Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<9495969798>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hạ Vi  
#1901 Posted : Tuesday, March 24, 2015 12:39:16 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ ÚC – MỸ – VIỆT Ở KHẮP NƠI


UserPostedImage
ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT NAM NANNUP (AUSTRALIA)



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-ÚC BRISBANE (AUSTRALIA)



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-ÚC VICTORIA (AUSTRALIA)



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT -ÚC ALDELAIDE (AUSTRALIA)



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ ORLANDO – FLORIDA



UserPostedImage
QUẢNG TRƯỜNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ BELLAIRE -HOUSTON



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ BELLAIRE -HOUSTON
(Nhìn phía trước)



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ WESTMINSTER -CALIFORNIA
UserPostedImage




UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ WICHITA – KANSAS



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ WICHITA – KANSAS
(nhìn phía trước)



UserPostedImage
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT-MỸ ARLINGTON – TEXAS



sưu tầm




UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 4/8/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1902 Posted : Monday, March 30, 2015 7:11:54 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
AI GIẢI PHÓNG AI SAU 40 NĂM NHÌN LẠI


(Huy Vũ)

Ngày 30-04-1975 được Cộng Sản Bắc Việt rêu rao là ngày họ “giải phóng” dân chúng miền Nam khỏi sự “kìm kẹp” của Mỹ-Ngụy. Tới nay đã 40 năm trôi qua, ta thử nhìn lại và suy ngẫm xem ngày này có phải là ngày miền Bắc đã giải phóng miền Nam không? Hay ngược lại, miền Nam đã giải phóng miền Bắc?

Trước khi đi vào nội dung của vấn đề, thiết tưởng ta cần phải đi tìm định nghĩa của động từ “giải phóng”.

Theo một vài cuốn tự điển Việt-Việt, động từ “giải phóng” có thể được định nghĩa như sau: Bằng cách này hay cách khác làm cho hay giúp cho một số người nào đó thoát ra khỏi một tình trạng xấu xa tồi tệ. Nói khác đi, nếu đẩy đưa một đối tượng nào đó từ một tình trạng tốt đẹp sang một tình trạng tồi tệ, thì không thể gọi là “giải phóng” được.

Dựa vào định nghĩa này và lấy ngày 30-04-1975 làm mốc thời gian để tìm hiểu xem đời sống thật sự của nhân dân hai miền Nam và Bắc vào thập niên 1970 như thế nào, để từ đó có thể rút ra một kết luận khách quan rằng: Ai đã giải phóng ai?

Để có một câu trả lời đúng đắn và chính xác cho câu hỏi này, có lẽ ta nên điểm qua cảm nghĩ và nhận thức về cuộc sống vật chất và tinh thần của dân chúng hai miền Nam và Bắc vào thập niên 1970 của một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, cán binh, cán bộ v.v… là những người đã được đào tạo và hun đúc bởi chính đảng Cộng Sản Việt Nam tại miền Bắc, khi họ có dịp vào miền Nam thăm viếng, công tác, hay sinh sống sau ngày 30-04-1975.

1. Thư của một cựu “giải phóng quân” cộng sản Việt Nam gửi cho một cựu “ngụy quân” Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Bá Chổi)

Trong phần đầu thư, anh “cựu giải phóng quân” đã trân trọng thông báo cho anh “cựu ngụy quân” biết là hiện tại anh ta đang tự giác và tự nguyện “tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc” trên con đường “Ngụy Quân Hóa và Mỹ Cút Hóa”. Anh CGPQ cũng đã dí dỏm giải thích về lý do tại sao anh ta đã và đang làm một việc ngược đời như thế:

“Ngụy-quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều… hiện đại. Mỹ-cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ…

“Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẫm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ-cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép-Pi-Bớt-Đê (Happy Birth Day), hễ mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc-Đá-Nồ (McDonald), Bơ-Gơ-Kinh (Burger King), Ken-Tơ-Ky-Phờ-Rai-Trích-Cần (Kentucky Fried Chicken)… con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản….”

Sau đó anh CGPQ còn tỏ ra khâm phục và hết lời ca tụng quân dân miền Nam:

“Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh.

“…. nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy… Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng…”
Phần cuối thư anh CGPQ viết:

“Thưa anh Chổi, điều tôi muốn đề cập với anh hôm nay là cám ơn các anh đã… thua cuộc chiến tranh mà trước kia chúng tôi hăm hở gọi là “giải phóng Miền Nam”. Thực tế cho thấy đó là “giải phóng Miền Bắc”. Nói thế nghe ra là “phản động”, nhưng thực chất là vậy. Nếu bác Hồ từng nói “Nước Việt nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” – cứ cho bác Hồ nói đúng đi, mặc dầu theo sách giáo khoa Cách mạng dạy thì Việt Nam ta không chỉ có một mà có tới 53 dân tộc (trong Nam các anh gọi là 53 sắc tộc, xem ra đúng hơn), thì ta cũng có thể nói, nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.

Cuối thư anh CGPQ cho biết thêm là anh cùng quê với ông Hồ, có lẽ trước 30-04-1975 anh rất hãnh diện về điều nay, song sau ngày này anh lại thấy đó là một điều làm anh hổ thẹn:

“Cảm ơn anh đã đọc hết thư này của một người cựu thù cùng máu đỏ da vàng, cùng quê hương “ông bác” mà ngày nay mỗi lần nghe nhắc đến là tôi muốn độn thổ vì xấu hổ.

2. Nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn “Bên Thắng Cuộc”:

Trong phần “Mấy lời của Tác Giả” của cuốn “Bên Thắng Cuộc” Huy Đức cho biết sau ngày 30-04-1975 nhìn những chiếc xe đò Phi Long chạy từ miền Nam ra Bắc và qua hình ảnh ngươi lơ xe và những đồ đạc và sách báo của hành khách mang từ miền Nam ra, tuy đơn giản song cũng làm ngươi miền Bắc nhận ra được rằng dường như ở miền Nam có mức sống văn minh, phong phú và đa dạng, và không giống như những điều mà Huy Đức đã được dậy bảo trong sách giáo khoa của miền Bắc:

“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giời văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dầy, Thép Đã Tôi Thế Đấy. Những chiếc máy Akai, radio cassette, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”

3. Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:

Phan Huy đã viết môt bài thơ có tựa đề là “Cảm Tạ Miền Nam” rất cảm động. Ngay trong phầm mở đầu ông viết:

“Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với Miền Nam, miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.”


Sau cái gọi giải phóng và thống nhất, ông Huy đã có dịp vào miền Nam và ông đã nhận ra miền Nam không tồi tệ như bác và đảng đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu ông. Và khi đã nhận ra một sự thật phũ phàng, ông Huy đã bật khóc:

“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”


Phan Huy cũng không quên mô tả cuộc sống ở miền Bắc cộng sản, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, vô cùng tồi tệ. Đời sống của nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cầy thay trâu và nhân phẩm của nhân dân miền Bắc bị xô đẩy xuống tới mức ngang hàng với bèo dâu:

“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”


Trong phần cuối bài thơ, ông Huy kết luận rằng, ngày 30-04-1975 thật sự không phải là ngày cộng sản miền Bắc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, mà ngược lại là ngày miền Nam đã phá màn u tối, đã khai đướng chỉ lối, đã khai sáng cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản, thật sự chúng chỉ là một bầy ác quỷ, và ông đã không tiếc lời cảm tạ nhân dân miền Nam:

“Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.

Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam
đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng đã thành danh.”



Trong một bài thơ khác có nhan đề là “Tâm sự một đảng viên” ông Phan Huy đắng cay bộc lộ rằng, sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì ông quá tin nghe theo lời bác Hồ dạy bảo:

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”


Và sở dĩ ông đã xung phong đi cứu Miền Nam ruột thịt là vì ông tin vào lời tuyên truyền của bác Hồ và đảng Cộng Sản:

“Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng.”


Khi dự tính vào miền Nam thăm viếng một người bà con họ hàng, vì tin vào lời tuyên truyền của bác và đảng là người dân miền Nam đói khổ, nên ông đã chẳng quản đường xa diệu vợi mang theo một mớ gạo mà ông đã phải , dành dụm trong nhiều ngày mới có được, để biếu người bà con đói khó:

“Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu”


Song khi vào tới miền Nam, ông nhận ra rằng, đời sống của ngươi miền Nam hoàn toàn khác hẳn so với lời tuyên truyền láo khoét của bác và đảng:

“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.”


Khi đến và đứng trước nhà người bà con, ông Phan Huy mới nhận ra rằng, mớ gạo mà ông nâng niu mang từ miền Bắc thiên đường cộng sản, với hảo ý để biếu người bà con miền Nam bị Mỹ Ngụy kìm kẹp đói khó là một điều điều “lăng mạ” người bà con này:

“Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Kí gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một ngươi công chức
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ.”


Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của nhân dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng, ông Huy cảm thấy hổ thẹn với lương tâm nên đã than khóc:

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.”


4. Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp:

Vào ngày 30-04-1975, ông Dương còn là sinh viên của trường đại học sư phạm Vinh. Khi nhận được tìn miền Nam đã được “giải phóng”, ông và các sinh viên của trường này đã hồ hỡi, phấn khởi, hò reo, ca hát và tổ chức hội họp liên miên để mừng miền Nam được giả phóng, vì tin rằng:

“từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi không còn sống trong cảnh”Ngụy kềm Mỹ kẹp nữa…. Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng.”

Sau khi tốt nghiệp, ông Lê Hiển Dương may mắn lại được Đảng và Nhà Nước Cộng Sản bố trí vào miền Nam với một nhiệm vụ cao cả là:

“mang ‘ánh sáng’ văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tồi lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì?”

Khi xe chạy qua cầu Hiền Lương, ông Dương đã bắt đầu nhận ra rằng, cuộc sống của nhân dân miền Nam không như ông tưởng và hòan toàn không giống như lời tuyên truyền láo khoét của bác và đảng đã nhồi nhét vào đầu óc ông:

“Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!”

Khi tới Thị trấn Cao Lãnh để nhận nhiệm sở, ông được nhà cầm quyên địa phương “bố trí” cho ở tại khách sạn Thiên Lợi và đây là cảm nhận của ông khi sống trong khách sạn này và nhân dịp này ông cũng cho biết xã hội miền Bắc quá lạc hậu và nghèo khó thê thảm:

“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

‘Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà’…

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”

Từ nhận thức về mức sống cách biệt giửa hai miền Nam quốc gia và miền Bắc cộng sản, cùng những sự việc đã liên tiếp xẩy ra ở miền Nam sau ngày 30-04-1975 đã buộc một người trí thức như ông Dương phải suy nghĩ:

“Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!”

5. Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết 1954)

Trong một bài có nhan đề là “Cả Nước Đã Bị Lừa” được viết vào dip kỷ niệm 35 năm ngày gỉải phóng miền Nam, ông Châu Hiển Lý đã nhận định vế “chiến thắng 30 tháng 04” của đảng cộng sản Việt Nam như sau:

“Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”

Tiếp theo đó ông Lý đã nêu ra một loạt câu hỏi để người đọc nhìn lại và suy ngẫm, rồi tự trả lời xem sau hơn nửa thế kỷ chủ nghĩa cộng sản được thực thi ở Việt Nam có phải là một chủ nghĩa tốt đẹp không? Nếu chủ nghĩa cộng sản thật sự tốt đẹp thì tại sao:

“ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

- Sau năm 1975, tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp?

- Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông?

- Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị?

- Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

- Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

- Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?

- Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

- Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?

- Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?”

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.”

Gần cuối bài “Cả nước đã bị lừa” ông Lý viết:

“Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.”

Cuối bài “Cả nước đã bị lừa” ông Lý đã dung hai câu thơ của nhà thơ Bùi Minh Quốc để kết luận về cái xã hội thiên đường cộng sản:

“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”

6. Nhà báo Trần Quang Thành

Mới đây Á Châu Tự Do có đăng bài “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.” Trong bài này nhà báo Trần Quang Thành, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và đài Truyền hình Việt Nam, hiện định cư tại Bratisslava, thủ đô của Slovakia, đã phát biểu như sau:

“Khi tôi nghe đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam đưa tin ông Dương văn Minh đầu hàng, lúc đó tôi đang ở trên cầu Phan Thanh Giản Sài Gòn và chỉ ít phút sau là tôi có mặt ở dinh Độc Lập. Lúc đây mình nghĩ là mình đã hoàn thành một việc là tới được cái nơi mà người ta gọi là «hang ổ của Mỹ Nguỵ » lúc đó mình cứ tưởng là một cuộc chiến thắng giải phóng miền Nam dâng cho tổ quốc nhưng mà bây giờ nghĩ lại là mình bị lừa…

Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.»

7. Nhà văn Dương Thu Hương

Mới đây phóng viên Tường An, đài Á Châu Tự Do, đã có một cuộc trao đổi với nhà văn Dương Thu Hương về hồi ức của bà về ngày 30-04-1975. Câu hỏi đầu tiên mà phóng viên Tường An hỏi bà DTH là:

Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?

Nhà văn Dương Thu Hương:

Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn. Họ (phía bên thua cuộc) có thể văn minh hơn về văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.

Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»

Tóm lại qua cảm nghĩ và nhận thức của các nhà văn, nhà thơ, cán binh, cán bộ v.v… trên đây người ta có thể rút ra được những kết luận sau đây:

- Nhân dân miền Nam thật sự có tự do, dân chủ và no ấm.

- Nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cày thay trâu và nhân phẩm xuống thấp ngang hàng với bèo dâu.

- Nhờ giải phóng miền Nam, nhân dân miền Bắc thấy được ánh sáng văn minh và được dắt dẫn trở về quốc gia dân tộc.

- Nhà cửa và phố xá ở miền Nam khang trang chứ không lụp xụp như ở miền Bắc.

- Nhờ “giải phóng miền Nam” mà người miền Bắc biết thế nào là thế giới văn minh và hội nhập vào thế giới này.

- Đời sống của người dân miền Bắc vào thập niên 1970 thê thảm và lạc hậu đến nỗi người dân phải tranh giành nhau từng cục “phân bắc” để nộp cho hợp tác xã.

- Xã hội chủ nghĩa là một xã hội tồi tệ và nó được phơi bày rõ rệt qua sự nghèo khổ của nhân dân miền Bắc.

- Xã hội chủ nghĩa là một thời đen tối nhất trong lịch xử Việt Nam.

- Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực chất chỉ là cuộc chiến của những người cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Nga Sô và Trung Quốc.

- Chế độ miền Bắc là một chế độ man rợ.

- Chế độ miền Nam là một chế độ văn minh.

Tóm lại, qua những kết luận trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong một “thiên đường văn minh nhất hành tinh”.

UserPostedImage
thanks 2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 4/8/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
phamlang  
#1903 Posted : Saturday, April 4, 2015 7:43:22 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sàigòn Tháng Tư Gạt Gẫm
Đoàn Thị


Bài viêt là chuyện về Sàigòn từ tháng Tư 1975. Tác giả định cư tại Pháp, tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng Ba 2010. Họp mặt giải thưởng năm 2011, đã đã bay từ Paris sang California để nhận giải Vinh Danh Tác Giả, thường được gọi đùa là giải Á Hậu. Tuy sống tại Pháp, bài viết của bà thường là những đề tài và khung cảnh đời sống Việt tại Mỹ.

* * *Xứ Tây có ngày đầu tháng Tư “gạt gẫm”, ngày cá tháng Tư (Poisson dAvril) thiên hạ bày đủ trò phỉnh nhau cho vui, những chuyện “lừa dối” vô thưởng vô phạt với mục đích chọc cười người khác.

Sàigòn ngày cuối tháng Tư năm 75 dân Miền Nam bị gạt một cú mất mạng, 40 năm sau vẫn chưa hoàn hồn. Đó là ngày sụp đổ của VNCH tại miền Nam.


*
Đầu tháng Ba đài truyền hình số 9 trực tiếp phát thiên phóng sự đợt tản cư từ miền Trung về hướng Nam khiến dân chúng thấp thỏm tự hỏi, nếu Miền Nam sẽ có ngày như miền Trung, Sàigòn sẽ đi về đâu?

Quan chức Mỹ, nhân viên sở Mỹ đã rút dần, một số người đã ra đi, nhưng cả chục triệu dân Miền Nam sẽ đi đâu để lánh họa cộng sản, mà đi bằng cách nào, câu hỏi lớn khiến Sàigòn thất thần như người mất hồn.

Sáng ngày 08 tháng 4, Dinh Độc Lập bị đánh bom, trên lầu hai ĐH Văn Khoa náo loạn, sinh viên đổ xuống sân trường, cột khói trắng bốc lên màu tang tóc, tôi nắm tay cô bạn thân, hai đứa nhìn nhau chết lặng.

Rồi ngày định mệnh gõ cửa, Sàigòn thật sự bị bỏ ngõ, người ta thập thò trước nhà, nửa muốn ra đường xem mặt việt cộng, nửa ngại bị “họ xơi tái”, chị em tôi bị bố mẹ cấm cửa, đứng trong sân nhìn thiên hạ tụm năm tụm ba đưa tin vịt cồ.

Ông Soạn thất chí khi quân đội thoái lui từ tháng ba, ông cùng đồng đội và đồng bào miền Trung chạy giặc với đủ loại phương tiện, xe GMC, xe đò, xe Honda, xe đạp, xe ngựa, đi bộ…trực chỉ Sàigòn.

Hôm nay ngày cuối cùng ông khoác bộ chiến y cầm loa phóng thanh đếm, một hai ba, mọi người theo dõi nhân vật trong bộ quân phục VNCH đang tiến vào xóm, nín thở đợi chờ.

Ông tiến bước và lên tiếng,

- Nhà tôi hôm qua bị mất trộm một đàn gà gần chục con, tôi thông báo để bà con nếu ai thấy đàn gà của tôi xin mách giúp.

Bà Tư bực tức lớn tiếng,

- Việt cộng ở ngay đầu ngõ, ông không lo sao mà còn mặc đồ lính đi tìm gà.

Ông gìa lì lợm,

- Ai chả biết chúng nó đang vào đây, nhưng chúng nó làm gì được tôi nào.

Tôi không giận như bà Tư mà thấy nghèn nghẹn, người lính khi bắt buộc phải buông súng tháo chạy đau lòng đến thế đấy, Miền Nam đang hấp hối sắp rơi vào địa ngục CS, tôi không hình dung nổi ngày mai sẽ ra sao.

VNCH buông súng, việt cộng bồng súng độc quyền đổi đời dân Miền Nam, sĩ quan, quan chức chính quyền, văn nhân nghệ sĩ VNCH bị kết án có “nợ máu với nhân dân”.

Chả cần quan tòa xét xử, ngụy quân, ngụy quyền tự động trở thành tù nhân bị lùa vào trại cải tạo, địa ngục trần gian vừa mở cửa đón dân Miền Nam bị cưỡng bức chung sống với cộng sản.

Tất cả sinh viên nhập học trước năm 75 được gọi đến trường học tập chủ nghĩa CS, chúng tôi, “tàn dư Mỹ Ngụy” bị nhồi nhét nọc độc Mác Lê, xen kẽ những chuyến lao động cộng sản, ra ruộng đắp đê, đào kinh, trồng khoai... y chang gu lắc Xibêri.

Trong đợt lao động có bạn nổi hứng làm mấy câu đối mà chưa có câu đáp,

Ra kinh - Thấy Kinh - Thất Kinh

Riêng tôi khi thấy con kinh là thất kinh hồn vía, vì đứa đứng dưới ruộng bị đỉa đeo bám hút máu, con gái trên đê tải đất run bắn người vẫn phải ôm nắm bùn khi vài con đỉa ngo nghoe hù dọa.

Chuyện hành xác tuy khổ nhọc, lao động đến đuối sức với khẩu phần một trứng vịt cho bốn người ăn với rau, hôm sau ra kinh đúng là thất kinh, nhưng một năm chỉ có vài lần.

Đáng sợ hơn là chuyện tẩy não, nhồi sọ, xảy ra hàng ngày, ngoài mục điểm báo giữa giờ học, những buổi họp tổ thảo luận thật khiếp đảm, đoàn viên đảng viên nhai đi nhai lại, nhờ ơn bác đảng, gia cấp vô sản …

Đám Mỹ ngụy tàn dư chúng tôi bị tra tấn liên tục, may mà chưa có ai hóa rồ, đôi lúc tôi như bị mộng du giữa ban ngày, sân trường nhìn đâu cũng nón lá, nón tai bèo chen vai nhau như trong rừng Trường Sơn.

Văn Khoa bây giờ xa lạ đến thế, con gái quần đen áo bà ba, con trai dép râu, các bạn giờ đâu còn là bạn ta ngày xưa thân ái, họ đang mê sảng kinh tế chính trị Mác miết, ca ngợi thiên đàng CS trên đầu môi chót lưỡi.

Buồn thay ngày trước, bạn áo quần bảnh bao, nhảy nhót ăn chơi đúng điệu, bi chừ bỗng hóa thân như bộ đội ở rừng, hút thuốc rê tự vấn, tố cáo bằng hữu, sao bạn có thể lột xác như bướm đêm thế này.

Nghe bạn “thuyết pháp” tôi đâm lú lẫn, ô hay bạn nói tiếng việt cớ sao tôi chẳng hiểu mô tê chi cả, đến phiên tôi phát biểu, tôi ú ớ như đứa mù chữ, rặn mãi chả ra một câu ca ngợi đúng điệu “thờ ma cộng sản”.

Nói theo kiểu “dép râu”, tôi mất tập trung, giời ạ, hiểu sao nổi thiên đàng CS trong khi cả nước đang đói meo râu chỉ có bobo với ngô khoai, thức ăn của gia súc ngày xưa, bây giờ được bán theo nhân khẩu mới đểu.

Nhờ ơn bác đảng, cả nước lui về thời than củi, cúp điện, cúp nước, cúp thực phẩm, cúp tự do…, CSVN đoạt mấy loại cúp độc nhất vô nhị mà chưa có quốc gia nào trên thế giới dám “đăng cai” phát giải.

Tôi chỉ bị mất tập trung thôi, tôi mà phát điên lên lại khổ cho bố mẹ, và tôi tiếp tục mất tập trung đến lúc ra truờng, bài thi “chính chị chính em” của tôi đạt điểm khá, nhờ nhóm Mỹ Ngụy chúng tôi chia nhau làm bài.

Trả nợ quỷ thần cho cán cộng xong, tới lúc đi làm mới chua. Được đào tạo dưới “chế độ ngu dân” nên đầu óc tôi rỗng tuếch không nhớ nổi đường lối bác đảng ra răng.

Được bổ nhiệm làm cô giáo vùng kinh tế mới, cầm tờ quyết định của phòng tổ chức, tôi đi giữa sân trường thẫn thờ, bước chân vô định như tương lai của mình, chưa biết nói làm sao để bố mẹ yên lòng.

Trên đường về nhà tôi gặp cô bạn cùng khóa đang làm việc trong một “công trình” do Pháp viện trợ ở ngoại ô Sàigòn, nó rủ tôi đâm đơn xin việc vì ở đó thiếu người, tôi mừng như bắt được vàng.

Trước ngày “ứng thí”, tôi mua báo “Nhân Dân” để cập nhật chủ thuyết mác lê lết mà tôi đã bỏ lại ở sân trường, đọc hết tờ báo, đọc mờ cả mắt, càng đọc càng thấy mù mờ hơn.

Hôm sau trình diện phòng Tổ Chức (phòng Nhân Sự) để cán bộ sát hạch trước khi nhận việc, bước vào phòng Tổ Chức tôi rùng mình, cố nhớ chủ thuyết “ma quỷ” tôi vừa tụng hôm qua, mà sao trí nhớ cứ chơi khăm, càng căng thẳng đầu óc càng lú lẫn không nhớ ông Mác là người Đức hay Liên Xô.

Một lần nữa tôi lại mất tập trung, đành chịu vì tôi không thích giao du với cán cộng nên những gì họ dạy bảo tôi quên biến rồi, tôi thầm mong người phỏng vấn chỉ hỏi về trình độ chuyên môn cho tôi nhờ.

Quan cán tiếp tôi ngồi rút chân lên ghế kiểu nước lụt, gương mặt khắc khổ, đôi môi thâm xì, chắc là di chứng sốt rét những ngày ở rừng.

Ông châm điếu thuốc lào, lật tới lật lui hồ sơ của tôi rồi nghiêm giọng thách đố,

- Cháu dịch câu này ra tiếng việt, nếu dịch thông suốt cháu sẽ được nhận việc.

Vậy là thoát ba cái mớ rác rưởi chính trị dối trá, tôi mừng húm nhỏ nhẹ,

- Vâng, xin chú cứ hỏi.

Quan cộng tằng hắng ra vẻ nghiêm trọng, nghe này,

- “Quích sơ măn bông xên” là cái gì, cháu dịch đi.

Tuy quan cán trước mặt tôi gìa ngắc, nhìn chán lắm, nhưng tôi lại thấy tinh tú quay cuồng mới đáng sợ.

Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa bao giờ nghe một câu tiếng tây như rứa, mà giọng quan lên xuống như tây thứ thiệt khiến tai tôi lùng bùng, đầu óc hoảng loạn mụ mẫm.

Tôi nhớ ông tây bà đầm đứng lớp ở Văn Khoa Sàigòn chưa hề đụng đến mấy chữ này, mấy niên học có bao giờ nghe thầy nói “sơ măn sơ miết” gì đâu, giờ bỗng quan phán một câu làm tôi phát sốt.

Đúng là quan bắt bí tôi, kiểu này là “mơ không thấy nổi” việc làm gần Sàigòn, giờ thì số phận của tôi như chuông treo tóc tơ, tương lai trực chỉ vùng kinh tế xa xôi diệu vợi.

Nghĩ đến viễn cảnh u tối sắp tới, tôi bèn lấy hết can đảm mà sao tôi cứ lắp bắp,

- Thưa chú, chú có thể đọc lại câu đó một lần nữa được không?

Thấy tôi quýnh quáng ngớ người, quan cán cười ngất, dịu giọng,

- Chú đùa, đấy là cách nói lái “quăng sơ mít bên sông” đó mà, ngày mai cháu vào đây nhận việc, công trường đang cần người khẩn cấp.

Cú gạt gẫm lần đó làm tôi suýt đứng tim, trên đường về nhà tôi đạp xe và cười tủm tỉm một mình, chắc thiên hạ tưởng tôi điên, ai từng sống với chế độ CS mà không có lúc lên cơn hoảng loạn như tôi ngày hôm đó.

Năm đầu tiên làm việc ở đây, ngày 14 tháng 7 chúng tôi được mời đến Lãnh Sự Quán Pháp dự lễ quốc khánh, tôi có nhiệm vụ cầm chuyện với nhóm Tây đang làm việc ở nhà máy, cứ tưởng đơn giản như đang giỡn, nhưng hôm đó tôi suýt bị chữ nghĩa chơi khăm.

Nói chuyện với Tây không khó, cái khó là xếp của tôi cứ đứng ỳ trước quầy thức ăn khai vị “tranh thủ” uống rượu đến “phút thứ chín mươi” vì “sâm banh” chưa lọt lưới, khiến tôi siểng niểng như kẻ sắp bại trận.

Nhân viên phục vụ tiệc Buffet khui Champagne cầm chừng, khui chai nào là hết ngay, xếp cán của tôi chậm chân mới uống có một ly, chưa đủ cơn thèm.

Xếp thiếu rượu, tôi bị vạ lây, mặc cho thiên hạ đưa đẩy chuyện vãn, xếp bảo tôi,

- Mình phải kiên trì bảo anh phục vụ khui Champagne, cháu yêu cầu anh ta đi.

Giời ạ, anh phục vụ người VN mà sao tôi nói không nên lời, uống rượu tôi rất thích, uống kiểu đòi nợ như vậy uống sao nổi, mà tôi làm gì có tính “kiên trì” như xếp, kiên nhẫn làm việc tôi không ngại, kiên trì làm lỳ thì tôi chịu thua.

May cho tôi, đang bối rối chưa dám lên tiếng mè nheo đòi rượu, gã tây trong đoàn dẫn xác đến hỏi xã giao,

- Quý vị thấy tiệc vừa khẩu vị chứ?

Như bắt được vàng, tôi dẻo mồm,

- Rượu tây không chê vào đâu được, nhưng tôi chưa thử Champagne.

Thế là ông tây ra tay “cứu bồ”, gã bảo anh kia khui Champagne, xếp tôi hả hê nốc vài ly, tôi chứng kiến màn ăn vạ, ăn xin, ăn hôi tệ nhất trong đời.

Gía tôi say được lúc này chắc đỡ nhục, dù sao xếp cũng là người VN, làm sao Tây hiểu được việt cộng với VNCH khác nhau cả một “chiến tuyến”, từ rừng ra phố họ không thể tỉnh táo trước cơm ngon rượu ngọt.

Tửu lượng của tôi không tệ nên đầu óc vẫn còn minh mẫn, xếp hớn hở uống từ rượu khai vị (ngọt) cho đến rượu trắng, đỏ, Champagne… làm mấy con ma men choảng nhau tưng bừng, nhìn xếp xiêu vẹo tôi đâm lo.

Hình như lần đầu trong đời được uống rượu Tây thỏa thích nên xếp bốc lửa nổi hứng phán một câu xanh rờn.

Trước khi lên tiếng, xếp dặn tôi, cháu cứ dịch thẳng thắn, bữa này là lễ mà, xếp lim dim cười mỉm,

- Quý vị còn nhớ chiến trận lòng chảo Điện Biên Phủ chứ, bao nhiêu vũ khí tối tân của Tây cũng không thắng nổi chúng tôi, vì chúng tôi “kiên cường, dũng cảm”.

Cái lo của tôi đã tới, chết cha mi chưa, xếp cán cộng lên men nã một tràng đại liên, tôi lãnh trọn băng đạn, lúc này mà dịch đúng ý xếp không biết chuyện gì sẽ xảy ra, bỗng tôi thấy rượu Tây có vị chát ngang xương.

Trong lúc cán bộ ngả nghiêng theo hơi men, tôi dịch một cách méo mó để tránh xảy ra một “Điện Biên” bên hông lễ Quốc Khánh của Tây, tôi cười như mếu, lên tiếng,

- Trong trận Điện Biên chúng ta là đối thủ, chuyện thắng thua chỉ là dĩ vãng, bi chừ chúng ta là bằng hữu.

Hú hồn, xếp cán không hiểu tiếng Tây lại đang nhảy đầm với con ma men, xếp Tây hài lòng nghĩ bạn ta biết dĩ hòa vi quý, thế là hai xếp vui vẻ cụng ly mặc cho “Đông Tây không thể gặp nhau”.

Tôi thoáng hoang mang tự hỏi, mình đã nhiễm cái thói gạt gẫm của cán cộng rồi sao, có thật là tôi đang thay đổi hay tôi cũng chỉ là nạn nhân của tình huống cười ra nước mắt như ri.

Trăm lần không, làm sao tôi có thể bị nhiễm trò lường gạt của họ, chẳng qua là trong lúc bom rơi đạn nổ tôi phải tránh đạn, chứ thường ngày tôi dịch kiểu này chắc nhà máy đang xây sẽ sập mất.

Tàn tiệc xếp cao hứng nắm tay ông Tây phát ngôn bừa bãi, tôi “miễn dịch” cứ để xếp thao thao “gửi gió cho mây ngàn bay”, ông Tây nhìn tôi cười thông cảm vì biết lúc này rượu nói chứ không phải xếp nói.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
CatLinh  
#1904 Posted : Sunday, April 5, 2015 5:45:52 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
phamlang on 4/8/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
phamlang  
#1905 Posted : Wednesday, April 8, 2015 5:59:33 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Tàn cơn Binh Lửa

Lê Đắc Lực


“Buông tay súng, mà máu trào thành lệ,
Lệ tuôn trào, lệ biển cả mênh mông...”

Linh Du. Lê Lộ Đức

*
Khối Chiến tranh Chính Trị.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù có nhiều khả năng tác chiến, đa hiệu, thường áp dụng ba chiến thuật, tuy có khác nhau về nhiệm vụ, quân số, vũ khí… nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ba chiến thuật đó là : Thám Sát, phản Du kích và Trận Địa chiến.

Thám sát.

Nhiệm vụ thám sát địch, tìm hiểu về hoạt động địch, lực lượng, đơn vị, căn cứ địa, kho tàng, vũ khí, khí tài, kế hoạch, mưu đồ, v.v… Để có thể thâu lượm mọi tin tức nầy, các Toán Thám Sát đã được thả xuống hoạt động sâu trong lòng địch, thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch, trên “đường mòn Hồ Chí Minh”, vùng Tam Biên (Việt Miên Lào), hay dọc theo biên giới Việt Miên Lào, khi cần có thể vượt qua biên giới… không cần hạ sát địch quân, cần bắt sống để khai thác tin tức.

Mỗi Toán Thám Sát gồm 6 người, được huấn luyện thuần thục võ nghệ, chuyên môn để có khả năng tác chiến, đặc biệt về do thám, quan sát, theo dõi, liên lạc, cứu thương và phá hoại, bao gồm cả nhiệm vụ tiền sát viên pháo binh, điều chỉnh phi pháo, bắt sống tù binh và mưu sinh thoát hiểm. v.v…

Như độc giả thấy trong các bài tường thuật ở phần trước, những hoạt động có chính tác giả tham gia, chỉ huy, đã gặt hái được một số thành quả, thâu lượm nhiều tin tức chính xác, cấp thời cho các cấp Chỉ Huy Sư Đoàn, Quân Đoàn, Bộ Tổng Tham Mưu, để các nơi nầy có biện pháp, kế hoạch, kịp thời đối đầu, chận đứng hay tấn công tiêu diệt địch quân.

