptoms of fever, muscle aches and chills.

HPS progresses from these vague symptoms to severe difficulty in breathing.


Is HPS a new disease?

No, HPS is not a new disease. There is no evidence that it is increasing or spreading and it remains an extremely rare disease. What is new is our ability to detect the virus and recognize HPS which was first described in New Mexico during 1993.

Hantavirus has likely been present in deer mice for a long time and may have caused a small number of unrecognized cases of HPS in the past.


UserPostedImage



How serious is HPS?

HPS is a serious disease. About 50% of known cases have died.


How likely am I to be exposed to Hantavirus?

Most people in Ontario will never be exposed to Hantavirus.

People whose occupation brings them into close contact with rodents, particularly deer mice, (e.g., wildlife biologists and pest control officers) have a greater chance of being exposed to Hantavirus although the chance of developing HPS is extremely remote.

Activities such as sweeping out mouse infested cottages or sheds or other outbuildings left vacant over the winter, or camping directly on uncovered ground in rodent infested areas, may increase the chances of breathing in dust particles contaminated by droppings, urine or saliva from infected rodents.


UserPostedImage



Is there any treatment of HPS?

Yes, patients with HPS are treated in hospital, often in intensive care. Early treatment of respiratory problems will improve the chances of complete recovery.


How can I protect myself?

Potential sources of the virus can be eliminated by removing rodents from the home. Use spring-loaded traps in infested areas. Rubber or plastic gloves should be worn when handling dead rodents. They should be rinsed in disinfectant (such as laundry bleach) when finished. For disposal of dead mice, place the dead animal in a plastic bag, twist tie it and place it in the regular garbage.

Poison or baits to control rodents can also be used but they are not a good idea unless other control measures have failed. Poisoned animals crawl away to die and their decomposing bodies not only smell bad but they can be hard to find. Poisons can also harm children and pets.

If you're unable to trap mice and they are still around, for help you may want to consult a pest control professional. You should:

use approved rodenticides in baits
set the bait in an area where there is no access to children or pets
place baits inside a covered box with an opening
place the covered bait station close to a "runway" (where the mouse droppings are observed)
Measures can be taken to mouse-proof buildings and surrounding area by:

sealing any holes on the outside of buildings that might give access to rodents
storing food and feed in containers with tight lids.
putting pet food and water away at night.
When cleaning up mouse droppings, use a wet method (i.e., wet wiping or mopping with a disinfectant like household bleach. Avoid using dry methods like dusting, sweeping or vacuuming.

If cleaning is done in an unventilated space where there are rodent droppings, a filter-mask should be worn.

( Environmental Health )
UserPostedImage
thunder  
#17 Posted : Wednesday, March 30, 2011 11:46:59 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Măng Tây + Mãng Cầu Xiêm - Ai mà ngờ!

Măng cầu xiêm (Graviola (fruit) - Trái cây chống Ung Thư

UserPostedImage


Theo các kết quả nghiên cứu, nước ép mãng cầu xiêm có thể tầm soát và tiêu diệt có chọn lọc các tế bào ác tính. Nhưng tại sao đến bây giờ chúng ta mới biết về tác dụng “phép lạ” của mãng cầu xiêm trong phòng chống ung thư? Và đã có bao nhiêu người thiệt mạng oan uổng khi công cụ chống ung thư hiệu quả này bị các công ty dược che giấu?

Mãng cầu xiêm thuộc giống cây thân thấp có tên là Graviola ở Brazil , guanabana trong tiếng tây Ban Nha và Soursop trong tiếng Anh. Quả lớn ngọt, có nhiều hột tách ăn dễ dàng và làm nước ép có mùi vị rất ngon.

Graviola là sản phẩm tự nhiên nên theo luật liên bang Mỹ không cần có bằng sáng chế. Như thế, làm sao nó có thể mang lại lợi nhuận nếu các con cá mập dược phẩm công bố khả năng trị liệu “phép lạ” của mãng cầu xiêm ra thị trường? Họ chờ cho đến khi chiết xuất được dưỡng chất chống ung thư của Graviola và bào chế được loại thuốc chống ung thư bằng thành phần nhân tạo từ chất này, xin bằng sáng chế và thu lợi.

Tiếc thay khả năng chống ung thư của mãng cầu xiêm có ngay trong cây, qủa mà không cần phải chiết xuất gì cả. Vì vậy để bảo vệ khả năng thu lợi của các loại thuốc chống ung thư có sẵn, cách hay nhất là ém đi những nghiên cứu mang tính “cứu mạng” của mãng cầu xiêm, không công bố nó cho dân chúng..

May mắn, có một nhà khoa học bị lương tâm cắn rứt đã làm lộ câu chuyện về “trái cây phép lạ” cho những người có trọng trách trong y tế Mỹ. Khi viện Khoa học Y tế Mỹ nghe tin này, nó bắt đầu truy tìm những công trình nghiên cứu chống ung thư liên quan đến cây Graviola lấy từ khu rùng mưa Amazon của Brazil.

Sự thật được phô bày


Năm 1976, Viện Ung thư Quốc gia Mỹ tiến hành cuộc nghiên cứu đầu tiên về loại cây này và kết quả cho thấy, lá và thân của Graviola tiêu diệt hữu hiệu các tế bào ác tính.

Nhưng nghiên cứu vẫn chỉ được lưu hành nội bộ chứ không công bố ra ngoài. Sau đó 20 nghiên cứu độc lập khác của các công ty dược hay viện nghiên cứu ung thư do chính quyền tài trợ đều cho thấy khả năng trị ung thư của Graviola.

