Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<45678>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#101 Posted : Wednesday, May 11, 2011 12:30:07 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Mỹ cho điều tra về số nạn nhân
sau cuộc biểu tình của người Hmong tại Việt Nam


Saturday, 07 May 2011

Hôm nay, 06/05/2011, theo hãng tin Bloomberg, đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cho biết sẽ cho điều tra về thông tin chưa được kiểm chứng liên quan đến số nạn nhân thiệt mạng sau cuộc biểu tình của hàng ngàn người Hmong, xẩy ra cách nay vài ngày, tại tỉnh Điện Biên, một khu vực miền núi hẻo lánh, gần biên giới với Lào.

UserPostedImage
Phụ nữ Hmong đi chợ Cốc Lý, Sapa (Ảnh: Brian Snelson / en.wikipedia.com)


Thông cáo của đại sứ quán Mỹ kêu gọi « các bên liên quan tránh bạo động, giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp tại Việt Nam và các chuẩn mực về nhân quyền được quốc tế thừa nhận ». Đồng thời, đại sứ quán Hoa Kỳ đang cho « điều tra về những thông tin chưa được xác định về số người có thể thiệt mạng » trong cuộc biểu tình này.

AFP ngày hôm qua, dựa trên thông tin của một sĩ quan quân đội Việt Nam xin ẩn danh, cho biết là quân đội đã trấn áp hàng ngàn người Hmong biểu tình đòi mở rộng quyền tự trị và tự do tôn giáo. Trong khi đó, Trung tâm Phân tích Chính sách công, một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, có trụ sở tại Washington, nói rằng có 28 người thiệt mạng và hàng trăm người mất tích.

Đây là cuộc biểu tình thứ ba được biết đến của các sắc tộc thiểu số tại Việt Nam, trong thập niên vừa qua. Trong các năm 2001 và 2004, lực lượng an ninh Việt Nam đàn áp các cuộc biểu tình của người Thượng ở vùng Tây Nguyên phản đối chính quyền bóp nghẹt tự do tôn giáo và chiếm đoạt đất đai của họ. Để tránh bị truy lùng, trấn áp, có ít nhất 1000 người Thượng đã vượt biên, chủ yếu chạy sang Thái Lan lánh nạn.

Chiều tối ngày hôm qua, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga ra thông cáo khẳng định là tại tỉnh Điện Biên, có nhiều người Hmong đã tụ tập sau khi có tin đồn rằng một "sức mạnh siêu nhiên" sẽ đưa họ đến "miền đất hứa", ở đó, họ sẽ được ban sức khỏe, hạnh phúc và giàu sang. Vẫn theo thông cáo này thì lợi dụng tình hình này, một số phần tử xấu đã kích động đám đông đòi thành lập một vương quốc độc lập của người Hmong, làm mất trật tự, an ninh ở địa phương.

Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết thêm là chính quyền đã điều động cán bộ đến « thuyết phục » những người biểu tình không nên tin vào những vào những chuyện thần bí, lừa bịp, đồng thời cảnh báo rằng những lời kêu gọi thành lập một vương quốc độc lập mà một số người đưa ra, là trái với chính sách đoàn kết dân tộc của chính phủ.

Theo Reuters, một số nguồn tin nói rằng cuộc biểu tình của người Hmong bắt đầu từ ngày 30/04, còn giới ngoại giao tại Hà Nội khẳng định có từ 5000 đến 7000 người đã tham gia biểu tình và một trong số những người này đã tự xưng là vua.

Cũng trong ngày hôm nay, Việt Nam từ chối không cho các nhà báo ngoại quốc đến khu vực có cuộc biểu tình của người Hmong. Tại Việt Nam, các phóng viên nước ngoài phải xin phép khi đi tác nghiệp ngoài thủ đô Hà Nội.

Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, được AFP trích dẫn, đã đưa ra một số lý do không thể cho phép các nhà báo nước ngoài đến nơi có vụ biểu tình như thời tiết xấu và đường xá dẫn đến huyện Mường Nhé "rất tồi tệ", chính quyền địa phương đang bận rộn kỷ niệm chiến thắng Điện Biên phủ, ngày 07/05.

(Theo RFI)

thunder  
#102 Posted : Wednesday, May 11, 2011 12:55:12 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Thượng nghị sĩ Mark Furner cho biết
Chính phủ Úc không hỗ trợ đề nghị "Diễn hành với VC"


Hôm nay thứ Ba 10/05/11, lúc 4 giờ 50 chiều, tôi được Thượng nghị sĩ Mark Furner điện thoại cho biết là ông vừa có một phiên họp ngắn với Bộ trưởng Bộ Cựu Chiến Binh Úc Warren Snowdon tại Canberra.

Trong phiên họp TNS Mark Furner đã trình bày sự quan ngại của cộng đồng người Việt tại Úc về nguồn tin liên quan đến "đề nghị diễn hành với VC" vào năm 2012. Ông Snowdon đã khẳng định với TNS Mark Furner là chánh phủ Úc sẽ không hỗ trợ đề nghị diễn hành với VC.

Tôi có hỏi TNS Mark Furner là tôi có thể loan báo tin tức này một cách rộng rãi hay không thì ông nói dĩ nhiên là tôi nên làm và ông ấy cũng cám ơn tôi đã chuyển những tin tức, cũng như những emails liên quan đến vấn đề này cho ông trong thời gian vừa qua.

Xin được chia sẻ tin vui này một cách sốt dẽo với toàn thể quý vị quan tâm về vấn đề này.

Nguyễn thị Bạch Phượng
Brisbane, Queensland

Ngoc N Hao  
#103 Posted : Wednesday, May 11, 2011 9:03:23 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
'Người Hmong bị đàn áp rất tàn nhẫn'



Phỏng vấn giám đốc CPPA về vụ Mường Nhé

Hà Giang/Người Việt



LTS: Trong thông cáo báo chí gửi đi ngày 9 tháng 5, 2011, Trung Tâm Phân Tích Chính Sách Công (Center for Public Policy Analysis, viết tắt là CPPA) ở Hoa Thịnh Ðốn, cho biết nhà cầm quyền Việt Nam tăng phái một trung đoàn để đàn áp các người Hmong đứng lên đòi tự do tôn giáo, cải cách ruộng đất ở huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên cách đây hơn một tuần lễ. Theo cơ quan này, thêm 14 người Hmong thiệt mạng, nâng tổng số người biểu tình bị sát hại lên thành 63 người chưa kể hàng trăm người mất tích, hay bị bắt.
CPPA khẳng định là đã dựa vào các nguồn tin từ tỉnh Ðiện Biên và cả từ tỉnh Phongsali của Lào để đưa ra những dữ kiện mà họ nói là “rất đáng tin cậy.”
Giám đốc điều hành của CPPA, cũng là cựu cố vấn cho An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ, ông Philip Smith, dành cho ký giả Hà Giang của nhật báo Người Việt cuộc phỏng vấn về việc này.



