Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages12>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#1 Posted : Friday, January 11, 2013 11:07:25 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

UserPostedImage

Khi nói đến chủ quyền của hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, thì cho dù là phía đảng Cộng sản Hà Nội, và ngay những người đã và đang chống đối người đã sáng lập ra Thể Chế Cộng Hòa, và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa; đồng thời là người lãnh đạo Nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam: Cố tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng không phủ nhận được những sự kiện đã được khắc ghi vào bia đá của lịch sử:

Ngoài những sự kiện lịch sử hiển nhiên ấy, thì không một ai phủ nhận được một chứng tích lịch sử về chủ quyền trên đảo Hoàng Sa. Đó là, tấm hình chụp Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đi thăm viếng đồng bào tại Cù Lao Lý Sơn, tức Cù Lao Ré, thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Quả đúng như thế, vì ngay sau khi ổn định được những nạn sứ quân cát cứ, vượt qua những thử thách, khó khăn do những âm mưu của ngoại nhân cố tình phá hoại, cho đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp - Hành Pháp và Tư Pháp.

Lịch sử đã khắc ghi, năm 1954, căn cứ theo Hiệp định Genève về Việt Nam, thì trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt nam Cộng Hòa. Tháng 4-1956, khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã ra tiếp thu các đảo và quần đảo trên Biển Đông. Kể từ 1956, về pháp lý và trên thực tế chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục có nhiều hành động công khai để khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Ngày 22-8-1956, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa, dựng cột đá chủ quyền và treo lá Cờ vàng Ba Sọc Đỏ trên các đảo. Ngày 22-10-1956, Sắc lệnh số 143/NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại miền Nam. Trong danh sách các đơn vị hành chính theo Sắc lệnh đó có Bà Rịa-Vũng Tàu được đổi thành tỉnh Phước Tuy và đảo Hoàng Sa (Sắc lệnh chú thích là Spratly) trong quần đảo Trường Sa thuộc về tỉnh Phước Tuy cùng tên với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía bắc. Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174/NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, (nay thuộc tỉnh Quảng Nam).

Ngoài những sự kiện ấy, để khẳng định một cách đanh thép trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên các quần đảo Hoàng Sa. Vì thế, nên vào năm 1961, chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân ra thăm viếng Cù Lao Ré (tức Cù Lao Lý Sơn), như tấm hình chụp ở phía trên của bài viết, là một chứng tích, để mãi mãi, đời đời cho hậu thế còn tưởng nhớ đến những bước chân lưu dấu lịch sử của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Và ngoài những sự kiện lịch sử ấy, trong khi ở ngoài Bắc, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thì chẳng riêng là "lịch sử" do đảng Cộng sản viết, mà những kẻ được cho là "nhà báo, nhà văn-nhà thơ đã từng viết về đất nước Việt Nam là: "từ Hà Giang hoặc từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau". Nhưng tại đất nước Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ đã cho in những con tem có in hình một bản đồ của nước Việt Nam trọn vẹn từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; và Bộ Quốc Gia Giáo Dục Đệ nhấtViệt Nam Cộng Hòa còn có những sách Giáo Khoa, cho học sinh từ lớp tư, lớp ba ở bậc tiểu học phải học về địa lý như sau:

Nước Việt Nam hình cong chữ S, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; hoặc bài thuộc lòng:

Từ Nam Quan, đến Cà Mau
Non sông gấm vóc, nghèo giàu kết thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Ra ngoài chị ngã, em nâng ngay vào.
Núi kia ai đắp nên cao,
Tình Dân Tộc, nghĩa Đồng Bào thiết tha.
Cùng nhau chung một mầu da,
Cùng dòng máu Việt, một nhà Lạc Long.
Chúng ta dòng giống Tiên Rồng,
Đừng quên rằng: Bắc-Nam-Trung một nhà.

Qua những bài học cho học sinh từ bậc tiểu học, đã cho mọi người hiểu được: Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã KHÔNG ký vào Hiệp định Genève, 1954 về Việt Nam, cho nên không chấp nhận sự chia cắt đất nước. Bởi vậy, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa đã có mưu cầu Bắc tiến, để giải cứu đồng bào miền Bắc đang phải sống dưới chế độ Cộng sản vô thần, mà qua đó, chúng ta đã từng nghe nhạc sĩ Lam Phương đã viết lên những lời tha thiết :

"Anh cùng em xây một nhịp cầu, để mai đây, quan Nam về Thăng Long đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng".

Lịch sử vốn như ánh mặt Trời. Vì thế, cho nên bàn tay của con người không bao giờ che khuất được những sự thật lịch sử ấy. Nên biết và nên nhớ: Sắc lệnh của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã công bố vào ngày 13/7/1961, trước cả thế giới, với Sắc lệnh này, chính phủ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã khẳng định chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa. Đồng thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cho xây dựng Bia Chủ Quyền trên cả quần đảo Trường Sa.

"Ẩm thủy tư nguyên", hay Uống nước nhớ nguồn - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Vậy, những người đã và đang núp dưới chiếc bóng và cũng là vầng hào quang của nước Việt Nam Cộng Hòa-Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa- Chiến Sĩ Cộng Hòa và các tổ chức "chính trị- tranh đấu" dưới danh nghĩaViệt Nam Cộng Hòa. Tất cả những người ấy, nếu còn có chút lương tri của một con người thật sự, thì không bao giờ cho phép mình được quên rằng: Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã tận hiến cả đời mình đối với Tổ Quốc và Dân Tộc - Người đã khai sáng Thể Chế Cộng Hòa Việt Nam, và là người đã từng khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa; và cũng chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa.

Paris, 14/10/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền



Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) là chính phủ của Việt Nam Cộng hòa được thành lập sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 ở miền Nam Việt Nam. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý là quốc trưởng Bảo Đại Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bị truất phế và chính thể Quốc gia Việt Nam bị giải tán. Thay vào đó thủ tướng Ngô Đình Diệm đứng ra lập nền cộng hòa với lập trường chống cộng sản. Năm 1956 Quốc hội Lập hiến chính thức soạn một hiến pháp mới và khai sinh nền cộng hòa. Được sự hậu thuẫn của Mỹ và các nước Tây phương, nền Đệ nhất Cộng hòa đã thành công trong việc thống nhất quyền lực, dẹp các lực lượng vũ trang giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và diệt nhóm Bình Xuyên.

UserPostedImage
Quốc huy Đệ nhất Cộng hòa (1955 – 1963)

UserPostedImage
Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm


UserPostedImage
Bia chủ quyền Việt Nam dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa

UserPostedImage
Hình tem bản đồ Việt Nam Cộng Hòa từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...LichSuTrenDaoHoangSa.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#2 Posted : Friday, January 11, 2013 11:27:36 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Chân Dung Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Bấm vào đây để xem và nghe

Hình ảnh người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã được gắn kết với Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập vào năm 1955. Kể từ đó, miền Nam tự do đã được thế giới biết đến, là một Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; và Thủ Đô Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, là người Chiến Sĩ Bảo An, mà người dân thôn quê thường gọi là Chiến Sĩ Cộng Hòa, hoặc Lính Cộng Hòa, sau này, Lực lượng Bảo An Đoàn đã trở thành Địa Phương Quân.

Ngày ấy, người Chiến Sĩ Bảo An, ngoài nghĩa vụ cầm súng để bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Bảo An đã từng đi đến những thôn làng xa xôi, để giúp đỡ các địa phương xây dựng hành chánh, để giải thích cho dân chúng biết đến một Chính Thể mới, vừa được khai sinh tại miền Nam: Chính Thể Cộng Hòa.

Đồng thời, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên ấy, còn súng trên vai, tay đốn tre rừng, để bắc những chiếc cầu tre, trên những con suối ở tận hương thôn, để nối đôi bờ, nối những cánh đồng lúa, những nương dâu, để những ngày mưa lũ, người dân quê đi làm công việc nông tang, không còn phải lội giữa giòng nước xoáy hiểm nguy; và để cho những nam nữ Thanh Niên Cộng Hòa giữa đôi bờ dễ dàng gặp gỡ, để cùng trao đổi với nhau về Thể Chế Cộng Hòa vừa mới được khai sáng tại miền Nam. Đặc biệt, là những hình ảnh ở hương thôn, giữa cảnh thanh bình - tự do - no ấm bên lũy tre làng, với những đêm về, dưới ánh trăng lành tỏa sáng trên khắp nẻo đường quê, luôn luôn rộn rã những tiếng cười, tiếng sáo trúc và tiếng đàn Mandoline, hòa cùng tiếng hát ngân vang, đón chào đất nước đã được hồi sinh sau bao cơn binh lửa, với bài ca:

Dựng Một Mùa Hoa:

Chào bình minh hoa ban mai lả lơi
Nhạc dịu êm vang dư âm ngàn nơi
Bên khóm tre tươi, chim hót hoa cười trong nắng yêu đời
Bầy trẻ thơ yêu quê hương đầy vơi
Đồng ruộng tươi vươn lên bao nguồn mới
Sóng lúa chơi vơi, xanh ngát chân trời, dịu màu đẹp tươi
Đây phương Nam, bao la dịu dàng, say sưa câu hoan ca nhịp nhàng
Duyên xưa còn thắm, chung xây cuộc sống, chan chứa mênh mông
Tình miền Nam, như hoa Lan đầy hương
Tìm tự do, gió chim tung bay ngàn hướng
Đây đó vui ca, trong nắng chan hòa
Dựng Một Mùa Hoa.

Đầu năm 1956, khi sắp sửa đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp - Hành Pháp và Tư Pháp, thì người Chiến Sĩ Bảo An lại đến với người dân quê, bằng những câu ca dao, để cho người dân ý thức được cuộc bầu cử sắp tới như sau:

“Dù ai buôn bán nơi đâu
Tháng ba, mồng bốn, rủ nhau đi bầu.
Dù ai mua bán trăm bề
Tháng ba, mồng bốn, nhớ về tham gia.
Bầu cử Quốc Hội nước nhà
Cộng Đồng - Nhân Vị - Quốc Gia hùng cường”.

Song nói đến người Chiến Sĩ Bảo An, mà không nhắc đến người Chiến Sĩ Dân Vệ, là một điều vô cùng thiếu sót. Bởi, Lực lượng Dân Vệ, là một Lực lượng vũ trang, trực tiếp đối đầu với “Lực lượng Du Kích” của Việt cộng, mà khởi đầu là “Du Kích Ba Tơ”, và là tiền thân của “Lực lượng vũ trang Liên khu 5” do tướng Việt cộng Nguyễn Chánh cầm đầu. Sau này, “lực lượng du kích” trực tiếp cầm súng đối đầu với dân quân của miền Nam, tại những vùng rừng núi xa xôi.

- Người Chiến Sĩ Dân Vệ, mà sau này đã trở thành Lực Lượng Nghĩa Quân. Ngày ấy, hàng đêm người Chiến Sĩ Dân Vệ luôn luôn tay ghì khẩu súng Mas-36, vai mang những quả lựu đạn chày, đi tuần - canh ở những trạm gác, nơi có những chiếc cổng của bờ rào Ấp Chiến Lược, để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, vì bọn Du Kích thường tìm cách lẻn xuống các làng thôn để cướp gạo, muối, thực phẩm của đồng bào, đem lên rừng để sống. Đó là những Chiến Sĩ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã góp máu xương trong công cuộc bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào ruột thịt, và họ đã chết trong âm thầm, không bia đá. Thế rồi, kể từ sau ngày Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, thì các Chiến Sĩ Bảo An và Chiến Sĩ Dân Vệ, đã bị người ta cố tình đưa vào quên lãng!!!

Thế nhân thường nói: Mất rồi mới biết quý, mới biết tiếc. Giờ đây, sau khi nước đã mất, nhà đã tan; qua những cảnh đời tang thương, dâu bể, khi ngược dòng thời gian trở về với một thưở thanh bình, mà không bao giờ còn tìm thấy lại, dù chỉ một lần nào nữa, thì chắc đa số những người con dân nước Việt sẽ thấy quý, thấy tiếc Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã bị giết chết vào ngày 1-11-1963, chỉ vì Người đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Chính ngày này, nước Việt Nam Cộng Hòa đã đứng trên bờ của vực thẳm, để rồi cho đến ngày 30-4-1975, thì cả nền móng của nước Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn sụp đổ, rơi ngay xuống tận đáy vực sâu, mà do ngoại nhân với sự tiếp tay của những kẻ vong-nô,vô cùng tàn độc, dã man đã đào sẵn, để vùi chôn một công trình vĩ đại, mà đã được đắp xây bằng cả máu xương của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa!!!

Những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã “biến mất” sau ngày 1-11-1963:

Đó là những Chiến Sĩ đã hy sinh tất cả, khi chấp nhận rời xa mái ấm gia đình tại miền Nam tự do, để đi vào vùng đất địch, không hẹn ước một ngày trở về nơi chốn cũ!!!

Vậy, không có gì bằng, là hãy đọc, để như nghe lại những lời nói của năm nào, vào đêm mồng 6 tháng 8 năm 1960, tại một nơi bí mật; song có mặt của Cố Đại Tá Lê Quang Tung đứng lên hô to khẩu hiệu:

“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”.

Sau đó, các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hô theo.

Khi những tiếng hô chấm dứt, thì Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã đọc những lời tiễn đưa các Chiến Sĩ đi vào vùng đất địch như sau:

“Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.

Và cũng tương tự như thế, là những Chiến Sĩ đã được cài lại ở miền Bắc trước ngày 20-7-1954, hoặc có những Chiến Sĩ đã tình nguyện quay trở về miền Bắc ngay sau khi mới di cư vào miền Nam. Những Chiến Sĩ này đã do Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn sắp xếp, và bí mật lo cho đời sống của họ, khi họ phải sống trong lòng đất địch tại miền Bắc.

Nhưng đau đớn thay, bởi sau khi Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn bị giết chết. Vì thế, tất cả những Chiến Sĩ này đã bị chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về; họ phải tự tìm cách để sống trong mỏi mòn, chờ đợi. Cho đến ngày 30-4-1975, khi miền Nam tự do đã rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt; thì các Chiến Sĩ này đã hoàn toàn tuyệt vọng; nên có người đã chết trong tức tưởi, trong đau đớn khôn nguôi. Và cho đến tận hôm nay, những người thân của họ, cũng không hề biết nắm xương của những người Chiến Sĩ ấy, đã bị vùi lấp ở một nơi nào trên đất Bắc???!!!

Ôi! Còn gì đau xót và phũ phàng hơn; nếu một mai, Quê Hương ta có tái lập được một nước Việt Nam với thể chế pháp trị hẳn hoi, thì thử hỏi, có còn ai nhắc - nhớ đến những người Chiến Sĩ đã từng dấn thân vào lòng đất địch, sống cùng với những gian nan, nguy hiểm; và chết trong âm thầm, lặng lẽ, lãng quên!!!

Hình ảnh tiếp nối của Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa:

Sau ngày Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân; để tiếp tục bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ vẫn tiếp tục lao mình vào nơi chiến trường lửa khói mịt mù, cận kề với cái chết. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đi vào những trang sử hào hùng của Dân Tộc, với những trận đánh làm khiếp vía quân thù như: Bình Long, An Lộc v…v…

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang, oai hùng, ngạo nghễ đứng trên Cổ thành Quảng Trị, để cắm lá Cờ Vàng ba Sọc Đỏ thân yêu như bài hát: Cờ bay trên Cổ thành Quảng Trị:



“Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu
Cờ bay, cờ bay tung Trời, ta về với Quê Hương
Từng ngóng đợi quân ta tiến về ……”

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vượt phi đạo, tung cánh “chim bằng”, đi vào cõi chết, để bảo vệ vùng Trời miền Nam tự do.

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã rời xa đất liền, xa mái ấm gia đình, sống lênh đênh trên mặt trùng dương ngút ngàn khói sóng. Máu xương của người Chiến Sĩ đã hòa quyện và vùi chôn nơi đáy nước trong trận Hải chiến 1974, để bảo vệ Hoàng Sa, hải đảo, bảo vệ hải phận Việt Nam.

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa tay súng, vai khoác ba lô, tung cánh dù, nhảy xuống vùng đất địch, bất chấp mọi hiểm nguy.

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng đánh đuổi quân thù, tái chiếm Cố đô Huế, Tết Mậu Thân, 1968. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đi tìm đào từng hố, hầm tập thể, để tìm lại xương xác của đồng bào ruột thịt thân yêu.

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã “quên mình cứu người” băng bó vết thương cho đổng đội.

- Người nữ Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã không ngại gian nan, vì “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, để góp bàn tay vào công cuộc bảo vệ miền Nam Tự Do.

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đem sinh mạng của mình để bảo vệ đồng bào ruột thịt, trên khắp Bốn vùng Chiến thuật, ở những vùng nông thôn, nơi biên phòng, giới tuyến, từ Ấp Bắc, An Lộc, Gio Linh, Khe Sanh, Pleime, A Sao, A Lưới, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, An Phước, An Điềm, Khâm Đức, Hậu Đức …v… v…

Song bên cạnh những chiến công lẫy lừng ấy, có mấy ai hình dung được hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời ngày đêm ghì chặt tay súng, trên những vọng gác, ở những nơi tiền đồn heo hút gió; để rồi liên tưởng đến hình ảnh của người Chiến Sĩ đã bị cộng quân bắn tỉa, trong lúc các Anh đang hướng tầm mắt, để quan sát những di chuyển của địch quân. Bởi vậy, các Anh đã trúng đạn của địch, và thân xác của người Chiến Sĩ đã nhuộm đầy máu đỏ, đã thấm đẫm chiến bào, và người Chiến Sĩ đã rơi từ trên chòi cao của vọng gác xuống nền đất lạnh, trên những bụi gai sắc nhọn giữa rừng khuya, thân xác của người Chiến Sĩ lại phải chịu thêm những vết thương khác, do những nhánh gai rừng đã đâm sâu vào châu thân, máu của người Chiến Sĩ đã chan hòa từ vết đạn thù, đã ứa ra từ những mũi gai rừng, trước khi gục chết tức tưởi giữa núi rừng hoang lạnh. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đem máu xương của mình, để bảo vệ Quê Hương.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với những hy sinh vô bờ bến. Đặc biệt, những đơn vị đã từng đối đầu với cộng quân, ở những nơi biên phòng, giới tuyến. Ở những nơi ấy, suốt ngày đêm người Chiến Sĩ phải đối đầu với không biết bao nhiêu những gian nan, nguy hiểm. Người Chiến Sĩ phải mắc võng ngủ trên những cành cây, để tránh thú dữ, nhưng không khỏi phải làm mồi cho muỗi, vắt. Trên những lối hành quân, mỗi khi dừng bước, người Chiến Sĩ đã phải dùng chiếc nón sắt của mình, múc nước từ những giòng suối, đổ vào bao gạo sấy, để ăn cho đỡ đói. Song cũng có những lần, khi những hạt gạo sấy chưa kịp nở thành cơm, thì đơn vị đã lọt vào ổ phục kích của cộng quân. Để rồi sau đó, có những Chiến Sĩ đã phải ôm xác đồng đội của mình, với bao gạo sấy chưa kịp mở ra, mà nhỏ lệ khóc thương đồng đội, đã chết trong khi bụng đang đói!!!

Ngày ấy, một thời chinh chiến, nếu ai đã từng đến các đơn vị biên phòng, giữa tiếng đạn pháo đì đùng, với những đêm nhìn ánh hỏa châu soi sáng các vùng rừng núi hoang vu, và treo lơ lửng trên những vọng gác quanh các tiền đồn, thì chắc chắn đã thấy được toàn cảnh, là những bức tranh, với những nét điểm xuyết thật tuyệt vời. Đồng thời, cũng thấy được những hy sinh vô bờ bến của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương, gối súng ngay giữa đôi bờ sống - chết, hiểm nguy. Sinh mạng của người Chiến Sĩ cũng vô cùng mong manh. Bởi bất cứ lúc nào các Anh cũng có thể bị quân địch tấn công, và có thể sẽ vĩnh viễn bị vùi thây nơi chiến địa!!!

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, là tất cả những gì cao đẹp nhất, hào hùng nhất. Người dân của miền Nam tự do, đã từng chứng kiến những hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, vai mang súng, tay bế em thơ, tay dìu dắt cụ già giữa vùng lửa đạn.

UserPostedImage

- Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có những Sĩ quan, mà tất cả những người đã từng cầm súng để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, hoặc đã từng kề vai, sát cánh bên người Chiến Sĩ, qua những công tác: Tâm Lý Chiến, Công Dân Vụ, Dân Sự Vụ, Dân Ý Vụ …

Họ có thể là những nông phu, song đã ý thức được bổn phận của một con dân nước Việt trong cơn nguy biến, nên có những người dân, khi bất ngờ gặp được người Chiến Sĩ trong lúc lỡ bị lạc trong rừng, sau một trận giao tranh với quân địch, và họ đã nuôi giấu, để sau đó, người Chiến Sĩ được bình an trở về với đơn vị.

Họ có thể là người Mẹ, người vợ, người anh, người chị, người em; song khi lâm cảnh ngộ, trong những lần tấn công của quân địch, lúc cùng đường, phải tử thủ, họ đã cùng sống-chết bên người Chiến Sĩ, họ đã biết sử dụng những quả lựu đạn M.26, để tiêu diệt quân thù, để mở đường máu thoát thân. Hết thảy họ đều là Chiến Sĩ.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có Lục Quân, mà còn có các Lực lượng như: Quân Cảnh, Cảnh Sát, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn … Riêng về Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, khi thành lập sau Tết Mậu Thân, 1968, có lẽ mọi người đã nhìn thấy hình ảnh của những Nữ đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ, vai mang khẩu súng Carbine M-1, M-2, trông chẳng khác biệt những Thanh Nữ Cộng Hòa của một thưở nào là mấy. Lực lượng này, đã trực tiếp đối đầu với Du kích Việt cộng ở những vùng thôn quê, hẻo lánh.

Một hình ảnh, mà chắc chắn mọi người đều đã biết. Đó là hình ảnh của những Chiến Sĩ Nhân Dân Tự Vệ tại Hố Nai. Họ đã không rời tay súng, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Song tiếc rằng, khi họ đã bị tử thương bởi những viên đạn của quân thù, thì chẳng có ai nhắc đến!!!

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và ngày mất nước: 30-4-1975

Vào một thời oanh liệt, với những chiến công lừng lẫy, làm quân thù phải bạt vía, kinh hồn. Lúc ấy, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa làm sao có thể nghĩ đến một ngày, họ phải buông súng trong uất hận, đau thương!!!

Thế nhưng, sự thật đã xảy ra. Trước ngày mất nước, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu những cảnh bi thương nhất, khi bắt buộc phải buông súng, thì có các vị đã “chết theo thành”, một số may mắn được ra hải ngoại; còn đa số, thì đã phải vào các nhà tù “cải tạo”của Cộng sản Hà Nội, đã phải chịu cảnh hành hạ, đọa đày, cùm kẹp, đói khát, lạnh lẽo, hoặc trở thành người tàn phế, hay đã bỏ mình trong các nhà tù. Song chưa đủ, bởi còn gì đau thương hơn, còn ngôn từ nào để viết, và còn có dòng nước mắt nào, để khóc cho vừa với hình ảnh của những người Chiến Sĩ đã chết, trong khi đôi chân vẫn còn bị siết chặt, vẫn còn rỉ máu trong hai chiếc cùm, treo trên những chiếc thanh sắt, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối; để rồi sau đó, nắm xương tàn của người Chiến Sĩ đã bị vùi chôn bên cạnh những bờ rào kẽm gai oan nghiệt của trại tù “cải tạo”, trên khắp vùng núi rừng từ Nam chí Bắc!!!

