Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<9596979899>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#1921 Posted : Tuesday, May 5, 2015 8:32:18 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Từ Thuận Hóa Đến Huế



Phải chăng sự hình thành của Huế là do tiền định và chính duyên tình này đã khiến Huế phải chứng kiến cảnh can qua của vận nước nổi trôi của dân tộc và để rồi trở thành Đế đô của nhà Nguyễn cũng là triều đại cuối cùng chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến kéo đã kéo dài hơn ngàn năm của Việt Nam.

Khởi đi từ năm Tân Sửu (1301), Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông sang du lịch Chiêm Thành gặp vua Chiêm là Chế Mân, và dịp này ngài đã hứa gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân. Không lâu sau đó, Chế Mân cho sứ mang vàng bạc và các quý vật sang cống cùng xin cưới nhưng đa số người trong triều không ai đồng ý cho cuộc hôn nhân Việt-Chiêm này. Vì thế Chế Mân phải xin dâng hai châu Ô và châu Lý (hay Rý) để làm lễ cưới do đó vua Trần Anh Tông mới chấp thuận gả em gái mình là Huyền Trân cho vua chiêm.

Năm Bính Ngọ (1306) Huyền Trân công chúa theo chồng về Chiêm thì năm Đinh Mùi (1037), vua Trần Anh Tông sáp nhập hai châu Ô và châu Lý vào đất Đại Việt dưới hai tên mới là Thuận Châu và Hóa Châu để rồi sau này trở thành Thuận Hóa.

Thuận Hóa dưới triều Trần thường bị quân Chiêm sang quấy nhiễu nên chỉ là vùng đất rộng, người thưa và Thuận Hóa chỉ trở nên quan trọng khi có sự thiên di của chúa Nguyễn Hoàng.

Thái úy Đoan Quốc Công Nguyễn Hòang là con thứ của tướng Nguyễn Kim. Tướng Nguyễn Kim là người đã chiêu binh mãi mã khởi nghĩa để phù Lê diệt Mạc, chiếm được Thanh Hóa, Nghệ An rồi đem quân ra đánh Sơn Nam bị hàng tướng Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết nhưng lúc đó hai con ông Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng còn nhỏ vì vậy quyền bính rơi vào tay con rễ Trịnh Kiểm.

Để tránh bị mưu hại như anh mình, Lang Quận Công Nguyễn Uông Nguyễn Hoàng sau khi vấn kế và được cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ hòn giả sơn với đàn kiến đang bò lên ngọn núi và nói: Hoành Sơn nhất đái, Vạn đại dung thân.

Do nhân việc quân Chiêm thường hay quấy rối Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã nhờ chị là bà Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Trịnh Kiểm chấp thuận nên cuối năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng mang theo một số bà con, họ hàng và binh sĩ vốn quê ở Thanh-Nghệ vào lập nghiệp tại đất Thuận Hóa.

Vì luôn nuôi mộng nắm lại quyền bính lý ra thuộc dòng họ mình nhưng đang trong tay họ Trịnh nên khi vừa đến Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng khởi công khai hoang, lập ấp. Chẳng bao lâu Thuận Hóa trở thành vùng đất trù phú, dân cư đông đúc và thường được nhiều người nhắc nhở và biết đến. Chính cự nhắc nhở này đã biến từ “Thuận Hóa” qua thời gian đã trở thành từ “Thành Hóa” và rồi từ “Thành Hóa” lại mất đi chữ “Thành” để chỉ còn lại chữ “Hóa” và cuối cùng từ “Hóa” theo năm tháng do sự phát âm trại đi đã biến thành từ Huế như hôm nay.

Vào giữa thế kỷ thứ 18, vì mộng tranh bá đồ vương, sông Gianh trở thành đường biên giới thiên nhiên giữa họ Trịnh (Bắc Hà) và họ Nguyễn (Nam Hà). Năm Giáp Tý (1744), dưới thời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Nam Hà cải tổ lại hệ thống hành chánh nên Huế thuộc về chính dinh (Thủ phủ) với tên là Phú Xuân. Phú Xuân chẳng những là khu đông dân cư, kinh tế dồi dào mà còn là cứ điểm chiến lược quan trọng của thời bây giờ như, các Chúa Nguyễn, từ thời Nguyễn Hoàng trở đi, đã xử dụng Phú Xuân như là căn cứ địa để mở rộng bờ cõi về phương Nam và đương đầu với họ Trịnh ở phương Bắc trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh và cũng như Nguyễn Huệ sau khi được Nguyễn Nhạc sắc phong Bắc bình Vương đã từ Phú xuân xuất quân ra Bắc Hà để phù Lê diệt Trịnh và đồng thời cũng để dẹp các loạn tướng Nguyễn Hữu chỉnh và Vũ Văn Nhậm.

Chính tại Phú Xuân, thể theo lời yêu cầu của các tướng sĩ, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã cho đắp đàn Giao, phía Nam núi Ngự Bình để tế trời, đất và làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng Đế. Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) Quang Trung mang quân ra Bắc đã tạo nên một chiến thắng lẫy lừng trong cuộc chiến thần tốc 7 ngày đánh tan hai mươi vạn quân xâm lược Thanh dưới sự thống lãnh của Tôn Sĩ Nghị. Và cuối cùng, sau khi thống nhất san hà vua Gia Long lên ngôi thì Phú Xuân, Huế, đã trở thành kinh đô của cả nước.

Nếu Huế đã từng nỗi danh là căn cứ địa của thời quá khứ, thì nay Huế lại càng nỗi tiếng hơn về những danh lam thắng cảnh với vẻ nên thơ, buồn nhưng hữu tình của sông Hương, núi Ngự, của chùa Thiên Mụ, của thôn Vỹ dạ, của dốc Nam Giao……

Do đó ca dao cũng như các văn, thi sĩ đã không ngớt lời ca ngợi khi nhắc nhở về xứ Huế đã làm chạnh lòng không ít cho những người con Huế khi đang phải xa xứ.

Xứ Thừa Thiên trai hiền, gái lịch
Non xanh, nước biếc điện ngọc đầu rồng
Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Tòa…..
Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua
Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đợi khách âu ca thái bình
(ca dao)

Núi Ngự Bình trước tròn sao méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
(ca dao)

Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
……………………………………
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà
(Thơ Hàn Mặc Tử)

Huế ơi mộng tới đường trường
Kim Luông Vỹ Dạ dòng Hương có còn
…………………………………………
Huế chừ cách mấy triệu O
Mưa qua cửa Thượng chiều co bến thừa
(Thơ Hoàng Xuân Sơn)

Ở đây có nước sông Hương
Có cây núi Ngự, có đường Nam Giao
Bình bồng sáu nhịp cầu cao
Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xinh
(Thơ Nguyễn Bính)

Nhã Nam

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
Duy An on 5/6/2015(UTC)
Duy An  
#1922 Posted : Wednesday, May 6, 2015 5:03:46 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nhớ người thương binh VNCH


Lê Châu
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)



LTS - Người viết bài này là một cựu nữ sinh từng tham gia nhiều hoạt động xã hội từ khi còn đi học và nay tiếp tục góp sức trong các công cuộc thiện nguyện. Cô tin rằng nói về những kỷ niệm của 40 năm quốc hận, cần phải nhớ đến các thương phế binh VNCH hãy còn sống ở quê nhà.

UserPostedImage

Hai thương phế binh VNCH trong dịp nhận quà và xe lăn do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trao tặng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Nước Mỹ, tháng 4 năm 2015


Bốn mươi năm sau cuộc đổi đời, những người dân miền Nam nước Việt còn trong nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới đang sống lại những tháng ngày hồi tưởng.

Ai đó đang hồi tưởng về Tháng Tư Ðen, về những tháng ngày đánh tư sản, đổi tiền, kinh tế mới, về bắt bớ, lao tù và học tập cải tạo. Nhưng cũng có ai đó đang có những phút lắng lòng để nhớ đến những người thương binh VNCH, những người trai của một thời ly loạn thuở nào, họ đã không may mắn phải bỏ lại chiến trường một phần thân thể.

Họ cũng thiếu may mắn nhận sự trợ giúp của chính phủ Mỹ để ra đi. Họ vẫn còn ở lại. Họ vẫn còn phải đối diện từng ngày với khó khăn, đói nghèo và cả sự bạc đãi của nhà nước mới.

Tất cả chúng tôi, những người ngày xưa được hưởng sự yên lành trong cuộc sống và sự an bình của cuộc đời hiện tại, đều xin được nhớ về các anh.

......

Hằng năm cứ vào mùa hè, Hội HO & Cứu Trợ Thương Phế Binh Quả Phụ Tử Sĩ VNCH và Trung Tâm Asia lại tổ chức đại nhạc hội tại Nam hoặc Bắc California để quyên góp một số tiền gởi về giúp các anh thương phế binh cùng cùng các quả phụ tử sĩ của người lính VNCH. Hành động này hy vọng đã nói lên được nghĩa cử của những người xa xứ lời “Cảm Ơn Anh.”

Phải, chúng tôi nơi đây không bao giờ quên các anh, chúng tôi sẽ cố gắng và còn cố gắng nhiều hơn nữa để một phần nào đền trả món nợ ân tình mà chúng tôi đã vay nơi các anh (dù các anh chưa một lần đòi trả).

Sau cuộc đổi đời, đã tròn 40 năm, ngót hơn nửa đời người, chắc hẳn các anh buồn nhiều lắm phải không? Chắc hẳn các anh đã bao lần tự trách, rằng xã hội này, quê hương này đã quên mình rồi...! Nhưng các anh ơi làm sao mà chúng tôi quên được, những người trai trẻ ngày nào đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, các anh đã không ngần ngại bỏ lại sau lưng gia đình, mẹ già, em dại, và đôi khi phải bỏ lại cả người yêu nhỏ bé để làm tròn bổn phận người trai thời ly loạn.

Nào Quang Trung, Dục Mỹ, nào Ðồng Ðế, Chi Lăng; nào là “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”...

Các anh có còn nhớ không, những mùa Xuân tiền đồn, những người em gái hậu phương chúng tôi đã thêu cho các anh từng chiếc khăn tay nhỏ, nắn nót viết cho các anh những lá thư xuân thắm đượm ân tình hậu phương. Và rồi những giọt nước mắt ân tình đã rơi thật nhiều lúc phải chia tay các anh khi mặt trời xế bóng. Tiền đồn heo hút, hoa mai vàng nở rộ và và màu xanh bộ quân phục của các anh đã nhòe trong mắt các em rồi - Xe chạy cuốn bụi mù, bóng các anh khuất dần sau những cánh rừng xa lắc đó. Ðâu có ai quên các anh.

Ðất nước Việt Nam mình triền miên chinh chiến, các anh phải xa trường, xa lớp, xa bạn bè, xa gia đình, để trở thành người lính cầm sung bảo vệ quê hương, để canh cho giấc ngủ trẻ thơ đêm đêm khỏi phải giật mình, để cho bước chân của các em nhỏ tung tăng vui vẻ đến trường, để cho mẹ bình an ra chợ sớm và cho cha trồng xới liếp rau xanh. Công khó của các anh làm sao mà nói hết...

Chiến tranh không phải là trò đùa, nhưng chính chiến tranh lại là trò đùa khắc nghiệt nhất khi mà cùng một mẹ sinh ra; Nhưng bên này “Anh lớn lên anh đi làm lính chiến, bảo vệ xóm, bảo vệ làng, bảo vệ giậu mồng tơi” - còn bên kia “Anh lớn lên anh đi làm giải phóng, giải phóng xóm, giải phóng làng, giải phóng giậu mồng tơi”... (Trích từ bài thơ “Giậu Mồng Tơi” của tác giả Giang Hữu Tuyên)

Rồi từ nghịch lý đó mà các anh cứ phải miệt mài với đời lính chiến, trên khắp mọi nẻo đường từ Nam ra Bắc mà chúng ta đi hoài không tới. Miền Nam thanh bình với đồng lúa phì nhiêu hay miền Trung nắng gió đất cày lên sỏi đá, các anh cứ phải miệt mài bảo vệ. An Lộc, Khe Sanh, cổ thành Quảng Trị, rồi Dakto, Charlie,... các anh đã đi qua, có anh đã nằm lại mãi mãi không trở về, hoặc có khi anh trở về trên đôi nạng gỗ.

Nước mắt mẹ hiền đã khóc thật nhiều cho các đứa con mình. Có những đứa con mẹ được vuốt ve cỗ quan tài phủ lá Quốc kỳ. Có những đứa con mẹ ngóng trông hoài không thấy tăm hơi. Còn anh, nước mắt mẹ đã rớt thật nhiều nhưng nào đâu có làm an lành được vết thương nơi chiến trận của anh. Anh trở thành thương binh, người thương binh VNCH.

Ngày đó chúng tôi nhớ ơn các anh, xã hội tri ân các anh và cuộc đời vẫn âm thầm trả ơn các anh từng ngày. Thế rồi một đêm thức dậy, chúng tôi đâu rồi? Xã hội nát tan. Cuộc đời đổi chủ. Các anh với tấm thân tàn phế làm sao vào cuộc để tìm kiếm miếng ăn. Sau cuộc chiến xã hội xếp hàng với những chia ly, tan tác, đói nghèo, thì người thương binh ngày nào còn có ai lo lắng cho nữa. Mùa Xuân 1975 đã trở thành mùa hạ để cho “Quê hương đau, nắng Hạ cũng buồn.”

Giờ đây các anh phải đi hát dạo, đi bán vé số để kiếm sống qua ngày. Hằng năm nơi đất nước Hoa Kỳ trong ngày Lễ Cựu Chiến Binh, có các người lính cũ với bộ quân phục ngày nào, trên ngực áo đầy huy chương đón nhận những vòng hoa, những tràng pháo tay và những cái cúi đầu - họ luôn nở nụ cười trên môi, rạng rỡ và hãnh diện vô cùng với màu cờ sắc áo...

Nhìn thấy họ tươi cười mà lòng quặn thắt khi nghĩ về các anh. Các anh cũng là người lính cũ, nhưng sắc áo, màu cờ, đâu rồi? Không còn ai choàng vòng hoa hay dành cho anh một cái cúi đầu với lời nói Cảm Ơn Anh. Ôi nỗi buồn không tên chỉ mình anh lặng lẽ ấp ủ!

Dạo đó vào thập niên '80, có đôi lần chúng tôi gặp hai người thương binh đi hát dạo trên đường phố Sài Gòn. Anh thương binh cụt giò đàn cho anh thương binh mù hát bài ca “Giã từ vũ khí.” Một lần hỏi thăm và được nghe tâm sự, một anh nói rằng trong xã hội mới này mặc bộ đồ lính VNCH có người không cho tiền vì họ ghét, nhưng không sao, tiền dù có ít nhưng mình vẫn mặc được sắc áo của mình ngày nào để nhớ về một thời chinh chiến. Ôi chua xót quá, cũng là ý nghĩ về màu cờ sắc áo mà sao người thương binh VNCH của tôi có tâm tình buồn bã đến thế. Ðúng là “quê hương đau, nắng hạ cũng buồn.”

Các anh ơi, giờ đây sau nhiều chục năm nơi đất lạ, chúng tôi đã có điều kiện để đền trả ơn anh. Một tập thể nhỏ của Trung Tâm Asia, một bà mẹ già với mái tóc bạc phơ, đang ngồi lại để cùng với tất cả những ai có lòng - tay góp bàn tay - chúng tôi đang chắt chiu thu góp từng đồng gởi về để phần nào giúp các anh nơi quê nhà khốn khó. Quê nhà là các anh. Cõi lạ là chúng tôi và chúng ta cùng chung một nỗi buồn...

Xin các anh an tâm, hãy vui lên vào những tháng năm cuối đời.

Chúng tôi nơi đây nguyện sẽ dùng nước mắt không phải để buồn để khóc, mà để rửa sạch những vết thương long cho các anh. Chúng tôi sẽ cố gắng đền trả ơn anh. Xin gởi về các anh những ân tình thắm đậm và lời cám ơn cao trọng nhất.

Tâm tư người xa xứ

Mùa Xuân California 2015

UserPostedImage
CatLinh  
#1923 Posted : Thursday, May 7, 2015 1:31:14 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)

UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
ASIAlcoholic on 5/8/2015(UTC)
Duy An  
#1924 Posted : Sunday, May 10, 2015 12:00:38 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Xin khóc giùm cho quê hương

Mường Giang

UserPostedImage

xin khóc giùm cho quê hương yêu dấu
bao chục năm vẫn tang tóc, nhục hèn
dân đói lả vì cơm gạo bon chen
đảng béo phệ trên ngai vàng ngập xác

tháng tư đen, nước non sầu tan nát
tháng tư buồn, máu lệ ngập trời cao
ta ở đây mà hồn vướng nơi nào?
khi đối diện với chia ly não nuột

sông núi vẫn còn, quê hương đã mất
sống lang thang lê lết khắp chợ người
hồn nào khác, chiếc lá úa sắp rơi
giữa cay đắng một đời không trọn vẹn

kể sao hết, hận thù cùng đau đớn
thương ngàn muôn, mẹ hiu hắt đợi chờ
con cứ hẹn, rồi ngoảnh mặt làm ngơ
mẹ mòn mỏi, nay thành người thiên cổ

buồn đã khắc trên từng con phố nhỏ
đường đổi tên, nhà cũng vắng người thương
bạn bè xưa giờ lạc khắp mười phương
trường lớp cũ, cũng dãi dầu hoang phế

quên sao được tháng tư đen máu lệ
người hại người bằng độc lập hòa bình
người giết người với súng đạn đồng minh
mồ vô chủ, biển xác người trôi giạt

tháng tư đen, quê hương mình tan nát
triệu mẹ già, khóc biệt đám con thơ
tuổi hoa niên, căng nhựa sống đợi chờ
đã héo úa vì thân trai thời loạn

tháng tư đen, triệu người sôi lửa hận
kỷ niệm buồn như thác lũ réo mời
ta đứng khóc nhìn biển rộng mù khơi
tìm nhân ảnh trên tình người sắp cạn.

UserPostedImage
Hạ Vi  
#1925 Posted : Sunday, May 10, 2015 4:08:47 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)



UserPostedImage



UserPostedImage
Duy An  
#1926 Posted : Monday, May 11, 2015 8:30:32 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

UserPostedImage

Chút Lính Miền Nam


Tưởng Năng Tiến

“Cho tôi thắp một nén nhang
Khóc người đồng chí
Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy
Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa!”
(Lê Phú Khải)

Bạn tôi, tất cả, đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều ... cố “tật!” Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.

Thỉnh thoảng, khi (quá) vui, chúng tôi cũng hay mang những vị thượng cấp cũ ra làm đề tài giễu cợt. Hai ông huynh trưởng thường bị nhắc tới để cười chơi là Trần Hoài Thư, và Phan Nhật Nam. Lý do: cả hai vị vẫn nhất định chưa chịu giải ngũ, dù cuộc chiến đã tàn từ lâu rồi!

Trung Úy Trần Hoài Thư vẫn thản nhiên đưa quân Qua Sông Mùa Mận Chín. Đại Úy Phan Nhật Nam vẫn cứ la hét um xùm qua máy truyền tin (giữa Mùa Hè Đỏ Lửa) như thể là cái mùa Hè năm 1972 đó vẫn còn kéo dài đến bây giờ, dù hơn 40 năm đã lặng lẽ trôi, với cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt... – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống.

Sau khi cạn mấy đầy, rồi đầy mấy ly cạn (và sau màn trình diễn “một ngàn bài Bolero”) tôi hay xin "trân trọng tuyên bố cùng toàn thể các chiến hữu các cấp" rằng :

- Ai viết cái gì tôi cũng đọc tuốt luốt, trừ hai vị thẩm quyền (nhí) này thì khỏi!

- Sao vậy cà?

- Bởi vì thơ với văn của hai ổng có nhiều câu mà “lỡ” đọc một là nó bị kẹt luôn trong đầu, gỡ không ra, nên tui không dám đọc thêm nữa:

Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm
...

Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam ?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam?

Trần Hoài Thư (“Ta Lính Miền Nam”)

Không chỉ bi tráng, bi hùng, hay bi phẫn mà (đôi khi) người lính miền Nam còn phải đối diện với lắm nỗi bi thương:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám... Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà...

“ Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

“Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy... Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

“ Của chị đây hả? - Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

“ Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên...

“Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

“Chị kia quay lại đây tôi trả cái này... Tôi nói vọng theo.

“Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hoảng thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi... Chị ta còn trẻ lắm, khoảng trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú.

“Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

“ Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo... Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ... Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa... Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực...

“Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi... Người đàn bà đã hiểu lầm tôi...

“Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.

“Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này...”
(Phan Nhật Nam. Dấu Binh Lửa. Sài Gòn: Hiện Đại, 1969).

Ở thời điểm này, có lẽ, Phan Nhật Nam không hề biết rằng “sự ngộ nhận đớn đau tủi hổ” của dân chúng với những người lính miền Nam chả phải là “ngẫu nhiên” đâu. Nó đã được đối phương chuẩn bị rất kỹ, và tuyên truyền rất công phu – theo như nhận xét (gần đây) của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người...”

Và đây cũng chả phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và xỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ vẫn còn là những kẻ thù ác độc và nguy hiểm.

Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn (“Chuyện Vui Điện Ảnh”) của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bà viết viết về “tai nạn nghề nghiệp” xảy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam:

“Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn...

“Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được. Long Xưởng hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút.

“Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai.

“Tới chừng biết đứa bé kia không phải con mình, hắn xé đứa nhỏ làm hai ngay trên giường đẻ, trước mặt người mẹ, cầm bằng đã giết chị ta. Phim bạo liệt, trần trụi. Thằng Cón chết, nó cũng không chết bình thường như người ta, nó chết trong dằn vặt.

“Cái mặt lạnh tanh gớm ghiếc của nó co giật méo xệch, bọt mép sùi sụt. Nó cắn vô mấy thằng lính đứng quanh nó. Điên dại tới lúc bị bắn chết. Mọi người theo dõi thằng Cón chết, vừa hể hả vừa ghê tởm...

“Chú Sa vẫn tiếp tục đi về trên con hẻm hẹp te mà nghe trống vắng thênh thang. Tụi con nít nghe tiếng xe đạp chú tè tè lọc cọc thì chắc mẩm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn. Tụi nó hỏi nhau: "ổng đi chưa?", cũng tại má tụi nó nhát hoài, lì lợm, không ăn cơm là bị chú Sa ăn thịt. Rõ ràng là ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng là người ta bị giật mình bởi tội ác.

“Bà con ngại ngần ác cảm giạt xa chú ... Chú Sa thấy đây đúng là một tai nạn ...”

Cái “tai nạn” riêng của Chú sa chỉ xảy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ và sẽ không kéo dài lâu. Còn hàng triệu thằng lính miền Nam thật – cùng vợ con, thân nhân của chúng – không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông mà còn bị Nhà Nước Cách Mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!

Mãi cho đến ngày 2 tháng Năm 2014, người ta mới nghe một viên chức ngoại giao của phe thắng cuộc, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nói đôi lời tử tế:

“Ngày xưa ta không thể nói là không có chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Đó là chính phủ cũng được quốc tế thừa nhận chứ. Đó cũng là một nhà nước có quân đội thực thi nhiệm vụ quốc gia của họ để bảo vệ chính nghĩa theo lý tưởng của họ.”

Và đó cũng chỉ là sự tử tế ngoài miệng! Ngày 12 tháng 4 vừa qua, công an quận Hoàn Kiếm đã bắt giữ và buộc tội (“gây rối trật tự công cộng”) một số thanh niên đã mặc quân phục hay áo thun màu đen có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong cuộc tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội.


UserPostedImage

Các bạn trẻ mặc áo thun đen có biểu tượng QLVNCH. ( Nguyễn Lân Thắng)



Hai tuần sau, sáng 27/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã kết hợp với công an Nghệ An khám xét nhà của anh Nguyễn Viết Dũng (tức Dũng Phi Hổ) tịch thu quân phục lính VNCH của anh Dũng.

Việc gì mà phải hốt hoảng đến nỗi “khám nhà,” “tịch thu” và “vu vạ” tội trạng cho vài thanh niên chỉ vì y phục mà họ mặc trên người như thế? Chả lẽ cái chế độ hiện hành có thể bị rung chuyển chỉ bởi vài cái áo (“thun màu đen, có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”) sao?

Hơn nửa thế kỷ tuyên truyền lừa gạt, bôi bẩn, miệt thị những kẻ thua cuộc (bộ) chưa đủ nguôi ngoai thù hận hay sao? Nắm trọn quyền bính của cả một nhà nước trong tay mà sao có thể hành sử một cách đê tiện, và tiểu tâm đế́n thế?

Dù thế, thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam:

“Cho tôi thắp một nén nhang
Khóc người đồng chí
Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy
Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Năm tháng đi qua
Gần hết cuộc đời tôi mới ngộ ra
Không giọt máu Việt Nam nào là ngụy
Trừ những thằng bán nước - đi đêm”

(Lê Phú Khải)
UserPostedImage
Duy An  
#1927 Posted : Wednesday, May 13, 2015 4:13:33 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Nguyễn Ngọc Hạnh, lá cờ vàng và sự kiên cường của người lính



Sunday, May 10, 2015 7:31:29 PM
Đỗ Dzũng/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) - “Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh là người sử dụng ống kính để diễn tả hết những hình ảnh hào hùng, ý chí sự kiên cường của người lính VNCH quyết tâm chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam,” ông Vũ Quang Đăng, trưởng ban tổ chức lễ vinh danh và triển lãm ảnh nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, nói.