***



-Hà Giang (NV): Xin ông vui lòng tóm tắt vài nét về “Center for Public Policy Analysis,” cũng như nguồn tài trợ cho tổ chức?

-Philip Smith: Vâng, được chứ. Ðược thành lập năm 1988, và hoạt động tại Washington, DC, Trung Tâm Phân Tích Chính Sách Công (CPPA) là một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận, phi chính phủ, tập trung vào chính sách đối ngoại, an ninh quốc gia, người tị nạn và các vấn đề nhân đạo quốc tế, và đóng vai trò cố vấn cho Quốc Hội Hoa Kỳ về các chính sách đối ngoại quan trọng. Ngân sách làm việc của chúng tôi hoàn toàn do cá nhân hay các tổ chức tư nhân đóng góp. Chúng tôi hoàn toàn không nhận được sự trợ giúp nào của chính phủ.

-NV: Ông có thể cho biết CPPA đã biết tin về những người Hmong tại Mường Nhé bị đàn áp bắt đầu từ bao giờ?

-Philip Smith: Chúng tôi có đại diện tại Bangkok, Thái Lan, Lào, Việt Nam và ngay ở tỉnh Ðiện Biên. Chúng tôi cũng làm việc với nhiều cộng đồng người Việt gốc Hmong ngay ở tại Hoa Kỳ, cũng như cộng đồng người Lào gốc Hmong, và nhiều tổ chức khác. Vì thế, khi sự kiện vừa xẩy ra là chúng tôi nhận được tin và có mặt tại chỗ và chứng kiến cảnh những người Hmong biểu tình một cách ôn hòa bị đàn áp rất thẳng cánh, rất tàn nhẫn. Dĩ nhiên chúng tôi nghiên cứu đời sống của người Hmong đã hơn 20 năm rồi, nên hiểu rõ cảnh sống của họ trước và sau khi nhà nước CSVN lên cầm quyền.


UserPostedImage


Ông Philip Smith (giữa) trong một buổi điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ liên quan đến tình hình nhân quyền tại Lào vào tháng 4 vừa qua.


-NV: Khoảng 5,000 người Hmong theo đạo Công Giáo, đạo Tin Lành và cả người thờ Thần Vật đã đứng lên đòi tự do tôn giáo và cải cách ruộng đất. Theo ông thì điều gì là chất xúc tác đã tạo nên một cuộc biểu tình lớn lao, với cả hàng ngàn người tham dự như vậy?

-Philip Smith: Ðể trả lời câu hỏi này một cách thấu đáo, tôi phải nói thẳng ra như thế này. Những cán bộ cao cấp trong Bộ Chính Trị đảng CSVN cũng như những tướng lãnh quân đội CSVN thành lập nhiều công ty thật ra thuộc sở hữu của họ. Họ tự tiện chặt cây đốn rừng, và đuổi người Hmong ra khỏi đất đai mà họ, và tổ tiên họ đã sinh sống, canh tác, từ đời này đến đời khác. Không những bị mất đất đai, mất phương tiện sinh sống, người Hmong còn tự nhiên bị bắt phải xin phép chính quyền mới được tự do thờ phượng, tự do hành đạo theo những tôn giáo mà họ đã có từ bao lâu nay.
Một điều nữa cần phải được nhắc lại là dù luôn phải đối diện với đời sống khó khăn, dân tộc Hmong rất yêu nước, rất nhiều người biểu tình có cha anh là cựu chiến binh của quân đội Nhân Dân Việt Nam, đã dùng đất đai, lúa gạo của họ để tham gia chiến đấu chống cuộc xâm lược của Trung Quốc vào năm 1979. Họ đứng lên vì họ là những nạn nhân bị dồn nén lâu ngày bởi những bất công của xã hội, và vì cảm thấy bị phản bội.

-NV: Ông đã giải thích rất rõ hoàn cảnh sống của người Hmong, nhưng vẫn chưa nói đến yếu tố đã châm ngòi cho cuộc biểu tình lớn lần này. Có phải là vì nghèo đói, không đủ ăn nên họ đã đứng lên?
-Philip Smith: Vâng, cám ơn câu hỏi rất xác đáng. Nghèo đói, hoàn cảnh túng quẫn chỉ là một trong nhiều nguyên nhân khiến người Hmong bất mãn. Theo tin mà chúng tôi chưa tiết lộ với ai, thì những Hmong đã tụ tập một phần là vì họ muốn gặp nhau để ăn mừng dịp Ðức Giáo Hoàng Phao Lồ đệ II được phong thánh, đó là lý do tại sao họ tụ tập vào hai ngày 30 tháng 4 và 1 tháng 5. Khi tưởng nhớ đến Ðức Giáo Hoàng Phao Lồ đệ II thì họ cũng nhớ đến và được hứng khởi bởi lời nói của ngài: “Các con đừng sợ hãi.” Chúng tôi cho rằng họ cũng muốn được giống như người Ba Lan, đứng lên đòi hỏi tự do tôn giáo, nhân quyền và công bình trong việc đất đai. Rất tiếc là họ đã bị CSVN thẳng tay đàn áp, đã mang súng máy đến bắn chết.

-NV: Ông vừa cho biết là tổ chức CPPA cố vấn cho Quốc Hội Hoa Kỳ, như vậy thì chính phủ Hoa Kỳ đã phản ứng như thế nào trước hàng loạt thông cáo báo chí mà tổ chức của ông đã đưa ra về sự kiện này?

-Philip Smith: Chính quyền Hoa Kỳ đã có những phản ứng kịp thời. Thí dụ như tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam ngưng ngay việc bạo động, một yêu cầu mà tiếc thay nhà nước Hà Nội đã bỏ ngoài tai. Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ cũng cho hay họ đang điều tra về sự kiện sắc tộc Hmong đã bị CSVN điều động quân đội đến để đàn áp gây khiến nhiều người Hmong bị thiệt mạng. Trước phản ứng này của Hoa Kỳ, Hà Nội càng nhanh chóng tìm cách dẹp đoàn người biểu tình. Hiện giờ không những khu vực biểu tình đã bị phong tỏa, không một ký giả ngoại quốc hay độc lập nào được phép đặt chân đến để tìm hiểu sự thật, mà chúng tôi được biết rằng Hà Nội cũng dùng ảnh hưởng của mình để phong tỏa một khu vực của nước Lào, khiến không nhà báo nào có thể len lỏi từ Lào vào được Mường Nhé.
Hiện giờ thì hàng trăm người đã bị bắt ném lên các công xa đưa đi. Chúng tôi được biết xe đi về hướng Nam, nơi có những nhà tù bí mật của quân đội nhân dân VN. Sẽ không ai được biết là bao nhiêu người sẽ bị bí mật thủ tiêu hay giam cầm tại những nhà giam bí mật này.

