Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

101 Pages«<979899100101>
QUÊ HƯƠNG & DÂN TỘC
Duy An
#2010 Posted : Friday, August 14, 2015 12:10:04 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Cuộc trùng phùng bi thảm


Phạm Tín An Ninh

Theo đoàn quân tiếp thu Sài Gòn mà lòng ông Hai Chi rối như tơ vò. Ông và hầu hết các đồng chí của ông ngơ ngác tưởng như chuyện mộng mị không thể nào xảy ra. Chính đơn vị của ông bị đánh tan tác gần như phải xóa sổ trong mùa Hè 1972, đến nay vẫn chưa bổ sung xong, và đám bộ đội còn sống sót cũng chưa kịp hoàn hồn. Vậy mà Ban Mê Thuột mất, Tây Nguyên, Vùng 2, đến Vùng 1 có lệnh bỏ, để rồi cả miền Nam thất thủ chỉ trong vòng bốn mươi lăm ngày. Có lẽ những người ngồi trong Bộ Chính Trị ngoài Hà Nội cũng còn bất ngờ, huống hồ Hai Chi, chỉ mang quân hàm thiếu tá, làm sĩ quan hậu cần của một sư đoàn nằm tận vùng rừng núi Tây Nguyên heo hút...

Từ ngày vào bộ đội, ông Hai Chi luôn bị điều về những đơn vị chiến đấu. Nhờ phước đức mấy đời nên còn sống cho đến ngày tàn cuộc chiến. Không chết, nhưng trên người, và có thể cả trong lòng ông còn mang nhiều thương tích. Vết thương nặng nhất khi đơn vị ông bị B.52 giội bom trong trận Hạ Lào. Tiểu đoàn do ông làm thủ trưởng chỉ còn lại dưới 50 người. Nhờ thương tích ấy ông được điều về Sư Ðoàn 320 làm cán bộ hậu cần. Mùa Hè năm 1972, cả sư đoàn từng mang danh là Sư Ðoàn Ðiện Biên hay Sư Ðoàn Thép này gần như bị xóa sổ, khi Tướng Hoàng Minh Thảo tung vào trận địa Kontum với ý đồ chiếm lấy Tây Nguyên, làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Nhờ làm việc ở hậu cần nên ông Hai Chi sống sót để cuối tháng 4, 1975 có mặt trong đoàn quân ngơ ngác về tiếp thu Sài Gòn.

Hai Chi chỉ là bí danh. Tên thật của ông là Nguyễn Công Chính, con cả của một gia đình gốc tiểu tư sản. Quê ở Hải Phòng. Trước 54 gia đình làm chủ một tiệm bán xe đạp và sản xuất găm bánh xe. Bố mẹ sinh được năm người con, nhưng cả ba cô con gái mất sớm, chỉ còn hai cậu con trai, Hai Chi và người em út, nhỏ hơn đến mười một tuổi. Khi ông đang học Y khoa ở Ðại Học Hà Nội, thì trận chiến Ðiện Biên Phủ kết thúc với sự thắng lợi của phe Việt Minh để Pháp phải ký Hiệp Ðịnh Genève, chia đôi đất nước. Từ vĩ tuyến 17 trở ra cả miền Bắc thuộc về Cộng Sản. Làn sóng di cư đổ xô về Hải Phòng, quê ông, nơi có những chiếc tàu há mồm chở họ vào Nam. Bị lực lượng Việt Minh tìm mọi cách ngăn chặn, nên khi ông về đến được Hải Phòng, thì nhà cửa đã bị tich thu, không tìm được bố mẹ và người em trai của mình. Ông phải bỏ Hải Phòng, bỏ cả con đường trở thành bác sĩ, lên sống với một bà dì trên Ý Yên, Nam Ðịnh.

Nhờ có trình độ học vấn và phấn đấu liên tục để giấu đi gốc gác con nhà tiểu tư sản, ông được cho theo học khóa sĩ quan. Nhưng sau này, khi hầu hết bạn bè cùng khóa lên đến cấp đại tá, thiếu tướng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội hay công an, có người còn lọt vào Bộ Chính Trị, thì ông Hai Chi cứ vẫn là thiếu tá tiểu đoàn trưởng và cuối cùng, sau khi bị thương, được điều về làm cán bộ hậu cần của một đơn vị bại trận, cần thời gian để “biên chế,” bổ sung.

Giữa tháng 3, 1975 Ban Mê Thuột mất, rồi Quân Ðoàn II và Quân Ðoàn I gần như xóa sổ, sau những kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh, để cuối cùng ngày 30 tháng 4, 1975 cả miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

Sư Ðoàn 320 từ Tây Nguyên cũng được tăng cường cho đoàn quân tiến về Sài Gòn, khi Cộng quân bị các đơn vị VNCH chặn đánh tại tuyến Long Khánh gần hai tuần lễ gây tổn thất khá nặng nề. Chiến tranh kết thúc, ông Hai Chi được chỉ định bổ sung cho đoàn cán bộ tiếp thu Tổng Kho Long Bình của QLVNCH bỏ lại. Sau thời gian quân quản, ông là một trong số những cán bộ may mắn được “biên chế” ở lại miền Nam. Nhiệm vụ của ông là kiểm kê và tổ chức chuyển hàng trong các kho về miền Bắc. Từng đoàn xe liên tục từ Nam ra Bắc suốt ngày đêm, chở theo các loại chiến lợi phẩm, không những đã tịch thu được của quân đội hay chính phủ mà của cả dân chúng miền Nam, nhất là sau kế hoạch “Ðánh Tư Sản.” Lúc này trong dân gian truyền miệng một câu nói khá đau lòng mà lý thú: Ðất nước thống nhất để miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận “hàng.” Như con chuột gầy sa hủ nếp, ông Hai Chi trở nên giàu có. Ngôi biệt thự tại thành phố Biên Hòa tịch thu từ gia đình một tư sản gốc Hoa được cấp cho ông, cũng là nơi để ông cất giấu hàng ngàn cây vàng kiếm được. Một năm sau, vợ và đứa con trai của ông cũng từ ngoài Bắc được chuyển vào ở với ông. Học đòi một chút vương giả, bà vợ muốn có người ở, phụ bà lau nhà rửa bát và để cho bà có người sai vặt. Nhưng ngại nếu thuê mướn một người lớn, chuyện “làm ăn” và cả sinh hoạt trong nhà dễ bị “tai vách mạch rừng” lọt ra ngoài, nên sau khi bàn tán kỹ lưỡng, vợ chồng Hai Chi quyết định đi xin một đứa con nuôi. Vừa có một đứa đầy tớ không mất tiền thuê, vừa được tiếng nhân từ, giữ “truyền thống đạo đức cách mạng.”

Vợ chồng ông Hai Chi tìm đến các viện cô nhi để tuyển lựa “đối tượng.” Ông bà muốn có một đứa con gái khoảng 7-8 tuổi, khỏe mạnh và mặt mày sáng sủa. Cuối cùng vợ chồng cũng được như ước muốn. Khi bà soeur “quản nhiệm” cô nhi viện Biên Hòa dắt con bé ra giao, bà chỉ cho biết con bé tên Phượng, 8 tuổi. Bố mẹ đã chết trong trận đánh Long Khánh. Có người thấy nó ngồi khóc trên vỉa hè nên mang về nhà nuôi. Một thời gian sau “giải phóng” gia đình này trở nên túng quẫn, không có đủ cơm ăn, đúng lúc con bé lại bệnh hoạn không sai bảo gì được, nên đã mang cháu đến giao cho cô nhi viện. Lúc ấy cô nhi viện cũng lâm vào cảnh khốn khó, nhưng các soeur không nỡ chối từ, chia bớt phần ăn của mình, lo chữa trị và nuôi dưỡng cháu lành bệnh, ngày một khỏe mạnh, xinh xắn.

Thực ra, thì soeur quản nhiệm biết bố của Phượng là lính Cộng Hòa, qua lời kể dù không rõ ràng lắm của cháu, nhưng trong thời buổi nhá nhem còn đầy không khí hận thù lúc ấy, soeur luôn dặn dò Phượng phải giấu kín điều này không cho ai biết. Ông Hai Chi làm khai sanh cho con bé, đặt tên Nguyễn Thị Hồng Phượng, để nhớ tới thành phố “Hoa Phượng Ðỏ” Hải Phòng, quê hương ông.

Những năm 1978-1979, bọn cầm quyền Cộng Sản muốn đuổi những người Việt gốc Hoa ra khỏi nước nhằm cướp hết tài sản của họ, bày ra chiến dịch quái đản, được người ta đặt tên là “Ra đi bán chính thức.” Nhờ biết tiếng Hoa và có nhiều kinh nghiệm trong các đường dây mua bán, ông Hai Chi lại được “đồng chí” Mười Vân (tên trên giấy tờ là Nguyễn Hữu Giộc), giám đốc công an tỉnh Ðồng Nai móc nối vào tổ chức “đen,” vừa đi tìm những người Việt gốc Hoa giàu có (và cả những người không phải gốc Hoa nhưng chịu chi nhiều vàng để nhận hồ sơ Hoa kiều giả), vừa cho đám đàn em lập ra những toán “lâm tặc” chiếm cứ, làm chủ các khu rừng, chặt hết gỗ quý đóng tàu bán với giá rất cao cho các nhóm người Hoa “ra đi bán chính thức.” Bọn họ mở nhiều xưởng cưa, nhiều cơ sở đóng tàu. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hai Chi đã trở thành đại gia, một nhà tư bản đỏ đầy quyền lực.

Bé Hồng Phượng lớn lên theo nhịp độ phát đạt của gia đình ông Hai Chi cùng nỗi cơ cực của một ô-sin. Ðiều may mắn duy nhất, cũng có thể do ông bà Hai Chi muốn tránh tiếng xấu, Phượng được cho đi học lớp đêm, và nhờ vào tính thông minh cần mẫn, Phượng học rất giỏi.

Ðiều may mắn khác, nhưng lại trở thành tai họa cho Phượng, là càng lớn Phượng càng xinh đẹp. Năm lên 16, nhan sắc của Phượng đã làm si mê bao cậu học trò. Và người say mê nhất lại là Diệp, thằng con trai duy nhất của ông bà Hai Chi. Diệp lớn hơn Hồng Phượng 3 tuổi và khi ấy đang là sinh viên của trường Ðại Học Bách Khoa. Mỗi lần Phượng ra ngoài, Diệp tìm mọi cách đi theo, ngăn chặn bất cứ gả con trai nào muốn tán tỉnh Phượng, lấy cớ là anh trai của Phượng. Ở nhà, Diệp thường bênh vực Phượng, trách cứ mẹ đã bắt cô em nuôi phải làm quá nhiều công việc.

Chưa bao giờ Diệp tỏ ra mình là một ông anh nhân từ tốt bụng như lúc này. Hơn nữa cậu ta cũng nể nang, tôn trọng nết na hiền thục cùng sự khôn ngoan của Phượng. Bà Hai Chi vốn nuông chiều cậu quí tử nên không dám làm Diệp buồn lòng. Ðiều này làm bà khó chịu, nhưng đó không phải là điều mà bà quan ngại. Ðiều lo âu nhất của bà chính là ông Hai Chi, mỗi lần bà bất ngờ bắt gặp đôi mắt của ông chồng say đắm nhìn cô con gái nuôi trong tuổi dậy thì xinh đẹp, cũng là con bé ô-sin của nhà bà.

Ngày xưa, sau khi kết thúc chiến tranh, ông cũng nể nang cái tình bao năm chờ đợi và thương cảm cảnh khổ của bà, nhưng kể từ ngày kiếm ra nhiều tiền, ông tỏ ra uy quyền và lơ là chăn gối với bà. Bà tìm mọi cách để giữ chồng. Nhờ người giới thiệu một số bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ tiếng tăm ở Sài Gòn, chịu bỏ ra một số tiền khá lớn, bà là một trong những người Hà Nội 75 sửa sắc đẹp sớm nhất. Nhờ tài năng của mấy ông bác sĩ miền Nam còn sót lại, nhan sắc của bà có khá hơn nhiều lắm, nhưng so với những cô gái miền Nam, thì bà vẫn chỉ thuộc loại hàng phế thải được “tân trang” phần bên ngoài. Không đủ hấp dẫn ông chồng đang trên đà “đổi mới tư duy.”

Vốn là con gái của một gia đình Cộng Sản, và sống bao nhiêu năm dưới chế độ tàn ác man rợ này, bà đã học được biết bao mưu chước và thủ đoạn để hại người. Trước mắt chồng con, bà luôn tỏ ra thương yêu nhỏ nhẹ với Phượng, nhưng trong đầu đang bày mưu tính kế để hãm hại cô bé mồ côi tội nghiệp này.

Ban đầu bà tính tạo cơ hội cho Diệp, thằng con trai duy nhất của bà cướp đi đời con gái của Phượng, để cho ông chồng già chứng kiến, bỏ cuộc, rồi lấy cớ đuổi Phượng đi, nhưng ngẫm nghĩ thấy mưu kế này có thể là con dao hai lưỡi, không chừng thằng quý tử của bà mê luôn Phượng và quyết lấy Phượng làm vợ thì quả là tai họa, gậy bà lại đập đúng lưng bà! Không thể nào để con trai một của cán bộ đại gia đi lấy con ô-sin. Cuối cùng bà nghĩ tới tay đàn em thân tín của ông. Bà để ý mỗi lần đến nhà, thấy Phượng là anh chàng này như kẻ mất hồn, nhìn chăm chăm vào Phượng rồi bất ngờ giật mình, sượng sùng quay đi chỗ khác. Hắn e ngại vì dù gì Phượng cũng là con gái nuôi của ông Hai Chi. Hắn tên Ðạt, thượng úy công an, tay chân đắc lực của gã Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, được “đặc phái” tới làm việc bên cạnh ông Hai Chi trong tổ chức “đen,” móc nối đưa người Hoa ra đi và phá rừng lấy gỗ.

Ðạt có vợ, một con mang từ miền Bắc vào. Nghe nói cô vợ, trước kia là một “bộ đội gái,” từng mấy năm ở trạm giao liên trên miệt Trường Sơn trong thời “chống Mỹ,” phục viên khi chiến tranh kết thúc, nhưng con vi trùng bệnh sốt rét rừng vẫn còn mai phục trong máu, nên trông khá xanh xao vàng vọt.

Bà Hai Chi biết Ðạt mê mệt cả nhan sắc lẫn thân hình của cô con gái nuôi đang độ dậy thì, nên đã dễ dàng dụ chàng ta vào kế hoạch. Hắn ta bất ngờ như trúng số độc đắc cặp mười, đưa tay thề xin hứa sau này sẵn sàng làm bất cứ mệnh lệnh nào của bà. Bà đích thân ra chợ trời tìm mua mấy gói thuốc ngủ. Tổ chức buổi cơm cuối tuần, gọi Ðạt đến nhậu nhẹt cùng chồng như mọi khi. Trong bữa ăn, ông Hai Chi, Ðạt và cả thằng Diệp thi nhau uống rượu ngoại. Chỉ có bà và Phượng uống nước cam vắt do chính tay bà làm. Trong bếp, bà đã lén bỏ vào ly nước của Phượng mấy gói thuốc ngủ mà bà đã tán nhỏ ra bột. Khuya hôm đó sau khi thấy Phượng thắm thuốc, ngủ say, bà mở cửa gọi Ðạt vào để hiếp Phượng. Bà giả vờ vào phòng nằm với chồng, chờ tiếng ho, như là một ám hiệu của Ðạt, sau khi đã thỏa mãn cơn dục tình thèm khát bấy lâu nay. Bà chuẩn bị lấy giọng để la lên cho cả ông Hai Chi và thằng Diệp chứng kiến cảnh Phượng đang lõa lồ sau khi ân ái với thằng đàn em thân tín của ông. Bỗng dưng bà nghe nhiều tiếng động và sau đó là một tiếng súng nổ chát chúa từ phòng của Phượng. Không cần gọi, tất cả ông Hai Chi, thằng Diệp và bà vội vàng chạy ùa vào. Một cảnh tượng kinh hoàng. Ðạt nằm trần truồng trên vũng máu, còn Phượng nép vào góc phòng hai tay còn cầm chặt khẩu súng K54 sẵn sàng nhả đạn tiếp.

Ông Hai Chi năn nỉ dụ dỗ mãi, Phượng mới đưa khẩu súng cho ông. Nhưng thằng Diệp vội vàng giật lấy khẩu súng từ tay cha với ý định xử tội Ðạt. Trong lúc giằng co, một phát đạn nổ, may mắn không gây thêm thương tích. Tay Thượng úy Ðạt bị thương rất nặng ở vùng bụng, được xe cứu thương chở vào bệnh viện Biên Hòa cứu chữa, sau khi ông bà Hai Chị vội vã mặc áo quần vào cho hắn. Thằng Diệp hò hét chạy theo đòi giết hắn ta. Bà Hai Chi thì rất đỗi ngạc nhiên, cứ nghĩ rằng mấy gói thuốc như vậy, nhất định sẽ làm Phượng say ngủ mê man tới sáng, tại sao lại có thể giật súng bắn thằng Ðạt. Sau này, bà nhờ bác sĩ thử nghiệm, kết quả: bình thường. Hóa ra thuốc bán ngoài chợ trời chỉ là thuốc giả.

Tay Ðạt thoát chết nhưng bị cắt đi một khúc ruột và mất khá nhiều máu. Phượng bị bắt giam. Thằng Diệp đòi ra công an làm chứng, tố cáo Ðạt chủ động hiếp dâm và Phượng chỉ tự vệ. Nhưng ông bà Hai Chi vừa quyết liệt ngăn cản vừa năn nỉ. sợ mang thêm tai họa. Bà Hai Chi lo lắng bị lộ ra cái quỷ kế ác độc của bà. Còn ông Hai Chi thì nghĩ Ðạt là đàn em thân tín của tay Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, quyền uy như ông vua một cõi. Ðến các “đồng chí” phó bí thư, ủy viên thành ủy còn bị hắn ta lập kế bắt giam năm ngoái. Vả lại tay Ðạt cũng chưa làm gì được thì đã ăn đạn rồi. Hắn ta chủ quan, cứ tưởng là Phượng đã say thuốc ngủ. Trút bỏ hết áo quần và cả khẩu “súng ngắn” để trên giường, trước khi đưa hai bàn tay sàm sỡ lên người Phượng. Chưa kịp bàng hoàng khi bất ngờ bị Phượng đạp mạnh xuống giường thì một phát súng đã nổ vào bụng. Cuối cùng Phượng bị tạm giam để đưa ra tòa án nhân dân, với cái tội “phản động” đã định sẵn. Các báo Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên cho đăng tải tin tức này theo chỉ thị: “Tàn dư Mỹ Ngụy dùng mỹ nhân kế ám sát cán bộ cách mạng.”

***

Trận chiến Long Khánh, dưới tài chỉ huy của Tướng Lê Minh Ðảo, đại quân CS bị các đơn vị VNCH chặn đánh tan tác. Ðặc biệt hai quả bom CBU được thả xuống địa điểm “tập kết” của địch, giết cả hai trung đoàn “sinh Bắc tử Nam.” Mang hận thù này, nên sau khi chiếm được Long Khánh, bọn chúng đã bắn giết dã man bao người dân vô tội, trong đó có mẹ của Phượng. Khi xông vào nhà, thấy tấm ảnh của bố Phượng treo trên vách, mang quân phục và cấp bậc VNCH, chúng đã bắt trói mẹ Phượng dẫn đi. Phượng chạy theo khóc kể, rồi lạc vào một nơi xa lạ đầy những xác người, sợ hãi, không còn biết đường về. Bố của Phượng là sĩ quan thuộc một Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân từ Vùng 3 tăng phái cho Vùng 2, bị bắt lúc bị thương trên đường di tản theo Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku vào giữa tháng 3, 1975. Ông bị cầm tù qua rất nhiều trại. Nhiều năm sau không hề biết được tin tức vợ con, ông nghĩ là tất cả đã chết vì biết có những trận đánh lớn tại Long Khánh trước ngày mất nước.

Ngày 2 tháng 9 năm 1984, ông được thả. Ra tù, ông vội vã tìm về Long Khánh. Ngôi nhà của cha mẹ để lại, nơi vợ con ông đã sống từ ngày sinh ra Phượng, đã bị “cách mạng” tịch thu. Người chủ mới là một gã công an. Khi nghe ông hỏi thăm vợ con mình, những người chủ đích thực của căn nhà này, gã công an trợn mắt nhìn chằm chặp vào ông rồi thốt ra mấy tiếng cộc lốc, lạnh lùng: “Tôi không biết, hỏi làm gì?,” bằng giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh rất khó nghe. Khi đến trình diện công an xã, ông bị chỉ định về trình diện chính quyền trong một khu kinh tế mới nằm sâu trong núi để được tạm trú và quản chế. Một nơi ông hoàn toàn xa lạ, không có bất cứ một người thân quen nào.

Ông đón xe đi Biên Hòa, nơi có trại gia binh nằm bên cạnh doanh trại của đơn vị ngày xưa. Chắc chắn là trại gia binh đã bị tịch thu, nhưng hy vọng tìm được người tài xế và vài người lính cũ có thể còn ở lại gần đâu đó. Họ là những người thân thiết cuối cùng còn lại trong đời ông. Ông muốn đến thăm và tìm hiểu tình hình hầu tìm một con đường sống.

May mắn, anh tài xế vẫn còn ở căn nhà cũ phía ngoài trại gia binh. Căn nhà tôn mà trước kia vợ chồng anh đã hốt hai đầu hụi và mượn thêm cả một tháng lương của ông để mua với giá rẻ, mở cái quán nước nhỏ, bán cho anh em lính. Bây giờ cái quán không còn, nhưng anh hành nghề xe ôm với chiếc Honda từ đời 70 còn lại, nên cuộc sống cũng đáp đổi qua ngày. Thầy trò gặp nhau bất ngờ như từ cõi chết trở về, vừa vui mừng vừa cảm động. Anh tài xế ôm chầm lấy ông, bảo hết mình lo lắng cho ông thầy. Anh bảo vợ và thằng con trai lớn chạy đi báo tin, gọi thêm hai anh em cùng đơn vị cũ còn ở lại trong vùng. Mỗi người góp một tay, làm mấy món nhậu uống mừng được gặp lại ông thầy.

Men rượu ngà ngà, nước mắt ông cũng đầm đìa vì cảm kích cái tình huynh đệ, và nhớ tới những anh em đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trên con đường 7B oan nghiệt, tất cả đều chết trong tức tưởi. Bỗng tất cả im lặng hướng về chiếc máy truyền hình nhỏ để trên tủ thờ trước mặt, khi nghe giọng nói sắc máu của người nữ xướng ngôn viên thông báo trực tiếp phát sóng: Tòa Án Nhân Dân tỉnh Ðồng Nai xét xử một cô gái mang tội “phản động, âm mưu ám sát cán bộ cách mạng.” Ông há hốc miệng, đôi mắt ráo hoảnh, khi nhìn thấy cô con gái đứng trước vành móng ngựa, hai tay bị còng, phía sau là một đám công an cả nam lẫn nữ mặt mày đằng đằng sát khí. Cô bé giống vợ ông như đúc. Khuôn mặt hiền lành xinh đẹp này ông đã gặp bao nhiêu lần trong giấc mộng, suốt hơn chín năm tù. Không kịp giải thích, ông bảo anh tài xế tìm mọi cách giúp chở ông thật nhanh đến tòa án Biên Hòa, nơi phiên xử mới bắt đầu.

Chỉ hơn 10 phút sau anh tài xế và ông đã có mặt. Phiên tòa đang tiếp tục phần “buộc tội” của một bà được gọi là đại diên Viện Kiểm Sát Nhân Dân. Ông giật mình khi nghe tên cô con gái “thủ phạm” là Nguyễn Thị Hồng Phượng. Ðứa con gái duy nhất của ông có tên Nguyễn Lê Tuyết Phượng. Chưa kịp hình dung trọn vẹn hình ảnh người vợ và đứa con gái năm tuổi, khi ông được ba ngày phép về nhà đưa cháu vào bệnh viện mổ tim rồi vội vàng chia tay lần cuối cùng để ra đơn vị, thì một điều bất ngờ khác làm ông bàng hoàng hơn: Người nhân chứng được gọi lên cung khai có tên là Nguyễn Công Chính, trùng tên với ông anh cả, đã thất lạc trên ba mươi năm, sau ngày ông cùng bố mẹ di cư vào Nam. Khi nhìn kỹ Nguyễn Công Chính bước lên vị trí nhân chứng, ông sững sờ nhận ra ngay, đó đúng là người anh ruột của mình. Dù dung mạo có đổi thay, nhưng ông không thể nào nhầm lẫn được. Với con mắt hơi lồi và hàm răng vểnh của bao năm trước. Lúc còn bé, ông anh còn có tên gọi trong nhà là cu Tun. Ông đứng bật dậy, định gọi lớn tên anh mình, nhưng kịp nhớ ra đang ở trong phiên tòa, và bản thân mình cũng là người tù chưa trình diện nơi quản chế. Lòng dạ rối bời, ông chưa kịp trấn tĩnh để nghe nhân chứng vừa nói điều gì, thì bỗng có tiếng la từ hàng ghế phía trước. Một cậu thanh niên đứng bật dậy, hét to:

-Tôi là Nguyễn Công Diệp đã đủ tuổi để xin làm nhân chứng. Tôi chứng kiến tận mắt, ông Thượng úy Ðạt định hiếp Phượng, cô em nuôi của tôi. Em tôi chỉ phải tự vệ bằng chính khẩu súng của ông Ðạt.

Bất chấp tiếng búa gõ và phản đối ra lệnh ngồi xuống của chủ tọa phiên tòa, cậu thanh niên vẫn tiếp tục:

-Khi bị bắn, ông Ðạt nằm trần truồng ngay dưới giường ngủ của em tôi, chứ không phải mặc nguyên áo quần công an như bố tôi vừa nói. Tôi phản đối.

Tất cả nhốn nháo. Có lệnh tạm ngưng phiên tòa, buổi chiều sẽ nghị án. Ông Trực vội vàng chạy tới Phượng, nhưng chưa kịp nói điều gì thì mấy gã công an đã đẩy Phượng đi. Ông chạy ra hành lang tìm gặp Hai Chi. Ông ta bỏ đi trước một mình khi vợ và đứa con trai đang còn lớn tiếng cãi nhau

Khi thấy có người đập mạnh trên vai, ông Hai Chi quay lại, nhưng chưa kịp nhận ra ai. Nước mắt ràn rụa, giọng nói dường như nghẽn lại, ông Trực cố gắng lắm mới thốt ra lời:

-Anh Cu Tun ơi! Em là Trực, Nguyễn Công Trực, em út của anh đây. Cháu Phượng là con gái của em!

Ông Hai Chi khựng lại, sững sờ, trố mắt nhìn. Trời đất như quay cuồng trước mặt khi ông vừa nhận ra đứa em thất lạc đã gọi đúng cái tên cúng cơm của mình mà cả vợ con ông cũng chưa hề biết. Ông kéo tay ông Trực ra xa, đến dưới một bóng cây bên kia đường vắng. Trời đang vần vũ một cơn mưa. Cả hai đều chưa biết tung tích của nhau, nhưng riêng ông Trực thì đã đoán ông anh của mình phải là một cán bộ Cộng Sản cao cấp, với cái vẻ bệ vệ của ông cùng sự sang trọng của bà vợ và đứa con trai. Một cảm giác rờn rợn lẫn một chút xót xa thoáng qua trong đầu ông Trực. Ông Hai Chi căn dặn Trực tạm thời đừng tiết lộ điều gì với vợ và con trai ông. Bởi vợ ông là một người Cộng Sản thực thụ, có thể gây bất lợi cho em mình. Ông sẽ bảo vợ, Trực là một đàn em thân tín nhưng hoạt động trong bí mật.

Ðưa Trực về nhà. Cả một buổi trưa, ông Hai Chi tưởng mình như đang rơi xuống chín tầng địa ngục. Ngoài trời mưa tầm tã, nhưng trong lòng ông nóng còn hơn lửa đốt. Ông nhắm mắt ngửa mặt lên trần nhà khi nghe người em của mình cho biết:

-Bố mẹ đã chết trong Tết Mậu Thân do pháo kích của các anh. Em bị các anh bắt giam cầm hành hạ hơn 9 năm trời, tưởng đã bỏ xác trong tù, vợ em có lẽ cũng bị các anh giết tập thể ở Long Khánh, và cháu Phượng là đứa con duy nhất của em, mới mấy tuổi đầu mà phải bị ức hiếp tù đày.

Là một người Cộng Sản “theo thời thế,” ông Chính vẫn còn ít nhiều cái gốc tiểu tư sản. Một chút lương tâm còn sót lại bỗng làm ông bật khóc. Thực ra thì ông cũng đã từng bao lần khóc thầm, khi suýt bỏ mạng ở các chiến trường Hạ Lào, Tây Nguyên, chứng kiến những cái chết kinh hoàng và vô nghĩa của hàng vạn thanh niên nam nữ từ miền Bắc bị cưỡng bách đi B. Vài lần thoáng hiện trong đầu ông hai chữ “hồi chánh,” nhưng phân vân vì khi ấy vợ con ông ở ngoài Bắc, chắc chắn sẽ phải khốn khổ với đám cường quyền. Ý tưởng chưa ngã ngũ thì chiến cuộc kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Ông tiếp tục “nín thở qua sông,” cố đóng cho thật khéo vai trò “đảng viên trung kiên,” để hưởng cho tròn cái lợi danh của người “bên thắng cuộc.”

Buổi chiều, phiên tòa tái nhóm. Ông Hai Chi xin được phản cung, thay đổi lời khai nhân chứng. Là một đảng viên có chức quyền, lại là bạn thân của “đồng chí” Mười Vân giám đốc ông an tỉnh, ông cũng được mấy ông bà “quan tòa” vị nể. Nhưng tất cả đều ngỡ ngàng khi nghe ông tuyên bố:

-Lời nói của cậu con trai tôi sáng nay là đúng. Chính đồng chí Thượng úy Ðỗ Hữu Ðạt đang thực hiện ý đồ hiếp dâm cháu Nguyễn Thị Hồng Phượng, là con gái nuôi của chúng tôi, còn đang tuổi vị thành niên. Với tư cách là một đảng viên và cán bộ nhà nước, tôi cam kết những lời xác nhận này là hoàn toàn chính xác. Sáng nay, vì muốn giữ danh dự cho chiến sĩ ngành công an, tôi có ý che giấu cho anh Ðạt, nhưng rồi tôi đã kịp nghĩ ra, làm như vậy trước tòa là phạm pháp, có tội với đảng, với nhân dân.

Bà Hai Chi tròn mắt ngạc nhiên, tức giận, trước thái độ thay đổi bất ngờ của ông chồng. Tay Thượng úy Ðạt được tòa gọi đứng lên đối chất. Hắn ta không phản biện, vì biết tội đã quá rõ ràng, nhưng lại trút tội lên đầu bà Hai Chi. Hắn ta khai ra tất cả kế hoạch bỉ ổi của bà. Nội vụ lại chuyển sang một hướng khác, hoàn toàn ngoài dự trù của Viện Kiểm Sát. Phiên tòa tạm ngưng để tiếp tục điều tra.

Không khí trong nhà ông Hai Chi trở nên ngột ngạt, nhưng ông Trực cố nán lại đây để mong được sớm gặp con gái của mình và cũng tránh bị xét hỏi giấy tờ. Ông Hai Chi đích thân làm đơn bảo lãnh Phượng được tại ngoại. Cha con gặp nhau trong ngỡ ngàng. Phượng không nhận ra cha mình. Nhưng huyết thống phụ tử rất nhiệm màu, hơn nữa khi nghe ông Trực bảo “phía dưới ngực bên trái của con có một vết sẹo dài khi con mổ tim,” Phượng òa khóc và ôm chặt lấy cha. Trong lòng Phượng như vừa mới nở ra một đóa hoa tươi thắm nhất.

Giữa tháng 10, 1984, khi phiên tòa chưa tái nhóm thì tại tỉnh Ðồng Nai xảy ra một biến cố lớn, làm xôn xao cả nước, đặc biệt đối với dân chúng miền Nam, sau hơn chín năm vẫn chưa kịp nhận ra hết bộ mặt thật của những người Cộng Sản:

Mười Vân Nguyễn Hữu Giộc, đảng viên cao cấp, con hùm xám Nam Bộ một thời, đang là giám đốc công an tỉnh Ðồng Nai bị bắt. Ðích thân “đồng chí” bộ trưởng công an, âm thầm đưa cả một lực lượng công an chuyên nghiệp và tin cẩn từ Hà Nội vào Sài Gòn lập kế bắt Mười Vân ngay trong phòng họp. Lục soát tư dinh và nhiều nơi khác, công an tịch thu hơn hai ngàn cây vàng và cả trên 500 kg vàng cùng hột xoàn các loại.

Ngày 1 tháng 11, 1984, một phiên tòa đặc biệt được khẩn cấp triệu tập tại thành phố Biên Hòa, dưới sự “chủ trì” và xét xử của Viện Kiểm Sát Nhân Dân và Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Phiên tòa đặt dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của “đồng chí” Trần Quyết, bí thư Trung Ương Ðảng, viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao.

Mười Vân bị xử tử hình. Bản án sơ thẩm cũng là chung thẩm, được thi hành cấp kỳ sau một tuần tại trường bắn Long Bình.

Lần đầu tiên báo chí tại Sài Gòn được đăng tải tin tức phiên tòa mà thủ phạm là một ông lớn, đảng viên cao cấp. Người ta cũng biết được có những chiếc tàu chở người Hoa đã bị bỏ đói, nhận chìm, ngoài bờ biển Cát Lái, Rạch Giá, Phú Quốc và vài nơi khác ở miền Trung, làm chết rất nhiều người. Và khắp cả nước bàn tán về chuyện cướp bóc, tham nhũng, ăn chia không đều giữa những người Cộng Sản!

Sau đó nhiều phiên tòa đặc biệt khác được tiếp tục, xử những người đồng lõa, trong đó có cả mấy ông bà trong Tòa Án Nhân Dân Ðồng Nai. Nhờ đó, vụ án của Phượng bị bỏ quên, không còn ai nhắc tới. Nhưng ông Hai Chi và cả tay thượng úy công an Ðỗ Hữu Ðạt lại dính vào vụ án lớn. Bởi cả hai đều là cánh tay đắc lực của gã Mười Vân.

Biết không thể nào vượt qua số phận, ông Hai Chi tự động đến trình diện trưởng ban điều tra của “ban chuyên án,” và xin giao nộp 800 cây vàng, ông khai là Mười Vân nhờ giữ hộ. Và cũng nhờ ông khai thêm những đường dây làm ăn của Mười Vân, nên ủy ban bắt thêm một số đàn em, trong đó có Thượng úy công an Ðỗ Hữu Ðạt, tịch thu thêm cả ba ngàn cây vàng, gồm cả 800 cây được giấu kỹ dưới hồ nước sau nhà một đàn em thân tín của Mười Vân, phải điều xe cần trục câu lên.

Tất nhiên với dạn dày kinh nghiệm, ông Hai Chi kịp thời tẩu tán một số vàng. Ông vội vàng móc nối một đường dây quen biết cũ, tung vàng ra để gởi cha con ông Trực, dắt theo Diệp, thằng con trai duy nhất của ông vượt biển khẩn cấp ra khỏi nước.

Nhờ tàu Cap Anamur cứu vớt trên biển, bố con ông Trực và Diệp được đến định cư tại Tây Ðức.

***

Mùa Hè năm 1990, trong một dịp sang thăm người bạn thân cùng tù Hoàng Liên Sơn lúc trước, tôi được gặp anh Nguyễn Công Trực, một cựu sĩ quan Biệt Ðộng Quân, là bạn láng giềng thân thiết với người bạn tù của tôi. Anh đã kể cho tôi nghe về những ngày cuối cùng của đơn vị anh trên Tỉnh Lộ 7B - từ Pleiku di tản xuống Tuy Hòa, và cả câu chuyện trùng phùng bi thảm này. Tôi cũng được nói chuyện với cháu Phượng, cô con gái hiền thục xinh xắn của anh, vừa mói tốt nghiệp dược sĩ. Chúng tôi cũng đến thăm cậu Diệp, con trai của ông bà Hai Chi, cũng là cháu ruột của anh. Diệp đang sống chung với cô vợ người Ðức và đứa con trai hai tuổi.

Tôi cũng được biết ông Hai Chi, nhờ “thành khẩn khai báo,” nên được hưởng khoan hồng với hai mươi năm tù. Vợ ông, bà Hai Chi bị án sáu năm tù về tội đồng lõa và tàng trữ vũ khí, vàng bạc phi pháp. Bà chết trong tù sau hai năm thụ án, do chính tay công an Ðỗ Hữu Ðạt, người bị giam cùng trại, đánh lén bằng cuốc trong giờ lao động, để trả mối thù xưa. Hắn ta nghĩ rằng chính bà đã lập mưu để hại hắn, chứ Phượng không hề bị bà cho uống thuốc ngủ. Hắn ta cũng nghi ngờ ông Hai Chi đã khai hắn là tay chân đắc lực của Mười Vân, đã từng giết người bịt miệng, nên nhà cửa bị tịch thu cùng với bản án bốn mươi chín năm tù.

Và sở dĩ có phiên tòa và vụ án làm xôn xao cả nước thời ấy, hoàn toàn không phải chống tham nhũng mà chỉ vì bọn chúng không ăn chia đồng đều. Tay Mười Vân đã dành riêng cho mình một số vàng quá lớn, và từng làm mưa làm gió, qua mặt đám đàn anh, không còn xem trung ương ra thể thống gì.

Về sau tôi còn biết thêm: Sau khi ông Hai Chi giảm án ra tù, được con trai bảo lãnh sang Ðức. Nhưng ông đã quẫn trí, thường ngồi thẫn thờ nhìn lên trời cao, lúc khóc lúc cười. Ông qua đời năm 2006.


Cat' Linh
#2011 Posted : Thursday, August 27, 2015 4:25:06 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 704
Points: 2,265
Location: fa la la

Thanks: 944 times
Was thanked: 862 time(s) in 463 post(s)
phamlang
#2012 Posted : Thursday, September 3, 2015 4:54:16 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Những “người rừng” thời hiện đại





Thưa quý bạn, cách đây 2 năm, chúng tôi sang chơi bên Úc. Lúc ấy là giữa tháng 7, đang mùa đông, nhiệt độ vào khoảng 9 – 10oC. Đối với anh em bên Úc thì 9 – 10oC không nhằm nhò gì cả nhưng đối với chúng tôi là lạnh lắm, giống như mùa đông ngoài Bắc. Chúng tôi được anh em trong tòa soạn dẫn đi “du lịch” sang Gold Coast, thành phố lớn thứ nhì sau thủ phủ Brisbane của tiểu bang Queensland. Tất nhiên đối với anh chàng “hai lúa” Đoàn Dự thì cái gì cũng lạ, nhưng có điều lâu lâu tôi thấy trên các vỉa hè, sát với góc tường của các building lớn, có những anh chàng râu ria rậm rạp, đầu tóc bù xù, nằm hoặc ngồi ngủ gà ngủ đật giữa những đống chăn, nệm dầy cả tấc. Anh V. Túy bảo tôi: “Dân homeless đấy. Đừng đến gần nó, nó hay gây sự lắm”. Tôi rất ngạc nhiên: “Ủa, bên Úc giàu như thế mà cũng có dân homeless?”. “Có chứ, nhưng cũng ít thôi chứ không nhiều lắm”.

Sau đó anh Túy nói thêm: “Tại tụi nó thích lang thang, nằm ngoài đường như vậy cho tự do chứ sự thực nhà nước có xây nhà cho nó mà nó không ở, nhiều đứa bán nhà lấy tiền nhậu chơi”. “Rồi họ lấy gì để sống?”. “Có trợ cấp xã hội. Ở bên này nhà nước nâng đỡ tụi nó dữ lắm nhưng nó làm biếng, cứ tà tà chẳng chịu làm ăn gì, như vậy thôi”.

Thì ra thế. Ở trong nước trước đây cũng có dân homeless nhưng họ là những người nghèo thứ thiệt, không nhà không cửa, ban ngày thì đi ăn xin, ban đêm nằm co quắp dưới các mái hiên hay các sạp chợ. Sau, nhà nước bắt quá, tập trung vào các trung tâm bảo trợ xã hội, nuôi cho ăn uống và có chỗ ngủ nhưng rất kém nên họ sợ, tản mác đi đâu cả, không thấy lang thang ăn xin hoặc nằm đắp chiếu bên lề đường hay dưới các mái hiên nữa.