Nhưng hôm nay, và mãi mãi cho đến ngàn sau, dẫu thế nhân có viết đến cả hàng nghìn trang sách, cũng không làm sao diễn đạt một cách trọn vẹn những gì mà người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải gánh chịu khi bị sa cơ, thất thế, ở trong các nhà tù “cải tạo”. Bởi, chỉ có chính các vị đã từng qua các nhà tù của cộng sản Hà Nội, thì mới thấu hết được những nỗi đau đớn kinh hoàng ấy; vì “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

Chẳng những thế, mà ngày đi vào nhà tù “cải tạo”, thì đã có không ít những Chiến Sĩ đã bị mất cả nhà cửa, vợ con!!!

Tuy nhiên, ngoài những cảnh đời bi thảm ấy, đã có rất nhiều Chiến Sĩ được gia đình hết lòng lo lắng. Những người Mẹ, người vợ, người con, người anh, người chị, người em của người Chiến Sĩ, đã băng rừng, vượt suối, đi đến tận những nơi rừng thiêng nước độc, để mang đến cho người thân của họ những món quà; song đặc biệt và cao quý nhất, vẫn là những món quà tinh thần. Vì đó, chính là “món ăn” đã nuôi sống người tù “cải tạo” để người Chiến Sĩ có đủ niềm tin và hy vọng, chờ đợi một ngày trở về, sum họp với gia đình.

Và giờ đây, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tung hoành trên khắp chiến trường xưa, đang sống nơi hải ngoại; dù mái tóc đã bạc mầu, đôi mắt không còn tinh tường nữa; song ý chí quang phục Quê Hương vẫn không hề thay đổi. Vì thế, đa số đã và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam Tự Do-Dân Chủ thực sự.

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sống đời lưu vong, nhưng ngày đêm vẫn vọng tưởng Cố Hương, vẫn nhớ tiếc về những năm tháng của một thuở đã xa, mà lòng rưng rưng, mà tim quặn thắt; bởi chỉ còn biết tìm lại qua những câu hát, lời thơ của một thời đã mất:

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa
Vui thay tiếng hát, câu ca Thanh Bình
Cộng Hòa như ánh Bình Minh
Như giòng nước mát, như tình lúa xanh.

15-6-2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://hon-viet.co.uk/HanGiangT...hienSiVietNamCongHoa.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#3 Posted : Friday, January 11, 2013 11:35:27 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Cội Nguồn Đạo Lý Việt Nam

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Bấm vào đây để xem và nghe

Ngược thời gian trở về với cội nguồn từ thưở các vua Hùng đặt những "viên đá" đầu tiên để dựng nước, thì "hạt giống" Đạo Lý Việt đã được gieo trồng ngay trên Đất Việt. Kể từ đó, trong suốt cả chiều dài dựng nước và giữ nước "cây Đạo Lý Việt" mỗi ngày càng được thăng hoa, để trở thành một Nền Đạo Lý Việt, cho dẫu đã từng qua những bước thăng trầm của lịch sử, nhưng Đạo Lý Việt đã vượt lên trên tất cả để thấm nhuần trong từng dòng máu Việt, để gắn kết mọi người Việt lại với nhau, để tất cả mọi con dân nước Việt không thể rời xa, và để cùng dấn thân vào Đại Cuộc Chính Nghĩa Dân Tộc, đồng tâm xây dựng lại một nước Việt Nam theo một Thể Chế Dân Chủ - Pháp Trị, không cộng sản.

Từ ngàn xưa, người dân Việt không hề biết tới một tôn giáo nào khác, mà chỉ có Đạo Lý Việt, Đạo Lý ấy, thờ cúng tổ tiên và các bậc sinh thành; đồng thời thờ lạy một Ông Trời, là Đấng Tạo Hóa, là Hóa Công. Trong những cảnh ngộ nguy nan người dân Việt luôn luôn cầu xin Trời cho tai qua nạn khỏi, những năm khô hạn mất mùa, thì người dân quê thường làm Lễ Đảo Vũ, tức Lễ Cầu Mưa, để cầu Trời xin cho mưa thuận gió hòa:

Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp
Lạy Trời mưa xuống
Lạy Trời mưa xuống

Thế rồi, sau những bước thăng trầm của lịch sử, theo bước chân của các nhà truyền giáo; vì thế, nên trên đất nước của chúng ta đã có thêm hai tôn giáo lớn là Đạo Phật và Đạo Thiên Chúa.

Đạo Phật, với tâm Từ Bi với tất cả chúng sinh, không kêu gọi hận thù, không được sát sinh dù là một con kiến nhỏ; đó là cuộc đời của những bậc chân tu không hề sống xa hoa, không võng lọng cao sang, không kẻ hầu người hạ, mà chỉ sống một cuộc đời khổ hạnh, như tích xưa đã ghi lại về một vị sư tên Duy-Ma ở Tây Vực, đã Thiền tu trong một căn nhà đá, mỗi bề ngang dọc chỉ có một trượng, chính vì thế, mà sau này, người ta thường gọi các nhà sư bắt nguồn từ Tây Vực là "Phương Trượng".

Trên quê hương Việt Nam, vào một thưở thanh bình, mỗi buổi chiều, khi tiếng trống Thu không vang vọng từ những ngôi đình làng, thì những người nông phu lại cày, cuốc trên vai trở về nhà nơi thôn xóm, dưới những mái tranh ẩn hiện với những làn khói bếp trắng-lam bay bỗng lên cao, mang theo những bóng dáng thướt tha của một người con gái, vẽ nên một bức tranh tự nhiên thật tuyệt vời, mà không có một ai có thể vẽ cho được, dù là danh họa.

Cùng lúc đó, là tiếng chuông chùa ngân nga như kêu gọi hồn ai thoát tục. Và từ những mái chùa rêu phong cổ kính ấy, là những vị Chân Sư dưới lớp áo nâu sòng, sống đời khổ hạnh đem những lời Phật dạy đến với mọi người, hầu mong "thoát khỏi những lầm mê sớm quay về bờ Giác":

Sám Phát Nguyện:

Ðệ tử chúng con từ vô thỉ
Gây bao tội-ác bởi lầm mê
Ðắm trong sanh tử đã bao lần
Nay đến trước đài Vô thượng giác.
Biển trần khổ lâu đời luân lạc
Với sanh-linh vô số điêu tàn
Sống u hoài trong kiếp lầm than
Con lạc lõng không nhìn phương hướng.
Ðàn con dại, từ lâu vất vưởng
Hôm nay trông thấy đạo huy hoàng
Xin hướng về núp bóng từ quang
Lạy Phật Tổ soi đường dẫn bước.
Bao tội khổ trong đường ác trược,
Vì tham, sân, si, mạn gây nên,
Thì hôm nay giữ trọn lời nguyện.
Xin sám hối để lòng thanh thoát.
Trí Phật quang minh như nhựt nguyệt
Từ bi vô lượng cứu quần sinh
Ôi! Từ lâu ba chốn ngục hình
Giam giữ mãi con nguyền ra khỏi.
Theo gót Ngài vượt qua khổ ải
Nương thuyền từ vượt bể ái hà
Nhớ lời Ngài: "bờ giác không xa"
Hành thập thiện cho đời tươi sáng.
Bỏ việc ác, cho đời quang đãng
Ðem phúc-lành gieo rắc phàm nhân
Lời ngọc vàng ghi mãi bên lòng
Con nguyện được sống đời rộng rãi.
Con niệm Phật để lòng nhớ mãi
Hình bóng người cứu khổ chúng sanh
Ðể theo Ngài trên bước đường lành
Chúng con khổ nguyền xin cứu khổ
Chúng con khổ nguyền xin tự độ.
Ngoài tham lam, sân hận ngập trời
Phá si mê trí huệ tuyệt vời
Con nhớ Ðức Di Ðà Lạc quốc
Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ.

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới, Ðại từ, Ðại bi A Di Ðà Phật.

Và bên những lời kinh lẫn trong tiếng chuông chùa, thì cùng lúc, là những hồi chuông chiều cũng rơi rơi ngân vang từ trên những nóc giáo đường. Hình ảnh của các cụ bà tay lầnTràng hạt với những lời Kinh nguyện thiết tha. Và những bài Thánh Ca mà mọi thời không bao giờ phai trong ký ức của người Tín hữu:

Đẹp thay ! Ôi đẹp thay

ÐK: (Ðẹp thay) Ôi đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi. (Ðẹp thay) Ôi đẹp thay những bước chân rảo khắp nẻo đường. (Ai gieo trong lệ sầu) sẽ gặt trong vui sướng. (Ai gieo trong nước mắt) sẽ về trong tiếng cười. Ôi đẹp thay những bước chân tiến vào giữa lòng thế giới, loan tình thương tình thương Chúa Trời, loan niềm vui, niềm vui cứu đời, cho mọi người và mọi nơi.

1. Ôi đồng lúa mênh mông phơi mình dưới nắng hồng, lúa đã trổ bông dâng ngàn sức sống. Người đi trongnước mắt, và người về trong câu ca, tay ôm bó lúa lòng mừng bao la.

2. Ta cùng tiến ai ơi theo tình Chúa quên mình, lý tưởng thần linh muôn đời tôn kính. Người đi trong nước mắt, và người về trong câu ca, tay ôm bó lúa lòng mừng bao la.

Nhưng tất cả và tất cả, đều không thể làm cho Đạo Lý Việt phai mờ trong tâm khảm của người dân Việt. Bởi, Nền Đạo Lý Việt là chất keo sơn để gắn kết mọi con dân nước Việt trở thành một Đại Khối Dân Tộc, để cùng nhau đánh đuổi ngoại xâm- nội thù, và cùng nhau xây dựng lại một nước Việt Nam Thanh-Bình-Tự-Do-Dân-Chủ không cộng sản.

Người con dân nước Việt, chỉ trừ những tên đạo tặc khoác áo "tu hành", thì nên khai trừ những kẻ ấy ra khỏi hàng ngũ tu sĩ; còn dù là Đạo Phật, hay Đạo Chúa, cả ba miền Trung-Nam-Bắc, đều là Đồng Bào ruột thịt thân yêu không thể chia lìa. Và xin hãy lắng những lời kêu, tiếng gọi mà nghe như của tiền nhân của từ muôn năm trước:

"… Anh (chị) em ta Bắc-Nam-Trung
Cùng nòi giống Việt, ta cùng kết thân
Yêu nhau như thể tay chân
Ra ngoài chị ngã, em nâng ngay vào
Núi kia ai đắp nên cao
Tình Dân-Tộc, Nghĩa Đồng-Bào thiết tha
Cùng nhau chung một mầu da
Một dòng giống Việt, một nhà Lạc-Long
Chúng ta dòng giống Tiên-Rồng
Đừng quên rằng: Bắc-Nam-Trung một nhà".

Bắc-Nam-Trung một nhà. Như vậy, còn gì bằng, chúng ta, mọi con dân nước Việt "một nhà Lạc-Long", hãy cùng siết tay nhau, để trở thành một Đại Khối Dân Tộc, hầu có đủ sức mạnh để giành lại quyền tự quyết, để đập tan loài cộng phỉ, và quét sạch lũ giặc Tầu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ra khỏi bờ cõi Việt Nam.

Đến ngày đó, mọi con dân nước Việt sẽ trở về với Cội Nguồn Đạo Lý Việt Nam. Nền Đạo Lý Việt sẽ bừng lên, ngời sáng, vút cao giữa Trời Đông Á:

"Người Việt có Đạo Việt. Đạo ấy, có từ Quốc Tổ Hùng Vương khi nhà vua lập điện Kính Thiên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh tế lễ Thần Trời như Chúa tể muôn vật, quan phòng Vũ trụ. Đạo Việt tin vào linh hồn hằng sống khi Thục Phán dựng "Cột Đá Thề" hứa cúng giỗ các vua Hùng và quần chúng thờ cúng Tổ Tiên.

Trên đống tro tàn của chủ nghĩa Cộng sản, Đạo Việt xóa bỏ các thuyết vô thần, soi đường dân tộc xây dựng lại Quốc-Gia trong An-Bình-Thịnh Vượng".

Pháp quốc, ngày 9-10-2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...CoiNguonDaoLyVietNam.htm

Edited by moderator Friday, January 11, 2013 6:24:23 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#4 Posted : Saturday, January 12, 2013 4:04:20 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Đêm Giáng Sinh và người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

UserPostedImage

Bấm vào đây để xem và nghe

Đêm nay, đêm Giáng Sinh - Đêm Thánh Vô Cùng - Đêm chia hai lịch sử của nhân loại. Mọi người ở trên mặt địa cầu này, dù có tin Chúa hay không; nhưng mỗi lần đặt bút xuống, để ghi lại một ngày tháng nào đó, dù là ngày vui hay là một ngày buồn, thì chính họ, mặc nhiên công nhận: đó là ngày đánh dấu niên lịch của sự kiện Chúa Cứu Thế đã Giáng Sinh.

Cùng giao hòa với sự đổi thay của đất Trời, để nhân loại có một niên lịch vĩnh cửu như hôm nay; chúng ta, những người Việt đang sống đời vong quốc ở khắp bốn phương Trời; hồi tưởng về những năm tháng cũ của một thời chinh chiến; đặc biệt, với những chàng thư sinh đã từng tình nguyện xếp bút nghiên theo việc đao binh, từ giã mái trường cùng bè bạn thân yêu, lên đường tòng quân, với nguyện ước để bảo vệ đồng bào, bảo vệ miền Nam Tự Do, vì đó là bổn phận của người thanh niên giữa thời đất nước đang lâm vào cơn nguy biến.

Những ngày tháng đầu tiên nơi “Thao trường đổ mồ hôi, Chiến trường bớt đổ máu”; lần đầu tiên khoác chiến y, trở thành người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những “Đoạn Đường Chiến Binh” đầy thử thách, nhưng với chí nam nhi các anh đều vượt qua tất cả, để làm tròn trách nhiệm: đem sinh mạng của chính mình, để bảo vệ non sông.

Từ những năm tháng ấy, gót chinh nhân đã từng lưu dấu trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật, mà có khi cả năm, các anh không được một lần về phép, để sum họp cùng người thân bên mái ấm gia đình. Cho đến khi những đám mây đen vần vũ trên khắp đầu non, và những ngọn gió Đông giá buốt xoáy vào những chốn rừng sâu, ở các đơn vị nơi biên phòng giới tuyến, thì các anh bỗng nhớ đến rằng: Mùa Vọng và Giáng Sinh lại trở về giữa chốn núi rừng hoang lạnh, thế rồi, với những đôi tay khéo léo như một nghệ nhân của các anh - các chị - các cô Chiến Sĩ Tâm Lý Chiến của đơn vị, đã gom góp những tấm cạt-tông, những tờ giấy xi-măng được tách ra, những cọng cỏ, rơm khô, những nắm đất sét mềm mại vàng nâu, những viên đá, viên sỏi… những cục nhựa đặc biệt mềm và dẻo của loại cây Sưng (sâng) có một mầu vàng trong suốt… và để có những sắc mầu trang trí cho Hang Đá, thì các anh đã lấy mầu vàng từ cốt nước của loại lá Dung, mầu đỏ từ cốt nước của thân cây Vang ở ven rừng… rồi pha thêm thành nhiều mầu khác, sau đó, đem trộn lẫn với một chất keo chiết từ lá khoai lang, cộng thêm với những nhánh Thạch Thảo, thế là đã đủ, để các anh-các chị-các cô Chiến Sĩ Tâm Lý Chiến cứ vừa hát vừa biến tất cả thành những chiếc Hang Đá thật tự nhiên, tái hiện một Hang Bê-Lem của từ nghìn năm trước, và được đem đặt ở một nơi trang trọng nhất của đơn vị, có nơi là một Phòng Văn Khang; để đêm về người Chiến Sĩ quỳ bên máng cỏ, hoặc ở một nơi nào đó của đơn vị và cất tiếng hát giữa đêm thâu bài: Đêm Nguyện Cầu, với những lời như bài Kinh Nguyện thiết tha:

“…. Thượng Đế hỡi … có thấu cho người dân hiền, vì đất nước đang còn ưu phiền, còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên… Thượng Đế hỡi … Quê Hương non nước tôi ai gây hận thù, tội tình, nhà Việt Nam yêu dấu ơi! Bao giờ thanh bình… Thượng Đế hỡi! Thượng Đế hỡi … Quê Hương non nước tôi ai gây hận thù, tội tình, nhà Việt Nam yêu dấu ơi! Bao giờ thanh bình…”

UserPostedImage

Quê Hương non nước tôi, ai gây hận thù, tội tình? Câu hỏi trong bài hát Đêm Nguyện Cầu cũng như trong một bài thơ khác:

“Ai gây nên cuộc bể dâu?
Trẻ thơ vô tội vấn đầu khăn tang!
Ai gieo binh lửa lan tràn?
Dân quê đói khổ, xóm làng quạnh hiu!
Ai gây nên cảnh tiêu điều?
Con thơ đứng tựa mái lều chờ Cha!”

Với những câu hỏi, qua những lời nhạc và thơ ấy, thì kẻ đã gây bao nhiêu cảnh điêu linh kia, chính là bọn cộng sản Bắc Việt đã xua quân xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa; những quả pháo kích, và chất nổ đủ loại, đã nổ tung ở các sân trường tiểu học tại miền Nam, đã làm tan xương, nát thịt, của không biết bao nhiêu sinh mạng của những em thơ vô tội !!! Nên nhớ, bọn cộng sản Bắc Việt đã xâm lăng miền Nam tự do, nên bắt buộc Dân-Quân-Cán-Chính của nước Việt Nam Cộng Hòa phải đứng lên để tự vệ, để Bảo Quốc An Dân.

Cũng nên ghi nhớ, sau ngày 30.4.1975, khi chiếm được miền Nam, thì cũng chính bọn “… giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào, giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu anh em… “ Chẳng phải chỉ vấy máu đồng bào miền Nam, mà chúng còn cướp đoạt hết tài sản từ quý giá, cho đến tận cùng như những đôi đũa, cái chén nhỏ… chúng không hề chừa bất kể một cái gì của người dân miền Nam cả.

UserPostedImage

Trở về với những Đêm Giáng Sinh vào một thời chinh chiến đã xa, giờ đây các anh Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, có người đã vĩnh viễn đi vào lòng đất mẹ: “Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ ?!”. Ôi! ai đã từng chứng kiến hình ảnh của những người thương phế binh đã từng bị Bắc cộng xua đuổi ra khỏi các Quân Y Viện vào ngày mất nước, trong lúc những vết thương trên thân thể của các anh vẫn còn rỉ máu! Còn nỗi bi thương, thê thảm, còn niềm đau đớn, xót xa nào có thể sánh bằng!!! Riêng những người may mắn hơn, nhưng đang phải sống đời tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới, thì làm sao có thể quên đi một thời cùng đồng đội cận kề với sự tử-sinh; những Đêm Giáng Sinh không trăng sao, run rẩy vì giá buốt dưới những chiến hào giữa núi rừng xa thẳm, sương phủ mờ, che kín cả tầm mắt, ngước nhìn bầu Trời cao, chỉ thấy một mầu đen tối, tang tóc, thê lương! Người Chiến Sĩ bỗng nhớ đến Cha-Mẹ già, em thơ, những người thân, và nhớ đến người vợ, người yêu của mình có lẽ cũng đang nhớ đến mình qua những lời thống thiết của Lá Thư Trần Thế:

UserPostedImage

“… Đêm nay Ngôi Hai Trời xuống, Ánh sao lung linh muôn mầu, Con tưởng hỏa châu soi tuyến đầu… Đêm nay Người xuống đời, Xin đem nguồn vui tới, Những đôi môi lạnh đã lâu không cười.”

Pháp quốc, ngày 24/12/2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...hienSiVietNamCongHoa.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#5 Posted : Monday, January 21, 2013 6:44:06 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Tưởng niệm Quốc Hận: 20-7-1954

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


“Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mâu no lành, với tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh…”. Dẫu cung đàn đã xưa, lời nhạc đã cũ; nhưng sẽ không bao giờ trở thành xưa cũ, khi chúng ta, những người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa đã một thời được sống trong cảnh thanh bình, tự do, no ấm; vì thế, hôm nay, chúng ta, dù mái tóc đã phai mầu, nhưng mỗi lần lướt đôi tay trên chiếc dương cầm, hay trên những cây đàn tuyệt hảo của đầu thế kỷ 21, thì có lẽ trong chúng ta, dễ mấy ai quên đi những chiếc phím ngà xưa cũ của những cây đàn Mandoline của thế kỷ trước, với bài hát Trăng Phương Nam, để rồi có thể có nhiều người sẽ rưng rưng, khi vọng tưởng về những năm tháng thanh bình xưa đã mất, và không bao giờ tìm thấy lại, dù một lần nào nữa!

UserPostedImage

Hôm nay, ngày 20 tháng 7 năm 2012; để tưởng nhớ đến một ngày đất nước đã bị chia cắt, phân ly! Người viết muốn nhắc lại một bài đã viết trước đây: Kể từ khi nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay cộng sản, thì người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ còn biết và tưởng niệm ngày 30/4/1975, là ngày Quốc Hận. Nhưng ngược thời gian trở về cuối thập niên 1950, và đầu thập niên 1960. Khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Người đã khai sinh ra Thể chế Cộng Hòa Việt Nam, thì người dân miền Nam đã từng tưởng niệm Ngày Quốc Hận là ngày 20/7/1954. Ngày ấy, theo hiệp định Genève, đất nước đã bị Cộng sản Bắc Việt và Pháp chia cắt thành hai miền bởi giòng sông Bến Hải. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cai trị, với những cuộc “cách mạng” máu đổ đầu rơi, con tố cha mẹ, vợ tố chồng. Rồi “cách mạng văn hóa” làm cho không biết bao nhiêu người đã phải chết thảm, hoặc bị tù đày, tàn hại đến cả một đời người, mà đến cả sóng nước của giòng sông Bến Hải cũng phải khóc hờn ai oán:

“Con sông Bến Hải từ độ chia hai,
Đêm đêm nó khóc than hoài
Hờn căm cộng sản chia hai nhịp cầu
Lớn lên từng đợt u sầu
Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang
Bên đây đời sống thênh thang
Bên kia kiếp sống điêu tàn xác xơ
Ruộng đồng lúa mọc lơ thơ
Máu pha nước mắt ngập bờ tre xanh!”

Trong khi đó, tại miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đầy lòng nhân ái, Người đã sống một cuộc đời thanh bần, liêm khiết, quên mình, để tận hiến cho Quốc Gia và Dân tộc. Như mọi người đã biết, vào thời kỳ ấy, Nền Cộng Hòa Việt Nam còn non trẻ, lại còn thêm loạn sứ quân cát cứ, và không được đồng minh và quốc tế viện trợ như Việt Nam Cộng sản hiện nay. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng được một nước Việt Nam Cộng Hòa tự do, phồn thịnh. Từ thành thị cho đến thôn quê, nơi đâu cũng được sống trong cảnh thanh bình, no ấm.

“Tiên thiên hạ vi ưu, vi ưu - Hậu thiên hạ vi lạc, vi lạc”; đó là, cách Sống của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Bởi vậy, cho nên chính vì xót đau cho những cảnh đời lầm than, đau khổ của đồng bào đang ở bên kia Vĩ tuyến, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm và là vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã có chủ trương Bắc Tiến. Nhưng tiếc rằng, con đường Bắc Tiến chỉ mới ở bước đầu, thì vị Tổng Thống đã có công nghiệp khai sáng Nền Cộng Hòa Việt Nam đã đi vào lịch sử.

Những điều ấy, đã được Thi sĩ Vũ Hoàng Chương viết thành những vần thơ, vì cứ ngỡ rằng “Từ nay trăm họ câu an lạc-Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh”, và với ước mơ Bắc tiến, để có một ngày “trở lại Cố đô- Đại định Thăng Long, một bóng Cờ”. Người viết xin chép lại những vần thơ của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, để mọi người cùng “chiêm nghiệm” như sau đây:

“Lò phiếu trưng cầu, một hiển linh
Đốt lò hương, gửi mộng bình sinh
Từ nay trăm họ câu an lạc
Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh!