Biệt Cách Nhảy Dù, tùy từng thời điểm, và cũng tùy theo nhu cầu, sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, để đưa các Toán Thám Sát của các Biệt Đội tăng cường hoạt động đặc biệt ở các Quân Khu I, II, III. Số lượng tin tức thu hoạch được, đã cung cấp cho các Phòng 2 của các Sư Đoàn, Quân Đoàn và các vị Tư Lệnh các Quân Khu, các Vùng Chiến Thuật không phải là ít.

Phản Du Kích Chiến.

Chiến thuật du kích của Việt cộng là rập khuôn theo chiến thuật của Mao. Yếu tố chính trị, tuyên truyền là quan trọng, mục đích lôi kéo dân chúng về phía của chúng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Về quân sự, Mao chủ trương rút lui để bảo toàn lực lượng khi bị ta tấn công, quấy phá khi ta dừng quân, tấn công khi ta mệt mỏi, và truy kích khi ta rút lui.

Kinh nghiệm chiến đấu, sự trui rèn, tôi luyện trong máu lửa, đã cho cấp chỉ huy Biệt Cách Dù những bài học hay. Do đó, chiến thuật của Biệt Cách Dù là “Gậy ông đập lưng ông”, có nghĩa là dùng chiến thuật du kích để đánh du kích, cùng lúc áp dụng các phương cách bảo vệ dân, giúp đỡ và tuyên truyền dân chúng đứng về phe chúng ta, ủng hộ chúng ta.

Độc giả từng thấy ở các phần trước, tại mặt trận Tha La, Trảng Bàng, dân chúng đã cung cấp những tin tức về các hoạt động của địch, hay tại Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, Gia Định trong Tết Mậu Thân, hay tại Bến Thế, Bình Dương, đồng bào đã đứng hai bên đường đón chào, hoan hô các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, cũng như tặng trái cây, quà bánh, như một biểu lộ bày tỏ lòng tri ơn sâu xa…

Để đánh đuổi bọn địch ra khỏi vùng chúng chiếm đóng hoặc đóng chốt, Biệt Cách Nhảy Dù dùng chiến thuật du kích phản du kích, có nghĩa là lấy chiến thuật của địch để đánh lại địch, tạo sự bất ngờ, gây hoang mang, hoảng loạn cho bọn chúng và nhờ vậy mà đã đạt nhiều chiến thắng bất ngờ, làm cho các đơn vị bạn phải nể phục. Đó là kết quả của các trận đánh ở Bến Thế, Xóm Đạo Tha La, Ngã ba Tân Phú Trung và Mật Khu Mây Tào. v.v…

Căn bản của “Chiến tranh giải phóng” (chữ của Cộng sản) là lấy Nông Thôn để bao vây Thành Thị, và áp dụng “Chiến tranh du kích”. Về phía Quân Đội Việt Nam, trách nhiệm giữ đất khá nặng nề, mất tính cách di động, thường đóng Đồn, Bót. Chiến thuật nầy chỉ năng động về ban ngày, ban đêm rút vô phòng thủ trong Đồn Bót nên không bảo vệ được dân. Chiến thuật của Biệt Cách Nhảy Dù thì ngược lại. Thay vì đánh địch vào ban ngày, Biệt Cách Nhảy Dù lại dùng chiến thuật đánh đêm. Đánh đêm là gây yếu tố bất ngờ cho địch, kèm theo là chiến thuật phản du kích là bất ngờ thứ hai, vào tận sào huyệt Việt cộng để đánh chúng là bất ngờ thứ ba.

Chính vì lối đánh thần tốc, gan dạ và đầy bí hiểm nầy, nên Biệt Cách Nhảy Dù đánh đâu thắng đó, giải tỏa áp lực nhanh, nếu không muốn nói là địch thua dài, chạy dài…

Trận địa chiến.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù được thành lập và phát triển về sau này quân số lên tới ba ngàn Chiến Sĩ, được chia thành ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật có bốn Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có hai trăm Chiến sĩ.

Nhiệm vụ chính yếu của Liên Đoàn là thả Toán Thám Sát vào các căn cứ địa, an toàn khu của địch, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, cách biệt hoàn toàn với các Quân Binh chủng bạn, để thu lượm tin tức, bắt cóc tù binh, chứ không phải để đánh các trận địa lớn như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân.

Tuy vậy, trong một vài tình huống khẩn cấp, cần thanh toán dứt điểm những nơi dầu sôi lửa bỏng, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn phải tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù lâm trận, để giải quyết chiến trường như : Mậu Thân đợt 1 và 2 năm 1968, Bình Long (An Lộc), Quảng Trị (Cổ Thành) năm 1972, Tha La (Trảng Bàng) năm 1973 và Tân Phú Trung (Củ Chi) năm 1974, Phước Long năm 1975. Và Liên Đoàn đã lập nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, cho dù không thuộc sở trường tác chiến của Đơn vị.

Cũng có đôi lần, khi các Toán phát hiện các căn cứ địa, kho tàng, hậu trạm địch, có quân số đông cấp Đại Đội, Liên Đoàn có khả năng đưa các Biệt Đội vào thanh toán địch ngay tại địa điểm địch đóng quân hay chiến trường do Biệt Cách Nhảy Dù chọn lựa.

Đó là trường hợp Biệt Cách Nhảy Dù đã phục kích, tấn công Việt cộng tại thung lũng Ashau năm 1968, Đồng Xoài năm 1968 và Tam Biên năm 1971, sau khi các Toán Thám Sát phát hiện bọn chúng.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, còn có nhiều Toán Thám Sát của Lôi Hổ, Nha Kỹ Thuật, Sở Liên Lạc, Sở Công Tác, Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu v.v… cũng đảm nhận nhiệm vụ xâm nhập, hoạt động trong lòng địch như của Biệt Cách Nhảy Dù.

Tuy nhiên, các Toán Thám Sát nầy chỉ thu thập tin tức, ghi nhận “địch tình” rồi cung cấp lên các cấp Chỉ Huy mà họ tăng phái. Họ không có lực lượng, đơn vị có khả năng khai thác mục tiêu, tấn công địch. Biệt Cách Nhảy Dù thì hơn hẳn, khi cần mở trận địa tiêu diệt địch có quân số lớn, Biệt Cách Nhảy Dù sử dụng ngay các Biệt Đội xung kích.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù sau khi nhảy vào An Lộc, sau gần ba tháng chiến đấu dũng cảm, góp công truy quét tiêu diệt giặc thù cọng sản, lấy lại các phần đất đã bị giặc lấn chiếm, thì được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu, triệt thoái trở về Hậu cứ Liên Đoàn tại Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, để bổ sung quân số, trang bị vũ khí đạn dược, nhằm tăng viện cho chiến trường Quảng Trị, ở địa đầu giới tuyến, vùng I Chiến thuật.

Trong thời gian này, Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã được Đại Tướng Cao Văn Viên gọi đến trình diện tại Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Trong cuộc diện kiến, Đại Tướng đã hết lòng khen ngợi về ba hiệu năng và sở trường chiến đấu của Liên Đoàn mà chưa có một Đơn vị, Binh chủng nào trong Quân Lực VNCH có được như : - Thả Toán thâm nhập vào hậu tuyến của địch trong các mật khu bất khả xâm phạm - Kỹ thuật và khả năng tác chiến, đột kích đêm - Tham dự “trận địa chiến” cùng các đơn vị bạn trong các mặt trận lớn nóng bỏng và đầy cam go. Đại Tướng còn cho biết sẽ có kế hoạch nghiên cứu để gia tăng, bành trướng Liên Đoàn lớn hơn nữa.

(Nếu kế hoạch này mà được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, Liên Đoàn dự trù trong tương lai sẽ có thêm khoảng 16 Biệt Đội, 04 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Và song song với sự gia tăng và phát triển cấp số, thay đổi tính danh, thì các Ban cũng sẽ được nâng cao thành Phòng, riêng Khối Chiến Tranh Chính Trị vẫn giữ nguyên như cũ. Có thể Liên Đoàn sẽ được nâng lên cấp Lữ Đoàn, Chỉ Huy Trưởng sẽ là Tư Lệnh với cấp bậc Chuẩn Tướng.)

Trong chiều hướng phát triển nầy, trong khoảng giữa tháng 2 năm 1975, Đại Tá Phan Văn Huấn đã bổ nhiệm tôi vào chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị thay thế Thiếu Tá Phạm Châu Tài, vừa được đề cử nhiệm vụ mới là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Chiến Thuật.

Lý do thứ hai mà tôi được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng chọn làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, theo tôi nghĩ có thể phát xuất từ những Bài Thơ đề cao tinh thần chiến đấu uy dũng của các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, mà tôi đã gửi đăng trên các báo của Quân Đội VNCH như: Tiền Phong, Chiến Sĩ Cộng Hòa, và một bài trên tờ Bích Báo của Biệt Đội 814, trong đó tôi đã đề cập về tâm sự của một Thương Binh Biệt Cách Dù, đã xả thân chiến đấu, để rồi bị trọng thương, phải nằm điều trị tại các Quân Y Viện, và trong suốt thời gian dài, Liên Đoàn miệt mài quân hành, nên không một ai trong đơn vị đến thăm viếng, ủi an, ủy lạo. Nỗi buồn cô đơn, sớm bị lãng quên, làm họ uất nghẹn và đau đớn tột cùng. Bài báo rất được anh em Binh Sĩ trong đơn vị hoan nghênh và Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn lưu tâm, lưu ý...

Lý do thứ ba là ngay tại Doanh Trại Biệt Đội 814 tại Căn Cứ Hành Quân Suối Máu, hay bất cứ nơi đâu, tôi đều tổ chức các phương tiện ẩm thực, vui chơi cho Binh Sĩ trong Biệt Đội như Bún Bò, Phở, Hủ Tiếu, Bò Kho, các bàn “Bi-Da”, “Ping-Pong”, phòng đọc sách báo.v.v... để anh em Binh Sĩ ăn uống, giải trí trong những ngày dưỡng quân. Họ có thể được “ghi sổ”, lãnh lương sẽ trả lại sau. Nhờ những phương tiện nầy, Binh Sĩ cảm thấy thoải mái, không còn buồn nản khi được nghỉ ngơi, không đi lang thang ra ngoài doanh trại, vừa tốn tiền, lại có thể gặp những việc không hay xảy ra trong thời buổi chiến tranh loạn lạc này.

Ngoài ra, tại vị trí đóng quân, tôi cho dựng Cổng Biệt Đội, thường xuyên cắt cử lính gát, làm hàng rào bao quanh, trồng hoa, cây cảnh trước mỗi dãy nhà của các Trung Đội và cả trong khu vực Doanh Trại. Binh Sĩ những lúc rảnh rỗi, có thể dạo chơi, ngồi hóng mát trò chuyện để vơi đi nỗi nhớ về Cha Mẹ, Vợ con….

Nhờ vậy, mà Doanh Trại Biệt Đội 814 đã trở thành mẫu mực. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn đã nhắc nhở các Biệt Đội khác nên làm theo. Trong một dịp Nhà Báo Minh Đức Hoài Trinh đến Căn Cứ Hành Quân để làm phóng sự, đích thân Đại Tá Phan Văn Huấn đã hướng dẫn Bà đến thăm Doanh Trại Biệt Đội 814 của tôi như là một lời ban thưởng.

Lý do thứ tư cũng có thể do từ một cuộc phỏng vấn của Báo Chí, Truyền Thanh, Truyền Hình, khi tôi được chọn là Chiến Sĩ Xuất Sắc về tham dự buổi tiếp tân tại Phủ Tổng Thống, đã được phổ biến rộng rãi khắp cả nước, tôi đã trả lời như sau:

“Suốt những tháng năm lăn lộn trên khắp các chiến trường, trận địa, trên ba vùng chiến thuật, sống chết như sợi chỉ treo mành, cũng chẳng làm tôi nao núng, nhụt chí. Bốn lần bị thương tích, 16 lần được tuyên dương công trạng, phải chăng đó là một ít công lao nhỏ nhoi, mà chính bản thân tôi đã đóng góp cho Tổ Quốc Việt Nam. Biết bao Đồng Đội, Chiến Sĩ của tôi đã ngã gục, hy sinh để tôi được sinh tồn. Và cũng chính nhờ vào những xác thân, xương máu của họ đã tạo lập nên nhiều chiến công, mà hôm nay tôi mới được vinh hạnh trở thành một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù để về đây tham dự Ngày Đại Lễ Quân Lực 19/6.

Hôm nay, đứng trước làn sóng của Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình, tôi xin kính cẩn cúi đầu tưởng niệm và bày tỏ lòng tri ơn sâu xa đến các Anh Hùng Tử Sĩ, các Thương Binh, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã chung vai sát cánh cùng tôi chiến đấu tiêu diệt giặc thù, bảo vệ Tổ Quốc, Đồng Bào cho đến hơi thở cuối cùng…Tôi xin muôn đời đội ơn !!!”

Sau khi đảm nhận chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị của Liên Đoàn, tôi thực hiện ngay những điều tôi đã đề cập và ấp ủ bấy lâu : Thường xuyên thăm viếng, ủy lạo, tặng quà cho Thương Phế Binh tại các Quân Y Viện hay tại nhà riêng. Chăm sóc và giúp đỡ các Cô Nhi, Quả Phụ trong đời sống, trong học hành. Củng cố và phát triển Trường Tiểu Học Biệt Cách Nhảy Dù. Can thiệp cho các em nhập học các Trường Văn Hóa Quân Đội và Quốc Gia Nghĩa Tử. Xin việc làm cho các cựu quân nhân tại Tổng Công Ty Thực Phẩm và cùng Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Thành Châu tổ chức gây quỹ cứu trợ cho Thương Phế Binh của Liên Đoàn.

Cùng song hành với nhiệm vụ trên, để kịp thời bổ sung quân số cho đơn vị trước đà phát triển, theo lệnh của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng, tôi đã đến các Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế, Quang Trung, nơi các khóa Hạ Sĩ Quan và Tân Binh sắp mãn khóa để thuyết trình, tác động họ tình nguyện về phục vụ Liên Đoàn. Cứ sau mỗi lần chuyện trò cùng các khóa sinh chấm dứt, số xung phong gia nhập Biệt Cách Nhảy Dù vượt quá chỉ tiêu đã đề ra.

Sau khi tiếp nhận các Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ về đơn vi, Liên Đoàn tiếp tục huấn luyện họ về các khả năng tác chiến đặc biệt của một Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, ngoài ra Khối Chiến Tranh Chính Trị còn tổ chức các chương trình huấn luyện về chính trị, về thái độ, tác phong đối với dân chúng, không những chung quanh đơn vị đồn trú mà đặc biệt ở các nơi hành quân, hầu lôi kéo người dân về phía Quốc Gia, không để dân chúng bị Việt cộng lợi dụng, tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc…

Từ giữa tháng 2 năm 1975, sau khi đảm nhận chức vụ mới, tôi say sưa với công việc, suốt ngày chăm chú tìm tòi, học hỏi, để công tác Chiến Tranh Chính Trị trở nên thực tế hơn, hữu ích hơn, và dễ đi vào đời sống từng người lính trong đơn vị, cũng như với dân chúng, ở những nơi mà các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù phải tiếp xúc với họ.

***

Tàn cơn Binh lửa.

Là một Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn Cộng sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Định Paris năm 1973.

Trước chủ trương “Thay đổi màu da trên xác chết”, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn về tình hình chiến đấu và tiếp liệu. Việc “một đổi một” không được thi hành vì theo lệnh của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho VNCH. Tình hình chính trị kể từ đầu năm 1975 càng xáo trộn hơn, nhiều phong trào nảy sinh nhằm hạ uy tín của không những cá nhân Tổng Thống mà toàn bộ Chính Quyền Miền Nam. Đó là mục đích của Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ký Giả Đi Ăn Mày và Phong Trào Chống Tham Nhũng. Phong Trào nầy được tổ chức toàn cõi VNCH. Dĩ nhiên, tình hình xáo trộn nầy ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ VNCH, khiến họ phải suy nghĩ về việc làm của họ. Không lý họ chiến đấu cho một chính quyền tham nhũng, đang bóc lột người dân mà họ đang bảo vệ.

Quan trọng hơn nữa, viện trợ ảnh hưởng đến khả năng tác chiến của Binh Sĩ. Đạn dược, xăng nhớt thiếu, nên khả năng vận chuyển Binh Lính bị hạn chế. Tình trạng nầy ảnh hưởng trực tiếp đến các đơn vị Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh hơn là ở các lực lượng Tổng Trừ Bị, trong đó có Biệt Cách Nhảy Dù. Trong giai đoạn nầy, câu binh thư “Thực túc binh cường” ám ảnh trí óc tôi không ít. Binh Sĩ của Liên Đoàn còn đủ “thực túc”, nhưng gia đình họ gặp khó khăn không ít trong đời sống hằng ngày.

Rút khỏi Căn Cứ Hành Quân, Biên Hòa.

Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân Cộng sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là cọng sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, Cộng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.

Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại Căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Đội 813 do Trung Úy Lại Đình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Điều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Đội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

Riêng tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt Đội còn lại lên tới 2,000 Binh Sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc Phi Trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.

Trưa ngày 28 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III họp tất cả Đơn Vị Trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Đại Hàn, Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Saigon. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ Binh Sĩ rút qua khỏi cầu nầy được an toàn.

Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho Trực Thăng đến đón các cấp Chỉ Huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Đại Tá Huấn thì Ông đã từng tuyên bố khẳng định : “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”.

Và Đại Tá Huấn đã ở lại với Binh Sĩ của Ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ngay trong đêm 28 tháng 4, Đại Tá Phan Văn Huấn ra lệnh Biệt Đội 812 đến canh giữ cầu Biên Hòa, để ngăn cản đường tiến quân của giặc Cộng, không cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, khi Liên Đoàn rời khỏi Căn cứ Hành quân Suối Máu, khi đoàn quân vừa rút qua khỏi Cầu, thì cũng vào lúc đó qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn, đã nghe được lệnh của Tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế cho Ông Trần Thiện Khiêm đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ.

Đoàn quân Biệt Cách Nhảy Dù, theo thứ tự được phân định từ từ di chuyển trên Quốc Lộ 1, hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân Vạn, thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát, Đại Tá Phan Văn Huấn vẫn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn im lặng vô tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại Tá Huấn ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy và tất cả các Biệt Đội rút vào đóng quân qua đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Nhưng suốt đêm lặng lẽ trôi qua, vẫn chẳng có một tín hiệu liên lạc nào cả.

Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 4. Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội VNCH buông súng đầu hàng. Đại Tá Huấn liền cho đơn vị rời khỏi Rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo Quốc Lộ 1, di hành theo hướng Nam đến Quân Lỵ Thủ Đức. Trên trục đường nầy, Liên Đoàn đã phát hiện, từ hướng Sài Gòn về Biên Hòa rất nhiều toán thanh niên chỉ mặc áo lót, quần “xà lỏn”, tay cầm giấy tờ tùy thân, chạy chân đất hớt ha hớt hải. Chận một vài người lại hỏi mới biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, bị Việt cộng bắt tước vũ khí , cởi bỏ quân phục, mũ nón, giày vớ, mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động. Tuy nhiên, đây là một đơn vị Quân Đội thiện chiến và kỹ luật. Tất cả vẫn giữ nguyên đội ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, bốn hàng dọc ngay hang thẳng lối chậm rãi bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy bộ đội Việt cộng chạy song hành, chúng nhìn các Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sững sốt, lạ lùng.

Edited by user Wednesday, April 8, 2015 6:00:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
phamlang  
#1906 Posted : Wednesday, April 8, 2015 6:01:26 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
tieptheo

Là một cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỹ luật nghiêm minh, Đại Tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã họp tất cả các cấp Chỉ huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung.

Đoàn quân 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hiên ngang tiếp bước trên Xa Lộ Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa chừng 100 mét, trong khi dừng lại nghỉ ngơi gần ngã tư Thủ Đức và Xa Lộ Đại Hàn, thì một đơn vị bộ đội Việt cọng đã đến gặp Đại Tá Phan Văn Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại Tá Huấn đã nói với họ: “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải cởi bỏ quân phục như một số quân nhân các đơn vị bạn đang chạy qua đây…”

Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng chiến binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định. Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay mỗi người mỗi ngả.

Trước một đơn vị quân đội hơn một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cọng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các sĩ quan của đơn vị về Saigon. Không muốn để cho các sĩ quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, Đại Tá đã đồng ý nhận lời.

Vài ba chiếc xe Molotova được điều đến, tất cả các sĩ quan cùng một số binh sĩ lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Huấn nghĩ lại, không thể để sĩ quan của mình vào Saigòn bằng xe Molotova của địch. Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các sĩ quan, binh sĩ rời khỏi xe, cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với nỗi đớn đau ê chề bất tận.

Vậy là chấm dứt hai mươi năm quân ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của Ông Thầy tôi. Tôi không thể không nói đôi lời, tỏ bày lòng cảm mến của tôi đối với Ông Thầy :

Đại Tá Phan Văn Huấn, xuất thân Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, là một sĩ quan kỷ luật, tài ba, gặt hái nhiều chiến công trong cuộc đời 20 năm cầm súng chiến đấu. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với chiến trường Việt Nam, bách chiến bách thắng, đến tới đâu đồng bào hoan hô, ngưỡng phục tới đó, cũng là nhờ ở Đại Tá. Không có Đại Tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù không chắc đạt được các chiến thắng vang dội ấy trên khắp mọi chiến trường, ở Thành Phố cũng như trong các mật khu của địch.

Điều đáng nói hơn nữa là tấm lòng của Đại Tá đối với anh em binh sĩ. Đại Tá quí trọng mạng sống của họ như của chính ông. Một đơn vị dù lớn hay nhỏ hành quân thất lạc trong rừng bao nhiêu ngày đêm, là bấy nhiêu đêm ngày Đại Tá trằn trọc không ngủ yên.

Đại Tá là một sĩ quan liêm khiết, trong sạch, tôn trọng quyền lợi của binh sĩ. Đại Tá quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng người lính, luôn luôn nghĩ đến họ, làm cách nào để họ có một đời sống vui tươi, nghỉ ngơi sau những ngày hành quân mệt nhọc mà vẫn văn ôn vũ luyện. Những ngày dưỡng quân là những ngày nghỉ ngơi nhưng cũng là những ngày tái huấn luyện cho thuần thục các khả năng tác chiến đặc biệt của người lính Biệt Cách Nhảy Dù.

Cái giá mà Đại Tá Phan Văn Huấn phải trả cho hai mươi năm chiến đấu cho dân tộc và đất nước là 13 năm tù cải tạo khổ sai ở Việt Bắc.

Đời sống Ông Thầy tôi và gia đình sau những năm tù trở về khá đạm bạc, nếu không nói là quá thiếu thốn, cơ cực bên cạnh một đàn con 8 đứa, bởi vì Ông không có gì để lại cho vợ con khi Ông bước chân vào vòng lao lý.

Hễ mỗi lần đến thăm Ông, nhìn tấm thân tiều tụy, đau đớn vì bị những vết thương chiến trận đang hành hạ, mà điển hình vào một dịp đến thăm, trong lúc trò chuyện thì cơn đau của Ông bộc phát dữ dội, thì chính tôi và Bác Sĩ Trắc, cựu Y Sĩ Liên Đoàn, đã cấp tốc nâng bồng Ông từ trong nhà ra xe hơi của Bác sĩ Trắc, để cùng đưa Ông đi cấp cứu ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, lòng yêu kính Ông trong tim tôi như dâng trào. Tôi không khóc, nhưng có cái gì đó đã đè nặng trong thâm sâu đáy lòng, chỉ chực chờ là bộc phát.

Tôi cảm thấy hãnh diện vì Ông: Đại Tá Phan Văn Huấn, là cấp Chỉ Huy mà tôi đã được phục vụ, trong suốt quãng đời Binh Nghiệp, trong một đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đó là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

Tại Hậu Cứ An Sương.

Là một cấp chỉ huy tác chiến, đã từng đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về hậu cứ trong trách vụ mới, với một thời gian còn quá ngắn, tôi khó mà quên được việc “Điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường phong ba bão táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren, quá ư bi dát đang diễn tiến từng giờ, từng ngày một của đất nước, tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm để hợp sức cùng Thiếu Tá Trần Quang Huế, chỉ huy hậu cứ lo tổ chức phòng thủ doanh trại, tung các toán tiền đồn, lập các công sự tại Ngã tư An Sương chờ giặc đến, ngăn chận và tiêu diệt chúng, không để cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên.

Bên cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Ngã ba Trung Chánh, dọc theo Quốc Lộ 1 và trên Xa Lộ vòng đai Đại Hàn, Biệt Cách Nhảy Dù đặt thêm các Tổ Đại Liên 60, M.72, đại bác và súng cối. Trong khi chúng tôi đang tổ chức phòng thủ, Binh Sĩ của Sư Đoàn 25, Binh Sĩ cũng như khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rút chạy về đây thiếu trật tự, không cấp chỉ huy. Một số họ dừng lại đây, tự động cùng tổ chức phòng thủ bên cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của người lính VNCH không cho họ rút về xa hơn nữa.

Ngày 29 tháng 4, sáu xe tăng T-54 Việt cộng từ hướng Củ Chi hàng một trên Quốc Lộ 1 tiến đến, nghênh ngang như chỗ không người. Khi đến gần Ngã tư An Sương, từ phòng tuyến của Hậu cứ Liên Đoàn, hai hỏa tiễn M.72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng bị quay nằm ngang. Quân cọng sản từ các xe tăng phía sau nhảy xuống xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa trung liên, B.40, B.41 và AK.47 vào các công sự, các ổ kháng cự nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, Đại Liên, M.79, không ngớt bắn vào đám địch quân đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc Lộ 1 không phải là ít, các xạ thủ M.72 bắn cháy thêm một T.54 ngay Ngã tư đường Xa lộ Đại Hàn và Quốc Lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân của địch trên đường tiến vào Thủ Đô Sài Gòn.

Một số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy, nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ đường. Xe tăng của địch tiến lên, càn lên các công sự, binh sĩ bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch quá mạnh, và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong Doanh Trại Liên Đoàn. Trong khi đó, một xe Jeep chở một vài quân nhân, từ trong hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa quẹo trái hướng về Saigon, một xe tăng của địch quay nòng đại bác bắn theo, chiếc xe Jeep trúng đạn, bay tung lên, hai ba binh sĩ trên xe đều tử trận.

Sáng hôm sau 30 tháng 4, xe tăng, bộ đội địch và du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn lại trong và ngoài hậu cứ Liên Đoàn. Trên Xa Lộ Đại Hàn, quân trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã bỏ lại đầy rẫy trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số Binh Sĩ còn lại, phá rào đằng sau, rút về hướng Saigon. Vượt qua Cầu Tham Lương, đến hãng dệt Vinatexco, gặp một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bố trí tại đây, tôi ra lệnh cho binh sĩ dừng lại, hợp tác phòng thủ cùng với họ. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể quân nhân buông súng đầu hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận, xong tự động tan rã.

Trên đường về nơi tạm trú của một người bà con ở Quận Tư, Khánh Hội, nghĩ tới 9 năm đời quân ngũ, vào sinh ra tử bao nhiêu lần, chưa bao giờ tôi chùn bước, khuất phục trước quân thù. Vậy mà giờ nầy…

Món nợ còn lại.

Ngày 30 tháng Tư, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn còn các Toán Thám Sát đang hoạt động trong Chiến Khu D. Tất cả các phương tiện liên lạc, truyền tin cũng như trực thăng đều không còn. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình.

Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các Toán cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi sự liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật khu, theo phương cách mưu sinh thoát hiểm.

Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hai Toán Thám Sát lần ra đến Ấp Thái Hưng, Xã Đại An, Quận Tân Uyên để tìm hiểu tình hình, họ được quần chúng cho biết Quân Đội Miền Nam đã buông súng đầu hàng, vậy là họ cùng ra đầu hàng. Nhưng bọn Việt cộng đã ra tay tàn sát hết tất cả rồi mang xác thả trôi sông.

Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiêu hùng của họ,vẫn mãi sáng ngời trong Trang Sử 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

Về sau này, vào năm 1995, Liên Đoàn đã đưa người về lại Ấp Thái Hưng, Xã Đại An để tìm cách di dời mộ phần các Tử Sĩ, nhưng không thực hiện được, trong dịp này, qua trò chuyện tìm hiểu với các cư dân nơi đây thì được biết bọn giặc cộng đã bắn chết 12 người, một số đem thả trôi trên sông Bé, số còn lại bọn chúng mang chôn trong một cái giếng đã bỏ hoang lâu năm.

Ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Phương, Biệt Đội 815 và Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester. MA), rút ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra Ấp Thái Hưng, nhưng may mắn, hai Toán đã được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin chính quyền VNCH không còn nữa, Đại Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng đầu hàng, nên sau khi hai Toán đã giao nạp vũ khí, bọn Việt cộng có lẽ sau khi tàn sát hai Toán Thám Sát trước, đã bị đồng bào địa phương bàn tán xôn xao, nên với hai Toán này, bọn chúng chỉ bắt đưa vào trại tù gọi là “cải tạo”.

Ngày 9 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát cuối cùng của Chuẩn Úy Lê Xuân Hiền, Biệt Đội 812 (hiện đang định cư tại Annaheim, CA), rút ra khỏi Chiến Khu D, khi gần đến Ấp Thái Hưng, Toán này cũng nhờ qua thông tin của người dân trong vùng, nên thấu đáo tình hình, họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cộng, rốt cuộc Toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù khổ sai ở trong Trại tù Bình Sơn, nơi rừng sâu nước độc cùng với hai Toán Thám Sát trên.

Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán Chính VNCH sau ngày mất nước.

***

"Tàn Cơn Binh Lửa" . Sau khi quân thù giặc cộng đã cưỡng chiếm Miền Nam, vẫn còn những người Lính Biệt Cách Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng Thượng Cấp giao phó, dù Thượng Cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm: “TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM”.

Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25.

Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ.

***

Cho dù sau hơn 38 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian. Nhưng, đối với những chiến binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo vệ tổ quốc, những chiến sĩ Biệt Cách Dù đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó là một vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy lòng họ. Bởi vì, có biết bao đồng đội, chiến hữu của họ đã hy sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi nhục. Bởi vì, chính họ đã dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ tiền đồ tổ quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở thành kẻ chiến bại trước một bọn người vong bản, vô thần và vô nhân tính.

***

Trong cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần tình cờ, coi lại những tấm ảnh cũ trong đời binh nghiệp, với bộ áo hoa rừng ngụy trang, với chiếc nón xanh huyền thoại, với bảng phù hiệu Con Đại Bàng khạc lửa, sải rộng cánh, bung móng vuốt tung hoành, tôi cảm thấy tự hào, hãnh diện vì mình đã từng được chiến đấu trong một đơn vi thiện chiến, hào hùng: “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”. Nhưng rồi, kèm theo đó, một niềm xúc cảm lạnh buốt, từ từ lan rộng khắp cùng trong cơ thể tôi, trước mắt tôi hình ảnh những vị Anh Hùng Tử Sĩ như : “ Lê Như Tú, Nguyễn Văn Tùng, Từ Bá Thọ, Hoàng Xuân Cường, Đặng Thiện Chẩn, Trần Phụng Tiển, Lương Hữu Yên, Lưu Huyên, Nguyễn Ích Đoan, Mã Thế Kiệt, Phan Ngọc Trường, Trịnh Văn Huỳnh, Nguyễn Quang Khánh, Phạm Văn Cứ, Khưu Công Quí, Nguyễn Phiêu, Nguyễn văn Thủy, Mai Xuân Hùng, Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Kim Long, K.Tông, Đỗ Nguyên Sanh, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Viết Khải, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Xuân Ánh, Trần Ngọc Bửu, Vũ Huy Cần, Trương Cự Chính, Nguyễn Văn Chuyên, Phạm Văn Chuyên, Trần Thanh Đồng, Nguyễn Văn Giỏng… ”, còn còn nữa, làm sao kể hết, cứ lần lượt hiện về. Họ nhìn tôi trong nỗi buồn cảm thông, nhưng không thiếu sự trách móc, khi tôi vẫn còn sống sót mà không bảo vệ được tổ quốc, mà không trả được món nợ máu mà quân thù đã mang đến cho họ : những đồng đội, chiến hữu của tôi.

…" Tôi cũng biết…
Dù các Anh đã chết …
Nhưng nỗi căm hờn còn mãi ở tâm linh,
Xin một mai khi Đất Mẹ thanh bình,
Tôi sẽ lấy máu quân thù tô vào nơi mộ chí !!! ”

Và…đó cũng chính là món nợ mà tôi, một chiến binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù còn sống đang và sẽ phải tiếp tục trả cho họ.

Hy vọng đứa con đầu lòng, được viết bằng tất cả sự thật, từ thuở thiếu thời, đấu tranh và binh nghiệp, qua từng giai đoạn, từng trận chiến mà tôi đã trải qua, đã tham dự hay trực tiếp chỉ huy, sẽ được đồng đội, chiến hữu, bạn hữu đón nhận nồng nhiệt, thân tình và đầy vị tha.

