Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<9394959697>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#1881 Posted : Sunday, February 8, 2015 9:41:37 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Cuộc chiến giữa thiện và ác



Các bloggers và nhà báo tự do ở Việt Nam mới gửi đi một “Bản lên tiếng chung” về trường hợp nhà báo Hoàng Khương bị xử bốn năm tù, đang chờ ngày ra trước tòa phúc thẩm. Trong bản lên tiếng này, các nhà báo kêu gọi, “Chúng ta sẽ luôn đứng bên anh, đứng cùng chiến tuyến của anh, và tiếp tục dấn thân vào cuộc chiến giữa thiện và ác này.”

Theo nội dung bản lên tiếng thì chúng ta hiểu “Cuộc chiến giữa thiện và ác” ở đây là giữa guồng máy tham nhũng và nạn nhân là người dân Việt. Câu chuyện bắt đầu từ những bài báo của Hoàng Khương, tên thật là Nguyễn Văn Khương, tố giác nạn tham nhũng của cảnh sát quận Bình Thạnh, đăng trên báo Tuổi Trẻ vào Tháng Bẩy năm 2011. Trong bài báo kể một vụ ăn hối lộ cụ thể, Hoàng Khương đã chụp được cả hình Thượng úy Công an Huỳnh Minh Ðức đang đếm tiền, mười triệu đồng Việt Nam, với bộ mặt rất thản nhiên như đang nhận tiền công sửa xe hay bán dầu cháo quẩy vậy.

Các chi tiết kể ra trong bài báo của Hoàng Khương sống động như ký giả có mặt tại chỗ: “Ông Hoàng hỏi đưa trước 10 ‘chai’ (triệu) được không, ông Huỳnh Minh Ðức nhanh nhẩu bảo ‘được.’ Ông Hoàng đếm tiền đặt trên bàn, ông Ðức xếp lại ngay ngắn rồi đút túi và nói, ‘Chủ Nhật đưa giấy tờ xe, khoảng Thứ Năm, Thứ Sáu lấy xe, khỏi ra phường kiểm điểm.’ Ông Hoàng nói Hòa (người lái chiếc xe bị bắt) không có giấy phép lái xe. Ông Ðức du di ‘không có thì thôi.’ Thấy ông Hoàng chưa thật sự yên tâm, ông Ðức hứa chắc nịch: ‘Vụ này đã thành công 99%!’”

Bài tường thuật lại kèm theo hình ảnh ông Ðức đếm tiền; đúng là một bài báo tuyệt vời! Nhưng làm sao nhà báo lại nghe được đủ các lời đối thoại và chụp được những bức hình như vậy? Theo tố cáo của công an thì chính Hoàng Khương là người đã mai mối để đưa tiền hối lộ. Thế là, vào cuối năm 2011 bên công an lấy gậy ông đập lưng ông, đưa Hoàng Khương ra tòa về tội hối lộ cảnh sát. Họ còn yêu cầu báo Tuổi Trẻ đuổi Hoàng Khương; và tờ báo này đã ngoan ngoãn làm theo, “đình chỉ công tác” nhà báo từ tháng 12 năm ngoái. Mặc dù lúc đó Hoàng Khương chưa hề ra tòa, chưa hề bị kết án! Sự kiện này chứng tỏ ở trong nước Việt ta thì lệnh của cảnh sát công an còn được thi hành nhanh hơn cả bản án của ngành tư pháp! Ðầu Tháng Chín năm 2012, Hoàng Khương bị án bốn năm tù về tội hối lộ cảnh sát! Huỳnh Minh Ðức cũng được lãnh năm năm tù về tội ăn hối lộ.

Luật lệ nước nào thì cũng coi cả việc hối lộ lẫn nhận hối lộ đều có tội. Nếu guồng máy pháp luật ở nước ta làm việc hữu hiệu thì chắc hơn một nửa nhân dân trong nước đã bị bỏ tù! Vì chẳng mấy ai là không từng hối lộ, từ trẻ em lên chín tới các cụ già 90! Một nửa còn lại (cứ cho là 47% còn lại) không phạm tội hối lộ chỉ vì họ không đáng để các quan công an chiếu cố! Quý vị công an ở nước ta có quyền tuyên bố là họ không bao giờ tham nhũng đối với 47% quần chúng nhân dân, vì đám nhân dân này chẳng có đồng xu nào đáng cho các quan bỏ công đi sách nhiễu cả! Trong hàng ngũ nhân dân có thể 47% không bao giờ phạm tội hối lộ; còn trong hàng ngũ cảnh sát công an thì tỷ số người không bao giờ ăn hối lộ là bao nhiêu? Nếu mở một cuộc trưng cầu ý kiến đồng bào Việt Nam ta thì chắc cả nước sẽ nói tỷ lệ đó là “zero phần trăm!” Tức là 100% các chiến sĩ công an đều chấm mút cả. Nếu không được chấm mút thì ai dại đeo cái mặt mo cho vợ con xấu hổ làm cái gì?

Ðiều tức cười là nếu phóng viên Hoàng Khương thực sự có ý đưa tiền hối lộ cho cảnh sát để chạy chọt cho người quen thì chắc anh không dại gì lại chụp ảnh rồi đem in lên báo! Không lẽ một người tốt nghiệp Ðại Học Ðà Lạt lại dại dột “lạy ông tui ở bụi này” như vậy? (Xin thành khẩn khai báo, ký giả này cũng tốt nghiệp Ðại Học Ðà Lạt, trước năm 1975; nhưng nhận xét vừa rồi hoàn toàn dựa trên suy luận công bằng).

Cuối cùng, một người tối dạ đến đâu cũng thấy việc gán cho nhà báo Hoàng Khương cái tội đưa tiền hối lộ công an là một bản án “bắt voi bỏ rọ.” Chỉ vì nhà báo này dám đụng tới cảnh sát, công an. Và vì nền công lý ở nước ta thì con voi to đến đâu cũng bỏ vô trong rọ được hết!

Cho nên, bản lên tiếng của các nhà báo tự do ở Việt Nam đã “lên án” chính bản án kết tội Hoàng Khương; gọi là một bản án bất công. Hơn nữa, nó “hoàn toàn phản bội những khát vọng và nỗ lực của nhân dân trong sứ mệnh bài trừ tham nhũng, tham ô, hối lộ, cửa quyền đã và đang phá nát xã hội Việt Nam.” Ðúng là một “cuộc chiến giữa thiện và ác.” Khát vọng của nhân dân là thiện. Bọn chúng nó là ác.

Nhưng cuộc chiến giữa thiện và ác không phải chỉ là giữa “nhân dân phải đi hối lộ” và “các quan đòi hối lộ.” Hiện tượng “đang phá nát xã hội Việt Nam” cũng không phải chỉ là do “bọn tham nhũng, tham ô, hối lộ, cửa quyền” gây ra.

Cuộc chiến giữa Thiện và Ác ở nước ta, tai họa đang phá nát dân tộc chúng ta, còn sâu xa và nặng nề hơn nhiều.

Khi đọc bản lên tiếng của các nhà báo tự do trong nước, điều đáng chú ý nhất là không thấy nói những ý kiến nêu trong bản lên tiếng này nhắm gửi tới “thẩm quyền” nào để minh oan cho nhà báo Hoàng Khương. Các nhà báo tự do chỉ yêu cầu đồng bào cùng ký tên vào Bản lên tiếng, nhưng không nói họ sẽ làm gì để cho Hoàng Khương được xóa án, được tự do!

Ðây là một cảnh “nói giữa trời.” Không nói với một ai cụ thể. Cảnh này chỉ thấy ở nước Việt Nam ta. Lý do giản dị, là các nhà báo tự do không biết mình phải nói với ai cả! Ngoảnh đi ngoảnh lại, chẳng biết kêu ai để giải oan cho một bạn đồng nghiệp; thôi đành cứ “kêu lên giữa chợ;” ai nghe thì nghe vậy!

Muốn một người lên tòa phúc thẩm được tha bổng, thì nơi duy nhất để kêu oan là tòa án. Phải đi tìm luật sư ra biện hộ mạnh mẽ giữa tòa. Ðó là phương cách bình thường. Nếu tôn trọng cán cân công lý thì người ta cũng không thể dùng dư luận đông người làm áp lực với tòa án. Công việc ở tòa án phải để cho các luật gia, bên công tố cũng như bên biện hộ, tranh biện với nhau; rồi để yên cho quan tòa quyết định, dựa trên pháp luật. Ðó là cách hành xử bình thường trong một xã hội văn minh, tôn trọng luật pháp.

Các nhà báo tự do không muốn làm một hành vi kém văn minh, tất nhiên không muốn mọi người thấy mình đang tạo áp lực với công lý! Như vậy thì chúng ta đi xin đồng bào ký tên ủng hộ để làm gì?

Chúng ta vẫn cứ phải làm, bởi vì biết tất cả hệ thống tòa án hiện nay không dính dấp gì đến công lý cả. Tòa án chỉ là một dụng cụ nằm trong tay ba anh chị “chuyên chính vô sản;” điều này đã được xác nhận công khai từ hơn nửa thế kỷ nay rồi. Nói chuyện với tòa án thà rằng vạch đầu gối ra mà thủ thỉ với nó còn hơn!

Ðó mới là cái tai họa lớn nhất đã phá nát nước ta trong hơn nửa thế kỷ nay. Cái ác lớn nhất, cuộc chiến đấu chống cái ác quan trọng nhất, là ở đó. Cuộc chiến giữa Thiện và Ác không phải chỉ là chống bọn tham ô, cửa quyền, chống các anh chị em công an cảnh sát nhặt nhạnh chỗ này chút, chỗ kia chút! Ðó chưa phải là cái ác lớn nhất. Phải kêu lên giữa chợ, để tất cả mọi người thức dậy, nhìn thấy cái ác lớn nhất, và tìm cách thay đổi.

Chúng ta hoàn toàn đồng ý với các nhà báo tự do trong nước, nói rằng việc kết tội Hoàng Khương hoàn toàn sai. Nhưng cũng phải nói thêm, hành động của anh khi đem tiền hối lộ đưa cho một người công an, nếu như trong phiên tòa anh nhận đã làm việc đó, cũng sai nốt. Ở một nước văn minh, ngay cảnh sát cũng không được “gài bẫy” người ta phạm tội để bắt quả tang. Trừ khi có lệnh của tòa án cho phép; vì có những lý do chính đáng và không thể tránh được. Một phóng viên có thể tìm cách chứng kiến và thu thập tài liệu kẻ gian đang phạm tội, nhưng không thể tham dự vào tội ác, dù dưới hình thức là nạn nhân hay là tòng phạm!

Tại sao nhà báo Hoàng Khương không quan tâm đến quy tắc nghề nghiệp thông thường này? Tại sao những bloggers và nhà báo tự do lên tiếng bênh vực anh cũng không nhắc tới lầm lẫn của anh khi đóng vai chạy chọt, hối lộ để lấy tài liệu viết báo?

Ðặt câu hỏi như thế nhưng ai cũng biết tại sao rồi. Vì mọi người phải sống quá lâu trong một xã hội không thấy những người cầm quyền tôn trọng các quy tắc đạo lý bình thường. Thượng bất chính hạ tắc loạn. Khi một nhóm người chuyên dùng bạo lực và dối trá để lừa gạt dân, đàn áp dân, thì đạo lý cả xã hội sẽ mất hết. Công an ăn hối lộ. Thầy giáo ăn hối lộ. Thầy thuốc ăn hối lộ. Nhà báo ăn hối lộ. Xã hội đã mất kim chỉ nam đạo đức.

Cho nên khi một nhà báo có nhiệt tâm, muốn vạch mặt một anh chuyên ăn hối lộ để viết báo thì cứ nhử cho anh ta nhận hối lộ, thế nào cũng bắt được quả tang! Gọi việc này là “gài bẫy” thì đành chịu tội gài bẫy! Nhưng thực ra con mồi không mắc bẫy! Chính nó sẵn sàng chui vào bẫy. Vì thói quen ăn vụng xưa nay vẫn thế, có ai dám vạch mặt chỉ tên đâu! Bắt lỗi một nhà báo gài bẫy, thì phải vạch tội toàn thể cái bọn từng gài bẫy cả dân tộc đi theo chúng; dẫn cả nước cùng tiến vào một con đường cụt, một con đường nghèo, con đường dốt, từ nửa thế kỷ nay. Khi cái ác trọng nhất là chiến đấu với cái đảng Siêu Gài Bẫy đang phá nát cả nền đạo lý của dân tộc.

Ngô Nhân Dụng
phamlang  
#1882 Posted : Monday, February 9, 2015 6:48:55 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#1883 Posted : Tuesday, February 10, 2015 5:55:08 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



Băng Nhạc "Việt Nam" Xuân







UserPostedImage
thunder  
#1884 Posted : Thursday, February 12, 2015 9:23:15 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Mỹ - Việt rà soát mối quan hệ đang phát triển


Elisabeth Rosen

Viết cho BBC từ Hà Nội
30 tháng 1 2015

Hai mươi năm trước, Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Vào hôm 26/1, các nhà ngoại giao đã gặp nhau tại một hội nghị ở Hà Nội để đánh giá xem hai nước đã đi được bao xa.

UserPostedImage

Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc nói Việt Nam hoan nghênh vai trò lớn hơn của Hoa Kỳ trong khu vực.


Mặc dù bầu không khí chung là lạc quan, với sự đồng thuận rằng đã có được tiến bộ trong việc thực hiện các chủ đề quan trọng như kinh tế và mậu dịch, nhiều người cũng đề cập tới các lĩnh vực có vấn đề hơn như nhân quyền.

"Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, hai nước chúng ta đã thành công trong việc chuyển hóa từ kẻ thù thành bè bạn, và sau đó đi tới đối tác toàn diện", Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc cho biết trong hội nghị do Học viện Ngoại giao Việt Nam, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington, DC (CSIS) đồng tổ chức.

Cả hai phía đều cảm nhận được về những gì đã đạt được.

"Chúng ta đã đi qua một chặng đường rất dài về sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau," cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak nói. "Cả hai bên đều muốn mối quan hệ này được thành công."

Trong khi lối hùng biện kiểu này là phổ biến cho bất kỳ sự kiện chính trị nào, cả hai nước đều có nhiều lý do để tăng cường mối quan hệ.

Chúng tôi đang dành nhiều nguồn lực hơn cho châu Á. Nhiều người nói điều nay sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương và tôi nghĩ rằng đó là sự thật.
Michael Michalak, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam

"Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ lợi ích chính trị và an ninh đang ngày càng có điểm chung", ông Carl Thayer, một chuyên gia về Đông Nam Á tại Học viện Quốc phòng Úc cho biết. Ông dẫn chiếu tới lợi ích chung trong “việc đối phó với cách tiếp cận áp đảo của Trung Quốc trong tranh chấp ở Biển Đông bằng cách hỗ trợ giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua việc sử dụng luật pháp quốc tế" cùng với việc giải quyết các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như buôn ma túy, buôn bán người và nâng cao năng lực cho tìm kiếm, cứu hộ và cứu trợ thiên tai.

"Việt Nam muốn Mỹ duy trì sự cân bằng sức mạnh hiện nay", ông Thayer nói.

Trong khi đó, Việt Nam đang đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược "xoay trục về châu Á" mà Tổng thống Barack Obama và các nhà lãnh đạo khác đã nhiều lần kêu gọi kể từ năm 2011.

"Chúng tôi đang dành nhiều nguồn lực hơn cho châu Á. Nhiều người nói điều nay sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương và tôi nghĩ rằng đó là sự thật, " cựu Đại sứ Michalak nói.

Trong những năm gần đây, hai nước đã tăng cường hợp tác chính trị và an ninh đáng kể. Murray Hiebert, Phó ban Đông Nam Á từ viện CSIS, chỉ ra việc hợp tác giữa hai quân đội như "hỗ trợ và đào tạo về nhận thức chủ quyền biển theo đó sẽ giúp Việt Nam tăng cường sự hiểu biết của mình về những diễn biến ở Biển Đông" và việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương của Mỹ cho Việt Nam hồi tháng 10/2014.

UserPostedImage

Các cựu đại sứ Hoa Kỳ tham gia hội nghị này.


Theo chính sách mới này, Mỹ có thể bán thiết bị quốc phòng sát thương cho Việt Nam cho "mục đích an ninh hàng hải" – đây là bước quan trọng để chống lại thách thức ngày càng tăng trên Biển Đông. Tuy nhiên, việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương phụ thuộc vào việc Việt Nam chứng tỏ được "tiến bộ đáng kể về nhân quyền." Mặc dù hai nước cam kết sẽ thảo luận về những vấn đề này trong thỏa thuận hợp tác toàn diện của họ vào tháng Bảy năm 2013, nhiều sự khác biệt vẫn chưa được giải quyết.

"Chúng tôi muốn thấy sự cởi mở hơn trong việc quản trị [governance]," ông Michalak nói. "Chúng tôi bàn về các chủ đề nhân quyền, nhưng trên thực tế đó là vấn đề quản trị, tính minh bạch, tham nhũng, nhà nước pháp quyền. Đó là chủ đề mà chúng ta cần nhiều cuộc thảo luận và thỏa hiệp hơn".

Sự căng thẳng giữa mục tiêu tổng thể của Việt Nam và những gì diễn ra trên thực tế như tôn trọng bất đồng chính kiến và tự do ngôn luận sẽ không được giải quyết một cách nhanh chóng. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ có tiến bộ.
Vikram Singh, Phó Chủ tịch Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ

Vikram Singh, Phó Chủ tịch Trung tâm Tiến bộ Hoa Kỳ và cựu phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng cho khu vực Nam và Đông Nam Á, bày tỏ tin tưởng rằng Việt Nam đã có "tiến bộ" trong lĩnh này - mặc dù chậm hơn trong các lĩnh vực như mậu dịch, tức là liên quan tới đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP dự kiến đạt được trong năm nay.

"Sự căng thẳng giữa mục tiêu tổng thể của Việt Nam và những gì diễn ra trên thực tế như tôn trọng bất đồng chính kiến và tự do ngôn luận sẽ không được giải quyết một cách nhanh chóng. Nhưng tôi nghĩ rằng sẽ có tiến bộ,” ông Singh nói và dẫn chiếu tới con số các tù nhân chính trị ít hơn và "kiểu thoáng hơn" về tự do báo chí. "Tôi không nghĩ rằng Việt Nam bị lên án là mô hình Trung Quốc, nơi mà không có tự do ngôn luận và báo chí bị kiểm duyệt."

Mặc dù Việt Nam có thể không đi theo Trung Quốc trong chính sách tự do ngôn luận, người hàng xóm phương Bắc hiện là một trở ngại trong quan hệ đối ngoại. Giới lãnh đạo Việt Nam lo ngại rằng "gần Hoa Kỳ quá sẽ phải trả giá trong mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc," như ông Thayer nhận định. Tuy nhiên, trong bối cảnh bất an ngày càng tăng về việc nơi Trung Quốc sẽ mang sức mạnh tới chỗ nào, nhiều người ủng hộ chính sách gây dựng quan hệ với Hoa Kỳ.

"Việt Nam hoan nghênh vai trò lớn hơn của Hoa Kỳ trong khu vực, và chúng tôi tin rằng việc Hoa Kỳ tham gia sâu rộng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương là có lợi cho tất cả", Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc nói.

"Có lợi" ở đây là yếu tố mấu chốt.