Tuy nhiên, vẫn không có ca thử nghiệm nào được tiến hành chính thức tại các bệnh viện. Chỉ đến khi nghiên cứu của Đại học Cơ đốc giáo Hàn Quốc đăng trên tạp san Journal of Natural Products khẳng định một hoá chất trong Graviola đã tiêu diệt các tế nào ung thư ruột nhanh gấp 10.000 lần hoá chất Adriamycin thường dùng trong hoá trị ung thư người ta mới vỡ lẽ. không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc.

Điều quan trọng là không như các hoá chất điều trị ung thư khác, Graviola và nước ép mãng cầu xiêm không hề làm hại gì cho các tế bào khỏe mạnh và không có tác dụng phụ. Người bệnh thấy mạnh khỏe hơn trong quá trình chữa ung thư và các bệnh khác; năng lượng được tăng cường và sống lạc quan hơn.

Một nghiên cứu tại Đại học Purdue University sau đó cũng phát hiện ra lá mãng cầu xiêm có khả năng giết các tế bào ác tính của nhiều loại ung thư khác nhau như ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và tuyến tụy. 7 năm im lặng bị phá vỡ. Sự thật được phô bày. Hiện mãng cầu xiêm do thổ dân Brazil trồng hoặc sản phẩm bào chế từ nó đã có mặt nhiều ở Mỹ như một công cụ điều trị và ngăn ngừa ung thư. Một báo cáo đặc biệt có tên Beyond Chemotherapy: New Cancer Killers, Safe as Mother's Milk, do Viện Khoa học Y tế Mỹ công bố về Graviola đã xem loại cây này là “công cụ cách mạng hoá” chống ung thư.

Vì vậy, nếu nhà bạn có vườn rộng và thổ nhưỡng thích hợp, bạn nên trồng một cây mãng cầu xiêm trong sân. Nó sẽ có ích rất nhiều cho bạn và gia đình bạn.

A Guava- Mãng Cầu Xiêm


As medical science progresses, people begin to forget about traditional medicine. Traditional medicine is cheaper and can be in the potion himself because the material easy to obtain. As the research of several experts said that the soursop fruit can kill cancer cells.>

So from now on you can help a friend in need, letting him know that you should drink soursop juice to prevent the disease.

Sense of fun, and certainly not a terrible effect of chemotherapy. And yes you can, plant a guava tree in their backyard. All parts are useful.
The next time you want to drink juice, soursop requested.

How many people died while this has been a closely guarded secret so as not irrigated millions of dollars profit from big companies?

As you also know soursop tree is low. It takes very little space. This is known as the Brazil Graviola, Soursop in Latin America , and “Soursop” in English.<
Large fruit and white flesh, sweet, eaten directly or usually used to make drinks, sherbet, sweets and so on.

The interests of this plant because of strong anti-cancer effects. And although he caused many more properties, the most interesting about it is the effect on tumors. This plant is a proven cancer drug for all types of cancer. Some say that it is useful in all types of cancer.

It is considered also as an antimicrobial agent against the spectrum of bacterial and fungal infections, is effective against internal parasites and worms, regulate high blood pressure and antidepressants, fight stress and nervous disorders.

Simple fact: In the depths of the Amazon rainforest grows a tree that could revolutionize what you, doctor, and the whole world thinks about cancer treatment and survival opportunities offered, never before presented a very promising outlook.
Samples of the investigation, with extracts from this miraculous tree, which is encouraging. Here are some conclusions:

1/ This is a natural therapy that does not cause extreme nausea, weight loss or hair.
2/ Protecting the immune system, prevent deadly infections.
3/ People feel stronger and healthier in all treatment .-
4/ This new energy in improving their life prospects.

Source of this information interesting: he comes from one of the largest drug manufacturers in the world, who say that after more than 20 laboratory tests conducted from 1970 extracts revealed that: He could destroy malignant cells in 12 types of cancers, including colon, breast, prostate, lung and pancreas.

Compounds of this tree shows 10,000 times better to act by slowing the growth of cancer cells that the product adriamycin, a chemotherapy drug, usually used in the world.

And what is even more amazing: The type of therapy, Graviola extract, or Soursop, only destroys cancer cells does not affect the malignant and healthy cells.

The question arises: whether the anti-cancer properties have been investigated so intense Graviola, why you never hear about it. If the statement is not even 50% of the importance attached to it, why oncologists, hospitals urged patients not to use it? The answer is simple: our very lives and our health are under the control of economic power. And Graviola is a plant that works well.

An American company, billionaire, started looking for a cure for cancer and research focused on Graviola.

All the shows will be useful: leaf, root, pulp and seeds, have been used for centuries by traditional healers and natives in South America to treat heart disease, asthma, arthritis.

Given the early evidence, which said the company spent large sums of money to test anti-cancer properties of the tree, and was amazed by the results. Apparently he will be a source of millions of profits. But they found an insuperable obstacle: the tree Graviola (Soursop), completely natural, why not patentable under federal law. You can not get a juicy profit is expected of him. There is no way to make serious profits from it.

Company chose to try to synthesize two of the ingredients of effective anti-cancer Graviola tree. If they have been isolated, will be able to patent and make billions of dollars. But they met a solid wall.

Original only possible to emulate. There is no way for these companies can be protected if the commercial disseminate their research, without first obtaining an exclusive patent.

Like the dream has evaporated, the project saved the company decided not to publish the results of the investigation.

Luckily, a scientist who participated in the research, professional ethics is not going to ignore this decision, decided to contact the company risks that are dedicated to studying plants from the Amazon and a miracle.