UserPostedImage

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh ngồi trên xe lăn được Giám Sát Viên
Dave Cortese (trái) trao bằng tưởng lục vinh danh ông. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Buổi lễ này do toàn thể môn sinh của nhiếp ảnh gia và Hội Nhiếp Ảnh Bắc California (VNPS) tổ chức tại Santa Clara County Hall, San Jose, hôm Thứ Bảy, 9 Tháng Năm.

Ông Đăng nói tiếp, “Ông đã thu lại được đầy đủ hình ảnh can trường của các chiến sĩ , quyết dựng lại ngọn cờ chính nghĩa trên cổ thành Quảng Trị.”

“Qua những tác phẩm này, chúng ta thấy thấp thoáng đâu đó hình ảnh lá cờ vàng thân yêu của tổ quốc, với cả một nghệ thuật độc đáo, tất cả đã tạo nên con người Nguyễn Ngọc Hạnh,” ông Đăng nói tiếp.

Trong sự nghiệp nhiếp ảnh, ông Hạnh nhận được rất nhiều huy chương quốc tế, gồm 92 huy chương vàng, 110 huy chương bạc, và nhiều giải thưởng khác, và là hội viên của hơn một chục hội nhiếp ảnh khắp thế giới.

Sau nghi thức khai mạc và phần phát biểu của ông Đăng, nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch, hội trưởng VNPS kiêm phó ban tổ chức, cho chiếu một slideshow nói về cuộc đời nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, kèm theo các tấm hình ông chụp tại các mặt trận ở chiến trường Việt Nam, từ Khe Sanh đến Quảng Trị, và các nơi khác.



UserPostedImage

Hai trong những tấm hình về cờ vàng rất nổi tiếng của nhiếp ảnh gia
Nguyễn Ngọc Hạnh. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)




Các tấm hình nổi tiếng ở chiến trường của nhiếp ảnh gia này bao gồm một khẩu đại bác vừa “nhả” đạn, một binh sĩ VNCH ném lựu đạn, hai chiếc phản lực cơ hạ xuống sau đó một chiếc bị rớt và phi công tử nạn, một trái bom rơi ngay gần chỗ ông, người lính bị cắt làm đôi tử nạn, còn ông bị thương...

“Nhìn những tấm hình này của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, chúng ta sẽ thương những người lính này hơn, những người lính trẻ, chiến đấu quên mình, luôn đối diện với cái chết,” nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch nói.

Không chỉ chụp hình, theo nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh còn cộng tác với một số báo, có đăng hình và bài viết.

“Không chỉ cảnh chiến tranh, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cũng chụp hoa nữa, một điều ít ai biết,” ông Lịch nói.

Về lá cờ vàng trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh, nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch cho biết, “Hình của ông lúc nào cũng có cờ vàng. Triển lãm mà không có cờ vàng thì không phải là triển lãm của Nguyễn Ngọc Hạnh. Học trò nhiếp ảnh mà không chụp hình cờ vàng thì không phải là học trò của Nguyễn Ngọc Hạnh.”

Nói đến hình cờ vàng nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Hạnh thì phải là tấm hình “Vá Cờ” và một tấm hình lá cờ vàng bị thủng vì những lỗ đạn.


UserPostedImage

Một số tác phẩm của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh trưng bày
trong ngày vinh danh ông. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch giải thích, “Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh giải thích rằng, những lỗ đạn trên lá cờ cho thấy, mặc dù trải qua cuộc chiến, cờ vàng vẫn bay.”

Trong một tấm khác, Nguyễn Ngọc Hạnh ghi lại hình ảnh chị Đỗ Huỳnh Thị Minh Ngọc, cư dân San Jose, thêu trên 2,000 khăn choàng màu lá cờ vàng để tặng các hội đoàn.

Kế đến là các vị dân cử như Dân Biểu Liên Bang Zoe Lofgren, Giám Sát Viên Santa Clara County Dave Cortese, Thị Trưởng Milpitas Jose Esteves, và hai nghị viên San Jose, Ash Katra và Johnny Khamis lên vinh danh và chúc mừng nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.

“Tôi chưa bao giờ thấy căn phòng này trang hoàng đẹp như hôm nay. Nói về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh, các tấm hình do ông chụp luôn tạo cảm giác mạnh cho người xem,” Giám Sát Viên Dave Cortese nói.

Trên sân khấu là 29 tác phẩm nổi tiếng của ông Hạnh, dưới mỗi tấm là một mẫu tự với hàng chữ “Nguyen Ngoc Hanh Grand Master VNPS.”

Dọc theo các bức tường là những tác phẩm khác của ông và các học trò.

Với hơn nửa thế kỷ chụp hình, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh được rất nhiều người ngưỡng mộ, nhất là tính cách của ông.

Ông Vũ Công Hiển, hội trưởng Hội Nhiếp Ảnh Trúc Viên, chia sẻ, “Tôi học được ở ông năm điều. Thứ nhất là khiêm tốn; thứ nhì là một tấm hình phải nói lên điều gì đó, không cần tựa đề, tất cả hình của ông đều do người ta đặt tên; thứ ba, tất cả chi tiết trong hình không được thừa hoặc thiếu; thứ tư, chỉ trong vòng 3 giây mà người xem biết mình muốn gì thì lúc đó mình là 'master;' và cuối cùng là phải hướng thượng, tức là khi khen một tấm hình không khen xã giao như 'ờ, hình đẹp quá.'”



UserPostedImage

Một người ký tên kỷ niệm khi đến dự lễ vinh danh nhiếp ảnh gia
Nguyễn Ngọc Hạnh. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)



Chị Nguyễn Thúy Loan, cư dân San Jose, không thể nào quên những tấm hình về lính của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.

“Tôi còn nhớ ngày xưa, bà chị tôi để tấm hình có tấm thẻ bài ở chỗ làm. Lúc đó, tôi chỉ biết đó là hình do ông chụp, và rất ngưỡng mộ ông. Theo tôi, ông bỏ công rất nhiều để chụp hình. Một tấm hình ông chụp là mất rất nhiều thời gian, chứ không dễ dàng gì,” chị Loan nói.

Và dù đa số hình của ông đều được chụp tại chiến trường, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là người “cổ vũ hay phản đối chiến tranh.”

Ông Vũ Quang Đăng nhận xét, “Đa số những tác phẩm của ông có chủ đề là chiến tranh, vì chính ông đã chứng kiến tận mắt và ghi lại qua ống kính, để tạo nên những tác phẩm để đời. Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Hạnh không phải là một nhiếp ảnh gia phản chiến, ông cũng không ca ngợi, cổ vũ cho chiến tranh.”

“Ông chỉ sử dụng ống kính để diễn tả hết những hình ảnh hào hùng và ý chí kiên cường của người lính,” ông Đăng kết luận.

Theo tài liệu của ban tổ chức, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh sinh năm 1927 tại Hà Đông, phục vụ trong quân đội Pháp cho đến năm 1950 thì chuyển qua quân đội Việt Nam khi mới thành lập, và phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù cho tới ngày 30 Tháng Tư, 1975, với cấp bậc cuối cùng là trung tá.

Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp Ảnh KBC Việt Nam. Năm 1961, ông trở thành nhiếp ảnh gia chiến trường của QLVNCH.

Năm 1969, ông xuất bản sách “Việt Nam Khói Lửa” (Vietnam in Flames) bằng tiếng Anh trong đó có nhiều hình ảnh của ông ghi lại những trận đánh lớn ở Huế, Quảng Trị, và đặc biệt là Khe Sanh (Tháng Ba, 1968) khi ông đã bị trọng thương.

Năm 1971, ông được chọn là đại diện danh dự của Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Quốc Tế Pháp tại Việt Nam.

Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975, ông bị giam trong trại tù tập trung của Cộng Sản.

Đến năm 1983, ông được thả qua sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế.

Năm 1989, ông vượt biên, đến Hoa Kỳ, và định cư tại San Jose, California.

Một năm sau, ông thành lập “Vietnam Photographic Association of Northern California” (Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California-VNPA) sau đổi thành “Vietnam Photographic Society of Northern California” (VNPS) vào năm 2000.

Sau hơn hơn 25 năm định cư tại San Jose, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh đã đào tạo và huấn luyện hơn 500 học viên nhiếp ảnh tại miền Bắc California và tổ chức nhiều triển lãm, trong đó có hơn 20 năm triển lãm liên tục tại hội chợ Tết để quảng bá văn hóa Việt Nam và vẻ đẹp của nước Mỹ.

Ngoài ra, ông cũng hợp tác với nhiều hội ảnh bạn khắp nước Mỹ qua các triển lãm, in sách, diễn thuyết, để đề cao văn hóa Việt và lòng yêu nước qua nghệ thuật nhiếp ảnh.

Ông cũng tham gia nhiều phong trào gây quỹ từ thiện, đặc biệt là Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh hàng năm để giúp đỡ các thương phế binh VNCH còn ở tại quê nhà. Tại các đại nhạc hội này, những tấm hình của ông ủng hộ đã giúp ban tổ chức thu được hàng ngàn đô la.

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
CatLinh on 5/14/2015(UTC)
CatLinh  
#1928 Posted : Thursday, May 14, 2015 2:07:30 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
Duy An  
#1929 Posted : Friday, May 15, 2015 4:40:51 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

UserPostedImage


Tháng Tư - Thương về những người lính năm xưa


Monday, May 11, 2015 11:59:09 AM

Nguyên Thạch (Quanlambao)


Dòng trôi tủi hận, mỗi năm cứ vào độ Tháng Tư, tháng của tang thương và uất hận, tháng của khổ đau, của nước mắt dạt dào. Tháng của chia lìa, ly tán, hư hao, bẻ súng gãy gánh trong niềm đau bức tử. Hôm nay, Tháng Tư lại đến sau 40 năm dài hơn nửa đời người, quê hương vẫn nhọc nhằn trong đọa đày, lừa bịp. Hung tàn, mụ mị... vẫn còn hiện hữu và ngày càng rõ nét của những mật ước “Hội Nghị Thành Ðô 1990” từ những tên bán nước.

Trước thảm cảnh này, lời thơ là những điệu ru bằng nước mắt cho quê hương, cho chính bản thân mình và cho cả các anh, những người tù lương tâm, những người tù thế hệ: Nguyễn Hữu Cầu, Trương Văn Sương, Nguyễn Tuấn Nam, Nguyễn Văn Trại, Ðỗ Văn Thái...

Những gương hùng bất tử Ngụy Văn Thà, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn... và nhiều hơn nữa, nhiều lắm.

Các anh là những đứa con yêu của tổ quốc, của tự do và nhân bản.

Cho dẫu hôm nay các anh còn sống trong sự tàn tạ như một phế nhân hay đã chết trong niềm đau tức tưởi căm hờn thì các anh vẫn luôn là những chàng trai kiêu hùng của nước Việt.

Những đứa em thuộc thế hệ đi sau, nguyện noi bước đàn anh để tiếp tục trên con đường chiến đấu cho một Việt Nam độc lập dân chủ tự do nhân bản và hưng thịnh hầu an ủi cho vong hồn các anh nơi chín suối cũng như ân cần chia sẻ cho những người lính bất hạnh còn lại trong hoang phế nhọc nhằn.

Sau đây là những vần thơ chân thành của một đứa em, mong tặng các anh thay những lời ru cho những chiến sĩ vị quốc vong thân nhân mùa Tháng Tư Ðen đau thương oan nghiệt.

Nguyện cầu hương hồn hiển linh của các anh phò hộ cho những lớp đàn em, chân cứng đá mềm trên con đường đấu tranh cứu quốc khỏi tai ách Cộng Sản hung tàn toàn trị và lạc hậu.

***

Tiễn anh người lính năm xưa

Anh nằm đó
Trong căn gác nhỏ
Chết cô đơn, nơi xó góc nhà
Hồn ra đi hơn một tuần qua
Xác cô lạnh, người ta nào biết!

Anh nằm đó
Người trai gốc Việt
Lìa thế gian, tha thiết gì không?
Chẳng có ai chia sẻ nỗi lòng
Trong phút cuối thong dong miên viễn.

Phút anh đi
Ai người đưa tiễn?
Ai vẫy tay biền biệt ngàn thu?
Nhớ ngày xưa chiến trận diệt thù
Cờ phủ ấm, lời ru đồng đội.

Ghé thăm anh, nén nhang tạ lỗi
Quá khứ ơi, dậy nỗi ngậm ngùi
Chiến trường xưa cho dẫu ngược xuôi
Trận xung kích buồn vui bầu bạn

Chốn lưu vong...
Buồn theo năm tháng
Nỗi nhớ nhung, khuất dạng quê hương
Ðời nơi đây, xa vắng người thương
Bởi bận bịu... con đường sự nghiệp.

Chiến chinh tàn, nhưng anh vẫn tiếp
Cuộc đấu tranh, chấp nhận nghiệp nghèo
Mong vần thơ nhiệt huyết anh gieo
Cho thế hệ tiếp theo lĩnh hội...

Giờ tiễn anh, tôi nguyền tiếp nối
Sẽ thay anh tạ tội nước non
Anh yên tâm, mai quê mẹ khải hoàn
Ta không thẹn là con đất Việt.
(Bài thơ gởi anh thay nén hương thương tiếc.)
––


Thương dòng kỷ niệm

Bóng trăng chênh chếch xuyên màn lá
Dưới mộ huyệt sâu đất bạc màu
Tôi ghé thăm anh ôn kỷ niệm
Ðôi dòng tâm sự suốt canh thâu.

Lúc tiễn nhau đi tôi trẻ lắm
Ngả bóng thời gian tuổi cũng già
Xưa dắt nhau tìm chim sáo nhỏ
Lính trận về thăm những món quà

Bóng xế dần trôi theo kỷ niệm
Nghiêng ngả quê hương rũ bóng dừa
Cạn ly tôi uống dòng nước mắt
Thuyền vẫn bạt ngàn bão đong đưa.

Anh yên nghỉ nhé lòng đất mẹ
Phò hộ cho tôi cuộc hành trình
Góp sức chí hùng trai thời loạn
Không thẹn với anh chữ nhục vinh

Dưới gốc cội già bên nấm mộ
Ru hời kỷ niệm gởi mây xanh
Dáng ai ẩn hiện hồn dũng sĩ
Ngàn thu yên ngủ giấc mộng lành.
––


Miền đất bạc


Mùa thu cũ nhớ ngày xa lặng lẽ
Tôi viết bài thơ lời tưởng niệm tặng anh
Ngày ra đi không tiếng trống, không nhạc quân hành
Thảm cỏ úa, vài chiếc lá xanh làm phúng điếu.

Anh ra đi... không mang theo giấc mơ huyền diệu
Vỏn vẹn chỉ chiếc áo tù và manh chiếu phủ thân
Hai chiến hữu đồng tù, còng lưng thương tiếc ân cần
Cũng kiệt sức trơ dần theo đói khát.

Mé rừng hoang, nơi anh nằm, miền đất bạc
Sỏi đá khô cằn, tan tác thê lương
Bạn tù khiêng anh, quỵ ngã bên đường.
Anh không nặng nhưng hai thân gầy xương khiêng sao nổi!

Sức kiệt đất cằn bốn tay gầy xới vội
Huyệt không sâu
U uẩn một lối về
Ngày anh đi, không con cháu, không hôn thê
Âm thầm cô lẻ nẻo đường quê từ biệt.

Nước mắt hai bạn tù đã đuối mòn cạn kiệt
Gió vi vu thương tiếc thoảng mênh mang
Anh ra đi hồn lẻ nhập suối ngàn
Ðâu còn nữa... thênh thang đường Tổ Quốc.

Chiều Sơn La, dòng đời trôi tất bật
Khối nhân gian vẫn vờ vật với đời
Giã biệt anh
Người chiến hữu ơi
Theo sau linh cữu chỉ đất trời gió lộng...
Chuyến viễn du ngàn thu nhưng trong tôi anh vẫn sống.
––


Quê hương và kỷ niệm


Tôi với anh chung thôn xóm nhỏ
Nơi quê hương có tên gọi Việt Nam
Anh lớn trước, chống quân thù giặc đỏ
Tôi sinh sau, còn đũng ghế trường làng.

Ðêm đêm về bom vẳng âm vang
Miền xa thẳm, anh dặm ngàn chiến tuyến
Hòa tiếng bom... tôi gởi lời cầu nguyện
Chiến trường xa mong trận chiến an lành

Núi thẳm rừng sâu thương quá lớp đàn anh
Hỏa châu chiếu, mắt long lanh lính trận.

Miền Nam của chúng ta, đầy yêu thương, không thù hận
Giặc Bắc tràn về, giặc xâm lấn quê hương
Giặc đến đây, nhuộm máu khắp nẻo đường
Gieo rắc thù hận đau thương tang tóc!

Trai thời loạn... giã biệt áo thư sinh, rời trường học
Những em thơ chiều khóc nhớ anh mình
Sáu tuổi đầu đời, đã sớm nhận hung tin
Người anh ấy đã hy sinh trong chiến trận

Sáu tuổi đời, đã khắc ghi niềm căm hận
Tuổi thơ ơi, sao sớm đón nhận đau thương!
Thế là từ đây...
Ðường làng bước đến trường
Vốn hoang vắng, lại càng thêm trống vắng

Chiều tan học, nhìn ra mộ anh, tôi lẳng lặng
Nước mắt rơi trong tiềm thức ngậm ngùi
Chiến tranh bạo tàn đã cướp lấy anh tôi
Còn đâu nữa những ngày vui chim sáo nhỏ.

Tháng Tư đến đất trời lộng gió
Mùa tang thương cây cỏ cũng tàn theo...

Mẹ anh, mẹ tôi, tất cả đều nghèo
Thương bác quá, ngày dài trông theo bóng nhạn
Sức già mỏi mòn úa theo ngày tháng
Lá vàng đi tìm dạng bóng lá xanh.

Tháng Tư ơi, tôi đã thấu ngọn ngành
Người ở lại tuổi xanh nhưng đầu trắng bạc

Ôi quê hương!
Ðau dân tôi... một đàn cừu ngơ ngác...
––


Quên lãng

Dạo Tháng Hai
Em vừa tròn mười chín
Anh chiến trường trót phận kẻ thương binh
Những lá thư xanh ấp ủ trang tình
Còn bỡ ngỡ đời sinh viên đại học.
Tháng Tư đến

Dòng đời theo cơn lốc
Bão giao mùa, tang tóc gợi thương đau
Tuổi trẻ niềm tin... tha thiết dạt dào
Bỗng nhập cuộc chung niềm đau đất nước!

Tôi trở lại cao nguyên miền sơn cước
Ðường mù sương, đẫm ướt nửa tấm thân
Kẻ một chân lê nẻo bước phong trần
Cánh tay phải cũng trọn dâng cho Tổ quốc.

Từ dạo ấy, nỗi niềm tôi chất ngất
Tây Nguyên buồn lất phất giọt thu rơi
Kiếp lang thang, lạnh buốt giữa đất trời
Thầm giã biệt tình ơi, em nào biết.

Mai có về, xin em đừng luyến tiếc
Kẻ phế tàn, đời ngã nghiệt thương đau
Hạnh phúc nào?
Hay tủi thẹn bên nhau?
Tiễn quá khứ
Nhói đau lời vĩnh biệt.

Cũng từ dạo ấy
Tôi làm người thua thiệt
Dĩ vãng buồn... là chiếc võng đong đưa
Chiều tàn hoang, dấu binh lửa tàn chưa?
Ðời hiện nét những lọc lừa căm hận.
Nay còn gì đâu để tôi dấn thân vào thế trận!
Một mối hận thù
Một mối thương đau.

Bao oan khiên, những con tim nguyên vẹn thét gào
Nhân thế đã ném tôi vào quên lãng!

Phận tật nguyền đâu được làm người di tản
Trôi lững lờ, dạ hôm đói sáng lo
Ðêm lạnh về
Một tay ấp ủ một chân co
Còn đâu nữa, những hẹn hò cuộc sống?

Chiều tha hương lần về đôi mắt ngóng
Người yêu xưa, biệt dạng bóng phương nao?
Tím thẫm hoàng hôn, ngã dáng vẫy tay chào
Cô đơn nạn gỗ
Niềm đau...
Thôi từ giã.

Mây ngàn thu
Giọt rơi buồn phiến đá
Gió thu ơi, nghiêng ngả bóng quê hương
Người thương binh lê cuộc sống tha phương
Nửa tấm thân biền biệt chốn sa trường
Nửa còn lại
Bụi vương mờ lối mộng.
––


Chiếc áo vàng

Chiếc áo vàng hôm xưa em mặc
Ba đóa hồng hương thắm huyền nhung
Màu áo quê hương, màu nhân bản kiêu hung
Ngời chí khí dũng trung đoàn vệ quốc.

Mùa bảy lăm hóa đời tất bật
Bão giao mùa
Em khoác áo màu đen
Thờ thẫn trong đêm.
Thành phố không đèn
Cây cột điện cũng chưa quen mùi cách mạng!

Dòng cam go... dần trôi theo năm tháng
Khúc tương phùng hút dạng nẻo người đi
Em liễu tơ ngất lịm buổi phân kỳ
Nợ chưa dứt
Lần đi
Lần vĩnh biệt.

Cứ mỗi dạo Tháng Tư về là lòng em thương tiếc
Con gái của chúng mình, giờ cũng biết được chuyện xa xưa
Nó lớn lên, tuy không bom đạn cày xéo đường phố hàng dừa
Nhưng tội nó
Kiếp đong đưa
Vòng khổ lụy.

Tuổi thơ ngây nhưng bản án vô hình đã trùm nó vào vòng lao lý
Là đứa con của tên “ngụy” ác ôn
Nó lớn lên trong tủi hận tâm hồn
Ðường tiến bước, vùi chôn theo lý lịch.

Nơi trại tù
Cha nó vẫn bị xem là địch
Ðảng trả thù... trong chiến dịch phục thù xưa
Chiều Việt Bắc lã chã thấm giọt mưa
Ðủ thắm lạnh cho thân gầy vừa gục xuống.

Nó và em
Hai mảnh đời nơi nương ruộng
Cơn đói về cuồn cuộn rét buốt thân
Nước độc rừng ma
Tuổi mười sáu yếu dần
Nó lên phố bán thân làm đĩ!

Trong thầm kín, nó không bao giờ quên mình là con thằng ngụy!
Ðời giang hồ
Nó bị si-đa
Những lúc hận đời là những khi nó thương nhớ về cha
Càng cương quyết hiến thây ma này cho cán bộ.

Tuổi mười bẩy, hoa phượng đường nở rộ
Quan chức giàu, không ngố cũng phải ham
Nó khắc tên những thằng tham quan sau những chuyến “đi làm”
Vào cây xương rồng đỏ... hồng cam vết máu.

Hôm tiễn con đi
Trong quan tài buồn, em mặc cho nó chiếc vàng màu áo
Của người chiến binh dũng cảm hôm nào
Mong về gặp anh
Vầng sáng một vì sao
Và từ đó... những lần mộng chiêm bao em cười nụ.

Nghiêng ngả quê hương... mưa sa cờ rũ.
Em mơ về... ngày cũ thuở thương yêu
Tháng Tám mùa thu đời ngã muôn chiều...
Em nuối tiếc
Thương yêu mùa nhân bản
Quê hương tuyệt vọng... kể từ ngày có đảng.

UserPostedImage
ASIAlcoholic  
#1930 Posted : Friday, May 15, 2015 7:36:50 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage

BỐN MƯƠI NĂM THIÊN TAI

Bốn mươi năm vội vã
Một ngày tháng tư đen
Nửa đời em vấp ngã
Vào đám người chưa quen.

Đâu còn ai hò hẹn
Giữa trời đất ngổn ngang
Em xanh xao quờ quạng
Theo tiếng khóc lỡ làng.

Bốn mươi năm mạt vận
Người lạ chợ lạ quê
Tôi là gã lãng tử
Đâu có chỗ quay về.

Mà lối người như thể
Cỏ mọc đầy chiêm bao
Vịn vào thành quách cũ
Để còn biết nhớ nhau!

Có bước vào quá khứ
Cũng chỉ tới đường cùng
Em đâu còn ngoảnh lại
Được thấy lần khóc chung.

Ngày tháng tư quằn quại
Đau đã thấu hình hài
Tiếng khóc – cười man dại
Bốn mươi năm thiên tai…


Hư Vô
phamlang  
#1931 Posted : Sunday, May 17, 2015 5:55:10 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tháng Ba Chôn Súng
TQLC Lê Khắc Phước


UserPostedImage


Cứ mỗi tháng Ba về, lòng tôi lại chùng xuống, phải nói là buồn đau, cay đắng, ngậm ngùi đến tận cùng tim gan mỗi khi nhìn thấy những hình ảnh đau thương đập vào mắt tại bãi biển Thuận An vào những ngày 25, 26, 27 hay tại bờ biển Đà Nẵng ngày 28, 29 tháng 3/1975.