"Việt Nam hoan nghênh vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực miễn là nó đóng góp - trong mắt người Việt - vào hòa bình, hợp tác và phát triển," ông Thayer nói

Nguồn: BBC

CatLinh  
#1885 Posted : Friday, February 13, 2015 10:04:55 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thunder  
#1886 Posted : Sunday, February 15, 2015 12:41:26 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Lời Nói Bay Đi, Văn Tự Còn Mãi



Nhan đề của bài viết này gồm 8 chữ, đó là tôi phỏng dịch từ một câu ngạn ngữ thông dụng đã trên 2,000 năm của người La mã, nguyên văn tiếng La tinh chỉ gồm có 4 chữ như sau: “Verba volant, scripta manent”. Câu này được dịch ra tiếng Anh là: “Spoken words fly away, written words remain”.

Ở Việt nam ta, thì từ xưa dân gian vẫn nói: “Khẩu thuyết vô bằng” tức là lời nói bằng miệng không thể nào được coi là bằng chứng được. Còn về chữ viết, thì cũng có câu: “Bút sa, gà chết” – tức là văn tự với chữ ký thì đã thành một chứng cứ để mà quy trách nhiệm rõ ràng rồi.

Nhà thơ Tú Xương, thì ngay từ đầu thế kỷ XX cụ đã cảnh giác người đời qua câu văn đày tính chất trào lộng như sau:

“Văn chương đâu phải là đơn thuốc,
Chớ có khuyên xằng – chết bỏ bu”.

Ngày nay, với sự phổ biến của sách báo, của truyền thanh truyền hình và nhất là của Internet – thì thông tin và kiến thức được phơi bày truyền đạt vừa mau chóng vừa rộng rãi ở khắp nơi mọi lúc. Đó là một sự thuận lợi có khả năng giúp cho cuộc sống con người mỗi ngày thêm phong phú, tốt đẹp hơn mãi. Tuy vậy, cũng vẫn có mặt trái của nó là đối với người có dã tâm độc ác, thì lúc nào họ cũng có thể sử dụng lời nói, chữ viết để gây tai họa cho bao nhiêu người khác. Ta sẽ bàn thảo cặn kẽ về khía cạnh tiêu cực này trong các mục sau đây.

I – Thủ đọan tuyên truyền dối trá mê hoặc của những chế độ độc tài chuyên chế.

Trong thế kỷ XX, trên thế giới có hai chế độ độc tài khét tiếng đã gây ra sự thảm sát của hàng trăm triệu con người. Đó là chế độ độc tài Phát xít Đức quốc xã và chế độ độc tài Cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Cả hai chế độ này đều sử dụng thủ đọan truyên truyền dối trá, bóp méo sự thật để lừa bịp người dân – và họ đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác, nạn đói khổ, tù tội, kể cả chiến tranh bạo lực. Chuyện này sử sách với đày đủ số liệu thống kê đã được ghi lại quá sức đày đủ rồi, ta khỏi cần nhắc lại ở đây nữa.

Mà tôi chỉ muốn ghi ra một số tài liệu điển hình tiêu biểu của chiến dịch tuyên truyền do các chế độ độc tài phát động trên thế giới trong thế kỷ XX. Và sau đó, sẽ nói về chuyện ở Việt nam.

1 – Cuốn sách được coi là nguy hiểm nhất: Sách “Mein Kampf” của Hitler.

Cuốn sách này với nhan đề là “Cuộc chiến đấu của tôi” do Hitler viết vào năm 1923 và sau này khi ông ta nắm được chính quyền trong tay từ năm 1933, thì được in ra đến hàng nhiều triệu bản để phổ biến rộng rãi ở khắp nước Đức. Nội dung để đề cao tính ưu việt của dòng giống thuần chủng Aryan của dân tộc Đức và chủ trương diệt trừ người Do Thái. Tính cách khích động quá khích của cuốn sách là nguyên nhân gây ra cuộc tàn sát đến 5 triệu người Do Thái ở Âu châu và còn gây ra đại thế chiến 1939 – 1945 nữa.

Sau khi Hitler chết và nước Đức bại trận, thì cuốn sách này bị cấm lưu hành. Nhưng vào cuối năm 2015 này, thì lệnh cấm này hết hiệu lực và hiện có dư luận cho rằng cuốn sách nguy hiểm này có thể tái xuất hiện và gây ra những xáo trộn, đặc biệt là do nhóm Tân Phát Xít ở Đức và Âu châu có thể dựa vào tài liệu này để xúi bảy những hành động liều lĩnh đem lại sự nguy hại khó lường cho xã hội.

2 – Tài liệu tuyên truyền dối trá khủng khiếp của chế độ độc tài Cộng sản.

Từ khi chế độ cộng sản bị xụp đổ ở Đông Âu và sự tan rã của Liên Bang Xô Viết từ năm 1989, thì người ta đã giải mật bao nhiêu tài liệu được giấu kín suốt bao nhiêu năm đảng cộng sản nắm giữ quyền bính tại các quốc gia này. Các tài liệu được bạch hóa này đã phơi bày thật rõ ràng tính cách dối trá và tàn bạo độc ác của giới lãnh đạo sắt máu từ Lenin, Stalin, Mao trở xuống cho đến hàng trăm hàng ngàn những lãnh tụ cộng sản khác.

Chỉ cần ghi lại một tội ác động trời này, đó là vào năm 1939 Liên Xô đã toa rập với Đức quốc xã để xâm chiếm Ba Lan. Hồng quân Liên Xô bắt giữ rất nhiều sĩ quan cao cấp của Ba Lan và ra tay hạ sát trên 20,000 sĩ quan của Ba Lan vào năm 1940 tại khu vực rừng Katyn trong nội địa nước Nga. Ấy thế mà suốt bao nhiêu năm, Liên Xô lại đổ vấy cho quân đội Đức Quốc Xã đã tàn sát số sĩ quan Ba Lan đó. Mãi gần đây, vào năm 1990, thì phía nước Nga mới phải công nhận việc tàn sát đó là do lệnh của Stalin với cả bản văn có chữ ký của nhà lãnh tụ Liên Xô hồi đó nữa. Và nước Nga đã phải chính thức lên tiếng xin lỗi Ba Lan về hành động tàn ác man rợ này đã xảy ra từ 50 năm trước.

Nhân tiện, cũng nên nói qua về phong trào tự phát của nhiều nơi trong các nước thuộc Liên Xô trước đây để tìm lại tông tích của những nạn nhân bị sát hại trong các trại tù cộng sản – để con cháu các nạn nhân này biết được cha ông mình đã bị đối xử tàn tệ ra sao. Và còn để lập những bia Tưởng niệm những nạn nhân đó tại các địa phương là quê quán của họ nữa. Phong trào này có tên chung là Memorial Foundation, hiện vẫn còn họat động mặc dù bị nhóm cựu đảng viên cộng sản ở Nga tìm mọi cách ngăn cản.

II – Còn những chuyện trái khoáy lố bịch của cộng sản ở Việt nam thì sao?

Sau 70 năm cầm quyền với cuộc chiến tranh liên miên rồi đến chế độ độc tài chuyên chế tòan trị, đảng cộng sản đã và đang để lại một dấu ấn thật ảm đạm đau buồn trên đất nước ta. Bao nhiêu sách báo, văn kiện nội bộ của đảng cộng sản, v.v... đã ghi lại rõ ràng đường lối chính sách tàn bạo, dối trá của người cộng sản đối với dân tộc ta suốt từ năm 1945 tới nay. Ở đây, chỉ cần ghi ra vài tài liệu của chính nhân vật lãnh đạo chóp bu mà người cộng sản vẫn thần thánh hóa và tôn vinh là “cha già dân tộc”.

1 – Hai cuốn sách do chính Hồ Chí Minh viết mà lại ký tên khác.

Ngay trong thời kháng chiến chống Pháp vào cuối thập niên 1940, mà Hồ chí Minh đã cho xuất bản một cuốn có nhan đề là “Những mẩu chuyện về đời họat động của Hồ Chủ Tịch” với bút danh là Trần Dân Tiên.

Và vào năm 1963, thì lại cho xuất bản cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” với bút danh là T. Lan. Cả hai cuốn sách này đều nhằm đề cao tài trí và sự hy sinh của người lãnh đạo cộng sản cho sự nghiệp tranh đấu cho độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt nam. Lại còn có cả bản dịch sang tiếng Hoa, Nga, Pháp, v.v... nữa.

Có thể nói Hồ Chí Minh là người họat động chính trị duy nhất trên thế giới mà lại đứng ra viết sách để tự ca tụng mình. Thật là điều lố bịch hết chỗ nói mà bây giờ các hậu duệ của ông ta thật khó lòng tiếp tục tôn vinh ông ta qua cái hành động kỳ quái này vậy.

2 – Bức thư Hồ Chí Minh gửi Stalin năm 1952 kèm theo bản Đề cương về Chính sách Cải Cách Ruộng Đất. (Phóng ảnh tài liệu này đã được in trong Phần Phụ Lục của cuốn chuyện có nhan đề là “Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của tác giả Trần Thế Nhân được xuất bản tại hải ngọai gần đây)

Năm 1952 cũng trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, thì Hồ Chí Minh có gửi một bức thư viết bằng tiếng Nga cho đàn anh Stalin kèm theo bản Đề cương về Chính sách Cải Cách Ruộng Đất do Đảng Cộng sản Việt nam sọan thảo với sự cố vấn của lãnh tụ Trung quốc là Lưu Thiếu Kỳ. Lá thư này chủ ý đệ trình lên Stalin để xin ông ta chấp thuận duyệt y cho bản Đề cương về CCRĐ do Đảng Cộng sản Việt nam sọan thảo. Và sau đó, kể từ năm 1953, chính quyền Cộng sản Việt nam đã cho phát động cả một chiến dịch sắt máu tàn bạo theo sự chỉ đạo của các cố vấn Trung quốc khiến gây ra bao nhiêu sự chết chóc, đau thương thống khổ cho hàng bao nhiêu vạn gia đình nông dân trong khu vực miền Bắc Việt nam.

Tài liệu này chứng tỏ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam đã hành động hòan tòan theo sự chỉ đạo và yểm trợ của Liên Xô, Trung cộng để gây ra thảm họa cực kỳ man rợ trên đất nước ta từ bao nhiêu năm qua.

3 – Bài báo “Địa chủ ác ghê” ký tên tắt là C.B tức là Của Bác = Bác Hồ.

Cũng vào năm 1953, lúc phát động chiến dịch Cải cách Ruộng đất với việc bắn chết bà Nguyễn Thị Năm tự Cát Hanh Long, thì xuất hiện bài báo đăng trên tờ Nhân Dân có nhan đề là “Địa chủ ác ghê” với bút hiệu viết tắt là C.B. Đó là bút hiệu của Hồ Chí Minh, C.B = Của Bác, tức là của Bác Hồ. Sau này, có một số cán bộ tìm cách chạy tội cho ông Hồ bằng cách đưa ra lý giải rằng “Bác không muốn khởi đầu chiến dịch CCRĐ bằng việc xử bắn một phụ nữ. Mà đó là do áp lực của Trung quốc, v.v…” Nhưng mà bài báo ký tên C.B, thì ghi rõ những “tội ác của bà Nguyễn Thị Năm” để mà khêu gợi lòng hận thù đối với địa chủ. Vậy thì làm sao mà biện minh cho lập trường nhân ái khoan hồng của ông Hồ trong việc này được?

Trong cuốn “Đèn Cù” mới xuất bản năm 2014 của tác giả Trần Đĩnh, thì cũng có đọan ghi rằng: “Trong vụ xử bà Năm, ông Hồ lấy khăn bịt bộ râu đi, còn ông Trường Chinh thì đeo kính đen – để trà trộn vào đám đông mà theo dõi vụ xét xử đấu tố điển hình này...”

** Nói vắn tắt lại, thì giới lãnh đạo cộng sản Việt nam đã thi hành đúng theo sự chỉ đạo của Liên Xô, Trung Cộng để áp đặt chế độ độc tài chuyên chế toàn trị trên đất nước ta ngay từ năm 1945 lúc họ nắm giữ được quyền bính trong tay của mình. Và đó là căn nguyên chính yếu của mọi nỗi đau thương thống khổ tột cùng cho dân tộc Việt nam chúng ta suốt 70 năm qua.

Trong suốt 70 năm đó, giới nghiên cứu lịch sử ở nước ta đã có thể thu thập tích lũy được cả một kho tài liệu đồ sộ về những tội ác dã man tàn tệ mà đảng cộng sản đã gây ra trên quê hương ta. Đó là những tội ác mà “Trời không dung, Đất không tha”. Và đó cũng là một vết nhơ không thể nào mà tảy rửa được của tập đòan những kẻ ác nhân thất đức đang nắm quyền thống trị trên đất nước ta hiện nay vậy./

Costa Mesa California, Tháng Giêng 2015
Đoàn Thanh Liêm


Duy An  
#1887 Posted : Sunday, February 15, 2015 6:12:51 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Ngày cuối năm với bạn bè


Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Thời nay có nhiều gia đình có thân nhân ở nước ngoài về VN với nhiều lý do khác nhau, nhưng hầu hết là muốn thăm gặp lại những người thân, thăm viếng mộ tổ tiên hoặc mấy ông bà già đưa con cháu “thế hệ thứ hai thứ ba” về cho biết “cái xứ VN là như thế nào.”

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, tụ họp anh chị em trong gia đình, sui gia và hàng xóm láng giềng, bạn bè gặp nhau. Những này trước Tết là những ngày tất niên hầu hết các công tư sở thường có buổi tiệc Tất Niên. Đôi khi có những người bạn thân mật hơn, họp mặt trong một gia đình nào đó cùng nhau thù tạc “chén chú chén anh.” Sở lớn làm tiệc tùng ở những nhà hàng, khách sạn sang trọng, sở nhỏ làm ở quán bình dân, có khi làm tiệc tất niên ngay ở vỉa hè. Cứ sau giờ tan sở là quán xá bắt đầu nhộn nhịp, nhiều dẫy bàn ghế xếp ngay bên đường, các cô các cậu còn nguyên đồng phục kéo nhau đến ăn tất niên rất rôm rả, những tiếng “dzô, dzô” ầm ỹ, rượu vào lời ra cứ như chỗ không người. Lúc đó quên hết mọi ưu phiền trong năm vừa qua, cố đi tìm một hy vọng cho năm mới sắp tới dù chưa biết cái hy vọng nhỏ nhoi đó là gì.

UserPostedImage
Bìa một trong hàng chục tập thơ của Hà Huyền Chi


Trong bài trước tôi đã viết: “Riêng cánh già chúng tôi, những ngày cuối năm ở Sài Gòn, thường là có bạn bè ở nước ngoài về ghé thăm hoặc a lô hẹn nhau ở quán cà phê nào đó rồi kéo nhau ra đấu láo chuyện xa xưa, chuyện bây giờ, kẻ còn người mất. Nhiều chuyện cũng “lâm ly” lắm, những lúc đó mới thật sự biết rằng cuộc đời còn đáng sống. Nếu bạn sống ở Sài Gòn như tôi, suốt một năm chỉ muốn nằm nhà, muốn nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt cho xong chuyện đời mới thấy được niềm vui hội ngộ ấy như thế nào.”

Bài này xin kể cùng bạn đọc đôi nét riêng tư về những cuộc hội ngộ ấy, gọi là chút tậm sự, ghi lại vài kỷ niệm vào cuối năm nay để bạn đọc cho vui trong những ngày cuối năm và thông cảm với “cánh già.” Nếu kể tất cả những người bạn có may mắn ra nước ngoài định cư về thăm tôi từ mấy năm qua thì quá nhiều. Bạn đồng đội, bạn làm báo, bạn ca nhạc sĩ, bạn “giang hồ,” bạn tù mà chúng tôi gọi là “bạn cùng chung một mối căm hờn trong cũi sắt,” tôi không thể kể hết. Tôi chỉ còn biết cảm tạ những tấm lòng của các bạn đã nghĩ đến “người ở lại.” Ở đây tôi chỉ kể đến vài người bạn tôi đã gặp vào dịp cuối năm nay.


Quán café bên Hồ Con Rùa

Trước hết là gia đình ông tu bíp Hà Xuân Du đưa con cháu về VN trong kỳ nghỉ cuối năm. “Phái đoàn” của ông có tới gần 10 người đi từ Nam ra Bắc. Khi con cháu về Mỹ trước, ông bà ở lại thêm vài ngày thăm bạn bè. Bạn của ông hầu hết là gia đình không quân còn ở lại VN. Hai ông bà đến thăm nhà tôi trên cái chung cư cũ rích nghèo nàn “muôn năm cũ,” hôm sau ông còn hẹn tôi ra quán café “Nghệ Thuật” bên Hồ Con Rùa để “tâm sự lẻ.” Chúng tôi chọn quán này vì không có những chân dài phục vụ nên vắng luôn cả những cô cậu choai choai, đầu tóc như tài tử Hàn Quốc, nhạc khua ầm ỹ. Quán này hầu như chỉ có những người đứng tuổi vào đây. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện “bên này bên kia,” ai sống thế nào, cuộc đời dâu biển ra sao. Nhờ đó có thể biết tin tức khá chính xác về hầu hết bạn bè xưa cũ. Kẻ còn người mất với nỗi ngậm ngùi, niềm nhớ nhung thương tiếc vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức, có những kỷ niệm tuy nhỏ nhặt nhưng không thể phai mờ. Ngồi từ 9 giờ sáng, mãi tới 12g trưa quên cả đường về, mới chợt nhớ đã ngồi “ám quẻ” chủ quán quá lâu.

Rồi cách đây vài hôm, Mai Bá Trác, gọi tôi cho biết đang ở Sài Gòn nhưng tất nhiên là “cậu Ba” còn về Đà Nẵng thăm mấy chục mẫu đất xưa. Thế nên chúng tôi đặt cho cái nick name “Cậu Ba Đà Nẵng.”

Ngay sau đó là “thần đồng âm nhạc”… bây giờ đã có râu Hoàng Thi Thao cũng hiện diện tại Sài Gòn. Ông này quên địa chỉ mail của tôi nên phải “meo” về Mỹ hỏi ông Tạ Quang Khôi số điện thoại. Ngày hôm sau ông gọi lại và hai chúng tôi lại hẹn nhau ở quán Nghệ Thuật, vẫn chuyện ca nhạc sĩ sống ra sao, chuyện đá banh, chuyện tennis. Ông khoái nữ danh thủ quần vợt Ana Ivanovic đẹp chín, dịu dàng; tôi khoái cô bé Bouchard của Canada trẻ khỏe, xinh đẹp như minh tinh màn ảnh. Nhưng chúng tôi cùng chung một nhận định là xem tennis bây giờ giảm thú vị rất nhiều vì giải lớn nào cũng vào tay mấy đàn anh đàn chị như Djokivic, S. Williams.

Nhưng câu chuyện tôi muốn kể với bạn đọc hôm nay, đó là chuyện một bài thơ cũ với những con người mới.

Chuyện về bài thơ cũ


Hôm sau anh Hoàng Khởi Phong vừa về Mỹ trở lại VN, anh hẹn tôi ở quán café Gió Bắc, cũng lại bên Hồ Con Rùa. Biết có Hoàng Thi Thao ở đây nên anh “a lô” cho Thao ra chơi. Thao nói ngay vừa ở quán Nghệ Thuật về đến phòng ngồi với bạn, nhưng rồi anh em cũng kéo nhau ra ngồi “đấu láo.” Trong lúc nhắc đến bạn cũ, Hoàng Khởi Phong hứng chí đọc ngay một bài thơ xưa mà anh cho là rất thú vị đối với anh. Tối về nhà, tôi vẫn còn thấy dư âm bài thơ như còn vương vấn đâu đây. Hôm sau tôi gửi “meo” nhờ anh HKP chép lại cho tôi bài thơ này, anh viết thư trả lời:

“Anh Văn Quang và anh Hà Huyền Chi thân
Bài thơ này có nhan đề là Hỏi Mộ, của anh Hà Huyền Chi mà tôi đọc lần đầu trong tập thơ “Saut Đêm,” xuất bản vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Đó là một bài thơ dài hơi, nói về cuộc tình của một cô nữ sinh trong trắng, yêu một người lính Nhẩy Dù. Phần tôi đọc cho anh Hà Huyền Chi nghe cách đây cỡ hai chục năm, và đọc cho anh Văn Quang nghe mới cách đây vài ngày là phần cuối của bài thơ này. Tôi chép ra đây để mong là anh Hà Huyên Chi có thể tìm lại đưọc nguyên bản. Đoạn cuối ấn tượng đến độ gần năm chục năm sau tôi còn nhớ đầy đủ, những đoạn đầu chỉ nhớ lõm bõm mà thôi.”

