Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

39 Pages«<3536373839>
CÁM ƠN ANH ! NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH
coffeebean
#734 Posted : Sunday, May 31, 2015 11:46:46 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 9, San Jose
Chủ Nhật 12 tháng 7 năm 2015

(Nguồn: Gia Đình Nha Kỹ Thuật)






coffeebean
#735 Posted : Monday, June 1, 2015 11:16:58 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)





Người Lính VNCH và Vành Khăn Tang Tổ Quốc
Bài và hình ảnh: Hoàng Nhật Thơ


















Kính thưa qúy Niên trưởng.

Kính thưa quý Huynh trưởng.

Kính thưa quý vị Quân Cán Chính VNCH.


Cuộc chiến Việt Nam trên mặt trận quân sự, thật sự chấm dứt lúc 1:15 trưa ngày 01/05/1975, sau khi Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn,Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Chương Thiện cùng các chiến sĩ dưới quyền bị sa vào tay giặc.

Trước đó một ngày, tức là vào lúc 10:30 sáng ngày 30/04/1975, Tổng Thống* Dương Văn Minh kêu gọi các đơn vị, quân nhân các cấp thuộc QL/VNCH buông súng, sau này cũng có người gọi ông Dương Văn Minh là tổng thống "vi hiến". Trong phạm vi bài viết này, tôi không bàn về hai chữ "vi hiến" hay hợp hiến, mà tôi chỉ nhắc lại giờ phút lịch sử sang trang máu của 35 năm về trước, để cùng chia sẻ niềm đau thương dân tộc và cũng để "Vinh Danh_Tưởng Niệm_Tri Ân" những Người Lính VNCH. Sau lời kêu gọi buông súng của Ông Dương Văn Minh, một số đơn vị trưởng và cấp chỉ huy vì không muốn người dân và thuộc cấp phải đổ máu trong giờ thứ 25, nên đã ra lệnh kéo mảnh vải trắng lên ngọn cờ tại đơn vị, để chấp nhận chấm dứt chiến tranh. Từ ngày đau thương đó đến nay đã 35 năm, mảnh vải trắng đó bị xem là lá cờ đầu hàng. Không, VNCH bị bán đứng chớ Người Lính VNCH không thua ; Miền Nam Việt Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, nhưng Người Lính VNCH không đầu hàng. Người Lính VNCH chẳng những can trường để chiến thắng, mà còn can trường ngay cả trong chiến bại. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã hãnh diện và hiên ngang thay mặt cho toàn thể QL/VNCH chứng minh điều đó. Người Lính VNCH không bao giờ thua hoặc đầu hàng cộng sản. Mảnh vải trắng được Người Lính VNCH trân trọng và nghiêm trang từ từ kéo lên đỉnh ngọn cờ, kèm theo hai dòng lệ nhạt nhòa trong ngày tang thương đó là "VÀNH KHĂN TANG TỔ QUỐC" !

Mùa Xuân đến rồi qua đi, để lại trong lòng người Việt tha hương một nỗi buồn man mác trên con đường viễn xứ ... Tháng Tư lại đến, gợi nhớ trong chúng ta một tháng tư của 35 năm về trước .... Một Tháng Tư mà cả một quân đội hùng mạnh, thiện chiến nhất Đông Nam Á, phải tan hàng vì sự phản bội của đồng minh, một quân đội bách chiến, bách thắng bị trói tay trên bàn cờ chính trị thế giới ; Một Tháng Tư mà cả quê hương Việt Nam, đã bị Cộng sản Bắc Việt nhuộm đỏ bằng máu của Quân Dân Cán Chính VNCH ; Một Tháng Tư mà cả một dãy Giang san Việt Nam hoa gấm bị bọn cộng sản phá tan nát, nhận chìm trong máu và nước mắt của 85 triệu người dân Việt trong suốt 35 năm qua. "THÁNG TƯ ĐEN 1975" ...!!!

Trở ngược dòng lịch sử ... Trong suốt chiều dài của cuộc chiến trên quê hương Việt Nam, Người Lính VNCH đã dâng hiến cả cuộc đời cho Quê Hương, Tổ Quốc ; Người Lính VNCH đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn, để hoàn thành trách nhiệm mà Tổ Quốc đã giao phó : "Bảo Quốc_An Dân".

Chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Người Lính VNCH bước trên những đống gạch vụn đổ nát, trộn lẫn xác đồng đội và giặc thù, dưới từng cơn mưa đạn của địch quân giăng kín cả đất trời, để cắm ngọn cờ chiến thắng trên Cổ thành Quảng Trị vào ngày 16/09/72 ; Hình ảnh của những Người Lính VNCH tiến lên trong lửa khói mịt mờ, trong những trận mưa pháo kinh hoàng của quân thù, máu chảy theo mỗi bước đi, để chiếm lại từng tấc đất của quê hương nói chung, chiếm lại từng căn nhà góc phố cho người dân nơi thị trấn An Lộc nói riêng, vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 .v..v...

Người Lính VNCH gục ngã trên khắp các mặt trận lớn nhỏ, thân xác của họ nát tan trong đạn pháo của quân thù, để cho đất Mẹ được an vui ; Máu của họ tuôn chảy trên khắp các nẻo đường đất nước, thấm vào lòng đất Mẹ để cho ruộng lúa được xanh tươi, hoặc một phần thân thể của họ đã gởi lại trên chiến trường, mục rã theo thời gian. Tất cả sự hy sinh đó là để bảo vệ hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam. Nhưng ... đớn đau thay ! Người Lính VNCH đã bị người bạn đồng minh phản bội và bức tử phải buông tay súng trong ngày 30/04/75. Để rồi bao nhiêu người đã tuẩn tiết chết theo vận nước ; Hằng ngàn người đã bị bọn cộng sản hành quyết ngay sau khi bọn chúng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam ; Hằng trăm ngàn Quân Cán Chính đã bị đưa vào 200 trại tù khổ sai, khắc nghiệt trên hai miền Nam Bắc, nhận lãnh sự trả thù đê tiện và hèn hạ bằng những cực hình tra tấn dã man, độc ác của bọn cộng sản vô thần khát máu. Khoảng một trăm sáu mươi lăm ngàn người (165,000) đã chết trong các trại tù khổ sai. Cho đến ngày hôm nay, còn khoảng sáu mươi lăm ngàn (65,000) Quân Cán Chính VNCH đã chết mất xác vì bị bọn cộng sản thủ tiêu.

Dòng đời lặng lẽ trôi qua thoáng đó đã 35 năm. Dù cát bụi thời gian có chôn vùi tất cả và mọi việc sẽ đi vào lãng quên. Nhưng có những sự việc, những hình ảnh sẽ mãi mãi trường tồn với thời gian, trơ gan cùng tuế nguyệt. Đó là hình ảnh, sức chiến đấu phi thường và sự hy sinh cao cả của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

Chúng tôi, những Người Lính VNCH nhắc lại dĩ vãng, không phải để tiếc nuối một thời quá khứ vàng son, danh vọng. Đời Người Lính VNCH, đầu đội trời quê cha, chân bước đi trên mảnh đất mẹ, đôi vai gầy bé nhỏ gánh vác cả giang san, lưng mang balô trĩu nặng tình yêu thương quê hương, dân tộc, đối diện với cái chết từng giây, từng phút. Đường hành quân trong rừng sâu, núi thẳm, có khi cả tháng không thấy ánh nắng mặt trời, đôi giày trận chưa hề được tháo ra một lần, những buổi cơm gạo sấy, nuốt vội vã dưới cơn mưa tầm tả. Cuộc đời của Người Lính như thế thì đâu có gì là vàng son, danh vọng ... Nếu có danh vọng chăng là chúng tôi hãnh diện và tự hào được khoác vào mình bộ quân phục của QL/VNCH ; Vàng son của Người Lính là đem máu xương để đổi lấy sự thanh bình cho quê hương.

Chúng tôi nhắc lại dĩ vãng, là để cho những thế hệ trẻ sau này hiểu rõ về một quá khứ bi hùng và sự hy sinh của Người Lính VNCH. Nhờ những sự hy sinh đó, mà chúng ta còn được hít thở bầu không khí tự do ngày hôm nay. Chúng tôi cũng muốn cho thế hệ trẻ đang sống trong nước hiểu rõ về tánh nhân bản và chính nghĩa của Người Lính VNCH ; Người Lính VNCH không phục vụ cho bất cứ một đảng phái hay tổ chức nào, Người Lính VNCH đi chiến đấu với một trách nhiệm và một lý tưởng duy nhất "Bảo Quốc_An Dân".

Có một số người thiển cận đã đổ hết trách nhiệm lên Người Lính VNCH về quốc nạn 30/04/1975, cũng có nhiều cấp chỉ huy, lãnh đạo đã đứng ra nhận lãnh trách nhiệm này. Nếu nói như thế thì tội cho Người Lính VNCH quá ! Người Lính VNCH đã làm hết sức của mình.

Người Lính VNCH dù không còn đầy đủ vũ khí, đạn dược và đã bị người bạn đồng minh bỏ rơi, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu trong đơn độc với tỷ lệ một (1) chọi sáu (6), tới giờ thứ 25 của cuộc chiến. Cuối cùng vì quân lệnh, vì kỹ luật của quân đội mà Người Lính đành nghẹn ngào gãy tay súng ! Người Lính đã làm tròn trách nhiệm mà tổ quốc đã giao phó. Một bằng chứng hùng hồn và cụ thể là không có một mảnh đất nào của Miền Nam Việt Nam bị cộng sản chiếm, mà Người Lính VNCH không lấy lại được trong suốt 20 năm chinh chiến.

Nếu Miền Nam Việt Nam chế tạo được vũ khí, đạn dược, chiến đấu cơ, chiến hạm và các phương tiện thiết bị chiến tranh, thì đừng nói chi là bọn Cộng sản Việt Nam, mà trên thế giới này khó tìm ra được một quân đội nào được xem là đối thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong thời chiến, Người Lính VNCH là người chịu nhiều gian nan, cực khổ và hiểm nguy nhất, nhưng họ lại là những người bất hạnh, tang thương nhất sau cuộc chiến.

Những Người Lính VNCH may mắn đến được bến bờ tự do, từ những ngày hổn loạn cuối Tháng Tư Đen, cho đến những chuyến vượt biển kinh hoàng, những chuyến bay ra đi theo diện H.O hoặc chương trình đoàn tụ. Dù họ ra đi bằng phương tiện hay diện nào đi nữa, không phải là họ sợ hoặc trốn chạy cộng sản. Họ ra đi với một lý do duy nhất là "Người Lính VNCH không đội trời chung với cộng sản".

Người Lính VNCH buông súng là để chấm dứt cuộc chiến trên mặt trận quân sự, để chuyển qua một mặt trận mới trong một cuộc chiến mới. Đó là mặt trận chính trị trong cuộc chiến "Nhân Bản", cuộc chiến nhân bản này chỉ có một trận chiến duy nhất, và trận chiến này sẽ là trận thư hùng cuối cùng, chúng ta dùng Lá Cờ Vàng Chính Nghĩa khai tử và bôi xóa vĩnh viễn đảng CSVN trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng và trong dòng lịch sử thế giới nói chung.

Cho đến ngày hôm nay, 35 năm sau cuộc chiến. Người Lính trẻ nhất của QL/VNCH cũng đã trên 50 tuổi. Những cấp chỉ huy, lãnh đạo thì sương tuyết đã phủ trắng mái đầu. Những Người Lính VNCH bây giờ mắt đã yếu, thân thể không còn khỏe mạnh, tráng kiện như ngày xưa. Nhưng ý chí và lý tưởng của họ vẫn không phai sờn theo dòng thời gian nghiệt ngã của tạo hóa. Dù họ đang sống ấm no nơi xứ lạ quê người, nhưng họ vẫn đem những chuỗi ngày còn lại, đóng góp công sức vào công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền Cộng sản Việt Nam, để mang lại sự tự do, hạnh phúc, ấm no cho 85 triệu người dân trong nước và những thế hệ mai sau.

Tất cả những sự hy sinh của Nguời Lính VNCH được trang trọng lưu vào trang sử của Quê Hương, kèm theo bốn chữ mang đầy đủ ý nghĩa nhất "TỔ QUỐC GHI ƠN".

Ba mươi lăm năm (35) chỉ là một thoáng so với thời gian vô cùng tận của tạo hóa, nhưng lại là một chuổi ngày dài đau thương của dân tộc Việt. Ba mươi lăm (35) năm qua, vết thương cũ hầu như chưa một lần khép kín ; Nhưng đau buồn thay ...! Những hình ảnh kinh hoàng, hoang man, sợ hãi chen lấn nhau trong những ngày cuối "Tháng Tư Đen" khi giặc tràn về thành phố ; Những hình ảnh vượt biển cả chống chọi với phong ba bão táp, trực diện với thần chết để đi tìm hai chữ "Tự Do", hầu như đã phai mờ trong lòng của một số người ; Cuộc sống cơm no, áo ấm nơi xứ lạ đã làm cho họ quên ngày đại tang của quê hương ; Cuộc sống vật chất xa hoa nơi đất khách đã phủ lấp đi sự hy sinh cao cả của những Người Lính VNCH. Họ đã thờ ơ, lãnh đạm với sự tan nát của Quê Hương cùng với sự khổ đau, tang tóc của 85 triệu người dân trong nước. Tàn nhẫn hơn nữa là họ đã quay về quỳ mọp bắt tay, hợp tác với giặc, bắt tay và hợp tác với những kẻ đã từng sát hại thân nhân của họ và truy đuổi họ vào con đường chết ......Hỡi ơi ...!!!

Xin đừng vứt bỏ hai chữ "Quốc Hận" bên lề đường viễn xứ. Xin đừng nhẫn tâm đâm thêm một nhát dao vào lưng những Người lính VNCH đang ôm nỗi quốc hờn, lưu vong biệt xứ, hoặc đang lê lết cuộc đời tăm tối, tang thương trên quê hương Việt Nam. Xin đừng phản bội những người đã gục ngã và những người đang nằm trong lao tù vì công cuộc đấu tranh giải thể bạo quyền cộng sản.

Hãy đóng góp công sức, góp một bàn tay cho công cuộc đấu tranh này sớm thành công.

Xin đừng để con đường viễn xứ mỗi ngày mỗi dài thêm.

Trân trọng kính chào.


Tưởng Niệm Quốc Hận lần thứ 35.
Người Lính VNCH
Hoàng Nhật Thơ



* 2 chữ "Tổng Thống" trong bài viết này là nói về giờ phút lịch sử sang trang máu của 35 năm về trước.

coffeebean
#736 Posted : Wednesday, June 3, 2015 11:04:28 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Những đóm lửa Việt Nam Cộng Hòa
đang cháy trong lòng Dân Tộc


30/5/2015 - Nguyễn Thị Hồng









Kẻ sống (vc) như đang chết!
Người chết (VNCH) đã sống dậy!



Ngược dòng lịch sử vào năm 1945, trước khi Nhật rút khỏi VN, người quốc gia nếu không vì hàng rào nhân bản, đạo đức đã ràng buộc tư duy của họ, thì lúc đó HCM đâu có cơ hội để cướp chính quyền tháng 8/1945. Và VN đâu có tang thương như ngày hôm nay.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945 là ngày Vua Bảo Đại Tuyên bố độc lập và giao cho Giáo sư Trần Trọng Kim thành lập chính phủ lấy tên nước là Đế quốc Việt Nam và quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ hình quẻ ly, đó là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa.

Chính phủ Đế quốc Việt Nam được Trần Trọng Kim lập ngày 17 tháng 4 năm 1945 và trình vua Bảo Đại phê chuẩn. Đây là nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất và ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, Với nội các tập hợp được những trí thức có danh tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4.


Nhưng rồi ngày 2 tháng 9 năm 1945 đảng cộng sản Việt Nam thừa lúc chính quyền còn non trẻ đã nổi lên cướp chính quyền ở Miền Bắc và rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 cướp luôn chính quyền ở Miền Nam đưa cả nước xuống hố sâu XHCN. Đảng CSVN cướp chính quyền từ tay một chính phủ quốc gia hợp pháp và đầy nhân bản, họ cố tuyên truyền là chính quyền nầy là tay sai, bán nước... Một trong những người cộng sản như Trần Đĩnh đã còn chút liêm sĩ, công nhận VNCH là một chính quyền yêu nước với tinh thần dân tộc cao độ chứ không phải như đảng cộng sản từng bêu rếu. Trong Đèn cù. II, Trần Đĩnh viết rõ:

Trước ngày 19-8 tổng tư lệnh Nhật vào Huế gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói: ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50.000 quân tinh nhuệ có thể dẹp Việt Minh trong vòng một đêm, Việt Minh có quá lắm là 5.000 người còn súng ống lại càng quá ít.” Nhưng hai ông này từ chối, chính đạo của người Việt quốc gia là như thế, nhân bản luôn ngư trị trong từng trái tim của người Việt quốc gia. Nếu như hai ông nầy không có Việt tính và Việt tình như tên ác ma HCM, thì 5000 tay súng của cộng sản lúc đó sẽ bị hoàn toàn diệt vong và HCM cũng biến mất khỏi đất nước VN.


VIỆT NAM CỘNG HOÀ MỘT CHẾ ĐỘ CHÂN, THIỆN, MỸ.


Mặc dù tồn tại trong khoãng thời gian chỉ có 20 năm (1955-4/1975) nhưng xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 được hình thành tương đối trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng. Còn CHXHCNVN thì coi tham nhũng là một chính sách để cai trị nước. Bước ra đường là đâu đâu cũng thấy nạn tham nhũng nha nhản trước mắt. Trước 1975 người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Các quân đũ mọi cấp bậc nếu đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng, không cần chạy lon chạy chức như bây giờ... Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy một cách công bằng, không cần phải trả tiền mới được chữa cháy... Tệ nạn tham nhũng đả vượt trần nhà.

Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 40 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau nước “CHXHCN” mới có thể đạt được như VNCH trước 1975.

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự với hàng trăm tổ chức chính trị công khai hoạt động trong chế độ đầy nhân bản nầy. Mặc dù VNCH vẩn còn tồn tại một số khuyết điểm, nhưng nhìn chung, trên bình diện tổng thể thì VNCH vẩn là một chế độ hơn hẳn VNDCCH và CHXHCNVN gấp trăm lần.

Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân và Phật giáo Ấn Quang những cánh tay nối dài của đảng csVN.

Trong chiến tranh VN mỗi lần VNCH rút quân là dân bỏ nhà bỏ cửa đi theo, Việt cộng thì thản nhiên pháo kích vào đoàn người di tản, lính VNCH vừa chống giặc vừa bảo vệ dân…

Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam ngày hôm nay cần nhiều thập niên mới có thể theo kịp được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ Vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 40 năm.


CỘNG SẢN CÔNG PHÁ CHÍNH NGHĨA VNCH


Sau khi cướp được miền nam vào ngày 30.4.1975, đảng cộng sản với quyết tâm chôn vùi thân xác VNCH xuống tận đáy mồ. Với mục tiêu đó 800 tờ báo đảng, với hàng vạn quyển sách “giáo khoa”, với hàng ngàn cái loa phường, với một ban tuyên giáo có ngân sách quốc gia khổng lồ suốt 40 năm nay độc quyền nhồi sọ nhân dân cã nước và tận tình bôi lọ chế độ VNCH, nhưng càng bôi lọ thì tác dụng lại trái ngược với ý đảng cs mong muốn. Chính nghĩa VNCH ngày càng rạng rỡ hơn bao giờ hết và vẫn không bao giờ phai mờ trong lòng dân miền Nam.

Mưa dầm thấm đất, đến nay không chỉ nhân dân miền Nam thương tiếc chế độ VNCH mà ngay tại miền Bắc nhân dân Hà Nội đã vực dâỵ VNCH trong thời gian gần đây qua các bộ đồ quân phục của người lính VNCH. Những người thanh niên đã bận quân phục và mang các phù hiệu của VNCH điển hành trên đường Hà Nội, sau đó đã bị công an vc bắt, cho tới giờ phút viết bài nầy, các anh nầy vẩn còn bị công an bắt giam, chưa được thã ra.

Nếu như trước đây, sau 20 năm bám chân đệ tam QT cộng sản, những kẻ ác đã trở thành phe “thắng cuộc” trong ngày 30.4.1975, là một bất công và trớ trêu cho trật tự xã hội và định mệnh của nước VN! Nhưng, tới nay phe “thắng cuộc” đã từ thắng đang tiến về thua cuộc trên từng mặt trận.

Sau ngày 30/4/1975, những biểu tượng liên quan đến chính thể Việt Nam Cộng Hoà đã trở thành nỗi ám ảnh đối với đảng cộng sản. Dù vậy, bất chấp sự trả thù nghiệt ngã của chế độ, nhiều người dân miền Nam vẫn bí mật lưu giữ những kỷ vật hoài niệm về một chính thể Tự do. Và hầu hết phần đông người dân trong nước đều biết rằng, nếu VNCH còn tồn tại đến ngày hôm nay thì :

1 - Ngư dân VNCH không bị bọn Tàu bắn chết, cướp tài sản ngay trên vùng biển của Cha Ông ta.

2 - Đàn bà con gái VNCH không bao giờ “đứng trần truồng” cho bọn đàn ông già bịnh tật Đài Loan, Nam Hàn, Sing lựa như lựa hàng....

3 - Tôi và bạn sẽ đi du lịch ở Hoàng Sa, Trường Sa và ngắm nhìn tàu chiến VNCH vây bắt bọn Tàu kéo về giam lại.

4 - Người dân VNCH mang hộ chiếu ra nước ngoài không bị nhục như bây giờ.

5 - Các cấp lãnh đạo VNCH nếu đi công cán sang nước ngoài thì không bao giờ bị “chui cửa hậu” như bọn Sang, Trọng, Hùng, Dũng. hiện nay.

6. VNCH sẽ đứng đầu Đông Nam Á, vượt cả Singapor và Hàn Quốc như thời kỳ trước năm 1975.

7 - Trong siêu thị của các nước Nam Hàn, Nhật, Thái, Singapor ..không có những tấm bảng thông báo về tình trạng ăn cắp vặt của người VN. Đó là chuyện mà trước 1975 chưa bao giờ xãy ra.

8 - VN sẽ không mang nợ ngập đầu như hôm nay.


Còn nhiều lắm....những điều tốt đẹp mà nước VNCH đã xây dựng được trong thời gian 20 năm, nhìn vào các thành quả đó người ta có thể định mức giá trị của chế độ VNCH với những con người sống chết vì lý tưởng Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm, dù sao chính phủ VNCH cũng vì dân VN mà làm việc còn chính phủ VNcs thì... vì Thiên triều mà làm việc.

Phe thắng cuộc nếu tính đến ngày hôm nay thì từ thắng đã chuyển sang thua. Cái thua rõ rệt nhất là trên FB và các mạng xã hội, phe thua cuộc ngày càng đông hơn, cờ Vàng ngày càng nhiều hơn. Nhân dân trong nước ngày càng thấy rõ được bộ mặt xão trá, bán nước buôn dân của csVN. Chính vì thua nên csVN mới tìm đũ mọi cách để ngăn chặn vào Internet của nhân dân trong nước bằng tường lửa. Ngăn chặn thông tin là một hình thức chiến bại của kẻ phe chiến thắng, đó là nổi lo sợ của những người bá đạo khi biết được mình không có chút nào chính nghĩa trong lòng của người dân VN. VNCH cho dù là kẻ thua cuộc, nhưng: chưa bại..

Thua cuộc nhưng không hề chiến bại
Lời nguyền Như Nguyệt hãy còn soi:
“Sông núi Nước Nam dân Nam ở
Cộng sẽ tan tành chết sạch toi
.”
( trích thơ “Bên thua cuộc” của Phan Huy)


Chính nghĩa của bên thua cuộc ngày càng rạng rỡ hơn, đến đứa nhỏ mới 15 tuổi đầu cũng nhìn thấy được điều nầy. xin mời xem clip Video dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=QkazcuGOHts


VNCH chỉ sống có 20 năm nhưng luôn rạng ngời chính nghĩa với những người một lòng một dạ với tổ quốc và dân tôc như Tổng Thống Ngô Đình Diệm “Nếu tôi tiến, các ông tiến theo tôi. Nếu tôi lùi các cứ ông giết tôi. Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi!” ...

nguồn http://ngodinhdiem.net/0...nhXac1CauNoiLichSu.html).


Việt Nam Cộng Hòa còn có nhũng tấm gương bất khuất và can đảm như Thiếu Tá Nguỵ văn Thà nã đạn vào đầu giặc Tàu, khi chúng đến chiếm Hoàng sa của VN. Không như tên VC Bộ trưởng BQP/ Lê Đức Anh, cấm binh sĩ mình dùng súng cá nhân để chế ngự lính Tàu cộng xâm chiếm đảo Gạc Ma năm 1988. Chỉ được phép lấy thân mình làm bia đở đạn của kẻ thù xâm lược để thành “liệt sĩ anh hùng của QĐND”. Kế đến là tên đại tướng của ngụy quyền Ba Đình Phùng Quang Thanh, bắt chước đàn anh Lê Đức Anh co đầu rút cổ, không dám đối đầu với quân bắc phương khi chúng đến đặt giàn khoan HĐ981 trong vùng biển VN. hèn đến nổi ra lịnh không cho Cảnh Sát Biển bắn súng nước với tàu “Hải Giám” của Tàu Cộng khi bị tấn công. Chính những sự việc như vậy đã làm rạng rở chính nghĩa của chế độ VNCH hơn bao giờ hết. VNCH với những con người chỉ biết trung thành với Tổ Quốc và dân tộc VN không như đám ngụy quyền Hà Nội, lén lút dâng đất, biển, đảo cho kẻ thù để nuôi đảng phản bội lại tổ quốc và dân tộc VN.