Có một ngày ta trở lại cố đô
Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ
Trên tầng Chí Sĩ bàn tay vẫy
Đại định thăng Long, một bóng cờ”.

Nhưng không riêng Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, mà Nhạc sĩ Lam Phương cũng đã viết thành một ca khúc Chuyến đò Vĩ tuyến, và đã đi vào Nhạc sử:

“Đêm nay trăng sáng quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu
Lênh đênh trên sóng nước mông mênh
Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng
Vượt rừng vượt núi đến đầu làng
Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến
Phương Nam ta sống trong thanh bình
Tình ngát hương nồng thắm
bên lúa vàng ngào ngạt dâng
Ơ... ai... hò ...
Giòng sông mơ màng và đẹp lắm
Anh ơi ai nỡ chia đôi bờ
để tình ta ngày tháng phải mong chờ
Hò... hớ .... hò .... hơ ...
Em và cùng anh xây một nhịp cầu
Để mai đây quân Nam về Thăng Long
Đem thanh bình sưởi ấm muôn lòng
Sương khuya rơi thấm ướt đôi mi
Tim em lạnh lẽo như chiều đông ngoài biên thùy
Ai gieo chi khúc hát lâm ly
Như khơi niềm nhớ cuộc từ ly lòng não nùng
Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng
Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm
Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà
Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.

Nhưng than ôi! Những hoài bão, những ước mơ, mà chắc của rất nhiều người; đặc biệt nhất, là những đồng bào của Miền Bắc đã đành phải nuốt nước mắt khi quyết định phải vào miền Nam để tỵ nạn Cộng sản. Và chỉ có chính họ, mới thấu được những nỗi đau thương khi phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, có nhiều gia đình đã phải lạc mất người thân, khiến cho gia đình của họ đành phải đôi bờ bên giòng sông Bến Hải và cầu Hiền Lương, với ước mơ: “Bao giờ Nam-Bắc nhịp cầu sang ngang”, và “anh cùng em xây một nhịp cầu, Để mai đây quân Nam về Thăng Long, Đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng”.

Những nỗi đau thương của đồng bào miền Bắc, vào thời điểm sau ngày 20/7/1954 ấy, tại miền Nam ít ai hiểu thấu; nhưng cho đến sau ngày 30/4/1975, thì những người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản thực sự, và khi bước xuống những con thuyền mong manh để vượt biển, hoặc chạy trốn khỏi đất nước trên những con đường rừng; chỉ đến lúc đó, khi ngoái nhìn về nơi cố quốc, thì họ mới thấy lòng quặn thắt, mới thấu được những nỗi đau của đồng bào miền Bắc ngày xưa, khi không còn con đường nào để chọn bằng con đường phải ra đi!

Ôi! Những dòng nước mắt nào đã rơi rơi trên suốt con đường từ Bắc vào Nam, và những dòng nước mắt nào đã rơi xuống những bãi biển, rơi trên những con thuyền đã đưa người ra khơi, để đi tìm sự sống trong cái chết, và đã có biết bao nhiêu người đã phải bị vùi chôn dưới đáy nước, hay đã vĩnh viễn bỏ mình ở các trại tỵ nạn xa xôi!

Làm sao nói hết được nỗi đau; bởi vì tất cả những ngôn từ của nhân loại không làm sao diễn đạt cho vừa với những vết thương, những nỗi đau đớn quá kinh hoàng, và những mất mát, mà không có bất cứ một thứ vật chất nào có thể bù đắp, mà mãi mãi sẽ không bao giờ quên được, và trong số người ấy, đã có rất nhiều người là đồng bào miền Bắc đã từng đứt ruột rời bỏ tất cả, để vào Nam tỵ nạn Cộng sản, những tưởng rằng đã chạy thoát; đâu có ngờ rằng, mình sẽ phải chạy giặc tới hai lần, và trong số ấy, cũng có nhiều người đã vĩnh viễn không bao giờ còn nhìn thấy lại chốn cũ, làng xưa!

Giờ đây, kể từ ngày Quốc Hận: 20/7/1954; 58 năm dài đã trôi qua, với bao nhiêu những biến cố tang thương, dâu bể, dù là người miền Bắc hay người miền Nam, và dù một lần, hay hai lần bỏ xứ ra đi, sống đời tỵ nạn trên những đất nước tạm dung, hoặc ngay cả những đồng bào tại quốc nội; nhưng hôm nay, với hệ thống thông tin toàn cầu, với những hình ảnh, và những thước phim tài liệu hoàn toàn trung thực, thì có lẽ đa số đồng bào đã biết được cuộc sống tương đối tự do, no ấm, thanh bình của đồng bào tại miền Nam dưới thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: 1954-1963; thì chắc chắn sẽ thấy được công nghiệp của Người đã khai sáng Thể chế Cộng Hòa Việt Nam, và rồi sẽ bồi hồi thương tiếc cho tất cả những gì đáng phải trân-quý, đáng phải gìn giữ; nhưng bây giờ đã mất, để rồi mãi mãi chỉ còn biết tìm lại qua dư âm của những lời ca, tiếng nhạc và những vần thơ năm cũ:

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa,
Vui thay tiếng hát câu ca thanh bình.
Cộng Hòa như ánh Bình Minh,
Như giòng nước mát như tình lúa xanh.

Pháp quốc, 20/7/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...gNiemQuocHan20Thang7.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#6 Posted : Monday, January 21, 2013 6:57:15 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Ấp Chiến Lược Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Bấm vào đây để nghe

Khi nói đến Ấp Chiến Lược, thì chỉ những người đã từng sống ở trong các vòng đai của Ấp Chiến Lược vào thời kỳ đầu của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa; NHƯNG, phải có một lương tâm trong sáng, một tấm lòng chân thành, thì họ mới viết lại những gì mà họ đã chứng kiến một cách trung thực.

Vậy, để lớp trẻ sau này, còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng; bởi vậy, nên người viết xin phép tác giả Nguyễn Đức Cung để được trích đoạn trong bài:

UserPostedImage
Xây dựng ấp chiến lược

UserPostedImage
Bộ sưu tập tem Ấp Chiến Lược phát hành ngày 26/10/1962

"Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ lụy trong chiến tranh Việt Nam" như sau:

1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.

Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ Nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong Chính Sách An Dân của mình.

Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478 người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.

Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa và một khi đã bị giải thể, hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân, mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh. Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tỉnh Man Tiểu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863, Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã ghi lại như sau:

"Mới đặt chức Tiểu phủ sứ ở cơ Tỉnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thứ án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn cho thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thiếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo, ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ, ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thử sức dân." [9]

Thành phố đổ nát

Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược, nhằm giải quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào Nam, và sau đó, để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái hoạt động ở các vùng nông thôn miền Nam.

Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống vì ở trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố:

* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).

* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một Bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).

Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).

* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.

* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ liên hệ với ngành nông nghiệp địa phương.

* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)

Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.

Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh."

Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản".

Và kế đến, người viết cũng xin phép tác giả Trần An Phương Nam: Gia đình CB/XDNT Bắc Cali, để cũng được trích đoạn trong bài:

"Từ quốc sách Ấp Chiến Lược đến chương trình Xây dựng Nông Thôn" như sau:

"Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là “lấy nông thôn bao vây thành thị” nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như trận địa chiến hay vận động chiến v.v...

Nắm vững được sách lược của địch. Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt. Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc quản lý Ấp do một Ban trị sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng vệ dân sự phối hợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.

Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả, công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!"

Trên đây, là những trích đoạn đã viết về Ấp Chiến Lược, của hai vị tác giả Nguyễn Đức Cung và Trần An Phương Nam; riêng người viết bài này, trước đây, cũng đã có viết qua bài: Những Mùa Xuân Qua có một đoạn về Ấp Chiến Lược như sau:

UserPostedImage

UserPostedImage

Mô hình của một Ấp Chiến Lược:

Tại quê tôi, ấp chiến luợc là những vòng đai có hai vòng rào gai rừng, ở giữa hai vòng rào là những giao thông hào sâu quá đầu nguời, rộng hơn hai mét, do dân làng cùng nhau đào, dưới lòng giao thông hào có cắm chông làm bằng những gốc tre già đã được vót nhọn, sắc, có ba cạnh. Còn vòng rào là những tấm gai cứng nhọn, có bề rộng hai mét, bề cao hơn hai mét được ghép lại. Chúng tôi xin nhắc rằng: Vì để bảo vệ tánh mạng và tài sản của chính gia đình của mình nên mọi người dân quê đều hưởng ứng, họ rất vui vẻ với công việc này. Đặc biệt là lớp thanh niên, với những nụ cười, tiếng hát với nhau trong lúc cùng nhau thực hiện Ấp Chiến Luợc. Ngoài ra, dân lành còn dùng những chiếc thùng thiếc, loại thùng đựng dầu hỏa, hoặc thùng gánh nước đã bị hỏng, đem đục lỗ, cột dây thừng nhỏ đuợc tết bằng những sợi mây rừng; ban đêm sau 20 giờ Chiến Sĩ Dân Vệ đóng cổng ấp lại, rồi họ đem giăng dọc theo bờ rào Ấp Chiến Luợc và các lối đi ở bìa vuờn, để ngăn bước chân của Việt cộng nằm vùng ban đêm thường lẻn xuống giết hại dân lành và cuớp gạo, muối của dân mang lên rừng để sống. Bọn trẻ như chúng tôi thì khoái đi giăng thùng lắm, chúng tôi đòi Chiến Sĩ Dân Vệ phải cho chúng tôi đi theo, giăng thùng xong chúng tôi còn trông cho có ai đó, hoặc con vật gì nó vướng dây để được đánh mõ còn nếu được "la làng" thì càng thích hơn nữa.

Tôi vẫn nhớ mãi về những năm tháng ấy thật vui, tôi nhớ dân quê tôi còn "phát minh" ra phong trào đánh mõ và la làng. Ngoài các trạm gác đêm của cá Chiến Sĩ Dân Vệ, thì nhà nào cũng sắm ra nhiều chiếc mõ tre; mỗi khi có tiếng thùng đổ thì mọi nguời đánh mõ ba hồi một dùi; nghĩa là đánh ba hồi dài, sau đó đánh một tiếng, còn nếu thấy có bóng dáng nguời xuầt hiện thì đánh mõ hồi một; nghĩa là đánh một hồi rất gấp, rồi kèm theo chỉ một tiếng. Lúc đó mọi nguời không ai đuợc đi lại phải chờ cho các Chiến Sĩ Dân Vệ kiểm tra xem tại sao thùng đổ, nếu là Việt cộng nằm vùng xuất hiện, thì các Chiến Sĩ Dân Vệ sẽ tri hô và mọi nguời đồng thanh la làng: “Cộng sản bớ làng, cộng sản bớ làng”; sau đó, dân làng tay cầm chiếc gậy có sợi dây thừng cuộn ở phía trên, tay cầm đuốc sáng trưng để vây bắt Việt cộng. Chính vì thế, mà tôi nhớ người dân đã bắt đuợc bốn cán bộ VC nằm vùng, nhưng tôi chỉ nhớ tên hai nguời là Duơng Đình Tú và Đỗ Luyện, cả hai đuợc đưa ra tòa sau đó họ ra Côn Đảo, đến khi trao trả tù binh họ chọn con đuờng ra Bắc. Còn nếu do một con chó thì họ sẽ la to: "Bà con ơi! chó vuớng thùng, đừng đánh nữa", thì dân làng họ mới thôi đánh mõ.

Một kỷ niệm mà không phải riêng tôi, mà có lẽ còn hai "nạn nhân" trong cuộc chắc chắn khó quên: Ấy là vào một đêm có đôi tình nhân đã hẹn hò nhau ở bìa vuờn, chắc họ đã ra đó lúc chưa giăng thùng, nên đến khuya khi họ quay về nhà, chẳng may họ đã vuớng phải dây và thùng thi nhau đổ, khi các anh Dân Vệ kiểm tra thì có bóng hai nguời họ hô: “Đứng im”; lúc ấy có tiếng cả hai xưng tên và nói: "Tụi em đây, xin các anh đừng bắn". Nhưng lúc ấy, dân làng đã đèn đuốc sẵn sàng, hai nguời mắc cỡ quá nên đứng im không dám nhúc nhích trông rất tội nghiệp. Sau đó, đôi tình nhân ấy không hiểu tại sao họ lại chia tay. Bây giờ hai nguời đều có gia đình riêng, ở cùng làng đã có cháu nội, ngoại. Cô gái vuớng thùng năm xưa hiện nay lại là chị chồng của em gái tôi.

Tôi vẫn nhớ hoài những đêm vui kỷ niệm; ngày ấy, đêm nào bọn trẻ con trong làng cũng trông mong cho có ai đó, hay con chó, con mèo vuớng thùng để đuợc đánh mõ, vì cả làng đều đánh mõ hòa với tiếng trống ở các trụ sở thôn làng, nghe thật vui tai, chúng tôi đứa nào cũng thích, cũng đòi cha mẹ sắm cho những chiếc mõ thật tốt, kêu thật to. Chúng tôi thích đánh mõ, đánh dai lắm, cho đến khi các Chiến Sĩ Dân Vệ đã la to lên: "Chó vuớng thùng, bà con ơi đừng đánh mõ nữa" các anh cứ la, còn chúng tôi thì vẫn cố đánh thêm mấy hồi nữa, vì mấy khi thùng đổ để đuợc đánh mõ đâu.

Hậu quả của việc phá bỏ Ấp Chiến Lược:

Mùa xuân năm 1964, Quê hương tôi không còn thanh bình nữa; bởi lúc ấy, Nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã sụp đổ. Ấp chiến lược bị phá bỏ, vì như mọi người đều biết, từ thưở xa xưa tổ tiên chúng ta ở thôn quê quanh vườn người ta thường trồng tre, gai làm bờ rào, còn nhà thì có bờ dậu có cửa ngõ, làng thì có cổng làng, mục đích để phòng gian, như bài thơ "Cổng Làng" của Thi sĩ Bàng Bá Lân đã viết:

"Chiều hôm đón mát cổng làng
Gió hiu hiu thổi mây vàng êm trôi
Đồng quê vờn lượn chân Trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn
Ráng hồng lơ lững mây son
Mặt trời thức giấc véo von chim chào
Cổng Làng rộng mở ồn ào
Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"

Như vậy, từ thưở xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã từng xây dựng Làng, có Cổng Làng mà mỗi đêm thường được đóng, để bảo vệ dân làng, và mỗi ngày khi: "Mặt Trời thức giấc véo von chim chào" thì "Cổng làng rộng mở ồn ào" để cho những "Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"; huống thay là trong thời chiến tranh, lúc cái "Mặt trận giải phóng miền Nam" do cộng sản Hà Nội cho ra đời, thì những kẻ vì ngu xuẩn hay cố tình kia lại ra lệnh phá bỏ Ấp Chiến Lược, là phá bỏ mọi trở ngại, khó khăn để cho Việt cộng đánh chiếm các làng thôn một cách dễ dàng.

Tôi đã chứng kiến những ngày Xuân 1964, đầy khói lửa, hoang tàn, từng đoàn người bồng bế, hoặc gánh con thơ chạy trốn, dân quê tôi họ đã biết rất rõ về cái gọi là “Giải phóng miền Nam “ vì cũng những người trong làng trước kia họ biết rõ là đảng viên cộng sản, sau đó họ biệt tích, rồi một ngày họ bỗng dưng từ trên núi trở về lại tự xưng là "Giải phóng miền Nam", nên dân quê tôi đã phân biệt Quốc, Cộng là hể ở trên núi xuống là cộng sản, chúng nói gì họ cũng không nghe, thấy bóng dáng cộng sản đâu là họ đều cõng - gánh con thơ tìm đường chạy trốn.

Kể từ đó, khi Ấp Chiến Lược bị phá bỏ, thì quê tôi, quận Tiên Phước gồm 15 xã, mà việt cộng đã chiếm hết 11 xã, chỉ còn có 4 xã nằm chung quanh quận lỵ, mà chẳng có xã nào còn nguyên vẹn, vì xã nào cũng mất một vài thôn; riêng xã Phước Thạnh, tức làng Thạnh Bình-Tiên Giang Thượng, gốm có 7 thôn, nhưng Việt cộng đã đánh chiếm mất 6 thôn, chỉ còn 1 thôn Đại Trung, nằm bên bờ Tiên Giang Hạ.

Và với những gì tôi đã viết trước đây, là hồi ức của một thời thơ ấu không hề biết thêu dệt; nghĩa là viết một cách vô cùng trung thực, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó, chứ không phải là văn chương.

Vì vậy, một lần nữa, người viết muốn lập lại là chỉ mong ước để cho lớp trẻ sau này còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng.

Pháp quốc, 20/10/2011
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...uocCuaThoiDeNhatVNCH.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#7 Posted : Monday, January 21, 2013 7:00:21 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Suy tư về những hình ảnh của quý vị cựu tù nhân Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Mùa Hè năm nay, Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng đã tổ chức ngày Hội Ngộ lần thứ 03 vào ngày 27/5/2012. Mặc dù đã được Trung tá - Bác sĩ Phùng Văn Hạnh cho biết và khuyên tôi nên cố gắng sắp xếp thời gian để tham dự Ngày Hội Ngộ, để được tái ngộ cùng quý vị Cựu tù Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng, mà đã một thời đồng cam, cộng khổ qua các nhà tù tại Quảng Nam-Đà Nẵng. Và tôi cũng đã cố gắng, mặc dù vậy, nhưng đã ba lần Hội Ngộ rồi, mà tôi vẫn không thể tái ngộ cùng quý vị. Vì thế, hôm nay, tôi viết bài này, để xem như một lời tạ lỗi, và xin quý vị hãy xem như Hàn Giang Trần Lệ Tuyền đã, đang hiện diện cùng quý vị, như một thuở nào, trong suốt những năm tháng dài ở trong nhà tù “cải tạo” của chế độ Cộng sản Việt Nam.

Hôm nay, là mùa Thu tại Âu Châu, nhìn những chiếc lá vàng rơi rơi ngoài khung cửa, tôi bỗng nhớ lại những lời thơ của cụ Nguyễn Du:

“Rừng phong Thu đã nhuộm mầu quan san”.

Lời thơ thật buồn, nhưng cũng thật tuyệt vời, dẫu đó là một cuộc chia ly. Chia ly, như những cựu tù “cải tạo”, ít nhất, đã từng qua một lần của cuộc chia ly trong đời, và chính cuộc chia ly đó, mà có những người đã không ngờ: “Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!”,như ngày xưa ấy, ngày 30/4/1975, khi người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải giã từ mái ấm gia đình, để đi “trình diện” tại các “Ủy ban Quan quản”; để rồi sau đó, là những tháng năm dài phải chịu cảnh tù đày trong các nhà tù “cải tạo”!

Giờ đây, khi ngoài kia, “Rừng phong Thu đã nhuộm mầu quan san”, thì bên song cửa, tôi ngồi lần giở từng trang của cuốn Kỷ Yếu 2012 - Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng. Và tôi bỗng quên mất cái sầu thảm của cái “rừng phong Thu” ấy, mà thấy vui, vì đã nhận được cả hai cuốn Kỷ Yếu. Đầu tiên là cuốn do anh Phạm Lộc, Phó Hội trưởng đã gửi cho tôi qua địa chỉ của anh Nguyễn Đức Chung, Chủ nhiệm trang Web Hồn Việt: hon-viet.co.uk và cuốn thứ hai do anh Tạ Mộng Tân, Hội trưởng đã gửi cho tôi qua anh chị Thế Huy, trong lần anh chị Thế Huy đã gặp gỡ quý anh trong Hội tại Hoa Kỳ. Và sau hai cuốn Kỷ Yếu, thì hôm qua, 18/10/2012, tôi cũng vừa nhận được hai DVD ghi lại những hình ảnh của Ngày Hội Ngộ Cựu tù Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng, cũng do anh Phạm Lộc gửi qua địa chỉ của anh Nguyễn Đức Chung.

Và giờ đây, ở giây phút này, mỗi lần giở từng trang của cuốn Kỷ Yếu và nhìn lại những hình ảnh trong ngày Hội Ngộ, là từng kỷ niệm của ngày xưa lại cứ hiện về trong ký ức, và đã hiện rõ ra trước mắt của mình, dù hôm nay, khi nhìn những hình ảnh của quý vị, tôi rất mừng, vì dù đã lớn tuổi, nhưng trông mạnh khỏe, tươi vui hơn nhiều. Nhưng đồng thời, tôi không làm sao cầm được những dòng nước mắt; nhưng trong dòng nước mắt mừng cho quý vị đã được bình phục, lại có pha lẫn những nỗi xót đau khi liên tưởng đến những vị đã vĩnh viễn ra đi nơi xứ người, hoặc đã nằm sâu dưới lòng đất lạnh ngay khi mới ra khỏi nhà tù “cải tạo” vì bệnh tật và kiệt sức !!!

Nhưng trên tất cả, vẫn là những vị cựu tù đã bỏ mình tại “Hố ông Hức”, là vùng đất đã được “ban giám thị” của trại tù chọn là “nghĩa địa” của những người tù “cải tạo”.

Tôi không bao giờ quên cái “nghĩa địa” này. Bởi ngày ấy, trong suốt thời gian ở trong trại, tôi đã cố tình, để tìm mọi cách, để đến gần “nghĩa địa”, với mục đích, để tìm lại nơi Bác ruột của tôi, là Ông Trần Thắng, đã bị du kích CS bắt trói dính với các ông Nguyễn Phước Linh, ông Huỳnh Lượng, ông Lê Kinh, cụ Lê Uẩn, em Nguyễn Văn Tùng. Tôi vẫn nhớ, một ngày tang thương đã chụp phủ xuống gia đình tôi, khi Cha ruột của tôi, ông Trần Tăng, đã bị tên Huỳnh Thuyên, trung đội trưởng du kích bắn chết, mà gia đình chúng tôi không được chôn cất, mà còn bị bắt cả nhà tôi đưa vào rừng, rồi giam dưới hầm đất, để rồi sau đó, có những đêm mưa, Mẹ tôi phải ngồi canh và tát nước, vì sợ ngước ngập hầm, thì cả nhà sẽ bị chết hết! Và cả gia đình tôi đã phải sống dưới hầm đất cho đến ngày được anh Huỳnh Xanh đã mở cuộc hành quân vào để giải cứu được cả gia đình tôi; và cho đến bây giờ, tôi vẫn ước mong có một phép lạ nào đó, để cho tôi tìm lại được di cốt của Bác ruột tôi và tất cả các vị đã bị du kích VC bắt cùng lúc với Bác tôi rồi đưa đi vào “Trại Cải Tạo Đá Trắng”, là tiền thân của “Trại cải tạo T.154”, tức “Trại cải tạo Tiên Lãnh”, nằm tại thôn 3, xã Phước Lãnh, quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sau ngày 30/4/1975, đã bị đổi lại thành xã “Tiên Lãnh”.

Và chính vì muốn tìm lại nơi chôn cất của Bác ruột tôi, cho nên tôi đã hết sức cố gắng để đến cho được “nghĩa địa Hố ông Hức”. Nhưng tôi đã tìm trong vô vọng, vì sau khi đã nhìn tất cả tên họ trên những tấm gỗ nhỏ trên những ngôi mộ, nhưng không tìm thấy được tên họ của Bác tôi, cũng như các vị đã từng bị du kích VC trói chung với Bác tôi, rồi biệt tích kể từ ngày ấy!