-NV: Ông nghĩ gì về chuyến đi thăm Mường Nhé vừa qua của phó thủ tướng Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng, và lời khiển trách của ông ta với chính quyền địa phương là “không nên để dân bị đói.”?

-Philip Smith: Ðó chỉ là một hành vi lừa đảo, một lời nói dối lớn trắng trợn, một cố gắng để đánh lạc dư luận thế giới. Người dân Hmong nghèo khổ là vì nhà nước Việt Nam làm cho họ nghèo, là vì lãnh đạo Việt Nam phung phí tài nguyên của quốc gia, tước đất tước nhà của người dân để làm giầu cho cá nhân, là vì họ lấy tiền thế giới giúp cho việc chống đói giảm nghèo bỏ vào túi riêng. Sở dĩ họ đàn áp những người Hmong này tàn ác như thế là vì họ sợ ảnh hưởng của cách mạng hoa nhài, họ sợ thế giới sẽ biết sự thật.

-NV: CPPA dự định sẽ làm gì trước tình thế này?

-Philip Smith: Chúng tôi sẽ tiếp tục mang vấn đề này ra trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Sẽ đặt vấn đề với Liên Hiệp Quốc để kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, và sẽ cố gắng tiếp tục đưa những tin tức này ra công luận để thế giới biết rõ số phận hẩm hiu của những người dân nghèo khổ ở Việt Nam.

-NV: Cảm ơn ông Philip Smith đã dành thì giờ cho chúng tôi về cuộc phỏng vấn này.


Theo Người Việt






Hạ Vi  
#104 Posted : Thursday, May 12, 2011 6:31:36 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,556
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


Thế hệ 1970 và nhạc Nguyễn Đức Quang

Bùi Văn Phú


UserPostedImage

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, bên phải, cùng Trần Anh Kiệt, Trương Xuân Mẫn, Đồng Thảo và Nguyên Nhu trong một buổi hát ở San Jose tháng 3.2008



Những năm trước 1968, hồi còn học trung học đệ nhất cấp tức cấp 2 ngày nay, ở trường Thánh Tâm, Ngã ba Ông Tạ có thày Nguyễn Xuân Sinh dạy Việt văn kèm dạy nhạc. Tôi nhớ bài nhạc đầu tiên học từ thày có lời:

Vầng trăng mờ
một trời thơ
xa xa tiếng ca êm đềm đưa
chân mây thưa
ánh sao úa
sương buông mờ đường về làng xưa


Đó là một bài hát với nhịp điệu chậm rãi. Học trò còn được học đánh nhịp 4/4, ¾ rồi 2/4, từ chậm lên nhanh. Bài hát nhanh thày dạy là:

Không phải là lúc cứ ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi
phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới
hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau
nghi ngờ nhau khích bác nhau cho cay cho sâu cho thật đau

Không phải là lúc cứ ngồi mà cãi suông
không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai dắt đầu
thế giới ngày nay không còn ma quái thần tượng tàn rồi
còn anh với tôi chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi.


Khi đó tôi không biết ai sáng tác bài hát trên, nhưng vừa hát vừa vỗ tay để giữ nhịp và thày dạy cho hát từ vừa đến thật nhanh, rồi hát đuổi nên đã cho chúng tôi những giờ vừa học vừa sinh hoạt vui trong lớp.

Bài hát được học thời đó, đến nay tôi vẫn còn thuộc. Khi nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời, tôi ngồi viết ra những giòng này là ghi lại từ trí nhớ mình, dù đã hơn 40 năm trôi qua nhưng lời nhạc trong lớp học xưa còn như văng vẳng đâu đây. Bài hát ở lại với tôi từ đó và ít nhiều trở thành một lời hướng dẫn cho tôi về tinh thần dấn thân và cách làm việc tập thể, khác với những thế hệ trước.

Lên trung học rồi đại học, tôi thuộc thêm được nhiều bài hát cộng đồng nữa. Thường tham gia sinh hoạt, ca hát nên những bài như “Gia tài của mẹ”, “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn, như “Việt Nam Việt Nam” của Phạm Duy; “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, “Hy vọng đã vươn lên”, “Đường Việt Nam” của Nguyễn Đức Quang là những bài hát rất được phổ biến nơi sân trường, trong những cuộc họp mặt thanh niên sinh viên, tại những trại hè. Những ca khúc đã là niềm mơ ước, đã đem đến cho chúng tôi sự phấn đấu của tuổi trẻ cùng suy nghĩ về quê hương đất nước trong giai đoạn có quá nhiều đau khổ, nhiễu nhương.

Nhưng trong đám sinh viên, thỉnh thoảng lại được nghe lén một vài bài hát không được loan truyền rộng rãi, từ một băng cát-sét chỉ có giọng ca và tiếng đàn ghi-ta thùng. Loại âm nhạc mang tính phản chiến, có thể bị xếp vào loại thân cộng nữa:

Xương sống ta đã oằn xuống
cuộc bon chen cứ đè lên
người vay nợ áo cơm nào
thành nợ máu trăm năm còn thiếu
một ngày một kiếp là bao
một trăm năm mấy lúc ngọt ngào
ôi đến bao giờ được nói tiếng an vui thực thà

Người bị treo hết hai tay và đóng đinh vào óc
miệng hô lớn kiên cường hoài mà trái tim bật khóc
cuộc sống đó rồi đi đâu
nhìn nước dâng chân cầu
trời còn mù mịt lắm
hỡi đồng bào khắp chốn thương nhau



Hay những câu ca dưới đây, nếu là thanh niên sinh viên thời đó nghe mà không cảm thấy thấm thiá, xót xa cho thân phận con người Việt Nam sao được.


Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
vú mẹ gầy cơm chẳng nuôi thân
vắt tình này thôi máu mẹ nuôi con

Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
nghe xung quanh nghiêng ngã cợt cười
cạnh chén cơm chan máu dân tôi…

Sao giống nòi vẫn vương buồn
sao giống nòi mãi nguy nàn
bao giờ cho người không còn nghe
lại tên Việt Nam nhược tiểu

Anh nghĩ gì núi sông này?
em nghĩ gì nước non này?
buồn hay vui, tình quê hương
có nấu nung lửa hờn?