Chưa từng thấy một chế độ nào bị đánh bại mà lại được người dân thương tiếc, kính yêu đến vậy. Dù đó là chính phủ Mỹ, vì lợi ích của dân Mỹ mà bỏ rơi đồng minh, dù đó là những người cộng sản vỗ ngực là kẻ “chiến thắng” cũng đều tâm phục khẩu phục VNCH. HCM và đảng cs của y thừa biết VNCH là một chế độ tốt như thế, được lòng dân như thế, mà lại cố tình đánh chiếm miền Nam thì rõ ràng đảng cs là phi nghĩa, là có âm mưu đen tối rồi. Bây giờ, âm mưu đó đã lộ rõ: “dâng nước VN cho Tàu”, như Lê Duẫn đã từng thú nhận.

Tiếc rằng, các cụ như Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đình Diệm v.v, vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, chỉ biết xử sự như một bậc chính nhân quân tử, nên đành thua tên cáo già, vô liêm sỉ như Hồ Chí Minh, một tên Tàu “đúng chuẩn” ! “Bá đạo” cs đã thắng “vương đạo” VNCH. Đó chỉ là cái thắng tạm thời. Lịch sử loài người đã chứng minh rằng sau cùng thì “vương đạo” sẽ thắng “bá đạo”. Hào quang VNCH ngày một tỏa sáng, đóm lửa VNCH đả bắt đầu cháy và sẽ lan rộng ra khắp nơi trong nước. Đó là lý do chế độ cs sẽ bị diệt vong trong tương lai rất gần.

Một khi mà người dân trong nước đã thức tỉnh và biết phân biệt được thế nào là một chế độ chân , thiện, mỹ VNCH, thì đó là thời kỳ tan rã của nhà nước Cộng sản, là chuyện chắc chắn phải xãy ra, đây là thời quá độ của đảng csVN là giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác – Lênin , là học thuyết từng cổ súy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi. Tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam đã không còn cách gì cứu vãn nổi. Bạo lực cách mạng quần chúng sẽ nổ ra và san bằng bất công, thay đổi vận mệnh đất nước, cân bằng xã hội, đưa dân chủ tự do về lại xã hội VN .

coffeebean
#737 Posted : Sunday, June 7, 2015 12:21:59 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Tư Tưởng Chủ Đạo và Bản Sắc Nên Cộng Hoà tại Miền Nam

Nguyễn Quang Duy



Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia với kinh tế tự do, y tế đại chúng, người cày có ruộng, báo chí tự do, tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật, giáo dục phát triển và đặc biệt có một nền dân chủ pháp trị với tam quyền phân lập rõ ràng.

Hệ tư tưởng nào đã giúp một quốc gia vừa giành được độc lập, phải đối đầu với chiến tranh và chỉ trong vòng 20 năm đã xây dựng được nền tảng nói trên?

Triết lý giáo dục tại miền Nam là nhân bản, khai phóng và dân tộc, mà giáo dục là nhằm truyền đạt tư tưởng, bởi thế tổng hợp của ba triết lý chính là tư tưởng chủ đạo và bản sắc Việt Nam Cộng Hòa.


Chủ đạo hay chỉ đạo


Tư tưởng chủ đạo ở một người, một tổ chức, một quốc gia là tư tưởng đã trở thành một căn bản triết lý và đạo đức giúp cá thể đó suy nghĩ độc lập và hành động một cách tự do.

Khi đã thấm nhuần tư tưởng chủ đạo thì con người tự ý thức và nhận trách nhiệm để thực hiện tốt nhất trong hoàn cảnh và khả năng cho phép.

Khác với tư tưởng chỉ đạo hay định hướng thường buộc con người phải đi theo và thực hiện những điều đã được vạch ra.

Thí dụ đảng Cộng sản lấy tư tưởng Mác Lê làm tư tưởng chỉ đạo. Khi tư tưởng này phá sản, thể chế cộng sản thiếu tư tưởng chỉ đạo chỉ bấu víu vào những định hướng do Bộ Chính Trị đưa ra.


Nhân Bản Nền Tảng Xã Hội Đa Nguyên

Nhân bản là lấy con người làm gốc.


Đã nói đến con người là nói đến suy tư. Nói đến suy tư là nói đến sự khác biệt giữa người với người. Hai trẻ sinh đôi lớn lên trong các điều kiện tương tự cũng mang nhiều khác biệt.

Suy tư lại dẫn đến hành động, hành động ảnh hưởng lẫn nhau, ảnh hưởng đến xã hội.

Ở mỗi người thì suy tư và hành động mỗi lúc mỗi khác, lúc đúng lúc sai và ai cũng đều có thể sửa đổi khi có cơ hội được sửa đổi.

Xã hội nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt để đánh giá con người, không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt tư tưởng chính trị, giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc.

Con người nhân bản luôn tìm hiểu, chấp nhận và tôn trọng mọi sự khác biệt để cùng nhau xây dựng một cuộc sống hài hòa trong cộng đồng dân tộc. Nhân bản là cội nguồn của tinh thần đa nguyên.

Ở xã hội nhân bản không ai có quyền lấy người khác làm phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng hay tổ chức nào. Mọi người đều có giá trị như nhau, có quyền và có bổn phận như nhau.

Tinh thần nhân bản nhìn nhận giới lãnh đạo quốc gia cũng dễ mắc phải những sai lầm thậm chí có thể gây ra tội ác. Một thể chế nhân bản là một thể chế đa đảng đối lập, quyền lực của tầng lớp lãnh đạo bị giảm thiểu và được pháp luật chặt chẽ kiểm soát.

Nhằm xây dựng một xã hội nhân bản mọi chiến lược, chính sách, chủ trương, hành động quốc gia đều phải phù hợp với nhân sinh quan về con người, hướng đến mục đích phục vụ con người, quan tâm tới quyền lợi và hạnh phúc của con người.

Đồng thời với nền giáo dục nhân bản, các sinh hoạt tôn giáo, sắc tộc, hướng đạo, văn hóa, nghệ thuật đều được khuyến khích và hỗ trợ một cách công bình không thiên vị. Các sinh hoạt nói trên góp phần không ít trong việc thực hiện xã hội nhân bản tại miền Nam.

Mặc dù chưa phải là một thành viên trong Liên Hiệp Quốc, miền Nam đã nhìn nhận, áp dụng và cổ vũ quyền con người, quyền dân sự được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, gia đình của những người ở phía bên kia vẫn được đối xử một cách công bằng như mọi công dân khác. Họ được luật pháp bảo vệ, được quyền bầu cử, quyền tham gia chính trị, được làm ăn buôn bán, con em họ được đến trường như mọi trẻ em khác tại miền Nam.

Từ năm 1962, chương trình Hồi chánh giúp trên 200 ngàn người ở phía bên kia buông súng quay về tạo dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân tộc.


Khai phóng để bắt kịp các nước tân tiến


Khai phóng là bằng khả năng và trí tuệ hướng đến sự thật, đến điều tốt, điều thiện, đến­­ cái mới cái hay cái đẹp (Chân, Thiện, Mỹ).

Người có tinh thần khai phóng là người có suy nghĩ độc lập không cần sự chỉ đạo của người khác hay dẫn dắt bởi tập thể. Họ dễ dàng thích ứng với mọi môi trường và nhanh chóng đạt được những mục tiêu mới làm giàu cho cuộc sống họ, gia đình và nhân quần xã hội. Họ là những con người tự do.

Người có tinh thần khai phóng không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng sự thật, có tinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới.

Tinh thần khai phóng sản sinh cho xã hội những công dân biết sử dụng quyền tự do của họ một cách có trách nhiệm, biết tiếp nhận tinh thần dân chủ, xây dựng kinh tế, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, giúp cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.

Tinh thần khai phóng trong thể chế cộng hòa tạo sự bình đẳng giữa người với người, sự công bằng cho mọi công dân, và mọi người có đồng đều cơ hội tích cực cạnh tranh trở thành lãnh đạo quốc gia như trở thành Tổng Thống hay dân biểu nghị sĩ.

Nhờ tinh thần khai phóng, miền Nam đã xây dựng một hiến pháp và một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng. Mô hình chính trị là mô hình lưỡng đảng đối lập tranh quyền. Nền Cộng Hòa tại miền Nam có thể được xem là một nền dân chủ hiến định pháp trị tiên tiến vào bậc nhất trong khu vực Á châu thời ấy.


Tinh thần dân tộc giữ gìn bản sắc Việt Nam


Tinh thần dân tộc đề cao các giá trị dân tộc như: độc lập, tự chủ, thuần phong mỹ tục hay chuẩn mực xã hội. Tinh thần dân tộc hình thành và phát triển theo lịch sử xây dựng, bảo vệ đất nước và bảo vệ dân tộc.

Tùy hoàn cảnh tinh thần dân tộc được biểu hiện qua hành động một cách khác nhau. Thời bình, thúc đẩy chúng ta đóng góp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, nâng cao dân trí. Thời chiến giúp đoàn kết cùng nhau đánh đuổi ngoại xâm.

Tinh thần nhân bản và tinh thần khai phóng giúp cho chúng ta cởi mở, cầu tiến, học hỏi điều hay cái đẹp của các dân tộc khác còn tinh thần dân tộc giúp chúng ta giữ gìn bản sắc của người Việt Nam.

Nền Cộng Hòa tại miền Nam tôn trọng các giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, sắc tộc, địa phương và đất nước.

Đồng thời bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Mặt khác bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia.


Kết


30-4-1975 nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã đi vào lịch sử, nhưng bản sắc Việt Nam Cộng Hòa – nhân bản, khai phóng và dân tộc – vẫn được bảo tồn và truyền đạt đến các thế hệ Việt Nam ngày nay.

Một người, một nhóm, một dân tộc thiếu tư tưởng chủ đạo sẽ không biết đang làm gì, sẽ đi về đâu, đi cách nào và làm sao để đạt được mục tiêu tối thượng.

Tổng hợp triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc là tư tưởng chủ đạo hướng dẫn những người miền Nam, nhất là những người cộng hòa tiếp tục con đường tiếp tục đấu tranh cho tự do của người Việt từ Bắc xuống Nam.

Bản sắc Việt Nam Cộng Hòa ngày nay được nhiều người miền Bắc biết đến đặc biệt là giới trẻ những người đang tìm kiếm một con đường thay cho con đường cộng sản đang bị nhân loại đào thải.

Tư tưởng chủ đạo nhân bản, khai phóng và dân tộc đã thích hợp và thành công ở miền Nam Việt Nam, thì cũng sẽ thích hợp với cả hai miền Nam Bắc khi Việt Nam đã có được tự do.


Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
5-6-2015





coffeebean
#738 Posted : Monday, June 8, 2015 1:28:59 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Chân Dung Người Lính VNCH

Phạm Bá Hoa










Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng bằng sông rạch Cửu Long, mời quí bạn lần theo dấu chân để đến, và nhận ra Chân Dung Những Người Lính ấy, sau khi có khái niệm về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn diện trong cuộc “tổng công kích” của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972, thường gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Chớ họ không thể hiểu được những chiến thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội, trung đội, của Bộ Binh, của Địa Phương Quân Nghĩa Quân, trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng của “lực lượng Dân Sự Chiến Đấu”, của “Lực Lượng Đặc Biệt”, của những “Toán Lôi Hổ”, của “Liên Đoàn Biệt Cách Dù”, ..v..v.. trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng gọi là “đường Trường Sơn”, xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.

Họ cũng không thể hiểu chiều sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Đánh nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất Mũi (Cà Mau), là “biển cạn” Tháp Mười. Từng góc phố, căn nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.

Nói chung là người ngoại quốc, cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo chính trị, họ không thể nào hiểu được những chiến thuật trên chiến trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật đó của “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, trong khi 500.000 quân Đồng Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của nó là “chiến tranh tổng thể” trên chiến trường Việt Nam chúng ta, bởi họ không thấu đáo nền văn hoá Việt Nam nên chưa hiểu được Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.


Vậy,“Người Lính Việt Nam Cộng Hòa là ai?


“Họ”, là những nông dân chất phác hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải quanh năm sóng vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những học sinh tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp đại học, là những viên chức cán bộ đam mê đời sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong các ngành nghề tự do.

“Họ”, theo tiếng gọi quốc gia, tình nguyện vào các trường quân sự.

“Họ”, tuân lệnh chánh phủ, trình diện các trường quân sự.

“Họ”, là quân nhân hiện dịch, là quân nhân trừ bị, là quân nhân đồng hoá, là những nữ quân nhân. “Họ”, là những chuyên viên, những chiến binh, những hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh.

“Họ” có mặt trong các quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân trường. Khi tổ quốc lâm nguy,

“Họ” phụng sự tổ quốc, phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương trìu mến là “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, những người lính trong một hệ thống tổ chức chặt chẻ, kỷ luật nghiêm minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Người Lính Việt Nam Cộng Hòa:


Người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở.

Người Lính Lực Lượng Đặc Biệt (Lôi Hổ, Biệt Hải), Biệt Cách Dù, lặn lội vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù.

Người Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống.

Người Lính Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh.

Người Lính Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch.

Người Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh vào.

Người Lính Thủy Quân Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh.

Người Lính Bộ Binh, Người Lính Biệt Động Quân, đánh địch ngay trên bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Đánh địch dọc biên giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Đánh địch trên chót Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười, trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù phú Cửu Long. Đánh địch để giành lại từng góc phố của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng bờ tường của cổ thành Quảng Trị.

Người Lính Pháo Binh, Công Binh, Thiết Giáp, Truyền Tin, yểm trợ Đồng Đội trên khắp chiến trường.

Người Lính Tiếp Vận, Quân Trường, Chiến Tranh Chính Trị, Hành Chánh, Tham Mưu, yểm trợ Đồng Đội từ các hậu phương.

"Người Lính” đó đã miệt mài với chiến trận, và mệt nhoài sau chiến trận. “Họ” đã đánh địch đến giây phút cuối cùng! “Họ”, xứng danh là “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”.





Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình vĩnh cữu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã để lại một phần thân thể góp phần gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục mạ đọa đày. Là những quân nhân có vầng trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước tuổi. Là những người tù chính trị bị cộng sản lưu đày trong các trại tập trung nghiệt ngã trên khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới lên hoa màu, nhưng “Họ” chỉ được ăn những cọng rau do phân và nước tiểu của “Họ” mà vươn lên. Để rồi nhiều người trong số “Họ”, đã chết trong đau thương, đói khổ, nhọc nhằn!





Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, khi rời đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn lại tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa lạ.

Đó, là “chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, mà người phương Tây chưa thể nào nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của lịch sử và văn hoá Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta. Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa. Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại sứ thiết lập trên lãnh thổ mỗi quốc gia. Quân của quốc gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ “xâm lăng” ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả. Những ngôn từ mà cộng sản sử dụng để nói đến cuộc chiến này, đều là những dối trá đánh lừa dư luận quốc nội lẫn quốc tế, ngụy trang mục tiêu chiến lược của họ.

“Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, hình thành “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”. Một quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và từ trong chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh, những anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng cho lịch sử đương đại của tổ quốc, “thành mất chết theo thành”.





Vì vậy:

”Người Lính Việt Nam Cộng Hòa" rất xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ, nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu hùng của dân tộc Việt Nam”.

coffeebean
#739 Posted : Monday, June 8, 2015 11:52:36 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Việt Khang: Bước chân làm thành con đường







Nguyệt Quỳnh (Danlambao) - Nhà văn Lỗ Tấn viết: “mặt đất làm gì có đường, chỉ bước chân đi mãi mà thành đường”. Trong ký ức tuổi thơ của mỗi người, có ai không nhớ những con đường làm bằng bước chân ấy. Con đường đất dẫn đến trường có chỗ lồi, chỗ lõm, có những dây gai lắm lúc mẹ phải dừng lại dắt tay mình bước qua. Và cái đôi chân be bé xinh xinh kia chỉ biết nhảy chân sáo, cái bàn tay bụ bẫm kia với ra hái nụ hoa dại, cái đôi mắt trong veo đó ngó theo những cánh bướm chập chờn. Chỉ khi lớn lên một chút, chúng ta mới biết rằng cái con đường đất đơn sơ đó trước kia là những cánh rừng.

Để rồi khi ta bị ức hiếp, ta bị sỉ nhục, ta biết đau thương,... ta mới chợt nhận ra rằng có những con đường mang trên mình cả một lịch sử máu xương của dân tộc. Khi viết hai bài hát “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Đâu!” là lúc người nhạc sĩ trẻ Việt Khang vừa đặt bước chân của anh trên con đường gian nan này:

Tôi không thể ngồi yên
Khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
Một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
Để đời sau con cháu tôi làm người
Cội nguồn ở đâu?
Khi thế giới này không còn Việt Nam

Anh Là Ai?


Anh tên thật là Võ Minh Trí, Khang là tên đứa con trai nhỏ bốn tuổi của anh. Anh ghép tên con vào tên đất nước và dùng nghệ danh này khi sáng tác hai bài hát trên. Việt Khang sinh ra trong một gia đình nghèo, học phổ thông Trung Học ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Anh yêu thích âm nhạc, sinh sống bằng nghề hoà nhạc và chơi trống trong các ban nhạc ở thành phố nhỏ nơi anh lớn lên. Ban đầu, người ta biết đến anh qua tên thật của anh là nhạc sĩ Minh Trí với hai bài nhạc khá thành công là “Bạn Thân” và “Bà má miền Tây”. Việt Khang yêu mẹ, chúng ta có thể đoán vậy vì anh lớn lên trong gia đình lao động, cha mẹ anh làm ăn lam lũ để nuôi con. Người ta đọc được tình yêu anh dành cho mẹ qua ca khúc “Bà má miền Tây’. Anh có một đời sống yên lành bên vợ con, làm chủ một cơ sở làm ăn nhỏ, với một số nhạc cụ để hòa nhạc và thu âm kiếm sống.

Chuyện Việt Khang bị bắt vì hai bài nhạc anh sáng tác làm người ta chợt nhận ra số phận nghiệt ngã của dân tộc mình. Kẻ cầm quyền đang muốn huỷ diệt ý thức, nhân phẩm con người bằng sự sợ hãi. Trong một chừng mực nào đó họ đã thành công! Để được sống yên lành, nói như Bùi Chát: con người phải tự đánh mất đi ký ức, mất đi tiếng nói bản thân, mất đi những cái thuộc về giá trị để chỉ còn sở hữu duy nhất một điều: Nỗi Sợ. Bùi Chát tự mô tả chính mình trong cái thế giới mà anh và Việt Khang đang sống:

Rồi tôi nhận ra tiếng nói từ bầy súc vật
Mơ hành vi của những con người.

(Rồi, tôi)

Nếu lịch sử được đặt tên, thì sự thờ ơ của con người đang viết lên những trang ô nhục của lịch sử. Chúng ta ở đâu khi bãi Tục Lãm, thác Bản Giốc không còn nằm phía trong những cột mốc của quê hương? Chúng ta ở đâu khi Điếu Cày, Phạm Thanh Nghiên bị bức hại? Hình ảnh một Nguyễn Cao rút ruột trước mặt quân thù là chuyện của một ngày rất xưa. Ngày nay phải biết sợ để được sống còn, Nguyễn Tuân bảo vậy!?

Nhưng Việt Khang không muốn thế, anh muốn đứa trẻ tên Khang bốn tuổi, anh muốn các thế hệ con cháu của anh phải được đứng thẳng làm người. Anh gia nhập Tuổi Trẻ Yêu Nước, một tập hợp gồm những sinh viên, thanh niên, những nghệ sĩ trẻ. Họ xuống đường khi người biểu tình bị vây bắt, bị đạp vào mặt, bị bắt bỏ vào trại giáo dục. Có lẽ đây là giờ khắc Việt Khang nhận rõ những con người đang có mặt trên đoạn đường anh vừa bước vào. Mười bảy thanh niên công giáo, từng người một, bị bắt đi mất tích vào những ngày cuối năm, họ đều trẻ như anh, nhiệt thành yêu nước, nhiệt thành trong các công tác xã hội. Những câu hỏi ray rức của Việt Khang vang lên ở thời điểm này làm nhức nhối trái tim rất nhiều người:

Xin hỏi anh là ai - Sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai - Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay!
Xin hỏi anh là ai - Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này, dân tộc này, đã quá nhiều đắng cay
(Anh Là Ai)


Trước khi bị bắt, Việt Khang đang sống cùng vợ là chị Cao Thị Lan và con trai tại thành phố Mỹ Tho. Trước giáng sinh hai ngày, ngày 23/12/2011 bốn mươi công an đã được điều động tới nhà để bắt công dân Việt Khang. Căn nhà nhỏ của anh bây giờ bỏ trống. Người vợ nhớ thương chồng đã không dám quay về cái tổ ấm của chị, bởi đâu đâu chị cũng nhìn thấy hình ảnh của chồng. Về lại nhà, đứa con trai nhỏ cứ hỏi mãi về anh nên chị đành đem cháu về bên ngoại cho hai mẹ con đỡ hiu quạnh.

Tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước” lại được ghép cho Việt Khang; như đã từng được ghép cho những thanh niên đi làm công tác bảo vệ sự sống, đi cứu trợ đồng bào nghèo khổ. Những con người tha thiết với tha nhân đã bị bắt và đang tiếp tục bị bắt. Cái ác đang lộng hành, nó sẵn sàng đổ ập tai họa xuống đầu bất cứ một công dân bình thường nào, dù họ là những người sống lương thiện và muốn sống tốt lành. Edmond Burke, một chính khách người Anh bảo rằng: “Điều duy nhất giúp cái ác chiến thắng là những người tốt không làm gì cả”.

Việt Khang muốn chấm dứt cái Ác; khi lương tâm con người lên tiếng, họ sẽ nhận được sự hồi đáp. Từ nửa vòng trái đất, bắt đầu bằng câu nói chân thành của nhạc sĩ Trúc Hồ - những người tốt đang hành động. Họ đang có mặt khắp nơi cho Việt Khang, cho những ước mơ của anh. Nhạc sĩ Trúc Hồ bảo: “anh sẽ dùng tất cả những gì anh có được, ngay cả sinh mạng mình để tranh đấu cho sự tự do của Việt Khang”. Nhạc sĩ Trúc Hồ khởi xướng một chiến dịch lấy chữ ký gửi thẳng trực tiếp vào trang mạng của Toà Bạch Ốc. Chiến dịch nhằm vận động tổng thống Hoa Kỳ tạo áp lực để Việt Nam trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm đang bị bắt giữ. Trong vòng ba mươi ngày, nếu con số chữ ký đạt được là hai mươi lăm ngàn, tổng thống Obama sẽ phải đích thân cứu xét và hồi đáp thỉnh nguyện thư. Một điều lạ lùng đã xảy ra: chiến dịch chỉ mới bắt đầu vào lúc 0 giờ ngày 8/2/2012, nhưng chỉ bốn ngày sau đó, đúng vào lúc 5 giờ chiều ngày 11/2/2012 con số cần thiết đã đạt được. Có người gọi đây là thước đo lòng ái quốc của người Việt tị nạn. Riêng tôi, tôi nhìn thấy bước chân nhập dòng của Việt Khang đã nối tiếp làm thành con đường.

Con đường đất ngày xưa khi bạn và tôi đặt đôi chân nhỏ bé của mình đã từng là một cánh rừng. Không ai trong chúng ta đã không từng được bước những bước chân vững chãi tự hào khi vừa chớm có trí khôn. Những gian nan mà Việt Khang và biết bao người khác đang gánh chịu ngày hôm nay nhắc nhở tôi những chặng đường thăng trầm của lịch sử. Và lạ lùng thay, tôi lại nhìn thấy niềm hạnh phúc của riêng anh, niềm hạnh phúc có thể làm rơi nước mắt của bất cứ người Việt Nam nào khi đặt bước chân của mình trên con đường ấy. Việt Khang đã tìm được niềm tự hào mà dân tộc tôi đánh mất từ rất lâu, bước chân của anh đã ném lại đàng sau mọi tủi nhục.

Bạn đã nghe Việt Khang hát chưa? Tiếng hát của anh là tiếng lòng của biết bao người trong bóng tối của nhà giam đêm nay, và tiếng hát ấy đang nối những tấm lòng khắp nơi. Cám ơn Việt Khang, cám ơn nhạc sĩ Trúc Hồ, cám ơn những con người đang góp mặt.

Dân tôi đang cùng Việt Khang đặt bước chân mình trên con đường dẫn tới những ngày vinh quang cho quê mẹ.




coffeebean
#740 Posted : Saturday, June 13, 2015 2:00:27 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


17 tháng 6:
Tưởng Niệm 13 Liệt Sĩ Yên Bái vị quốc vong thân


(Nguồn: tinparis.net, vinhdanhcovang ...)



Noi gương anh hùng dân tộc, ngày 17-06-1930 đảng trưởng VNQDĐ và 12 nhà cách mạng VNQDĐ đã hiên ngang bước lên máy chém thực dân Pháp để đền nợ nước… trước phút rơi đầu họ đều hô to “Việt Nam Muôn Năm”, còn nhà cách mạng Phó Đức Chính đòi nằm ngữa nhìn lưỡi đao phủ rơi xuống. Người cuối cùng Nguyễn Thái Học nhìn đồng bào lần cuối trước khi dõng dạc hô to “Việt Nam muôn năm”….



Lược sử và ý nghĩa ngày tưởng niệm Liệt Sĩ Yên Bái 17-6

1- BỐI CẢNH LỊCH SỬ.

Vào thập niên 1920, thực dân Pháp càng ngày càng đè nặng ách thống trị tàn bạo lên đầu lên cổ người dân Việt từ Bắc chí Nam. Chúng đàn áp dã man, bóc lột tới tận xương tủy, nào sưu cao thuế nặng, nào bắt bớ giam cầm, tù đầy, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước. Các phong trào nổi dậy chống Pháp trước đó bị đàn áp dữ dội. Phong trào Đông du của cụ Phan bội Châu cũng bị dẹp tan. Khắp nơi đâu đâu cũng nghe tiếng oán hờn, nỗi uất hận cao ngút thấu trời xanh.