“Là người lính Biệt Cách Dù,
Chưa bao giờ sợ mình cô đơn trong chiến đấu.
Nhưng tại sao bây giờ,
Lại sợ mình che dấu nỗi niềm riêng !
Sợ phải cưu mang bao nỗi muộn phiền !!!
Sợ phải sống trong triền miên khiếp sợ ?
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
phamlang  
#1907 Posted : Tuesday, April 14, 2015 1:01:36 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Bài phóng sự ngày 16 tháng 3-1975 trên Chính Luận Sài Gòn

Tác giả/Nhân vật: Nguyễn Tú |03-04-2011|

Lời giới thiệu: Miền Nam Việt Nam thực sự đã không bị xụp đổ trên phương diện quân sự khi thị trấn Phước Long bị thất thủ. Cũng không do việc mất Ban Mê Thuột. Toàn bộ cuộc tái phối trí trở thành cuộc rút lui bi thảm đưa đến việc mất miền Nam thực sự bắt đầu từ lúc Pleiku ra đi.

Nhân dịp tháng 4-2004, 29 năm sau, Dân Sinh San Jose phổ biến 2 bài báo chụp lại trên vi phim về cuộc rút quân kể trên. Bài báo thứ nhất đăng trên Chính Luận số 3338 ngày thứ Ba 18 tháng 3-1975 với tựa đề: Hoàng hôn chụp xuống Pleiku. Bài báo này do phái viên Nguyễn Tú điện về trong lúc chính ông cũng đang tìm đường tháo chạy.

Bài báo thứ hai trên Chính Luận với tựa đề: 8 giờ đêm Chủ Nhật, Kontum – Pleiku bi thảm ra đi, bỏ lại phía sau những cột khói, những vùng lửa. Bài này đăng ngày 19 tháng 3-1975 và được ghi là do Nguyễn Tú đọc về, xen lẫn tiếng khóc nức nở của chính ông.

Bài báo thứ hai này đăng trang nhất báo Chính Luận số 3339 được coi là tin tức duy nhất được loan báo về cuộc rút quân ở Cao Nguyên. Bài này đã được các báo ngoại quốc dịch lại và đăng tải trên các hệ thống tin tức quốc tế.

Hai bài báo kể trên trích trong tài liệu sưu tầm của IRCC dành cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Ký giả Nguyễn Tú sau thời gian kẹt lại Việt Nam hiện đã qua Mỹ định cư tại DC.

Giao Chỉ – San Jose

***

Hoàng hôn chụp xuống Pleiku

Sau Khi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II Di Tản Về Nha Trang, Hoàng hôn chụp xuống Pleiku, Phố Xá Tràn Ngập Người: Trẻ, Già, Lớn, Bé Không Biết Đi Đâu

UserPostedImage

(Sài Gòn 17-3) Chiều tối Chủ Nhật ngày 16 tháng 3-1975, bạn Nguyễn Tú, đặc phái viên Chính Luận tại chiến trường Quân khu 2, đã từ Pleiku gọi điện thoại về cho biết tình hình Pleiku, sau khi Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 di tản về Nha Trang.

Bạn Nguyễn Tú cho biết là trong hai ngày qua, đồng bào trong toàn tỉnh đã hoang mang tới cực độ khi nghe tin các bài phát thanh ngoại quốc loan báo Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 di tản về Nha Trang. Giới hữu trách không có lời giải thích nào để trấn an đồng bào mỗi phút lại càng mất thêm tinh thần, mạnh ai lo liệu phương tiện di tản ra khỏi vùng giao tranh và tránh mặt quân cộng sản.

Chiều qua, các phố xá đã đóng cửa không buôn bán cầm chừng như trước đây và đồng bào đã đổ xô hết ra đường, nhốn nháo ngược xuôi tìm lối chạy. Người ta thuê bao đủ mọi loại xe, chất hết đồ đạc quần áo để chuẩn bị chạy. Giá xe từ 200 ngàn, nửa triệu một chiếc đã tăng lên nhiều hơn nữa. Những người ít tiền cũng vét túi, chung nhau thuê xe, và các loại xe, từ xe lam, xe vận tải, xe lô, xa nhà, xe Honda, cho đến cả xe ủi đất, xe cứu hỏa, xe cần trục, máy cày v.v… đều chất đầy ắp đồ đạc, đầu nối đuôi dài dài trên các đường phố chính như Hoàng Diệu, Võ Tánh, Phan Bội Châu, Quang Trung, Hai Bà Trưng. Tất cả đều rộn ràng di chuyển, nhưng không biết di chuyển theo lối nào, vì con đường duy nhất có thể chạy về Quy Nhơn là quốc lộ 19 thì đã bị địch cắt. Áp lực của quân cộng sản vẫn nặng nề trên con đường băng rừng băng núi này, cái chết có thể đe dọa tập thể tỵ nạn bất cừ nơi nào và bất cứ giờ phút nào.


Những chuyến bay của Hàng Không Việt Nam đã ngưng từ mấy hôm nay nên phi trường chỉ còn là nơi hoạt động rộn rịp của các loại máy bay quân sự. Tin tức một số gia đình thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và các ngoại kiều được di tản ra khỏi Pleiku làm cho mọi người càng thêm hốt hoảng. Họ chỉ còn trông ngóng vào con đường sống duy nhất là quốc lộ 19. Họ cầu nguyện và mong ngóng cho quốc lộ này được giải tỏa mau lẹ để lánh xa nơi quân cộng sản kéo tới.

Cảnh hốt hoảng càng thêm mãnh liệt hơn khi một số đồng bào tỵ nạn ở Kontum, Thành An, Phú Nhơn v.v… kéo về Pleiku chờ mở đường chạy giặc. Ám ảnh… đại lộ kinh hoàng và chợ Đông Ba rực cháy ngày nào ở miền Trung là một ám ảnh khó xóa nhòa trong tâm tư mọi người.

Dắt dìu nhau ngược xuôi ngoài đường phố, và đồng bào ngơ ngác thầm hỏi nhau biết chạy đi đâu bây giờ? Từ cả tuần, báo chí không lên Pleiku nữa, do đó có muốn được đọc những lời tuyên bố rất bình tĩnh của các giới chức Sài Gòn cũng không được.

Qua điện thoại, bạn Nguyễn Tú báo tin cho tòa soạn và bạn đọc Chính Luận biết là bạn đang tìm cách thoát khỏi Pleiku cùng đồng bào và sau đây là bản tin cuối cùng của bạn từ Pleiku gửi về cho tòa soạn và bạn đọc Chính Luận.

Lại thêm một hoàng hôn:

Bạn Nguyễn Tú cho biết, qua điện thoại, nguyên văn như sau:

Lại thêm một hoàng hôn, có thể hơn thế nữa, bắt đầu. Trưa hôm nay từ 12 giờ, dân chúng Thanh An, Phú Nhơn và các vùng lân cận Pleiku đều đổ xô về thị xã Pleiku. Họ đang sống những giờ phút lo âu, kinh hoàng ngoài đường phố. Trên khắp ngả đường đều chật các xe đủ loại, xe quân sự, xe dân sự, xe chở hàng, xe ủi đất, xe chữa lửa, xe máy kéo có rờ moọc, bên trên chất đầy những “gia bảo” cuối cùng của dân chúng. Tất cả các gia đình, già trẻ lớn bé, dân sự cũng như quân sự, ngồi sẵn trên xe, để chờ di tản mà họ không biết là đi đường nào. Các lực lượng diện địa của ta và các lực lượng trong ngành an ninh, quân cảnh, cảnh sát đều không còn có thể kiểm soát được nữa. Vì tất cả các nhân viên đó đều lo lắng cho chính gia đình họ. Ngoài đường phố đầy rẫy những người đi bộ. Những quân nhân, và thường dân tay xách nách mang và bồng bế các trẻ thơ, xách những giỏ đồ đạc lang thang khắp phố, không biết đi đâu nữa. Pleiku đang sống trong một không khí kinh hoàng chưa từng thấy, hơn cả cố đô Huế năm 1972.

Kontum – Pleiku coi như bị bỏ ngỏ, vì các nhân viên có trong trách an ninh đã chỉ lo cho riêng gia đình họ và không còn ai còn có tinh thần đảm nhận trách vụ của mình… Sự kiểm soát đã lọt ra ngoài tay của các giới lãnh đạo chính quyền tỉnh. Riêng các lực lượng chính quy còn có kỷ luật và tinh thần chiến đấu. Nhưng tình trạng hỗn loạn xáo trộn của dân chúng Pleiku ra đầy ngoài đường, đã tạo nên một cảnh tượng thật không thể tưởng tượng nổi. Trên khuôn mặt mỗi người đều lộ vẻ lo âu, không tả hết. Chiến tranh thực sự chưa tới Pleiku. Chưa một đạn pháo kích nào của địch bắn vào thị xã Pleiku. Hoàng hôn của Pleiku có thể coi như đã bắt đầu, đồng thời có thể tiếp luôn những cảnh hoàng hôn khác.

Tình trạng Pleiku bi thảm quá!

+ + +
Bài phóng sự tiếp theo viết ngày 17 tháng 3-1975.

8 Giờ Đêm Chủ Nhật, Kontum – Pleiku Bi Thảm Ra Đi Bỏ Lại Phía Sau Những Cột Khói, Những Vùng Lửa

Bản tin này được đọc giữa tiếng khóc nức nở của bản báo đặc phái viên Nguyễn Tú

(Sài Gòn 18-3) Sáng nay bản báo đặc phái viên Nguyễn Tú, tại một địa điểm dừng chân trên đường rút lui của quân dân hai tỉnh Kontum – Pleiku, báo tin qua điện thoại quang cảnh di tản bi thảm của đồng bào. Dưới đây là nguyên văn ghi lại lời bạn Nguyễn Tú đọc qua điện thoại.

Tất cả lên đường:

Tối nay, Pleiku đã thực sự hỗn loạn. Tất cả dân chúng Pleiku thêm vào đó dân chúng ven tỉnh, dân chúng thuộc vài quận gần thị xã Pleiku, và cả dân chúng Kontum đã đổ xô nhau chạy về Pleiku đều xuống đường và tổ chức một đêm không ngủ. Không phải để biểu tình chống ai, mà để vội vàng hốt hoảng tiếp tục chất các hàng hóa, bàn ghế, tủ giường, cùng những vật dụng riêng lên đủ thứ xe: Xe lam, 3 bánh, xe vận tải hạng nặng, xe Jeep, xe dốt rác, xe GMC nhà binh, xe Honda. Thậm chí xe be, xe cần trục, xe máy kéo, trác lơ, xe hốt rác. CẢ đến xe chữa lửa cũng được dùng để chất đồ và chở người. Xe nào chất xong đồ là người leo lên ngồi sẵn, xe nào đôi nhíp cũng gần như thăng bằng, vì chất quá nặng.

Từ trưa, các lực lượng an ninh trong thị xã Pleiku như Quân Cảnh, Cảnh Sát bỏ tất cả nhiệm sở không còn thấy bóng một ai, mặc dù hôm qua thứ Bảy 15 tháng 3 còn canh phòng rất gay gắt các ngã ra vào tỉnh và thị xã Pleiku.

Mọi đường phố không còn một nhân viên công lực nào giữ trật tự nữa. Tất cả mọi người đều về nhà lo việc di tản cho gia đình. Liên lạc vô tuyến của hệ thống quân đội không còn được điều hòa và hữu hiệu như trước nữa tuy vẫn chưa hẳn gián đoạn. Các nhân viên truyền tin cũng thay phiên nhau về nhà để lo việc di tản gia đình. Sự kiểm soát an ninh trật tự có thể coi như đã tuột khỏi tầm tay chính quyền địa phương Pleiku. Tại tư dinh Đại Tá Tỉnh Trưởng Pleiku, các nghị viên, các Trưởng Ty, Sở hấp tấp ra vào họp liên miên.

Chưa bao giờ các đại diện dân cử kể cả đối lập và chính quyền đã sát cánh với nhau như thế. Chưa bao giờ lập pháp, hành pháp, tư pháp đều đồng một lòng, một dạ như thế. Đồng một lòng một dạ trong một câu hỏi duy nhất: Bao giờ thì di tản? Mấy giờ thì di tản? Trên thực tế thì Pleiku đã sống giờ thứ 25 từ hôm qua thứ Bảy 15 tháng 3. Hôm nay Chủ Nhật 16 tháng 3 lúc 19 giờ đã có điện trở lại trong toàn thị xã.

Đèn ngoài đường và trong các tư gia cũng được thắp sáng. Có lẽ là một hội hoa đăng cuối cùng. Khắp các đường phố, dân chúng đi lại hết sức nhộn nhịp, tất tưởi. Ngay từ xế trưa hôm nay 16 tháng 3, các xe nào đã chất xong đồ vật đều chuyển bánh trên Quốc Lộ 14 đi về Phú Bổn thành một đoàn dài. Nhưng phải kể từ 20 giờ ngày hôm nay Chủ Nhật 16 tháng 3, sự di chuyển toàn diện của dân chúng mới thực sự bắt đầu, đoàn xe ước chừng đến hàng ngàn chiếc, bật đèn pha nối đuôi nhau trên hàng chục cây số trông như một cuộc “trở về nhà sau cuộc nghỉ cuối tuần.” Nhưng đây đâu phải là “đoàn xe thanh bình.”

Sáng kiến vĩ đại:

Cuộc di tản đại quy mô của hai tỉnh gom lại là Kontum và Pleiku do sáng kiến tư nhân có thể coi như là “vĩ đại” ở chốn Tây Nguyên hẻo lánh này.

“Mục tiêu đầu tiên là Phú Bổn. Sau đó sẽ tính.” Đó là lời một đồng bào di tản nói với Chính Luận. Nhưng ra khỏi thị xã, được vài cây số thì đoàn xe bị kẹt vì những chiếc xe nhỏ hơn như xe lam, xe ô tô nhỏ, xe Honda muốn vượt trước. Phải một giờ sau vụ kẹt xe này mới được giải tỏa.

Dân chúng nghèo cũng ra đi bằng phương tiện thiên nhiên, trời đã phú cho họ là đôi chân của chính họ. Họ đây là gồm cả già, trẻ, lớn, bé, con nít còn bồng trên tay, đàn bà đang mang bầu, tay xách, nách mang một vài manh chiếu, một vài bọc quần áo, buồn tủi, lo âu, gia đình nọ nối tiếp gia đình kia đi hàng một sát bên lề đường để tránh đoàn xe. Đèn pha của đoàn xe lần lượt chiếu các bóng lưng còng xuống của người lớn, những bóng nhỏ hơn của các trẻ em tay níu vạt áo hoặc ống quần của người bố hay người mẹ. Họ lặng lẻ thất thểu bước nọ trước bước kia trong đêm tối của tâm hồn.

Cuộc di tản này chắc chắn sẽ kéo dài tới ngày hôm sau. Thế là Kontum và Pleiku đã bỏ ngỏ, chính thức và không chính thức. Không chính thức mà chính thức vào hồi 20 giờ đêm ngày Chủ Nhật 16 tháng 3-1975.

Pleiku không còn gì để cho tôi săn tin thêm nữa.

Ba lô vẫn cõng trên vai, hồi 22 giờ 30 tôi theo đoàn người di tản ra khỏi thị xã Pleiku. Bầu trời hôm nay đẹp quá, hàng ngàn vì sao lấp lánh như thiên thần nháy mắt với trần gian, hay đó là những ám hiệu dục dã: “Lẹ lên!”

Nếu tôi có một người bạn đường đi bên tôi, tôi sẽ bảo: “Bạn ơi, trên trời có bao nhiêu vì sao thì lòng tôi đau xót còn hơn thế nữa.”

Đốt, phá, bỏ rơi:

Các kho súng, kho đạn tại tỉnh Pleiku đã được lệnh thiêu hủy, tiếng nổ lớn nối liền tiếng nổ nhỏ. Từng cột khói đen bốc lên trong lửa đỏ từ các bồn nhiên liệu cũng được lệnh phá hủy. Tất cả đều bùng cháy. Nhiều khu phố trong thị xã Pleiku đã bị toán người đập phá nhà cửa của các chủ nhân đã di tản, và đã bị phóng hỏa, ít nhất tôi cũng đếm được 14 đám cháy trong những khu phố khác nhau.

Nhiều tiếng súng cũng đã nổ trong thị xã. Có tin Đại Tá Tỉnh Trưởng Pleiku đã hạ lệnh cho đốt kho giấy bạc trong Ty Ngân Khố, ước lượng khoảng 300 triệu và trong khi tưới xăng để đốt, ông Trưởng Ty Ngân Khố đã bị phỏng. Không còn một bác sĩ tư nào trong thành phố. Quân cũng như dân y viện không còn hoạt động. Một số bệnh nhân tại dân y viện cũng như một số thương binh tại quân y viện Pleiku đã bị bỏ rơi lại vì không còn ai lo cho họ nữa. Chính họ trong tình trạng bệnh hoạn chẳng tự mình làm được. Ngoài sự chịu chết đói dần mòn ngay trên giường bệnh.

Một nguồn tin đáng tin cậy cho hay là Chuẩn tướng Tất, Tư Lệnh Mặt Trận Kontum – Pleiku đang chỉ huy cuộc triệt thoái lực lượng chính quy đi về hướng Nam trên quốc lộ 14.

Trên đường nóng bỏng:

(Pleiku 17-3) Sáng nay, cuộc di tản đang tiếp diễn dưới ánh mặt trời huy hoàng của một ngày đầu tuần. Hàng ngàn chiếc xe dân sự và quân sự vẫn nối tiếp nhau trên quốc lộ 19 đi về hướng Phú Bổn. Nhiều xe vì chở quá nặng không chạy nổi đã bỏ lại trên đường.

Các quân nhân được lệnh triệt thoái dưới quyền tư lệnh của Tướng Tất đã thi hành một cách rất trật tự và kỷ luật. Các đơn vị Biệt Động Quân đã được lệnh đi hai bên quốc lộ 14 ở những chỗ xung yếu để bảo vệ đoàn xe di tản dân sự và quân sự. Các đoàn người đi bộ thật là thảm thương, đàn bà, con trẻ đi bên lộ dưới ánh nắng nóng bỏng không giọt nước để uống.

Dọc quốc lộ từ Pleiku đến Hậu Bổn là tỉnh lỵ của Phú Bổn, đoàn xe cứ nối dài. Đoàn người đi bộ, bị bỏ lại sau, nhưng họ vẫn cứ cố gắng lết đi trên đường nóng bỏng dưới ánh nắng của Pleiku. Chưa biết đêm nay họ có thể tới được Phú Bổn bằng đôi chân của chính họ hay không. Sẽ có nhiều người sẽ bị chết đói, chết khát dọc đường. Dọc Quốc lộ 14 đi về phía Phú Bổn các làng, các ấp, các buôn đều trống trơn không còn một ai. Cảnh hoang tàn dọc quốc lộ 14 tôi không làm sao mà còn có trí óc để nghĩ ra những danh từ tường trình với độc giả.

Bi thảm quá đồng bào ơi!

Hôm nay thay vì lá thư hàng tuần sự tường trình của tôi có thể ngắn ngủi và không mạch lạc. Mong quý vị độc giả phương xa ở tại cái thủ đô đầy ánh sáng hiểu cho.

Cho tới nay vẫn không thể hiểu được lệnh bỏ ngỏ Kontum – Pleiku là ở đâu mà ra và tại sao lại có sự ra đi hấp tấp trong dân chúng trong khi các nhà cầm quyền quân sự đã trù liệu kế hoạch từ trước. Không có giải thích nào cho dân chúng. Không có tổ chức nào để di tản dân chúng trong trật tự và an ninh, không có một sự trợ giúp nào cho các dân nghèo không có phương tiện đi xe.

Từ năm 1954 cho tới nay, chính tôi đã chứng kiến bao cuộc di tản. Cuộc di tản Kontum – Pleiku dể lại cho tôi một mỗi chán chường. Sống với những hy vọng mong manh từ năm 1954 đến năm 1975 tới nay tôi cảm thấy không còn đủ sức, đủ ý chí để bấu víu lấy cái chút hy vọng mong manh ấy nữa. Ngoảnh về phía Pleiku khói vẫn ngùn ngụt bốc lên vì những đám cháy đêm qua.

Dọc lộ xe tăng, đại pháo dạt ra hai bên đường để bảo vệ những chỗ xung yếu để cho đoàn xe di tản dân sự và quân sự có thể đi chót lọt tới Hậu Bổn tức tỉnh lỵ Phú Bổn. Nhưng trên đoạn quốc lộ 14 từ Pleiku tới Hậu Bổn vẫn xảy ra nhiều đoạn đường kẹt xe, có thể kể hàng 5 đến 10 cây số chưa biết rằng đoàn xe có thể tới Hậu Bổn được không. Và từ Hậu Bổn sẽ đi đâu chưa ai rõ. Riêng cho tôi không còn có trí óc nào để nghĩ đến tương lai dù rằng tương lai chỉ là ở một giây, một phút sau đó.

Điện đàm dứt đoạn…

Nguyễn Tú, Chính Luận

Ghi chú: Trên đây phóng viên Nguyễn Tú mới chỉ tường thuật được đoạn mở đầu của chuyến rút quân bi thảm và sau đó thì hết phương tiện liên lạc. Thực sự đoàn quân dân rút từ Tây Nguyên về Duyên Hải đã hoàn toàn làm tan rã cả Quân Khu II với hàng ngàn người chết dọc đường và đưa đến cảnh toàn thể miền Nam vỡ ra thành từng mảnh vụn.

Giao Chỉ – San Jose
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Hạ Vi  
#1908 Posted : Thursday, April 16, 2015 5:34:02 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

NGUYỄN NGỌC HẠNH-TRIỂN LÃM LẦN CUỐI CÙNG


NGUYỄN NGỌC HẠNH- CHUẨN BỊ CHO 40 NĂM

Mùa xuân năm 2014 tôi có dịp nói chuyện với bác Nguyễn Ngọc Hạnh, năm nay nghỉ khoẻ, qua 2015 ta sẽ làm một chương trình 40 đâu ra đấy. Nhiếp ảnh gia quân đội hăng hái góp lời. Ừ nhé, mình sẽ đưa tất cả tác phẩm ra trình diện một lượt. Thực vậy, cho đến 2025 tức là năm mươi năm thì cánh già đã chẳng còn ai, đám trẻ thì không hy vọng còn nhớ đến những đề tài chiến tranh, quân đội, tù tập trung và vượt biên. Chúng tôi định sẽ làm ngay vào tháng tư 2015 tại San Jose. Phải tìm chỗ cho những tác phẩm “con cái” của bác Hạnh họp mặt lần cuối. Nên triển lãm một tháng tại thư viện King hoặc một tuần tại City Hall của San Jose. Hay ít nhất cũng triển lãm ngay tại Việt Museum vào đúng ngày thứ năm 30 tháng tư 2015. Hình ảnh của tác giả Nguyễn Ngọc Hạnh thì viện bảo tàng cũng đã có sẵn một số. Vấn đề chính ở đây là nhân dịp còn hiện diện đến năm lưu vong thứ 40 thì nhiếp ảnh gia số một của QLVNCH cũng rất cần có mặt một lần có thể là cuối cùng. Và bây giờ đúng là lúc cần chuẩn bị.

Tôi đọc tin trên mạng lưới Internet được biết anh chị em hội nhiếp ảnh trên thủ đô DC dự trù mời bác Hạnh trở lại vào tháng 5. Lại thêm tổ chức SOS của Dr. Thắng mời ông Hạnh làm cố vấn hay giám khảo gì đó cho kỳ thi ghi dấu biến cố 40 năm vào tháng 6-2015. Vì vậy kỳ hội Tết vừa qua tại Fairgrounds ghé khu triển lãm nhiếp ảnh của Trúc Viên hỏi chuyện anh em mới biết bác Hạnh đang nằm ở Nursing Home đường số 12, góc đường Santa Clara tại San Jose.

Vợ chồng chúng tôi bèn chạy đến thăm. Thực sự hình ảnh của khu này trông rất nản lòng chiến sĩ. Không khí buồn tẻ đã đành mà hình thức cũng rất tối tăm ảm đạm. Có phòng kê 3 giường bệnh. Tuy nhiên, phòng của bác Hạnh giường trống. Hỏi nhân viên thì được biết bệnh nhân vừa chở vào nhà thương cấp cứu. Dò hỏi mãi mới được biết bạn vàng vào nhà thương đường Jackson. Số phòng 1028. Tìm đúng số phòng, bác Hạnh nằm cô đơn trên giường có màn che. Bộ răng giả đã tháo ra, thần sắc sau thời gian dài không ăn uống nên chẳng còn như xưa. Trong ánh đèn mờ, tôi còn không chắc có phải là ông trung tá nhảy dù hay không. Khi hỏi nhân viên biết đúng là bác Hạnh tôi bèn gọi thật lớn tiếng. Bác vẫn không tỉnh, có thể là vừa trích thuốc an thần nên chìm sâu trong giấc ngủ. Chúng tôi ra về dự trù sẽ liên lạc với thân hữu để biết thêm chi tiết. Cũng chuẩn bị để báo cho anh em Tổng Tham Muu biết là đoàn viên của trại Trần Hưng Đạo đang ở giai đoạn sau cùng.

NGUYỄN NGỌC HẠNH TRONG SÁCH VỞ



Sau đây là tiểu sử của bác Hạnh ghi lại trên các tài liệu chính thức. Cứ mở Internet là thấy ngay. Sinh năm 1927 tại Hà Đông, gia nhập Không quân Việt Nam năm 1950. Ông Hạnh tốt nghiệp trường Nhiếp Ảnh Pháp ở Toulouse năm 1956 và trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Năm 1957, ông sáng lập Hội Nhiếp ảnh KBC ở Sài Gòn với đông đảo học trò.

Năm 1961, ông trở thành sĩ quan nhiếp ảnh chiến trường của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, binh chủng Nhảy Dù. Ông được chọn làm Hội viên danh dự Hội nhiếp ảnh quốc tế năm 1971. Trong thời gian làm phóng viên chiến trường, ông được lãnh nhiều giải thưởng cao quý về nhiếp ảnh tại các quốc gia khác nhau.

Sau khi miền Nam thất thủ năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Hạnh bị đi tù Cộng sản như bao nhiêu đồng đội khác . Đến năm 1983, hội The Royal Photographic Society of Great Britain can thiệp cho ông được trả tự do với 63 chữ ký của nhiều quốc gia khác nhau. Ông vượt biên nhiều lần và đến Hoa Kỳ năm 1989.

Ông Hạnh thành lập Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam tại San Jose năm 1990. Sau đó hội trở thành Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vào năm 2000. Sau gần 20 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông Hạnh đã đào tạo hàng trăm nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp.

Nhiều học trò của ông được nhận làm Hội viên danh dự Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh và các Hội Nhiếp Ảnh Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ.

Ông được nhận là hội viên của nhiều Hội Nhiếp Ảnh trên nhiều quốc gia khác nhau. Trong cuộc đời nhiếp ảnh, ông Hạnh đã nhận được 92 huy chương Vàng, 110 huy chương Bạc và rất nhiều giải thưởng khác nhau cho sự nghiệp nhiếp ảnh của ông.

BÁC HẠNH NHƯ ANH EM ĐƯỢC BIẾT

Nói đến Nguyễn ngọc Hạnh ít người biết bác là con người hết sức cô đơn. Là người mang cấp bậc trung tá trong quân đội nhưng chiến đấu bằng máy ảnh chứ không phải bằng cây súng. Vì là nhiếp ảnh gia quân đội nên nhiều người tưởng rằng ông là người chụp hình tay ngang. Thực sự ông học chụp hình từ bên Pháp. Gia nhập không qua một thời gian ngắn rồi đi Pháp học nhiếp ảnh. Về nước ông phục vụ bên nhảy dù sau về ngành quân nhu làm chỉ huy trưởng đơn v ị tiếp tế thả dù. Đơn vị cuối cùng của ông là phòng 5 thuộc bộ Tổng Tham mưu. Những hình ảnh chiến tranh của ông nổi tiếng nên đại tướng Viên cho bác Hạnh xuất ngoại qua Hong Kong chỉ để trông nom việc in bộ sách Việt Nam in Flames.

UserPostedImage
Hình bìa cuốn Việt Nam Khói Lửa.


Thời kỳ 70 tôi có dịp di du học Hoa Kỳ đã chạy qua phòng 5 xin 2 cuốn để mang tặng cho Ngũ Giác Đài và Ford Lee. Năm 1976 tôi liên lạc với xin lại và đã xẻ thịt cuốn sách Việt Nam Khói lửa để triển lãm trong các dịp lễ hội và quốc hận tại miền Bắc CA. Sách của ông là một bản hùng ca bằng hình ảnh về chiến tranh Việt Nam và QLVNCH. Trong khi đó thì tác giả còn đang vật vã trong trại tù tập trung của cộng sản. Trước 75, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh chủ trương phải tìm mọi cách tham gia các hội ảnh quốc tế. Dự các kỳ thi tuyển, lấy tất cả các tước hiệu và bằng cấp. Ông khuyến khích học trò tham dự. Riêng phần ông, là nhiếp ảnh gia đoạt được nhiều thành tích quốc tế. Có nhiều lý do. Hình ảnh về chiến tranh thì không ai có hoàn cảnh như VN. Tác giả lại có nhiều sáng kiến về bố cục. Sau cùng. ông hết sức chịu khó ra sức thi đua. Chính những thành tích quốc tế đã đưa tên tuổi ông cho các tổ chức và hội đoàn đồng lòng ký kết và vận động đưa ông ra khỏi ngục tù.

Tôi hỏi rằng anh có phải là Bắc Kỳ di cư không. Bác Hạnh trả lời, mình vào Nam lúc còn nhỏ vốn là trẻ mồ côi trong nhà dòng. Trước 1950 đã đi rồi. Gia cảnh ông ra sao, chàng không muốn nhắc đến. Ông nói gia đình ông chính là nhiếp ảnh. Phải chăng chính cô nàng nghệ thuật nhiếp ảnh đã làm gia đình riêng sóng gió. Có thể. Dù đã 40 năm qua, nhưng cái khung trời nhiếp ảnh của ông cũng luôn luôn giới hạn trong quân đội và quê hương. Tác phẩm nổi tiếng của ông vẫn là màu áo trận, nón sắt, nón lá với lũy tre xanh. Và không bao giờ thiếu sót màu lá cờ vàng, nước mắt quả phụ và tấm thẻ bài.

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Ngồi nói chuyện, tửu hậu trà dư, nói tới nói lui, loanh quanh ông lại đưa anh em trở lại đề tài nhiếp ảnh.

Trên các trang internet tràn ngập hình ảnh của Nguyễn Ngọc Hanh nhưng không bao giờ thiếu ba tác phẩm sau đây. Hình ảnh hai người đàn bà và những người lính.

UserPostedImage


Năm 68 Mậu Thân, ông chụp được bức Dựng Cờ tại thành Nội, xứ Huế. Tác phẩm hết sức sống động và chúng tôi dùng làm mẫu để vẽ tranh sơn dầu vĩ đại 16×10 feet đặt tại Việt Museum. Đầu thập niên 70 ông hoàn tất tác phẩm số hai là bức Thương Tiếc, chụp hình người đàn bà là cô vợ trẻ khóc chồng tay cầm tấm thẻ bài. Tác phẩm từ chiến trường Việt Nam. Không cần giải nghĩa, thế giới ai cũng nhận ra. Hình này được nhiều giải nhất vì thiên hạ cũng muốn khóc cho Việt Nam.

Năm 1992 cờ đỏ hạ xuống tại điện Cẩm linh. Tôi đi dự đại hội nhân quyền tại Mạc Tư Khoa đã đem theo bức Thương Tiếc và lá cờ vàng triển lãm trong phòng tiếp tân tại hội trường. Bức hình giới thiệu muộn màng trong thế giới cộng sản đã giải phóng mà vẫn làm mọi người xúc động. Qua nước Mỹ, hoàn cảnh nước mất nhà tan, nhưng lá cờ vàng vẫn ấp ủ trong lòng. Ông sáng tác bức hình bất hủ: Vá cờ.

Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Hạnh quan trọng là phần bố cục. Ông chuyên dàn dựng để đạt được ý nghĩa của chủ đề. Và ông đã thành công. Thời gian trôi qua. Nhưng các tác phẩm của bác đã trở thành lịch sử. Không ai có cơ hội tương tự và không ai có sự đam mê như Nguyễn Ngọc Hạnh. Sau chiến tranh, người lính VNCH đã gẫy súng, nhưng vũ khí trang bị bằng máy ảnh như bác Hạnh vẫn còn chiến đấu. Cuộc chiến điêu linh với cả chiến trường tồi tệ trải qua gần nửa thế kỷ mà ông vẫn còn ấp ủ. Hồn lính còn vương trên tóc bạc, anh nhớ sa trường, em có hay…

HOÀNG HÔN Ở SAN JOSE

Thời gian gần đây bác Hạnh di chuyển bằng chiếc xe 4 bánh. Khi đi thì đẩy xe cho vững bước chân. Mệt thì ngồi như ghế. Xử dụng xe bus, ông đi tuốt mọi nơi. Không hề mặc cảm. Chân đi không vững những ý chí sắt đá. Tiền không có nhưng mua sắm đồ nhiếp ảnh thì toàn hảo hạng. Căn nhà nhỏ bé toàn hình ảnh. Tối ông tác giả ngủ bên chiếc ghế nhỏ để dành buồng ngủ cho tác phẩm đầy giường. Mùa lễ hội năm 2014 bác Nguyễn Ngọc Hạnh bị tai biến nhẹ. Chở vào nhà thương kịp thời rồi ông bình phục. Phép lạ xảy ra lần thứ nhất. Rồi đến tháng vừa qua ông lang thang trên đường phố vào lúc hoàng hôn chợt bị té. May mắn có người đi đường kêu 911 chở vào nhà thương. Ông lại bị tai biến nhẹ. Nhà thương cấp cứu rồi lần nầy gửi thẳng qua Nursing Home. Phép lạ lần thứ hai. Ông vẫn tiếp tục chiến đấu. Tuần vừa qua chúng tôi vào thăm ông đi từ nursing home qua nhà thương. Xem phần sắc diện thấy ông mệt nhiều rồi. Giải nắng hoàng hôn chưa vội tắt, mà lời vĩnh biệt đã lên môi…. Buổi tối tôi ra về hỏi thăm chuyện hậu sự của thầy Nguyễn. Cô học trò Kim Phụng cho biết tin tức mặc dù gia đình đơn chiếc, học trò tản mát nhưng cũng đã có chuẩn bị. Tôi nghĩ rằng các bạn nên lưu tâm. Sinh hữu hạn, từ bất kỳ. Tiền nhân đã nói như thế.