Tôi lại phôn cho HK Phong nói ngay, “Thằng này là bạn chí cốt của tôi đấy ông ạ, để tôi meo cho nó gửi cho tôi nguyên con bài thơ đó.”

Thế là hôm sau tôi “meo” cho Hà Huyền Chi và được trả lời ngay. Nhưng bạn tôi viết kiểu chữ như chữ Ả Rập. Tôi phải cho vào trang web “chuyển đổi font chữ Việt online” để đổi mã mới đọc ra chữ:

“VQuang, HK Phong thân,
A/ Máy hư ko bỏ dấu được
B/ Tay hư ko viết dài được (stroke)
C/ Bài Hỏi Mộ tao viết, có vài kỷ niệm vui sẽ kể sau.”

Thì ra bạn tôi vẫn còn bị ảnh hưởng của cú stroke, tay chân còn loạng quạng. Tôi không phải giới thiệu thêm về bài thơ này, bởi bài thơ đã là một câu chuyện tình rất lãng mạn, rất đẹp và rất buồn và chỉ có thể là của một người lính và ra đời trong cuộc chiến của người lính VNCH. Mời bạn cùng đọc:

HỎI MỘ (Thơ Hà Huyền Chi – 1963)

Khi con chim đầu đàn chập chững bay xa
Để lại đằng sau đôi cánh mỏng
Những tiếng khóc em thơ
Những tóc trắng mẹ già
Chuyến độc hành ngày xưa đã trôi vào kỷ niệm
Mang tâm tình của một chàng lính chiến
Nhớ quê hương, thèm những phút giao tranh.

Có một người con gái băng trinh
Tuổi mười sáu, chưa xa lìa sách vở
Yêu phượng đỏ, yêu luôn mầu Mũ Đỏ
Hồn say mê theo dõi bước quân hành
Người con gái học trò
Men yêu vừa độ nở
Gối mộng cuồng si, đêm đêm thầm nhớ
Bóng dáng người yêu qua những canh dài
Và vẫn bâng khuâng lo sợ
Mỗi lần nghĩ đến tương lai.

Nhưng tình yêu của hai người
Không vì núi sông ngăn cách
Người lính Nhảy Dù sau những lần
hăng say đuổi giặc
Vẫn nhớ về đôi mắt người xưa
Và những nụ cười sao vỡ
Chiếc dao găm long chuôi
Mấy lần ghim trong xác địch
Giờ khắc sâu vào lòng đá lời nguyền
“Cho đến bao giờ cũng chỉ một mình em.”

Người con gái học trò quên dần sách vở
Miệt mài chép những thơ yêu
Cuộc sống hai người thơ mộng biết bao nhiêu
Nhưng người chiến binh nghèo
Cay đắng ngậm mối tình dang dở
Lần đầu tiên cầu hôn
Gia đình nàng từ chối
Người lính Nhảy Dù ôm mối buồn cô độc
Xin đổi đi xa
Cuộc sống âm thầm nơi hành lang biên giới
Mang theo niềm thương yêu vời vợi
Lời thề xưa trong nếp đá chưa mờ.

Người con gái học trò
Bây giờ mười chín tuổi
Lớn lên bằng tình yêu
Bằng những đau thương hờn tủi
Ba năm dài sống trong vô vọng
Viết hoài thư yêu rồi lại xé đi
Rồi một ngày kia
Người con gái không nguôi niềm thương đau
Nàng đi tìm người yêu cũ
Đẹp làm sao con đường
Những kẻ yêu thương đang tìm về nhau
Chiếc cổng đồn rêu phủ
Giữa những hàng dương cao
Cuộc hành trình đã đến ga cuối cùng
Một nghìn hai trăm cây số
Từng bước chân ngập ngừng
Nói lên nhiều thương nhớ.

Nhưng rồi người con gái học trò
Ôm mặt mình nức nở
Vì người yêu không về
Không bao giờ về nữa
Cuộc hành quân sáng nay
Người lính Nhảy Dù đã đền xong nợ nước.

Người con gái cúi đầu lặng bước
Mái tóc tả tơi chiều gió bay
Con đường vào nghĩa địa
Không một vòng hoa trên tay
Bóng nhỏ đổ dài, hoàng hôn lịm chết
Hình ảnh người yêu ba năm về trước
Nhòe giữa bờ mi nước mắt đầy.

Người gác nghĩa địa sau một ngày mệt mỏi
Đã bỏ về uống rượu giải phiền
Nàng đi một mình âm thầm
Giữa những hàng mộ mới
Bia vô tình chưa kịp khắc họ tên
Nàng hỏi mộ, không mộ nào chịu nói
“Anh đâu rồi, sao chẳng trả lời em?”
Nàng hỏi mộ, không mộ nào chịu nói
“Anh đâu rồi, sao chẳng trả lời em?”
Lời nguyền xưa gửi vào lòng huyệt tối.
(Trích trong tập “Saut Đêm”)


Thưa bạn đọc, Hà Huyền Chi vốn xuất thân từ binh chủng nhảy dù, sau năm 1963 anh mới chuyển sang ngành Tâm Lý Chiến và làm trưởng Phòng Ấn Họa. Anh sáng tác bài thơ đó lúc anh còn là lính nhảy dù, khoảng 50 năm trước. Tôi muốn hỏi anh người con gái trong thơ là ai, nhưng thiết nghĩ điều đó không còn quan trọng nữa. Hãy cứ hình dung ra đó là một nữ sinh trường Trưng Vương, Gia Long hay Đồng Khánh… Bây giờ cô có thể đã yên phận bên một gia đình mới, gửi chuyện tình đầu đời vào “lòng huyệt tối” và cái “huyệt tối” đó nằm tận cùng trái tim thiếu phụ, không muốn tiết lộ tên thật.

Cuộc đời này có biết bao nhiêu mối tình đầu tan vỡ, nhưng không nhẹ nhàng như TTKh, chuyện “hỏi mộ” quá đặc biệt bởi cái tính cách sâu đậm, âm thầm không kém phần cuồng nhiệt. Cái thời mà các “em gái hậu phương thương anh trai tiền tuyến” nói lên giá trị của người lính VNCH đối với người dân còn vang vọng mãi cho tới ngày nay. Câu chuyện tình và hình ảnh trong thơ đẹp như một huyền thoại. Với tôi, đó là một bài thơ chỉ có thể có trong thời chiến, nhưng hay trong mọi thời đại.

Về tác giả Hà Huyền Chi, anh đã có hàng ngàn bài thơ trong hàng chục tập thơ đã xuất bản và có tới 80 pps do anh Hy Văn trình bày. Những nhà văn nhà thơ quân đội VNCH, mỗi người có một sắc thái riêng. Người ở không quân, hải quân, người ở bộ binh làm toát lên những màu sắc riêng của mình như Phan Nhật Nam với “mùa hẻ đỏ lửa” còn sống mãi với thời gian. Với Hà Huyền Chi có hàng ngàn đoản khúc, nhưng chỉ có người lính nhảy dù mới có thể có những rung cảm thật đặc biệt như thế này:

“…Thân tàu mây vương lắc lư đường trăng
Tôi tìm đâu đây một vết sao băng
Để nghĩ về em nhiều đêm không ngủ
Bóng gày ưu tư đôi mắt thâm quầng

Điếu thuốc chuyền tay gắn trên môi nhau
Mắt thoáng âu lo nhìn cuối thân tàu
Ngọn đèn màu-xanh-yêu-tinh vụt sáng
Từng hồi chuông ngân rờn rờn da đầu

Vòm trời ngả nghiêng loáng chân mây xa
Ô hay tàu trôi theo sông Ngân Hà
Phóng mình tôi bay qua khuôn cửa nhỏ
Nghe mình chơi vơi lưng dù nở hoa
(Trích trong tập “Saut Đêm”)

Chỉ người lính nhảy dù mới trải qua những cảm xúc ấy và với tôi, thơ Hà Huyền Chi hay nhưng chỉ có những bài về người lính nhảy dù là xuất sắc hơn tất cả. Bài thơ đầu tiên của anh được giới thiệu trong bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1960. Thời đó, anh cùng tôi viết trên nhiều nhật báo và tuần báo ở Sài Gòn. Anh cũng từng đóng vai người lính trong phim “Người Tình Không Chân Dung” của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.

Tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về Hà Huyền Chi trong tập “Viết Về Bạn Bè” cùng với những kỷ niệm giữa anh và tôi cùng nhiều bạn hữu sẽ do nhà xuất Tiếng Quê Hương ấn hành vào một ngày gần đây.

Ngày cuối năm được gặp lại bạn bè là một hạnh phúc lớn với tôi rồi, chẳng còn mong gì hơn nữa. Năm sau chẳng biết có được gặp lại không.

Nhân dịp này kính chúc quý bạn đọc cùng gia quyến một năm mới AN KHANG – MAY MẮN – HẠNH PHÚC.

Văn Quang (Ngày 24 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (12 tháng Hai, 2015)

UserPostedImage
CỏThơm  
#1888 Posted : Monday, February 16, 2015 8:06:40 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 188
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)
.

UserPostedImage


Ca Dao Buồn


Buồn
về ở lại không đi
Em ngồi ôm bóng mà ghì nỗi đau
Không đèn khuya không trăng sao
Không quê không phố chiêm bao không nhà

Mẹ quê áo rách tương cà
Cha quê chân đất mưa sa ruộng đồng
Con quê èo ọt gió Đông
Tình quê nước lụt đèo bồng tha phương

Buồn nào hơn những con đường
Khó đi lắc lẻo dặm trường em đi
Buồn nào hơn buồn chia ly
Nắng đi phía nắng mưa ghì nẻo mưa

Em quê chắt giọt hương thừa
Nhớ ca dao mẹ đong đưa tiếng lòng
Anh quê chắt giọt tình nồng
Ru quê hương nhớ chảy dòng sông thương

Mịt mù khói bụi còn thương
Trời quê đất tổ em thương thương hoài
Gọi đò chở nặng tình ai
Cho em về với đợi ngày thăm nhau



Hương Quế



UserPostedImage
Duy An  
#1889 Posted : Tuesday, February 17, 2015 2:03:35 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Những ngày giáp Tết

UserPostedImage

những ngày giáp Tết ngậm ngùi
hương bay dị ứng lạ mùi cỏ hoa
ở hoài bên xứ người ta
lâu ngày hội nhập mới ra nỗi này
hồi xưa đâu có như vầy
hồi nay quá tệ không đầy nhúm xưa

vài ngày nữa hít cho bưa
hương trầm nhang khói đón đưa ông bà
trầm hương hồi đó thiệt thà
hồi đây hương liệu tẩm pha đủ mùi
hít vô một cái dội lui
thở ra một phát túi thui mặt mày

rồi còn bánh mứt xum vầy
bánh chưng bánh tét bày đầy chợ ta
tết ta ăn món quê nhà
còn đòi chi nữa mà la dữ trời
dẫu là bánh gói ni lông
hay bọc giấy thiếc có còn hơn không

ưng chưng bông thì có bông
bông giả bông thiệt bộ không bông à
sớm mai trưa cúc chiều đào
giả chân ai biết đầy nhà thì thôi
miển sao có một góc đời
ngắm qua ngắm lại riết rồi cũng xuân

chốn xa muốn níu chỗ gần
thì thôi cứ ráng mấy ngày vui xuân
hơi đâu kén cá nấu canh
huống chi ngày tháng đông đoài lạ nhau
giáp Tết là ở bên nhà
ở đây đang xáp-lá-cà tháng Hai….

Hiên Trăng, 08/02/2015
Trần Huy Sao

UserPostedImage
Duy An  
#1890 Posted : Friday, February 20, 2015 4:41:45 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Những tờ lịch cũ


Trần Mộng Tú

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
(Thanh Nam)


Khi còn ở quê nhà, mỗi năm tôi đều mua một cuốn lịch để bàn, loại lịch xé mỗi ngày một tờ, không chỉ mua riêng cho tôi mà còn cho tất cả các bàn làm việc trong hãng Thông Tấn AP. Tờ lịch xé ra ghim vào một miếng gỗ có cái cây sắt nhọn để ngay bên cạnh cuốn lịch.

Hết năm, những ký giả theo truyền thống của Mỹ, thích đứng ở cửa sổ văn phòng, từ từng lầu thứ tư của Building Eden vào đúng ngày 30 cuối năm dương lịch, thi nhau thả những tờ giấy ghi ngày tháng cũ bay như bươm bướm xuống mặt đường. Tôi rất thích truyền thống này. Bao giờ tôi cũng đợi làm người sau cùng thả xuống, để không phải tranh chỗ với ai. Tôi thích nhìn tháng ngày của tôi bay xuống riêng một mình, không lẫn vào tháng ngày của người khác.

Có tờ bay thật là xa, nếu gặp gió có thể bay qua tới rạp Rex bên kia, cách cả hai con đường và cái công viên nhỏ ở giữa; có nhiều tờ vướng lại trên những cành me, của cây me bên dưới cửa sổ; có tờ đáp trên nóc một chiếc taxi đang đậu gần đó, hoặc rơi ngay vào lòng một chiếc xích-lô vừa tấp vào lề; có tờ rơi vào những gánh hàng rong đi ngang hay rơi trên vai một người vừa đi tới, như bướm đậu rất tình cờ. Khi tất cả đã rơi xuống thì mặt đường đầy những tờ lịch trắng bằng lòng bàn tay với những con số in trên đó, đôi khi còn có cả những hàng chữ ghi xuống của các ký giả, của các nhân viên dùng lịch nữa. Thả thời gian đi cũng có nghĩa là thả theo cả công việc của một năm qua.

UserPostedImage
Thắm Nguyễn


Rơi như thế nào, thì từ trên khung cửa sổ cao ngó xuống, tôi đều thấy đẹp vô cùng. Những cánh bướm thời gian đang quay vòng luân vũ. Lúc đó, tôi còn trẻ nên chưa biết tiếc thời gian, chỉ thấy mang mang buồn vui lẫn lộn giữa cái không khí thay đổi của vạn vật trong đất trời.

Tuổi trẻ, nhìn ngày tháng cũ bay bay trong không gian thấy lòng mình lạ lắm. Tiếc ngày qua thì ít, nhưng mong ngày mới đến với tất cả hân hoan. Cuối năm dương lịch, tức là sửa soạn vào Tết âm lịch. Tết với bao nôn nao của tuổi trẻ, tuổi đang yêu đương mơ mộng. Trong thời chiến, biết bao người con gái mong đợi Tết đến, người yêu trong quân ngũ sẽ được nghỉ phép về ăn Tết. Sự trở về đó mang bao nhiêu thương mến!

Một điều gì đó có tên là hạnh phúc đón chờ mình trong những ngày mới đang đi tới.

Những năm tháng đó không bao giờ còn tìm lại được nữa.

Bốn mươi năm đã đi qua. Tôi bây giờ đứng đây, nhớ lại ngày sụp đổ miền Nam vẫn tưởng như một cơn mộng dữ. Trời đất mới vào tháng 3 âm lịch. Nhà nông mới bắt đầu xới đất trồng đậu, trồng cà. Cả một chuỗi ngày tháng xếp đặt cho mọi công việc trước mặt. Người dân miền Nam cần cù như những con ong bắt đầu làm mật.

Chúng ta tất cả, bỗng nhiên phải đối mặt với định mệnh nghiệt ngã của đất nước. Chúng ta tan tác như chưa từng bao giờ tan tác như thế. Người ở núi chạy xuống đồng bằng, người ở đồng bằng chạy ra biển. Cha mẹ mất con, vợ mất chồng. Tướng mất quân, quân mất dân. Một cơn đại hồng thủy, lửa và máu nhiều hơn nước.

Kim đồng hồ đứng lại. Thời gian ngừng trôi. Hàng ngàn, hàng vạn cái chết tức tưởi không ai ghi rõ ngày giờ.

Tờ lịch ngày thứ Tư, 30 tháng 4 năm 1975 đã đứng lại trong trái tim của tất cả con dân Việt từ Nam Quan cho đến Cà Mau.

Chỉ có sự khác biệt, mỗi người Việt đã giữ lại ngày 30/4 đó trong tim họ như thế nào.

Chắc chắn cái ký ức nạm vàng của kẻ này đã là ký ức máu và nước mắt của người kia. Điều đáng tủi buồn, cả hai người đó cùng là người Việt Nam.

Thế mà, bốn mươi cái Tết đã đi qua rồi đấy!

Trong mấy tháng đầu tiên ở Mỹ, có một lần tôi tìm được ở garage sale một cái đĩa sứ in nguyên năm lịch của năm 1975. Tôi đã mua đem về treo trong nhà và vẫn giữ cho đến bây giờ. Chiếc đĩa này tôi sẽ trao cho con tôi, để mai sau khi tôi không còn nữa, chúng sẽ nhớ ngày, nhớ tháng, nhớ năm, mẹ phải bỏ nước ra đi.

Cuối năm, năm ngoái, khi ghé vào hiệu sách gần nhà, lang thang tìm mua mấy cuốn sách nhi đồng cho cháu, tôi chợt nhìn thấy loại lịch để bàn, xé từng tờ mỗi ngày. Tôi đứng ngẩn người ra ngắm, như ngắm một người bạn cũ lâu ngày gặp lại.

Tất cả dĩ vãng xa xưa chạy về trong trí óc của một phụ nữ luống tuổi. Tôi ngắm nghía từng cuốn lịch với những đề tài khác nhau. Bối rối không biết nên chọn cho mình cuốn nào, để mỗi lần xé là một lần nhắc về quá khứ.

Tìm mãi chẳng có cuốn nào đúng theo ý mình. Cuối cùng tôi đành chọn một cuốn, mỗi ngày có một câu nói vui, để giúp lòng thanh thản. Mua về để trên bàn viết, ngay sát máy vi tính để nhớ xé. Kiếm sẵn một cái hộp để cạnh cuốn lịch, khi xé tờ nào thì cất ngay vào đó. Hai tháng đầu, tôi nhớ lắm, mỗi ngày xé một tờ, dần dần bận chuyện hàng ngày, cả tuần quên xé. Khi nhìn con số ghi ngày trên lịch và con số ở góc máy vi tính khác nhau, mới vội vàng xé. Đã có lúc tôi quên nguyên một tháng không xé, khi phải xé một nắm dày thời gian trong tay thấy lòng chùng hẳn xuống.


Tôi đã đủ già, để biết tiếc thời gian.

Những tờ lịch mới luôn luôn là một đề tài lôi cuốn trong đời sống. Nên mỗi năm, người ta làm lịch đủ mọi hình thức và mang những nội dung khác nhau, dù cũng chỉ là đếm ngày tính tháng. Bức hình phong cảnh thanh nhã hay hình súc vật hiền lành, hình ca sĩ, tài tử lộng lẫy, v.v… thì cũng vẫn ngày tháng đó. Hình ảnh hấp dẫn tới đâu cũng không kéo tháng dài ra thêm một ngày hay cắt đi ngắn một ngày trong tuần được.