Trước hoàn cảnh cực kỳ đau thương của dân tộc, máu căm hờn sôi sục khắp nơi, những người trẻ Việt nam không thể cúi đầu khuất phục. Nhà cách mạng Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao Đẳng Thương mại Hà Nội, lúc ấy mới 24 tuổi, đã cùng các thanh niên Việt nam yêu nước khác như: Nhượng Tống, Phạm tuấn Tài, Phạm tuấn Lâm, Hồ văn Mịch, Phó Đức Chính, Nguyễn ngọc Sơn, Lê văn Phúc vân vân… đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, bí mật thành lập một Đảng đấu tranh cách mạng vào ngày 25.12.1927, lấy tên là VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG để chống Pháp, quyết đánh đuổi thực dân giành độc lập, tự do cho dân tộc. Cụ Phan bội Châu được cử làm Chủ tịch Danh dự, Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Tổng Bộ tức Đảng Trưởng.

Ngày 09 tháng 02 năm 1929, nhằm chiều 30 Tết Mậu thìn, tên Giám Đốc mộ phu trùm thực dân Pháp tại Hà Nội là Bazin bị các đảng viên VNQDĐ Nguyễn văn Viên, Nguyễn đức Lung, Nguyễn văn Lân ám sát gây chấn động khắp Đông Dương. Mật thám Pháp lại càng gia tăng khủng bố, trả thù tàn bạo.

2- CUỘC KHỞI NGHĨA YÊN BÁI.

Trước cảnh khổ cực trăm bề của người dân, VNQDĐ quyết định Tổng Khởi Nghĩa vào ngày 10.02.1930. Quân cách mạng đã đồng loạt tấn công vào các cứ điểm quân sự của Pháp: tấn công Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hoá, ném bom trên cầu Long Biên Hà nội, đánh Đáp Cầu, Phả Lại, tấn công đồn binh Pháp tại Kiến An, đánh Phủ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình, xử tử cháu tên đại Việt gian Hoàng cao Khải là Tri Huyện Vĩnh Bảo Hoàng gia Mô, giết chết nhiều sĩ quan và binh lính địch, chiếm nhiều căn cứ của thực dân. Do sự phản công mãnh liệt của quân Pháp, quân khởi nghĩa cuối cùng bị đẩy lui. Nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt vào ngày 20.2.1930 trong đó có nhà cách mạng Nguyễn thái Học. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng cũng tạo tiếng vang khắp nơi và làm rúng động cả chính quốc Pháp.

3- CUỘC HÀNH QUYẾT 13 LIỆT SĨ VNQDĐ TẠI YÊN BÁI NGÀY 17.6.1930
Nhằm tiêu diệt mầm mống cách mạng, đồng thời khủng bố tinh thần những người yêu nước khác, thực dân Pháp đã xử chém 13 đảng viên VNQDĐ tại Yên Bái ngày 17.6.1930 trong đó có anh hùng Nguyễn Thái Học. Sau đây là một đoạn tường thuật cuộc xử chém của tác giả Hoàng văn Đào trong tác phẩm Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò: Yên Bái, một vị trí lịch sử lần thứ hai lại chứng kiến các đảng viên VNQDĐ đền nợ nước. Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái,các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Danh tánh của 13 Liệt sĩ đã lần lượt lên máy chém:

- Bùi tử Toàn
- Bùi văn Chuẩn
- Nguyễn An
- Hồ văn Lạo
- Đào văn Nhít
- Nguyễn văn Du
- Nguyễn đức Thịnh
- Nguyễn văn Tiềm
- Đỗ văn Tứ
- Bùi văn Cửu
- Nguyễn như Liên
- Phó đức Chính, và cuối cùng là
- Nguyễn thái Học.


Tãt cả các Liệt sĩ lên đoạn đầu đài đều hô to: Việt Nam muôn năm.

- Người Nữ Anh hùng Nguyễn thị Giang, một đảng viên VNQDĐ tuẫn tiết theo Đảng Trưởng.

Ngoài ra, kể từ ngày khởi nghĩa Yên Bái thất bại, trên 30 đảng viên VNQDĐ đã bị thực dân Pháp xử chém và hàng ngàn đảng viên khác bị xử án từ chung thân đến lưu đầy biệt xứ.[/i][/color]

4- TIẾP NỐI TINH THẦN LIỆT SĨ YÊN BÁI.

Xử chém được 13 chiến sĩ cách mạng tại Yên Bái, thực dân Pháp tưởng đã đàn áp được tinh thần yêu nước của toàn dân ta. Trái lại, noi gương hy sinh dũng cảm của các bậc tiền nhân, của 13 vị liệt sĩ Yên Bái, toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập, chống độc tài phong kiến và hiện nay, chống lại ách cai trị tàn bạo của tập đoàn cộng sản Hà Nội ...


Văn tế Nguyễn Thái Học

Sào Nam Phan Bội Châu, (1932)

(Các Sinh viên học sinh Huế đã đọc bài văn tế nầy khi làm lể truy điệu các anh hùng liệt sĩ Yên Bái.)


Trời kinh, chớp cháy, nầy Lâm Thao, nầy Yên Bái, nầy Vĩnh Bảo,
khí phục thù hơi thở một tầng mây!
Súng liên thanh vang đất thụt, non reo, nào chủ đồn, nào xếp cẩm, nào quan binh,
ma hút máu người bay theo ngọn gió.

Trách nông nỗi trời còn xoay tít, trước cờ binh sao quay gió cản ngăn;
Tiếc sự cơ ai quá lờ mờ, dưới trướng giặc bấy nhiêu tay len lỏi.
Ma cường quyền đắc thế sinh hùng uy,
Thần công lý bó tay nghe tử tội.

Ôi thôi, mù thảm mây sầu,
Gió cuồng mưa vội;
Cửa quỷ thênh thang!
Đường trời vòi vọi!
Nhân dân chí sĩ, sát thân vào luật dã man;
Nữ kiệt anh hùng, thất thế đang hồi đen rủi.

Trường tuyên án chị chị anh anh cười tủm tỉm,
tức nỗi xuất sư vị tiệp, vai bể non gánh nặng hãy trìu trìu,
Đoạn đầu đài sau sau trước bước ung dung,
gớm gan thị tử như quy, mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói.

Tuy kim cổ hữu hình thì hữu hoại, sóng Bạch Đằng, mây Tam Đảo,
hơi sầu cuộn cuộn bóng rồng thiêng đành ông HỌC xa xuôi,
Nhưng sơn hà còn phách ắt còn linh, voi nàng Triệu, ngựa nàng Trưng,
hình hạc gió, hãy cô GIANG theo đuổi.

Đoàn trẻ chúng tôi nay:
Tiếc nước còn đau,
Nghĩ mình càng tủi!
Nghĩa lớn khôn quên,
Đường xa dặm mỏi!

Giây nô lệ quyết rày mai cắt đứt, anh linh thời ủng hộ,
mở rộng đường công nhẩy, bằng bay;
Bể lao lung đua thế giới vẫy vùng, nhân đạo muốn hoàn toàn,
phải gắng sức rồng dành, cọp chọi,

Đông đủ người năm bộ lớn, đốt hương nồng, pha máu nóng,
hồn thiên thu như sống như còn,
Ước ao trong bấy nhiêu niên, rung chông bạc, múa cờ vàng,
tiếng vạn tuế càng hô càng trỗi.

Tình khôn xiết nói,
Hồn xin chứng cho,
Thượng hưởng!




Ngày Tang Yên Báy

Đằng Phương(Gs Nguyễn ngọc Huy)


Kính tặng hương hồn những liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa Yên Báy


Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Trong bình minh sương lạnh phủ âm thầm.
Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt.
Toan lay tỉnh cả toàn dân nước Việt
.
*
* *
Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than.
Từ lưng trời, sương trắng rủ màn tang.
Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ
Trên Yên Báy âu sầu và lặng lẽ,
Giữa mấy hàng gươm súng tỏa hào quang,
Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang
Thong thả tiến đến trước đài Danh Dự:

Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ,
Vài cụ già đầu bạc lệ ràn rơi
Ngất người sau tiếng rú: Ối con ơi!
Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn
Trên khóe mắt đã từng khinh đau đớn
Của những trang anh kiệt sắp lìa đời,
Nhưng chỉ trong giây phút vẻ tươi cười
Lại xuất hiện trên mặt người quắc thước.
Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước,
Tình thân yêu quyến thuộc phải xem thường,
Éo le thay! muốn phụng sự quê hương
Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến.

Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến.
Sau cái nhìn chào non nước bi ai,
Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài
Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng.

"Việt Nam muôn năm!" Một đầu rơi rụng,
"Việt Nam muôn năm!" Người kế tiến lên.

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc,

Sau Đức Chính, đây là phiên Thái Học,
Anh nghiêng mình trước xác những anh em,
Rồi mĩm cười, Anh ngảnh mặt nhìn xem
Những kẻ đến quan chiêm đoàn liệt sĩ
Để từ biệt những bạn đồng tâm chí.
Tiếng tung hô bổng nổi, vang trời cao,
Nhưng liền theo Anh đã bị xô vào
Chiếc gươm máy giăng tay chào, lặng lẽ.
Đao xuống, đầu rơi, máu đào tung tóe.
Người anh hùng nước Việt thôi còn đâu!

Lũ thực dân giám sát đúng nhìn nhau
Như trút sạch hết những đìều lo ngại
Và xoa tay chúng thở dài khoan khoái,
Trong rừng người ứa lệ, Nguyễn Thị Giang
Nén nỗi đau như cắt xé can tràng
Đứng ngơ ngác lặng người bên Hữu Cảnh.

Trong nắng sớm, gió căm hờn quát mạnh
Như thề cùng những tử sĩ anh linh
Vang dội cùng trên đất Việt điêu linh
Những tiếng thét uy hùng vì giống Việt.
*
* *
Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Như tan trong gió mạnh khóc vang rầm
Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt
Cố lay tỉnh cả toàn dân nước Việt
.
*
* *
Thân anh hùng đã nát dưới ngàn cây
Nhưng tiếng hô còn phảng phất đâu đây,
Mười lăm năm sau ngày sầu Yên Báy,
Toàn thể giống Tiên Rồng cùng đứng dậy,
Cố đuổi loài tham bạo khỏi non sông,
Hơn hai năm đất Việt máu pha hồng
Mà chiến sĩ vẫn một lòng cương quyết
Thề tranh đấu đến khi nào nước Việt
Được hoàn toàn đôc lập mới ngừng tay.

Thế là dòng máu vọt dưới trời mây
Một buổi sáng mười lăm năm về trước
Đã vẽ được cảnh anh hùng nguyện ước.
Đưa non sông ra khỏi chốn u trầm

Cả toàn dân nước Việt đến muôn năm
Vẫn ghi tạc trong tâm ngày hôm ấy,
Ngày hôm ấy, ôi! ngày tang Yên Báy!
*
* *
Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Xé nát màn sương lạnh phủ âm thầm,
Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt
Đã lay tỉnh cả toàn dân nước Việt
.



coffeebean
#741 Posted : Sunday, June 14, 2015 12:24:08 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Văn Tế " Cô Giang "

Phan Bội Châu



Than rằng:
Sóng nhân đạo ở hai mươi thế kỷ, bạn má hồng toan cướp gái làm trai
Gương nữ hùng trên một góc trời Nam, bọn da trắng phải ghê giòng giống Việt.

Trên quốc sử mực chàm giấy phấn, ong cả đoàn nhan nhản bầy nô,
Dưới Long Thành máu thắm cỏ xanh, gái đến thế rành rành chữ liệt.

Trăng thu mờ mịt, trông những buồn tênh! Người ngọc xa vời, nghĩ càng đau tuyệt.

Nhớ nữ liệt sĩ xưa:
Đất nhả tinh hoa
Trời treo băng tuyết.

Vóc quần thoa nhưng chí khí tu mi
Thân khuê các mà can trường khí tiết.

Thuở bé nhờ ơn gia giáo, Hán học vừa thông
Tuổi xanh vào chốn học trường, Pháp văn cũng biết

Tang hải gặp khi xoay cuộc, ngó giang sơn luống những lòng đau
Trần ai tức lôí không người, thâý nô lệ giương đôi tròng ngút.

Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn,
Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết.

Triều cách mạng đang dâng sùng sục, cát Vệ Tinh ngậm đầy trước miệng, mong thấy bể vùi,
Vai quốc dân nặng gánh trìu trìu, đá Oa Hùng dắp sẵn trong tay, nỡ xem trời khuyết.

Tức tội cường quyền
Thi gan sấm sét.

Khi nhập đảng tuổi vừa mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong;
Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết.

Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh;
Vaò sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kìa đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết.

Nguyễn Thái Học trổ tài kiện tướng, nhờ có cô mà lông cánh thêm dài
Phạm thị Hào nổi tiếng trung trinh, em có chị mà xứng danh nữ kiệt.

Khốn nỗi thay!
Vận nước còn truân
Tai trời chửa hết!

Trắc trở buồm xuôi gió ngược, tài anh thư gặp bước gian truân.
Ngại ngùng nước biếc non xanh, tay chức nữ uổng công thêu dệt.

Nhưng hãy còn:
Thiết thạch tâm can,
Châu toàn bách chiết.

Thời như thế, việc đành phải thế, đoạn đầu đài mừng được thấy anh lên.
Sống là còn, thác vẫn là còn, súng kề cổ không nhường cho giặc giết.

Tiếng súng lúc vang lên một phát, núi đổ sông nhào!
Hồn anh thư hẹn phút trùng lai, thần gào quỷ thét

Ôi thương ôi!
Khóc nữa mà chi!
Nói không kể xiết!

Một nén hương lòng,
Mấy lời thống thiết!

Bạn nữ lưu ai nối gót theo chân?
Nghĩa đoàn thể, xin từ đây cố kết!

Hỡi ơi! thương thay!

coffeebean
#742 Posted : Monday, June 15, 2015 12:37:27 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Bóng Tối không nhốt được Ánh Sáng
Bài và Hình ảnh: Nguyệt Quỳnh, 06-11-2015, RFA






Từ trái qua: Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Đức Hòa




Từ màn đêm mênh mông này chúng tôi đứng dậy
Đứng dậy trên cái bóng cô đơn của mẹ VN


(Chúng tôi đưa mặt trời lên quê mẹ - Hương Giang)


Khi thực dân Pháp xử tử 13 chí sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Yên Bái, người Pháp đã rúng động trước sự dũng cảm và tinh thần ái quốc của tuổi trẻ VN. Mười ba người anh hùng trở thành bất tử ngay phút giây tiếng hô “Việt Nam vạn tuế” của họ vang lên dưới lưỡi máy chém của kẻ xâm lược.

Khi CSVN ra lịnh bắt cóc và tống giam một loạt 14 thanh niên yêu nước, dù ngỡ ngàng tôi vẫn nhìn thấy ánh sáng của hy vọng từ những người trẻ này trong cái màn đêm mênh mông của đất nước mình! Chắc chắn con số 14 chỉ là con số chúng ta nhìn thấy được.

Tôi vẫn tin rằng người ta khó có thể giam nhốt được ánh sáng. Quả vậy, từ ấy đến nay nó vẫn toả ra từ song sắt các trại tù, từ thái độ và cách hành xử của các thanh niên ấy, điển hình là các anh Trần Minh Nhật, Trần Hữu Đức, Paulus Lê Sơn v.v…

Việt Nam không khác các thể chế độc tài khác, đã từ lâu khủng bố bao trùm lên tâm trí con người, lên toàn xã hội. Nó được áp giải bởi những bản án phủ xuống đầu những người lương thiện và vô tội. Năm 2013, mười bốn thanh niên ưu tú của đất nước đã phải gánh chịu một bản án được coi là “vụ án lật đổ chính quyền” lớn nhất vào thời điểm đó. Trong bài viết này, tôi đặc biệt muốn nhắc đến ba thanh niên bị lãnh án nặng nhất.

Nguyễn Đặng Minh Mẫn là một thiếu nữ trong ba người ấy. Nếu sự can trường của nàng chủ Thánh Thiên ngày xưa đã khiến cho hào kiệt ba xứ Hải Đông phải tìm về quy phục, thì chúng ta cũng tìm thấy sự can trường ấy ở Nguyễn Đặng Minh Mẫn. Là một thiếu nữ nhỏ nhắn, nhưng cô đã khiến cho quản giáo và bạn tù suốt nhiều dãy phòng của trại giam B34 phải nể phục. Sau 40 năm, nhiều người VN đã quên mất rằng mình đang đứng trên cái di sản bất khuất của lịch sử. Nguyễn Đặng Minh Mẫn không quên điều đó, và chính điều này đã khiến cô trở thành “một người khổng lồ” để những người khác có thể dựa vai. Từ tháng 9/2013 đến nay, biết bao nhiêu lần bị biệt giam vẫn không khuất phục nổi người thiếu nữ nhỏ nhắn, nhu mì, nhưng bất khuất đó.

Học làm nghề thẩm mỹ, nhưng Minh Mẫn còn là một ký giả nhiếp ảnh cổ võ cho công bằng xã hội và nhân quyền. Cô đã đi đến tận những nơi có bất ổn xã hội, hay những cuộc biểu tình chống Trung Cộng để chụp hình đăng tải trên mạng, tạo chú ý cho các sự kiện này. Gia đình tổng cộng có 4 người thì hết cả ba đã bị bắt và bị kết tội với điều 79 bộ luật hình sự “âm mưu lật đổ chính quyền”: bản thân cô, anh trai và người mẹ.




Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm ngày 9/01/2013,
xét xử 14 thanh niên về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân




Thoạt nghe đến vụ án, tôi nghĩ ngay đến hai người phụ nữ VN trong gia đình ấy. Chắc hẳn ngày xưa, trong những câu ru của người mẹ không đơn thuần chỉ có những cánh cò cánh vạc.

Một lần, quản giáo trại giam bắt được hàng chữ Minh Mẫn viết cho mẹ trên cái bo cơm. Biết mẹ đang bị giam trên lầu, và với cái ước mong - một lần nào đó cái bo cơm sẽ mang được nỗi thương nhớ đến mẹ, cô viết : “Bé Ty nhớ má wá” (bé Ty là tên ở nhà của cô). Minh Mẫn bị lệnh biệt giam 15 ngày. Hết hạn, quản giáo buộc cô phải viết đơn xin tha. Minh Mẫn không đồng ý vì cho rằng họ tuỳ tiện bắt giam thì phải tự ý thả, cô nhất quyết không làm đơn xin. Lần lữa đến hết một tháng ròng, quản giáo cuối cùng đành phải thả cô ra.

Án của người thiếu nữ kiên cường này là 8 năm tù giam và ba năm quản chế. Cô hiện đang bị buộc phải lao động cực nhọc tại Trại Số 5, Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Vào ngày 13 tháng 4 vừa qua, theo gia đình cô cho biết Minh Mẫn lại bị kỷ luật, không được nhận thăm nuôi và thăm gặp gia đình. Cô bị biệt giam một lần nữa vì đã phản kháng lại các cán bộ trại giam.


Người thứ hai là anh Phero Hồ Đức Hòa, một người con thuộc Giáo xứ Yên Hòa – hạt Thuận Nghĩa – Giáo phận Vinh. Những ai biết đến Hồ Đức Hoà đều rất mực quý mến và tôn trọng nhân cách của anh. Đó là một người sống cho tha nhân, người hiểu được khổ nạn và hạnh phúc khi vác thập tự trên đôi vai của mình. Là một cử nhân quản trị doanh nghiệp, cử nhân tài chính, kế toán, anh sử dụng thành thạo hai ngoại ngữ Anh, Pháp và là giám đốc công ty chứng khoán Trần Đình.

Ngày Hồ Đức Hoà sống ở Giáo xứ Yên Đại – Giáo hạt Cầu Rầm - Giáo phận Vinh, tệ nạn hút chích tràn lan mà chính quyền sở tại gần như phải bó tay. Anh đã không ngại nguy nan, không màng dị nghị, không phân biệt sang hèn, lao vào giúp đỡ những thanh niên cơ nhỡ cai nghiện. Anh đứng ra tự lực tìm cách đưa các thanh niên này về quê để cách ly họ khỏi môi trường cám dỗ gây tái nghiện. Đặc biệt đối với Trung tâm Khuyết Tật 19-3, anh đã cống hiến hết khả năng, công sức, để gây quỹ xây dựng mới cơ sở, gây quỹ học bổng và quỹ ẩm thực cho các em khuyết tật tại Trung tâm được ăn học như các em khác ở bên ngoài.

Ngay khi còn là sinh viên, Hồ Đức Hoà đã tự nguyện dạy kèm miễn phí cho các em học sinh cấp 2 và cấp 3 ở gần nơi anh trọ học. Vào những kỳ hè, anh đứng ra sắp xếp kêu gọi các anh chị em sinh viên cùng về quê dạy hè. Mục đích là giúp các em học sinh ở quê hệ thống lại kiến thức văn hóa; đồng thời, ôn tập các bài học giáo lý và đạo đức sống với một tinh thần cộng đồng trong sáng và lành mạnh. Anh đã từng tham vấn và trực tiếp hoạt động trong các đề án Andervar cho các vùng nông thôn sâu xa, đặc biệt về các kế hoạch dự án nước sạch. Với tổ chức Hữu nghị Công Giáo Việt Nam -Tây Ban Nha, anh đã tận tụy hỗ trợ nhiều địa phương thực hiện các hệ thống điện-đường-trường-trạm. Anh còn là người đồng sáng lập ra “quỹ phát triển con người” để giúp đỡ các em sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt, và phát xe lăn cho những người bị tật nguyền.

Dù đã gần 40 tuổi, Hồ Đức Hoà vẫn còn độc thân. Khi những em sinh viên hỏi đùa anh về chuyện lập gia đình, anh tâm sự: “Giáo hội và xã hội đang cần anh, sao anh bỏ mà đi lập gia đình được, lập gia đình rồi sẽ khó làm việc hơn đó các em ạ”. Hồ Đức Hoà là một người anh lớn, một tấm gương sáng cho cộng đồng và các thế hệ tương lai. Trong một bài viết về anh, một em ở Trung Tâm Khuyết Tật 19-3 đã viết như sau: “Anh Hòa ơi, chúng em đang cần anh, và trong lúc đợi anh về thì đang nhắc nhau về những tấm gương sáng của anh cho cả nhóm”.

Vào 16 giờ chiều ngày 9/1/2013, toà án Nghệ An đã tuyên án anh và anh Đặng Xuân Diệu hai bản án nặng nhất: 13 năm tù giam và 5 năm quản chế.

Anh Phanxico Xavie Đặng Xuân Diệu là một kỹ sư xây dựng, tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng. Là một giáo dân thuần thành của giáo phận Vinh, Đặng Xuân Diệu còn là thành viên và phó nhóm Bảo Vệ Sự Sống Jean Paul II. Anh đã từng tham gia ký tên chống khai thác bauxite ở Tây Nguyên, biểu tình kêu gọi thả Ts Cù Huy Hà Vũ, biểu tình chống TQ xâm lược… Anh cũng góp sức rất nhiều vào những công tác xã hội như vận động cứu trợ nạn nhân bão lụt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, vận động giúp xe lăn cho những bà con khuyết tật, vận động học bổng cho các em học sinh nghèo…

Tháng 9/2014 gia đình và bạn bè đã bàng hoàng khi nhận được tin do những đấu tranh quyết liệt trong tù, Đặng Xuân Diệu đã bị bạo hành và ngược đãi tàn tệ. Có lúc sợ sức mình không vượt qua được, Đặng Xuân Diệu đã gởi lời trăn trối đến người mẹ già thân yêu đang mòn mỏi đợi chờ!

Theo người bạn tù Trương Minh Tam, điều làm anh khâm phục nhất là ý chí kiên cường đấu tranh vì quyền lợi cho các tù nhân khác của anh Đặng Xuân Diệu. Khi anh Diệu vào buồng giam kỷ luật, tù nhân ở đây không được đánh răng, rửa mặt, … Đi vệ sinh họ không có giấy để lau chùi, toàn bộ chất thải của họ để sát bên cạnh và họ phải sống chung với nó suốt mười ngày. Họ phải hít thở trong một bầu không khí ô nhiễm. Hằng ngày, các cán bộ trại giam đưa thức ăn và chút nước rất bẩn thỉu để họ uống. Bên cạnh đó, tù nhân ở đây cũng không được đọc báo, không được xem tivi, không được thăm gặp gia đình. Khi biết điều này, anh Diệu đã tuyệt thực 10 ngày dù phải ở trong điều kiện khắc khổ của buồng kỷ luật. Anh đã làm đơn yêu cầu trại giam phải huỷ bỏ ngay những biện pháp đối xử với con người không bằng một con vật. Sau đó, trại giam đã chấp nhận ý kiến đề xuất của anh và nới lỏng cho anh em tù trong một số vấn đề như: mỗi ngày anh em được đánh răng và rửa mặt; vào mùa hè khi nóng quá có thể lấy khăn mặt lau qua người và làm như vậy hai lần trong một ngày.

Đặng Xuân Diệu không cho mình là một tù nhân, ngay từ ngày nhập trại anh đã không chịu mặc áo tù. Anh cương quyết đấu tranh cho lẽ phải dù có bị nhục mạ, đánh đập. Những điều anh nhắn với mẹ già qua anh Trương Minh Tam đã tỏ rõ ý chí của anh:

Con xin lỗi Mẹ, là người con út trong nhà, Cha mất sớm, hơn 30 năm nay, Mẹ mang trọng bệnh, gia cảnh thì không có gì, đáng ra con phải chu toàn nghĩa vụ làm con, nhưng Đất nước còn lắm nhiễu nhương, Con đã chọn con đường dấn thân cho Dân Tộc cho Tổ Quốc và bị cầm tù vì đi ngược với quan điểm của nhà cầm quyền. Con tin rằng một ngày không xa nữa con sẽ được về cùng Mẹ, Mẹ cố gắng giữ gìn sức khỏe, chờ tin vui, cầu nguyện cho Con nhiều, Con cũng luôn cầu nguyện cho Mẹ và chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau Mẹ nhé”.