UserPostedImage
Từ trái sang phải: Hoàng Thái Lĩnh, Trần Trọng Thảo, Nguyễn Thạc (một thân hữu), Hoàng Kim Châu và Nguyễn Đức Quang.


Những lời ca như thế, nghe lén lút vì sợ có ai biết được báo cảnh sát nên lại dễ nhập tâm. Rồi chúng theo tôi rời quê hương.

Đến Hoa Kỳ, tôi cùng một số bạn tổ chức sinh hoạt sinh viên tại Đại học Berkeley và với các sinh viên bạn ở Bắc và Nam California trong nhiều sinh hoạt văn nghệ, đấu tranh. Qua giao tiếp với những đàn anh tôi mới biết những lời ca trên cũng chính là những sáng tác của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang và hai bài là “Xương sống ta đã oằn xuống” và “Nỗi buồn nhược tiểu”.

Có một bài ca tôi nghe được khoảng năm 1974, mang e nhạc mà tôi ngờ là của Nguyễn Đức Quang, nhưng đến nay vẫn không chắc. Tôi ghi theo kí ức như thế này:

Năm chục đồng ai mua tôi bán
năm triệu đồng ai mua tôi bán
năm chục đồng một thằng thanh niên
năm chục đồng một thằng sinh viên
đôi chân còn lành đôi tay còn mạnh
ai mua tôi bán ai mua tôi bán
thêm một triệu đồng bán cả dân tôi
thêm một triệu đồng bán cả lương tâm


Tôi có nhiều dịp nghe Nguyễn Đức Quang hát ở Mỹ. Những năm đầu thập niên 1980 anh hát với sinh viên Việt Nam ở U.C. Los Angeles, với người Việt San Jose trên sân khấu Center for the Performing Arts. Những điệu nhạc, lời ca của Nguyễn Đức Quang lúc nào cũng sùng sục sôi. Nói như nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng là như “thổi đến trái tim người nghe hơi nóng hừng hực của một trái tim bốc lửa”.

Ba mươi năm qua Nguyễn Đức Quang vẫn với trái tim bốc lửa ôm đàn du ca. Lần sau cùng tôi nghe anh hát là ở San Jose cách đây đúng ba năm về trước. Hôm đó, cùng với những du ca một thời như Trương Xuân Mẫn, Nguyên Nhu, Trần Anh Kiệt, Đồng Thảo đã lại thổi vào hồn tôi và khán giả những lời ca hào hùng của người anh trưởng du ca Việt Nam, làm tim tôi rộn ràng:

Nhưng càng mưa giông càng vươn tới
bước chân hùng còn đi rất hăng
đi dựng lấy huy hoàng
giống da vàng này là vua đấu tranh

Đường của ta đưa ta về thanh bình
đường an lành đường thảnh thơi những ngày vui
đường Việt Nam mời những bước chân rời
sát nhau lại vì đường vẫn còn dài


Tôi thuộc thế hệ sinh viên của những năm đầu 1970 ở quê nhà. Không như đàn anh đã dấn thân, tôi chỉ bắt đầu nhập cuộc, thừa hưởng lời ca, tiếng hát của các anh các chị truyền lại. Những ca từ về tuổi trẻ, đất nước trong một thời kì cực khốn của quê hương.

Các bạn của thế hệ 1970 ơi. Tiễn Nguyễn Đức Quang chúng ta cùng nhau cất cao tiếng hát nhé:

Ta như giống dân di tràn trên lò lửa hồng
mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn còng gân tươi
ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên


Sớm 27.03.2011 trái tim trong người Nguyễn Đức Quang ngừng đập sau 68 năm sôi sục theo dòng đời. Nhưng những âm điệu của anh còn đập mãi trong tim con người và đất nước Việt Nam
.

Berkeley 27.03.2011




UserPostedImage
thunder  
#105 Posted : Friday, May 13, 2011 3:11:01 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

NGƯỜI PHẬT TỬ KHÔNG KHOANH TAY ĐỨNG NGÓ
THAN THÂN TRÁCH PHẬN CHỜ ĐỢI KIẾP SAU


UserPostedImage
Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ


Thông Điệp Phật Đản PL 2555, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất gửi chư Tôn Đức Tăng, Ni cùng đồng bào Phật Tử trong và ngoài nước lời chúc mừng nhân ngày Phật đản sinh, và bày tỏ tâm nguyện phát huy sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, chuyển vận thời cơ, hoàn mãn Phật sự. Ngài nêu lên 2 ý nghĩa lớn rộng của các Quốc Gia thành viên Liên Hiệp Quốc trên địa cầu này đó là: “Ý nghĩa quan trọng thứ nhất mà chúng ta nhận thấy, là trong cuộc khủng hoảng tư tưởng và chínhh trị thế giới, biểu hiện qua các nạn độc tài và khủng bố ngày càng phổ biến, Liên Hiệp Quốc nhận ra chiếc phao cứu độ nhân sinh chính là giáo lý từ bi, khoan hòa, an lạc của Phật Giáo”, “Ý nghĩa thứ hai không kém phần quan trọng, đặc biệt cho người có tín ngưỡng ở Việtnam, là năm nay LHQ kỷ niệm 30 năm bản Tuyên Ngôn về Xóa Bỏ Mọi Hình Thức Bất Bao Dung và Kỳ Thị vì Lý Do Tôn Giáo và Tín Ngưỡng. Hơn ai hết trên đất nước này, người Phật Tử Việtnam là nạn nhân trực tiếp của sự mất tự do tôn giáo và nhân quyền qua 36 năm đằng đẵng”.

Ngài cũng nhắc tới thông điệp của tổng thứ ký LHQ, Ban Ki-moon, gửi Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc lần thứ 8 tổ chức tại Tháilan năm nay 2011 về: “Lời dậy của đức Phật chống tam độc, Tham, Sân, Si, có thể làm sống dậy những cuộc hội luận đa phương về nạn đói đang tác hại gần Một Tỷ người trong thế giới sung mãn của chúng ta, về nạn bạo lực hung ác đang giết hại hàng triệu người mỗi năm, và sự gây hại môi trường một cách vô nghĩa mà con người gây ra cho nơi cư trú của chúng ta là hành tinh trái đất. Nhiều tổ chức Phật Giáo đã đem giáo lý của đức Phật vào thực hành. Tôi vô cùng biết ơn các tổ chức Phật Giáo hậu thuẫn những hoạt động của LHQ để hoàn mãn các Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ, là kế hoạch của LHQ nhằm khắc phục các thách thức xã hội-kinh tế quan trọng mà thế giới phải đối diện”.