Những câu danh ngôn, câu thơ in trên lịch cố níu kéo thời gian trên cánh chim mùa xuân, hay thả thời gian bay như cánh ong mùa hạ cũng chẳng giúp được gì. Tờ lịch thản nhiên làm nhiệm vụ rất nghiêm chỉnh của nó: Rơi từng giọt thời gian mỗi giây, mỗi phút.
Thời gian tự nó trôi đi chứ không phải chờ tờ lịch rơi xuống mới đi theo.

Thi sĩ Thanh Nam, định cư ở Seattle, Washington khi cám cảnh thời gian của người di tản là chính mình, đã viết:

Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một tháng Tư.

Cái tháng Tư đứng lại trong tim, trong trí mỗi người Việt di tản chứ không đứng lại trên tờ lịch. Chúng ta đã thay tới cuốn lịch thứ bốn mươi rồi. Bốn mươi năm đó biết bao nhiêu sự việc xảy ra chung quanh đời sống chúng ta. Có ai nhìn xuống cuốn lịch rồi bâng khuâng tự hỏi: Ta đã làm được gì cho mình, cho người, cho quê hương đất nước. Dòng thời gian bốn mươi năm ta xé mỗi ngày, có sót lại chút gì trong lòng bàn tay không?

Sang Mỹ mấy chục năm, tôi quên cái hình ảnh những cánh bướm thời gian thả vào một buổi chiều cuối năm dương lịch, quên cái nôn nao của yêu đương, mơ mộng và đôi khi quên mất tuổi mình.

Cuối năm dương lịch vừa đi qua, tôi mở chiếc hộp thời gian ra, nhặt lên những tờ lịch chính tay mình đã xé, thấy lòng mình chùng xuống. Bây giờ mang nắm thời gian này thả đi đâu? Tôi không ở cao ốc, làm sao mà mở cửa sổ tung xuống đường như những ngày còn ở Sài Gòn. Cái balcony nhà tôi không đủ cao và nếu tôi có vứt xuống thì chính tôi sẽ là người phải đi gom lại, vì sợ thời gian của tôi bay tung khắp nơi, làm phiền hàng xóm. Tôi đành bỏ tất cả vào lại trong hộp, chờ ngày 23 tháng chạp âm lịch, hóa lịch thay cho hóa vàng, tiễn ông Táo về trời.

Tôi đi mua một cuốn lịch để bàn cho năm 2015. Tôi lại bắt đầu xé thời gian mỗi cuối ngày. Tôi hỏi vào không gian trước mặt:

Tôi còn xé thời gian như thế này của bao nhiêu cuốn lịch nữa?

Không gian im lặng.

Tôi biết rằng nếu tôi có hỏi một ai đó, cũng sẽ không ai trả lời cho câu hỏi của tôi rõ rệt được. Họ chỉ phỏng đoán và phần đông đều đoán sai.

Tôi xé thời gian ra từng mảnh
sao vẫn còn nguyên tháng Tư buồn
tôi hóa thời gian theo vàng mã
tàn tro bám chặt ở trong hồn (tmt)

Đã bao nhiêu tờ lịch rơi xuống, bay đi trong bốn mươi năm, nhưng tờ lịch ngày 30 tháng Tư thì hình như không rơi xuống, không bay đi được, nó nằm chôn sâu trong lòng những người miền Nam và thời gian dừng lại ở đó… ở đó. Thời gian không có tác động gì với những trái tim người di tản.

Tết Ất Mùi -2015

UserPostedImage
Hạ Vi  
#1891 Posted : Tuesday, February 24, 2015 12:56:53 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)




Một chuyến bay đêm – Thanh Thuý






UserPostedImage
Duy An  
#1892 Posted : Wednesday, February 25, 2015 6:28:37 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage

Chiều Ba Mươi Quét Lá

Chiều ba mươi quét lá
những chiếc lá khô cong
nằm ôm năm tháng cạn
hoang mang với gió đông

Nhát chổi cao rồi thấp
cây bút lòng bàn tay
gom làm sao cho hết
lao xao của tháng ngày

Lá ơi lá cứ rụng
chổi ơi chổi cứ xoay
gió ơi gió cứ thổi
tình ơi tình cứ bay

Nhát chổi ngang rồi dọc
như nét bút giữa sân
hạt bụi nào vướng lại
giọt mưa nào bâng khuâng

Lá rụng để lá rụng
tình rơi buông tình rơi
chổi ơi thôi đừng quét
thõng tay với cuộc chơi


nhát chổi thay nét bút
đăm đắm chiều ba mươi
vạch một đường hư ảo
giữa thơ và đất trời

Trần Mộng Tú
Chiều 30 Giáp Ngọ, quét lá sân nhà
.

Edited by user Wednesday, February 25, 2015 6:29:30 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
ASIAlcoholic  
#1893 Posted : Wednesday, February 25, 2015 9:41:05 PM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,213
Location: USA

Thanks: 2319 times
Was thanked: 1592 time(s) in 850 post(s)
UserPostedImage

V ớ i * Đ à * L ạ t * T h á n g * G i ê n g

Tháng giêng lên xứ anh đào
Mùa xuân như mở lối vào thiên thai
Ngàn hoa nụ đẫm sương mai
Ngả nghiêng ché rượu chỉ hai chúng mình.

Lương Định

thanks 1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 4/20/2015(UTC)
Duy An  
#1894 Posted : Thursday, February 26, 2015 2:23:31 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage


BK Bùi Đức Tính 323

Thoát khỏi trại tù đã hơn ba tháng nay, Vinh vẫn còn lắm thứ ngỡ ngàng, lắm điều xa lạ. Phố xá, láng giềng bây giờ không còn giống với những kỷ niệm thân thuộc trong ký ức, trước khi cộng sản chưa chiếm đoạt miền Nam. Đất nước mất chủ quyền. Nhân dân mất quyền tự do. Láng giềng thay chủ. Chủ mới là gia đình của công an, bộ đội từ miền Bắc vào. Những người chủ cũ bị nhà cầm quyền cưởng bức phải bỏ nhà đi vào sống trong vùng kinh tế mới. Nhiều nhà coi được mắt, đối với kẻ thắng cuộc, bị tịch thu với cái lý do mơ hồ có lý lịch thân cận với chính quyền miền Nam. Có nhà, gia đình đã bỏ trốn để vượt rừng hay vượt biển tìm tự do. Xã hội cộng sản gông cùm đời sống, trói buộc tư tưởng người dân. Người quen, người chưa từng biết nhau, cùng giống nhau ánh mắt tránh né, đầy e dè, sợ sệt. Người ta như đang mang những mặt nạ có cùng một khuôn mẫu u uất với mệt mỏi, mất niềm tin, hết hy vọng ở tương lai, cùng nụ cười gượng gạo lấy có.

Thế nhưng, cái khung cảnh quanh Vinh bây giờ lại quen thuộc, không khác chi mấy so với thời còn trong lao tù; nơi chế độ cộng sản lưu đày tù nhân chính trị, được họ lấp liếm bằng chữ nghĩa mỹ miều gọi là "cải tạo". Quanh quẩn cũng lá cờ máu, cũng chữ vàng trên băng vải đỏ, cũng cái đài phát thanh thé thé giọng chanh chua huênh hoang với những ngôn từ tuyên truyền lừa mị kỳ chướng, chít chóe chăm vào tai dân chúng, cũng đêm họp tổ để "kiểm điểm", "đấu tranh", "đấu tố"...

Mang xác thân trở về nơi phố cũ
Phố xưa đây, sao vẫn thấy ngỡ ngàng
Màu cờ máu vây kín mù ước vọng
Tự do đây? sao như chốn lao tù!


Có tiếng xe gắn máy dừng trước sân nhà. Nghe tiếng động cơ rất quen thuộc, Vinh bước nhanh ra cửa và thấy cái dáng lom khom ngồi trên yên xe, giữ tay lái, bơi bơi hai chân để lùi xe vào gần cửa nhà.
Nhận ra bạn mình, Vinh vui mừng gọi:

- Ê, Vũ!

Nghe tiếng Vinh, Vũ quay lại nhìn và thân mật hất mặc ra dấu rủ Vinh đi cùng với mình:

- Đi! Đi với tao... cà phê!

- Có cần tao thay đồ cho... lịch sự?

Vinh hỏi để hỏi, như theo thói quen, chứ Vũ đã biết bạn mình bây giờ chẳng còn áo quần nào đúng với cái nghĩa lịch sự như Vinh nghĩ. Vũ lấy điếu thuốc khỏi môi, mĩm cười và thư thả cùng khói thuốc:

- Mày mặc cái quần dài, vậy là lịch sự quá rồi... lên đi!

- Ừ! chờ tao nói ít tiếng cho trong nhà biết với...

Vinh ngần ngừ và quay nhanh vào nhà, nhân tiện lấy cái áo kaki vàng theo.
Bộ quân phục, mặc khi đi phép cuối tuần của thời còn học ở quân trường, bây giờ chỉ còn sót lại cái áo đã bạc màu và sờn cổ này.

Thấy Vinh trở ra, Vũ hút thêm hơi thuốc dài, rồi cho tàn thuốc xuống rãnh nước bên lề đường. Tay vặn chìa khóa mở điện, Vũ nhóng người đạp khởi động máy. Với tay nghề của Vũ, động cơ chiếc Honda từ thời còn đi học nổ máy chạy ngay.
Không chần chờ Vũ phải kêu nhắc thêm, Vinh lên ngồi trên yên xe. Vũ gát chân trên cần sang số, quay lại nhìn bạn phía sau lưng thăm hỏi:

- Được chưa?... chạy nghe mậy?!

- Ừ, chạy được rồi!

Vinh mĩm cười trả lời bạn, rồi lẩm bẩm như với chính mình:

- Bọn mình già đi mất!

Vũ nghe không rõ, lo cho xe rẻ nhập vào giòng xe chạy trên đường xong, nghiêng mặt hỏi vói ra phía sau:

- Mày vừa nói gì?!

Vinh nói lớn cho bạn nghe, yên tâm:

- Không có chi đâu... tao chỉ nói... bọn mình già đi!

- Ừ!

Vũ ậm ừ có vẻ cho qua, chưa hiểu hết ý Vinh nhưng cũng chẳng buồn hỏi han chi thêm, yên lặng giữ tay lái.
Thật vậy, bọn mình đã già đi mất!

Vinh chợt nhận ra, Vũ bây giờ thâm trầm hơn, thận trọng quay lại hỏi thăm chừng xem Vinh có ngồi vững trên yên xe chưa, trước khi phóng xe chạy. Rồi nhìn lại, mình cũng không còn cái nhanh lẹ phóng lên yên xe ngồi như trước đây. Hai đứa đã già nhiều hơn tuổi đời chưa đến ba mươi. Qua rồi cái thời tuổi trẻ bạt mạng, mặc cho thằng ngồi phía sau tự biết lo thân mà giữ sao mình ngồi cho dính trên yên xe, thằng cầm lái không cần phải hỏi han dong dài, cứ mặc tình nhấn tay ga vút vèo phóng đi ngay.

Sắp Tết!

Dạo này, thành phố đang trong những ngày cận Tết nên càng lắm thứ đỏ lòm; càng nhiều cờ đỏ, càng nhiều băng vải đỏ. Chúng nó được căng ngang qua lộ; treo trên cột đèn, dọc theo lề đường, máng trước cửa các trụ sở, cơ quan, trên tường vách,... Khắp nơi nơi, chằng chịt những thứ chữ nghĩa rất là nặng mùi "cách mạng" của nhà cầm quyền. Ngó đâu đâu cũng thấy những câu chữ tuyên truyền, tương tự như nhau, lập đi lập lại.

Những sáo ngữ "mừng đảng - mừng xuân", "đảng đã cho ta mùa xuân"... không mang lại chút gì hân hoan, vui tươi của mùa xuân. Trái lại, chúng nó như những bệt sơn man trá tô đỏ, phết vàng lên những thi thể dân lành bị lực lượng cộng sản "giãi phóng" bằng cách chôn sống hay giết chết bằng những kiểu cách vô cùng dã man trong các hố chôn người tập thể năm Tết Mậu Thân 1968. Chỉ trong hai mươi sáu ngày tấn công và chiếm đóng, thảm sát của cộng sản đã làm cả thế giới kinh hoàng ghê tởm. Hàng chục ngôi mộ tập thể được phát hiện trong và xung quanh Huế. Hơn bốn ngàn nạn nhân bao gồm đủ nữ, nam, từ bô lão đến trẻ sơ sinh. Chỉ riêng trong các hố chôn người ở khe Đá Mài, người ta đã tìm thấy gần năm trăm thi thể. Những biểu ngữ quanh Vinh, cho dù có được tạo dựng cầu kỳ trịnh trọng, chúng nó cũng bê bết, dối trá một cách thật là trơ trẽn. Người ta không thể nào quên tội ác của cộng sản từ khi cướp chính quyền đến nay, từ chính sách cải cách ruộng đất bất nhân, đến những cuộc đấu tố hành quyết vô cùng man rợ.

Xuân về, nhà cầm quyền cộng sản lại tung hô chào đón "Đại Thắng mùa Xuân"!

Cái "đại thắng", ngày 30 tháng 4 năm 1975, của những kẻ đào đường, phá cầu, giật mìn xe đò, đốt trường học, pháo kích chợ, nhà dân,... là cơn giông tố hãi hùng phủ trùm triền miên trên thân phận của quê hương và dân tộc!

Trong khi công lý và tự do là hai danh từ mang ý nghĩa cao đẹp của quốc gia, nhân loại đã hy sinh biết bao xương máu để bảo vệ công lý và tự do. Ngược lại, những con người cộng sản vốn độc tài, rất ghét sợ công lý, căm thù tự do. Cho nên, khi vừa cưỡng chiếm miền Nam họ liền cho thay đổi hai con đường Công Lý, Tự Do ở Sài Gòn lại thành đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi. Khởi nguồn cho biết bao câu thơ mỉa mai truyền miệng trong dân gian miền Nam, nổi bật nhất là hai câu ghi lại trang lịch sử thật sự đen tối nhất của dân tộc:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Thế mà hàng năm họ vẫn rình rang ăn mừng cái "đại thắng" man rợ ấy, trên nỗi khổ nhục xót đau của hàng triệu tù nhân khổ sai trong các trại tù và gia đình thân nhân bị trù dập đoạ đày trong sinh kế. Nhân dân miền Nam chân chính kém may mắn, cũng chẳng khá hơn bao nhiêu, họ cũng bị đảng đạp vùi xuống tận đáy bùn đen của xã hội chủ nghĩa. Khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” của nhà cầm quyền cộng sản với thực chất của chính sách cưởng bức, là phương cách bóc lột mồ hôi, máu lệ của người dân.

Sau ngày 30-4-1975, Ginetta Sagan, một ký giả Âu Châu, đã viết là 'Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên'. Câu viết ngắn gọn, tuy rất dí dỏm của bà Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi thảm của dân dộc Việt Nam trước thảm họa cộng sản. Người ta cuống quýt tìm đủ mọi cách để trốn thoát gông cùm của lực lượng tự xưng là "cách mạng" là "giãi phóng dân tộc".

Gần triệu người đã liều mình trốn đi. Người ta trốn đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu, miễn sao thoát khỏi ngục tù cộng sản. Hầu hết đều không hề có kinh nghiệm về hải hành, vượt rừng sâu. Người ra đi biết và chấp nhận những khó khăn, kể cả nguy hiểm đang chờ đợi họ. Trong ba người vượt biên tìm tự do thì chỉ có một người đến nơi an toàn, một người chết và một người sẽ bị bắt lại và đi tù.

Họ là những người chậm chân trong những ngày đầu di tản, không được may mắn theo các tàu dân sự vận chuyển lớn như Trường Xuân, các tàu chiến của hải quân, chiến hạm USS Midway để lánh nạn cộng sản. Hoặc họ chính là những người còn chút hy vọng vào những con người cộng sản cũng còn chút lương tâm và sáng suốt không nỡ đối xử với những người dân miền Nam như kẻ thù không đội trời chung và họ sẵn sàng cộng tác với nhà cầm quyền cộng sản để cùng xây dựng đất nước trong Hòa Bình của Dân Tộc. Nhưng rồi nhân dân miền Nam đã lầm, sau thời gian lầm than tôi mọi cho chế độ cộng sản bất nhân. Họ đã mất hết, từ tài sản đến quyền tự do và cả phẩm giá con người, dưới chánh sách trả thù vô cùng tàn bạo của cộng sản. Người ta liều mình, chỉ còn biết cầu mong vào số mệnh khi vượt trốn đến đất nước Tự Do, nơi nào cũng được, miễn là thoát khỏi điạ ngục cộng sản Việt Nam, tạo thành một cuộc di cư vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày lập quốc. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, người dân chỉ ra đi khi đã cùn đường, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình.

Ðây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của mình!

Chính đảng cộng sản đã cướp đoạt mùa xuân!

Mùa xuân đã không còn về trong lòng người miền Nam uất hận kẻ bạo quyền!

Các băng vải đỏ và màu cờ của đảng cộng sản khát máu nối nhau và cuốn vụt qua theo làn gió lùa bên tai Vinh, để rồi lại hiện ra và nối nhau bất tận!

Vinh nhắm mắt, không muốn đọc, không muốn nhìn thành phố thân yêu đang nhuộm đỏ. Vinh muốn lừa dối trí óc mình, để tìm về một thời yên ấm trong tình người. Nhưng tiếng người la réo thô tục, tiếng bánh xe nghiến bườn trên mặt lộ, tiếng động cơ gào rú, tiếng còi xe inh ỏi,... vây giữ Vinh trong cái hiện thực đầy chán chường. Chừng như những cơn bực dọc, bất mãn với chế độ cầm quyền trong lòng người dân đang trút đỗ vào đấy cho vơi, cho nhẹ bớt đi.

- Ê,... ngủ gục té chết nghen mậy!

Tiếng Vũ gọi như hét lên để đánh thức Vinh.

Vinh cười trấn an:

- Ngủ ghê gì... tao mà ngủ đã văng xuống đường, chờ đến mày gọi thì muộn rồi!

- Chứ... tao thấy mày nhắm mắt?!

- Không muốn thấy... nên tao nhắm mắt!

Vũ lắc đầu, chưa hiểu được ý bạn, nhưng không hỏi thêm, chỉ ân cần dặn dò:

- Ừ!... không chết trong tù, đừng có dìa đây mà ngủ gục rồi té chết,... lảng nhách!

- Đúng vậy... Sắp tới chưa?

- Mở mắt ra đi mày!... cà phê đây!

Vũ thân mật bảo bạn và bớt tốc độ quanh xe vào sân quán.

Đầu sông ngoài kia có chợ nhóm nên xô bồ, ồn ào. Chỉ chạy qua vài trăm mét, khung cảnh nơi quán cà phê khác biệt, thật yên bình. Sân quán rộng lớn. Chỗ đậu xe thoải mái, tuỳ ý khách. Bàn ghế thấp, bằng gỗ và nhựa đơn sơ, tạp nhạp; bày rải rác dưới bóng mát của các tàng cây trong sân. Vũ chọn cái bàn gần bờ sông, và dựng xe kế bên. Vinh khoác thêm cái áo cầm theo lên người, che bớt thân hình với cái thung “ba lỗ”, nhưng không gài nút cho thoáng mát, rồi ngồi xuống với bạn.