Một dạng thứ hai của người nghèo là “người rừng”. Thường thường họ ở các vùng cao, rất nghèo, không có đất đai canh tác nên lên trên rừng tìm cách sinh sống. Sau đây xin mời quý bạn xem xét một vài trường hợp của các gia đình “người rừng”, họ rất đáng thương, rất đáng quý mến chứ không đáng trách…

I. Hai cụ già giữa đại ngàn Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Giữa đại ngàn hoang vu, bên sườn một ngọn núi cao chót vót, là “ngôi nhà” của hai vợ chồng già nằm đơn độc suốt bao nhiêu năm trời. Căn lều xơ xác được chắp vá bằng vải bạt, cành cây và những tấm phên lợp cũ nát giúp họ sống nơi non thiêng này qua những mùa mưa rừng, bão tố. Cuộc sống cơ hàn không có một chút tiện nghi, họ chia nhau từng miếng cơm, từng hớp nước, nhưng chưa bao giờ thiếu thốn tình cảm và sự yêu thương.

Nằm sâu trong rừng Xuân Sơn, con đường vào bản Cỏi lượn quanh những ngọn núi cheo leo, một bên là vực sâu hiểm trở, một bên là vách đá dựng đứng như thử thách lòng người.
Khi nhắc tới câu chuyện về gia đình cụ Đặng Văn Kênh (89 tuổi) và cụ Đặng Thị Tiến (92 tuổi), người dân ở bản Cỏi xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ai cũng tỏ ra cảm phục. Họ không chỉ phục hai cụ vì có thể sống được ở nơi rừng núi hoang vu ấy, mà còn cảm phục tình cảm vợ chồng khắn khít dù ở cái tuổi gần đất xa trời.

Căn chòi vợ chồng cụ Kênh đang ở chỉ là một túp lều đơn sơ cũ nát, nằm sát ven rừng, chẳng có đồ đạc gì ngoài chiếc giường tre thấp đặt giữa lều có tấm nệm để cụ bà nằm vì hai chân đã liệt.

Đây là căn lều được bà con bản Cỏi dựng lên để hai cụ tránh mưa tránh nắng. Chính quyền địa phương có kế hoạch xây cho hai cụ một căn nhà tình thương; một số gạch đã được đưa lên từ lâu, nay đã hóa cũ xỉn, mọc rêu… sợ hai cụ quá vãng trước khi có nhà!



Qua những mảnh ký ức chắp vá từ lời kể của cụ ông, cuộc đời hai cụ như được tái hiện, dù không đầy đủ nhưng cũng khiến người ta có thể hình dung những khó khăn vất vả hai cụ đã trải qua.
Hai cụ sinh ra và lớn lên ở xã Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, được gia đình mai mối nên duyên vợ chồng từ rất sớm, dù cụ bà hơn cụ ông ba tuổi. Ngày ấy, cuộc sống vô cùng khó khăn, cặp vợ chồng trẻ không có nghề gì trong tay nên đành tha hương cầu thực, tới tỉnh Hòa Bình kiếm ăn.
Đặt chân đến Hòa Bình mưu sinh, họ dựng lán trên một khoảnh đất nhỏ ven rừng để làm chỗ trú chân. Cuộc sống nghèo khó không làm họ nản lòng, thậm chí còn yêu thương nhau hơn.

Hằng ngày họ đi làm thuê cho người dân xung quanh, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo, không hề một lần xích mích. Chỉ duy nhất có một nỗi buồn là không thể có con. Rồi họ xin một đứa con trai sơ sinh của một gia đình đông con ở xã Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ về nuôi; và sau đó lại xin thêm một đứa con gái của một người đàn bà chửa hoang, cũng ở xã Minh Đài.

Có thêm hai đứa trẻ, hai vợ chồng càng phải làm việc nhiều hơn để có cái ăn. Khi hai người con trưởng thành, có gia đình riêng, hai cụ dắt nhau lên vùng Xuân Sơn cũng gần với xã Minh Đài sinh sống. Do xa quê đã lâu, mảnh đất cắm dùi không có, nên hai cụ phải đưa nhau vào rừng, lên lưng chừng núi, dựng lán, lấy việc kiếm củi, trồng trọt làm kế sinh nhai.

Cuộc sống khó khăn cứ thế trôi qua cho đến đầu năm 2014, trong một lần đi kiếm củi trong rừng, cụ bà không may bị ngã. Do không chữa trị kịp thời, vết thương ngày càng nặng khiến hai chân cụ bị liệt. Gánh nặng đổ dồn lên vai cụ ông. Mỗi ngày cụ ông phải vượt qua quãng đường gồ ghề của rừng núi để đi lấy nước suối về dùng. Ở cái tuổi 89, thần trí đôi khi lơ đễnh, con đường đi lấy nước quả là rất cực nhọc với cụ.

Bữa cơm của hai cụ vô cùng đơn giản, chỉ ít cơm với ít nước mắm và bát nước nóng để dùng thay canh.
Cụ bà kể, có những lúc hết gạo, hai cụ nhường nhau chén cơm với chút cá kho do thằng cháu nội đem lên. Hai người con nuôi của hai cụ rất thương bố mẹ nhưng họ cũng nghèo và đông con nên không giúp đỡ gì được nhiều.



Hiện tại, cuộc sống của hai cụ phần lớn phụ thuộc vào tiền trợ cấp của chính quyền địa phương (mỗi tháng 180 ngàn đồng/người, tức khoảng 9 đôla Mỹ/tháng) và sự giúp đỡ của bà con bản Cỏi. Thỉnh thoảng có người lên hỏi thăm sức khỏe và đem theo ít gạo, ít muối cho hai cụ. Cuộc sống vùng núi cao cằn cỗi này tuy khó khăn nhưng bà con thân thuộc rất giàu tình cảm.

Trước đây, đã có nhiều lần bà con dân bản Cỏi muốn giúp hai cụ dựng một căn nhà nhỏ ở gần khu có nhiều người sinh sống, nhưng hai cụ nhất định không chịu vì đã quen với cuộc sống của rừng và không muốn phiền hà đến người khác.

Có lẽ sự khắc nghiệt của cuộc sống phải chạy ăn từng bữa không còn là nỗi âu lo đối với hai cụ. Họ đã đi cùng nhau gần hết cuộc đời, vượt qua bao sóng gió nhưng vẫn luôn giữ được nụ cười hạnh phúc. Điều cả hai cụ mong mỏi nhất đó là họ được sang bên kia thế giới cùng lúc, cho khỏi bị chia ly.

II. Gia đình 6 người sống giữa rừng sâu

Nằm tuốt trong lòng đại ngàn, cách đường nhựa gần một ngày đi bộ, là túp lều của cặp vợ chồng có 4 đứa con sống như “người rừng”.

Phải mất gần một ngày đi bộ từ Trạm Số 2 Bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, rồi phải vượt 5 ngọn núi cao thẳng đứng, lội qua hàng chục con suối với những con đường chằng chịt cỏ cây, gai góc, mới có thể đến khu Rừng phòng hộ Sông Mao nơi có căn nhà của gia đình anh Diệp A Dưởng.

Căn nhà của anh Dưởng chừng 30m2, được dựng bằng tre nứa, mái phủ bằng những tấm bạt cũ, bên trong có vài vật dụng thô thiển rẻ tiền như nồi niêu xoong chảo và bát đũa, trên vách có quyển lịch xem ngày tháng…

Các thành viên trong gia đình anh Dưởng cũng mặc quần áo giống như dưới xuôi chứ không ở trần hoặc đóng khố. Tuy nhiên vì sống cách biệt hơn 20km đường rừng đường núi với thế giới bên ngoài nên cả 4 đứa con của anh Dưởng hầu như hoàn toàn không được tiếp xúc với ai khác ngoài bố mẹ.

Ba lần lấy vợ, được 6 đứa con
Anh Diệp A Dưởng vốn là người gốc Hoa, sinh tại thôn Hải Thủy, xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Nhà nghèo, không biết làm gì kiếm sống nên từ năm 1982, anh quyết định vào rừng nhặt củi, kiệm chò chai (một loại nhựa cứng do cây tiết ra, nấu lên dùng để trét thuyền) đem ra huyện bán. Nơi anh chọn là khu rừng sâu cách thôn làng khoảng 5 tiếng đồng hồ đi bộ. Trong thời điểm còn độc thân, anh lấy người vợ đầu tiên là chị Nguyễn Thị Quảng. Ở với nhau được một con trai thì chị mất.

Anh kể: “Vợ chết buồn quá, tôi trở về thôn gởi con cho bố mẹ ruột nuôi giùm rồi lại trở về rừng. Phải ở trong rừng sâu thì mới kiếm được chò chai chứ ở bên ngoài họ kiếm hết rồi”. Gần một năm sau, anh quen người con gái thứ hai trong khi đi bán chò chai, tên là Nguyễn Thị Phương. Hai người lấy nhau rồi vào rừng sâu sinh sống. Anh kể: “Tôi ở với Phương được một con gái thì Phương chết vì bị sốt rét nặng. Cô em ruột của Phương tên là Lâm Tuyền thương hai cháu nhỏ mồ côi nên vô trong rừng trông nom. Từ đó chúng tôi sống với nhau như vợ chồng và có thêm được 4 con nữa, tức 6 đứa tất cả”.




Cuộc sống của những đứa trẻ trong rừng sâu

Người đàn ông 50 tuổi này cho biết, trong suốt 32 năm sống trong rừng sâu cách quá xa thôn làng, nên mỗi lần vợ sanh là một lần anh đỡ đẻ. Anh kể: “Nhắm gần đến ngày vợ sanh, tôi ra trạm xá mua một liều thuốc kích thích đẻ và một liều thuốc khỏe, rồi đem về tự tay chích cho vợ. Trời thương, lần nào cũng mẹ tròn con vuông. Lớn lên, ngoài hai đứa chết vì bịnh, mấy đứa còn lại đều sống khỏe mạnh”.
Trong 6 đứa con, hai con của hai người vợ đầu – một trai một gái – sau thời gian ở cùng A Dưởng và mẹ Tuyền, do chịu không nổi cảnh thiếu thốn nên tự tìm xuống dưới huyện để sinh sống. Hiện 4 đứa con cùng sống trong rừng sâu với bố mẹ là: Diệp Sàm Tày, Diệp A Long, Diệp A Dậu và Diệp A Linh (con gái 2 tuổi rưỡi).

Cháu Diệp Sàm Tày lớn nhất trong bốn đứa, 16 tuổi, có gương mặt đẹp, cơ thể phát triển như một thiếu niên, nhưng rụt rè không biết cách nói chuyện. Hễ thấy khách đến nhà, cậu chỉ biết bế em nấp sau cửa, cười. Dù mọi người cố nói thật chậm những câu đơn giản nhưng Tày không thể trả lời được câu nào trọn nghĩa. Còn A Long, 11 tuổi, A Dậu 9 tuổi nhưng nhỏ nhắn như những em bé 5-7 tuổi ở dưới phố huyện và cũng rất rụt rè.

Anh Dưởng cho biết bọn trẻ đều biết nói tiếng Kinh, nhưng trước những câu hỏi của khách, hầu như chúng chỉ biết cười hoặc trả lời “có” hoặc “không”. Còn chị Tuyền thì nói: “Giờ chúng nó như vậy là đã khá lắm rồi. Trước đây mỗi khi có thợ rừng ghé qua xin nước, mấy đứa nhỏ toàn la hét rồi bỏ chạy do hoảng sợ. Trừ thằng lớn biết được vài chữ do có ít lâu được cho xuống huyện học chữ, còn 3 đứa hoàn toàn không biết mặt chữ và cũng không biết ai ngoài bố mẹ”.

Cuộc sống của gia đình anh Dưởng dựa vào việc kiếm chò chai đem về huyện bán là chính. Nhưng khoản tiền này chỉ đủ cho A Dưởng mua nước mắm, muối, gạo và ít bộ quần áo cho con cái. Còn anh em Sàm Tày, mỗi ngày từ khi thức dậy cho đến chiều tối, là phải vào rừng bắn chim hay xuống suối bắt cá, đem về làm thức ăn hoặc nếu được nhiều thì hôm sau bố đem đi bán. Buổi tối mấy anh em giải trí bằng cách nghe đài. Chiếc radio chạy bằng pin chính là thứ duy nhất để các cậu bé liên lạc với thế giới bên ngoài.

“Hơn hai chục ngàn hécta của khu rừng này không có ai ở ngoài gia đình tôi. Thỉnh thoảng có vài người thợ rừng hoặc mấy người đi cưa trộm gỗ lậu ghé qua xin nước uống. Bây giờ thú dữ không còn nên đỡ sợ, chứ ngày trước có khi sáng thức dậy còn thấy dấu chân cọp ở cạnh chòi, sợ lắm. Thương con, cũng muốn cho tụi nó biết cái chữ, nhưng không có tiền để về thôn cất nhà nên đành chịu”, anh Dưởng tâm sự.

Đoàn Dự ghi chép
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2013 Posted : Wednesday, September 9, 2015 6:50:06 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Trại tù ‘cải tạo’ Ái Tử- Bình Ðiền, nỗi đau vẫn còn đây!


(Trích trong KBC Hải Ngoại bộ mới số 22 ra ngày 1 tháng 11 năm 2007)

Phạm Văn Tiền

LTG: Viết cho ngày họp mặt của các bạn tù “trại cải tạo” Ái Tử-Bình Ðiền tại thành phố Arlington, Texas và các nơi. Xin thắp nén hương lòng dành cho các bạn tù đã khuất, những người đã anh dũng đấu tranh đòi hỏi công lý cho người tù chiến sĩ VNCH. Các anh đã chết thật vinh quang, thật hào hùng, thật bất khuất dầu trước bạo lực cường quyền. Chúng tôi, những bạn tù còn sống hôm nay luôn mãi mãi nhớ đến các anh.

***

Tôi không phải nhà văn, tôi chỉ là một người lính tác chiến bình thường, đơn vị bị thượng cấp bỏ rơi và còn kẹt lại vào những ngày tháng cuối cùng của Tháng Ba năm 1975 buồn thảm tại cửa biển Thuận An, mặt trận phía Bắc tận cùng đất nước. Tôi cũng như bao đồng đội khác đã sớm trở thành những người tù khổ sai trong cái địa ngục đỏ trần gian dưới mỹ từ “tập trung cải tạo” khi toàn thể miền Nam chưa trọn vẹn nằm trong tay giặc.

Họ, những người Cộng Sản Việt Nam, nhân danh “chánh nghĩa” bằng một thứ bạo quyền, độc tôn lòng yêu nước đã dồn bọn tôi tới bước đường cùng của cuộc đời “khố rách áo ôm.” Tôi thích viết, viết cho tôi và những người bạn đồng hành, về những điều thật sự cay đắng oan nghiệt tưởng như không hề có ở xã hội loài người. Thế mà nó đã xảy ra, xảy ra một cách chua xót, đau lòng ngay trên đất nước của mình.

Tôi muốn làm tròn bổn phận của một chiến hữu may mắn sống còn hôm nay, đối với các bạn tù của tôi đã sớm ngã gục dọc đường, của An, Kế, Giỏ, Cát, Sơn, Nhơn, Báo, Lực, Giang, Sang, Minh, Hồ Lộc,... và còn, còn nhiều nữa. Các bạn đã sống thật hiên ngang và chết vô cùng bất khuất, đã ngẩng cao đầu lên để thách thức trước họng súng bạo quyền dù không còn một mảnh sắt trong tay; các bạn là thứ ngọc quý vô giá được cô đọng lại bởi một quân lực mà chúng ta đã hết lòng phục vụ: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trước sức tấn công ào ạt mà người CS gọi là mùa Xuân Ðại Thắng 1975, toàn thể lực lượng quân sự Việt Nam Cộng Hòa đã có lệnh co cụm lại và bỏ ngõ ở các điểm chiến lược quan trọng từ tỉnh lỵ Phước Long đến sự lui binh của Quân Ðoàn 2 về thị xã Nha Trang và cuối cùng là Quân Ðoàn 1, nhất là mặt trận phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Là những chiến sĩ QLVNCH chúng tôi chỉ biết tuân lệnh, mặc dầu khả năng và tiềm lực chiến đấu của người lính chúng tôi vẫn còn có thể gìn giữ phần đất này. Rõ ràng, chúng tôi đã bị thượng cấp buộc phải thua đau, trong niềm tức tưởi nghẹn ngào cùng với cái đau chung của toàn thể dân tộc.

Hơn 3 ngàn người lính QLVNCH gồm toàn đủ mọi binh chủng đã sớm bắt đầu cuộc đời tù tội của mình vào những ngày cuối Tháng Ba gãy súng đau thương đó. Chúng tôi đã được chuyển qua nhiều trại tù khác nhau, từ nơi tạm giam tại căn cứ La Sơn, chúng đã đưa các thành phần hạ sĩ quan, binh sĩ về vùng sương lam chướng khí Nam Ðông, Khe Tre. Thành phần sĩ quan còn lại, chúng lùa anh em chúng tôi vào tận miền đất Hạ Lào rừng rú xa xôi có tên là Buôn Hồ, nơi giam giữ những tù binh mà chúng đã bắt được trong các cuộc giao tranh Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 hay mặt trận Cửa Việt 1973. Chúng tôi đã bắt gặp vô số nghĩa địa nơi chúng đã vùi thây biết bao nhiêu tù binh, chiến sĩ QLVNCH, không mộ bia tên tuổi.

Cuối cùng anh em chúng tôi đã được một dịp may hiếm có, thay vì tiếp tục giam giữ nơi đây hoặc bị đày ra Bắc, bọn chúng đã mang chúng tôi lại vùng đất Cồn Tiên nơi có những căn cứ vững chắc của các tiền đồn QLVNCH của chúng ta trước đây, vào những ngày giữa tháng 6, 1975 khi chúng hoàn toàn cưỡng chiếm Miền Nam.

Ở đây chưa đầy một năm, anh em chúng tôi lại có lệnh đi bộ về xây dựng trại Ái Tử nằm về phía Tây của Quốc lộ 1 hơn 20km đến khu vực Trà Liên, nơi có căn cứ Phượng Hoàng cũ của QLVNCH, chiến tích một thời lẫy lừng của Tiểu Ðoàn 6 TQLC lần đầu tiên sử dụng hỏa tiễn M-72 để diệt chiến xa địch vào tháng 4, 1972. Ðoàn 76 do quân đội quản lý được thành lập qua công trình xây dựng của người tù chúng tôi, được chia thành 5 phân trại để giam giữ tùy theo cấp bậc lớn nhỏ. Ðây là giai đoạn đầu đầy sóng gió nhất, đã có nhiều toán tổ chức vượt trại sang tận miền biên giới Lào, và bị bắt về giam dưới các hố sâu conex như các anh Trần Văn Loan, Châu Ðức Thảo, Mai Ðức Hòa thuộc Phân Trại 1.

Ðã có những tấm gương can trường bất khuất như Nguyễn Tiến Mỹ, Ðỗ Bá Niềm (trại 3), Nguyễn Tấn Ngọc (trại 2), Nguyễn Ngọc Thức (trại 1) thà chịu nhịn đói chứ không chấp nhận bị cưỡng bức lao động, để phản đối bọn CS không thi hành đúng theo luật tù binh quốc tế của Hiệp Ðịnh Paris về hòa bình và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Ðã có những cái chết vô cùng bí hiểm của các anh Nguyễn Ngọc An, Bửu Kế (trại 1), vô cùng can đảm như Hồ Lộc (trại 3), bí thư chi bộ Ðảng Ðại Việt, sau nhiều ngày bị thẩm vấn hỏi cung, biết không thể nào tránh khỏi sự trả thù đê tiện nên đã treo cổ tự sát trong conex biệt giam để bảo toàn tiết tháo của người chiến sĩ cách mạng. Nhưng vượt lên trên tất cả sự tàn nhẫn vô nhân đạo nhất, là việc chúng ra lệnh dẫn độ hai anh Sang và Minh vào rừng thủ tiêu vào một buổi sáng lao động tại đập Trấm Quảng Trị, chỉ vì những tư thù cá nhân đối với tên thượng úy trưởng trại. Xác hai anh đã được dân vùng kinh tế mới tìm gặp, và chính họ đã chôn cất bên cạnh một ven rừng.

Sau hơn 3 năm tập trung “cải tạo học tập” theo đường lối chính sách của đảng và nhà nước là tất cả chúng tôi sẽ được tha về, nhưng nhà cầm quyền CS Hà Nội lật lọng đã bội ước bằng chính văn bản mà chính họ đã ký ra. Cuối Tháng Mười Hai năm 1978, Ðoàn 76 thuộc trại Ái Tử do quân đội quản lý đã giải tán, sau khi hơn 4 tháng trời anh em tù chúng tôi bị đày ải ra vùng Ðô Lương tỉnh Thanh Hóa để thi công lòng Hồ Sông Mực. Hơn 3 ngàn tù binh chúng tôi một lần nữa đã bị lùa lên nhiều chiếc xe Molotova bít bùng có công an và vũ khí yểm trợ xuôi Nam về Huế, để cuối cùng áp tải đến trại tù cải tạo “Bình Ðiền” giao lại cho công an áo vàng quản lý.

Bình Ðiền là một địa danh rất quen thuộc của người lính Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, nơi giao tranh giữa ta và địch vào những tháng ngày giành giật nhau từng tấc đất của Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972,” nơi có cứ địa Bagstone lẫy lừng với nhiều chiến tích hào hùng của người chiến sĩ VNCH.

Tổng trại tù Bình Ðiền cũng được chia ra thành 5 phân trại và mỗi nơi như vậy được chúng giam giữ bằng nhiều loại tù khác nhau, dựa theo cấp bậc và mức độ tội ác mà chúng gọi là “thành phần ác ôn, có nợ máu nhiều ít với nhân dân.”

Phân trại 1 được coi là trại nghiêm ngặt nhất nằm sát cạnh bộ chỉ huy tổng trại, gồm toàn các nhà gạch được xây cất theo hình thức trại biệt giam cùng vài chục hầm conex chôn sâu dưới lòng đất, bao quanh bởi nhiều tầng kẽm gai dầy đặc. Tù ở đây được coi là thành phần nguy hiểm nhất, bị cấm lao động bên ngoài vì không biết họ vượt trại bất cứ lúc nào. Ða số thuộc thành phần bất hảo can nhiều tội hình sự của một xã hội đầy nhiễu nhương lúc giao thời, cướp của giết người, hiếp dâm, tổ chức vượt biên vượt biển.

Số còn lại là những tổ chức mà chúng gọi là phản động mới, âm mưu lật đổ chính quyền, hay các thành phần chúng cho là nguy hiểm không chịu cải tạo từ các trại tù khác. Ða số tù ở trại nầy có án rõ ràng. Hạ Sĩ Nguyễn Văn Mộng, binh chủng Thiết Giáp bị án chung thân vì âm mưu lật đổ chính quyền, Trung Sĩ Nguyễn Văn Nhờ, cảnh sát, bị án 20 năm vì tội tuyên truyền chống phá cách mạng. Sinh viên Luật Khoa Trịnh Bích bị án chung thân khổ sai vì cùng người yêu cướp súng vượt biển... Còn, còn rất nhiều những người khác cũng bị chúng kết tội theo một thứ luật rừng theo kiểu tòa án nhân dân.

Về sau này có lẽ để dễ bề quản lý hơn, trại nữ “Phục hồi nhân phẩm Tây Lộc Huế” cũng được lệnh sát nhập vào phân trại I. Họ là những cô gái làng chơi còn rất trẻ, can phạm đủ thứ tội. Ða số bị án tập trung cải tạo, một số ít khác nặng hơn vì có tội ác rõ ràng, cô giáo viên cấp I Vân Ánh trẻ đẹp kia bị án tù chung thân vì bóp cổ bà nội mình để cướp 2 chỉ vàng, chị Thu Vân 20 năm tù vì tội mua chuộc cán bộ tổ chức vượt biển đại quy mô.

Việc chuyển trại này đã khởi đầu cho nhiều chuyện tình mây mưa ướt át, không biết phải tốn biết bao nhiêu tờ kiểm điểm và hàng vài chục người phải vào ngồi trong các hầm conex biệt giam. Các sự việc này đa số xảy ra ở các tội phạm hình sự. Có những tình yêu ở mức độ chỉ gỡ gạc nhau bằng lon đậu, bánh đường, điếu thuốc gói mè, nhưng cũng có thứ cao cấp hơn thề sông chết với nhau bằng một cuộc vượt ngục, nguy hiểm hơn đã có người tự tử như cô Hương ở đội “chổi đót.” Thì ra cuộc đời càng khốn khổ tuyệt vọng bao nhiêu thì tình yêu càng mặn nồng bấy nhiêu. Vì con tim cũng có lý lẽ riêng của nó.

Nói tóm lại, đây là trại tù “hầm bà lằng” đủ loại, ngay cả tù chính trị, bọn tôi những người cứng đầu, thách thức, chống đối, vượt ngục hoặc nằm trong các tổ chức chính trị, đảng phái cương quyết không chấp hành nội quy trại cũng đều bị đem về nơi nầy để chúng canh giữ nghiêm nhặt hơn. Ða số đều bị cùm trong các hầm conex biệt giam, cắt bớt khẩu phần lương thực và cấm không cho gia đình thăm viếng.

Phân trại 2 cũng là trại gốc từ Ái Tử chuyển qua, thuộc về nơi giam giữ các thành phần mà chúng coi là cực kỳ nguy hiểm như cảnh sát, an ninh tình báo và hầu hết những người có chức vụ quan trong tham gia chính phủ miền Nam. Các đảng phái mà chúng gọi là phản động như Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng. Kể các các vị dân biểu, nghị viên, xã trưởng, chiêu hồi, giáo sư. Người tù ở đây vẫn bị canh giữ rất nghiêm nhặt.

Phân trại 3 và 5 toàn sĩ quan rất trẻ từ cấp chuẩn úy đến trung úy, thêm một ít Nghĩa Quân. Họ sống rất ngang tàng vì chẳng có một quá khứ tôi lỗi nào để họ phải sợ.

Còn phân trại 4 thì lại khác, đa số gốc từ trại 1 Ái Tử về, cấp bực từ đại úy đến trung tá, cũng có một số rất ít cấp bậc nhỏ hơn bị nhét tạm vào đây vì không còn chỗ chứa ở các trại khác.

Tất cả trên dưới 400 người được chia thành 11 đội, mỗi đội ở một lán (lán là căn nhà tranh vách đất). Công việc hàng ngày là phát rừng, phá rẫy, cấy lúa, trồng khoai để tự túc lương thực theo kế hoạch nhà nước.

Từ hơn 3 năm, chưa bao giờ người tù chúng tôi bị đói thê thảm và tinh thần xuống dốc như lúc nầy, cái đói xanh rờn cả mặt, héo cả tim gan, bủn rủn tay chân, thể xác rã rời. Hồi còn ở trại cũ do quân đội quản lý có bề lỏng lẻo hơn, cũng bị đói nhưng được cái dễ bề cải thiện linh tinh khi lao động bên ngoài. Còn bây giờ là bọn công an áo vàng thứ thiệt, chúng kềm sát khám xét từng người mỗi lần xuất nhập trại. Xin cám ơn những “nạm” rau má, các đọt tàu bay và bao nhiêu thứ thiên nhiên ưu đãi khác, kể cả rắn rít, ễnh ương, cào cào châu chấu đã góp phần kéo dài thêm sự sống cho người tù. Cũng là Việt Cộng như nhau, cùng ác độc như nhau, nhưng mỗi nơi một khác. Chúng tôi như một chiếc bong bóng được thổi phồng lên rồi bị vỡ tung lên vì cơn gió xoáy, bất mãn chán chường. Biết bao nhiêu hy vọng ở mức án tù tập trung cải tạo 3 năm, giờ thì vỡ mộng vì sự tráo trở gạt lừa của bọn người gian ác.

Buổi sáng một lát bột mì luộc (bánh xe lãng tử), trưa vài củ khoai hay sắn thối, chiều một chén cơm độn. Thức ăn chỉ toàn là nước muối pha loãng, may mắn lắm thì được pha thêm muỗng ruốc rẻ tiền. Thế còn đỡ hơn so với các bạn tù còn đang bị cùm trong các nhà kỷ luật, những người đã vượt trại đến tận miền Savanakhet Lào bị bắt dẫn độ về cùng các thành phần hiên ngang không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực, mà chúng thường gọi là bọn phản động, chống đối. Một bữa sắn, khoai cho mỗi ngày.

Còn gì để mà hy vọng vào sự bội tín của con người CS (đừng tin những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm), họ đã hứa đủ điều khi đẩy cả đoàn tù 76 ra tỉnh Thanh Hóa để làm công trình thủy lợi đại quy mô “Lòng Hồ Sông Mực.” Hàng chục hecta rừng được khai phá cho một công trình dẫn thủy nhập điền, nhiều người đã ngã quỵ vì sốt rét rừng, có người chết vì đói quá ăn nhằm nấm độc hay mật cóc như Ðại Úy Lực SÐ1BB.

“Các anh giải phóng lòng Hồ Sông Mực thì chính lòng Hồ Sông Mực sẽ giải phóng các anh,” được phát ra từ chính mồm của tên trung tá chính ủy Ðoàn 76 lúc khởi công, và khi công tác hoàn thành vượt chỉ tiêu, lời hứa đó đã bị phản bội, họ nhẫn tâm lùa tất cả bọn tôi lên chuyến tàu chợ xe hỏa để về lại trại Ái Tử cùng toa với súc vật.

Chúng tôi đã bị mất tất cả, mất nhà mất cửa, ngay cả vợ lẫn con, thì còn gì đâu để mà sợ. Họ một lớp người nhân danh đạo đức để làm chuyện phi nhân, đã biến đất nước thành nhà tù và biển máu. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi, họ cai trị một đất nước không người, thế mà lại huênh hoang chiến thắng, họ đã đạp anh em chúng tôi xuống hố sâu và giờ đây là lúc phải cùng nhau đứng dậy.

Ðêm qua có nhiều tiếng súng nổ và toàn trại báo động vì Ðại Úy Mai Ðức Hòa đã lợi dụng lúc trực trại điểm danh, anh đã liều chết đánh tên cán bộ Thượng Sĩ Thụ thoát chạy ra ngoài đêm tối bao la. Chúng chẳng làm gì được anh vì đây là vùng đất mà đơn vị anh thường hành quân trú đóng, chỉ hơn 3 tháng sau có tin là anh đã đến Úc. Chuyện trốn trại là chuyện thường xảy ra như cơm bữa trong đời tù, luôn gây căng thẳng thần kinh cho người còn lại. Ðâu phải dễ gì mà trốn thoát vì khắp mọi nơi đều có công an, du kích. Rất nhiều người đã bị dẫn độ về sau nhiều ngày ẩn trốn đâu đó. Tất cả đều bị cùm, giam vào các nhà biệt giam conex trong suốt nhiều năm trời. Thế mà trốn vẫn hoàn trốn.

Họ điểm danh chúng tôi khi ăn, giờ nghỉ, ngay cả lúc đi vệ sinh phía bên ngoài trại, theo sát chúng tôi lúc lao động kềm kẹp tứ bề. Họ mắng nhiếc chúng tôi là đồ phản quốc, ăn bơ sữa đế quốc Mỹ giết hại nhân dân. Còn chúng tôi thì một lòng cương quyết chỉ lao động cầm chừng, chỉ tiêu chẳng có mà năng suất cũng không.

Ðã có những buổi phê bình kiểm thảo hàng tuần, nhưng rồi đâu cũng vào đó. Anh em chúng tôi cứ nhắm mắt mà nói như con vẹt để tạm được an thân. Nhưng rồi cuối cùng việc gì đến rồi cũng phải đến, người tù chúng tôi như chiếc lò xo bị ép hết cỡ đã tới lúc cùng nhau bật dậy để bảo vệ quyền sống cho mình. Chúng tôi đòi hỏi họ phải thi hành đúng theo hiệp định Paris, phải có tòa án xét xử công minh, phải cải tiến chế độ tù theo luật tù binh quốc tế. Ðại Úy BÐQ Nguyễn Thuận Cát, đội trưởng đội 6 sản xuất, phản đối tên quản giáo trong cuộc họp về việc dùng vũ lực đối với đội viên của anh. Trung Úy Giàu, đội trưởng đội 9, đòi hỏi phải thi hành đúng chính sách 10 điểm của chính quyền cách mạng là phải thả chúng tôi ngay tức khắc, vô điều kiện.

Cuộc đấu tranh mãi rồi ra chúng cũng nhượng bộ đôi chút, chế độ thăm gặp được mở lại mỗi hai tháng một lần, chỉ được thăm thân nhân 15 phút ngồi đối diện nhau trên một cái bàn dài, những ánh mắt nhìn nhau tức tưởi nghẹn ngào. Chúng tôi được nhận quà bằng những thức ăn không có tính cách dự trữ lâu dài, vì họ sợ bọn tôi trốn trại. Nhờ vào gói mì, điếu thuốc, viên đường... chúng tôi mua chuộc những tên vệ binh trẻ dẫn giải, vì vậy mà cuộc sống có phần dễ chịu hơn.

Nhiều tin tức thật sôi nổi và hấp dẫn được thu thập đâu đó, được đem ra xì sầm bàn tán nhau trong lúc này. Ðại loại đó là những tin làm nức lòng chiến sĩ để an ủi người tù trước tình thế nguy nan vô cùng tuyệt vọng: “Có nhiều tiểu đoàn TQLC chúng ta đang hoạt động vùng núi đồi Hải Vân, có tàu chiến Hoa Kỳ ngoài khơi yểm trợ.” Ðặc biệt các thầy tướng số thì nói tình hình nay đã sáng sủa rồi, thế nào cũng có phe ta đến để giải phóng trại tù.

Chúng tôi đã sống những ngày thật sung sướng mà tâm hồn lúc nào cũng thấy lâng lâng bay bổng, lấm lét nhìn nhau bằng những nụ cười khó hiểu, ngón tay cái của bàn tay cứ chỉa thẳng lên trời làm dấu khi gặp nhau. Xin nghiêng mình biết ơn những huyền thoại sống đã cho chúng tôi những cái “phao” để mà bám lấy giữa đại dương mênh mông, hy vọng một vài tia sáng le lói ở cuối đường hầm tăm tối.

Tết năm đó (1979), tương đối đầy đủ nhờ vào những thức ăn do gia đình mang đến. Từ bấy lâu nay, đó là lúc bọn tôi đoàn kết thương yêu nhau nhất, chúng tôi ăn chung với nhau, chia sẻ nhau những gì có được, vì bao giờ cũng vậy, tình cảm chỉ khắng khít mặn nồng khi mọi người cùng khổ như nhau. Chúng tôi rất vui mừng khi hay tin Bắc Kinh xua quân đánh chiếm các tỉnh biên giới, để giáng trả cho Ðảng CSVN một bài học tự mãn.

Chúng tôi không còn muốn đi lao động ngoài trời nữa, chúng tôi tổ chức đình công, khai bệnh mỗi ngày cả trăm người. Chúng tôi chia nhau đi lao động bên ngoài thừa dịp để cải thiện linh tinh, từ củ sắn, củ khoai đến vài trái ớt, trái cà do chính chúng tôi làm ra. Lẽ dĩ nhiên chỉ là hành động lén lút phải thật nhanh nhẹn kín đáo, nếu chúng phát hiện thì bị phạm trọng tội: “Phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa,” sẽ bị nghiêm giam kỷ luật. Buổi tối sau giờ điểm danh của tên trực trại, khi cánh cửa trại giam đã được khép kín là giờ sinh hoạt thoải mái của anh em chúng tôi. Chúng tôi tập họp nhau lại ngoài hiên mỗi lán, ca hát những bản nhạc cũ, nhất là các bài tình ca của lính, gợi nhớ lại một thời liệt oanh, vàng son của người lính QLVNCH.

Bố Nguyễn Ðình Chi, trung tá già đại diện cho trại trong ban “trật tự thi đua” bị gọi đi làm việc nhiều lần. Ông thường nhắc nhở chúng tôi biết rằng hãy cẩn thận và coi chừng âm mưu thâm độc của chúng. Chúng im lặng không có nghĩa là chúng đã không biết những gì chúng ta đang làm, chúng đang chờ cơ hội để ra tay đàn áp một lần cho tất cả, như các vụ án Nhân Văn Giai Phẩm của miền Bắc trước đây.

Còn chúng tôi như một chiếc xe đang tuột dốc không “phanh,” cứ thế mà lao vào hố. Ngày 27 Tháng Ba, 1980, để kỷ niệm 5 năm ngày mất Huế và tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại cửa biển Thuận An, chúng tôi làm lễ tưởng niệm và thức hát suốt đêm, tiếng hát ngạo nghễ, thách thức như để xé tan bầu không khí xiềng xích nặng nề; phá hết xích xiềng để dành lại áo cơm, “Cờ bay! Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu...” Từ trong xà lim đôi chân bị xích xiềng: Trần Văn Loan, Châu Ðức Thảo, Nguyễn Ngọc Thức, Lê Văn Cang, Mai Ðức Hòa, các bạn tù của chúng tôi cũng đồng thanh hát: “Dậy mà đi hỡi đồng ơi! Bao nhiêu năm dân ta sống không nhà, bao nhiêu năm dân ta chết không hòm. Dậy mà đi!. Dậy mà đi.”

Ngay trong đêm hôm đó chúng đã bắt đi Ðại Úy Báu khi tên trực trại xông vào hàng rào gần cổng trại. Anh đã bị dẫn đi trong đêm và sau này được tin anh đã bị đánh đập cho đến chết. Khoảng 4 giờ sáng bên ngoài có lực lượng công an dầy đặc bao vây, bên trong chúng tôi vẫn hát, mọi người đồng thanh hát, cả trại hát như chưa bao giờ chúng tôi được hát xướng như thế. Sáng sớm hôm sau, họ tấn công vào trại bắt đi một số người trong đó có Thiếu Tá Hồ Văn Vĩnh, người nhạc sĩ tài ba của chúng tôi, một trong những người đứng ra tổ chức “đêm không ngủ” nầy.

Thời gian kế tiếp là thời gian điều tra thẩm vấn, họ gọi hết người nầy đến người kia lên cơ quan làm việc: Cát, Giàu, Quyền,... đã bị bắt còng tay dẫn đi với tội danh “không chịu học tập cải tạo, âm mưu chống phá chính quyền cách mạng.” Nguyễn Thuận Cát, đại úy, tốt nghiệp khóa 24 VBQG Ðà Lạt, anh sống rất cương trực và thường chống lại những bất công mặc dầu anh được chúng giao cho chức đội trưởng. Anh đã đương đầu nhất định không khuất phục trước bạo quyền, và chịu đòn đau cho đến chết. Riêng Giàu, trung úy BÐQ, là một trường hợp hiếm có ngoại lệ, anh từ chối không gặp mặt cha mình trong lúc đang thọ hình, vì cha anh nay là cán bộ VC cao cấp. Anh nhất quyết giữ vững lập trường:

“Cha đi đường cha, tôi đi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.”

Ngọn lửa đang bốc cháy cao cho dù bị dập tắt cũng còn âm ỉ bởi một thứ than hồng. Chúng tôi bắt đầu chuyển sang hình thức đấu tranh mới, dè dặt bãi công, thay phiên nhau nghỉ bệnh, con số xuất trại bao giờ cũng ít hơn số khai bệnh ở nhà. Các anh Vũ Ngọc Tụng, Nguyễn Tri Tấn, Phạm Cang, Lê Quang Liễn, Hoàng Hưng, Bác Sĩ Hoàng Thế Ðịnh, Phan Văn Lập đã nhen nhúm hình thành một tổ chức có tên là “Ủy Ban Hành Ðộng.” Theo dự tính giờ G ấn định, toàn thể các đội viên hiện đang lao động ngoài hiện trường cùng nhau nổi dậy cướp súng các tên vệ binh dẫn giải, kéo nhau về giải phóng trại tù. Việc chưa thành đã bị bại lộ, các anh lãnh đạo Tụng, Tấn đã bị chúng bắt đi tra tấn và bị nhục hình. Phần còn lại rơi vào thảm cảnh đẫm máu của một sự trả thù khủng khiếp nhất.