Anh cùng với anh Hồ Đức Hoà bị khép tội là những người cầm đầu. Quả thật, các anh xứng đáng là con chim đầu đàn của thế hệ hôm nay. Sự quyết tâm chấp nhận đớn đau, tủi nhục và thậm chí là mất cả mạng sống để đất nước và các thế hệ tương lai có cơ hội được làm Người. Các anh chính là điều mà lãnh đạo cộng sản e sợ. Họ sợ thứ ánh sáng lan toả từ những thanh niên bất khuất này nên giam nhốt và đày đoạ họ bằng những năm dài tù tội; với chủ đích đánh xập tinh thần bất khuất của cả người trong lẫn người ngoài tù !?

Tuy nhiên tiếp nối họ, người ta nhìn thấy [i]những người trẻ đang góp mặt càng ngày càng đông trong những cuộc xuống đường đòi quyền bảo vệ lãnh thổ, đòi tự do, nhân quyền; bất chấp những đánh đập tàn bạo càng lúc càng gia tăng
. Nhìn Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Chí Tuyến, Đinh Quang Tuyến… chúng ta có quyền tin rằng ngoài kia đang có hàng ngàn những bước chân đồng đội của Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Đức Hoà và Đặng Xuân Diệu.

coffeebean
#743 Posted : Tuesday, June 16, 2015 12:45:03 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Cảm Tạ Miền Nam







Bài thơ sau đây được nhặt từ túi áo một chiến binh miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam những năm 1969. Trong hồi ký của tử sĩ nầy, người ta còn biết anh là con của bà Trần Thị Phấn ở Hải Dương. Bài thơ nầy được đăng trên báo chí VNCH thời đó. Bài thơ không ghi tên tác giả, được một thường dân miền Nam mến thương cảnh ngộ và ghi lại theo trí nhớ:

"Từ buổi con lên đường xa mẹ
Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào trung
Non xanh núi biếc chập chùng
Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ
Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở
Vì hòa bình đâu ngại bước gian nguy
Mấy tháng trời, ngày nghỉ đêm đi
Giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh
Có những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi con nhợt nhớ quê mình
Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ mái đình xưa, ôi nhớ quá!
Vào nơi đây tuy đất người xa lạ
Nhưng miền Nam vẫn cùng một quê hương
Vẫn hàng dừa xanh, vẫn những con đường
Vẫn hương lúa ngọt ngào
Tiếng tiêu gợi nhớ
Con trâu về chuồng
Ðã qua buổi ban đầu bỡ ngỡ
Con nhìn ra nào giải phóng gì đâu?
Buổi chợ đông vui, đồng lúa xanh màu
Mái chùa cong buông hồi chuông tín mộ
Lớp học tưng bừng những đàn trẻ nhỏ
Ðang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca
Và sau vườn luống cải đã vàng hoa
Ðàn bướm nhỏ rủ nhau về hút mật
Xóm dưới làng trên niềm vui ngây ngất
Sao người ta bắt con phải đốt xóm phá làng
Phải gài mìn gieo tang tóc thương đau
Ðã nhiều lần tay con run rẩy
Khi gài mìn để phút sau bỗng thấy
Xác người tung và máu đổ chan hoà
Máu của ai
Máu của bà con ta
Máu của người như con như mẹ
Ðêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về, con trằn trọc thâu canh"



Xin được thắp nén hương thành kính dâng lên hương hồn những người lính và nhân dân hai miền Nam-Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến oan uổng, kinh khủng của dối trá.


Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc viết bài thơ tựa đề “Cảm Tạ Miền Nam” rất cảm động. Ngay bốn câu mớ đầu và rồi trong suốt từng câu thơ chẳng khuôn sáo màu mè, tác giả đã nói lên nỗi xúc đông rất đỗi chân thật, rất đỗi sững sờ ... khi nhận ra một miền Nam tươi đẹp, trù phú, dân tình hiền hoà. Nỗi đau đớn khi biết mình và một nửa đất nước bị lừa gạt, xô đẩy vào cơn hồng thuỷ của chủ thuyết vô lượng đày đoạ người dân xuống tận cùng đói khổ, huỷ diệt nhân cách phẩm giá con người




Cảm Tạ Miền Nam

Đã từ lâu , tôi có điều muốn nói
Với Miền Nam , miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc , xứ ngàn năm văn vật

Tôi còn nhớ sau cái ngày "thống nhất"
Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc

Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nữa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ "ngụy quyền"
Áp bức, đọa đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt

Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẵng biết gì ngoài bác , đảng "kính yêu"
Xã hội sơ khai tẩy não , một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt

Mở miệng ra là : "Nhờ ơn bác đảng"
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên "thiên đường vô sản"

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu

Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền , tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình

Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương , quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ Miền Nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng đã thành nhân




Với bài thơ "Tâm sự một đảng viên" tác giả biểu lộ nỗi cay đắng xót đau vì niềm tìn đã trót trao cho kẻ lường lận, bàng hoàng nhân ra lỗi lầm hổ thẹn với chính mình, với núi sông

Tâm sự một đảng viên

Tôi đã biết mình lầm đường lạc lối
Từ sau cái ngày “giải phóng” Miền Nam
Một mùa xuân tang tóc bảy mươi lăm
Đi giữa Sài Gòn, tôi nghe mình thầm khóc.

Tôi khóc Miền Nam tự do vừa mất
Và khóc cho mình, chua xót đắng cay
Nửa đời người theo đảng đến hôm nay
Tưởng cứu nước đã trở thành tội ác.

Bởi tôi quá tin nghe theo lời bác
Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.

Rằng tại Miền Nam, nguỵ quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng.

Tôi đã xung phong với bầu máu nóng
Đi cứu Miền Nam ruột thịt nghĩa tình
Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu.

Người dân Miền Nam thật là khó hiểu
Nhà khang trang bỏ trống chẳng còn ai
Phố phồn hoa hoang vắng tự bao giờ
Giải phóng đến sao người ta chạy trốn?

Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.

Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Kí gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã giấu vào trong túi xách.

Anh bà con tôi- một ngươi công chức
Nét u buồn cũng cố gượng làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.

Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ.”

Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.



Bài thơ của Sương Biên Thuỳ, cảm khái gởi tặng nhà thơ Phan Huy, tác giả bài thơ "Cảm Tạ Miền Nam"







Cảm ơn bạn đã cảm tạ miền Nam
Từ nửa vòng trái đất tôi thương yêu bạn nhiều lắm
Tôi mừng bạn đã mở mắt, dẫu muộn còn hơn không
Nhưng chuyện nước non có bao giờ là chậm
Chuyện lịch sử không bao giờ tính tháng tính ngày
Lời cảm tạ miền Nam bao giờ cũng mới.

Đã 40 năm, vì còn quá ít người nói lời cảm tạ miền Nam
Nên đất nước hôm nay còn tang thương như thế

40 năm qua, nếu có nhiều người nói lời cảm tạ miền Nam
Sự thể đất nước mình chắc đổi khác.

Cảm tạ miền Nam, tung quả đấm vào mặt bạo quyền
Cảm tạ miền Nam, tung xich xiềng đứng dậy, vùng lên
Cảm tạ miền Nam, phá toang tù ngục trên khắp mọi miền đất nước
Cảm tạ miền Nam, kéo sập những tượng đài của lũ bán nước, tay sai
Cảm tạ miền Nam, xuống đường hàng hàng lớp lớp
Cảm tạ miền Nam, phải tham gia đấu tranh dành lại Tự Do, Dân Chủ, Cơm Ăn, Áo Mặc.

Cảm tạ miền Nam không chỉ là những lời cảm ơn suông
Cảm tạ miền Nam bằng những hành động cụ thể sáng ngời
Hà Nội đã nổi giận, hãy góp vào sức nổi giận của Hà Nội

Công nhân xuống đường đình công biểu tình, cảm tạ miền Nam là phải tuyến đầu xung phong.

Cảm tạ miền Nam là luôn luôn trong tư thế sẵn sàng nhập cuộc.
Dân oan xuống đường, cảm tạ miền Nam sẵn sàng tiếp tế bánh mì
Thanh niên, sinh viên xuống đường, cảm tạ miền Nam sẵn sàng nước uống
Cảm tạ miền Nam thanh, thiếu nữ sẵn sàng những đóa hồng tặng bộ đội, công an
Cho những nắm đấm, dùi cui nhẹ bớt đi trên mặt, thân người tranh đấu.

Thay mặt cảm tạ miền Nam tôi cảm tạ Hà Nội nổi giận làm nên Cách Mạng Xanh
vào mùa xuân qua và những mùa xuân tới
Hãy tới luôn nghe Hà Nội.
Chế độ mới biết sợ, phải cho chúng sợ tới chết luôn.

Thay mặt cảm tạ miền Nam tôi cảm tạ 90.000 công nhân diễn tập xuống đường biểu tình
Cuộc diễn tập bước đầu đã hoàn chỉnh
Hãy chuẩn bị cho những lần chiến đấu sau.
Hãy tới luôn nghe SaiGòn, Bình Dương, An Giang.
Bão đã nổi
Lửa đã cháy
Cuồng phong đã bắt đầu
Nộ khí nhân dân đã cất tiếng thét
Hỡi những bước chân xuống đường
Hỡi những cánh tay đã sẵn sàng tung nắm đấm

Tôi thay mặt người Cảm Ta Miền Nam xin cảm tạ hồn thiêng sông núi
Cảm tạ những hồn Việt Nam bất khuất.

Sương Biên Thùy, 5/4/2015
coffeebean
#744 Posted : Wednesday, June 17, 2015 11:16:28 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


85 năm Ngày Tang Yên Bái:
Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

Trần Trung Đạo



Tưởng Niệm 85 năm Ngày Tang Yên Bái


Vào khoảng thời gian này 85 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết:

- “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”.

Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học:

- “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Trong hồi ký Từ Yên Bái Đến Côn Lôn, Nguyễn Hải Hàm tức Ký Thân, người bị kết án tử hình sau Khởi Nghĩa Yên Bái nhưng sau giảm xuống chung thân nơi Côn Đảo, kể lại lời của vị Linh mục chứng kiến giờ phút cuối cùng của 13 Anh hùng Yên Bái:

Ông Học thật tốt. Ông không hề tỏ ra một cử chỉ hay lời nói nào buồn trách Cha như những người kia. Trái lại ông Học nói chuyện với Cha tự nhiên, bình thản như ngày thường …Quá vui tính…12 anh kia bị chém trước rồi sau mới là anh Học… Anh Học trước khi lên đoạn đầu đài hô lớn câu Việt Nam Vạn Tuế, và khi hô lớn xong đầu cũng lọt vào thùng mạt cưa bên cạnh. Anh nào cũng hô Việt Nam Vạn Tuế, có anh thì hô Việt Nam Muôn Năm… Nhưng đau lòng nhất là có một vài anh chưa hô hết câu đầu đã rơi xuống thùng mạt cưa”.

Mười ba liệt sĩ lên máy chém thực dân sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930: Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, Bùi Tư Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hà Văn Lạo, Ðào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Ðức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Ðỗ Văn Sứ, Bùi Văn Cửu và Nguyễn Như Liên.

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bước lên máy chém. Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN. Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học chỉ mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau. Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

coffeebean
#745 Posted : Friday, June 19, 2015 12:59:00 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Viết Cho Ngày Quân Lực 19/6

Người Lính Lê Văn Hải







Viết Cho Một Quân Lực Bất Hạnh Nhất Trong Lịch Sử!

Có những thứ hòa bình còn tồi tệ, kinh tởm gấp trăm lần chiến tranh! Buồn thay kẻ ác đã thắng cuộc!”






Thống Tướng Westmoreland xin lỗi các Cựu Quân Nhân QLVNCH




"Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đồng minh của chúng ta."

"Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn Cựu Quân Nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn!"

(On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.)


General William C. Westmoreland



VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6:
NÀY BAO HÙNG BINH TIẾN LÊN !

Người Lính Lê Văn Hải







Qua gần nửa thế kỷ, con số đúng nhất là đã 38 năm bền bỉ, vào mỗi tháng 6 Dương Lịch, đúng Ngày 19 Tháng 6, tại khắp các quốc gia trên thế giới, nơi nào có người Việt tỵ nạn, trong tinh thần tri ân, cảm mến những người đã hy sinh xương máu bảo vệ quê hương, nơi đó đều có tổ chức những buổi lễ trọng thể nhằm tưởng niệm vinh danh những Người Lính Việt Nam Cộng Hoà.

Trong dịp này, ngoài những buổi lễ có hình thức kỷ niệm, văn nghệ, hay diễn hành trang trọng, nhắc nhở cho mọi người nhớ lại những hình ảnh của người lính thân yêu của miền nam Việt Nam trước năm 1975. Các cơ quan truyền thông Việt, Mỹ khắp nơi cũng trình bày nhiều tài liệu lịch sử, nhận định về một quân lực, đánh giá cao về sự can trường của những người lính và những khó khăn mà một quân đội phải đảm đương, phải vượt qua suốt trên hai mươi năm dài, qua hai nền Cộng Hoà trẻ trung, cuối cùng bị ... đồng minh bội phản bức tử đau thương, hờn tủi !

Riêng những nhà nghiên cứu về lịch sử, quân sử qua thời gian dài lắng đọng, nhận định đúng sai về cuộc chiến Việt Nam đều đồng ý rằng: Trong lịch sử thế giới thế kỷ gần đây, chưa có một quân đội nào phải gánh chịu nhiều đau thương, nghiệt ngã, tủi nhục như quân đội VNCH. Một quân lực có lúc được coi như hùng mạnh nhất miền Đông Nam Á, quân số lên đến cả triệu. Quân đội đó đã từng chiến đấu anh dũng, hiên ngang đối mặt với kẻ thù Cộng Sản trên khắp các mặt trận, đã từng chiến thắng vinh quang, đã từng gây cho kẻ thù những tổn thất kinh hoàng, nặng nề trên khắp vùng lãnh thổ. Giữ từng tấc đất quê hương, chưa bao giờ “hèn với giặc, ác với dân,” không hề dâng cúng, sang nhượng một tấc đất nào của tổ tiên cho bất cứ thế lực ngoại bang nào, hiên ngang bảo vệ quê hương kéo dài trên hai thập niên. Vậy mà chỉ có một sớm một chiều, quân đội hùng dũng ấy lại bị tan hàng, buông súng, dẫn đến tháng Tư tang thương, để từ đó dân tộc Việt Nam phải chìm xuống vũng lầy đỏ đến bây giờ vẫn chưa tìm ra lối thoát! Tại sao? Tại ai?


1- LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐÓNG ĐINH MỘT QUÂN LỰC OAI HÙNG VÀO THẬP GIÁ?

Đó là dùng kỷ thuật cổ xưa như trái đất, nhưng khi áp dụng, lúc nào cũng có kết quả. Tích xưa kể rằng: Có một người kia muốn làm thịt con chó nhà hàng xóm, hắn ta chờ con chó ra đường rồi rượt theo, la lớn: "Bớ làng nước ơi, con chó điên này nó định cắn tôi"! Thế là mọi người hưởng ứng tức thì, người cầm gậy, người đá, người đấm, con chó chết tươi! Nhìn con chó chết, kẻ lập mưu cám ơn mọi người rồi xoa tay nói lời ân nghĩa: "Để nó chết bờ chết bụi tội nghiệp, tôi xung phong đem nó về chôn"! Ai cũng khen anh ta biết lo chuyện an nguy cho mọi người và là kẻ tốt bụng! Đúng là được cả tiếng lẫn miếng! Vì thế, cổ nhân đã tóm gọn trong câu: "Muốn giết chó, hãy gọi nó là con chó điên"!

Mưu kế hèn hạ này cũng đã được dùng để giết chết một quân đội oai hùng. Một đồng minh bội ước, tham lợi hơn tình, cấu kết với quân thù tạo nên phong trào phản chiến, bôi bẩn hình ảnh những người lính anh hùng, đang ngày đêm xả thân chiến đấu bảo vệ lý tưởng tự do. Thật đúng với câu:"Khi đồng tiền và quyền lợi xâm chiếm, lương tâm sẽ đội nón ra đi"! Ôi buồn thay số phận đen đủi cho một quân lực nghiệt ngã!

Với Chúa Cứu Thế, người chủ trương hoà bình, yêu thương với cả ... kẻ thù! "Vã má này, đưa tiếp má kia" cho kẻ muốn đánh mình đánh tiếp. Hoàn hảo như thế làm sao có lý do để giết? Dễ thôi. (Lại dùng phương pháp chó điên, cổ như trái đất.) Đổ cho Ông là người có máu cách mạng, muốn lật đổ chính quyền để làm ... Vua! Chỉ cần một lý do sơ đẳng này, đã quá đủ để “rửa tay” đem nạn nhân ra “đóng đinh” giết thoải mái.

Đau đớn thay một quân lực, chỉ vì quyền lợi của những cường quốc, những tham vọng thoả hiệp trên bàn cờ quốc tế, đồng minh tin cậy nhất đã phản bội họ, đâm sau lưng họ, bằng "một nụ hôn Du Đa bán Chúa" qua Hiệp Định Bàn Tròn Ba Lê năm 1972, từ đó ngưng tiếp tế vũ khí, trói tay bạn trên chiến trường, lũng loạn hậu trường chính trị để làm nản chí và mất niềm tin chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi và dọn đường cho bọn Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam.

Lạ lùng thay, quân lực VNCH khi bị bỏ rơi, vẫn kiên nhẫn, vẫn kiên cường chiến đấu đơn độc, vẫn chiến đấu dũng cãm chống kẻ thù đông hơn gấp bội, vũ khí tối tân và dồi dào hơn gấp nhiều lần, với sự yểm trợ tích cực không điều kiện từ tinh thần đến vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và cả khối Cộng Sản Quốc Tế. Quân lực VNCH vẫn gan dạ, sừng sững như núi, hy sinh vững vàng chiến đấu. Nếu cấp chỉ huy của họ không ra lệnh buông súng, sáng suốt không áp dụng chiến thuật “triệt thoái cao nguyên,” quyết định sống mái tới giây phút cuối cùng. Thì chưa chắc ngày hôm nay phần thắng đã thuộc về ai!

Niềm đau bị bức tử không chỉ nằm trong việc bị đồng minh phản bội, không cho người lính VNCH có cơ hội một mất, một còn đọ sức với quân thù. QLVNCH thất trận không phải vì thua kém, mà vì không có cơ hội chiến đấu. "Cọp trong cũi sắt phải giương mắt nhìn", để đám khỉ “nhảy bàn độc” mặc tình bày trò nhố nhăng. Những niềm đau, nỗi nhục sau khi cuộc chiến kết thúc, đã kéo dài suốt gần nửa thế kỷ và còn mãi mãi, chết vẫn chưa quên! Như vết sẹo hằn sâu trên cơ thể nhắc nhở hoài đau thương, chỉ cho đến khi nào QLVNCH có cơ hội chiến thắng lại kẻ thù qua bất cứ hình thức nào, thì niềm đau kia mới phai mờ.


2- TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ

Trở lại chiến dịch hèn hạ bôi bẩn để bức tử một quân lực kiêu hùng, quân thù đã cấu kết với bọn ngụy hoà bôi nhọ hình ảnh người lính VNCH. Nào là quân đội ấy chỉ có những tướng tá (nhất là từ gốc Tây) tồi tệ tham nhũng, những quân nhân vô kỷ luật hèn nhát, bỏ chạy trước quân thù, giỏi hà hiếp dân, đi đến đâu thì ăn cắp gà, cắp heo.. thật là rừng rú! Hình ảnh tướng Loan xử bắn tên đặc công Việt Cộng Bảy Lốp tại Chợ Lớn là một bằng cớ để buộc tội tính chất dã man (?), ngậm máu phun người của kẻ thù và bọn tay sai . Đám bất lương này nâng cao kẻ thù lên tận mây xanh, báo chí phản chiến thì đăng hình ảnh chị tài tử Jane Fonda ngồi vắt vẻo, tươi cười bên họng súng phòng không, có các "anh bộ đội " vây chung quanh hít hà, bên cạnh tấm ảnh người lính VNCH đang chỉa súng vào đầu một người dân (thật ra chỉ là tên Cộng Sản trá hình.) Nhưng nào ai biết lòng lang dạ thú và mưu mô xảo quyệt của Việt Cộng đã dàn dựng. Dư luận thế giới vẫn cứ tin. Chiến dịch bẩn thỉu này đã dìm hình ảnh người lính VNCH xuống tận bùn đen mà không có cơ hội được giải thích, kéo dài mãi trong cuộc chiến.

Nhưng sau tháng Tư 1975, hình ảnh "hiền từ "(?) của kẻ chiến thắng đã hiện nguyên hình là những tên đồ tể khát máu đã làm thế giới sửng sốt. Trại tù "cải tạo" mọc lên khắp nước, hàng triệu người phải liều mình bỏ nước ra đi, một phần ba số người này đã vùi thân trong lòng biến cả hoặc nơi rừng sâu nước độc, khi tìm đường chạy trốn bọn người "giải phóng". Các lương tâm thật sự lu mờ hay cố tình lu mờ, nhắm mắt nay bắt đầu nhìn thấy đâu là sự thật, đâu là chính nghĩa. Và hầu như ai cũng đều đau sót công nhận “kẻ ác đã thắng cuộc!”

Bây giờ thì đã quá trễ để người đồng minh hối hận chuộc lại những tội ác tày trời khi nhẫn tâm bỏ rơi (bên thua cuộc) miền Nam vào tay Cộng Sản. Đã bắt đầu có những bài báo thú nhận những lỗi lầm trong việc bôi bẩn một quân lực dũng cảm. Hàng chục lời xin lỗi từ những giới chức cao cấp nhất có liên hệ đến cuộc chiến. Tác giả chụp tấm hình tướng Loan đã ngỏ lời xin lỗi. Đài kỷ niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam mọc lên khắp nơi, hình ảnh người lính VNCH đã chiến đấu cho tự do cũng được vinh danh. Miền Nam Cali một tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ vinh danh trang trọng. Rồi Úc châu, Canada…phải mất một thời gian, những sự thật đã trả lại cho lịch sử. Điển hình nhất là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lại được quý trọng tung bay trên bầu trời khắp các quốc gia tự do trên thế giới.

Hàng loạt những tác giả đã biết nhận thức đúng hình ảnh của người lính mà họ từng gọi là "bé nhỏ ", nhưng có một tấm lòng dũng cảm bao la, một lý tưởng cao cả vì dân vì nước mà chiến đấu và hy sinh thân mình.

Điển hình, trên tiêu đề Heroic Allies, tạp chí Việt Nam tháng 8, 1994, tác giả Hary F. Noyes đã viết như sau: "Thật đau lòng khi có nhiều cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam lại đi cấu kết với đám phản chiến, với những tên trốn quân dịch và bọn chính khách hoạt đầu, xúm nhau vào hèn hạ bôi lọ một quân lực không có một cơ hội để tự bào chữa. Nhục mạ một quân đội bị phản bội vì chính đồng minh của mình, hành động đó thật đê tiện, bất xứng.

Trong bài này, tôi sẽ nêu ra một số bằng chứng xác đáng để phản bác lại các luận điệu đê hèn khốn nạn đó.

Họ mạ lỵ ngưới lính VNCH thiếu tư cách, lòng can đảm và tinh thần ái quốc ?

Bằng chứng đâu họ nói như thế. Chỉ riêng trận đánh Tết Mậu Thân đã chứng minh dư thừa khả năng chiến đấu tuyệt vời của họ. Cộng Sản với ý đồ đánh lén, bất ngờ tổng công kích vào thời gian thiêng liêng nhất trong năm, nhằm bẻ gãy ý chí phòng thủ của miền Nam. Nhưng chúng đã thất bại nặng nề, binh sĩ VNCH đã chống trả mãnh liệt, không một đơn vị nào tan rã, tháo chạy. Thậm chí cảnh sát , nhân dân tự vệ, với vũ khí thô sơ đã chống lại những lính chính quy Bắc Việt, trang bị vũ khí hạng nặng. Tất cả phần đất địch tạm chiếm, QLVNCH đã chiếm lại, từ Cổ Thành Quảng Trị cờ Vàng lại bay trên thành phố thân yêu! Sau thời điểm này, số người tình nguyện nhập ngũ bảo vệ đất nước lên qúa cao, đến nỗi chính phủ phải ngưng tuyển mộ lính trong một thời gian dài. Nếu thiếu lòng can đảm, tinh thần ái quốc, sao họ làm được công việc thần thánh đó ?

Rồi trong trận chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972, các chiến binh VNCH bị vây hãm tại An Lộc đã anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng hùng hậu của địch, kèm theo những trận mưa pháo triền miên bất tận, vậy mà cuối cùng họ cũng đã đè bẹp được những trận tấn công liên tục của các chiến xa địch quân. Một cố vấn Mỹ đã kể lại : "Chỉ có một tiểu đội Bộ Binh, lại được lịnh phải phá huỷ 3 cỗ xe tăng của địch. Ông tiếp tục kể, như lạc vào chuyện thần thoại, các binh sĩ này lại có ý định bắt sống những chiếc xe tăng kia, lạ lùng thay họ gần làm được điều đó, họ bắt sống được 2, chỉ còn một chiếc chạy thoát!”

Những hành động đó đã nói lên tinh thần chiến đấu cao độ và sáng kiến tác chiến, quân đội nào có thể thực hiện được điều đó, than ôi, thế mà họ vẫn bị cáo buộc là hèn nhát, chưa đánh địch đã bỏ chạy.

Một thí dụ khác nói lên cái nhìn thiên lệch của bọn truyền thông hèn nhát thành kiến. Đó là trận vây hãm ở Khe Sanh, họ cho chiến thắng đó là do nhờ đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến của Hoa Kỳ, nhưng họ đã quên hơn một tiểu đoàn Biệt Động Quân đã cùng sánh vai chiến đấu, chia xẻ nỗi gian lao mới có chiến thắng kể trên! Nếu không có đơn vị thiện chiến này, trận đánh Khe Sanh không còn được nhắc nhở. Bất cứ tình cảnh nào, họ vẫn là những người lính dũng cảm".