Đã 39 năm trôi qua, đã có quá nhiều bài viết về những ngày cuối tháng 3/1975 tại bãi biển Thuận An. Tôi không muốn lặp lại nhưng với cương vị là Trung Úy, ĐĐP/ĐĐ2, TĐ7, LĐ147/TQLC, là lữ đoàn bị kẹt lại trên bãi biển Thuận An, tôi xin ghi lại những gì mắt thấy, tai nghe cùng suy nghĩ của mình về những ngày chiến đấu tới tận cùng sức sống của TĐ7/TQLC mà Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Phạm Cang, Tiểu Đoàn Phó là Thiếu Tá Lê Quang Liễn, cả hai vị đều xuất thân từ Khóa 20 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Viết để thấy rõ hơn trong trận đánh cuối cùng đó của TĐ7/TQLC, chúng tôi đã chiến đấu với ai, với một đại đội du kích Việt Cộng hay là chiến đấu với cấp tiểu đoàn, trung đoàn chính quy Bắc Việt với hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 cùng với chiến xa T54 yểm trợ…

Khoảng 5 giờ chiều ngày 19/3/1975, trời nhá nhem tối, tôi là đại đội phó ĐĐ2/TĐ7 Thủy Quân Lục Chiến, bàn giao vị trí phòng thủ cho một trung úy đại đội trưởng đại đội Biệt Động Quân. Đi theo tuyến phòng thủ dưới cơn mưa phùn gió bấc của tháng 2 Âm lịch tại miền núi rừng miền Trung, lạnh cắt da, miệng đánh bò cạp. Tôi hỏi ông về khả năng tham chiến thì được biết quân số của đại đội ông là khoảng 80, mới đụng nặng trở về nên quân số chưa bổ sung kịp. Như vậy là gay cấn rồi đây, quân số của ông vừa đủ trám tuyến cho hai Trung Đội TQLC chúng tôi.

Tôi hướng dẫn cho ông hệ thống phòng thủ, giao thông hào hình chữ Z, hầm hố cá nhân, những vị trí đặt súng nặng đại liên M60, những hầm hàm ếch dưới giao thông hào sâu gần 2 mét để tránh pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly. Tuyến phòng thủ là một đồi đá nhiều hơn đất, muốn lấy nước phải theo những con đường đặc biệt từ trên đồi xuống thông thủy. Bàn giao cả những vị trí gài bẫy, gài mìn claymore, lựu đạn và có cả những vọng gác giả, lính giả để nghi binh… Ban ngày thấy vậy nhưng không phải vậy, ban đêm mà mò vào là biết thế nào là TQLC phòng thủ, biết thế nào là Sinh Bắc Tử Nam ngay… Bàn giao cho ông những hỏa tập tiên liệu trên bản đồ. Coi chừng bị bắn sẻ. Riêng hai cái máy sensor để dò tiếng động thì chúng tôi phải đem theo. Khoảng 8 giờ tối chúng tôi mới bàn giao xong. Tôi chúc ông may mắn ở lại, còn chúng tôi từ giã Quảng Trị Anh Hùng…

TĐ7/TQLC được lịnh rút về lập Tuyến Đỏ tại đèo Hải Vân. Mỗi sĩ quan nhận 10 tấm bản đồ trải dài từ Quảng Trị đến Đà Nẵng. Từ khi tình nguyện về TQLC, đây là lần đầu tiên tôi nhận một số bản đồ nhiều kỷ lục cho một cuộc hành quân. Chúng tôi thống nhất đánh số xấp bản đồ từ 1 đến 10 và mỗi bản đồ đều có những soát điểm, di chuyển đến đâu là phải báo cáo cho BCH/TĐ biết để kịp thời yểm trợ. Kèm theo đó còn có những hỏa tập tiên liệu… tất cả đều được mã hóa, VC có bắt được tần số của chúng tôi thì cũng mù vì chỉ có sĩ quan mới có tập giải mã này. Nói đến đây không thể không nhắc đến Thiếu Tá Lê Quang Liễn, TĐP/TĐ7, ông là người soạn ra tập mã hóa này, tất cả đều bằng số, và các sĩ quan cũng như hiệu thính viên đều phải cố gắng nhớ càng nhiều càng tốt…

Ngày 20/3/1975, đơn vị tôi rút về đóng quân tại cây số 17, nhiệm vụ là bảo vệ cầu An Lỗ để bảo đảm an ninh lộ trình cho Lữ Đoàn 369 cùa Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc đi chuyển qua rồi mới tới TĐ7 sẽ rút sau cùng theo chiến thuật cuốn chiếu. Tôi còn nhớ rõ là sáng hôm đó tôi đã đứng nghiêm chào khi Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh, TĐT/TĐ9, đi ngang qua cầu. Ngồi trên xe ông chào lại và mỉm cười. Ông và tôi quá quen thuộc vì trước đó không lâu ông là TĐP/TĐ7 và tôi là ĐĐP/ĐĐ2/TĐ7, cùng chung cánh B do ông chỉ huy.

Ngày 21/3/1975, thật là bất ngờ khi được Thiếu Tá Phạm Cang cho tôi 6 giờ phép về thăm gia đình. Bất ngờ là vì suốt hơn hai năm hành quân ở Quảng Trị, qua hai đời TĐT, Thiếu Tá Nguyễn Kim K16 VB rồi Thiếu Tá Phạm Cang K20 VB, qua hai cái Tết, tôi chưa bao giờ được cấp một giờ phép, mặc dù gia đình tôi ở Huế, chỉ cách nơi tôi hành quân khoảng 50 cây số…

Cầm tờ giấy phép trong tay, tôi đu theo chiếc GMC tiếp tế trên đường trở về hậu trạm ở Mang Cá và về đến nhà khoảng 11 giờ sáng. Đến 12 giờ trưa thì ba tôi đi làm về, tôi cùng gia đình ăn một bữa cơm sau hơn hai năm xa cách từ ngày ra trường (15/12/1972). Ba tôi làm việc tại Viện Đại Học Huế, ông cho tôi biết là tất cả nhân viên đã sẵn sàng di tản vào Đà Nẵng khi có lệnh. Khoảng 1 giờ trưa, từ giã gia đình, tôi đi xe Honda qua Bưu Điện Huế để gọi điện thoại về cho “em gái hậu phương” ở Sài Gòn. Tôi chỉ cho biết là tôi sẽ đi thăm chú K. (chú K. là chú của tôi đang dạy học tại Đà Nẵng). Nói chuyện được 5 phút, phải ngưng, nhường cho người khác vì người chờ để gọi quá đông.

Có một ông nhận là ký giả hỏi tôi có gởi hay nhắn gì về Sài Gòn không, ngày mai ông sẽ về Sài Gòn. Tôi cám ơn ổng vì chẳng có gì để gởi.

Lại leo lên xe Honda ra bến xe để trở lại nơi hành quân. Hơn 2 năm trời được 6 giờ phép về thăm cha mẹ ngay trong vùng hành quân! Những ai không ở trong hoàn cảnh lính chiến trên địa đầu giới tuyến thì tưởng đó là chuyện đùa, chính tôi cũng tưởng đùa, nhưng mà là thật. Không phải cấp chỉ huy làm khó thuộc cấp, chúng tôi từ trên xuống dưới đều thế cả, vì nhiệm vụ mà phải hy sinh, vì tụi VC xâm lăng muốn “làm khó, làm khổ” đồng bào.

Ba giờ chiều, ra đến vị trí đóng quân, thì một ngạc nhiên khác lại đến với tôi, đó là đơn vị của tôi đã không còn ở chỗ cũ như hồi sáng nữa mà đã hành quân trở ra lại Quảng Trị rồi!

Ngày 22/3/1975, một ngày khá yên tỉnh, khoảng 8 giờ sáng, toán tiền đồn báo về là từ hướng Quảng Trị có một số quân và dân đang di chuyển về tuyến chúng tôi. Tôi được lịnh là chận tất cả lại. Hỏi chuyện một Trung Úy Địa Phương Quân thì được biết là quân chính quy Bắc Việt rất đông cùng với nhiều chiến xa đã chiếm Quảng Trị, nơi mà mấy ngày trước, TQLC vừa bàn giao tuyến lại cho BĐQ và ĐPQ.
Đến chiều thì địch xuất hiện, ngang nhiên như chỗ không người, họ đâu có ngờ là TQLC vẫn còn đây, và được chúng tôi tiếp đón rất nồng hậu bằng hỏa lực cơ hữu cùng với 1 M41 tăng phái. Địch rút.
Ngày 23/03/1975. Một ngày khá căng thẳng, hai bên gờm nhau, địch biết ta, ta biết địch nhưng hai bên đều án binh bất động. Hai bên đều đánh hơi được là thế nào cũng sẽ có một cuộc thư hùng sẽ xảy ra nhưng chưa biết sẽ xảy ra khi nào thôi. Gọi pháo binh không được, không biết tại sao. Từ khi tôi làm ĐĐP, luôn luôn có một Thiếu Úy “đề lô” thuộc pháo binh cơ hữu của TQLC đi với tôi nhưng mấy ngày gần đây không còn thấy nữa.

Đã ba tháng nay, sĩ quan “đề lô” của pháo binh TQLC đi với tôi là Thiếu Úy Lê Hạ Huyền. Tôi nhớ rõ họ tên vì ông T.U Huyền là bà con với tôi, tôi gọi ông bằng chú mặc dù tuổi ông nhỏ hơn tôi.

Ngày 24/03/1975, tôi nằm trên tuyến với ba Trung Đội 1, 2 và 3. Cả 3 trung đội dàn hàng ngang nằm trên những đụn cát, chỉ có những bụi dương liễu cao khoảng nửa mét, không có chỗ ngụy trang. Xin nói thêm là trong giai đoạn lính tổng trừ bị TQLC “được” làm lính địa phương, đối phó với giặc có chiến xa thì quân số của một đại đội TQLC trung bình là 160, bao gồm một tiểu đội chống chiến xa (TĐCCX). Mỗi quân nhân trong TĐCCX ngoài 1 cấp số đạn M16 còn mang 3 khẩu M72. Tức là mỗi đại đội TQLC có hơn 30 khẩu M72, một loại vũ khí diệt tank hữu hiệu vào thời điểm đó.

Hôm ấy khoảng 10 giờ sáng mà trời vẫn còn sương mù dày đặc, tầm nhìn rất giới hạn, toán tiền đồn báo có tiếng của chiến xa (CX) nhưng chưa xác định được loại nào vì chưa thấy rõ. Mặt trời từ từ xuyên thủng màn sương mù dày đặc và chúng tôi đã thấy chiến xa địch xuất hiện, 1 rồi 2, rồi 3, rồi 4, rồi 5 chiếc T54 với bộ binh tùng thiết, dàn hàng ngang tiếng thẳng về hướng phòng thủ của đại đội tôi. Tôi gọi máy báo cho ĐĐT là Đại Úy Ngô Kim Anh biết tình hình và xin pháo binh yểm trợ. Tôi gọi pháo binh, cho tọa độ. Tràng đầu tiên hơi xa, tôi điều chỉnh gần lại 50, vẫn còn xa, gần lại 50 nữa thì đạn đã nổ chụp ngay trên đội hình của địch. Địch bắt đầu dừng lại, lúng túng rồi hoảng hốt, địch chưa thấy ta. Yếu tố bí mật và bất ngờ đang nằm phía ta. Lệnh đại đội cho tôi chơi ống thổi lửa (M72) nhưng chưa cần thiết, một khi phóng M72 ra là phải chắc ăn, “cua phải bị nướng”, phải chờ chúng tới thật gần, nhất 9 nhì bù, CX còn ở xa, không trúng mục tiêu mà vị trí của mình bị lộ thì… với hỏa lực của T54, một khẩu đại bác 100 ly cộng với đại liên nó mà quạt lại thì tiêu. TQLC sống hùng, sống mạnh nhưng chắc là không sống lâu.

Cái hấp dẫn, hồi hộp, căng thẳng, bình tĩnh, sống chết trong đường tơ, mạng của hàng trăm lính trên tuyến đối diện với CX địch chính là tùy thuộc vào cấp chỉ huy lúc này đây. Lúc này đây, tôi không nghĩ gì đến cha mẹ tôi ở Huế, người yêu ở Sài Gòn, em hậu phương ở Đà Lạt, những nụ cười duyên BTX sáng Chúa Nhật trên khu phố Hòa Bình, nhà Thủy Tạ v.v… mà là mạng sống của anh em tôi, của tôi trước họng súng 100 ly của T54.

Tôi còn nhớ thời gian TĐ7 về “hấp” ở TTHL Đống Đa tại Phú Bài, trong một buổi huấn luyện và thực tập bắn M72, tôi được chỉ định bắn M72 cho quân nhân trong ĐĐ xem. Với cự ly 150 mét, trời nắng, gió nhẹ, tầm quan sát rõ, tôi đã bắn bay mục tiêu là 3 cái thùng phuy tượng trưng cho T54. Đó là kết quả của những ngày thao trường đổ mồ hôi, công sức huấn luyện của các Đại Úy Tôn, Đại Úy Nhồng, Đại Úy Thái, Đại Úy Dục…

Xin thành thật cám ơn quý vị, nhờ các vị huấn luyện đã tạo cho tôi niềm tự tin trước họng súng CX T54, tôi sẽ chờ chúng tới thật gần, vào tầm hủy diệt 99% của súng chống CX M72.
Chúng tôi quyết ém quân chờ chiến xa địch, lọt ăn, không lọt đền, phải tương đối chắc ăn mới khai hỏa. 200 mét, rồi 180 mét, rồi 150 mét, tôi ra hiệu cho TĐCCX chuẩn bị, sẵn sàng rút chốt an toàn của M72. T54 cùng bộ binh tùng thiết rõ dần, mặc quần áo kaki Nam Định, đầu đội nón cối, tất cả đều ngụy trang bằng những cành dương. Pháo binh vẫn rót vào vị trí địch, 1 tràng, 2 tràng, 3 tràng… Bùm! Bùm! Bùm! Khói lửa mịt mùng, một T54 đã bị trúng đạn pháo binh, hai chiếc bị trúng M72, bộ binh tùng thiết bắt đầu rụng, địch nao núng rồi chuyển hướng chạy về phía rừng dương ẩn núp. Nhưng khốn khổ cho chúng là nơi đó có Trung Đội 2 phòng thủ được tăng cường chiến xa M41. Tôi nhìn ra đàng sau thì thấy đại đội trưởng đang bàn luận với Thiếu Tá Lê Quang Liễn, Tiểu Đoàn Phó, ông là người chỉ huy trực tiếp cánh B. Mỗi lần đụng trận, ông luôn có mặt tại tuyến đầu với tụi tôi. Đó là cách đánh giặc của VB/TQLC.

Ta và địch gần như “sáp lá cà”, không dùng PB được nữa, TQLC và M41 trực diện với T54 và VC tùng thiết! Thiệt hại cả hai bên, chiến trường là thế, địch chết la liệt thì anh em TQLC chúng tôi cũng thiệt hại không ít. Nhưng biết làm sao hơn, chúng tôi đã tận dụng những gì học hỏi được ở quân trường và kinh nghiệm chiến trường, đã tận lực tận sức người và khả năng chỉ huy để giảm thiểu thiệt hại cho đồng đội, và quan trọng hơn, chúng tôi vẫn đứng, thuộc cấp thấy chúng tôi vẫn đứng, đó là điều trường Mẹ không hổ thẹn có những đứa con như thế, như thế.

Đến chiều tối thì được lịnh rút, mang theo thương binh tử sĩ, bỏ mặc vũ khí chiến lợi phẩm, súng ta còn mang không hết thì mang theo “củi” của địch làm gì? Súng không đạn là củi. Mang theo “củi” để kể công để thượng cấp cho ADBT! Địch cũng án binh bất động.

Đêm 24/3/1975, khoảng 12 giờ khuya, trên đường lui binh, chúng tôi lại bắn cháy một chiến xa, không phải T54 mà là M41 của ta. Không phải bắn lầm đơn vị bạn vì tối trời mà cố tình bắn vì M41 đã hết xăng, phải dùng M72 để bắn cháy M41 sau khi đã thảy vào pháo tháp hai trái lựu đạn. Dứt khoát không để lọt vào tay địch.

Khoảng 2 giờ sáng, trên đường rút quân, Thiếu Tá Lê Quang Liễn gặp tôi, ông và tôi im lặng siết tay nhau như chúc mừng nhau còn sống, rồi chụm đầu trên tấm bản đồ dưới ánh đèn pin trong M113 để xác định…, ông dặn tôi nhớ chuyển thương binh nặng ưu tiên đi trước, vì có tín hiệu báo cho biết địch đang áp sát theo sau.
Ngày 25/3/1975, khoảng 8 giờ sáng, TĐ7/TQLC về tới cửa Thuận An, ở đây đã có rất đông dân chúng cùng các đơn vị bạn khác trong tình thế vô cùng hỗn độn mà chắc chắn có du kích và đề-lô PB địch trộn vào, sẽ vô cùng nguy hiểm khi có súng nổ hay làm mục tiêu cho pháo địch, vì thế Thiếu Tá Phạm Cang cho lệnh tiếp tục di chuyển dọc theo bờ biển xuôi về phía nam để bắt tay với đơn vị đi trước là TĐ4/TQLC của Thiếu Tá Đinh Long Thành K19. Vì TĐ7 là tiểu đoàn đoạn chiến, đi sau cùng trong hệ thống chỉ huy của Lữ Đoàn 147/TQLC được lệnh lui về Đà Nẵng theo lộ trình dọc theo bờ biển Thuận An rồi vượt qua cửa Tư Hiền đề vào Đà Nẵng, nếu không có tầu Hải Quân vào bốc.

Đến trưa, gặp TĐ4/TQLC, tiểu đoàn cho lệnh dừng quân, lập tuyến phòng thủ ngay trên các đồi cát. Nhìn lại phía sau, chúng tôi thấy cả một đám đông, rất đông bám sát theo sau chúng tôi. Thật là cảm động và xót thương cho đồng bào tôi, nhưng “tình dân quân cá nước” trong hoàn cảnh này thì thật nguy hiểm cho cả hai bên. Chúng tôi mở đường hướng dẫn cho họ tiến về phía trước, xuôi Nam, nhưng hình như đồng bào không muốn rời xa chúng tôi!

Giữa bãi cát bao la, trên trời ánh nắng chói chan rọi xuống, trước mặt là biển cả xanh ngắt, sau lưng là đầm Cầu Hai, đầm Hà Trung nước mênh mông, nhưng bi đông chúng tôi đã cạn khô, cổ họng chúng tôi đắng nghét vì khói thuốc và khói súng, khát, khát và khát! Một chiếc trực thăng từ hướng Đà Nẵng bay ra và thả tự do xuống một số thùng gạo sấy để tiếp tế cho chúng tôi, gạo sấy lấy nước nào đổ vào để thành cơm?

(Sau này trong bài viết Tháng Ba Buồn Hiu của Tiểu Cần, âm thoại viên của Tướng Tư Lệnh TQLC thì trực thăng đó là C&C của Tư Lệnh, người mang gạo ra tiếp tế chính là chánh văn phòng, NT Nguyễn Quang Đan K21 và Tiểu Cần, vì xin, nhưng không còn trực thăng để tiếp tế lương thực và nước uống cho quân sĩ! Trực thăng bay đi đâu hết rồi!)

Đến chiều thì gặp Trung Úy Hoàng Công Một K25 thuộc Tiểu Đoàn 5 TQLC điều quân, hai thằng chỉ thăm hỏi nhau được vài câu và sau đó thì ai làm phận sự người đó. Trung đội trưởng Cúc của ĐĐ H.C. Một đã hy sinh tại đây.

Đến tối thì VC đã tấn công TĐ4/TQLC, Thiếu Tá Nguyễn Tri Nam K22, Tiểu Đoàn Phó và Đại Úy Tô Thanh Chiêu, Đại Đội Trưởng Đại Đội II, hy sinh.

Thiếu Tá Phạm Cang, TĐT/TĐ7, bị thương nhẹ do trúng miểng cối 82 ly VC khi điều động M113 đánh chiếm mục tiêu.

Em ruột Thiếu Tá Liễn cũng bị tử thương vào buổi chiều.

Theo kế hoạch, 12 giờ khuya sẽ có tàu vào bốc, nhưng chờ mãi chẳng thấy.

Ngày 26/03/1975, nhìn ra khơi thấy nhiều tàu của Hải Quân, lớn có nhỏ có. Đến trưa thì có một chiếc tàu há mồm vào để bốc thương binh và BCH/LĐ. Một chiếc thứ hai vào, nhưng lần này thì không được may mắn như chiếc trước, địch đã dùng hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 bắn vào ngay ống khói của tàu và tàu coi như bất khiển dụng. Một số chết và bị thương ngay trên tàu.

Kể từ giờ phút này, Thiếu Tá Phạm Cang, TĐT/TĐ7, nắm quyền Xử Lý Thường Vụ Lữ Đoàn Trưởng LĐ 147 TQLC. Theo kế hoạch của ông thì TĐ7 bung rộng ra, sẽ là nốt chặng cuối cùng, làm an toàn bãi bốc cho các TĐ bạn và TĐ7 sẽ là đơn vị cuối cùng lên tàu sau TĐ4, TĐ3, TĐ5 TQLC. Rất tiếc là chẳng có chiếc tàu nào vào bốc kể từ lúc đó mặc dù đến chiều vẫn có lịnh là 8 giờ tối sẽ có tàu vào, rồi đến tối lại có lịnh là 12 giờ khuya sẽ có tàu vào… và chẳng bao giờ có tàu Hải Quân vào đón chúng tôi. Đứng trên cát, tứ bề nước mênh mông, không nước, không đạn, nhưng chúng tôi còn có cấp chỉ huy và đồng đội.
Thiếu Tá Phạm Cang, TĐT/TĐ7, kiêm xử lý thường vụ chỉ huy LĐ147/TQLC khi đó đã bắt liên lạc được với người bạn cùng K20 chỉ huy đoàn tàu LCM sẵn sàng bốc TĐ7 vào Đà Nẵng, nhưng Thiếu Tá Cang đã từ chối, không thể chỉ đi có TĐ7, mà phải ở lại cùng toàn thể Lữ Đoàn, trong đó có TĐ4 của NT Đinh Long Thành K19, TĐ5 của NT Phạm Văn Tiền K20, TĐ3 của NT Nguyễn Văn Sử K20. Tôi xin trích đoạn bài viết của Thiếu Tá Phạm Cang:

“10 giờ sáng ngày 25/3/75, trên tần số không lục tôi nhận ra tiếng người bạn cùng khóa, Thiếu Tá Trần Văn Thao, anh chỉ huy đoàn tàu Quân Vận (LCM) từ Đà Nẵng ra Thuận An để đón BĐQ, nhưng không thể nào liên lạc được. Anh hỏi tôi có thấy anh em Mũ Nâu không. Nhìn quanh tôi chỉ thấy 5, 3 anh. Tôi cho Thao biết. Anh nói: “Tôi sẽ đưa các bạn vào Đà Nẵng, hãy chuẩn bị và đánh dấu bãi bốc.” Rất tiếc tôi không thể chỉ đưa TĐ7 đi, vì còn trách nhiệm với các tiểu đoàn bạn. Tôi cám ơn Thao”.

Một tấm gương sáng khác của cấp chỉ huy mà tôi cần nhắc đến: Thiếu Tá Lê Quang Liễn, tải thương xác người em ruột lên tàu xong rồi, vị Tiểu Đoàn Phó TĐ7 của chúng tôi nhẩy xuống biển, bơi trở lại vào bờ để cùng sống chết với chúng tôi.

Đêm 26 rạng ngày 27 tháng 3 năm 1975, một đêm trăng sáng vằng vặc, biển động, nhìn ra xa vẫn thấy đèn của Hải Quân lấp lánh ngoài khơi… và chúng tôi “chôn súng”!

Những người lính TQLC đã bắn cháy chiến xa T54 của địch, đã bị hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 của địch bắn cháy tàu của họ. Họ đã nhai những hạt gạo sấy sau cùng vào ngày hôm qua, đã bắn những viên đạn cuối cùng vào ngày hôm nay. Và khi không còn gì để chiến đấu, họ đã tự đào hố để chôn súng, bản đồ, địa bàn, thẻ bài, bằng lái xe, bằng dù, thẻ quân nhân… và đã cắn răng chôn ngay cả chiếc nhẫn Võ Bị, là vật bất ly thân của những sĩ quan xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Những người lính Tổng Trừ Bị thuộc ĐĐ2/TĐ7/Lữ Đoàn 147 Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu và bị bắt làm tù binh chiến tranh (POW: Prisoner Of War) như vậy đó.
Bất cứ ai, đừng bao giờ bảo Lữ Đoàn 147/TQLC là những hàng binh, nguy hiểm vô cùng, hãy cẩn thận trong lời nói, thưa các ông, xin nhắc lại: NGUY HIỂM VÔ CÙNG!!!

Riêng cá nhân tôi, một người lính VNCH, một kẻ chiến bại, tôi chưa bao giờ oán trách cấp chỉ huy của tôi dù là cấp Tiểu Đoàn Trưởng hay vị Tổng Tư Lịnh Tối Cao của Quân Đội. Cái nhìn của tôi chỉ là ở cấp chiến thuật, làm sao biết được cấp chiến lược… Bao nhiêu đắng cay, tủi nhục… đổ lên đầu kẻ chiến bại. Nếu sau khi mất QĐI, rồi QĐII, Hoa Kỳ giữ đúng cam kết với đồng minh VNCH, lại nhảy vào cuộc chiến, như đã xảy ra tại Tiều Tiên năm 1953, nếu kết thúc cuộc chiến mà VNCH là kẻ chiến thắng, chúng ta sẽ nói gì? Nói ngược lại chăng? Hỏi tức là trả lời. Chúng ta hãy suy nghĩ một cách công bằng.

* * *

Một người bạn đã hỏi tôi sẽ làm gì nếu lịch sử được lập lại hay nếu có kiếp sau?