Kẻ thù bất chấp luật lệ, chúng điều động những võ sĩ của Ty Công An Bình Trị Thiên dùng vũ lực thẳng tay đàn áp, chúng cho người đi khắp các lán với sự thỏa thuận chỉ điểm của các tên quản giáo, tập trung tất cả về một góc phân trại đánh đập trả thù, tiếng khóc tiếng la như gầm chuyển một góc trời, nước mắt đã rơi nhiều cùng máu. Ðó là buổi chiều ngày 20 Tháng Tư năm 1980 lịch sử đáng ghi nhớ!

Sau này chúng lần lượt thẩm tra bắt hết các anh còn lại của tổ chức trên đem về biệt giam ở đoàn. Thêm các anh Võ Ðằng Phương, Nguyễn Kim Chung, Lê Tự Hào, trong một tổ chức khác có tên là “Phục Hưng Nền Cộng Hòa.” Câu nói khẳng khái của Võ Ðằng Phương, người sáng lập ra tổ chức nầy, tại tòa án nhân dân Thừa Thiên, Huế, năm nào như còn mãi in sâu vào tiềm thức của những người tù tại trại tù “cải tạo Bình Ðiền”: “Các ông làm gì có luật pháp mà xét xử, luật của các ông là thứ luật rừng. Tôi nay ở trong tay các ông thì do quyền quyết định của các ông, tôi không có gì thắc mắc cả!”

Chúng kêu án anh thêm 10 năm tù sau khi mãn án “tù tập trung cải tạo,” mà án tập trung cải tạo là án dây thun thì biết đến bao giờ! Làm sao quên được hình ảnh hiên ngang của người tù Thiếu Tá Võ Ðằng Phương TQLC, tiến đến chiếc xe bịt bùng đang chờ sẵn, hiên ngang, ngạo nghễ, ngẩng cao đầu thách thức đầy niềm hãnh diện tự hào, một gương can đảm đầy tiết tháo của người chiến sĩ QLVNCH.

Ðây chỉ là khoảng thời gian khởi đầu cho quãng đường dài của cuộc đời tù tội. Cuộc đấu tranh vì chính nghĩa của người tù vẫn còn tiếp diễn vì “nơi nào còn áp bức là nơi đó có đấu tranh.”

Còn nhiều điều đáng viết thêm mà một trí nhớ hạn hẹp không đủ để nhớ hết về sự hy sinh cao cả và lòng dũng cảm của người chiến sĩ VNCH. Xin tri ân những bà mẹ, người vợ, người anh, người chị, người em, người con đã vất vả gian lao tần tảo để giúp cho người tù còn có được ngày hôm nay, trong “Ngày Hội Trại Tù Ái Tử-Bình Ðiền.”

(Tháng Mười Một, 2007)

phamlang
#2014 Posted : Saturday, September 12, 2015 6:16:01 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Thân phận trẻ mồ côi Việt Nam sau chiến tranh qua truyền thông thế giới




Sau năm 1975, từ những biến cố lịch sử, người Việt Nam đã theo từng thời kỳ đi tị nạn khắp cả thế giới. Với những trẻ mồ côi, hay có cha mẹ nhưng được cho vào những cô nhi viện để di tản ra khỏi đất nước Việt Nam đang trong cơn hỗn loạn, hơn 3000 trẻ em đã được không vận ra khỏi Sài Gòn trong Operation Babylift đã làm con nuôi cho các gia đình hiếm muộn ở các nước Âu Châu và Bắc Mỹ.

*Lưu lạc ở Australia, Catherine Turner và “So Close, So Far Away”
Một trong các em bé ấy, ký giả Catherine Turner, tên Việt Nam là Huỳnh Thị Cẩm Tú, làm con nuôi trong một gia đình người Úc, khi làm việc trong hệ thống truyền thông Ak-Jazeera đã thực hiện một phim tài liệu “So Close, So Far Away”. Cuốn phim này kể lại cuộc đời của cô khi được đưa lên máy bay di tản khỏi đất nước Việt Nam ngày 5 tháng tư năm 1975 khi chỉ mới 5 tháng tuổi đến lúc trưởng thành và đã trở về quê hương trong hành trình tìm lại nguồn gốc của mình và đã tìm liếm được người mẹ đã thất lạc hơn 30 năm.

Dù được gia đình cha mẹ nuôi yêu thương, nhưng cô vẫn thấy mình bị khó khăn khi vào trường học bởi cô là một học sinh châu Á lạc lõng trong đời sống tây phương ở tiểu bang New South Wales ở Úc. Cô đã viết nhật ký từ khi bắt đầu 12 tuổi và rất buồn vì sự trêu chọc của các bạn trong trường. Cô viết: ”Thật bất công, làm như chỉ có nước Australia mà thôi và nếu không là người da trắng thì bị coi như một kẻ kỳ dị không giống ai. Mình nhìn những cô gái bên cạnh mình và thèm muốn xiết bao để giống như họ. Chúa ơi, mình muốn đánh đổi tất cả để trở thành da trắng. Vâng, là người da trắng. Da Trắng…”

Catherine đọc lại những trang nhật ký ấy để hồi tưởng lại khoảng thời gian mà cô chán ghét chính bản thân mình với mầu da vàng, với đôi mắt nâu và đã ảnh hưởng sâu đậm đến cả cuộc đời cô. Cô, trong khi làm ký giả, đã trải qua nhiều hành trình đến các nước Hoa Kỳ, Việt Nam và Australia để phỏng vấn các nhân vật có liên quan mật thiết với chiến dịch không vận Babylift năm 1975. Ví dụ như giám đốc cô nhi viện ở Sài Gòn, nơi cô ở. Hoặc gặp phân tích gia tình báo CIA Frank Snepp.

Cô thật sự bị choáng váng đến bật khóc với cả sự giân dữ lẫn đau đớn khi Frank Snepp tiết lộ rằng chiến dịch không vận trẻ em mồ côi của chính phủ Hoa Kỳ chỉ có mục đích chính trị nhiều hơn là nhân đạo. Lúc khởi đầu, Operation Babylift rất được sự ủng hộ của công luận Hoa Kỳ nhưng sau đó có nhiều sự việc rất hồ nghi tạo thành sự chỉ trích và đến bây giờ vẫn còn là một vấn đề nhiều tranh cãi.

Trong chương trình phim truyền hình, “Tuy gần mà rất xa”, Catherine đã kể lại hành trình đi tìm kiếm gia đình với mong mỏi tìm về nguồn cội của mình. Lần đầu, vào năm 2001, ở tuổi 27 cô trở về Sài Gòn và tìm lại địa chỉ cũ. Tuy có nhiều giấy tờ xác định, cô đã đến đồn công an và hỏi thăm những người lân cận nhưng suốt ba tuần lễ vẫn không tìm ra tung tích người mẹ.

Nhưng bất ngờ, lần đi thăm Việt Nam lần thứ hai cùng với cha mẹ nuôi người Úc thì cô đã gặp lại người mẹ. Nhờ một người bạn thông dịch, với những chi tiết và giấy tờ của người mẹ, cô đã mẫu tử trùng phùng.
Trong cuốn phim tài liệu “So Close, So Far Away” nhà báo Catherine còn gặp gỡ Mỹ Hưng, người cũng được nhận làm con nuôi ở Úc trong chiến dịch không vận Operation Babylift và cũng kể về cuộc đời của cô suôt mấy chục năm sau khi rời bỏ quê hương trên chuyến bay cuối tháng tư năm 1975. Catherine củng phỏng vấn một bà mẹ Việt Nam đã hối hận vì đã gửi con vào trại mồ côi để được di tản đến bây giờ không biết đứa con sống chết thế nào và đời sống ra sao.

Catherine Turner đã viết lời giới thiệu về bộ phim tài liệu: ”Càng phỏng vấn thêm nhiều người khác, chúng tôi càng thấy rằng chiến dịch Babtlift thực sự có ảnh hưởng đến nhiều tầng lớp dân chúng và tầm mức sâu rộng đến bực nào.

Nhưng hình như không có giải pháp hoặc biện pháp nào trước mắt cho những người bị ảnh hưởng. Những giấy tờ văn bản qua thời gian còn lại rất ít, cộng với làn khói mù mịt của hậu quả chiến tranh khiến công việc tìm ra giải pháp để trả lời cho những người đang mong ước xem ra không thực hiện được. Hàng ngàn trẻ em trong chiến dịch không vận Babylift không có cách nào để tìm được dòng dõi hay tên tuổi thưc sự của mình. Có thể một số muốn coi thành chuyện quên lãng nhưng còn một số thì vẫn đang đi tìm kiếm câu hỏi về chimh cuộc đời mình nhưng vô vọng như một cách ví von “điền vào chỗ trống”.

Catherine Turner hay Huỳnh Thị Cẩm Tú là người may mắn vì đã gặp được người mẹ và biết được tông tích nguồn cội của mình. Nhưng vẫn còn có hàng ngàn người không có sự may mắn ấy. Và cũng có hàng ngàn gia đình cha mẹ người Việt không hiển con cái của mình lưu lạc ở đâu sinh sống phương nào. Đó có phải là một vấn đề nan giải dù bao giờ người cha hay người mẹ cũng hy vọng rằng con trai hay con gái họ sẽ tìm được cuộc sống may mắn hạnh phúc. Dù rằng, có khi chúng quên nguồn gốc là người Việt Nam.

*Lưu lạc ở Canada, Heather Nguyễn MacDonald và “Falling from the Sky”
Ngay 28 tháng 6 năm 2013, nữ ký giả người Canada gốc Việt, cô Heather Nguyễn MacDonald, một người được biết đến vì sống sót và được nhận làm con nuôi sau vụ tai nạn máy bay Operation Lift năm 1975 và cuốn phim tài liệu “Falling from the Sky”, vừa qua đời sau hơn một năm chống chọi căn bệnh ung thư tuyến tụy tạng, hưởng dương 38 tuổi. Cô là một trong những trẻ mồ côi được các nữ tu ”Sisters of Loretto” tại Cần Thơ nuôi nấng, sau dược chuyển đến New Heaven Nursery. Lúc Sài Gòn thất thủ cô mới 9 tháng rưỡi tuổi. Chiếc máy bay trong chương trình giải cứu trẻ mồ côi chiến tranh Việt Nam Operation BabyLift của cô Heather Nguyễn bị tai nạn khi một cánh cửa máy bay bị thôiû tung ở cao độ 29 ngàn feets phải đáp khẩn cấp. Bảy mươi tám trẻ em và hơn 30 nhân viên, y tá bị thiệt mạng. Cô Heather là một trong số những trẻ em còn sống sót nhờ đám cỏ cao gần nơi máy bay rớt, được một gia đình
MacDonald ở Montreal nhận làm con nuôi. Khi được 27 tuổi cô trở lại Việt Nam tìm kiếm lại cội nguồn mình. Câu chuyện của cô được thu hình trong cuốn phim tài liệu “Falling from the Sky” được trình chiếu rộng rãi.

Rơi xuống từ không trung, mà không chết, có lẽ là một hi hữu trong đời. Lớn lên từ một gia đình xa lạ, một xã hội Tây phương có nhiều khác biệt với văn hóa của xã hội Việt Nam nhưng Heather Nguyễn vẫn luôn luôn thắc mắc về nguồn gốc của mình. Cô biết mình không phải là người da trắng và dù cả gia đình đã nuôi dưỡng cô tử tế, để học hành thành đạt nhưng vẫn có tiếng gọi để tìm về quê hương. Thực hiện cuốn phim tài liệu ”Falling from the sky” là thực hiện những bước chân trở về quê nhà, tìm lại người thân qua cảnh cũ dù lúc ra đi chỉ là một trẻ thơ mới 9 tháng tuổi.

Bà mẹ nuôi của Heather Nguyễn diễn tả: ”Lúc đó chúng tôi theo dõi tin tức về chiến tranh Việt Nam, nhìn thấy những đứa trẻ đáng thương đó, dù đã có hai con và biết chúng tôi không thể cứu được tất cả, chúng tôi vẫn quyết định nhận nuôi nấng và cứu giúp một đứa trẻ. Lúc đó chúng tôi không nhận ra ngay nhưng các đứa bé bị thiếu oxy vì cứ hai đứa trẻ thì được buộc vào một ghế và cũng chỉ có một mặt nạ dưỡng khí khi tai nạn. Sau này khi lớn lên cô thường hỏi mẹ là tại sao lại mang con đi khỏi quê nhà của con một cách giận dữ. Cô mong ước một chuyến đi tìm về cội nguồn trong đời và sau cuộc hành trình, Heather có vẻ bình an. Cô đã biết mình là ai và tập trung hơn vào công việc làm một ký giả của cô”.

Với ký ức của nhân loại, những biến cố của những ngày tháng ba và tháng tư năm 1975 ở Việt Nam là những hằn dấu lịch sử không thể nào quên. Là những tấn bi kịch, là sự chia lìa mất mát, là những ngày đau thương của cả một dân tộc. Trong đó ký ức về những cuộc di tản mà những người ra đi chỉ biết phải trốn chạy khỏi đất nước mà không thể nào biết trước và hoạch định một tương lai nào. Nhiều người trong chúng ta không thể nào quên ngày 3 tháng 4 năm 1975 là ngày bắt đầu cho chiến dịch Operation Babylift khi Tổng thống Gerald Ford ra lệnh chương trình di tản trẻ em lai mồ côi Mỹ-Việt ra khỏi Việt Nam với hơn 30 phi xuất vận tải C5 Galaxy. Ngày 4 tháng 4, một chiếc phi cơ C5 Galaxy chở hơn 300 thiếu nhi bị nổ trên vùng trời Sài Gòn và rớt xuống một ruộng lúa khiến hơn một nửa thiếu nhi di tản bị tử thương. Chiến dịch Operation Babylift là một trong những chương trình triệt thoái người Mỹ ra khỏi Việt Nam khi chiến tranh đã vào giai đoạn gần chấm dứt.

*Lưu lạc ở Hoa Kỳ, Mary Mustard Reed và “Oceans Apart: A voyage of international adoption”
Chiến tranh Việt Nam với những dấu tích như thế vẫn còn những dư âm dù đã trải qua bốn chục năm. Với những người sinh trưởng ở quê nhà đã đành nhưng với những thế hệ trẻ lớn lên ở xứ người cũng có ảnh hưởng rõ rệt, nhất là trong văn chương. Thời gian ấy quả có nhiều biến động, những cuộc chia lìa, những thảm cảnh bi đát. Dĩ vãng, không phải chỉ là những đoạn phim tình cảm êm đềm, mà có những vết thương chưa lành, có những niềm đau dấu trong tâm khảm.

Thật ra, cô bé tên Hiền thật sự không mồ côi. Cô bị thất lạc gia đình khi cuộc chiến đang trong những ngày cuối cùng và cô được bà mẹ gửi đi làm con nuôi lúc còn 7 tuổi. Và như thế, thân phận của một đứa trẻ được kể lại, bằng những cảm giác cay đắng, kết quả của sự va chạm giữa hai nền văn hóa. Cô bé lớn lên trong một gia đình lạ lẫm và chỉ biết khóc thầm cho thân phận kẻ lạ của mình.

Có những trang sách, giở ra một cuộc đời. Có những cảnh ngộ, chia ly để rồi đoàn tụ, như nước chảy về nguồn. Đọc một tác phẩm để qua những trang sách tưởng tượng ra một đời sống mà ở đó một cô bé 7 tuổi đã khởi hành một chuyến vượt qua nửa trái địa cầu với tất cả sự đơn độc và bỡ ngỡ. Đọc, khởi đầu từng trang “Oceans Apart: A voyage of international adoption”. Tác giả Mary Mustard Reed, một cô bé người Việt mang tên Hiền nhưng lại mang tên họ của người bản xứ. Cuốn sách vẽ lại một cuộc đời bắt đầu từ chuyến ra đi bằng máy bay rời khỏi đất nước Việt Nam ở phi trường Tân Sơn Nhất khi cô bé vừa bảy tuổi. Một biến cố kỳ lạ đã làm thay đổi cả cuộc đời cô khi bà mẹ cô đã giao phó cô cho một cặp vợ chồng người Mỹ làm con nuôi. Bà đâu biết rằng đã đẩy đứa con gái mình vào một cuộc sống xa lạ u buồn mà tuổi ấu thơ đã trải qua như một cơn ác mộng kéo dài. Mary (tức Hiền) vẫn nhớ như in ngày phải rời khỏi vòng tay của bà mẹ để đi vào một cuộc sống mới, ngỡ ngàng đối với một đứa bé.

Là một đứa trẻ lớn lên ở Hoa Kỳ, Mary đã trải qua những tháng ngày u ám khi ở với gia đình Mustard với sự bạo hành về tâm hồn lẫn thể xác. Không lâu sau khi đến Hoa Kỳ, cô bé đã hỏi về người mẹ với người cha nuôi, Sam Mustard, thì được trả lời rằng mẹ cô là một nạn nhân của cuộc pháo kích ở Sài Gòn trong thời kỳ chiến tranh đang dữ dội ở đó. Dĩ nhiên, đó không phải là sự thực và mãi đến hơn ba chục năm sau với thời gian trải qua từ giọt nước mắt vô vọng, với sự giúp đỡ của Hội Hồng Thập Tự, hai mẹ con mới trùng phùng với nhau. Cả hai gặp nhau trong bất ngờ, một kết cuộc tốt đẹp đã đến với họ. Mặc dù, một câu hỏi vẫn còn dằn vặt trong lòng người con gái. Tại sao một người mẹ lại nhẫn tâm đem con của mình đến một nơi chốn xa lạ mà không cảm thấy đau xót? Tại sao và điều gì đã thúc đẩy bà hành xử như vậy. Và, câu trả lời chỉ có khi cô bé nay đã trở thành một phụ nữ khá thành đạt trở về thăm lại chốn cũ xưa, nhìn lại những căn nhà nghèo nàn thiếu tiện nghi để tưởng tượng ra một cuộc sống sẽ kéo dài trong thiếu thốn lầm than nếu mình không ra đi làm con nuôi. Cô mới hiểu được cái động lực mà mẹ cô đã giao phó cuộc đời cô cho một gia đình Hoa Kỳ xa lạ.

Tác giả Mary Mustard Reed đã trả lời câu hỏi là điều gì đã thúc đẩy bà viết để tạo thành tác phẩm này khi đề cập đến tâm trạng và ước vọng của mình. Thứ nhất bà muốn thắp lên một tia sáng về một cuộc chiến đấu tự cứu mình để trở thành một kinh nghiệm hữu ích cho những người đồng cảnh ngộ. Hơn nữa, quan yếu hơn, bà muốn lấy từ chuyến ra đi đau thương của mình để hy vọng rằng những người khác sẽ không bị trải qua những đau thương buồn khổ mà bà đã phải chịu đựng. Bà cũng muốn gửi gấm đến những người con nuôi và những người làm cha mẹ nuôi những thông điệp rất tế nhị, rằng tùy theo cách đối xử của những người cưu mang đứa con nuôi, tốt đẹp hay bi đát giống như chuyện cổ tích hay cơn ác mộng.

Nguyên do thứ hai thúc đẩy bà viết là muốn gìn giữ và làm sống lại lịch sử của gia đình mình, viết như một cách thế hướng vọng về các đứa con mình và những thế hệ kế tiếp. Trong thâm tâm bà, đó là một phần di chúc để lại.
Lý do thứ ba, tác phẩm “Oceans Apart” chính là một lời tạ ơn đến tất cả những ngươi đã tạo thành sự kỳ diệu trong cuộc đời mình, những người đã giúp đỡ, đã tin tưởng và nâng đỡ bà để có một đời sống khá thành đạt hiện nay. Với bà, họ là tất cả cho sự vinh quang của mình.

Kế tiếp, bà hy vọng rằng từ tác phẩm này nhiều người sẽ tìm thấy từ sự thực đau thương để nhìn lại từ quá khứ và cố gắng để kiếm tìm những người thân yêu bị thất lạc vì cuộc sống đưa đẩy. Bà cuối cùng cũng không quên tạ ơn Hội Hồng Thập Tự đã giúp đỡ để tìm ra được tông tích người mẹ để hai mẹ con được trùng phùng…
Những lý do thúc đẩy kể trên thật là bình thường đối với một người bình thường. Liên hệ huyết thống là nguyên do chính để tạo ra một kết cuộc có hậu. Một độc giả trong phần góp ý đã tỏ bày rằng bà rất vui lòng với kết cuộc như thế dù cũng có lúc chạnh lòng khi đọc những đoạn tác giả kể lại chuỗi ngày ấu thơ của mình với nhiều tủi buồn và nước mắt.

Riêng với cá nhân một độc giả, khi đọc những trang sách, mường tượng được những khó khăn của một người đã sinh sống ở xứ người khi vừa bảy tuổi. Ngôn ngữ Việt Nam hoàn toàn xa lạ mà tất cả những kiến thức về quê cha đất tổ từ lịch sử văn hóa đến chính trị thời cuộc đều ở mức tối thiểu. Thế mà, vẫn cố gắng và nỗ lực để trở về nguồn với hướng vọng tốt đẹp cho quê hương. Tuy rằng, tâm tư ấy có thể bị lợi dụng để tuyên truyền cho sách lược của nhà cầm quyền trong nước muốn tận dụng cả tài lực, tâm lực của những người Việt đang sống ở hải ngoại.

Nếu chỉ nhìn tác phẩm qua khía cạnh của một cuộc đoàn viên như ký giả Deepa Bharath thì có lẽ cũng hơi đơn giản…
Đọc những chương sách viết về những ngày tháng lớn lên ở xứ người của Hiền và hình dung được một cuộc va chạm văn hóa giữa hai đất nước. Với gia đình Mustard, họ không muốn Hiền có quan hệ nào đối với đất nước và gia đình của cô. Không có tình thương, không có sự hiểu biết nên làm sao có được sự thông cảm. Mary Mustard Reed đã kể: ”Họ chưa có lúc nào hiểu biết về tôi hay về văn hóa của đất nước mà tôi đã ra đi. Họ chẳng bao giờ trìu mến tôi, vuốt ve hôn hít tôi hoặc hát ru tôi như mẹ đã làm. Tôi sống một cuộc sống, trở về một căn nhà với tôi thật trống vắng và nếu có những câu chuyện nói thì cũng đầy ắp những ngôn từ bất nhã gây đau đớn cho tâm hồn tôi hoặc những hành hạ thể xác.”

Tác giả còn kể rằng người con ruột của gia đình Mustard đã dọn ra ở riêng từ lâu mỗi khi trở về thăm lại gia đình lại thấy được nỗi u uẩn trong đôi mắt của cô em nuôi. Trong trí nhớ của anh, Hiền chỉ là một cô bé nằm trên giường với đôi mắt đẫm lệ và tiếng khóc thút thít của cô đơn trước khi chìm vào giấc ngủ.
Gia đình cha mẹ nuôi thì muốn tẩy sạch những gì là Việt Nam trong con người Hiền. Bà kể lại: ”Tôi cảm thấy rõ ràng là con người của gốc gác mình bị tẩy sạch. Tôi đã quên những món ăn có mùi vị Việt Nam và cũng quên hết ngôn ngữ Việt Nam mà có lúc tôi đã nói rất thành thạo.”

Sống trong gia đình Mustard với Hiền (đổi tên thành Mary) là cả một cơn ác mộng. Sam, người cha nuôi thì tính khí bất thường, hay làm những chuyện không ngờ trước được. Còn người mẹ nuôi, Magaret, thì luôn luôn khi nhìn thấy Hiền lại ghen tức vì nghĩ Sam đã nặng lòng với Yvonne, tức mẹ của Hiền.

Đến năm 1975, Hiền tốt nghiệp trung học và đủ 18 tuổi. Cô vào đại học và cảm thấy đời mình đã đổi khác. Năm này, là năm Cộng sản đã chiếm được hoàn toàn miền Nam. Vì không hiểu rõ lịch sử nên đã ví cuộc đời được giải phóng của mình như miền Nam bị cưỡng chiếm. Và, trong một vài biểu tỏ với một người bạn tôi, cô đã tỏ ra rất tiếc vì đã viết những điều bất cập ấy trong tác phẩm của mình.

Bây giờ, Hiền tức Mary Mustard Reed đã thành một người khá thành đạt. Tốt nghiệp đại học CSU Norhtridge, làm nghề trình dược viên và hay liên lạc với các bác sĩ Việt Nam ở Little Sài Gòn, Hiền đã trở lại gần với văn hóa Việt đất nước Việt. Cô nhờ Hội Hồng Thập Tự để tìm lại người mẹ…

Nguyễn Mạnh Trinh
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#2015 Posted : Tuesday, September 15, 2015 5:12:44 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Phi cơ do VNCH chế tạo. – CHUYỆN KHÓ TIN NHƯNG CÓ THẬT.

Chính Không Quân Đại Hàn cũng có ý định này. Lúc đó, Đại Tá BAE, sĩ quan liên lạc Đại Hàn tại Việt nam, cũng là sĩ quan cùng học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu với Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân và Chuẩn Tướng Tham Mưu Phó Tiếp Vận có tới xem phi cơ Tiền Phong của chúng ta và đã xin chính phủ Đại Hàn cử một phái đoàn do Thiếu Tướng Lee, Tham Mưu Phó Tiếp Vận Không Quân Đại Hàn hướng dẫn sang Việt Nam để xem cung cách việc chế tạo.

Ngày nay, năm 2013, trình độ kỹ thuật (nói chung) giữa CS Việt Nam và Đại Hàn cao thấp như thế nào?

Vì đâu nên nỗi?

TIỀN PHONG 1 – Niềm tự hào của KQVN it người biết đến!


Đây là tên của một chiếc phi cơ do Không Quân Việt Nam chế tạo, dựa theo “blueprint” của hãng Pazmany ở California.

Đáng lý ra, câu chuyện này phải do những người trong cuộc viết lại, vì họ đều có mặt tại Mỹ bây giờ. Chúng tôi sở dĩ viết ra để tự mình giải quyết những thắc mắc mà không ai giúp đỡ. Có viết sai thì mới có người lên tiếng để còn hiểu được sự thật bên trong.

Chiếc phi cơ TIỀN PHONG, có nghĩa là “ngọn gió đi trước”, dự trù sẽ trang bị cho Trường Phi Hành của Bộ Chỉ Huy Huấn Luyện của chúng ta, do ngân sách quốc gia Việt Nam đài thọ. Phần thiết kế dự án do Bộ Tư Lệnh Không Quân/Văn Phòng Tham Mư Phó Tiếp Vận phụ trách. Công tác thực hiện được phân phối cho Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận và các Sư Đoàn Không Quân cùng nhau đóng góp công sức của mình. Chính Không Quân Đại Hàn cũng có ý định này. Lúc đó, Đại Tá BAE, sĩ quan liên lạc Đại Hàn tại Việt nam, cũng là sĩ quan cùng học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu với Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân và Chuẩn Tướng Tham Mưu Phó Tiếp Vận có tới xem phi cơ Tiền Phong của chúng ta, và đã xin chính phủ Đại Hàn cử một phái đoàn do ThiếuTướng Lee, Tham Mưu Phó Tiếp Vận Không Quân Đại Hàn hướng dẫn sang Việt Nam để xem cung cách việc chế tạo. Chính vị này cũng cùng học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu với Trung Tướng TLKQ chúng ta. Dường như sau này, Đại Hàn đã chế tạo được phi cơ này để dùng vào việc huấn luyện.



Sau một thời gian bỏ nhiều công sức, rồi có một ngày, tại phi trường hết sức bận rộn như Tân Sơn Nhất(*), máy bay được mang ra bay thử. Không biết ai là người đầu tiên bay chiếc máy bay độc đáo này, nhưng biết rõ chỉ có ba người đã bay trên Tiền Phong 1. Đó là cố Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, Trung Tá Lê Xuân Lan, và Trung Tá Nguyễn Tú.

Trước hết xin kể đến KQ Nguyễn Tú. Lúc đó đang phục vụ tại Văn Phòng Tham Mưu Phó Tiếp Vận, KQ Nguyễn Tú xuất thân khóa 55 Trường Võ Bị Không Quân Pháp, theo ngành kỹ sư cơ khí. Vào những năm 1964-65, anh sang Mỹ lấy bằng Master về Mechanical Engineering. Nói cách khác, anh Tú là người có khả năng vẻ ra một “blue print” để “design” một máy bay loại đồ chơi này chứ không cần phải mua “blue print” của người khác. Chiếc Tiền Phong 1 là máy bay nhỏ, cánh thấp, trang bị bánh mũi, hai chỗ ngồi cạnh nhau như trên T-37, hai đầu cánh có gắn hai bình xăng (**). Về khả năng bay, cũng gần như chiếc T-34 của các quân trường Mỹ một thời gian, nhưng sau được thay bằng T-37 nên không còn sản xuất T-34 nữa. Tuy chưa được bay T-34, nhưng khi nghe các bạn kể lại, chúng tôi rất lấy làm thích , nếu KQVN chúng ta có được một máy bay như vậy để huấn luyện. Một chiếc không khó lắm thì không mấy tốt, vì sau khi tốt nghiệp, khóa sinh sẽ khớp khi lên một chiếc ở đơn vị chiến đấu khó bay hơn máy bay của trường. Nhưng chiếc T-34 có nhiều khả năng, như bay phi cụ, bay nhào lộn không thua gì chiếc T-6 nhưng dễ lái hơn nhờ bánh mũi. Tóm lại, ai bay T-34 rồi thì có thể mường tượng chiếc Tiền Phong 1 cũng có những khả năng tương tự. Phòng lái có mui plastic một mãnh úp lên trông rất xinh đẹp và có vẻ “phản lực” lắm. Như trên đã kể, Nguyễn Tú có phải là một người lái bay thử không? Không! Nhưng Nguyễn Tú có mặt trên nhiều lần bay thử khi các hoa tiêu bay thử có điều không hiểu. Những khuyết điểm ghi nhận trong lúc bay thử đều đươc ghi chép cẩn thận để về sau sửa chữa kỹ càng. Nghĩa là Nguyễn Tú là kỹ sư trưởng dự án và là người theo dõi dự án từ đầu đến cuối, từ A đến Z, từ tổ chức lớn nhất như Không Đoàn Tân Trang & Chế Tạo thuộc Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân đến các Không Đoàn Bảo Trì và Tiếp Liệu thuộc các Sư Đoàn Không Quân. Sở dĩ anh Tú phải bay, hay là được bay trong chuyến bay thử đầu tiên, tuy không hưởng lương phi hành, vì anh nắm vững kỹ thuật về máy bay này, vì anh nhận lãnh trách nhiệm hoàn thành phần chế tạo đúng chuẩn những gì thay đổi trong “blue print”, vì anh là tinh thần của dự án.


Hoa tiêu bay thử chính là cố Thiếu Tướng Võ Xuân Lành, lúc đó là Tư Lệnh Phó Không Quân chúng ta. Ông xuất thân Trường Võ Bị Thủ Đức, theo học khóa 2 hoa tiêu tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, cùng khóa với các ông Vũ Thượng Văn, Trần Đình Hòe và Nguyễn Khắc Ngọc. Dường như ông cũng đã tốt nghiệp khóa B-25 tại Hoa Kỳ. Về nước,ông phục vụ tại TTHLKQ Nha Trang, chỉ huy phó TTHLKQ dưới quyền ông Từ Bộ Cam. Vào đầu năm 1964, ông chỉ huy Phi Đoàn 514 tại Biên Hòa, và Không Đoàn 23 khi thành lập Không Đoàn này, sau đó về Tân Sơn Nhất làm Tư Lệnh Phó Không Quân cho đến ngày cuối cùng. Ông đã bay trên nhiều loại máy bay của Không Quân Việt Nam, từ máy bay “Bà Già” MS-500, cho đến L-19, T-6, A-1H, T-37, F-5…Thích nghiệp bay, khiêm tốn, anh dũng, hòa mình với mọi người trong nghề hay chỉ là thợ đá banh, anh quân cảnh thục bi-da, uống bia Quân Tiếp Vụ, hút thuốc lá Ruby Queen Quân Tiếp Vụ…Ông là người đơn giản, không thích gái vì ông đã có gia đình mà ông dấu rất kỹ đến độ nhiều người cứ tưởng là ông vẫn sống độc thân, mãi cho đến khi đã sang Mỹ rồi, người ta mới biết ông có một gia đình hoàn chỉnh. Ông làm nhiều, nói ít. Mỗi khi dẫn một phái đoàn thăm viếng đơn vị, đơn vị trưởng đơn vị được, hay bị thăm viếng, đều biết đây không phải là phái đoàn ăn chơi, nên ráo riết chuẩn bị để trả lời những vụ việc đúng theo nhiệm vụ ấn định cho tổ chức liên hệ. Ông giải quyết vấn đề đến nơi đến chốn, và mười lần như một, báo cáo cặn kẽ cho Tư Lệnh Không Quân, đầy đủ, về tình như về lý. Ông là người mà trên dưới Không Quân ai cũng thương mến và cảm phục. Trái lại, ngoài Không Quân, những người biết ông nhiều có lẽ là các đội bóng tròn của sinh viên, các hội bóng lão tướng quanh vùng Saigon, Cho Lon, các đội bóng ở những tỉnh lẻ khi tổ chức giao hữu khi ông còn là Tư Lệnh Không Đoàn 23 ở Biên Hòa. Ông thành thật với người và với chính mình. Khi không rõ điều gì thì ông hỏi cho hiểu rõ, không ngại người ta chê mình thiếu sót về năng khiếu hay kiến thức. Nhờ vậy mà ông học nhanh, tiến bộ vững chắc trong ngành nghề của ông. Cũng như nhiều người, ông bay giỏi, nhưng khác hơn người là ông dùng tài năng của ông để phục vụ. Ông xông pha mọi chiến trường với vai một hoa tiêu không cần cấp bậc trên áo bay. Nhưng mọi người đều biết là ông khi ông lên tiếng trên máy vô tuyến trong những trường hợp cấp bách nhất. Nói về bay thử, đây là vụ đầu tiên, chứ không như Bob Hoover của hãng Northrop. Do đó, có nhiều điều chưa hiểu, ông thương lượng với anh hoa tiêu bay thử thứ hai là anh Lê Xuân Lan.



Lê Xuân Lan tốt nghiệp hạng nhì khóa 58A lấy tên Trần Duy Kỷ. Vì điểm tổng kết thua anh Chế Văn Nghĩa, nhưng điểm phi huấn của anh là số một. Anh được bổ nhiệm về Phi Đoàn 514 để được huấn luyện tiếp tục trên T-6G và A-1H. Từ đó anh là hoa tiêu khu trục chuyên nghiệp dưới cái lò đào tạo khó khăn này. Sau này, anh có dịp theo học A-37 và đã được chọn theo khóa huấn luyện viên A-37. Anh lưu lại Hoa kỳ rất lâu để làm sĩ quan liên lạc Không Quân, giải quyết những vấn đề loại hay không loại khóa sinh trên A-37 tại các quân trường dạy lái. Về nước, anh được bổ nhiệm về Văn Phòng Tham Mưu Phó Huấn Luyện của Bộ Tư Lệnh Không Quân. Sau đó, anh đã bay trên F-5 và một thời gian ngắn được bổ nhiệm về Văn Phòng Phụ Tá Phòng Không tại BTLKQ. Khi thành lập Trung Tâm Phòng Không Bắc, anh được cử làm Giám Đốc Trung Tâm Phòng Không Bắc cho đến cuối cùng. Cũng là một hoa tiêu can trường, đã từng lập nhiều chiến công trên mặt trận, mà lại có tài bay như một thiên phú. Nói ít, hiểu nhiều. Tự tin nhưng không khoe khoang. Có ngày anh hỏi tôi về những điều anh thắc mắc về chiếc máy bay Tiền Phong 1 . Anh bảo dường như máy bay không chịu đáp khi kéo là, mà cứ trôi mãi trên không. Nếu gặp gió ngang thì bị bê ra ngoài phi đạo dễ dàng. Chỉ vì mặt cánh nâng quá to, khi sát mặt đất tạo ra một gối khí động (air cushion) làm chân đáp quá ngắn không chạm được đất. Anh còn nói khi “roll” thì không ngọt vì như có sức cưỡng lại. Chỉ vì độ nhị diện quá to để làm cho phi cơ vững vàng khi bị gió động sẽ tự sửa chữa về thế bay trước. Muốn giải quyết hai khuyết điểm đó, có lẽ điều dễ thực hiện nhất là chặt bỏ bớt hai đầu cánh. Nhưng làm thế thì rất tốn công, nhất là hai đầu cánh có gắn hai bình xăng, một mặt tăng thêm trữ lượng xăng, mặt khác giảm được sức cản do luồng gió xoáy (**) tạo ra ở hai đầu cánh. Có lẽ anh Lan đã thảo luận với kỹ sư Tú, nhưng kết quả vẫn giữ nguyên như cũ. Và sau nhiều lần bay thử, chiếc máy bay Tiền Phong 1 được lưu giữ trong hangar của Sư Đoàn 5 Không Quân cho đến ngày tàn.





Đó là những gì tôi biết được về chiếc Tiền Phong 1. Làm máy bay cho Không Quân Việt Nam ta là một hãnh diện, là một mơ ước cho nhiều kỹ sư chưa tốt nghiệp. Do đó, có một hôm, Quân Cảnh phối hợp với Cảnh Sát mang về Bộ Tư Lệnh Không Quân tại Tân Sơn Nhất một chiếc máy bay (không biết có nên đặt tên là Tiền Phong 2 hay không?!). Chiếc này giống như chiếc O-1A, có cánh cao và dài, trang bị một động cơ của chiếc mô-tô Honda 50cc. Trong phòng lái ta thấy một chiếc ghế ngồi thường ở các phòng trà bỏ túi. Cũng có tay lái, cũng có đồng hồ. Chất lợp cánh và thân máy bay làm bằng loại kim khí hợp chất nhôm lấy từ các vĩ kiện hàng (palette) để các kiện hàng có thể thả từ máy bay vận tải có cửa phía sau như C-130, C-123, C-119. Hợp kim này rất chắc chắn nhưng rất nặng. Cánh quạt lấy từ một máy bay O-1A. Người chế tạo là một Trung Sĩ thuộc Sư Đoàn 5 Không Quân. Anh đã tốn nhiều công sức ráp lên chiếc Tiền Phong 2 trong một nhà chứa xe của anh, và ngày tốt đẹp đã đến, anh mang chiếc máy bay này ra xa lộ Đại Hàn (***)khoảng từ lộ Saigon-Tây Ninh nối liền với Quốc Lộ 4 từ Phú Lâm về Tân An. Vì cản trở lưu thông trên xa lộ Đại Hàn, nên Cảnh Sát kết hợp với Quân Cảnh mang tác giả và chiếc Thần Phong 2 về Bộ Tư Lệnh Không Quân. Chiếc này được lưu giữ ở ngay trước văn phòng của kỹ sư Tú ít nhất một tuần lễ. Thật là một thách đố cho các kỹ sư hàng không của chúng ta. Anh em tại BTLKQ thách nhau ai dám bay chiếc Tiền Phong 2, và mọi người đều hướng về vị Tư Lệnh của chúng ta mà… cười vỡ bụng.

Gman

Chú thích:

(*)Phi trường Tân Sơn Nhất vào thời điểm này có hai phi đạo song song, cứ mỗi 30 giây đều có một cất cánh hay hạ cánh. So với phi trường Kennedy ở New York cũng cùng một mức độ bận rộn, nhưng ở New York, chỉ có những phi cơ hàng không dân sự, có đi và đến với tốc độ ngang nhau, rất dễ điều hành hơn nhiều. Trong khi đó, tại Tân Sơn Nhất, nào là máy bay nhỏ như O-1A, có trực thăng UH-1 của Không Binh Hoa Kỳ đồn trú, có hàng không quốc tế lui tới, có A-1H của Biệt Đoàn 83, thật là linh tinh, nhất là khi vào tần số, cùng nghe một loạt ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, trên ba hệ thống vô tuyến FM, VHF và UHF, thật là có một không hai !


(**)Hai bình xăng ở hai đầu cánh làm giảm đi các luồng gió xoáy thường được gọi là tourbillons de Karmann(do nhà bác học Von Karmann người Đức tìm ra), vì áp suất dưới cánh to hơn áp suất khí quyển ở trên cánh, nên ở đầu cánh, không khí di chuyển từ dưới lên trên. Chiếc MD-11 có một vách chận nhỏ cũng có tác dụng chận luồng khí quyển này. Trên Tiền Phong 1 có sáng kiến để bình xăng ở đầu cánh cũng làm giảm sức cản do các luồng gió xoáy Karmann.