Con tạo xoay dần, chồng chất thêm tuổi đời, không dung thứ một ai. Ông chủ quán trông già yếu hẳn ra. Cô con gái xinh trẻ của mấy năm trước đây, trước khi miền Nam bị cộng sản cai trị, nay có vẻ mỏi mệt của một thiếu phụ nặng gánh gia đình trong xã hội chủ nghĩa ác nghiệt. Khung cảnh của quán không thay đổi chi mấy. Cái khác biệt rõ rệt nhất bây giờ là sự trống vắng, thiếu mất lời ca tiếng nhạc. Những tình khúc của Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên, Vũ Thành An,... đều thuộc vào nhạc miền Nam; loại nhạc bị nhà cầm quyền cộng sản cấm đoán. Bọn họ cho rằng tất cả những gì ở miền Nam tự do, từ con người đến văn hoá đều xấu xa, đều cần phải "giải phóng" triệt để. Thơ văn, âm nhạc miền Nam là "đồi trụy", bị thu gom tiêu huỷ, bị cấm đoán. Quán đã chọn cái yên lặng. Cái yên lặng dễ chịu hàng triệu triệu lần hơn phải nghe cái thứ chói tai nhức óc của loại nhạc gọi là "cách mạng". Ly cà phê với hương vị độc đáo của Café Du Monde, lọt vào trong cái quán nhạc "cách mạng" cũng biến ngay thành cái chất uống đắng nghét, khét ngẹt. Với cái loại nhạc vô duyên ấy, chắc gì đã có những giòng thơ tình "Em Hiền như Ma Soeur" đầy lãng mạn:

"Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa
Như mưa đời phất phơ, chắc ta gần nhau chưa?
Tay ta từng ngón tay, vuốt tóc em lưng dài
Đôi ta vào quán trưa, nhắc nhau tình phôi pha."

Không riêng gì nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, những chàng trai trẻ như Vũ và Vinh cũng sẽ không hứng thú gì để nghĩ đến chuyện đưa em vào cái quán trưa nào đó đang léo nhéo cái thứ âm nhạc gọi là "cách mạng", để tình tứ "nhắc nhau tình phôi pha"

Vinh lấy điếu thuốc rồi đẩy bao thuốc hút sang mời bạn. Hớp miếng cà phê, Vinh lắng nghe vị đắng của cà phê và khói thuốc thật nồng ấm bên tình bạn. Ngó trông ra con đường dẫn vào quán, vẫn chưa thấy bóng dáng Phát. Thường khi đi uống cà phê như thế này, có Phát đến. Vinh hỏi thăm:

- Phát đâu?... sao chưa thấy đến?

Cũng như Vũ, Phát cùng là bè bạn từ trung học, nhưng Phát và Vinh còn chung đại đội trong quân trường. Trong xả hội công an rình rập, bị bắt bớ tù tội vô cớ, không mấy người muốn tiếp xúc thân mật với những người tù chính trị như Vinh. Chỉ còn ba thằng thường ngồi với nhau trong quán cà phê.

Hít hơi thuốc dài, Vũ trầm tư một lúc:

- ... chắc nó đi rồi!

Vinh ngẩn ngơ dò hỏi thêm:

- Nó đi hồi nào? đến chưa?

- Tao chưa rõ nó đi hôm nào. Hồi nãy, định tấp vô rủ nó đi uống cà phê thì thấy hai thằng công an ngồi hút thuốc ngoài hàng ba nhà nó... tao vọt thẳng tới mày...

Rất nhiều lý do bị công an chiếm lấy nhà. Nhà có người vượt biên là một lý do thường thấy nhất. Vinh thẫn thờ:

- Ừ!... chắc vậy rồí... cầu mong cho nó đến nơi bình an!

- Mùa này biển bắt đầu êm...

Vũ tìm một lý do để cùng Vinh an tâm hơn về bè bạn. Nhưng cả hai đều biết, tin tức nhận được về vượt biển lắm thương đau. Cái giá của tự do đánh đổi bằng chính mạng sống của mình và người thân. Ai cũng biết, nhưng đều chấp nhận khi ra đi.

Tiếng máy tàu văng vẳng. Vinh ngó theo ánh mắt Vũ ra ngoài sông.

Gió từ giòng sông thoáng nhẹ, man mát mùa xuân. Nước lớn đầy, màu phù sa trải lên trên hai bên bờ, làm con sông trước quán trông rộng mênh mông.

Chiếc ghe chở nặng, trầm mình chầm chậm xuôi theo giòng nước. Tiếng máy thư thả êm đềm, như không muốn khuấy động yên bình. Ghe chở hàng, mui gỗ đóng kín, dài đến nửa lòng khoang. Dưa hấu chất vun đầy ra đến tận mũi ghe. Người đàn bà đứng kềm cái máy đuôi tôm gắn cặp phía sau ghe, giữ hướng tàu chạy. Dưới khoanh bóng mát nhỏ hẹp của mái che, ông chồng ngồi bẹp trên nóc mui vừa lua miếng cơm, vừa trông chừng hai đứa con cùng sông nước với vợ. Đứa con gái lớn vừa ăn, vừa đút cơm cho em. Đời thương hồ, lấy ghe làm nhà, quanh năm đây đó để mưu sinh. Đời dập dềnh suốt tháng này sang năm khác, mấy đứa nhỏ học hành chữ được, chữ mất, sao không khỏi chạnh lòng. Cuộc sống trên sông thiếu thốn đủ bề, gặp khi ốm đau không kịp đưa lên bờ cấp cứu. Những con sông chở nặng phù sa mang đến nguồn sống cho hàng vạn người, nhưng nó cũng cướp đi không biết bao nhiêu người chồng, người cha, và cả những đứa trẻ không may… Thường thì đời cha lại nối tiếp đời con cứ đeo mang nghiệp trôi dạt trên sông nước. Cuộc đời thương hồ nay đây, mai đó, không biết đâu là bến bờ, lênh đênh như cánh lục bình trên sông. Hình ảnh ghe thuyền bây giờ còn là ước mơ vượt thoát chế độ cộng sản bất nhân, nhắc nhớ biệt ly tan tác trong triệu con tim. Mùa biển êm hay biển động, người ta vẫn ra đi. Giờ này đây, bao con thuyền mong manh đang đưa thuyền nhân lênh đênh vượt đại dương tìm tự do.

- Giờ còn tụi mình...

Vũ nói lầm thầm rồi bỏ lửng, nhưng Vinh hiểu ý bạn mình. Chọn con đường cùn phải ra đi, rời bỏ quê hương cùng thân bằng quyến thuộc như một lần đi là một lần vĩnh biệt, sao không khỏi đớn đau. Nghìn trùng cách biệt, biết bao giờ được trở về đón xuân quê hương. Cả hai yên lặng, lòng thẫn thờ quyện theo khói thuốc và chợt nghe khói thuốc vương cay đôi mắt.

Vũ và Vinh nhìn theo bóng dáng chiếc tàu ngoài sông xa dần, lòng chập chùng với lắm ưu tư.

Xuân sắp về!

Mùa xuân về trong không gian, trong mùa màng, nhưng xuân quê hương đã không còn, không về trong lòng người!

Ven theo hai bên bờ sông, những đám lục bình còn vướng víu với hàng lau, lao chao nhấp nhô theo gợn sóng đùa vào. Những mảng lục bình ngoài khơi, lững lờ theo vận nước đang đổi chiều trôi ra cửa biển...
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 4/20/2015(UTC)
Duy An  
#1895 Posted : Sunday, March 1, 2015 12:18:46 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
47 Năm Sau Vụ Tàn Sát Tết Mậu Thân Giải Khăn Sô Cho Huế Tới UC Berkeley



Nhã Ca

UserPostedImage
Từ trái, Giáo sư Olgar Dror của phân khoa Lịch Sử tại Đại học Texas A&M University, đồng thời là dịch giả sách “Mourning Headband for Huế” đang thuyết trình về trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, với hình ảnh những hầm chôn người tại Huế xuất hiện trên màn hình. Trên bàn thuyết trình là Giáo sư Peter Zinoman của Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á thuộc Đại học UC Berkeley và nhà văn Nhã Ca, tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế tại Huế”.

Như lịch sinh hoạt được loan báo từ trước, chiều Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, buổi họp mặt với tác giả và dịch giả sách “Mourning Headband for Huế” –- Giải Khăn Sô cho Huế” đã khai diễn tại hội trường 180 Doe Library của Đại học UC Berkeley.

Sách “Mourning Headband for Hue” do Olga Dror dịch trực tiếp từ nguyên bản Việt ngữ “Giải Khăn Sô cho Huế” của Nhã Ca, được xuất bản bởi Indiana University Press và buổi “book event” tại UC Berkeley được tổ chức bởi Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á và do Giáo sư Peter Zinoman trực tiếp điều hợp chương trình.
Với hai diễn giả chính là Giáo sư Olga Dror, dịch giả, và nhà văn Nhã Ca, đây là lần đầu tiên, biến cô Huế Tết Mậu Thân 1968, trận chiến tranh cãi nhiều nhất trong cuộc chiến Việt Nam được nhìn lại toàn bộ bằng một cách nhìn khác, một quan điểm khác: quan điểm của người dân miền Nam.

Đây cũng là lần đầu tiên, hình ảnh và câu chuyện về cuộc tàn sát do cộng quân gây ra tại Huế Tết Mậu Thân bị công luận Mỹ lơ là được Giáo sư Olga Dror trình bầy chi tiết trong phần thuyết trình của bà.

Olga Dror là một trí thức Do Thái sinh ra và lớn lên tại Nga trong thời Sô-viết. Bà tốt nghiệp trường Leningrad State University chuyên ngành Văn Hóa Á Đông. Bà cũng từng là người phiên dịch Việt ngữ và làm công việc truyền thông tại Nga. Vào khoảng cuối thập niên 1980, trước khi Liên Xô sụp đổ, bà qua Do Thái và phục vụ trong ngành ngoại giao của quốc gia này.

Sau đó bà sang Hoa Kỳ và tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Lịch sử Đông Nam Á tại Cornell University. Hiện nay bà là Giáo sư tại Đại học Texas A&M.

Về phần Nhã Ca, xin mời đọc bài nói chuyện “Tiếng Kêu Tết Mậu Thân / Huế 1968 – Berkeley 2015.”


Tiếng Kêu Tết Mậu Thân Huế 1968 - Berkeley 2015

Nhã Ca


Bài nói chuyện tại UC Berkeley, Feb 25. 2015 trong buổi họp mặt với "Giải Khăn Sô Cho Huế/Mourning Headband for Hue"


UserPostedImage
Từ trái: Giáo sư Peter Zinoman giới thiệu tác giả Nhã Ca và dịch giả Olga Dror


Kính chào quí vị,

Hôm nay, với người Việt chúng tôi, vẫn còn là ngày Tết. Mùng Bảy Tết. Xin chúc tết theo truyền thống Việt Nam: “Kính chúc tất cả quí vị một năm mới Ất Mùi an lành.”
Và xin cám ơn UC Berkely. Cám ơnm Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á; Cám ơn Giáo sư Peter Zinoman và quí vị trong ban tổ chức.
Giáo sư Olga Dror, nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn hoá lịch sử Việt Nam, đã trình bầy đầy đủ về biến cố Tết Mậu Thân và "Giải Khăn Sô cho Huế." Cám ơn Olga.

Thưa quí vị và các bạn,

Là người viết văn thường viết khi một mình, tôi chỉ quen viết, không quen nói. Sẽ không bao giờ có thể là diễn giả. Bài nói chuyện này được viết trước. Tôi viết tiếng Việt và nói bằng "văn viết".

Tiếng Kêu Tết Mậu Thân

Hình như mỗi người đều có cuốn lịch riêng của mình, trong nhà hoặc trong đầu. Tôi biết mỗi tờ lịch có câu chuyện của nó, cả chuyện hôm qua, hôm nay, lẫn ngày mai. Câu chuyện của từng tờ lịch trong cuốn lịch chung được gọi là lịch sử.
Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến dài nhất của lịch sử Hoa Kỳ trong thế kỷ 20.
Cuộc chiến ấy có cái bóng dài hơn là chính nó.

Đó là cái bóng của trận tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968, do phía cộng sản thực hiện. Với những hầm chôn người và hàng ngàn thường dân Huế bị tàn sát, cái bóng oan khiên ấy ngày càng được nối dài. Dài hơn một trận đánh. Dài hơn cả cuộc chiến. Chưa biết đến bao giờ mới ngừng.

Là người sống sót từ trận chiến Tết Mậu Thân, tôi viết "Giải Khăn Sô cho Huế". Đây không phải tiểu thuyết hư cấu. Cũng chẳng phải văn chương thơ phú. Chỉ là chuyện thật, chuyện chạy bom chạy đạn. Chuyện mình, chuyện người. Mắt thấy tai nghe. Có sao viết vậy. Chỉ là những mảnh vỡ của một thành phố tan tác trong cảnh hỗn mang giữa máu lửa, chết chóc. Giáo sư Olga Dror gọi chúng là những "hình ảnh tức thì" của cuộc sống bị hủy hoại và vỡ nát. Bà "nghe" thấy tiếng nói từ loại hình ảnh này.

Là một trí thức Do Thái được sinh ra và lớn lên tại Nga từ thời Sô Viết, bà Olga đã rời khỏi đất nước này khi Liên Bang Sô Viết còn là một siêu cường. Hơn 10 năm sau khi chế độ Sô Viết đã sụp đổ, Giáo sư Olga Dror đã có dịp trở lại nước Nga. Năm 2012, trong một cuộc hội thảo về kinh nghiệm quan hệ giữa nước Nga và Việt Nam tổ chức tại Moscow, Olga thuyết trình về đề tài "Trận chiến Tết Mậu Thân tại Việt Nam và cuốn sách Giải Khăn Sô cho Huế." Nhưng nước Nga hậu Sô Viết vẫn không hề khác 25 năm trước. Thái độ của cuộc hội thảo với đề tài này là chỉ có thể đề cập tới "tội lỗi của phía Mỹ" trong trận chiến. Mọi lý lẽ khác bị dập tắt. Olga kể là sau đó, ngay chính trên đất Nga chứ không phải đâu khác, bà thấy mình quyết tâm hơn bao giờ hết, trong việc phải bảo vệ thứ tiếng nói từng bị vùi dập trong chiến tranh. Olga còn cho biết nguồn sức mạnh khích lệ bà trong quyết tâm này là những chuyện mà ông bà nội của bà đã phải chịu đựng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến tại Saint Peterbourg.

Năm 2012 là lúc người dịch và người viết "Giải Khăn Sô cho Huế" bắt đầu liên lạc làm việc với nhau. Nhưng khi sự việc trên đây xẩy ra, tôi không hề biết gì. Khi đó chúng tôi chưa quen nhau. Tôi không biết cuốn sách "Giải Khăn Sô cho Huế" đã cùng đi với Olga tới nước Nga ra sao. Chỉ biết Olga Dror là vị học giả uyên bác, người viết về Bà Chúa Liễu Hạnh của Việt Nam, một công trình nghiên cứu mà chúng tôi khâm phục. Ba năm liên lạc thư từ cùng làm việc, đã coi nhau là bạn, nhưng chỉ khi công việc đã xong, cầm cuốn sách anh ngữ trên tay, đọc bài của Olga, tôi mới biết chuyện này.

Điều mà Giáo sư Olga tìm thấy trong cuốn sách Giải Khăn Sô cho Huế, là "tiếng nói của người dân trong chiến tranh." Bà nói cuốn sách là cái nhìn cuộc chiến không qua cặp mắt của người lính hay chính trị gia, bình luận gia, mà qua cặp mắt của người dân không phe phái. Nó mô tả kinh nghiệm của những người dân bình thường.

Sau khi liệt kê đầy đủ và đối chiếu với các loại quan điểm khác nhau về trận chiến đã được nói lên từ nhiều phía, nhiều nơi, nhiều nước, Olga nhấn mạnh "Mourning Headband for Huế" là quan điểm, là tiếng nói đích thực của người dân miền Nam Việt Nam. Với nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam, tiếng nói này hoàn toàn bị cấm kỵ. Tác giả từng bị bắt bỏ tù, cuốn sách từng bị đóng đinh và cho tới nay vẫn tiếp tục cấm đoán. Ngay tại Hoa Kỳ, tiếng nói của người dân miền Nam cũng chưa từng được lắng nghe. Sách viết về chiến tranh Việt Nam hầu hết đều phát xuất từ miền Bắc Cộng Sản.

Olga cũng nói đọc Nhã Ca trong Giải Khăn Sô cho Huế, có khi người ta nghe tiếng la thất thanh, tiếng kêu gào tới mức không còn ra tiếng nữa. Tôi biết đó là tiếng kêu từ Huế Tết Mậu Thân. Tiếng kêu của người dân miền Nam trong cuộc chiến.
Hôm nay, lần đầu tiên. tiếng kêu ấy được mang đến UC Bekerley.

Nhờ buổi họp mặt này, hai chị em chúng tôi được gặp nhau lần đầu. Cuốn sách chúng ta có hôm nay không chỉ là bản dịch. Phần chính của sách là công trình nghiên cứu nghiêm túc của Giáo sư Olga về tiếng nói của người dân trong trận tấn công 1968. Giải Khăn Sô cho Huế và Nhã Ca, với hàng trăm chú giải chi tiết kèm theo bản Anh ngữ do Olga thực hiện, chỉ còn là đề tài của công trình nghiên cứu.

Tha lỗi cho tôi, Olga.

Tôi đã đẩy sang vai bạn phần lớn gánh nặng.
Bạn đã lãnh dùm việc nhìn lại toàn bộ trận chiến Tết Mậu Thân tại Huế. Bạn cũng đã giới thiệu quá đầy đủ về cuốn sách, tác giả và tác phẩm. Phần tôi, chỉ xin góp thêm chuyện bên lề, lan man không thứ tự. Bắt đầu bằng...
Ký ức một thời về chiến tranh, khủng bố

Tôi ra đời cùng lúc với cuộc Đại Chiến Thế Giới lần thứ hai. Huế thời đó còn là kinh đô của các ông vua triều Nguyễn, nhưng cả nước đã trở thành thuộc địa của Pháp.
Năm 1937, quân Nhật tiến chiến nước Trung Hoa rồi tràn vào Việt Nam kéo theo bom đạn của thế chiến.
Từ thủa còn bé thơ, hai ba tuổi, tôi đã biết nếm mùi chiến tranh, bom đạn, nhà cửa bị đốt cháy, cả nhà phải chạy loạn, đi tản cư trên những chiếc ghe, người lớn chèo trối chết, thuận hoặc ngược dòng sông để lánh nạn.

Năm 5, 6 tuổi, có lần theo lũ trẻ chơi đùa trên sân đình làng quê, thấy một bãi máu nhuộm đỏ từ gốc cây sung, bọn trẻ chạy theo, lên thềm đình. Xác một người đàn ông bị cưa ra làm 3 khúc. Đầu treo trên cây, thân nằm giữa sân và tay chân sắp trên thềm đình. Người bị giết là một thợ rèn, hiền lành. Việt Minh giết.

Năm tôi 9 tuổi. Tại Huế, Việt Minh cướp chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị, con đường Nam Giao của Huế, nơi có nhiều vườn chùa êm ả bỗng dấy lên nhiều cảnh kinh hoàng. Lúc đó, tôi học ở một trường tiểu học tên là trường Nam Giao. Sáng sớm, mấy bạn trong xóm rủ nhau đi học, bọn con nít chúng tôi thường kinh hoàng la hét, khi thấy một cái đầu bị cắt đứt lìa từ cổ để trong một cái rổ tre với một miểng giấy ghi của Việt Minh lên án Việt gian. Có khi đầu lâu hay thân người, hay cánh tay, đùi chân đặt trên cái rá, cái thúng. Có người tứ chi bị cắt rời, thân bỏ vào bao bố, đầu để ra ngoài, hai con mắt mở trừng trừng, miệng còn dính máu đông, rất hãi hùng.