Vâng, câu trả lời của tôi là tôi sẽ lại tình nguyện thi vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, rồi khi ra trường lại sẽ tình nguyện gia nhập lực lượng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến. Và nếu được chọn lựa thì tôi xin được chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Tư Lịnh Phó TQLC Nguyễn Thành Trí, Trung Tá Lữ Đoàn Trưởng TQLC Nguyễn Xuân Phúc, Trung Tá Lữ Đoàn Phó Đỗ Hữu Tùng, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Phạm Cang, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó Lê Quang Liễn v.v…, đó là những cấp chỉ huy mà tôi rất ngưỡng mộ và kính phục, trên chiến trường cũng như trong “tù trường”…

CA, ngày 26/03/2014
Người trong cuộc
MX Lê Khắc Phước ĐĐ2/TĐ7/LĐ147/TQLC
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#1932 Posted : Tuesday, May 19, 2015 1:28:06 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


UserPostedImage


Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng


Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt từ bốn mươi năm về trước.
Người Việt Nam Tự Do ở miền Nam đã mất quê hương đúng bốn mươi năm rồi.
Mặc dù đã chọn nước Úc là quê hương mới, nhưng mỗi năm, cứ đến Tháng Tư là tôi cũng như bạn đều cảm thấy bồn chồn, nhớ lại quê hương xưa, nhớ thành phố cũ, nhớ từ ngôi trường Tiểu Học, Trung Học, Đại Học, nhớ Quân Trường Thủ Đức, nhớ Quân Trường Dục Mỹ, nhớ núi đồi Pleiku, nhớ người bạn đã cùng một thời chiến đấu, có người còn đó, có người đã mất đi:


Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Xa nửa địa cầu thương nhớ mãi
Ôi những tàn xương ở cố hương..!
(Thục Vũ)


Để hồi tưởng lại quá khứ, chúng ta thường mở lại những giòng thơ, những bản nhạc cũ. Đó là lý do tôi đi dự buổi “Chiều Nhạc Thính Phòng – Tưởng Niệm 40 năm – 1975–2015”
Bạn ạ, bản nhạc mà tôi thích nghe nhất, lời nhạc gợi lại cho tôi nhiều nhớ nhung nhất, tôi mời bạn cùng nghe lại với tôi:

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng…”


Chỉ một câu hát đó thôi, đã làm cho tôi vẽ ra hình ảnh oai hùng, lãng mạn, tình tứ và nên thơ của người lính trẻ, đã chiến đấu oai hùng nơi trận tuyến. Khi chiến trận vừa kết thúc, được thưởng vài ngày phép để về thăm nhà, anh không kịp tắm rửa thay bộ chiến y mới, chỉ kịp tháo bỏ sợi dây ba chạc, nhờ bạn bè cất khẩu súng vào kho, anh đã vội vàng lên đường ngay cho kịp chuyến xe tiếp tế vừa mới lên hồi sáng.
Về đến nhà, người yêu nghe tiếng gọi của anh, đã thật là ngạc nhiên, hớn hở ra mừng đón… ôm lấy anh… áo anh còn đầy mùi thuốc súng…

Hào hùng thay! Lãng mạn thay!

Chỉ cần một lời thơ, một câu hát, mà người nhạc sĩ đã vẽ lên hình ảnh của một người Lính Trẻ, vừa làm tròn bổn phận người Trai Thời Chiến, vừa làm vừa lòng người yêu nhỏ ở hậu phương.
Tại sao tôi biết người Lính đó còn trẻ?

Đó là vì, anh đã hối hả đến thăm người yêu, mặc dù:

“Ngoài trời mưa lê thê, qua ngàn chốn sơn khê…

Nếu người lính đã lớn tuổi, và đã có vợ con rồi, anh ta không có vội vã như vậy. Trời đang mưa tầm tã, đường về lại cong queo qua ngàn chốn sơn khê, về làm chi cho mệt, lỡ tài xế lạc tay lái, đạn bắn không chết, lại chết vì xe lật lãng nhách! Hãy đi tắm rửa thay quần áo cho khỏe rồi sáng mai tàn tàn đi về nhà có phải là có lý hơn không!

Tôi ngồi im lặng như chưa bao giờ im lặng như vậy (Nhạc thính phòng mà! Phải im lặng mới nghe được từng lời ca tiếng nhạc chứ!) để tiếp tục nghe bản nhạc tuyệt vời này. Người ca sĩ, chị Dương Hòa, với giọng hát trong trẻo, uốn theo từng lời ca nốt nhạc, giọng chị cao vút lên:

“Anh như làn gió… bay ngược xuôi,
Theo đường mây… tóc tơi bời… lộng gió bốn phương…”


Người lính trẻ về thăm người yêu được vài giờ ngắn ngủi rồi lại phải ra đi như một làn gió, bay ngược, bay xuôi, theo đường của mây trôi, mái tóc bồng lên vì lộng gió bốn phương. Nhưng dù có bay ngược bay xuôi, dù có gió lộng mưa nguồn, người trai vẫn chỉ có một tấm lòng yêu nước non và chung thủy với người yêu:

“Nước non còn đó, một tấm lòng,
Không mờ phai… cùng năm tháng…”


Người nhạc sĩ nào mà lại tài ba quá như vậy! Nhạc vừa hay, lúc thì cao vút lên tận trời mây, lúc thì chùng xuống mãi tận đáy của con sông, ngọn suối. Lời ca lại vừa tình tứ lại vừa oai hùng như vậy?

Người nhạc sĩ này phải là một người Lính! Không những là Lính, anh phải là một người Lính Chiến Đấu, ở nơi trận tiền.
Đúng! Bạn đoán đúng rồi đó.

Người nhạc sĩ tài hoa này là Đại Tá Nguyễn Văn Đông, là nhà thơ Phượng Linh, Phương Hà, nhà viết tuồng cải lương Đông Phương Tử…Nguyễn Văn Đông, với ba lô nón sắt hành quân. Nguyễn Văn Đông sinh năm 1932, tại Quận Nhất, Sài Gòn.

Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu (14 tuổi). Tại đây, ông vừa học làm lính, vừa được học nhạc với các giáo sư âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn sau, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay, bản nhạc “Thiếu sinh quân hành khúc” đã được chọn làm bài hát chính thức của Trường Thiếu Sinh Quân.

Sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, năm 1951, ông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy vào năm 1952. Năm sau, ông được cử đi học khóa huấn luyện “Ðại đội trưởng” tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu Đoàn Trưởng” tại Trường Chiến Thuật Hà Nội. Ra trường, ông nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553, trở thành Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia Việt Nam khi mới 24 tuổi.

Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, ông được chuyển vào Nam, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trung úy Trưởng phòng Hành quân. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm chức Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là, tham gia Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu 1956 do Tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh chiến dịch. Những bài hát như Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới và Mấy Dặm Sơn Khê đều đã được ông sang tác ở nơi trận tiền miền Bắc và Đồng Tháp Mười miền Nam, khi ông còn rất trẻ, mới có người yêu, vì thế, những bản nhạc này mới đầy… Mùi Lính, lãng mạn và chứa đầy tình quê hương đất nước.

Hai MC chính trong buổi văn nghệ, một là Quốc Việt, một người mà đa số dân tỵ nạn chúng ta đều biết anh là ai, không cần nhìn mặt, chỉ cần nghe cái giọng trầm ấm phát lên là chúng ta đã biết chàng là ai. Lần này, anh không đọc thông tin nữa, mà giới thiệu từng bài hát với lời lẽ thật là chau chuốt mà trước đây, chỉ có Hà Huyền Chi, Văn Quang, Phan Nhật Nam viết mà thôi. Người MC thứ hai, có thể đã xuất hiện nhiều lần rồi nhưng tôi ít đi đó đây, nên đây là lần đầu tiên tôi được nghe giọng nói của chị. Giọng của chị là giọng Bắc, hơi cao, thật là đặc biệt. Cái giọng này… hình như tôi đã được nghe từ lâu lắm rồi:

“Người lính trưởng thành theo nhịp độ gia tăng của cuộc chiến, đầu đội nón sắt, vai mang ba lô, tay siết chặt khẩu súng, anh bước đi mòn vẹt đế giày sau trên khắp mọi nẻo đường để canh giữ quê hương.
Anh đi qua những địa danh trên đất nước mình mà nghe sao xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, trong rừng già trùng điệp, giữa ban ngày giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Anh băng mình dưới lửa đạn thù phủ chụp Cồn Tiên, Ái Tử; nằm phục kích bên ven phá Tam Giang nghe tiếng hò Nam Ai vẳng trên đầm nước mênh mông theo gió lướt về nghe thảm đến não lòng … Anh lặn lội ngày đêm trong bùn lầy ngập nửa thân mình nơi những cánh rừng Tràm, rừng Ðước, ở Ðồng Tháp Mười, ở U Minh để nghe muỗi vo ve như sáo thổi, thấy đỉa lội như bánh canh ….

Trong hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn cỏ đẫm sương mai. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm đen, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ. Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn, đem hy vọng cuộc đời đặt trên nòng súng thân quen. Anh đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc…”
Người xướng ngôn viên nào đã nói lên những nỗi cơ cực, hiểm nguy của đời Lính rồi sau đó mời người Lính nghe một bản nhạc đầy tình quê hương… bạn có nhớ được ai chưa…?

DẠ LAN!
Đúng rồi, bạn ạ!
Người xướng ngôn viên đang đứng trước mặt tôi, trên sân khấu, đang giới thiệu bài hát, đã có giọng đọc giống như Dạ Lan, người điểu khiển “Chương Trình Dạ Lan, tiếng nói của người Em Gái Hậu Phương gởi cho người anh nơi tiền tuyến”.

Thời còn làm lính, tôi chưa hề được hân hạnh giáp mặt Dạ Lan, và cô cũng ít khi nào xuất hiện trước hàng binh. Những người lính như tôi, như bạn, chỉ có dịp nghe tiếng nói của cô trên làn sóng điện, và nhận được những tấm hình của cô do Nha Tâm Lý Chiến hoặc Chiến Tranh Chính Trị gởi tới chúc Tết đầu xuân mà thôi. Qua tới bên Úc rồi, qua sự giới thiệu của nhà văn Hoàng Hải Thủy, tôi mới có dịp nói truyện trực tiếp với cô, qua điện thoại. Dạ Lan 1 hiện còn ở Việt Nam, Dạ Lan 2 đang ở bên Mỹ, nên cả hai đều không có thể xuất hiện ở đây được, mãi đến khi chị tự giới thiệu tên, tôi mới biết đó là chị Linh Hà. Trước 1975, chị Hà đã từng là xướng ngôn viên của đài phát thanh Đà Nẵng, nên chị đã có thật nhiều kinh nghiệm trong công việc của một người xướng ngôn viên.

Chị NiNi, chủ nhân của nhà hàng Candelles và anh Châu Xuân Hùng đã rất hãnh diện chỉ cho tôi thấy… Bức Tượng Thương Tiếc do ban tổ chức (Quốc Việt, Châu Xuân Hùng, Kiều Tiến Dũng và Nguyễn Quỳnh Châu) đã dựng lên, ở góc trái của sân khấu, phỏng theo bức tượng chính “Thương Tiếc” của Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu, đặt tại Nghĩa Trang Biên Hòa.
Cũng vì cảm động về tấm lòng Thương Lính của ban tổ chức, mà chị NiNi đã góp phần bằng cách không lấy lệ phí mướn nhà hàng, tặng luôn cả tiền điện, tiền ga sưởi ấm, để… ấm lòng người chiến sĩ.
Cũng vì mục đích cao đẹp nói trên của ban tổ chức, mà các cựu quân nhân và đồng hương tham dự buổi nhạc thính phòng đã tự nguyện đóng góp một số tiền lớn, mà sau khi trừ mọi chi phí nhỏ, ban tổ chức đã có được số tiền lên đến $18,385. Ban tổ chức đã tuyên bố, chia hết số tiền này ra làm hai phần bằng nhau để trao tặng lại cho Hội Vietnamese American Foundation (VAF) để trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và Hội Tình Thương Foundation (TTF) để tặng lại cho các Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa còn lại ở Việt Nam.

CHUYỆN XƯA NGÀY ẤY THÁNG TƯ

Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc bốn mươi năm qua rồi, vết thương do chiến tranh tạo ra tưởng chừng như đã được phương thuốc thời gian xóa nhoà đi rồi. Thế nhưng, vì bọn Việt cộng xâm lược đã không ngừng tạo ra quá nhiều tang thương máu lửa cho đất nước, cho người dân Việt, cho người Lính Việt Nam Cộng Hòa, làm cho người dân Việt, người Lính Cộng Hòa không thể nào quên được những hành vi giết chóc, trả thù dã man, những hành động cướp đất cướp nhà, mà lúc nào chúng cũng mở miệng ra là đem lại cơm no áo ấm, hạnh phúc nơi thiên đàng Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một điển hình, sau ngày mất nước, ông và hầu hết những người Lính Cộng Hòa đã bị bắt đi tù trong cái nhà tù mà bọn Việt cộng gọi là “Trại Học Tập Cải Tạo”, nhưng mục đích chính của chúng là để cho người Lính Cộng Hòa chết dần chết mòn giữa rừng sâu nước độc. Kết quả là sau hơn 9 năm ở trong tù, vì bị làm việc lao động quá sức, vì bệnh tật mà chúng không cho thuốc men điều trị, vì bị khủng bố tinh thần, Đại Tá Đông chỉ còn da bọc xương, chờ chết. Tới lúc đó, bọn chúng mới gọi người nhà lãnh ông về để chờ đem chôn. Khi được chính phủ Hoa Kỳ nhận cho đi định cư theo chương trình HO, ông đã không thể nào nhúc nhích tay chân, nên đành xin ở lại chờ chết trên quê hương nơi ông sinh ra. Khi thuốc tây không trị bệnh cho ông được, gia đình ông không còn con đường nào khác ngoài việc uống đại liều Thuốc Bắc, Thuốc Nam, đằng nào cũng chết. Nhưng, may mắn thay, căn bệnh thấp khớp, co quắp bắp thịt làm cho tay chân ông không cử động được, đã từ từ bớt đi, cho đến nay, mặc dù tính mạng ông không còn bị đe dọa nữa, ông cũng chỉ có thể đi đứng chút đỉnh mà thôi, và không bao giờ có thể sáng tác nhạc trở lại nữa (Tài liệu lấy trên nhiều nguồn internet).

Trở lại ngày 30 tháng tư năm ấy, 1975, chúng ta đang ở đâu? Làm gì? Suy nghĩ gì? Bạn và tôi chắc chắn không bao giờ quên.

Anh Cảnh, Khóa 8/68 Đồng Đế (vì Thủ Đức quá đông) nhớ lại ngày đó như sau:
Lúc đó, tôi giữ chức Trung Đội Trưởng Pháo Đội B của Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Phòng Không, đóng tại Nhà Bè, để bảo vệ cho kho xăng của các hãng dầu Shell, Caltex và Mobil. Pháo đội của tôi, sau khi tham dự chiến trường Tây Ninh Trảng Lớn, đã được đưa về Nhà Bè từ tháng 3/1975. Pháo đội của tôi có hỏa lực rất mạnh, gồm 6 khẩu đội, mỗi khẩu đội trang bị bốn dàn đại liên Swatt bốn nòng, mỗi dàn được gắn trên một xe GMC Cargo 5 tấn. Trên xe, ngoài pháo tháp đại liên, chung quanh chứa cả trăm thùng đạn. Để bảo vệ kho xăng Nhà Bè, ngoài pháo đội B của tôi, còn có toán Thám Sát Điện Tử (dùng các thiết bị điện tử để đo hơi nóng, chấn động và từ trường) và đoàn Quân Khuyển nữa. Bên ngoài kho xăng, còn có Đặc Khu Rừng Sát của Hải Quân và Địa Phương Quân trú đóng nữa.

Với hỏa lực pháo binh hùng hậu như vậy, với đầy đủ quân lính trang bị đầy đủ, tinh thần vững chắc, tôi không bao giờ tin rằng miền Nam có thể thất trận, mặc dù lúc đó đã có nhiều tin tức xấu dồn dập từ Miền Trung gởi về. Qua đến Tháng Tư, có nhiều đơn vị báo cáo tình trạng bỏ ngũ, tôi cảnh giác đơn vị mình, tập hợp anh em, tuyên bố:

– Hỏa lực của chúng ta còn đầy đủ, Quân Đoàn III còn đây, đơn vị bạn còn đó, chúng ta không thể nào thua. Tôi còn đây với anh em, anh em hãy bền tâm, cố gắng chiến đấu, chu toàn nhiệm vụ bảo vệ kho xăng, bảo vệ đồng bào và đất nước mình.

Đến ngày 29/4, tôi mất liên lạc với Đại Đội, với Tiểu Đoàn, nhưng với máy truyền tin nội bộ, tôi được biết tất cả pháo binh của Quân đoàn và các binh chủng khác đã tập trung về Trường Đua Phú Thọ để yểm trợ cho những toán quân bạn, nhất là cho anh em Nhảy Dù, Biệt Động Quân và Sư Đoàn 18 còn đang chiến đấu thật can trường ở khu Biên Hòa Long Khánh. Đêm 29, tôi tự quyết định cho gom hết 6 khẩu đội đại liên lên xe để sáng sớm mai trực chỉ Phú Thọ, tiếp tục chiến đấu cùng với anh em pháo binh khác.

Sáng sớm, anh em chúng tôi đã cơm nước sẵn sàng, lên xe mở máy đi về Trường Đua Phú Thọ, máy truyền tin nội bộ vẫn mở 24/24 để liên lạc với anh em, tôi mở thêm cái radio để theo dõi tin tức. Bất chợt, tôi nghe giọng Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố: “Đầu hàng vô điều kiện, anh em binh sĩ đâu ở đó, chờ bàn giao.”
Tôi giựt mình luống cuống, không biết làm sao, cho đoàn xe dừng lại, tập họp anh em binh sĩ. Mọi người vào hàng, đứng nghiêm chỉnh chờ lệnh. Tôi cho tất cả anh em, ai có radio cũng mở hết lên để nghe lại, có phải là Tổng Thống ra lệnh đầu hàng hay không? Nghe lại lần thứ hai… thứ ba… vẫn là đầu hàng vô điều kiện, ai ở đâu ở đó, chờ bàn giao.

Những người lính của tôi, họ bật khóc, gào lên đầy tức tối, không tin được những gì mình nghe là sự thật:

– Đầu hàng? Tại sao lại đầu hàng? Lính mình còn đây, pháo binh đầy những đạn, tại sao không chiến đấu tới cùng mà lại đầu hàng? Lại đầu hàng vô điều kiện nữa? Rồi anh em chúng ta ra sao?
Tôi nói lời cuối cùng với anh em trong trung đội:
– Tôi và anh em đã ở lại đơn vị, đã đồng lòng về Phú Thọ chiến đấu tới cùng, nhưng tiếc thay, Tổng Thống của chúng ta đã đầu hàng giặc rồi, chúng ta đành phải buông súng mà rã ngũ. Anh em hãy cùng tôi, chào lá Quốc Kỳ lần cuối, rồi tan hàng, ai về nhà nấy, không bàn giao, nhục lắm.

Chúng tôi cùng đứng nghiêm chào lá Quốc Kỳ, rồi từ từ hạ nó xuống, tôi cuộn lại đem vào trong phòng, thay đồ dân sự, cất lá cờ vào trong túi. Ngoài kia, anh em lính tráng đang tháo cơ bẩm của tất cả các khẩu đại liên, liệng đi tứ phía rồi vừa khóc vừa ra đi.

Tôi bước ra ngoài, còn hai người lính đứng đó: Một Thượng Sĩ và một Binh nhì của Tiểu Đoàn 3 Phòng Không từ Quân Đoàn II về tăng cường cho trung đội, cả hai đều không có bà con thân thích gì ở đây cả, họ đứng chờ tôi cho họ đi theo. Ba anh em chúng tôi đi bộ, đi xe lam, xe ôm về nhà tôi ở Sài Gòn, sáng sớm hôm sau, anh em chúng tôi ăn chung với nhau bữa ăn sáng cuối cùng, rồi tôi đưa hai anh ra bến xe Miền Trung để về quê quán, anh em chúng tôi ôm nhau khóc ròng, không biết tới bao giờ mới được đoàn tụ.

Anh Nguyễn Thành Vinh, khóa 6/68 kể lại:
Ra trường, tôi được chỉ định về Tiểu Khu Phong Dinh, rồi về Trung Đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Trung Đoàn 31, Sư Đoàn 21. Sau một thời gian chiến đấu, tôi được đưa về học khóa 4/71 Hành Chánh Tài Chánh rồi về lại Trung đoàn làm việc. Ngồi văn phòng chán quá, tôi xin ra Trinh sát, mới được hơn một tháng thì lại có công lệnh gọi về làm ở Ban Lương Bổng, trực thuộc Tổng Nha Tài Chánh.

Đến ngày 30 tháng Tư, tôi vẫn còn đi làm, gặp anh Nghĩa, bạn cùng khóa, anh cho biết, Tướng Lê Văn Hưng vẫn còn đó, ông vừa cho lệnh anh em đi lấy lương khô chuẩn bị hành quân, ông nói với anh em:
– An Lộc tôi không bỏ anh em, thì lúc này tôi cũng càng không thể bỏ anh em mà đi.

Tới sáng hôm sau, Nghĩa tới nhà tôi, mặt mày trắng nhợt:
– Tướng Hưng tự sát rồi. Ổng chết hồi 6 giờ gì đó, tối hôm qua. Xác đã đem qua Quân Y Viện Phan Thanh Giản rồi. Tao với mày phải đi mua đồ để liệm cho ổng rồi đem chôn.
Tôi bàng hoàng xúc động, thương cho đất nước, thương ông Tướng đã không bỏ anh em mà đi. Tôi khóc một hồi cho vận nước, rồi hỏi Nghĩa:
– Mày… có tiền hông?
– Hổng còn đồng cắc, vừa cho anh em Lính để họ về quê quán hết rồi.
– Tao có chút ít, nhưng chắc không đủ để mua đồ.
– Thôi, chờ tao một chút, tao đi kiếm.

Một hồi sau, Nghĩa trở lại, nói “Ông Nam Hòa, chủ lò bánh mì đi quyên góp bà con được $70,000 đây”. Tôi xách chiếc Vespa chở Nghĩa đi mua đồ, không biết mua gì, tôi ghé nhà Trung Tá Bia hỏi thăm, ông chỉ nơi mùa trà và vải liệm. Mua xong, chúng tôi tới Quân Y Viện, đi ngang Phòng Lựa Thương, thấy xác của Tướng Nguyễn Khoa Nam còn nằm đó, đang có người lo. Tới nơi đặt xác Tướng Hưng, chị Hoàng tắm rửa thân xác ông lần cuối rồi thay quần áo, bỏ ông vào trong quan tài, tụi tôi quấn vải liệm cho ông, đặt vào trong quan tài, rải trà chung quanh rồi ra ngoài mướn xe lam đem quan tài ông đi chôn ở khu đất đường Nguyễn Viết Thanh.
Thưa bạn, vào giờ đó, ngày đó, tháng đó, năm đó, bạn đang ở đâu? Làm gì? Nghĩ gì? Bạn có thể cho tôi và mọi người cùng biết, hay không?



Nguyễn Khắp Nơi





UserPostedImage
Duy An  
#1933 Posted : Thursday, May 21, 2015 4:43:19 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage

Một bài văn thật hay của một nữ sinh lớp 12 VN


Môn Văn Học – Đề bài: “Xung quanh bạn, những thành tựu đổi mới của xã hội đất nước, có thứ nào đôi khi có thể sẽ tốt hơn, nếu: (theo suy nghĩ của bạn)…?”

Bài Làm

Sáng ngày 30 tháng 4 – Trôi theo dòng người tấp nập, tôi ngược lên cầu Thị Nghè rẽ trái đường Nguyễn Bỉnh Khiêm định vào đại lộ Lê Duẩn xem lễ duyệt binh chào mừng “Đại Thắng”, nhưng đến trước thảo cầm viên là cảnh sát công an ách lại kiểm tra, chỉ có giấy mời mới vào được khu vực trung tâm hành lễ.

Lỡ đi rồi biết làm sao, đứng bên lề đường trưa nắng như thiêu đốt, một chiếc xe bus quân đội đời mới dừng lại mở cửa hơi lạnh từ trong xe hắt ra mát rượi nhiều người đứng tuổi trên xe bước xuống, quân phục “Giải Phóng Quân” mới tinh một màu xanh lá với huân, huy chương lủng lẳng đầy ngực xếp hàng đủng đỉnh oai vệ đi sau người cầm cờ hướng vào khán đài.

Khát nước, bước qua bên kia đường mua ly nước mía, mắt tôi chợt dừng lại dưới đất cách vài bước chân ngồi bên cột đèn đường hứng cái nắng chói chang gay gắt là một bóng người lớn tuổi đen đúa cụt cả đôi chân cái nón vải sùm sụp trên đầu và chiếc áo rằn ri lá cây rừng bạc màu nắng gió trước mặt là cái lon sắt cũ kỹ đựng tiền lẽ.

Cầm ly nước mía tự nhiên đôi chân tôi bước lại, ngồi xuống 2 tay bê ly nước tôi ngỏ lời: Thưa, cho cháu mời bác ly nước và cũng không quên bỏ vào cái lon sắt tờ bạc mười ngàn đồng, ngạc nhiên bên trong cái lon sắt nằm chèo queo là cái huy chương bằng kim loại cũ mèm, tôi cầm lên ngắm nghía hỏi khẽ: bác là thương binh? Bác ấy cười móm mém: Thưa cô, tôi là phế binh chế độ cũ QL/VNCH, cái huy chương đó là “Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu” kỷ niệm trận ĐăkTô, Tân Cảnh.

Đứng ở đây xa quá không xem được gì nhiều. Tôi mua vé vào Thảo Cầm Viên kề bên, ngồi trên thảm cỏ xanh dưới bóng cây trốn cái nắng mang theo trong lòng một thứ gì đó nằng nặng, không dưng tự nhiên bỗng thấy vương vấn một thoáng ngậm ngùi…

Rồi tự hỏi: Sao cũng là người Việt Nam cũng chiến binh như nhau nhưng ngày “đại thắng” thống nhất non sông, dân tộc chứng kiến 2 số phận “Vinh Nhục” đôi đường tương phản đến não lòng như vậy?.