Đại tá Robert Monelli đã kể lại trên báo Armed Force Jounal số 19 tháng Tư năm 1972 như sau: "Thật là một phép lạ, một tiểu đoàn VNCH với khoảng 429 binh sĩ, bị bao vây liên tiếp trong 3 ngày bởi một trung đoàn Cộng Sản từ 2,500 đến 3,000 tên. Vì địa thế hiểm nghèo không thể tiếp tế cho họ được, nên họ đã phải chiến đấu cho đến hết đạn, rồi mở đường máu bằng chính khí giới tịch thu của địch. Kỳ diệu thay, họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương, cả những xác chết đồng đội của họ. Cố Vấn Mỹ không tin, cho không ảnh thám sát, chụp hình đếm được đúng 673 xác địch nằm ngổn ngang chung quanh căn cứ. Đến bây giờ ông vẫn không hiểu tại sao họ đã làm được những điều lạ lùng như thế! Họ là những người lính chiến đấu lạ lùng cừ khôi, gan dạ.”

Rồi một luận điệu khác, nếu anh dũng như vậy, sao không chịu đánh đến viên đạn cuối cùng? Trách người sao không nghĩ đến ta. Nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị bỏ rơi như binh sĩ miền Nam Việt Nam, có lẽ họ ứng xử chẳng có gì khá hơn, ngược lại còn tệ hơn nhiều.

Hãy nhớ là Hoa Kỳ đã cắt viện trợ nặng nề từ năm 1973, hậu quả là không còn nguyên liệu, đạn dược đủ cung cấp cho chiến trường. Phi cơ, quân xa nằm ụ trong bãi, đại bác chỉ được bắn tối đa 3 trái mỗi ngày, họ bị trói tay toàn diện.

Chính điều này đã được tướng VC Văn Tiến Dũng công nhận trong tác phẩm Đại Thắng Mùa Xuân của y: "Từ khi Mỹ cúp viện trợ, khả năng di động và hoả lực của quân đội VNCH sa sút hơn phân nửa, chính vì đó mà quân dội Miền Bắc mới có cơ hội chiến thắng". Thiếu phương tiện chiến đấu như thế vậy mà Cộng Quân vẫn phải kinh khiếp, 30 tháng Tư "họ vẫn không ngờ là họ đã thắng"!

Thành thật mà nói, chính vì lịnh chỉ huy sai lầm của những tướng lãnh của họ, quân đội VNCH đã chiến đấu gần như tầm thường trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng tuyệt hảo cầm chân địch tại mặt trận Xuân Lôc.

Họ chỉ bất hạnh một điều là đã cộng tác với một đồng minh thiếu sự chân thành. Nếu được yểm trợ đầy đủ, họ có thể tạo ra những trận thư hùng nẩy lửa, không thua bất cứ một quân lực nào trên thế giới này! Chúng ta có lỗi lầm bỏ lỡ cơ hội cho họ có dịp cứu vãn đất nước. Ngoảnh mặt cho tội ác chiến thắng công lý, lịch sử Mỹ mang một vết nhơ suốt đời không thể gột rửa. Có xin lỗi thì đã muộn, cũng bằng thừa mà thôi.”


3- VƯƠN LÊN TỪ ĐAU THƯƠNG, BIẾN ĐAU THƯƠNG THÀNH HÀNH ĐỘNG, HOA TỰ DO PHẢI ĐƯỢC TƯỚI BẰNG MÁU!

Hơn hai trăm năm mươi ngàn (250,000) chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã bỏ mình trong cuộc chiến, họ đã vì dân vì nước mà hy sinh thân mình. Đây là những hạt giống để cánh đồng tổ quốc không chóng thì chầy, sẽ nở hoa Tự Do. Rất nhiều nhà tranh đấu cho tự do dân chủ trong nước hiện nay cảm hứng được chính nghĩa sáng ngời của VNCH, họ đang dùng nó như thuốc súng để chống lại chế độ CS độc tài tuyên truyền xảo trá.

Lịch sử dân tộc nào cũng đã chứng minh, nếu biết biến đau thương thành hành động sẽ là sức mạnh vô biên. Đau thương là kho tàng vô tận nếu ta biết khai thác. Nếu người Do Thái không bị đưa hàng triệu người vào phòng hơi ngạt, đã không có nước Do Thái như ngày nay. Nếu chồng Bà Trung Trắc không bị giết, chưa chắc chúng ta đã có một trang sử lẫm liệt oai hùng như thế .

Nếu phải nung nấu đau thương như người dân nước Việt bên Tầu thưở xưa, chất gai nhọn làm giường, treo túi mật trước mặt. Khi nằm trông thấy cái mật, khi ăn thì nếm xem mật đắng ra sao. Thấm thía nỗi đau từ thể xác đến tâm hồn của đoạn trường thâu canh, nuốt nỗi đắng tê rụng rời của kẻ mất nước, từ vua cho đến dân, bền gan vững chí phục thù, cuối cùng cũng lấy lại được giang san. Nên nhắc lại những hình ảnh bạo tàn của Cộng Sản đối xử với người lính chế độ cũ, cũng là mục tiêu số 1 để trả thù, mang chịu nhiều thương tổn nhất, sau khi người Cộng Sản chiếm được cả đất nước, tưởng cũng là điều cần thiết cho sự quang phục quê hương.

- Làm sao quên được hình ảnh hàng ngàn người thương binh, què cụt đó, trên mình mang đầy thương tích, lê lết rời khỏi nơi họ đang nằm điều trị tại các Quân Y Viện ngay trong những ngày đầu tiên khi Cộng Sản vừa cưỡng chiếm miền Nam.

Chúng đã tàn ác đuổi những thương binh này ra đường để lấy chỗ cho những thương binh của chúng và nhất là để trả thù. Không ai biết được số phận của những người bị thương nặng không thể đi được, ra sao. Và ngay cả những người lê lết kia, nếu quê họ ở xa, thì làm sao họ có thể trở về với gia đình để được những người thân săn sóc.

- Làm sao quên được những cái chết hào hùng và bi thảm của những Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần Văn Hai , Hồ Ngọc Cẩn, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú và hàng trăm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ đã tuẫn tiết trong ngày cuối cùng của cuộc chiến, làm cho chính kẻ thù cũng phải kinh ngạc và trang sử bi hùng này mãi mãi làm mọi người dân phải thán phục.

- Làm sao quên được hình ảnh của hàng trăm trại lao động khổ sai rải rác suốt từ Bắc chí Nam vào giữa thập niên 1970 và suốt thập niên 80 mang mỹ danh là "Trại Học Tập Cải Tạo ". Trại cấp trung ương, trại cấp tỉnh, trại cấp huyện, trong đó hàng trăm ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan , binh sĩ Cộng Hoà kéo dài cuộc sống đầy đoạ, bị lăng nhục về tinh thần, bị hành hạ về thể xác và có người dã sống trong tình trạng đó trong gần hai chục năm trường.

- Làm sao quên được nhừng người bạn cùng chiến đấu đã bỏ nắm xương tàn tại nhừng nơi rừng sâu núi thẳm vì không chịu đựng được sự hành hạ của trại tù Cộng Sản, đói không có cơm, đau không có thuốc.

- Làm sao quên được cảnh tượng những người chết chẳng được yên mồ: Bao nhiêu nghĩa trang quân đội bị Cộng Sản đập phá, đào bới nhằm lăng nhục và trả thù cả những người đã nằm xuống. Hèn hạ đến thế, chết cũng không được yên!

Chỉ bấy nhiêu thôi đã quá đủ cho lời thề một mất một còn với quân thù Việt Cộng, những kẻ không còn tim óc mà loài thú hay quỷ hoả ngục cũng không có những hành động dã man, tàn tệ như thế đối với đồng loại của chúng.

- 38 năm qua họ làm được gì, quê hương vẫn bị xếp vào hành những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Phụ nữ trẻ em được bán làm nô lệ tình dục cho đàn ông khắp nơi. Không độc lập, không tự do! Cắt đất, nhượng biển cho quan thầy, nhằm giữ vững ghế cai trị cha truyền con nối. Bắn ngư dân mà không đám nêu đích tên, chỉ dám gọi là tầu lạ! Nhu nhược với giặc, hung ác với dân.

Than ôi ! Chẳng có chữ nghĩa nào diễn tả, viết đến cạn máu tim cũng không thể nào tả hết nỗi oán hận thấu trời này. Như người thợ rèn, biết biến thanh sắt vô dụng thành gươm báu, biến đau thương thành lời thề, ý chí, niềm tin.

Anh linh tử sĩ của hơn 250,000 chiến sĩ VNCH cùng với hồn thiêng sông núi sẽ luôn luôn yểm trợ chúng ta trên con đường đấu tranh, một ngày nào đó sẽ giúp chúng ta lấy lại được quê hương trong tay những kẻ man rợ.


NÀY BAO HÙNG BINH TIẾN LÊN!


Năm 1976, Indonesia cưỡng chiếm Đông Timor là một nước Dân Chủ Cộng Hoà bé nhỏ, với diện tích 14,874 km2 và dân số vỏn vẹn dưới một triệu người, nói chính xác là 714,847 công dân .

Đông Timor chiến đấu liên tục bền bỉ gần 25 năm! Với hàng ngàn người chết, hàng vạn người mất tích, tù đầy vì lý tưởng tự do, độc lập thật sự cho quê hương họ .

Cuối cùng người dân Đông Timor đã giành lại được độc lập, trở thành quốc gia đầu tiên trong tân niên kỷ, làm cả thế giới ngả nón ngưỡng mộ và khâm phục !

Sự kiện kiên trì đấu tranh của một dân tộc nhỏ bé kia trong cuộc chiến không cân sức, đã cho chúng ta rút tỉa ra một bài học đấu tranh đáng giá . Phải chăng cuộc chiến thắng anh dũng thần thánh đó, cứ lớp người này ngã xuống thì lớp khác tiếp tục đứng lên, miễn là cùng một lòng bền gan, vững chí thì bạo quyền nào cũng khiếp sợ, thế lực nào cũng phải lùi bước, chắc chắn đẫn đến thành công.

Sức mạnh không nằm ở vũ khí, quân đội, mà nằm ở lòng người. Trang sử oai hùng dân tộc Việt đã chứng minh bao lần nguyên lý vững chắc này. Giặc phương Bắc đông như kiến cỏ, nhưng một hội nghị Diên Hồng, giặc kia cũng phải tiêu tan.

Chúng ta hôm nay còn có gì để tự lực đấu tranh? Nhiều người bi quan hỏi như vậy. Xin thưa, chúng ta còn, còn rất nhiều, còn tất cả các yếu tố tất thắng! Nhất là rất đắc lực trong công tác yểm trợ đấu tranh quốc nội.


- Chúng ta còn giòng máu quật cường, bất khuất hun đúc lưu truyền bao đời từ các đấng tiền nhân diệt giặc giữ nước.

- Chúng ta còn sĩ khí của những kẻ đã từng một đời phụng sự dưới ngọn cờ Vàng ba sọc đỏ. Còn tình đồng đội thiêng liêng Huynh Đệ Chi Binh luân lưu trong dòng máu.

- Chúng ta còn đầy đủ chính nghĩa, ý chí để biến những thất bại, đau thương thành hành động tích cực đấu tranh cho tự do.

- Chúng ta còn trách nhiệm chưa hoàn thành trước Tổ Quốc, dân tộc hiện vẫn đang bị điêu đứng, lầm than. Cuộc chiến của chúng ta vẫn chưa chấm dứt, chưa có lệnh giải ngũ! Phải bền gan chiến đấu cho đến ngày toàn thắng bọn quỷ đỏ mới thôi.

- Chúng ta còn bè bạn và thế giới hiểu biết sẽ hỗ trợ chúng ta, qua chiến dịch Cờ Vàng là bằng chứng hiển nhiên nhất, còn nhân dân trong nước và đồng bào hải ngoại sẽ đồng loạt đứng dậy cùng với chúng ta hành động. Những lớp trẻ ngày qua chấp nhận tù tội đang hăng hái tham gia, báo hiệu một buổi sáng bình minh, sắp qua những ngày tăm tối.



Giờ đã điểm, đã có nhiều dấu hiệu bọn bán nước cầu vinh sắp bị lật đổ, trả nợ những tội ác gần một thế kỷ mà chúng đã gây ra.

Hai trăm năm mươi ngàn đồng đội của chúng ta đã làm xong nhiệm vụ, mang thân đền nợ nước, còn chúng ta? Thân phận trôi nổi trên xứ người, vật chất thời gian đang làm phai mờ tình chiến hữu, không thể một sớm một chiều quên cả màu cờ sắc áo của một thời phục vụ hay chiến đấu, một thời vinh quang hay điếm nhục, đau xót tội tù. Thử hỏi chúng ta cứ “cúi đầu xuống cát,” chỉ cần kiếm sự an nhàn cho thân mình và gia đình, mai kia xuống mộ thì trả lời ra sao với những đồng đội đã hy sinh, với các đấng anh hùng đã khuất ?


HĂNG HÁI THAM GIA CUỘC ĐẤU TRANH.
CUỘC CHIẾN SAU CÙNG VẪN CÒN ĐÂY,
ĐÀO NGŨ LÀ HÈN NHÁT!


Hiên ngang hào hùng bước theo tiếng Mẹ kêu! Không còn súng, nhưng máu “người lính’ vẫn còn đây, săn tay áo chiến đấu với quân thù dù…bằng tay không! Các bạn đồng đội ơi, chờ tôi với! Hãy dành cho tôi một mộ phần để được nằm bên các bạn, hãy dành cho tôi một vinh dự, nhớ chừa cho tôi một lá quốc kỳ để gói trọn thân xác này tan rữa thành phân bón cho đất Mẹ có ngày nở hoa. Cho tôi tham gia vào trận đánh cuối cùng này. Có như thế, tôi mới trả nợ xong một thời mang trên người bộ quân phục " TỔ QUỐC, DANH DỰ VÀ TRÁCH NHIỆM." Bằng không tôi trả lời thế nào, khi các đồng đội đã khuất tra hỏi “Mày đã làm gì …để tiêu hết nửa đời sau?”

Xin cho tôi một mộ phần, bên người Chiến Hữu của tôi!

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ MUÔN NĂM!

coffeebean
#746 Posted : Saturday, June 20, 2015 1:09:31 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)
Ngày Quân Lực VNCH

Vi Anh








Ngày 19 tháng 6 là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà [QLVNCH]. Đó là ngày ghi nhớ ơn nghĩa của những nam nữ quân nhân Việt Nam Cộng Hoà đã vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu khi còn ở nước nhà. Và những người ấy bây giờ đã lớn tuổi mà không nghỉ ngơi, vẫn tiếp tục chiến đấu bằng tay không với ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất trong một cuộc “chiến tranh khác” – là cuộc chiến tranh chánh trị, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN ở hải ngoại để hỗ trợ cho đồng bào người Việt Quốc gia trong nước. Chớ ở hải ngoại tại các nước định cư ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu, tự do, bình đẳng, dân chủ, nhân quyền đã có thừa người Việt không cần đấu tranh cho mình nữa.







- Một, người chiến sĩ VNCH trong chiến tranh Quốc Cộng ở nước nhà VN. Trong cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của CS Bắc Việt, QLVNCH là những người Việt Bắc, Trung, Nam, Thượng đem những ngày hoa mộng của đời mình để chiến đấu cho tự do, dân chủ của đồng bào trước làn sóng xâm lược của CS. Chiến đấu hào hùng, bẻ gãy mọi cuộc tấn công của CS. Dù mới thành lập nhưng kiên cường chiến đấu suốt hai thời đệ nhứt và đệ nhị VNCH, trở thành một quân lực hùng cường nhứt ở Đông Nam Á. Không một xóm, một làng, một quận nào của Miền Nam từ Bến Hải đến mũi Cà mau, CS tấn công mà CS chiếm giữ được.

Có trên 300,000 quân nhân VNCH đã hy sinh cho Tổ Quốc. Nếu so với dân số Mỹ và số 2 triệu thương vong Mỹ trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc của Mỹ, tỷ lệ tổn thất của QLVNCH cao gấp đôi của Mỹ. Nếu không thực sự dũng cảm chiến đấu, thì không thể tổn thất lớn lao như vậy.






Với độ lùi thời gian quá đủ, với tài liệu về Chiến tranh VN Mỹ giải mật gần hết, những nhà nghiên cứu và lịch sử đã trả lại chân lý cho QLVNCH một thời bị Phản Chiến Mỹ gieo tiếng oán một cách oan sai trên truyền thông và công luận Mỹ. Rõ rệt như trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng sản Bắc Việt, quân nhân VNCH đã chống trả một cách quyết liệt và hữu hiệu. Không một đơn vị nào bị tan rã, không một thành phố nào CS chiếm giữ được.

Trái lại quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị nướng gần hết. Các sư đoàn xâm nhập của CS Bắc Việt bị phản công điên đảo phải rút qua biên giới Miên, Lào “dưỡng quân”, tạo một thời kỳ hậu Mậu Thân rất yên ổn cho VNCH.

Lúc bấy giờ tinh thần quân dân như cá với nước lên cao làm thanh niên VN tình nguyện vào QLVNCH quá đông khiến QLVNCH ngưng tuyển mộ và cho quân nhân gốc giáo chức biệt phái về trường tiếp tục dạy học.

Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, CS Bắc Việt pháo kích như mưa, dùng chiến xa tấn công liên tục. QLVNCH đã anh dũng tử thủ chiến trường An Lộc. Một tiểu đội hạ được hai xe thiết giáp của CS Bắc Việt. Để rồi đánh đuổi bộ đội CS Bắc Việt bao vây, làm ngạc nhiên Mỹ và thế giới.

Trong trận Khe Sanh, báo chí phản chiến của Mỹ ở Saigon, ăn ngủ trong phòng lạnh chê QLVNCH. Trái lại người quân nhân Mỹ ở chiến truờng rất kính phục. Trên Báo Armed Forces Journal của Mỹ số 19 tháng 4 năm 1972, Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đã kể lại "Một tiểu đoàn VNCH với 420 binh sĩ bị bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi một trung đoàn Cộng Sản độ 2.500 đến 3.000 tên. Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ được. Họ phải chiến đấu cho tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch thu của địch. Họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả một số xác chết. Không ảnh thám sát chụp được rõ ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh căn cứ. Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ còn lại có 253 binh sĩ sau khi đến được vòng đai bạn.”

Trong thời kỳ Mỹ việt nam hoá chiến tranh và thi hành Hiệp Định Paris năm 1973, các cuộc nghiên cứu sau này của những chiến lược gia Mỹ, đặc biệt là ở ở Đại Học Texas cho biết nếu Quân lực Mỹ bị cúp quân viện như QLVNCH, thì Quân Lực Mỹ chỉ có thể chịu đựng ba tháng mà thôi, chớ không phải ba năm như QLVNCH.

Và trận chiến sau cùng khi VNCH bị Mỹ bức tử. Mỹ cúp viện trợ chánh quyền VNCH, cúp quân viện QLVNCH, kể cả đạn dược và xăng dầu thiết yếu. Thế nhưng một sư đoàn của QLVNCH đã anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc.

- Hai, người chiến sĩ VNCH trong chiến tranh chánh trị ở hải ngoại. Ngày Quân Lực là ngày thán phục những quân nhân VNCH sau nhiều năm tù cải tạo còn da bọc xương, đi tỵ nạn chánh trị ở các nước, nhưng không ai coi mình đã giải ngũ. Tướng Mac Athur tài danh của Mỹ nói, người lính già không chết mà chỉ mờ khuất trong lịch sử thôi. Những người lính gìa của QLVNCH cùng toàn quân dân, cán, chính vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Chuyển sang hình thái chiến tranh mới, chiến tranh chánh trị, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Có tự do, dân chủ nhân quyền là không có CS độc tài đảng trị toàn diện.







Ngày Quân Lực là ngày quân dân cán chính VNCH tự hào mình đã tiếp tay khai nguyên, xây dựng được một Việt Nam Hải Ngoại đối kháng với chế độ CS ở nước nhà VN, như quân nhân và kháng chiến quân Pháp và những người Pháp yêu nước cùng Tướng De Gaulle kết họp lại thành France d Outre mer, làm đầu cầu cùng đồng minh đánh đuổi quân Đức Quốc xã ở nước nhà Pháp và ở Âu châu. Không sống được ở VN với CS, quân dân cán chính VNCH và hậu duệ đem VN theo mình. Tương kế tự kế vận động giương cao ngọn cờ VN nền vàng ba sọc đỏ tại các nước định cư ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu dù VNCH bây giờ không còn pháp nhân công pháp đối với Liên Hiệp Quốc.

40 năm sau, chỉ một thế hệ xã hội học thôi, non nửa đời người thôi, bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt là có các tổ chức chánh trị, hội đoàn, văn hóa, xã hội ngoại vi, thân hào nhân sĩ vừa là đối tượng vừa là chủ thể của một Việt Nam Hải Ngoại.

Trong những người Việt còn gắn bó với vận mạng nước non nhà, phần lớn có anh chị em QLVNCH. Bỏ công bỏ của riêng, “ăn cơm nhà ra vác ngà voi hàng tổng” để phục vụ cộng đồng. Bất cứ nơi nào có biểu tình chống Cộng là có mặt anh chị em quân nhân VNCH đảm trách vai trò xương sống và an ninh nổi chìm cho cuộc đấu tranh. Khen thì ít, chê lại nhiều, nhưng tinh thần cộng đồng trong tim óc vẫn mạnh hơn những lời ra tiếng vào vốn phải có trong sinh hoạt tập thể ở các nươc tự do.






Ba, Ngày Quân Lực VNCH là ngày nhớ ơn những người mẹ, ngưởi vợ, người chị, người em gái, ngươi con của quân nhân QLVNCH đã buôn gánh bán bưng, lo tần lo tảo, chắc mót để dành đi “thăm nuôi chồng con em” là quân nhân QLVNCH bị đi tù cải tạo.

Ngày Quân Lực là ngày lớp trẻ của các gia đình quân dân cán chính VNCH dành cơ hội tự vấn lương tâm, nhận thức và khẳng định mình từ đâu, nhờ ai mà đến được những vùng đất hứa này để tiến thân ngàn lần hơn những người đồng trang lứa còn kẹt trong nước. Để từ đó tiếp nồi truyền thống hào hùng và tinh thần bất khuất của những cha anh là chiến sĩ VNCH đi trước. Đó là những người nay dù già rồi vẫn tiếp tục con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN mà hơn 90 triệu đồng bào trong nước rất hy vọng và tin tưởng


1 user thanked coffeebean for this useful post.
victoria on 6/20/2015(UTC)
coffeebean
#747 Posted : Wednesday, June 24, 2015 11:26:22 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Kỷ niệm ngày QLVNCH 19/6: Cám ơn Anh
Nguồn: Dân Làm Báo







Cám ơn Anh
a We - Chúng Ta Production - Nhạc và lời TBN - Hòa âm Nguyên Ca - tiếng hát Anh Chi


Xưa tình yêu cho quê hương đã giục anh lên đường
Theo lý tưởng màu cờ sáng tươi.
Ơi đời lính!
Bao gian nguy, anh can trường dấn thân
Băng mình trong bão đạn để che chắn hậu phương.

Nơi nào đó trên quê hương đã từng là chiến trường,
Nơi anh để lại phần máu xương.
Ơi giòng máu!
Anh thanh xuân, giữ miền Nam ấm êm,
Cho đàn em đến trường, dân sống đời tự do.

Một ngày nao gẫy súng
Trời xanh mất chim bàng,
Nên trời u ám, đen tối ngày tháng Tư.
Dù đạn bom nay dứt, phố phường thay chiến địa,
Thân anh mảnh tàu vỡ,
Càng nát tan trong sóng đỏ vô nhân.

Xin cúi chào anh,
Kiên cường trên bất hạnh.
Miền Nam không quên anh!
Chúng tôi không quên ơn!








coffeebean
#748 Posted : Saturday, June 27, 2015 3:34:32 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Những Người Chiến Sĩ Đáng Hãnh Diện

Ngô Nhân Dụng




Bình Luận Gia Ngô Nhân Dụng trong buổi Ra Mắt Sách “Đứng Vững Ngàn Năm” ngày 19 tháng 10 Năm 2013,
tại Hội Trường Franklin-McKinley School, số 645 đường Wool Creek Dr., Thành Phố San Jose.



Sau khi chiến tranh đã chấm dứt 25 năm, một người lính còn tiếp tục “chiến đấu” là Thiếu Tá Vương Mộng Long, cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Ông kể chuyện cuộc đấu trí giữa ông và một giáo sư dạy sử người Mỹ, trong năm 2000, ông theo học một lớp “Sử Chiến Tranh Việt Nam.” Vương Mộng Long đã cho nhà giáo này thấy rằng những gì ông ta biết về cuộc chiến Việt Nam chỉ dựa trên sách vở, hoàn toàn sai sự thật. Ðặc biệt là những nhận định sai lầm về quân đội Việt Nam Cộng Hòa, mà người sinh viên lớn tuổi đã từng cầm súng chiến đấu trong đó. Cuối cùng, vị giáo sư được thuyết phục, bắt tay Vương Mộng Long, công nhận: “Chiến sĩ, ông vừa lập một chiến công!”




Thứ 2 từ trái qua: Thiếu Tá Vương Mộng Long (ảnh chụp 2014)
– Cựu Học Sinh Trần Quý Cáp Hội An, Niên Khóa 1956-1963
– Khoá 20 Võ Bị Quốc Gia DALAT, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng 82 Biệt Động Quân
– Sau 13 năm tù cộng sản, Ông cùng gia đình (vợ 4 con) sang Mỹ, hiện ở tại Seattle, WA từ năm 1993
– Tốt nghiệp B.A. Social Science & Communication năm 2003 tại University of Washington.