When researchers at the Institute of Health Sciences studied the good news, began investigating the possibility that Graviola can fight cancer. Evidence of the effectiveness of Graviola amazing and the way they try to hide that truth is not expected, triggering a wave of anger

National Cancer Institute’s first scientific research in 1976. The results showed that Graviola leaf and stem effectively attack and destroy malignant cells. For some reason, the results are collected in a secret and never communicated to the public.
Since then, Graviola has been shown in laboratory tests 20, independent, and that power is very strong anti-cancer, although not yet developed a blind test (double blind) that is used by medical science as a reference to assess the treatment value, it begins.

A study published in the Journal of Natural Products (Natural Products), collected according to a study recently by the Catholic University of Korea, found that an element, a chemical in Graviola (Soursop) used to kill cancer

Măng Tây - Ai mà ngờ


UserPostedImage

Mẹ tôi đã dùng nước sinh tố măng tây, sáng 4 muỗng xúp và tối cũng 4 muỗng từ hơn 1 tháng nay. Bà đang phải uống thuốc hóa trị cho bệnh ung thư màng phổi giai đoan 3 và số lượng tế bào ung thư của bà từ 386 đã xuống 125 trong tuần vừa qua. Vị bác sĩ chuyên gia có nói là bà không cần phải đến gặp ông ta trong 3 tháng tới đây.

BÀI BÁO:

Nhiều năm trước đây, tôi có gặp một người đang đi tìm măng tây cho người bạn bị bệnh ung thư. Anh ta đưa tôi một bản sao bài báo tựa đề “Măng tây cho bệnh ung thư”, được đăng trên tờ Cancer News Journal, tháng 12 năm 1979. Tôi chia sẻ cùng các bạn ngay bây giờ như anh ta đã làm với tôi : tôi là một nhà hóa sinh và chuyên về liên quan giữa chế độ ăn kiêng và sức khỏe trên 50 năm rồi. Nhiều năm trước, tôi có biết về sự khám phá của ông Richard R. Vensal, D.D.S, rằng măng tây có thể chữa khỏi bệnh ung thư. Từ đó đến giờ, tôi đã hợp tác với ông ta cho dự án của ông ta. Chúng tôi đã thu thập được rất nhiều trường hợp rất triển vọng.

Sau đây là vài thí dụ:

Trường hợp thứ 1 : Một người đàn ông gần như là không còn hy vọng gì với bệnh Hodgkin (một loại bệnh ung thư về mạch bạch huyết) đã hoàn toàn mất hết năng lực. Một năm sau khi chữa trị bằng liệu pháp măng tây, các bác sĩ của ông ta không thể tìm thấy bất cứ dấu hiệu nào của bệnh ung thư và anh ta trở lại làm việc thật hăng hái.

Trường hợp thứ 2 : Một thương gia thành đạt ở tuổi 68 đã bi bệnh ung thư bàng quang từ 16 năm rồi. Sau nhiều năm điều trị, kể cả xạ trị không kết quả, ông ta chuyển qua măng tây. Sau 3 tháng, các xét nghiệm cho thấy khối u trong bàng quang đã biến mất và thận của ông ta hoạt động bình thường

Trường hợp thứ 3 : Một người đàn ông bị ung thư phổi. Vào ngày 5 tháng 3 năm 1971, ông ta được đưa lên bàn mổ nhưng vì căn bệnh đã phát triển quá nhiều nên không thể tiến hành cuộc giải phẫu được. Các bác sĩ tuyên bố trường hợp của ông ta không còn hy vọng gì. Vào ngày 5 tháng 4, ông ta nghe nói đến liệu pháp măng tây và bắt đầu uống ngay tức thì. Đến tháng 8, các phim X quang cho thấy các dấu hiệu của bệnh ung thư đã biến mất và ông ta trở lại công việc kinh doanh của mình.
Trường hợp thứ 4 : Một phu nữ bị bệnh ung thư da từ nhiều năm. Sau đó bệnh này đã chuyển sang nhiều hình thức ung thư khác nhau mà vị bác sĩ chuyên gia cho là đã phát triển nhiều rồi. Sau 3 tháng dùng măng tây, vị bác sĩ chuyện gia cho biết da bà ta trông rất tốt và không còn các vết tổn thương nữa. Bà này còn cho biết liệu pháp măng tây còn chữa căn bệnh thận của bà, mắc phải từ năm 1949. Bà ta đã làm 10 cuộc giải phẩu lấy sỏi thận và bà cũng nhận được trợ cấp từ chính phủ về tình trạng thận không thể giải phẩu ở giai đoạn cuối. Bà quy cho liệu pháp măng tây đã chữa khỏi bệnh thận của bà.

Tôi không ngạc nhiên lắm về các kết quả, vì theo “Các yêu tố về materia medica” được xuất bản vào năm 1854 do một ông Giáo sư của Trường Đại học Pennsylvania, nói rõ là măng tây là một phương thuốc dân gian để làm tan các sỏi thận. Hãy chú ý đến ngày tháng !

Chúng tôi còn có nhiều trường hợp khác nữa nhưng ngành y tế đã can thiệp vào việc chúng tôi thu thập các hồ sơ. Vì thế, chúng tôi mới kêu gọi các độc giả hãy phổ biến các thông tin rất hữu ích này để giúp đỡ chúng tôi thu thập thật nhiều chứng cứ về các thành tích bệnh sử để áp đảo các người hoài nghi của ngành y tế cho một thứ liệp pháp rất không thể tin được, đơn giản và tự nhiên này.