Bác Hạnh là người có thân hữu, bằng hữu và chiến hữu bốn phương, chúng ta nên thông báo để bà con biết. Cần chuẩn bị ngày giờ, nói anh chị em gặp lại nhau. Nếu còn ngày rộng tháng dài, một buổi triển lãm tác phẩm và tác giả lần cuối là điều nên làm. Nếu gặp lúc vội vàng, người đi sớm, có thể chuẩn bị trước để trình diện tác phẩm khoác vòng hoa tưởng niệm sẽ đúng ý sắp xếp của bác Hạnh năm nay vừa ở tuổi 88. Ấy là nói vậy thôi, tối thứ tư, cháu Kim Phụng vừa báo tin thầy Hạnh chợt tỉnh dậy và nhà thương lại cho về nursing home. Cô Phụng đưa máy cho tôi nói chuyện với bác Hạnh. Ông nói rằng, nếu anh Lộc và anh chị em tổ chức ở đâu đó thì mình sẽ cố tới dự. Đi xa thì không được, nhưng quanh San Jose thì mình cố. Nói được như vậy. Ông bà ơi, phép lạ xẩy ra lần thứ ba.

ƯỚC MUỐN SAU CÙNG

Tôi lại vừa vào thăm bác Hạnh chiều thứ năm. Răng giả đã gắn lên. Chàng thong thả ngồi ăn bánh ngọt. Bác nói: Mình sẽ cố đấy. Ước mong cuối cùng đấy. Vụ triển lãm ấy. Ông nhắc đến một vài người, lúc nhớ lúc quên. Tôi nói rằng để hỏi thăm luật sư Tâm bây giờ là nghị viên. Ta xin mượn cái nhà vòm tại City Hall vào buổi trưa cuối tuần. Bày tất cả hình của ông ra một lượt. Mời bà con xa gần lại coi. Tác giả và tác phẩm. Tác phẩm ngày càng trẻ. Tác giả ngày càng già. Hình ngày xưa đen trắng bây giờ photoshop thành hình màu rực rỡ. Chuyên viên nào photoshop cho bác Hạnh đi đứng bình thường. Bác Hạnh nói. Mình có xe vịn chắc vẫn đứng lên được. Tôi nói, thôi ông ơi, xuất hiện kỳ này trên xe lăn là ngon lành rồi. Nếu ông té xuống thì sẽ không có phép lạ lần thứ tư. Nghe nói bác đã có 99 cái huy chương. Lần này kiếm thêm cái huy chương thứ 100 của San Jose cho đủ một bách. Buổi họp mặt hoàng hôn của các tay cầm máy dành cho một kỳ triển lãm cuối cùng nếu cần sẽ có cả nghị viên Tâm Nguyễn đứng lên hát bài Đường Việt Nam vô cùng vô tận. Nghe anh em vẽ ra giấc mộng về chiều, Nguyễn Ngọc Hạnh chợt thấy đầu óc sáng trưng, giơ tay bắt nói rằng bạn bảo anh em cứ thế mà làm nhé. Mình thích đấy.



Giao chỉ, San Jose.


UserPostedImage
Ly Đoàn và Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh ở nhà dưỡng lão San Jose hôm 25 tháng Chạp, 2014 (Noel). Ảnh: Ly Đoàn (1)

(1) Đây là thư của cháu Lý Đoàn gửi bác Lộc. Cháu Lý có thể điện thoại báo tin cho bác Lộc 408 316 8393. Quý vị đọc thư của cháu Lý sau đây để biết qua tình hìnhcủa bác NNHạnh.

Thư của cháu Ly Doan gửi bác Lộc

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh nằm cùng phòng trong nursing home với Bố con từ tháng 12 năm 2014. Bố con được gửi đến nursing home trước bác Hạnh 3 ngày. Con mỗi ngày vô chăm sóc Bố con thì cũng chăm sóc cho bác Hạnh luôn vì thấy gia đình bác không có ai thường xuyên đến thăm. Nhiều buổi tối con ngủ lại ở nursing home để chăm sóc cho Bố con thì con mới hiểu cả đêm bác Hạnh không ngủ được. Con cứ phải chạy qua giường bác Hạnh để đỡ bác ngồi dậy đứng lên hoài. Rồi đút bác ăn uống. Rồi bác muốn con ngồi trò chuyện với bác. Hôm mùng Một tết vừa rồi bác Hạnh yếu quá nên phải đưa bác Hạnh vào nhà thương. Mùng hai tết Bố con bị té rồi bị nứt xương sống nên cũng đưa vào nhà thương. Sau đó vài ngày họ lại đưa Bố con và bác Hạnh về nursing home. Con vẫn tiếp tục đến nursing home để chăm sóc cho bác Hạnh và Bố con. Tối qua con vào nghe y tá nói bác Hạnh và Bố con chẳng chịu ăn gi hết. Con ngồi đút cho cả hai ông ăn. Cuối cùng bác Hạnh đã ăn hết phần dinner của nursing home cộng thêm món gà ác tiềm thuốc bắc do chính tay con nấu cho bác Hạnh và Bố con ăn. Bố con chỉ ăn đồ ăn con nấu chứ không chịu ăn đồ ăn của nursing home.

Con nghĩ rằng nếu bác Hạnh có nhiều anh em bạn bè và học trò đến thăm và trò chuyện với bác mỗi ngày, bác sẽ vui, khoẻ mạnh và sẽ sống lâu hơn.

Phần con, con thực sự lúc đầu chẳng biết bác Ngọc Hạnh là ai vì thời chiến tranh VN con chỉ mới sanh ra và còn quá bé. Nhưng khi thấy bác Hạnh đau bệnh và lại nằm cùng phòng với Bố con nên tự con cảm thấy mình có trách nhiệm săn sóc luôn cho cả hai người. Đến mãi sau này con mới hay bác Hạnh là người nổi tiếng và đã đóng góp rất nhiều cho QLVNCH. Bác Hạnh đã từng hỏi con là bác ấy muốn nhận làm Bố con. Con có thể nào nhận bác ấy làm Bố được không thì con đã say yes và từ đó con thường gọi bác Hạnh là Bố xưng con. Bác ấy vui lắm.

Nếu sau này bác Lộc tổ chức triển lãm tranh cho bác Hạnh, bác Lộc cần con giúp gì thì con sẵn sàng. Làm được gì cho bác Hạnh vui là con sẽ làm.

Con kính chúc bác Lộc luôn mạnh khoẻ và một cuối tuần thật vui và bìnb an.

Con,
Ly Doan






PHỤ LỤC


Tìm Hiểu về Hình Tiếc Thương và Vá Cờ


UserPostedImage
TIẾC THƯƠNG

… Khoảng năm 1965, Việt Cộng tấn công vào một đồn lính ở Củ Chi, ngoại thành Sài Gòn. Chúng tôi đến giải vây. Khi Việt Cộng rút đi, họ để lại 6 xác chết không đầu của những người Nhân Dân Tự Vệ. Chúng tôi đến chỗ để xác thì thấy một cô gái khóc lóc thảm thương, đang lần mò tìm xác chồng. Tôi giúp cô tìm thẻ bài để nhận diện, sau đó cho cuốn xác tất cả lại đem về. Hôm sau tôi đến nhà cô gái mong có thể chụp một tấm hình của cô nhưng cô vẫn khóc lóc thảm thương quá nên không thực hiện được. Khi về dưỡng quân ở rừng cao su Ngã Ba Ông Tạ, tôi nhờ con gái tôi, lúc đó 11 tuổi tìm giúp một người bạn gái nào đó có một hoàn cảnh tương tự như cô gái ở Củ Chi để dựng tấm hình ‘Tiếc thương’. Cô Tâm là người con gái mà con tôi tìm được. Hiện nay cô đang sống tại thành phố Oklahoma.

Lúc đó cô mới 19 tuổi, ý trung nhân của cô trong một chuyến bay nhảy toán ngoài Bắc bị Bắc Việt bắn rơi máy bay và bị bắt làm tù binh. Tôi đến gặp gia đình cô và xin phép được mời cô đi chụp hình với tôi. Gia đình cô đồng ý. Chỗ chụp hình là một quán bia ở xa lộ Biên Hòa. Tôi nhờ một anh bạn biết thổi sáo và nói anh ta ngồi phòng bên cạnh chơi những bản nhạc chiêu hồn như chương trình đài Saigon. Con tôi cũng ở đó, đọc những lá thư của ý trung nhân cô Tâm viết cho cô. Tôi chải tóc cho cô như trong hình, đưa tấm thẻ bài cho cô cầm, tấm thẻ bài này tôi mua chợ đen, một tấm thẻ bài được làm từ thời Pháp. Trong không khí u buồn, và bị tác động bởi tiếng sáo não lòng cùng với những lời lẽ trong bức thư của ý trung nhân, cô ta khóc nấc lên. Những giọt nước mắt lăn trên má, rớt xuống tay là những giọt nước mắt thật. Hai giọt nước mắt trên tấm thẻ bài là do tôi tạo ra. Chụp được 6 tấm thì cô tỉnh lại, không khóc nữa. Ðây là tấm hình lúc cao điểm nhất khi cô ấy nấc lên…


UserPostedImage
VÁ CỜ

…Tôi quen với anh chị Hải Bằng, chị bằng lòng làm người mẫu cho tôi chụp bức hình ‘Vá cờ’ này. Tôi mua một cái nón sắt ở chợ trời, mượn cây súng trường của anh bạn Bùi Ðức Lạc là cả một chuyện khó khăn. Tôi dùng hai thứ đó làm hậu cảnh. Lá cờ được tôi đốt lỗ chỗ để chị ấy vá. Chị cứ ngồi vá cờ và tôi cứ chụp. Ðến động tác như trong hình thì tôi nói chị giữ nguyên động tác đó, tôi mở hé cửa sổ chỉ cho một phần ánh sáng rọi vào lá cờ, rọi vào nón sắt. Tuyệt vời. Bức hình chỉ có một ý nghĩa duy nhất: Chúng ta hãy vá lại những mảnh đời, những mảnh tình, những đơn vị chia rẽ, vá lại tình đoàn kết…



Nguyễn Ngọc Hạnh (Nhiếp ảnh gia)




UserPostedImage
thanks 3 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 4/20/2015(UTC), Duy An on 4/21/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
phamlang  
#1909 Posted : Monday, April 20, 2015 12:30:34 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
H.O. Ông là ai?

Huy Phương & Võ Hương An
(Chân Dung H.O. & Những Cuộc Đổi Đời)


Vào thập niên 90, trong cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ, người ta quen thuộc rất nhiều với danh từ H.O. Đây là một đợt di dân vĩ đại, dành cho quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tập trung của Cộng Sản sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 được đến định cư tại Mỹ, qua sự thương thảo giữa Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và chính phủ Cộng Sản Việt Nam.

Chúng ta không có con số chính thức, nhưng theo tài liệu của Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, có khoảng 350,000 người đến Mỹ theo các danh sách H.O.

UserPostedImage

Cây bút của Ông Robert L. Funseth, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao, thương thuyết gia
của chính phủ Hoa kỳ đã ký các văn bản với chính phụ Cộng Sản Việt Nam,
giúp hàng nghìn cựu tù nhân chính trị được đến định cư tại Hoa Kỳ. (Tài liệu của Bà Khúc Minh Thơ)

Tuy phía Mỹ đã ấn định tiêu chuẩn của cựu tù nhân “cải tạo” được ra đi phải chịu cảnh tù đày tối thiểu là ba năm, nhưng về sau mua một cái giấy chứng nhận thời gian ở tù chỉ tốn vài ba chỉ vàng, nên cũng có những “H.O. non” và “H.O. quốc doanh” lọt vào. Nước Mỹ tuy vậy, không đủ khả năng gạn lọc hay truy tìm cho ra lẽ, bằng chứng là có những cựu tù nhân chính trị “hợp tác với địch đánh chết bạn tù” vẫn lên máy bay vào Mỹ ung dung. Người Mỹ cũng rộng lượng, người ta kể chuyện một “con lai giả” hay “lai Tây” cũng lọt sổ, vì viên chức phỏng vấn người Mỹ đã hóm hỉnh rằng,“Ồ! Chúng ta là người Mỹ cả mà.” Bỏ chế độ Cộng Sản ra đi được người nào hay người đó.

Đi vào văn chương thì đã có “Ông H.O.” của Hà Thúc Sinh nói về sinh hoạt của người tù chính trị trên đất Mỹ, “Hành trình của Một H.O.”của Đặng Trần Huân kể lại “đoạn đường chiến binh” qua các “bãi mìn và dưới hỏa lực” của các loại giấy tờ, tổ chức dịch vụ của nhà nước Cộng Sản. Vậy “ông H.O” là ai?” Phải chăng là cái ông áo quần tàng tàng, mặt mũi hom hem, buồn bã, thân thể gầy yếu, đi thì lúc nào mặt cũng cúi gầm xuống, hay đứng đợi chuyến xe bus trên tuyến đường Bolsa hay lượm báo Việt trong các khu chợ Việt Nam và những năm 90.

Ngày nay cái hình ảnh H.O. đó đã tan biến, hòa hợp vào trong nhịp sống thường ngày của cộng đồng Việt Nam, có còn chăng là năm ba ông H.O. nay đã đến giai đoạn dưỡng già, ngồi uống cà phê nói chuyện chiến tranh thế giới, chuyện Việt Nam hôm nay, hay nhẩn nha đứng mua cái vé loto luôn luôn với dòng chữ “cash value” vì chuyến tàu sắp đến ga, làm gì để có thời giờ chia món tiền trúng này ra trong một đoạn đường dài 28 năm.

Nhưng với những năm đầu của thập niên 90, H.O. là một phong trào, một hiện tượng, một biến cố, một đợt sóng lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Trước đây là chuyện di tản vào Tháng Tư, 1975, và sau đó là chương trình ODP, những làn sóng người Việt ngày đó dễ hòa tan nhanh chóng trong số đông, nhưng H.O. là một đợt di dân vĩ đại. Phố xá, chợ búa đông đúc hẳn lên, xe bus nhiều người đi hơn, các cơ sở xã hội làm việc không hết, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ có hàng loạt người khách ngồi chờ, kinh tế Bolsa có chiều hướng đi lên thấy rõ.

UserPostedImage

“Bước chân...đổi đời.” (Tài liệu của Hội Tương Trợ TNCT-VN)

Nhiều người sốt ruột vì lâu nay đi làm ăn vất vả, bỗng dưng có một số đợt người đến gặp lúc xã hội Mỹ dang tay rộng mở, giúp đỡ tới một năm trời trợ cấp, nhất là trợ cấp y tế, điều mà nhiều người đi làm khác cũng đang gặp khó khăn. Không phải ai cũng có liên hệ với chính quyền hay quân đội cũ và có người trong gia đình đã bị tù đày nên không khỏi có cái nhìn thiếu thiện cảm, thiếu rộng lượng với lớp người chưa du nhập vào đời sống Mỹ kịp thời. Trong khi nhiều nhà báo nhắc tới và ca tụng H.O. là những người chịu thiệt thòi đáng được cộng đồng tri ân, thì nhiều người lại cho rằng, “H.O. là gì? Chạy không kịp mới trở thành H.O.” Một bạn H.O. than với tôi, “Mình tàng tàng thì người ta nói “đúng là H.O.” Mình mặc được cái áo đắt tiền, đi cái xe đẹp một tí, thì người ta mỉa mai: “H.O. mà cũng sang nhỉ!”

Gia đình nào có thân nhân bảo lãnh thì đỡ hơn, số còn lại do các nhà thờ hay các hội đoàn bảo trợ, lãnh giúp tiền trợ cấp nhưng chỉ thuê giúp một cái apartment rẻ tiền, cho một bộ nệm cũ hay bộ bàn ghế chợ trời.

“Ơn ai một chút chẳng quên,” mình qua đây như vậy là tốt phước rồi. Chúng ta đã được nghe bao nhiêu chuyện than phiền về cách phục vụ thiếu thiện chí hay bắt bẻ, “ma cũ bắt nạt ma mới” của các cán sự xã hội mà gia đình H.O. nào cũng đã phải nhiều lần bước đến bàn giấy của họ. Các ông bà này bắt bẻ tận cùng, còn khó hơn cả cán sự xã hội Mỹ hay Mễ.

Tiện đây, cũng phải nhắc đến thiện chí của nhiều chủ nhân, nhiều khi muốn giúp đỡ đồng hương bằng cách bắt đầu thuê một số anh em H.O. làm việc trong các nhà hàng, cắt cỏ hoặc xây dựng nhà cửa, nhưng dần dà phải bỏ cuộc vì số anh em mới sang, sức lực đã bao năm hao mòn trong các nhà tù Cộng Sản, không năng động và dễ bảo như nhân công người Mễ, lại tính người Việt hay để ý đến công việc và thu nhập của nhà chủ nên dần dần bị đào thải. Nhiều ông chủ than phiền, “Anh em mình thích nghỉ trưa, hút thuốc nhẩn nha cả tiếng đồng hồ, lại hay thắc mắc về thu nhập của chủ, đem so bì với số lương của mình.” Bây giờ qua một thời gian gạn lọc, chỉ có một số anh em còn lại, chịu khó đứng làm việc trong chợ, giúp việc nhà hàng ăn, hay làm việc trong ngành xây cất, đã có đời sống ổn định.

Khoảng thời gian 1990-1998 là lúc các gia đình H.O. đến định cư ở Mỹ nhiều nhất, cung cấp nhân lực cho các dịch vụ chăm sóc người già, nuôi người bệnh, giữ trẻ tại các tư gia. Các gia đình H.O. hiện nay đã ổn định khi con cái của họ đã lớn khôn, cho ta thấy hiện nay kiếm người phụ việc nhà như ngày trước rất khó khăn. Một vấn đề xã hội khác, là vào những năm trước 1990, số thanh niên vượt biên nhiều hơn phái nữ, nên có tình trạng trai thừa gái thiếu trong cộng đồng Việt Nam. Những đợt gia đình H.O. đến Mỹ đã tạo được những cuộc hôn nhân tốt đẹp và điều hòa được vấn đề khó nghĩ này của xã hội di dân. Tục ngữ Việt Nam có câu, “Trời sinh voi, sinh cỏ,” nên trong giai đoạn anh em H.O. mới định cư tại Mỹ, nghề “nails” bắt đầu phát triển và thịnh hành đã đưa đến công ăn việc làm không ít cho nhiều gia đình di dân mới mẻ này, và với các đức tính “chịu khó, khéo tay, cần cù,” nhiều người đã có một đời sống khá sung túc.

Các gia đình H.O. đã cung cấp nhân công cho các shop may, người trẻ thì chạy máy, người già thì cắt chỉ, nhặm lẹ thì xếp hàng, đóng gói, mà cho đến giờ này vẫn còn đứng vững với thời gian. Đúng là “Trời sinh voi, sinh cỏ,” “ở xứ Mỹ này có nghèo chứ không có đói.” Các gia đình có chồng, cha đi “cải tạo,” đã biết cái khổ của bữa rau, bữa cháo, nên sang đây, phần lớn các gia đình này đều “chịu thương, chịu khó,” chẳng mấy chốc mà đã có một cuộc sống ổn định.

Tính từ người cựu tù nhân chính trị bước chân đến Mỹ vào năm 1990, đến nay đã được 25 năm. Hai mươi lăm năm, là thời gian dư để cho một em bé sinh ra trên đất Mỹ tốt nghiệp đại học. Riêng thành phần cựu tù nhân chính trị sang đây, mặc dù tuổi đã cao, tinh thần đã mệt mỏi, vẫn có người tốt nghiệp đại học với các học vị như Ph.D, Master, Bác Sĩ, Nha Sĩ... như một nha sĩ đã hãnh diện quảng cáo cho phòng mạch của mình là “Nha Sĩ H.O. 11” (đúng ra là H.11). Còn về sự thành đạt của con các “Ông H.O.” thì chúng ta phải có một cuốn sách mười nghìn trang loại “Vẻ Vang Dân Tộc” mới ghi hết. Có những gia đình H.O. ra đi chậm, mãi đến những năm 1994-95 mới đặt chân tới Mỹ, vậy mà có đến ba bốn người con đều đã tốt nghiệp nha sĩ, y sĩ hay dược sĩ, tiến sĩ. Lẽ cố nhiên, khoa bảng chưa đủ để nói tới điều gì ích quốc, lợi dân, nhưng ít ra những gia đình này cũng theo kịp những người đi trước để khỏi mang mặc cảm thua thiệt.

Mong rằng các em đã là những người thân có cha, anh là nạn nhân của chế độ Cộng Sản, là những người đã có thời gian sống dưới chế độ này, đã biết nỗi khổ đau riêng của dân tộc mình, và chung của con người, sẽ có một lối sống và suy nghĩ cho xứng đáng với những sự hy sinh của cha anh và nỗi nhọc nhằn của cả dân tộc.

Edited by user Monday, April 20, 2015 12:31:16 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 4/21/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1910 Posted : Tuesday, April 21, 2015 5:57:52 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Hễ chút là bị bỏ tù, tội dân lắm các vị ơi!


Monday, April 20, 2015 1:45:47 PM

Cao Huy Huân
(VOA)


Cả tuần qua, dư luận lại một phen chao đảo khi 8 người ở TP Biên Hòa (Đồng Nai) bị tuyên án tù vì chặt 12 cây tràm.

Thật ra nếu so sánh một cách khách quan, việc chặt cây dẫn đến tù tội là chuyện không hiếm ngay ở các nước có nền kinh tế phát triển, đặt “thành phố sinh thái” làm trung tâm như Nhật Bản, Singapore hay Châu Âu. Nhưng nếu bạn thử đào sâu hơn vào nội dung vụ án, thì chuyện chặt 12 cây phải đi tù vừa xảy ra tại Đồng Nai vừa qua không khỏi khiến người ta “cười...ra nước mắt.”

Quan tòa cố đấm ăn xôi?

Không còn cụm từ nào có thể thích hợp hơn “cố đấm ăn xôi” để mô tả những vị “cầm cân nảy mực” trong vụ án 12 cây tràm này. Phải thừa nhận rằng, cả tám người dân bị cáo trong vụ án đã nhận chuyển nhượng (trái phép) đất lâm nghiệp của nhà nước. Tuy nhiên theo thông tin điều tra, thái độ của bị cáo và phản ánh từ báo chí, lẽ ra những bậc “quan tòa ăn trên ngồi trước” phải thấy rằng chính tám người này cũng không biết bản thân họ phạm luật. Đây là một trong những tình tiết rất đáng được xem xét, thông cảm, nhất là khi các cơ quan ban ngành giáo dục pháp luật hiện vẫn “bất lực” trước thực trạng phổ cập, tư vấn luật cho dân.

Đó là chưa kể, việc khắc phục hậu quả của tám bị cáo, theo luật quy định là hoàn toàn tương xứng với những gì mà họ đã vô tình gây ra (do thiếu hiểu biết). Trung tâm đã thu hồi 12 cây tràm này, bán và lấy lại đúng số tiền hơn 10 triệu đồng thiệt hại mà cơ quan tố tụng đã quy kết. Trung Tâm Lâm Nghiệp Biên Hòa cho biết không còn thiệt hại nữa. Những thiệt hại đã được các bị cáo bồi thường một cách “sòng phẳng” ấy không nghiêm trọng như số tiền trăm tỷ, nghìn tỉ đồng trong các vụ bê bối tham nhũng, lót tay, lại quả mà “quan chức Việt Nam” - theo báo chí Hàn Quốc, Nhật Bản, Ngân Hàng Thế Giới - đã bị cáo buộc trong các vụ đấu thầu dự án ODA hay các dự án đầu tư các công trình khủng tại Việt Nam. Ấy mà 8 bị cáo liên hệ vẫn bị xử tù. Không biết để răn đe, hay hạch sách?

Nhưng điều khiến cho người ta xót xa nhất chính là việc Hội Đồng Xét Xử Tòa Án Nhân Dân tỉnh Đồng Nai vẫn tuyên y án sơ thẩm phạt tù tám bị cáo, trong đó năm người bị tù giam và ba người bị tù treo, bất chấp đại diện Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Đồng Nai khẳng định không xác định được hành vi phạm tội của các bị cáo nên đề nghị tòa hủy án để yêu cầu điều tra lại. Tòa ơi là tòa! Sao lại có chuyện các ngài vẫn “cố đấm ăn xôi” để xử tù bằng được bà già tóc bạc, lũ trẻ tóc xanh thấp cổ bé họng dù đơn vị điều tra - viện kiểm sát - đã rút quyết định truy tố?

Nếu ở nước ngoài thì có lẽ hiện giờ các ngài “vua tòa” Đồng Nai đã phải nộp đơn nghỉ việc, thậm chí là đang bị “tạm giam” để điều tra xem động cơ các ngài ép dân là gì, bởi bên công tố (viện kiểm sát) đã phán “không đủ căn cứ thành tội.” Làm như các ngài khác nào kiểu “phong kiến”, trong đó tòa án như vua, “vua xử thần tử thần bất tử bất trung.” Mà đã bất trung thì phải “trảm.” Đường nào thì tám phận đời cơ cực kia, có cố sức chịu khó thì sau cùng cũng vì các “vua tòa” mà chịu khổ.

Luật nặng cho dân, luật nhẹ cho quan?

Vụ án 8 người chịu tù tội vì chặt 12 cây tràm khiến tôi thắc mắc về vụ hàng trăm cây - gấp mấy trăm lần 12 cây tràm - bị đốn hạ. Lần trước khi đi taxi ở Hà Nội, anh tài xế bức xúc: “Bọn nó dọn sạch hàng trăm cây trên đường Nguyễn Chí Thanh, vốn xanh mướt một màu, trong vòng một buổi sáng. Rồi chúng nó trồng vội trồng vàng hai hàng cây bé xíu, trơ trụi mà chúng nó bảo là cây Vàng Tâm - trong khi con nít cũng biết là cây Mỡ. Chúng nó ăn uống nhiều đến nỗi chẳng phân biệt được đâu là Mỡ, đâu là Vàng Tâm. Phá hết rồi, còn vài chỗ nữa cũng bị chặt. Chán! Ngán! Nhưng chẳng làm gì được.”

“Những chỗ khác” mà anh chàng taxi đề cập chính là đường Nguyễn Trãi 500 cây, các phố Giải Phóng, Lý Thường Kiệt, Phan Đình Phùng... đều có gốc cây bị chặt. Ước tính khoảng 2000 cây - theo Đại Tá Nguyễn Như Phong đã nêu trên báo PetroTimes. Tôi lẩm bẩm tính nhẩm rồi nhân lên theo như cái cách mà đứa cháu học lớp 4 nhà tôi chỉ - nếu dùng phép tỉ lệ thuận - thì chặt 2000 cây như các quan chức Hà Nội đã chặt, thì có lẽ không chỉ họ mà cả “tam tộc” của các vị ấy có ra ngồi tù thế chắc cũng mất... cả đời.

Vụ đi tù vì 12 cây tràm còn khiến tôi lại nhớ đến một vụ án mà dân bị phạt nặng “quá mức bình thường” liên quan đến tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Cuối tháng 3, 2015, bị cáo Trần Đình Mỹ Lân (ngụ huyện Định Quán), Trần Đình Lập (em trai Lân) và Nguyễn Quốc Hoàng (lái xe cho Lân) bị tòa án Đồng Nai tuyên phạt mỗi người sáu tháng tù về tội làm nhục một vị “cán bộ thuế.” Vốn mâu thuẫn trong việc cưỡng chế nợ thuế, Trần Đình Mỹ Lân có va chạm và tạt ly bia vào người vị cán bộ “quyết dùng luật làm cho ra chuyện.” Dù giới luật sư, chuyên gia lẫn báo chí cho rằng không đáng xử tội hình sự, nhưng “vua tòa” Đồng Nai vẫn quyết “để dân đi tù” vì dám đụng “danh dự” của “quan thuế,” dù “danh dự” ấy không được quan tòa định nghĩa một cách thuyết phục.

Chợt nghĩ, nếu quan tòa Hà Nội không xử đến nơi đến chốn vụ 2,000 cây xanh bị chặt, phải chăng Nhà nước nên cử quan tòa Đồng Nai ra phân xử. Nếu quan tòa Đồng Nai vẫn cứng rắn xử quan chức Hà Nội theo kiểu 12 cây tràm, thì quả thật dân chúng sẽ được nhờ. Nhưng tin tôi đi, giả thuyết này chỉ để bạn cười và trút bớt đi sự ức chế mà thôi, và sẽ chẳng có một phiên tòa “nghiêm khắc” (nhưng vô lý) nào tương tự vụ “12 cây tràm” diễn ra tại Hà Nội để xử lí các quan “cây tặc.” Ngay cả “tòa phúc thẩm” còn ra sức bảo vệ “tòa sơ thẩm” như vụ 12 cây tràm để giúp “tòa dưới” né kiểm điểm, giải trình, hủy án... thì nói chi đến chuyện xử “tru di tam tộc” những quan chức như mình. Với các quan, họ có luật riêng của họ, và có lẽ nó sẽ dễ thở hơn rất nhiều. Thế nên có người mới bảo “luật nhẹ cho quan” rất nhiều, và “luật nặng cho dân” thì không thiếu.

Bao giờ mới hết thấp cổ bé họng?

Chẳng biết từ khi nào, “thấp cổ bé họng” lại thành giai thoại trong nhiều vụ án mà nhiều quan chức luôn đóng vai phản diện, còn dân thì trong thế yếu mềm. Người ta vẫn tin rằng cố Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu rất có tầm nhìn khi nói về một Việt Nam giàu mạnh trong khu vực; nhiều chuyên gia cũng có cơ sở để tin vào các chỉ số hạnh phúc cao ngất mà Tổ Chức Phi Quốc Gia đo được ở Việt Nam; càng tự hào về không ít người Việt hôm nay có tâm và có tầm không chỉ trong nước mà còn trên diễn đàn thế giới. Nhưng tình trạng “thấp cổ bé họng” dường như vẫn cứ tồn tại và phát triển song song. Nếu nhìn lại, họ đều là những người thiếu tiền, thiếu địa vị, thiếu thân thế.

Nhưng thế giới chưa bao giờ từ chối hay phủ nhận quyền người nghèo khó được bảo vệ trước pháp luật. Các vị cứ mãi chèn ép những kẻ yếu kém, rồi gán cho họ những cái tội vô hữu vô thực để rồi gia đình họ nát tan, còn các vị được tiếng “nghiêm minh” và ngẩng cao đầu nhận bằng khen của chính phủ - vốn cũng được in từ tiền mồ hôi nước mắt của người dân. Dẫu biết đôi lúc cái nghèo sinh ra cái thiếu hiểu biết, như vụ 12 cây tràm bị chặt. Nhưng xin các vị hãy công bằng với dân, để họ không phải “hở tí là tù tội,” còn các vị thì rung đùi nâng ly chúc mừng vì “Hôm nay tao vừa hạ hàng ngàn cây đại thụ, còn mày vừa cho lũ dân nghèo lại dám chặt 12 cây tràm vào tù.” Làm vậy tội dân lắm, các vị ơi!

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1911 Posted : Thursday, April 23, 2015 1:37:20 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Quân nhân, tù nhân và thuyền nhân


Nguyễn Đăng Đường
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)


Hàng năm cứ vào Tháng Tư lòng tôi buồn buồn có nhiều đêm khó ngủ, quá khứ đau thương miên man hiện về như cuốn phim chiếu chậm, bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa quên những ngày tháng cũ.


UserPostedImage
Thuyền nhân Việt Nam. (Hình: Văn Khố Thuyền Nhân)


Đời tôi có hai lần bị xúc động mạnh.

Lần đầu vào năm 1965 khi đơn vị tôi đóng ở Quận Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương. Chiếc tàu đò Thần Phong xuôi ngược Bình Dương - Dầu Tiếng bị Việt Cộng đón đường treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Người phi công F5 của Mỹ lầm lẫn nên dội một quả bom thật chính xác. Người bạn gái đầu đời của tôi đi trên chuyến tàu đó.

Lần thứ hai, vào ngày 30 tháng 4, 1975 khi Dương Văn Minh kêu gọi quân đội và dân chúng giữ trật tự để bàn giao chánh quyền.