Những nhận định sai lầm trong sách vở tại Mỹ về quân đội Việt Nam Cộng Hòa có nguồn gốc sâu xa hơn các lớp học sử trong nhà trường. Căn nguyên là chính sách sai lầm của chính phủ Mỹ ngay từ đầu, khi họ muốn áp dụng bài học cuộc chiến Cao Ly khi tới Việt Nam. Từ năm 1964, quân đội Bắc Việt đổ vào miền Nam ngày càng nhiều không khác gì quân Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn năm 1950. Chính phủ Mỹ phải quyết định tham chiến, và họ nghĩ quân đội Mỹ sẽ đóng vai chính trên chiến trường, không khác gì hơn mười năm trước, trên bán đảo Cao Ly. Với quan niệm đó, họ không chủ trương giúp quân đội Việt Nam Cộng Hòa gia tăng quân số, vũ khí, hỏa lực và kỹ thuật để tự đóng vai chủ động trong tự bảo vệ lãnh thổ. Có thể họ đã thấy chiến tranh Cao Ly, dù có một triệu quân Trung Cộng tham dự, cũng chỉ kéo dài có ba, bốn năm; một thời gian ngắn không đủ để chuẩn bị cho một đạo quân miền Nam hùng mạnh hơn.

Khi chính phủ Mỹ quan niệm nước Mỹ đóng vai chính trong cuộc chiến đang diễn ra, thì giới truyền thông Mỹ và dân chúng Mỹ cũng nghĩ như vậy. Nguồn tin chính của các ký giả Mỹ là các đơn vị quân đội Mỹ, và họ chỉ đi săn tin về đạo quân nước họ, cung cấp cho các độc giả và khán giả ti vi người Mỹ. Cho nên họ nhìn lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa với con mắt thiên lệch. Năm 1970, Nixon bắt tay với Trung Cộng để chia rẽ khối cộng sản, thì họ quyết định rút quân, để mặc cho Nga và Tàu tranh giành ảnh hưởng trên nước Việt Nam.

Khi muốn rút quân, các viên chức chính phủ và Quốc Hội Mỹ tìm cách trút hết trách nhiệm thất bại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Giới truyền thông Mỹ đồng tình với lối giải thích đó. Và các “học giả” nghiên cứu chiến tranh Việt Nam cũng không nhìn thấy xa hơn. Họ vẫn coi cuộc chiến tranh Việt Nam như một cuộc chiến “của nước Mỹ.” Họ không thể hiểu nổi tại sao người dân miền Nam Việt Nam lại nhìn cách khác.

Thiếu Tá Vương Mộng Long đã dùng sách vở và cuộc đời của chính ông, để cho giáo sư dạy sử thấy một cách nhìn khác. Sau nửa khóa học, ông đã yêu cầu được nói chuyện tay đôi. Với những bằng chứng, tài liệu, các kinh nghiệm chiến đấu và 13 năm bị giam cầm trong các trại tù “cải tạo,” ông đã chinh phục được vị thầy giáo tại Shoreline Community College WA. Thiếu Tá Vương Mộng Long thành công. Ông thầy dạy sử thành thật nói: “Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình người Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này… Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.” Trong buổi lễ lãnh bằng Cử Nhân (BA) của Thiếu Tá Vương Mộng Long tại Ðại Học Washington, Giáo Sư Dan nói: “Long, I’m proud of you” (Long, tôi hãnh diện về ông), và “My soldier, I’m loving you!” (Chiến sĩ của tôi, tôi yêu mến ông). Nhân Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quý vị độc giả có thể tìm trên mạng để đọc đầy đủ cả câu chuyện dài này do chính người trong cuộc kể, một chiến sĩ vẫn tiếp tục chiến đấu.

Trong các hồi ký khác, ông Vương Mộng Long kể chuyện lần ông vượt “ngục cải tạo” lần thứ hai, vào năm 1978, bị bắt lại sau sáu mươi bốn ngày trốn. Trong khi “nằm chờ giờ ra pháp trường,” ông suy nghĩ: “Thôi thế cũng là xong! Cứ coi như một lần ra trận…” Sau khi ông ra khỏi tù, có lần ông Vương Mộng Long trở về một chiến địa cũ, nơi nhiều đồng đội Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân dự trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng. Hôm đó đúng ngày Ba Mươi Tháng Tư, ông thấy, có lẽ dân chúng trong vùng này còn nhớ tới các chến sĩ hy sinh cho nên đã cắm những bó nhang, hương khói tưởng nhớ ngay bên đường.

Hình ảnh trên gợi nhớ lại cảnh những toán quân nhân đi tù cải tạo. Khi đoàn xe chuyển trại dừng lại bên đường, dân chúng nhận ra đã tự động đem đủ các thức ăn tới vội vàng tiếp tế cho họ. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có thể hãnh diện vì đã được người dân ghi ơn và tưởng nhớ mãi trong lòng.



Anh Nguyễn Viết Dũng, 2014




Mà không riêng gì người dân miền Nam Việt Nam. Anh Nguyễn Viết Dũng sinh ở Nghệ An ngày 19 tháng 6 năm 1986, trùng với “Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.” Anh đã dám treo cờ vàng ba sọc đỏ tại nhà, hát Quốc ca và mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa. Anh đã bị bắt giam cùng bốn người bạn khi đi biểu tình vào Tháng Tư vừa qua ở Hà Nội, cả nhóm đều đeo huy hiệu đại bàng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nhiều người Mỹ vẫn nói về cuộc chiến tranh Việt Nam như là cuộc chiến của quân đội Mỹ. Giờ đây người Việt ở miền Bắc cũng thấy nhận ra đó là một cuộc nội chiến giữa hai chế độ, hai lối sống, giữa miền Nam tự do và miền Bắc Cộng Sản. Dân Việt đã bị Ðảng Cộng Sản đưa ra làm vật hy sinh phục vụ một cuộc tranh hùng quốc tế vì họ tưởng rằng khối cộng sản sẽ đè bẹp thế giới tư bản.

Người dân miền Nam đã thấy rõ điều đó khi họ hát khắp nơi: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày!” Cho nên, ngay trong thời chiến một người lính miền Nam như thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn vẫn nói với “địch quân” rằng: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước – Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi! Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi – Suy nghĩ làm gì lao tâm tổn trí!”

Một chiến binh thi sĩ khác, mới in tập thơ viết về chiến tranh sau khi cuộc chiến đã chấm dứt 40 năm, là Nguyễn Lê Minh, một y sĩ phục vụ trong lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Giá trị nhân bản, văn minh của một quân đội được thể hiện trong những điều các chiến sĩ nghĩ trong đầu trong khi ra chiến trận. Tập thơ của Nguyễn Lê Minh biểu lộ bằng một bút pháp giản dị, trong sáng những điều diễn ra trước mắt và trong lòng anh, khi anh Vào Cơn Bão Lửa, với “Những chiến địa còn tươi xương máu thịt.” Làm bác sĩ, anh đã đau lòng vì, “Ðôi tay ta run rẩy biết bao lần – Vuốt cặp mắt đứng tròng bao lính trẻ.”

Nguyễn Lê Minh bắt đầu muốn làm thơ trong một ngày anh đi trong thành phố Quảng Trị hoang tàn, bên dòng sông Thạch Hãn. Anh chợt nghe thấy tiếng trẻ cười, giọng cười hồn nhiên trong vắt. Anh tìm thấy hai em bé đang đùa giỡn dưới sông, tiếng cười của các em bé 8, 9 tuổi “như tia nắng làm sáng khung trời chiều thu mây xám.” Nguyễn Lê Minh nhớ lại thời thơ ấu của mình, “thằng bé gầy còm sinh giữa mùa Hè năm Ất Dậu” rồi được di chuyển “trong thúng mẹ lủng lẳng tản cư.” Anh tự hỏi: “Có thể nào những đứa con chưa ra đời của tôi… 25 năm nữa lại khoác áo lính? 25 năm sau chúng có cầm khẩu súng của phe này chĩa vào những đứa bé đang đùa giỡn vô tư bên kia sông hay không?” Những ý tưởng dằn vặt đó khiến Nguyễn Lê Minh phải viết một bài thơ cho những em bé cùng thế hệ với các đứa con chưa sinh ra của mình. Một chiến sĩ trở thành một thi sĩ. Bài thơ đầu đời viết bên bờ sông Thạch Hãn đó không được in trong tập thơ Ðường Ta Ði mới xuất bản của Nguyễn Lê Minh. Bài thơ này anh cất trong chiếc ba lô bị bỏ lại trên bãi biển Mỹ Khê vào cuối Tháng Ba năm 1975, để tác giả bơi được ra tới tàu Hải Quân, thoát nạn. Còn tập thơ để ở nhà, đã được mẹ anh cất giấu, kín đáo qua tay nhiều người, gần đây mới được chuyển cho tác giả.

Giữa cảnh gạch ngói sập đổ ngổn ngang ở Quảng Trị, nhìn sang phía địch quân là “cánh đồng hoang ngút ngàn cỏ khô không một bóng người,” một người lính Việt Nam Cộng Hòa lại nghĩ đến và lo lắng cho số phận những đứa trẻ Việt thuộc thế hệ sau ở cả hai bên. Tâm trạng đó cho thấy tinh thần nhân bản của người lính được đào luyện thế nào. Cả xã hội miền Nam sống với nền văn minh tinh thần đó, trong truyền thống ngàn năm của dân tộc. Cho nên, Nguyễn Lê Minh biểu lộ tình yêu nước thương nòi của người chiến sĩ ngay trong lúc đang sống giữa cơn bão lửa nội chiến.

Nguyễn Lê Minh đi cùng đoàn Thủy Quân Lục Chiến tiến về phía Bắc trong khi những đoàn dân cư chạy loạn đi ngược chiều về phía Nam.

“Mùa Hè Bão Lửa
Bắc Cộng vượt biên
Ðường ta đi đất rung chuyển cuồng điên
Cuộc thảm sát xe tăng, đại pháo.
Ðường ta đi bày nhày xương, thịt máu
Suốt một vùng Bến Hải, Gio Linh…”

“Ðường tiến quân nhìn dân cư chạy ngược
Tất cả kinh hoàng dưới lằn đạn Nga Hoa
Từng thây người bật ngửa rên la
Máu đỏ chan hòa vào cát nóng…”


Nguyễn Lê Minh đã bật tiếng gọi tên tổ quốc, như người con kêu mẹ:

Ðường ta đi của những ngày Hè bão lửa… Việt Nam ơi, Việt Nam!…

Bây giờ đã 40 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, lịch sử có thể ghi nhận tâm trạng một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trên Ðại Lộ Kinh Hoàng. Anh chứng kiến trong đoàn dân chạy ngược chiều đoàn lính có người cha đang chở con trên xe máy thì bị đạn cộng quân bắn trúng, ngã xuống chết. Rồi cảnh một người mẹ ôm đứa bé sơ sinh lội qua sông, tới bờ mới thấy con đã chết vì ngộp nước. Người mẹ muốn ngồi lại khóc con, ông chồng vội kéo đi ngay. Nguyễn Lê Minh đã thấy gì, nghĩ gì, anh đã ghi lại và kể tâm sự thật của anh lúc đó:

“Mồ hôi nước mắt mẹ cha
“Quyện cùng bụi cát thối tha xác người
“Máu trong ta, máu trong người
“Máu nào không thắm những lời mẹ ru?
“Máu nào là máu hận thù?
“Máu nào là máu rạng cờ hùng anh?
“Máu nào là máu hôi tanh?
“Máu nào không phải em, anh, họ hàng?


Một quân đội có thể hãnh diện về những chiến sĩ bền bỉ như Vương Mộng Long, mang tâm sự của Nguyễn Lê Minh, và như hàng trăm ngàn đồng đội khác. Họ chiến đấu mà không khát máu, không ai hô hào “giết, giết nữa bàn tay không biết mỏi.” Họ đứng thẳng hai chân làm những con người, không bao giờ biến thành những cái máy sát nhân. Họ viết những trang sử không bao giờ quên được. Chúng ta hãnh diện về những chiến sĩ như vậy. Các em bé ra đời sau năm 1975, như Nguyễn Viết Dũng và các bạn, cũng có thể hãnh diện về họ.

coffeebean
#749 Posted : Sunday, June 28, 2015 12:20:34 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Hơi Ấm Non Sông

BKTính 323








"Ta đi trong tuyết ươm hơi lạnh
Mà lửa từ tim vẫn nhóm hồng
Với lá quốc kỳ trên ngực áo
Ta thấy còn hơi ấm non sông...."










Canada, xứ lạnh, không được nhiều lúc trời nắng ấm. Nắng đấy, lại mưa, lại tuyết. Mưa, tuyết, gió lạnh cứ lanh quanh, lẩn quẩn theo với tháng ngày. Cái lạnh dễ làm lòng người se thắt, càng thêm buồn xót, khi nhìn lại mình, mình vẫn còn là người tỵ nạn trên đất nước tạm dung. Lời thơ thấm thiết của người lính ly hương còn vương vấn mãi, như tâm tình, như nhắc nhớ, trong lòng người đồng hương, chiến hữu.


Khi những đội quân gọi là "Cách Mạng Tháng Tám", "Đồng Khởi" cưởng chiếm đất nước, thì Công Lý, Tự Do đã phải chịu cùng số mệnh như những bảng tên đường của miền Nam Việt Nam. Đôi câu thơ xuất phát từ lòng người phẩn uất, lưu truyền mãi đến ngày hôm nay:

"Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
"

Lời thơ nhắc nhớ sự kiện nhà quyền cộng sản đã đổi tên đường Công Lý thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do bị gọi là Đồng Khởi. Đồng thời hai câu thơ ấy cũng truyền nhắc đến các thế hệ mai sau ghi khắc rằng Công Lý, Tự Do của dân tộc đã bị bạo quyền cộng sản tước đoạt.

Tên gọi Sài Gòn cũng bị đảng cầm quyền xoá bỏ, để thay bằng tên gọi của tên tội đồ dân tộc. Kẻ đã lừa lọc đồng bào mình, dâng hiến máu xương dân tộc Việt Nam cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế, bán biếu đất biển cho giặc tàu cộng xâm lươc. Từ đấy, đất nước Việt Nam đắm chìm trong đêm đen cộng sản. Công lý, tự do chỉ còn là sáo ngữ của những kẻ xưng danh là cộng sản cầm quyền.

Thế nhưng, từ khi chiếm được miền Nam, hơn 37 năm qua, dù bạo quyền cộng sản có dùng đũ các cách gian xảo cùng quyền lực, để xoá bỏ tên gọi Sài Gòn, Sài Gòn vẫn còn đó. Sài Gòn vẫn bất diệt trong lòng người Việt. Đuốc đấu tranh cho tự do, công lý ngày càng rực sáng từ Bắc vào Nam, từ Hà Nội vào Sài Gòn. Người yêu nước dù bị đàn áp dã man, gông cùm tù đày vẫn bất khuất, hiên ngang nối tiếp bước đấu tranh cho nhân quyền của dân tộc.

Sài Gòn vẫn sống mãi trong lòng đồng bào Việt Nam!

Người Việt Nam tỵ nạn cộng sản vượt rừng vượt biển đi tìm tự do, vẫn mang theo Sài Gòn. Bây giờ, Sài Gòn không chỉ là nhắc nhớ đến tên gọi của thủ đô Việt Nam tự do ngày trước, mà còn là biểu tượng của Tự Do. "Little Sài-Gòn", được người ly hương gọi tên với mến yêu, nồng nàn lưu luyến, nhắc nhớ Sài Gòn với những trang sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đầy hào hùng, với đầy ấp kỷ niệm êm đềm trên quê hương. "Little SAIGON" đã trở thành ước mong, là quyết tâm đấu tranh, là thắng lợi vinh dự của cộng đồng người Việt trên khắp thế giới.

Gần đây, thêm một cộng đồng người Việt được hân hoan chào mừng Nghị quyết của Hội đồng thành phố, đặt tên khu phố người Việt nơi đây là Little SAIGON; đó là thành phố Vancouver, Canada.

Little SAIGON-Vancouver với ánh vàng tự do rực sáng trên từng đôi cờ trang hoàng cho hàng cột đèn, của khu phố nơi đây. Little SAIGON-Vancouver với quốc kỳ trên ngực áo, như ôm ấp ước mong, truyền vào lòng người hơi ấm non sông.

Sóng đại dương đã đưa thuyền nhân vượt thoát gông cùm chế độ cộng sản. Người may mắn tìm đến được đất nước tự do. Triệu hồn oan còn đó trên biển Đông, trong rừng sâu.

Sóng đại dương đưa người rời xa quê hương. Little SAIGON như những làn sóng đưa tâm tư người ly hương hướng về tổ quốc Việt Nam. Người đi bao năm, vẫn hoài vọng cố hương.

Mang giữ hình ảnh quốc kỳ trên ngực áo, những đợt sóng Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm thôi thúc lòng người kề cận, sát cánh với công cuộc đấu tranh của đồng bào yêu nước nơi quê nhà.

Sài Gòn vẫn còn đó!

Sài Gòn hoà nhập trong giòng máu người Việt Nam, lưu truyền đến các thế hệ mai sau. Hình ảnh thế hệ trẻ vươn cao ngọn cờ vàng tự do, tiếp nối bước đấu tranh của cha ông, đã làm sống dậy niềm tin.

Niềm tin tất thắng!

Little SAIGON theo nhịp đập của con tim, thôi thúc ngọn lửa đấu tranh. Little SAIGON là những cuộn sóng đấu tranh, ngày càng dâng trào dồn dập, đưa người ly hương trở về với Sài Gòn, về với quê hương Việt Nam trong ngày rực sáng ánh cờ vàng Tự Do.

Vâng,


" Với lá quốc kỳ trên ngực áo
Ta thấy còn hơi ấm non sông...
"






coffeebean
#750 Posted : Monday, June 29, 2015 1:44:50 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)

Nghĩ về một đội quân đã gác súng

Việt Tâm










Ngày 19.6 năm nay là đúng 40 năm đạo quân một thời của chúng ta hết còn dịp họp mặt, diễn hành, ôn lại với nhau về cuộc đời chinh chiến gian lao, hào hùng, đầy nguy hiểm và đáng được ca ngợi.

Bởi vì đội quân một thời đó đã bị bức tử bởi một nguyên nhân này hay một lý do nọ. Đến đỗi những người nằm xuống cũng không yên, bị lăng mạ, rủa xả và coi khinh, đáng ghét.

Điều đó cũng dễ hiểu thôi vì kẻ chiến thắng thì nói gì chẳng được. Trắng đen, dối trá, lọc lừa họ còn dám làm, huống gì họ chẳng bực khi chúng ta là bức rào ngăn chặn không cho họ thực hiện mưu đồ xấu của họ trong hàng mấy chục năm dài.

Không phải chúng ta tự đề cao chúng ta mà chính họ nói ra miệng về nét oai hùng của đội quân một thời như sau : đánh Mỹ dễ nhất, kế đến đánh Nam Triều Tiên, rồi cuối cùng là khó nhá với các anh.

Ai đã từng trải qua một lần chui vào rọ nhà tù không án của Cộng Sản hẳn còn nhớ rõ những lời rêu rao này. Mặc dù họ phát ngôn bâng quơ, bên lề những buổi gọi là lên lớp thì chứng tỏ họ vẫn gờm đạo quân nhiều phen làm cho họ điêu đứng không ít.

Nói hẳn ra là họ nể, họ ngại, có khi còn sợ nữa là khác. Tai tôi đã từng nghe một tay cảnh vệ dẫn đám tù đi lao động thố lộ : hồi nằm phục trên quốc lộ, nhác thấy các anh đi ngang, tiền hô hậu ủng, súng ống trùng trùng, áo quần tươm tất, lại thêm cái huy hiệu con ó bạc nhe răng, bọn tôi sợ hết vía, đâu ngờ mà các anh thua bỏ chạy nhanh vậy.

Thế nên, khi vừa thu phục được đất đai là họ thi hành ngay chính sách trả thù. Họ giăng dây quanh nghĩa trang quân đội Biên Hòa, phá xới lên hàng bia mộ, còn dã man treo cái băng rôn : đây là nơi chôn bọn thù của dân tộc.

Họ làm vậy là vì họ biết chiếm được đất nhưng không chiếm được lòng người lính cũng như người dân ở miền Nam. Họ dõi theo những băng hình của phóng viên các nơi dẫn lại cuộc gác súng mà nhận ra dù nguy hiểm đến đâu một hai người dân vẫn nài nì đi theo anh lính VNCH khi di tản.

Bởi vì họ biết đạo quân ấy chính là anh em con cháu họ, ít nhiều đã giữ cho họ được yên ổn làm ăn suốt mấy chục năm qua. Mất mát đã có, thương tích đã xảy, nhưng một lòng một dạ thương yêu, đùm bọc và che chở nhau dù đất nước đang trong cơn binh lửa.

Có ai thấy người dân bỏ lính VNCH mà theo bên thắng cuộc đâu nào. Dẫu họ nghe lời phét lác nào là tay sai đế quốc, nào là uống máu người không tanh, nào là tìm hết cách kềm kẹp, nào là lê máy chém đi khắp nơi triệt hạ người yêu nước v.v… nhưng họ vẫn không tin.

Phải, làm sao mà tin được khi thỉnh thoảng vô cớ tiếng hỏa tiễn 122 và 130 ly nổ oàng vào thành phố, đồn đâu không thấy vỡ, lính đâu không thấy chết mà toàn là dân, trẻ em lãnh đủ mấy cái tai ương vô lý đó.

Còn mấy nếp chợ, trường học nào có ai chống báng mà cũng bị tung lựu đạn cho gây nên cảnh đau đớn tang thương thì bảo chỉ bên thắng cuộc mới có chính nghĩa ai mà tin cho nổi.

40 năm rồi, chuyện đày ải, hãm hại nhau ai cũng đã thấy rõ. Nhà bị chiếm, người có khi bị mất âm thầm trong các nhà tù tập trung, đến một số vợ con cũng bị mua chuộc để thành đầu gối tay ấp của bên thắng cuộc thì còn nỗi đau nào lớn hơn.

40 năm rồi, thử nghĩ có một người thương phế binh VNCH nào còn kẹt lại trong nước được các tổ chức của bên thắng cuộc thăm hỏi một lần, hay chỉ toàn khinh khỉnh nhìn và dăm thì mười họa bơm cho những tiếng “ ngụy, tay sai ", nghe mà thêm nhức nhối.

Những đồng ngũ đó giờ nếu còn thì cũng bị quăng rải rác khắp nơi, toàn những vùng “chó ăn đá, gà ăn muối", thậm chí có được ai giúp đỡ thì vẫn bị gọi lên gọi xuống han hỏi, truy nguyên.

Rõ ràng cái việc kêu gọi “ xóa bỏ hận thù " chả qua chỉ là một món trang sức rẻ tiền nhằm câu những kẻ hám danh và ngây ngô, dại dột. Đối tượng của cái nghị quyết 46 hoàn toàn chỉ nhắm vào đám hải ngoại.

Cho dù bây giờ so sánh thì tài lực, vật lực chẳng sá so gì với các món "đớp khẳm" của quan chức, công bộc bên nhà, nhưng lòng tham vẫn khiến họ xun xoe, nịnh nọt, hầu mong có con én nào lỡ dại sa vào lưới thì họ thêm được một mẻ nữa thôi !

Nói như thế, cũng chưa hẳn phía đội quân VNCH đều toàn là những người ý thức, bởi vì chính những tay từng gân cổ hô hào Bắc tiến hay thù CS tối đa thì cũng đã bổ nhào chạy về quị lụy như cỡ NCK, ĐM v.v… Hay lèng xèng thì cũng cỡ NPH, TT v.v…

Thế nhưng với tuyệt đại đa số thì vẫn ngẩng mặt nhìn lên không sợ sệt. Dù gì đi nữa họ biết họ có chính nghĩa trong tay, tuy gác súng nhưng lòng họ vẫn ngùn ngụt lửa.

Ngày 30-4, những cái chết quả cảm của tướng, lính, dân làm cho họ càng ngời thêm niềm kiêu hãnh, vì họ tin họ là người lính của bà con, anh em của đất nước và vạn dĩ nếu còn có cơ hội thì họ vẫn trung thành đi theo con đường ngời ngời đó để không hèn với giặc, không ác với dân.

Cho nên, dù 40 năm đã trôi qua như một giấc mộng thì đoàn quân một thời vẫn chưa chóng bị lãng quên, không những chỉ ở miền Nam mà càng ngày càng lan rộng ra trên toàn đất nước.

Giới trẻ miền Bắc ngày nay họ đã nhận ra đâu là tà, đâu là chính. Họ cân nhắc và suy đoán để thấy đâu là nơi gửi gấm tâm hồn và đâu là nơi ăn hại đái nát, dìm cả đất nước và người dân vào chốn bùn nhơ, cúi mặt.


Hãy tin đi, 40 năm chớ thêm vài mươi năm nữa thì ý tưởng ấy vẫn sẽ không phai nhạt. Cho dù hiện giờ người ta có thể dùng mánh khóe, khủng bố, trấn áp, hay tung bọn hèn giả danh đủ thứ, không dám đường đường lộ hình lộ tích, thì chân lý vẫn không hề suy chuyển!





coffeebean
#751 Posted : Monday, June 29, 2015 11:47:59 PM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



[darkred]Đánh dấu 40 năm tị nạn ở Kennedy Center: Một sự kiện lịch sử[/color]

Chương Trình Vinh Danh và Tri Ân
Tường trình của BPSOS
Ngày 26 tháng 6, 2015
http://machsongmedia.com



Với đoàn diễn viên hùng hậu, lên đến gần 100 người, chương trình Vinh Danh và Tri Ân do tổ chức BPSOS thực hiện vào chiều Thứ Sáu 19 tháng 6 tại Kennedy Center đã tạo nhiều xúc động và cảm hứng nơi 900 quan khách tham dự.

Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 8:00pm, từ 6:30 giờ chiều quan khách đã lục tục đến. Nhiều người đi theo phái đoàn từ các thành phố, tiểu bang và quốc gia khác nhau. Từng nhóm một, họ chụp hình lưu niệm trong đại sảnh trải thảm đỏ và ngoài sân thượng nhìn ra giòng sông Potomac thơ mộng. Các bà, các cô người Việt trong tà áo dài thướt tha và lộng lẫy làm cho nhiều người qua lại chú ý.







Kennedy Center, trung tâm trình diễn nghệ thuật quốc gia Hoa Kỳ, là nơi trang trọng nhất của đất nước Hoa Kỳ để thực hiện việc vinh danh và tri ân. Một số Tổng Thống Hoa Kỳ và vĩ nhân quốc tế đã được vinh danh tại đây.