Vì con người thường xuyên chìm đắm trong ‘tam độc’ tham, sân ,si, nên đã tự làm khổ mình, khổ người, và hại đời, hư vật, gây ra không biết bao nhiêu thảm họa đầy máu và nước mắt cho nhân loại. Tham danh, tham lợi, tham quyền, là những mối tham trực tiếp quan hệ tới nhân quần xã hội. Diễn biến thành nạn độc tài, thảm cảnh khủng bố, và mọi hình thức bất bao dung, kỳ thị tôn giáo và tín ngưỡng, cũng như tai họa chiến tranh xâm lấn và huynh đệ tương tàn. Chính vì lòng tham muốn lấn vượt người khác, muốn lợi ta, hại người, muốn cầm đầu tập thể. Nên đã dùng đủ mọi thủ đoạn gian manh độc ác để tranh giành chiếm đoạt. Chiếm được thì phải tìm mọi cách để nắm giữ, rồi thường xuyên bị sống trong nghi ngờ thù hận và bị kẻ khác hận thù óan ghét. Danh, Lợi, Quyền là nguyên nhân biến tính thiện thành tính ác, làm cho con người say mê chìm đắm và tự ban cho mình độc quyền về những thứ mình đã đoạt được và muốn nắm giữ mãi cho hết kiếp mình, rồi truyền lại cho con cháu mình đời đời kiếp kiếp.

Nhưng con người thường quên đi là mình đang sống trong vũ trụ vô thường hằng hóa, mọi thứ rồi sẽ qua mau, như một kiếp người có sống là có chết, sự sống diễn hóa song hành với sự chết. Có được là có mất, có thắng là có bại. Tự mình vui vẻ buông bỏ là không bị mất. Tự mình thắng chính mình là không bị bại. Chính vì vậy mà Đạo Từ Bi Giải Thoát của đức Phật mới là chiếc phao cứu độ nhân sinh ra khỏi biển khổ tham, sân, si, để con người tự tìm lại chính mình, tự tin nơi mình, tin vào người, cùng dìu nhau bước lên Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu Hoá. Trong đó Con Người thực sự có quyền Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo. Mỗi Quốc Gia đều Dân Chủ Hóa để chủ động gia nhập tiến trình toàn cầu. Các tôn giáo chân chính không tranh đoạt và tham gia chính quyền, nhưng các giáo đồ đều phải thực hành nghĩa vụ chính trị công dân. Các tu sĩ có trách nhiệm nâng đỡ, hướng dẫn tâm linh con người để hướng thượng và giúp đỡ tha nhân Tất cả tạo lập một nếp sống Văn Hoá, một đời sống Đạo Đức, trong tình Thương Yêu Dân Tộc và Đồng Lọai, cũng như sống hòa hợp với Lẽ Tự Nhiên, và môi trường Thiên Nhiên.

Trong Thông Điệp Phật Đản, Hòa thượng Thích Quảng Độ viết tiếp: “Lý tưởng tôn giáo của đạo Phật là tiền đề cho lý tưởng công bình xã hội, biểu hiện qua văn hóa, kinh tế, chính trị. Không hề có những yếu tố phi xã hội trong giáo lý đạo Phật, vì thế người Phật tử luôn luôn tôn trọng và đương đầu bảo vệ con người, chống lại những bất công hay bất bình đẳng xã hội vốn là nguyên nhân chà đạp quyền sống của lương dân, ngăn cản hạnh nguyện tu học để tiến thủ, ngăn cản sự thực hành Từ, Bi, Trí, Lực, theo ý nguyện Bồ Tát cứu đời, ngăn cản tiến trình Giác Ngộ là cứu cánh của đạo Phật”. Từ nguyên tắc chỉ đạo cứu khổ ấy, Đạo Phật Việt Nam, lồng trong lịch sử dân tộc, trên hai ngàn năm qua, đã bao lần minh chứng rằng: Hộ Dân, Hộ Quốc. Hộ Pháp hoà quyện trong nhau làm kim chỉ nam cho nếp sống và hành động của người Phật tử Việtnam. Ngôi nhà Việtnam sau một trăm năm bị ngoại xâm chiếm đóng, sáu mươi lăm năm huynh đệ tương tàn, rồi độc tài toàn trị. Đã đến lúc người Phật tử không thể khoanh tay đứng ngó, hay than thân trách phận, chờ đợi kiếp sau, mà phải đứng lên noi gương Ngài A Dục từ bỏ con đường bạo lực, mở lượng từ bi, khai thông trí tuệ, nối tiếp Con Đường Phật 2555 năm trước”.

Về lời kêu gọi của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đối với hàng ngũ Phật tử của Ngài, nên được nhân rộng ra thành lời kêu gọi toàn dân Việtnam. Xin hãy noi gương dân chúng Bắc Phi và Trung Đông đứng lên tranh đấu, tiêu diệt các chế độ độc tài bạo trị, để xây dựng thể chế Dân Chủ Tự Do Công Bằng Công Lý cho toàn đân. Có như vậy mới tạo ra một môi trường lý tưởng cho con người tự do chủ động phát huy mọi khả năng sáng tạo, góp sức nâng mức sống tiêu thụ, nâng cao tay nghề sản xuất của toàn dân, thoát khỏi nạn độc tài, nạn khủng bố, và phá hoại sinh thái. Đấy là thánh địa đối với các nhà đầu tư. Tiền vốn và kỹ thuật quốc tế. Tay nghề giỏi và tiêu thụ cao của người dân. Chính quyền dân chủ trọng pháp minh bạch mở rộng đó là những yếu tố làm cho dân, nước giầu, mạnh, an ninh, bền vững. Còn thứ gọi là ‘ổn định’ trong chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị kiểu Việtcộng chỉ là thứ ổn định giả tạo. Nhất là Việtnam đang đứng trước âm mưu bành trướng của Trungcộng và thế quyết tâm ngăn bành trướng của Hoakỳ thì sự ổn định đó đúng là “chỉ mành treo chuông” trước cơn giông bão. Có thể nói mà không sợ lầm: Nếu giờ đây, toàn dân Việtnam đứng lên tự cứu mình, thì chắc chắn thế giới sẵn sàng trợ giúp, như họ đã từng giúp dân Bắc Phi và Trung Đông.

LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigòn ngày 10/05/2011

thunder  
#106 Posted : Friday, May 13, 2011 10:21:24 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tại Hà Nội bàn đổi mới chính trị


Thursday, May 12, 2011 7:23:06 PM

Một bạn ở Hà Nội cho biết anh cứ tưởng mối lo lớn nhất của nhà nước trong hai ngày qua là vụ cái hầm cầu ở phi trường Nội Bài. Sau trận mưa hầm cầu bị nứt, nước nhơ bẩn tràn ra, ngập cả sân bay.