Về cách chữa trị, măng tây phải được nấu chín trước khi dùng. Vì thế, măng tây đóng hộp vừa tươi và tiện lợi. Tôi có liên hệ với 2 công ty đóng hộp măng tây , Giant và Stokely, và tôi rất hài lòng vì 2 nhãn hiệu này không có sử dụng thuốc trừ sâu hoặc hóa chất bảo quản. Bỏ các cọng măng tây vào máy xay sinh tố và đánh cho nhừ, sau đó cất vào trong tủ lạnh. Cho người bệnh uống 4 muỗng canh, 2 lần trong ngày, sáng và chiều tối. Thường thì sau 2 - 4 tuần người bệnh sẽ thấy sức khỏe được cải thiện. Người bệnh cũng có thể pha loãng trong nước nóng hoặc nước lạnh để uống. Liều lượng này được ấn định căn cứ trên các thí nghiệm thực tế nhưng dung lượng nhiều hơn cũng không có hại gì hết mà đội khi rất cần thiết trong vài trường hợp. Với tư cách là một nhà hóa sinh, tôi tin chắc rằng câu châm ngôn cổ xưa rằng “ Cái gì điều trị được thì có thể phòng ngừa được”. Căn cứ theo lý thuyết này mà vợ chồng chúng tôi thường dùng purée măng tây như là thức uống trong các bữa cơm. Chúng tôi dùng 2 muỗng canh được pha trong nước để hợp khẩu vị của chúng tôi cho các bữa ăn sáng và tối. Tôi thì thích uống nóng trong khi vợ tôi thì thích lạnh. Từ nhiều năm rồi, chúng tôi thường cho xét nghiệm máu trong các lần kiểm tra sức khỏe.

Trong lần kiểm tra máu sau cùng do một ông bác sĩ chuyên về dinh dưỡng liên quang đến sức khỏe, cho thấy có nhiều cải thiện đáng kể trong các thành phần trong máu khác với lần trước đó và chúng tôi có thể khẳng định rằng các cải thiện đó không do cái gì khác hơn là măng tây. Với tư cách là một nhà hóa sinh, tôi có làm một nghiên cứu sâu rộng về các nét đặc trưng của các bệnh ung thư và các phương pháp chữa trị được đề nghị. Và với kết luận cuối cùng, tôi tin chắc rằng măng tây phú hợp nhất cho các lý thuyết về ung thư.

Măng tây có chứa một số lượng lớn protein gọi là histones mà tôi tin là rất tích cực trong kiểm soát sự phát triển của tế bào. Vì lý do đó, tôi tin là ta có thể nói măng tây có chứa một chất mà tôi tạm gọi là chất bình thường hóa cho sự phát triển tế bào. Tầm quan trọng của tác động trên bệnh ung thư cũng không khác như là nhiệm vụ của một loại thuốc bổ cho cơ thể. Không để ý đế lý thuyết, trong hoàn cảnh này, măng tây được dùng theo đề nghị của chúng tôi, là một chất vô hại. Cơ quan FDA (Cơ quan kiểm tra thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ) không có lý do gì ngăn cản bạn dùng một thứ mà chỉ có đem lại điều tốt mà thôi. Viện Nghiên Cứu Ung Thư Hoa Kỳ đã báo cáo là trong măng tây có chứa chất glutathione, được xem như là chất chống sinh ung thư và chống oxy rất hiệu nghiệm.

Xin các bạn hãy phổ biến thông tin này. Một việc làm không nghĩ đến lợi ích của bản thân là hãy phổ biến thông tin để nhận lại lòng tốt của người khác, dù cho đó là một người không xứng đáng chút nào.

(VLP dịch)
thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
mike86 on 1/1/2013(UTC)
xuan hoang  
#18 Posted : Thursday, March 31, 2011 4:49:41 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Tác dụng của Curcumin có trong củ nghệ

Đặc tính kháng viêm vượt trội



UserPostedImage



Trong nghệ có hoạt chất thần kỳ curcumin

- Tiêu diệt gốc tự do xấu nhất:

nghiên cứu của Đại học Dược khoa Ấn Độ cho biết, curcumin là thành phần của rễ củ nghệ nằm dưới đất, có hoạt tính kháng sinh rất mạnh, giới y học đang đi sâu thăm dò khả năng tẩy trừ gốc tự do mang oxy của nó trong quá trình phản ứng viêm. Do có hoạt tính kháng viêm vượt trội, nó cũng có thể tẩy trừ gốc tự do thuộc superoxide radicals hiệu quả.

- Điều trị cơn đau:

curcumin sẽ ức chế tạo thành prostaglandin, chất này trong cơ thể có liên quan đến cơn đau do viêm gây ra, chẳng hạn như cơn đau trong bệnh thống phong. Cơ chế làm giảm cơn đau của nó tương tự như aspirin, ibuprofen, nhưng không mạnh bằng. Tuy nhiên, khi dùng với liều cao, curcumin sẽ kích thích tuyến thượng thận bài tiết cortisone, mà cortisone có hiệu lực rất mạnh để ức chế phản ứng viêm.

- Điều trị viêm kết mạc:

trong một nghiên cứu về vi khuẩn học, thuốc nhỏ mắt Haridra làm từ nguyên liệu củ nghệ, có khả năng kháng khuẩn với trực khuẩn E.coli, staphylococcus aureus, klebsiella và pseudomonas… Nghiên cứu căn cứ theo kết quả thử nghiệm 50 ca bệnh viêm kết mạc trên lâm sàng, cho rằng loại thuốc nhỏ mắt này đạt hiệu quả điều trị viêm kết mạc.