(***) Xa lộ Đại Hàn là do Công Binh Đại Hàn giúp đỡ xây cất. Đó là một vòng đai ven đô (belt) để ta có thể từ miền Nam đi về hướng miền Đông hay miền Trung thì khỏi cần chạy qua Đô Thị náo nhiệt Saigon-Cholon, mà đi thẳng đến đường đi Tây Ninh hoặc đi Biên Hòa(xa lộ Biên Hòa). Lúc đó, xa lộ này tương đối ít xe chạy, ngoài xe nhà binh và xe Lambretta-500cc chở khách địa phương.

( Biên Hùng chuyển )
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#2016 Posted : Saturday, September 26, 2015 5:49:48 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Tấm ảnh hai người lính


Cho đến hôm nay, tông tích người lính miền Bắc đã được sáng tỏ. Có điều là anh đã qua đời cách đây khoảng 5, 6 năm. Không biết trước khi chết, anh có còn nhớ người lính miền Nam đã choàng vai anh rất thân tình trong tấm ảnh năm xưa, bên đôi bờ chiến tuyến, và anh có ân hận vì đã từng “phải” cầm súng bắn giết đồng bào, anh em ruột thịt miền Nam, để cuối cùng chỉ tiếp tay gầy dựng một chế độ phi nhân, một chính quyền tham nhũng, man rợ, phản dân hại nước như hôm nay

Thời gian gần đây, một số báo chí trong nước đã phổ biến tấm ảnh “hai người lính” được đặt cho cái tên khá hấp dẫn “Ước Vọng Hòa Bình”.





Tấm ảnh chụp hai người lính, một người lính TQLC của miền Nam (VNCH) và một anh bộ đội của miền Bắc (Cộng Sản), được tác giả là Ông Chu Chí Thành, nguyên Trưởng Ban Biên Tập, Sản Xuất Ảnh Báo Chí của Thông Tấn Xã (Bắc Việt), và cũng là nguyên Chủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh VN, cho biết là chính ông đã chụp tại lằn ranh chiến tuyến Triệu Phong, Quảng Trị vào đầu tháng 4/1973, sau Hiệp Định Paris (có hiệu lực từ ngày 27.1.1973). Tác giả bức ảnh cũng như một số báo chí tại Việt Nam đã (và đang) đi tìm hai nhân vật trong tấm ảnh đặc biệt này, mà họ cho là biểu tượng của “Ước Vọng Hòa Bình” và “Tinh Thần Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc” (!).

Cho đến hôm nay, tông tích người lính miền Bắc đã được sáng tỏ. Có điều là anh đã qua đời cách đây khoảng 5, 6 năm. Không biết trước khi chết, anh có còn nhớ người lính miền Nam đã choàng vai anh rất thân tình trong tấm ảnh năm xưa, bên đôi bờ chiến tuyến, và anh có ân hận vì đã từng “phải” cầm súng bắn giết đồng bào, anh em ruột thịt miền Nam, để cuối cùng chỉ tiếp tay gầy dựng một chế độ phi nhân, một chính quyền tham nhũng, man rợ, phản dân hại nước như hôm nay?

Còn anh lính miền Nam kia thì giờ này đang ở đâu? “Bến Hải hay Cà Mau?”. Có lẽ anh đã chết sau Hiệp Định Paris, ngay sau cái ngày anh choàng vai anh bộ đội miền Bắc với chút hy vọng mong manh: Hiệp Định Paris mang tên Hòa Bình sẽ được chính quyền CS miền Bắc thực thi, vì sinh mạng của đồng bào, vì hòa bình của hai miền đất nước? Thân xác anh có thể vùi nông ở đâu đó, bên dòng sông Thạch Hãn hay trên bờ biển cát An Dương (Thuận An) trong giờ thứ 25 của cuộc chiến. May mắn hơn, nếu có được nấm mồ bên cạnh đồng đội được an táng trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, thì cũng đã bị chính quyền “bên thắng cuộc” đập bia, phá mộ, san bằng từ lâu rồi. Nếu còn sống, chắc cũng đang mang bao thương tích cả trên thân xác lẫn trong tâm hồn, bị chính quyền “bên thắng cuộc” kỳ thị, truy bức. Cũng có thể anh là một trong những người thương binh, lê lết đến Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, mong được nhận một chiếc xe lăn, một xuất khám bệnh từ những người từ tâm, nhân ái, nhưng đã bị đám công an đe dọa, ngăn cản, đuổi xô trong bước đường cùng!

Là một người lính TQLC, anh đã được rèn luyện trong tinh thần kỷ luật và tình “huynh đệ chi binh”, nếu còn sống, chắc chắn anh không hề muốn lên tiếng, nhận mình là người trong tấm ảnh, đang được tung ra nhằm lợi dụng cho một chiến dịch tuyên truyền “Hòa Hợp Hòa Giải” một cách lố bịch.

Tấm ảnh mà tác giả, người từng là Trưởng ban Biên Tập, Sản Xuất Ảnh của Thông Tấn Xã một nước, và sau này là ChủTịch Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam, cho là rất tâm đắc, rất cảm động, là tác phẩm mang ý nghĩa đặc biệt nhất trong cuộc đời nhiếp ảnh, mà sao ông phải “giấu nhẹm” đến 42 năm, trong đó có cả 40 năm chiến tranh đã kết thúc, “hòa bình và thống nhất được thiết lập trên cả nước” ? Bây giờ tấm ảnh được tung ra cùng một lúc trên nhiều tờ báo lề phải vốn chỉ làm theo lệnh Đảng, ông Chu Chí Thành “vô tư” trả lời các cuộc phỏng vấn, và lúc nào ông cũng gán cho tấm ảnh cái “biểu tượng của Tinh Thần Hòa Hợp Hòa Giải”.

Ai có ước vọng hòa bình, và ai hòa hợp hòa giải với ai? Ngay từ tháng 4/ 1973, chính người lính miền Nam đã can đảm, theo lời mời của một anh bộ đội miền Bắc, đi tay không sang chiến tuyến bên kia đang có đầy súng đạn và cả tên lửa dưới các giao thông hào (theo lời kể của ông Chu Chí Thành), để bắt tay cô “bộ đội gái” và choàng vai chụp ảnh với người “anh em bên kia”, trong niềm hy vọng (dù rất mong manh) là Hiệp Định Hòa Bình Paris sẽ thực sự mang lại hòa bình, khi quân đội Mỹ không còn hiện diện trên đất nước. Vậy mà cái hòa bình “giả tạo” khốn kiếp ấy không kéo dài được quá hai tháng! Chính CS Bắc Việt, với bản chất xảo quyệt tráo trở, lợi dụng thời gian “hưu chiến” này để ồ ạt đưa đại quân, chiến xa và súng đạn vào đánh chiếm miền Nam, gieo thêm bao nhiêu tang tóc, để cuối cùng tạo nên một đất nước khiếp nhược, rệu rã tất cả mọi phương diện, từ đạo đức, giáo dục đến kinh tế, để nuôi béo đám cường quyền Cộng Sản thối nát, hèn mạt hôm nay. Vậy mà cái chiêu bài “đánh Mỹ cứu nước” vẫn có thể lường gạt, làm mê muội cả bao nhiêu triệu dân miền Bắc, bởi năm 1973 không còn hiện diện một người lính Mỹ nào tại chiến trường miền Nam!

Sau Hiệp Định Paris 1973, đơn vị tôi trú đóng tại Kontum. Cũng có một thời gian ngắn “ngưng bắn kiểu da beo”. Chúng tôi được một đơn vị CS chính thức mời sang “vùng tạm chiếm” để “liên hoan”. Trong chúng tôi không một ai tin đó là lòng thành thật và sẽ có hòa bình. Tuy nhiên để tỏ thiện chí,một nhóm mười hai người, dưới sự hướng dẫn của một vị trung tá, cũng đươc lệnh đi tay không sang vùng đất địch, mang theo một xe (Jeep) bánh mì, thịt hộp, bia và thuốc lá Quân Tiếp Vụ làm quà cho những “người anh em”. Chúng tôi được một “thủ trưởng” mang “quân hàm thượng tá” tiếp đón. Tất cả cùng “liên hoan” với bánh mì thịt, bia và thuốc lá của chúng tôi mang đến. Dĩ nhiên là chúng tôi ăn trước để họ tin là không bị thuốc độc. Sau đó còn được mời đấu giao hữu bóng chuyền. Cả đơn vị tôi cùng một hợp đoàn trực thăng phải ứng chiến sẵn sang trong suốt thời gian toán mười hai người chúng tôi “liên hoan” trên phần đất địch. (Bởi qua bao nhiêu kinh nghiệm máu xương, đặc biệt là cuộc “hưu chiến” để đồng bào mừng Tết Mậu Thân (1968) đã được hai bên thỏa thuận, vậy mà Hồ Chí Minh còn trực tiếp ra lệnh tấn công trá hình bằng “lời chúc Tết của bác” trên đài phát thanh Hà Nội. Kế hoạch “tổng tấn công và nổi dậy” trên khắp các thành phố lớn miền Nam đã bị thảm bại, nhưng CS đã giết biết bao nhiêu thường dân vô tội. Đặc biệt tại Huế, trước khi rút lui, CS còn ra lệnh giết và chôn sống tập thể cả hàng vạn người. Đến hôm nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường, một kẻ nhúng tay vào cuộc tắm máu đó, đang phải sống trong những ngày thê lương, hoảng loạn, bởi ám ảnh những oan hồn).

Sau cuộc “liên hoan mừng hòa bình” đó không bao lâu, thì CS đồng loạt mở các cuộc pháo kích thật dữ dội và tấn công chúng tôi, nhưng đều thảm bại, vì chúng tôi không bất ngờ, đã luôn đề phòng và chuẩn bị sẵn sàng. Khai thác đám tù binh bị bắt, họ khai là cuộc “liên hoan” hôm ấy chỉ là màn kịch do cấp trên đạo diễn, và tay “thủ trưởng mang quân hàm thựợng tá” tiếp chúng tôi hôm ấy thực ra chỉ là một anh hạ sĩ. Còn tay thượng tá chính thức thì đóng vai “cần vụ”. Chúng tôi không hề ngạc nhiên về bản chất xảo quyệt của những người CS.
Người dân miền Nam và đặc biệt là người lính miền Nam, luôn có ước vọng hòa bình, luôn mong ước dân chúng hai miền Nam Bắc được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Chúng tôi không hề muốn chiến tranh, chúng tôi chỉ phải cầm súng để tự vệ. Tính nhân bản của người lính miền Nam được thể hiện qua tâm tư của một người lính từng phục vụ trong một đơn vị biệt kích, nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Bắc Sơn (vừa qua đời ở Việt Nam):

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
nghe súng rừng xa nổ cắc cù
chợt thấy trong lòng mình bát ngát
nỗi buồn sương khói của mùa thu
(Mật Khu Lê Hồng Phong)
….
Kẻ thù ta ơi, những đứa xâm mình
ăn muối đá và hăng say chiến đấu
Ta vốnhiền khô, ta là lính cậu
đi hành quân với rượu đế mang theo
mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
xem chiến cuộc như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
(Chiến Tranh Và Tôi)


Người dân miền Nam, trong đó có cả hơn một triệu người miền Bắc đã phải bỏ quê hương di cư vào Nam năm 1954 cùng con cháu sau này, cầm súng chỉ để tự vệ, không hề gây chiến tranh bên kia bờ Bến Hải. Vậy ai là kẻ gây ra chiến tranh để giết hàng mấy triệu người “anh em” của hai miền Nam Bắc, làm tan hoang cả đất nước, và điêu linh khốn khổ cho cả một dân tộc?

Bà Dương Thu Hương, một đảng viên, nhà báo Cộng Sản, trên đường vào“tiếp thu” thành phố Sài gòn trong những ngày cuối tháng 4/75, khi đến ranh giới miền Nam, nhìn thấy sự văn minh và phồn thịnh hơn miền Bắc XHCN một trời một vực, đã ngồi bên lề đường bật khóc, bởi vừa nhận ra: Kẻ man rợ đã thắng!

Người Cộng Sản, Đảng Cộng Sản Việt Nam là một vết nhơ lớn nhất trong lịch sử dựng nước, mang trọng tội với dân tộc. Tấm ảnh hai người lính là một chứng tích lừa bịp, soi sáng thêm tội ác của người CS, không thể là một “biểu tượng của tinh thần Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc.” Bởi dân tộc này không cần phải hòa hợp hay hòa giải. Chỉ có những người Cộng Sản gây hận thù chia rẽ và tạo quyền lực tuyệt đối cho riêng mình bằng bạo lực (mạo danh bạo lực cách mạng!), đứng trên pháp luật, bất chấp mọi thủ đoạn man rợ để đè đầu cỡi cổ, bịt miệng cả một dân tộc Việt nam khốn khổ.

Phạm Tín An Ninh
(một người lính VNCH)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#2017 Posted : Saturday, October 3, 2015 6:53:38 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

40 năm ngơ ngác



1.
“Cúp điện!” đó là câu tiếng Việt đầu tiên tôi nghe Đ. nói. Tôi reo lên: “Anh nói tiếng Việt được rồi, giỏi quá!” Anh liền huyên thuyên giải thích cho tôi 1 tràng bằng tiếng Anh rằng anh chỉ biết nói mấy chữ như “cúp điện”, “cà phê”, “chị ơi, cho em 1 taxi nhỏ/lớn đến số nhà… đường… cảm ơn.” Đ. là một trong số 3,300 đứa trẻ rời khỏi Việt Nam năm 1975, may mắn không nằm trong số 150 đứa trẻ thiệt mạng trên chiếc C5-Galaxy đầu tiên rời Tân Sơn Nhất cùng Dennis Traynor. Anh đến Mỹ và được một gia đình người Mỹ gốc Đức nhận nuôi, lớn lên cũng vào quân đội rồi giải ngũ và trở thành nghệ sĩ độc lập. 27 năm sau ngày ra đi, anh trở lại Việt Nam và ở lại Sài Gòn mãi cho đến giờ. Anh tìm lại gia đình mình nhưng có vẻ hai bên cũng không gắn kết gì với nhau mấy. Anh sống một mình trong những căn studio thuê từ quận này qua quận kia của Sài Gòn, vẫn ra đường với vóc dáng một người Việt Nam rặt, với cái tên 30% Mỹ, 40% Đức, 30% Việt Nam.

Một dạo, anh chia sẻ trên facebook của anh một tấm hình anh tìm được trên internet. Đó là tấm hình anh cùng mấy đứa trẻ Việt Nam khác trong chiến dịch Babylift trong ngày đầu tiên đến Mỹ với mấy cô bảo mẫu người Mỹ cười toe. Anh bảo rằng cảm xúc khi thấy hình của chính mình khi nhỏ mà bên cạnh không phải cha mẹ hay ai thân thích quả là cảm xúc kỳ lạ. Tôi chưa bao giờ hỏi Đ. về cảm xúc ấy hay muốn anh thử nói xem nó như thế nào, chỉ nghe anh chia sẻ anh gắn kết với Việt Nam một cách khó tả. Rồi một bữa ngồi phơi nắng ở Toulouse, tôi nhắn tin hỏi anh, sao cuộc đời này, người ta lại chạy từ nơi này đến nơi khác, tôi bỏ Sài Gòn ra đi, còn anh lại tìm về Sài Gòn. Anh bảo điều đó không giải thích được, chỉ biết con người ta, ai cũng có một chốn để đi về.


2.

Năm ngoái, tôi có cơ duyên xem bộ phim tài liệu Daughter from Danang (Đứa con gái Đà Nẵng) kể về câu chuyện ngược dòng về quê của cô Heidi, cũng là một trong số 3,300 đứa trẻ Babylift. Nhưng không may mắn như Đ. (có lẽ, tôi đoán câu chuyện của Đ. ít đổ vỡ hơn), Heidi những tưởng tìm được người mẹ dứt ruột đẻ ra mình thì sẽ chữa lành vết thương đổ vỡ từ người mẹ nuôi, nhưng cô đã thất bại. Những người anh em cùng mẹ khác cha của cô, và cả mẹ cô, sau những chuyện kể lể về ngày cô còn bé thì tiến đến phần đòi hỏi trách nhiệm rằng cô phải gửi tiền về nuôi gia đình cha mẹ. Ai nấy gặp cô đều than nghèo kể khổ, đều coi cô như cái ngân hàng đặc biệt, chi tiền không điều kiện. Thất bại, Heidi quay về Mỹ, không liên lạc với gia đình mẹ ruột nữa, dù hằng năm họ vẫn viết thư qua xin tiền.


3.

Không đi theo chiến dịch Babylift, nhiều người Việt ở Pháp tôi gặp đi theo diện đoàn tụ gia đình hoặc may mắn không bỏ mạng trên biển hay đầu hàng số phận trước khi tới được Galang, Bidong, Palawan, Phanat Nikhom… Họ đến từ Bordeaux, Blagnac, Pau, Tarbes, Narbonne, Béziers… tập trung về Tournefeuille bên hồ Ramée hai ngày cuối tuần. Họ bán rau cải, diếp cá, lá hành cho tới bánh cam, bánh tiêu. Cái chợ tạm đó lập ra giữa một bãi gửi xe trong khu giải trí dành cho người Tây. Họ đến, nói chuyện, bán một xe rau kiếm mấy chục đồng cho tới 100 đồng tùy bữa chợ. Họ lập cả mấy bàn tứ sắc, xì phé, tổ tôm, xóc dĩa. Họ, đôi khi tôi gặp giữa Toulouse, vẫn đi làm lậu và ăn trợ cấp thất nghiệp, vẫn thất sắc khi kể chuyện qua cửa hải quan, nhập cảnh, khi về Việt Nam. Chiều cuối tuần rồi, tôi gặp họ bên bờ hồ, vẫn những câu “xin chào!”, “1 euro một bó cải”, “cô ơi, mua đi!” Ánh mắt người đàn bà tuổi 60 ngồi bệt một góc chợ bán nước đóng lon ngó ra hồ nước làm tôi nhớ mãi, ánh mắt của một người như thể bị bàn tay khổng lồ bứng đi. 40 năm, thời gian đông cứng, để ánh mắt đó ngơ ngác từ Sài Gòn sang đến Tournefeuille trong tích tắc.

Phan Thị Lan Phương

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Cat' Linh
#2018 Posted : Monday, October 12, 2015 10:57:04 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 704
Points: 2,265
Location: fa la la

Thanks: 944 times
Was thanked: 862 time(s) in 463 post(s)
Duy An
#2019 Posted : Wednesday, October 21, 2015 5:40:59 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Nỗi buồn chiến tranh qua thi ca miền Nam (1960-1975)



Huy Phương



Chiến tranh được định nghĩa như một cuộc tranh giành hơn thua, xung đột vũ trang vì quyền lực, chiếm đoạt lãnh thổ, áp đặt chủ nghĩa hay để trả thù, rửa hận. Nhiều nhóm người và dân tộc đã nhân danh nhiều thứ như tự do, độc lập, giải phóng... để mở cuộc chiến tranh. Dù với nhân danh nào, mục đích nào, giải phóng, áp đặt hay tự vệ hay bảo toàn lãnh thổ thì chiến tranh cũng đem lại chết chóc, tang tóc cho cả hai bên. Chúng ta đã thấy hàng trăm nghìn bia mộ, những vành khăn tang của cô nhi quả phụ, những nạng chống, những chiếc xe lăn của người thương tật, cùng với xóm làng điêu tàn, và những hậu quả để lại cho đời sống cả chục năm sau trên mặt địa cầu cũng như những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn con người.

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”
“Say chốn sa trường xin chớ mỉa
Xưa nay chinh chiến mấy ai về?”


Hai câu Ðường của Vương Hàn đã cho ta thấy nỗi xót xa của người chiến sĩ một lần đi không trở lại. Sau những khải hoàn môn kia, sau những vòng hoa chiến thắng, sau những ngày lễ khao quân, sau những ”tướng công thành” là những đống xương Vô Ðịnh, như hai câu sau đây của Bùi Hữu Nghĩa:

“Ðống xương vô định sương phơi trắng
Vũng máu phi thường nhuộm cỏ cây!”


Chúng tôi xin lấy thời điểm 1954 - sau khi đất nước chia cắt và sau đó vài năm chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc bộc phát khốc liệt. Trong thời gian này chúng ta đã đọc được nhiều bài thơ viết về chiến tranh, phần lớn là của những người cầm súng. Ở đây chúng tôi chưa có dịp để trình bày với các bạn những bài thơ trong thời gian gọi là chống Mỹ cứu nước với lòng căm thù hung hãn của những người làm thơ để “biểu diễn lập trường.”

Với cái nhìn tổng quát, tôi xin nói về thơ chiến tranh của những thi sĩ, trong cuộc chiến tranh để bảo vệ miền Nam trong hơn hai mươi năm. Cũng xin nói thêm về danh từ phản chiến. Chỉ có những kẻ buôn súng mới thích chiến tranh, còn ngoài ra không ai yêu chiến tranh, ai cũng chống lại chiến tranh, mà người ta gọi bằng danh từ “ phản chiến.” Nhưng phản chiến không chỉ là đào ngũ, trốn lính, để trở thành hippy, bụi đời... mà phản chiến cũng có thể vẫn cầm súng và làm hết bổn phận công dân của mình.

Chúng ta có những nhà thơ phản chiến không mang danh nghĩa “bất phục tòng,” hiện diện trong quân đội, có mặt trên chiến trường và vẫn làm thơ lên án chiến tranh. Ðó là ưu điểm của nền văn nghệ miền Nam.

Trong những tác giả có thơ chiến tranh mà tôi trích dẫn nơi đây đã có người nằm xuống trong cuộc chiến, vì người thơ không sống nổi qua một cuộc chiến quá dài. Hiện nay việc sưu tập thơ trong chiến tranh đã gặp nhiều khó khăn và nhiều tài liệu đã thất lạc, qua bao nhiêu lần khổ nạn của đánh tư sản, thiêu hủy văn hóa phẩm, di tản, vượt biển.

Là người làm văn hóa, nhà văn, thi sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia... chúng ta đã chia sẻ gì với đất nước, với con người về nỗi buồn của chiến tranh, cao hơn là nỗi đau đớn của chiến tranh.

Ðiều đáng ghi nhận là suốt trong những dòng thơ của những người miền Nam cầm súng, không thấy ai căm thù, không thấy ai cao giọng hô hào cho chủ nghĩa, không thấy ai đòi ăn gan uống máu quân thù. Họ coi chiến tranh như chuyện tất nhiên phải làm, một bổn phận đưa đẩy, thậm chí là một thứ trò chơi lớn, do đó những người thơ cầm súng cũng chấp nhận cái chết, sẽ đến bất ngờ, nếu có, một cách thư thái nhẹ nhàng.

Tôi ghi lại đây bốn cái nhìn về chiến tranh;

1. Thảm cảnh của chiến tranh,
2. Chiến tranh như một thứ trò chơi của số mệnh,
3. Lòng nhân ái trong thơ của người lính miền Nam,
4. Nỗi buồn của người lính sau chiến tranh.

1. Thảm cảnh của chiến tranh

Chiến tranh trước hết là địa ngục. Ở đó là máu lửa, bom đạn, chết chóc, mẹ góa con côi, què cụt... Mô tả chiến tranh thì mỗi người nhìn từ một góc cạnh, kẻ trực tiếp cầm súng làm chiến tranh, đối diện với kẻ thù, người là nạn nhân mất chồng, mất cha, người thấy chiến tranh hiện diện đe dọa cuộc sống bình thường trong thành phố. Chúng ta sẽ thấy nỗi bi thảm chiến tranh hiện diện thế nào trong thơ.

Mai Trung Tĩnh đã vẽ một bức tranh tổng thể về chiến tranh trên quê hương miền Nam, nơi ông đã sống và phục vụ trong quân đội trong bài thơ mang nhan đề “Quê Hương”:

“Những bình minh rớm máu
Những hoàng hôn nghĩa trang
Những ruộng đồng thi thể
Những núi đồi thịt xương

Khóc không còn nước mắt
Ăn không trọn bát cơm
Học chẳng thành ra học
Chơi không còn chỗ chơi

Tuổi trẻ uống đạn bom
Bao lần chưa biết đã
Bè bạn lá mùa thu
Rụng mỗi lần lả tả

Cái chết như tặng vật
Tình yêu quán nghỉ chân
Mười lăm trông mười bảy
Ba mươi nhìn năm mươi.”


Vào sâu từng hoàn cảnh, từng địa phương, chúng ta sẽ thấy chiến tranh nhìn từ mọi phía, nơi mặt trận đầy đạn bom, tại một đơn vị vừa có nhiều người cầm súng hy sinh, hay một góc nhà vĩnh biệt quạnh hiu. Với Trần Hoài Thư, người lính thám báo SÐ 22 BB, trực tiếp tham gia chiến tranh:

“Pháo chụp người gào khan cổ họng
Máy sôi tắt nghẹn chờ phi tuần
Miểng thép đâm xiên thằng bạn gục
Hỏa châu vàng thoi thóp triền sơn.”


Với Tô Thùy Yên, người lính làm thơ vùng sình lầy, sông rạch của miền Nam:

“Di tản khó - sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày chưa lấy xác
Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh,”

hay:
“Trời ơi những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?” (TTY)


Lan Sơn Ðài, một nhà thơ trẻ, đã viết những dòng thơ buồn sau đây trên tuần báo Khởi Hành năm 1969, khi chiến tranh tới hồi khốc liệt, lúc thoát chết mà không biết nên khóc hay nên cười:

Khi tôi về theo đơn vị ở Tân Uyên,
đêm không bóng đèn, ngày chói chang nắng phủ
từng mùa trăng lùng địch tận chiến khu D,
những ngày nơi đây tôi không hy vọng được về
chết- nhất định tưởng rằng tôi sẽ chết
bao nhiêu đói rét - ôi nhọc nhằn hết sức,
vinh quang đâu - đời tôi đó hôm nay
bạn bè tôi, thằng hóa đá, đứa mây bay
đứa còn kẹt ở chiến khu một cánh tay, một bàn chân, dăm ba sợi tóc
điều không tưởng là tôi được thoát
nên biết cười hay nên khóc thế nào đây?”


Và với Trần Thuật Ngữ, chiến tranh là vô nghĩa và vô định:

“lòng theo chân bước mịt mờ
thịt xương ủ lạnh ngọn cờ đỏ tươi
từ đi theo vết máu người
ngủ trong tiếng nổ quên lời chim ca
người nằm trong đất xót xa
người đi trên đất xương da rã rời.”

Và đây, với Nguyễn Phúc Sông Hương, người lính đang thực sự chiến đấu trên mảnh đất đồng bằng Nam Bộ, thấy bạn bè ngã gục trước mắt mình:

“Ngày đầu nhảy xuống rừng An Lộc
Tuấn, Bé, Hùng, An đã giã từ
Ðành lấp hình hài khắc dấu đá
Quan tài chôn bạn chiếc poncho.”

“...Chỉ hai trăm mét mà xa lắm
Trảng trống đã rơi mấy chục người
Trảng trống, đời ta nhiều trảng trống
Và nhiều cao địa núi sông ơi!”

Ðây là câu hỏi của một người chiến binh khác, Ý Yên:

“Sau những đợt xung phong ào thác lũ
Còn lại gì, vườn trống cạnh nhà hoang?”

Ngy Hữu, một người lính làm thơ khác đã viết những lời trối trăn gần như tuyệt vọng:

“em biết không tháng ngày bom đạn phá
những thằng con trai chết tuổi hai mươi
anh nhìn lại bốn năm miền máu lửa
xót xa đầy hồn du tử em ơi.

“ngày mai anh về nghĩa trang quân đội
người lính còn ngồi ôm súng không em
xin đừng khóc nếu một lần em tới
vì với đời - anh tình nguyện quên tên.”

Cũng trong hoàn cảnh những chiếc quan tài người lính mới được đưa về hậu cứ hay ở quận lỵ heo hút, đôi khi chẳng có khói nhang, với cái nhìn của Tô Thùy Yên:

Áo quan phong quốc kỳ oanh liệt
Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang
Quê nhà không tiện đường đưa tiễn
Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh. (thơ TTY)

Nếu được vẽ một bức tranh về chiến tranh thì Thái Hải Ngạn sẽ vẽ như thế này:

“Vẽ quê hương khói đạn mù
Vẽ anh em với mắt thù bao năm
Vẽ em thơ chết trăng rằm
Vẽ đêm phố chợ điêu tàn gạch vôi.”

Ðối với Ðịnh Giang, không còn cả tương lai cho thế hệ mai sau:

“Mau lớn khôn đi con
Góp mặt cùng bè bạn
Ðêm nhìn nắng hỏa châu
Ngày nhìn mưa bom đạn”
... “Cha cuộc đời lính tráng
Mười năm vác súng rồi
Mỗi năm giờ sum họp
Ngắn hơn giờ chia phôi.”

Tống Châu An ghi lại nỗi buồn trong một đêm đi kích ở miền quê:

“Quê hương chinh chiến mù mù
Ðêm nghe chinh phụ à ời ru con.”

Trái với những người làm thơ ngoài mặt trận, Lê Thị Huệ nhìn chiến tranh ở hậu phương, trên phố phường qua những chướng ngại trên đường phố, đó là những lô cốt, với những cái nhìn phản chiến, hờn giận:

“Tôi lớn dậy cùng những lô cốt chắn đường,
Tử thủ phố phường ướt những đêm kinh con gái
Máu chảy lai láng chiến trường trong bản tin buổi sáng
Lô cốt. Lô cốt. Những hàng rào kẽm gai!
Gai đâm ngang mặt trời quê hương chiến tranh
Tôi không biết được mùi hương của những nụ hoa chanh
Nở cốm xanh trời việt Nam những trưa hè lưu tán
Họ để lại lô cốt những cái bướu trâu
Móc u óc khắp tử cung tôi thời hậu chiến
Chúng nổi tự bao giờ làm sao tôi hiểu thấu
Những lô cốt còn lại từ một cuộc chiến tranh.”

Ðây cũng là cái nhìn về chiến tranh qua đời sống người dân ở một quận lỵ miền Nam, qua thơ của Thạch Nhân:

“Buổi sáng nhìn những chuyến xe đò chạy vào quận lỵ
những chuyến xe chạy chậm hơn rùa
những mô đất cao, những ổ gà có thể
là bóng tử thần đang chờ đợi chúng ta

Buổi sáng nhìn những mái nhà, những ngôi chùa sụp đổ
ôi quả đạn nào vừa rơi trúng đêm qua
những xác người, những trái tim ngừng thở
đứa bé nhà ai khát sữa kêu la...”

Không chia sẻ, làm sao hiểu được nỗi đau của người trong cuộc, khi mất đi Ệ phần đời của mình như người quả phụ trong thơ Lê Thị Ý, chua xót với hình ảnh “anh lên lon mới giữ hai hàng nến trong”:

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để nhớ mình không là mình.
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si một thuở hiển linh bây giờ.”

và Linh Phương, một người mà chúng ta biết rất ít, hiện ra một lần, rồi biến mất, nhưng những âm thanh còn lại để đời qua nhạc Phạm Duy, một bài thơ với những hình ảnh xót xa nhất của chiến tranh, được coi như một bài thơ phản chiến:

“Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín đời anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô trên đầu vội vã, em ơi.”

2. Nhà thơ nhìn chiến tranh như một trò chơi

- Sống chết là số mệnh

Hầu hết những người làm thơ miền Nam là người cầm súng. Dù họ phản chiến, nghĩa là ghét chiến tranh, chống chiến tranh, hoặc coi chiến tranh như một điều phải làm, một điều không thể tránh. Bị động viên như một trạng thái thụ động, hay hăng hái tình nguyện vào lính vì yêu lý tưởng, vì không hèn, họ vẫn còn khí phách của những người trai. Ra trận, có nghĩa là cái chết đã gần kề, không nghe ai run sợ, mà vẫn nghe sự hào sảng, khí khái như Tô Thùy Yên sau đây

“Tới đây toàn những tay hào sảng
Sống chết khôn làm thắt ruột gan
Cũng không ai nhắc gì thân thế
Có vợ con mà như độc thân.

- Bạn hỏi thăm ta cho có lệ
Cuộc đời binh nghiệp - Ta cười bung
Còn mươi tháng nữa lên trung úy
Có thể ngày mai chữa biết chừng...”


Và đây, những suy nghĩ của Trần Hoài Thư trong một đêm chuẩn bị hành quân:

Nửa đêm kẻng giục, quân ra trận
kinh động cả lòng đêm tối bưng
Nhận lấy chỉ ba ngày cơm gạo sấy
không buồn, chỉ một chút bâng khuâng.

Ðời ta là con số không vô tận
May trên đầu còn chiếc mũ rừng
mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ
Chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân (THT)


Nguyễn Bắc Sơn, người được coi như một nhà thơ phản chiến, cũng chỉ hơi thấy một chút buồn ngày ra trận:

“Ðêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu.

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé song Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Ðốt tiền mua vội một ngày vui. (Nguyễn Bắc Sơn)


Trong bài “Tiệc Tẩy Trần của Những Thằng Sống Sót,” Nguyễn Bắc Sơn đã viết:

“Các bạn cũ những thằng nào vô phước,
Mồ đang xanh vì cuộc chiến hôm qua,
Hãy về đây mà say khướt cùng ta
Này bóng mây cao, này vòm lá thấp.”
Ðôi lúc giận đời cũng muốn chửi thề một tiếng:
“Chửi thề mấy tiếng trong tầm pháo
Thế hệ sinh lầm thuở rối ren!” (NBS)


- Lòng nhân ái trong chiến tranh:

Người lính trong chiến tranh có buồn không? Xa xa, trên đường chinh chiến gian nguy, không biết cái chết đang rình rập đâu đây, nhưng thơ của người lính miền Nam vẫn hào khí và đầy lòng nhân ái, như những câu thơ sau đây của Nguyễn Phúc Sông Hương, một đêm trăng tròn trên chiến địa:

Mấy tiếng tù và vang dưới lũng
Chắc là địch lạc, thổi tìm quân.
...Ðỉnh cao ta chẳng cần xin pháo
Ðể cho người sống trọn đêm rằm.


Ai đi đánh giặc mà không muốn tìm và diệt đối thủ, nhưng ý tưởng của Nguyễn Phúc Sông Hương cũng gần gũi với Nguyễn Bắc Sơn, coi chiến tranh như tai trời ách nước, chết sống đều do số mệnh an bài:

“Ta vốn hiền khô là lính cậu
Ði hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.”


Rõ ràng cuộc chiến như trò chơi, không căm hờn, không thù hận.

Trần Hoài Thư cũng đồng ý chiến tranh, chết sống là nghiệp số:

“Kẻ bỏ ra đi người ở lại
Chiến tranh thì cũng nghiệp oan chung.”


Tô Thùy Yên đã nói đến điều vô lý của chiến tranh trong bài thơ dài “Chiều Trên Phá Tam Giang”:

“Hỡi gã Cộng quân sốt rét, đói
Xích lời nguyền, sinh Bắc tử Nam.
Vì sao ngươi tới đây?
Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn
Dưới mắt ngươi làm tên lính ngụy.”

hay:

“Hỏi nhau chơi cho thỏa tính bông đùa
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam - một tổ quốc...?
Các việc người làm, ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm.
Các việc ta làm,
Ta xét thấy chẳng ra chi!”


Những nhà thơ miền Nam, không nghe ai kêu gào giết giặc như nhà thơ Chính Hữu của bên kia chiến tuyến, đó không phải là nỗi đau của chiến tranh, đó là hả dạ lòng căm thù:

“Mùa thu thây giặc chất sông núi,
Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng.”


Cùng một cái nhìn đối với những xác chết ngoài trận địa sau cơn giao tranh, Chính Hữu làm sao có được cái nhìn nhân ái đối với những con người đã nằm xuống ngoài trận địa, để có thể đặt câu hỏi như Trần Hoài Thư:

“Ai bạn ai thù sao quá thảm,
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia”

hay pha chút đau đớn như Tô Thùy Yên:

“Trời ơi, những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?”


3. Chiến tranh chấm dứt những người thơ miền Nam nghĩ gì? Ðó là nỗi buồn chưa hết, nỗi buồn sau chiến tranh.


Rồi chiến tranh đột ngột chấm dứt, người ta dùng hình ảnh người lính bị bức tử phải buông súng, hay nói như nhà văn Cao Xuân Huy là gãy súng. Danh từ quân đội là tan hàng, danh từ điện ảnh là đứt phim. Sáu năm trước khi chiến tranh chấm dứt, Nguyễn Bắc Sơn đã nghĩ sẽ có một ngày:

“Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt,
Xin giã từ đời vũ khí, huy chương
Xin trở về như một kẻ hoàn lương
Xin vứt hết, xin bắt đầu lại hết.”


và chúng ta, ai cũng có quyền mơ ước như Bùi Nghi Trang:

“ngày nào đó ta trả súng trở về
cha con ta vác sách thánh hiền, vác cần câu ra bờ ruộng.”

hay:
“ngày nào đó ta trả súng trở về,
ta sẽ kẻ lông mày cho hiền thê như Triệu Minh-Vô Kỵ”


Nhưng sau ngày 30 tháng 4, rõ ràng là những mơ ước đó không thành sự thật, và rất nhiều điều bất trắc đang chờ đợi người lính thất trận. Người lính không tiếc cấp bậc không tiếc danh vọng, nhưng có người đã tiếc một cuộc đời toan tính hy sinh cho hai chữ tự do, họ tiếc vì sự nghiệp nửa chừng dang dở. Giờ đây sau chiến tranh là nỗi nhớ chiến hữu, nhớ bạn, nhớ bè:

“Chiếc chiếu rượu bây giờ thành chiếu trống
Những người xưa giờ đã bỏ đi đâu
Còn lại mình tôi, cách nửa địa cầu
Con ngựa lạc đàn ngậm ngùi đất khách” (Trần Hoài Thư)


Ðẹp hơn cả, trong sự hối tiếc sau chiến tranh, là họ không còn che chở, chiến đấu được cho những người dân, những đồng bào trong vùng trách nhiệm, bất lực trước thời cuộc đổi thay quá nhanh chóng.
Người lính miền Nam “chân theo đoàn quân rút đi, nhưng tấm lòng còn ở lại” như ý thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương, trong bài Nửa Hồn Xuân Lộc mà tôi xin trích dẫn một vài đoạn sau đây để kết thúc cho bài này:

.......
Hồn ta là kiếm sao không chém
Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã
Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!

Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy
Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Ðêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút
Ðành biệt nhau, xin tạ lỗi người

Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi,
Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui

Ta biết dưới hầm em đang khóc
Thét gầm pháo địch dập không thôi...



Tài liệu tham khảo:

- Tạp Chí Khởi Hành của Viên Linh (bộ cũ trước 1975)
- Trong dòng cảm thức văn học miền Nam (Trần Văn Nam - 2006)
- Thơ Văn Hiện Ðại (Uyên Thao - 1969)
- Tuyển tập thơ Trần Hoài Thư (2004)

ASIAlcoholic
#2020 Posted : Sunday, October 25, 2015 8:10:24 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,207
Points: 3,678
Location: USA

Thanks: 2252 times
Was thanked: 1566 time(s) in 844 post(s)


N H Ớ . Q U Ê . N G H È O


Ngày xưa rời bỏ quê nhà
Tha phương cầu thực, nẻo xa ít về
Trong lòng chồng chất bộn bề
Tình quê tình Mẹ, chẳng hề nhạt phai.

Quê nghèo sáng sắn chiều khoai
Cháo rau qua bữa, mấy ai no đầy
Trẻ già ốm yếu thân gầy
Cực thân Cha Mẹ, nuôi bầy con thơ.

Nhiều năm đói khát xác xơ
Thiên tai chồng chất, mận mơ thất mùa
Ông trời như thể trêu đùa
Mỗi năm mấy bận, gió lùa bão giông.

Ruộng đồng nước ngập mênh mông
Mùa màng thất bát, ngồi trông ngậm ngùi
Đói nghèo sống thiếu niềm vui
Giêng hai ăn độn, khoai lùi sắn khô.

Miền trung đồi núi nhấp nhô
Gót chân mòn mỏi, kiếm tô cháo đầy
Lên ngàn, chạy đó, chạy đây
Khoai khô mấy thúng... song mây mấy vòng...

Chạy đói gối mỏi lưng còng
Lên rừng xuống biển, dặn lòng kiếm cơm
Cầu mong gặp được miếng thơm
Để đưa ra chợ... đong đơm gạo về.