Nguyên do là vì nước mưa ngập không có lối thoát, chất phế thải từ dưới hầm chui lên, máy bay đang chờ khách phải đóng cửa cho đỡ ngửi mùi xú uế. Nhờ báo chí loan tin vụ này, với tựa đề, “Sân bay quốc tế Nội Bài bục bể phốt” mà dân ta học thêm được một tên gọi cái hầm cầu, tên chữ gọi là cái Bể Phốt. Chữ Phốt có lẽ do chữ Pháp fosse, cái hầm, cái hố, tiếng Tây gọi hầm chứa các chất phế thải là fosse septique, dịch sang tiếng Anh là septic tank. Cái sân bay của thủ đô, giống như cái cổng chính ngôi nhà mở ra thế giới, tại một nước Việt Nam đang tìm đường tiến tới Chủ Nghĩa Xã Hội, không lẽ lại để nước dơ chảy đem mùi hôi xông lên nồng nặc như vậy! Chắc Bộ Chính Trị phải quan tâm đến tai nạn này.

Nhưng người dân đoán lòng đảng bị sai hoàn toàn. Ngay trong lúc nhà nước chưa xử lý xong vụ nước lụt từ cái hầm, cái “phốt” tại sân bay, thì đảng đã nhanh tay chuyển mục tiêu sang một điểm mới, bắt buộc dân chúng phải quay mắt (hoặc mũi) về hướng khác, vào mục tiêu mới, rồi tha hồ bàn tán với nhau. Ðề tài mới đang được dân chú ý là một cuộc “tọa đàm” do tạp chí Cộng Sản tổ chức với đề tài lớn vô cùng: Ðổi mới chính trị! Cuộc hội thảo ngày Thứ Ba, 10 Tháng Năm 2011 vừa qua, góp mặt “nhiều nhà khoa học đến từ các viện nghiên cứu chiến lược và học viện lớn!” Có thể coi đây là một cái bể, cái phốt chứa đầy những bộ não siêu việt nhất của đảng và nhà nước, một cái bể tư duy!

Mạng Việt Nam Net thuật lời ông Vũ Văn Phúc, tổng biên tập tạp chí Cộng Sản, nói trong cuộc tọa đàm rằng nếu không đổi mới chính trị cùng với đổi mới kinh tế “đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp” thì chúng sẽ cản trở lẫn nhau. Nói cách khác, đổi mới kinh tế không đi song song với đổi mới chính trị thì kinh tế sẽ ngừng tiến bộ. Ðây là một ý kiến đã được ký giả nêu lên trên tạp chí Thế Kỷ 21 từ 20 năm trước, trong một bài đặt câu hỏi “Ði Một Chân Ðược Bao Lâu?” Ý chính là: Không đổi mới chính trị thì sẽ tới lúc các tiến bộ kinh tế sẽ ngưng lại, vì các chế độ độc tài chuyên chế không tạo được khung cảnh để sử dụng hết các sức mạnh của kinh tế thị trường. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam mới cho mở cuộc hội thảo về đổi mới chính trị, nhưng lại chỉ cho các cán bộ nói chuyện với nhau và nghe lẫn nhau, trong một cái bể khép kín mà thôi!

Tại sao họ lại chậm trễ đến 20 năm như vậy? Một vị từng làm lớn trong Viện Báo Chí là ông Dương Xuân Ngọc nói rằng ở Việt Nam việc “đổi mới kinh tế được nghiên cứu kỹ” còn “vấn đề về đổi mới chính trị lại chưa được đề cập nhiều, thậm chí đôi khi né tránh.” Ðây là một nhận xét được người dân Hà Nội đánh giá là “tuyệt vời,” vì nó chứng tỏ người phát biểu ra câu nói đó không hề biết ở ngoài đường, trong tiệm cà phê dân chúng đang nói những chuyện gì với nhau!

Khi nói “vấn đề về đổi mới chính trị chưa được đề cập nhiều” có nghĩa là ông này không hề biết đến những vụ bắt giam, bỏ tù các nhà trí thức đòi đổi mới chính trị, như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Ðài, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ðan Quế, vân vân, cho tới Cù Huy Hà Vũ! Ai đã bịt mắt bịt tai các ông mà quý ông lại nghĩ rằng người Việt Nam không bàn đến đổi mới chính trị? Chỉ những bộ óc tự nhốt trong cái hầm, cái “phốt tư duy” của đảng Cộng Sản mới có thể phát ngôn như thế!

Hàng chục năm qua, bao nhiêu người Việt Nam lên tiếng đòi đổi mới chính trị, đòi dân chủ hóa. Gần đây, một thanh niên 21 tuổi là sinh viên Nguyễn Anh Tuấn quê ở Ðà Nẵng cũng mạnh dạn thách thức chính quyền bằng cách gửi thư cho Viện Kiểm Sát Tối Cao, xin họ bắt giam và đem anh ra xử, về những “tội” giống hệt Cù Huy Hà Vũ! Anh Nguyễn Anh Tuấn còn trưng trên mạng bức hình chụp anh đang cầm những bài do Cù Huy Hà Vũ viết, những bài được gọi là chứng cớ buộc tội trong vụ xử án cấp tốc tháng trước! Anh Tuấn thách thức rằng nếu trong 20 ngày mà không bắt anh, tức là nhà nước công nhận các tài liệu do Cù Huy Hà Vũ viết ra không “phạm tội,” tức là chính Cù Huy Hà Vũ cũng vô tội!

Một thanh niên 21 tuổi yêu cầu cơ quan công tố cao nhất nước phải trả lời mình theo quy tắc minh bạch, công khai; hành động đó có nghĩa anh đang đòi nhà nước thay đổi từ quan niệm chính trị đến định chế tư pháp. Như vậy thì nói rằng không ai đề cập đến đổi mới chính trị làm sao được? Ngoài đường, trong quán, người ta nói chuyện đổi mới chính trị từ hai, ba chục năm nay, các ông cứ sống trong cái hầm tư duy đóng kín của đảng, không biết gì hết! Ðáng lẽ các ông phải mời những người đã thảo luận vấn đề này từ 20 năm qua, như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Thanh Giang, Mai Thái Lĩnh, tới “tọa đàm” với các ông mới phải! Tại sao cứ tự nhốt mình trong cái hầm tư duy kín mít như thế? Người dân chỉ biết là cuộc tọa đàm này gồm toàn các “nhà khoa học” của đảng, họ nói cho nhau nghe trong một cái hầm của đảng, không cho người ngoài được tham dự, cũng không ai được vô dự thính! Cuối cùng chỉ có một bản tin tóm tắt trên mạng lưới của đảng, coi như hé cửa cái hầm cho người ngoài được ngửi một chút cho biết bên trong có những gì!