Tuy nhiên, tôi đã có được một cái “diễm phúc” là đã đến ngay được ngôi mộ của vị anh hùng cựu tù “cải tạo” Trần Quang Trân, anh đã bị “tòa án” của CSVN kết án tử hình, và đã bị công an xử bắn tại “Hố ông Hức”. Tôi đã ba lần đứng trước ngôi mộ của anh Trần Quang Trân. Anh Trân được chôn cất riêng trên ngọn đồi của “Hố ông Hức”, bên cạnh một cây cổ thụ, tên họ của anh đã được khắc trên một tấm gỗ, được cắt ra từ thân của một gốc cây rắn chắc, có những hình vân khá đẹp, chứ không thô sơ như những ngôi mộ khác. Có lẽ, đó là tấm lòng của người cựu tù đã được “cán bộ” giao cho công việc “dựng bia mộ” của anh Trần Quang Trân. Và chính tôi, tôi đã đem những hạt giống của một loài Thạch Thảo mầu trắng, hái từ bờ rào sân của “cơ quan cán bộ phân trại nữ”, rồi trong một lần đi cắt “bổi” tôi đã lén đem lên gieo ở chân mộ của anh Trần Quang Trân, mà nếu quý vị cựu tù ngày xưa ở các bộ phận lẻ như “tổ đắp nước, tổ rau, tổ lò rèn…” đã có lần đến đó, thì chắc chắn đã thấy những chùm hoa Thạch Thảo mầu trắng tinh khôi đã nở ở phía dưới chân ngôi mộ của vị anh hùng Trần Quang Trân!

Tôi vẫn nhớ, và sẽ không bao giờ quên được những năm tháng bị tù đày cùng quý vị, vì Trời bắt tôi phải nhớ dai, nên có lẽ, trong quý vị tôi là người còn nhớ đến tất cả những kỷ niệm trong suốt thời gian đau thương ấy. Tôi vẫn còn nhớ đến từng cái tên của mỗi cánh đồng ruộng lúa sình lầy, những đám ruộng nhỏ, lớn có bao nhiêu mét vuông, những “chỉ tiêu” phải “đạt” từ cấy, gặt, đốn vác củi, đốn và gánh “bổi”, tức phân lá xanh, mỗi “chỉ tiêu” là bao nhiêu mét vuông, mét khối… Tôi vẫn nhớ những ngọn đồi trồng sắn, những con đường quanh co, ngoằn ngoèo đất đá lởm chởm, những con suối với những chỏm đá lớn, nhỏ,và những cây hoa rừng đua nhau khoe sắc, bên những giòng nước trong xanh chảy qua giữa hai cánh rừng vào những buổi sáng tinh mơ, mờ ảo mù sương, hoặc vào những buổi chiều, dưới lớp ráng hỏa hoàng rực rỡ hiện ra ở cuối chân trời; và vì thế, nên đã có lần, đi trên ngọn đồi từ Đồng Mộ về đến Đồng Cừ sau khi “lao động đạt chỉ tiêu” dù đang ở tù, nhưng khi ngước nhìn lên bầu trời, tôi đã thấy tất cả đều quá đẹp. Thì ra, Tạo Hóa đã ban cho thế nhân những bức tranh thật kỳ vĩ này, để những con người như chúng ta, còn có thể quên bớt đi những đớn đau, khổ nhục, dù chỉ thoáng qua, vì đang phải bị giam mình trong cảnh tù đày, giữa những lớp kẽm gai oan khiên, nghiệt ngã của nhà tù đã được khoác lên với mỹ từ: “Cải tạo”!

Làm sao quên được,.. tôi vẫn nhớ, ngày đó, có lần tôi đã đem những bức tranh của Tạo Hóa ấy và những người cựu tù, để ghép lại thành những vần thơ, mà đã được quý anh phổ thành những nhạc khúc, và đã được một giọng ca nổi tiếng của trại tù, là anh Nguyễn Châu (Châu Lúa-Châu cấy giây) đã hát, hát nho nhỏ trong mỗi lần “lao động” trên những cánh đồng ruộng nước, mà chúng ta, những cựu tù, quanh năm, suốt tháng, từ những mùa Hè nắng như đổ lửa, đến những mùa Đông giá rét xuyên da, cắt thịt; nhưng tất cả đã từng phải dầm cả nửa thân mình dưới những đám ruộng ngập nước sình lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho những bầy đỉa, vì có khi chúng đã đục xuyên qua lớp áo quần,để hút máu của người tù, vốn đã gầy yếu vì đói khát, lại càng thêm kiệt sức!!!

Trở lại với hình ảnh của quý vị cựu tù “cải tạo” trong Ngày Hội Ngộ, 27/5/2012. Nhìn vào những hình ảnh trong Kỷ Yếu, cũng như trong DVD. Những khuôn mặt thân thiết ngày xưa, bây giờ, có người ít thay đổi. Riêng có một người đã thay đổi, mà nếu không nhìn trong Kỷ Yếu, thì có gặp mặt, cũng chưa chắc tôi có thể nhìn ra được, người đó là Thiếu tá Châu Quang Chương. Làm sao tôi có thể quên được hình ảnh của Thiếu tá Châu Quang Chương mỗi lần bị “bệnh đột xuất” nằm dài trên những bờ ruộng, mà có lần, tôi đã nói với Trung tá Nguyễn Văn Chước, “nhà trưởng” nhà 08 rằng, tôi sợ anh Chương sẽ chết. Nhưng anh Chước nói với tôi: “Ổng không chết đâu, đừng sợ”.

Mà “ổng không chết” thật, vì bây giờ, Thiếu tá Châu Quang Chương đã thay đổi, trông khỏe mạnh rất nhiều, tôi chân thành chúc mừng cho Thiếu tá Chương và gia đình vậy. Nhưng chưa hết, còn nhiều, nhiều lắm, song vì khó có thể kể hết, nên nhân đây, tôi muốn nói đến hình ảnh của anh chị Đại úy Nguyễn Văn Phúc- chị Nguyệt. Tôi vẫn nhớ, ngày xưa, trong thời gian Đại úy Phúc phục vụ tại Trại An Phước, tôi đã gặp anh trong những lần đi vào Phòng Văn Khang của Trại An Phước, thuộc C1, Lực Lượng Đặc Biệt, KBC 3425; sau này, được “cải tuyển” thành Tiểu đoàn 77, Biệt Động Quân Biên Phòng, KBC 7545. Những “cơ duyên” ngày ấy, đã khiến cho tôi gắn bó với Lực Lượng Đặc Biệt; vì thế, khi ở trong tù, lúc anh ở đội “cấp dưỡng” (nhà bếp) cho đến khi làm “thợ rừng” (đốn gỗ) ở Đồng Mộ, anh Phúc đã thường lo lắng cho tôi, vì thấy tôi bị “tập trung cải tạo” quá lâu. Anh Phúc cũng có lần kể về chị Nguyệt, mà theo tôi được biết, chị Nguyệt vợ của anh Phúc đã sống đúng nghĩa theo tấm gương: “Tiết hạnh khả phong” trong suốt thời gian anh Phúc chồng chị, đang phải ngồi tù “cải tạo”!

Và, đến đây, có lẽ tôi phải nói qua vài nét về những “sinh hoạt” trong nhà tù, để cho các vị không ở trong trại của chúng tôi được biết: Trại “cải tạo” Tiên Lãnh, với “danh số T.154”, là hậu thân của “Trại cải tạo đá Trắng” vào thời gian 1960 đến 1975. Đây là một trại chuyên về nông nghiệp, nên những cựu tù tại đây, đều phải làm những công việc rất nặng nhọc như vào những vụ lúa, thì trại nam tù, thì phải thay trâu, bò, để cày, cuốc cho nữ tù cấy, gặt…. Và vì hai trại tù, nam-nữ gần nhau, nên hàng ngày nam nữ tù thường xuyên “lao động” cũng gần nhau, có khi nam nữ tù cùng “lao động” chung một đám ruộng; nếu nam tù “trang khỏa” không kịp cho nữ cấy, còn các anh làm nhanh, thì nam “trang khỏa” đám ruộng trên, nữ cấy đám ruộng dưới. Ngoài công việc cày cấy, đến mùa gặt, thì nữ gặt, nam phải bó lúa cho nữ tù gánh, vì nữ bó lúa không chặt, khiến cho lúa đổ tung tóe, là bị công an “đánh cho biết lễ độ”! Còn mỗi khi trại hết củi, thì nam tù đốn củi cho nữ tù vác xuống, chất thành từng khối, đến khi nào đủ “tiêu chuẩn” theo mét khối… Nói chung, với chuyên nghề nông, thì nam nữ tù đều phải làm cho đến khi nào “đạt chỉ tiêu” thì mới được nghỉ. Còn nếu không “đạt” thì riêng nữ tù phải bị một hình phạt, mà đối với nữ tù, là một cực hình đáng sợ nhất. Đó là, nếu “không đạt chỉ tiêu” thì mỗi buổi chiều về trại sẽ bị phạt “không được tắm”!

Nhắc lại những cảnh oan khiên, nghiệt ngã này, tôi không làm sao quên dược những buổi chiều bị phạt không được tắm, nên khi về phòng, không ai có thể ăn nổi chén sắn độn cơm, vì cả thân thể hôi hám bởi mồ hôi lẫn với sình lầy; bởi vậy, cho nên khi leo lên chiếc sạp gỗ, là chẳng ai ngủ cho trọn giấc, mà những tiếng khóc như xé lòng cứ vang lên đến đứt ruột, đứt gan. Nhưng chưa hết, vì dù phải chịu đói, phải mất ngủ; song sáng sớm hôm sau, đúng sáu giờ, tất cả mọi cựu tù nam-nữ đều phải thức dậy, để chuẩn bị lên đồi cuốc đất trồng sắn với “tiêu chuẩn” vừa cuốc vừa trồng mỗi người là 500 (năm trăm hom sắn một ngày); hoặc cấy lúa, với “kỷ thuật” 8x8, nghĩa là mỗi cây lúa đều phải cách nhau 8 cm2; và với “tiêu chuẩn” là ba người một sào ruộng mỗi ngày (một sào theo cách tính tại miền Trung là 500 m2). Nói chung, tất cả đều phải “lao động đạt chỉ tiêu”, thì mới được nghỉ. Chính vì thế, nên đến khi các cựu tù được nghỉ, thì cũng là lúc những con gà của “nhà chăn nuôi” của trại cũng vừa kéo nhau để lên chuồng!

Trên đây, là những dòng tôi muốn nhắc lại một phần nhỏ của những đau thương ngày cũ, để cho tất cả quý vị cựu tù sẽ cùng nhau hồi tưởng lại những gì mà mình đã phải trải qua, để rồi chắc sẽ thấy mình gần nhau hơn, để đừng bao giờ quên những năm tháng phải gánh chịu những cảnh đọa đày trong các nhà tù “cải tạo”…!

Và cuối cùng, vì biết rằng, dẫu có viết cho đến cả nghìn trang hay bao nhiêu cuốn sách, thì cũng không bao giờ diễn đạt cho vừa với những tâm tình của những cựu tù, đã một thời cùng chung cảnh ngộ đau thương trong các trại “cải tạo”; bởi trong ký ức của mỗi người, đã đầy ắp những hình ảnh và kỷ niệm từ những tháng năm dài trong nỗi khốn cùng tuyệt vọng, cho đến tận hôm nay, khi được tìm thấy tự do trên những mảnh đất tạm dung ở nơi đất khách, xứ người. Thế rồi sau bao nhiêu năm Trời xa cách, để mỗi năm sẽ được Hội Ngộ một lần, để cùng nhau hồi tưởng bao nhiêu những biến cố tang thương, dâu bể đã qua, và để rồi chỉ biết nhìn nhau rưng rưng lệ. Vì thế, nhân đây, tôi xin trích lại một đoạn cuối của Ban Biên Tập của Kỷ Yếu Cựu Tù Chính Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng, trong lần Hội Ngộ lần thứ 03/27/5/2012, mà có lẽ là những dòng sẽ khiến cho những cựu tù chưa có được cuốn Kỷ Yếu trong tay sẽ thấy bồi hồi xúc động, những dòng ấy như sau:

“Không biết sau ngày Hội Ngộ lần thứ 3 này, chúng ta còn có cơ hội gặp lại nhau lần nữa hay không, bởi vì “Tuổi đời đã leo lên tới đỉnh, Bắt đầu xuống dốc bên kia”.

“Không biết ai còn, ai mất, chúng ta, mỗi người lần lượt rồi cũng phải ra đi về miền cát bụi, và cũng sẽ bị lãng quên theo thời gian!!!

Những dòng đã trích ở trên, sao nghe như những lời trăn trối sau cùng của những cựu tù đã bị vĩnh viễn bỏ mình nơi “nghĩa địa Hố Ông Hức”; còn có bị “lãng quên theo thời gian” hay không, thì có lẽ, chúng ta, tất cả những cựu tù “cải tạo” ở khắp bốn phương trời, cũng đã không còn điều gì để hối tiếc; bởi vì, quý vị đã từng giã từ những mái học đường, xa gia đình, bằng hữu, từ bỏ cả một thời thanh xuân, trai trẻ, đi theo tiếng gọi của Tiền Nhân, lên đường dấn thân vào những nơi địa đầu giới tuyến, đêm đêm ngồi trên những vọng gác nhìn ánh hỏa châu hoặc đã băng mình giữa những tiếng đạn pháo và khói lửa mịt mùng, đem chính máu xương của mình để hoàn thành sứ mạng của người con dân nước Việt khi non sông chìm trong cơn nguy biến, để bảo vệ tự do, bảo vệ đồng bào, và giành lại từng tấc đất của Quê Hương!

Chính vì những lẽ ấy, nên chúng ta, những cựu tù “cải tạo” không có một điều gì để phải hối tiếc, dẫu “mỗi người lần lượt rồi cũng phải ra đi về miền cát bụi, và cũng sẽ bị lãng quên theo thời gian!”; bởi nếu Tạo Hóa có cho chúng ta được làm lại từ đầu, để được chọn lựa, thì có lẽ trong chúng ta, có đa số những người cựu tù “cải tạo” đều muốn trở thành những Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nguyện hy sinh chính tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ một chính thể vốn đẹp, như những dòng thơ thật đẹp, đẹp trọn vẹn ở mọi thời, và đẹp mãi mãi cho đến ngàn sau:

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa,
Vui thay tiếng hát câu ca Thanh Bình.
Cộng Hòa như ánh Bình Minh,
Như giòng nước mát, như tình lúa xanh.

Paris, 20/10/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

UserPostedImage

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...uNhanChinhTriQuangDa.htm
AngeloOdom  
#8 Posted : Tuesday, January 22, 2013 7:34:11 PM(UTC)
AngeloOdom

Rank: Newbie

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/22/2013(UTC)
Posts: 4

Flapper Flapper Flapper

_________________
We can offer Wholesale Cheap DVD Online service to you now and hurry to buy the DVDs now!
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#9 Posted : Wednesday, January 23, 2013 4:41:25 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Còn nỗi đau đớn và khổ nhục nào có thể sánh bằng !

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Phải nói rằng, chưa có bao giờ mà người viết bài này lại có thể viết liên tục mỗi ngày một bài viết như hôm nay, nếu không được xem một đoạn phim do trang điện báo Ly Hương Đấu Tranh thực hiện từ những hình ảnh có thực về một buổi tuyển chọn vợ cho người ngoại quốc tại Việt Nam.

Người viết đã đau đớn đến mức độ không thể xem cho trọn đoạn phim ấy, bởi vì nó ngoài sức chịu đựng của mình, và vì không thể ngờ rằng, sẽ có một ngày người con gái Việt Nam với những tấm thân trần truồng, không một tấc vải che thân, lại có thể “trình diễn” ngồi, đứng, quỳ, và tự vuốt ve lấy thân mình, trước cả một đám đàn ông ngoại quốc, để mong bọn chúng lựa chọn, chấm điểm, để lấy mình làm “vợ”.

Trên đất nước Việt Nam, kể từ những năm dài dưới sự đô hộ của người Pháp, rồi đến khi có mặt đoàn quân của “đồng minh” Mỹ tại miền Nam, nhưng cũng không hề có những cảnh khổ nhục như những hình ảnh này !

Đảng Cộng sản Việt Nam khi tiến hành cuộc chiến xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa, đã lấy chiêu bài “giải phóng” và “sinh Bắc tử Nam”để lừa gạt lớp người trai trẻ ở miền Bắc để lùa họ đi vào các chiến trường tại miền Nam; để rồi khi cưỡng chiếm được đất nước Việt Nam Cộng Hòa, thì lại biến luôn cả nước thành một nhà tù vĩ đại, và biến đổi tất cả những giá trị đạo đức của người Việt Nam thành một xã hội suy đồi; từ trong nhà giữa những người thân yêu cốt nhục cũng có thể hãm hại, chém giết lẫn nhau, thương luân, bại lý; cha ruột hãm hiếp chính con gái chưa tới mười tuổi, những điều ấy, hiện đã có trên các trang mạng ngay ở trong nước.

Và chính vì những lẽ đó, mà có những người Mẹ đã phải cắn răng, nuốt nước mắt, đưa những đứa con gái bé bỏng của mình lên những con thuyền mong manh, vượt biển tìm tự do, để thoát khỏi những cảnh đoạn trường này; vì thế, nên có những trẻ em gái đã bị rơi vào tay của bọn hải tặc Thái Lan, đã chết, hoặc đang sống với những vết thương đau xé trong tận tâm hồn, không bao giờ có thể nguyên lành cho trọn vẹn!

Vậy, như một lời chia xẻ với những nỗi đắng cay, uất nghẹn của tất cả những người đã từng đứt ruột, nuốt lệ khi đành phải rời xa Quê Hương yêu dấu vì:

“Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
Tự do ôi tự do! Em đổi bằng thân xác.
Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong”,…

như những lời của bản nhạc: “Xin đời một nụ cười”, sau đây:

Tôi bước đi, khi Sài Gòn trong cơn hấp hối.
Ôi! Sài Gòn chờ đợi thở hơi cuối cùng.
Tôi bước đi Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời,
khu thương xá cửa khép cuộc đời,
những con tầu ngơ ngác ra khơi.

Tôi bước đi, qua đường rừng chông gai, tăm tối.
Như cuộc đời ở lại từ khi mất người.
Tôi bước đi, như con rết lê lết cuộc đời,
như thân bướm đôi cánh rã rời,
lấy u sầu che dấu tả tơi.

Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
Tự do ôi tự do! Em đổi bằng thân xác.
Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh sương gió.
Như một người tìm đường về nơi đáy mồ.
Tôi bước đi vì không muốn làm kẻ tội đồ,
vì tôi muốn lại kiếp con người,
muốn cuộc đời còn có những nụ cười.

Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
Tự do ôi tự do! Em đổi bằng thân xác.
Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong.

Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong.
Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong...

Thật hết sức đau lòng, ngày xưa hết Tây tới Mỹ, nhưng không hề có những người con gái phải chịu trần truồng để cho người ngoại quốc ngắm nghía từng bộ phận trên thân thể, để chọn lựa, đâu có khác gì người ta đi chọn mua và trả giá trước một bầy heo đang ở trong chuồng. Nhưng có khác hơn, là người mua heo chỉ chọn những con heo nào khỏe mạnh có thể chóng lớn, và những con heo ấy, còn có cái “diễm phúc” hơn là nó còn được dùng cái đuôi của nó để che giấu đi một phần cần phải che giấu, còn những cô gái này đã phải hoàn toàn không được che giấu một chút nào cả, những hình ảnh ấy, cho thấy đã tồi tệ hơn cả những bầy heo đang ở trong chuồng !!!

Người viết vẫn nhớ, ngày xưa, tại thành phố Đà Nẵng, là nơi đầu tiên đã từng “được” đón những đoàn quân viễn chinh của Pháp, rồi của Mỹ. Vì thế, thành phố này, đã có rất nhiều những người phụ nữ lấy người Pháp, lấy người Mỹ. Nhưng sau năm 1954, chỉ có một số ít người phụ nữ này chịu sang đất Pháp, còn đa số họ đã ở lại Việt Nam cho đến sau ngày 30/4/1975, thì họ mới nộp đơn xin đi tỵ nạn tại Pháp. Những người phụ nữ đã lấy người Mỹ cũng vậy, sau năm 1973, những người lính viễn chinh Mỹ khi rời Việt Nam cũng đã ngỏ lời đem họ về Mỹ, nhưng đa số họ không chịu bỏ nước ra đi, chỉ đến sau ngày đất nước bị rơi vào tay của Cộng sản, thì họ mới xin đi Mỹ.

Còn ngày nay, sau 37 năm, đất nước Việt Nam được cho là “đã thống nhất”, nhưng sao những người con gái Việt Nam lại phải chịu trần truồng cho người ngoại quốc chấm điểm, chọn lựa, để được rời khỏi nước, và cũng vì thế, mà có những người con gái phải gánh chịu những cảnh ban ngày thì phải lao động nặng nhọc, còn đêm đến lại phải chịu sự hành hạ dưới những bàn tay dã thú của những thằng Tầu già, có khi phải làm nô lệ tình dục cho cả nhà, gồm cả ông nội, ông ngoại, ông cha và cả chú, bác của những thằng được gọi là “chồng” ấy !!!

Và vì thế, cho nên chính đảng Cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm với những hoàn cảnh khốn cùng này, vì nếu không có những tổ chức được núp dưới những cánh tay của bọn cán bộ đảng viên Cộng sản quyền thế dưới những cái nhãn hiệu “Văn phòng giới thiệu hôn nhân” trá hình, để môi giới, buôn bán và thu tiền làm giàu trên những tấm thân xác yếu đuối cô đơn trên xứ người, trên những dòng nước mắt nhục hình của những phụ nữ và trẻ em nghèo khó !!!

Chúng ta đều biết, vào những năm tháng có mặt của đoàn quân viễn chinh của Pháp và Mỹ, cũng không có những cảnh đòi đoạn như thế này. Vì ngày đó, nếu ai muốn lấy Tây, lấy Mỹ, hay đi Tây, đi Mỹ là do ý muốn của chính họ, chứ trên đất nước không hề có những cái gọi là “văn phòng giới thiệu hôn nhân” này.

Người ta cũng thấy trên các báo chí ở trong nước, những trang được gọi là “pháp luật” nói là đã “phá những tổ chức buôn người”; nhưng lại không dám nói đến những tên đứng đầu của tổ chức buôn người này, là những tên cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vì, những cảnh của những người con gái trần truồng, sắp hàng quỳ xuống đất, để xin được người ngoại quốc chấm điểm này, đã không hề có xẩy ra trong suốt cả hàng ngàn năm kể từ buổi ban sơ, khai sơn, phá thạch để dựng nước, là suốt cả chiều dài của lịch sử KHÔNG CỘNG SẢN trên đất nước Việt Nam; mà đặc biệt là tại miền Nam, tức nước Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 30/4/1975.

Xin hãy cùng nhau đồng lòng “đứng lên tự cứu”. Cứu những cảnh đời khốn khổ - cứu đồng bào - và giành lại Quê Hương !

Pháp quốc, 5/5/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền



(Video xin bấm vào link dưới đây vào Việt Ly Hương UK)
" Nhục Quốc Thể " : http://vimeo.com/41385315

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...NhucNaoCoTheSanhBang.htm

Edited by user Wednesday, January 23, 2013 4:52:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#10 Posted : Wednesday, January 23, 2013 6:06:39 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Những dòng nước mắt trong những cảnh ngộ tang thương của các gia đình cựu tù “cải tạo” !

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Lời người viết: Như mọi người đã biết về những cảnh ngộ của các cựu tù “cải tạo”, qua nhiều ngòi bút, hoặc nghe kể lại. Riêng người viết loạt bài này, vì đã từng là nạn nhân và cũng từng chứng kiến với những cảnh đời dâu bể, đã khiến cho người viết không thể nào quên được !

Chính vì thế, bắt đầu hôm nay, người viết sẽ dùng ngọn bút của mình để tuần tự qua nhiều kỳ, ghi lại tất cả những cảnh ngộ vô cùng bi thương ấy; và dẫu cho có muộn màng; nhưng với lòng chân thiết, người viết xin được cùng xẻ chia cùng các gia đình nạn nhân, là các cựu tù năm cũ. Và dĩ nhiên, người viết chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, mà không nêu tên họ thật.