Giờ đây nhớ lại miền quê
Một thời đói khổ... chán chê rã rời.
Cầu xin ban phát lộc trời
Cho miền quê ấy, sống đời an vui!


H o à n g . H ả i
17.06.2013

phamlang
#2021 Posted : Wednesday, November 11, 2015 4:48:31 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Con Người và Cái Chết của Tướng Lê Văn Hưng



Qua Ghi Chép Của Một Tình Báo Mỹ
Không rõ tác giả


Không chê người đáng khen
Không khen người đáng chê


James E Parker Jr., tác giả cuốn sách “Last Man Out – A Personal Account of the Vietnam War”,” là một giới chức tình báo của CIA rời khỏi Việt Nam cuối cùng vào ngày 1 tháng 5 (1975) sau mười năm phục vụ, giai đoạn đầu với vai trò một quân nhân, và giai đoạn sau trong ngành tình báo Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tác giả tự hào là “I was among the first men in and I was the last man out” và cuốn sách trên được Đô Đốc Elmo Zumwalt, vị Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ trẻ tuổi nhứt trong lịch sử hiện đại, đánh giá là “sống động và thuyết phục… Một bổ sung quan trọng cho nền văn học kỷ nguyên Việt Nam.”

Được biết thêm, Đô Đốc Elmo Zumwalt trong thời kỳ cuộc chiến Việt Nam leo thang là chỉ huy trưởng Chiến Dịch SEALORDS (Southeast Asia Lake Ocean River and Delta Strategy) phát xuất từ Căn Cứ Năm Căn (Cà Mau). Và qua thời “Việt Nam hóa Chiến tranh,” ông đề nghị, và thi hành kế hoạch ACTO (Accelerate Turnover to the Vietnam) nhằm chuyển giao và trang bị quân cụ hải quân nhanh chóng cho Việt Nam (Theo “Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam” của Nguyễn Kỳ Phong).

Đặc biệt trong “Last Man Out” rải rác trong nhiều chương, tác giả đề cập, qua ghi chép và nhận xét, đến nhiều nhân vật quân sự tên tuổi mà ông có nhiều cơ hội và thời gian làm việc chung, như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn. Tác giả mô tả tướng Nguyễn Khoa Nam điềm đạm, làm việc mẫn cán, chu toàn trọng trách tướng chỉ huy… Tướng Trần Văn Hai thâm trầm, khép kín, hút thuốc nhiều, và có vẻ ít nhiều định kiến với các cố vấn, giới chức Mỹ. Nhưng vị tướng này có tài quân sự, đã cho tác giả biết trước vào ngày 22 tháng 4 là Sàigòn đã bị Cộng Sản bao vây rồi sẽ “mất trong 7 ngày” sau đó, căn cứ theo sự thẩm định và ước đoán tình hình quân sự và những biến chuyển chính trị rất xấu cho miền Nam vào lúc bấy giờ. Tướng Hai nghiêm mặt, nâng cao ly cà phê được đặt trong chiếc bình giữ ấm, mời tác giả cụng ly để cầu nguyện cho những chiến sĩ đã hy sinh và chúc lành cho nhau … Tác giả dành cho Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (trong sách in là Canh, có lẽ tác giả quên cách viết chữ Cẩn) sự cảm mến nồng hậu. Trước khi làm tỉnh trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã nổi tiếng với những chiến công, nhứt là những trận đánh giải vây cho An Lộc, và một phần bên mặt bị thương, dù đã giải phẫu chỉnh hình vẫn còn để lại vết sẹo dài dọc theo hàm. Tác giả nhận xét Đại Tá Cẩn là “lính của lính, can trường và thanh liêm” (he was a soldier’s soldier, brave and incorruptible).

Riêng Tướng Lê Văn Hưng, tác giả James E. Parker, Jr. ghi lại nhiều chi tiết hơn.

Trong suốt thời gian về làm việc tại vùng châu thổ Cửu Long (Vùng 4), chủ yếu tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận, tác giả do vai trò “case officer” trong ngành CIA nên luôn có dịp gặp Tướng Hưng. Ngày đầu tiên diện kiến ông Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tác giả “hơi lấy làm lạ” về cách đánh giặc và điều quân của Tướng Hưng là “thủ nhiều hơn công” khi đôi bên trao đổi và thảo luận, về kế hoạch quân sự trong vùng. “Tại sao lại đánh một trận chiến đang thua?” tác giả thắc mắc thì tướng Hưng cười và hỏi lại: “Tôi còn có những lựa chọn gì nữa đâu?” rồi chậm rãi nói tiếp – “Đây là đất nước của tôi.”

Sau nhiều tháng liên tục làm việc để lập mạng lưới tình báo tại vùng châu thổ, tác giả ghi nhận tướng Hưng dành rất nhiều thời giờ cho việc trận mạc: Sáng sớm thường đáp trực thăng đi thị sát và trao đổi với các đơn vị trưởng địa phương. Trở về họp tổng kết tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn và thỉnh thoảng họp khẩn về đêm. Càng về sau tác giả mới hiểu ra thêm tổng quan (outlook) của một ông tướng Việt Nam trong cuộc chiến giữa những người Việt Nam ngay trên quê hương của mình. Tướng Hưng tin rằng sự chiến đấu thực sự cho vùng châu thổ đang diễn tiến ở những nơi khác, có thể trong các cuộc họp hành ở Sài Gòn. Vả lại, là một người theo đạo Phật, ông tin vào định mệnh, những gì xảy ra với những hậu quả gì đem đến đều là sự an bài, xếp đặt trong vạn vật cả.

Tuy nhiên, tháng 2 năm 1975, theo đòi hỏi của cấp trên từ Cần Thơ và Sài Gòn, Tướng Hưng đã phát lệnh tấn công một lực lượng quân sự trọng yếu của Cộng Sản tại mạn đông của tỉnh Chương Thiện, nằm trong một mật khu lâu đời thuộc rừng U Minh – Theo tác giả, đây là chiến dịch động binh lớn nhứt và khổ cực nhứt của Tướng Hưng với những điều kiện khó khăn và phương tiện hạn hẹp. Chỉ còn cách tấn công địch theo lối “liệu cơm mà gắp mắm” thiếu hụt đủ thứ: Phi vụ không quân hạn chế nên không vận chuyển kịp thời các quân cụ, khí giới nặng, điều động nhanh các đơn vị chiến đấu tấn kích thần tốc. Quân đội Hoa Kỳ tuy để lại nhiều súng đại bác nhưng thiếu đạn, còn nhiều mìn claymore nhưng không có đủ bộ phận khởi động (activators), còn nhiều loại đạn dược, nhưng ngòi nổ đã tịt! Tuy vậy nhờ sự chỉ huy tài giỏi, sự can trường và thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lực lượng cộng sản Bắc Việt đã bị đẩy lùi sâu vào rừng U-Minh khi kết thúc chiến dịch. Trận đánh lớn như vậy hẳn nhiên chiến trường tàn cuộc phải tang tóc, sự chết chóc và thương tật cả đôi bên phải nhiều. Tác giả ngậm ngùi ghi chép tâm trạng Tướng Hưng trong hoàn cảnh tàn cuộc chiến đó: General Hưng was not sure if he had, in fact, secured the net advantage. He had used much of his limited resources. For what? … He suffered extensive casualties. Tướng Hưng không biết chắc là trong thực tế mình có thắng lợi thực sự hay không. Ông ta gần như đã xả láng những gì còn có trong tay. Để cho gì đây? Ông đã chịu đựng bao thứ tai ương.

Trong con người võ tướng còn có một văn nhân. Tác giả đã sống với Tướng Hưng những buổi chiều đằm thắm: Hỏi thăm chuyện gia đình, bàn chuyện nước Mỹ, chuyện thời sự, thảo luận văn chương. Kiến thức ông tướng uyên bác, nhiều nhà văn và tác phẩm văn chương Mỹ ông đề cập phần tác giả còn chưa đọc tới dù rằng là “mọt sách” đọc không dưới hai ba cuốn sách mỗi tuần. Còn Tướng Hưng ưa kể chuyện lịch sử Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương. Ông ăn nói cân nhắc, từ tốn, luôn tươi cười, ngay cả những khi tranh luận các vấn đề quan trọng. Tướng Hưng có được những nét tự tin đặc biệt và quanh người ông như toát ra vẻ thanh thản, trầm tĩnh. Tánh tình khả ái, rất dễ gây được cảm tình của mọi người từ ông tướng đã thu phục “con tim” của một điệp viên Mỹ, tạo thành tình bạn thân thiết giữa hai người.
Và tác giả đã dành riêng phần lời bạt (Epilogue) để kể lại cái chết bi tráng, thương cảm của tướng Lê Văn Hưng. Dưới đây là phần dịch của Lời Bạt.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đúng lúc 7 giờ tối, Tướng Hưng, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là người bạn của tôi, đã nhắn gọi vợ ông đến văn phòng làm việc tại Cần Thơ. Tướng Hưng cho vợ biết là có mười người dân địa phương đến thỉnh cầu ông đừng chống trả với lực lượng Việt Cộng đang tiến quân vô thành phố. Họ nói bọn Cộng Sản sẽ pháo kích nát Cần Thơ thành đống gạch vụn và gây thương vong cho nhiều dân lành. Tướng Hưng nói với vợ rằng ông hiểu rõ chuyện đó và đồng ý sẽ không để thành phố Cần Thơ biến thành một bãi chiến trường tuyệt vọng. Ông cũng cho biết kế hoạch khẩn cấp rút lui cùng một số thuộc hạ vào một mật khu xa xôi vùng châu thổ đã hẹn trước, nơi sự sống khó tồn tại. Đầu hàng giặc không phải là một giải pháp lựa chọn.

Tướng Hưng cũng không hề nghĩ tới việc diện kiến và thảo luận với một quan chức Việt Cộng trách nhiệm trong vùng, Thượng Tá Hoàng Văn Thạch, để bàn giao vùng Châu thổ Nam Bộ cho Cộng Sản. Ông không bỏ nước để thoát thân. Ông có một trách nhiệm với những quân nhân đã dành mạng sống của họ ở lại vị trí trấn thủ. Ông đã ở lại bằng một lựa chọn vinh dự. Ông phải tự quyết định sinh mạng của mình.

Vợ của Tướng Hưng bật khóc và năn nỉ ông hãy suy tính lại. “Tại sao mình không thể bỏ ra ngoại quốc giống như những người khác?,” bà hỏi chồng.

Tướng Hưng lập lại lần nữa với vợ về trách nhiệm riêng đối với xứ sở và binh lính. Ông ôn tồn và chậm rãi nối tiếp: “Mình đừng để anh bị mất lòng kiên định. Giờ đây cứ đánh tiếp cũng chỉ đem lại rắc rối và mất mát không những cho gia đình và bà con mình, mà còn cho binh lính và dân lành nữa. Và anh không muốn thấy mặt thằng Cộng Sản nào hết.”

Rồi Tướng Hưng đứng dậy, ôm vợ vào lòng, và rớt nước mắt. Sau cùng, ông nói cùng vợ: “Lẹ lên đi mình, tới mời Má và dẫn các con vô đây gặp anh.”

Khi người Má vợ và các con bước vô văn phòng làm việc của ông rồi, Tướng Hưng nói lời chia tay và cúi xuống hôn từng đứa con.

Bên ngoài văn phòng, nhiều sĩ quan và binh lính thuộc cấp lần lượt kéo tới, đứng sắp hàng ngoài sân, chờ đợi lệnh.

Tướng Hưng tuyên bố việc chiến đấu đã chấm dứt. Ông nói, nước đã mất là do lãnh đạo kém tại Sài Gòn, và xin thuộc cấp tha thứ lỗi cho ông, nếu như cá nhân ông đã có những lỗi lầm nào đó. Bầu không khí xung quanh nặng nề. “Tôi xin chấp nhận cái chết. Vĩnh biệt các anh em,” Tướng Hưng dứt câu.

Tướng Hưng đưa tay lên chào và đưa tay bắt từng người một. Ông yêu cầu mọi người ra về. Một vài quân nhân vẫn đứng tại chỗ không chịu lui bước, nên tướng Hưng buộc lòng phải bước tới đẩy và giục họ về. Rồi ông bảo vợ đừng có nài nỉ thêm điều gì nữa và chỉ một mình bước vô văn phòng làm việc.

Chỉ trong khoảnh khắc sau đó vang lên một tiếng súng nổ. Tướng Hưng đã tự sát bằng súng. (Hết trích)

Sau phần Lời Bạt, và xếp cuối trang sách “Last Man Out” James E. Parker Jr. đã chọn bài thơ của một chiến binh Mỹ ẩn danh (Làm tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam, khoảng năm 1969). Từ và ý bài thơ hoa mỹ, lãng mạn và phảng phất siêu thoát, nhưng dứt bằng một câu thơ đầy hào khí tang bồng hồ thỉ như khí tiết của những chiến sĩ, hiệp khách Đông Phương:

Do not stand by my grave and weep:
I am not there. I do not sleep…
I am a thousand winds that blow
I am the diamond’s glint on snow
I am the sunlight on ripened grain
I am the gentle autumn’s rain
When you awake in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circle flight
Do not stand by my grave and cry:
I am not there. I did not die.

Tạm dịch nghĩa:

Đừng đứng bên mộ anh và nhỏ lệ:
Anh không ở trong mộ này. Anh không ngủ đâu em.
Anh là ngàn ngọn gió thổi khắp phương trời
Anh là kim cương lấp lánh trên tuyết lạnh
Anh là ánh nắng nhuộm vàng hạt lúa chín
Anh là giọt mưa của trời thu êm ả
Khi em thức giấc lúc ban mai thinh lặng
Anh là lực xua đàn chim vụt bay cao
Những cánh chim lặng lẽ lượn những đường vòng
Đừng đứng bên mộ anh và khóc lóc:
Anh không ở trong mộ này. Anh không chết đâu em.

Bài thơ không tựa và tác giả ẩn danh trên, tác giả James E. Parker Jr. xếp liền ngay sau phần mô tả cái chết của Tướng Hưng để xem như vòng hoa tang cho một ông tướng cốt cách hào hoa. Bởi vì trong đời thường và trong quân ngũ, tướng Hưng vẫn không giấu được ngay cả dưới lớp quân phục những nét nho nhã và dáng hào hoa của một người đàn ông. Nhiều người nhận xét, Tướng Lê Văn Hưng “có tướng quan văn hơn là võ tướng,” chẳng qua ông quan văn này phải khoác chiến y, áo giáp đỡ đạn trong thời chiến và trên chiến trường mà thôi! Tướng Hưng cũng có tiếng là “người chịu chơi,” nhứt là thời còn trai trẻ, sĩ quan còn mang lon cấp úy, cấp tá, nhiều phen “quậy tới bến” sau chiến trận được về lại hậu cứ nghỉ ngơi. Ôi, đó là những năm anh còn trẻ của một người trai thời ly loạn sống nay chết mai. Thiết nghĩ không ai quá khắt khe đối với ông tướng.

Nhưng rồi ông tướng không mấy năm sau đó cũng có cơ hội, gặp thời thế để trả nợ chí trai và làm đẹp non sông: Khí tiết Lê Văn Hưng đã thăng hoa giữa chiến trường Bình Long và hoa anh hùng Lê Văn Hưng đã nở đẹp tại phòng tuyến An Lộc. Và rồi hấp hối theo vận nước, phút cuối Lê Tướng Quân đã chọn cái chết bi hùng để trở thành bất tử trong lịch sử và quân sử Việt Nam.

Với dụng ý vinh danh và tưởng niệm tướng Lê Văn Hưng, nơi trang cuối của tác phẩm “Last Man Out,” tác giả James E Parker, Jr. chính vì vậy đã xếp bài thơ không tựa, không tên tác giả với câu thơ chấm dứt:
I am not there. I did not die.

Và sau chót, một câu lập ngôn được xem như
quân huấn của danh tướng Douglas MacArthur:

“Duty, Honor, Country.”
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2022 Posted : Saturday, December 5, 2015 9:02:05 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Tấm thẻ bài


Chiến hữu Nguyễn Minh Châu
(Trích trong hồi ký Cuộc Ðời Ðổi Thay)


Trong bài viết này tôi xin chia sẻ cùng quý vị một câu chuyện ngắn về “Tấm thẻ bài” và kể lại tình trạng hấp hối của những chiến binh Quân Lực VNCH bị thương nặng ngoài trận tuyến. Ðây là một câu chuyện của muôn ngàn chiến sĩ đã phải chịu đựng sự đớn đau cả thể xác lẫn tinh thần khi bị thương nặng trong hoàn cảnh thập tử nhứt sinh ngoài chiến trường xa.

Chúng ta thường đọc những bài viết kể lại những trận chiến thắng oanh liệt và hào hùng của các đơn vị trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong thời chinh chiến. Nhưng sau những trận chiến đó, có biết bao chiến sĩ đã trở về với đôi “nạng gỗ,” nhiều người trở về trên chiếc “xe lăn” và những chiến sĩ bất hạnh hơn đã về trong chiếc “hòm gỗ” trên phủ lá Quốc kỳ.

***

Những kỷ niệm đau thương đã để lại cho vợ con hay người thân là “Vành khăn sô với tấm thẻ bài.” Quí vị cũng thừa hiểu là tỷ lệ thương vong của hàng binh sĩ luôn luôn là cao hơn cấp chỉ huy nhiều lắm. Binh thư có câu: “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô.” Tôi xin trích ghi vài dòng đơn giản trong bài thơ ”Tạ Ơn Chiến Sĩ” của vợ tôi để ghi ơn những anh hùng đã hy sinh vì tổ quốc:

Rất thương những trẻ còn thơ
Cha chưa thấy mặt con đà để tang
Rất thương cô gái tóc thề
Tình thương chưa thỏa tóc đà quấn khăn
Rất thương anh lính thương binh
Góp phần thân thể điểm tô nước nhà
Rất thương anh chết chiến trường
Ðôi khi mất cả dù là mảnh xương
Hay anh trở lại quê nhà
Thân trong hòm gỗ, phủ trên Quốc kỳ.
(TN)


Nhưng rồi vận nước đổi thay, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những người thương binh ấy bị bỏ rơi lại quê nhà phải chịu sự ngược đãi bạo tàn của bọn Cộng Sản cầm quyền. Ngay sáng ngày hôm ấy, bọn chúng đã tàn nhẫn xua đuổi tất cả thương binh của QLVNCH ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa và bịnh viện Lê Hữu Sanh mà tôi được biết rõ và còn rất nhiều bịnh viện khác nữa trên toàn cõi miền Nam mà nơi đó các thương binh cũng cùng chung một số phận bất hạnh này.

Thật là tội nghiệp cho những anh em thương binh chân tay bị cưa cắt chưa lành mà phải cố lê lết, dìu dắt hoặc cõng nhau rời bịnh viện. Những thương binh với vết mổ còn rỉ máu cũng phải ứa nước mắt ra đi về với gia đình, nhưng rồi ai sẽ chữa những vết thương đó cho họ nay!?... Các y sĩ và y tá của các bệnh viện phải đành bó tay và ngậm ngùi rơi lệ khi nhìn anh em thương binh bị xua đuổi ra đi. Thật là vô nhân đạo, thật là man rợ với hành động ra tay đánh người ngã ngựa của lũ người Cộng Sản. Lúc trước ngoài chiến trường bọn thương binh Cộng Sản đã được chúng ta băng bó và được trực thăng tải thương về bịnh viện của chúng ta để điều trị tiếp. Bây giờ anh em chiến sĩ chúng mình bị bắt buộc phải thua trận chiến mà chúng nó đối xử hèn hạ như thế này. Thật là một sự khốn khổ vô cùng do bọn dã nhân Cộng Sản đê hèn gây ra.

Tôi ngẫm nghĩ rằng: Nếu thế cờ quốc tế đảo ngược lại, Miền Nam chiến thắng và chế độ Cộng Sản miền Bắc sụp đổ thì chúng ta sẽ đối xử chúng với khí thế đại trượng phu. Miền Bắc sẽ không phải là một trại tù khổng lồ như miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngay trong lúc còn chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc, tại nơi mà tôi đã làm việc từ cơ hành chánh đến quân đội chúng tôi không bao giờ khuấy nhiễu cuộc sống hay khủng bố tinh thần của các thân nhân bọn Việt Cộng địa phương đang nằm trong bàn tay quyền lực của chúng tôi. Tôi còn nhớ có một bà vợ bé của một tên tướng Việt Cộng tập kết vẫn được chúng tôi để sống rất bình yên tại ngôi nhà phía trước Bộ Chỉ Huy Quận của chúng tôi. Trong khi đó, ngay từ lúc chế độ miền Nam bị Cộng Sản thống trị, bọn chúng trả thù dã man những người của chế độ cũ và cả thân nhân của chúng mình cũng bị ảnh hưởng vì sự ngược đài tàn tệ. Chỉ có bọn man ri mọi rợ mới hèn và vô liêm sỉ như thế.

Tìm hiểu về tấm thẻ bài:

Trước năm 1975, bài ca “Tấm Thẻ Bài” do tiếng hát truyền cảm và rất hay của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong quần chúng và mãi đến bây giờ mỗi lần được nghe lại bài hát này hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lược đã gây ra chiến tranh tàn ác.

Mỗi quân nhân đều bắt buộc phải mang hai tấm thẻ bài làm bằng kim loại không rỉ sét. Mỗi tấm được ghi khắc họ tên và số quân để trường hợp người chiến sĩ tử trận nếu không nhận dạng được thi thể đơn vị hành quân cũng có thể biết tên tuổi, số quân để biết người tử trận là ai. Trên tấm thẻ cũng có ghi loại máu để khi cần tiếp máu biết ngay là máu loại gì? Khi người chiến sĩ tử trận thì đơn vị hành quân sẽ giữ lấy một tấm để làm tài liệu báo cáo.

Và mỗi lần tôi nhìn thấy hình ảnh tấm thẻ bài hay nghe bản nhạc này, tôi nhớ ngay đến tấm thẻ bài của tôi luôn được cài vào túi áo trận và cũng không bao giờ quên được câu chuyện tấm thẻ bài của tôi tẩm đầy máu trong những lần bị thương nặng.

Mỗi khi lên đường hành quân là vợ tôi luôn luôn nhắc nhở tôi mang sợi dây thẻ bài vào cổ và tự tay vợ tôi cài kỷ lưỡng hai tấm thẻ và cái túi vải nhỏ vào túi áo ngụy trang.

Ðây là vật kỷ niệm vô cùng quí giá của đời quân ngũ mà tôi rất tiếc là đã mất nó, vì tấm thẻ bài đó đã theo tôi suốt đời binh nghiệp hai mươi mốt năm. Bây giờ tôi vẫn còn luyến tiếc mãi vì tôi đã không nghe lời vợ tôi cất giấu thay vì tôi ném bỏ nó đi.

Sau lịnh đầu hàng, tinh thần tôi quá thất vọng và chán nản mà tôi nghĩ rằng mọi người lính đều cũng mang một tâm trạng nhục nhã và đau đớn như tôi, nên chẳng còn tha thiết muốn giữ lại bất cứ thứ gì của đời binh nghiệp. Ðất nước mất là mất tất cả rồi! Hơn nữa ai cũng đều sợ bọn quỉ đỏ với bản chất hèn hạ và nhỏ mọn, sẽ thấy những thứ đó rồi hãm hại cá nhân mình, và vợ con mình cũng sẽ bị liên lụy.

Lịnh trên buông súng rã hàng
Xé tan đời lính vạn người khổ đau!!!
(Thơ TN)


Bị thương nặng và câu chuyện tấm thẻ bài:

Sợi dây thẻ bài và “cái túi vải” lúc nào đã được đeo vào người tôi trong suốt thời gian hành quân khắp bốn miền chiến thuật. Trong túi có tượng Ðức Mẹ Maria của chị tôi thỉnh nơi nhà thờ Fatima, tượng Phật do vợ tôi thỉnh ở chùa và một nanh heo rừng rất quí của Thượng Sĩ Dương Khuol tặng tôi. Thượng Sĩ Khuol sau lên trung úy, ông chiến đấu rất gan dạ, ông đã đụng nhiều trận sanh tử mà chưa bao giờ bị thương. Ðiều này làm cho tôi có lòng tin, nên tôi xem hai tấm thẻ bài và cái túi vải này như “vật bất ly thân.”

Vào khoảng cuối năm 1966, Tiểu Ðoàn 3 Sói Biển có tham dự cuộc hành quân phối hợp với một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa kỳ tại vùng rừng núi Ashau phía Nam Khe Sanh. Ðơn vị của chúng tôi bị pháo của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt gây cho một số chiến sĩ tử trận và bị thương. Một số bị thương rất nặng mà trong đó có tôi. Vì bị quá nhiều mảnh đạn nên chiếc áo trận của tôi bị loan lỗ và tẩm đầy máu.

Tôi thường nghe nói khi một người gần chết sẽ cảm thấy lạnh từ đôi chân lên tới trên rồi sẽ đi. Vì bị thương quá nặng, máu ra lênh láng nên đôi chân tôi bắt đầu lạnh. Tôi nói thầm: “Em và các con ơi! Chắc anh chết mất!” Trong khi Bác Sĩ Chẩn đang băng bó vết thương, tôi chợt nhớ sợi dây thẻ bài và cái túi vải được cài trong trong túi áo trận. Tôi liền nhờ ông lấy ra mang vào cổ và lấy tấm thẻ và cái túi vải để lên ngực tôi. Tôi cầu nguyện các đấng thiêng liêng và Mẹ tôi cứu độ cho tôi qua cơn nguy biến.

Sau khi sợi dây thẻ bài được mang vào người và với vài câu khấn vái tự nhiên tôi thấy toàn thân ấm trở lại. Có phải những điều này giúp tôi có đức tin để hy vọng vượt qua được cơn nguy biến chăng? Sau đó không bao lâu, theo yêu cầu của niên trưởng, cựu Ðại Tá Nguyễn Năng Bảo, TÐT/TÐ3 Sói Biển, trực thăng đến tải thương một số anh em chiến sĩ và tôi vào bịnh viện của Ðồn Mang Cá tại Huế. Lúc bấy giờ tôi là tiểu đoàn phó của ông.

Trên đường bay đến Huế các anh em thương binh chúng tôi nằm chen chúc nhau trong một chiếc thăng nặc nồng mùi máu và khói súng làm anh em chúng tôi muốn tắt thở vì ngộp và đã quá kiệt sức rồi. Tội nghiệp cho một số chiến sĩ của tôi bị thương quá nặng cũng như tôi, anh em bị đau đớn nên rên la rất thảm thiết. Có một chiến sĩ nằm bên cạnh mà tôi nghĩ là ông bị thương rất trầm trọng và có lẽ sắp chết, ông ta rên xiết dữ dội và đạp đá loạn xạ đôi chân của ông tứ tung và trúng vào mặt tôi, hình như ông đang giẫy chết. Vào lúc ấy tay chân tôi đã hoàn toàn không cử động được nên không thể tránh né và phải lãnh đủ một trận đòn đau điếng và nhừ tử trong khi toàn thân tôi cũng đau nhức dữ dội do những vết thương đầy người. Rồi sau đó tôi bất tỉnh lúc nào không biết. Mấy ngày sau tôi tỉnh lại BS bịnh viện Ðồn Mang Cá tại Huế cho biết là tôi đã mất quá nhiều máu mà kiệt sức và bất tỉnh.

Lúc đó vợ tôi đang gần ngày sanh cháu gái út nên không thể ra thăm nuôi tôi được. Tôi nghĩ rằng những đồng đội của tôi cũng rất đau đớn thể xác và tinh thần vì không biết liệu có đủ sức qua cơn nguy biến này để về gặp mặt vợ con không? Trong khi chúng tôi nằm cô đơn hiu quạnh trên giường bịnh không có một người thân bên cạnh chăm sóc. Ðây là tâm trạng đau khổ nhứt của người thương binh trong cơn hấp hối.

Sau lần bị thương này tôi đã bị tàn phế vì mảnh đạn chạm vào tủy xương sống sau ót, lúc tôi mới vừa được ba mươi ba tuổi đời. Cũng vì cái miểng đạn oan nghiệt này mà bịnh stroke gây ảnh hưởng hệ thống thần kinh tủy sống, nên tôi phải ngồi xe lăn đã sáu năm hơn. Ðây là hậu quả của chiến tranh làm cho cuộc đời quá nghiệt ngã cũng như với biết bao chiến sĩ khác.

Quê hương tôi bị chia đôi ngả
Chiến tranh điêu tàn phá nát thân tôi!

Trong khi anh em đồng đội cùng tôi nằm chờ đợi tải thương trong cơn đau đớn và tuyệt vọng thì nghe văng vẳng tiếng máy trục thăng từ hướng Huế tới. Lúc bấy giờ chúng tôi rất vui mừng và tưởng chừng như những vị thiên thần sắp hạ xuồng trần thế để cứu giúp chúng tôi đang gặp cơn nguy biến.

Tôi rất cảm phục sự can đảm của những anh hùng Không Quân đã từng yểm trợ các đơn vị của chúng tôi trong các trận chiến khắp bốn miền Chiến thuật. Tôi không bao giờ quên hình ảnh những cánh chim đại bàng không ngại ngùng lao mình vào lửa đạn của địch quân để ném những quả bom và xạ kích chính xác vào đầu bọn chúng. Những anh hùng trực thăng tải thương cũng rất anh dũng, chẳng ngại hiểm nguy đáp xuống ngay chiến trường để tải thương binh. Họ thật sự là những thiên thần của thương binh ngoài chiến trận.

Vợ chồng chúng tôi luôn mang ơn Hạ Sĩ I Nguyễn Văn Liễn đã theo tôi và chăm sóc rất tận tình trong thời gian tôi nằm mê man trên giường bịnh ở Huế. Sau đó vài năm, ông Liễn đã được BTL Sư Ðoàn TQLC cho đi học khóa Hạ Sĩ Quan rồi ra trường với cấp bực trung sĩ. Ông cũng đã bị tử trận tại Bồng Sơn năm 1969. Vợ chồng chúng tôi vô cùng thương tiếc. Sau ngày quân đội bị rã hàng, kẻ đi tù người về xứ, chúng tôi mất liên lạc và không biết hoàn cảnh gia đình ông và gia đình các đồng đội ra sao ra sao?

Tôi xin đốt một nén hương để tưởng niệm những đồng đội của tôi đã anh dũng hy sinh cho đất nước Việt Nam trong cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc.

Chiến hữu Nguyễn Minh Châu
TÐ 3 Sói Biển và cựu QT Dĩ An, Biên Hòa

Duy An
#2023 Posted : Sunday, January 3, 2016 9:07:23 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Mùa Xuân cho những người lính cũ


Monday, December 28, 2015 11:43:46 AM
Vann Phan

“Anh không chết đâu anh” trong lòng một Việt Nam tự do, dân chủ

(Ðể tri ân các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa về những hy sinh cao cả và không bờ bến của họ trong sứ mạng bảo vệ mầm sống cho một Việt Nam không Cộng Sản.)

Khác với những nhà viết sử, những người phê bình lịch sử, khi đề cập tới giai đoạn hiện đại trong lịch sử Việt Nam, có thể sẽ phải đồng ý rằng ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đánh dấu cái chết của Miền Nam tự do nhưng đồng thời ngày đó cũng đã khởi đầu cho tiến trình phục sinh đất nước Việt Nam.

Nói cách khác, trong cái chết của Miền Nam tự do đã có sự khởi đầu của mầm sống tương lai cho một đất nước Việt Nam thống nhất và không Cộng Sản.

Hay, quan trọng hơn, biến cố ngày 30 Tháng Tư năm 1975 phải được coi là một kinh nghiệm mang tính “mở mắt” cho toàn thể dân tộc Việt Nam từ Nam chí Bắc. Thật vậy, trong khi sự kiện Cộng Sản Bắc Việt độc tài, đảng trị đánh chiếm được Miền Nam Việt Nam tự do đã khiến cho dân chúng Miền Nam Việt Nam - từ người dân lao động khờ khạo cho tới giới trí thức mơ mộng hão huyền - phải “sáng mắt ra” trước một chế độ Cộng Sản phi nhân bản và xa rời thực tế thì sự kiện này cũng làm cho người Cộng Sản Việt Nam - từ giới lãnh đạo chóp bu cáo già ở Trung Ương Ðảng cho tới người dân quê ngu dốt - phải tỉnh ngộ khi nhận chân được rằng dân chúng Miền Nam Việt Nam, dù dưới chế độ tự do, dân chủ còn non trẻ của họ, thật sự đã được sống tự do hơn, no ấm hơn và hạnh phúc hơn rất nhiều so với những kẻ từng vượt đường Trường Sơn từ Miền Bắc xa xôi tới “giải phóng” cho họ, trái ngược hẳn với các tín điều căn bản mà những người Cộng Sản đã tôn sùng từ bao thập niên qua.

Bài viết sau đây có mục đích làm sáng tỏ nhận định rằng, trong khi biến cố ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có tầm vóc lịch sử lớn lao, thì biến cố này cũng còn ảnh hưởng sâu đậm tới vận mệnh của dân tộc, bởi vì nó vừa đánh dấu cái chết của Miền Nam tự do mà cũng vừa đánh dấu khởi điểm của tiến trình phục sinh đất nước Việt Nam. Và trong tiến trình phục sinh đất nước này, người ta không thể không kể đến những hy sinh to lớn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua hơn hai thập niên chiến tranh trong việc bảo vệ chiếc vườn ươm mầm tự do, dân chủ tại Miền Nam để dân tộc có thể lấy đó làm đà tiến lên trên con đường xây dựng một nước Việt Nam thật sự tự do và dân chủ.
Lịch sử coi ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là ngày Miền Nam Việt Nam sụp đổ. Những bộ quân sử viết về ngày này coi đây là ngày tan rã của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Dù là sụp đổ hay là tan rã, những từ ngữ này đều nói tới sự chấm dứt của một cuộc sinh tồn, tức là cái chết của một thực thể đang hiện hữu.

Nhưng, đối với người Việt Nam trên cả hai miền đất nước từng lâm vào một cuộc chiến tranh - vẫn thường được mệnh danh là “cuộc chiến tranh ý thức hệ” - trong suốt ba thập niên kể từ năm 1945, những hệ lụy từ cái chết đó mới là điều quan trọng cho dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam. Nói cách khác, điều được coi như là chiến thắng của người Cộng Sản Việt Nam lẫn chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế không quan trọng mấy so với những hệ lụy từ cái chết của Miền Nam Việt Nam, mà trên thực tế là cái chết của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 định mệnh đó.

Thật vậy, ngày nay, sau ba thập niên hồi tưởng và suy nghiệm về biến cố ngày 30 Tháng Tư năm nào cùng những hậu quả của nó, những người Việt Nam bình thường - không bị mù quáng vì các tư tưởng lệch lạc hay thành kiến bất công - có thể sẽ đi đến nhận định sau cùng rằng “chính những hy sinh lớn lao và cao cả của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam hơn ba thập niên trước đây đã tạo dựng mầm sống cho dân tộc Việt Nam hôm nay.”

Vai trò gìn giữ đất nước và bảo vệ tự do, dân chủ của người lính Cộng Hòa

Các thành phần sĩ quan quân đội và cảnh sát của Việt Nam Cộng Hòa, trong thời gian bị bắt đi “học tập cải tạo” sau ngày Miền Nam Việt Nam mất vào tay Cộng Sản, vẫn thường được các cán bộ chính trị Cộng Sản bảo cho biết rằng quân đội cùng các lực lượng Cảnh Sát Miền Nam Việt Nam chỉ là đội ngũ những “lính đánh thuê” cho “Ðế Quốc Mỹ” và là những thành phần đã “lầm đường, lạc lối” trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua. Thật ra, đó chỉ là lý của kẻ thắng chứ không phải là chân lý.

Ðiều đau xót là, giờ đây, dưới ánh sáng của lịch sử soi rọi, chính các thành phần trong Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam của Cộng Sản Bắc Việt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” vừa rồi mới là những kẻ lầm đường, lạc lối, bởi vì họ đã bị Ðảng Cộng Sản Việt Nam lừa phỉnh, lợi dụng và ép buộc vào chỗ phải đổ máu xương và hy sinh gian khổ cho tham vọng đánh chiếm Miền Nam Việt Nam của họ.

Hậu quả sau cùng của đường lối hiếu chiến và thiển cận này là đưa đẩy Việt Nam - không phải là một nửa nước mà là toàn thể đất nước - tới tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng và bế tắc chính trị chưa từng có trước đây, để rồi hiện nay Cộng Sản Việt Nam lại bị buộc phải tìm cách đi vào con đường kinh tế tự do và dân chủ đa nguyên là con đường mà Quốc Gia Việt Nam hồi trước 1954 và Việt Nam Cộng Hòa từ sau Hiệp Ðịnh Genève 1954 đã không ngừng theo đuổi nhưng cứ bị những người Cộng Sản ra sức phá hoại.

Những gì mà Cộng Sản đang làm hiện nay trên đất nước Việt Nam là bằng cớ không thể chối cãi cho sự sai lầm tai hại của những người Cộng Sản trước đây trong cuộc chiến. Về mặt kinh tế, họ đang tranh thủ chạy theo chế độ kinh tế thị trường đầy lợi nhuận để có thể được tư bản ngoại quốc đổ vốn vào đầu tư, tất cả đều là từ những nước trong hệ thống kinh tế tư bản mà trước khi chiếm được Miền Nam Việt Nam hồi năm 1975 những người Cộng Sản Việt Nam đã không ngừng chê bai và mạt sát. Từ sau khi đổi mới, Cộng Sản Việt Nam đã lần lượt gia nhập hai tổ chức kinh tế tư bản quan trọng, đó là Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) và Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), một tổ chức kinh tài quốc tế quan trọng mà Việt Nam chính thức trở nên thành viên thứ 150 vào đầu năm 2007.

Về mặt quân sự, sau khi đã thấm những bài học lịch sử với bậc thầy Trung Quốc qua những vụ như Hoàng Sa, Trường Sa, biên giới phía Bắc, và mới đây là vụ dâng đất, cắt lãnh hải cho Trung Quốc, Cộng Sản Việt Nam đang ra sức tiến tới việc hợp tác quân sự với Hoa Kỳ là kẻ thù cũ trong cuộc chiến tranh vừa qua. (1) Về mặt chính trị, những người Cộng Sản Việt Nam đang bị áp lực hết sức nặng nề của những phần tử bất đồng chính kiến và chống đối tại Việt Nam, gồm toàn những nhân vật tên tuổi trong nước và có uy tín quốc tế, đòi phải cải tổ hệ thống chính trị độc đảng để đổi sang chế độ dân chủ đa nguyên, y hệt như thể chế chính trị của hầu hết các nước tự do, dân chủ trên thế giới ngày nay vậy. (2)

Lực lượng Hải Quân giữ yên lãnh hải

Dù những nhận định và tình cảm đối với tập thể quân đội của Miền Nam Việt Nam có khác biệt nhau, dân chúng ở cả hai miền Nam, Bắc có thể sẽ phải đồng ý với sự thật này: quân đội Miền Nam Việt Nam là thực thể chiến đấu cho sự sinh tồn của Miền Nam tự do cho dù thực thể này vẫn nằm trong tập thể gọi là “quân, dân, cán, chính” dưới quyền lãnh đạo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Nói cách khác, quân đội Miền Nam còn thì Miền Nam còn, quân đội Miền Nam mất thì Miền Nam mất. Cộng Sản Bắc Việt hay Mặt Trận (Dân Tộc) Giải Phóng Miền Nam (Việt Nam), trong cuộc chiến tranh đánh chiếm Miền Nam Việt Nam vừa qua, đã không đối đầu với ai khác hơn là quân đội Miền Nam và đã không sợ ai khác hơn là các thành viên thuộc “đảng kaki” của Miền Nam, bởi vì đó chính là tập thể duy nhất có tổ chức và kỷ luật khả dĩ đối đầu được với Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Vai trò của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - mà trước đó lần lượt được gọi là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - trong cuộc chiến đấu chống Cộng tại Việt Nam là vai trò thực sự lớn lao trong một đất nước đang có chiến tranh. Từ thời Quốc Trưởng Bảo Ðại cho đến thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm (của Ðệ Nhất Cộng Hòa) và rồi thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (của Ðệ Nhị Cộng Hòa), dù mang danh xưng khác nhau, nhưng tập thể quân đội đó vẫn chỉ có chung một sứ mạng là bảo vệ Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt, đồng thời gúp xây dựng nền dân chủ cho đất nước, tóm lại là để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, từ 1954 đến 1963, những người chiến sĩ của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã là thành phần tiên phong trong sứ mạng đánh dẹp nội loạn và chống Cộng Sản xâm lấn. Dù muốn, dù không, Tổng Thống Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu vẫn trông cậy vào những người lính Cộng Hòa trong sứ mạng bảo quốc, an dân, nghĩa là chiến đấu chống các lực lượng Cộng Sản, dù từ ngoài Bắc xâm nhập vào (tức quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt) hay là du kích tại miền Nam (tức quân Mặt Trận Giải Phóng), đang tìm mọi cách lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để áp đặt quyền thống trị của Cộng Sản Việt Nam lên đầu dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Ðến thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (và sau đó là các Tổng Thống ngắn ngày Trần Văn Hương và Dương Văn Minh), từ 1966 đến 1975, những người lính Cộng Hòa lại càng đảm đương thêm nhiều trọng trách hơn trong cuôc chiến đấu chống Cộng Sản mà vào thời điển này đã không hề che giấu ý đồ thôn tính Miền Nam qua một cuộc xâm lấn mà họ vẫn ưa gọi là “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước” để “giải phóng” Miền Nam Việt Nam khỏi “ách kềm kẹp của Mỹ-Ngụy” nhằm dánh lừa dân chúng ở cả hai miền Nam, Bắc và cộng đồng quốc tế.