- Điều trị viêm khớp:

nghiên cứu của Đại học Y Dược Gandhi, dùng curcumin dạng uống cùng với cortisone acetate dạng tiêm điều trị cho chuột bị viêm khớp. Những chú chuột được điều trị bằng những thuốc này sau 13 ngày thì tình trạng viêm sưng tại khớp đỡ hơn thấy rõ so với nhóm chuột đối chứng.

Hiệu nghiệm của nghệ đến từ hoạt tính chống histamine. Hoạt tính chống viêm của curcumin không thua kém nhiều so với cortison, nó có thể giảm nhẹ phản ứng viêm trong cơ thể động vật, cũng có thể giảm nhẹ triệu chứng viêm của bệnh viêm đa khớp dạng thấp (ở người). Nghiên cứu báo cáo cho thấy, tác dụng của 1.200mg curcumin sẽ tương đương với một loại thuốc kháng viêm là phenylbutazone 300mg.

- Điều trị tổn thương gan:

theo kết quả nghiên cứu trên người và ngoài cơ thể thuộc Đại học Tohoku (Nhật Bản) thì tinh chất từ nghệ quả thật phòng ngừa được những tổn thương do carbon tetrachloride (CCl4) gây ra trên gan. Đây là một chất hóa học độc hại, có mùi hôi như clor, nó thường được dùng trong chất tan công nghiệp và chất đông lạnh.

Phát huy hoạt tính chống ung thư


Hoạt tính chống đột biến:

nghiên cứu của Viện nghiên cứu dinh dưỡng quốc gia Ấn Độ, thử nghiệm củ nghệ cho 16 người hút thuốc lâu dài về hoạt tính chống đột biến của urcumin. Người được thử nghiệm trong 1 tháng, mỗi ngày dùng 1,5g củ nghệ, kết quả cho thấy củ nghệ đã làm giảm chất gây đột biến trong nước tiểu của họ. Nghiên cứu nói rằng, củ nghệ có hoạt tính chống đột biến, do vậy cũng có thể là phương pháp dự phòng chứng ung thư bằng hóa học rất tốt.

Hoạt tính tẩy trừ gốc tự do:

nghiên cứu khám phá tinh dầu nghệ (turmeric oil) và nhựa cây nghệ (turmeric oleresin) trong ống nghiệm biểu hiện hoạt tính tẩy trừ gốc tự do rất tốt. Với đột biến bệnh niêm mạc dưới lớp xơ (chứng ung thư), dùng tinh dầu nghệ, tinh chất từ nghệ, cũng như nhựa cây nghệ đều có tác dụng ức chế. Nhựa cây nghệ cũng có chứa tinh dầu nghệ, curcumin, cũng như các hợp chất nhựa cây khác. Tinh dầu nghệ và tinh dầu nhựa cây nghệ trong việc chống lại đột biến của AND có tác dụng “chung sức” bảo vệ.

Đối kháng với ung thư dạ dày và ung thư da:

Đại học Northwestern, Mỹ khám phá rằng, curcumin I có thể ức chế benzopyrene gây ung thư trên chuột cái Thụy Sĩ (Swiss mice), mà curcumin III cũng có thể ức chế dimethybenzathracene (DMBA) gây ung thư trên chuột trụi lông Thụy Sĩ. Hai chất này đều là hợp chất phenol màu vàng trong củ nghệ. Tương tự, curcumin I cũng có thể ức chế DMBA gây ung thư da trên chuột cái Thụy Sĩ.

Curcumin hầu như có thể thay đổi hoạt tính của tác dụng chuyển hóa gây ung thư, hoặc loại bỏ được các độc tính, từ đó phát huy được hoạt tính chống ung thư. Hai loại curcumin đều thử nghiệm được ở ngoài cơ thể, ức chế được sự hình thành tế bào độc tính của bệnh ung thư máu ở người. Curcumin ức chế sự sinh sôi và phát triển của tế bào khối u, do vậy phát huy tác dụng chống ung thư.

Bài thuốc thần kỳ chống bệnh AIDS?


Trong “Thông tin mới điều trị AIDS”, tác giả John S. James có một ghi nhận không chính thức rằng, tại Trinidad có 40% dân số người gốc Ấn, kế thừa thói quen của người Ấn Độ, trong ăn uống thường ngày có dùng cà ri. Bên cạnh đó, có 40% dân số người gốc Phi, rất ít dùng cà ri. Nghiên cứu đối chứng với AIDS tại Trinidad cho thấy, tỷ lệ người gốc Phi mắc AIDS cao hơn gấp 10 lần so với người gốc Ấn có ăn cà ri.

James còn phát biểu một báo cáo nghiên cứu không chính thức rằng, có một người bệnh AIDS bắt đầu dùng tinh chất củ nghệ, anh ta dùng tinh chất từ nghệ có nồng độ curcumin gấp 100 lần so với nghệ. Chế phẩm viên nang này có chứa 300mg tinh chất từ nghệ, trong đó chứa curcumin tiêu chuẩn hóa với nồng độ tối thiểu là 95%. Người bệnh uống 3 viên nang 300mg, ngày 3 lần, hay uống khoảng 2,5g curcumin. Một tuần sau khi bắt đầu điều trị, lấy máu người bệnh xét nghiệm, phát hiện kháng nguyên p24 – loại kháng nguyên có thể thông qua số lượng cho phương pháp làm chuẩn để đánh giá hoạt tính virus – giảm xuống thấy rõ.

Nghệ còn giúp chống lão hóa da, ngăn ngừa sự hình thành các nếp nhăn, vết nám, làm cho da mịn màng, tươi trẻ. Nghệ còn hỗ trợ chống viêm, loét do ức chế các chất trung gian gây viêm như cyclooxygenaza (COX - 2), lipooxy-genaza (LOX)… Hỗ trợ chống xơ vữa động mạch do cholesterol và tăng độ bền mao mạch ngoại vi.