Trong Hí Viện Eisenhower, khi màn vừa mở ra, hai người dẫn chương trình là Cô Cung Hoàng-Kim, đương kim Hoa Hậu Hoa Kỳ – Nebraska, và Anh Chris Phan, Thiếu Tá Hải Quân và Nghị Viên Thành Phố Garden Grove, mời quan khách đứng lên chào quốc kỳ Hoa Kỳ. Giọng hát cao vút và điêu luyện của ca sĩ Bích Vân trong bài quốc ca Hoa Kỳ ngay lập tức chinh phục khán giả.


Tiếp theo là quốc ca Việt Nam Cộng Hoà với Ban Tù Ca Xuân Điềm. Chiếu rọi lên màn ảnh cực lớn ở đằng sau là lá cờ vàng tung bay trong gió lộng lẫn với cảnh các chiến sĩ VNCH trong ngày duyệt binh hay đang xông pha trận mạc. Ban tổ chức cho biết đã phải chuyên chở màn hình đến từ California vì ở trong vùng không có màn hình đủ lớn.

Khi dàn nhạc trổi bài Hồn Tử Sĩ cho phút mặc niệm, sân khấu tắt đèn và hình phác hoạ bóng đen của một chiến sĩ gợi nhớ bức tượng Thương Tiếc được chiếu lên màn hình lớn, tạo ấn tượng bi hùng đến rợn người.

Ngay sau đó, sân khấu bừng sáng với bản hoà tấu về Mẹ Việt Nam, đã thai nghén và nuôi dưỡng con dân qua gần 5 nghìn năm lịch sử. Chín cô gái thướt tha trong các tà áo dài đặc trưng cho 3 miền đất nước bước ra sân khấu để chào đón quan khách và mở đầu chương trình trình diễn.







Bài Hòn Vọng Phu, do Bích Vân và Thiên Tôn song ca với phần hát đệm của Ban Tù Ca Xuân Điềm, nói lên nghĩa vụ của những người trai đất Việt và sự hy sinh của những người vợ hiền trong suốt chiều dài lịch sử nhiều nghìn năm bảo vệ quê hương.

Người đầu tiên được vinh danh là Binh Nhất Trần Văn Bảy, tiêu biểu cho 250 nghìn chiến sĩ VNCH đã âm thầm bỏ mình bảo vệ quê hương. Binh Nhất Bảy, đã hy sinh chính thân mạng mình để cứu sống một chiến binh đồng minh Hoa Kỳ, được Tổng Thống Hoa Kỳ trao huy chương cao quý Anh Dũng Bội Tinh. Sau đoạn video nói về sự hy sinh của Binh Nhất Bảy, hai nữ ca sĩ Hiếu Thuận và Như Hương song ca bài Anh Đi Chiến Dịch, với phần ngâm thơ trữ tình được đệm bởi tiếng sáo trúc du dương của Đào Công Minh.

[Video “Tran Van Bay and the Fallen Heroes”: https://www.ourjourneyto...rst-class-tran-van-bay/]







Kế tiếp là phần vinh danh tổ chức Counterparts của các cựu cố vấn Hoa Kỳ. Đây là những người cùng sống cùng chết với quân dân miền Nam Việt Nam trong suốt cuộc chiến. Trong những thập niên 1990, họ sát cánh với BPSOS tranh đấu để bảo vệ thuyền nhân trước nguy cơ cưỡng bách hồi hương. Họ đang thực hiện những dự án để giúp đỡ những người Việt-Miên-Lào gặp hoạn nạn. Cô Kim-Tài Garcia, một người lai Mỹ-Việt đến từ Michigan, trao kỷ vật cho người đại diện tổ chức này. Qua bài “Hello Vietnam” nam ca sĩ kiêm giáo sư thanh nhạc Sean Buhr của trường Đại Học New York diễn tả tâm tình của một thanh niên Mỹ đến Việt Nam trong lý tưởng bảo vệ tự do. Giọng hát điêu luyện của anh được tán thưởng bắng tràng vỗ tay nhiệt liệt.






Hai màn vũ của dân tộc Champa và Tây Nguyên nói lên tình gắn bó của các cố vấn Hoa Kỳ với những sắc dân thiểu số ở miền Nam. Các em gái người Champa, đến từ San Jose, múa quạt trong trang phục cổ truyền với mầu sắc tươi mát diễn tả cảnh thanh bình ở miền Nam thời xa xưa. Các em gái người Tây Nguyên, đến từ Raleigh, North Carolina, diễn tả mối tình gắn bó giữa 2 sắc tộc không cùng ngôn ngữ nhưng cảm thông nhau qua điệu múa.









[Video “Counterparts”: https://www.ourjourneytofreedom.org/counterparts/]

Chương trình Vinh Danh và Tri Ân tiếp tục với đoạn video về “Các Siêu Nhân” (The Supermen), danh hiệu mà một số báo chí Phương Tây trao cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh vì đã chặn đứng trong gần 2 tuần lễ quân đội Bắc Việt đông gấp 7 trên đường tiến vào thủ đô Sàigòn. Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh được mời lên sân khấu nhận kỷ vật do Bà Võ Mỹ Lệ và Bà Jane Nguyễn Nga-Dung, hai nữ lưu đến từ Houston, trao tặng. Qua bài “Người Tình Không Chân Dung”, Duy Vũ, ca sĩ không chuyên nghiệp với giọng hát trầm ấm, diễn tả sự hy sinh âm thầm nhưng vô cùng cao cả của nhũng người lính VNCH. Duy Vũ là cháu gọi nhạc sĩ Hoàng Trọng, tác giả bài hát, là ông cậu.







[Video “The Supermen”: https://www.ourjourneyto...18th-infantry-division/]

Video “Những Người Bất Tử” — tên do ban tổ chức đặt cho các quân cán chính VNCH đã không buông súng và chiến đấu đến hơi thở cuối — đã làm nhiều người rơi lệ. Tiếp theo đó là bản hùng ca “Chiến Sĩ Tự Do” do Ban Tù Ca Xuân Điềm sáng tác và trình diễn, nói lên tình huynh đệ chi binh giữa các quân lực của thế giới tự do cùng sát cánh bảo vệ miền Nam Việt Nam. Phần giới thiệu Ban Tù Ca Xuân Điềm trong Quyển Chương Trình cho biết nhạc sĩ Xuân Điềm đã tự chế cây đàn banjo từ sắt vụn trong tù cải tạo. Cây đàn này đã cùng Ban Tù Ca Xuân Điềm đến với sân khấu Kennedy Center trong buổi vinh danh và tri ân.


[Video “The Immortals”: https://www.ourjourneyto...y-to-their-last-breath/]


Phần đầu của chương trình đóng lại với “Saigon Heroes”, một nhóm nhỏ người Hoa Kỳ đã đóng góp rất nhiều cho việc đưa 125 nghìn người Việt di tản năm 1975; cũng chính họ sau đó đã rong ruổi đến các hoang đảo để lập trại tị nạn cho thuyền nhân và bộ nhân Việt Nam, rồi mở chương trình ODP, HO, Amerasian, ROVR… Những hoạt động âm thầm của họ, mà chính những người thọ ân cũng ít ai biết đến, đã giúp cho 1.2 triệu người tị nạn Việt-Miên-Lào đến bến bờ tự do ở Hoa Kỳ và nửa triệu người Việt định cư đến các quốc gia Phương Tây khác. Bà Hiệp Lowman, đại diện cho chồng là Shep Lowman, nhận kỷ vật từ Dược Sĩ Lâm Lê từ Atlana — anh là cựu thuyền nhân hồi hương được định cư qua chương trình ROVR. Ông Shep Lowman, đã qua đời, là con chim đầu đàn của nhóm Saigon Heroes. Thay mặt cho chồng, Bà Hiệp trao tặng cho tổ chức BPSOS bánh lái từ chiếc tàu vượt biên mang số KG 0141, đến Malaysia ngày 1 tháng 8, 1978. Thuyền trưởng của chiếc tàu này đã đích thân trao tặng nó cho Ông Shep Lowman tại đảo Pulau Bidong vào cuối năm 1978. Bài “The Impossible Dream” do Ca Sĩ Thiên Tôn trình diễn đã nhắc nhở mọi người đã từng mang thân phận tị nạn về giấc mơ tự do của ngày nào.





[Video “Saigon Heroes”: https://www.ourjourneyto....org/the-saigon-heroes/]

Phần hai của chương trình mở đầu với giàn đàn tranh của các em trong Nhóm Đàn Tranh Sử Việt đến từ San Francisco. MC Cung Hoàng-Kim giới thiệu: “Các em là hy vọng và tương lai của cộng đồng”; dù sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, các em vẫn yêu thương và gắn bó với văn hoá và truyền thống dân tộc. Trong áo dài hồng, các em trình tấu ba bài cổ nhạc: Trống Cơm, Tùng Quân Đăng Đàn Cung, và Lý Ngựa Ô. Bố mẹ các em hoàn toàn tự túc phí tổn cho chuyến đi về thủ đô; một số nhà hảo tâm ở trong vùng đã cho các em và phụ huynh tá túc trong thời gian tập dợt và trình diễn.





Người kế tiếp được vinh danh là Dân Biểu Christopher Smith, người đã tranh đấu không mệt mỏi để bảo vệ thuyền nhân Việt Nam, các cựu tù cải tạo, các nạn nhân buôn người, và các nạn nhân của sự vi phạm nhân quyền. Người trao kỷ vật là cựu Dân Biểu Cao Quang Anh và Bà Nguyễn Mai, một cựu nạn nhân buôn người được giải cứu từ đảo American Samoa. Đón nhận kỷ vật là Tiến Sĩ Scott Flipse, một khuôn mặt quen thuộc trong lĩnh vực tự do tôn giáo và hiện là phụ tá của DB Smith. Tiếp theo là bản nhạc “Đêm Chôn Dầu Vượt Biển” do chính tác giả Châu Đình An trình diễn với cây đàn ghi-ta. Hát một mình dưới ngọn spotlight mầu trắng ngà, biểu tượng cho ánh trăng trên bãi biển, nhạc sĩ Châu Đình An diễn tả sự cô đơn và đau quặn của những thuyền nhân khi phải bỏ người thân, xóm làng, và quê hương ra đi vì hai chữ tự do. Bài hát làm cho nhiều người trong khán giả đã từng là thuyền nhân rưng rưng nước mắt.






Nhiều quan khách đã cảm động bất ngờ khi MC Cung Hoàng-Kim thay mặt tất cả những người trẻ trong khán giả tri ân các người bố và người mẹ đã hy sinh rất nhiều cho tổ quốc và gia đình; bố thì chiến đấu bảo vệ quê hương rồi chịu cảnh tù đày còn mẹ thì tần tảo nuôi con trong cảnh nghèo túng và tìm đường gửi con đến bến bờ tự do. Thiên Tôn đã trở lại với khán giả với bài “Một Lần Miên Viễn Xót Xa” để nói lên tâm trạng của người con xa xứ, luôn hướng về quê hương của Mẹ Việt Nam.

Cựu Đại Tá Hải Quân Eugene McDaniel, một anh hùng của quân lực Hoa Kỳ, là người kế tiếp được vinh danh. Trong cuộc dội bom ở Văn Điển, gần Hà Nội, tháng 5 năm 1967, chiến đấu cơ của Ông bị bắn rớt và Ông bị bắt làm tù binh. Ông bị tra tấn dã man và chỉ được trả tự do trong cuộc trao đổi tù binh vào tháng 3 năm 1973. Sau thời gian dưỡng bệnh, Ông quay lại phục vụ và sau đó trở thành chỉ huy trưởng hàng không mẫu hạm USS Lexington. Khi cựu Đại Tá McDaniel bước ra sân khấu, các cựu quân nhân Hoa Kỳ và rồi mọi người trong hội trường đã đứng lên vỗ tay không dứt. Người trao kỷ vật cho Ông là Nghị Viên Garden Grove kiêm Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California Bùi Thế Phát. Thu Hoài, ca sĩ đến từ Delaware và chuyên về thể loại Jazz, đã trình bày bản What a Wonderful World của nhạc sĩ lừng danh Louis Armstrong. Bài hát này được nhạc sĩ Louis Armstrong trình diễn trong các lần lưu diễn cho các binh sĩ Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam trước đây.









Phần cuối của chương trình nói lên tâm trạng của những người Việt tị nạn đã trở thành công dân và hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ nhưng luôn hướng lòng về quê hương tổ quốc, qua các bài God Bless America và America the Beautiful do ca sĩ Bích Vân và Sean Buhr trình bày, và bài Giấc Mơ Hồi Hương do ca sĩ Bích Vân đơn ca.






Lúc này, Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng bước lên sân khấu để mời tất cả những người Mỹ và Việt đã từng phục vụ cho lý tưởng tự do ở miền Nam Việt Nam đứng lên để được mọi người hiện diện vinh danh và tri ân. Tràng pháo tay vang dội kéo dài nói lên lòng cảm kích đối với những người đã cống hiến cho lý tưởng tự do. Ts. Thắng sau đó đại diện cho BPSOS và ban tổ chức cảm ơn các nhà bảo trợ tài chánh, các cơ quan truyền thông, các tình nguyện viên, các thành viên Hội Đồng Quản Trị và nhân viên của BPSOS, và các nghệ sĩ đã tình nguyện đóng góp cho chương trình. Ts. Thắng đọc tên của những cá nhân được vinh danh bởi một số người trong thành phần quan khách.

Ts. Thắng sau đó giới thiệu Ca Sĩ NgaMy đến từ Ohio với bài nhạc “Hình Ảnh Người Em Không Đợi”, nói lên sự hoài niệm về một quá khứ đã vuột khỏi tầm tay.





Chương trình đóng lại với bản “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” với tất cả nghệ sĩ cùng xuất hiện trên sân khấu và nhiều người trong quan khách cùng hát và vỗ tay theo, thể hiện lời thệ nguyện là những người con của Mẹ Việt Nam sẽ ngửng cao đầu và tiếp bước trên “Hành Trình Đến Tự Do” cho cả dân tộc.





Chương trình chấm dứt đúng 10:30pm.

Bên ngoài Hí Viện Eisenhower, nhiều người đã nán lại để trò chuyện với nhau. Nhiều bác đứng tuổi cho biết đã không cầm được nước mắt vì chương trình chỉ trong 2 tiếng đồng hồ đã gói ghém cả một quãng lịch sử bi hùng của Việt Nam Cộng Hoà và hành trình đến tự do đầy tang thương và mất mát của trên triệu người Việt sau ngày 30 tháng 4, 1975. Các người trẻ thì bày tỏ niềm tự hào về lịch sử dân tộc, về Việt Nam Cộng Hoà, về thế hệ cha anh, và về căn cước Mỹ và Việt Nam của chính mình.


Kỷ vật trao cho những thành phần được vinh danh và tri ân trong đêm trình diễn là tác phẩm mỹ thuật bằng thuỷ tinh mang hình dáng chim phượng hoàng. Trong huyền thoại Hy Lạp, phượng hoàng sống lại từ đống tro tàn nên được ban tổ chức chọn để thể hiện sự trỗi dậy của cộng đồng người Việt tị nạn khắp thế giới tự do sau khi quê hương của họ bị biến thành đống tro tàn bởi một chế độ bạo tàn.







Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã gửi lời chào mừng đến tất cả những người tham gia và tham dự chương trình Vinh Danh và Tri Ân: “Tôi gửi lời chào mừng đến mọi người tề tựu tại Trung Tâm Nghệ Thuật Trình Diễn John F. Kennedy Center nhân dịp 40 năm trải nghiệm của người Mỹ gốc Việt. Nhiều thập niên trước, quân nhân Hoa Kỳ và Việt Nam sẵn sàng hy sinh thân mạng và tất cả những điều yêu quý của họ để chiếu ánh sáng của tự do vào Việt Nam. Họ chiến đấu oai hùng trong rừng sâu và ruộng đồng, trong giông tố hãi hùng và nhiệt độ thiêu người để mưu cầu dân chủ – và sức mạnh của họ phản chiếu sự quyết tâm của tinh thần Hoa Kỳ.”





coffeebean
#752 Posted : Saturday, July 4, 2015 1:45:56 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


Chiến hữu

Tưởng Năng Tiến







Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”
- Trung úy Đỗ Lệnh Dũng.


Tưởng gì chớ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống. Bạn cùng khoá độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) chắc... vài ngàn!


Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình, nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát - và giữa lúc thập tử nhất sinh - vẫn “tuyên bố” một câu (ngon lành) dữ vậy. Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm... đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi - với bất cứ ai. Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, cho nó đã miệng, rồi cũng chuồn êm - không lâu - sau đó.


Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác. Cách hành xử của ông cũng khác. Bảnh hơn thấy rõ. Coi:

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài. Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân - sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung - đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974.


Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người - toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch - nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được... “hoàn toàn giải phóng.




Tháng 6, 1965: Đồng Xoài, Vietnam. Nguồn: AP/Horst Faas




Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc nói với mọi người:

- ”Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một... tù binh! Ngay sau đó, ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân (một tên gọi khác, mỹ miều hơn, của Đồng Xoài) rồi bị đưa từ Nam ra Bắc - theo đường mòn Hồ Chí Minh - để... học tập cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, Đỗ Lệnh Dũng lại được chuyển trại từ Bắc vào Nam (chắc) cho dễ thăm nuôi.

Cuộc đời rõ ràng (và hoàn toàn) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được ghi lại bởi nhà văn Lê Thiệp bằng một cuốn sách, dầy đến bốn trăm trang, lấy tên của chính ông làm tựa. Tác phẩm này được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương viết lời giới thiệu như sau:

Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội. Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.”

“Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần. Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù...”

“Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.”







Cuốn Đỗ Lệnh Dũng đã được ra mắt tại thành phố San Jose, California. Hôm đó, tôi được hân hạnh nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái - chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân - người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này bị tràn ngập bởi địch quân.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong thời gian qua, một số những người lính năm xưa - đang tản mát khắp năm Châu - đã tìm lại được nhau. Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị hiện (cũng) đang có mặt trong buổi ra mắt sách.

Tôi ngồi ở cuối hội trường, không nhìn được rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều ngấn lệ. Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân được đến một nơi an bình nên cảm thông (thấm thía) tình cảm xúc động này.

Trong giây phút đó chắc chắn mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế. Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.


Nửa khuya, tôi thức giấc. Tôi vẫn luôn thức giấc vào giấc đó. Và đó cũng là lúc mà tôi hay lò dò trở về... chốn cũ! Như một công dân “part-time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới. Hơn nửa đời lưu lạc, tôi vẫn cứ sống mộng mị - theo kiểu “ngày ở / đêm về” - như thế.


*****



Tôi thường trở về Đà Lạt. Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ khô của Đồi Cù, cùng với hàng trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo, tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai mì - bao quanh trại cải tạo Tân Rai - ở Blao. Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa. Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội, chỉ vừa mới biết sơ, qua một bài báo ngắn - của ký giả Bùi Bảo Trúc:




Thương binh Nguyễn Văn Thìn; Nguồn: OntheNet



“Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ. Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc. Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con. Ông không còn chân tay. Hai chân bị cụt trên đầu gối. Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.”

“Trong hình có ghi tên ông. Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn. Năm sinh được ghi là 1952. Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Đơn vị cuối của ông là Trung Đoàn 49, Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất. Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn. Ông không còn chân tay. Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.” “Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay. Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông. Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân. Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa. Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.”

Người bạn đồng đội luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.” Mãi sau này tôi mới biết là... muộn thật! Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây khá lâu, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Độ một tháng sau, có độc giả báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn... kịp nữa. Ông bạn của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Có đêm thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà trước đây tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô... Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa. Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”



TPB Dương Quang Thương và tác giả Nguyễn Cảnh Tân.
Nguồn: Báo Việt Luận




“Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo. Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống...”

“Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây. Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội. Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay. Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây… Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấy tôi mà khóc.”

“ Vợ anh cũng khóc. Tôi cũng khóc. Người chạy xe ôm cũng khóc theo… Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân. Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc...” (Nguyễn Cảnh Tân, “Nỗi Sầu Riêng Hay Cái Đau Chung,” Việt Luận, 27 Oct. 2006).


Những giọt nuớc mắt của ông Nguyễn Cảnh Tân (2) tuy muộn màng nhưng vẫn hơn không. Chả hiểu còn có bao nhiêu ông Dương Quang Thương, và bao nhiêu bà vợ (đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân) nhưng hơn một phần tư thế kỷ qua chưa bao giờ có ai nhớ đến họ - nói chi đến chuyện khóc thương, dù muộn!

coffeebean
#753 Posted : Monday, July 6, 2015 12:05:05 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451
Points: 3,381

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)



Đường vào Thiên Thu!

Y Vũ









Lời tác giả: Viết bài này, người kể chuyện không hề có cao vọng nào khác hơn, vì lẽ giản dị là mình không phải là một văn tài. Tôi không có mục đích tố giác hoặc lên án một đoàn thể hay một cá nhân nào. Ai chả có một phút lỗi lầm. Người viết chỉ làm nhân chứng nhỏ bé trong một giai đoạn lịch sử đau thương khi đất nước chuyển mình.

Xin dành một phút tưởng niệm các bạn tù đã vĩnh viễn nằm xuống và thành thật chia sẻ những đau thương mất mát của gia đình các anh chị
.





Trên đồi núi trắng sương sa.
Ngày đi năm tháng phôi pha mong chờ.
Chia ly ngăn cách mịt mờ.
Lòng ta đau xót lững lờ chơi vơi.
Vợ chồng đôi ngã đôi nơi.
Sông sâu cách trở muôn đời hay sao.
Đêm nằm khấn nguyện trời cao.
Biết ai là bạn tâm giao lúc này.
Hàn thuyên hay khó tỏ bày.
Ngậm cay nuốt đắng đọa đày tấm thân.
Thương nàng lệ úa sầu dâng.
Đêm đêm thao thức bâng khuâng đợi chờ.
Ngày đi đâu có ai ngờ.
Tính sai một bước, cuộc đời phôi pha.
Đây Bến Ngọc - sông Hồng Hà.
Thân trai, thương nước nhớ nhà.
Thương đàn trẻ dại, mẹ già cố hương.
Cầu cho đất nước tha hương.
Cho đời thắm đẹp, quê hương màu hồng.
Phương Đoài kết hợp Phương Đông.
Tình ta kết tục, đoàn viên vợ chồng.

Y Vũ, 1977 - Việt Bắc




Nỗi Lòng Người Vợ (miền Nam)

Thân em như chiếc thuyền nan.
Lướt trên sóng vỡ bạt ngàn trùng dương.
Xa xôi mưa nắng mười sương.
Thuyền trôi ngàn dặm tha phương mịt mờ.
Thương ai tháng đợi năm chờ.
Ngày xanh mòn mỏi bên bờ nhiễu nhương.
Ngày về nối lại tình thương.
Cung đàn lỡ nhịp tơ vương bụi hồng.
Tình ta xa cách mặn nồng.
Cũng luôn ấp ủ tơ đồng yêu đương.


Nhật Mỹ (Hiền thê Y Vũ), 1977 - Sài Gòn




Cửa Địa Ngục:


Buổi sáng hôm đó, tôi thức dậy sớm, chuẩn bị đi trình diện cải tạo. Lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò. Chuyến đi lành ít, dữ nhiều. Phải chăng đây là những giây phút cuối cùng bên vợ dại con thơ. Tương lai mịt mờ, biết ra sao ngày sau. Vai đeo ba lô, bước chân vào cửa nhà tù thứ nhất để nộp với hành trang chỉ đủ cho 10 ngày. Vào thì dễ mà ra thì thiên gian vạn nan. Như con cá chui vô trong rọ. Đã qua cái hom bắt cá thì đành thúc thủ.

Cả một đội Quân hùng Tướng mạnh ngoan ngoãn theo lệnh tập trung cải tạo. Định mệnh đã an bài. Tôi bước chân vào trường Taberd. Ôi nơi đây ngày mới đây còn là nơi ấp ủ tình thương, nào thầy nào trò. Mới ngày nào tôi còn đứng trên bục giảng với phấn trắng bảng đen. Nay tự dưng tôi biến thành kẻ tội đồ, chờ mang đi lưu đày khổ sai chung thân. Cuộc đời là sắc sắc không không. Nhìn qua khung cửa sổ lầu hai, thấy người qua lại tự do, tôi thèm hai chữ tự do mà toan nhảy xuống đường. Nhưng với bản chất nhà giáo, tôi ngại mạo hiểm.


Những cái chết đầu tiên:


Trong hành trình tù cải tạo từ Nam ra Bắc, tôi đã chứng kiến bạn bè kề cận lặng lẽ vĩnh biệt. Người đầu tiên là anh Tường Thế Bỉnh, anh là Kỹ Sư Công Nghiệp, Chánh sự vụ sở Kiểm Lâm Cao Nguyên Trung Phần. Anh cùng chung một đội và phòng giam với tôi tại Trại Suối Máu, phi trường Biên Hòa.

Tối hôm đó, khoảng 9 giờ tối tháng 7 năm 1975. Mọi người đã vào chỗ nằm ngủ. Phòng không có điện, chỉ có ngọn đèn dầu hôi, tỏa ánh sáng lờ mờ. Trong phòng bỗng có tiếng ồn ào xôn xao. Thì ra anh Bỉnh đã dùng dao cạo râu tự cắt mạch máu ở cổ tay. Máu chảy lênh láng ra sàn nhà, miệng thở phì phò. Thế là đã trễ, anh đã vĩnh viễn ra đi. Cạnh anh có Bác Sĩ Hoàng - Bác sĩ Bệnh Viện Từ Dũ hết lòng cấp cứu, nhưng cũng đành bó tay. Anh Bỉnh thường ngày hay trầm ngâm. Mới cách đó 1, 2 tiếng đồng hồ, anh còn kiểm soát nước của đội. Mỗi tù nhân chỉ được quyền dùng 1 lon nước để làm vệ sinh răng miệng. Vì nước rất hiếm, anh em phải thay phiên nhau chở từ xa về.