Rồi như tự trả lời cho chính mình: Nếu ngày xưa sau khi bị chia đôi 2 miền đất nước vào năm 1954 sao Miền Bắc, Bác Hồ không làm như miền Nam là “tuyên chiến” nhưng tuyên chiến với đói nghèo lạc hậu với nhược tiểu của một quốc gia vừa thoát tròng 100 năm nô lệ, 2 miền Bắc Nam cùng thi đua nhau, Sài Gòn ông Ngô Đình Diệm thì dựa vào viện trợ của Mỹ và các nước tư bản để phát triển cùng nhịp điệu với các quốc gia Đông Nam Á. Hà Nội thì ông Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô, Trung Quốc và khối Đông Âu viện trợ xây dựng lại miền Bắc sau cơn đói tang thương Ất Dậu, chưa cần thiết phải tuyên chiến đánh nhau và với vị trí đắc địa nhìn ra Biển Đông trên “đại lộ” hàng hải quốc tế thì sau hơn 60 năm (kể từ 1954) nếu sáng suốt và khôn khéo thì hôm nay chí ít 2 miền Bắc Nam đã như là Hàn Quốc – Đài Loan hay Singapore, kinh tế phát triển bao nhiêu thì xã hội kiến thức văn minh con người cũng cao theo chừng ấy và lúc này sau bao nhiêu năm, là lúc người dân 2 miền sẽ biết phải làm như thế nào để tương thích với tầm cao trí tuệ, để nhân danh nhân quyền nhất trí bằng một cuộc biểu quyết thống nhất trong êm đềm văn minh như Đông và Tây Đức trước kia và sẽ bầu tổng thống và Quốc Hội mà nhân sự là tổng hợp nhân tài trộn lẫn của cả 3 miền Trung Nam Bắc trong công bằng quang minh chính trực.

Và như vậy là hoàn toàn không có mấy triệu người, một thế hệ thanh niên rường cột quốc gia nằm xuống, không có biết bao cảnh tang thương đoạn trường do khói lửa chiến tranh bom đạn từ nước ngoài mang vào gây ra và quan trọng là đôi khi qua cuộc bầu cử thống nhất bởi trí tuệ văn minh nhân quyền đích thực của toàn dân phát triển qua 60 năm không bị chiên tranh hôm nay có thể Việt Nam không phải là một nước CS/XHCN mà được toàn dân chọn lựa là một quốc gia đa nguyên tự do dân chủ như đa phần các quốc gia trong LHQ hiện nay và vì vậy chắc chắn không có hình ảnh ngày lễ “Thống Nhất” duyệt binh mà có Bác thương binh QL/VNCH miền Nam ngồi bên vệ đường nắng bụi cùng cái huy “Anh Dũng Bội Tinh” và nhất là sẽ có gần trăm triệu người cùng chung vui chứ chẳng có triệu người nào buồn…

Tóm lại có rất nhiều thứ, nhưng một thứ lớn nhất “có thể sẽ làm cho xã hội tốt hơn rất nhiều so với ngày nay, nếu không có cuộc chiến tranh phát xuất từ miền Bắc vào miền Nam” gây ra.

Lê Trần Thu Nguyệt
Lớp 12/A4 – Trường THCS III – Quận… TP/HCM



Con gái tôi dưới nhà đi lên hỏi: Ba thấy bài viết con ra sao mà Thầy con nói “rất muốn cho em điểm 9 bài văn này, nhưng không thể”? mà con thì không thể nào hiểu nổi?

Tôi im lặng chỉ cười buồn nhìn con mình cắp cặp lên lầu chuẩn bị làm lại bài mới dù muốn nói với con: Hơn ba triệu đảng viên CSVN trong đó hàng chục ngàn Thạc Sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư mà họ còn không muốn hiểu thì một học sinh 17 tuổi như con thì làm sao hiểu được… Một mai không còn chủ nghĩa CS trên đất nước mình ắt con sẽ hiểu mà không cần đến ai để giải thích.

14/05/2015
Hoàng Thanh Trúc
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 5/22/2015(UTC)
phamlang  
#1934 Posted : Friday, May 22, 2015 4:55:46 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Đọc bài thơ Hai Người Lính

Phạm Đức Nhì


UserPostedImage

Ảnh của Chu Chí Thành (Tuổi Trẻ Online)

Hai Người Lính

Tôi với anh
hai mái đầu xanh
xanh như màu quân phục…
làng tôi sông Hồng nước đục
quê anh Vàm Cỏ lở bồi
mẹ nhớ tôi, hết đứng, lại ngồi
má mong anh, vào nhà, ra ngõ

Tôi đã ngỏ lời
vào một đêm trăng tỏ
trước lúc lên đường
ba lô anh
có kỷ vật người thương
đêm giở ngắm
trên đường hành tiến

Người này nói
anh đi bảo vệ quốc gia
người kia bảo
tôi vào nam cứu nước
tôi và anh
có bao giờ tính suy mất được
cho bản thân mình, cho mẹ, cho em
chỉ nghe kèn trống nổi lên
người hối thúc
đưa ta vào chiến trận

Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ
nước quê anh cá chết dạt bờ
người con gái quê anh, quê tôi
héo hắt đợi chờ
mình mê mải
với giấc mơ Bạo Chúa

Tôi và anh
hai mái đầu còn xanh
xanh như màu quân phục
Nào…!
hãy khoác vai nhau
ta cùng chúc phúc

Để tôi về ngoài ấy đắp đê
nước Vàm Cỏ
cũng đang gọi anh về
cùng cày cấy
nuôi mẹ già anh nhé

Mê muội qua rồi
chia tay trên lối rẽ
gửi cho nhau
lời xin lỗi muộn màng
một cánh mai tươi
một nén hương vàng
ta về
tặng những người đồng đội
ta bá vai nhau
để những người kia xóa tội
dưới suối vàng
Họ…!
chắc cũng đã ôm nhau…!
(không biết tên tác giả)


Hai người lính không vũ khí đứng sát vai nhau, hưởng cái cảm giác yên bình, không còn đì đùng tiếng súng. Giữa 2 chiếc áo màu xanh không có làn ranh quốc – cộng. Chỉ có 2 khuôn mặt trẻ, 2 đứa con yêu của mẹ Việt Nam. Hai khuôn mặt tuy có chút phong sương (người lính TQLC ở miền Nam có vẻ “dày dạn” hơn) nhưng trông rất hiền, rất lính mà lại rất người, đã tạo cảm hứng để thi sĩ viết lên bài thơ chắc sẽ làm rung động nhiều trái tim ở cả 2 miền nam bắc.

Trước bài thơ dạt dào cảm xúc, thấm đẫm tình người này tôi muốn ngồi thật nghiêm trang, không nghiêng bên này, ngả bên kia để thưởng thức cái hay, cái đẹp của từng chữ từng câu và chia sẻ sự chiêm nghiệm của mình với độc giả.

TỨ THƠ CŨNG LÀ Ý

Anh bộ đội miền Bắc tâm sự với người lính miền Nam về viễn ảnh hòa bình trên quê hương sau ngày Hiệp Định Paris có hiệu lực, chấm dứt cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa Nam Bắc Việt Nam.

Tấm hình của hai người lính đã giúp cho tứ thơ “hiện thực” hơn, dễ “bắt” hơn và nhờ thế bài thơ sinh động hơn nhiều.

GIẢI THÍCH VÀ DIỄN DịCH

Vì ngôn ngữ thơ rất dân dã, giản dị và rõ ràng, người đọc có thể hiểu ngay từ cái liếc mắt đầu tiên nên tôi xin bỏ qua phần giải thích diễn dịch để đi thẳng vào phần phân tích và nhận định nghệ thuật.

PHÂN TÍCH VÀ NHẬN ĐỊNH NGHỆ THUẬT

Hình thức:

Bài thơ có hình thức khá mới. Vẫn còn phảng phất mùi Thơ Mới nhưng đã có nhiều thay đổi để loại bỏ những khuyết điểm của loại thơ này.
•Số chữ trong câu: câu ngắn nhất 3 chữ, câu nhiều nhất 11 chữ. Ở khoảng giữa, từ câu 4 chữ cho đến câu 10 chữ, loại nào cũng được sử dụng. Có thể nói tác giả đã sắp xếp, thay đổi câu chữ hoàn toàn thoải mái và tùy hứng.
•Vần: bài thơ có vần; vần gieo liên tiếp. Do số chữ trong câu thay đổi với biên độ rộng nên hội chứng nhàm chán vần, cái giọng ầu ơ của thơ mới gần như biến mất. Hơn nữa, có đến 3 chỗ bắt đầu đoạn mới tác giả đã “thoát vận” nên bài thơ có vị ngọt rất vừa phải đủ để đưa tứ thơ nhẹ nhàng trôi nhưng hoàn toàn không gây cảm giác nhàm chán cho người đọc.


Bài thơ đã rất thành công về mặt hình thức.

Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ thơ dân dã, đơn giản dễ hiểu. Tuy nhiên, có lẽ chưa sống và tiếp xúc với người miền nam nhiều nên đôi lúc anh nói về người lính miền nam nhưng lời lẽ lại rất đậm mùi “bắc kỳ”:

mẹ nhớ tôi hết đứng, lại ngồi
má mong anh vào nhà, ra ngõ

và:

ba lô anh
có kỷ vật người thương
đêm giở ngắm trên đường hành tiến

Cảm xúc:

Ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ lúc tôi, lúc anh, lúc Nam, lúc Bắc rất gần gũi và dễ cảm; người đọc hiểu và chấp nhận ngay. Cảm xúc từ tứ thơ toát ra nhẹ nhàng nhưng cũng đủ để chảy thành dòng. Lần theo tứ thơ người đọc có thể cảm nhận trực tiếp tâm tình của tác giả mà hầu như không phải ngừng lại để lý trí làm công việc kiểm chứng.

Hồn Thơ

Ưu điểm lớn nhất của Hai Người Lính khiến tôi (và vài người bạn thường trao đổi chuyện văn chương) vấn vương với nó, yêu thích nó ngay từ lần gặp mặt đầu tiên là chất thơ, hồn thơ của nó. (Tôi không dùng từ cảm xúc vì theo tôi, thơ có đến 3 tầng cảm xúc mà chất thơ, hồn thơ ngự ở tầng cao nhất, sang trọng nhất.) Bình thường, với những bài thơ có hồn, tứ thơ phải chuyển động một lúc khá lâu thì hồn thơ mới “nhập”. Có khi phải gần đến cuối bài hồn thơ mới bất ngờ xuất hiện. Nếu bài thơ dài thì hồn thơ có khi nhập, lúc xuất chứ không liên tục. Hồn thơ của Hai Người Lính chính là cái giọng (không phải lời) hồi hộp, háo hức, sung sướng trước cái hạnh phúc lớn lao tự nhiên đổ ập xuống người mình. Cái hơi nóng của cảm giác háo hức tỏa ra ngay từ những câu thơ đầu tiên và vẫn giữ được nhiệt độ lúc ban đầu ấy cho đến câu thơ cuối cùng.

KẾT LUẬN

Để kết luận, tôi kính cẩn xin phép cố thi sĩ Huy Cận được mượn ý 2 câu kết bài thơ Ngậm Ngùi để diễn tả trái sầu và ước mơ của hai người lính.

Lúc ấy trái sầu chiến tranh đang trĩu nặng trên cổ mỗi người dân Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Với 2 người lính trong ảnh thì trái sầu ấy to và nặng hơn nhiều bởi họ trực tiếp gánh chịu gian lao và đối đầu với sống chết.

Và đây là 2 câu thơ của Huy Cận (được sửa chữa chút đỉnh):

Chúng ta hãy khoác vai nhau
Để cùng nghe nặng trái sầu rụng rơi.

Ước mơ của họ – được giã từ vũ khí trở về với cuộc sống thanh bình – hơn ai hết, đang cháy bỏng trong lòng.

Nhưng buồn cho 2 người lính và buồn cho dân tộc Việt Nam. Giây phút trái sầu rụng rơi quá ngắn ngủi, chỉ như một thoáng mơ qua. Bừng tỉnh dậy sau cái thoáng mơ ngắn ngủi ấy (27/01/1973), trái sầu vẫn trĩu nặng trên cổ mỗi chúng ta và trên cổ mẹ Việt Nam yêu dấu.

Texas 05/2015

PHẠM ĐỨC NHÌ
nhidpham@gmail.com
Nguồn: Tác giả gửi

Phụ Lục:


CHỜ TÔI VỚI

“Tám giờ mười lăm, tiếng súng thưa dần.

Tiếng súng thưa dần rồi im hẳn. Toàn nhìn đồng hồ, tám giờ hai mươi lăm.

Cho chắc ăn không còn là mục tiêu, Toàn bảo Kháng:

– Mày giơ ngón tay lần nữa coị

Không tìm đâu ra nhánh dương nào khác, Kháng giơ ngón tay trỏ lên ngang mắt ngắm nghía, cười cười thủ thỉ: “Đụ má, đừng bỏ tao đi nghe mảy!”

Toàn gắt:

– Đù má mày, giơ ngón tay lên.

Kháng rụt rè đưa ngón trỏ lên khỏi đầu, cao hơn mô cát một chút, rồi lại thụt xuống. Nhấp nhứ như vậy một lúc, Kháng để hẳn ngón tay cao hơn mô cát. Không thấy động tĩnh gì, Kháng nhích tay cao hơn, cao hơn tí nữa. Kháng giơ cả bàn tay, vẫn yên lặng. Toàn nhìn quanh kiểm soát đám đàn em. Tất cả đang nhìn Toàn chờ.

Toàn đẩy đẩy cái mũ sắt của mình lên cao khỏi mô cát. Không có gì.

Toàn ghếch đầu nhìn lên phía trước. Dãy đồi cát hình cánh cung trước mặt Toàn đầy người. Tất cả đều đứng dưới giao thông hào, chỉ lộ từ ngực trở lên.

Toàn đứng hẳn dậy. Lính tráng chỉ đợi có thế, cũng đứng hẳn lên. Tháo dây đạn, bỏ súng, bỏ mũ sắt xuống.

Binh nhất Phước đen, một tên cao bồi khác của Toàn, vụt băng mình lao về phía trước. Toàn hốt hoảng ra lệnh cho lính ứng chiến ngay lập tức, sợ có gì nguy hiểm cho Phước đen. Nhưng không, những người bộ đội phía bên kia nhào lên khỏi giao thông hào, ôm chầm lấy Phước đen. Phước đen móc trong túi ra gói thuốc mời, mời, mời… hết người này đến người khác.

Lính hai bên ùa lên phía trước, ôm nhau hò hét:

“Hết đánh nhau rồi! Hết chiến tranh rồi!”

Những bộ quân phục rằn ri miền Nam trộn lẫn những bộ quân phục cứt ngựa miền Bắc. Cố không khóc nhưng nước mắt Toàn cứ ứa ra, không kềm được. Nhưng việc gì phải kềm chứ! Toàn mặc cho nước mắt trào ra”…

(Cao Xuân Huy, Chờ Tôi Với trong tập Vài Mẩu Chuyện)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang  
#1935 Posted : Saturday, May 23, 2015 10:46:25 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Vẫn còn cái gốc

Tôi sanh ra vào thời Pháp thuộc, lớn lên, ra đời với Mỹ Diệm, Mỹ Thiệu rồi... già trước tuổi sau ngày "cách mạng thành công"! Để thấy tôi đã có cái may mắn biết thằng Tây, biết Chú Sam, biết Bác. Thằng Tây đội nón cối thực dân ngồi trên đầu thằng dân đội nón lá. Chú Sam với cái nhãn bàn tay của chú nắm bàn tay người bạn mà chú giúp đỡ – cái nhãn chưa kịp tróc, chú đã buông rơi thằng bạn như buông rơi một vật vô tri! Trải qua ba trào như vậy mà tôi đã không thành Tây, không thành Mỹ, cũng không thành Bôn-sê-vít, nhờ truyền thống của ông cha: Biết giữ gìn cái gốc. Điều này, tôi rất tự hào.

Bây giờ, tôi xin tự giới thiệu ...

Tôi tên là Tư – Lê Di Tư – Theo ông nội tôi kể lại thì tôi thuộc dòng họ Lê Di ở Huế, một dòng họ nổi tiếng khoa bảng. Hồi đó, ông sơ ông sờ gì của tôi đã làm quan lớn trong triều đình. Ổng được lệnh vua, đưa dân đi dài vào Nam khai hoang, dựng làng lập ấp, để mở mang bờ cõi. Khi ổng vào đến vùng rừng thiêng nước độc mà sau này người ta gọi là Tây Ninh, ổng ngã bịnh rồi chết. Sau đó, không nghe ông nội tôi kể tiếp. Điều mà tôi biết là đến đời ông nội tôi, cái gia tài quyền quy' chữ nghĩa của dòng họ Lê Di chỉ còn lại đủ để ông nội tôi...bắt mạch hốt thuốc độ nhựt! Rồi qua đến đời cha tôi, đời anh chị tôi...chỉ còn làm ruộng dài dài, mà mớ chữ nghĩa thì vừa đủ để ngâm nga mấy truyện thơ bình dân như Chàng Nhái Kiểng Tiên hay Bạch Viên Tôn Các.

Hồi đó, có người thắc mắc tại sao tôi đã mang cái họ Lê Di rất văn vẻ, rất ...quí phái mà lại có cái tên Tư nghe quá cộc lốc khô khan? Nói cho có vẻ...văn chương, cái họ của tôi như tấm lụa mềm mà sao cái tên của tôi thì như hòn sỏi nhám? Đó là do bản chất thật thà của cha tôi. Ổng đặt tên anh em chúng tôi giống như ổng đếm bầy con! Đầu tiên là anh cả tôi: Lê Di Một. Kế đó là anh Lê Di Hai. Tiếp theo là chị tôi: Lê Thị Ba. À! Chỗ này được cha tôi giải thích...gọn bâng: Tại nó là con gái, mang họ Lê Di sao được, nữ sanh ngoại tộc mà ! Cuối cùng là tôi, Lê Di Tư, sanh cách chị tôi đến chín năm. Vì vậy, ở nhà gọi tôi là thằng Út, còn hàng xóm thì gọi tôi là Út Tư, chắc là để khỏi lầm với những thằng Út khác.

Năm đó, tôi đến tuổi vào trường tiểu học. Cha tôi xách xe đạp chạy ra nhà việc (hồi đó, chỗ ban hội tề –là những người chức trách trong làng - làm việc được gọi là nhà việc, cũng có người gọi là nhà vuông bởi vì ngôi nhà đó có bốn cạnh bằng nhau) để trích lục khai sanh của tôi. Khi ổng về đến nhà, ổng cầm tờ khai sanh vừa chỉ chỏ vừa phàn nàn:"Con mẹ thằng lục bộ! Hồi đó tao khai là Lê Di Tư, nó nghe rõ chớ, lại còn gục gặc đầu nói đứa thứ bốn phải không. Vậy mà nó đánh dấu ư cách xa chữ u đến cả thước lận, thành ra là dấu sắc. Bây giờ thằng chả chết mất rồi, lấy ai mà đối chất đây? Còn thằng lục bộ mới này thì nó đọc sao là chép y ra vậy. Con mẹ nó! Làm thằng nhỏ bây giờ tên là Tú. Coi vô duyên không?".

Vậy là trong khai sanh – và mãi về sau này – tôi tên là Lê Di Tú! Phiền một điều là hồi đó cái tên Tú này tôi nghe không quen lỗ tai. Cho nên, ngày đầu trong trường tiểu học, khi thầy giáo điểm danh, gọi đến Tú là tôi vẫn tĩnh bơ ngồi yên. Còn dòm qua ngó lại coi là đứa nào! Cũng may là thầy giáo lớp chót đó là cậu Sáu An - bà con bạn dì với má tôi - nên cẩu đã biết qua cái sự trục trặc trong cái tên của tôi. Thẩy bèn gọi ‘’ Tư ‘’ làm tôi giựt mình dạ một tiếng lớn. Cả lớp cười rộ. Rồi mấy ngày sau đó, khi gọi đến Tú là thẩy... chêm ngay tiếng Tư cho xong chuyện. Trẻ con dễ thấm, nên chỉ mấy hôm sau là tôi đã quen với cái tên Tú văn vẻ đó, như đã quen lâu !

Lật bật rồi tôi cũng trèo tới lớp nhứt, rồi đậu xép-phi-ca (certificat). Hồi này, ở nhà trúng mấy mùa lúa, nên cha tôi quyết định cho tôi học tới. Ổng nói: ‘’Thằng Út nó lanh lợi, bắt nó làm ruộng cũng uổng ‘’ (Bây giờ nhớ lại, tôi không khỏi phì cười : ổng làm như phải là ...cù lần mới đi làm ruộng!) Vậy là tôi được xuống Sàigòn thi vào trường lớn (hồi đó, bậc trung học đã được gọi là trường lớn, bởi vì nó... lớn hơn trường tiểu học). Tôi thi đậu và ở nội trú. Cha tôi sắm cho tôi cái nón cối hiệu Con Gà Trống và đôi xăng-đan (sandales). Xưa nay, lúc nào tôi cũng đầu trần và đi chân không - đôi guốc chỉ dùng để...rửa chân ban đêm trước khi leo lên ván ngủ. Bây giờ, vào trường lớn phải khác !

Ở trường lớn, người ta gọi tôi là Tú Lê để phân biệt với thằng Tú Phạm học cùng lớp và cũng ở nội trú như tôi. Tôi mang cái tên Tú Lê được hai năm thì trong nước có giặc. Sàigòn bị đồng minh gì gì đó dội bom. Trường lớp bị đóng cửa, dân chúng thị thành tản cư. Cha tôi vội vã đem tôi về làng. Từ đó, tôi tập tành làm ruộng. Điều này không đi đúng với sự mong muốn của cha tôi. Lâu lâu ổng hay nhắc :’’Con mẹ nó! Nếu không có giặc thì thằng nhỏ đã không phải về làm ruộng. Giòng họ Lê Di bây giờ chỉ còn có mình nó là khá. Vậy mà...’’. Câu nói thường bị bỏ lửng. Để thấy ổng cũng hơi phiền trách ông Trời đã không giúp tôi đi theo “con đường chữ nghĩa” cho dòng họ Lê Di được nở mặt, mà đẩy tôi về với ruộng lúa, con trâu, cái cày...Riêng tôi thì lại thích được như vậy. Có lẽ tại vì cái gốc “ruộng” của tôi đã ăn quá sâu vào đất. Tôi sung sướng được trở về với cái tên “Út Tư” bình dị mà hàng xóm dùng để gọi tôi từ thuở ấu thời. Và tôi cũng quên dễ dàng cái tên “Tú Lê” văn vẻ đã bỏ lại ở một góc sân nào đó trong trường lớn...

Vào thời ông Diệm/ông Thiệu, tôi “đi” dân vệ. Để được ở lại làng giúp gia đình làm ruộng ngoài giờ công tác ở đơn vị địa phương. Bởi vì gia đình tôi không có tá điền tá thổ gì hết. Ngoại trừ mùa cấy hay mùa gặt phải mướn thêm người giúp cho “kịp mưa kịp nắng”, kỳ dư đều do người trong gia đình tôi làm lấy, kể cả mẹ tôi, mấy chị dâu anh rể tôi và vợ tôi nữa (hồi này tôi đã có vợ con). Kể lại như vậy để thấy rằng gia đình chúng tôi thuộc loại “tay làm hàm nhai” chớ không phải loại “chỉ tay năm ngón, ngồi không trục lợi” ! Và nhờ trời, gia đình tôi làm ruộng mà “lúa ăn không hết”...

Sau biến cố tháng Tư 1975, tôi đi học tập hết ba hôm rồi về nhà tiếp tục làm ruộng. Yên chí rằng mình thuộc giới công nông đem “mồ hôi đổi lấy bát cơm”, lấy sức “lao động làm nên của cải” (mấy câu này tôi mới học được của mấy cán bộ cách mạng, cha nào cha nấy nói y như nhau, còn lập đi lập lại nữa nên...dễ nhớ!) Chớ không thuộc loại “Mỹ Ngụy ác ôn” hay “trí thức vong bản” hay “địa chủ phú nông , cường hào ác bá “ gì gì...Tôi đã thật tình tin tưởng rằng mình “không có nợ máu với nhân dân” thì không có gì phải lo âu sợ sệt. Chẳng dè ít lâu sau ruộng bị “sung” vào hợp tác xã, còn chúng tôi thì làm công lại cho họ. Ngang ngược một cách rất...tự nhiên! (May quá! Cha mẹ tôi đã thất lộc trước ngày “cách mạng thành công”. Mừng cho ổng bả!)

Vào hợp tác xã chưa đủ. Còn phải đi lao động (làm như đi làm ruộng mỗi ngày chưa phải là lao động!) Rồi đi họp hành, học tập đường lối chủ trương (làm như phải có những thứ đó thì lúa...mới tốt!) Rồi đi mết tinh, rồi hô khẩu hiệu, rồi khai lý lịch khai tới khai lui...Có đêm tôi nằm trăn trở, nghĩ tiếc cho cái gốc của ông bà để lại, bây giờ không còn đứng vững nữa. Cái gì không giống cái gì hết ! Lai căng tạp nhạp.

Vậy là sau một thời gian nhẫn nhục làm một “nhân khẩu“ của chế độ, tôi thấy tối ngày cứ hô “sống mãi, sống mãi, sống mãi” chắc... chết quá! Tôi đành liều mạng mang vợ con vượt biên. Nhờ ơn trên phò hộ, chúng tôi đi thoát và tấp lên đảo Pulau Bidong (Mã Lai).