Phần này không có mục đích đề cao vai trò của quân đội Miền Nam, tức Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, qua các trận đánh lớn hay các chiến tích lịch sử đã tạo nên những thiên anh hùng ca bi tráng trong quân sử của quân đội đó qua Cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa rồi. Phần này cũng không có dụng ý bào chữa cho cuộc thất trận bất ngờ của quân đội Miền Nam trước các lực lượng Cộng Sản từ Miền Bắc tràn xuống để thực hiện cuộc hành quân sau cùng của họ trong chiến dịch được gọi là “Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử” vào những ngày đầu của năm 1975. Các đề tài đó nằm trong nhiệm vụ của những nhà phê bình, những kẻ viết hồi ký chiến tranh, những học giả và những sử gia.
Phần này chỉ có mục đích nói lên sứ mạng bảo vệ chiếc vườn ươm mầm dân chủ và tự do của quân đội đó trong suốt hơn hai thập niên chiến tranh khốc liệt tại Miền Nam Việt Nam, để rồi khi những người lính Cộng Hòa kia phải buông súng thì đó cũng chính là lúc cái mầm dân chủ và tự do tại Miền Nam Việt Nam - mà họ từng xả thân bảo vệ - đã đủ sức mạnh mà đâm chồi, nảy lộc, mọc cành, ra lá để gây muôn vàn khó khăn và, sau cùng, có thể dẫn tới việc giải thể chế độ dộc tài, đảng trị của Cộng Sản Việt Nam trên cả hai miền Nam và Bắc, trước kia từng là hai thực thể chính trị và kinh tế hết sức khác biệt nhau mà các lãnh tụ Cộng Sản tại Hà Nội đã ra sức thống nhất làm một sau chiến thắng năm 1975 và gọi hai thực thể này dưới một cái tên chung là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. (3)

Cộng Sản Việt Nam đổi thịt, thay da

Trong mấy năm gần đây, nếu những người Việt hải ngoại nào có dịp về thăm viếng quê hương Việt Nam thì, không nhiều thì ít, sẽ phải lấy làm ngạc nhiên trước những đổi thay đáng kể của cảnh vật và sinh hoạt dân chúng so với mấy năm đầu sau khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ. Nhà cửa, phố xá, đường lộ và cầu cống tại các thành thị đều được tân trang hoặc xây cất thêm. Những vùng quê cũng thay hình, đổi dạng nhờ các công trình xây dựng mới, kể cả việc điện khí hóa nông thôn. Ðời sống kinh tế của dân chúng cũng rõ ràng là được cải thiện hơn nhiều với sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ kinh doanh, buôn bán tư nhân và với việc bành trướng các công-ty, xí nghiệp cũng như các ngành công, kỹ nghệ đa dạng do người Việt Nam làm chủ hay do tư bản ngoại quốc từ các nơi, kể cả Mỹ là kẻ thù cũ, kéo đến đổ vốn đầu tư vào làm ăn tại Việt Nam. Ðiều nổi bật hơn cả là sự phát triển cùng cực của ngành du lịch với hằng trăm, hằng nghìn khách sạn và nhà hàng mới được xây dựng tại các thành thị tấp nập hay dọc theo các bãi biển đông người. Những ngoại kiều mang quốc tịch Liên Xô, Hungary, Tiệp Khắc... đều biến đi đâu mất cả mà thay vào đó là những du khách đến từ Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc, Ðài Loan, Hồng Kông, Singapore, Mã Lai Á, Úc Ðại Lợi... (4)

Ðó là về mặt hình thức và vật chất. Về mặt tinh thần, những cán bộ Cộng Sản từ các cấp chính quyền, các nhân viên công lực từ công an phường tới cảnh sát giao thông đều bớt đi vẻ dữ dằn như từng thấy trước đây, và thậm chí nay còn có vẻ thân thiện hơn với du khách và dân chúng địa phương nữa. Sự theo dõi, kềm kẹp dân chúng như từng được thấy trong những ngày đầu Miền Nam mới được “giải phóng” thì nay hoặc không được nhìn thấy công khai nữa hoặc đang phai nhạt dần. Ðời sống tinh thần của dân chúng tại các thành thị và thôn làng xem ra có vẻ thoải mái hơn hai, ba thập niên về trước rất nhiều.

Mặc dù các tổ chức nhân quyền trên thế giới, trong đó có Human Rights Watch (Canh Giữ Nhân Quyền) và Amnesty International (Ân Xá Quốc Tế), vẫn còn nhiều điều phải ta thán về chính quyền Cộng Sản Việt Nam trong các vấn đề đàn áp tôn giáo (như bách hại và bỏ tù các tăng, ni, các Phật tử, các linh mục Công Giáo, các tín đồ Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo, hay các giáo dân người Thượng trên Cao Nguyên Trung Phần...), mức độ bách hại và đàn áp cũng không đến nỗi quyết liệt và tàn bạo như từng xảy ra đối với giáo dân xứ đạo Bùi Phát ở Phú Nhuận, Gia Ðịnh, hay các con chiên ở Nhà Thờ Vinh Sơn thuộc Quận 10, Sài Gòn, trong mấy năm đầu khi Cộng Sản mới chiếm được Miền Nam Việt Nam. Và mặc dù các nhân vật chống đối và những người bất đồng chính kiến, trên diễn đàn hay trên mạng lưới điện toán, vẫn còn bị bắt bớ hay giam giữ dài dài, mức độ tù đày và hành hạ các đối tượng này xem ra vẫn không thể nào đem so sánh với chuyện cả trăm nghìn người thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội Miền Nam Việt Nam - từ quân nhân, viên chức chế độ cũ cho tới các nhà tu hay thành viên các đảng phái chính trị - cùng một lúc bị bắt đưa vào giam giữ trong các trại tù khổ sai mệnh danh là “trại cải tạo” trên khắp nước qua hằng chục năm trời mà không hề được tòa án xét xử.

Cộng Sản Việt Nam có gì khác với các nước Cộng Sản còn lại kia không?

Những người Quốc Gia lưu vong và những người Việt hải ngoại từng may mắn được hưởng những quyền tự do dân chủ và hấp thụ những kiến thức về văn hóa và khoa học từ báo chí truyền thông hay ngay tại các học đường Âu Mỹ hãy công bằng mà nhận định rằng, so với ba chế độ Cộng Sản khác còn lại của thế giới, là các chế độ tại Trung Quốc, Bắc Hàn và Cuba -hai đàn em nhỏ bé của Cộng Sản Việt Nam là Lào và Căm Bốt không đáng kể - thì chế độ Cộng Sản tại Việt Nam tương đối “cởi mở” nhất.

Trong thời đại hiện nay, phải nói rằng Cộng Sản Bắc Hàn là một xã hội hết sức nghiệt ngã, bởi vì quốc gia đó, dưới cả hai triều đại của cha con chủ tịch họ Kim, là một xã hội khép kín đầy những bí mật mà thế giới bên ngoài không hiểu hết được. Ðây là một đất nước mà chính quyền sẵn sàng để cho dân chúng chết đói đặng tập trung tài nguyên cho nhà nước sản xuất vũ khí - kể cả phi đạn và vũ khí nguyên tử - nhằm dọa nạt dân chúng trong nước và để thỏa mãn tham vọng diệu võ, dương oai với các nước khác, đặc biệt là Nam Hàn và Nhật Bản là hai quốc gia láng giềng gần gũi nhất.

Bắc Hàn lại là một nước mà chế độ cha truyền, con nối trở nên cực kỳ lộ liễu, với việc Chủ Tịch Kim Nhật Thành chết đi để lại “ngôi báu” cho con là Kim Chánh Nhất. (Trong khi đó, ông Hồ Chí Minh của Việt Nam muốn làm được như vậy thì cũng phải cất công chờ đợi tới ba thập niên sau khi mình qua đời, và người con lại phải mang họ khác, tức là họ Nông.) Với một đất nước như vậy, thật chẳng lạ lùng gì khi hằng chục nghìn dân chúng Bắc Hàn hiện nay đang liều mạng sống, dùng đường bộ trốn sang Trung Quốc hay tìm thuyền vượt biển tới Nam Hàn.

Hơn một thập niên sau khi nước đàn anh khổng lồ Liên Xô - chiếc nôi của cuộc cách mạng vô sản thế giới, thành trì của chủ nghĩa Cộng Sản - bị xóa tên trên bản đồ thế giới và chủ nghĩa Cộng Sản bị chôn vùi dưới những tảng băng miền Tây Bá Lợi Á, Cộng Sản Cuba, một mình một cõi tại Tây Bán Cầu, vẫn còn là một quốc gia độc tài về chính trị và lạc hậu về kinh tế chỉ vì cái tự ái đặt không đúng chỗ của Chủ Tịch Fidel Castro, cha đẻ của Cộng Sản Cuba.

Ngày nay, trong khi những kẻ bất đồng chính kiến tại đảo quốc Cộng Sản này liên tục bị bách hại và tù đày thì dân chúng Cuba ngày càng nghèo nàn, lạc hậu đến nỗi ngay cả phố phường, nhà cửa tại nhiều nơi trong thủ đô Havana nom cũng loang lổ và tiều tụy, có lẽ vì không được sơn phết hay sửa sang gì kể từ khi cuộc cách mạng vô sản thành công vào năm 1959. Hồi mùa Hè năm 2006, khi Fidel Castro lâm trọng bệnh và không thể cai trị được nữa, nhà độc tài lại trao cho em ruột là Raul Castro - quân hàm đại tướng, đang là bộ trưởng Quốc Phòng - làm quyền chủ tịch Cuba, cũng là một một hình thức “cha truyền con nối” khác mà chỉ ở các nước Cộng Sản độc tài, độc đảng mới có.

Thông Tấn Xã Reuters mới đây đưa tin rằng nhà nước Cuba, vì thiếu tiền, đã giành lấy phần lớn số lợi nhuận có được qua dịch vụ du lịch trong nước khiến cho kỹ nghệ du lịch tại Cuba hiện nay không ngóc đầu lên nổi bởi vì các công ty du lịch tại đây đã phải đua nhau tăng giá để “bù lỗ” cho những khoản phải cống nạp cho nhà nứơc. Nửa thế kỷ sau khi được “giải phóng” khỏi tay nhà độc tài Batista, mỗi năm vẫn còn hằng nghìn dân chúng Cuba tiếp tục tìm mọi cách bỏ nước ra đi - hầu hết là vượt biển tới Hoa Kỳ - để mong trốn chạy khỏi một chế độ độc tài khác: chế độ Cộng Sản Cuba của hai anh em nhà họ Castro: anh làm chủ tịch nước, em làm bộ trưởng quốc phòng kiêm tư lệnh quân đội.

Trung Quốc, với chủ nghĩa Cộng Sản “cải lương” dưới quyền đạo diễn của các kép chánh từ Mao Trạch Ðông đến Ðặng Tiểu Bình, phải nói là quốc gia đạt được nhiều tiến bộ về kinh tế và kỹ thuật nhất trong số các quốc gia Cộng Sản còn sót lại của thế giới ngày nay. Ðất nước Trung Hoa bây giờ đã trở nên giàu có qua những “bước nhảy vọt” phi thường từng chuyển đổi Hoa lục từ một nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường. Chỉ mới vài ba thập niên “hiện đại hóa” mà thôi, Trung Quốc đã từ một quốc gia đói, nghèo biến thành một cường quốc có hạng của thế giới trên cả hai lãnh vực nguyên tử và không gian. Những tiến bộ về kinh tế và kỹ thuật này của Trung Quốc có thể được giải thích là do ở đầu óc thương mại truyền thống của dân “Ba Tàu” cộng với những mầm mống tự do kinh doanh sẵn có bên trong nước này như Ma Cao, Hồng Kông và ngay sát nách của họ là Ðài Loan, hoặc xa hơn nữa là Singapore.

Tuy nhiên, về đời sống chính trị, đất nước của các vị “con Trời” vẫn còn là một trong những quốc gia có chế độ đàn áp con người tệ hại nhất, mà hai nạn nhân danh tiếng của họ từ trước tới nay vẫn là phong trào đòi tự do, dân chủ của sinh viên, học sinh tại Thiên An Môn năm 1989 và các thành viên của môn phái Pháp Luân Công từng bị đàn áp liên tục từ hồi đầu thập niên 1990 cho tới nay. Các nạn nhân kế tiếp của chế độ này là những nhà báo và những kẻ bất đồng chính kiến mà việc bắt bớ, giam cầm họ đang là mộ sự phỉ nhổ lên các giá trị về dân chủ và nhân quyền của thế giới. (5) Theo báo cáo mới nhất của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế, trong năm 2005, một mình Trung Quốc không thôi mà đã xử tử đến 80 phần trăm số can phạm bị kêu án tử hình toàn cầu, dĩ nhiên một số không nhỏ các tử tội này là những thành phần chống đối nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Một điểm tương đồng quan trọng giữa Cộng Sản Trung Quốc và Cộng Sản Việt Nam là cả hai đảng này, vì lý do sinh tồn, đều đã khôn lanh tới mức dám phản bội ngay cả chủ nghĩa Cộng Sản (Mác-xít Lê-nin-nít) do các ông thầy của mình là Các-Mác (Karl-Marx) và Lê-Nin (Lenin) truyền dạy qua hành động mạnh tay dứt bỏ gần hết các giáo điều chính của chủ nghĩa này và chỉ giữ lại một khoản duy nhất là tính độc đảng chuyên chế đặng có thể độc quyền cai trị đất nước trên căn bản lâu dài. (6) Nếu không làm chuyện bội phản như vậy, làm sao mà Cộng Sản Trung Quốc ngày nay lại trở nên một thành viên của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), một cơ chế kinh tài quốc tế sặc mùi tư bản mà Cộng Sản Việt Nam cũng đã lấy làm vô cùng vinh dự khi được gia nhập, dù là đi sau Trung Quốc tới mấy năm.

Một điều lạ lùng đến độ mỉa mai trong trường hợp của Việt Nam là sau 30 năm ra sức “đánh Tây, đuổi Mỹ,” gây ra không biết bao nhiêu là chết chóc và tàn phá cho dân tộc để triệt hạ cho bằng được cái mà họ vẫn thường gọi là “chủ nghĩa tư bản bóc lột” và thực hiện cho bằng được cái gọi là “xã hội chủ nghĩa giàu mạnh,” những người Cộng Sản Việt Nam ngày nay lại quay ra ôm chầm lấy cái chủ nghĩa tư bản đó, cầu thân và xin xỏ quyền lợi với chính những kẻ thù cũ mà mới cách đó chỉ chừng sáu, bảy năm thôi, họ từng tỏ ra khinh miệt, cay cú và căm thù hầu như đến tận xương tủy. (7)

Thế nghĩa là sao? Cái hình ảnh của đất nước Việt Nam ngày nay, từ thành thị đến thôn quê và từ Nam ra tới Bắc, trông thật chẳng khác nào cái hình ảnh của Miền Nam Việt Nam thời trước năm 1975, với cảnh tượng đường sá nhộn nhịp, buôn bán tấp nập, và nhà cửa cũng như cơ sở kinh doanh của tư nhân mọc lên khắp nơi giữa tiếng “nhạc vàng” (từng bị cấm tiệt) du dương, réo rắt và tiếng nhạc nhạc disco quằn quại, xập xình. Những gì mà một xã hội tư bản cỡ Mỹ, Nhật đang có - từ chiếc điện thoại di động cho tới cái thẻ tín dụng - thì dân chúng Việt Nam ngày nay đều có, và những đồng đô-la Mỹ xanh xanh kia, một thời bị những người Cộng Sản mô tả là đồng tiền “tanh tưởi,” đồng tiền “bóc lột,” nay lại đang đươc sùng bái khắp nơi. Chưa hết, mới đây thôi, khi tỷ phú Mỹ Bill Gates, Chủ Tịch công ty điện toán Microsoft khổng lồ của thế giới, sang thăm Việt Nam, dù chỉ một ngày, ông đã được từ vị thủ tướng cho tới các sinh viên, học sinh Việt Nam hân hoan đón chào và được hoan nghênh nồng nhiệt từ Hà Nội cho tới Bắc Ninh.

Phải biết rằng, trên đất nước Việt Nam Cộng Sản, chỉ sáu, bảy năm sau khi sách, báo bằng tiếng Anh (và cả tiếng Pháp nữa) đều bị tịch thu và dân chúng hầu như bị cấm học tiếng Anh -thứ ngôn ngữ của bọn “thực dân mới” và bọn đế quốc bóc lột - dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc, trong đó có đám cán bộ, đảng viên, lại đổ xô nhau đi học tiếng Anh, và các lớp học Anh ngữ tại những Hội Việt-Mỹ lúc nào cũng đông đúc học viên. (8) Rồi trước sức hấp dẫn không thể cưỡng lại được của đồng phật-lăng (franc) - và sau này là đồng Euro - thơm tho, Cộng Sản Việt Nam đã hân hoan gia nhập vào khối những quốc gia nói tiếng Pháp (Francophone) do trùm “thực dân cũ” là Pháp cầm đầu, lâu lâu khối này lại chọn Hà Nội để làm nơi tổ chức hội họp, bàn thảo. Thêm vào đó, con cái các cán bộ, đảng viên của Cộng Sản Việt Nam ngày nay lại tấp nập đua nhau đi “tham quan” rồi đi du học tại Mỹ, tại Anh, tại Úc, tại Pháp... vốn là những nơi mà mới cách đó dăm bảy năm người Cộng Sản vẫn cho là những lò đào tạo các nền “văn hóa đồi trụy” để phục vụ cho những xã hội bị coi là đầy dẫy những cảnh “người bóc lột người” đáng ghê tởm. Như vậy là thế nào? Dĩ nhiên là chỉ còn một vài điều khác biệt là lúc đó - trước khi Cộng Sản chiếm được Miền Nam - Việt Nam đang có chiến tranh, và bây giờ thì chiến tranh đã chấm dứt rồi nhưng dân chúng Việt Nam thì vẫn chưa được hưởng những quyền tự do, dân chủ như dân chúng tại Miền Nam Việt Nam trước khi Sài Gòn sụp đổ, bởi vì chế độ chính trị tại Việt Nam, cho tới giờ phút này, vẫn còn là một chế độ độc tài, độc đảng.

Tác nhân của những đổi thay tại Việt Nam ngày nay

Ðến đây, một vài câu hỏi cần phải được nêu lên: Do đâu mà có những “đổi mới” và những tiến bộ trong các hoạt động kinh tế lẫn trong đời sống chính trị như vậy tại Cộng Sản Việt Nam ngày nay? Phải chăng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam dưới tay các lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, Nông Ðức Mạnh... tự nó biết chuyển mình theo thời thế mà kịp thời thực hiện những bước thay đổi về kinh tế và chính trị để cho dân chúng được sung túc hơn, thoải mái hơn, tự do hơn? Câu trả lời sẽ là “không,” tuyệt đối “không,” nếu một tác nhân quan trọng là nếp sống dân chủ và nền kinh tế tự do của Miền Nam Việt Nam từ 1975 trở về trước không ảnh hưởng sâu đậm lên và tác động mạnh mẽ tới nếp suy nghĩ và hành động của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và chính quyền của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Vậy thì, cái tác nhân quan trọng kia trong tiến trình thay da, đổi thịt của chủ nghĩa xã hội (Cộng Sản) tại Việt Nam ngày nay là gì? Xin thưa, đó chính là cái mầm mống tự do, dân chủ đã được ươm, cấy và trồng sẵn tại Miền Nam Việt Nam mà khi mới bước vào để “giải phóng” nơi đây thì những người Cộng Sản Việt Nam - những đảng viên, những chính ủy, những cán bộ, những bộ đội, những dân công, những công an, những tay nằm vùng, vân vân - đã không thể nào tránh khỏi bị nhiễm phải. Cái mầm mống tự do, dân chủ ấy rất da dạng và được tìm thấy nhan nhản trên khắp mọi cơ sở, mọi tụ điểm, mọi nẻo đường, mọi hang cùng, ngõ hẻm của Miền Nam Việt Nam trong những ngày đầu Quốc-Cộng chính thức đối mặt nhau, đó là ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Mầm mống này có thể là nếp sống bình dị của người dân “Nam Bộ” tại Xóm Cái Tàu ở An Xuyên (Cà Mau), là cái lễ độ của các em học sinh trường Trung Học Phan Châu Trinh tại Ðà Nẵng, là sự uyên bác và tính chuyên nghiệp cao của các quân y sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang bị đưa đi tập trung cải tạo tại Sông Bé (Phước Long), là nét vừa đa tình, lãng mạn vừa bình dị trong lời nhạc của bản “Duyên Kiếp” do nhạc sĩ Lam Phương sáng tác và được nữ ca sĩ Thanh Tuyền trình bày, là thói quen tự mình bỏ tiền ra mua sắm máy dò tìm cá biển để ra khơi đánh cá mà sinh sống của các ngư dân Phan Thiết, hay, cụ thể hơn một chút, là chuyện các vị dân cử tại Hạ Viện Việt Nam Cộng Hòa, tuy mang tiếng là bọn đào kép diễn tuồng cho “Nhà Hát Tây” ở Sài Gòn nhưng trong số đó vẫn có không ít người từng chống (Tổng Thống Nguyễn Văn) Thiệu, chửi (nước bạn đồng minh) Mỹ thẳng thừng mà không hề bị bắt giam hay bách hại...

Chẳng bao lâu sau khi những người Cộng Sản từ Miền Bắc Việt Nam tiến vào làm chủ các căn cứ quân sự, đồn bót, công sở, trường học, xí nghiệp và cơ sở xã hội từ Bến Hải tới Cà Mau, những người dân Miền Nam Việt Nam - từng khờ khạo nghe theo những lời tuyên truyền, dụ gạt đường mật của Cộng Sản mà biểu tình, chống đối chính quyền Miền Nam đặng làm suy yếu sức chiến đấu của quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa để cho Cộng Sản dễ dàng và mau lẹ thôn tính Miền Nam - đã bắt đầu “sáng mắt ra” khi họ kinh hoàng nhận thấy bộ mặt thật của chủ nghĩa Cộng Sản ngày càng lộ rõ. Những biện pháp độc tài và vô nhân đạo như tập trung cải tạo hằng trăm nghìn sĩ quan và viên chức cũ của Việt Nam Cộng Hòa, xua đuổi hằng triệu dân chúng thất nghiệp và nghèo khó từ các thành thị đi khai khẩn đất hoang ở những vùng kinh tế mới khô cằn và đầy bệnh tật, tịch thu tài sản và tiền bạc làm ra từ mồ hôi và nước mắt của đám người bị gọi là bọn “tư sản mại bản” tại Miền Nam... đã được đem ra thi hành để trừ khử cho bằng được cái gọi là “tàn tích của Mỹ-Ngụy” còn sót lại tại Miền Nam Việt Nam. “Chủ nghĩa công thần” và phân biệt lý lịch được triệt để áp dụng để loại bỏ những tài năng của đất nước sinh ra từ các gia đình “ngụy quân, ngụy quyền” và đưa lên hàng thượng đẳng một giai cấp thống trị mới trong xã hội là giai cấp cán bộ nhà nước, bộ đội và anh hùng, liệt sĩ cách mạng.

Nhưng điều bất ngờ hơn hết là những ảnh hưởng về xã hội, kinh tế và chính trị trong cuộc tiếp xúc chính thức đầu tiên giữa hai kẻ đối nghịch nhau về ý thức hệ này lại mang tính hỗ tương, nghĩa là nếp sống và văn hóa của người chinh phục cũng bị nếp sống và văn hóa của kẻ bị trị chi phối. Nói cách khác, cách sống dễ dãi, phóng khoáng và tự do, dân chủ của người dân Miền Nam Việt Nam hiền hòa - hiện là gia cấp bị trị - cũng đã tạo ảnh hưởng mạnh mẽ lên nếp suy nghĩ và hành động đám người thuộc giai cấp cai trị từ Miền Bắc vào. Vì chủ nghĩa Cộng Sản vốn mang tính không tưởng, nghĩa là không thể nào đem ra áp dụng được, cho nên, theo thời gian, những nét đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội và cả chính trị của Miền Nam Việt Nam bắt đầu tác động ảnh hưởng lên, trước hết là trên đám cán bộ thừa hành từ Bắc Bắc Phủ và sau nữa là trên các đảng viên Cộng Sản trung ương từ Hà Nội được bổ nhiệm vào cai trị trong Nam.

Miền Nam thắng ngược Miền Bắc

Skyraider xuất kích giữ không phận và yểm trợ quân bạn dưới đất.

Năm 1985, nhân kỷ niệm 10 năm ngày Cộng Sản chiến thắng tại Việt Nam, lần đầu tiên, các nhà báo Tây phương - trong đó có các phóng viên và ký giả thuộc các đài truyền hình và báo chí Mỹ- được mời sang Việt Nam để quan sát những gì mà Cộng Sản Việt Nam quảng cáo là những thay đổi và tiến bộ to lớn mà họ đã thực hiện được tại Việt Nam, nhất là tại Miền Nam Việt Nam là vùng đất mà họ đã có công “giải phóng” khỏi tay “thực dân mới” là Mỹ.
Kurt Andrsen, trong bài báo ngày 15 Tháng Tư, 1985 nhan đề “Một Xứ Sở Bị Kềm Kẹp và Bưng Bít”(A Pinched and Hermetic Land) trên tạp chí Time, tường thuật như sau về tình hình 10 năm sau ngày Cộng Sản chiếm được Miền Nam Việt Nam:

“Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới... Cuộc khủng hoảng (kinh tế và chính trị) đã buộc nhà cầm quyền phải đưa ra những biện pháp cải cách. Hiện tại, một hệ thống kinh tế tự do có giới hạn đang được áp dụng, cho phép nông dân và ngư dân được bán ra các sản phẩm thặng dư [vượt chỉ tiêu] để kiếm lời. Vì thế, có trường hợp một nhà trồng tỉa giàu óc kinh doanh tại Miền Bắc đã kiếm tiền nhiều gấp năm lần người con trai của bà đang làm công nhân viên nhà nước tại Hà Nội. Năm 1983, sau nhiều năm đói kém, lần đầu tiên Việt Nam có đủ lương thực nuôi sống chính dân mình. Mặc dù tại Hà Nội chuyện nuôi lợn riêng là bất hợp pháp, nhiều cư dân tại thủ đô của Việt Nam vẫn tìm cách chăm sóc một đàn lợn con tại nhà; gia chủ chỉ cần bán ra một con lợn thịt không thôi cũng có thể thu vào lợi tức tương đương với lương cả một năm trời của một công nhân viên cấp cao...”

So sánh cuộc sống của dân chúng Việt Nam ở hai miền Nam, Bắc, Andersen viết:

“Hai miền của Việt Nam được chính thức thống nhất với nhau vào năm 1976, nhưng sự khác biệt vẫn rõ nét. Nhìn chung, cuộc sống tại Miền Bắc dường như bị kềm kẹp nhiều hơn, hàng hóa không có mấy... Ðồng thời, thỉnh thoảng vẫn có tình cảm ganh tị với Miền Nam đang được sống thoải mái hơn. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), nhà cầm quyền đã triệt hạ hầu hết nếp sống say sưa và trụy lạc, nhưng đô thị này vẫn buôn bán cuồng nhiệt... 'Một đất nước nhưng nằm dưới hai hệ thống cai trị,' vẫn là lời giải thích đầy nuối tiếc và mang tính tuyên truyền cho những khác biệt Nam-Bắc đó. Ấy vậy mà một số nếp sống Tây phương vẫn xâm nhập được ra tới ngoài Bắc. Các băng nhạc pop của Mỹ được đem chơi khắp nơi. Và điều lạ lùng hơn hết là các du khách người Mỹ hiếm hoi, dù đến bất cứ nơi đâu, cũng đều được dân chúng đối đãi với lòng kính phục và ngay cả với thiện cảm rõ rệt nữa.”
Một thập niên sau khi cuộc Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt, cảm tưởng chung của các nhà báo Tây phương và các du khách sau những chuyến viếng thăm Việt Nam, ngoài những điều khác, là nhận định rằng miền Bắc Việt Nam đã thắng Miền Nam về quân sự, nhưng Miền Nam Việt Nam đã thắng ngược lại Miền Bắc về kinh tế, và không chừng sẽ còn thắng luôn về chính trị nữa - ý nói tới phong trào đổi mới tư duy và hành động đang chớm nở tại Cộng Sản Việt Nam vào thời điểm đó....
Duy An
#2024 Posted : Sunday, January 3, 2016 9:08:49 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)

....Trong lịch sử nhân loại, không thiếu gì trường hợp mà văn hóa và nếp sống của lớp người bị chinh phục đã làm thay đổi văn hóa và nếp sống của lớp người đến chinh phục. Chẳng cần nhìn đâu cho xa, trên đất nước Trung Hoa thời phong kiến, người Mông Cổ và người Mãn Thanh đã bị Hán hóa gần như hoàn toàn khi họ đem binh mã sang chiếm đóng Trung Nguyên và lập ra các triều đại Nguyên và Thanh tại Trung Quốc. Ngày nay, từ Miền Nam Việt Nam ngược trở ra Miền Bắc, chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam đã thay hình, đổi dạng. Ðại Hội Ðảng Cộng Sản Việt Nam Lần Thứ Sáu năm 1986 đánh dấu một khúc quanh lịch sử trong tiến trình “đổi mới” của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam, một mặt là để theo đuôi phong trào perestroika do Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev đề xướng tại Liên Xô, nhưng mặt khác cũng chính là vì ảnh hưởng ngày một mạnh của nếp sống tự do, dân chủ mà nhân dân Miền Nam Việt Nam trước đây từng được hưởng. (9)

Hồi mới vào Nam, những người Công Sản tuy bề ngoài vẫn lộ vẻ coi thường những người Miền Nam chiến bại, nhưng bên trong họ vẫn thầm thán phục và kính nể nếp sống văn minh và phồn thịnh tại vùng đất mà họ vẫn cho là mình có sứ mạng phải tiến vào “giải phóng” vì cứ tưởng lầm rằng dân chúng tại đây thật sự đang bị kềm kẹp, bóc lột và khổ đau dữ lắm. (Nhạc sĩ Cộng Sản Huỳnh Minh Siêng, trong nhạc phẩm “Tiến Về Sài Gòn,” chẳng đã mô tả dân chúng tại thủ đô Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là đang “rên xiết đêm ngày“đó sao?) Ðây chính là hậu quả tai hại của hơn hai thập niên tuyên truyền, nhồi sọ và phỉnh gạt con người mà Cộng Sản Việt Nam đã dùng để lừa dối chính mình và kẻ khác, cho nên phần lớn chiến thắng vừa rồi trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam của họ chẳng qua chỉ là do người Cộng Sản đã biết khéo léo tự lừa dối mình và sau đó lừa dối được dân chúng Miền Nam Việt Nam và các đồng minh khờ khạo của Việt Nam Cộng Hòa trên khắp thế giới.

Hai ông Bùi Tín và Vũ Thư Hiên, những người Cộng Sản cũ của Việt Nam, có thể là những người biết rõ hơn ai hết cái tác động ghê gớm của những trò lừa dối này. Những tên tuổi của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cỡ Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ và Luật Sư Trương Như Tảng cũng biết rõ điều này. Các chính khách, trí thức và văn nghệ sĩ của Miền Nam Việt Nam trước đây có cảm tình với Cộng Sản và mong ước Việt Nam Cộng Hòa chóng “tiêu diêu” cỡ Trịnh Công Sơn, Ðoàn Văn Toại và Linh Mục Chân Tín cùng một số tăng, ni Phật Giáo chuyên chống chính phủ ắt hẳn phải thấm điều này. Ngay như ở bên Mỹ, Joan Baez, và về sau - trong một chừng mực nào đó - là cả Jane Fonda cùng một số cựu chiến binh phản chiến nữa, cũng đã thấy cái đó. Mà nếu không thấy cái đó thì không thể giải thích được tại sao mà sau năm 1975 hằng triệu người Việt Nam đã phải liều chết ra đi trên những con thuyền gỗ mong manh và lậu nước để mong được tới những bến bờ tự do vừa xa xôi vừa bấp bênh như thế.

Những chiến sĩ Mũ Ðỏ từ trên không đạp xuống đầu giặc.


Ai đã mở mắt cho dân chúng Miền Nam Việt Nam? Ai đã mở mắt cho dân chúng Miền Bắc Việt Nam? Ai đã mở mắt cho dân chúng Mỹ, dân chúng Pháp, dân chúng Anh, dân chúng Thụy Ðiển...? Ai đã mở mắt cho Tổ Chức Khoa Học, Giáo Dục và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO)? Và sau cùng, ai đã mở mắt cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ cấp cán bộ quèn cho tới cấp cán bộ Trung Ương Ðảng? Xin thưa: kẻ đó chính là nền dân chủ và nếp sống tự do của Miền Nam tự do mà Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh biết bao nhiêu xương máu trong suốt gần ba thập niên để gìn giữ cho tới khi tài nguyên cạn kiệt mới chịu buông xuôi. Mà hễ đã nói đến máu xương, đã nói đến hy sinh này nọ thì phải nói tới những công lao to lớn và hy sinh cao cả của những người lính Cộng Hòa, kể cả những người đã để lại danh thơm trong quân sử cũng như những anh hùng không tên tuổi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Một chút lịch sử: Bước thăng trầm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Từ năm 1950 cho tới năm 1975, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã có những thời điểm và giai đoạn lịch sử tưởng chừng như là nguy kịch đến nơi rồi, nhưng họ vẫn đứng vững cho tới năm 1975 để hà hơi, tiếp sức cho cái mầm dân chủ, tự do của đất nước mà giờ đây đang trở thành mầm sống và nguồn hy vọng của dân tộc Việt Nam thống nhất. Hồi năm 1954, sau khi quân đội Liên Hiệp Pháp (trong đó có Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam) bị bại trận tại Ðiện Biên Phủ, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam đã có nguy cơ bị tan rã nếu ông Ngô Ðình Diệm không kịp thời về chấp chánh, nắm giữ quyền thủ tướng chính phủ.
Thiếp Giáp Binh cùng tùng thiết lùng địch.

Sau Hiệp Ðịnh Geneva, trong hai năm 1954 và 1955, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam cũng đã gặp phải nguy cơ bị chia năm, xẻ bảy nếu chính quyền Ngô Ðình Diệm không đánh dẹp được quân đội riêng của các lực lượng, phe nhóm bất hợp tác khác trong nước mà Thực Dân Pháp đã dung dưỡng nhằm thao túng chính trường Miền Nam sau khi họ phải rút về.

Kể từ cuộc khủng hoảng Phật Giáo vào mùa Hè năm 1962, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa cũng đã gặp phải nguy cơ suy sụp - nhưng rồi vẫn đứng vững - vì du kích quân thuộc cái gọi là Mật Trận Giải Phóng Miền Nam đã thừa lúc dân chúng tại các thành thị Miền Nam Việt Nam mải mê xuống đường đánh phá chính phủ Ngô Ðình Diệm mà tăng cường những vụ tấn công trực diện vào các tỉnh lỵ, quận lỵ tại Miền Nam, tràn ngập nhiều chi khu và chiếm đóng nhiều quận lỵ trên toàn quốc.

Sau khi Tổng Thống Diệm bị các tướng lãnh trong quân đội Miền Nam - có sự giật dây của chính quyền Kennedy vì Mỹ vẫn đổ lỗi cho chính phủ của Ông Diệm là đã gây ra cuộc khủng hoảng Phật Giáo làm suy yếu cuộc chiến đấu chống Cộng tại Miền Nam Việt Nam - đảo chánh rồi ám sát vào cuối năm 1963, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa cũng đã thật sự phải đối diện với nguy cơ sụp đổ trước các cuộc tấn công gia tăng ác liệt của Cộng quân. Các bản tin chiến sự cho hay Cộng quân, lợi dụng tình trạng hỗn quan, hỗn quân tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, đã gia tăng các cuộc tấn công lấn chiếm trên toàn quốc, khiến cho lãnh thổ quốc gia tại Miền Nam Việt Nam ngày càng bị thu hẹp, với nhịp độ thất thủ có lúc lên đến chóng mặt là mỗi tuần mất đi một quân lỵ và mỗi tháng mất đi một tỉnh lỵ.

Nhưng, từ năm 1965 trở đi, sau khi mọi xáo trộn đã qua và kể từ lúc phe quân nhân thực sự nắm giữ quyền chính trị và quân sự tại Miền Nam Việt Nam - với danh xưng mới là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - thì quân đội Miền Nam Việt Nam đã phục hồi lại phần lớn năng lực đã mất để có thể mở các chiến dịch hành quân tảo thanh Việt Cộng và bình định nông thôn trên bốn vùng chiến thuật. Cũng trong khoảng thời gian này, Hoa Kỳ đã trực tiếp can dự vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam qua việc các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, không vận, bộ binh, không quân và hải quân Mỹ cùng quân đội các nước đồng minh khác như Ðại Hàn Dân Quốc, Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan,... tham gia chiến đấu chống lại Cộng quân bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Biến cố Tết Mậu Thân đầu năm 1968 là một đòn nữa giáng vào quân đội Miền Nam Việt Nam khi hằng chục sư đoàn Cộng quân gồm quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt và quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đồng loạt mở cuộc “tổng tấn công, tổng nổi dậy” bất ngờ trong thời gian hưu chiến nhân dịp Tết, đánh vào nhiều tỉnh lỵ và thành phố tại Miền Nam Việt Nam, kể cả thủ đô Sài Gòn và cố đô Huế. Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đứng vững và lần lượt tái chiếm hết những phần đất bị Cộng quân tạm chiếm, kể cả cố đô Huế, và xóa tên nhiều đại đơn vị của Cộng quân.

Chiến đấu từng khu phố để bảo quốc an dân.

Quân đội này lại còn hùng mạnh hơn lên khi đồng minh Hoa Kỳ quyết định tăng cường võ trang các chiến cụ tối tân cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để họ có thể tự mình chiến đấu bảo vệ Miền Nam Việt Nam đặng quân Mỹ có thể yên lòng và có thêm chính danh mà rút về nước trong một chiến lược mới được gọi là “kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh” do Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia lúc bấy giờ là Tiến Sĩ Henry Kissinger đề xướng.

Rồi cuộc tổng tấn công Mùa Hè năm 1972 của Cộng quân lại diễn ra sau khi Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội quyết định rằng Cộng quân phải lấn cho bằng được càng nhiều đất càng tốt, giành cho bằng được càng nhiều dân càng hay để họ có thể chiếm lợi thế trên bàn hội nghị bốn bên lâm chiến đang diễn ra tại Paris, Pháp, nhằm “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình” tại Miền Nam Việt Nam. Dù bị tấn công bất thình lình và bước đầu bị mất đi thành phố Quảng Trị tại Vùng 1 Chiến Thuật và quận (chi khu) An Lộc tại Vùng 3 Chiến Thuật, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một lần nữa, lại cả thắng trong “mùa Hè đỏ lửa” ấy, lấy lại hầu hết những đất đai và dân chúng đã mất vào tay Cộng quân trước đó.