Kính xin quý vị đã từng “chết đi sống lại” trong những hoàn cảnh này, hãy nhận nơi đây, những dòng nước mắt, khóc cho những cảnh đời tang thương - tân khổ, trong suốt những tháng năm dài sau ngày Quốc Hận: 30/4/1975.

Một tấm gương sáng ngời: Tiết hạnh khả phong:

Trước ngày 30/4/1975, Đại úy Thụy, là một vị sĩ quan liêm khiết, cho nên, dù đã phục vụ tại Đặc Khu Quân Trấn tại Thành phố Đà Nẵng; nơi dễ dàng có “tư lợi”, nhưng Đại úy Thụy không có nhà cửa riêng, mà ông và vợ con đã sống ở trong Cư Xá Sĩ Quan, sống đời đạm bạc. Chị Thụy, một phụ nữ hiếm có ở trên đời, chỉ biết sống cho chồng-con, không cần để ý đến những sự cuộc sống đầy đủ của những người vợ của các sĩ quan, là bạn của chồng mình.

Sau ngày 30/4/1975, Đại úy Thụy bị bắt, bị ở tù “cải tạo” tại: “Trại 1 - Trại chính, Trại cải tạo Tiên Lãnh”, tức “Trại T.154”; hậu thân của “trại cải tạo Đá Trắng” đã được thành lập vào cuối năm 1959, tại thôn 3 xã Phước Lãnh, quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Sở dĩ người viết biết về trại “cải tạo” này một cách rất rõ ràng, bởi vì, chính Bác ruột của mình: Ông Trần Thắng, một lương dân vô tội, và các vị đồng hương đã cùng bị du kích của Việt cộng bắt, rồi bị đưa vào nơi này giam cầm, và tất cả các vị, trong đó có Bác ruột của người viết, đều đã bị chết vì đói và lạnh ở trong trại này vào năm 1964.

Trở lại với gia đình của Đại úy Thụy. Sau ngày 29/3/1975, khi chồng bị bắt đi tù. Lúc này, Thủ đô Sài Gòn chưa thất thủ, thì “Lực Lượng Hòa Hợp-Hòa Giải Thị Bộ Đà Nẵng”, trụ sở được đặt tại Chùa Pháp Lâm, ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, tức Chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Quảng Nam, Đà Nẵng; đã xông vào Cư Xá Sĩ Quan để đuổi chị Thụy và con cái ra khỏi nhà. Do vậy, không còn cách nào khác, nên chị Thụy đã phải ôm áo quần và dìu dắt các con ra đi, rồi phải ra nhà Ga Đà Nẵng để sống một cuộc đời gối đất, nằm sương !

Cuộc sống của chị Thụy và các con tại nhà Ga:

Ngày Đại úy Thụy đã phải đến “trình diện” tại “Thị bộ Hòa Hợp-Hòa Giải” tại Chùa Pháp Lâm, số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng. Nên biết lúc này thủ Đô Sài gòn chưa mất, tại Đà Nẵng chưa có “Ủy Ban Quân Quản”. Và, để rồi phải hơn mười năm sau Đại úy Thụy mới được trở về nhà… Ga để gặp lại vợ con !

Xin nhắc lại, Thành phố Đà Nẵng đã bị rơi vào tay của Cộng sản Hà Nội vào ngày 29/3/1975; trong thời gian này, Sài Gòn chưa mất, nên trước khi bị bắt vào tù, người viết đã chứng kiến cảnh sống vô cùng thê thảm của chị Thụy và các con tại nhà Ga Đà Nẵng. Ngày ấy, khi nghe hai bà chị họ của người viết đang buôn bán củi tại nhà Ga Đà Nẵng, số củi này được mua từ Lang Cô, chở bằng tàu lửa về Đà Nẵng để bán sỉ và lẻ, đã kể lại với người viết về hoàn cảnh của chị Thụy và các con tại nhà Ga, và còn cho biết chị Thụy và đứa con trai lớn cũng thường hay vác củi thuê cho hai chị. Và, người viết đã đến tận nhà Ga để gặp chị Thụy, để rồi phải chứng kiến trước mắt một cái “nhà” của chị Thụy:

Bên cạnh một gốc cây, ở một góc đường Nguyễn Hoàng - Hoàng Hoa Thám là một cái “nhà” được che bằng hai tấm tôn, chung quanh được đắp những tấm bạt nhà binh đã rách, và những tấm vải bố được tháo ra từ những chiếc bao cát, loại dùng để làm lô cốt chống đạn của quân đội VNCH. Trong “nhà” là một chiếc chõng tre rộng khoảng hơn một mét, có trải chiếc chiếu cũ, một chiếc chăn cũng cũ. Trên chiếc chõng tre, là hai đứa con nhỏ của chị, khoảng dưới năm tuổi ngồi trên đó, vì phía dưới, trong những ngày mưa, hoặc mùa Đông, thì những giòng nước đen ngòm, hôi hám đã từ phía nhà Ga chảy ra lênh láng ở phía dưới chiếc chõng, nên chị Thụy không cho hai con nhỏ bước xuống đất, mà cứ ngồi, nằm hoặc ngủ, để chờ Mẹ và Anh trai đem gạo về nấu cơm cũng ngay trong cái “nhà” này. Chị Thụy và con trai lớn đã phải vác hàng thuê không kể mưa, nắng, ngày, đêm, chỉ khi nào quá mệt, thì lại về, để rồi phải nằm gác lên nhau trên cái chiếc chõng tre độc nhất ấy. Đó là một “mái nhà” của chị Thụy và các con !

Về cuộc sống, chị Thụy và con trai lớn chắc khoảng trên mười tuổi đã phải ra sức để làm hết mọi việc, từ vác, xách hàng thuê cho những người đi buôn bán, hoặc khách vãng lai. Chị Thụy và cháu trai không ngại khó bất cứ một công việc nặng nhọc nào. Người viết đã chứng kiến cà hai Mẹ-Con chị Thụy còng lưng để vác những bao gạo, những bó củi từ những chuyến tầu lửa từ Huế chạy về Đà Nẵng, vác từ trong nhà Ga ra đến ngoài mặt đường Nguyễn Hoàng, là nơi những chiếc xe “ba gác” đang chờ sẵn để chở những bó củi đến những nơi buôn bán sỉ, hoặc chở những bao gạo đến những người bán gạo lẻ ở các chợ.

Nên biết, là vào thời gian ấy, chị Thụy còn trẻ tuổi, có nhan sắc, nếu muốn, chị cũng có một cuộc sống no ấm, chứ không phải dầm mữa dãi nắng. Nhưng không, chị Thụy đã quyết giữ một lòng chung thủy với chồng: Đại úy Thụy, và đã sống cho chồng con.

Người viết nghĩ rằng, vào lúc ấy, khi quyết định và chấp nhận một con đường chông gai đó, chị Thụy thừa biết về tương lai của ba con thơ của anh-chị sẽ mịt mờ, đen tối, vì chị không có “hộ khẩu”, nên các con không được đến trường để học hành; nhưng không thể để con cái phải chịu dốt không biết chữ, nên mỗi ngày chị đều tự dạy cho các con học, để biết đọc, biết viết. Ngoài những công việc như đã kể, chị Thụy đã chắt chiu từng đồng, để mua những gói quà, để rồi đã vượt hàng trăm cây số đường rừng, để đến “trại cải tạo” để “thăm nuôi” chồng đang trong cảnh đời lao lý.

Gói quà thăm nuôi vô giá!

Những gói quà thăm nuôi, mà chị Thụy đã từng lặn lội đem lên trại “cải tạo” để thăm chống, không như những gánh quà của các bà vợ Sĩ quan khác, mà chỉ vỏn vẹn là một gói nhỏ trên tay thôi !

Người viết vẫn nhớ đến một lần cùng được đi thăm nuôi một lần với Đại úy Thụy. Khi vào “nhà thăm nuôi” thì thân nhân của tù “cải tạo” đều có “giấy thăm nuôi” do phường, xã ở địa phương cấp cho, còn riêng chị Thụy thì không hề có một tờ giấy gì cả, mà chỉ có một gói quà trên tay thôi.

Hoàn cảnh của Đại úy Thụy là độc nhất vô nhị tại trại “cải tạo”, nên “Ban giám thị” của tại đã xét thấy nếu muốn cho Đại úy Thụy được “an tâm học tập cải tốt” thì phải cho anh được gặp mặt vợ; Do đó, những “cán bộ phụ trách thăm nuôi” đã “linh động” cho Đại úy Thụy được gặp mặt vợ mà không có “giấy thăm nuôi”.

Người viết vẫn nhớ như in, lần ấy, khi được phép gặp mặt Đại úy Thụy và sau khi “trật tự” xét quà thăm nuôi, khi gói quà được mở ra, thì chỉ có mấy “bánh” đường đen, một ít “thuốc rê” loại thuốc để người hút tự vấn thành điếu để hút, và một “thẩu” mắm ruốc, ớt mà thôi.

Khi viết lại những điều này, người viết biết rằng sẽ làm cho quý vị cựu tù sẽ xúc động, có thể rưng rưng khi nhớ lại một kỷ niệm, mà đa số vị đã biết; và tôi đã được quý vị tù trong lúc lao động ngoài đồng ruộng lúa, đã kể lại cho tôi biết: chính lần được thăm nuôi đó, khi về phòng tù, Đại úy Thụy chắc nhìn thấy sự tiều tụy của vợ mà đau buồn, nên vẫn để gói quà nằm yên, cho đến tối, thì Đại úy Thụy mới mở ra; và, khi cầm một “bánh” đường đen trên tay, thì, ôi ! nước mắt của Đại úy Thụy bỗng tuôn trào, anh muốn ngất đi, khi nhìn thấy những chiếc dấu răng của trẻ con đã cạp, đã cắn, sứt sứt, mẻ mẻ chung quanh chu vi của mấy “bánh” đường…

Đại úy Thụy đã hiểu mọi sự. Thì ra, các con nhỏ của anh vì thèm đường, nhưng Mẹ, tức vợ của anh không cho ăn, vì “để dành thăm nuôi Ba”, nhưng bởi còn quá nhỏ tuổi, nó thèm quá, nên nó đã lén mẹ để cạp, để cắn bớt chung quanh “bánh” đường cho đỡ thèm !

Và, Đại úy Thụy đã không thể ăn được mấy “bánh” đường đen ngày đó, mà cứ để yên, cho đến khi vì trời nắng nóng, nên nó đã chảy ra thành một đống nhão nhoẹt rồi, thì Đại úy Thụy mới dám ăn !

Gói quà thăm nuôi ấy, mà cho đến hôm nay, khi nhắc lại, thì chắc rằng, chẳng phải riêng người viết, mà chắc các quý vị cựu tù “cải tạo” cũng như quý độc giả cũng công nhận rằng: đó là một gói quà thăm nuôi vô giá.

Ngày trở về:

Trong suốt những năm tháng dài ở trong trại “cải tạo”, Đại úy Thụy không hề biết vợ con của mình đang làm thuê, vác mướn, sống ở nhà ga Đà Nẵng, vì chị Thụy không muốn cho anh biết, mà chỉ nói chị đang buôn bán ở đường Nguyễn Hoàng mà thôi, và các bà vợ Sĩ quan, cũng không ai biết về cuộc sống của chị Thụy, mà nếu có biết họ cũng không nói ra. Chỉ cho đến hơn mười năm sau, khi được ra tù, trở về, cứ như theo lời của vợ, Đại úy Thụy đã đi tìm vợ con dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, và khi ngược lên đến nhà Ga Đà Nẵng, thì bất ngờ, một bóng dáng của người phụ nữ đang còng lưng để vác một bó “củi chò” lớn trên vai. Bó củi này, là củi của chính chị của tôi, vì chị tôi rất quý chị Thụy, thường hay nói chuyện với chị Thụy, nên mỗi khi có củi từ Lang Cô chở vào Đà Nẵng là đều nhờ chị Thụy.

Cuộc tương phùng này, hay nói cho đúng nghĩa, là một cuộc Đoàn Viên giữa vợ chồng con cái của Đại úy Thụy, thì người viết không thể dùng bất cứ một từ ngữ nào để có thể diễn đạt một cách cho trọn vẹn; nhưng người viết được biết, sau đó, Đại úy Thụy gặp lại một người lính cũ, và đã được người lính đã một thời thuộc quyền của mình, đang làm nghề “sản xuất bia hơi”, người viết không biết uống bia, rượu, nên không biết đến loại “bia hơi” này nó ra làm sao; song được biết, người lính cũ tốt bụng này, đã giúp đỡ cho cả gia đình của Đại úy Thụy có một nơi ở, lại còn giúp cho Đại úy Thụy mượn một chiếc xe đạp cũ, để hàng ngày Đại úy Thụy chở những thùng bia hơi mà người lính này chỉ tính giá vốn, rồi đem đến giao cho những quán ăn, để lấy tiền lời, cho đến ngày Đại úy Thụy cùng vợ con lên đường sang Mỹ theo diện tù “cải tạo”.

Người ta thường nói, bất cứ cái gì, nó cũng có “cái giá” của nó. Cái giá, này thì tùy theo sự suy nghĩ của mỗi người. Tại Đà Nẵng, đã có nhiều người vợ của các Sĩ quan đã chọn cho mình bằng những cách sống, những con đường khác nhau, và tất nhiên, cho đến bây giờ, họ cũng đã biết được “cái giá” của nó như thế nào rồi. Lại cũng có người nói rằng, chị Thụy làm như thế, chỉ giữ được lòng chung thủy với chồng, nhưng các con của anh chị phải chịu thất học, chỉ biết đọc, biết viết do Mẹ dạy, chứ nếu làm khác hơn, thì chắc con cái sẽ không phải làm thuê, vác mướn, và bị thiệt thòi về vật chất…

Tuy nhiên, theo người viết, ở trên đời này, có một thứ không dễ gì ai cũng có thể tìm thấy được, đó là sự trọn vẹn và cao quý của tình yêu, vì chỉ có tình yêu đích thực mới khiến cho con người vượt lên trên được tất cả, mới đạp bằng hết được những chông gai của cuộc đời. Người viết nghĩ rằng, giờ đây, anh chị Đại úy Thụy đang hạnh phúc trọn vẹn trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Tưởng cũng nên nhắc lại: Sau ngày 30/4:1975; các vị Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa đã bị vào các nhà tù “cải tạo”. Chính nơi đây, chính những cảnh tù đày, là những cuộc thử nghiệm về chất người. Bởi vì, nếu trước đó, những bà vợ đã lấy chồng là những vị cựu tù “cải tạo” vì tình yêu chân thật, thì tình yêu ấy sẽ khiến cho họ càng thương yêu chồng trong cảnh lao tù, mà không lỗi đạo làm vợ; còn như nếu họ đã lấy chồng vì danh, vì lợi, thì tất nhiên, khi các ông chồng vào tù rồi, thì danh hết, lợi hết, thì tình cũng hết, nên họ đành đoạn bỏ người chồng đang đau khổ trong nhà tù, để ôm cầm sang thuyền khác, điều đó, không có gì là lạ cả.

Nhưng những chuyện đã nói, là chuyện của những người khác; còn riêng chuyện của Đại úy Thụy là một chuyện thật, có bi thương, song cũng có những ngọt ngào. Có những giọt nước mắt, nhưng cũng có những giọt lệ mừng và những nụ cười thật trọn vẹn như hôm nay, khi anh chị Đại úy Thụy và gia đình đã và đang được đoàn viên nơi hải ngoại. Và, riêng tôi, tôi quý, tôi phục chị Thụy: Chị là một tấm gương sáng ngời: Tiết hạnh khả phong.

Trời không phụ lòng người là vậy.

Pháp quốc, 6/6/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

(Xin tái ngộ quý độc giả với những chuyện tình của Tù “cải tạo” có thật trong những bài kế tiếp)

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...acGiaDinhCuuTuCaiTao.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#11 Posted : Friday, February 1, 2013 3:15:53 PM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Ngày Xuân nói truyện Kiều

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Ngày xưa... vào một thuở nào, nghe như xa lắc, xa lơ; song tôi vẫn luôn luôn nhớ về những mùa Xuân cũ, cứ mỗi lần Tết đến, những ngày đầu năm thì tại nhà của tôi lúc nào cũng đông khách tới để chúc Xuân và để... bói Kiều, vì nhà tôi là một trong số ít ở thôn quê có truyện Kiều.

Tôi cũng không hiểu tại sao nhiều người vẫn tin ở chuyện bói Kiều, vì cứ nghe cái tên:
Đoạn Trường Tân Thanh, thì cũng nghe đến “đứt ruột” rồi, thế còn phải bói làm cái gì cơ chứ ? Nhưng tôi vẫn thấy những nụ cười thật rạng rỡ trên môi của những thanh niên, thiếu nữ khi “bói” trúng được một đoạn “hên” trong truyện Kiều như đoạn Thúy Kiều gặp gỡ Kim Trọng hoặc Thúc Sinh hay Từ Hải, chứ họ không cần biết sau những cuộc gặp gỡ ấy, rồi mọi chuyện sẽ ra sao cả.

Mùa Xuân này, chẳng biết có phải vì tâm hồn của mình có thể đã quay về với một thời thơ ấu, mà bỗng dưng tôi lại muốn viết về truyện Kiều. Nhưng vì không phải là một cây bút chuyên môn viết về văn chương như các vị học giả. Vì thế, nên tôi chỉ viết theo những gì mình nghĩ, và chỉ viết ngắn, gọn, về ba mối tình “lớn” của Thúy Kiều mà thôi.


Như mọi người đều biết, khi nói về gia thế của Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du đã viết: “Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”. Nghĩa là chỉ trung bình, chứ không phải là giàu có, nhưng Cha Mẹ của Thúy Kiều thì lại muốn có danh, và có lẽ cũng muốn cho hai cô con gái của mình có được một tấm chống xứng đáng, nên mới bỏ tiền ra để mua cái “chức” Viên Ngoại, vì thế, mà đã tự rước họa cho cả gia đình.

Mà cũng chính vì vậy, nên khi thấy một gia đình mà bề ngoài có vẻ giàu sang, lại có hai cô con gái trẻ đẹp, nên khiến cho bọn nha lại đã tìm cách để gieo họa cho nhà viên ngoại, để đưa” viên ngoại” vào nhà tù “cải tạo”, thì mới có cơ hội mà “vào vơ vét về”.

Về mối tình đầu của Thúy Kiều với Kim Trọng, đây là mối tình “học trò”, lúc Thúy Kiều mới vào tuổi “cập kê”, một mối tình trong sáng, nên “chỉ đẹp khi còn dang dở”; bởi vậy, chàng Kim mới nguyền: “Bao nhiêu của mấy ngày đàng, Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi”, chứ nếu lấy nhau rồi, thì không chắc đã vẹn trăm năm. Đối với chàng Kim cũng thế, vì chưa “hương lửa”, nên chàng chưa thỏa, và lại càng không bao giờ thỏa, vì đã: “Đem tình cầm sắt, đổi ra cầm cờ” thì chuyện “lửa hương”cũng không bao giờ có nữa. Vả lại, Kim Trọng đã được một Thúy Vân: “trang trọng khác vời, khuôn trăng đầy đặn mặt ngài nở nang, Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” rồi, thì còn ước muốn gì hơn, hay vì chưa thỏa, nên lại muốn “hoa thơm đánh cả cụm” bởi trước đó, chàng Kim chỉ cần “gặp mặt nàng”, chứ đâu có “đòi” thêm điều gì nữa...

Mối tình thứ hai, là Thúy Kiều với Thúc Sinh, mối tình này, mới có “lửa” có “hương” thiệt à nghe. Cứ theo những lời của cụ Nguyễn Du, thì Thúy Kiều và Thúc Sinh đã được ở bên nhau suốt cả năm trời, nhưng xem ra trong cuộc tình này rất đượm sắc
“truy hoan”:

“Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày Xuân lắm lúc đi về với Xuân.
......
Khi hương sớm, khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn.
Miệt mài trong chốn truy hoan,
Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình”.


Suốt cả năm Thúy Kiều-Thúc Sinh đã “Miệt mài trong chốn truy hoan”, và vào thời ấy, mà Thúy Kiều còn “bạo” hơn cả một số phụ nữ thời hay, khi dám cả gan để cho Thúc Sinh nhìn thấy thân thể của mình khi nàng đang tắm:


“Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.


Qua những đoạn thơ ấy, không biết có phải vì thế, nên nàng không có ý nhờ Thúc Sinh giúp nàng trở về đoàn tụ với gia đình. Bởi chuyện này, đối với:”Thúc Sinh quen thói bốc trời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không”, thì sá gì một việc nhỏ là đưa Kiều trở về thăm viếng cha mẹ của nàng, song có lẽ, Kiều nhận ra rằng chỉ là “phận cát đằng” nên đâu có hay ho gì mà làm “Cô Thắm về làng”, mà phải chờ cho đến khi gặp được Từ Hải rồi, nàng mới nói: “Chi bằng phu quý phụ vinh”.

Về Thúc Sinh, trong lúc “một tỉnh mười mê”, nên chàng đã “bốc” với Kiều:


“Đường xa chớ ngại Ngô, Lào,
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.
Đã gần chi có điều xa,
Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều”.


“Bốc” là như vậy, nhưng đến lúc lén lút gặp Thúy Kiều, Hoạn Thư bắt gặp, thì hồn vía lên mây, nên Thúc Sinh đã:

“Khuyên nàng xa chạy, cao bay,
Tơ duyên ta có ngần này mà thôi”.


Đọc những đoạn này, có lẽ, cụ Nguyễn Du đã muốn nhắn nhủ cho đến “Tam bách dư niên hậu” rằng: đàn bà con gái chớ bao giờ nên tin các “đấng” đàn ông đã có vợ, vì đàn ông nào cũng sợ vợ hết; khi nó “một tỉnh mười mê”, thì nó “bốc trời” là vậy, nhưng khi vợ nhà biết được là liền ca bài “tẩu vi thượng sách”. Nên nhớ, khi Thúc Sinh khuyên Kiều hãy “xa chạy cao bay”, nhưng không hề nghĩ Thúy Kiều chẳng những không có một đồng xu dính túi, mà trên người còn đang khoác chiếc áo cà sa với pháp danh Trạc Tuyền; như vậy, rồi Thúy Kiểu sẽ phải sống ra sao, cũng không hề tìm cách để trao cho nàng lấy chút tiền “giắt lưng”. Đó là câu trả lời: những “đấng” đàn ông đã có vợ như Thúc Sinh không bao giờ nhớ đến phút giây “một tỉnh mười mê” , và đã “bốc: “Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều” ?! Xin các cô, các bà hãy nhớ cho cái “chân lý” này, là vậy.

Đấy, xin các chị em phụ nữ, chớ có bao giờ ngây thơ mà đem lòng tin vào những “đấng” đàn ông đã có vợ. Cụ Nguyễn Du đã “cảnh báo” như thế, chứ không phải tôi nói đâu.

Mà làm sao để “xa chạy cao bay” được nhỉ? Vì thân gái dậm trường, trong lúc Thúy Kiều không hề có một xu dính túi; bởi vậy, nên trước khi trốn đi, vì lo sợ: “Tay không chưa dễ tìm vành ấm no”, nên: “Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân, Bên mình giắt để hộ thân”; Nghĩa là, chỉ để “hộ thân” thôi, chứ không phải do động lòng tham lam khi “giắt mình” chuông vàng, khánh bạc của nhà họ Hoạn ,và đã đến xin “tỵ nạn” tại “Chiêu ẩn am”, với món quà “vi thiềng” chính là chuông vàng, khánh bạc của Hoạn gia, và khi không thể giấu diếm được, nàng đã kể thật hết mọi sự cùng sư Giác Duyên.

Phần sư Giác Duyên, khi biết rõ ngọn ngành, thì sư sợ oai quyền của nhà họ Hoạn, nên đã nhờ nhà họ Bạc:


“Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang dặn hết mọi dường,
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân”.