Nhưng người dân còn thắc mắc thêm, là tại sao bỗng dưng, trời không mưa dầm, nước không ngập lụt, mà Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam lại cho mở hé cái hầm tư duy để cho các “nhà khoa học” của họ lên tiếng nói với nhau và nghe lẫn nhau như vậy? Nhưng nếu ai tinh ý một chút thì thấy ngay đã có một tín hiệu được phát ra, báo trước “vụ mở cửa hầm” bàn về đổi mới chính trị, phát ra từ năm ngoái rồi. Không, không phải một tín hiệu loan ra trước đại hội đảng Cộng Sản. Trước, sau Ðại Hội XI, họ vẫn nói đi nói lại là không bàn vụ thay đổi chính trị, cấm ngặt! Cho tới khi đại hội đó bế mạc, đảng ta vẫn cương quyết đi một chân cho tới cùng!

Tín hiệu về đổi mới chính trị được phát ra từ năm ngoái, nhưng phát ra ở bên Tầu! Tháng Tám năm 2010, ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc đi thăm thành phố Thẩm Quyến, đã đề cập tới vấn đề này. Thẩm Quyến là nơi thí nghiệm đầu tiên chương trình cải tổ kinh tế của Cộng Sản Trung Hoa. Nhân dịp họ kỷ niệm 30 năm thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến, ông Ôn Gia Bảo tới thăm đã báo động rằng việc đổi mới kinh tế mà Thẩm Quyến đi tiên phong, sẽ bị ngưng trệ, nếu Trung Quốc không bước đi thêm cái chân thứ hai, là thay đổi chính trị!

Tháng Ba năm nay, sau khi bế mạc phiên họp của Quốc Hội ở Bắc Kinh, ông Ôn Gia Bảo nhắc lại một lần nữa. Trong một cuộc họp báo, ông Ôn Gia Bảo còn nói rõ hơn về nhu cầu cải tổ chính trị, gia tăng các quyền tự do cho dân chúng. Ông nói chỉ có thay đổi chính trị mới giải quyết được những nỗi oán than của dân về lạm phát, tham nhũng, môi trường sống bị hủy hoại, và sự chênh lệch về giầu nghèo mỗi ngày một lớn hơn.

Trong một cuộc bút đàm trên mạng, ông Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh tới vấn đề hạn chế quyền lực của nhà nước. Ông nói quyền hành của các quan chức lớn quá, mà không có định chế nào kiểm soát các giới hạn cả; đó là một nguyên nhân gây ra tham nhũng.

Cái gì của Ôn thì trả lại cho Ôn, cho nên trong cuộc tọa đàm ở Hà Nội ông Phó Viện Trưởng Viện Chiến Lược Bùi Tất Thắng đã nhắc lại những ý kiến của ông Ôn Gia Bảo, tức là “nếu không có sự đảm bảo về cải cách thể chế chính trị thì các thành tựu cải cách kinh tế sẽ biến mất.” Ông Ôn Gia Bảo còn nói: “Muốn trừ bỏ cái đất sống của nạn tham nhũng, chúng ta cần thay đổi những định chế và hệ thống chính trị.” Cho nên, các ông khác ở Hà Nội cũng nói giống hệt như vậy, như khi nói cần đổi mới chính trị để “hạn chế được tầm ảnh hưởng của một vài cá nhân đến lợi ích toàn cục” (Dương Xuân Ngọc) hoặc để “khắc phục tình trạng tha hóa, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có trọng trách cao ở các cấp” (Thiếu tướng Lê Văn Cương).

Tướng Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện Chiến Lược và Khoa Học, Bộ Công An cũng nói giống hệt như ông Ôn Gia Bảo: “Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Ðó là tất yếu và không có ngoại lệ.”

Như ta thấy, những lời Ôn gia Bảo nói ở Thẩm Quyến, Bắc Kinh, đã được lập lại ở Hà Nội trong cái “hầm tư duy” do Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép mở ra. Ðây là một truyền thống lâu đời của đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ năm 1950, Hồ Chí Minh đã theo đường lối đó. Khi Bác Mao hô “chỉnh huấn” thì Hồ cũng hô chỉnh huấn. Khi Mao hô “lao cải” thì Hồ cũng thành lập các trại tù “cải tạo lao động.” Mao đấu tố địa chủ thế nào thì Hồ cũng cải cách ruộng đất như vậy. Khi Mao hô “Bách hoa tề khai, bách gia tranh minh” thì Hồ cũng phát động “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.” Tóm lại, cho đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn trước sau như một tiếp tục sự nghiệp “ăn theo, nói theo” đã được Hồ Chí Minh mở đường từ 60 năm qua! Bác đã nói theo Mao, giờ các cháu cũng biết nói theo Ôn!

Ðiều đáng chú ý là bữa Tháng Ba vừa qua, ông Ôn Gia Bảo đã lập lại các ý kiến về đổi mới chính trị sau khi đã nghe ông Ngô Bang Quốc, chủ tịch Quốc Hội, nhấn mạnh trong bài diễn văn khai mạc khóa họp, rằng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chấp nhận cải tổ chính trị! Ông này còn dọa các đại biểu Quốc Hội rằng nếu thay đổi thì sẽ sinh loạn! Ngô Bang Quốc nói Trung Quốc không thể “sao chép” các thể chế chính trị dân chủ, mà ngược lại, phải “củng cố và nâng cao quyền lãnh đạo của đảng, phải làm cho quyền lãnh đạo này thêm chặt chẽ và hoàn hảo hơn!”

Như vậy thì đảng Cộng Sản Trung Quốc theo Ôn Gia Bảo hay theo Ngô Bang Quốc? Có lẽ họ theo cả hai. Nói theo Ôn, làm vẫn theo Ngô! Nên nhớ, Ngô Bang Quốc đứng hàng thứ hai trong Bộ Chính Trị, trên Ôn Gia Bảo và chỉ dưới Hồ Cẩm Ðào!

Ở Việt Nam, cái hầm tư duy của đảng cũng biết giữ mồm giữ miệng. Khi nói về đổi mới chính trị, ông tướng công an Lê Văn Cương không quên nhấn mạnh rằng “...đổi mới chính trị mạnh mẽ là để góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Ðảng!” Ðó là tóm tắt mục đích cuộc hội thảo trong hầm này: Ðổi mới chính trị làm sao cũng được, miễn là vẫn chỉ có một đảng thống trị!