Bàng Cẩm

Edited by user Thursday, April 14, 2011 6:02:37 PM(UTC)  | Reason: Hình bị mất

UserPostedImage
thunder  
#19 Posted : Thursday, March 31, 2011 3:32:32 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Sớm Khám Phá Ung Thư Ruột Già


UserPostedImage


Từ năm 2000, tháng Ba mỗi năm đã được các tổ chức chống ung thư tại Hoa Kỳ chọn là tháng để bà con ”đề cao cảnh giác” với bệnh ung thư Ruột Già-Trực Tràng và nhớ yêu cầu bác sĩ làm các xét nghiệm để sớm tìm ra bệnh.

Thống kê cho biết, năm 2008, có 139,000 người lớn tại Hoa Kỳ được chẩn đoán bị ung thư ruột già với hơn 50.000 tử vong. Theo Hội Ung Thư Hoa Kỳ, phân nửa số tử vong này có thể được cứu sống nếu mọi người hiểu rõ bề bệnh, phòng tránh các nguy cơ gây ra bệnh và làm các thử nghiệm tìm bệnh đều đặn. Các thử nghiệm sàng lọc này có thể sớm nhận diện bướu thịt (polyp) đáng ngại hoặc u tiền ung thư để loại bỏ trước khi chúng chuyển sang bệnh hiểm nghèo.

Vậy thì những thử nghiệm đó là gì và được thực hiện như thế nào, chúng ta cùng nhau tìm hiểu.

1-Khám hậu môn với ngón tay


Thử nghiệm đầu tiên mà thầy thuốc sẽ làm là khám hậu môn. Nói tới khám xét là ta cứ ngượng ngùng “em chã ”. Vì khi không lại phải “vạch mông” cho người coi cái ”cửa sau”, phần thầm kín của con người, thì cũng lạnh mình, đỏ mặt. Nhưng khi cần thì vẫn phải làm.

Chổng mông để lương y thọc ngón tay chuối mắn - ngọc ngà vào, ngoáy qua ngoáy lại từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Để coi mặt trong ruột có trơn tru, có cái u cái mụn nào không; rút ngón tay ra có chút máu dính vào bao cao su. Với chiêu thức ngoáy tay, thầy thuốc cũng kiểm tra coi cái tuyến tiền liệt của các ông xem có sưng, có gồ ghề. Chẳng là ung thư ruột cũng “ nhân nghĩa bà Tú Đễ ” thường tới thăm chú tuyến tinh dịch này của quý lão ông lắm đấy.

Với vài giọt hóa chất, thầy thuốc thử phân coi có vết máu.

Thử nghiệm này rất giản dị, không đau đớn mà lại rẻ tiền nhưng hữu ích thì “thần sầu”. Thần sầu vì có thể giúp ta sớm tìm ra những10% nan bệnh, sớm điều trị, nâng cao kết quả, nhiều hy vọng lành bệnh. Do đó, ta nên làm mỗi năm.

Nếu thử nghiệm thấy có máu thì thầy thuốc sẽ tìm cách trực tiếp nhìn vào trong ruột

2-Tìm máu ẩn trong phân


Trong điều kiện bình thường, phẩn không có máu và đàm. Phẩn có máu là dấu hiệu của một bệnh nào đó của ống tiêu hóa.

Máu có thề đỏ tươi, bầm đen hoặc nâu sẫm tùy theo vị trí bệnh xa hay gần hậu môn. Gần ( trực tràng, trĩ) thì đỏ, xa (ruột non, bao tử) thì bầm vì đã bị vi khuẩn biến thành hóa chất hematin có mầu đen.

Máu đỏ tươi thường là do trĩ hậu môn, trĩ mạch lươn dưới da chung quanh hậu môn, bướu thịt hoặc ung thư ruột già, trực tràng.

Máu bầm đen trong các bệnh loét dạ dày, đứt mạch máu ở ruột già, dùng quá nhiều aspirin hoặc rượu, uống thuốc chống đông máu.

Số lượng máu có thể nhiều hoặc ít như trường hợp máu ẩn (occult blood).

Máu ẩn có rất ít trong phẩn mà mắt thường không thấy và chỉ tìm ra được khi nhìn qua kính hiển vi hoặc thử nghiệm hóa học.

Nguồn gốc máu ẩn có thể từ loét viêm dạ dày, viêm đường ruột, trĩ, ung thư hoặc polyp trong ruột già.

Để thử nghiệm, phẩn được lấy trong ba ngày liên tiếp và đựng trong hộp đặc biệt do phòng thí nghiệm cung cấp. Giao hộp phẩn cho phòng thí nghiệm để họ tìm máu.

Ba ngày trước và trong thời gian lấy phẩn, bệnh nhân cần theo hướng dẫn như sau
:

-Tránh dùng vitamin C hoặc tiêu thụ quá nhiều thực phẩm chứa sinh tố này như chanh, cam vì sinh tố này cho kết quả dương tính sai.
-Tránh ăn nhiều thịt đỏ có nhiều heme, thực phẩm có nhiều enzym peroxidase như nấm, broccoli, giá đậu, cauliflower, táo, cam, chuối, dưa canteloup, nho. Các chất này có thể làm cho kết quả thử nghiệm dương tính sai
-Nên ăn thực phẩm có nhiều chất xơ như đậu, rau để khối phẩn mềm lớn.
-Tránh thuốc kích thích dạ dày, ruột gây ra xuất huyết như thuốc chống acit, thuốc có chất steroid, thuốc chống viêm đau có chất aspirin, rượu.
-Tránh uống sinh tố có chất sắt.