Hội nghị hòa bình tại Paris kết thúc với Hiệp Ðịnh Paris (Ba Lê) 1973, theo đó chính quyền Nixon, vì quá nóng lòng muốn lấy lại các tù binh đang bị Cộng Sản Bắc Việt giam giữ cũng như để thỏa mãn đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh và rút quân đội về nước của các nhóm phản chiến đang lên cao tại Mỹ, đã ép buộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải nhân nhượng nhiều điều hết sức thất lợi cho sự sống còn của Miền Nam Việt Nam sau này qua bản văn chung cuộc của Hiệp Ðịnh Paris 1973.

Cái chết của Miền Nam Việt Nam và cái chết của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là hậu quả tất yếu của một cuộc chiến tranh trong đó cả hai bên lâm chiến đều không ai có đủ điều kiện - quân sự và chính trị - một mình đứng ra đảm đương cuộc chiến mà phải nhờ đến các thế lực bên ngoài. Rồi khi một trong hai bên nào đó thình lình bị đồng minh bỏ rơi - như trường hợp của Việt Nam Cộng Hòa - thì kẻ bị bỏ rơi đương nhiên phải thua trận.

Vì bị Hoa Kỳ bỏ rơi nửa chừng sau khi dân chúng và chính phủ của nước đồng minh này không chịu đựng nổi những tổn thất kéo dài về nhân mạng và tiền bạc trong cuộc chiến, Việt Nam Cộng Hòa - hay Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - đành phải chết đi một cách tức tưởi. (Ở đây, người viết thấy cần phải nói lên cảm nghĩ rằng phần đông những người lính Cộng Hòa cũ, sau nhiều năm suy nghĩ về sự bỏ rơi kia, đã thôi không còn oán hận gì người bạn chiến đấu Mỹ năm xưa. Ðại đa số dân chúng Miền Nam Việt Nam bây giờ đều hiểu rằng một dân tộc giàu có và đáng sống như dân tộc Mỹ mà dám hy sinh cả trên 50,000 mạng người -hầu hết là những thành phần trẻ ưu tú- trong cuộc chiến tranh bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam thì ngần ấy những hy sinh là đã quá đủ rồi. (10)

Lẽ ra, những thanh niên Mỹ kia phải được quyền vui hưởng cuộc đời đầy ắp tương lai xán lạn nơi quê nhà thay vì phải rời bỏ mái ấm gia đình để rồi bỏ thân trên những chiến trường đèo heo, hút gió trong một cuộc chiến bị phần lớn thế giới vì lầm mê mà lên án như thế. Hơn nữa, như bức tượng tại đài kỷ niệm chiến binh Việt-Mỹ tại Little Saigon ở Orange County, Miền Nam California, đã cho thấy, chính nhờ những hy sinh xương máu cao cả và sự yểm trợ đắc lực của hằng trăm nghìn chiến binh Mỹ trong hơn một thập niên dài chiến đấu mà người lính Cộng Hòa đã có thể giữ vững tay súng đặng bảo vệ cái mầm dân chủ, tự do kia cho được vẹn toàn.) Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - hay những người lính Cộng Hòa - khi chết đi, đã để lại một di sản vô giá cho toàn thể dân tộc Việt Nam, đó là mầm mống dân chủ, tự do ngay trong lòng người dân Việt và trên khắp các ruộng đồng, phố xá, vườn tược, đường sá, cầu cống, chợ búa, nhà thương, học đường, chùa chiền, thánh đường, nhà thờ... tại Miền Nam Việt Nam.

Chính cái nếp sống tự do, dân chủ của dân chúng Miền Nam Việt Nam đã làm cho người dân trong Nam, ngay từ những ngày đầu Sài Gòn sụp đổ, không ngần ngại bác bỏ chủ nghĩa Cộng Sản từ ngoài Bắc đem vào bằng cách hễ ăn gạo thì nói ăn gạo, ăn bo-bo thì nói ăn bo-bo, chứ không tìm cách dùng những mỹ từ để che đậy cái đói, cái khổ của mình cho vừa lòng quân thống trị. Chính cái nền kinh tế thị trường theo kiểu tư bản của Miền Nam Việt Nam đã đánh gục hầu hết những mô thức kinh tế theo kiểu công trường, hợp tác xã, xí nghiệp quốc doanh, bù lỗ, bao cấp... của Cộng Sản Việt Nam. (11) Và, trên một chừng mực nào đó, chính các sinh hoạt tự do, dân chủ đa đảng của Miền Nam Việt Nam từ trước năm 1975 đã dạy cho một số không nhỏ cán bộ, viên chức Cộng Sản Việt Nam dần dần biết thản nhiên từ bỏ Ðảng tịch, từ bỏ chức vụ để đứng về phía dân chúng đối kháng chế độ Cộng Sản độc đảng, đòi tự do, dân chủ đa nguyên trên cả hai miền Nam, Bắc như hiện nay.

“Mây ngậm ngùi xuống thấp, Hồn kiêu hãnh dâng cao.”
Các anh là những người chiến binh “bất tử.”


“Anh không chết đâu anh” trong lòng một Việt Nam tự do, dân chủ

Những gì sẽ xảy ra nếu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và tiền thân của quân đội này không hiện hữu hay quân đội này phải bị tan rã ngay từ các thời điểm 1954, 1963, 1965, 1968, hoặc ngay cả vào năm 1972? Ðiều kỳ diệu là, ngay cả trong những giờ phút khó khăn nhất của Miền Nam Việt Nam khi cuộc chiến tranh xâm lược và phá hoại của Cộng Sản đang lên tới cao điểm với những cuộc tấn công liên tục ngoài chiến trường và những chiến dịch gây xáo trộn cùng bất ổn triền miên trong quần chúng ở hậu phương, dân chúng Miền Nam, dưới sự bảo vệ vững chắc và nhờ những hy sinh vô bờ bến của người lính Cộng Hòa nơi tuyến đầu khói lửa cũng như trên khắp các mặt trận khác, vẫn có được cái xa xỉ là tiếp tục sinh hoạt bình thường, tiếp tục mua bán, kinh doanh làm giàu, và tiếp tục ăn học thành tài để trở thành những chuyên gia rường cột của đất nước mai sau.

Và điều may mắn lớn lao nhất cho dân tộc là sự thể quân đội này đã thoát hiểm và sống còn đến trên hai thập niên, cũng vừa đủ thời gian cho mầm tự do, dân chủ đâm chồi và bén rễ trên quê hương Việt Nam khiến cho Cộng Sản Việt Nam ngày nay chỉ còn là một cái vỏ trống không, và tất cả những giáo điều cùng lý luận của chủ nghĩa Cộng Sản đều lâm vào ngõ bí khi các vị “thánh tổ” của chủ nghĩa này từ bên trời Âu lần lượt lăn đùng ra chết. Dĩ nhiên là Cộng Sản Việt Nam vẫn còn giữ lại một điều duy nhất, đó là nguyên tắc độc đảng, mà nếu họ lại bỏ đi nữa thì cái câu “trong bụng mỗi người dân An Nam đều có một ông quan” - vốn do một quan chức thực dân Pháp nham hiểm thốt lên từ hồi đầu thế kỷ trước - hóa ra chẳng có ý nghĩa gì hết hay sao? (12)

Dẫu sao, ba thập niên sau ngày Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, khi nghĩ về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cái chết tuy đầy uất ức nhưng cũng đầy hào hùng của quân đội này vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975, người ta vẫn thấy rằng cái tinh thần mà quân đội đó mang theo vào mỗi trận đánh, mỗi chiến trường trên khắp các nẻo đường đất nước từ Nam chí Bắc - xin đừng quên những Phạm Phú Quốc, Trần Thế Vinh, Nguyễn Văn Ðương, Nguyễn Ðình Bảo, Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Nguyễn Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn... - vẫn còn sống mãi trong lòng dân tộc và sẽ là mầm phục sinh cho một đất nước và một dân tộc đã trải qua gần hết mọi cuộc bể dâu trong đời. Hay, nói như Nhật Trường Trần Thiện Thanh, một người lính Cộng Hòa và cũng là một ca, nhạc sĩ tài hoa của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại qua nhạc phẩm “Anh Không Chết Ðâu Anh”: “Không, anh không chết đâu anh. Chưa, anh chưa chết đâu anh...”

Ghi chú:

(1) Bản tin của thông tín viên Reuters, Paul Eckert, từ Á Châu gởi đi ngày 5 Tháng Sáu, 2006, viết rằng Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Donald Rumsfeld cho hay quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt tới một “mức độ mới” và rằng hai kẻ thù cũ trên chiến trường sẽ gia tăng những cuộc trao đổi quân sự và huấn luyện.

Ông Rumsfeld và Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phạm Văn Trà đã đồng ý gia tăng “những cuộc trao đổi trên mọi cấp bậc quân sự và sẽ tăng cường thêm mối quan hệ quân sự giữa đôi bên qua nhiều cách.” Hai bên cũng đã đồng ý khởi sự việc huấn luyện y tế qua một chương trình quân y do Ngũ Giác Ðài đài thọ, và tăng cường hợp tác trong vấn đế tháo gỡ bom mìn.

Các mối quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, 31 năm sau khi cuộc Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt và 11 năm sau khi khởi sự bình thường hóa quan hệ đôi bên, đã nồng ấm dần dần với những cuộc viếng thăm bến cảng Việt Nam của các chiến hạm Hải Quân Hoa Kỳ. Ông Rumsfeld là vị bộ trưởng quốc phòng thứ nhì đến thăm viếng Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản kể từ khi đồng minh Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975, với lần thăm viếng gần đây nhất của ông là vào năm 1995 tại Hà Nội với tư cách cá nhân. Các cuộc đàm phán quân sự giữa đôi bên diễn ra chưa đầy một tuần sau khi hai nước ký một thỏa hiệp mậu dịch mới dọn đường cho Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO) vào cuối năm 2006.

(2) Các nhân vật bất đồng chính kiến và chống đối Cộng Sản Việt Nam từ sau cuộc thống nhất Nam-Bắc vào năm 1975 bao gồm Viện Trưởng Viện Triết Học Hoàng Minh Chính, Thượng Tọa Thích Quảng Ðộ, Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Linh Mục Chân Tín, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, Tướng hồi hưu Trần Ðộ, nhà văn Dương Thu Hương... Các chức sắc và nhân vật Công Sản Việt Nam bỏ sang hàng ngũ người Việt tự do gồm có cựu Ðại Tá Bùi Tín, phó tổng biên tập Báo Nhân Dân của Cộng Sản Việt Nam, Ông Vũ Thư Hiên, con trai của Ông Vũ Ðình Huỳnh (từng là bí thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh) và là tác giả Ðêm Giữa Ban Ngày, quyển sách tố cáo những sai lầm và bê bối của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam, Luật Sư Trương Như Tảng, cựu bộ trưởng Tư Pháp của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam) và Ông Võ Nhân Trí, một nhà kinh tế và xã hội hàng đầu của chế độ Cộng Sản Việt Nam... Thêm vào đó, một số các sĩ quan cao cấp và giới lãnh đạo cũ của Cộng Sản, kể cả cựu Tướng Trần Ðộ và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt cùng các sĩ quan quân đội đã về hưu, hiện đang quay sang chỉ trích các chính sách sai lầm và độc đoán của nhà nước Cộng Sản Việt Nam, hoặc đòi hỏi phải có thêm nhiều cải cách sâu rộng hơn nữa trong nước, nhất là về mặt chính trị.

(3) Một điều mà những người Cộng Sản Việt Nam đã không tiên liệu được khi đánh chiếm Miền Nam Việt Nam - và sau đó vội vã thống nhất hai miền Nam-Bắc với nhau bất chấp sự can ngăn của cộng đồng thế giới, nhất là từ phía các chuyên gia kinh tế - là sức phá hoại mạnh mẽ của hệ thống xã hội tư bản tự do ở Miền Nam chống lại hệ thống xã hội theo kiểu Cộng Sản của Miền Bắc. Nói cách khác, chính cái xã hội tự do, cởi mở của Miền Nam - vốn nặng về thực tế vật chất và nhẹ về lý tưởng hay ý thức hệ - đã làm ung thối xã hội Miền Bắc khép kín - vốn nặng về lý tưởng quốc tế viển vông mà nhẹ về thực tế no cơm, ấm áo cho dân tộc mình - rồi sau đó làm ung thối luôn toàn thể cái gọi là “con người xã hội chủ nghĩa” mà Ông Hồ Chí Minh và những kẻ nối nghiệp đã cất công xây dựng và trịnh trọng mang từ Miền Bắc vào Miền Nam, với ý nghĩ là sẽ làm khuôn mẫu cho dân “Nam kỳ” mà bề nào nom cũng có vẻ hiền lành hơn dân “Bắc kỳ.”

Sự thực là Sài Gòn, tiêu biểu cho Miền Nam Việt Nam, là một thành phố “bất trị” trong ý nghĩa nghiêm chỉnh nhất về kinh tế và xã hội. Nhà báo Tim Larimer, trong một bài báo đăng trên Tạp chí Time nhan đề “Sài Gòn Bay Vút” (Saigon Soars), số ra ngày 2 Tháng Sáu năm 1997, viết như sau về sức quật khởi của thành phố mang tên Sài Gòn hơn hai thập niên sau ngày thành phố này bị kẻ chiến thắng đổi tên: “Sau bao nhiêu năm dài, ít nhất cũng có một điều rõ ràng: những kẻ đến đây để 'thuần hóa' thành phố mãnh hổ này (Sài Gòn) đành kết thúc số phận là để bị nó thuần hóa mình. Và giờ đây, thành phố mãnh hổ này đang gầm rống dữ dội với lòng tự tin, không còn kiệt sức và bại trận nơi chiến trường nữa nhưng đã phục hồi sinh lực, giơ cao các móng vuốt lên khỏi những suy thoái và thảm họa đổi đời.”

Ðể hiểu nếp sống tự do, dân chủ ở Miền Nam Việt Nam đã gây khó khăn như thế nào cho việc phát triển chủ nghĩa xã hội tại Miền Nam, xin hãy đọc Steven Erlanger qua bài báo nhan đề “Việt Nam, Cạn Kiệt vì Giáo Ðiều Chủ Nghĩa, Ðang Cố 'Tổ Chức Lại' Hệ Thống Cai Trị của Mình” (Vietnam, Drained by Dogmatism, Tries a 'Restructuring' of Its Own), được đăng tải trên nhật báo The New York Times, số ra ngày 24 Tháng Tư năm 1989:
“Vào lúc Ðại Hội Ðảng lần thứ 6, hồi cuối năm 1986, đã rõ ràng là các nỗ lực của giới lãnh đạo Việt Nam nhằm chuyển đổi nền kinh tế tư bản dựa trên thị trường của Miền Nam sang nền kinh tế cộng sản cổ điển của Miền Bắc đã là một thất bại thê thảm. Cả hai mô thức quốc hữu hóa và tập thể hóa kinh doanh đều đã bị cưỡng chống mạnh mẽ... Và những vi phạm đạo đức của Ðảng ngày càng gia tăng khi những cán bộ từ Miền Bắc vào đã bị Miền Nam dụ dỗ làm bậy.”

(4) Seth Mydans, trong một bài báo được đăng trên tờ The New York Times hồi Tháng Năm năm 2000, viết như sau về thành phố Sài Gòn trong lễ kỷ niệm gọi là “25 năm giải phóng miền Nam” lồng trong cảm nghĩ của vài nhân vật từng công khai ủng hộ cuộc chiến tranh được mệnh danh là “kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Cộng Sản gần ba thập niên trước đây:

“Người ca sĩ đứng tuổi với mớ tóc dài và nhà họa sĩ để râu vừa lắc lắc mấy cục nước đá trong chiếc ly của mình vừa suy gẫm về sự chuyển mình của đất nước họ.

“Cũng như những chiến sĩ dạn dày tuổi lính và các cựu chiến binh từng diễn hành sáng nay với mề-đay trên ngực, hai nhân vật này - các anh hùng chống chiến tranh năm xưa-nói về hòa bình, về những tiến bộ và về tinh thần quốc gia hôm nay vào dịp kỷ niệm năm thứ 25 ngày cuộc Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt...

“Tiếng nhạc rock vang động dội lại từ phía một đại lộ thời Pháp thuộc, trong khi hằng chục nghìn dân chúng đi dạo chơi nhân ngày nghỉ lễ đã làm nghẽn kẹt các con đường ở trung tâm cái thành phố thay đổi nhanh chóng này, thành phố mà trước kia là Sài Gòn.

“Nhưng hai người bạn đồng chí này, cạnh chai rượu uýt-ki hầu như đã cạn, dường như không thể tách mình ra khỏi một hình ảnh vẫn mải ám ảnh họ: hình ảnh một Mỹ kiều giàu có đi bộ trên đường phố, tay trong tay cùng với một phụ nữ Việt Nam xinh đẹp.

“Theo lời ca sĩ Trịnh Công Sơn thì, trong thời chiến trước đây, hình ảnh đó tiêu biểu cho cái nghèo nàn của đất nước và sự suy đồi trong đạo lý, mặc dù đó vẫn là một hình ảnh lãng mạn vì ông cũng phải nhìn nhận là có thể có tình yêu trong đó.

“Nhưng bây giờ, theo lời Trịnh Cung, nhà họa sĩ, đây là ví dụ nổi bật nhất về tính thực tiễn và ham chuộng vật chất hiện đang cấu xé tâm hồn Việt Nam: 'Lấy tiền, càng nhiều càng tốt, là điều dân chúng mong muốn. Họ muốn có một cuộc đời mới, một cuộc sống mới giàu sang, và thẳng thắn mà nói, họ không cần biết xã hội phê bình như thế nào về họ.'” (Seth Mydans. “An Ageless Saigon Basks in Peace” [Một Sài Gòn Chẳng Hề Già Tắm Mình trong Hòa Bình]. The New York Times, 1 Tháng Năm, 2000.)

(5) Thông Tấn Xã Reuters, trong bản tin đánh đi ngày 1 Tháng Hai, 2006, cho hay các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã nói tại phiên nhóm khởi đầu của khóa họp nhằm cứu xét các luật lệ khống chế bớt các công ty Mỹ đang hoạt động tại các nước có chế độ đàn áp dân chúng rằng các công ty đó đã giúp Trung Quốc kiểm duyệt mạng lưới Internet... Ủy Hội Nhân Quyền Quốc Hội đã nghe các chuyên gia nói về cách thế những công-ty khổng lồ như Google Inc., Yahoo Inc., Microsoft Corp., và Cisco Systems Inc. đang làm cho công việc canh chừng mọi hoạt động quần chúng của 30,000 cảnh sát Internet tại Trung Quốc trở nên dễ dàng hơn.

Trong một bản tin khác vào ngày 15 Tháng Hai, Hãng Reuters cho biết thêm rằng “từ mấy tháng qua, Yahoo Inc. đã hai lần bị cáo buộc là cung cấp bằng cớ cho nhà cầm quyền (Trung Quốc) bắt bớ và buộc tội chính trị hai khách hàng người Trung Quốc của dịch vụ Internet do công-ty Hoa Kỳ này cung cấp.

(6) Cộng Sản Việt Nam, cũng như Cộng Sản Trung Quốc, có thể là vì tự ái - kiểu Fidel Castro - nên đã không công khai nhìn nhận sự phản bội ý thức hệ này, và dường như họ vẫn cứ muốn dân chúng trong nước tiếp tục tin rằng họ vẫn còn trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản và thế giới cứ tiếp tục gọi họ là Cộng Sản, chứ không phải bằng một danh hiệu nào khác. Tính thực tiễn cao độ (và không còn lý tưởng gì nữa) của người Việt Nam và người Trung Hoa thời nay bảo cho họ biết rằng “mèo đen hay mèo trắng, nèo nào cũng vậy thôi, miễn là nó bắt được chuột.”
Một du khách Mỹ từng đến viếng thăm Việt Nam, xưng danh là Jack, viết về chế độ Cộng Sản tại Việt Nam như sau trong một lá thư được đăng trên tờ The Quaker Economist hồi năm 2002: “Chính phủ (Việt Nam) chỉ còn là một chính phủ xã hội chủ nghĩa có trên danh xưng - và họ chỉ còn giữ lại một điều duy nhất là “độc đảng” mà thôi.” (Jack. “Listening to Vietnam” [Lắng Nghe Việt Nam]. The Quaker Economist, 11 Tháng Mười, 2002.)

(7) Theo các tài liệu lịch sử, Việt Nam nổi tiếng “mê” Mỹ không phải chỉ từ cuộc Chiến Tranh Việt Nam trở đi nhưng là kể từ thời Ông Hồ Chí Minh còn cộng tác với tình báo Mỹ (Office of Strategic Services, OSS) chống quân chiếm đóng Nhật Bản tại Bắc Việt hồi Thế Chiến Thứ 2, với việc Ông Hồ xin được Mỹ giúp lấy lại độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp -nhưng, rủi thay, lúc đó Mỹ vẫn còn “mê” Pháp lắm nên đã làm ngơ - và việc ông Hồ lấy ý và lời văn từ bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ để lồng vào bài diễn văn đọc trong ngày 2 Tháng Chín năm 1945 là ngày ông và phong trào Việt Minh tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Hà Nội.

Năm 1999, nhân chuyến quân đội Mỹ đến Việt Nam để cứu trợ nạn nhân bão lụt lần đầu tiên kể từ cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Ðại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, là Lê Văn Bằng, có phát biểu như sau: “Hoa Kỳ là nước số một trên thế giới mà chúng tôi (Việt Nam) cần tới để trợ giúp chúng tôi trong các vấn đề an ninh, trong các vấn đề quân sự cũng như trong các vấn đề kinh tế& Nhưng dẫu sao thì dư âm của cuộc chiến (vừa qua giữa đôi bên) vẫn chưa phai tàn.” (Elizabeth Becker trích dẫn trong “Vietnam Circles Slightly Closer to Military Ties to U.S.” [Việt Nam Nhích Gần Hơn Chút Nữa tới Quan Hệ Quân Sự với Mỹ]. The New York Times, 17 Tháng Tư, 2000.)

Hồi năm 1997, cũng trên tờ The New York Times, có một bài báo của Craig R. Whitney nói về ảnh hưởng áp đảo của nếp sống tư bản tại Miền Nam đối với Miền Bắc, đặc biệt là với Hà Nội:

“Sài Gòn, như hầu hết số 5 triệu dân sinh sống tại đây vẫn còn gọi nơi này bằng cái tên đó, theo lẽ thì đã phải biến thành Hà Nội sau khi những người Cộng Sản Việt Nam thắng cuộc chiến tranh tại Việt Nam hồi năm 1975. Thay vào đó, Hà Nội nay đã trở thành Sài Gòn... Ngoại trừ chuyện không có bóng dáng các chàng GI (lính Mỹ), Hà Nội hiện nay sống và phô bày bộ mặt mình trước toàn thể thế giới y hệt như Sài Gòn ngày xưa vậy -một đô thị cuồng nhiệt, đang biến hình và đang được những động lực mạnh mẽ ngoài vòng cương tỏa thúc đẩy.” (Craig R. Whitney. “Hanoi Now, Meet Saigon Then” [Hà Nội Bây Giờ Cũng Như Sài Gòn Năm Xưa]. The New York Times, 28 Tháng Chạp, 1997.)

(8) Seth Mydans viết trên tờ The New York Times: “Mặc dù những hệ lụy của cuộc chiến, Việt Nam coi bộ vẫn bị thu hút vì Mỹ quốc. Có lúc, dường như toàn bộ đất nước này đang ra sức học tiếng Anh, thứ ngôn ngữ của giao thương. (Seth Mydans. “Vietnam Finds an Old Foe Has New Allure” [Việt Nam Thấy Kẻ Thù Cũ Có Hấp Lực Mới]. The New York Times, 13 Tháng Tư, 2000.)

(9) Xem lại Craig R. Whitney: “Sài Gòn, như hầu hết số 5 triệu dân sinh sống tại đó vẫn còn gọi nơi này bằng cái tên đó, theo lẽ thì phải biến thành Hà Nội sau khi những người Cộng Sản Việt Nam thắng cuộc chiến tranh tại Việt Nam hồi năm 1975. Thay vào đó, Hà Nội nay đã trở thành Sài Gòn.” (Craig R. Whitney. “Hanoi Now, Meet Saigon Then” [Hà Nội Bây Giờ Cũng Như Sài Gòn Năm Xưa]. The New York Times, 28 Tháng Chạp, 1997. Tài liệu đã dẫn.)

(10) Những tài liệu mới nhất cho biết tổng số quân nhân Mỹ hy sinh trên các chiến trường tại Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Lào và Căm-Bốt trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam là 58,000. Một số ít các quân nhân khác vẫn còn bị coi là mất tích vì chưa kiểm kê được.

(11) Cũng trong bài báo nhan đề “Việt Nam, Cạn Kiệt vì Giáo Ðiều Chủ Nghĩa, Ðang Cố 'Tổ Chức Lại' Hệ Thống Cai Trị của Mình” (Vietnam, Drained by Dogmatism, Tries a 'Restructuring' of Its Own) trên nhật báo The New York Times, số ra ngày 24 Tháng Tư năm 1989, Steven Erlanger lại viết: “Chính sách nông nghiệp mới hiện nay là tái phân phối đất đai đã bị hợp tác hóa trước đây cho từng gia đình riêng rẽ đặt căn bản trên các khế ước mới mang tính lâu dài, với nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước được ấn định sẵn. Chính phủ khuyến khích cá nhân đầu tư vào kinh doanh, và chính phủ cũng hứa hẹn rằng người dân cùng con cái họ có thể tiếp tục quyền sở hữu những gì họ đã làm ra.”

Trong một bài báo trên tờ The New York Times hồi năm 2000, Seth Mydans viết: “Dennis de Tray, đại diện cao cấp tại Việt Nam của Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF), nói rằng đất nước này (Việt Nam) có kiểu mẫu thành công riêng của họ để phô trương khi họ mở ngỏ nền kinh tế -đó là một quyết định được đưa ra cách nay một thập niên-chấm dứt hợp tác hóa nông nghiệp... Rồi ông de Tray đưa ra nhận xét: 'Họ đi từ tình trạng suýt chết đói tới vị trí của một nước xuất cảng gạo lớn hàng thứ nhì trên thế giới hầu như chỉ qua một đêm thôi'.” (Seth Mydans. “Vietnam Finds an Old Foe Has New Allure” [Việt Nam Thấy Kẻ Thù Cũ Có Hấp Lực Mới]. The New York Times, 13 Tháng Tư, 2000. Tài liệu đã dẫn.)

(12) Kẻ được coi là đã đưa ra câu nói “trúng tim đen” của dân Việt Nam kia là Alexandre Varrène, công sứ Pháp tại Bắc Kỳ, một quan cai trị thực dân nổi tiếng lỗi lạc vì thông hiểu cả tiếng Việt lẫn chữ Hán (Nho) và chữ Nôm. Trên cương vị đại diện hành chánh của mẫu quốc tại xứ Bắc Kỳ nằm dưới quyền trực trị của Pháp hồi thập niên 1920, ông Varrène đã có rất nhiều cơ hội để tiếp xúc và tìm hiểu tâm tư cũng như tình cảm của người dân An Nam bị trị tại vùng đất vẫn luôn được coi là chiếc nôi của nền văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên là với cá tính thiên bẩm đó, một người Việt Nam lúc nào cũng tài giỏi tương đương với một người Nhật Bản - mà bây giờ cũng có thể là một người Trung Quốc hay một người Hàn Quốc - nhưng hai người Việt Nam trở lên thì ta đành chịu thua thiên hạ, đơn giản chỉ là vì ta thiếu tinh thần đoàn kết - nhất là vào những lúc đang có quyền lợi và không phải đối diện với nguy biến - và chỉ thích làm anh hùng cá nhân mà thôi.
Duy An
#2025 Posted : Tuesday, January 19, 2016 6:15:08 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Trong nghĩa trang buồn


Sunday, January 17, 2016 3:37:33 PM
Tạp ghi Huy Phương


Ai thắp nén nhang cho tử sĩ
Ai thay anh vuốt mắt mẹ già.
Ai vấn lên đầu vòng tang trắng
Hay rồi ngày tháng cũng phôi pha!
Huy Phương (Chúc Thư)


“Tảo mộ,” ở miền Trung gọi là “Chạp Mả.” Thời thơ ấu, ở thôn quê, vào những ngày cuối Tháng Mười Hai Âm Lịch (Tháng Chạp) chúng tôi có dịp theo những người lớn trong gia đình, đem nhang, đèn và dao, cuốc, xẻng đi thăm mộ tổ tiên, làm cỏ, phát quang, đắp sửa lại những ngôi mộ bị mưa gió xói mòn, và thắp nhang cúng vái sau khi việc “chạp” đã hoàn tất. Mọi người đều trở về từ đường, hay nhà thờ chi, nhà thờ họ để làm lễ cúng vái tổ tiên và thưởng thức mâm cỗ sau một ngày khá vất vả. Vì vậy, trùng tu mộ chí cha ông là một trong những việc làm của đạo hiếu, cũng như thể hiện lòng kính trọng đối với cha ông, tổ tiên đã qua đời.



Nghĩa Dũng Đài trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. (Hình: VAF)


Ngày nay, vì hoàn cảnh xa quê hương, nhưng Tháng Chạp mỗi năm, những người đi xa vẫn nhớ đến chuyện chạp giỗ, không góp được công thì góp của, như tấm lòng thương tưởng của những đứa con lưu lạc, để giữ truyền thống chăm sóc phần mộ của ông cha.

Những nấm mộ trong một nghĩa trang buồn đã 40 năm nay không ai thăm viếng, tu sửa và nhang khói. Những người nằm ở đây không phải đã là quá xa như các bậc tổ tiên, nhưng cũng là bậc cha ông, hay đấng sinh thành của một thế hệ sinh ra trong chiến tranh. Đó là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi có 16,000 mộ phần của những tử sĩ VNCH, và rất xót xa, đây là những nấm mộ của người lính miền Nam thất trận. Sự hung hãn, kiêu ngạo, vô nhân tính và bần tiện của Việt Cộng đã thể hiện ngay ba ngày sau khi họ tiến chiếm Sài Gòn: Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, đã bị cào bằng và sau đó nhiều năm, là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi bị đào xới, hủy diệt, xua đuổi cả nghìn ngôi mộ của nghĩa trang lâu đời là, phản ánh lòng ganh tỵ, thù hận.

Riêng nghĩa trang chính thức của Quân Đội VNCH, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 đã trở thành một vùng cấm địa, được coi như là một vùng đất quân sự đặc biệt, không ai có thể bén mảng đến. Trong khi những người lính thất trận còn sống bị xích xiềng xuống con tàu chở súc vật như thời nô lệ, theo một cuộc lưu đày viễn xứ, thì kẻ chết nằm trong mộ chí bị rào cản khóa chặt, xương cốt người chết không được đem ra, và người sống không ai vào được. Chưa một dân tộc nào đối xử tàn tệ, mất tình người như những người “chiến thắng” đối với người “bại trận” trong cuộc chiến vừa qua, trong một cuộc chiến “giải phóng” được rêu rao rằng Nam-Bắc, không có ai thắng, cũng chẳng có ai thua, mà chỉ có người thua là đế quốc Mỹ.

Làm sao Cộng Sản rừng rú Việt Nam có thể có được tinh thần “hiệp ước của những người hào hiệp (The Gentlemen's Agreement) sau trận nội chiến kéo dài bốn năm của Hoa Kỳ? Trong trận đánh ở Gettysburg vào Tháng Bảy, 1863, sau ba ngày giao tranh, cả hai phe Nam-Bắc thiệt hại 7,000 người, Tổng Thống Abraham Lincoln đã ra lệnh đem tất cả thi hài này an táng chung một nơi, công bố đây là Nghĩa Trang Quốc Gia. Bốn mươi năm sau cuộc chiến, để hàn gắn vết thương chia rẽ của dân tộc, năm 1990, Tổng Thống William Mc Kinley đã cho thu thập khoảng 30,000 nấm mộ của tử sĩ Liên Minh Miền Nam trong trận Nội Chiến rải rác trong vùng Washington, cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section.

Sau chiến tranh Việt Nam, hài cốt của người Mỹ được trân trọng như quốc bảo, nhằm trao đổi, thương lượng qua đường ngoại giao, thậm chí có thể trở thành món hàng qui ra bằng tiền, thì nắm xương của “người anh em” trong nghĩa trang xưa trở thành di tích địch thù cần phái xóa nát. Tử sĩ của miền Nam nằm trong một nghĩa địa hoang tàn, bia mộ xiêu lạc, cỏ leo trên đầu, rễ cây cày qua xương cốt. Những ngôi mộ không bị xiềng xích, không có bờ thành hay tháp canh, đèn rọi như nhà tù, nhưng bị cô lập, như nằm trong trại tập trung.

Nhiều gia đình tử sĩ, sau 30 năm không tìm lại được mộ cha anh, lối đi, địa hình đã thay đổi, không còn mộ bia, không còn dấu vết. Thời gian và con người bất nhân đã phá nát toàn bộ nghĩa trang, nơi mà đáng lẽ ra là biểu tượng phải ghi nhớ của những anh hùng, thành một nơi hoang phế, chôn vùi thân xác của phía những người bại trận.

Những người nghĩ đến việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội đầu tiên là những đứa con của tử sĩ (Quốc Gia Nghĩa Tử) trước thảm cảnh nơi chốn nằm xuống của cha ông, năm 2007, đã bỏ nhiều công sức, khởi đầu cho việc vận động với các dân biểu Hoa Kỳ Ed Royce, Loretta Sanchez... và các cơ quan truyền thông của dòng chính như VOA, RFA để vận động cho việc trùng tu lại nghĩa trang này. Công việc vừa mới ở trong những bước thăm dò, khởi đầu, “phe địch” chưa thấy phản ứng gì mà “phe ta” đã có hẳn một chiến dịch đánh phá bôi nhọ, lực lượng Quốc Gia Nghĩa Tử phân hóa, chia đôi, dư luận cho rằng nhóm này đã “đầu hàng” Việt Cộng, “rút tỉa xương máu của cha ông.” Điện thư, điện thoại và những ý kiến chống đối, áp đặt đầy thô lỗ tràn dầy trên Internet mỗi ngày. Cuối cùng sau những chuyến đi thăm viếng, dò la, và dự án xây dựng lại bờ tường bảo vệ phần đất còn lại của nghĩa trang, dài 2,000m của con em nghĩa tử đành phải bỏ dở vì sự ác độc của dư luận.

Tình thế hôm nay đã thay đổi, tuy khá muộn màng, dù đã phải chịu đựng những khích bác, chê bai, chụp mũ của vài nguồn dư luận hải ngoại, với sự vận động của những người có lòng, có sự liên hệ mật thiết với Bộ Ngoại Giao và chính thức với sự can thiệp của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cơ quan VAF (Vietnamese American Foundation) của những người cựu tù chính trị và những công dân Mỹ gốc Việt đã đi được một đoạn đường dài trong công việc trùng tu với 2,667 mộ đã hoàn tất. Tuy vậy chưa phải là chúng ta đã hết khó khăn.

Thế hệ hậu duệ của VNCH, Đại Tá Tôn Thất Tuấn, tùy viên quân sự Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, người rất quan tâm đến nghĩa trang, đã lên tiếng “... thiết nghĩ cộng đồng mình cần hợp lại công sức nhiều hơn nữa mới có thể làm xong việc trùng tu này.”

Tháng Chạp năm nay có bao nhiêu người Việt lưu xứ vì nạn Cộng Sản “về quê ăn Tết” đem hàng tỷ đô la về nước tiêu xài, chỉ xin ông bà một cuốc xe ôm, ghé thăm lại nơi yên nghỉ của những người lính năm xưa, thắp chung cho 16,000 tử sĩ trong nghĩa trang buồn một nén hương thơm.
Hạ Vi
#2026 Posted : Monday, February 1, 2016 5:51:40 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,342
Points: 16,912
Location: CỏThơm

Thanks: 4137 times
Was thanked: 10016 time(s) in 2482 post(s)






Tuyển Tập Nhạc Xuân Lính Chiến Trước 75









2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/13/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2029 Posted : Sunday, February 7, 2016 3:35:48 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
MỘT GIAO THỪA TRONG ĐỜI

(Hồi ký của Vương Mộng Long K20)



Trại tù Suối Máu – Biên Hòa

Từ cuối năm 1975, hàng ngàn tù nhân Sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ nhiều trại tập trung quanh Sài Gòn đã bị chuyển về nhốt tại trại tù Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hòa.

Vào một đêm giữa tháng 10, 1975, từ Long Giao, tôi bị chuyển tới đây trên một chiếc Molotova bít bùng kín mít. Tôi bị dẫn vào khu K2. Hai tuần sau có lệnh “biên chế,” tôi lại bị chuyển sang khu K3. K3 chỉ chứa Sĩ quan cấp Thiếu tá. Tôi bị giam ở đây từ ngày 1 tháng 11, 1975 cho tới ngày lên tàu Sông Hương ra Bắc (Tháng 7, 1976). Thời gian này, tin tức truyền thanh, truyền hình về tình hình thế giới càng lúc càng xấu đi. Người ta đồn rằng, hình như Cộng Sản Việt Nam đang trên đường tiến chiếm Thái Lan. Thế Giới Tự Do như càng lúc càng xa chúng tôi hơn.

Anh em chúng tôi gặp nhau thường ngày, tụ tập từng nhóm, đánh cờ tướng, tán gẫu, bàn chuyện nhà cửa, gia đình, nước non, thời quá khứ. Trong những lúc tụ tập chuyện trò, chúng tôi nghe bạn bè rỉ tai rằng, chính quyền giải phóng đang nghiên cứu hồ sơ cá nhân của từng người, để xét tha (?).Cũng có tin bi quan, cho rằng chúng tôi sắp bị đưa ra Tòa án Nhân dân để xử tội. Chúng tôi thực sự hoang mang, chẳng biết tương lai mình sẽ đi về đâu.

Tôi ở lán 24 thuộc K3 (Lán là nhà, K là Khối, danh từ VC). Mỗi lán chứa khoảng hơn 40 tù nhân, trong lán 24 đó có vài cựu Sĩ quan Ðà Lạt gồm anh Trần Ngọc Dương (K10), Nguyễn Lành (K16), Hoàng Thế Bình (K18), Tạ Mạnh Huy (K19), khóa 20 có Ngô Văn Niếu và tôi (Vương Mộng Long). Lán tôi cách lán 17 vài thước. Lán 17 có ba anh Biệt Ðộng Quân K20 Võ Bị là Nguyễn Cảnh Nguyên, Trịnh Trân, và Quách Thưởng. Trong cảnh thiếu đói thường xuyên, chúng tôi phải chia nhau từng mớ rau rền, tán đường thẻ, miếng cơm cháy.

Lán 24 lúc nào cũng hôi thối đầy ruồi nhặng, vì nó nằm trên đường đi ra cầu tiêu, mà bệnh kiết lỵ của tù ở đây hầu như bất trị. Anh trưởng lán 24 tên Trần Thành Trai nguyên là Y sĩ Thiếu tá làm việc tại Quân y viện Duy Tân, Ðà Nẵng. Bác Sĩ Trai luôn luôn xác định lập trường của anh là quyết tâm “Học tập tốt” để được tha về với vợ con, vì vậy mỗi lệnh của ban chỉ huy trại đưa xuống, anh luôn luôn tìm cách thi hành đúng đắn.

Thằng Niếu, bạn tôi, được một chân làm bếp, nó ăn uống dưới bếp, nên phần cơm của nó dư, được mang về tiếp tế cho tôi và anh Nguyễn Phong Cảnh (K10/TÐ) người nằm cạnh tôi.

Vào những ngày cuối năm Ất Mẹo, không khí ở đây trở nên rộn rịp vô cùng. Những người liên lạc được với gia đình thì có những gói quà nhỏ gởi vào cho ăn Tết, những kẻ ít may mắn hơn thì đành trông chờ vào những gì ban chỉ huy trại ban cho. Thời gian này, các lán gấp rút tập văn nghệ để trình diễn đêm giao thừa.

Ðể khỏi tập ca hát nhảy múa, tôi tình nguyện làm công tác tạp dịch, quét tước. Trong khi mọi người ca múa, xả rác, tôi đi lượm rác và xách nước về cho bạn cùng lán rửa mặt rửa tay.

Hai ngày trước Tết, lán tôi phải tập họp đi làm cỏ ngoài rào K3.