Nhưng rồi... có một lần, bạn tôi không la, không hét, không xô đẩy. Mà cũng như thấy xung quanh không hề có ai. Cũng không nhấc tay, dợm chân. Bạn đứng sững. Tuy còn là một đứa nhỏ, nhưng tôi biết "đứng như trời trồng" là lúc bạn đứng đó. Hai cái đầu được bày trên hai cái nón lá chính là ba và mẹ của bạn. Bạn ra sao lúc đó? Bạn cứ đứng vậy. Hai mắt bạn cũng trắng dã, trợn trừng như bốn con mắt không thể nhắm của ba mẹ bạn.

Tôi cũng đứng như vậy. Không nhấc nổi tay chân. Không mở miệng. Sau đó, người ta xua đuổi bọn con nít đi. Tôi lạc mất bạn.
Và rồi, Tết Mậu Thân 1968, chuyện tàn sát tập thể bằng cách chôn sống đã diễ ra tại Huế. Hàng ngàn dân Huế bị chôn ở Thành Nội, ở Gia Hội, ở Bãi Dâu, ở Phú Thứ, ở khe Đá Mài... Không chỉ trong núi trong rừng, nơi họ bị chôn còn là đất chùa, đất nhà thờ, đất trường học, và ngay tại vườn nhà.
Trong số những người bị chôn có chị Tâm Tuý, cô bạn trường Đồng Khánh của tôi. Khi xác được đào lên, thấy tóc mọc dài hơn, móng tay mọc dài hơn. Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống, như nhiều nạn nhân khác.

Trong cuộc hưu chiến đêm giao thừa mùng một tháng Giêng Tết Mậu Thân, nhằm ngày 29 tháng Giêng 1968, các đơn vị cộng quân -gồm cả quân chính qui Bắc Việt và dân quân địa phương- lặng lẽ tiến vào Huế, kiểm soát được khu Gia Hội trong 20 ngày. Chỉ trong thời gian ngắn ngủi này, có tới 473 người Huế bị chôn sống.
Tiếng kêu Tết Mậu Thân từ "Giải Khăn Sô cho Huế" mới chỉ là những ghi nhận đầu tiên. Còn hàng ngàn tiếng kêu khác bao năm qua vẫn liên tục cất lên, ngay trên đất Hoa Kỳ. Xin kể một trường hợp mà chính tôi biết rõ: Ông Võ Trang, 56 tuổi, cư dân San Diego, một kỹ sư điện đang làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ tại đây, hồi tưởng việc bố của ông được mời đi "họp" chỉ 2 ngày trước khi quân đội quốc gia tái chiếm thành phố Huế. Ngày ấy, ông còn là một thiếu niên 15 tuổi. Sau đây là đoạn trích do ông Võ Trang viết:

"Trong khi tôi đang ngồi cạo chiếc ghế xích đu cũ để sơn lại thì bỗng có người vỗ vai tôi và hỏi nhẹ "Em ơi! Có ba ở nhà không?" Tôi bàng hoàng quay lại. Hai người, một dân quân áo bà ba quần cụt, một chính quy với dép râu và quân phục, nón cối màu vàng. Tôi hỏi lại họ muốn kiếm ai thì họ nói tên ba tôi rõ ràng. Chị giúp việc mà gia đình tôi vừa thuê vài tháng trước đã mở cửa sau cho họ. Tôi vào kêu ba tôi trong hầm giã chiến. Hết đường chạy rồi! Phòng chỉ có một cửa ra vào thì họ đã đứng chận. Ba tôi mặt tái xanh và không nói gì nữa. Trong hầm còn có một người em trai của me tôi, là một cảnh sát viên, đã khuyên ba tôi nên đi ra để họ khỏi xông vào bắt thêm những người họ không dự định. Me tôi đưa thêm chiếc áo len cho cho ba tôi mặc vào. Người anh thứ hai của tôi chạy theo xin đi thế nhưng họ không cho. Hôm đó là ngày 19 âm lịch tháng Giêng năm Mậu-Thân...
"Khoảng hơn một tuần sau, các hầm chôn người tập thể nằm phía sân sau của trường Tiểu Học Gia Hội được phát hiện. Xác người khi được khai quật, tuy chưa bị rữa nhưng đã sưng phồng lên và bốc mùi.

"Cái thây người được kéo lên để nằm ngửa người trên một u đất, miệng há hốc, mặt đen xám và dính đầy đất, hình ảnh mà cả cuộc đời tôi không bao giờ quên. Đó là ba của tôi. Những chứng cớ không thể chối cãi. Chiếc áo có vẽ 4 cái đầu của ban nhạc "The Beatles" bên ngực trái, là chiếc áo độc nhất vô nhị của anh tôi mà ba tôi rất thích. Hai chiếc tất (vớ) thêu lủng lỗ mà anh em chúng tôi đều biết được chia đều vào 2 túi quần. Rõ ràng là dấu hiệu ba tôi để lại cho gia đình nhận diện. Tôi không biết ba tôi đã vật vã như thế nào vào giờ phút đó nhưng me tôi và các anh em tôi thì vẫn đau đớn cho đến bây giờ...".

Võ Trang cho biết trong số người bị chôn có cả cô gái 19 tuổi ở cách nhà ông 2 căn. Người anh là một cảnh sát viên vắng mặt nhưng có tên trong danh sách được mời, cô em thay thế anh "đi họp"!

Và kể thêm: "Thảm sát tập thể như thế này cũng đã xảy ra ở Sịa, vùng quê gần Huế, vào năm 1947. trước khi rút lui vì nghe tin quân Pháp sắp trở lại, cộng sản kêu gọi dân chúng đi đào hầm chống Pháp. Những hầm này thật ra chính là những hầm chôn tập thể chỉ trong vài ngày sau đó. Theo lời chú tôi kể lại họ đi bắt người cả ban ngày và ban đêm. Ông Cố Nội của tôi, đã 70 tuổi cũng đã bị bắt đi vào ngày 17 tháng 2 nhằm ngày 20 Tết Âm Lịch. Lúc đầu người ta phát giác xác anh TH., một nhân vật có võ được biết trong làng, chết bên vệ đường với nhiều vết chém, đứt cả bàn tay. Rồi lần theo vết máu người ta tìm đến những hầm chôn người tập thể trong đó có cả Ông Cố Nội của tôi và em của Ông. Những vết cắt cho thấy họ bị chặt đầu bằng mã tấu!(1).

UserPostedImage

Nhà văn Nhã Ca và nhà giáo Trần Hạnh của UC Berkeley. Ảnh Nguyệt Cầm.

Và Đêm Huế 1970


Hai năm sau trận chiến Mậu Thân, họp mặt ra mắt sách "Giải Khăn Sô cho Huế" lần đầu tại Sàigòn, vớiù sự hiện diện của Hoà thượng Thích Trí Thủ, vị đại sư huynh của các nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam. Sau đó toàn bộ số thu từ cuốn sách được mang về trao tặng trường trung học Đồng Khánh và Đại học Y Khoa Huế. Chuyến đi Huế lần này có sự tham dự của Linh mục Cao văn Luận, viện trưởng sáng lập Đại học Huế, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, các nhạc sĩ Phạm Duy, Cung Tiến. . .
Tại Huế vào thời điểm này, dân chúng ngày ngày đang lùng kiếm đào bới các hầm chôn người do cộng quân để lại, thành phố đổ nát đầy tang tóc. Đêm Huế 1970 cho tôi những hình ảnh nhớ đời.

Một buổi chiều, với chiếc xe Volkswagen, chúng tôi sang Thành Nội. Đây là chiếc xe của ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick để lại trong chung cư y khoa sau khi bị cộng quân bắt đi. Ông bà cùng hai vị bác sĩ người Đức khác là Raimund Discher và Bác Sĩ Altekoester là bốn bác sĩ người Đức sang giúp trường Y khoa Huế từ 1960. Cả bốn vị đều đã bị cộng quân bắt đi xử bắn.

Tại Thành Nội, chúng tôi có buổi ăn tối với các bạn ở trường Âm Nhạc Huế. Đây là nơi trú đóng của cộng quân trong cuộc giao chiến. Trong khu vườn nhà trường, có con mương dẫn nước chạy qua. Lúc đứng ở sân, người vợ của anh bạn giám đốc trường nhạc chỉ tay vào cái mương, nói là sau khi Việt Cộng đã rút chạy, anh chị trở lại đây, thấy xác binh sĩ Việt Cộng nằm chết xếp lớp dày đặc trong con mương.

Người chết không còn oán thù, có một mâm cơm, một bát nhang bày ở đó.
Trên đường lái xe về, trong đêm Huế thê long đâu đâu cũng thấy bầy bàn thờ nhang khói, chúng tôi có ngừng lại thăm một ngôi nhà có người cha người anh đã bị cộng sản chôn sống tại Gia Hội. Con em trong nhà mang áo xô gai, thay nhau cầm bó đuốc chạy quanh gốc cây trước nhà. Theo niềm tin của dân gian, những hồn chết oan không biết đường về nhà. Phải đốt đuốc hướng dẫn cho linh hồn lưu lạc biết đường mà trở về.

Có biết bao hồn oan trong trận chiến Huế Mậu Thân đang chờ ánh đuốc, cả hồn oan của những chiến binh miền Bắc bỏ xác trong mương nước thành nội.
Năm Ất Dậu, 1885, Pháp đã đưa quân vào Huế uy hiếp triều đình. Đêm 23 tháng 5 âm lịch, 30,000 quân Nam tấn công căn cứ Pháp tại Mang Cá nhưng bị đánh bại. Kinh thành thất thủ, đại thần Tôn Thất Thuyết phải mang Vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị mở phòng trào Cần Vương. Trong trận chiến này, hơn 1500 quân dân Huế bị tàn sát. Ngay từ năm Mậu Tuất tiếp theo, Huế lập Đàn Tưởng Niệm, xây thêm miếu Âm Hồn trong Thành Nội, hàng năm, đúng ngày giỗ, cả thành phố đều đốt nhang, làm lễ. Thực dân Pháp không cấm việc dân Huế tưởng niệm người chết. Cộng sản thì khác.

Huế Mậu Thân, số nạn nhân bị tàn sát nhiều gấp 5 lần, nhưng từ sau 1975, mọi đài tưởng niệm đều bị phá bỏ, dân chúng thì bị công an đến từng nhà truyền lệnh cấm tụ tập làm giỗ.
Hình ảnh bập bùng của những ngọn đuốc đêm Huế ấy bao năm vẫn chập chờn trong đầu tôi.

Thưa quí vị,

Năm Ất Mùi 2015, bốn mươi năm sau chiến tranh Việt Nam cũng là dịp kỷ niệm 20 năm bang giao Việt Mỹ.
Lịch sử có ghi là hai năm trước khi Nội chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc, tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln đã chỉ định "một ngày tủi nhục quốc gia" cho nước Mỹ. Trong ngày này ông đã kêu gọi cả nước nhận chung "tội lỗi của chúng ta" và cùng nhau xưng tội, cầu nguyện sự tha thứ.

"Ngày tủi nhục quốc gia" được công bố tại Mỹ là ngày 30 tháng 3 năm 1863. Đã hơn 150 năm. Nội chiến Hoa Kỳ chấm dứt vào vào tháng Tư năm 1865. Liên Bang nước Mỹ, với sự tôn trọng dành cho phía miền Nam- lá cờ miền Nam vẫn được treo, binh sĩ miền Nam vẫn giữ súng cá nhân, liệt sĩ Nam Bắc chung nghĩa trang, cả nước không có một cuộc diễn binh hay lễ hội mừng chiến thắng. Từ đó mà có được nước Mỹ ngày nay.

Sau Tết Ất Mùi, sang năm sẽ là Tết Bính Thân. Sắp thêm một năm Thân.

Chiến tranh Việt Nam, anh em một nhà bị đầy tới chỗ giết nhau, thù hận nhau. Tháng Tư 1975 của Việt Nam- sau tháng Tư của nước Mỹ 110- thêm cả triệu người miền Nam bị thủ tiêu, tù đày, chìm dưới đáy biển. Vậy mà cho tới nay, tại Việt Nam cũng như tại nhiều nơi, trong nhiều cái đầu, vẫn chưa thấy nghĩ lại.

Trong bài "Tựa Nhỏ: Viết Để Chịu Tội" mở đầu sách Giải Khăn Sô Cho Huế, tôi có viêt rằng chính thế hệ chúng ta, thế hệ của tôi phải chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát Tết Mậu Thân cũng như cả cuộc nội chiến. Tầm nhìn thế hệ không phải phân biệt tả hữu, nam bắc. Sau đó là lời mời gọi cùng đứng trước bàn thờ ngày giỗ.

Khi viết lời tựa nhỏ cho bản in lần đầu "Giải Khăn Sô Cho Huế" vào năm 1969, tôi viết với niềm tin vào tương lai của Huế, tương lai Việt Nam.
Vào năm 2008, khi viết thêm ít dòng cho bản Việt ngữ của cuốn sách được tái bản ở Mỹ, tôi viết "Sẽ tới lúc phải có một bàn thờ chung, ngày giỗ chung tại quê hương, nơi từng biết thế nào là sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hóa, lịch sử."

Và hôm nay, tại đây, vẫn với nguyên vẹn niềm tin xưa, tôi tiếp tục chờ đợi.
Những người Huế từng bị tàn sát Tết Mậu Thân xứng đáng được tưởng niệm.
Các thế hệ tương lai tại Việt Nam xứng đáng được nghe, được nghĩ, được nói điều chân thật, được hưởng một đất nước lành lặn, sạch sẽ. Ngày ấy sẽ tới.
Kính chào và cám ơn quí vị.


Nhã Ca

(1) Bài “Xuân Này Nhớ Xuân Xưa” của tác giả Võ Trang, sách “Viết Về Nước Mỹ” 2009.

UserPostedImage
thunder  
#1896 Posted : Monday, March 2, 2015 2:02:26 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Sư “cầu an” cho siêu xe



UserPostedImage

Nhà sư tổ chức lễ cầu an cho siêu xe ngay trước tượng Bồ Tát


UserPostedImage

Chủ xe cầm hương đi theo sau nhà sư


UserPostedImage

Mở hết cửa xe để được "cầu an"


Một câu trong bản hiến pháp Hoa Kỳ, câu “all men are created equal”, tất cả mọi người sinh ra đời đều bình đẳng nhất định không đúng trong tất cả mọi trường hợp. Câu này cũng đã bị mấy con heo trong cuốn Animal Farm của George Orwell sửa lại khi nó được viết trên bức tường của cái lẫm lúa nơi bọn gia súc họp với nhau trong những buổi tối. Mấy con heo gian ác đã thêm một câu vào phía sau để thành: “All animals are equal, but some animals are more equal.” Tất cả mọi thú vật đều bình đẳng nhưng vài con thú thì bình đẳng hơn.

Mới đọc thì thấy không ổn, nhưng nghĩ lại thì cũng thấy xuôi tai. Không phải con thú nào cũng như con thú nào. Những con ngựa đua thì được săn sóc, được đối xử tử tế hơn những con ngựa thồ, những con ngựa kéo xe thổ mộ gầy ốm tội nghiệp ở Việt Nam. Làm thế nào chúng bình đẳng với nhau được.
Luôn cả những đồ vật cũng vậy. Đôi giầy của Kate Middleton chắc chắn được đối xử nhẹ nhàng hơn những đôi giầy của chúng ta chẳng hạn. Chắc chắn là như vậy. Chiếc xe tôi đang đi cả hai tháng nay không được những bàn tay của mấy ông Mễ vỗ về đánh bóng. Thế thì làm gì có chuyện xe cộ bình đẳng với nhau tuy cũng cùng ra đời ở mấy cái xưởng sản xuất xe hơi ở Đức cả đấy chứ.

Vì thế, chẳng chỉ thân gái như hạt mưa sa (hạt vào gác tía, hạt ra cánh đồng) mà luôn cả những cái xe cũng vậy. Chiếc xe của tôi chạy cả hai chục năm nay bị đối xử chẳng thể nào được coi là tử tế ngoại trừ đúng ngày, đúng tháng hay mấy cái đồng hồ hiện lên vài ba câu hăm dọa hay nhắn nhủ thì mới thay nhớt, điều chỉnh cái này, sửa lại cái kia.

May mà cái xe của tôi không biết đọc báo chứ nếu nó mà đọc được mấy tờ báo trong nước thì không biết nó nghĩ về tôi như thế nào nữa. Cũng là xe cả, mà tôi đối xử với nó thua xa cách đối xử của một đại gia ở tỉnh Kiến An hôm tháng trước. Đúng ra là ngày 21 tháng 01 năm 2015. Chàng mới mua một chiếc Porsche, hình như đó là một chiếc 911 mầu trắng. Chàng liền thuê mấy ông sư (chắc là quốc doanh) đến đọc kinh cầu an cho cái xe của chàng. Xe mới mua, trước khi chạy những cây số đầu tiên, chàng kiếm sư nhờ, (nhưng chắc là thuê), vì chắc không có sư (?) nào chịu cầu an chùa (?) cho chàng cả. Trong ba tấm hình đi kèm theo bản tin cầu an cho xe, người ta thấy có hai người đàn ông mặc áo tu đi vòng quanh chiếc Porsche. Một người tay cầm lọ nước, chắc là nước phép để vẩy lên xe. Người kia chắp tay cung kính theo sau.

Chao ôi là sư với chả sãi! Tu hành không biết bao nhiêu năm để rồi vì vài triệu tiền công phải chắp tay cung kính với cái Porsche. Hai người đàn ông này cầu xin những điều gì cho cái đống sắt ấy, cho dù là nó được mua với cả trăm ngàn đô la?

Có thể là như thế này: Lạy Phật, Phật phù hộ độ trì cho cái Porsche này cho nó chạy ngon lành đừng nằm đường bậy bạ, không bị mấy đứa ghen ghét cào trầy sơn cho bõ ghét. Phật phù hộ chủ nó lái không nhắm mấy cái gốc cây, mấy cái cột đèn mà nhào đến, có chở theo con nào thì thỏa sức vui chơi, khỏi bị thằng C. đô la qua mặt hay mấy em chân dài đi những chiếc xe “khủng” khác át giọng. Phật phù hộ chủ nó an toàn trên xa lộ, không bị bọn chống tham nhũng cuội đòi chứng minh lấy tiền đâu mua xe, đòi xem giấy chủ quyền dọc đường xin tiền mãi lộ. Cầu Phật phù hộ cho mấy con chân dài ham ăn ham chơi không chịu làm cháu ngoan bác Hồ được thả cửa ăn chơi trước khi bị lừa bán vào động điếm bên Trung quốc…

Chắc phần cầu an cho chiếc Porsche phải đại khái như vậy.

Nhưng đã có trò cầu an cho chiếc xe Porsche thì chắc mấy ông sư này sẵn sàng bảo gì làm nấy, cứ chi cho ít tiền là lại kinh kệ xuống đường ê a đọc kinh ngay chứ gì. Chao ơi, lúc ấy thì tha hồ hốt bạc. Các thí chủ muốn mấy ông sư quốc doanh này làm gì là các ông làm ngay. Có người nhờ cầu an cho cái mũi plastic cũng được ngay. Người kia nhờ cầu an cho hai bịch silicone, cho cái bộ phận vừa được làm nhỏ như thời con gái chắc hai ông sư này cũng làm liền.
Vui kể gì.
Có một chi tiết khác cũng nên biết ở đây, đó là chủ chiếc xe Porsche này là một cán bộ nhà nước. Không biết lương lậu bổng lộc được bao nhiêu mà còn làm kiêm luôn… đại gia rồi còn mua được cả xe Posche nữa. Không hiểu được.