Sau hơn bốn tháng “nằm” đảo, chúng tôi được chánh quyền Pháp nhận cho định cư. Đó là nhờ chút ít tiếng Pháp còn sót lại của thuở thiếu thời xa xưa. Thuở đó, mỗi ngày học trò phải chào cờ “Đại Pháp”, phải hát bài “Maréchal ! Nous voilà !”. Vào lớp phải đứng thẳng, đợi thầy nói “Asseyez-vous” rồi chấm câu với tiếng roi mây hay cây thước bảng đập lên bàn. Chừng đó, cả lớp đồng nói “Nous nous asseyons” rồi mới ngồi xuống. Ở cái thời như vậy mà sao cái “gốc” vẫn còn. Có lẽ nhờ truyền thống của ông cha và nhờ mấy quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã âm thầm nhen nhúm tình thương quê hương dân tộc.

Chúng tôi được “bốc” về đất liền ở thị xã Trenganu, rồi từ đó về Kuala Lampur, thủ đô Mã Lai, để làm thủ tục giấy tờ.

Hôm chuẩn bị lên xe để ra phi trường Kuala Lampur “bay” đi Paris, lòng tôi như mở hội. Ngày mai chẳng biết ra sao, nhưng chân trời mới này đã thấy rộng thênh thang. Không phải cho tôi, mà là cho hai thằng con tôi đang trong tuổi lớn ! Điều này tôi muốn chia xẻ với những người tị nạn đang đứng chùm nhum ở lãnh sự quán Pháp đợi gọi lên xe ca, nhưng tiếc quá họ toàn là người Tàu Nam Vang và người Miên người Lào. Họ không biết tiếng Việt Nam, thành ra tôi... cụt hứng.

Chính ông phó lãnh sự gọi tên từng gia đình để trao thông hành và mời lên xe. Khi ổng gọi đến gia đình “Lơ đi”, chẳng thấy ai nhúc nhích. Ổng đưa mắt tìm trong đám đông rồi cái nhìn của ổng ngừng lại ở tôi. Ổng mỉm cười hỏi bằng tiếng Pháp:”Gia đình ông người Việt phải không?”. Tôi gật đầu “Ùy mong xiừ” mà tự hỏi làm sao ổng nhận ra cái gốc Việt Nam của mình? Ổng bèn trao tờ thông hành rồi chúc thượng lộ bình an. Lên xe ca, tôi đọc tấm giấy thấy đề :”Nom: Ledi- Prénom: Tu”. Tôi nhổm dậy định xuống xe phân trần, nhưng xe đã rồ máy và tôi cũng nghĩ lại: Cái vốn Pháp ngữ quá ít ỏi của mình không đủ để giải thích những gút mắt của cái họ cái tên Việt Nam, của dấu ê dấu sắc trong tiếng Việt Nam. Tôi đành ngồi xuống, thở dài… : Thân phận lưu vong, bỏ hết mất hết đã đành, chỉ có cái họ cái tên là mang theo được bên mình, vậy mà bây giờ nó cũng không còn nguyên vẹn hình hài và âm thanh của nó nữa ! Nghĩ đến đó, tôi bỗng nghe tủi thân đến ứa nước mắt….

Ở Pháp, tôi không “hành” nghề làm ruộng. Tôi làm thợ nhà in. Chắc tổ tiên dòng họ Lê Di, nhứt là vong hồn của cha tôi, muốn cho tôi -dù sống ở xứ người- cũng vẫn được gần với...chữ nghĩa ! Ở đây, người ta hay gọi tôi bằng cả họ lẫn tên “Ledi Tu”, bởi vì phát âm ‘Lơ đi tuy‘ theo tiếng Pháp có nghĩa là “ Mầy có nói ra không? “.Tôi không thích, nhưng phải chấp nhận, như tôi đã chấp nhận định cư ở xứ này, bởi vì điều quan trọng vẫn là tương lai của hai thằng con. Tuy nhiên, lâu lâu tôi vẫn thèm được nghe gọi “Út Tư”, cái tên có âm thanh hiền lành bình dị, cái tên sao mà gợi nhớ quê cha đất mẹ vô cùng...

Bây giờ tôi đã về hưu. Ngày ngày tôi “chăn” bầy cháu nội, dạy dỗ chúng nó từng chút để chúng nó đừng thành “Tây con”. Khi nói chuyện với cha mẹ của chúng, tôi thường ví von: ”Ba giống như cây bần cây đước đã bị cơn bão năm 1975 bứng ra khỏi đất. Trôi nổi bập bềnh theo sống gió đại dương đến khi đụng một bến bờ nào đó, cho dù đất khô đá cứng, cây bần cây đước đó vẫn cố bám rễ . Để giữ lấy cái gốc. Bởi vì những nhánh nhóc bên trên rồi sẽ đâm chồi nẩy lộc. Cái gốc đó – chắc các con còn nhớ – nó tên là Việt Nam“.

TIỂU TỬ

Edited by user Saturday, May 23, 2015 10:46:59 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An  
#1936 Posted : Friday, May 29, 2015 4:38:10 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,258

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Hồi ức giờ thứ 25 của lịch sử!


Phan Văn Phước, Kh.13/TÐ
Thanh Long. KBC.4005


Tiểu đoàn Thanh Long/530/ÐP/Biệt Lập có KBC. 4005 thuộc TK/Kiên Giang/Quân Khu 4, hoạt động vùng Kiên Lương-Hà Tiên, bao trùm luôn mật khu Trà Ten, tôi cùng ba đại đội 2, 3 và 4 trong số 5 đại đội của tiểu đoàn đang hành quân ở đó, chúng tôi được đặt dưới quyền chỉ huy HQ của Bộ Chỉ Huy HQ Sư Ðoàn 9. Vào lúc 03.45 sáng ngày 24 tháng 4, 1975, chúng tôi nhận được công điện hỏa tốc của BTL/QÐIV/QK4: “Ðơn vị đóng quân tại chỗ chờ lệnh. Stop/- Riêng tiểu đoàn trưởng chuẩn bị sẵn sàng trước 07.00 sáng, sẽ có trực thăng đến đón về Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Quân Khu 4 để dự phiên họp đặc biệt. Chi tiết sẽ cho biết sau. Hết/.” Ðúng giờ ấn định, một chiếc trực thăng đến đón tôi, trên trực thăng có 3 thiếu tá đã ngồi sẵn, trong đó có 2 Th/Tá quận trưởng và Thiếu Tá Nguyễn Văn Mừng/TÐT/ÐP/BL/TK/Châu Ðốc là bạn cùng khóa chỉ huy tham mưu cao cấp với tôi, rồi trực thăng tiếp tục bay lên Hà Tiên để đón Thiếu Tá Quận Trưởng Cao Ngọc Vân.

Sau cùng chúng tôi trực chỉ BTL/QÐIV/QK4... Chúng tôi cùng tiến về phòng họp của BTL/QÐIV/QK4, tại đây đã có rất nhiều vị tỉnh trưởng, quận trưởng, liên đoàn trưởng/ÐPQ và 5 hay 6 tiểu đoàn trưởng/ÐP/Biệt Lập như chúng tôi. Mọi người đều thắc mắc, bàn tán, không biết họp bàn về vấn đề gì quan trọng mà sao đông đủ quý vị chỉ huy của toàn Quân Khu 4. Sau phần nghi lễ thường lệ, Ðại Tá Trương Dềnh Quây, tham mưu trưởng QÐ giới thiệu thành phần chủ tọa, phòng họp hoàn toàn im lặng như đang trông chờ đợi một điều gì vô cùng quan trọng! Mở đầu, thiếu tướng tư lệnh QÐIV kiêm QK4 Nguyễn Khoa Nam với gương mặt nghiêm trọng ẩn chứa một thoáng buồn, người nói: “Tổ quốc lâm nguy, lâm nguy! Người bạn đồng minh Hoa Kỳ của chúng ta đã thật sự phản bội, bỏ rơi chúng ta!... Giờ đây, chỉ có chúng ta tự cứu. Bằng cách chúng ta phải chiến đấu tử thủ để bảo toàn lãnh thổ QÐ IV/QK 4, không để mất một tấc đất, để Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH sẽ dời về đây, cùng chúng ta chiến đấu để làm tuyến phòng thủ cuối cùng để chờ... chờ.

Lệnh hành quân tử thủ bắt đầu có hiệu lực kể từ giờ phút nầy, hôm nay. Lệnh HQ chi tiết và phóng đồ HQ sẽ gởi đến sau.” Tiếp theo là những chỉ thị và lời dặn dò bổ túc do Chuẩn Tướng Tư Lệnh Phó QÐIV/QK4 Lê Văn Hưng ban hành. Sau khi nhị vị thiếu tướng và chuẩn tướng trả lời một số câu hỏi và giải quyết mọi thắc mắc, phiên họp đã chấm dứt một cách vội vàng để mọi người có thời gian về chuẩn bị cho kế hoạch HQ tử thủ. Chúng tôi ra về không ngớt bàn tán, đến nỗi quên cả chào từ giã như thường lệ. Vì mỗi người chúng tôi đều mang trong lòng một tâm trạng nặng trĩu với bao nỗi lo âu vì trách nhiệm quá nặng nề, khó khăn chồng chất trước mặt, trong đó là hỏa lực tác chiến bị hạn chế, hỏa lực yểm trợ Phi Pháo không còn như trước nữa, vì nguồn tiếp tế nhiên liệu, đạn dược hầu như đã cạn. Ðặc biệt vấn đề trực thăng tải thương giờ đây không còn nữa, tức là phải tự túc!

Chúng tôi được huấn luyện theo binh thư của người Mỹ áp dụng trong chiến tranh trận địa chiến. Trong thế công cũng như trong phòng ngự phải dùng tối đa hỏa lực phi cơ và pháo binh cũng như các phương tiện chiến tranh hiện đại để tiêu diệt địch hay san bằng các mục tiêu để tạo chiến thắng,... Ðây là cách thức đánh giặc theo kiểu “nhà giàu.” Hôm nay người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã nhẫn tâm phản bội khi họ đã nuốt lời hứa và đã bỏ rơi chúng ta. Họ không những đã rút hết trên 500 ngàn quân về nước, mà còn cắt đứt mọi nguồn tiếp tế vũ khí, nhiên liệu, phương tiện chiến tranh! Ðặc biệt nhất, họ đã đành đoạn từ chối viện trợ 300 triệu sau cùng, trước lời thỉnh cầu vô cùng khẩn thiết, nếu không muốn nói là lời van xin như muốn khóc của TT Nguyễn Văn Thiệu để cứu vãn Miền Nam VN khỏi sụp đổ trước họa xâm lăng của CSBV.

Trong lúc đó lực lượng CSBV lại được các nước CS quốc tế anh em hết lòng giúp đỡ và viện trợ tốt đa để dứt điểm Miền Nam VN thân yêu của chúng ta! Do đó, chúng tôi từ một quân đội đánh giặc theo kiểu nhà giàu nay phải thay đổi chiến thuật đánh giặc theo kiểu nhà nghèo! Nghĩa là chúng ta phải chiến đấu tử thủ đến giọt máu cuối cùng bằng kinh nghiệm, trí thông minh, sự khôn khéo và bằng chính sinh mạng của mỗi người chiến sĩ của QÐIV/QK4. Chúng ta thề tử thủ cho Tổ Quốc và Quân Ðội sống còn và đồng bào được sống trong tự do hạnh phúc. Trực thăng đưa chúng tôi trở về đơn vị để chuẩn bị thi hành nhiệm vụ đã ấn định.

Thời gian vốn qua nhanh, nhưng với chúng tôi lúc này, thời gian trôi đi thật chậm! Các đơn vị vẫn tiếp tục giao tranh, những báo cáo giết được địch, thu được chiến lợi phẩm cũng như thương vong của ta vẫn tiếp tục tới tấp gởi về! Mối ưu tư tột cùng của chúng tôi là làm sao săn sóc các thương binh trong hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn và khó khăn nầy để bảo toàn sinh mạng cho anh em! Lệnh giới nghiêm toàn vùng đã ban hành, đường sá vắng tanh không phương tiện di chuyển, chúng tôi phải tản thương tự túc bằng võng, bằng xuồng, bằng nghe gắn máy đuôi tôm đến các bệnh xá hay y trạm gần nhất! Ðể tự trấn an mình về nỗi lo âu trước sự sống còn của các em binh sĩ bị thương, tôi chỉ biết thành tâm nguyện cầu cho anh em, vì giờ đây tất cả sinh mạng họ đều ngoài tầm tay của chúng tôi! Ngày và đêm trở nên dài hơn, ngày thì chạm địch, đêm thì giao tranh, bị pháo kích thường xuyên,... anh em chúng tôi hầu hết đều bơ phờ, mất ngủ triền miên, nghĩa là thèm... thèm ngủ!...

Trưa ngày 25 tháng 4, 1975, một chiếc quan sát L.19 bay qua đầu, rồi liệng vòng đáp xuống phi trường Kiên Lương có chở Trung Tá Vương văn Trổ, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng TK/Kiên Giang, tôi cứ ngỡ Tr/Tá VVTrổ lên đây để thị sát mặt trận và gắn lon thiếu tá cho tôi theo như lời thông báo của Trung Tâm Hành Quân TK/KG và Ðại Úy Trần Hoàng Hai phụ tá Phòng Tổng Quản Trị/TKKG. Nào ngờ, vì quá hăng say trong công việc, Tr/Tá VVTrổ chỉ quan tâm đến thị sát mặt trận cùng thanh tra các tuyến phòng thủ và ban hành các chỉ thị cần thiết, rồi vội vã lên máy bay ra về, vì bận có cuộc họp sau đó. Phần tôi vì quá bù đầu, bận tâm với nhiều công việc cấp bách và các chỉ thị vừa ghi nhận, nên cũng quên lửng việc “gắn lon thiếu tá,” mặc dù phó bản quyết định thăng cấp thiếu tá kể từ ngày 1 tháng 1, 1975, do ông tổng trưởng Quốc Phòng ký ngày 27 tháng 2, 1975 đang nằm trong túi áo trên và cặp lon thiếu tá mới toanh được đặt trong lọ dầu chải đầu Tancho của Nhật và cuốn Niên Giám Thăng Thưởng Thường Niên 1975 phần đệ nhất tam cá nguyệt đã mở sẵn và “highlight” tên họ của tôi, Phan Văn Phước đang để trên bàn! Sự đời có rủi ắt có may như chuyện “Tái ông mất ngựa” trong Cổ Học Tinh Hoa! Nên sau ngày 30 tháng 4, 1975, khi bị đi “Tù Tập Trung” tôi chỉ khai là đại úy tiểu đoàn trưởng thay vì khai “Thiếu tá TÐT và trung tâm phó TT/Phượng Hoàng,” nên chỉ ở tù có 7 năm mà thôi! Sau này, khi đi du lịch qua Mỹ, tôi có liên lạc thăm hỏi Tr/Tá VVTrổ và kính lời cảm ơn ông, đồng thời có nói đùa: “Trung tá còn nợ em cặp lon thiếu tá!” Ông cười và nói tiếp lời tôi: “Ðúng, tôi xin lỗi, tôi còn nợ anh, nhưng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam cũng còn nợ tôi cặp lon đại tá...hì hì”...

Ngày 27 tháng 4, 1975, vào lúc 15 giờ 45 chiều, chúng tôi nhận lệnh qua hệ thống truyền tin: “Chuẩn bị bãi đáp, 20 phút nữa, Thái Dương sẽ đến thăm.” Thái Dương là danh hiệu Truyền Tin của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng TLPhó/QÐIV/QK4. Tôi đứng chờ tại bãi đáp, sau khi trực thăng đáp xuống, tôi tiến đến gần để chào chuẩn tướng và mời chuẩn tướng lên xe đưa vào BCH/TÐ để nghe tôi thuyết trình về tình hình an ninh trong phạm vị lãnh thổ trách nhiệm và diễn tiến hành quân trong những ngày vừa qua:

...“Kính trình chuẩn tướng, đêm 25 tháng 4, 1975, Ðại Ðội 4 hoạt động vùng ven biển gần Chùa Hang đi phục kích bắn hạ 3 tên VC, tịch thu 02 súng AK.47. bên ta có hai binh sĩ bị thương, một nhẹ, một nặng, tất cả đã được tải thương về bệnh xá Kiên Lương.”

Chuẩn tướng hỏi:

“VC thuộc đơn vị nào?”

Tôi trả lời:

“Qua trang phục, tôi đoán họ thuộc bộ đội địa phương vì bọn họ không mang giấy tờ gì cả, ngoài 4 quả lựu đạn nội hóa và 1 gói cơm vắt với bọc muối hòa với ớt và bột ngọt.”

Tôi trình bày tiếp:

“Cùng đêm 25 tháng 4, 1975, Ðại Ðội 2 đóng ở Mật Khu Trà Ten bị địch tấn công, nhưng nhờ có đơn vị đi tiền đồn đã phát hiện sớm và chạm địch từ xa, nên căn cứ của ÐÐ2 do Trung Úy Nguyễn văn Nhán chỉ huy đã sẵn sàng tư thế chiến đấu ngay từ giờ phút đầu. Vì mất yếu tố bất ngờ, nên bọn CSBV đã thất bại sau hai lần nỗ lực tấn công, cuối cùng bọn chúng phải tháo lui. Rạng ngày 26 tháng 4, 1975, sau khi lục soát chiến trường, địch để lại 4 xác và ta bắt sống một tên CSBV bị gẫy chân nằm trốn dưới mương. ta tịch thu 3 súng AK.47 và 7 ống mìn tự chế để công phá hàng rào mở đường cho cuộc tấn công đồn và nhiều chất nổ khác...”

“Họ thuộc đơn vị nào?”

“Kính thưa họ thuộc đơn vị Công Trường 9 CSBV, đã xâm nhập vào Bưu Trạm 75 và 80 trong vùng mật khu Trà Ten...”

...Qua phần thuyết trình, tôi nhận thấy chuẩn tướng vừa gật đầu vừa cười đầy vẻ hài lòng, cuối cùng người nói: “Tôi có lời khen ngợi tinh thần chiến đấu gan dạ của anh em, gắng lên.” Sau đó chuẩn tướng muốn đi quan sát hệ thống phòng thủ và phối trí hỏa lực của toàn đơn vị.... Tôi tiễn chuẩn tướng ra về, khi gần đến bên chiếc trực thăng đã đậu sẵn, chuẩn tướng dừng lại và quay mặt về hướng tôi, tôi đứng nghiêm chào, chuẩn tướng chào lại và tiến về hướng tôi đưa tay cho tôi bắt, tôi bước lên một hai bước để bắt tay chuẩn tướng. Thay vì bắt tay như thương lệ, chuẩn tướng đã nắm lấy ngón cái của tôi, nên tôi phải nắm lấy ngón tay cái của chuẩn tướng. Kế đến chuẩn tướng bước thêm một hai bước nữa cho gần tôi hơn và cánh tay trái của người đã ôm choàng lấy người tôi, nên tôi cũng ôm choàng lấy thân hình của chuẩn tướng. Bên tai tôi, người căn dặn: “Hãy cố gắng lên, đây là trận chiến quyết định cuối cùng. Hãy chiến đấu tử thủ quyết liệt và kiên cường để xứng đáng là chiến sĩ của QLVNCH mà Tổ Quốc và đồng bào đang mong đợi.” Tôi kính cẩn trả lời: “Dạ, em xin tuân lệnh, xin chuẩn tướng yên tâm và tin tưởng.” Chuẩn tướng vừa nói vừa vỗ nhẹ vào lưng tôi như nhắn gởi bao lời tâm huyết. Sau đó chuẩn tướng lên trực thăng, ngồi trên trực thăng, Người nhìn tôi và vẫy tay chào, miệng cười nhưng đôi mắt hình như thầm thoáng một nét buồn u uẩn làm cho tôi cùng buồn theo mãi cho đến khi tôi trở lại công việc phòng thủ.

Sau 40 năm, hôm nay ngồi ghi lại những kỷ niệm này, lòng tôi vô cùng bùi ngùi thương tiếc Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, một cấp chỉ huy can trường trên chiến địa “Anh Hùng An Lộc” nhưng rất lịch sự, hiền hòa và đầy nhân đức với dáng dấp của một văn nhân thi sĩ hơn là một vị võ tướng. Những lời căn dặn chân tình sau cùng đầy cương quyết, nặng tình thiết tha với tổ quốc và dân tộc, những cái vỗ vai trìu mến đầy tình huynh đệ chi binh và cái bắt tay khác thường khó quên đang hiện rõ nồm nộp trong trí tôi như mới diễn ra ngày hôm qua! Nào ngờ cái bắt tay khác thường đó là cái bắt tay cuối cùng và những lời dặn dò thiết tha đó là lời trăng trối, biệt ly ngàn trùng xa cách! Tuy ca cách người nhưng hình dáng và phong thái của người vẫn mãi mãi trong tâm trí tôi, đặc biệt nhất vào mỗi mùa quốc hận 30 tháng 4.

Mặc dầu đã có “Lệnh Buông Súng Ðầu Hàng của TT. Dương Văn Minh lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975,” nhưng đơn vị chúng tôi đã tuân hành lệnh của các cấp chỉ huy trực tiếp và vẫn tiếp tục “chiến đấu tử thủ đến 01giờ 45 phút sáng ngày 1 tháng 5, 1975.” Chúng tôi đã anh dũng chiến đấu trong cô đơn, không có yểm trợ, không có tiếp tế, không có tải thương, không có cấp chỉ huy và không có quân bạn bên trái, bên phải, trước mặt hay sau lưng để liên lạc, để xin yểm trợ hay xin lệnh kế tiếp. Bởi vì Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam Và Chuẩn Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng đã tuẫn tiết lúc 10 giờ tối 30 tháng 4, 1975 mà chúng tôi không hề hay biết, vẫn tiếp tục chiến đấu và tiếp tục gọi máy truyền tin để liên lạc nhưng không có một ai trả lời, hay trong lúc BCH/Hành Quân/SÐ9 và Trung Tâm/HQ/TKKG đã bỏ ngõ từ lúc nào mà chúng tôi cũng không rõ nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu và vẫn tiếp tục liên lạc nhưng tất cả đều im lặng như tờ!

Chúng tôi vẫn tiếp tục anh dũng chiến đấu trong cô đơn bên cạnh vợ, con và gia đình binh sĩ, họ là những chiến sĩ vô danh, không có số quân, không được hưởng lương giống như quý vị lương cao, bổng hậu, nhưng trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy thì họ cùng vợ con gia đình hay cùng với thuộc cấp của mình đã cao chạy xa bay để tìm hạnh phúc cho bản thân và gia đình, trong khi các chiến hữu của họ đang âm thầm tiếp tục anh dũng chiến đấu trong gian khổ hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và đồng bào trong cơn nguy biến!... Tại sao tất cả đều “Im Lặng Vô Tuyến” không có một ai lên tiếng trả lời, mặc dầu chúng tôi đã dùng mọi phương tiện truyền tin kể cả “quây đầu bò” để gởi các điện văn (tích tích, tè tè) hỏa tốc; nhưng chỉ còn nghe tiếng rè rè từ máy truyền tin vọng lại thật là ai oán não nề đáng ghét! Lòng vô cùng bồn chồn, lo lắng và phân vân tột độ! Bồn chồn lo lắng không phải vì sợ lửa đạn chinh chiến mà vì không có cấp chỉ huy, không có yểm trợ, không có bạn bè, trong lúc các đơn vị vẫn tiếp tục chạm súng và thương vong! nên cảm thấy vô cùng cô đơn, hoang mang, mờ mịt như người đi lạc trong rừng không có địa bàn, không thấy mặt trời để định hướng! Trong giờ phút quan trọng của lịch sử nầy, chỉ cần một quyết định sai lầm, thiếu chính xác của cấp chỉ huy sẽ ảnh hưởng đến sinh mạng của hằng trăm binh sĩ và thân nhân gia đình họ hay sẽ mang trọng tội với Tổ quốc và dân tộc!

Tại sao...Tại sao tất cả đều im tiếng, không lẽ bạn bè anh em mình chết hết cả rồi hay sao!?... Lòng chúng tôi vô cùng hoang mang, bồn chồn, nôn nao như lửa đốt, điên cả người muốn chết được!... Cuối cùng khoảng lúc 01 giờ 30 sáng ngày 1 tháng 5, 1975, trên hệ thống truyền tin PRC/25 và cả máy PRC/46 có tiếng nói, thầy trò chúng tôi vui mừng vô kể! Nhưng sau khi nghe kỹ lại, tôi nhận ra giọng nói Quảng Bình-Nghệ An, đúng là giọng nói của dân quê “Bạc!” Họ bảo: “Yêu cầu buộng sụng đầu hàng, nệu không thì sẽ chệt. Nghe rọ trạ lời!” Tôi đáp lại: “Ði chỗ khác chơi, để chỗ cho các ông làm việc. Có ngon, xin mời đến đây, sẽ biết!” Việc VC vào hệ thống truyền tin chửi bới nhau là chuyện thường tình xảy ra, không quan trọng. Cuộc đối thoại kéo dài độ 5, 7 phút, thình lình có một giọng nói chững chạc, có lẽ là cấp chỉ huy, phát âm theo giọng Hải Phòng: “Xin nỗi ai đầu máy, hãy nghe đây, cấp chỉ huy của các anh đã chết, có người đã đầu hàng và đang bàn rao. Các anh còn đấm đá cái gì lữa. Buông súng đầu hàng đi, không kẻo chết!”