Song có một điều làm người viết cứ không thể hiểu được; đó là, nhà họ Bạc là một kẻ đã từng “Am mây quen lối đi về dầu hương” chứ đâu có xa lạ gì, nên mới đem gửi Thúy Kiều, để “tạm cho nàng trú chân”; như thế, mà kể từ đó, sư Giác Duyên lại không một lần hỏi thăm nhà họ Bạc về Thúy Kiều, mặc cho nhà họ Bạc đem bán Kiều vào lầu xanh một lần nữa !

Rồi còn chuông vàng, khánh bạc của nhà họ Hoạn, mà Thúy Kiều đã đem dâng cho sư Giác Duyên: “Dạy đưa pháp-bảo sang hầu sư huynh”, và sư Giác Duyên đã nhận cả hai “pháp bảo”, nhưng khi “gửi” Thúy Kiều cho nhà họ Bạc, còn chuông vàng, khánh bạc thì sư Giác Duyên vẫn giữ tại “Chiêu ẩn am”.

Điều này, người viết tuy đã đọc truyện Kiều từ lúc còn bé; song không hề thấy một đoạn nào trong truyện cho biết hai “pháp bảo” là chuông vàng và khánh bạc của nhà họ Hoạn, mà Thúy Kiều đã “dâng” cho sư Giác Duyên cất giữ, rồi sau đó hai “pháp bảo” này đã rơi vào tay ai; bởi rõ ràng, sư Giác Duyên không đưa cho Thúy Kiều khi “tạm lánh” sang nhà họ Bạc; mà cũng không trả lại lại cho nhà họ Hoạn. Như thế, chỉ còn một cách giải thích là: hai “pháp-bảo” chuông vàng và khánh ngọc của nhà họ Hoạn có lẽ đã phải bay ra ... chợ trời mà thôi.

Mà kể ra, Thúy Kiều không phải là một kẻ tham lam, vì thân gái dậm trường, nên bắt buộc phải “mượn đỡ” chuông vàng, khánh bạc của nhà họ Hoạn, nhưng không đem ra ... chợ trời để bán, mà đem “đưa pháp-bảo sang hầu sư huynh”, xem như là món quà... “vi thiềng”, để được nương thân tại “Chiêu ẩn am”, chứ không hề có ý giữ lại làm của riêng cho mình.

Về tiểu thư nhà họ Hoạn, có người thì gọi là: “máu hoạn Thư” để chỉ những cách ghen của nàng, cũng có người cho rằng Hoạn Thư ghen một cách khôn ngoan của một tiểu thư trí thức, vì nàng là con gái của “Thiên quan trủng tể”, chứ không ghen như những hạng thường tình như... trường hợp của vũ nữ Cẩm Nhung đã bị vợ của Trung tá Thức hủy hoại tất cả, đến trở thành thân tàn ma dại.

Riêng người viết, thì đã lưu ý vào hai câu thơ này:


“Người vào chung gối loan-phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài”.


Đọc hai câu thơ trên, những người đã đọc truyện Kiều, đa số đều cho rằng trong lúc Hoạn Thư và Thúc Sinh đã “vào chung gối loan phòng”, là hai người đã hạnh phúc, chỉ riêng có Thúy Kiều “ra tựa bóng đèn chong canh dài” là đau khổ. Nhưng ta thử hỏi, Thúc sinh mới vừa bị “phách lạc hồn xiêu” rồi, thì khi “vào chung gối loan-phòng”, liệu Thúc Sinh có còn đủ tinh thần, đủ sức để ... làm chồng, và có còn đủ hơi để... thở hay không ?

Xin hãy chia xẻ với Thúc Sinh khi đã “được” vợ của mình “yêu” đến mức độ như những câu thơ:


“Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà, đôi nơi.
Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không đao!
... Sinh càng phách lạc hồn xiêu:
Thương ôi! chẳng phải nàng Kiều ở đây ?


Và...

“Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
Giọt dài giọt ngắn, chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say, chàng đã giợm bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!
Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ-hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi.
Rằng: Hoa nô đủ mọi tài,
Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
Cùng chung một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm!.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi\?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi!
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà can tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay!
Sinh thì gan héo ruột đầy,
Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng!
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài!”.


Ai đau khổ hơn ai ? Hoạn Thư có thực sự được giây phút hạnh phúc cùng Thúc Sinh “chung gối loan-phòng” ?!

Câu hỏi này, người viết xin dành cho các “đấng tu mi nam tử” của thời nay, có “đấng” nào có đủ “dũng khí” để “yêu vợ” trong một tình huống như thế hay không ?

Về Thúy Kiều, theo người viết, chắc chắn là đau khổ, nhưng phần Thúc Sinh, thì không thể nào không thương, không xót nàng Kiều, và cũng không thể nào quên ngay đi những “đòn ghen” của Hoạn Thư đã dành cho Thúy Kiều và cả chàng nữa. Bởi thế, tuy cùng “chung gối” với vợ, nhưng Hoạn Thư vẫn cứ xa lắc xa lơ, nên “loan-phòng” chỉ là nơi chàng Thúc đang nằm, chứ không thể là đang hạnh phúc.

Và Thúy Kiều vẫn là người “thắng cuộc” vì đã và đang được yêu - hình ảnh của Kiều đang ở trong trái tim của chàng Thúc, còn Hoạn Thư chỉ là người được “chung gối” chứ không cùng chung nhịp đập với trái tim của chàng.

Đàn bà ai cũng đều có “máu ghen” cả. Nhưng “ghen” như thế nào để giữ được hình ảnh dịu dàng, đáng yêu quý của mình trong trái tim của chồng, cũng như không đẩy chồng mình vào “vòng tay” của “tình địch”, và để không vĩnh viễn mất chồng, là một điều vô cùng khó; bởi vì, một khi đã ghen, thì lý trí hầu như đã bị hoàn toàn tê liệt.

Như vậy, giá như, lý trí của Hoạn Thư thắng được những thói ghen thường tình ấy, để Hoạn Thư với uy quyền trong tay, mà dám sắm sửa kiệu hoa rồi sai thị nữ đưa Thúy Kiều trở lại với gia đình họ Vương, thì chắc chắn vì sự gia ân của tiểu thư họ Hoạn mà Thúy Kiều không bao giờ dám gặp mặt Thúc Sinh, dù một lần nào nữa; nhưng Hoạn Thư phải hết mực yêu thương chồng, và không bao giờ choThúc Sinh biết những việc của mình đã làm, để tránh những tổn thương cho chồng, thì chàng Thúc vẫn cứ tin rằng Thúy Kiều đã chết trong cơn hỏa hoạn, rồi thời gian sẽ khiến cho hình ảnh của Thúy Kiều chỉ còn là những kỷ niệm; còn như đã giáng những trận “đòn ghen” ấy, thì chỉ khiến cho thúc Sinh phải đau xót, yêu thương và nhung nhớ Thúy Kiều cho đến mãn đời, và Hoạn Thư phải sống với chồng trong cảnh “đồng sàng dị mộng” mà thôi.


Cuối cùng, là mối tình “lớn” của Thúy Kiều-Từ Hải, mà theo người viết, đây là mối tình đẹp nhất, vì ngoài tình yêu tha thiết mà Thúy Kiều đã dành cho Từ Hải, nàng còn hết lòng kính phục Từ Hải: “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”, nên “Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng”. Song đặc biệt, và cao quý nhất, là Từ Hải đã chứng minh được “lượng cả bao dung” của mình, là biết quý Thúy Kiều về mặt tinh thần qua những câu thơ:

“Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh Phượng, đẹp duyên cưỡi Rồng”.


Từ Hải-Thúy Kiều đã “tương phúc tương tri”, Thúy Kiều đã từng muốn theo Từ Hải ra chiến trường, không sợ gian nguy, sinh tử:

Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương,
Trông vời trời bể mênh mông,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong.
Nàng rằng: Phận gái chữ Tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.


Họ đã gắn kết với nhau cho đến khi Từ Hải đã “chết đứng” mà vẫn còn chờ giọt nước mắt của Thúy Kiểu, và không như với Kim Trọng và Thúc Sinh, mà Thúy Kiều đã nhiều lần xác định Từ Hải là chồng, cũng như đã muốn chết theo chồng:

“Mặt nào còn thấy nhau đây,
Thà liều sống thác, một ngày có nhau!
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay! Oan khí tương triền,
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.

... Ngỡ rằng Phu quý, Phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương.

... Giết Chồng mà lại lấy Chồng,
Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời ?

... Thôi thì một thác cho rồi,

Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa giòng Trường Giang.


Trên đây, là những dòng thơ của cụ Nguyễn Du đã viết thật trọn vẹn về mối tình của Từ Hải-Thúy Kiều. Còn bây giờ, là ngày đầu Xuân, nên người viết chỉ nói về ba mối tình của Thúy Kiều, chứ không muốn nói đến những chuyện khác.

Nhưng ở đây, qua bài này, trong hiện tại, người viết chỉ muốn nói đến Tình yêu thương Chồng-vợ: Tình nghĩa Chồng-vợ chỉ thực sự bền chặt mãi mãi, đều luôn luôn được gắn kết với một chữ ĐỒNG:

Đồng tâm, đồng chí hướng, đồng cam cộng khổ... và cuối cùng là đồng tịch, đồng sàng, để đồng cho nhau những dòng mật ngọt, những phút giây hạnh phúc tuyệt vời, để suốt cả cuộc đời đồng tận hiến cho nhau.Và đặc biệt: Trong tình yêu Tổ quốc Ta có nhau.

Pháp quốc,
Mùng một Tết Nhâm Thìn, 2012


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...gayXuanNoiTruyenKieu.htm

Edited by user Friday, February 1, 2013 3:57:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#12 Posted : Sunday, February 3, 2013 11:16:19 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Thương về Nam Quan và Bản Giốc!


UserPostedImage


Xuân về, nhớ Bản Giốc - Nam Quan,
Lệ đắng chia ly mãi ngập tràn.
Ngọn ải mây trôi, in sắc oán,
Đầu ghềnh thác đổ vẳng lời than!
Phi Khanh - Nguyễn Trãi vinh sông núi,
Tầu quỷ - ma Hồ nhục thế gian.
Thác nước còn đây, đâu ải cũ?
Đục ngầu, bọt trắng khóc tường tan!


Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


Họa bài: Xuân về nhớ Nam Quan và Bản Giốc


XUÂN VỀ VỚI QUYẾT TÂM

Xuân về đất nước chẳng vinh quang
Dân chúng khổ đau, máu lệ tràn
Đất tổ nhường dần: thác, ải, đảo
Tài nguyên bán hết: sắt, nhôm, than
Nhân dân yêu nước lâm tù tội
Quốc hội, cộng quyền, làm Việt gian
Năm mới quyết tâm nung chí lớn
Đánh cho Cộng sản phải tiêu tan


BS Phùng văn Hạnh


Họa:


ĐỒNG TÂM!

Tết đến, khơi nguồn nhớ Ải Quan
Giận quân bán nước hận dâng tràn
Tha phương khắc cốt hờn vong quốc
Viễn xứ ghi tâm oán ngất than
Hào kiệt thuở xưa bao chính trực
“Anh hùng” thời đại lắm mưu gian
Nhâm Thìn, thoắt biến trôi năm cũ
Quý Tỵ, đồng tâm, Cộng sản tan!


Dân Nam


SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...ngVeNamQuanVaBanGioc.htm

Edited by user Sunday, February 3, 2013 1:29:56 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#13 Posted : Sunday, February 10, 2013 5:10:04 PM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
UserPostedImage
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#14 Posted : Saturday, February 23, 2013 3:20:03 PM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Ngày Xuân nói truyện Kiều

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Mùa Xuân năm trước, vào dịp Tết Nhâm Thìn, 2012, người viết đã có một bài thứ nhất, cùng tên với tựa đề bài này, và đã viết về “ba mối tình lớn” của Thúy Kiều, cũng như những giọt nước mắt lẫn với nụ cười, và những đòn ghen của Hoạn Thư. Nhưng hôm nay, những ngày cuối cùng của năm cũ sắp qua, để nhường chỗ cho một năm mới: Xuân Quý Tỵ, 2013, lại đến. Một lần nữa, người viết cũng trở lại với truyện Kiều; nhưng lần này, chỉ viết riêng về anh hùng Từ Hải.

Như quý độc giả đã biết, truyện Kiều đã được viết và dịch ra nhiều ngoại ngữ khác nhau bởi các Học giả lớn như: Sử gia-Học giả Trần Trọng Kim và các Học giả như: Bùi Kỷ, Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đăng Thục, Tản Đà vv...

Và, có lẽ quý độc giả đã thấy, hầu hết các Sử gia, Học giả đã viết về truyện Kiều cũng đều xem Từ Hải là anh hùng. Chính vì những điều ấy, nên trước khi viết tiếp, vì là kẻ hậu sinh, nên người viết xin chân thành tạ lỗi các bậc tiền bối, bởi dám viết ngược lại những điều mà các vị đã viết ra từ cả hàng trăm năm trước.

Khi viết về truyện Kiều, thì có lẽ trong chúng ta, ai cũng thấy, không biết tự bao giờ, nhưng người Việt ta thường hay nói: “Không đọc, không biết truyện Kiều, thì không phải là người Việt Nam”. Quả thật, chẳng hề sai, vì dân ta, ngay những người ở thôn quê ít học, nhưng họ cũng đã thuộc lòng những câu thơ Kiều, và đã tự “phổ” ra thành nhiều “bài hát” khác nhau. Họ ru con bằng thơ Kiều, tỏ tình với nhau bằng thơ Kiều, viết thư tình, thề non hẹn biển cũng kèm mấy câu thơ Kiều:


“Một lời đã trót thâm giao
Dưới giày có đất trên cao có Trời.
Dẫu rằng vật đổi sao dời,
Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh”.


Các bà khi ghen theo kiểu Hoạn Thư, cũng biện minh bằng thơ Kiều: “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình... Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Lấy vợ bé như các chàng Thúc Sinh tân thời, lúc “một tỉnh mười mê”, thì cứ “bốc”: “Đường xa chớ ngại Ngô, Lào, Trăm điều hãy cứ trông vào một ta”; nhưng đến khi quá sợ vợ, phải chia tay với người tình, cũng dùng đến “món vũ khí” thơ Kiều: “Tơ duyên ta có ngần này mà thôi...”

Nhưng đó là những chuyện “tân Kim - Kiều” , còn bây giờ, người viết xin trở lại với đề tài chính của bài này, đó là anh hùng Từ Hải; song trước khi “luận anh hùng”, thì bắt buộc người viết phải nói đến những câu thơ trong đoạn đầu của truyện Kiều, đặc biệt là câu thứ 09 - 10 như sau:

“Rằng: năm Gia-Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững-vàng”.


Hai câu thơ trên, đã cho thấy ngay vào thời điểm ấy, là một thời thái bình, thịnh trị, chứ không phải là lúc có giặc giã, chiến tranh.

Như vậy, thì tại sao đang sống giữa cảnh: “Bốn phương phẳng- lặng, hai kinh vững -vàng”, mà Từ Hải lại dấy binh, khởi loạn, và lập nên một “Triều đình riêng một góc trời” và có trong tay với “…muôn binh, ngàn tướng… mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường:

“Triều-đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn-võ, rạch đôi sơn-hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam “.


Với bốn câu thơ này, thì thử hỏi, ngay vào đầu thế kỷ 21, tất cả những quốc gia theo thể chế dân chủ pháp trị ở khắp năm châu trên quả địa cầu này, mà nếu có một “anh hùng Từ Hải” nào đó, dám ngang nhiên khởi loạn “Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam”, để thành lập “Triều-đình riêng một góc trời, Gồm hai văn-võ rạch đôi sơn-hà”, thì có lẽ ai cũng có thể trả lời: dù là ở bất cứ một quốc gia nào ở trên thế giới, cũng đều phải có những biện pháp hữu hiệu nhất, để tiêu trừ ngay lúc mới phát hiện ra những mưu đồ phản loạn từ trong trứng nước, chứ không bao giờ để cho những cái “trứng” này sẽ nở ra thêm tới “mười vạn tinh-binh…”. Nhưng thôi, vì người viết đã “phi lạc “ sang chuyện “kim” mất rồi, nên phải quay trở về với chuyện “cổ” của “năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phặng-lặng hai kinh vững-vàng”; là thời của “trung quân ái quốc” hoặc “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Như thế, mà “Triều Minh” đã quá “nhân đạo” đến mức độ đã để cho Từ Hải ngang nhiên chiêu mộ binh mã có tới “…muôn binh ngàn tướng…Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, thì quả là một vị “thánh đế” như cụ Nguyễn Du đã viết: “Bình-thành công đức… tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu” vậy.

Nhưng Từ Hải có thật là một anh hùng trong mắt, trong tâm tư của mọi người hay không? Thực ra, câu trả lời này, không ở đâu xa, mà đã có, mà cũng của chính cụ Nguyễn Du qua những lời của Thúy Kiều như sau:

“Rằng: Trong Thánh-trạch dồi-dào,
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu,
Bình-thành công-đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao,
Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu,
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng sào?”.


Tám câu thơ trên, là của cụ Nguyễn du đã cho phép Thúy Kiều được nói thẳng ra rằng:

“Thánh trạch” là một ông “vua thánh , thánh đế” - ông vua hiền đức, chứ không phải là hôn quân, bạo chúa.

“Bình-thành công-đức bấy lâu”: “bình thiên thành địa”; là nói đến một nhà vua có công đức lớn; một thời thái bình thịnh trị, người người ấm no, hạnh phúc.

“Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao”, Ai ai, bá tánh đều biết ơn, quá nhiều, không biết bao nhiêu mà kể. Thế nhưng, trong lúc ấy, thì Từ Hải chỉ vì tham vọng riêng, nên đã chiêu binh khởi loạn; “rạch đôi sơn hà - triều đình riêng một góc trời”, mà chính Thúy Kiều đã “luận tội” của Từ Hải:

“Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu”.


Như vậy, Thúy Kiều đã cho biết, kể từ khi Từ Hải chiêu mộ binh mã, khởi loạn, nổi dậy (dấy), thì “Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu!”.

Vô-định, là con sông ở tỉnh Tuy Viễn, Thiểm Tây, Trung quốc, vì đã từng qua những cuộc binh đao giữa người Hán và Hung nô, và thường xuyên bị bồi, lỡ, nên đã được gọi là “Vô- định hà” (sông Không nhất định), mà hai câu thơ của Trần Đào thời Đường đã mô tả:

“Khả lân Vô-định hà biên cốt,
Do thị khuê trung mộng lý nhân”.


Hai câu thơ của Trần Đào, có ý xót thương cho đống xương bên “Vô-định hà biên cốt”, là chỉ những người đã chết trong những cuộc đao binh, ở đây Thúy Kiều đã cho biết kể từ lúc Từ Hải khởi loạn: “Ngẫm từ dấy việc binh đao”, thì “Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu”. Nghĩa là Từ Hải đã giết vô số người giữa thời thái bình, không có chiến tranh, lại còn có một ông vua hiền, công đức “thánh đế”: “Bình thành công đức... ai ai cũng đội trên đầu xiết bao”; bởi vậy, nên “Bốn phương phẳng-lặng hai kinh vững-vàng”. Vì thế, tội của Từ Hải chắc chắn cũng phải chất cao bằng “Đống xương Vô-định!”.

“Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào?”.


Hai câu này, ý của Thúy Kiều nói: giữa lúc thái bình, “Bốn phương phẳng-lặng hai-kinh vững vàng”, thì Từ Hải làm chi, gây chi những cuộc binh đao, khiến cho quá nhiều người phải chết oan uổng, để rồi: “Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng sào?”.

Hoàng Sào là một kẻ cầm đầu cuộc khởi loạn vào cuối đời Đường, kiểu như Từ Hải, cũng xưng Vương, tung hoành một cõi. Nhưng Thúy Kiều chỉ xem Hoàng Sào là thảo khấu, và cũng ví Từ Hải giống như Hoàng Sào, chứ không phải là anh hùng, vì đang sống giữa thời “Bốn phương phặng-lặng, hai kinh vững-vàng” với một vị minh quân: “Rằng: Trong thánh trạch dồi dào, Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu”. Có lẽ vì thế, nên Thúy Kiều đã chê trách những hành vi khởi loạn, như những kiều ly khai, chiếm cứ lãnh thổ của của quốc gia, để rồi: “Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà”. Bởi như vậy, là phải mang trọng tội, là đáng phải chịu những hình phạt cao nhất dành cho những kẻ phạm tội khởi loạn, phản quốc!

Chuyện của anh hùng Từ Hải là như thế; nhưng các “đấng tu mi nam tử” của người Việt chúng ta đã và đang có vô số người luôn tự xem mình là:


“Đường-đường một đấng anh-hào,
Côn-quyền hơn sức, lược-thao gồm tài”.


Hai câu thơ trên, đã mô tả Từ Hải, là một con người Tài giỏi, tam lược lục thao. Nhưng tiếc rằng, Từ Hải đã không đem cái tài thao lược của mình để góp phần bảo vệ biên cương, đất nước, một đất nước đang: “Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững vàng” chứ không có chiến tranh, mà đã “dấy việc binh đao”, để rồi khiến cho “Đống xương vô-định đã cao bằng đầu!”.

“Một đấng anh hào”, chỉ đáng được trân trọng, nếu đem tài sức và cả sinh mạng của mình để đối đầu với quân giặc, kể cả việc đối đầu với một bạo chúa, một triều đình bù nhìn, thối nát, một chế độ phi nhân, để cứu lấy muôn dân, còn những hành vi khởi loạn giữa lúc thái bình, thì chỉ là những kẻ phản loạn, không có một “triều đình” nào dung thứ, và ngay cả các quốc gia dân chủ, tự do trên thế giới ngày nay, thì những kẻ ấy, cũng đều phải bị luật pháp nghiêm minh kết tội “diệt chủng - giết người hàng loạt” với bằng chứng là “Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu!”.

Chính vì thế, nên một sinh mạng của Từ Hải, không làm sao đền bù được với vô số người đã bị Từ Hải giết chết, mà chính cụ Nguyễn Du đã ví bằng “Đống xương Vô-định… trong suốt thời gian “Năm năm hùng cứ một phương hải-tần”.

Từ Hải đầu hàng:

Đọc hết truyện Kiều, người ta đều thấy Từ Hải luôn tự xưng tụng mình là “anh hùng”; nhưng không hề thấy Từ Hải nói đến lòng yêu nước, thương dân. Điều này không lạ; vì nếu yêu nước, thì Từ Hải không dấy binh, khởi loạn, ly khai, chiếm cứ lãnh thổ của triều đình, tức của quốc gia, để làm vua một cõi, để được hưởng thụ riêng mình. Từ Hải cũng không hề thương dân, vì nếu thương dân thì Từ Hải đã không giết chết quá nhiều người đến mức độ “Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu”.

Đến đây, thiết tưởng chúng ta nên hiểu thêm, trong số “muôn binh nghìn tướng” dưới trướng của Từ Hải, nhưng không chắc là họ đã thực sự muốn theo Từ Hải, mà có thể họ là những người đã nằm trong “…năm tòa cõi Nam” đã bị Từ Hải “đạp đổ”; vì thế, nên họ đành phải theo hầu Từ Hải, như Từ Hải đã nói: “Trước cờ ai dám tranh cường”. Và, khi Thúy Kiều nói đến “Đống xương Vô-định…”, mà Từ Hải cũng không hề có một lời, để gọi là tỏ lòng thương xót. Nói tóm lại, là chỉ vì nghe lời của Thúy Kiều nên Từ Hải chấp nhận đầu hàng. Vậy, chúng ta hãy nghe những lời của Thúy Kiều:

“Sao bằng lộc trọng quyền cao?
Công-danh ai dắt lối nào cho qua?
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công, Từ mới trở ra thế hàng”.