Bùi Bảo Trúc



CatLinh  
#1897 Posted : Saturday, March 7, 2015 2:25:23 PM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
thanks 1 user thanked CatLinh for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Duy An  
#1898 Posted : Friday, March 13, 2015 5:13:38 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,262

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
BÀI LUẬN VĂN ĐẦU TIÊN


Thiên Lý

Tôi đã thích môn Việt Văn từ lúc bắt đầu viết những bài tập làm văn ở lớp tiểu học. Sự yêu thích đó không bắt nguồn từ một năng khiếu bẩm sinh, hay một thích thú nhất thời, mà là từ một cảm xúc chân thật rất non trẻ.

Khi tôi lên lớp 6, tôi được làm quen với hai phần trong môn việt văn: kim văn và cổ văn. Một điều đã luôn gợi cho tôi những cảm xúc tràn đầy từ những bài thơ văn cổ cũng như kim; là nhờ ở phần giảng giải vô cùng thú vị của thầy giáo dạy Việt Văn. Thầy tôi năm đó hãy còn trẻ, nhưng trông thầy rất đạo mạo trong bộ áo vest, thắt cà vạt và cặp kính cận trắng, gọng đen, đã làm cho vóc dáng thầy nhìn thêm nghiêm khắc. Thầy rất giỏi chữ Hán, mỗi khi giảng về một bài thơ cổ, thầy luôn ví dụ những dòng thơ chữ Hán để chứng minh cho phần giảng của mình. Có một lần, tôi bắt chước đứa bạn ngồi cạnh bên nói thầy hay “xổ nho chùm”. Nó khôn hơn tôi nói nhỏ xíu, còn tôi tài ngu nói to hơn để làm thầy giận và đuổi tôi ra khỏi lớp. Đứng ngoài cửa lớp tôi hối hận khóc.

Từ sau ngày đó, hình như tôi đã làm mất cảm tình của thầy, lại thêm cái tội nhiều chuyện trong lớp. Không hiểu tại sao hồi ấy tôi cứ thích nói chuyện trong giờ học. Những lúc thầy gọi trả bài là lúc bọn con gái chúng tôi tha hồ tâm sự, mà nói nhiều và to hơn ai hết là tôi. Vì vậy mỗi khi lớp quá ồn thầy nhìn xuống lớp là tên tôi luôn bị xướng lên cảnh cáo phải im lặng. Rồi chỉ im được vài giây; con ma nói trong tôi lại thúc giục tôi lên tiếng, để cho thầy phải bực mình chọi phấn về phía tôi liên tục.

Rồi một ngày, thầy cho cả lớp tập làm luận văn với hai đề tài: Tả chiếc xe đạp và tả người chiến sĩ. Thầy gọi bốn học sinh lên bảng và chia bảng ra làm bốn cột, hai học sinh một đề. Khi bốn học sinh đó làm xong nhập đề thì thầy gọi bốn học sinh khác lên làm thân đề. Tôi thấy cách làm này hơi lạ lùng, vì ý và lời của đứa làm nhập đề rất khó cho học sinh thứ hai tiếp tục làm thân đề. Tôi đã không biết thầy cố ý làm như thế để giúp học sinh chúng tôi tập suy nghĩ, tưởng tượng rồi đặt câu sao cho xuôi và hợp lý với ý của người bạn mình. Tôi cố trốn tránh ánh mắt thầy để khỏi bị kêu lên bảng làm tiếp phần thân đề. Song, số tôi xui vẫn hoàn xui, đúng vào lúc tôi vừa thủ thỉ than phiền với nhỏ bạn bên cạnh về kiểu bắt làm luận văn kỳ cục của thầy, thì cũng là lúc tới phiên tôi phải lên bảng. Tim tôi đập loạn xà ngầu, tôi run rẩy bước lên bục với cái đầu rỗng tuếch. Tôi bỗng thấy may mắn cho đứa nào làm nhập đề và kết luận. Tôi bị đứng vào cột tả người chiến sĩ, thật là khó quá! Bên cạnh tôi, con nhỏ bạn cũng đang bị kẹt ý cho phần thân đề tiếp nối cái xe đạp. Bỗng dưng tôi và nó cùng nhìn nhau lắc đầu rồi tôi buột miệng nói với nó:

“Cái đầu của tao có rồi mà cái thân tao nặn chưa ra…” Sau câu nói đó hai đứa tôi cùng cười khúc khích. Tôi nghe tiếng thầy nạt lớn:

- Lên đây làm bài hay là giỡn…

Tôi giật mình run tay viết hai chữ thân đề méo mó. Bỗng, tiếng chuông reo hết giờ như một cứu tinh. Tôi và đứa bạn gái mừng rỡ quăng phấn chạy liền về chỗ, miệng còn la lớn:

- Hết giờ rồi, hết giờ rồi.

Cả lớp ồn lên sau tiếng chuông, thầy gõ thước dõng dạc ra lệnh:

- Im lặng, nghe tôi nói, các em về nhà làm tiếp bài luận văn tả cái xe đạp hoặc người lính chiến tùy ở các em chọn, ngày mốt nộp.

Có vài tiếng xì xào lập lại “mốt nộp, mốt nộp”. Rồi đột nhiên thầy hướng mắt về phía tôi nói lớn:

- Riêng trò Hà, ngày mai phải nộp liền cho tôi bài luận tả người chiến sĩ vì cái tội lắm chuyện, lo ra trong lớp.

- Tôi giật mình, vừa mắc cỡ với bạn bè, nhất là tiếng cười của lũ con trai nhãi ranh phía sau, vừa sợ, vừa tức thầy sao bất công đã không cho tôi cái quyền lựa chọn đề. Tôi sững người nhìn thầy trân trối, cho đến khi đứa bạn bên cạnh thúc cùi chõ vào tôi nhắc nhở: “Ê! Mặt mày đỏ như trái cà chua rồi đó!” tôi mới ngượng ngùng gục đầu xuống bàn. Tôi cảm thấy ghét ông thầy Việt Văn làm sao, rõ ràng là thầy cũng ghét tôi mà! Tôi lo sợ nếu tình trạng “bị ghét” này kéo dài đến cuối năm, chắc là tôi đứng chót lớp về môn Việt Văn quá. Trời ơi, con gái dốt toán thì còn tha thứ được, chứ dốt Việt Văn thì “quê” biết chừng nào.

Tôi tự trách mình đúng là “thần khẩu hại xác phàm”, ai kêu già chuyện làm chi cho khổ thân. Rồi tôi lại trách thầy quá thiên vị. Đứa nào cũng nói chuyện rân trời trong lớp chứ đâu phải mình tôi nói, nhỏ Thanh Phương một cây tán phét về tài bắt bướm, hái hoa của nó. Có một cuốn tập ép mấy cành hoa tím khô và vài cánh bướm vàng, cứ khoe tới, khoe lui. Con Ngọc Linh thì đanh đá, suốt ngày kể chuyện mấy bà làm vườn cãi lộn. Còn Hồng Ái thì mơ màng toàn những tuồng tích Hồ Quảng, cải lương nói mấy ngày chưa hết… Thế mà không đứa nào bị thầy chiếu “đèn pin” như tôi cả…

Về nhà tôi cứ lo lắng cho bài luận văn, tôi định bụng sẽ hỏi cha tôi về những công việc của người lính để tôi có thêm ý mà tả. Không may cho tôi, hôm đó cha tôi lại đi dạy ngoài giờ nên về rất trễ. Tôi phải lặng lẽ ngồi nặn óc suy nghĩ một mình về hình ảnh người lính mà tôi chưa hề biết rõ qua.

UserPostedImage
Sài Gòn (Mậu Thân 1968)


Hình ảnh đầu tiên liên quan đến người lính hiện ra trong trí nhớ của tôi là những ngày tháng hãi hùng, chạy loạn của người dân Sàigòn năm Mậu Thân. Lúc ấy tôi chỉ là một đứa bé 8 tuổi, đang vui sướng trong bộ quần áo mới thẳng nếp, với bao lì xì đỏ trên tay. Tôi lăng xăng chạy quanh nhà miệng nghêu ngao hát: “Xuân đã đến rồi gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời…”, rồi lại chạy ra sân xem cha tôi gắn phong pháo dài lên cánh cổng để đốt. Tôi vừa bịt tai chuẩn bị nghe pháo nổ thì đã nghe một tiếng nổ lớn vang trời làm rung chuyển nhà cửa. Sau đó là vài tiếng nổ lẻ tẻ, tôi thấy một đám khói đen từ xa, và tiếng cha tôi hét lớn: “Chạy vào nhà nằm xuống ngay, tiếng súng đấy.” …Súng tiếp tục nổ, có tiếng la hét bên ngoài lẫn tiếng khóc, cả tiếng chân người chạy mỗi lúc một nhiều. Tôi sợ hãi chẳng biết gì cũng khóc mỗi khi nghe có tiếng động lớn. Cả ngày hôm đó, gia đình tôi cứ nằm dưới gầm ván. Chỉ có mỗi cha tôi là không nằm, mà cứ đi qua đi lại trông rất lo lắng. Sau đó, cha tôi bàn với mẹ là cho cả nhà tạm lánh nạn ở trường Quốc Gia Nghĩa Tử, nơi cha tôi đang làm hiệu trưởng. Ở đây gần khu trại gia binh, và có nhiều đồn lính canh gác rất an toàn.

Khi chúng tôi di tản đến đó, tôi đã thấy những chú lính rất bận rộn, tất tả chạy ngược xuôi với khẩu súng dài trong tay. Trên khuôn mặt người nào cũng hiện ra sự khắc khổ, chịu đựng, đầy vẻ nghiêm nghị đến độ luôn thiếu vắng nụ cười. Ngày ngày tôi hay bế em ra gần khu canh gác chơi, chính những khuôn mặt nghiêm nghị của các chú lính kia lại thường cho tôi nụ cười ấm áp, vui tươi. Họ thay phiên nhau bế em giúp tôi, để tôi được rảnh tay chơi lò cò với đám bạn nhỏ. Đôi lúc, các chú lính ấy cũng hay hỏi chuyện học hành và chơi đố cửu chương với lũ trẻ chúng tôi… Tôi nghĩ những người lính ấy rất thương trẻ con… Nhớ đến đây, tôi ghi liền vào giấy đức tính: “rất yêu trẻ con” của người chiến sĩ.

Tôi nhớ đến chú lính tài xế của cha tôi tên là Tô, mà tên thêu trên túi áo lại không có dấu ô, nên chúng tôi cứ gọi chú là chú To, nhưng chú vẫn cười hiền hậu không hề bắt lỗi. Chú hay giúp cha tôi nhổ cỏ khu vườn phía sau nhà, bổ củi cho mẹ, và thường xuyên lau chùi chiếc xe Jeep. Tôi lại nghĩ đến cha tôi trong bộ quân phục, ồ, không biết cha tôi có phải là lính hay không, mà sao tôi chưa bao giờ thấy cha mang súng như những người lính khác. Tôi chạy lại hỏi mẹ tôi:

- Mẹ ơi, bố cũng là lính hả mẹ?

- Ừ!

- Sao bố không đeo súng lục bên hông hả mẹ?

- Tại bố không ra mặt trận.

- Tại sao bố là lính mà không ra mặt trận?

- Tại bố mày được biệt phái về ngành dạy học.

- Biệt phái là gì hả mẹ?

Mẹ tôi bực mình:

- Hỏi lẩm cầm nhiều thế. Chờ bố mày về mà hỏi.

Tôi tiu nghỉu:

- Con đang làm bài luận văn tả người lính chiến đây nè, con tả bố được không?

Mẹ tôi dịu giọng lại:

- Thì cứ việc tả, đời lính khổ lắm, cứ phải thuyên chuyển luôn.

Tôi thấy hơi lúng túng với câu nói của mẹ, rồi tôi nghĩ à, tôi có được một ý nữa, đời lính thật khổ, còn phải thuyên chuyển luôn. Tôi hí hửng ngồi vào bàn viết, để diễn tả lại một bức tượng người lính oai hùng, gan dạ, tôi tập trung suy nghĩ đến hình ảnh của cha tôi, chú lính tài xế, và những chú lính tôi gặp năm MậuThân, không nề hà gian khổ khi di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác. Tôi vẽ vời hình ảnh người lính vào bài y như một bản tường trình, rồi kết luận bằng câu:

“Em thấy nơi nào có bóng dáng người lính là nơi đó có sự chiến đấu khốc liệt, đồng thời cũng có sự bình yên và che chở. Người lính mãi là một hình ảnh đẹp và hào hùng trong lòng em.” Chấm hết! Đọc đi đọc lại bài luận văn của mình, tôi tạm yên lòng vì đã xong để kịp nộp ngày mai.

Giờ cổ văn là giờ đầu trong ngày, thầy giáo xuất hiện vẫn với bộ mặt nghiêm trang, đôi mắt không bao giờ biết cười sau cặp kính cận dầy. Sau cái ngoắc tay cho cả lớp ngồi xuống, thầy không quên nhắc tôi nộp bài luận. Tôi đem bài luận lên cho thầy mà lòng không khỏi hồi hộp. Thầy gọi học sinh trả bài một lúc. Hôm ấy trông thầy rất thờ ơ với việc đọc bài của từng đứa, thầy như đang chăm chú đọc một cái gì đó trên bàn của thầy.

Giây phút kiểm bài đã xong, thầy bước xuống bục với bài luận của tôi trong tay. Tôi giật mình đến thót khi nghe thầy cất tiếng:

- Các em im lặng, nghe tôi đọc bài luận của trò Hà đây.

Tôi sợ hãi đến muốn khóc: “Chết rồi! Sao quả tạ chiếu vào tôi rồi. Tụi bạn sẽ cười tôi, sẽ diễu cợt những lời viết của tôi…”

Thầy bắt đầu thong thả đọc, cả lớp im phăng phắc nghe, tôi đang chờ đợi những lời chê trách, cùng những tràng cười kế tiếp… Tôi cứ cúi gầm mặt xuống không dám nhìn thầy, cho đến khi thầy đọc xong bài luận và nói:

- Các em có thấy không, đây là một bài luận hay, lời lẽ của Hà diễn tả mạch lạc, chân thật. Đọc bài này tôi có thể hình dung ra được hình ảnh của người lính ngay trước mặt mình. Khá lắm, tôi cho em trọn số điểm 20.

Tiếng xì xào vang lên, tôi cảm thấy tai mình lùng bùng như không tin được điều tôi vừa nghe. Thanh Phương húc cùi chõ vào tôi:

- Sướng nhe, được 20 điểm luận văn.

Ngọc Linh tru tréo hỏi:

- Ê, sao bữa nay mày trở thành “thiên tài” bất ngờ dzậy? Có ai làm dùm mày phải hôn?

Hồng Ái trề môi:

- Chắc là chép ở đâu rồi, tao không tin mày làm được một bài như vầy.

Thùy Minh chen vào:

- Khai thiệt đi, chép trong báo Quân Đội phải hôn?

Tôi tức tối la lên:

- Ừ, thì tao chép đó, làm gì tao.

Cả ba cái miệng nhao nhao:

- Ui trời ơi, bây giờ mới khai, đồ ăn cắp “dzăng”, nhục hơn ăn cắp tiền nghe mày. Nói cho thầy biết đi.

Tôi nhìn những khuôn mặt bạn bè hàng ngày vẫn tán chuyện với tôi, giờ chỉ có con số điểm 20 mà đã muốn đổi bạn thành thù rồi. Tôi tự ái nói:

- Mày khỏi cần nói, tao lên nói với thầy liền.

Tôi vừa quay đi thì đã thấy thầy đứng sau lưng hỏi:

- Chuyện gì?

Tôi chưa kịp nói, thì Hồng Ái và Ngọc Linh cùng lên tiếng:

- Bài Luận của Hà là nó chép trong sách đó thầy. Nó mới khai với tụi em.

Tôi tức giận, nước mắt tự nhiên trào ra, hồi đó, tôi cũng hay bị bạn bè chọc là đồ “mít ướt”. Thầy nhìn tôi với ánh mắt dịu dàng:

- Tôi không tin là bài luận này em chép. Theo tôi, nếu em chép từ văn của một nhà văn nào đó, thì đây là một bài văn rất dở với lời lẽ ngây ngô, nhưng tôi lại tin đây là bài luận hay của một học sinh lớp 6 như em.

Rồi thầy quay qua học sinh và nói:

- Tôi tin chắc rằng bài của trò Hà là tự bạn ấy viết, các em nên học lấy cách tả trung thực bằng cảm xúc, rõ ràng mạch lạc, chứ không nên dùng sáo ngữ, mơ hồ khiến cho người đọc khó hiểu.

Trước khi bước đi, thầy xoa đầu tôi nói:

- Thôi nín đi, thầy tin em là được rồi.

Câu nói của thầy như một thần dược xoa dịu ngay nỗi uất ức của tôi. Thầy không ghét tôi như tôi đã tưởng, thầy cũng chẳng bất công hay thiên vị gì hết. Tôi chớp mắt nhìn thầy cảm động, tôi nghĩ, từ nay tôi sẽ bớt nói chuyện với cái đám bạn hay ganh tị kia. Mấy ngày sau, thầy nhìn tôi với ánh mắt thiện cảm hơn, thầy đã không còn chọi phấn về phía tôi, hoặc kêu tên tôi những lần tôi nói chuyện. Tôi vẫn không ngờ bài luận đầu tiên đã làm thay đổi tình thầy trò một cách lạ lùng… Và cũng bắt đầu từ ngày đó, tôi càng thấy yêu thích môn Việt Văn nhiều hơn.

Vài tháng sau đó, thầy thông báo sẽ nghỉ dạy, tôi nghe nói thầy đi nhập ngũ. Ngày cuối cùng với thầy, chúng tôi học bài “Cô Gái Sơn Tây”, thầy giảng bài này rất vui làm cả lớp có một trận cười ra nước mắt. Hết giờ, thầy nói vài câu tạm biệt với cả lớp:

- Tuần tới, các em sẽ có thầy giáo mới thế chỗ tôi. Tôi mong rằng các em sẽ học chăm chỉ hơn, học văn là học về tâm hồn con người. Các em đừng nghĩ đây là môn phụ mà xao lãng nhé.

Tiếng một đứa con trai hỏi:

- Thầy đi dạy trường khác hả thầy?

- Không, thầy đi lính… Ngừng một chút, thầy hướng mắt về phía tôi tiếp. Đi lính là bổn phận của người trai tráng với đất nước, thầy cũng muốn có một hình ảnh đẹp, và hào hùng trong lòng các em như trò Hà đã tả về người lính.

Hôm đó, lần đầu tiên tôi thấy đôi mắt của thầy biết cười sau cặp kính dầy.

Ba mươi tám năm sau…

Khi tôi bắt đầu tập tành viết lách, một người bạn rủ tôi tham gia một cuộc thi viết về người lính do báo Đa Hiệu tổ chức năm 2009. Tôi ngại ngùng nghĩ, chà, đề tài không dễ chút nào! Tôi cảm tưởng như đây là một bài luận khó. Cái khó là tôi đã bị kẹt lại trong chế độ CS những hai mươi năm, đã bị nhồi nhét bởi nền giáo dục đầy tính chất chính trị, với phương châm: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Đất nước lúc đó đã bị cô lập với mọi thông tin bên ngoài, sự trung thực của lịch sử đã bị bóp méo. Tôi đã “bị học” những điều dối trá, tuyên truyền và nhục mạ về người lính VNCH… Vậy thì làm sao tôi có thể viết về người lính một cách tường tận được.