Hai biến cố đó làm tan nát lòng tôi. Riêng ngày 30 tháng 4, 1975 không chỉ làm nát lòng tôi mà còn làm thay đổi vận mạng của tôi nói riêng và của miền Nam Việt Nam nói chung.

Tôi giải ngũ khi đất nước chưa tàn cơn binh lửa và tạm cư tại Quận 8, Sài Gòn. Tuy trở về với đời sống dân sự nhưng tôi vẫn thường băn khoăn đến vận nước nên lòng không mấy lúc bình yên. Rồi việc gì đến phải đến - miền Nam mất!

Tôi bán đổ, bán tháo căn nhà ở Sài Gòn để làm vốn liếng hồi hương vì sợ bị đi vùng kinh tế mới. Đợt đổi tiền đầu tiên làm tôi thua nặng, năm trăm đồng tiền cũ đổi được một đồng tiền mới và chỉ giữ tối đa hai trăm tiền mới mà thôi. Số còn lại ký gửi, muốn lấy ra phải có lý do chánh đáng. Lý do gì đây?

Lao động địa phương, lao động huyện, lao động tỉnh, đào kênh, đắp đê, nghĩa trang liệt sĩ, đắp đường biên giới để đánh Miên đều có tôi. Những năm thất mùa ăn bo bo thay gạo, tôi tập làm “người quân tử ăn chẳng cần no.” Sau vài ba năm, tôi già trước tuổi. Tuy thân tàn nhưng ma chưa dại, lúc nào tôi cũng mang tâm sự của tác giả “Thăng Long Thành Hoài Cổ.”

Một hôm giữa năm 1979, anh tôi dẫn về mấy người khách lạ. Sau vài ba câu chuyện thời sự mở đầu, một người trông rất có vẻ là cấp chỉ huy nói với tôi rằng qua sự giới thiệu của anh tôi, anh ta biết rất nhiều về tôi. Hôm nay, anh đến để mời tôi vào tổ chức. Từ ngày đó tôi là thành viên của “Lực Lượng Phục Hưng Quốc Gia Việt Nam,” vùng hoạt động là tỉnh Long An. Tôi sống trong niềm tin, hy vọng và đợi chờ.

Đến năm 1983, vì một lý do rất tầm thường, tổ chức bị bại lộ. Tôi bị bắt ngày 21 tháng 7, 1983 cùng với nhiều người khác. Tôi bị nhốt tại khám lớn Long An 18 tháng rồi đi lao động tại trại cải tạo Mộc Hóa. Đến ngày 1 tháng 9, 1985, tôi được trả tự do nhưng phải bị quản chế tại địa phương 12 tháng. Nhưng hết 12 tháng lại bị quản chế tiếp vì lý do “tư tưởng chưa tốt.” Đến năm 1989, dân chúng địa phương xin giùm tôi mới được tha.

Thời điểm này tôi muốn bỏ nước ra đi nhưng làm sao đi được vì mình là một tên tù mạt vận. May thay có tin người cháu sắp làm một chuyến vượt biên, tôi tiếp xúc và được hứa giúp đỡ. Tôi phải đạp xe ba mươi hai cây số từ nhà lên Sài Gòn nhiều lần để giữ liên lạc vì ngày đi không được biết trước. Vợ con tôi hoàn toàn không biết tôi đang toan tính chuyện gì. Lần sau cùng vào một ngày đầu tháng 10 năm 1989, tôi lên Sài Gòn rồi không trở về nữa. Tôi đi vượt biên.

Tàu đậu tại cảng Bến Đình, Vũng Tàu, tôi được đưa ra tàu trước một ngày để kiểm tra tổng quát và thay thế một thủy thủ không đi. Sáng hôm sau, chủ tàu có mặt và cho tàu chạy ngược về hướng Sài Gòn với tốc độ chậm. Hơn một giờ sau, ghe “tắc xi” từ Sài Gòn ra tới. Cả hai chiếc cùng quẹo vào nhánh sông vắng cho người qua tàu lớn, chui xuống hầm kín rồi chia tay. Ghe nhỏ trở về, còn tàu lớn quay ra cửa biển Vũng Tàu rồi trực chỉ hải phận quốc tế.

Tàu dài chỉ mười bốn thước dự trù chứa bốn mươi người, nhưng vì chủ tàu cũng đi luôn nên dân “tắc xi” lợi dụng cơ hội đưa ra tới chín mươi hai người. Tính luôn thủy thủ đoàn tám người nữa là chẵn một trăm người. Sau này, chúng tôi có tên là “Tàu một trăm.”

Tàu nhỏ đông người, chỗ tốt dành cho đàn bà trẻ con, đàn ông ngủ ngồi hoặc nằm co theo kiểu tôm kho. Ngày đầu chưa quen sóng gió nên bà con thi nhau mửa. Thời gian còn tại ngũ, tôi đã làm quen với ghe tàu nên không bị say sóng. Tôi phải lấy nước cho những người đã mửa rồi lại đưa thau, đưa thùng, đưa tô, đưa chén cho những người sắp mửa. Tàu có hai tài công thì một người đã ở lại, tôi phải làm tài công phụ bất đắc dĩ dù chưa được huấn luyện ngày nào. Tôi cũng làm người canh giữ và phân phát nước uống vì sợ không khéo cả tàu chết khát. Ban đêm, tôi lại ngồi trò chuyện với tài công chánh vì sợ anh ta còn trẻ dễ ngủ gật. Tôi là người bận rộn nhất tàu.

Tôi không ngủ ngồi được khi tàu chạy lắc lư, nên cứ thức. Có lần thằng con của anh thuyền trưởng không kiềm chế được nên mửa vào lưng tôi, chiếc áo bộ đội mới mua được cởi ra tẩy vội rồi mặc tiếp.

Vì được hứa cho đi miễn phí nên tôi phải làm một cái gì đó cho chuyến đi. Sau này định cư rồi, lời hứa đó không được giữ tôi cũng đã trả xong món nợ nghĩa ơn.

Người đông nên tàu chạy chậm, thiếu dầu, thiếu nước uống, thiếu lương thực. Bốn ngày, ba đêm trên biển chúng tôi kêu cứu nhiều lần nhưng không tàu nào dừng lại cả. Đến giữa đêm thứ tư gặp giàn khoan Nam Dương, chúng tôi được cứu. Họ tốt quá! Họ cho dầu, cho nước uống, cho lương thực, giúp đánh điện tín về Việt Nam, rồi chỉ hướng vào Nam Dương.

Trưa hôm sau, tàu tới đất liền nhưng vì không có bản đồ nội địa nên chúng tôi không tìm được đảo KuKu, nơi có Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Thủy Quân Lục Chiến Nam Dương thay vì chỉ đường đi KuKu họ lại dẫn chúng tôi về đảo Tarempa, một căn cứ quân sự. Họ tịch thu tất cả tư trang, giấy tờ cá nhân của phái nam, còn phái nữ được ông trung tá trưởng đảo đưa vào phòng kín khám xét đặc biệt hơn nữa.

Cô thông ngôn không bị khám xét nên cất giữ được một số giấy tờ quan trọng của tôi. Hôm sau, ông trung tá bảo chúng tôi trở về Việt Nam. Đã đoán trước, nên chủ tàu phá máy, thợ của họ sửa hoài không được nên phải gọi tàu khác đưa chúng tôi tới đảo KuKu. Đến KuKu thuyền trưởng của tàu này chưa cho chúng tôi lên đảo, ông ta đòi tiền rồi dụ cô thông ngôn vào phòng hãm hiếp. Cô thông ngôn nhảy xuống biển, họ vớt lên và cho chúng tôi vào đảo. Từ tàu lớn sang ghe nhỏ để lên bờ, một thanh niên bị dập nát chân, vì vậy sáng hôm sau chúng tôi được vào đảo Galang thay vì phải ở lại đảo KuKu hai tuần nữa.

Chúng tôi đặt chân lên trại Galang I ngày 6 tháng 10, 1989. Tôi mặc áo bộ đội, đầu không nón, tay không xách, đi chân đất khập khễnh bước lên đảo. Đêm ngủ lại đảo Tarempa đôi dép và cái xách tay của tôi không cánh mà bay. Ông đại diện thuyền nhân trại Galang I đón chúng tôi và bảo ai mặc đồ bộ đội thì bỏ đi. Thế là tôi chỉ còn có quần tây, áo thun mà thôi, thật thảm thương.

Ở Galang I mấy hôm để làm lý lịch và các thủ tục khác, chúng tôi được chuyển vào trại Galang II. Đường dài khoảng năm cây số, hẹp và quanh co. Tài xế Nam Dương lái xe như bay làm chúng tôi ngất ngư. Chúng tôi lần lượt được vào khu Biệt Lập rồi Zone B. Một barrack mười phòng có tầng trên tầng dưới, vừa đủ cho một trăm người chúng tôi xây dựng cuộc đời mới - đời tị nạn.

Đời tôi gắn liền với ba chữ “nhân” đó là quân nhân, tù nhân và thuyền nhân.

Trước khi thuyền nhân Việt Nam đến, có lẽ Galang là một hoang đảo. Hôm nay, với trên dưới hai chục ngàn người cùng các cơ quan, trường học, bệnh viện, nhà thờ, chùa, hàng quán, rạp chiếu phim... Galang mang bộ mặt của một thị trấn vùng cao nguyên Nam Việt.

Thuyền nhân Việt Nam ở bất cứ trại tị nạn nào cùng có bốn nhóm. Thứ nhất, được thân nhân ở nước thứ ba gởi tiền đều đặn, thứ hai không được đều đặn, thứ ba chỉ được một lần thôi, thứ tư không được lần nào. Tôi thuộc nhóm thứ ba nên cũng khổ. Ba năm trời tôi chỉ nhận được ba trăm đô Úc, do ba người thân gởi cho từ ngày mới tới đảo. Tôi phải trồng vũng rau đắng để bữa cơm dễ nuốt, vì lương thực chánh của cao ủy cung cấp có gạo, mì gói, cá hộp cùng một ít nhu yếu phẩm mà thôi. Dù sao cũng vẫn hơn ba năm tù chính trị chỉ có cơm với muối.

Trước khi tới đảo, tôi nghĩ mình là cựu quân nhân và tù nhân chánh trị có giấy tờ chứng minh sẽ được định cư sớm. Tôi đâu biết rằng sau ngày 14 tháng 3, 1989 thuyền nhân phải bị thanh lọc, thời gian chờ đợi trên dưới ba năm. Từ đó mới có đậu thanh lọc, rớt thanh lọc, giấy tờ giả, hối lộ, cưỡng bức hồi hương, phản đối, đàn áp, tự sát...

Thanh lọc được chia ra làm nhiều đợt theo thứ tự thời gian đến. Tôi đậu thanh lọc đợt ba nhờ có đủ giấy tờ mà cô thông ngôn đã giữ hộ tôi. Cũng nhờ có giấy tờ bảo lãnh của thân nhân ở Úc nên tôi được phái đoàn Úc nhận trong cuộc phỏng vấn bổ túc.

Ở trại tị nạn, tôi học được từ ngữ mới đó là “đẩy xe” tức là đi với tình nhân. Từ này dùng cho phái nam. Ở Galang người ta “đẩy xe” nhiều lắm. Xa gia đình, thiếu tình thương, hai tâm hồn hai trái tim khác phái cần nhau rất dễ gần nhau. Tôi cũng không ngoại lệ nên đã vướng vào một chuyện tình buồn. Tàu tôi có tay đàn tây ban cầm thật tuyệt, tôi có giọng hát cũng dễ nghe. Ngày còn đi học, đi lính giọng hát này đã giúp tôi rất nhiều trong việc gây cảm tình với phái nữ. Barrack tôi nằm trên đồi nên đêm xuống thật buồn, chúng tôi thường đàn hát giải khuây. Tôi đâu ngờ từ căn phòng tầng trên của Barrack có một người đàn bà đêm đêm đứng bên cửa sổ nhìn xuống để nghe tôi hát. Mỗi lần gặp nhau, tôi đọc được những gì chất chứa trong đôi mắt của nàng và tôi cũng nghe nhịp tim mình bối rối. Thế rồi một hôm, tôi mời nàng lên quán nước trên đồi uống cà phê, nàng nói với tôi “mỗi lần nghe anh hát em muốn chạy xuống ngồi vào lòng anh.” Tôi đâu phải là Phật, làm sao tôi không yêu nàng. Gương mặt buồn cố hữu và giọng nói dịu dàng của nàng đã xâm chiếm hồn tôi. Tôi muốn nàng ở chung phòng và cùng ăn thứ rau đắng với tôi.

Rồi ngày tháng êm trôi nên tôi không biết được chữ ngờ. Được nửa năm đầm ấm thì chồng nàng từ Việt Nam vượt biên tìm vợ. Tôi bỏ đi nơi khác để vợ chồng nàng gặp nhau giàn xếp chuyện gia đình. Ý nàng không muốn tái hợp với chồng nhưng ông Cha Xứ Galang buộc nàng phải quay về để khỏi bất lợi cho việc thanh lọc. Nàng đi rồi, tôi trở về phòng cũ vắng tanh. Trước đây, tôi hạnh phúc bao nhiêu thì bây giờ tôi đau khổ bấy nhiêu. Tôi buồn, tôi uống, tôi say, tôi tập làm thi sĩ.

Ta đốt đời ta men đắng cay,
Say tình say rượu cũng là say.
Men cay giây phút còn tan biến,
Tình lỡ ngàn năm khó nhạt phai.
Nửa năm hương lửa vẫn còn đây,
Tình ta nhẹ tựa khói sương bay.
Em về bên ấy đời êm ấm,
Đâu biết rằng anh lạnh giá đầy.
Ai bảo rằng yêu chẳng khổ đau?
Một lần dang dở dễ quên sao?
Ái ân mộng mị tình hư ảo,
Không trọn kiếp này, hẹn kiếp sau.
T... ơi tình chết kể từ đây!
Chôn chặt tình ta xuống tuyền đài.
“Nhất phiến tình sầu thiên cổ lụy.”
T... ơi tình chết kể từ đây!

Galang, tháng 12, 1990


***

Đến Úc ngày 27 tháng 2, 1992, tôi vội lo thủ tục bảo lãnh gia đình. Ngày 28 tháng 3, 1993, vợ con tôi đặt chân xuống phi trường Sydney. Hồi còn ở Việt Nam vợ tôi có biết chuyện này, gặp lại nhau tôi vẫn kể cho nghe, vợ tôi chỉ cười thôi coi như chuyện cũ.

Còn T... nàng không được thanh lọc mà phải theo chồng, chồng rớt nàng rớt theo và đã hồi hương sau đó.

Cách đây mấy năm, nàng có gửi thư báo tin tôi là ông chồng đã chết trong một tai nạn. Tôi cũng có mấy đứa cháu rớt thanh lọc và hồi hương nên nàng có được địa chỉ của tôi. Nàng rất buồn và muốn được đi du lịch nước Úc để thăm tôi. Tôi giữ im lặng đến bây giờ và cũng chưa về Việt Nam lần nào.

Xin lỗi nghe T... không phải tôi bạc bẽo nhưng tôi làm được gì ngoài sự im lặng. Ba năm tôi ở tù, ba năm tôi bỏ nước ra đi, vợ tôi buồn và khổ nhiều hơn em nữa. So với hàng triệu người Việt Nam khác, ba chúng ta chẳng có nghĩa gì. Từ ngày 30 tháng 4, 1975 cuộc đời có thêm nhiều bi kịch, chúng ta vô tình đã thành diễn viên mà thôi.

Edited by user Thursday, April 23, 2015 1:37:53 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1912 Posted : Friday, April 24, 2015 2:21:39 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

Cụ bà VN 122 tuổi được công nhận lớn tuổi nhất thế giới


(VienDongDaily.Com - 23/04/2015)

Chồng của bà Nguyễn Thị Trù mất năm 1976, thọ 84 tuổi, lúc đó bà được 82 tuổi. Bà có 11 người con (ba nam, tám nữ) nhưng hiện nay chỉ có hai người con vẫn còn sống.


UserPostedImage

Bà Nguyễn Thị Trù trong hình mới chụp tuần này. (Vietkings).


SÀI GÒN - Hiệp Hội Kỷ Lục THế giới (World Records Association – WRA) trụ sở tại Hồng Kông đã chính thức công nhận cụ bà Nguyễn Thị Trù, 122 tuổi, hiện sống tại ấp 5, xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, là “Cụ bà lớn tuổi nhất đang sống trên thế giới.” Đó là theo tin từ Tổ Chức Kỷ Lục Việt Nam (Vietkings).

Cụ Trù sinh năm 1893, tức là cụ đã sống xuyên qua ba thế kỷ 19, 20 và 21.

Chồng của bà Nguyễn Thị Trù mất năm 1976, thọ 84 tuổi, (lúc đó bà được 82 tuổi). Bà có 11 người con (ba nam, tám nữ) nhưng hiện nay chỉ có hai người con vẫn còn sống. Theo bà Nguyễn Thị Đê, năm nay 82 tuổi là con gái thứ tám của cụ Trù, cụ có khoảng 20 người cháu nội ngoại, gần 20 người chắt và hơn 30 người chít.

Ông Lê Trần Trường An, phó chủ tịch thường trực Hội Kỷ Lục Gia Việt Nam kiêm tổng giám đốc Vietkings, cho biết cụ Nguyễn Thị Trù từng được Tổ Chức Kỷ Lục Việt Nam và Tổ Chức Kỷ Lục Châu Á xác nhận là “Cụ bà lớn tuổi nhất đang sống tại Việt Nam và Châu Á” vào tháng Tám năm 2014.

Sau đó, Vietkings đã lập ba bộ hồ sơ về cụ Trù đệ trình lên ba tổ chức gồm Tổ Chức Kỷ Lục Thế Giới (Guiness World Records, trụ sở tại Anh Quốc), Hiệp Hội Kỷ Lục Thế Giới (trụ sở tại Hồng Kông), và Liên Minh Kỷ lục Thế Giới (World Records Union, trụ sở tại Ấn Độ) để xin xác nhận cụ Nguyễn Thị Trù là cụ bà lớn tuổi nhất đang sống trên thế giới.

Do cụ Trù chỉ có giấy chứng minh nhân dân được cấp sau năm 1975, nên các tổ chức trên đã yêu cầu cung cấp bản sao chứng minh của những người con, cháu, chắt của bà để đối chiếu. Cụ bà Nguyễn Thị Trù hiện sống chung với người con dâu út là bà Nguyễn Thị Ba, 76 tuổi), tại địa chỉ trên ở Sài Gòn.


UserPostedImage


Dù cao tuổi nhưng cụ Trù vẫn mạnh khỏe và ăn uống bình thường.

Trong thời gian tới, vào khoảng tháng Sáu, đại diện của Hiệp Hội Kỷ Lục Thế Giới sẽ đến Việt Nam, để trực tiếp trao bằng xác lập kỷ lục thế giới cho cụ bà Nguyễn Thị Trù theo sự sắp xếp của Vietkings.

Trước đó, danh hiệu “Cụ bà cao tuổi nhất thế giới” thuộc về cụ bà Misao Okawa, 117 tuổi, người Nhật Bản. Bà cụ này vừa qua đời ngày 1 tháng Tư, 2015.

Vietkings cho biết sức khỏe cụ Trù khá tốt, trong suốt 122 năm qua cụ chưa bao giờ bị bệnh nặng phải nhập viện, hiện ngoại trừ trí nhớ cụ đã giảm sút nhiều còn thì sức khỏe cụ vẫn rất tốt.

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
CatLinh  
#1913 Posted : Sunday, April 26, 2015 10:26:53 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
Duy An on 4/30/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
phamlang  
#1914 Posted : Wednesday, April 29, 2015 6:08:38 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Se dây

Vào tù ta lại se dây
Se năm, se tháng, se ngày, se đêm
Ta se nỗi nhớ vào tim
Ta se căm hận vào thêm tháng ngày
Bao giờ thoát kiếp tù đày...
Se dây trói lũ độc tài trao dân.

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

Chí Hoà tháng 11 năm 2008

Edited by user Wednesday, April 29, 2015 6:09:30 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 2 users thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 4/30/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1915 Posted : Thursday, April 30, 2015 4:44:59 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Bao giờ Việt Nam hết bệnh?


Tuesday, April 28, 2015 4:33:23 PM

Nguyễn-Xuân Nghĩa

Việt Nam sẽ có tự do khi hết bệnh tâm thần phân liệt

Nhìn lại 40 năm sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, người ta có thể tự hỏi là đến bao giờ Việt Nam mới có tự do? Ðấy là câu hỏi chính đáng vì vào năm đó, nền tự do mong manh của phân nửa đất nước cũng cáo chung cùng chiến tranh.

Bài này sẽ nói về tương lai - ở sau lưng nước Việt. Và sẽ không thoa nước đường để ru ngủ.

Chân trời lý tưởng

Từ nhiều thế kỷ rồi, người ta đã luận giải về chữ “tự do.” Không định nghĩa nội hàm của tự do thì khó suy đoán ra diễn biến và thời điểm của việc đất nước Việt Nam sẽ có tự do. Vì vậy người viết xin đi từ một phương hướng khảo cập (approach) khác. May ra, khảo hướng này sẽ giúp ta tìm ra câu trả lời. Ðầu tiên, xin vẽ ra một “chân trời lý tưởng” cho đất nước để biết là mình muốn đi đâu.

Việt Nam cần một xã hội cởi mở về tư tưởng.

Cởi mở là khi người dân không bị chế độ cai trị áp đặt một thứ “chân lý độc quyền.” Ðộc quyền chân lý là khi có ai đó cho rằng mình duy nhất đúng và cấm xã hội nghĩ khác.

Nạn độc quyền chân lý là bước đầu của hệ thống toàn trị (totalitarian) vì tư tưởng chi phối mọi lãnh vực sinh hoạt của con người, từ tư duy đến hành động. Nếu kéo dài quá lâu, là hoàn cảnh của Việt Nam, nạn độc quyền chân lý làm thui chột sự sáng tạo, tiêu diệt khả năng suy nghĩ độc lập và làm mất cơ hội tìm ra giải pháp khác cho cuộc sống. Khi ấy, quyền tự do có thể là lang thang trong vô định.

Nếu ra khỏi nạn độc quyền chân lý do đảng và nhà nước đặt ra thì xã hội mới có thể tiếp nhận, thử nghiệm, đánh giá và áp dụng các tư tưởng khác để tìm ra giải pháp tốt đẹp - hoặc ít ra là ít tệ nhất. Cho nên, Việt Nam chỉ có tự do khi người dân có tự do về tư tưởng và chấp nhận sự suy nghĩ dị biệt.

Tai họa ngày nay có những nguyên nhân quá sâu xa khiến cho trong thế kỷ 20 dân ta không tìm ra giải pháp thỏa đáng cho hai nan đề lớn của quốc gia: không có độc lập và lụn bại dần khi so với các dân tộc khác. Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam mới lầm lạc ngả theo chủ nghĩa Cộng Sản.

Sau cuộc tương tàn trong một trận chiến dài nhất thế kỷ 20 với quá nhiều tổn thất, dân ta đi vào thế kỷ 21 mà vẫn không có độc lập và chẳng có cơ hội canh tân đất nước để theo kịp đà tiến hóa của các dân tộc khác.

Nạn độc quyền chân lý kéo dài còn khiến đa số người dân không ý thức được rằng quốc gia đang tụt hậu so với các nước khác trên thế giới. Nhìn vào sự lạc quan vênh váo của những kẻ tương đối có học nhất, ta phải thấy ra điều ấy. Tình trạng mất ý thức tụt hậu cũng là một cản trở lớn.

Thứ hai, từ quyền tự do tư tưởng, hãy bước tới cách tổ chức xã hội.

Trong các giải pháp cho tương lai, nguyên tắc dân chủ về chính trị không là lý tưởng mà chỉ là phương thức tổ chức sinh hoạt ít tệ hại nhất. Con người ta không thể có phương thức chính trị toàn hảo khả dĩ giải quyết được mọi vấn đề, cho nên mới phải chọn lựa và dung hòa. Xã hội cởi mở và chấp nhận dị biệt sẽ tạo điều kiện cho việc tìm kiếm và áp dụng giải pháp tối hảo mà không toàn hảo. Bảo rằng nếu có dân chủ nước ta sẽ khá là một sự hiểu lầm hay lừa mị, vì dân chủ không thể là mục tiêu mà chỉ là một cứu cánh.

Nhưng cứu cánh đó, nguyên tắc dân chủ, là cái gì - Dân chủ là sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật.

Xã hội cởi mở về tư tưởng và bình đẳng về quyền lực là điều kiện tiên quyết cho dân chủ. Pháp luật đó là do người dân làm ra và liên tục cải tiến qua người đại diện của mình. Người đại diện cho dân để thiết lập hệ thống pháp quyền áp dụng đồng đều cho cả nước chỉ là lãnh đạo nhất thời. Họ được người dân chọn lựa, truất phế hay/và thay thế.

Khi có xã hội cởi mở và chính trị dân chủ, người Việt sẽ tìm ra giải pháp thỏa đáng, không tất nhiên là lý tưởng, để vượt qua những thách đố bao giờ cũng có mà lại thường xuyên đổi thay.

Cho nên, cái chân trời lý tưởng của chúng ta khởi đi từ một thực tế không lý tưởng: con người không có giải pháp toàn hảo mà phải tìm kiếm, thử nghiệm và cải sửa. Ai nói rằng ta có giải pháp thần diệu, luôn luôn đúng và không thể phê bình hay cải tiến, người ấy có tinh thần độc quyền chân lý, tức là độc tài.

Sau khi phác họa ra cái hướng mình muốn đi, ta hãy trở về thực tế. Thực tế ấy là một trường hợp bệnh lý. Là bệnh tâm thần phân liệt.


Tâm thần phân liệt

Việt Nam bị bệnh mãn tính và nguy kịch mà không biết.

Y khoa có chỉ ra đôi điều về bệnh tâm thần phân liệt, hay “schizophrenia,” còn được gọi là phân tâm loạn trí. Bệnh nhân có nhận thức lệch lạc về thực tại, sống tách rời khỏi thực tế, lấy ảo giác làm sự thật và tin vào nhiều mâu thuẫn, vì thế lại có phản ứng thất thường và nguy hại cho bản thân - mà vẫn không hay.

Xin hãy từ những hiểu biết phổ quát về khoa thần kinh tâm lý mà áp dụng vào trường hợp xã hội Việt Nam.

Chúng ta hãnh diện là người Việt Nam, tin vào “bản sắc dân tộc” vậy mà chẳng định nghĩa được bản sắc đó là gì. Một cách lờ mờ thì lại mượn nhiều nét văn hóa của Trung Hoa về làm “quốc giáo,” là niềm tin cao nhất, ngang hàng tín ngưỡng. Ðấy là một hiện tượng độc quyền chân lý “bất khả tư nghị,” không thể bàn cãi, từ tư tưởng đến tổ chức giáo dục và chính trị.

Qua nhiều thế kỷ, chúng ta sống trong trạng thái bối rối ấy, đến khi gặp thách đố - bị vài xứ Âu Châu vào dạy ta về một chân lý khác - thì không đối phó được sau một phần tư thế kỷ đấu tranh, từ 1859 đến 1883. Vì lui về bản sắc thì bất lực nên nhiều người ra ngoài tìm khí giới mới về tư tưởng và học thuật để giải quyết vấn nạn.

Khi ấy, dân ta bị thêm một tai họa nữa là nạn độc quyền chân lý của Cộng Sản.

***

Trong cả trăm năm, từ khi bị Pháp tấn công, xâm chiếm và cai trị, nhiều thế hệ của dân ta cùng theo đuổi hai mục tiêu song hành mà dính liền như hai mặt của một đồng tiền, là độc lập chính trị và canh tân xã hội. Vì xã hội không được canh tân nên mới mất chủ quyền và vì quốc gia không có độc lập nên không thể canh tân theo cái hướng có lợi cho đất nước.

Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều nhà cách mạng đã chấp nhận tinh thần cởi mở, cùng hợp tác mà tương dung sự khác biệt chứ không coi nhau là kẻ thù. Ðiển hình là phải có độc lập rồi mới canh tân được như theo Phan Bội Châu. Hoặc ngược lại, phải duy tân thì mới giành lại được độc lập, là lý luận của Phan Chu Trinh. Người Cộng Sản xuất hiện thì đòi làm cả hai. Nhưng trước hết là tiêu diệt bất cứ những ai nghĩ khác, ở trong đảng và trong nước.

Rồi họ chọn giải pháp tệ hại nhất cho dân tộc. Ðó là “quốc tế giáo” của ngoại bang.

Cho nên khi các nước thuộc địa Ðông Á đều giành được độc lập thì Việt Nam vẫn bị nạn đao binh tương tàn, cho quyền lợi ngoại bang, không là Liên Bang Xô Viết lại là Trung Cộng. Ðấy là trường hợp bệnh lý tâm thần từ đầu não khi tưởng mình là cái này mà lại làm điều kia!

Xin nhắc lại, con bệnh phân liệt tâm thần ưa có hành vi trái ngược mà bao giờ cũng cho là đúng.

Trong chế độ toàn trị thì cả nước mắc bệnh vì phải tin và nói rằng đảng đi đúng hướng dù đi ngược với những gì người dân đang thấy ở ngoài đời. Ðảng dối trá làm người dân cũng dối trá và cùng gọi đó là “đạo đức cách mạng” với hai ý trái ngược!

Tình trạng phân tâm, sống trong hai trạng thái trái ngược, nổi bật ở hai khía cạnh “xóa” và “xây.”

Từ lý luận, chủ nghĩa Cộng Sản không thể định nghĩa “xây dựng xã hội chủ nghĩa” là gì. Nhưng người Cộng Sản lại được dạy là muốn xây dựng cái mới thì phải xóa bỏ cái cũ qua tiến trình “cải tạo.” Sự phân liệt tư duy ấy mới dẫn đến một nghịch lý kinh hãi trong mọi chế độ Cộng Sản.

Khi đảng nói “xây dựng” thì đấy là lúc ra tay tàn phá - mà thế giới và nhất là người Mỹ lại không hiểu. Khi kinh tế suy sụp thì đảng phải sửa sai, không để xây dựng mà để tìm phương tiện bảo vệ chế độ. Vì vậy, thành phần bảo vệ chế độ là công an, vốn có nhiều thông tin nhất về sự lụn bại ở dưới, đều có vẻ thực tiễn hơn thành phần lý luận đầy ảo giá cỡ trên, nên càng dễ lừa được thế giới.

Nhưng bao giờ việc xóa bỏ cũng dễ hơn xây dựng nên tiến trình cải tạo tại Việt Nam là sự xóa bỏ triệt để, làm kinh tế kiệt quệ, xã hội khủng hoảng và quốc gia lại trôi vào một tranh chấp nữa, giữa hai nước lãnh đạo Cộng Sản, giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Nói về tranh chấp là nhìn ra một sự phân liệt hai mặt khác.

Ban đầu, người Cộng Sản tranh đấu cho Quốc Tế Cộng Sản của Liên Xô mà gọi đó là đấu tranh vì độc lập dân tộc, bên trong là thanh trừng nội bộ cho độc quyền chân lý. Giữa cuộc chiến ngụy danh độc lập, lãnh đạo đảng lại chống Liên Xô vì chủ trương “xét lại” của Moscow, đòi tiến hành cải tạo theo kiểu Mao Trạch Ðông và sát hại bằng vu cáo tội chống đảng bất cứ ai không đồng ý với chủ trương ấy.

Sau đó, người dân miền Bắc là công cụ của đảng và đảng là công cụ của hai cường quốc Cộng Sản để thúc đẩy chiến tranh trên cả nước. Rồi khi đã thắng miền Nam thì vừa cải tạo làm cho cả nước tan hoang lại vừa lao vào một cuộc chiến khác tại Cam Bốt khiến Trung Quốc càng có lý cớ xâm lược. Khi Liên Xô tan rã thì từ năm 1991, đảng lại tìm chỗ tựa ở Bắc Kinh mà hy sinh cả độc lập.

Ðã vậy, bệnh phân liệt tâm thần mãn tính trở thành nguy kịch với tiến trình “đổi mới.”

***

Vì duy ý chí, giỏi xóa hơn xây mà chẳng biết xây cái gì thì đúng, sau 1975 đảng làm xứ sở kiệt quệ, lại còn phao phí tài nguyên cho 10 năm chiếm đóng Cam Bốt. Khi chế độ khủng hoảng thì đảng biết mình sai mà chẳng biết thế nào là đúng.

Ðại hội VI vào cuối năm 1986 mở ra năm năm “đổi mới” (Kế hoạch Năm năm 1986-1990) mà chủ yếu chỉ là nới lỏng bàn tay kiểm soát và bóc lột để dân chúng ở dưới có một chút tự do về kinh tế hầu nhà nước còn có thể trưng thu. Nội dung vẫn chỉ là một tập hợp của nhiều khẩu hiệu không thực chất. Nhưng về lý luận thì vẫn là hiện tượng tâm thần phân liệt - vì đảng vẫn có lý.

Ðấy là lúc xã hội có một chút thay đổi từ dưới lên, gần như tự phát.