Thì ra, Từ Hải chỉ vì nghe nói đến “lộc trọng quyền cao” “công-danh” mà liền đổi “thế công ra thế hàng”, chứ không phải vì muốn đem tài sức của mình để phụng sự quốc dân. Nghĩa là Từ Hải tin là mình sẽ được trọng dụng như một quan lớn nào đó của triều đình, bên cạnh có Thúy Kiều, nên Từ Hải đã quên hết, và đành đoạn bỏ rơi, không cần biết đến cuộc sống và cả sinh mạng của “mười vạn tinh binh” của một thời họ đã tin theo Từ Hải trong suốt thời gian “Năm năm hùng cứ một phương hải-tần”, để chỉ còn có một nàng Kiều cùng với “công danh- lộc trọng quyền cao”. Và đó, là tấm gương dành cho những ai tin theo những lời đường mật của những “lãnh tụ” , để chiêu binh, khởi loạn, ly khai, chiếm cứ lãnh thổ quốc gia, giữa lúc thái bình: “Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững-vàng” với mục đích để được hưởng “lộc trọng quyền cao” chứ chẳng phải vì một lý tưởng cao đẹp nào cả.

Nói tóm lại, Từ Hải khởi loạn
“Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà” trong lúc đất nước thái bình, để đạt mục đích riêng, là một hành vi phản loạn; và khi quyết định đầu hàng, thì cũng vì một mục đích riêng cho bản thân. Ngoài những lẽ ấy, Từ Hải không phải là một kẻ “lược thao gồm tài”. Bởi nếu là một người có đủ mưu trí, thì không bao giờ dại dột mà vội vàng giải giới hết binh mã, chỉ còn trơ trọi có một mình, để rồi phải “chết đứng” về tay của Hồ Tôn Hiến. Và đó là số phận của những kẻ phản loạn. Từ Hải không xứng đáng để được tiếc thương, vì nếu có, thì nên tiếc thương cho những người đã chết dưới tay của Từ Hải, mà chính cụ Nguyễn du đã ví như: “Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu!”

Hồ Tôn Hiến giết chết Từ Hải:

Hồ Tôn Hiến là một quan đại thần, đã phụng mạng của triều đình đi gặp Từ Hải; nhưng không ai biết Hồ Tôn Hiến có được nhà vua ban cho “thượng phương bảo kiếm” để được trọn quyền “tiền trảm hậu tấu” hay không. Nhưng nếu đặt vào địa vị của Hồ Tôn Hiến, thì có lẽ ít có người hành động khác hơn. Bởi vì, giữa lúc “Bốn phương phẳng-lặng, hai kinh vững-vàng” mà Từ Hải không đem tài sức của mình để phụng sự đất nước, mà lại gây nên những cuộc binh đao, giết chết quá nhiều người, khiến cho “Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu”, đã chiếm cứ lãnh thổ, xưng vương, lập nên “Triều đình riêng một góc trời”. Vậy thì thử hỏi, trong lúc đất nước thái bình thịnh trị, mà Từ Hải đã gây nên những cuộc binh biến, kinh thiên, động địa như thế, thì liệu khi về với triều đình, được “lộc trọng quyền cao” rồi, mà nếu có một điều gì bất bình với triều đình, thì Từ Hải có “rạch đôi sơn hà” một lần nữa hay không???

Câu trả lời là: Không ai có thể tin được những kẻ đã từng gây ra những cuộc phản loạn như thế, mà cần phải tiêu trừ tất cả những mầm mống khởi loạn ngay từ trong trứng nước, để tránh những hậu họa cho đất nước, và để không cho “Đống xương Vô-định” được chất cao hơn “bằng đầu” một lần nào nữa!

Thúy Kiều khuyên Từ Hải đầu hàng:

Là người Việt Nam, ít ai không biết, không đọc truyện Kiều. Do đó, ai cũng biết Thúy Kiều với nhan sắc “khuynh quốc khuynh thành” có tài “cầm kỳ thi họa”. Nhưng, Thúy Kiều không có lý tưởng, mà cũng chỉ là “nhi nữ thường tình”. Vì thế, nên Thúy Kiều chỉ thấy những sự gì có lợi trước mắt:

Và một trong những cái lợi trước mắt chính là “của lễ” do Hồ Tôn Hiến đã “dâng tặng” Thúy Kiều:


“Đóng quân làm chước chiêu an,
Ngọc vàng gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
Lại thêm một lễ với nàng,
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân”.


Chỉ chừng ấy thôi, đã cho ta thấy rằng: Thúy Kiều đã không đắn đo, ngần ngại, mà nhận ngay những “của lễ” do Hồ Tôn Hiến “dâng tặng”. Điều ấy, cũng đã cho ta thấy được bản tánh của Thúy Kiều, khi đã nhận hết cả số “Ngọc vàng nghìn cân…”, để rồi chính Thúy Kiều đã “thuyết hàng” Từ Hải, chứ chẳng phải ai khác. Vậy, ta hãy nghe những lời của Thúy Kiều một lần nữa:

“Sao bằng lộc trọng quyền cao?
Công-danh ai dắt lối nào cho qua?
….
Bằng nay chịu tiếng vương-thần,
Thênh-thênh đường cái thanh vân hẹp gì!
….
Cũng ngôi mệnh phụ đường-đường,
Nở-nang mày mặt, rỡ-ràng mẹ cha”.


Sáu câu thơ trên, đã cho thấy, Thúy Kiều trước hết đã nghĩ đến chính mình: “Công danh - lộc trọng quyền cao -Thênh-thênh đường cái thanh vân hẹp gì!… Cũng ngôi mệnh phụ đường-đường, Nở nang mày mặt, rỡ-ràng mẹ cha”. Nghĩa là, trước hết, Thúy Kiều đã nghĩ đến bản thân của mình, cũng như Từ Hải, cả hai đã không hề nhắc đến số phận của “mười vạn tinh binh” đã tin theo Từ Hải trong suốt “Năm năm hùng cứ một phương hải-tần”. Họ đã từng vào sinh ra tử dưới “lá cờ” của Từ Hải “bóng tinh rợp đường”. Thế nhưng, Từ Hải đã vô tâm và tàn nhẫn khi bỏ rơi họ, mặc cho họ có bị tù đày hay phải bị giết chết, chỉ vì sự đầu hàng một cách ngu xuẩn của Từ Hải, để rồi khiến cho họ phải trở thành những hàng binh bi thảm nhất!!!

Thúy Kiều khóc Từ Hải:

Sau khi Từ Hải đã “chết đứng” rồi, mà trước mặt Hồ Tôn Hiến, Thúy Kiều còn kể lể:

“Ngỡ là phu quý phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan- tành thịt xương”.


Qua hai câu thơ này, đã cho thấy thêm, mặc dù Từ Hải đã chết, nhưng Thúy Kiều vẫn khẳng định rằng mình “Ngỡ rằng phu quý phụ vinh”. Nghĩa là lúc nào Thúy Kiều cũng nghĩ đến: “Công danh - Lộc trọng quyền cao - Phu quý phụ vinh” cả.

Và đó, cũng là tấm gương do chính Thi hào Nguyễn Du đã dựng nên, để dành cho tất cả những “đấng tu mi nam tử” rằng: một khi đã chọn những người phụ nữ có nhan sắc, nhưng không có lý tưởng; những phụ nữ này, cũng chẳng khác nàng Kiều, họ chỉ biết nghĩ đến những sự gì có lợi cho riêng họ, để rồi nếu chồng ra làm quan, thì dù có muốn thanh liêm cũng khó, vì các bà vợ loại này luôn sẵn sàng đưa tay ra để nhận những món “vi thiềng”, mà đôi khi có thể nhận luôn “của lễ” của kẻ giặc, như Thúy Kiều đã nhận hết cả số
“gấm vóc, ngọc vàng nghìn cân” do Hồ Tôn Hiến “dâng tặng” vậy.

Và vì chính những lẽ ấy, nên nếu là những người đã quyết liệt dấn thân vào con đường tranh đấu cho lý tưởng cao đẹp, thì cần phải biết, những “mẫu” người phụ nữ này, không bao giờ là một cánh tay đắc lực ở bên cạnh chồng trong những cảnh ngộ bất trắc, nguy nan để vượt qua những thử thách cam go nhất của cuộc chiến hay cuộc đời. Và biết đâu, lỡ có một ngày phải lâm vào cảnh tù đày tới cả chục năm, hay hơn thế nữa, hoặc phải sống trong nghèo khổ, thì những
“nữ nhi thường tình” ấy, sẽ không ngại ngần khi ôm cầm sang thuyền khác!

Tuy nhiên, không phải chỉ có những phụ nữ kém nhan sắc mới có lý tưởng, hay tất cả những người phụ nữ có nhan sắc là đều không có lý tưởng. Nhưng nếu có được một người vợ vừa có nhan sắc lại biết sống cho lý tưởng, thì đó là một ân sủng mà Trời đã ban cho. Song dù có nhan sắc hay không, thì điều đáng được trân quý, là cần có lý tưởng, vì những người phụ nữ ấy, một khi họ đã gặp được một người đồng chí hướng, có cùng một lập trường bất biến, mà họ đã thật lòng yêu thương, và tự nguyện làm vợ, chứ không phải vì một lý do nào khác, thì chắc chắn họ sẽ sống và chết cùng người chồng mà họ đã hết lòng yêu thương và kính trọng. Họ không bao giờ khuyên chồng của mình phải đầu hàng kẻ thù chung. Họ là những người lính cảm tử, “gươm súng” bên chồng. Suốt cả cuộc đời, họ luôn sẵn sàng sống và chết vì lý tưởng cao đẹp:
Họ đặt Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết!

Paris, 8/2/2013
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...ayXuanNoiTruyenKieu2.htm
Elizabeth09  
#15 Posted : Thursday, February 28, 2013 11:50:30 PM(UTC)
Elizabeth09

Rank: Newbie

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 2/28/2013(UTC)
Posts: 1

Nhưng ở đây, qua bài này, trong hiện tại, người viết chỉ muốn nói đến Tình yêu thương Chồng-vợ: Tình nghĩa Chồng-vợ chỉ thực sự bền chặt mãi mãi, đều luôn luôn được gắn kết với một chữ ĐỒNG:


____________________
True Blood Season 1-5 Radio edges closer to its fifth season finale to meet the final result!
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#16 Posted : Monday, April 1, 2013 2:36:21 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Xin đừng quên gia đình nạn nhân Đoàn Văn Vươn !

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

UserPostedImage

UserPostedImage

Dù xây chín bậc phù đồ; Không bằng làm phước cứu cho một người - Cứu người như cứu hỏa - Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ - Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã; Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng. Cổ nhân đã khuyên bảo lớp hậu sinh bằng những lời quý giá ấy. Vì thế, là người Việt Nam, dù đang sống ở bất cứ nơi nào trên quả địa cầu này, thì cũng xin mọi người đừng quên, và xin hãy cùng nhau góp tiếng nói, để cứu lấy một gia đình nạn nhân cô thế của chế độ Cộng sản Hà Nội, vì chỉ còn chưa tới hai ngày nữa, thì đảng Cộng sản Hà Nội sẽ đem cả gia đình của nông dân Đoàn Văn Vươn, là nạn nhân của một lực lượng hùng hậu, trang bị đầy đủ vũ khí, gồm cả chó lẫn người, đã đến đập phá nhà cửa và tài sản của cả gia đình họ giữa ngày đầu Xuân Nhâm Thìn, 2012. Những hành vi bất nhân này, đã khiến cho gia đình của họ phải lâm vào cảnh màn trời, chiếu đất. Chồng cha của họ đã bị đảng Cộng sản Hà Nội bắt bỏ tù, vợ con của họ phải sống trong những cảnh ngộ đau buồn, không thấy mặt nhau trong suốt hai mùa Xuân qua!

Xin đừng nói là “lực lưỡng cưỡng chế” của Hải Phòng, mà phải nói là Lực lượng cưỡng chế của đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi gia đình của họ Đoàn đã bị kết tội “giết người và chống lại người thi hành CÔNG VỤ”. Qua những lời kết tội này, thì chỉ cần hai chữ “CÔNG VỤ”, là đã cho mọi người biết được, “Lực lượng cưỡng chế” đã thi hành theo lệnh của nhà cầm quyền Hà Nội và đảng Cộng sản Việt Nam, vì chỉ có đảng Cộng sản, là đảng cầm quyền tại Việt Nam mới có quyền ra lệnh, chỉ thị cho một lực lượng nào đó trong bộ phận của chế độ phải “thi hành CÔNG VỤ”. Ngoài ra, “Lực lượng cưỡng chế” không bao giờ dám tự ý hành động bất cứ một sự gì, nếu không có lệnh của nhà cầm quyền.

Xin hãy nhớ rằng: Súng đạn và chó “nghiệp vụ” là do chính đảng Cộng sản Hà Nội đã trang bị cho “Lực lượng cưỡng chế”, để “thi hành CÔNG VỤ”. Vì vậy, đảng Cộng sản Hà Nội là CHÍNH PHẠM, khi đã xâm nhập gia cư bất hợp pháp, và đã đập phá hết tất cả nhà cửa, tài sản của gia đình của họ Đoàn. Chẳng những như thế, mà họ còn bị ngồi tù suốt cả năm qua. Những thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần ấy, nếu công lý được thực thi, thì gia đình của họ Đoàn, nhất định phải được bồi thường một cách thỏa đáng.

Những hành vi phạm pháp trước tiên của “Lực lượng cưỡng chế”, là một bộ phận trong đảng Cộng sản Việt Nam, mà qua những hình ảnh trên các hệ thống toàn cầu, đã cho mọi người thấy được những nạn nhân của gia đình của họ Đoàn, anh em của nông dân Đoàn Văn Vươn phải bị ở tù, vợ và con thơ của họ phải sống trong cảnh lạnh lẽo giữa ngày đầu Xuân Nhâm Thìn, 2012. Những hành động này, không bao giờ có ở những nước dân chủ, văn minh trên thế giới. Bởi vì người dân của các nước văn minh đều được luật pháp bảo vệ, cảnh sát không bao giờ được phép xông vào nhà của người dân, nếu họ không phạm tội, không có lệnh của tòa án.

Đã như thế, mà trước cả thế giới, đảng Cộng sản Hà Nội còn kết tội gia đình của họ Đoàn là “giết người và chống lại người thi hành CÔNG VỤ”.

Với cái “tội danh” này, thì tự nó đã chứng minh rằng: Chính đảng Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh đập phá nhà cửa của gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn. Bởi vì, khi nói đến “thi hành CÔNG VỤ” là thi hành theo lệnh của nhà cầm quyền, và nhà cầm quyền Hà Nội đã ra lệnh cho một lực lượng vũ trang hùng hậu, súng đạn đầy đủ, có cả chó “nghiệp vụ” để chỉ tấn công mỗi gia đình của họ Đoàn cô thế. Như thế, mà đã lớn tiếng kết tội, và đưa họ ra tòa, để kết án những nạn nhân của chính chế độ Cộng sản Việt Nam.

Hôm qua, BBC Tiếng việt đã đưa tin:

“Vụ ông Vươn: “Chính quyền sai hoàn toàn”
Cập nhật: 12:03 GMT - thứ bảy, 30 tháng 3, 2013
“Một luật sư khuyến cáo giới chức tòa án Việt Nam xét xử công minh cho phiên xử mà ông mô tả là sẽ đi vào lịch sử.
..........
Trong phiên xử này, nhân dân hy vọng rằng tòa án của Việt Nam, nhà nước công nông Việt Nam, sẽ bảo vệ tốt hơn quyền của nông dân so với tòa án thực dân Pháp hoặc ít nhất là bằng”.
(Luật sư Trần Vũ Hải)

Quả đúng như vậy, vụ án của gia đình của họ Đoàn sẽ đi vào lịch sử. Và lịch sử ấy, sẽ được ghi chép như thế nào, thì tùy thuộc vào phiên xử sắp tới. Có thể lịch sử sẽ ghi rằng: Anh em của nông dân Đoàn Văn Vươn đã được trả tự do ngay tại tòa án, hoặc anh em nạn nhân Đoàn Văn Vươn đã phải ngồi tù tiếp bao nhiêu năm, hoặc sẽ như thế nào nữa… không ai có thể biết trước.

Luật sư Trần Vũ Hải đã mong dù không được tốt hơn, nhưng ít nhất gia đình của họ Đoàn “so với toàn án thực dân Pháp, hoặc ít nhất là bằng”. Nghĩa là, ý của Ls Trần Vũ Hải muốn nói đến Vụ án Đồng Nọc Nạn của thời Pháp thuộc. Vậy, chúng ta hãy ngược thời gian, để nhắc lại vụ án năm xưa:

Đồng Nọc Nạn, là tên một cánh đồng thuộc làng Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Cánh đồng này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọc Nạn. Cánh đồng là nơi diễn ra sự kiện đồng Nọc Nạn, là một vụ tranh chấp đất đai giữa điền chủ và chính quyền địa phương, dẫn đến vụ đụng độ khiến cho nhiều người đã phải thiệt mạng vào năm 1928. Sự kiện này dẫn đến vụ án Nọc Nạn. Sau đó tòa án thực dân Pháp đã xử gia đình người nông dân thắng kiện.

Trở lại vụ án năm xưa ấy, là Vụ án Nọc Nạn (tiếng Pháp: “l’Affaire de Phong Thanh”). Đây là vụ tranh chấp đất đai lớn, xảy ra năm 1928 tại làng Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, (nay là ấp 4, xã Phong Thạnh B, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) giữa một bên là các gia đình nông dân Biện Toại, Mười Chức, và bên kia là giới địa chủ cường hào ác bá và quan chức (thực dân Pháp) cùng tham quan Nam triều. Vụ án gây thiệt mạng nhiều (5 ?) người, trong đó có một quan chức người Pháp, là một ví dụ điển hình của chính sách phân chia và quản lý ruộng đất bất công tại Nam Kỳ, dưới thời Pháp thuộc.

Trong phiên xử này, Luật sư Tricon, một người Pháp đã nhận định nguồn gốc của vụ án là vấn đề điền địa. Ông ca ngợi tinh thần lao động khẩn hoang của gia đình Biện Toại: “Họ phải đấu tranh với thiên nhiên, với bọn cường hào, với cả các thủ tục pháp lý”.

“Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Nhưng không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của trái tim (Non pas de la dictature de la force du mousqueton, mais de la dictature du coeur...)”

Còn công tố viên Moreau đề nghị tòa hãy thận trọng, nhắc lại vụ án Ninh Thạnh Lợi năm 1927. Ông cho rằng vụ này chứng tỏ bất ổn xã hội về đất đai đang gia tăng hết sức nghiêm trọng. Ông nói: “Tình cảnh của gia đình Biện Toại rất đáng thương: bị những kẻ không có trái tim (hommes sans coeur) đến cướp đất, rồi bọn có quyền thế tiếp tay với bọn cường hào”. Rồi ông đề nghị tòa tha bổng Biện Toại.

Trên đây, là một phần của vụ án Đồng Nọc Nạn vào thời Pháp thuộc. Còn ngày nay, đất nước Việt Nam đã và đang Tầu thuộc (Bắc thuộc) hay thuộc đảng Cộng sản Việt Nam. Và sắp tới, tòa án của đảng cộng sản Hà Nội khi xét xử vụ án Tân Đồng Nọc Nạn của gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn, thì các luật sư biện hộ cho gia đình họ Đoàn có được quyền để hoàn thành trách nhiệm của mình như Luật sư Tricon, như Công tố viên Moreau, của tòa án thực dân Pháp? Và, liệu gia đình của nông dân Đoàn Văn Vươn có được xét xử bằng. Chỉ bằng thôi. Bằng cái tòa án của thực dân Pháp hay không?

Lịch sử sẽ ghi chép cả hai vụ án Cựu và Tân Nọc Nạn. Để hậu thế, mãi mãi sẽ còn nhắc nhớ đến cả hai: Tòa án của đảng Cộng sản Việt Nam và tòa án của chế độ thực dân Pháp.

Paris, 31/3/2013
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://hon-viet.co.uk/HanGiangT...nhNanNhanDoanVanVuon.htm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#17 Posted : Thursday, May 9, 2013 4:10:33 PM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Để nhớ lại thời thái bình nền đệ nhất Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo.....
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.....


Video và hình ảnh thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa

UserPostedImage
Saigon July 01, 1961 - Vietnam Pres. Ngo Dinh Diem receiving good wishes at Presidential Palace on 7th anniversary as president
Dinh Độc Lập, 01-7-1961 - Các đoàn thể chúc mừng TT Diệm nhân dịp kỷ niệm 7 năm ngày đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống.

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961
Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội VNCH

UserPostedImage
Saigon 1961
Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon Jul 01, 1961 - Vietnam Pres. Ngo Dinh Diem receiving delegation of Buddhist monks at Presidential Palace on 7th anniv. as president.
TT Diệm tiếp phái đoàn các tu sĩ Phật giáo tại Dinh Độc Lập nhân dịp kỷ niệm 7 năm cầm quyền 1955-1961.

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Thanh Nữ Cộng Hòa 1962

UserPostedImage
Thanh Nữ Cộng Hòa 1962

UserPostedImage
Thanh Nữ Cộng Hòa 1962

UserPostedImage
Thanh Nữ Cộng Hòa 1961

UserPostedImage
Thanh Nữ Cộng Hòa 1961

UserPostedImage
Thanh Nữ Cộng Hòa 1961

UserPostedImage
Saigon 1961 - Photos of Saigon Fifty Years Ago

UserPostedImage
Saigon 1961 - Tu Do Street

UserPostedImage
Saigon 1961 - Tu Do Street

UserPostedImage
Saigon 1961 - Tu Do Street

UserPostedImage
Saigon 1961 - Tu Do Street

UserPostedImage
Saigon 1961 - Tu Do Street

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961 - Le Loi Avenue

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961

UserPostedImage
Saigon 1961 - Bầu cử Tổng Thống (28

UserPostedImage
Saigon 1961 - Bầu cử Tổng Thống (24)

UserPostedImage
Saigon 1961 - Bầu cử Tổng Thống (17)

UserPostedImage
Saigon 1961 - Bầu cử Tổng Thống (16)

UserPostedImage
Saigon 1961 - Bầu cử Tổng Thống (14)

UserPostedImage
Saigon 1961 - Bầu cử Tổng Thống (12)

UserPostedImage
Saigon 1961
South Vietnam Presidential Palace during the First Republic

UserPostedImage
Saigon 1961
TT Diệm dự lễ trong nhà nguyện tại Dinh Độc Lập

UserPostedImage
Saigon 1961 by Howard Sochurek

UserPostedImage
Saigon 1961
trong một nhà máy dệt tại SG

UserPostedImage
Saigon 1961 - South Vietnamese woman checking the machines in a textile mill

UserPostedImage
Saigon 1961
quân trường

UserPostedImage
South Vietnam 1961

UserPostedImage
South Vietnam 1961

UserPostedImage
Saigon 1956

UserPostedImage
BAN ME THUOT - See You Again

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957
TT Diệm

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957
bắt giữ kẻ âm mưu ám sát TT Diệm tại Hội chợ Xuân 1957 tại Ban Mê Thuột

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957

UserPostedImage
Ban Me Thuot 1957
Tới đây, chúng ta hãy tạm chỉ so sánh đường xá miền Nam và riêng tại Sài Gòn, vào những năm 1957 và 1961, với Sài gòn bây giờ, dưới sự cai trị của tập đoàn việt-gian cộng-sản xem sao!

SOURCE : http://hon-viet.co.uk/HinhAnh_T...hatCHMienNamVietNam1.htm

Edited by user Thursday, May 9, 2013 4:13:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#18 Posted : Saturday, November 30, 2013 1:25:09 PM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Lễ Tưởng Niệm 50 năm Tổng Thống Ngô Đình Diệm Vị Quốc Vong Thân

(Ngày 2/11/2013 tại Birmingham, Anh quốc)


Công nghiệp của Tổng thống Ngô Đình Diệm :

Khai sáng Thể chế Cộng Hòa Việt Nam và xây dựng một nước Việt Nam Cộng Hòa với đầy đủ Tam quyền phân lập: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.