Tất cả mọi người chúng tôi trong hầm Chỉ Huy Hành Quân như chết lặng, đứng như trời trồng! Bàng hoàng, nửa mơ nửa tỉnh! Im lặng ngơ ngác mà nhìn nhau, không ai nói nên lời. Thời gian trôi nhanh mà lại chậm, tuy chậm mà lại nhanh! Tôi hít vào và thở ra những hơi thở gấp và sâu như để lấy lại bình tĩnh vì tôi không biết tình hình ở Bộ Tư Lệnh QÐ IV/QK 4 và BCH//HQ/SÐ9 và TT/HQ/TK/KG như thế nào! Cuối cùng, tôi vừa suy nghĩ, tôi vừa gọi:

“Giới chức, giới chức, Thanh Long gọi, trả lời.”

Có người đáp:

“Tôi nghe đây, lói đi.”

Tôi hỏi:

“Xin lỗi, giới chức là ai và đang ở đâu gọi tôi, trả lời.”

Vẫn giọng nói Hải Phòng đáp:

“Chúng tôi nà QÐCM, đang đứng tại BCH /Tiểu Khu/KG của các anh, trả nồi”

Tôi hỏi tiếp:

“Yêu cầu cho tôi nói chuyện với sĩ quan trực, trả lời.”

Có tiếng đáp lại:

“Không có SQ trực lào cả, chỉ có QÐCM mà thôi. Hãy buông súng đầu hàng, nhớ treo một tấm vải trắng bên cạnh một cây đèn bão, để QCM biết nà các anh đã đầu hàng và sẽ không lỗ súng. Chờ đấy, sẽ có QCM đến tiếp thu bàn rao.”

Ôi Trời ơi! Chúng con điên mất cả rồi! Mọi người trong hầm Chỉ Huy HQ ngao ngán muốn chết được! Ngoài sân cờ, binh sĩ và vợ con đang nghe ngóng, mọi người nhốn nháo! Ở góc nầy, có nhiều binh sĩ thét lên....thét lên “Trời ơi là Trời” vì tức tối! Ðằng góc kia có lắm kẻ thụt thùi khóc trong nghẹn ngào, tức tưởi. Nhiều chị, vợ của anh em binh sĩ chạy đến nắm cánh tay tôi lắc lắc: “Anh Hai, mình chưa thua mà anh Hai! Tại sao mình phải buông súng đầu hàng, anh Hai? Không đầu hàng! Xin anh Hai phát súng hay lựu đạn cho chúng em, tụi em biết sử dụng mà anh Hai!” Nhìn những gương mặt các chị, các em tràn trụa nước mắt, ngơ ngác, đau khổ với những câu hỏi tại sao, tại sao ? Lòng tôi nghẹn ngào không nói được, lồng ngực đau nhói, như người mất hồn, đi lững thững nhìn lên bầu trời đêm tối đang phủ đầy những đám mây đen nghịt, trần mây thật thấp và đang cuồn cuộn lấy nhau hòa lẫn trong những tiếng sét kinh hoàng và ánh chớp vô cùng ghê rợn. Ôi cả một màu đen u ám, rờn rợn như cảnh trời đất sắp tận thế! Báo hiệu một màu đen tang thương, đau buồn cho cả dân tộc, cho cả quê hương VN đau thương kể từ đây!...

Bỗng nhiên, tôi nghe nhiều tiếng la lớn thất thanh, gần cổng chánh: “Sang... Sang... mày nghe đây, hãy nghe Bố nói...Sang... Sang!” Thì ra, đó là những tiếng hét của ông Ðại Úy Tiểu Ðoàn Phó Lý Thọ Trường. Tôi chạy nhanh về cổng chánh thì chứng kiến cảnh Trung Úy Nguyễn Hoàng Sang, đại đội trưởng ÐÐ1, đang rút chốt lựu đạn tự tử, nhưng Ðại Úy LTTrường là bố nuôi của Tr/úy Nguyễn Hoàng Sang, vừa làm chủ hôn đám cưới cho vợ chồng Sang đầu tháng 1, 1975, đang lớn tiếng nhắc nhở cho Sang biết là vợ Sang đang mang thai! Và nhiều chiến hữu khác đang can thiệp và ngăn chặn kịp thời; Nếu không thì đã gây thương vong rất nhiều, vì có nhiều binh sĩ và gia đình thân nhân binh sĩ đang đứng quanh quẩn, đầy cả sân cờ!... Mọi việc như tạm ổn, sau khi lấy lại bình tĩnh, tôi nhờ Ð/úy LT Trường tập họp BCH/TÐ, Ðại Ðội 1 và ÐÐ/Chỉ Huy Công Vụ tại sân cờ, tất cả vũ khí cá nhân đều tháo băng đạn và làm hai phát an toàn, đồng thời gom vũ khí đạn dược lại, để một nơi cách xa hàng quân, không cho ai lại gần, để đề phòng những kẻ đục nước béo cò trong lúc tang gia bối rối, hầu bảo vệ sanh mạng cho toàn thể đơn vị trong giờ thứ 25! Phân công tất cả SQ và HSQ đi kiếm soát từng hàng quân một. Phần tôi xuống hầm Chỉ Huy Hành Quân, ban hành lệnh tan hàng và những lời từ biệt cùng các đại đội trưởng/ÐÐ 2, ÐÐ 3 và ÐÐ4...

Sau khi đơn vị tập họp xong, tôi nói lời cuối cùng với các chiến hữu thân thương của tôi: “Cùng các chiến hữu thân mến, trước đây cũng tại sân cờ nầy, bản thân tôi đã yêu cầu các chiến hữu cùng tôi chiến đấu tử thủ đến giọt máu cuối cùng, theo lệnh của thượng cấp. Hôm nay, Tổ quốc VN chúng ta đang bước vào một khúc quanh lịch sử vô cùng quan trọng! Là quân nhân, chúng ta phải tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nên tôi tuyên bố buông súng, không còn chiến đấu nữa, kể từ giờ phút nầy... Chúng ta hãy dành một phút để tưởng niệm các đồng đội đã hy sinh dưới ngọn cờ vàng ba sọc đỏ của Tổ quốc VN thân yêu và cờ của TÐ/Thanh Long/530/BL.” (Bỗng tôi im lặng, đổi sang thế đứng nghiêm và cúi đầu tưởng niệm, tất cả mọi người trong các hàng quân đều tự động làm theo.) “Thành thật cảm ơn toàn thể các chiến hữu, cảm ơn các chị, các em đã cùng chồng, con mình chiến đấu hết lòng đến giờ thứ 25 của lịch sử. Tôi xin hoàn trả cuộc đời dân sự cho các bạn với một thân hình nguyên vẹn. Ðó là trách nhiệm tinh thần của một cấp chỉ huy mà tôi luôn cố gắng giữ gìn và bảo vệ. Thân mến cầu chúc các bạn một cuộc sống mới tràn đầy hạnh phúc bên mái gia đình êm ấm, thuận hòa.” (Nghiêm, chào tay... chào...) “Thân mến chào tạm biệt các bạn.”

Lời phát biểu của tôi vừa dứt, hầu như mọi người đều khóc trong tức tưởi nghẹn ngào, đầy thương cảm! Anh em binh sĩ họ ôm chầm lấy nhau, họ chạy lại ôm lấy tôi, các chị các em vợ lính đến nắm lấy tay tôi khóc, trong tiếng sụt sùi, nức nở, cảnh tượng trông thật đau lòng! Trong lúc đó vợ tôi cùng nhiều vợ con binh sĩ đang đứng ở trên văn phòng nhìn xuống cũng đau khổ nghẹn ngào và khóc theo! Ôi làm sao tả hết nỗi đau thương, trìu mến, bùi ngùi nầy, vì từ nay “Ðường ai nấy đi!”... Thật là một cảnh tượng đau buồn với bao tâm trạng khác biệt chồng chất, lẫn lộn thật khó tả, suốt đời không quên. Sau đó anh em chúng tôi âm thầm lặng lẽ chia tay nhau mỗi người đi mỗi phương, cùng nhau lần lượt rời khỏi vị trí càng nhanh càng tốt vì sợ bọn hạ tầng cơ sở VC nằm vùng hay những tên “VC 30” nổi lên thanh toán, giết bậy để lập công. Chúng tôi đã cố tình không thắp đèn bão, không treo cờ trắng để đầu hàng và không bàn giao đúng theo lời yêu cầu của CSBV. Vì chúng tôi không đầu hàng mà chỉ có làm lễ tan hàng trong trật tự và kỷ luật đúng theo lễ nghi quân cách của QLVNCH.

Trên đường đi lánh nạn, vợ chồng chúng tôi lầm lũi đi trong mưa to, gió lộng bốn bề, cố nhanh chân tìm đến nhà dân để mướn ghe thoát khỏi vùng nguy hiểm! Ðôi khi chúng tôi qay đầu nhìn lại căn cứ BCH/TÐ, tất cả đang chìm đắm trong một màu đen u ám dưới cơn mưa tầm tã nặng hột chưa từng thấy, vừa chợt đến một cách lạ thường và xa xa có nhiều ánh đèn đang di chuyển thật nhanh về phía chúng tôi và nhiều tràng súng AK cũng như lẻ tẻ đang vang vọng đâu đó, càng ngày càng gần chúng tôi hơn! Trên trời sấm sét liên hồi giống như những trái pháo, trái bom đang nổ chụp trên đầu chúng tôi, trông thật ghê rợn như là điềm trời báo trước những điều chẳng lành cho quê hương và dân tộc, đã tạo thành bức tranh đầy vẻ ảm đậm thê lương như lòng chúng tôi đang vô cùng đau buồn, hoang mang, chán chường và âu lo không biết số phận mình, gia đình mình, đất nước mình, đồng bào mình ngày mai sẽ ra sao!?

Ðêm nay 30 tháng 4 năm 2015, sau 40 năm của cái đêm kinh hoàng đầy bi tráng đó, tôi ngồi ghi lại những giây phút đau buồn này của TÐ/Thanh Long/530/ÐP/BL KBC.4005 mà lòng vô cùng thương tiếc cho các chiến hữu thân thương của tôi đã bất hạnh anh dũng hy sinh trong giờ thứ 25 của lịch sử. Các bạn có tên có họ, có đơn vị, có số quân, có số súng, có số giày đầy đủ nhưng vì các bạn đã bất hạnh nằm xuống trong giờ thứ 25, nên không ai hay biết, không bạn bè tiễn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng, mai táng không được nghe tiếng kèn truy điệu và không được phủ cờ quốc gia VN và - và không ai còn nhắc nhở đến các bạn! Các bạn đã trở thành những anh hùng vô danh! Chỉ có vợ, con gia đình người thân của các bạn phải gánh chịu bao nỗi đắng cay đau thương nầy!

Ðêm nay, 30 tháng 4 là ngày giỗ năm thứ 40 của các bạn, đúng vào giờ phút linh thiêng nầy, tôi xin thành kính cúi đầu tưởng niệm với chí tâm nguyện cầu cho Hương Linh các bạn luôn được bình an nơi cõi vĩnh hằng và xin các bạn nhớ cho rằng trên trần thế nầy, còn có một cấp chỉ huy khiêm nhường, một chiến hữu thân thương của các bạn luôn tưởng nhớ và thầm cảm ơn đến các bạn; đồng thời tôi xin nguyện cầu cho các bạn thương phế binh thân thương của tôi luôn gặp mọi điều an bình và hạnh phúc.

Những giờ phút đau buồn xé nát tâm can nầy của đêm 30 tháng 4 1975 đối với người chiến sĩ can trường ở tuổi 33, nay là một ông già 73 tuổi, nhưng những hình ảnh oai hùng, bi tráng, kinh hoàng, rờn rợn và những tình cảm bùi ngùi thương tiếc lẫn nghẹn ngào trong tức tưởi luôn mãi mãi trong tâm trí tôi vào mỗi mùa Quốc Hận lại trở về, đặc biệt nhất là đêm nay, kỷ niệm 40 năm ngày tan hàng gẫy súng của chúng ta!

(Kỷ niệm 40 năm ngày đau thương của dân tộc)

Edited by user Friday, May 29, 2015 4:39:03 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
phamlang  
#1937 Posted : Saturday, May 30, 2015 4:40:06 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
NHỮNG ĐÓM LỬA VNCH ĐANG CHÁY TRONG LÒNG DÂN TỘC

Kẻ sống (vc) như đang chết!
Người chết(VNCH) đã sống dậy!


Ngược dòng lịch sử vào năm 1945, trước khi Nhật rút khỏi VN, người quốc gia nếu không vì hàng rào nhân bản, đạo đức đã ràng buộc tư duy của họ, thì lúc đó HCM đâu có cơ hội để cướp chính quyền tháng 8/1945. Và VN đâu có tang thương như ngày hôm nay.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945 là ngày Vua Bảo Đại Tuyên bố độc lập và giao cho Giáo sư Trần Trọng Kim thành lập chính phủ lấy tên nước là Đế quốc Việt Nam và quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ hình quẻ ly, đó là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa.


Chính phủ Đế quốc Việt Nam được Trần Trọng Kim lập ngày 17 tháng 4 năm 1945 và trình vua Bảo Đại phê chuẩn. Đây là nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất và ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, Với nội các tập hợp được những trí thức có danh tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4.

Nhưng rồi ngày 2 tháng 9 năm 1945 đảng cộng sản Việt Nam thừa lúc chính quyền còn non trẻ đã nổi lên cướp chính quyền ở Miền Bắc và rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 cướp luôn chính quyền ở Miền Nam đưa cả nước xuống hố sâu XHCN. Đảng CSVN cướp chính quyền từ tay một chính phủ quốc gia hợp pháp và đầy nhân bản, họ cố tuyên truyền là chính quyền nầy là tay sai, bán nước...Một trong những người cộng sản như Trần Đĩnh đã còn chút liêm sĩ, công nhận VNCH là một chính quyền yêu nước với tinh thần dân tộc cao độ chứ không phải như đảng cộng sản từng bêu rếu. Trong Đèn cù. II, Trần Đĩnh viết rõ:

“Trước ngày 19-8 tổng tư lệnh Nhật vào Huế gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói: ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50.000 quân tinh nhuệ có thể dẹp Việt Minh trong vòng một đêm, Việt Minh có quá lắm là 5.000 người còn súng ống lại càng quá ít." Nhưng hai ông này từ chối, chính đạo của người Việt quốc gia là như thế, nhân bản luôn ngư trị trong từng trái tim của người Việt quốc gia. Nếu như hai ông nầy không có Việt tính và Việt tình như tên ác ma HCM, thì 5000 tay súng của cộng sản lúc đó sẽ bị hoàn toàn diệt vong và HCM cũng biến mất khỏi đất nước VN.

VIỆT NAM CỘNG HOÀ MỘT CHẾ ĐỘ CHÂN, THIỆN, MỸ.

Mặc dù tồn tại trong khoãng thời gian chỉ có 20 năm (1955-4/1975) nhưng xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 được hình thành tương đối trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng. Còn CHXHCNVN thì coi tham nhũng là một chính sách để cai trị nước. Bước ra đường là đâu đâu cũng thấy nạn tham nhũng nha nhản trước mắt. Trước 1975 người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Các quân đũ mọi cấp bậc nếu đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng, không cần chạy lon chạy chức như bây giờ... Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy một cách công bằng, không cần phải trả tiền mới được chữa cháy...Tệ nạn tham nhũng đả vượt trần nhà.


Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 40 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau nước CHXHCN mới có thể đạt được như VNCH trước 1975.

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự với hàng trăm tổ chức chính trị công khai hoạt động trong chế độ đầy nhân bản nầy. Mặc dù VNCH vẩn còn tồn tại một số khuyết điểm, nhưng nhìn chung, trên bình diện tổng thể thì VNCH vẩn là một chế độ hơn hẳn VNDCCH và CHXHCNVN gấp trăm lần.

Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân và Phật giáo Ấn Quang những cánh tay nối dài của đảng csVN.

Trong chiến tranh VN mỗi lần VNCH rút quân là dân bỏ nhà bỏ cửa đi theo, Việt cộng thì thản nhiên pháo kích vào đoàn người di tản, lính VNCH vừa chống giặc vừa bảo vệ dân…..

Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam ngày hôm nay cần nhiều thập niên mới có thể theo kịp được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ Vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 40 năm.

CỘNG SẢN CÔNG PHÁ CHÍNH NGHĨA VNCH

Sau khi cướp được miền nam vào ngày 30.4.1975, đảng với quyết tâm chôn vùi thân xác VNCH xuống tận đáy mồ. Với mục tiêu đó 800 tờ báo đảng, với hàng vạn quyển sách giáo khoa, với hàng ngàn cái loa phường, với một ban tuyên giáo có ngân sách quốc gia khổng lồ suốt 40 năm nay độc quyền nhồi sọ nhân dân cã nước và tận tình bôi lọ chế độ VNCH, nhưng càng bôi lọ thì tác dụng lại trái ngược với ý đảng mong muốn. Chính nghĩa VNCH ngày càng rạng rỡ hơn bao giờ hết và vẫn không bao giờ phai mờ trong lòng dân miền Nam.

Mưa dầm thấm đất, đến nay không chỉ nhân dân miền nam thương tiếc chế độ VNCH mà ngay tại miền Bắc nhân dân Hà Nội đã vực dâỵ VNCH trong mấy ngày gần đây qua các bộ đồ quân phục của người lính VNCH. Những người thanh niên đã bận quân phục và mang các phù hiệu của VNCH diển hành trên đường Hà Nội, sau đó đã bị công an vc bắt, cho tới giờ phút viết bài nầy, các anh nầy vẩn còn bị công an bắt giam , chưa được thã ra.

Nếu như trước đây, sau 20 năm bám chân đệ tam QT cộng sản, những kẽ ác đã trở thành phe thắng cuộc trong ngày 30.4.1975, là một bất công và trớ trêu cho trật tự xã hội và định mệnh của nước VN! Nhưng, tới nay phe thắng cuộc đã từ thắng đang tiến về thua cuộc trên từng mặt trận.

Sau ngày 30/4/1975, những biểu tượng liên quan đến chính thể Việt Nam Cộng Hoà đã trở thành nỗi ám ảnh đối với những người cộng sản. Dù vậy, bất chấp sự trả thù nghiệt ngã của chế độ, nhiều người dân miền Nam vẫn bí mật lưu giữ những kỷ vật hoài niệm về một chính thể Tự do. Và hầu hết phđn đông người dân trong nước đều biết rằng, nếu VNCH còn tồn tại đến ngày hôm nay thì :

1. Ngư dân VNCH không bị bọn Tàu bắn chết, cướp tài sản ngay trên vùng biển của Cha Ông ta.

2. Đàn bà con gái VNCH không bao giờ "đứng trần truồng" cho bọn đàn ông già bịnh tật Đài Loan, Nam Hàn, Sing lựa như lựa hàng....

3. Tôi và bạn sẽ đi du lịch ở Hoàng Sa, Trường Sa và ngắm nhìn tàu chiến VNCH vây bắt bọn Tàu kéo về giam lại.

4. Người dân VNCH mang hộ chiếu ra nước ngoài không bị nhục như bây giờ.

5. Các cấp lãnh đạo VNCH nếu đi công cán sang nước ngoài thì không bao giờ bị "chui cửa hậu" như bọn Sang, Trọng, Hùng, Dũng. hiện nay.

6. VNCH sẽ đứng đầu Đông Nam Á, vượt cả Singapor và Hàn Quốc như thời kỳ trước năm 1975.

7. Trong siêu thị của các nước Nam Hàn, Nhật, Thái, Singapor ..không có những tấm bảng thông báo về tình trạng ăn cắp vặt của người VN. Đó là chuyện mà trước 1975 chưa bao giờ xãy ra.

8. VN sẽ không mang nợ ngập đầu như hôm nay.

Còn nhiều lắm....những điều tốt đẹp mà nước VNCH đã xây dựng được trong thời gian 20 năm, nhìn vào các thành quả đó người ta có thể định mức giá trị của chế độ VNCH với những con người sống chết vì lý tưởng Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm, dù sao chính phủ VNCH cũng vì dân VN mà làm việc còn chính phủ VNcs thì...vì Thiên triều mà làm việc.

Phe thắng cuộc nếu tính đến ngày hôm nay thì từ thắng đã chuyển sang thua. Cái thua rõ rệt nhất là trên FB và các mạng xã hội, phe thua cuộc ngày càng đông hơn, cờ Vàng ngày càng nhiều hơn. Nhân dân trong nước ngày càng thấy rõ được bộ mặt xão trá, bán nước buôn dân của csVN. Chính vì thua nên csVN mới tìm đũ mọi cách để ngăn chặn vào Internet của nhân dân trong nước bằng tường lửa. Ngăn chặn thông tin là một hình thức chiến bại của kẻ phe chiến thắng, đó là nổi lo sợ của những người bá đạo khi biết được mình không có chút nào chính nghĩa trong lòng của người dân VN. VNCH cho dù là kẻ thua cuộc, nhưng:chưa bại..

Thua cuộc nhưng không hề chiến bại
Lời nguyền Như Nguyệt hãy còn soi:
“Sông núi Nước Nam dân Nam ở
Cộng sẽ tan tành chết sạch toi.”

( trích thơ "bên thua cuộc" của Phan Huy)

Chính nghĩa của bên thua cuộc ngày càng rạng rỡ hơn, đến đứa nhỏ mới 15 tuổi đầu cũng nhìn thấy được điều nầy. xin mời xem clip Video dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=QkazcuGOHts

VNCH chỉ sống có 20 năm nhưng luôn rạng ngời chính nghĩa với những người một lòng một dạ với tổ quốc và dân tôc như Tổng Thống Ngô Đình Diệm “Nếu tôi tiến, các ông tiến theo tôi. Nếu tôi lùi các cứ ông giết tôi. Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi!” . . (nguồn http://ngodinhdiem.net/0...inhXac1CauNoiLichSu.html).

Tổng thống VNCH Trần Văn Hương, một chí sĩ trọn đời hiến thân cho tổ quốc và dân tộc. Đến khi ông mất vẩn trọn vẹn với quốc tịch VNCH, mặc dù kẽ thù cộng sản đã năn nỉ ông lấy quốc tịch CHXHCNVN, nhưng ông thẳng thắn từ chối không nhận đặc ân đó của kẻ thù

VNCH còn có nhũng tấm gương bất khuất và can đãm như Thiếu Tá Nguỵ văn Thà nã đạn vào đầu giặc Tàu, khi chúng đến chiếm Hoàng sa của VN. Không như tên Bộ trưởng BQP/ Lê Đức Anh, cấm binh sĩ mình dùng súng cá nhân để chế ngự lính Tàu cộng xâm chiếm đảo Gạc Ma năm 1988. Chỉ được phép lấy thân mình làm bia đở đạn của kẻ thù xâm lược để thành liệt sĩ anh hùng của QĐND. Kế đến là tên đại tướng của ngụy quyền Ba Đinh Phùng Quang Thanh, bắt chước đàn anh Lê Đức Anh co đầu rút cổ, không dám đối đầu với quân bắc phương khi chúng đến đặt giàn khoan HĐ981 trong vùng biển VN. hèn đến nổi ra lịnh không cho Cảnh Sát Biển bắn súng nước với tàu Hải Giám của Tàu Cộng.khi bị tấn công. Chính những sự việc như vậy đã làm rạng rở chính nghĩa của chế độ VNCH hơn bao giờ hết. VNCH với những con người chỉ biết trung thành với Tổ Quốc và dân tộc VN không như đám ngụy quyền Hà Nội, lén lút dâng đất, biển, đảo cho kẻ thù để nuôi đảng phản bội lại tổ quốc và dân tộc VN.

Chưa từng thấy một chế độ nào bị đánh bại mà lại được người dân thương tiếc, kính yêu đến vậy. Dù đó là chính phủ Mỹ, vì lợi ích của dân Mỹ mà bỏ rơi đồng minh, dù đó là những người cộng sản vỗ ngực là kẻ "chiến thắng" cũng đều tâm phục khẩu phục VNCH. HCM và đảng cs của y thừa biết VNCH là một chế độ tốt như thế, được lòng dân như thế, mà lại cố tình đánh chiếm miền Nam thì rõ ràng đảng cs là phi nghĩa, là có âm mưu đen tối rồi. Bây giờ, âm mưu đó đã lộ rõ: "dâng nước VN cho Tàu", như Lê Duẫn đã từng thú nhận. Tiếc rằng, các cụ như Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đình Diệm v.v, vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, chỉ biết xử sự như một bậc chính nhân quân tử, nên đành thua tên cáo già, vô liêm sỉ như Hồ Chí Minh, một tên Tàu "đúng chuẩn" ! "Bá đạo" cs đã thắng "vương đạo" VNCH. Đó chỉ là cái thắng tạm thời. Lịch sử loài người đã chứng minh rằng sau cùng thì "vương đạo" sẽ thắng "bá đạo". Hào quang VNCH ngày một tỏa sáng, đóm lửa VNCH đả bắt đầu cháy và sẽ lan rộng ra khắp nơi trong nước. Đó là lý do chế độ cs sẽ bị diệt vong trong tương lai rất gần.

Một khi mà người dân trong nước đã thức tỉnh và biết phân biệt được thế nào là một chế độ chân , thiện, mỹ VNCH, thì đó là thời kỳ tan rã của nhà nước Cộng sản, là chuyện chắc chắn phải xãy ra, đây là thời quá độ của đảng csVN là giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác – Lênin , là học thuyết từng cổ súy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi. Tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam đã không còn cách gì cứu vãn nổi. Bạo lực cách mạng quần chúng sẽ nổ ra và san bằng bất công, thay đổi vận mệnh đất nước, cân bằng xã hội, đưa dân chủ tự do về lại xã hội VN.