Tôi mơ hồ nhớ lại bài luận văn của mấy chục năm trước, tôi đã tả hình ảnh người lính theo cảm tính của một học sinh lớp 6. Sự thiếu sót hay sai lạc vào lúc đó có thể châm chế được, vì người chấm bài chỉ có mỗi một mình thầy giáo thôi. Bây giờ tôi đã lớn tuổi, tôi không thể viết về người lính mà không có một kinh nghiệm hay hiểu biết gì về đời lính cả. Hơn thế nữa, khi viết ra, tôi sẽ có hàng trăm giám khảo là những độc giả của báo lướt mắt qua, trong số những người đọc đó, chắc chắn cũng có nhiều người đã là chiến sĩ năm xưa. Càng nghĩ, tôi càng thấy e ngại không muốn viết… Nhưng rồi, do sự yêu thích viết lách đã nhen nhúm trong tôi vài ý nghĩ về một bài viết với nội dung sao cho có ý nghĩa để dự thi. Tôi tìm đọc thêm những chuyện về đời lính trên các trang web để học hỏi.

Qua những bài viết về đủ mọi binh chủng trên các báo đài ở hải ngoại, tôi đã cảm nhận được dư âm của cuộc chiến tranh Nam, Bắc tương tàn dù đã chấm dứt hơn ba mươi năm nay rồi. Nó vẫn như đốm lửa âm ỉ trong lòng biết bao nhiêu người lính VNCH. Sự âm ỉ đó mỗi năm lại bùng lên ngọn lửa phẫn uất, buồn tủi vào ngày Quốc Hận tháng 4 đen. Ngày mà ở quê hương đang tưng bừng chào mừng chiến thắng “vĩ đại” thì trên nửa vòng trái đất, những nơi có cộng đồng người Việt lưu vong, lại ngậm ngùi hồi tưởng về sự mất mát của miền Nam trong muôn vàn nghịch cảnh khác nhau. Sinh mạng của hàng triệu người đã bỏ mình trên biển cả trong những chuyến đi tìm tự do. Số phận tù đày của biết bao nhiêu người lính còn bị kẹt lại. Sự bạc đãi tàn ác của kẻ chiến thắng đối với trăm ngàn vạn người thương binh cũ. Đời sống dân lành đói khổ, lầm than.

Và trong ngày Quốc Hận đó, hình ảnh người lính luôn đứng chung bên lá cờ vàng phất phới, đã là một biểu tượng cho sự hy sinh vì tự do, nhân ái mà tất cả những người Việt khắp nơi trên thế giới đang trân trọng gìn giữ và vinh danh.

Trong nhiều năm qua, đề tài về người lính tuy đã cũ mà vẫn gợi cho tôi lòng tò mò muốn biết. Thế nên tôi đang cố gắng tận dụng mọi hiểu biết mà tôi đã nghe, đã đọc để diễn tả lại hình ảnh người lính. Nhưng sao cố gắng hoài tôi thấy thông tin hình như không bao giờ đủ khi tôi chưa hề trải qua cuộc đời chinh chiến. Những khi đọc chuyện đánh nhau trong chiến tranh, chuyện tù đày khổ cực trăm bề, tôi hay bị xúc động và thường không thể đọc hết nổi những phần đau thương còn lại.

Từ những cảm xúc xót xa đó, tôi đã bạo dạn tham dự một bài viết về tình yêu đối với số phận của người lính VNCH sau chiến tranh, đã phải chịu đựng bao nhiêu sự khốn khổ, tủi nhục về tinh thần lẫn thể xác trong lao tù CS. Cảm xúc thì nhiều, nhưng vì không có kinh nghiệm tiếp xúc với những người đã từng là lính, nên tôi chỉ biết tạo một nhân vật lính với những đặc trưng cao quí theo cảm nhận của riêng mình. Tôi mang những chữ kiêu hùng trong chiến thắng lẫn chiến bại, kiên quyết, bao dung và sẵn sàng xả thân đặt vào hình ảnh người lính tôi yêu.Tuy có mấy chữ đó thôi, tôi tin rằng ý nghĩa đã nói lên nhiều hơn tất cả.

Bài luận đầu tiên sau 38 năm của tôi về người lính đã được kết luận bằng câu:

“Cám ơn các anh, cám ơn một quá khứ oai hùng của đời lính đầy hy sinh gian khổ.”

May mắn thay, nó đã được đa số giám khảo chấp nhận cho tôi được giải.

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Hạ Vi  
#1899 Posted : Tuesday, March 17, 2015 10:24:02 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


Tôi Đã Gặp - Tứ Ca Nhật Trường




Nhạc phẫm "Tôi Đã Gặp" của nhạc sĩ Minh Kỳ & Hoài Linh được trình bày với ban Tứ Ca Nhật Trường gồm có: Nhật Trường, Như Thủy, Quỳnh Giao và Mai Hương.


Tôi đã gặp anh, người anh quá hiên ngang
đi xây cuộc đời vì lứa tuổi đôi mươi.
biên cương xa xôi, anh vì yêu sông núi
đem vinh quang gieo ngàn nơi

Tôi đã gặp em chiều nao chốn quê xưa,
lúa ngô hai mùa chờ bóng người xa xưa,
quê hương thân yêu em về vui khoai sắn,
hay bên nương dâu ban chiều
Gặp nhau cầm tay nói vài câu
thương mến trao nhau, anh đi về đâu?

Rừng sâu đồi cao dốc, đèo nao hiểm nguy
chớ sờn bền tâm tranh đấu
Gặp nhau rồi thương nhớ dài lâu,
nhớ lúc ra đi không vương sầu chi
Ngày mai, ngày sông núi vẻ vang niềm vui
xóm làng lời hát vang vang

Ôi! nhớ nhiều khi gặp nhau biết nhau chi,
nhớ bao nhiêu người vì xóm làng ra đi,
đem thân nam nhi vui cuộc đời sương gió,
quên đi bao câu từ ly
Trên khắp nẻo đường đất nước mến yêu
ta biết nhau đây rồi lại tháng ngày phôi pha,
nhưng vui đi anh mai bình yên sông núi
ta chung vui câu thanh bình.




UserPostedImage
thanks 2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
Duy An on 4/21/2015(UTC), thunder on 5/5/2015(UTC)
Hạ Vi  
#1900 Posted : Saturday, March 21, 2015 4:41:02 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,575
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

Nhiều Sách Tự Lực Văn Đoàn Bị CSVN Cắt, Sửa Khi In Lại;
Viện Việt Học Ra Mắt Kỷ Yếu Tự Lực Văn Đoàn, Hội Thảo...



Đối với những người quan tâm về văn học Việt Nam, buổi Thuyết trình và Ra mắt Kỷ yếu Tự Lực Văn Đoàn đã để lại nhiều thông tin rất đáng quan tâm.

Trong khi Giáo sư Nguyễn Văn Sâm nêu ra một bước ngoặt và là những bước nhảy vọt lớn của Nhất Linh sau hai tác phẩm đầu tay là Nho Phong và Người Quay Tơ, nhà văn Phạm Phú Minh đưa ra những chứng cớ vể hiện tượng nhà nước CSVN khi in lại Tự Lực Văn Đoàn đã cắt xén và sửa đổi nhiều tác phẩm -- điển hình, cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng khi được CSVN in lại đã cắt bỏ phần gặp nhau ở Chùa Long Giáng; cũng như nghiên cứu của học giả Nhật Bản về TLVĐ và khám phá của sinh viên tiến sĩ Tanaka Aki rằng cuốn "Đời Mưa Gió" của Khái Hưng và Nhất Linh trong bản do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2010 so với ấn bản do NXB Đời Nay in trước 1975 đã có nhiều khác biệt -- điều mà nhà văn họ Phạm nói là CSVN có tội phá hoại văn hóa khi bóp méo văn bản cổ.

Buổi Triển lãm và Thuyết trình về Tự Lực Văn Đoàn hôm Chủ Nhật 28 tháng Chín năm 2014 tại Viện Việt Học đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu và nghệ sĩ, trong đó có GS Trần Ngọc Ninh, GS Lê Xuân Khoa, GS Lê Văn Khoa, Bùi Bỉnh Bân, Võ Thắng Tiết, hai nhà thơ Thái Tú Hạp - Ái Cầm, nhạc sĩ Trần Chí Phúc...

Cô Nguyễn Kim Ngân, viên chức Viện Việt Học, đã giải thích về diễn tiến về bước đường dò tìm tài liệu về báo Phong Hóa, báo Ngày Nay, tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn, dữ kiện về áo dài Le Mur Nguyễn Cát Tường... trong đó có nỗ lực nhiều người, không những từ hậu duệ TLVĐ, mà còn từ học giả Việt Nam và Nhật Bản, cũng như từ nỗ lực của GS Phạm Lệ Hương liên lạc với nhiều thư viện quốc tế để xin các vi phim những tác phẩm TLVĐ.

Diễn giả Nguyễn Trọng Hiền, con trai của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, kể rằng chặng đường tìm hiểu của ông y hệt chuyện thần thoại, như có các cụ phù hộ -- và đã kể lại một cách linh động với các slide phim và hình minh họa.

Khi bố bị bắt cóc, ông mới 3 tuổi, nên chẳng có ký ức gì. Cơ duyên là năm 2000, khi ghé Little Saigon, ông thấy cuốn Các Họa Sĩ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, và thấy hình bố ông (tức họa sĩ Cát Tường) trong này.

Ông Hiền nói, trường mỹ thuật lúc đó may mắn có Hiệu Trưởng, tuy là người Pháp, nhưng biết cái nhìn cấp tiến, thí dụ, thay vì dạy vẽ phụ nữ khỏa thân như truyền thống Châu Âu, đã yêu cầu học trò tập vẽ phụ nữ Việt Nam cấy lúa, gánh lúa...

Ông Hiền nói, trong 4 tấm tranh sơn dầu của sinh viên mỹ thuật được đưa vào bảo tàng có một tấm của Nguyễn Cát Tường. Nguyễn Trọng Hiền về Việt Nam nhiều lần để tìm tài liệu về bố, tới tận nhà may có tên Cát Tường ở Hà Nội năm 2006, nhưng chủ tiệm may đã nói thật rằng không phải thân tộc với cụ Cát Tường, về quê Sơn Tây gặp nhiều họ hàng, gặp người mẫu đầu tiên là cụ bà Nguyễn Thị Hậu, liên hệ được với chị Phạm Thảo Nguyên (con dâu Thế Lữ) để cùng tìm các số báo cũ, may mắn gặp Thành Tôn giúp về kỹ thuật số hóa (Digitization) để lưu trữ văn bản và hình ảnh vào máy tính và Internet, và rồi năm 2013 đã góp sức thực hiện cuộc triển lãm và hội thảo về TLVĐ ở báo Người Việt, cũng như cuộc trình diễn áo dài Le Mur ở Viện Việt Học, trong đó người đầu tiên mặc áo dài Le Mur ở hải ngoại là MC Kim Ngân của Viện Việt Học. Đặc biệt, một chi tiết được Nguyễn Trọng Hiền giải thích là ông đã chọn các người mẫu cho áo dài Le Mur năm 2013 là các chị cựu học sinh Trưng Vương, vì trường Trung Học Trưng Vương (Hà Nội) là nơi bà Hiệu Trưởng Thục Oanh đầu tiên bắt buộc học sinh phải mặc áo dài Cát Tường.


UserPostedImage


Buổi nói chuyện trở nên trầm lắng và ưu tư hơn, khi Phạm Phú Minh nói về nỗ lực khôi phục văn học TLVĐ không đơn giản chỉ vì để giúp người nghiên cứu văn học sử sau này, mà còn để giữ trung thực các văn bản TLVĐ đã và đang bị các nhà xuất bản CSVN hiện nay cắt xén tự tiện.

Ông nói, do vậy, nhìn từ khía cạnh văn học, hành động các nhà xuất bản hải ngoaị như Xuân Thu, Đaị Nam in lại tác phẩm cũ, cho dù có thể vi phạm tác quyền và có khi trả tiền tác quyền không hợp lý vẫn là một công lớn vì gìn giữ văn học trước 1975 nguyên bản, không sửa đổi.

Nhà văn Phạm Phú Minh nói, đã có nhiều người khám phá ra chuyện các nhà xuất bản CSVN in lại và cắt xén văn bản các tác phẩm văn học trước 1975, dù là tác phẩm thuần túy văn học, không liên hệ chính trị.

Như trường hợp nhà văn Ngự Thuyết khi nghiên cứu về Khái Hưng đã thấy các bản in ở Việt Nam gần đây có nhiều sai lạc, nên cuối cùng phải mua bản in ở Tự Lực ở hải ngoại.

Nhiều sách khác cũng bị cắt xén, như “Tuấn Chàng Trai Nước Việt” của Nguyễn Vỹ, hay như “Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê.”

Nhà văn họ Phạm cũng nói, cắt xén thậm chí thô bạo tới mức, khi một nhà xuất bản trong nước xin in lại bài của nhà phê bình văn học Thụy Khuê phỏng vấn Hoàng Xuân Hãn, và họ nói rõ là xin cắt một số đoạn. Thụy Khuê đồng ý, với điều kiện các chỗ cắt xén phải để ba chấm trong ngoặc, và nhớ phải ghi nguồn bài phỏng vấn từ Hợp Lưu.

Nhà xuất bản trong nước hứa là sẽ làm y thế, nhưng rồi họ chẳng để dấu ba chấm, và chẳng ghi nguồn... và lại thêm thắt những lời ca ngợi ông Hồ, mà nguyên thủy cụ Hoàng Xuân Hãn không hề nói.

Cắt thô bạo tới mức học giả quốc tế cũng thấy. Nhà văn họ Phạm kể về trường hợp nhà nghiên cứu Nhật Bản Tanaka Aki, học ở Đaị Học Ngoaị Ngữ Tokyo và được GS Kawaguchi hướng dẫn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn. Khi cô Aki dịch tác phẩm “Đời Mưa Gió” của Khái Hưng và Nhất Linh, mới khám phá ra nhiều dị biệt trong ấn bản cô mua ở TP/HCM do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2010 so với ấn bản do NXB Đời Nay in tại Sài Gòn trước 1975 mà Thầy Kawaguchi có trong tay.

Tiếp theo, GS Nguyễn Văn Sâm nói về hai tác phẩm Nho Phong (NP) và Người Quay Tơ (NQT), hai tác phẩm đầu tay của Nhất Linh, người mà GS Sâm nói là thán phục từ tài năng tới nhân cách, từ lựa chọn đi Pháp du học cho tới việc lập văn đoàn, từ hoạt động đảng phái cho tới việc bỏ ngang hội nghị 1946 với Pháp trong cương vị Ngoại Trưởng trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, cho tới lựa chọn cuối đời là tự sát để phản đối việc chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo.

GS Sâm nói, người ta thấy hai cuốn NP và NQT có văn phong rất khác với văn phong Nhất Linh sau này ở Đoạn Tuyệt hay nhiều cuốn khác. Hai cuốn NP và NQT xuất bản năm Nhất Linh rất trẻ, 20 tuổi (1926) và 21 tuổi (1927), và sau đó Nhất Linh sang Pháp du học, từ đó văn phong biến đổi. Đặc biệt, cuốn NP là cuốn duy nhất ký tên Nguyễn Tường Tam, có thể lúc đó chưa quyết định sẽ đi theo con đường sáng tác, và trong này yếu tố làm văn chương ít hơn yếu tố bày tỏ tư tưởng.

GS Nguyễn Văn Sâm nói, sách này in năm 1926 trong khi lúc đó Việt Nam đã có Hồ Biểu Chánh viết cuốn U Tình Lục (ký tên thiệt là Hồ Văn Trung), theo thể truyện thơ lục bát. Cả Nho Phong và U Tình Lục đều nói về đời một người con gái, vì tình yêu mà gian nan: Nguyễn Tường Tam viết bằng văn xuôi, ít tình tiết; Hồ Văn Trung viết văn vần, nhiều chi tiết nhỏ nhặt.

Nhưng nhìn laị, lựa chọn viết văn xuôi của Nguyễn Tường Tam là lựa chọn sáng suốt, rất quan trọng đối với sự nghiệp nhà văn của ông và tạo đà lớn mạnh cho văn học Việt Nam thế hệ 1913-1932.

Viết văn xuôi sau 1920 không phải phát kiến của Nguyễn Tường Tam, nhưng giả sử nếu Nguyễn Tường Tam viết truyện dài bằng thơ như cụ Phan Chu Trinh viết Giai Nhân Kỳ Ngộ Diễn Ca (1915-1917) thì sau này chắc chắn không có phong trào đổi mới văn chương và đổi mới sáng tác của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, và văn học Việt Nam sẽ thiệt thòi rất nhiều.

GS Nguyễn Văn Sâm nói, tuy Người Quay Tơ chỉ in sau Nho Phong một năm, nhưng văn phong đã rất mới, đổi nhiều.

Nho Phong là văn ước lệ, kiểu “dáng liễu thanh tân... man mác trong lòng... nết thu ngại ngùng... làn thu ba như nhuộm vẻ sầu... cảnh song trăng quanh quẽ...”

Nhưng Người Quay Tơ là bước tiến vĩ đại của Nguyễn Tường Tam để chuyển sang thành Nhất Linh, và là chuyển sang văn học chủ đề, văn phong trực tiếp hơn...

GS Nguyễn Văn Sâm so sánh Nhất Linh với Hồ Biểu Chánh, nói rằng Hồ Biểu Chánh viết “Ai Làm Được” có văn phong mới hơn “Nho Phong” nhưng Hồ Biểu Chánh không tạo ra được một nhóm nhà văn cùng sống chết cho lý tưởng cứu nước và đổi mới văn học, và làm được như thế lại là công trình lớn của Nhất Linh.

Tiếp theo, nhà văn Đỗ Quý Toàn (Ngô Nhân Dụng) nói về Sách Hồng của TLVĐ - trong đó có nhiều sách cho thiếu nhi nhưng đầy cuốn hút với thế hệ lão niên như ông - như Ông Đồ Bể (của Khái Hưng), Hạt Ngọc (của Thạch Lam).

Trong khi GS Đỗ Quý Toàn nói, GS Phạm Lệ Hương chiếu slide show hình bìa các tác phẩm Sách Hồng.

Phần thảo luận điều hợp bởi cô Lâm Dung.

GS Trần Ngọc Ninh kể những kỷ niệm về thập niên 1940's, khi GS còn là sinh viên y khoa Hà Nội. Năm 1944, GS Ninh là sinh viên năm thứ 2 hay thứ 3 Trường Thuốc, làm báo Văn Học, có viết một truyện cho trẻ con, tưạ đề “Cuộc Phiêu Lưu của Thằng Tý, con Tẹo,” cho nhân vật phiêu lưu trong cơ thể người.

Một hôm, một người gầy cao tới tìm tác giả bài này, tự giới thiệu là Khái Hưng, nói rằng mỗi lần Khái Hưng viết truyện trẻ em là phải đưa cháu Thiết đọc trước, thấy ưng bụng mới đăng. Khái Hưng chuyển lời “cháu Thiết” tới tác giả Trần Ngọc Ninh rằng, cách nào để nhân vật thoát ra thân thể người...

Sau đó là phần Ra mắt Kỷ yếu Tự Lực Văn Đoàn và bộ 3 đĩa DVD. Giá bán: Kỷ yếu + bộ DVD giá $30.

Tất cả bộ báo đã số hóa của Tự Lực Văn Đoàn đã và đang đưa lên mạng của Viện Việt Học để độc giả toàn cầu đọc tự do và miễn phí - http://www.viethoc.com/ - và đây là văn bản gốc, không hề bị cắt xén hay sửa đổi.



Phan Tấn Hải




UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 5/5/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest (7)
102 Pages«<9394959697>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.