Kiếm máu ẩn trong phẩn có khả năng tìm ra polyp và ung thư ruột già khá sớm. Tuy nhiên, kết quả dương tính không có nghĩa là đã bị ung thư vì có nhiều nguyên do khác gây ra xuất huyết đường ruột. Thí dụ khi dùng thuốc aspirin, ibuprofen, trong bệnh loét dạ dày, viêm ruột…Đo đó, bệnh nhân có máu ẩn trong phân cần được xác định với phương pháp nội soi, quan sát đường ruột.

Giới chức y tế đề nghị tìm máu ẩn trong phẩn mỗi năm một lần
.

3-Nội soi ruột già

Có người ví Nội soi ruột già là tiêu chuẩn vàng (golden standard) để sàng lọc ung thự ruột già-trực tràng.

Đây là phương pháp khảo sát mặt trong của toàn thể trực tràng với một ống dây quang học bằng nhựa mềm dễ uốn, có đèn sáng dẫn đường và máy chụp hình. Đưa ống sâu vào hậu môn, điều chỉnh máy, bác sĩ có thể làm một vòng thám hiểm bất cứ góc cạnh nào của ruột và mao tôn cương: qua đèn, nhìn ruột rõ như ban ngày, nào là gồ ghề bướu thịt, loét lở thành ruột, bê bết máu tươi đều thấy hết, ngoại trừ bầy vi sinh vật lúc nhúc cộng sinh. Nhắc lại là trong trường hợp bình thường, lòng ruột già chơn mềm như mặt trong của má.

Hình ảnh ruột được chiếu trên màn hình TV để phân tích và có thể lưu trữ.

Nội soi được làm tại bệnh viện hoặc phòng nội soi ngoại chẩn, trung bình kéo dài từ 30-60 phút và do bác sĩ chuyên ruột-bao tử thực hiện. Bệnh nhân được cho dùng liều thuốc an thần để giảm lo âu, khó chịu, do đó cần người lái xe đưa về nhà sau khám nghiệm.

Trước khi làm nội soi, bệnh nhân được cho thuốc tẩy rửa ruột sạch sẽ để bác sĩ dễ quan sát. Đây là điểm mà nhiều người e ngại vì phải uống một lọ thuốc xổ cộng thêm cả lít nước để rồi tiêu chẩy soèn soẹt. Hiện nay có thuốc tẩy rửa dạng viên cho nên việc sửa soạn ít khó chịu hơn.

Một ngày trước thử nghiệm, bệnh nhân không ăn thực phẩm mà chỉ uống nước trong không bã.

Nếu thử nghiệm vào buổi sáng, không ăn uống gì sau nửa đêm. Nếu là buổi chiều thì uống thuốc tẩy xổ theo đúng hướng dẫn.

Không nên uống aspirin hoặc thuốc chống viêm 5 ngày trước thử nghiệm để tránh nguy cơ xuất huyết khi polyp được cắt bỏ.

Cho bác sĩ hay nếu có vấn đề dị ứng, uống thuốc loãng máu, đang bị bệnh tiểu đường, có thai, cho con bú sữa mẹ hoặc khó khăn chích tĩnh mạch.

Sau thử nghiệm, bệnh nhân cảm thấy tưng tức ở bụng, nhưng hết sau vài giờ. Dăm giờ sau thử nghiệm, bệnh nhân có thể ăn lại như thường lệ.

Mục đích của nội soi gồm có:

-Đánh giá các u bướu, loét lở, thu hẹp lòng ruột già khi chụp hình X-quang ruột;
-Chẩn đoán viêm ruột;
-Tìm nguyên nhân gây ra tiêu chảy khi các thử nghiệm thông thường không thành công;
-Tìm nguyên nhân xuất huyết đường tiêu hóa, đặc biệt trong bệnh thiếu máu do thiếu sắt;
-Chẩn đoán ung thư ở người có thân nhân bị ung thư hoặc bướu thịt;
-Cắt bỏ bướu thịt, chữa xuất huyết ruột hoặc lấy vật lạ trong ruột.

Nội soi được áp dụng khi có một trong các bất thường như thay đổi thói quen đại tiện, máu trong phẩn, đau bụng liên tục, người từ 50 tuổi trở lên.

Hội Ung Thư đề nghị những ai trên 50 tuổi nên làm nội soi ruột già mỗi 7-10 năm. Người có rủi ro ung thư ruột già cần thực hiện sàng lọc này gần hơn, tùy theo ý kiến của bác sĩ điều trị.

Bình thường, phương pháp rất an toàn, hãn hữu lắm mới có khó khăn như lủng ruột.

Nếu có u bướu, bác sĩ sẽ thực hiện sinh thiết (biopsy) để xác định tế bào ung thư, chụp x-quang xương, CT scan…rồi điều trị.

Mặc dù nội soi ruột là phương thức sàng lọc hữu hiệu, nhưng số người thực hiện cũng khá khiêm nhường. Lý do là nhiều người ngại đau, ngại phải uống thuốc tẩy sổ để làm sạch ruột và lý do quan trọng hơn là chi phí nội soi khá cao. Nếu bảo hiểm không đài thọ thì bệnh nhân phải bỏ tiền túi ra trang trải.

4-Nội soi trực tràng

Một dụng cụ đơn giản hơn máy nội soi ruột già là máy nội soi ruột sigma (sigmoidoscope) được dùng để quan sát phần dưới của ruột già và trực tràng. Khoảng 50% ung thư hoặc bướu thịt xuất hiện ở phần trên ruột già.