Tâm sự của đa số anh em lúc đó là tuyệt vọng. Hằng ngày chứng kiến xe vận tải chuyển gạo cho trại tù nên ai cũng lắc đầu. Nhẩm tính biết là không phải tù chỉ trong 10 ngày mà là chung thân. Nếu anh biết, chỉ 3 tháng sau, những tù có chuyên môn như anh sẽ được trở về cơ quan cũ, có lẽ anh không tự sát vì tuyệt vọng. Vì bề gì thì tù ngoài cũng còn dễ thở hơn tù trong, còn được gần vợ con.


Cái chết của một Nhạc Sĩ:


Anh là nhạc sĩ Minh Kỳ, tên thật là Vĩnh Mỹ, gốc người Huế và tính tình hiền lành, vui vẻ. Anh là tác giả của nhiều bài ca nổi tiếng, trong đó có bài “Nha Trang” và “ Đàn Chim Việt” mà tôi rất thích. Những lời ca giản dị, dễ thương “...Nơi ấy có người trai vượt sóng cười...?” hay “Hót đi chim... hót đi chim...” vẫn còn đâu đây, vang vọng trong tôi. Hôm ấy là một chiều mùa Hạ oi bức, cũng tại Trại Suối Máu, Biên Hòa, một phân trại cách chỗ tôi ở khoảng 200 mét. Một tiếng nổ long trời lở đất, khiến tôi tưởng là có biến cố lớn. Người tù nào mà chả mong có một cái gì thay đổi, một sự giải thoát nào đó. Nửa tiếng sau đã có tin anh Minh Kỳ tử nạn cùng một số anh em khác vừa chết vừa bị thương. Con số nạn nhân khoảng mấy chục người. Sau một ngày lao động, anh em tù tụ tập lại chuyện trò. Một trái nổ phóng vào từ phía ngoài hàng rào kẽm gai. Có người nói, vì mua bán trao đổi không sòng phẳng gì đó giữa lính canh và tù cải tạo nên bộ đội ném trái nổ vô. Lại có tin là vệ binh bắn M79 hay lựu đạn giết hại tù cải tạo để trả thù cho người thân đã bị chết trong chiến tranh Việt Nam. Trung Ương có cho 1 phái đoàn xuống điều tra, nhưng kết quả ra sao thì không rõ.


Bị chôn sống:


Ngoài một số anh em lao động khai quang đó đây trên các đồng cỏ trong phi trường Biên Hòa bị trúng trái nổ, còn những tai nạn khác do đất bị sụp lở. Trại phát động kế hoạch đào ao thả cá và đào giếng lấy nước. Anh em tù bảo nhau, bọn cai tù có kế hoạch : tù tự đào hố chôn tù. Khi có biến, chúng chỉ cần lùa tù xuống những cái hố đã đào sẵn, thả trái nổ hay xả súng bắn. Sau đó lấp đất là hoàn tất các mồ chôn tập thể một cách gọn nhẹ. Không biết ý kiến đó đúng hay không, nhưng chả cần chờ đợi gì lâu, trong khi đào đất, một số anh em đã bị đất lở, chôn sống. Khi anh em moi lên được thì chỉ còn là những cái xác tím bầm, mềm nhũn, không hồn. Cán bộ cho bắt loa phóng thanh hát những bài ca cách mạng, khích động cái hào quang giả “Anh Hùng Lao Động”. Đói không có gì ăn, khát không nước uống, một số anh hùng vẫn tranh nhau mà chết. Cứ hai hay bốn người tù khiêng một cái cáng làm bằng nứa hoặc tre đan lại để chuyển đất đá do các anh em khác đào xới. Cán bộ thì nói : “Có sức người, sỏi đá cũng thành cơm”. Nhưng cơm đâu thì chả thấy, vì có chút cơm nào thì cán bộ đã ăn hết rồi còn đâu đến lượt tù.


Sinh Nam Tử Bắc:


Khoảng cuối tháng 8 tù cải tạo phần lớn được chuyển ra ngoài miền Thượng Du Bắc Việt để lưu đày. Chỉ trong vòng 2 tháng đầu giam giữ, hàng trăm tù cải tạo đã bỏ xác tại ngay quê hương miền Nam. Từ nay, trong cuộc lưu đày biệt xứ, hàng nghìn tù bình lần lượt bỏ mình nơi xứ khách với đủ cảnh ngộ.

Đêm hôm đó, từng đoàn tù tay xách nách mang hành lý đi giữa 2 hàng vệ binh cầm súng, cầm đuốc dẫn tù trực chỉ hướng Bến Tàu Tân Cảng.

Đó là những chiếc tàu nhỏ chật chội, hôi thối, dơ bẩn. Từng hàng tù binh mò mẫm leo trên những chiếc cầu gỗ mong manh nhỏ hẹp để đi vào lòng tàu sâu thẳm, chỉ chừa một lỗ nhỏ độ một mét vuông lộ thiên. Dưới hầm tàu, anh em chung sống ngột ngạt với phân và nước tiểu do chính anh em tiểu và đại tiện ra một cái thùng. Mỗi ngày một lần, khi thùng đầy quá, tràn ra ngoài sàn, anh em phải hô lên để xin cai tù kéo thùng lên nóc tàu đổ đi. Phân và nước tiểu, nhất là của những anh em bị tiêu chảy, hôi thối vô cùng.

Nhờ ánh sáng trên trời dội qua lỗ hổng trên nóc tàu, anh em đoán chừng tàu đã đi vào hướng nào và khoảng thời gian nào trong ngày hay đêm. Chúng tôi biết mình đang được chở ra ngoài Bắc, dọc theo bờ biển miền Trung. Trước khi bước lên tàu, chúng tôi phải cúi rạp mình xuống, bò nép trên chiếc cầu ván ọp ẹp. Thỉnh thoảng có bạn tù chẳng may té xuống sông, bị nước xoáy cuốn đi tức khắc. Chẳng biết giây phút đó, cha mẹ, vợ con, anh em của họ có linh cảm gì khi thân nhân đang cố vùng vẫy trên sông nước. Phần chúng tôi, không biết giờ này thân nhân có hay rằng chúng tôi đang nằm trong bụng những khoang tàu đem đi lưu đày miền viễn xứ, nơi xứ lạ quê người?


Chết vì thiếu dưỡng khí:


Tàu đưa chúng tôi tới Đồng Hới thì cập bến. Chúng tôi lên bờ, tiếp tục cuộc hành trình biệt xứ ra miền Bắc bằng xe lửa.

Có hàng trăm dân chúng đứng bên đường, sẵn sàng dàn chào tù binh bằng những lời chửi rủa và gạch đá nắm sẵn trên tay. Họ muốn ăn tươi nuốt sống, biểu dương lực lượng như đàn sói muốn vồ mồi. Cán bộ nói : “Các anh hiện đang ở trên đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa.”

Lần lượt chúng tôi được nhét vào những khoang tàu lửa bụi bặm, chật chội, hôi thối dùng để chở than và súc vật. Chúng tôi ngồi lê lết dưới sàn tàu, chặt như nêm cối. Goong tàu đóng kín không một kẽ hở khiến mọi người ngộp thở, miệng ngáp như những con cá ở trên bờ. Tôi cố gắng ghé mũi vô kẽ hở của cánh cửa goong tàu, tìm một chút khí để thở. Trời mùa hè miền Bắc nắng như nung. Mồ hôi toát ra đẫm áo mà không có một chút nước thấm cổ họng. Đây đó vài bạn tù ngất xỉu và tắt thở. Tiếng bàn tay đập lên thành toa xe kêu cứu. Nhưng tiếng xình xịch của con tàu át cả tiếng la hò. Giữa đường, xe ngừng để cán bộ kiểm điểm nhân số. Chúng tôi được dịp chạy ùa xuống cánh đồng, ruộng lúa. Thật là sung sướng được thưởng thức những giọt khí trời quý hóa, ngọt ngào, và những hớp nước giải khát. Bấy giờ là lúc trời nhá nhem tối, không biết rằng đó là những đầm nước, những vũng nước trên đầm, đầy những vi trúng sốt rét, kiết lỵ. Thậm chí nhung nhúc cả những con đỉa đói đang tung tăng bơi lội. Bệnh và chết chóc sẽ tính sau, chỉ biết bây giờ đang khát và khát... Những xác tù chết thì được vùi dập đâu đó. Chả biết sau này gia đình thân nhân có tìm ra được không để mà hốt cốt ? Tàu ngược miền Bắc Thượng Du Bắc Việt. Chúng tôi tới Yên Bái vào lúc hoàng hôn. Ôi ! Hoàng hôn của cuộc đời...


Sơn lâm chướng khí & Ma thiêng nước độc:


Tù cải tạo được thả vào trong những khu rừng vắng. Mỗi người được giao cho một con dao. Một nhóm vào trong rừng, vượt suối để chặt gỗ, tre, nứa chở về trại để làm nhà, hoặc đi lấy củi. Tù lao động suốt ngày đêm, làm thêm ngày Chủ Nhật. Kiếp trâu ngựa kể từ đây. Hoàn toàn thiếu đồ ăn thức uống và thuốc men. Tất cả chỉ được hứa hão. Thiên đường Cộng Sản là đây.

Cán bộ còn viết trong cầu tiêu : “Ngụy tù trong, ta tù ngoài” và dân chúng quanh vùng hầu hết là dân sắc tộc, hoặc những dân đi kinh tế mới hồi 1954. Họ sống nghèo nàn, khổ sở. Thân mình gầy gò ốm yếu, áo quần rách rưới, chân đi trần. Như thế thì lấy đâu mà được lo cho đủ ăn đủ mặc được. Anh em tù đói quá thì mang hết chút ít quần áo lén đem đổi chác với dân chúng trong vùng lấy chút thực phẩm ăn cho đỡ lòng.

Đi lao động, gặp gì thì nhét hết vô bao tử cho nó đỡ hành hạ. Có một lần, đi ngang qua quãng đường thấy một cây khế chua đã chặt, tôi ngừng lại điểm tâm một trái. Khế chua gặp bụng đói, bao tử cồn cào. Chịu không nổi, làm thêm một trái nữa cho đỡ cồn ruột, trái lại, bụng lại càng xót xa hơn. Và cứ thế, cái vòng lẩn quẩn tái diễn... Cóc, nhái, rắn, rết, bọ cạp, cào cào... Con gì nhúc nhích là ta chén liền. Xuống ao rửa tay, bắt được chú cá con bỏ ngay vào bụng nhai sống. Tôi thèm có một chút đạm. Ai ngờ sau mấy phút, bụng chuyển dạ, tào tháo đuổi ào ào. Bệnh kiết lỵ tiêu chảy làm cho con người mệt lả. Gió thổi cũng ngã. Nhu cầu bao tử làm cho trí óc mê muội. Ao tù, cả ngàn con người ngày nào cũng tắm giặt, thậm chí đem cả những thùng phân nước tiểu, sau khi tưới cây rau, đem xuống rửa. Trách gì mà bỏ cá vào miệng nhai ngấu nghiến mà không bị bệnh đường ruột cho được. Không thiếu gì anh em tù bị ngộ độc chết khi đi rừng và kiếm được những củ, trái cây. Nhẹ nhất thì cũng ngất ngư con tàu đi như ăn những củ sùi, sắn còn sót lại trên đồi. Cán bộ không cho nấu nướng, tù chỉ lột vỏ, đưa xuống suối rửa hay lấy vạt áo chùi đất cát xong ăn liền. Trại phát mỗi bữa một chén bo bo, vỏ dai cứng như chất Nylon, ăn vào bao nhiêu ra hết bấy nhiêu. Như thế sao không kiệt sức cho được.

Càng là những thân thể to lớn như lực sĩ, võ tướng càng dễ chết. Hai anh bạn tù nằm cạnh tôi đều đột ngột ra đi.

Trước hết là anh Nguyễn Văn Hai, tục gọi là Hai Cua-rơ vì anh là cựu tay đua xe đạp Quốc gia. Tướng tá anh Hai to lớn. Sáng sớm hôm đó, tù được tập trung lên Hội Trường để được học tập và nghe đọc tên chuyển trại lên Văn Bàn Hoàng Liên Sơn, một địa danh của địa đầu giới tuyến biên giới Lào-Trung Cộng-Việt. Lúc tới Hội Trường, anh còn khỏe mạnh. Nửa giờ sau khi về láng trại anh đã mê man bất tỉnh. Khi được cáng đi Bệnh xá, nửa đường anh Hai đã tắt thở. Lý do vì đói và lạnh quá, anh không chịu nổi. Chỗ anh nằm bên tay trái tôi. Người ta đem xác anh vùi dập ở chân núi đầy cỏ rậm. Mưa rừng, chẳng bao lâu sẽ làm cỏ mọc, cây cối um tùm. Và anh vĩnh viễn bỏ xác nơi rừng thiêng miền Bắc.

Người khác là anh Lê Trí Hồ. Lúc trước anh là Đại úy Cảnh Sát Tư Pháp Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Saigon. Anh nằm bên tay mặt tôi ở trại Văn Bàn. Anh bị kiết lỵ cả tuần. Sáng anh còn cố đưa quần áo ra suối giặt giũ. Xế trưa, khi chúng tôi đan liếp tre nứa cạnh nhà thì anh đã âm thầm yên lặng ra đi. Đầu giường của anh còn để nguyên chén cháo. Anh đã kiệt sức quá rồi. Một tuần sau, có 2 gói quà của gia đình anh gởi tới trại với đủ loại thuốc tây. Nhà anh có 2 tiệm thuốc tây ở Saigon. Tối đó, đội tôi phải đốt đuốc đưa anh vào rừng sâu, đào hố chôn anh. Khi trở về tới trại thì đêm đã khuya. Không biết sau này, khi Trung Cộng đánh tràn qua biên giới, không biết có ai còn nhớ được chỗ chôn anh nữa không ? Chứng kiến những cái chết cô lạnh của các bạn tù, tôi chẳng trông mong gì có ngày được thả ? Đêm ngày tôi chỉ thầm mong và cầu nguyện sao cho được để xác lại miền Nam, thì cũng là may mắn, hạnh phúc lắm rồi.


Lao Động là chết:


Con số tù trong các trại cải tạo chết càng ngày càng nhiều. Ban đêm những tiếng cú rúc tiễn đưa những linh hồn vĩnh biệt trần gian.

Có những anh em khi leo trên vách núi, trượt chân té xuống vực sâu và suối nước. Nước cuốn xác đi bị mất xác luôn. Trời mưa dầm dề, đường đất lầy lội như mỡ trơn. Cây chặt rồi, anh em phải chuyển về trại. Có cây to và nặng quá, cả chục anh em phải ghé vai vào hè nhau vác về trại. Chẳng may, một người té ngã thì cả toán đều té và bị cây đè, cổ bị gẫy, bể đầu và gẫy tay, chân, xương sống. Có khi phải chuyển cây từ núi xuống suối và chuyển qua suối lên bờ, đưa về trại. Anh em phải cột dây rừng vào đòn gánh, khiêng đi như khiêng những cái cột đình. Một hôm, anh em đẵn cây xong. Đến giờ trưa nghỉ tay ăn cơm trưa. Một bạn tù ngồi dưới chân núi dở bọc cơm ra ăn trưa. Các bạn khác kéo một thân cây lớn, đẩy xuống triền núi theo vết mòn của bờ dốc. Thân cây đổ dốc xuống chân núi kêu rền rĩ, ầm ầm như tiếng xe tăng hoặc tiếng súng thần công, vang vọng cả một vùng. Anh bạn ngồi ăn trưa dưới chân núi, bị cây đâm thẳng vào người không kịp né tránh, thân thể bầm nát, chết không kịp la lên một tiếng.

Cái chết rình rập mọi nơi, có khi tấn công cả một đội nông nghiệp khoảng 100 người. Tất cả lội xuống nước ngập cỏ dại để khai quang. Nào đỉa, nào muỗi, nào bọ vàng, bọ chét tấn công. Hầu hết anh em bị sốt rét, sốt vàng da. Ở tù cải tạo thì lấy đâu mà chữa lành. Cuối cùng thì mặt bủng, da vàng, bụng chướng lên mà chết. Ở Văn Bàn có câu : “Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyển”. Ruồi vàng tấn công nhanh như cắt. Khi bị chúng chích vào da thì sưng lên và nước vàng cứ tiếp tục chảy ra không cầm lại được. Có bạn tù vào rừng bị ong đốt sưng hết cả mặt, ngất xỉu. Đi dọc đường, qua những tàng cây, những con vắt tinh khôn phục kích sẵn trên cành, thấy có người qua liền phóng xuống hút máu. Nếu bắt nó mà vứt đi xa, nó sẽ đánh hơi nóng thân nhiệt và di chuyển về phía người trở lại. Có lần, tối về trại ngủ, con vắt hút đầy máu mới nhả ra và lăn ra lớp trải giường. Thường thì chúng tôi dùng vài bao cát bằng nylon cắt ra và mang lại thành những quần lót hoặc tấm trải giường. Vải bao cát có cái lợi là dễ giặt và dai, khó rách. Tuy nhiên, nếu dùng làm ba lô thì mấy chú chuột với bộ răng nhọn hoắt cũng không tha. Chiều đi lao động về, tù đem ra khâu lại. Tối đến chuột lại chui rúc vào cắn nát. Khổ nhất là chúng chui rúc dưới thùng cầu tiêu, mình trây trét đầy phân và nước tiểu. Khi chúng bò vào túi quần áo lại trây trét hết vào quần áo, vật dụng cá nhân và chăn màn. Ngoài ra thì rệp, gián, kiến, chúng hợp đồng phá hoại khủng bố tù không ngớt. Thân tù chỉ còn có da bọc xương nhưng chúng cũng chiếu cố tối đa. Có lẽ da thịt tù hấp dẫn lắm sao? Rệp, chí tăng dân số rất mau, dở gối mền lên thì lúc nhúc như đậu đen. Mọi thứ được tập trung để hành hạ bọn tù. Tù với tù cũng hành hạ nhau. Ngày bị áp đảo lao động. Tối đến còn phải học tập và tố khổ với nhau tới khuya. Thật là Trời không dung Đất không tha. Mọi người, mọi nơi, mọi lúc. Con người muốn điên lên được.

Thỉnh thoảng có người nhà đi thăm tù. Đi cả ngàn cây số khổ cực, vượt đồi vượt núi, sông suối, nhưng Ngưu Lang - Chức Nữ chỉ được gặp nhau có 5 phút. Mới hỏi được câu “Ở nhà có khỏe không ?” thì đã được Cán bộ ra lệnh vào trại. Vợ chồng ngậm ngùi lưu luyến chia tay. Có cặp thì bà vợ còn đem theo chồng mới lên thăm chồng cũ, yêu cầu ký giấy ly hôn. Một anh bạn mới đưa đồ thăm nuôi vào trại, chưa kịp coi xem có những gì thì đã ngã lăn ra chết vì kiệt sức. Khi được người nhắn tin, vợ anh quay trở lại thì chồng đã nằm sâu trong mộ phần. Tội nghiệp chị khóc vật vã, cắt mớ tóc để lại trên mộ như muốn gửi cả cuộc đời, thân xác được theo chồng vào lòng đất. Chị chỉ còn biết để lại một mộ bia :

"Hiền thê lập mộ”.


Cũng có những trường hợp, trên đường ra Bắc thăm chồng, cha, lúc đi hoặc trên đường về, hoặc vợ hoặc con ngả bệnh và để xác ở dọc đường. Thật là trăm nỗi truân chuyên.


Chết nơi rừng lá:


Càng ngày, áp lực Trung Cộng đánh sâu qua biên giới càng mạnh. Tù cải tạo được lệnh rút dần về Trung Châu - Bắc Việt và sau cùng là rút về miền Nam. Trước đó vào ngày, tôi nằm mơ thấy các bạn tù đội mồ đứng dậy đuổi tôi về đến tận thành phố mới thôi. Chúng tôi được báo cho biết : “Các anh sẽ về trại Thủ Đức Z - 30D Xuân Lộc”. Người chót nằm xuống tại Trại 11B Yên Bái - Hoàng Liên Sơn có lẽ là linh mục dòng Đa Minh, Linh Mục Bản. Cha bị bệnh tiêu chảy kiết lỵ. Vĩnh biệt Cha, người thầy cũ lớp Trung Học Đệ Nhị ở Vũng Tàu.

Trên đường trở lại miền Nam, đồng bào nô nức đón mừng tiếp tế đồ ăn thức uống và hô to : “Hãy trả lại chồng cha chúng tôi !” Bộ đội phải nổ súng giải tán dân chúng tụ tập ngày một đông. Anh em tù ghi vội mấy hàng chữ vào những mảnh giấy, quẳng ra ngoài khoang xe lửa, báo tin cho gia đình...

Chúng tôi lại tiếp tục cuộc đời tù cải tạo tại Rừng Lá, Thuận Hải. Trại có kế hoạch xây đập, ngăn nước suối. Chúng tôi phải tải đá xanh, đất, xi măng y hệt như cảnh nô lệ thời cổ La Mã. Đập đá xây xong rồi, nước dâng lên. Sau những trận mưa rừng, nước cuồn cuộn xô đẩy xuống chân đập.

Ở Z 30 D, nam tù bình được nhốt cạnh trại nữ tù bình. Đó là những sơ Công Giáo, Ni cô Phật Giáo, người vượt biên bị bắt trở lại, Học sinh, Sinh viên trong các tổ chức chống đối. Nam tù cải tạo đã khổ, nhưng đời sống nữ tù có lẽ còn phức tạp, khổ cực hơn. Nên có những trường hợp, các bà, các cô như bị mất trí, cởi tung hết quần áo, chạy tới chạy lui. Vì trại giam cạnh nhau nên đôi khi cũng có những mối tình thầm lén trao đổi giữa hai trại. Sau khi ra khỏi trại, họ thành vợ thành chồng.

Trại cũng gồm cả thành phần tư bản địa chủ. Một buổi đi lao động về, anh em xuống đập nước tắm. Một ông người Hoa thuộc loại “xì thẩu” Chợ Lớn, không biết tính toán độ nước chảy. Ông bơi giỏi, thả trôi từ bên này sang bên kia sang bên đập nước, cách cửa đập khá xa. Nhưng ông đã tính toán lầm : nước chảy xiết quá, sức ông không đủ để chống lại sức nước nên bị cuốn theo những ngọn thác đổ từ bờ xuống bên kia chân đập. Trại cho người mò mẫm mãi mới tìm được xác ông trôi dạt, kẹt vào gốc cây bên bờ suối. Chiều hôm đó, gia đình ông ở Chợ Lớn lên trại lãnh xác ông về Saigon.


Cái chết cuối cùng:


Anh thuộc cơ quan Cảnh Sát Đặc Biệt (thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Saigon). Trẻ trung, đẹp trai, hiền lành nhưng số phận hẩm hiu. Cha mẹ mất sớm, anh phải đi làm rất sớm để nuôi bầy em dại đi học. Anh đâu biết là đi cải tạo là vĩnh biệt đàn em nhỏ.

Anh được giao cho làm công tác diện rộng, nghĩa là tương đối tự do đi làm đây đó gần trại mà không cần sự giám sát chặt chẽ của vệ binh. Anh không có vợ vì rất thương và lo cho các em. Anh hy sinh cả cuộc đời cho đám em nhỏ. Dáng dấp anh luôn luôn trầm ngâm tư lự.

Một hôm anh vô rừng lấy củi, đem theo một cái thùng múc nước và cuộn dây thừng. Xế chiều rồi mà không thấy anh về Trại, các vệ binh, bộ đội được huy động đi tìm kiếm. Mọi người đều nghĩ rằng anh đã trốn trại. Không biết giờ này anh ở đâu... Mọi sự tìm kiếm đều vô hiệu. Tôi thầm cầu nguyện và hy vọng mong cho anh được an toàn và thoát hiểm. Ngày hôm sau, có người phát giác ra anh treo cổ trên cây ở bìa rừng. Nội tạng, ruột gan bị loài chim rút rỉa hết.

Tội nghiệp, chắc là anh tuyệt vọng vì nghĩ rằng : thuộc ngành Cảnh Sát Đặc Biệt như anh thì tù mãn đời. Cuộc đời kể như hết rồi. Cho đến khi ấy thì rất hiếm có người nào được thả. Nếu anh chậm quyết định kết liễu đời mình vài tháng nữa thì có lẽ không đến nỗi vì ít tháng sau có tin đồn : Chính phủ Mỹ sẽ tiếp nhận tù cải tạo từ trong trại và liên tiếp một số đông tù cải tạo được cho về với gia đình. Do đó, có một số anh em, khi được đọc tên cho về lại cảm thấy không mấy hài lòng vì sợ sẽ không được Mỹ chiếu cố.

Phần tôi, là người theo tín ngưỡng Công Giáo, tôi vẫn nghĩ rằng : Linh hồn anh (Anh tên gì, tôi không còn nhớ được, mong rằng sẽ có các bạn khác bổ túc), một người anh tuyệt đối hy sinh vì hạnh phúc của đàn em nhỏ, sẽ được Thiên Chúa nhân lành cho về chốn nghỉ ngơi. Tôi cũng luôn nhớ đến và cầu nguyện cho linh hồn anh mỗi kỳ lễ “Tháng Các Linh Hồn”.

Trước khi chấm dứt, tôi xin dành một phút nhớ tới và cầu nguyện cho hương hồn các bạn tù từ Bắc tới Nam được mỉm cười nơi chín suối. Như 1 nén hương dâng lên các anh, các chị, các cháu ít nhiều liên quan đến “Người Tù Cải Tạo”. Cầu cho các Anh, Chị, Các cháu được tiêu diêu nơi miền cực lạc. Và cũng xin phù trợ cho gia đình chúng tôi, đất nước chúng ta còn trải qua bao đau khổ Trần Thế. Xin cảm ơn nhưng đóng góp phù hợp của các anh chị và các cháu.


Hãy Thắp Cho Nhau Một Ngọn Đèn (Nguyễn Đình Toàn - Nam Lộc)




Users browsing this topic
Guest (4)
39 Pages«<3536373839>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.