Trại Suối Máu vốn dĩ là trại tù Phiến Cộng Tam Hiệp của Quân Ðoàn 3. Trại có hai khu, hai hệ thống hàng rào. Lớp rào trong nhốt tù, rồi tới khu canh tù, ngoài cùng là rào mìn phòng thủ. Trại tù Phiến Cộng này có sáu khối. Mỗi khối cách biệt nhau bởi một khoảng đất trống, có rào mìn. Từ khối này muốn liên lạc với khối kia chúng tôi phải hét lên mới nghe tiếng nhau. Ra khỏi hàng rào thứ nhất, tôi chứng kiến vài sự đổi đời.

Cái miếu thờ Thổ Ðịa trở thành cái chuồng nuôi heo. Nhà Thờ và Niệm Phật Ðường của trại tù binh đã thành chuồng gà sản xuất. Sư và Cha, Tuyên úy của trại này, chắc cũng đi tù đâu đây không xa! Ngoài xa, bên kia hàng rào mìn là bãi cỏ trống rồi tới đường Quốc lộ 1.

Trên Quốc lộ, xe Lam chạy xuôi ngược; người người vội vàng buổi chợ cuối năm. Có vài bàn tay giơ lên ngoắc ngoắc về hướng trại tù, đôi người dân có liên hệ, hoặc ai đó còn nhớ tới chúng tôi, những Sĩ quan cấp tá của QLVNCH, những người bảo vệ chế độ đến giờ cuối cùng, và những người chậm chân, chạy không kịp, đang bị nhốt ở đây, trong khu nhà tù do chính tay Công Binh Việt Nam Cộng Hòa xây dựng lên trước đó nhiều năm.

Sáng nay bầu trời mầu xanh, không một gợn mây. Từ hướng phi trường Biên Hòa, bên kia cánh đồng trồng khoai mì, những chiếc F5 thực tập lên, xuống, lượn vòng.

Ðưa tay chỉ những cánh chim sắt đang bay trên trời cao, anh bạn Thiếu Tá Không Quân, Trần Chiêu Quân nói với tôi rằng, sau 30 tháng 4, có một số phi công của Việt Nam Cộng Hòa bị trưng dụng để huấn luyện cho phi công Bắc Việt lái những máy bay chúng ta còn để lại. Những chiếc F5 sáng như bạc đảo lộn trong không gian. Tiếng rít của phi cơ làm cho tâm hồn người cựu chiến binh nao nao.

Làm sao quên được? Lần đầu ra trận (Tháng 2, 1966). Hôm đó, cũng vào một sáng đầu Xuân, đơn vị tôi án binh dưới chân núi Trà Kiệu (Quảng Nam) chờ lệnh xuất phát. Tôi ngồi bên bờ Nam sông Thu Bồn, say sưa nhìn những cánh F-4C, F-5A Hoa Kỳ đan nhau trên vùng trời Bắc. Bên kia sông, vùng trách nhiệm của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập, khói đạn bom cuồn cuộn…

Rồi tới trận Mậu Thân (1968) với những chiếc AD 6 Skyrader dềnh dàng, chậm rãi phóng từng trái Napalm dài như chiếc xuồng màu trắng, lướt trên đỉnh 1632 cuối phi đạo Cam Ly, Ðà Lạt. Khi bom chạm mục tiêu, từ đó, những sợi lửa lân tinh trắng xanh, trông giống như những cái vòi bạch tuộc, vươn cao…

Còn nữa…

Nhớ thời chống giữ Pleime, ngày ngày, tôi nghe quen tiếng L19 lè xè của Võ Ý (K17). Chiếc L19 như cánh diều mảnh khảnh, lững lờ quanh đỉnh Chư Gô, hay trên Ya Drang, thung lũng Tử Thần. Chúng tôi trông chờ đôi lúc trời trong, những phi tuần A-37 theo nhau tuôn bom… chờ những chiếc trực thăng rà sát đọt cây, lướt trên ngọn cột cờ căn cứ. Xạ thủ trên tàu chỉ kịp đạp vội xuống sân trại vài thùng pin, đạn, gạo sấy, con tàu đã lật bụng đảo một vòng, thoát chạy về Đông. Phòng không như lưới, thảy xuống cho nhau được thùng nào, hay thùng nấy! Thảy đồ xong là chạy. Ðồ tiếp tế, có thùng còn nguyên dạng, có thùng vỡ tan, có thùng bay vào bãi mìn. Như thế cũng quý hóa lắm rồi! Cám ơn người anh em Nguyễn Công Cẩn (K21) và phi đoàn 229 Lạc Long.

Rồi đêm xuống, cứ như “Đúng hẹn lại lên,”

“Thái Sơn đây Hỏa Long gọi!”

Chiếc AC-47 của anh Trần Bạch Thanh (K16) đã có mặt trên vùng. Những đóm hỏa châu lập lòe, vừa trải rộng tầm quan sát cho người trấn giữ tiền đồn, vừa làm cho họ cảm thấy ấm lòng.

Ðã mất rồi, ngày xưa ấy!

Giờ này tôi đang đứng nhìn những cánh chim sắt chao lượn trên đầu, người lái không phải là quân bạn.

Tiếng động cơ F5 nghe sao quá xót xa!

* * *

Tôi đang nhổ cỏ thì thấy một đoàn người từ hướng ban Chỉ huy trại hò nhau khiêng một cái cổng gỗ rất to vừa đóng xong.

Tấm bảng nền đỏ chữ vàng “Không Có Gì Quí Hơn Ðộc Lập Tự Do” được nâng niu như trứng trên vai những người tù nhễ nhại mồ hôi. Những người tù đang bị sức nặng của cái cổng đè trĩu trên vai. Họ phải lên gân chân mỗi lúc bước tới trước.

Mới vài tháng trước đây họ còn là những vị Chỉ huy oai phong lẫm liệt. Giờ đây đành cam thân sống cảnh đọa đày, đóng vai những anh thợ mộc bất đắc dĩ không công. Ngày nào họ cũng ra đi rất sớm, chiều tối mới trở về trại. Họ dựng những cái cổng chào. Họ tu sửa, sơn phết những khẩu hiệu trên tường. Họ trồng lại hàng rào trại.

Mọi việc làm này là để chào đón ngày Quốc Hội Việt Nam Thống Nhất ra đời. Những vị Sĩ quan cao cấp này đã khởi đầu nghề thợ mộc của họ bằng những cái bảng “Không Có Gì Quí” ở trại tù Tam-Hiệp.

Tôi có quen vài người trong số những người hằng ngày xuất trại làm mộc, như cựu CHT/BÐQ/ QLVNCH là Ðại Tá Trần Công Liễu (K8 VB) và cựu Tiểu Ðoàn Phó Nhảy Dù là Thiếu Tá Trương Văn Vân (K20 VB). Cả hai vị đó, sau này nơi đất Bắc, đã thành hai ông đội trưởng nổi tiếng. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh!

Chín tháng sau ngày chế độ Cộng Hòa sụp đổ, tôi đang chứng kiến một hoạt cảnh chẳng bao giờ ngờ:

Trên trời, phi công Việt Cộng đang lái F5, trước cổng trại tù, Sĩ quan cấp tá VNCH đang dựng cổng chào, quanh rào trại tù, Sĩ quan cấp tá VNCH đang làm cỏ. Nơi nơi, người người, chuẩn bị đón Xuân. Mỗi người mang một tâm sự riêng…

Tới trưa, khi nghe tiếng kẻng phát cơm của nhà bếp, chúng tôi được dẫn trở lại trong vòng rào trại K3. Khi đi ngang qua sân bóng chuyền, tôi thấy người ta đang cá độ nhau trận đấu tay đôi đang diễn, một bên là Thiếu Tá Trần Ðạo Hàm, Thủ khoa K17/VB, bên kia là một tay Thiếu Tá Không Quân. Anh Lê Hữu Khái (K15) và thằng bạn tôi, thằng Nguyễn Bích (K20) đang nhảy tưng tưng cổ vũ cho anh Hàm. Cái miệng thằng Bích lớn lắm, nó la hét vỗ tay, bình luận ào ào. Anh Hàm thật là may mắn, có cái loa phóng thanh cỡ bự Nguyễn Bích cổ vũ nên anh có vẻ như đang dẫn điểm.

Tôi thấy nhiều người đã để ghế “xí” chỗ tốt cho buổi TV văn nghệ tối; ngày nào cũng thế, cứ đến trưa là bà con đem ghế ra đặt sẵn trên sân bóng để “xí” chỗ xem phim TV của đài Sài Gòn Giải Phóng. Ai chậm chân thì không còn chỗ tốt. Thời gian này TV Sài Gòn Giải Phóng liên tiếp chiếu bộ phim nhiều tập “Trên Từng Cây Số” và “Ðại úy Ðen” của Ba Lan.

Trong các lán, có nhiều bạn tụ tập bóc lột nhau bằng những con bài. Xì phé, sập xám và mạt chược là những môn chơi phổ thông khắp nơi trong trại. Tôi đã chứng kiến nhiều anh thua bạc phải bán cả những quà cáp từ gia đình gởi vào, như kem đánh răng, thuốc lào, thuốc tây để trừ nợ.

Sau Tết ít lâu, tôi nghe một câu chuyện đau lòng ở K3 năm ấy: có một vị Thiếu tá Quận trưởng khi cắt bánh thuốc lào làm đôi để chi cho chủ nợ một nửa, thì phát hiện ra một bức thư “chui” của người nhà giấu trong ruột bánh thuốc lào. Bức thư vắn tắt đôi lời làm đau lòng người đọc,

“Chị ấy đã gởi hai đứa con của anh cho bà nội của chúng nuôi. Chị đã đi lấy chồng rồi! Anh đừng buồn, ráng học tập lao động cho tiến bộ để sớm được thả về mà nuôi dạy con anh.”

Cái tin bất ngờ sét đánh ấy đã làm cho ông Quận sững sờ, buông rơi những con bài cơ, rô, chuồn, bích. Từ đấy, tôi thấy ông suốt ngày thẫn thờ bên rào, nhìn về phía xa xôi. Ðôi lúc tỉnh táo, ông ôm cây đàn Guitar Solo những bài nhạc xưa, buồn đứt ruột.

Tôi bồi hồi nhớ lại lời tổng thống nói ngày nào:

– “Ðất nước còn, còn tất cả. Ðất nước mất, mất tất cả!”

Ôi! Lời Tổng thống nói thật là hữu lý!

Tổng thống ơi! Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giữ nước, nhưng chúng tôi đã không thể giữ nổi.

Chúng tôi lấy làm xấu hổ vô cùng.

Sao Tổng thống không ở lại giữ nước với chúng tôi?

Lúc này chúng tôi đã mất tất cả rồi Tổng thống ơi!

Về tới lán tôi nhận được một vỉ thuốc ho, một nắm xôi đậu xanh, và mười cục đường tán do anh bạn BÐQ Bắc Hải (Phan Văn Hải) ở lán 22 gởi cho. Tôi, Phan Văn Hải, cùng Phan Ðộ (K20), Huỳnh Bá An (K20), Trần Hữu Bảo (K20), xuất thân từ trường Nam Tiểu Học Ðà Nẵng. Chúng tôi là học trò của cô giáo Phạm Thị Tịnh Hoài, lớp Nhất C.

Hải là Sĩ quan khóa Đặc biệt Thủ Ðức, anh về phục vụ cùng đơn vị BÐQ của tôi ở Pleiku. Những ngày cuối của cuộc chiến, Thiếu Tá Phan Văn Hải giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng TÐ89/BÐQ. Khi đi tù, bạn tôi không có ai thư từ, tiếp tế, nhưng hắn bài bạc rất giỏi, nên lúc nào cũng sung túc.

Chiều hôm đó, anh lán phó hậu cần, Hải Quân Thiếu Tá Bùi Tiết Quý thâu tiền của trại viên trong lán, gởi cán bộ trại mua giùm mì gói, tương, chao, xì dầu và đường tán để ăn bồi bổ thêm trong ba ngày Tết. Tối đến, sau khi đã chia hết phần đường cho người mua, anh Quý cạo được một chén đường chảy dính trong thùng giấy và bao giấy gói đường. Anh ung dung ngồi thưởng thức nồi chè đặc biệt, nấu bằng đường mót được với hột su su và mấy hạt bắp non anh trồng được bên rào. Làm đội phó hậu cần cũng có chút bổng lộc!

Sáng ba mươi Tết, lại gặp ngày tổ tôi trực lán, tôi và một số bạn bị chỉ định xuống làm việc tăng cường cho lán 9 nhà bếp. Tôi phụ việc vo gạo cho thằng Niếu và anh Cung. Những tạ gạo đựng trong bao viền chỉ xanh rất cũ được chuyển về từ bưng biền. Gạo thì mốc vàng, mốc xanh. Những tổ sâu gạo to như nắm tay.

Khi tôi tách những cái tổ sâu ra từng phần nhỏ thì những con sâu gạo trắng ngần có khoang, béo núc, to gần bằng đầu đũa và dài cả phân, ngo ngoe, ngo ngoe…Anh Cung không cho phép tôi vứt bỏ những cái tổ sâu ấy, anh nói rằng nếu vứt bỏ sâu đi thì hết gạo.

“Nếu vứt sâu đi thì còn cái gì mà ăn? Cứ nấu tưới đi! Sâu cũng bổ béo, cũng nhiều ‘Prồ-tê-in’, sâu gạo chứ có phải là dòi ở ngoài chuồng xí đâu mà ngán!”

Khi chảo cơm bắt đầu sôi thì nhiều khách khất thực nước cơm đã cầm ca đứng đợi. Anh Cung cho vài người, mà cũng từ chối đôi người. Người có phần, thì riu ríu cám ơn, người không có phần tiu nghỉu ra về, miệng lầm bầm, “đ.m, đ.m…”

Những trại viên nhà bếp gọi đám người chờ xin nước cơm là “Đội quân cầm ca.” Chữ “cầm ca” ở đây không có nghĩa là ca sĩ, ca hát, hay ca kỹ mà có nghĩa đen chỉ sự cầm cái ca U.S dùng để đựng nước uống, cái ca nằm dưới cái bi-đông bộ binh ấy mà! Dân cầm ca phải đứng xếp hàng cả giờ đồng hồ trước cửa lò cơm để chờ xin một ly nước cơm. Chuyện xếp hàng trước, xếp hàng sau, đôi lúc cũng gây ra ẩu đả. Nước cơm có Vitamin B1 chữa được bệnh phù thũng (?).

Sau này, khi ở trại tù Phú Sơn 4, Thái Nguyên, tôi có đọc một tài liệu nói về cái chất độc của nấm cúc vàng từ gạo mục, gạo mốc. Nấm cúc vàng có chứa một loại chất độc nguyên nhân gây ung thư gan. Nước cơm lại là phần đậm đặc nhất của chất độc nấm cúc vàng từ gạo mốc. Không biết có bao nhiêu nạn nhân của bệnh xơ gan sau này có mặt trong đội quân “cầm ca” ngày ấy?

Chiều ba mươi Tết, bữa ăn có thịt heo kho. Thằng Niếu đem thêm về cả phần lòng heo bồi dưỡng nhà bếp của nó.

Thời buổi khó khăn, thuốc lá bắt đầu khan, những tay nghiền miền Nam bắt đầu nói chuyện thuốc lào.

Những danh từ “điếu cày,” “điếu bát,” “Cái Sắn,” “Hố Nai,” “Vĩnh Phúc,” “Tiên Lãng” nghe mãi cũng quen tai.

Anh Hoàng kim Thanh, Liên Ðoàn Trưởng LÐ24/ BÐQ của tôi, từ bên K4 nhờ ai đó chuyển cho tôi được một bao 555 và một lạng cà phê.

Trong khi thằng Niếu và anh Cảnh lo bếp núc cúng Tất Niên thì tôi đi vòng vòng tán dóc với Lưu Văn Ngọc (K20), cựu Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn 2.

* * *

Tối ba mươi Tết ở K3 Suối Máu không khí thật là rộn rã tưng bừng. Mọi lán đều đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình văn nghệ chào đón Chúa Xuân. Sân khấu văn nghệ được thiết lập giữa sân tập họp. Ðèn điện sáng choang. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam che kín cả sân khấu.

Trước giờ văn nghệ, loa phóng thanh truyền đi những bản nhạc từ đài Sài Gòn Giải Phóng mà Tô lan Phương là giọng ca chính. Những nghệ sĩ tù cũng ăn mặc tươm tất để sẵn sàng trình diễn giúp vui. Ðàn ghi ta, trống, sáo đều làm bằng vật liệu lấy từ kho của nhà bếp như tôle, củi, ván gỗ…các nghệ nhân tự đẽo gọt, cắt xén, dán, ghép thành các nhạc cụ.

Tám giờ tối, buổi “Liên hoan Văn nghệ” đêm ba mươi Tết bắt đầu.

Mở màn chương trình là bài đồng ca “Như Có Bác” tôi không nhớ do lán nào trình diễn.

Kế tiếp, người Thiếu Tá Không Quân Hoàng Ðình Ngoạn (K17 VB) lên đài trong tiếng hoan hô vỗ tay của “đồng bọn” tù Võ Bị. Anh vừa hát được nửa bài tình ca, nhạc vàng “Mùa Xuân Trên Ðỉnh Bình Yên” thì bị “Cán bộ” chặn lại, đuổi xuống đài. Lý do, “Nhạc Ngụy ủy mị!” Sau đó, chỉ những bài hát “giải phóng” được phép trình diễn.

Tiếng sáo trúc Tô Kiều Ngân lâm ly bài “Mùa Xuân Trên Thành Phố HCM” hòa ca cùng tiếng sáo miệng của Nguyễn Tuyên Thùy. Tôi nghe vọng lại từ các khu khác, đại để, bạn tù cũng chỉ hát những bài ca eo éo, nghe rợn tóc gáy, như “Cô Gái Vót Chông,” “Tiếng Ðàn Ta Lư,” “Năm Anh Em Trên Chiếc Xe Tăng” vân vân… Khắp sáu K sáng rực ánh đèn, vang rền tiếng nhạc…

Năm mới đang từ từ tiến về…

Ðến khi màn trình diễn của lán 24 vừa được giới thiệu, thì tôi bỏ chạy về lán. Tôi ngồi một mình trong cái nhà tôle vắng tanh. Nỗi đau đớn nhói tim tôi!

Ngoài kia, bạn cùng lán của tôi, không tự nguyện, đang phải đóng vai “dân quân chống Tầu, chống Tây, chống Mỹ, chống Ngụy” trong một vở trường kịch. Khi họ tập bài bản trong lán, tôi biết họ cũng đau lòng lắm.

Bạn Võ Bị của tôi, Tạ Mạnh Huy vì là Tây lai phải đóng giả làm Tây cho người ta trói. Thằng Niếu phải đóng vai BÐQ “Ngụy” giơ tay đầu hàng để anh Dương Bắc Kỳ đóng vai ông bô lão nông dân Việt Nam “đả đảo”. Mỗi lần tập xong, các bạn tôi đều buồn, họ đề nghị anh lán trưởng Trần Thành Trai cho tập một kịch bản lịch sử “Vua Quang Trung diệt quân Thanh” nhưng anh lán trưởng không đồng ý.

Anh Trai nói, “ban chỉ huy trại đã ra lệnh” cho anh phải thực hiện cho được trường kịch này để mừng Giao Thừa, vì nó có tính cách “Lô gích lịch sử”(?). Và đêm ấy, anh Đội trưởng Trần thành Trai đã thực hiện thành công xuất sắc vở trường kịch “Việt Nam 4000 năm anh hùng.”

Ngay sau khi bế mạc buổi văn nghệ mừng xuân Bính Thìn, mùa xuân đầu tiên của nước “Việt Nam Thống Nhất” (Mùa xuân đầu tiên quân và dân Miền Nam mất nước) anh đội trưởng Trần Thành Trai đã được “ban Chỉ huy trại tuyên dương công lao” trước trại.

Khi trên sân khấu người diễn kịch bắt đầu hát bài “Tiến Quân Ca” thì tôi bật khóc. Một mình, ngồi trong đêm tối, tôi nức nở khóc vùi. Tôi chưa bao giờ thấy cái khóc lại có hiệu lực chữa đau đớn hiệu nghiệm như đêm ấy! Chợt tôi nghe tiếng chân ai ngoài cửa lán. Rối tiếng lên đạn súng AK…

Thình lình, tia đèn pin chiếu ngay mặt tôi, làm mắt tôi chói lóa.

– “Anh kia! làm gì ngồi khóc đấy? Sao không đi “rự nễ” mừng Xuân?”

Tên bộ đội đi tuần tra lớn tiếng hỏi.

Tôi lấy tay che mắt, nhưng không nhìn thấy gì. Tôi lặng thinh. Tiếng quát lại tiếp:

– “Anh có mồm không thì bảo? Câm à? Sao không giả nhời tôi?”

Tôi vẫn ngồi im. Ánh đèn đảo một vòng quanh vách lán rồi tắt. Căn phòng tối om. Tôi nghe tiếng chửi:

“Ðịt mẹ thằng câm! Mới xa nhà có mấy tháng mà đã nhớ nhà phải khóc. Ông đây xa nhà hai ‘lăm’ rồi mà ông có khóc đâu! Ðồ không biết xấu hổ!”

Tôi vẫn lặng thinh.

“Rầm!”

“Chảng!”

Tên bộ đội giận dữ, đóng sập cửa lán. Nó còn bồi thêm một cái đá cật lực vào vách tôle. Vài giây sau, tôi nghe tiếng dép râu bước đi xa dần về hướng sân. Tôi nhìn đồng hồ tay (Khi đó chưa có lệnh thu giữ tư trang của tù) lúc ấy hai cái kim lân tinh chập nhau trên số 12: Giao Thừa!

Ngoài sân tiếng ca hát còn đang tiếp tục. Tôi mồi một điếu thuốc 555. Trong trí óc tôi, hình ảnh những Giao Thừa đã qua trong đời hiện về, mờ nhạt như từ thế giới nào rất xa…

Ngày xưa, mỗi độ Giao Thừa, cho dù lúc đó tôi đang đi hành quân với một toán Biên Vụ (Viễn Thám) quân số chỉ có năm người, lần mò trên những nhánh của hệ thống “đường mòn Hồ chí Minh” trên đất Lào, hoặc len lỏi trong rừng tre gai Plei-Trap Valley, hay lúc tôi đang chỉ huy cả năm, sáu trăm quân trấn giữ Pleime, hoặc ải địa đầu Bu-Prang miền biên giới Việt Miên, tôi không lần nào quên nghe chương trình Giao Thừa của Ðài Phát Thanh Quân Ðội.

Giao Thừa Xuân Bính Thìn là Giao Thừa đầu tiên trong đời, tôi không tìm thấy lá cờ nước tôi, không nghe được câu hát: “Này công dân ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi…”

Bài quốc ca này đã đi vào lịch sử.

Một thế hệ đã hát nó với cả bầu máu nóng trong tim. Bao nhiêu người thân của tôi, bao nhiêu bạn bè của tôi đã cống hiến tuổi trẻ và cả thân xác mình cho bài ca đó.

Một thế hệ đã lớn lên thành người với bài ca đó.

Một thế hệ sẽ mang theo nó xuống tuyền đài…

Chợt tiếng anh lán trưởng Trần Thành Trai vọng lại trên loa phóng thanh,

“Ðổi đời đã tới! Cách mạng đã thành công!”

Tiếng hô lặp lại hai chữ “Thành công!” của trại viên vang dội đêm Trừ Tịch. Tôi cảm thấy tiếng hoan hô đã làm rung những tấm tôle trên mái.

Trời đêm Trừ Tịch tối đen.

Tôi không biết những vạt đen ẩn hiện sau hè, là bóng những bụi rau rền, giàn mùng tơi hay những hồn ma đói cuối năm chập chờn.

Ngoài xa vẳng lại, từ bên K4, ai đó bắt đầu hát bài “Lá Ðỏ”…

* * *

Vài năm sau, tôi nghe tin, cựu Y sĩ Thiếu tá quân y viện Duy Tân, Ðà Nẵng, Trần Thành Trai đã được tha khỏi trại cải tạo. Bác Sĩ Trai đã cùng Bác Sĩ Trần đông A, cựu Y sĩ Thiếu tá Nhảy Dù, nổi tiếng sau những ca mổ tách rời trẻ song sinh ở Sài Gòn. Tôi cũng đã nghe tin, giờ này, Bác Sĩ Trai đang là một “Dân biểu” của “Quốc Hội nước CHXHCNVN”.

Nhân ngày đầu Xuân Ất Dậu (2005), tôi nhớ lại chuyện xưa, ba mươi năm trước. Nhớ những bạn Võ Bị, cựu tù lán 24 K3 Tam Hiệp. Trong số những người bạn đó, thì hai người đã qua đời, là Hoàng Thế Bình và Ngô Văn Niếu. Còn những bạn khác như Dương, Lành, và Huy thì đang ở Mỹ, không rõ họ có còn nhớ chuyện ngày xưa hay không? Riêng tôi, cái đêm Giao Thừa ba mươi năm trước ấy đã trở thành không thể nào quên, vì đó là lần đầu trong đời, tôi đón năm mới với thân phận một người tù mất nước…!!!

(Seattle, Lập Xuân)
Vương Mộng Long (K20)
2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 2/13/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2030 Posted : Saturday, February 13, 2016 12:33:24 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Phía sau ánh pháo hoa

Tuấn Khanh's blog




Mấy người bạn làm việc ở thành phố, nói với tôi rằng năm nay họ muốn về quê sớm hơn thường lệ. Chỉ mới qua tuần đầu của tháng Chạp, đã thấy họ khăn gói lên đường. Hỏi ra mới biết, năm nay tiền thưởng Tết đâu có bao nhiêu, lo sợ vé xe tăng giá, ở lại thì vừa buồn, vừa thiếu cái ăn nên ai nấy lục đục về sớm. Túi tiền eo hẹp của người nghèo là kim chỉ nam tuyệt đối cho mọi thứ. Tết có thiếu thốn chút đỉnh thì ở quê nhà vẫn hơn.

Nhiều năm rồi, chưa có thấy có cái Tết nào mà niềm vui trọn vẹn. Có năm người về quê chết ngộp trên xe, rồi có người bị xô xuống đường vì không đủ tiền, có người kẹt ở lại, ra đường bán hàng vặt vãnh cho qua một cái Tết… Tết Việt giờ sao luôn làm lòng người phân vân: Tiền không đủ cho gia đình, món ăn thì lo sợ độc hại, đó là chưa nói năm nào hết Tết, số thống kê người chết vì tai nạn nhiều như một cuộc chiến tranh không tuyên bố.

Cô bạn người người Bắc ngồi nhìn những ánh nắng cuối năm của miền Nam, nói rằng cô thấy nhớ nhà ghê quá. Nhưng mỗi lần về thì lòng cô lại ngổn ngang. Cuộc sống giờ rực rỡ hơn nhiều lắm, rực rỡ như một sân khấu nhưng khi hạ màn xuống thì cũng lắm quạnh hiu. Nắng vàng se se, long lanh của miền Nam cuối năm, làm cô nhớ biết bao những phông lạnh mù sương gắn những đốm hoa đào cô đơn, như những phận người lung lay trước gió.

Tết năm nay cũng vậy. Bên cạnh những bản báo cáo thành tích tự hào của nhiều thành phố, nhiều tỉnh… Thì các con số đói nghèo cũng tăng lên. Báo Tiền phong cho biết, Tổng cục Thống kê báo cáo rằng đúng mùa Tết này, Việt Nam có 5,3 ngàn hộ thiếu đói (tăng 15,2% so với tháng trước). Bản báo cáo này cho biết như vậy là có khoảng 21,4 ngàn người thiếu ăn.

Bất chấp các con số báo cáo thành đạt, luôn tăng trưởng và lợi nhuận hàng năm, so với cùng kỳ năm ngoái, số hộ thiếu đói tăng hơn 55% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 46%. Đó là một bức tranh hiện thực mà Tổng cục Thống kê Việt Nam đã thông báo, công chính một cách đáng khen, dù có thể chưa dàn trải đủ.

Vậy là có một sự thật cần nói rõ: hôm nay, trên đất nước này, chúng ta còn rất nhiều người nghèo, còn rất nhiều cuộc đời cần được chia sẻ.

Trên các tờ báo, đầy thông tin về các tỉnh hối hả xin gạo cứu trợ, xin nợ lại tiền nộp ngân sách… nhưng lại thúc giục doanh nghiệp, từng gia đình… đóng góp để lấy tiền bắn pháo hoa đón xuân. Có tỉnh thì lập kế hoạch bắn pháo hoa lên đến tiền tỉ, có tỉnh thì vài trăm triệu đồng. Các quan chức luôn biện hộ rằng Tết đến, nếu không có pháo hoa thì thương dân chúng thiếu niềm vui. Thậm chí, loại tuyên bố này cũng có không ít người bám theo ủng hộ, với lập luận rằng dù nghèo, người đang đói cũng có quyền được hưởng thụ pháo hoa.

Thật ngạc nhiên với khả năng lãnh đạo và tư duy nghèo nàn của các quan chức, khi cho rằng pháo hoa là niềm vui cốt lõi của các vùng nghèo đói và khó khăn. Hầu như tỉnh nào cũng rập khuôn làm theo một mô hình, mà tin rằng vài phút hư ảo trên bầu trời đó, sẽ xoa dịu được phiền muộn của những người nghèo, cũng như làm giảm nhẹ đi sự quan tâm của dân chúng về việc yếu kém trong việc cầm quyền ở địa phương, khiến phải xin cứu giúp lương thực và nài nỉ, bòn rút tiền pháo hoa từ các doanh nghiệp địa phương.

Có thể các nhà lãnh đạo của từng địa phương ấy quên rằng, trong cái đói, cái rét của nhiều nơi đón mùa xuân này, nụ cười nhìn theo tiền của pháo hoa bay lên trời, có thể là những nụ cười chua chát.

Cũng có không ít lời nguỵ biện rằng không được tước đi quyền hưởng thụ của người nghèo: Họ đói nhưng họ cũng có nhu cầu xem bắn pháo hoa. Tôi đã từng chứng kiến những đứa trẻ không đủ áo mặc, đứng trên những núi rác tăm tối ở ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh và nhìn về ánh đèn màu rực sáng ở trung tâm, ban đêm. Giữa cái quyền được hưởng thụ sự hoa lệ xa xôi đó, chắc chắn những đứa trẻ nghèo vẫn chuộng hơn được một bữa ăn tử tế, được mặc quần áo đầy đủ và đi trên con đường đến tương lai hơn là sự ban phát ngắn ngủi và vô nghĩa.

Tôi đã chứng kiến những người bạn của mình, đến từ những vùng miền khác nhau, răng không thể nào trắng nổi vì lúc bé được cho uống trụ sinh mỗi khi bệnh. Trên vai họ không có những vết trồng trái chủng ngừa như những đứa trẻ thành phố chúng tôi. Những người bạn răng vàng ấy cũng đã từng nhìn thấy pháo hoa nhiều lần trong đời mình, nhưng cũng ao ước rằng phải chi trong đời mình từng được chủng ngừa như chúng tôi. Những ánh sáng pháo hoa mong manh ấy nếu được đổi bằng các liều thuốc cho lũ trẻ hôm qua và hôm nay thì đã có ích biết dường nào?

Quả đúng, là người nghèo, người đói cũng cần được hưởng thụ pháo hoa. Nhưng ít ra cũng không nằm trong một bối cảnh éo le như vậy. Và cũng đừng nguỵ trang cho một năm điều hành xã hội thất bại của các chính quyền địa phương bằng dăm phút pháo hoa. Người nghèo chắc chắn sẽ vui khi nhìn thấy pháo hoa, nhưng đó là một cuộc vui theo ý lãnh đạo, không có quyền lựa chọn thì đó chỉ là gán đặt.

Những người bạn công nhân của tôi vội vã về quê, chắc họ cũng không chờ đón pháo hoa lộng lẫy nơi thành phố. Mà họ chỉ muốn trong vòng tay gia đình, mà dĩ nhiên trong giấc mơ đời của họ, là một gia đình không còn đói nghèo, chứ không phải có đủ pháo hoa.

Cô bạn người Bắc của tôi nhớ hoa đào, nhớ bữa cơm với mẹ. Chắc cô ấy không mong pháo hoa bằng một bữa cơm giao thừa đầm ấm và no đủ cho gia đình mình. Đánh đổi điều ấy bằng pháo hoa – chắc là cô bạn ấy sẽ nói “không”.

Và cũng có khi, niềm vui cho người nghèo đó – như các quan chức vẫn tuyên bố, không hẳn là xác quyết từ một cuộc thăm dò chính thức nào đó, mà chỉ là lời biện minh cho những kẻ muốn được hưởng thụ, nhưng lại thích gán sự thèm khát của mình cho người khác.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 2/21/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2031 Posted : Sunday, February 21, 2016 4:13:00 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Tại sao sinh viên du học không về nước?



Nguyễn Hưng Quốc


Mấy tuần nay, trên báo chí trong nước cũng như trong các diễn đàn mạng, người ta bàn tán sôi nổi về hiện tượng hầu hết những học sinh xuất sắc nhất của Việt Nam, sau khi du học ở nước ngoài, đều không về nước. Theo thống kê, hiện nay có trên 100,000 du học sinh rải rác ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Tôi không biết chính xác là bao nhiêu người trong họ quyết định ở lại nước ngoài. Chỉ nghe nói là rất nhiều. Ví dụ thường được nêu lên là trong số 13 học sinh thắng giải “Ðường lên đỉnh Olympia” và được đi du học, chỉ có một em, một em duy nhất, chịu về nước. Theo kinh nghiệm của tôi, từ các môn tôi dạy vốn có khá đông sinh viên du học ghi danh, số người nghĩ đến việc về nước sau khi tốt nghiệp chỉ là một phần nhỏ, may lắm là một phần ba. Còn lại, tất cả đều hoặc phân vân hoặc quyết định là sẽ tìm cách ở lại Úc.

Vấn đề là: tại sao nhiều sinh viên không muốn về Việt Nam sau khi tốt nghiệp?

Lý do đầu tiên các sinh viên của tôi nêu lên là họ không tự tin là sẽ tìm ra được việc làm, nhất là những công việc thích hợp với chuyên môn của họ. Thú thật, thoạt nghe lý do này, tôi hết sức băn khoăn. Tôi nghĩ Việt Nam đang phát triển và đang cần nhân tài, những người được đào tạo từ nước ngoài, do đó, trên lý thuyết, sẽ dễ dàng được trọng dụng. Nhưng không phải. Tôi có một số sinh viên và người quen, sau khi học xong Cử nhân hoặc có khi Thạc sĩ ở Úc, trong đó có nhiều người học về Y hoặc Luật, sau khi về Việt Nam, chạy đôn chạy đáo để tìm việc cả năm trời vẫn không được; sau, phải tìm cách quay lại và xin định cư tại Úc. Nguyên nhân, người ta kể, là không có “quan hệ”. Ở Việt Nam, không có “quan hệ” hoặc “tiền tệ” để đút lót, việc kiếm được việc làm tốt coi như vô vọng. Ngược lại, tôi cũng biết khá nhiều người, thuộc “con cháu các cụ” (CCCC), học hành không giỏi giang gì cả, sau khi về nước một thời gian ngắn, được bổ dụng làm giám đốc công ty này công ty nọ. Bởi vậy, ở Việt Nam mới có câu tục ngữ:

Thứ nhất hậu duệ

Thứ nhì quan hệ

Thứ ba tiền tệ

Thứ tư trí tuệ

Trong câu ấy, “trí tuệ”, tức khả năng chuyên môn, nằm ở cuối cùng. Thậm chí, ở một biến thể của câu tục ngữ trên, nó còn không có mặt:

Thứ nhất tiền tệ

Thứ nhì hậu duệ

Thứ ba ngoại lệ

Thứ tư đồ đệ

Lý do thứ hai là lương bổng ở Việt Nam quá thấp. Nhiều người có bằng cử nhân, khi về nước làm việc, lương mỗi tháng chỉ khoảng vài triệu đồng Việt Nam, tương đương với vài trăm dollar; trong khi đó, nếu họ tìm được việc làm ở Úc, lương khởi đầu trung bình là 4,5 chục ngàn dollar. Ðành là ở Úc, cũng như các quốc gia Tây phương khác, thuế cao và vật giá đắt đỏ hơn ở Việt Nam, nhưng ngay cả sau khi trừ thuế và các khoản chi tiêu, số tiền còn lại cũng nhiều hơn hẳn lương hướng ở Việt Nam. Ở đây, chúng ta cần ghi nhận một điều: ở Việt Nam, phần lương thường khá khiêm tốn nhưng phần bổng lại nhiều, có khi gấp chục, thậm chí, gấp trăm lần lương thật, tuy nhiên, muốn có bổng lộc cao, người ta phải có chức tước lớn. Mà muốn có chức tước lớn, điều kiện đầu tiên lại là “hậu duệ” hay “quan hệ”. Với những người thân cô thế cô, thu nhập duy nhất chỉ có thể đến từ lương. Mà lương lại èo uột. Trong số bạn bè của tôi ở Việt Nam, khá nhiều người dạy đại học. Lương trung bình của một giảng viên đại học là khoảng 6 triệu đồng (khoảng 300-400 Mỹ kim). Muốn tăng thu nhập, cách duy nhất họ có thể làm được là dạy thật nhiều giờ ở nhiều trường khác nhau. Có người dạy cả 3,4 chục giờ một tuần. Thú thật, nghe số giờ dạy như vậy, tôi không thể tưởng tượng được. Tại Úc, ở bậc đại học, số giờ dạy trung bình mỗi tuần của các giảng viên chỉ khoảng trên dưới 10 tiếng. Thì giờ còn lại là để nghiên cứu. Với số giờ dạy như ở Việt Nam, công việc nghiên cứu hoàn toàn bất khả thi. Kiến thức của các thầy cô giáo, do đó, cứ ngày một lạc hậu và mòn mỏi dần.

Lý do thứ ba là cơ chế và văn hoá làm việc ở Việt Nam hoàn toàn không phù hợp với những người được đào tạo ở nước ngoài. Ở nước ngoài, đi làm, mọi người được khuyến khích phát huy sáng kiến cũng như tinh thần độc lập và việc thăng tiến trong nghề nghiệp được căn cứ chủ yếu trên khả năng của mỗi người. Ở Việt Nam thì sự thành công tùy thuộc vào quan hệ hơn là chuyên môn. Trong cái gọi là “quan hệ” ấy, ngoài chuyện con ông cháu cha, còn một yếu tố quan trọng khác: làm sao vừa lòng cấp trên. Ðể làm vừa lòng cấp trên, người ta thường có hai cách: đút lót hoặc nịnh bợ. Cách nào cũng là một sự sỉ nhục đối với lòng tự trọng.

Không phải chỉ với những sinh viên mới tốt nghiệp, ngay cả những chuyên gia có bằng cấp cao và chức vụ lớn ở hải ngoại, vì nhiệt tình, muốn về Việt Nam để đóng góp vào việc xây dựng đất nước cũng gặp khó khăn với cơ chế và văn hoá làm việc ở Việt Nam. Một trong những lời than thở tôi nghe nhiều nhất là: Các cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam rất ít khi lắng nghe ý kiến của họ. Hầu như người ta không thể chịu nổi sự phê phán. Nghe phê phán, dù xuất phát từ nhiệt tình và thiện chí, người ta sa sầm nét mặt ngay tức khắc. Thành ra, những người muốn đóng góp cho đất nước rất dễ vỡ mộng. Phần lớn chỉ làm được một thời gian rồi cũng quay ra hải ngoại trở lại. Ðiều đó giải thích tại sao mặc dù giới lãnh đạo Việt Nam thường kêu gọi các chuyên gia ở hải ngoại về nước nhưng cho đến nay, số người trở về rất ít ỏi. Số người chịu làm việc lâu dài lại càng ít ỏi. Chuyên gia còn thế, huống gì là sinh viên mới ra trường.

Việc du học sinh, học xong, không về nước không phải là vấn đề liên quan đến cá nhân của họ. Mà nó liên quan đến cả tiền đồ của đất nước. Ai cũng biết, trong thời đại ngày nay, để phát triển, đất nước cần nhiều thứ, trong đó, có một thứ quan trọng nhất là vốn trí thức. Ðã đành không phải ai tốt nghiệp ở nước ngoài cũng đều là những người giỏi nhưng ngay cả những người không giỏi cũng là những người được đào tạo bài bản, với những kiến thức được cập nhật và có căn bản ngoại ngữ tốt. Mất họ là một thiệt thòi lớn của đất nước.
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
101 Pages«<979899100101>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.