Khi các nước Ðông Âu vùng dậy và Liên Xô tan rã (1989-1991) thì đảng ôm lấy Trung Quốc từ mật nghị tại Thành Ðô của tỉnh Tứ Xuyên: tiến hành đổi mới có bài bản hơn, từ trên xuống. Và lại tiếp tục bệnh phân liệt thần kinh.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã phá sản và kinh tế thị trường mới là giải pháp phổ quát cho toàn cầu. Ðảng phải áp dụng giải pháp đó - mặc nhiên công nhận sự bất lực của xã hội chủ nghĩa - nhưng lại dùng kinh tế thị trường để... xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bệnh tâm thần được che giấu dưới khẩu hiệu “kinh tế thị trường theo định hướng nhà nước” rồi “định hướng xã hội chủ nghĩa” mà chẳng ai biết được hoặc nói ra định hướng đó là gì.

Họ không thể nói ra vì định hướng thật chỉ là theo Trung Quốc để bảo vệ quyền lực đảng - và quyền lợi đảng viên. Nghĩa là con bệnh tiếp tục có hành vi đi trái lời nói. Lại còn bắt cả nước phải theo cái chân lý quái đản ấy và đàn áp những ai nghĩ khác, nói khác.

Nhìn như vậy thì hiện tượng tâm thần phân liệt đã có từ đầu nguồn, gần một thế kỷ trước, khi đảng Cộng Sản được thành lập dưới nhiều tên gọi khác nhau, cho những mục tiêu trái ngược với tôn chỉ. Rồi đảng tiếp tục qua thời chiến đến thời bình với hai diện phân thân đã thành truyền thống, nói một đàng làm một nẻo.

Kết cục thì tương lai của đảng cũng là một sự phân tâm loạn trí - mà họ cho là rất sáng.

Các đảng viên chỉ có thể thăng quan tiến chức nhờ cái tài rất gần với bệnh lý học. Khi họ lên tới đỉnh thì đóng gông cả nước vào cái khung “bốn tốt - 16 chữ vàng” của Bắc Kinh để nắm giữ quyền lực, mà tích cực trưng thu và rút ruột cả nước để chiếm đoạt tài sản - rồi tẩu tán ra ngoài

Bệnh phân liệt tâm thần này dẫn đến một tình trạng phân công lao động bi hài.

Bắc Kinh bảo vệ và răn đe chế độ tại Hà Nội, đảng bảo vệ quyền cướp nước của Bắc Kinh. Trung Quốc có cướp phá - cướp ở ngoài và phá ở trong - Việt Nam vẫn nín thinh. Còn đảng viên thì có sẵn tài sản và bãi đáp ở nước ngoài cho con cái, để khi ra ngoài thì chúng cũng ăn nói hỗn hào và phét lác như cha mẹ. Ðược cái là có tiền.

Bệnh tâm thần phân liệt không là một chứng tật truyền nhiễm, hay lây, mà là một bệnh từ trên truyền xuống. Truyền đây là tuyên truyền, là mệnh lệnh.

***

Y khoa có thể nói đến hiện tượng di truyền di chủng, khoa học xã hội chỉ ra một hiện tượng khác: di truyền chính trị xuất phát từ ách độc tài.

Chúng ta đừng tự ái. Một dân tộc văn minh như người Ðức vẫn có thể chấp hành chủ nghĩa Ðức quốc xã và có hành động diệt chủng. Người Nga có văn hóa vẫn có thể vì chủ nghĩa cộng sản mà tiêu diệt văn hóa của mình. Họ sống trong tình trạng phân liệt, làm trái với bản năng hay thiên lương mà vẫn nghĩ rằng đúng.

Việt Nam cũng không khác.

Trong cái thế phân công của cõi phân tâm toàn quốc, người dân vẫn phải tin, nghĩ và ít ra nói là ta đã có tự do hơn trước, trong một nước độc lập mà chẳng có chủ quyền và quyền dân lại càng không có vì chưa từng có. Nhưng mọi người vẫn cứ làm như thật và linh động thỏa hiệp với thực tế quái đản mà đau lòng để giành được một chút quyền lợi cho bản thân và gia đình. Nếu họ thành công trong màn kịch đó thì còn có hy vọng cho con cái đi học ở bên ngoài để có một tương lai khá hơn quá khứ của họ.

Quyền tự do có hạn chế chỉ làm nảy sinh phản ứng tiêu cực - là tự do làm bậy. Xóa dễ hơn xây vốn là quy luật tự nhiên. Vì vậy, người thành công về tiền tài lẫn tinh thần trong bệnh xá mênh mông này chỉ là thiểu số.

Ða số thì sống trong xã hội băng hoại luân lý, đạo đức và kỷ cương. Ðiều ấy cũng hợp quy luật vì chế độ độc tài chỉ có thể tồn tại nhờ cái xấu ở bên dưới. Công an chỉ khác với đầu gấu ở bộ đồng phục trong một xã hội đen đang tràn ra ngoài và hòa vào màu đỏ của đảng. Mọi người đều than, rồi im.

Hóa ra người dân cũng mắc bệnh tâm thần phân liệt mà chẳng biết. Thậm chí còn nghĩ rằng đấy là lẽ sinh tồn của kẻ khôn ngoan biết giữ im lặng để tránh hủi!

May là một số người đã can đảm nhìn lại, nói ra và viết xuống về những gì xảy ra từ thời 1945. Họ nối nhịp cầu với người Việt ở hải ngoại và nhờ đó tác động ngược vào trong nước qua phương tiện truyền thông để cảnh tỉnh đồng bào. Nhưng vẫn còn bức tường trùng điệp của hệ thống chân lý nhà nước. Và cả sự thờ ơ của những người mắc bệnh.

Tương lai rồi sẽ ra sao?

***

Từ 1975 đến nay, hai thế hệ đã xuất hiện tại Việt Nam và có chung một điểm: biết rất ít về quá khứ thật vì lịch sử đã bị xóa bỏ. “Chúng ta không có lịch sử” là lời than của một trí thức tiến bộ ở trong nước. Nghĩa là nhận thức về lịch sử của lớp trẻ được “cải tạo” ngay từ sách báo và giáo trình, chỉ tập trung vào công lao của đảng. Lớp trẻ được đi học cũng chẳng nhớ gì về 10 năm khủng hoảng của “xây dựng chủ nghĩa xã hội” sau 1975, và lý do tại sao. Nhưng họ rất mừng là nước nhà đã “đổi mới,” còn coi đó là một sự sáng tạo của đảng.

Một triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt là nhận thức lệch lạc về thực tế. Ðảng đã cấy bệnh đó vào trí não của giới trẻ.

Về chuyên môn thì Việt Nam đào tạo ra một thế hệ trẻ có hiểu biết hơn cái thời cha ông phải học lý luận Mác-Lenin. Họ đang có cơ hội làm việc với đồng lương khá hơn cha mẹ thời xưa, nhưng với đa số, ý thức chính trị thì viển vông nông cạn. Lỗi không tại họ vì các em cũng mắc bệnh tâm thần phân liệt - mà không biết.

Chúng ta có một lớp trẻ thành thị biết rất rõ về mọi trào lưu hưởng thụ của thế giới, thậm chí tôn sùng các thần tượng âm nhạc hay phim ảnh Hàn quốc, Mỹ quốc, mà không biết gì về sự thật lầm than ngay trong xã hội. Không ít người chỉ mong được xuất ngoại đi học, và trăm người đi được thì có bao nhiêu người trở về để sẽ thành rường cột cho đất nước trong thập niên tới? Rất ít.

Một thiểu số ưu tú hơn cả đã hiểu ra điều ấy nên từ bỏ sự an toàn và tính giả dối.

Họ tranh đấu cho quyền làm chủ thật sự của mọi người và xuống đường lên tiếng khi chủ quyền quốc gia bị Trung Quốc xâm phạm. Họ bị chế độ đàn áp, cầm tù bằng thủ đoạn bẩn thỉu. Nhưng chuyện ấy lại xảy ra trong sự thờ ơ không biết hoặc không cần biết của người đồng tuổi.

Các thế hệ đi trước thì đã cúi đầu rồi. Duy nhất có khả năng thay đổi là lớp trẻ về sau. Việt Nam chỉ có tương lai là ở thành phần này. Nhưng họ chỉ có tương lai khi ý thức được hiện tượng tâm thần phân liệt ngay trong trí não của mình. Cho nên câu trả lời cho ước vọng bao giờ ta có tự do là một sự dè dặt.

Bao giờ các em ra khỏi ảo giác và nhìn vào những người đang hy sinh trong lao tù vì tự do cho các em?
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1916 Posted : Thursday, April 30, 2015 5:50:29 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

Tản mạn tháng tư: về đâu tương lai nước Việt?


UserPostedImage


Lê Hiếu Thuận

Thắm thoát mà đã bốn mươi năm từ ngày cộng sản Bắc việt cưỡng chiếm miền Nam Việt nam. Mỗi năm đến ngày này nhiều người trong chúng ta bàn thảo, viết bài, làm lễ tưởng niệm, hầu như ai cũng ráng làm một điều gì đó để không quên ngày đau buồn và giữ vững niềm hy vọng một mai không xa, chúng ta sẽ về khôi phục lại quê hương! Cho rằng đây là điều tất yếu, chỉ còn tính thời gian, người viết muốn nghĩ xa một chút. Nếu bất ngờ, một sáng thức dậy cộng sản sụp đổ, rồi thì sao, chúng ta muốn vậy, nhưng thực sự có sẵn sàng hay không? Như tiếng Anh có câu “what now?” khi một sự mong đợi lại đến bất ngờ ngoài sự dự đoán chuẩn bị. Bài này chỉ mạo muội trình bày suy nghĩ của người viết, một công dân tầm thường nước Việt, về những thử thách lớn lao chờ đón nếu niềm hy vọng đó trở thành sự thật. Người viết thật không dám “múa rìu qua mắt thợ” về một đề tài quá lớn này, chỉ đơn thuần ghi xuống những điều mà ai có chút suy tư về đất nước hẳn đã biết.

Người xưa thường nói thiên thời, địa lợi, nhân hòa là những yếu tố đưa đến thành công cho một công việc, sự nghiệp, hay một đất nước. Nói về thiên thời, CSBV dù phi nghĩa, nhưng dường như có nhiều. Thập niên 60 và đầu 70, kỹ nghệ truyền thông còn thô sơ, thế giới Tây phương không có cơ hội đăng cập và kiểm định thông tin như hiện nay, nên chỉ dựa vào tin tức một chiều có lợi cho cộng sản. Vào thời gian đó, thân cộng lại rất thời thượng. Phong trào phản chiến ở Mỹ và Âu châu là điều thật đáng phỉ nhổ và bất hạnh cho Việt nam. Người Tây phương chỉ tin vào điều gì có bằng chứng, họ không tin vào kinh nghiệm cộng sản của chúng ta; nhưng làm sao họ tìm ra bằng chứng thật của cộng sản? Họ tin vào những dàn dựng giả dối của cộng sản vì họ cho rằng ai cũng thành thật như họ. Việc Jane Fonda đến Hà nội và chụp hình với lính phòng không Bắc việt đang nhắm bắn máy bay Mỹ là một hành động ngu xuẫn mà đến nay không biết bà ấy có nhận ra. (Hội Cựu chiến binh Mỹ đã và sẽ không bao giờ quên điều này). Ngay cả lúc sau khi hiệp định Paris được ký kết để bỏ rơi miền Nam, sinh viên VNCH ở Paris biểu tình kêu gọi thế giới thức tỉnh lại sự thờ ơ mê muội ủng hộ cộng sản của họ nhưng không có một sự đoái hoài. Đảng cộng sản Pháp lúc đó rất mạnh. Nếu người viết không lầm thì biến cố 30 tháng tư là lần sau cùng của lịch sử cận đại mà một quốc gia có thể chiếm đoạt một quốc gia khác bằng vũ lực một cách hợp lệ với công ước quốc tế! (CSBV đã xảo quyệt dùng con bài Mặt trận Giải phóng làm bình phong, nên việc chiếm đoạt miền Nam chỉ như là cuộc lật đổ chính quyền trong nội bộ Việt nam, mặc dù ai cũng biết sự chỉ đạo của CSBV). Thế giới mê muội với chủ nghĩa cộng sản đến mức tột cùng khi chỉ ít lâu sau, nước Việt nam cộng sản mới thành hình được Liên hiệp quốc chính thức công nhận! Mấy chục năm qua đi, đến nay chiến tranh vũ trang không còn thích hợp nữa.

Lúc trước thế giới vỗ tay mừng cộng sản chiến thắng bằng vũ lực thì nay lại phản đối bất kỳ một hành động chiến tranh nào dù có hợp lý. Con đường cứu nước bằng quân sự kể như chấm dứt, chỉ còn giải pháp chính trị. Ai cũng nói về sự giải thể cộng sản một cách không bạo lực, như tấm gương ở Đông Âu, hay gần đây là cách mạng hoa lài lật đổ độc tài ở Bắc Phi. Thành công hay không bây giờ lệ thuộc vào thời điểm đúng và thái độ ủng hộ của thế giới. Thời buổi toàn cầu hóa “lợi bất cập hại” chuyện gì cũng rùm beng, ngay cả sự kiện không giá trị cũng có thể giành sự chú ý tùy theo tâm trạng con người và mức độ thổi phồng của giới truyền thông. Mỗi ngày mở TV hay vào internet, bạn thấy bao nhiêu tin, tin hay cũng có mà tin vịt cũng nhiều. Thí dụ sự kiện ở Ukraine, rất nghiêm trọng (và họ có may mắn được nhiều hậu thuẫn từ phương Tây), vậy mà người ta vẫn bàng quang, lo lắng về Ebola hơn. Tương tự là cuộc biểu tình của sinh viên ở Hong Kong, rồi cũng chìm vào quên lãng. Thật là đáng buồn, nên nhớ đây là cuộc nổi dậy có tổ chức, của thành phần trí thức cao và số lượng rất đông đảo. Họ đã không làm nên được một Thiên an môn thứ hai, cộng sản Trung quốc rất xảo quyệt đã học từ kinh nghiệm xưa và chắc chắn không thể nào để xảy ra. Ở Việt nam, làm sao có một cuộc nổi dậy tương tự? Những cuộc biểu tình chống Trung quốc rất nhỏ, chỉ cỡ một phần trăm ở Ukraine hay Hong Kong mà còn bị giập tắt, làm sao kỳ vọng một sự kiện to lớn hơn? Nhiều khi tôi nghĩ, chỉ cần một giây phút nào đó, toàn thể 85 triệu người Việt, (tôi không kể 5 triệu đảng viên, công an v.v…) ngưng tính vô cảm, bỏ hết mọi việc, tràn hết ra đường chống lại nhà cầm quyền, lúc đó họa may ta có cơ hội, nhưng ai sẽ khởi động được điều đó? Nếu như hơn 50 năm trước sự tự thiêu của Hòa thượng Thích quảng Đức gây tiếng vang ảnh hưởng bất lợi cho VNCH thì ngày nay một nữ phật tử tự thiêu tại Sài gòn phản đối Trung Cộng xâm lược thì không gây được một tiếng vang nào. Thế giới một phần “mệt mỏi” nhưng nhiều phần họ chọn lựa điều họ thích chú ý! Nên nhớ là sự uất hận và tự thiêu của một thanh niên ở Ai Cập đã gây nên phong trào nổi dậy. Cùng một sự hy sinh mà sự ảnh hưởng quá khác biệt! Một điều thiếu thiên thời và bất lợi cho chúng ta là sự biến hóa vạn trạng của thế giới cộng sản. Ai cũng biết Bắc Hàn là trường hợp quá ngoại lệ, giống như là trò cười thiên hạ. Cuba thì là thiên đường du lịch. Trung quốc thì quá xảo quyệt. Thế giới không cần biết đây là nước cộng sản, họ chỉ cần biết đây là một đất nước sản xuất tất cả hàng hóa tiêu thụ toàn cầu. Thế giới Tây phương nông cạn lại nghĩ rằng cộng sản cũng được, hãy dĩ hòa di quý, vì lợi nhuận trước tiên. Thật ra thì đại tư bản có lợi chớ dân lành thì không. Trung quốc lại dùng sức mạnh kinh tế (xuất cảng) để ngông nghênh tự đắc, mai này sẽ vượt Mỹ. Chúng dùng tiền rải ra khắp mọi nơi, “tiền là sức mạnh”. Thế giới Tây phương hay thích kiểu cách, họ lý luận rằng phải “hợp tác để thay đổi”, không nên biệt lập như xưa. Bắc Kinh giành quyền tổ chức thế vận hội mùa hè 2008, Nga tổ chức thế vận hội mùa đông 2014 và giải túc cầu thế giới 2018 cũng nằm trong lý luận nầy. Nói tóm lại, chúng ta không có nhiều hy vọng lật đổ những chính quyền cộng sản còn lại trên thế giới vì chúng đã thay hinh đổi dạng và gắn chặt quyền lợi kinh tế với thế giới, nhất là phương Tây. Họ sẽ không ủng hộ bất kỳ một thay đổi nào làm ảnh hưởng sự sống còn kinh tế.

Nói về địa lợi, vị trí địa lý của Việt nam khá đặc biệt như chúng ta đã biết. Từ nhỏ ai cũng được học nước ta là một hành lang nhìn ra biển Đông, nghe rất nên thơ nhưng thực tế lại khác hẳn. Bản đồ đất nước nhìn riêng thì rất đẹp, nhưng ở vị trí mà thuận tiện và khó khăn như con dao hai lưỡi. Thế lực nào muốn xâm nhập vùng Đông nam Á từ biển đều sẽ đi ngang nước ta. Việt nam che Lào và Cam bốt nằm phía trong, cả hai đều không phải là bạn tốt từ lịch sử tranh chấp ngàn năm. Chính CSBV đã lợi dụng sự giáp ranh này với địa hình hiểm trở hoang vắng không thể kiểm soát để chuyển vận binh lính và tiếp vận trong việc tấn công VNCH. Hướng bắc, trước là CSBV nay là Trung quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Một điều tôi nghĩ chắc chắn nhiều người chúng ta đồng ý: không ai giáp ranh với Trung cộng mà được yên ổn. Chắc ai cũng thấy Nam Hàn, dù phải đối phó với Bắc Hàn, nhưng đó cũng chính là trái độn cần thiết để xa khỏi Trung cộng? Nếu không có điều kiện này, liệu Nam Hàn có cơ hội phát triển cực thịnh như hôm nay? Họ chỉ giáp ranh với Bắc Hàn còn lại là biển xung quanh. Nhật Bản, một đại cường trong vùng, cũng là hòn đảo hoàn toàn cách biệt. Bình thường một quốc gia duyên hải thường có truyền thống hàng hải hùng mạnh từ ngàn xưa để xây dựng và bảo vệ đất nước. Xa như Anh quốc hay các nước Bắc Âu nổi tiếng về ngư thuyền hay “Viking”, gần thì như Nam Hàn, Nhật Bản hay Thái Lan, Mã Lai… có sức mạnh về ngư nghiệp và hàng hải. Nước ta từ lâu nay thiếu khả năng này. Ngày xa xưa chúng ta có những trận thủy chiến nhớ đời. Lịch sử cận đại thời VNCH thì phải lo chống trả cộng sản xâm lược, không có cơ hội và điều kiện, “lực bất tòng tâm”. Thời nay thì bao nhiêu ngân sách to lớn mất sạch vào những vụ tham nhũng kinh khủng như Vinashin. Giả như tiền tỷ Mỹ kim phung phí mà đầu tư vào hải quân thì cũng sẽ khá hơn được chút đỉnh. (Nhưng CSBV đâu cần bảo vệ đất nước). Với tình cảnh hiện tại, ở cạnh Trung quốc là một đại nạn cho dân tộc Việt. Bạn cứ thử nghĩ, việc gì sẽ xảy ra nếu CSVN sụp đổ mà Trung cộng còn hùng mạnh? Liệu ta có đủ khả năng ngay lập tức chống lại chúng hay không? Câu trả lời đáng buồn là không. Bởi vậy nên cộng sản bán nước cho Tàu để tồn tại. Chúng bán đất và biển, cho dân man rợ sống bất hợp pháp và phá hoại luật pháp. Bọn tình báo và quân đội trá hình công nhân trà trộn lâu ngày, đồng hóa dân ta. Chúng dây mơ rễ má, kết hôn người bản xứ để hợp thức hóa (thứ đàn ông hạ đẳng lấy đâu ra vợ ở xứ trai thừa gái thiếu?) Không đời nào bọn Trung cộng xảo trá và độc ác sẽ để yên cho chúng ta nếu CSVN sụp đổ. Cơ may cho nước ta chỉ có khi nào chính Trung cộng cũng thay đổi mà thôi. Bằng không, nếu chúng cài người vào nước ta lâu ngày, sau này sẽ dùng chiêu bài như Nga đã dùng dân Nga sống ở Ukraine nổi lên để chiếm đất.

Yếu tố nhân hòa thường là quyết định vì nếu có đủ, sẽ có khả năng hóa giải được sự thiếu hụt của thiên thời và địa lợi. Như đã nói ở trên, thật đáng tiếc khi vô cảm đã trở thành một vấn nạn, và cộng sản ngồi rung đùi đắc ý. Khi dân càng vô cảm, chúng càng dễ tiếp tục cai trị với ít phiền toái vì dân không còn tha thiết chống lại chúng nữa. Có quan niệm cho rằng trước đây cộng sản kiểm soát “bao tử” của dân, khi đói dân chỉ lo kiếm ăn, không còn sức chống đối. Bây giờ cởi mở chút ít, dân không còn đói ăn như thời bao cấp và học hỏi tin tức bên ngoài thì bắt đầu khuấy động. Điều này đúng một phần. Thật sự khi vật chất đầy đủ hơn, con người lại có thể trở thành ỷ lại và vì sợ mất quyền lợi đang có, sẽ mất luôn khả năng phản kháng. Một điều nữa mà người viết lo lắng nhiều nhất là thời gian sẽ làm nhạt nhòa đi quá khứ, những niềm đau, những tội lỗi, những điều vướng mắc lịch sử. Công thành tội, tội thành công, lập lờ đánh lận con đen là sở trường của cộng sản. 40 năm không dài với lịch sử, nhưng quá dài với một đời người. Cộng sản chỉ chờ không bao lâu khi thế hệ trải qua kinh nghiệm sống với chúng lần lượt ra đi, thế hệ kế tiếp không thể nào hiểu được cộng sản, là chúng lại thành công một lần nữa. Người viết có một đứa em họ sinh ra đúng vào năm 1975. Dù có nhận thức đúng đắn, em vẫn hỏi các bậc đàn anh “tại sao và bao lâu nữa chúng ta phải căm thù cộng sản?” Em đã bị thiệt thòi lớn lên trong chế độ cộng sản nhưng còn quá nhỏ để hiểu thì đã rời khỏi nước. Còn thế hệ tuổi trẻ sinh ra và lớn lên trong nước thì làm sao ta có thể đòi hỏi các em hiểu được? Nói đến đây tôi xin mở ngoặc về những trường hợp đáng khâm phục của tuổi trẻ, rất trẻ, các em trong nước đã đứng lên chống lại bạo quyền khi bản thân không có một tấc sắt trong tay (Đinh Nguyên Kha, Nhạc sĩ Nguyên Khang v.v…).

Chúng ta ở hải ngoại quan tâm tình hình đất nước về đại họa cộng sản và giữ vững thành trì chống cộng là một điều thật đáng quý. Nhưng thành thật mà nói, điều này không chiếm đa số khi rất nhiều người trong chúng ta đã bắt đầu thờ ơ và có tâm trạng bỏ qua. Chúng ta không muốn hy sinh quyền lợi riêng cho công cuộc đấu tranh chung. Những chuyện nhỏ như du lịch hay làm ăn buôn bán với Việt cộng, hay gửi tiền rất nhiều để gia đình vẻ vang, đều giúp cộng sản tồn tại và tiếp tục hủy hoại đất nước. Một thiểu số đại tư bản Việt kiều thản nhiên coi việc hợp tác với cộng sản là điều bình thường, bán linh hồn cho quỷ sứ. Ví dụ điển hình như con trai một Việt kiều tư bản làm con rể thủ tướng CSVN. Tất cả đều xoay quanh quyền lực và tài chính. Chính nghĩa và lẽ phải mà không có sức mạnh tài chính thì cũng gian nan. Sau khi lật đổ chế độ độc tài thân Nga, vị tổng thống mới của Ukraine là một nhà tỷ phú! Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp tổng thống “chân đất” như đương kiêm tổng thống Nam Dương hay cựu tổng thống Ba Tây, và hy vọng sẽ có một anh hùng chưa xuất hiện cho Việt nam. Một lãnh đạo tài ba là yếu tố nhân hòa to lớn nhất của quốc gia. Lấy thí dụ Singapore, từ một làng chài nghèo nàn trên một hòn đảo nhỏ, không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nhờ sự lãnh đạo tài ba của Lý Quang Diệu mà trở thành một cường quốc tài chính!

Nhiều khi tôi băn khoăn, ai sẽ là người có đủ tư cách để lãnh đạo một nước Việt nam non trẻ, hậu cộng sản, có rất nhiều tiềm năng nhưng quá nhiều trở ngại thử thách? Có một điều ai đó đã nêu ra và có vẻ hợp lý là người lãnh đạo mới của một Việt nam sau cộng sản phải xuất thân từ trong nước, không thể nào từ nước ngoài trở về được. Điều này lại dẫn đến những thử thách lớn lao khác. Liệu vị lãnh đạo này có thể: một là thống lĩnh được hệ thống quan quyền hủ lại trong nước vẫn còn bám chặt lý thuyết lỗi thời cộng sản để có đặc quyền đặc lợi; hai là vận động được sự ủng hộ của thế giới và nhất là của cộng đồng Việt nam hải ngoại? Việc thiếu đoàn kết trong cộng đồng người Việt hải ngoại là điều đáng buồn. Qua phương tiện truyền thông chúng ta rất hãnh diện khi biết có rất nhiều nhân tài trong cộng đồng. Nhưng bên cạnh đó, vì nhiều lý do, không phải ai cũng xuất hiện hay tham gia với cộng đồng. Nhiều khi, vài trường hợp đáng buồn một số cá nhân còn từ chối sự liên hệ với cộng đồng. Biết làm sao khi cái tên rõ ràng là tên Việt, nhưng chỉ là cái tên mà thôi. Một nước Việt nam hậu cộng sản sẽ rất cần sự giúp đỡ của những nhà chuyên gia như vậy. Công bằng mà nói, ai cũng muốn đóng góp, nhưng nhiệt tình mà không đủ kiến thức thì có thể làm hư việc. Một ví dụ nhỏ như việc các bác sĩ có tiếng người Ukraine ở Canada vận động cứu trợ y tế sau cơn binh biến. Họ làm được hiệu quả vì bản thân họ có uy tín, tiếng nói họ có sức thuyết phục. Liệu những đồng sự người Việt của chúng ta (người viết có biết một số) sẽ đứng ra làm việc tương tự khi cần? (thôi thì chúng ta rất mong như vậy).

Chủ nghĩa cộng sản đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân và một phần sự “nhẹ dạ” thiếu hiểu biết của đại đa số quần chúng trong hoàn cảnh nước Việt vừa qua đô hộ của Pháp và sự cai trị bạc nhược bảo thủ của nhiều đời vua Nguyễn. Đành rằng có rất nhiều trí thức thân cộng nhưng đó là sự lựa chọn so với sự bị lường gạt của quần chúng. Bất cứ một ai có chút đỉnh kiến thức cũng thấy chủ nghĩa cộng sản là một lý thuyết vô tưởng, phản khoa học. Chúng hứa hẹn những phúc lợi hoa mỹ mà không đề cập đến tư duy, kiến thức và giá trị của sức lao động chân chính, không làm mà hưởng, thật sự chỉ cho bọn lãnh đạo chóp bu mà thôi. Cũng cùng một mánh khóe, chúng đánh vào lòng tự ái của những kẻ thiếu hiểu biết cái quan niệm “vĩ đại” “tầm vông vạt nhọn tay không thắng Mỹ”. Phải mất hơn 40 năm để cho quần chúng thức tỉnh và nhận ra bản chất của cộng sản. Người viết không dám bàn chi tiết nhưng việc đồng bào ở phía bắc của đất nước đã không còn tin vào cộng sản và bắt đầu nhận ra sự chính nghĩa và cao đẹp của chế độ miền nam trước đây là một bước ngoặt to lớn. Cho dù vẫn còn rất nhiều người còn u mê chưa đạt đến mức này nhưng một khi đã có người bắt đầu thì con đường đấu tranh cho tự do dân chủ trên đất nước chỉ tiến lên chứ không lùi nữa.

Không biết vì lý do gì mà người viết cứ nghĩ về trường hợp của nước Đức thống nhất sau hơn 40 năm chia cách quốc cộng, đành rằng so sánh Việt nam và Đức là điều “không tưởng”. Trước đây một cô giáo Canada của người viết, lúc góp ý cho một bài văn, có đưa ra nhận xét là sự thay đổi chính trị ở Á châu sẽ khó hơn do văn hóa rất chậm chấp nhận sự đổi mới. Điều này không sai, hãy nhìn những nước cộng sản còn lại trên thế giới! Nhưng đó cũng có nghĩa đây cũng là nơi sau cùng chủ nghĩa cộng sản sẽ cáo chung. Một Việt nam thống nhất thật sự dưới tên gọi, quốc kỳ và quốc huy VNCH là một điều mà chúng ta có quyền hy vọng mặc dù không ai biết vào lúc nào và đòi hỏi bao nhiêu khó khăn thử thách!

UserPostedImage
thanks 2 users thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC), phamlang on 5/17/2015(UTC)
CatLinh  
#1917 Posted : Friday, May 1, 2015 2:28:33 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 2 users thanked CatLinh for this useful post.
Duy An on 5/1/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1918 Posted : Friday, May 1, 2015 1:18:49 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
30 tháng Tư



Mũ xanh Phạm Văn Tiền -


UserPostedImage


Mỗi năm có 12 tháng
Ta cứ nhớ hoài mỗi Tháng Tư!


Thêm một lần nữa tháng Tư lại về, tháng Tư xứ người chợt nhớ tháng Tư xứ mình, tháng Tư ấy đã đánh dấu một đoạn đường dài lưu lạc của tập thể người Việt tha hương. Tháng Tư với ngày cuối tháng nhạt nhòa nước mắt mà chúng ta muốn quên, nhưng không thể nào quên được.

Tháng Tư đen ngày vong quốc hận, chiều 30 đất nước phủ màu tang!

Hai mươi tám tháng Tư ta ra lộ Một.
Gặp ông Tướng vùng thị sát thăm dân.
Ông nói lung tung, ông thề sống chết.
Ông nói xong rồi ông bay biệt tăm!
Hai chín tháng Tư… Biên Hòa xơ xác.
Ta về Sài Gòn ngang qua nghĩa trang.

Ta đứng nghiêm chào bạn ta đã chết.
Như tự chào mình nát cả tim gan.
Ba mươi tháng Tư ta ôm mặt khóc.
Trên cầu Sài Gòn cạnh phố Hùng Vương.
Mười năm binh đao… mười ngày kết thúc.
Ta còn nguyên mà mất cả quê hương.
(Thơ Trạch Gầm)


Ngày 30-4-1975 của 40 năm về trước là ngày buồn thảm nhất trong dòng sử của dân tộc Việt Nam. Một chế độ Cộng Hòa sau hơn 20 năm gầy dựng cùng bao xương máu đã đổ ra, phút chốc đã tan thành mây khói. Cuộc tháo chạy của Đồng minh trước sự xâm lăng thô bạo của chủ nghĩa Cộng Sản toàn cầu, đã làm cả miền Nam bàng hoàng sửng sốt.

Người dân không còn kềm nổi sợ hãi nên đã bỏ của chạy lấy thân. Những xác người lênh đênh ngoài biển cả hoặc bỏ nắm xương tàn tận mãi rừng sâu. Cả đất nước trở thành biển máu từ khi cộng sản tràn vào. Nhiều chiến sĩ can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ thủ đô đến giờ phút cuối cùng, với rất nhiều sự tuẫn tiết trong đó có các tướng lãnh anh hùng.

“Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau.” (lời cố Tổng thống Hoa Kỳ Ronal Reagan)

Tháng Tư gợi nhớ hình ảnh hơn 400 em Thiếu Sinh Quân mặc đồ vàng, nghiêm chỉnh xếp hàng đôi lặng lẽ chờ đợi dưới sân cờ tại trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, để rồi sau đó tử thủ đến sức cùng lực kiệt. Những người lính Nhẩy Dù oai hùng tại trại Hoàng Hoa Thám, những đơn vị TQLC tan hàng tại cầu xa lộ, ngã tư Hàng Xanh đã tung nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau, khi vị Tổng Thống “tạm quyền” Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cùng vài chục tướng tá của chế độ Cộng hòa đã tự sát. Còn, còn nhiều lắm những chiến sĩ vô danh tự tìm cho mình một cái chết vinh hơn sống nhục. Những giọt nước mắt rồi sẽ được tiếp tục nhỏ xuống để tiếc thương, thương tiếc về những oan khúc cho những người lính anh hùng, cùng biết bao chiến sĩ đồng bào vô danh khác. Chính họ đã viết nên trang sử đen tối nhưng vô cùng hãnh diện cho Chính Nghĩa Quốc Gia, những người Việt Tự Do không bao giờ chấp nhận chế độ cộng sản phi nhân.