Bài đã được đăng tại blog: http://kimanhl.blogspot.de/ và Google+https://plus.google.com/u/0/101604557866635401091/posts

Edited by user Saturday, May 30, 2015 4:45:38 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
phamlang  
#1938 Posted : Sunday, May 31, 2015 4:47:15 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tiễn Con



Đưa con ra phi trường,

4 giờ sáng.

Trời mờ sương.

Lấp loáng đèn đường.

Nhìn cháu say ngủ

Thương thiệt là thương.

LAX sáng thứ hai.

Rộn rịp mỗi phút giây

Các ngã đông tây

Xe cộ tấp nập.

Hành khách bươn bả

Hành lý vun đầy


Tôi đã tiễn thằng con Út về đơn vị cách đây một tuần. Thằng con cao lớn, mang trên vai cái túi quân trang to cồng. Con vợ nó kéo một cái valy quần áo. Trong buổi sáng ồn ào của phi trường LAX, hai mẹ con ôm hôn nhau chia tay. Con dâu cũng ôm cả hai người và hôn mẹ chồng. Nó tươi cười:

-Mom đừng lo. Tới nơi con sẽ Face Time cho Mom.

Thằng Út của tôi nói tếu cho mẹ vui:

-Má yên tâm đi. Út má có Dzợ rồi, lại đi lính. Sang năm có phép con dìa, con mang cho má món quà đặc biệt. Một thằng bé biết kêu bà nội. Chịu chưa?

Tôi cười mắng yêu” Cái thằng khỉ” rồi ra dấu bảo chúng đi đi. Tôi đứng nhìn vợ chồng nó vào thang máy mà thương con. Đành thôi. Mỗi con chim khi đủ lông đủ cánh phải bay bằng chính đôi cánh của mình. Phải vui vì con đã chọn cho nó một con đường và dù trên đoạn đường đó có gian lao thế nào cũng là những thử thách để nó trưởng thành.

Máy bay vừa đáp xuống phi trường là thằng con đã gọi phone cho mẹ báo bình an. Nó về nhà ngủ một giấc là sáng mai đã vào đơn vị vì đã hết phép.

Hôm nay, sáng thứ hai tôi lại tiển thằng con lớn ra phi trường LAX. Cả đêm tôi không ngủ được. 3 giờ sáng thức dây, đánh răng, thay đồ và gọi con dậy chuẩn bị.

Tội nghiệp cả nhà chỉ chợp mắt được vài tiếng. Biết sẽ rất vội vã nên chúng nó mặc sẳn quần áo sáng mai đi sớm để ngủ. Chúng thức dậy ,đánh răng rửa mặt là lo chuẩn bị lên đường. Tất cả hành lý đã bỏ vào cốp xe tối qua.

Gia đình cháu trở về đơn vị tại Ý, vé máy bay book sẳn từ lâu. Mấy ngày nay luôn theo dõi các chuyến bay để có thể về đúng thời gian quy định. Chuyến bay quân sự về Ý hay Đức rất giới hạn chỗ ngồi. Cho nên thời gian bay phải chính xác nếu không sẽ trễ phép và nhiều vấn đề kèm theo. Buổi chiều chủ nhật 7 giờ check mail chuyến bay vẫn bình thường. Đồ đạc cho vào hai valy lớn. Còn lại là xách tay và 2 cái ba lô. Ngoài ra vì có hai đứa con mọn nên thêm hai cái car seats cho em bé.

Nhìn đống đồ đạc và quần áo lạnh tôi cũng ngao ngán cho cuộc hành trình.

Ăn cơm chiều xong, cả nhà ngồi nói chuyện một chút rồi chuẩn bị đi ngủ sớm để sáng mai 5 giờ sáng lên đường. Đi sớm trừ hao sáng thứ hai đường về Los Angeles kẹt xe. Chuyến bay khởi hành lúc 8:30 Am.

Trước khi vào phòng, thằng con check lại lần cuối và nhận được Email “Chuyến bay đình chỉ vì trục trặc”. Tin báo ra cả nhà quay trở lại phòng khách. Thằng con mở computer và mở luôn iphone để liên lạc với hảng máy bay.

Thì ra đó là tin có thật và hảng “American Airline” thành thật xin lổi. Thế nhưng làm thế nào để kịp chuyến bay về Ý mới là điều quan trọng. Thế là nó gọi trực tiếp xin được liên lạc với hảng máy bay và nói rõ về hành trình. Vì là lính phải về đơn vị đúng thời gian quy định, Nếu không lên được chuyến bay quân sự từ Baltimore về Ý thì nó phải đợi ở đó cả tuần. Vấn đề là không phải ngày nào cũng có chuyến bay của lính qua Âu Châu . Nhất là mùa Lễ, quân nhân nghỉ phép đều lo trở về đơn vị. Số người được đi rất giới hạn. Nếu trễ chuyến bay phải 1 tuần ăn ở tại Baltimore nhất là trễ phép , bệnh nhân có hẹn đều là lính rất trở ngại trong vấn đề công tác. Bên kia, hảng máy bay tìm , bên này thằng con cũng tìm các chuyến bay còn trống chỗ ngày mai. Rất khó khăn và tốn kém cho việc bù lỗ nên mấy lần họ gát máy. Thằng con chờ không được lại gọi khiếu nại. Cứ mỗi lần nghe cháu ‘Thank you” tôi lại chạy xuống lầu hỏi :

-Được rồi hả con?

Thằng con lại lắc đầu:

-Người ta đang liên lạc để tìm Mẹ ơi!

Mãi đến hơn 11 giờ đêm mới có cách giải quyết. Máy bay chuyển qua hảng US Airway và giờ khởi hành là 7:20 phút sáng. Chuyến bay đáp xuống North Carolina rồi một chuyến khác về Baltimore. Đi thì sớm hơn mà đáp xuống trễ hơn dự định. Nhưng dù sao đó cũng là một cách để trở về đơn vị. Khi con tôi hỏi về hành lý được mang theo thì được trả lời mỗi vali chỉ được 55 lbs.

Thế là lại tháo tung hành lý ra để bỏ thêm vào một cái thùng khác. Lại cân lại dán rồi ghi tên. Loay hoay cả đêm hơn 12 giờ mới vào phòng ngủ.

Tôi nằm trên giường, cố dỗ giấc để sáng mai dậy sớm. Nhưng trằn trọc vẫn không chợp mắt. Ông chồng già vừa ho hen vừa giật từng cơn. Mệt mõi tôi đi vào giấc ngủ chập chờn. 3 giờ sáng tôi trở dây, đánh răng rửa mặt , thay đồ rồi đánh thức con. Thằng cháu còn say ngủ. Ba nó bế nhè nhẹ bỏ vào car seat. Con em nó đã thức dậy . Cháu bú no và cười thật tươi trong chiếc ghế trẻ con của mình.

Thằng con vào phòng cha mẹ, nhìn cha đang say giấc, khẻ lẩm bẩm mấy câu chào từ biệt rồi bước ra ngoài. Tôi pha cho con ly cà phê nóng và gói cho cháu ít trái cây cắt sẳn . Tôi gửi ông chồng già cho đứa con gái ở nhà chăm sóc, cùng con rễ và gia đình thằng con lên đường. Bưng ly trà nóng tôi ra xe. Trời chưa sáng hẳn nhưng freeway cũng đã tấp nập xe cộ . Nhìn ra ngoài, phố xá vẫn le lói đèn đường. Cả thành phố đang vươn vai thức tỉnh. Một đất nước bình yên thịnh vượng đang lùi dần , lùi dần để đi qua một thành phố khác. Trời còn sớm nhưng phi trường LAX vẫn đầy nghẹt xe cộ.

Xuống khu vực dành cho hảng US Airway. Xe tấp lại bên lề. Tôi phụ con trông coi hành lý. Cháu dùng một xe đẩy để bỏ hành lý lớn. Một xe để bỏ Car seats của thằng con để nó có thể tiếp tục ngủ.

Vào trong, hành khách cũng chưa đông lắm. theo dòng người chúng tôi cũng sắp hàng chờ đợi. Thế nhưng khi được gọi tới phiên mình thì cô tiếp tân nói không có tên con tôi trong danh sách chuyến bay. Nói gì cô ta cũng lắc đầu và chỉ về bên hướng trái. Nói con tui qua bên kia mà khiếu nại.

Lại chuyển đồ đạc và dẫn nhau qua bên dãy trái của US Airway. Hành rào đã đóng. Hai phụ nữ người da màu mặc áo Security ngăn lại không cho tiến tới. Bảo chúng tôi phải đi ngược ra phía trước mà vào cổng chánh.

Thằng con bảo cả nhà ngồi đợi và gọi về hảng. Loay hoay khiếu nại một hồi, cuối cùng họ cho số vé và đến xác nhận ở máy tự động tại phi trường.

Lại kéo nhau vào sắp hàng lần nữa. Lại chờ đợi tới lượt mình. Lần này với một bà lớn tuổi. Bà ta dò trong danh sách và lắc đầu, thằng con đưa giấy tờ và trình bày mọi việc. Bà ta ngưng lại gọi tổng đài và một hồi thật lâu mới tiến hành làm thủ tục . Khi được hỏi về hành lý. Bà cho biết với lính có thể chấp nhận 80 lbs một vali.

Để Duy đứng lại hoàn tất thủ tục giấy tờ, tôi, con dâu, con rễ lớn lại kéo hành lý ra ngoài khoảng trống. Một lần nữa tháo băng keo cái thùng mới đóng hồi đêm, dồn tất cả hành lý vào 2 Vali như trước. Bởi vì Vali có 4 bánh xe, thằng con dễ dàng di chuyễn.

Sau khi hai vali được dồn vào khóa lại cẩn thận. Cả nhà lại tới sắp hàng để cân hành lý.

Mọi thủ tục xong xuôi thì đã 7 giờ sáng. Giờ này mọi người lần lượt vào trong phòng chờ đợi. Duy ôm mẹ trong vòng tay rắn chắc. Dặn Mẹ giữ gìn sức khỏe và hôn mẹ thương yêu. Nước mắt con ngân ngấn, nước mặt mẹ quanh mi. Thằng cháu hôn nội từ giả. Con dâu tôi cũng ôm mẹ chồng từ biệt. Con bé Hạnh cười với nội trong cái túi trước bụng mẹ như con Kangaru nhỏ. Thương quá là thương.

Con dâu tôi vai mang một cái backpack. Trước bụng mang con bé, tay đẩy một cái carryon dùng để đựng tả, quần áo và những thứ cần thiết cho một chuyến bay dài.

Thằng con cũng lưng mang Backpack , cõng con trên vai , tay kéo carryon trên để car seats của thằng bé. Thấy hai vợ chồng lỉnh kỉnh đồ đạc và con cái mà thương. Tiển con ở cửa thang máy. Tôi đứng chờ thang máy đóng lại lòng bùi ngùi. Đứng thật lâu, nhìn trên lầu, gia đình nó đã lên tới để vào nơi soát vé. Cháu giơ tay vẫy bà và hôn gió. Các con vẫy tay từ giả và bước vào bên trong.

Tôi ra về lòng thương con vô bờ. Đường bay còn dài, còn nhiều trở ngại trong lúc mọi nơi bão tuyết đang về. Cháu sẽ rất mệt, các con tôi phải đối phó với mọi tình huống xấu có thể xảy ra.

Đúng như dự đoán, chuyến bay về tới North Carolina tới đúng giờ nhưng chuyến bay về lại Baltimore đã bị delay. Máy bay đáp xuống Baltimore là đúng lúc chuyến bay quân sự về Đức đã cất cánh. Thế là con tôi phải mướn khách sạn ngủ lại và chuyến bay đã mua từ Đức về Ý cũng như khách sạn thuê tại Đức kể như mất tiền.

Một ngày, rồi hai ngày ở lại khách sạn trong chờ đợi thật nản. Chuyến bay vẫn không có. Trời lạnh, các cháu mệt mõi và ngày phép đã hết.Con tôi đành mua vé bay qua Illinois, từ Illinois qua Luân Đôn. Từ Luân Đôn về Ý. Illinois là nơi thằng Út tôi đang phục vụ . Thế là thằng em đón gia đình anh về nhà mình. Trên chuyến xe đón anh từ phi trường về nhà anh em nó gọi cho tôi. Tôi thật sự ngạc nhiên khi trên Face Time thấy cả hai thằng con và các cháu.Một cuộc hội ngộ bất ngờ không thể nghĩ ra. Thế mà hai gia đình con tôi có thể ngồi ăn chung, uống bia hàn huyên cùng nhau. Cháu xoay Ipad cho tôi coi, bên ngoài trời thật lạnh, tuyết rơi trắng xóa. Cháu tôi được dịp ra nô đùa với tuyết trước sân nhà. Quần áo lạnh được lôi ra mặc, phù hợp với trọng lượng hành lý sẽ giảm bớt theo quy định khi đáp chuyến bay về Âu Châu. Nhìn các con đoàn tụ ăn uống nói cười vui vẻ bên nhau, làm Mẹ như tôi cũng thấy ấm lòng.

5 giờ sáng, con dâu út đưa gia đình anh chồng ra phi trường vì chồng nó phải vào đơn vị. Tôi lại ngồi ở Nam Cali mà ngóng chờ tin tức đưa về. Chuyến bay qua Luân đôn lại delay vì trục trặc gì đó cần sửa chữa. Con tôi lại một phen chờ đợi trong hồi hộp. Khách sạn tại Luân Đôn đã mướn. Chuyến bay từ Luân Đôn về Ý cũng đã book . Nếu chuyến bay lại đình thì thêm những khó khăn phải đối diện.

Nhưng nhờ ơn trên, máy bay sau mấy tiếng sửa chửa đã sẳn sàng lên đường. Khi tôi được cú gọi Face Time của con tôi thì cháu đang ở khách sạn tại Luân Đôn. Cả mấy đứa cháu lăn ra ngủ mệt mõi trên giường. Con dâu tôi ho từng cơn. Còn thằng con trai thì che dấu cái ngáp dài khi gọi Mẹ báo bình an.

Sáng sớm gia đình con tôi lên máy bay về lại Ý. Cháu không gọi vì không muốn đánh thức Mẹ nửa đêm. Cuộc gọi báo tin gia đình con đã đến nhà bình yên làm tôi mừng quá. Nhìn con mặc áo len đội mũ kín mít trong nhà. Tôi mới biết ngoài trời dưới mấy độ âm, mà trong nhà càng lạnh hơn nữa do đóng cửa suốt thời gian đi vắng.

Con dâu và cháu nội đã vào phòng mở sưởi để cho ấm. Thằng con gọi Mẹ báo bình an rồi cũng sẽ vào phòng ngủ. Vì sáng mai phải dậy sớm vào bệnh viện trình diện.

Tôi tắt máy ngồi yên lặng. Sự lo lắng trong lòng đã dịu xuống. Con tôi đã về đến nơi bình an. Các cháu vẫn bình thường không có chuyện gì lớn.

Một lần về thăm Mẹ và gia đình thật nhiêu khê. Những chuyến bay luôn trục trặc vì thời tiết xấu. Nghe tiếng ho của con dâu và cháu nội, lại được tin sáng sớm mai con phải vào đơn vị liền vì phép trễ làm tôi thương quá là thương. Không lẽ bảo con đừng về vì tốn kém và vất vả thì lòng thương nhớ không đành. Đi thăm con thì ông chồng già bệnh hoạn không thể chịu đựng nỗi cuộc hành trình. Thôi thì khi nào chúng thu xếp được thì chúng về thăm. Mình lo cũng chẳng giúp ích được gì.

Điều tôi mừng vui là trên suốt lộ trình đi về, con tôi đã làm được một việc đáng làm là giúp được một người đàn ông bị tiểu đường ói mữa và bất tỉnh trên chuyến bay. Khi người tiếp viên hàng không chuyến bay US Airway từ LAX về North Carolina gọi loa có một người bất tỉnh. Ai trên chuyến bay là BS có thể giúp. Thế là thằng con giơ tay và đến nơi cấp cứu kịp lúc. Phi hành đoàn rất mừng khi người hành khách đã trở lại bình thường. Họ mang đến cho con tôi một phần thức ăn gọi là cám ơn.

Trước đó một ngày, khi tôi cùng cháu đi chợ Wal Mart cũng có một nữ khách hàng bất tỉnh . Nhân viên nhờ người cấp cứu. Thằng con cũng đến, tìm cách giúp cô ta tỉnh lại và nghỉ ngơi trước khi xe cứu thương tới. Thấy nụ cười của con khi cô gái nói lời cám ơn tôi thật vui và hảnh diện Con tôi đã làm đúng nhiệm vụ và trách nhiệm của một người lính quân y.

Con tôi cả hai đứa đều đã trở về vị trí của mình. Tôi cũng trở về những ngày bận rộn bên ông chồng già. Một năm nữa con tôi mới có thể đủ phép về thăm Mẹ:

-Một năm thôi mà Mẹ. Coi vậy chứ mau lắm. Con sẽ về. Con hứa với Mẹ con sẽ về đúng hẹn.

Ôi! cái hẹn của người lính với mẹ già thật cảm động. Nghe con nói tôi lại nghĩ đến bản nhạc ” Xuân này con không về ” của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Vâng ! Làm lính không thể chắn chắn những điều mình tính sẽ thực hiện như mong ước. Ngày xưa làm vợ lính tôi đã chờ đợi bao lần trong tuyệt vọng nên tôi hiểu rõ ràng những lời hứa của lính thật mong manh. Nhưng đây là nước Mỹ, một xứ sở an bình không chiến tranh. Tôi mong ước lời con hứa sẽ thành sự thật. Dù sao với thời buổi khoa học tân tiến, dù không được ôm con vào lòng, tôi vẫn có thể thường xuyên nhìn con và nói chuyện với cháu qua Face Time.

Người Mẹ nào cũng yêu con một cách mù quáng và mong mỏi con mình ở cạnh bên mình. Có đôi lúc tôi thấy mình vô phước khi con cái đều đi xa mà mình đang cần chúng giúp đở. Nhất là những khi máy móc trục trặc về đường line Internet hay bị Virus tấn công.

Nhưng sau những lúc bực bội tôi lại thấy mình sai . Bởi con cái mình đều đã tự lập, đều là những đứa con hiếu thảo hết lòng yêu thương cha mẹ. Là những người trai, người lính có trách nhiệm với gia đình và đất nước. Chúng hài lòng và hảnh diện với màu áo và binh chủng chúng phục vụ. Cho nên không làm gì được cho con thì mình phải thông cảm cho nó. Yêu thương nó hơn và vui vẻ trong cuộc sống cho con được an lòng.

Tôi đã không làm được điều gì đáng nói để đền ơn đất nước cưu mang mình vậy thì hãy để các con tôi thay cha mẹ làm việc đó. Tôi từng khuyên con tôi như vậy và an lòng khi chúng biết rõ trách nhiệm của mình.

Giờ này ai về vị trí nấy. Cháu tôi sẽ lớn lên trong sinh hoạt của gia đình binh sĩ. Cháu sẽ mang trong tâm hồn những hình ảnh rất đẹp của cha và các chú bác. Cháu sẽ được lĩnh hội nền giáo dục chính thống về lòng can đảm. hy sinh và phục vụ tha nhân của người lính. Tôi hy vọng cháu tôi cũng sẽ là một người có ích cho xã hội. Một mầm non của đất nước đã cưu mang gia đình tôi.

Người Việt Nam thế hệ thứ hai trên nước Mỹ sẽ tô điểm thêm trên màu cờ vàng một niềm vui. Các con tôi không làm nhục chí hướng của cha là phải làm một điều gì để phục vụ tổ quốc. Mặc dù tổ quốc bây giờ con tôi phục vụ không phải là VN. Nhưng con cái người lính VNCH đang phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ làm cho người Mẹ như tôi đẹp lòng.

Chúng ta đã bất chấp mạng sống đem con cái đến bến bờ tự do. Bây giờ đã đến lúc các con , cháu ta phục vụ và bảo vệ nó. Đem ánh sáng tự do đến những nơi bị áp bức, bóc lột và thiếu nhân quyền. Chúng ta không thể làm điều gì cho đất nước khi chúng ta bị đánh bật ra khỏi quê hương làm thân lưu vong. Nhưng tiếng nói, lý tưởng và chính nghĩa của hai chữ tự do luôn được bảo vệ , phát huy và gìn giữ.

Các con tôi hôm nay đã khác, rắn rỏi và trưởng thành hơn. Khi nghe cháu kể lại những lần tập trận, những điều người lính phải biết và phải làm tôi thấy thật an lòng. Kỷ luật quân đội đã giúp người thanh niên chịu đựng, sống có nề nếp, có lý tưởng và nhân bản hơn.

“Tiển con” ra phi trường để trở về đơn vị là những điều nhỏ nhặt trong đời thường. Nhưng với trái tim một người mẹ thì điều gì của con, của cháu cũng đáng nhớ và yêu thương. Cám ơn các bạn đã đọc những tâm tình lẩm cẩm này . Chúc các bạn luôn được gần con, cháu để hưởng những hạnh phúc thật ngọt ngào. Hãy cùng con thường xuyên ăn những bữa cơm gia đình. Cùng cháu vui đùa, ôm cháu vào lòng hay đưa cháu đi học.

Ôi! những ông bà nội, ngoại tuy già nhưng rất vui vẻ , yêu đời và dễ thương bên các cháu.

Đó là niềm vui ấm áp nhất của tuổi già phải không các bạn?.

Nguyễn thị Thêm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
phamlang  
#1939 Posted : Monday, June 1, 2015 3:18:43 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bạn tôi đó


(Để tưởng nhớ về Binh chủng Mũ Nâu và những anh linh Biệt Động Quân đã hy sinh, cùng những Thương Phế Binh đang còn sống khổ tại quê nhà – N.H.)

UserPostedImage

Tôi viết bài ca Biệt Động…
Cho những oan hồn…
Nơi núi thẳm rừng sâu.
Cho những thương binh…
Đang tủi nhục cúi đầu…
Rơi nước mắt…
Khóc nỗi niềm vong quốc !

Bạn tôi đó…
Những con người bất khuất.
Đã từng phen…
Oanh liệt chiến trường xưa.
Đã từng phen…
Đổ máu thắm tươi cờ,
Nay lại phải lầm than phẫn hận !

Bạn tôi đó…
Những oan hồn cay đắng,
Dật dờ không…
Mảnh đất tựa nương !
Mấy mươi năm…
Nơi gió bãi trăng ngàn,
Đau nỗi nước…
Dưới gông cùm quỷ đỏ !

Bạn tôi đó…
Những nấm mồ chưa xanh cỏ,
Bị xới đào…
Theo chủ thuyết phi nhân !
Bát nước bình hương…
Chưa có lấy một lần…
Nghi ngút khói…
Cho tan hồn u uất !

Bạn tôi đó…
Bao người còn kẻ mất,
Đều lầm than khổ hận…
Giống như nhau !
Kẻ ngục tù…
Kẻ chết đáy vực sâu,
Kẻ lang bạt…
Nơi xứ người tìm lẽ sống !

Nên tôi viết…
Bản Trường ca Biệt Động…
Bản trường ca…
Bằng nước mắt rỉ từ tim !
Bằng cả linh hồn tôi…
Và muôn vạn nỗi niềm,
Ôi tủi nhục…
Tang thương…
Dài thống hận !

Tôi viết bản Trường ca Biệt Động…
Mà lòng thêm nghèn nghẹn…
Máu khô dòng !
Mà thịt da…
Như vò xé vỡ tung.
Thương một thưở…
Mài gương cười chính khí !
Thương một thưở…
Chọn con đường võ bị…
Đem máu xương…
Vì Tổ quốc hy sinh !
Kẻ chết tàn thây…
Người chết bởi chông mìn !
Ôi rốt lại…
Cũng nhà tan dân khổ !!

Ai bán đứng nước tôi ?
Ai đưa vào mạt lộ…
Mà biển Đông…
Xác chết dật dờ trôi !!
Dân Việt Nam…
Phiêu bạt bốn phương trời,
Bao máu lệ đau thương nòi giống !

Nên tôi viết…
Bản Trường ca Biệt Động…
Giọng bi thương…
Khóc những hình hài !
Tiếng bi ca…
Trầm uất điệu Nam Ai,
Cho những bạn… mất đi phần thể xác !
Để giờ đây…
Trải mấy mươi năm lây lất,
Bạn vẫn còn…
Sống kiếp lang thang !
Lê tấm thân tàn phế…
Với cây đàn,
Cất tiếng hát…
Bài “Thương ca” xé ruột !
Ôi tiếng hát…
Giọng sầu nghe não nuột,
Có khàn đi, vì gió bụi thời gian !
Tiếng đàn rung…
Theo điệu nhấn thương tang,
Ôi điệu nhấn…
Mấy mươi năm dài thống khổ !
Rồi ngửa tay…
Xin đồng tiền ban bố,
Nơi nhà hàng, quán rượu, bến xe…
Đêm từng đêm…
Khoanh giấc vĩa hè,
Ai thương xót…
Đoái hoài thân xác ?!

Và… còn nữa,
Bao mảnh đời rãi rác…
Của đồng đội tôi,
Lê kiếp thương binh !
Kẻ chợ… đồng quê…
Hay mưa nắng thị thành,
Đều thiếu mái gia đình cho cuộc sống !

Tôi xin viết…
Bản Trường ca Biệt Động,
Để ngùi thương…
Bao số phận hẫm hiu !
Ôi giờ đây…
Trong gió sớm mưa chiều,
Bạn tôi đó…
Những hình hài khốn khổ !!

Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 6/26/2015(UTC)
CatLinh  
#1940 Posted : Wednesday, June 3, 2015 5:10:33 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 6/8/2015(UTC), thunder on 6/26/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
102 Pages«<9596979899>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.