Ngày 22-8-1956, dựng cột đá chủ quyền và treo lá cờ Vàng Ba sọc đỏ trên quần đảo Trường Sa. Ngày 22-10-1956, theo Sắc lệnh số 143/NV của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại miền Nam.

Ngày 13-7-1961, theo Sắc lệnh số 174/NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, Ngô Đình Diệm đã đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Và cũng năm 1961, chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân ra thăm viếng đồng bào tại Cù lao Ré (tức Đảo Lý Sơn thuộc quần đảo Hoàng Sa)...

(Diễn giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)


UserPostedImage
Linh mục Phêrô Nguyễn Tiến Đắc

UserPostedImage
Linh mục chủ tế Phêrô Nguyễn Tiến Đắc và Thầy Phó tế Phaolô Lý Trọng Song

UserPostedImage
Ông Nguyễn Đức Chung, người điều khiển chương trình

UserPostedImage
Lễ dâng hương và đọc văn tế trước bàn thờ Tổng Thống Ngô Đình Diệm

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Trưởng Ban Tổ chức, ông Nguyễn Văn Thi

UserPostedImage

UserPostedImage
Diễn giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

UserPostedImage

UserPostedImage
Anh Nguyễn Thế Quang và Đoàn Đức Hạnh

UserPostedImage
Diễn giả Ngô Ngọc Hiếu

UserPostedImage
Liên khúc Việt Nam

UserPostedImage

UserPostedImage

Edited by user Saturday, November 30, 2013 1:30:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#19 Posted : Tuesday, December 31, 2013 4:40:10 PM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
UserPostedImage
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền  
#20 Posted : Wednesday, January 1, 2014 7:40:39 AM(UTC)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Rank: Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 1/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: France

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Xuân Về Trên Đồng Nội

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Mùa Xuân với những cánh đồng ở những vùng Nông Thôn của nước Việt, vốn là nguồn cảm hứng bao đời, đã làm rung động những tâm hồn của các thi nhân, để họ vẽ lên thành những bức tranh với những nét điểm xuyết thật tuyệt vời qua các tác giả của nền văn học Việt Nam từ Thi - Ca, đến những câu đồng dao, ca dao…, dù mộc mạc hay văn chương như Lưu Thủy Hành Vân; nhưng tất cả đã cho hậu thế biết đến cả một kho tàng văn hóa của tiền nhân để lại.

Và trong kho tàng văn chương vĩ đại ấy, thì trước hết, có lẽ trong chúng ta đều đã biết Thi hào Nguyễn Du với những vần thơ Xuân:


Ngày Xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
...
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao giòng nước uốn quanh,
Nhịp cầu nho nhỏ suối ghềnh bắc ngang.


Những phong cảnh hữu tình của mùa Xuân ấy, qua nét bút của Nguyễn Du với những con én liệng “đưa thoi” giữa khung Trời Xuân, còn ở dưới đất của vùng Nông Thôn kia là một vùng “Cỏ non xanh rợn chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Vùng Nông Thôn đó, khi bước dần theo con suối nhỏ “tiểu khê”, dưới giòng nước uốn quanh, là chiếc cầu nho nhỏ được bắc ngang “suối ghềnh”, để cho những trai làng, gái quê, mỗi lần đến đó, sẽ còn in “dấu giày” trên chiếc “cầu Lam” trong một lần đã cùng nhau soi bóng nước:


Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.


Nhưng nếu nói về thơ của Thi hào Nguyễn Du, thì đã có rất nhiều vị đã viết rồi, nên người viết chỉ nói qua về “Ngày Xuân con én đưa thoi” mà thôi. Và bây giờ, xin phải lướt qua những bài thơ Xuân của các thi sĩ khác như Lưu Trọng Lư đã viết về “vùng Giáp Mộ”, “Trong gian nhà cỏ” có cô thôn nữ ngồi quay tơ, có “chàng ngâm thơ” hòa với tiếng oanh vàng ở vườn sau “giục giã” với Xuân về:

Năm vừa rồi
Chàng cùng tôi
Nơi vùng Giáp Mộ
Trong gian nhà cỏ
Tôi quay tơ,
Chàng ngâm thơ
Vườn sau oanh giục giã,
Nhìn ra hoa đua nở
Dừng tay tôi kêu chàng
Này, này ! bạn ! Xuân sang
...


Người thơ Lưu Trọng Lư, đã tả về cảnh “quay tơ”, khiến cho người viết nhớ lại một thưở ấu thơ với hình ảnh của Mẹ ngồi bên khung cửi quay tơ, những lần theo chị ra vườn tập hái những chiếc lá dâu bỏ vào chiếc giỏ, đem về cho Mẹ và chị thái nhỏ, để rắc lên mấy nong tằm, hoặc bỏ nguyên cả lá vào nong, khi những con tằm đã lớn. Hình ảnh này, cũng làm cho người viết nhớ lại những câu ca dao:

Sáng trăng trải chiếu hai hàng,
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.
Quay tơ phải giữ mối tơ,
Dù năm bảy mối, cũng chờ (một) mối anh.


Nông Thôn, là những vùng ở làng quê của nước Việt. Ở đấy, có những cánh đồng lúa mênh mông bát ngát, những nương dâu, vườn tiêu, vườn quế, vườn cau, vườn chè… cùng ngàn cây soi bóng xuống những giòng suối trong xanh, hòa với những tiếng hót của những bầy chim rừng, đã khiến cho biết bao thi nhân hết lời ca tụng; bởi ở đó, tạo hóa đã ban cho những bức tranh thiên nhiên hoàn mỹ, tuyệt vời, mà nhân loại không bao giờ có thể thay thế.

Nguyễn Bính, là một trong những thi nhân tiền chiến, người chỉ yêu Nông Thôn hơn tất cả khi đã viết:


Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với đôi mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều.


Người thơ Nguyễn Bính chỉ muốn giữ lại cái “hương đồng cỏ nội”, là mùi thơm nguyên thủy của hoa cỏ đồng quê, mà một thưở xa xưa, khi chưa có được chiếc gương để soi mặt, thì những nàng Sơn Nữ với chiếc thắt lưng xanh nghiêng mình duyên dáng bên giòng suối, để soi bóng mình, để người nghệ sĩ một sớm tình cờ trông thấy, đã viết thành những bản tình ca, những bài thơ, đã đi vào lòng muôn người, bất tử:

Lối đỏ như son tới xóm dừa,
Ngang đầu đã điểm hạt mưa thưa,
Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá,
Tôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?

Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn,
Xót xa một buổi soi gương cũ,
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

Chẳng đợi mà sao Xuân cứ sang,
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng.
Dáng nay sực tỉnh sầu đô thị,
Tôi đã về đây rất vội vàng.

Ở đây vô số những trời xanh,
Và một con sông chảy rất lành,
Và những tâm hồn nghe rất đẹp,
Cùng chung sống dưới mái nhà tranh.

Sao chẳng về đây múc nước sông,
Tưới cho những luống có hoa trồng?
Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở,
Phô nhụy vàng hây với cánh nhung.

Sao chẳng về đây bắt bướm vàng,
Nhốt vào tay áo, đợi Xuân sang,
Thả ra cho bướm xem hoa nở,
Cánh bướm vờn hoa loạn phấn hương?

Sao chẳng về đây có bạn hiền,
Có hương, có sắc, có thiên nhiên,
Sống vào giản dị, ra tươi sáng,
Tìm thấy cho lòng một cảnh tiên?

...

Sao chẳng về đây, nỡ lạc loài,
Giữa nơi thành thị gió mưa phai.
Chết dần từng nấc, rồi mai mốt,
Chết cả mùa Xuân, chết cả đời?!

Xuân đã sang rồi, em có hay,
Tình Xuân chan chứa, ý Xuân đầy.
Kinh kỳ bụi quá, Xuân không đến,
Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?

(Nguyễn Bính: Sao chẳng về đây)

Mùa Xuân là cả một mùa xanh
Giời (Trời) ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở,
Ðồng nàng và lúa ở đồng quanh.

Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,
Tôi đợi người yêu đến tự tình.
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy,
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

(Nguyễn Bính: Mùa Xuân xanh)


Nông Thôn, với những mái nhà tranh, sóng cỏ xanh, giàn thiên lý, và giọng hát vút cao của cô thôn nữ trên những đồi sim, hay gánh thóc “Dọc bờ sông trắng nắng chanh chang...” trong Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử:

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý bóng Xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi.
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

...

Khách xa gặp lúc mùa Xuân chín,
Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng:
“Chị ấy, năm nay còn gánh thóc,
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang...


Mùa Xuân, với những cành tơ, lá ngọc, nắng và gió của mùa Xuân vờn lên những chùm hoa soan tim tím, hôn lên mái tóc, tô nét đôi mày đẹp thật tự nhiên, không tô vẽ, không phấn son… với ước vọng về một tương lai hứa hẹn sẽ cùng nhau sánh duyên cầm sắt, để trọn đời, là những mùa Xuân tràn đầy hạnh phúc, như “Ta vẫn còn nguyên hiện tại này”. Hãy “nghe” Đinh Hùng với Hy vọng chiều Xuân:

Vì em cho phép buổi giao thân,
Hy vọng ngày xưa đã sắp gần.
Màu tím hoa xoan - ôi hứa hẹn,
Cành tơ, lá ngọc, nắng chiều Xuân.

Em nhớ làm chi hờn giận qua ?!
Hôm nay hội ý, nắng sang nhà.
Xuân kia để lỡ mươi ngày trước,
Đã sắp xa lòng hai chúng ta!

Giấc mộng chiều nao vắng bóng anh,
Mắt em như nắng giãi hoang thành.
Hồng lên má phấn, hoa bừng tỉnh,
Xuân với em vừa lả tóc xanh.

Em hãy cười như thủa mới quen,
Trời xanh trao khóe mắt như thuyền.
Hàm răng hé nửa chiều hy vọng,
Xuân cũng nghiêng vai ước mộng hiền.

Thấp thoáng linh hồn nắng viễn du,
Nắng thơm hôn mái tóc tình cờ.
Chiều vương từng cánh hoa e lệ,
Gió bướm tung màu áo trẻ thơ.

Em hãy nhìn như thủa mới say,
Màu Xuân tô vệt nắng đôi mày.
Rung rung vai nhỏ gầy thương nhớ,
Ta vẫn còn nguyên hiện tại này.

Cành tơ, lá ngọc cũng tương thân,
Hạnh phúc ngày Xuân đã tới gần.
Đầu ngọn cây xoan, con bướm lượn,
Hoa màu hy vọng, nắng chiều Xuân.


Nhưng nếu đa số các thi nhân ca tụng mùa Xuân, thì người thơ Bàng Bá Lân đã ca tụng cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, và suốt cả từ buổi sáng, trưa, chiều, những đêm trăng sáng, những ngày Xuân “lúa chín thơm đưa”, những ngày nắng Hạ, những chiều Thu có “mây vàng êm trôi”, và ngày Đông dưới những cơn mưa, mọi lúc, mọi nơi, tất cả đều đẹp dưới khung trời của những vùng Nông Thôn êm đềm như bài thơ Cồng Làng:

Chiều hôm hóng mát cổng làng,
Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi.
Đồng quê vờn lượn chân trời,
Đường quê quanh quất bao người về thôn,
Ráng hồng lơ lửng mây son,
Mặt trời thức giấc véo von chim chào.
Cổng làng rộng mở ồn ào,
Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai.
Trưa Hè bóng lặng nắng oi,
Mái gà cục cục tìm mồi dắt con.
Cổng làng vài chị gái non,
Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm.
Những khi gió tạnh mưa buồn,
Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn.
Nhưng khi trăng sáng chập chờn,
Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.
Ngày Xuân lúa chín thơm đưa...
Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng.
Mừng Xuân ngày hội cổng làng,
Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ.
Ngày nay dù ở nơi xa,
Nhưng khi về đến cây đa đầu làng,
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng,
Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.


Người dân quê, ở những vùng Nông Thôn, với những tâm hồn nhân hậu, thuần phác. Họ là tác giả vô danh của những câu ca dao, mà xem ra chưa chắc thua kém của các tác giả được gọi là “văn chương bác học”, mà sau đó, đã biến thành những điệu hò, câu hát… Riêng nhạc sĩ Văn Cao đã viết về Bến Xuân một cách thật trọn vẹn và tuyệt vời, qua hình ảnh người thôn nữ đã đến (gặp) ông giữa “Lũ chim rừng hợp đàn trên khắp Bến Xuân”. Ở đó, có từng đôi chim rung cánh, có cành đào khoe sắc trong nắng Xuân, có mây, núi, đồi chập chùng, có hàng tơ liễu hong vàng trong nắng, cho người thơ phải đưa “Hồn mùa ngây nhất trầm hương” để nương theo cánh gió “Dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi”, khiến cho con chim én cũng phải “ghen” với những “lời âu yếm”… Nhưng rồi căn nhà, chiếc cầu cũng phải buồn, phải ngơ ngác khi đã vắng bóng người thôn nữ mà tác giả đã từng hạnh ngộ “bên chiếc cầu soi bóng nước” năm xưa, để “lệ phải rơi trên lá” còn người thì “Lần bước phiêu du về bến cũ” để chỉ còn biết “Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn Bến Xuân:

Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân

từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ú ù u ú
Cành đào hoen nắng chan hoà!
Chim ca thương mến,
Chim ngân xa u ú ù u ú
Hồn mùa ngây ngất trầm vương,
dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân.

Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Ôi cánh buồm nâu còn trên lớp sóng xuân
Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mây thiết tha lưu luyến tình vừa qua

Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác
Em vắng tôi một chiều
Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu
Từng đôi chim trong nắng khe khẽ ru u ú ù u ú
Lệ mùa rơi lá chan hoà!
Chim reo thương nhớ,
Chim ngân xa u ú ù u ú
Hồn mùa ngây ngất về đâu
Người đi theo mưa gió xa muôn trùng
Lần bước phiêu du về bến cũ
Tới đây mây núi đồi chập chùng
Liễu dương tơ tóc vàng trong nắng
Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân


Những mùa Xuân của Thi hào Nguyễn Du, của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Bàng Bá Lân… tất cả đều viết về những phong cảnh đẹp tuyệt vời của thiên nhiên, ở những vùng Nông Thôn, những giòng suối, cánh rừng, tơ liễu rủ, đồng lúa, chim muông… Họ không ca tụng thành thị, vì nơi ấy, chỉ toàn là xi-măng cốt sắt, không thể khiến cho tâm hồn của họ phải rung động, để ca tụng những nhà máy, tòa cao ốc, cần trục, lò nguyên tử được.

Chính vì thế, chỉ có những “đồng chí” Cộng sản, hoặc là cùng “trường phái” Đỏ với Tố Hữu, nên mới dám đem hai chữ Nông Thôn ra để chế nhạo người khác. Những kẻ ấy, đã vô Tri bất Trí, nên không biết rằng: Chính tổ tiên của người Việt đã từng sống bằng nghề lúa nước, trước cả người Tầu và các sắc dân tộc khác tại Châu Á. Họ đã xúc phạm đển chính tổ tiên của nòi giống Việt, đồng thời, họ cũng chế nhạo ngay chính cả tổ tiên, dòng tộc của chính họ nữa!

Trở lại với những kẻ là “đồng chí” Cộng sản hoặc cùng “trường phái” Đỏ với Tố Hữu, ngoài việc đem Nông Thôn ra để chế nhạo người khác, thì họ còn quyết đi theo “dấu chân” của Tố Hữu như một bài thơ Đỏ, đã ca tụng “cô gái Ba Lan”. Xin trích lại một đoạn ngắn trong bài “thơ” ấy như sau:

“Nắng trên cao cần trục xây nhà,
Nắng lưng tàu phất phới đi xa.
Nắng đỏ ngực anh người thủy thủ,
Đẹp như lò Nô-va Hu ta.”


(Cộng sản Tố Hữu: Em ơi, Ba Lan)

Trên đây, là những mùa Xuân qua thi ca của các tác giả nổi danh một thời; nhưng phải trừ ra bài thơ Đỏ của Tố Hữu cũng như những “đồng chí” của ông ta, đã được đảng Cộng sản đưa ra hải ngoại, xâm nhập vào nhiều tổ chức… đặc biệt là lãnh vực tuyền thông, những kẻ này không chống Cộng, mà chỉ để hoạt động tuyên truyền cho Cộng sản một cách tinh vi, theo chỉ thị của Hà Nội!

Và bây giờ, để trở lại với mùa Xuân. Một lần nữa, người viết xin được nói qua về những mùa Xuân trên quê hương cũ, nơi đã lưu dấu bước chân của mình vào một thời thơ ấu, với căn nhà xưa, con ngõ dài lát đá xanh, mà người viết đã hồi tưởng qua bài: Những mùa Xuân qua, hiện vẫn còn lưu giữ trên trang Web Hồn Việt UK online: http://hon-viet.co.uk

Ở nơi ấy, làng Thạnh Bình, một vùng Nông Thôn khác hẳn với những vùng quê khác. Bởi vùng đất này, trước kia không hề có người Kinh, mà chỉ toàn là người Chăm và các dân tộc thiểu số. Nhưng kể từ thời Chúa Nguyễn Hoàng, đã có một số đồng bào từ đất Bắc đã đến đây, họ đi theo phong trào Nam tiến. Và sau khi thấy người Kinh đến lập nghiệp đông đảo, thì đồng bào các sắc tộc thiểu số, họ đã bỏ làng, cùng nhau lên những vùng cao, để sinh sống bằng nghề trổng tỉa trên các nương rẫy. Cho đến sau Hiệp định Genève, 20/7/1954, lại có thêm những đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Ban đầu họ đã dừng chân ở những vùng đất khác tại miền Trung, nhưng sau đó, họ đã đến nơi này lập nghiệp, trong số ấy, có Ông Cố của người viết, Người đã từ đất Bắc mang theo 11 người con, gồm 10 Ông trai và một Bà gái út, đã dừng chân định cư tại đất Quy Nhơn, nhưng sau một chuyến đi xa và đến vùng đất Thạnh Bình, thấy phong cảnh hữu tình, đất đai tươi tốt, nên Ông Nội của người viết, là anh cả, đã trở về Quy Nhơn và dắt theo ba Ông trai và một Bà gái út đến Thạnh Bình để lập nghiệp. Nhưng cho đến bây giờ, thì đại gia đình họ Trần của người viết, trong số đó, có một số đông lớp trẻ tuổi có học vấn cao đã phải xa quê, để làm việc và đã “định cư” ở Sài Gòn, Vũng Tàu… chỉ trừ một số ít còn ở lại đất Quy Nhơn, Đà Nẵng, Quảng Nam. Song dù ở bất cứ nơi đâu, tất cả đều hướng về đất Quy Nhơn, vì nơi ấy, còn có bảy người Ông, là em trai ruột của Ông Nội người viết, dù rằng các Ông Bà đã không còn trên cõi đời này nữa!

Và đó, là một cơ duyên, để người viết được ra đời trên mảnh đất của làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam, để trong những tháng năm trước mười tuổi, người viết đã được sống bên cạnh những đồng lúa xanh tươi, những nương dâu, vườn quế, vườn tiêu, vườn chè, vườn cau… Một vùng Nông Thôn tại miền Trung, nhưng đất cày lên không sỏi đá, trổng tỉa không cần phải gánh nước để tưới như các vùng quê khác; bởi tạo hóa đã ban cho làng Thạnh Bình, một vùng đất quanh năm mưa nắng thuận hòa, đất đai mầu mỡ do phù sa của giòng sông Đá Giăng mang đến. Một con sông của một thời nhỏ dại, mà chính người viết đã được ngâm mình dưới giòng nước mát trong xanh giữa những trưa Hè, dưới ánh nắng vàng, bên những rừng hoa Dã Quỳ rực rỡ mọc chạy dài trên bờ cỏ ven sông.


UserPostedImage
Đá Giăng: giòng sông tuổi nhỏ

Người viết cũng sẽ không bao giờ quên, một thời thơ ấu, với những buổi chiều ngồi trên con ngõ dài lát đá xanh của nhà mình, nhặt những chiếc lá mít màu vàng đỏ, để làm “tiền” mua bán với trẻ con hàng xóm, hoặc nhặt những bông hoa gạo mầu đỏ tươi, đem kết thành vòng tròn mang vào cổ, lúc ấy, dù còn bé, nhưng đã thích hoa gạo, vì đã đọc được bốn câu thơ của Nguyễn Bính:

Anh đã từng đi khắp bốn phương,
Tháng hai anh thấy ở trên đường.
Những hoa gạo đỏ như màu máu,
Như máu của người lính tử thương!


Và cuối cùng, người viết xin gửi về làng cũ, với những dòng chân quê, mộc mạc, xem như một lời cầu chúc đầu Xuân. Xin cho mọi nhà đều được bằng an trong vòng tay của Đấng Tạo Hóa:

Tôi ra đời ở đó,
Tiên Phước trầm cung mơ.
Tôi yêu từng cây cỏ,
Tình quê hiền đơn sơ.

Những ngày Xuân mây tạnh,
Chiều Hè trên nương dâu.
Đồi Thu mùa sim chín,
Đông về dưới đồng sâu.

Bốn mùa cây hoa lá,
Ngõ Đá cài sương mơ.
Ru hồn người đi qua,
Dẫu một lần vẫn nhớ!

Ôi! giòng sông tuổi nhỏ,
Đá Giăng sầu chân ai.
Khi từng in dấu bước,
Trên cỏ mềm sương mai.

Nắng chiều rơi trên cao,
Dưới hiên nhà bên võng.
Bà mẹ quê chất phác,
Ngọt ngào câu ca dao:

“Từ ngày chinh chiến thê lương,
Lệ rơi máu đổ mà thương dân mình!”
Lời ru vang xóm Vườn Đình,
Mênh mông trời bể nặng tình nước non!

Tôi ra đời ở đó,
Tiên Phước trầm cung mơ.
Tôi yêu từng cây cỏ,
Tình quê hiền đơn sơ!


Những lời quê mùa mộc mạc ở trên đây, là tâm tình của đứa con xa quê. Xin gửi theo gió mây, với ước mong sẽ “bay” về một vùng Nông Thôn của làng Thạnh Bình đầy dấu ái nơi chốn cũ, quê xưa, vì người viết không biết đến bao giờ mới trở lại, để được nhìn thấy con Ngõ Đá đầy kỷ niệm của ngày xưa, bên cạnh khu đồi Vườn Đình, với những hàng cây xanh in bóng xuống một giòng suối uốn mình chảy quanh. Suối và rừng muôn đời thủy chung, mà người đời đã gắn liền hai chữ Lâm-Tuyền thơ mộng. Riêng người viết, thì dẫu cho trăm nhớ ngàn thương, song có lẽ người viết cũng chưa thể trở về để thăm lại con Ngõ Đá và giòng sông Đá Giăng của những ngày xưa dấu ái!

UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage
Ngõ Đá nổi tiếng của vùng đất Nông Thôn, làng Thạnh Bình

Xin đa tạ quý vị đồng hương, vì biết người viết chưa thể trở lại quê nhà, nên đã gửi cho những tấm hình của con Ngõ Đá, và giòng sông Đá Giăng của làng xưa, xóm cũ. Xin đa tạ tất cả những thâm tình của những người quê và vùng đất Nông Thôn Thạnh Bình, đã hun đúc nên những người con vốn đã được chào đời ở đó, với tâm hồn biết yêu quê hương đất nước, dù ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào; nhưng tất cả đều mang theo những luyến thương vô bờ bến. Đặc biệt, mỗi mùa Xuân đến, những người con của đất Thạnh Bình ở khắp bốn phương Trời, chắc chắn sẽ cùng sống lại với những kỷ niệm êm đềm, thân ái của một thời xa xưa nơi Cố Lý!

Paris, Mùng một Tết Giáp Ngọ, 2014.
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

SOURCE : http://www.hon-viet.co.uk/HanGi...en_XuanVeTrenDongNoi.htm

Edited by user Sunday, February 2, 2014 1:45:46 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
2 Pages12>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.