Tháng Tư năm 1975, hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính miền Nam đã bị đưa vào các trại tù “học tập cải tạo”, hàng chục ngàn người đã bỏ xác trong các trại giam, nạn nhân của chính sách trả thù thâm độc. Hàng vạn đồng bào đã chết tức tưởi nơi sương lam chướng khí vì chính sách đày đọa trả thù ở các vùng kinh tế mới. Hàng ngàn người đã mất trắng tay vì bị đảng Cộng Sản Việt Nam ăn cướp tài sản, bằng chính sách cải tạo công thương nghiệp cùng biết bao thảm cảnh khổ đau cho biết bao gia đình đi tìm Tự Do đã xảy ra trong rừng sâu núi thẳm hoặc ngoài biển cả mênh mông.

Tháng Tư 1975, đánh dấu giai đoạn cả nước Việt Nam trở thành nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản… Một chủ thuyết phi nhân man rợ đã gieo rắc tai ương thảm họa cho nhân loại nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng. Sau 40 năm áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn đất nước, Việt Nam hiện nay vẫn là quốc gia nghèo, chậm tiến, tham nhũng, độc tài toàn trị và liên tục vi phạm thô bạo các quyền làm người.

Tháng Tư, chúng ta nghiêng mình tưởng niệm những chiến sĩ anh dũng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, đã chiến đấu ngăn chận chủ nghĩa Cộng Sản để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trước thảm họa ngoại xâm.


UserPostedImage


Tháng Tư, chúng ta ngậm ngùi và ghi ơn các chiến sĩ dân chủ Việt Nam, đã vì lý tưởng Tự Do, Dân chủ, chủ quyền cho đất nước mà chịu cảnh đọa đày, tù tội. Họ là những người Việt Nam yêu nước can đảm đứng lên tranh đấu trước hiểm họa mất nước của kẻ thù phương Bắc.

Bốn mươi năm về trước, không ai có thể nghĩ đến một ngày nào đó mình phải sống lưu lạc nơi xứ người, và cũng chẳng ai dám nghĩ rằng vì muốn có một cuộc sống Tự Do mà bao nhiêu người đã vùi thân xác mình tận rừng sâu hay ngoài biển cả.

Bốn mươi năm mùa Quốc hận đã qua đi, dân tộc Việt Nam vẫn còn đắm chìm trong màn đêm tăm tối dưới sư lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, đất biển đảo do tiền nhân để lại lần lượt vào tay kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa. Hình ảnh những cô gái quê Việt Nam vì nghèo đói đã phải trần truồng để cho kẻ ngoại bang bỏ tiền ra mua như mua súc vật thời nô lệ Trung Cổ thì còn nỗi nhục nào hơn. Thử hỏi trên thế giới hiện đại ngày nay có chính quyền nào làm ô nhục tổ tiên như bọn cộng sản Việt Nam? Cả nước đi đâu cũng tràn ngập bọn Tàu phù, chúng nghênh ngang vào ra như chỗ không người. Chúng hà hiếp ngư dân Việt Nam ngay trên vùng lãnh hải muôn đời của cha ông đã dày công tạo dựng. Chúng ngăn cản lòng yêu nước của người dân để tưởng niệm 64 thủy binh anh hùng của chúng đã bỏ mình trên đảo Gạc Ma vào ngày 14-3-1988. Còn nỗi nhục nào hơn chỉ vì sợ mích lòng bọn cướp biển Trung cộng!!

Nhiều chính trị gia đã từng nói, sự lừa dối là thứ thuốc phiện của chủ nghĩa cộng sản. Chúng lừa dối người lẫn mình, bưng bít thông tin để lừa người trí thức, nói láo với nông dân để nâng họ lên tận trời xanh, tâng bốc người ít học để họ làm điều ác, con lên án cha mẹ, vợ đấu tố chồng để rồi sau khi đạt được mục đích tất cả đều trở thành vật hy sinh, bị chính con người cộng sản thanh trừng giết hại chẳng gớm tay. Chế độ cộng sản cai trị người dân bằng vũ lực như lời khẳng định của Mao Trạch Đông “Súng đạn đẻ ra chính quyền, hay quyền lực đặt trên nòng súng”.

Là người dân Việt Nam, chúng ta phải biết rằng bọn cộng sản Việt Nam đã lừa đảo quá nhiều rồi, chúng dối trá lường gạt để cùng nhau chia chác làm giàu trên xương máu nhân dân mà không cần biết đến sự cùng cực đói nghèo cả một dân tộc. Tài nguyên quốc gia bị lần lượt tịch thu bán dần mòn vào túi tham của bọn tham ô lãnh đạo đảng. Bao nhiêu công trình đang xây dựng bị dở dang, hàng loạt các tập đoàn kinh doanh thất thoát hàng chục tỷ đôla cùng toàn thể hệ thống ngân hàng tín dụng bị sụp đổ. Nhiều chủ tịch ngân hàng đồng loạt vào tù bên cạnh những căn nhà đồ sộ cùng khối tài sản khổng lồ của bọn quan tham vẫn tiếp tục ngày càng vững mạnh.

“Chúng ta giờ đây đang đứng chót ở Asean, có cái còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar về mặt doanh nghiệp.” (Nguyễn Tấn Dũng thú tội trong buổi họp ngày 25-3-2015)

Có nhiều người nước ngoài đã đặt thẳng vấn đề với người Việt chúng ta. Chúng ta thỉnh nguyện chính phủ Hoa kỳ và các nước phương Tây không trợ cấp, không mua bán hoặc tiếp tay cho một chế độ độc tài gian ác phi nhân quyền. Trong khi đó, chính chúng ta trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển về Việt Nam hàng tỉ đôla mỗi năm. Số tiền nầy chiếm hơn 1/3 ngân sách tài chánh của chế độ đương quyền, để nuôi dưỡng đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục đè đầu, đè cổ người dân.

“Tháng Tư có lắm người vui nhưng cũng có triệu người buồn.” Lời nói nầy được phát xuất từ sự ăn năn, hối hận của một tên tội phạm, cựu Thủ Tướng Việt Cộng Võ Văn Kiệt trước khi đã trở nên người thiên cổ. Tại hải ngọai nầy đã biết bao nhiêu lần những “con buôn” chính trị, muốn xóa sổ quên đi sự bạo tàn của cộng sản trong những ngày đầu cưỡng chiếm được miền Nam. Danh từ ngày Quốc Hận biến thành ngày Tỵ nạn, ngày Tự Do hay ngày Thuyền Nhân để từ bỏ một sự kiện lịch sử quan trọng đã làm điên đầu kẻ luôn tự xưng mình là chiến thắng. Họ muốn chúng ta xóa bỏ hận thù cùng bắt tay với họ để quên đi quá khứ, một quá khứ dơ bẩn do chính cộng sản gây ra và bây giờ không muốn nhìn lại. Họ hô hào nghị quyết 36 để nối vòng tay lớn với chúng ta, những kiều bào hải ngoại, nhưng cũng chính họ dùng tiền của cướp giật của nhân dân trong nước để tiếp tục đánh phá chúng ta. Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư hàng năm là một ngày lịch sử của cả dân tộc chúng ta, mà đã là ngày lịch sử thì làm sao có thể thay thế được. Ngày nào đảng Cộng Sản còn là ngày ấy vẫn còn hận thù trong tim óc của mọi nguời chúng ta. Chúng ta đã bị mất tổ quốc, mất quê hương vào tay bọn cướp vào đúng ngày đau thương đó. Không một cá nhân hoặc tổ chức nào vì quyền lợi riêng tư có quyền thay đổi ngày lịch sử đó.

Nghị quyết SCR29 do tân Thượng Nghị sĩ Janet Nguyễn đệ trình và vừa được thông qua ngày 26-03-2015 để tưởng niệm Tháng Tư đen cho Người Việt tỵ nạn cộng sản tại tiểu bang California vào mùa Quốc Hận lần thứ 40 lưu vong của chúng ta là một quyết định đúng đắn.

Ngày 30-4 hàng năm vẫn mãi mãi là ngày Quốc Hận để nhắc nhở cho con cháu chúng ta biết vì sao mà chúng ta có mặt tại xứ sở Tự Do nầy.

Bốn mươi năm mùa Quốc hận đã đi qua, người dân trong nước đã quá ê chề dưới sự cai trị độc tài của đảng cộng sản. Việc bắt giam các nhà trí thức một cách rầm rộ trong nước gần đây đã nói lên sự sụp đổ không sớm thì muộn của đảng cầm quyền. Nhiều hình ảnh dân oan đã không còn sợ hãi trong các cuộc biểu tình đả đảo cộng sản, hoan hô chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với ngọn cờ vàng thân yêu của tổ quốc trong tay, đã nói lên đâu là chính nghĩa của kẻ luôn tự xưng là người chiến thắng.

Bốn mươi năm qua, đã đến lúc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhìn thấy cần sức mạnh khối tài lực của người Việt tại hải ngoại. Qua hình thức văn hoá vận bằng nghị quyết 36 để chiêu dụ những kẻ hám danh, trục lợi nhằm lũng đọan hàng ngũ quốc gia, nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại vì những thứ mà chúng kiếm được là những thành phần rác rưởi nhẹ dạ, hám danh, một loại phế thải trong tập thể cộng đồng Người Việt Quốc Gia đang sống lưu vong tại hải ngoại. Ở đâu và bất cứ thời nào cũng có những tên Việt gian trở mặt theo kẻ thù để đâm sau lưng chiến hữu và đồng bào bất chấp hậu quả. Bọn tay sai nầy chỉ biết có tiền, nhắm mắt vâng theo để quậy phá làm tan rã khối đoàn kết chống cộng của chúng ta.

Tháng Tư xứ người nắng ấm tình nồng, tháng của đất trời vào Xuân chim hót líu lo, nhiều cụm hoa dại đủ màu rực rỡ như khoe sắc khắp mọi nơi. Màu cỏ non xanh mướt cùng những cơn mưa nhẹ bất chợt buổi chiều đã gợi nhớ lại nỗi buồn trong lòng người xa xứ. Qua rồi những ngày tháng Tư buồn thảm lê thê của người dân miền Nam mất nước. Tháng Tư năm nay, chúng ta đốt nén nhang cầu nguyện những người quá cố hãy vì sự tồn vong và tương lai đất nước, giúp chúng ta nghị lực và sáng suốt để tiếp nối đoạn đường. Xin cúi đầu, tưởng niệm anh linh, liệt sĩ đã vị quốc vong thân phù trợ chúng ta thêm dũng cảm để tiếp tục cuộc đấu tranh vì chính nghĩa.Với tất cả lòng thành và nhiệt tâm chúng ta sẽ cùng toàn dân trong nước đòi cho được “Dân chủ, Nhân Quyền và Chủ Quyền” cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Tháng Tư 2015, sau 40 năm ngày Quốc Hận, danh dự người lính QLVNCH đã được phục hồi qua bộ phim Rider the Thunder của đạo diễn Fred Botkin, vừa được trình chiếu tại rạp Regency từ ngày 27-3 đến 2-4-2015 tại thành phố Wesminter miền Nam California. Đây là câu chuyện thật đầy tình chiến hữu giữa người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa – cựu Trung tá Lê Bá Bình, nguyên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển và bạn đồng minh Hoa Kỳ là cựu Đại Úy cố vấn John Ripley. Họ đã cùng nhau lập chiến công vang dội, phá sập cây cầu Đông Hà và chận đứng được sự tấn công ồ ạt của chiến xa địch dọc chiều dài QL1 vào mùa Hè đỏ lửa 1972, để rồi sau đó tái chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị và giữ vững thành phố Huế cho đến những ngày cuối Tháng Ba rồi sau cùng là toàn thể miền Nam đã hoàn toàn rơi vào tay cộng sản vào ngày 30-4-75.

http://vietbao.com/image...-the-thunder-unnamed.jpg


UserPostedImage

Gia đình Trung Tá Lê Bá Bình chụp chung với gia đình tác giả Ride the Thunder


Cựu Trung Tá TQLC Lê Bá Bình cũng như hàng chục ngàn Quân Cán Chính VNCH đã phải rơi vào cảnh tù đày cùng biết bao khổ cực gian nan. Cùng lúc đó tại Hoa Kỳ, Đại Úy Ripley được nhận nhiều huy chương và sau nầy trở thành Đại tá hồi hưu, Giám đốc Viện Bảo Tàng và Quân Sử TQLC Hoa Kỳ.

Có mùa Quốc hận 30-4 nào mà chúng ta không ngóng trông một cơn bão chính trị đột biến để giật sập chế độ cộng sản hiện hành. Có mùa Quốc hận nào mà chúng ta không mơ ước cho đất nước và dân tộc Việt Nam sớm thóat khỏi chế độ độc tài toàn trị. Những cuộc biểu tình rầm rộ đã xảy ra trong nước vào đầu tháng Tư 2015, hội tụ hàng chục ngàn người tại Sài Gòn và ngay tại trung tâm thủ đô Hà Nội cùng nhiều thành phố từ Nam ra Bắc để phản đối sự độc tài tàn ác của chế độ đương quyền, đã là những tia sáng long lanh đang hứa hẹn một mùa Xuân Ả Rập cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Ngày tàn của đảng cộng sản Việt Nam sẽ không còn bao lâu nữa… Những kẻ bạo phát rồi sẽ bạo tàn. Lịch sử dân tộc đã chứng minh điều đó.

Arlington, mùa Quốc hận 30-4-2015
Mũ xanh Phạm Văn Tiền


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1919 Posted : Saturday, May 2, 2015 12:32:39 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage


Góc của Phan: Tháng Tư đọng lại…


May 1, 2015

Đã bốn mươi năm, bất luận người Việt đang sinh sống trong nước hay ngoài nước, hầu như ai cũng cảm nhận được tháng Tư trên tờ lịch khác với mười một tháng còn lại từ bốn mươi năm qua; tháng Tư bỗng trở thành tháng u trầm nhất trong năm sau biến cố lịch sử ba mươi tháng Tư một chín bảy lăm. Trong tâm thức người Việt từ bốn mươi năm qua dường như đã quên tháng Tư là tháng mùa xuân bừng dậy sau tiết đông dài. Dù hoa vẫn nở trên đường viễn xứ, nhưng quê nhà trĩu nặng bóng tà dương. Làm cho tâm thức người Việt hải ngoại chơi vơi còn hơn cuộc sống mới mới bắt đầu với những người đi sớm.

Mười năm thương khó biết bao nhiêu tình với người ở lại. Lá thơ của thằng con đi vượt biên bằng chính nhẫn cưới của ba mẹ làm cho người mẹ già chất ngất thương đau còn hơn hay tin thằng anh nó tử trận trong mùa hè đỏ lửa. Đứa con nào, mẹ không banh ruột sinh ra. Nhưng đứa con chết trận có thối lại mẹ cha lòng tự hào của con dòng cháu giống; còn thằng con lưu lạc muôn đời từ bước chân đi khỏi nhà sẽ ra sao? Đứa con gái được bà ngoại cưng như trứng mỏng, sao nó phải trầm mình xuống biển để rửa sạch oan nhơ do nhà nước cộng sản tạo ra cho người dân vô tội. Người mẹ nào không khắc cốt ghi tâm mối thù này?

Mười năm thương khó biết bao nhiêu tình của người Việt hải ngoại với chút quà gởi cho quê hương mà cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng đã viết ra bằng nước mắt chắt từ con tim. Bản nhạc không hay về melody sao lấy hết nước mắt của đồng bào cùng khổ, bất luận còn trong nước hay đang bơ vơ nơi xứ người… Có ngồi qua đêm với Nam Lộc mới biết anh vắt máu tim đêm để viết ra Sài gòn vĩnh biệt. Một ca khúc cũng không có gì xuất sắc trên phương diện âm nhạc, nhưng bất tử ở ý nghĩa tấm lòng của một người biệt xứ từ khi bước chân đi, nỗi bức tử đi vào lịch sử.

Mười năm. Một thời gian ý nghĩa với tuổi trẻ đương thời, bước ngoặt oái oăm của người lớn; không là gì của thời gian, nhưng là cơn tỉnh thức của người bái biệt quê hương để từ đó vươn lên thành cộng đồng người Việt hải ngoại bây giờ; một cộng đồng di dân mới mẻ nhưng thành tựu đáng gờm so với những cộng đồng di dân khác. Người trong nước sinh nhai vốn khó, bởi lúa gạo làm ra đều được dồn hết đi trả nợ Trung quốc, bỗng chiều bo bo chợt nhớ quê nhà. Người có ở lại trong nước sau một chín bảy lăm mới hiểu tâm trạng của kẻ lưu đầy ngay trên quê mình. Kẻ đánh cuộc bằng sinh mạng với biển cả bằng con thuyền nhỏ chỉ có hai lối thoát là lên thiên đàng hay chới với, chơi vơi khi tới bến bờ. Nhưng người còn ở lại; ngồi nhai bo bo mà nhìn cây cột đèn rồi xấu hổ. Cây cột đèn biết đi cũng vượt biên, sao mình là người mà bất lực.

Mười năm đầu, người miền Nam hớt hải chạy ra hải ngoại với đầy ắp hoang mang – như người ta thấy ngọn núi sau nhà đã ngủ yên mấy trăm năm, bỗng trào lên ngọn lửa hủy diệt thì người ta chạy đua với dòng nham thạch đang tràn xuống đồng bằng để giữ mạng trước đã. Nhưng chạy đi đâu, đến đâu, về đâu…?
Đều là những chuyện hậu tính vì bản năng sinh tồn của con người đã liệt chủ nghĩa cộng sản vào hàng thiên tai bậc nhất của nhân loại từ cuộc cách mạng tháng mười, năm một chín mười bảy bên Nga.

Nếu năm một chín tám lăm mà nhà cầm quyền Hà nội không mở cửa thì nước Việt Nam như nồi áp suất đã tới lúc bung nắp – sẽ hủy diệt trước là kẻ bưng bít và đốt nóng cả dân tộc. Lớp lớp người đi tìm tự do không màng mạng sống; từng đoàn người nhếch nhác ngoài Bắc theo nhau xuôi Nam. Miếng cơm thừa canh cặn của miền Nam sau mười năm vơ vét vẫn nằm ngoài sức Tưởng Tượng của người Bắc liều mạng xuôi Nam. Câu thơ mị dân siêu đẳng của kẻ nịnh bậc thầy viết về lãnh tụ, “sữa để em thơ lụa tặng già”, đã trở nên trơ tráo trong mắt người bị gạt, là những người Bắc di cư sau một chín bảy lăm và mang nhãn hiệu “bắc bảy lăm” để phân biệt với “bắc năm tư”. Những người tội nghiệp, vô tội, bỗng thấy mình có tội dù chưa hề gây tội ác với đồng bào miền Nam; những người cắn hạt muối, chẻ hạt gạo làm hai cho tiền tuyến vỡ mộng với cú gạt vô lương nhất thế kỷ của đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng do kiến thức hẹp hòi vì chỉ được học những điều giả trá. Nhưng tự ái bản năng đã khiến họ đi thêm bước sai là coi đồng bào trong Nam như kẻ bại trận – họ tự cho mình cái quyền của kẻ thắng, để càng hống hách càng lòi cái vô học của họ ra. Còn nhớ, một nhà trí thức miền Nam bị cưỡng ép đi họp về việc hòa hợp hòa giải dân tộc, do Thủ tướng Kiệt – kiến trúc sư của đổi mới triệu vời. Ông giáo sư (tạm tên là Lục Vân Tiên) đã nói, “tôi chấp nhận chủ nghĩa vô sản nhưng tôi không chấp nhận chủ nghĩa vô học”. Thế là cách nhau cả trăm năm mà ông giáo sư lên đường gặp Nguyễn Đình Chiểu ngay sau hội nghị.

Mười năm đầu của người Bắc cộng sản di Nam. Nhìn lại, như họ chính là thủ phạm đặt nhát xẻng đầu tiên để đào hố sâu phân cách. Nhưng nhiều năm sau nhìn lại thì ruộng vườn, đất đai trong Nam mênh mông nên người miền Nam không cần tới cái bờ rào với hàng xóm mà chỉ con mương, cái rạch là ranh giới tượng trưng. Thì người Bắc vào Nam thuở đó, họ xây dựng cơ ngơi quá dễ với thuận lợi lý lịch và phải công nhận sự cần mẫn của họ. Tới lúc cơ ngơi ngàn đời trong ước mơ của dòng tộc họ bỗng thoáng trở thành hiện thực thì họ rào giậu ngăn sân với hết ngu si truyền thống và nhồi nhét chế độ là lúc nào cũng phải cảnh giác Mỹ-Ngụy.

Nghĩ lại mà thương cho họ. Không có người dân Việt nào có lỗi với tổ tông. Chỉ có đảng cộng sản của ông Hồ rước voi về giày mả tổ, đem chủ nghĩa ngoại lai, vô nhân tính về khuynh đảo giống nòi; làm cho sinh linh lầm than, chảy máu, tới phân cách Bắc Nam như cựu thù. Những người di cư thuở ấy bây giờ nhiều kẻ cư di (bị đuổi ra khỏi nước) mà chúng ta vẫn thấy họ khóc than trên diễn đàn. Điều còn lại sau bốn mươi năm của người bị cướp là đồng bào miền Nam, vẫn cho những kẻ sám hối một chỗ nằm. Tuy đất mắc nhưng một thước nhân hai thước cũng chả là gì với lòng dạ rộng rãi của người Nam bộ. Rủ lòng cho giọt máu lạc loài cũng không có gì tắc trách với tổ tông. Chuyện lớn hơn ngôi mộ ông cán bộ ngoài xứ Quảng xây như lăng tẩm vua chúa thời xưa là đồng bào miền Nam không đập phá nghĩa trang liệt sĩ mọc lên như nấm sau mưa khắp miền Nam, nhưng cộng sản phá hủy nghĩa trang quân đội Biên Hòa; là điều không cần lý giải về nhân tâm mà ai cũng hiểu!

Sau mười năm mở cửa, từ một chín tám lăm tới một chín chín lăm. Con quỷ mang danh kiến trúc sư của sự đổi mới đã chết để mừng bốn mươi năm lường gạt tới cùng. Hồ sơ về Võ văn Kiệt đã bắt đầu xuất hiện những trang bị ém nhẹm lâu nay. Thôi thì nghĩa tử của ông ta cũng đã rõ nghĩa tận của đồng bọn lang sói với ông ta. Chúng phúng điếu đồng chí bằng những cáo trạng trả thù cá nhân nhiều hơn Tư liệu lịch sử. Cũng chẳng lạ gì loài lang sói, con này chờ con kia chết để ăn thịt thối của đồng loại.

Mười năm mở cửa được gì? Sự hình thành giới Tư bản đỏ đào sâu thêm hố phân cách giàu nghèo trong nước; mua quan bán chức trở thành tin nóng hằng ngày trong công luận.

Mười năm hậu quả của đổi mới đó viết sách cũng không hết với băng hoại đạo đức, xã hội suy đồi; con dân lầm than tới cùng đường phải bán trôn nuôi miệng qua ngụy từ ‘lấy chồng nước ngoài”. Bao cái chết thương tâm với anh hùng dân tộc đích thực của thời kỳ đó là cha Hùng bên Đài Loan đã bỏ cả cuộc đời đi cứu vớt những cô gái đồng bằng sông Cửu Long vô tội, ngây thơ. Người hùng thời đại, anh hùng dân tộc đích thực nhưng chưa bao giờ được nhà nước nhắc tới chứ nói gì vinh danh. Không cần phải tố tụng hình sự chi cho rườm rà, những người nghiên cứu sử sau này sẽ làm công việc đó khi họ đối chứng ra thời
điểm của những cô gái Việt nhảy lầu hàng loạt để tự tử bên Đài Loan, Đại Hàn. Trong khi nhà nước sở tại không nhắc tới cha Hùng bên xứ người xả thân cho đồng bào Việt, vì họ còn mải miết giành giựt thế lực ngay trong trung ương đảng để đón đầu Tư nước ngoài bắt đầu chịu đổ đô la vào Việt Nam.

Mười năm cửa tù hèn mọn khép lại vì cánh cửa H.O mở ra. Để tới mười năm cửa tù mới mở ra cho giới biết lợi dụng khoa học kỹ thuật mà đòi hỏi món ăn tinh thần. Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã như người cũ, quen mặt. Nhưng cha Lý, Luật sư Lê Thị Công Nhân… là những tội đồ sớm sủa sau ba mươi năm cầy bới quê nhà của đảng Cộng sản Việt Nam.

Mười năm gần nhất với lễ kỷ niệm bốn mươi năn biến cố ba mươi tháng Tư. Dĩ nhiên không tin được những gì nhà nước nói, nên họ làm gì trong nước – xin báo chí hải ngoại đừng đưa tin vì lượng người đọc đáng kể của báo nhà sẽ đem lại chút quà cho chủ báo nhưng làm công cụ, tay sai không công cho Việt cộng là tự tử còn hơn.
Có gì đâu trong mười năm cuối đó! Người đồng chí môi hở răng lạnh với đảng Cộng sản Việt Nam lại bổn cũ soạn lại là không ăn hiếp kẻ yếu thì đâu phải giặc Tàu. Việt Nam tự hào với bốn ngàn năm văn hiến thì người Tàu có sử mười ngàn năm. Nếu đọc sử thế giới một buổi chiều thôi. Mười ngàn năm lịch sử sao người Tàu vẫn sợ người Mỹ với lịch sử chỉ có ba trăm năm? Hãy hình dung ra thằng con nít sống lâu năm đó, nếu có khả năng trưởng thành thì nó đã thành bất tử; vì chỉ ba trăm năm, một kẻ lưu vong đã thành gã khổng lồ.

Tháng Tư, như nói ở trên, người Việt dù trong nước hay ở hải ngoại đều như đã bị cướp mất thanh an trong tâm hồn, bình an trong cuộc sống từ bốn mươi năm qua. Nói làm sao hết những đau thương tan cửa nát nhà của người dân vô tội; vợ mất chồng, con mất cha với đòn thù sau biến cố ba mươi tháng Tư một chín bảy lăm. Nhìn ra thế giới, người lính cuối cùng của đệ nhất thế chiến đã ra đi vài năm nhưng mới đây thế giới vẫn tổ chức lễ kỷ niệm một trăm năm đệ nhất thế chiến. Tương tự như thế, người lính cuối cùng của đệ nhị thế chiến sẽ ra đi trong tương lai gần, người ta đang đào xới bốn trăm xác lính Mỹ chết trong trận Trân Châu cảng để xác định danh tính. Và thế giới vẫn không quên cuộc chiến toàn diện đó qua những lễ kỷ niệm hằng năm.

Cuộc chiến Việt Nam đã im tiếng súng bốn mươi năm, rồi người lính cuối cùng của cuộc chiến đó sẽ ra đi. Nhưng khác hai cuộc chiến thế giới và khác hẳn cuộc nội chiến lừng danh trong lịch sử nhân loại là cuộc chiến Nam-Bắc Mỹ. Khi chiến tranh kết thúc, tử sĩ hai miền chôn chung một nghĩa trang để hậu thế cùng tưởng nhớ. Anh khổng lồ ba trăm tuổi khác thằng con nít sống lâu năm mười ngàn tuổi, và thằng em út của nó bốn ngàn tuổi còn giẫm lên dấu chân đàn anh sáu ngàn năm nữa để thành con nít sống lâu năm. Nói một cách khác là đừng hy vọng gì với đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu họ dùng cụm từ khinh miệt cho những tù nhân chính trị, tù nhân chiến tranh, tù nhân lương tâm… có khí tiết là “thành phần không thể cải tạo” thì bốn mươi năm cưỡng chiếm miền Nam, thời gian đã trả lời cho muôn năm, chính họ mới đúng là “thành phần không thể cải tạo”. Họ đã sai từ trong trứng và sai tới xuống mồ; sai truyền kiếp như Bắc Hàn – gia đình trị là vực thẳm sâu nhất của chủ nghĩa cộng sản.

Bốn mươi năm rồi, tháng Tư nào cũng ngập tràn trên báo chí những giọt lệ tang thương của dân tộc Việt. Nhưng người ta khóc hoài sẽ sưng mắt, còn người ngồi nuốt lệ chiều mưa sẽ ung thư. Một chiều mưa cuối tháng Tư, dòng nhớ ứ miệng cống như dòng mưa ngoài vệ đường. Nghĩ một chút thực tế càng nản lòng với hố phân cách quốc cộng sau bốn mươi năm im tiếng súng còn sâu hơn hố bom sâu nhất thời chiến tranh. Thời tôi còn đi học thì dù có ăn chung, ngủ chung, nhưng nhóm ngoài Bắc vào vẫn có những mật thiết không để lộ. Tạm tin thế hệ chúng tôi đã qua thời người lính Cộng hòa đạp xích lô nhưng nhất định không chở bà Bắc xuống xe lửa ở ga Hòa Hưng là chúng tôi có thể ăn chung, ngủ chung, nhưng không cùng mộng tưởng. Bây giờ, nhìn thế hệ con em chúng tôi lớn lên, hoặc sinh ra ở Mỹ lại trở lại khốc liệt như người lính cũ đạp xích lô, thà không tiền mua gạo bữa chiều cho gia đình chứ nhất định không làm phu xe cho giặc phương Bắc. Con em (nếu không phải là con em của người Việt hải ngoại thì là con tôi) cũng không thể nào kết bạn được với giới du sinh vì giới du sinh vẫn chủ yếu là bẻ khóa để ăn cắp những software cần thiết.

Con người Việt Nam thì dù có ở đâu cũng mang bản chất dân tộc mình. Nhưng bản chất dân tộc thuận mua vừa bán đã trở lại với con em người Việt ở hải ngoại sau bốn mươi năm cha mẹ bán hết sức lực, tuổi đời cho con thành người, thì con em trong nước đã bị ý thức hệ cộng sản đánh cắp hết lòng tự trọng truyền thống dân tộc. Những kẻ cắp con nhà giàu tiền lắm bạc trong nước đang du học ở Mỹ, là sản phẩm chế độ. Đau lòng cho thằng con nít sống lâu năm (ở Mỹ) thành hiểu biết, những đứa nhỏ hải ngoại hay trong nước bao giờ cũng dễ thương, vô tội. Khó thương và vô giáo dục là chế độ trong nước đã hủy hoại hết tinh hoa dân tộc mình.

Nói theo anh bạn ở địa phương hồi ba mươi năm kỷ niệm ba mươi tháng Tư, “đã ba mươi năm chưa có tác phẩm lớn về chiến tranh Việt Nam thì coi như không bao giờ có nữa vì những người đủ sức viết đã già”. Vậy bốn mươi năm, tác phẩm lớn của đảng Cộng sản Việt Nam là đã xóa được tự hào dân tộc trong giới trí thức trẻ trong nước là mọi giá, mọi cách, phải ăn cắp, copy, không thua Trung quốc.

Năm mươi năm kỷ niệm biến cố lịch sử ba nươi tháng Tư. Không chừng nhà cầm quyền Hà Nội tuyên cáo cùng nhân dân cả nước, Việt Nam bây giờ là tỉnh Việt Nam thuộc nước Cộng hòa nhân dân Trung quốc… Chỉ đau lòng cho những người lính cả đôi bên trong chiến tranh Việt Nam chưa chết hết cho khỏi đau lòng.


Phan
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1920 Posted : Tuesday, May 5, 2015 5:15:52 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA: CHUYẾN BAY CUỐI CÙNG TỪ ĐÀ NẴNG


UserPostedImage


Larry Engelmann
(bảm dịch Nguyễn BáTrạc)


“Tại sao họ bắn? Chúng tôi là những người bạn tốt”

Ngày 29/3/1975 đáng lẽ nhân viên khách sạn Sài Gòn phải đánh thức tôi dậy lúc 5 giờ sáng . Tôi là tiếp viên trưởng của một chuyến bay khứ hồi ra Đà Nẵng . Nhưng 5 giờ sáng hôm ấy không có ai đánh thức tôi dậy. Khoảng 6 giờ sáng mới có điện thoại của Val Witherspool, một nữ tiếp viên khác. Cô ấy bảo: “Chị xuống ngay phòng đợi khách sạn trong vòng 5 phút.” Khoác bộ đồng phục, tôi lập tức chạy xuống cầu thang. Ông Ed Daly và Val đang chờ tôi ở dưới nhà. Bruce Dunning, làm việc cho hãng tin CBS cũng đã có mặt. Tôi bảo Bruce: “Bọn này phải ra Đà Nẵng”. Anh ta nói: ’’Có tin thành phố này rơi vào tay Bắc Việt rồi” Tôi nói: “Nếu thành phố này đã mất thì chúng tôi đâu có đi” Bruce yêu cầu được đi theo chuyến bay. Ông Daly bảo: “Muốn đi thì đi. Có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất trong vòng một giờ đồng hồ nữa.”

Bruce tập họp Mike Marriotte, chuyên viên quay phim và Mai Văn Đức, chuyên viên âm thanh, rồi chở họ ra phi trường. Chúng tôi bước lên chiếc World Airway Boeing 727. Là tiếp viên trưởng, tôi được thông báo là sẽ có một hay hai tiếp viên người Việt đi thông dịch, sẽ có binh sĩ bảo vệ để đương đầu với đám đông. Hôm trước, chúng tôi đã gặp khó khăn ở Đà Nẵng, và chúng tôi cũng sẽ phải mang theo nước ngọt, nước cam, bánh mì săng-uých cho hành khách.