Một ống mềm uốn cong , đầu có gắn máy thu hình nhỏ với đèn được dưa vào hậu môn. Qua thiết bị, bác sĩ quan sát phần dưới ruột già và trực tràng để tìm ra bất thường.

Coi vậy ta thấy có nhiều cách để sàng lọc tìm kiếm ung thư ruột già, nhưng căn bản chỉ có hai loại được giới chức y tế khuyên cần làm theo định kỳ: Đó là tìm máu ẩn trong phẩn (Fecal occult blood test) và nội soi ruột già (Colonoscopy screening).

Kết luận

Theo bác sĩ Durado D. Brooks, Giám đốc khoa ung thư nhiếp tuyến và ruột già thuộc Hội Ung Thư Hoa Kỳ thì “Ung thư ruột già là một trong những ung thư duy nhất có thể phòng tránh qua khám nghiệm đều đặn”. Cơ quan Kiểm Soát Bệnh Hoa Kỳ (CDC) cũng có cùng ý kiến.

Ngoài ra nghiên cứu cho hay, 90% người được sàng lọc khám phá ra ung thư ruột già sớm có tỷ lệ sống sót 5 năm, trong khi đó nếu khám phá trễ số người sống sót còn có 10%.

Do đó, các giới chức y tế đều nhắc nhở dân chúng để ý tới dấu hiệu báo động của bệnh, cấp kỳ thông báo cho bác sĩ và làm các thử nghiệm sẵn có đề truy tìm “ung tặc”, càng sớm càng tốt.

Điều đáng ngại là, theo Hội Ung thư Hoa Kỳ, chỉ có 30% người được khuyến khích làm thử nghiệm tìm kiếm bệnh chịu thực hiện lời khuyên.

Đó là điều đáng tiếc vậy.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
xuan hoang  
#20 Posted : Tuesday, April 5, 2011 4:20:51 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Nên Chủng Ngừa Bịnh Viêm Gan Loại B



UserPostedImage



Cô BC, 24 tuổi, làm y tá ở một bịnh viện đến phòng mạch bác sĩ để khám tổng quát. Năm rồi, cô từ chối không muốn chủng ngừa bịnh viêm gan loại B khi bịnh viện nơi cô làm khuyến khích tất cả nhân viên nên chủng ngừa. Sau khi khám nghiệm, cô được bác sĩ cho biết là cô có thai được 4 tháng và hoàn toàn khỏe mạnh. Bác sĩ khuyên cô nên thử nghiệm và chủng ngừa nếu cần bịnh viêm gan loại B.

Tại sao bịnh viêm gan loại B quan trọng như vậy?

Bịnh viêm gan có nhiều loại, trong đó có 3 loại được biết khá rõ: viêm gan loại A, B và C. Viêm gan loại B và C nguy hiễm nhiều hơn loại A gấp bội, vì nhiều người đã chết vì chúng. Có thuốc chủng ngừa cho viêm gan loại A và B, nhưng chưa có thuốc chủng ngừa cho viêm gan loại C.

Bịnh viêm gan loại B có khắp nơi trên thế giới, nhưng nhiều nhất là ở Á Châu và Phi Châu. Nhiều nước ở Á Châu như Trung Quốc, Việt Nam, cứ 10 người là có 1 người bị bịnh viêm gan loại B, trong lúc các nước ở Âu Châu và Mỹ Châu bịnh viêm gan loại B hiếm hơn, trong 100 người chỉ có 1 người mắc phải.
Hơn nữa, bịnh viêm gan loại B ở Á Châu và Phi Châu nặng hơn nhiều, có đến 40% sẻ bị biến chứng của bịnh viêm gan loại B (như là suy gan và ung thư gan), trong khi ở Âu Châu và Mỹ Châu, chỉ có 15% sẻ bị biến chứng.

Thế tại sao bịnh viêm gan loại B ở Á Châu và Phi Châu lại nhiều và nặng như vậy?

Sau nhiều năm tìm hiểu, mới rõ lý do là bịnh viêm gan loại B ở Á Châu và Phi Châu đặc biệt truyền từ người mẹ đến đứa trẻ sơ sinh trong lúc sinh đẻ, khác với ở Âu Châu và Mỹ Châu bịnh truyền từ người nầy qua người kia qua đường tình dục hoặc bằng kim chích có nhiễm máu của người mang bịnh viêm gan. Cách truyền bịnh đặc biệt nầy từ người mẹ sang đứa con như ở Á Châu và Phi Châu làm cho bịnh viêm gan trở nên nặng hơn.

Chữa trị bịnh viêm gan loại B không phải dễ. Nhưng may thay, thuốc chủng ngừa đã được tìm ra và được sử dụng từ năm 1981. Số người mắc bịnh viêm gan loại B giảm đi rất nhiều trong gần 30 năm qua.
Trước khi chủng ngừa, bác sĩ thường thử nghiệm xem người bịnh đã có nhiễm bịnh viêm gan loại B chưa bằng cách thử máu HBsAg và HBsAb (đôi khi cần thử thêm HBcAb). Vì nếu người bịnh đã nhiễm bịnh rồi, chủng ngừa sẽ không có hiệu quả.

Hội Y Tế Thế Giới khuyến khích thử nghiệm và chủng ngừa bịnh viêm gan loại B cho tất cả bà mẹ đang mang thai, tất cả trẻ sơ sinh, những người chung sống trong gia đình của người mang bịnh viêm gan loại B, nhân viên y tế, …

BS Bùi M Điệp

Associate Clinical Professor, Đại Học Y Khoa Irvine, California
Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (3)
39 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.