Vừa vào phi cơ, tôi nói với Val và Atsako Okuka, một nữ tiếp viên khác: “Các bạn hãy xem xét ngay mọi thứ.” Chúng tôi thấy không có đồ ăn thức uống. Đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết một cái gì bất thường đang xẩy ra…Không nước ngọt, không nước cam, không bánh mì, không đồ ăn thức uống trên phi cơ. Cũng không có tiếp viên người Việt, cũng chẳng có binh sĩ bảo vệ nào hết.

Chúng tôi thảo luận xem có nên bay ra hay không. Lúc ấy Daly và phi hành đoàn đã lên phi cơ rồi. Dunning và toán làm tin CBS cũng vậy. Hai nhân viên cơ quan USAID leo lên. Họ trấn an chúng tôi là mọi việc ở Đà Nẵng cũng tốt thôi, không cần gì đến binh sĩ bảo vệ.

Lúc đó 8 giờ sáng, quá muộn so với giờ ấn định máy bay cất cánh. Ông Daly quyết định cứ đi Đà Nẵng để đón một số người tỵ nạn gồm đàn bà và trẻ em mà khỏi cần đến binh lính hộ tống hay thông dịch viên.
Chuyến bay ra khá êm. Chúng tôi mang theo một nhà báo người Anh và một người nữa của hãng tin UPI. Trong chuyến bay chúng tôi chuyện trò thân mật với nhau.

Phi cơ bắt đầu đổi cao độ để hạ xuống Đà Nẵng. Theo kế hoạch, sau chúng tôi 20 phút sẽ có một chuyến World Airway 727 khác do Don McDaniel lái. Sau anh ta, lại một chuyến 727 nữa do Dave Wanio điều khiển. Chúng tôi dự tính sẽ đậu từ 10 đến 15 phút để lấy khách rồi cất cánh, để chuyến thứ hai, rồi thứ ba đáp xuống. Với cách ấy chúng tôi có thể đem đi được 3 chuyến trong vòng dưới một tiếng đồng hồ.

Nhưng khi hạ cánh có một cái gì rất lạ lùng.
Không hề thấy một bóng người.
Không một ai, cả phi trường hoàn toàn hoang vắng. Đột nhiên trong lúc phi cơ đang “chạy taxi” trên đường vào bến, đoàn người chợt xuất hiện. Họ chạy ào ra từ những nhà chứa máy bay, Hàng ngàn con người-tôi nói đúng nghĩa là hàng ngàn con người đua nhau chạy đến chúng tôi- Họ chạy bộ, chạy xe gắn máy, chạy xe thùng, xe Jeep, xe hơi, xe đạp…Họ chạy đến phía chúng tôi bằng bất cứ phương tiện nào họ kiếm được.

Chúng tôi đã có một kế hoạch là ông Daly và Joe Hrezo, trưởng trạm của hãng World Airways sẽ ra khỏi phi cơ. Họ sẽ lo việc sắp hàng hành khách ở lối vào cầu thang phía sau. Tôi sẽ đứng ở phía trước phi cơ, Atsaco ở giữa còn Val đứng ở khoảng sau.

Chúng tôi cho phi cơ chậm lại. Lúc ấy tôi đang đứng trong phòng lái nhìn ra cửa sổ trước, chợt thấy có điều kỳ lạ. Một nhóm người lái chiếc xe vận tải nhỏ đuổi bên cạnh chiếc tàu bay. Một người đàn ông nhảy khỏi xe, chạy đến trước chúng tôi. Tôi nhìn về phía anh ta, lúc ấy chúng tôi đang đi chậm, anh ta rút một khẩu súng lục, bắn vào chúng tôi.

Đột nhiên tôi có cái cảm giác kinh dị y như đang đứng giữa khung cảnh của một phim cao bồi. Tôi đã nghĩ rằng: “Tại sao họ bắn chúng tôi? Chúng tôi là những người bạn tốt!”

Chúng tôi cho tàu chạy khỏi người đàn ông có súng và đi chậm lại ở phía xa. Bây giờ tôi bắt đầu chờ người khách đầu tiên lên phi cơ. Chúng tôi dự tính sẽ cho họ ngồi vào ghế, bắt đầu từ những hàng trước, lần lượt đến phía sau, sẽ sắp đặt họ trong vòng trật tự.
Rồi những người lính bắt đầu lên.

Họ chạy xồng xộc với cặp mắt man dại. Chừng chín người lính đã lên, tôi xếp họ ngồi vào ghế. Rồi người thứ mười lên, nhưng hắn không chịu ngồi. Hắn bị kích động, cứ chạy lên chạy xuống la lớn bằng tiếng Anh: “Bay đi! Bay đi! Bay đi! Chúng nó sắp pháo kích vào phi trường kìa!” Hắn cứ la hét như thế mãi. Tôi nắm lấy hắn, tôi cũng hét lên: “Im mồm, tôi bảo ông ngồi đâu thì ông ngồi xuống đó.” Tôi đẩy hắn xuống ghế.

Nhưng có điều lạ: rất ít người lên phi cơ. Vì vậy tôi nghĩ cần phải ra sau xem có chuyện gì…Tôi thấy Daly dưới chân cầu thang đang bị dằn xé. Áo ông rách vụn. Joe Hrezo biến đâu mất. Val đang cố giúp Daly lôi người lên cầu thang trong lúc tàu bay cứ tiếp tục chạy trên phi đạo. Còn dưới chân thang, hàng tram người tuyệt vọng, điên cuồng, la hét cố bấu víu lấy Val và Daly. Đoàn người tiến đến không ngừng. Họ từ khắp phía, chạy đến cầu thang không ngớt. Tôi leo xuống. Daly ở dưới thang, ông cố lập trật tự bằng khẩu súng lục vung lên trời. Val cố giúp những người đang leo qua cạnh cầu thang. Một gia đình 5 người chạy đến phía tôi cầu cứu. Đó là bà mẹ, ông bố, hai đứa con nhỏ, một trẻ sơ sinh còn ẵm trên tay mẹ. Tôi có thể nhìn rõ nét sợ hãi trên khuôn mặt khi họ cố chạy đến phía tôi. Tôi quay lại định nắm tay người mẹ kéo lên. Trước khi tôi kịp nắm tay bà, một người đàn ông đứng sau đã nổ súng vào 5 người này. Họ ngã gục cả xuống, đám đông đạp ngay lên xác họ. Cái hình ảnh cuối mà tôi thấy là họ biến mất dưới chân đám đông. Chỉ vài tiếng nổ lớn, họ biến mất, tất cả những người ấy. Còn gã đàn ông vừa bắn xong đã đạp ngay lên thân họ để leo tới cầu thang. Hắn đè lên mọi người, chạy vào lòng phi cơ. Tất cả mọi thứ quá sức hỗn loạn điên cuồng. Tôi còn nhớ vào giây phút điên dại ấy, tôi nghĩ: “Chốc nữa sẽ tính chuyện này”, tôi tiếp tục kéo người lên phi cơ. Chợt cảm thấy một người đàn bà đang níu tôi từ phía hông cầu thang, bà nắm cánh tay tôi, cố lọt lên bực thang. Tôi muốn giúp bà ta nhưng cũng sợ bị rơi tuột khỏi thành cầu. Tôi bèn quay lại nắm cánh tay người đàn bà, kéo qua thành cầu. Nhưng một người đàn ông ở phía sau đã níu lấy, giựt bà khỏi tay tôi. Khi bà rơi xuống, người đàn ông kia đạp ngay lên lưng, lên đầu người đàn bà để leo lên thang. Hắn dùng người đàn bà như một hòn đá kê. Daly nhìn thấy chuyện xảy ra. Liền khi gã đàn ông tung được chân qua thành cầu, Daly nắm khẩu súng đập một cú vào đầu gã. Tôi nhớ lúc ấy đột nhiên tôi thấy vòi máu vọt ra, gã đàn ông rơi xuống, người ta đạp lên hắn. Tôi nhớ tôi đã nghĩ: “Đáng kiếp”. Gã đàn ông này biến mất dưới bàn chân dày xéo của đám đông.

Lúc ấy người đổ ùn ùn vào phi cơ, tôi chạy trở vào xem Atsatko có xếp nổi chỗ ngồi không. Cô nắm lấy tay tôi, bảo: “Đại úy Ken Healy đang cần chị”. Tôi đến phòng lái gõ cửa. Cửa mở, Đại úy Healy bảo: “Joe Hrezo đã lạc khỏi phi cơ. Khi nào hắn trở lại được cho biết .” Tôi đáp: “OK.” Chuyện xảy ra là Joe và thông tín viên người Anh đã bị đám đông kéo tuột khỏi tàu, không trở vào được nữa. Chúng tôi lạc mất cả hai người. Joe tự chạy tới đài kiểm soát không lưu, người kiểm soát viên cho anh ta vào. Sau đó Joe liên lạc được với máy bay. Ken Healy cho biết chúng tôi sẽ “chạy taxi” đi rà trên đường vào bãi và yêu cầu Joe phóng ra khi máy bay tới gần . Chúng tôi sẽ không dừng một giây nào. Liền khi Joe lọt vào phi cơ, chúng tôi sẽ cất cánh. Đại úy Ken Healy bảo: “Khi thấy chắc chắn Joe vào phi cơ rồi, gõ lên cánh cửa cho tôi hay”. Tôi đi sau, bảo Val: ” Val, canh chừng cầu thang, thấy Joe vào thì giơ tay, tôi sẽ ra hiệu cho Ken biết”

Trong khi đợi phi cơ chạy qua đài kiểm soát, người ta tiếp tục ào tới. Chúng tôi ấn họ xuống, 5, 6 người một ghế. Trong lúc làm việc, tôi nhớ là đã tự hỏi: “Thế còn đàn bà, trẻ con đâu hết?” Hóa ra, mọi hành khách đều là binh sĩ. Sau đó, tôi đếm chỉ có 11 người đàn bà và trẻ con. Tất cả chỉ có thế! Còn lại đều là binh sĩ…
Mọi người ngồi trên ghế với những bộ mặt căng thẳng. Gã khùng vẫn tiếp tục la lối: “Bay đi! Bay đi! Bay đi!”

Khi tàu đến gần đài kiểm soát. Daly vẫn còn đâu đó dưới cầu thang để kéo người vào. Tàu chạy rà qua đài kiểm soát được một lát, Val quay người lại, giơ tay lên. Tôi gõ vào cửa phòng lái. Phi cơ bắt đầu rồ máy. Chúng tôi gia tăng vận tốc. Gã khùng lúc trước la lối đòi bay, bây giờ sợ hãi thét lên: “Ối! Ối! tàu bay đang cất cánh trên cỏ.”
Thật ra, chúng tôi chạy để cất cánh từ phi đạo, lối vào bãi đậu, và Ken đã rồ máy để cảnh cáo người ta tránh ra, nếu không chúng tôi sẽ cán qua mà chạy.

Phi cơ leo lên cỏ vì đã vào cuối đường bến, không còn cách nào trở lại được. Chúng tôi cứ tăng tốc lực bay vượt lên, do đó đã đụng phải một chiếc xe và một cọc hàng rào gây hư hỏng cho cánh phi cơ. Nhưng hư hỏng trầm trọng nhất là do đạn và lựu đạn ném vào một bên cánh. Ở trong phi cơ, chúng tôi không thấy được hư hại, không rõ tình trạng thế nào. Nhưng đại úy Ken Healy biết rất rõ.

Dầu thế, chúng tôi vẫn phải bay lên. Phải thoát khỏi Đà Nẵng. Chưa một giây phút nào tôi nghĩ là không thể thoát. Không ai có thì giờ để nghĩ những điều như vậy giữa cơn rối loạn. Sau này tôi khám phá được suýt chút nữa chúng tôi đã không thoát. Đáng lẽ chúng tôi đã mất mạng vì các hư hỏng của phi cơ. Với 358 con người ở lòng tàu, còn lại 60 người khác trong khoang chở hàng, có cả người mắc trên bánh xe. Chiếc máy bay này thật sự chỉ dùng để chở có 133 hành khách thôi.
Sau này Ken Healy gởi cho hãng Boeing những con số thống kê liên hệ đến chuyến bay. Người ta cho chạy điện toán rồi bảo chúng tôi: Theo cách tính của họ, phi cơ chẳng thể nào cất cánh. Vậy mà chúng tôi đã cất cánh được. Sau Ken cũng gởi cho Boeing một điện tín khác, nói: “Quý ông quả đã chế được một cái tàu bay tốt hết xảy.”

Sau khi cất cánh, tôi bắt đầu đếm hành khách. Tôi chú ý một người ngồi ghế trước, mặt tái xanh, bị thương nặng, ruột đổ lòng thòng. Tôi dùng tay nhét đại ruột vào, giật cái khăn trên cổ một người nào đó quấn quanh bụng ông ta lại. Tôi kéo thùng cứu thương xuống. Thuốc men mất đâu cả từ Sài Gòn. Chúng tôi không có bất cứ một vật dụng y khoa nào trên tàu. Trống trơn. Không thuốc men bông băng gì. Sau khi tạm ổn thỏa với người đàn ông ghế trước, tôi nhìn ra lối đi, thấy một người khác đang bò lết đến bên tôi. Tôi nhận ra gã, đầu bê bết máu. Máu vấy đầy mặt. Chính là gã đàn ông đã kéo người đàn bà ra khỏi tay tôi. Đó là gã đàn ông bị Daly nện với khẩu súng lục. Lần sau chót tôi thấy hình ảnh người đàn bà bị nghiến trên mặt đất. Cũng lần sau chót tôi thấy gã đàn ông này bị đám đông đạp lên. Vậy mà sao gã cũng lết được vào phi cơ? Bây giờ gã đang bò. Tôi nhớ đó là lần duy nhất trong ngày tôi đã cầu nguyện, tôi cầu: “Lạy chúa. Xin đừng để cho gã này tiến lại gần con”. Gã cứ lồm cồm lết đến. Gã nắm lấy ống quần tôi. Gã nhìn lên tôi. Gã chỉ nói: “Xin cứu tôi”
Thế là tôi nắm đại một người, kéo khỏi ghế, tôi giúp gã ngồi vào ghế. Đầu gã nứt, tôi có thể nhìn thấy bên trong máu lầy nhầy. Không có gì để cầm máu cả. Tôi biết nếu tôi không giúp cho máu cầm lại, gã sẽ chết ngay trên tay tôi. Một người lính ngồi bên cạnh mặc cái áo tác xạ. Tôi xé toạc cái áo, bốc một nắm mạt cưa nhét vào vết thương. Tôi cứ nhồi mãi mạt cưa vào để chận vòi máu. Chắc chắn giới Y khoa Mỹ sẽ giật mình với phương pháp này, nhưng nó đã tỏ ra hữu hiệu. Tôi giật lấy cái sơ mi của một người khác, buộc quanh đầu gã để giữ mạt cưa lại…

Gã được bình yên suốt chuyến bay. Gã thật mạnh, không bị bất tỉnh lần nào. Tôi đi về phía sau lần nữa, thấy Val, Daly và Joe Hrezo đang cố kéo một người đàn ông mắc kẹt trong cầu thang sau. Cửa máy bay sau không đóng được. Người ấy bị kẹt trong thang, gẫy chân. Sau cùng họ lôi được người này ra, mang vào trong phi cơ. Val và tôi cố bó cái chân gẫy với một miếng gỗ – Lúc ấy Joe bảo tôi rằng thông tín viên người Anh không trở lại được. Anh ta bước ra phi đạo Đà Nẵng để thu hình đám đông, rồi vô phương trở vào phi cơ trong lúc rối loạn. Anh ta còn ở trong đài kiểm soát. Ken Healy hứa sẽ có một chiếc trực thăng Air America đến đón. Về sau, anh ta cũng đã trở vào được Cam Ranh. Val, Atsako và tôi tiếp tục cấp cứu cho mọi người trên tàu. Việc này chiếm hết thì giờ và tôi đoán là khi đã bay được một giờ đồng hồ thì chúng tôi mới bắt đầu nhìn đến các hành khách khác không bị thương. Tôi thấy vẻ kinh sợ trên mặt họ. Cuối cùng, họ nhận thức được họ đã làm những gì. Họ bắt đầu hỏi “Còn những chuyến bay khác nữa không?”

Chúng tôi trấn an bằng cách nói thác: “Còn chứ, còn nhiều chuyến nữa.” Những người này bây giờ đã hiểu ý nghĩa việc bắn giết đồng bào để leo vào chuyến bay. Bây giờ họ ân hận. Đành nói dối thôi, chứ chúng tôi cũng biết sẽ không còn chuyến nào ra Đà Nẵng nữa. Đây là chuyến chót. Những người đi sau không ra nữa. Ken Healy đã liên lạc với Don McDaniel của chuyến 727 kế, bảo anh ta đợi chúng tôi ở Phan Rang, và bảo anh ta điện cho Dave Wanio quay lại Sàigòn để sửa soạn việc hạ cánh khẩn cấp. Tàu chúng tôi hư hỏng nặng, Ken không dám chắc bánh xe buông xuống được khi chúng tôi xuống Sàigòn. Tôi hiểu điều đó có nghĩa gì.

Trong lúc ấy, phi cơ nóng kinh khủng mặc dù thang máy bay phía sau vẫn hạ xuống, cửa sau vẫn mở trống hốc. Người ta không thể thở nổi trong máy bay với chừng ấy con người – chúng tôi nhờ Đức, chuyên viên âm thanh của CBS luôn luôn nhắc nhở bằng tiếng Việt trên máy phát thanh là “Yêu cầu đừng hút thuốc.” Hành khách tuyệt đối cấm hút thuốc, và nếu có người hút thuốc là hỏa hoạn sẽ xảy ra lập tức.
Sau công tác cứu thương cho hành khách, tôi nhận ra trên máy bay không có gì cho họ uống. Nhưng có một ngăn nước đá đã chảy, bây giờ đầy nước lạnh. Tôi bảo Bruce Dunning xé tấm màn ra từng miếng vải vuông nhỏ, nhúng nước. Tôi lấy những mảnh vải ướt, đi lên đi xuống chuyển cho hành khách tạm thời lau mặt. Người nào cũng nhễ nhại mồ hôi. Tôi bảo Val và Atsako làm một cái gì để nâng tinh thần những người này. Sau những gì họ đã làm với chính các bè bạn, chiến hữu họ, sự xúc động đang chậm chạp kéo đến dày vò họ. Họ đã bỏ gia đình. Họ đã giành giật, bắn giết nhau để lấn vào tàu. Bây giờ cơn náo loạn biến mất, nhận thức về cái ghê tởm đã xảy ra đang ngấm dần.

JAN WOLLETT (Nữ Trưởng Tiếp Viên Hàng Không)

Vì thế, chúng tôi đi quanh, nói chuyện, vỗ vai, chùi mặt mày, lau tay, cố làm một vài điều giúp họ thoải mái đôi chút.
Lúc ấy, tôi cũng chết khát. Daly đến bên, mở áo sơ mi ló ra cho thấy một chai coca. Ông bảo “ra phòng lái.” Tôi đi ra phòng lái, ngồi xuống ghế quan sát viên, Daly tiến đến với một chai coca. Ông mở nút đưa tôi. Tôi nhớ tôi đưa chai coca lên miệng, nhưng nước cứ trào khỏi cằm, chảy xuống bộ đồng phục. Tôi không nuốt nổi. Chúng tôi chuyền cái chai coca độc nhất quanh phòng lái. Một lần nữa, Ken Healy nói với tôi về các hư hỏng của chiếc tàu bay. Ông bảo không dám chắc cái bánh xe mũi có thể buông xuống được, nếu nó xuống được, chưa chắc sẽ chịu đựng được thân tàu. Ông báo động: phải sẵn sàng đối phó bất cứ điều gì khi hạ cánh xuống Sàigòn.

Tôi trở lại khoang hành khách, phục vụ loanh quanh. Chợt mọi người đều xúc động nhìn qua phía trái. Chúng tôi đã bay đến Phan Rang. Don McDaniel và phi hành đoàn đang bay ở cao độ 35,000 bộ, họ đang chờ chúng tôi. Cuối cùng họ thấy một chấm đen ở phía dưới, họ nhận ra chúng tôi và đang bay xuống phía chúng tôi. Chúng tôi nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, tương phản với bầu trời xanh tuyệt vời, trên đám mây trắng nõn là chiếc tàu bay World 727 xinh đẹp màu đỏ và trắng. Một cảm giác sảng khoái đột nhiên chạy qua khắp chiếc tàu, và lúc ấy tôi biết cái cảm giác này cũng đi suốt qua tôi. Chúng tôi biết một chiếc phi cơ chị em đã tìm ra chúng tôi. Chúng tôi sẽ an toàn vì cô chị chúng tôi nay đang hộ tống chúng tôi trở về bình an.

Thế là anh chàng Don McDaniel lái chiếc tàu bay của anh ta lượn quanh chiếc tàu bay chúng tôi để lượng giá những hư hỏng. Anh ta gọi Ken Healy, bảo “’Hình như có một xác chết lủng lẳng trên bánh xe của bạn.” Ken đã hỏi anh ta về việc đó. Một người bị cán khi bánh xe lùi lại. Nhưng cái chết của người này đã cứu mạng sống của tám người khác dưới guồng bánh xe vì xác chết đã cản cần máy lại, không làm cho bánh xe lùi thêm nữa.

Như vậy lúc đó chúng tôi biết sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề gây ra bởi bánh xe. Các cửa khoang chở đồ mở toang, cầu thang sau còn treo thòng xuống, cửa sau cũng mở trống, vành xếp của cánh máy bay bị đạn bắn sẽ không hoạt động khi hạ cánh. Chúng tôi đang ở tình trạng khó khăn nghiêm trọng.
Phi cơ tiếp tục bay về Sàigòn.

Tôi nói với Val “vào phòng rửa mặt,” ở đây tôi nói cho Val biết những cái trục trặc của tàu bay. Lúc hạ cánh, tôi sẽ ngồi hàng ghế trên, Val sẽ ngồi sau khoang phi cơ. Tôi bảo không biết chúng tôi thoát được không. Tôi dặn dò vài điều nhắn cho gia đình tôi trong trường hợp Val sống sót và nếu tôi không thoát được. Tôi bảo “Hãy cho gia đình tôi biết mọi sự cũng ổn thôi. Tôi đã không hề sợ hãi gì. “Tôi không khóc. Cô cũng vậy. Người ta không có thì giờ dành cho xúc cảm, mà hiển nhiên đây là lúc đầy cảm xúc, nhưng người ta đành phải giấu đi thôi.

Thế rồi phút cuối cùng của chuyến bay phải đến. Từ sau thân tàu, tôi bắt đầu đi lên, và đây là lúc một hành động tự phát xuất hiện. Một người đàn ông trao vào tay tôi khẩu M.16. Anh không nói tiếng Anh, tôi không nói được tiếng Việt, tôi không rõ anh ta muốn gì. Nhưng rồi tôi hiểu: anh muốn tôi hãy nhận lấy khẩu súng của anh. Vì thế tôi khoác cái khẩu súng khốn nạn lên vai, trong lúc bước đi, người ta bắt đầu trao thêm cho tôi mọi thứ khác. Khi đến phòng lái, trên vai tôi đã có vài khẩu M.16 lủng lẳng, một băng đầy đạn, một nắm đạn rời. Một vài người đã trao một hay hai viên, vài người khác trao cho tôi nhiều hơn, tôi còn có hai khẩu súng lục treo trên ngón tay. Chính lúc ấy – khi tôi đang nắm những viên đạn nhỏ và những thứ vũ khí trong tay – đột nhiên một cảm giác rõ rệt bừng ra – cuộc chiến của những người này đã chấm dứt. Họ không muốn súng đạn hay bất cứ gì nữa. Điều ấy thực chua chát: chính họ cũng đã ở cuối đường.

Khi tôi gần đến phòng lái, một gã khùng đặt một quả lựu đạn lên trên các thứ trong tay tôi. Tôi nhìn xuống, tự nghĩ “Trời ơi – một quả lựu đạn!” Phản ứng bản năng tôi là định xoay người, ném xuống phía sau máy bay. Nhưng tôi sợ nó đụng cầu thang phát nổ, tôi nghĩ “Chúa-ơi-tôi-sẽ-làm-gì-với-những-thứ-này?” Tôi đi về phòng lái, đá cửa. Charlie Stewart, kỹ sư chuyến bay mở ra. Tôi nói với anh: “Charlie, cầm lấy mấy cái này!” Tôi chưa bao giờ từng chạm tay đến một quả lựu đạn. Charlie cầm lấy. Anh ta và Mike Marriott vội tìm băng keo quấn lại. Họ quấn băng keo quanh quả lựu đạn, và mọi thứ tôi mang vào. Nếu lỡ có gì phát nổ, họ muốn bọc bớt lại càng nhiều càng tốt.

Đã đến lúc hạ xuống Sàigòn. Tôi gọi Mike Marriott tới bên cửa hông, chỉ cho anh cách mở cửa khẩn cấp và cách bung cầu tuột. Thông thường, đó là việc của Atsako, nhưng cô là tiếp viên mới, tiếng Anh không thạo, không chắc cô sẽ đối phó được trường họp khẩn cấp. Cho nên tôi muốn có một người đàn ông ngồi đấy.

Lúc tôi đang ngồi ở ghế trên với Bruce Dunning thì Daly từ phòng lái bước ra, ông yêu cầu Bruce xuống phía sau tàu. Ông muốn Bruce mang các phim ảnh quay được ở Đà Nẵng ra phía sau, nếu không ai sống sót thì các phim ảnh vẫn phải được bảo toàn. Tất cả đều cảm thấy mãnh liệt: Nếu chúng tôi không thoát, thế giới vẫn cần phải biết những gì xảy ra hôm ấy.

Daly đến, ngồi xuống cạnh tôi. Ông hỏi tôi có biết gì tình trạng chiếc máy bay không. Tôi nói biết. Ông hỏi tôi có sợ không. Tôi nói “Không, tôi không sợ chết.” Ông choàng cánh tay ôm tôi, nói “Cô bảnh lắm. Tôi sẽ đãi cô nhậu một chầu nếu mình thoát ở Sàigòn.” Tôi nói “Ông Daly, nếu sống sót, xin ông mua cho tôi một két bia.” Ông ta cười.

Rồi Daly lại bảo tôi “Những người này không hề biết súng của tôi trống rỗng.” Ông đã bắn hết đạn trong lúc cố duy trì trật tự ở cầu thang máy bay tại Đà Nẵng. Ông bảo “Tôi sẽ giữ khẩu súng để kiểm soát họ khi hạ cánh, như thế cô sẽ có thì giờ mở cửa và bung cầu tuột.” Tôi đáp “Tốt lắm.”

Chúng tôi bắt đầu một cuộc hạ cánh khá dài để xuống Sàigòn. Phi cơ bay hơi nhanh, tất nhiên không nên bay nhanh như vậy để hạ cánh, nhưng chúng tôi không điều chỉnh được vành xếp ở cánh. Và tôi ngồi ở cái ghế đặt ngay vị trí bánh xe mũi, ngồi đấy, tôi có thể cảm thấy bánh mũi có hạ xuống không? Có chống được thân tàu hay không? Rồi tôi cảm thấy bánh xe chính chạm phi đạo, tôi thấy phi trường bay vượt qua. Tôi cố chờ để cảm thấy cái bánh xe mũi hạ xuống mặt đường. Nhưng Ken đã giữ cho mũi máy bay cách khoảng mặt đất thật lâu. Tôi không hiểu làm thế nào anh đã giữ được như thế. Bỗng tôi thấy các toà nhà vút qua. Tàu chúng tôi đang chạy ngay trên phi đạo. Tôi hiểu bánh mũi đã hạ và chịu đựng được. Thế mà tôi không cảm thấy nó hạ xuống lúc nào. Ken đã khéo léo điều khiển chiếc 727 đáp xuống Sàigòn một cách nhẹ nhàng như thế. Rồi phi cơ cứ vùn vụt chạy trên phi đạo, vì chúng tôi không thể ngừng. Cảm ơn Thượng Đế, Sàigòn có được cái phi đạo dài 14,000 bộ! Bốn chiếc xe cứu hỏa chạy nhanh, kèm bên chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi quẹo qua đường vào bến. Phi cơ ngừng, không tỏ dấu hiệu rõ rệt nào là có sự nguy khốn cả. Tôi nhảy ra, mở cửa, nhưng không bung cầu cấp cứu. Joe Hrezo đã đứng trên mặt đất, hẳn anh ta đã chạy xuống bằng thang sau. Cùng một lúc, Joe và tôi la lên: “Xe tải thương, cáng cứu thương! Chúng tôi cần xe tải thương, cáng cứu thương.”

Người ta mang cầu thang đến cửa trước. Mọi người bên trong ngồi im lặng. Qua máy phóng thanh, Đức nhắc đi nhắc lại: “Ngồi yên, đừng di chuyển.” Không ai nhúc nhích. Sau đó chúng tôi bắt đầu chuyển người ra. Tôi nhớ có một người đàn ông châm một điếu thuốc. Ngay khi anh ta tới cửa trước, tôi yêu cầu anh không được hút thuốc vì có xăng. Anh ta ném điếu thuốc, dí chân lên điếu thuốc cháy đỏ. Tôi thấy anh ta đi chân không. Tôi nghĩ “Chúa ơi, thế thì đau lắm.” Nhưng anh không cảm thấy. Không ai trên tàu còn cảm thấy gì nữa.

Hầu hết hành khách được lùa sang một bên. Cáng tải thương mang vào tàu, họ khiêng người đàn ông với vết thương nặng trên đầu, rồi khiêng người đàn ông bị đổ ruột. Khi mọi người ra hết, chúng tôi bắt đầu kiểm điểm. Val và tôi bước qua lối đi, nhặt nhạnh súng, đạn, những quả lựu đạn bỏ lại trên ghế. Tôi nhận ra chúng nặng quá sức. Tôi bảo Val “Thôi kệ – Bỏ lại – sẽ có người khác đến lo chuyện ấy.”

Tôi và Val rời tàu. Chúng tôi là hai người cuối cùng rời tàu. Nhìn những chỗ hư hỏng của chiếc máy bay, chúng tôi sợ hãi khi thấy những mảng kim khí đã toác ra. Chúng tôi cũng sợ hãi nhìn những lỗ đạn trên cánh. Lúc ấy tôi nói với Val “Thật đáng ngạc nhiên là chiếc phi cơ này đã có thể bay được.”
Val và tôi được đón đến ban phi vụ, rồi đến khách sạn Caravelle. Người ta đưa chúng tôi tới văn phòng ông Daly, nơi đây thông tín viên NBC đang phỏng vấn tất cả mọi người. Tôi ngồi trên chiếc ghế dài uống bia trong lúc họ quay phim.

Trong phòng bên, vài chục phóng viên khác đang chờ. Họ đều muốn phỏng vấn chúng tôi. Tôi hỏi Daly “Chúng ta nên nói gì?” Ông ấy bảo: “Cứ nói sự thật.”

Daly đưa tất cả chúng tôi đi ăn tối hôm ấy. Khi về lại khách sạn, tôi tắm rất lâu. Tôi nằm xuống giường, nhưng không ngủ được. Tôi cứ nhìn thấy mãi hình ảnh những người buổi sáng hôm ấy ở Đà Nẵng. Tôi thấy người đàn bà bị đẩy đạp đến chết. Tôi có thể thấy cả quần áo của bà ta và cái xác máu me nát bấy. Tôi thấy gia đình năm mạng người bị bắn từ sau lưng ngã gục xuống. Rồi người đàn ông bò lồm cồm ở lối đi trên máy bay, lết đến bên tôi. Tôi nhận ra suốt đêm tôi sẽ không thể ngủ được. Tôi nhỏm dậy, ra ngồi ở bàn viết. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể viết lại. Tôi đã cố. Tôi viết được đôi chút. Nhưng thật khổ, chuyện ấy quá lớn đối với chữ nghĩa. Tôi không biết viết thế nào về câu chuyện đã xảy ra.

Thời gian trôi. Tôi mất ý niệm về thời gian. Chợt chuông điện thoại reo. Tôi bốc máy trả lời. Điện thoại viên bảo có một cú điện thoại viễn liên quốc tế. Tôi nhìn đồng hồ, nhận ra đã 7 giờ sáng. Rồi giọng một người đàn bà, nói trong điện thoại từ một đài phát thanh ở Los Angeles. Bà ta muốn phỏng vấn tôi. Bà đã xem cuốn phim CBS về chuyến bay Đà Nẵng trong mục tin tức. Thế là tôi kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy ra. Cuối cuộc phỏng vấn, bà ta nói một câu ngu ngốc nhất. Chưa bao giờ trong suốt đời tôi nghe ai có thể nói một câu ngu ngốc thế. Bà ta bảo: “Cô Wollett, nghe chừng cô còn buồn bực lắm!” Tôi không thể tin được sự ngây ngô như thế trong nhận xét của bà ta. Lúc ấy, biết bao ý nghĩ diễn ra trong trí. Nhưng tôi chỉ còn có thể nói: “Thưa bà, hãy đặt vấn đề như thế này: Đây không phải là câu chuyện mà người ta có thể chứng kiến mỗi ngày.”

Bà ta nói “Thôi, cảm ơn, cô Wollett. Nhân tiện, xin chúc cô một lễ Phục sinh vui vẻ.” Đến lúc ấy, tôi mới nhận ra: đó là ngày chủ nhật mùa lễ Phục sinh.

Bản dịch của nhà văn NGUYỄN BÁ TRẠC.
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest (3)
102 Pages«<9495969798>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.