Cái hầm tư duy được mở hé ra cho dân ngửi chút mùi “đổi mới chính trị.” Nhưng người dân Hà Nội vẫn chỉ ngửi thấy một thứ mùi từ bên trong cái hầm đó. lúc nào cũng vẫn một mùi cũ: Bên Tầu nói sao, bên ta nói vậy! Và mục đích vẫn là: Củng cố đảng!

Ngô Nhân Dụng


thunder  
#107 Posted : Saturday, May 14, 2011 2:07:43 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Phở ở Hà nội giá 850,000 đồng/ tô
thì có nghĩa lý gì, mời bạn xơi thử phở giá 5,000 đô la/tô


Friday, 13 May 2011

Cali Today News - Lúc trước khi một Việt Kiều mở nhà hàng bán 1 tô phở “bò Kobe”giá đến 850,000 đồng/tô (khoảng 42 đô la ) ở Hà Nội, ai cũng tưởng đùa, hóa ra là thực.

Giờ đây ngay tại California có tiệm bán 1 tô phở giá 5,000 đô la thì cái tin loan ra ‘nhằm ngày thứ sáu 13 này’ chắc phải là tin vịt, vậy mà nó cũng là thực nốt, thế mới lạ!

UserPostedImage


Thường thì khắp Hoa Kỳ, 1 tô phở giá trung bình từ 5 đô la đến 10 đô la, nhưng tiệm phở Tiato ở Santa Monica, California, giới thiệu tô phở “cao sản” giá sơ sơ có 5,000 đô la một tô. Nhiều Web site trên thế giới đã đồng loạt loan tin “chấn động” này.

Tô phở cho Hoàng Đế dùng này phải có những chất cấu thành không bình thường. Thì đây, nó gồm những lát nấm truffle alba trắng loại thượng hảo hạng, thị bò A 5 Wagyu (loại bò Kobe) siêu đẳng, nước dùng nấu bằng gan ngỗng béo.

Còn gì nữa? Còn chứ, có thêm tôm hùm xanh cực hiếm dùng để chế biến vào cọng phở. Dường như giá sống cũng phải là loại đặc biệt (không rõ khi trồng giá này người ta có cho chúng… nghe nhạc hay không)

Giờ đây cái mục cắt nghĩa giá tô phở bắt đầu có lý. Thì ra nhà hàng không bỏ túi số tiền 5 ngàn đô này, nó được dùng để tặng cho hai bệnh viện UCSF Benioff Children’s Hospital và bệnh viện Nhi Khoa Los Angeles.

Chủ nhân quán Tiato tỉnh rụi khi nói là bà sẽ thêm vào menu cái “món phở 5 ngàn đô” này ở quán thứ nhì của gia đình ở Beverly Hills, California và tiền bán được cũng sẽ sung vào chuyện từ thiện cho hai bệnh viện nói trên.

Thôi cũng được, đã có người bỏ ra 35,000 đô la mua một vé ăn tối với TT Obama thì bây giờ bỏ ra ‘tiền lẻ’ 5 ngàn đô xơi tô phở cũng chả đắt, nhất là ăn xong trả tiền còn có ý nghĩ vui thú là tiền mình giúp cho các em bé bệnh hoạn tội nghiệp.

Chỉ tội nghiệp cho cụ Nguyễn Tuân. Cụ mà nghe nói có loại phở mà cụ hằng yêu quý ‘có nước dùng là gan ngỗng bèo và thêm thịt tôm hùm vào’, có thể cụ bổ ngữa ra chết lần thứ nhì!

Trường Giang (nguồn Canada Now)

thunder  
#108 Posted : Saturday, May 14, 2011 2:38:35 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

TỪ NGÀN GIỌT LỆ RƠI ĐẾN BIỂN MÁU NGẬP TRÀN!


1.TỪ NGÀN GIỌT LỆ RƠI

Trong bài “Cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa Cộng Sản”, nhà nghiên cứu Lê Quế Lâm cho rằng cuộc chiến tại Việt Nam là một cuộc chiến cách tân để đưa đến việc giải thể chế độ Cộng sản Việt Nam. Và tác giả cũng đã giới thiệu bà Yung Krall, tức Đặng Mỹ Dung (ĐMD) với tác phẩm A Thousand Tears Falling tức Ngàn Giọt Lệ Rơi (NGLR).
Theo ông Lê Quế Lâm thì bà ĐMD đã chống Cộng có ý thức ngay từ buổi thiếu thời, khi bà sống với cha là ông Đặng Quang Minh, một đảng viên CS nhiệt thành trong các bưng biền kháng chiến. Và tác giả Lê Quế Lâm đã trích dẫn một số ý thức của bà ĐMD trong tác phẩm NGLR, như sau:

“Tôi nhớ hoài ngôi nhà ở gần ngã tư Ong Vèo. Ngôi nhà ngói đỏ,trước hiên có bốn cây cột gỗ mun to tướng. Nhà này không phải là nhà riêng, mà là cơ quan hoạt động chánh trị của ba tôi. Má tôi biết Việt Minh lấy nhà của những điền chủ giàu có để làm trụ sở, các cơ quan và nhà ở cho gia đình cán bộ. Má tôi không thích chủ trương cướp nhà kiểu này, mà phải âm thầm sống trong hoàn cảnh trái với lương tâm mình. Rồi má tôi xin tiền của ông bà ngoại để lén trả tiền mướn nhà và đất cho chủ điền. Và mỗi lần di chuyển đến địa phương khác, VM vẫn mượn nhà, mượn đất như vậy. Má tôi phải trả tiền để không bị lương tâm cắn rứt. Đó là một phim tài liệu trắng đen chiếu đi chiếu lại trong tâm khảm tôi mà má tôi là người kể chuyện”. Lúc đó MD 5 tuổi.

Sau đó, gia đình MD theo cha tới “Kim Qui. Là một rừng tràm sát bên bờ rừng U Minh, có con kinh chảy ra biển, gần Đá Bạc. Thế là có sự hiện hiện của nhiều khuôn mặt “đưa đám” trong nhà… Đó là các cán bộ từ phương xa đến, có người nói giọng Nam, có người nói giọng Huế, giọng Trung; và có cả người nói giọng Bắc… Đối với ba tôi thì người miền nào đến đây cũng là đồng chí của ông”.

NGLR nhắc đến địa điểm Kim Qui Đá Bạc, khiến người đọc “rùng mình rởn tóc” về tội ác của CS. Nơi đây Việt Minh đã giết hại rất nhiều người yêu nước, điển hình là ông Hồ Văn Ngà, thủ lãnh Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng.

Giữa tháng 8/1945, được tin Nhựt đầu hàng, ông Hồ Văn Ngà đứng ra kêu gọi các đảng phái chính trị và tôn giáo hãy đoàn kết lại, thành lập “Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất” “đấu tranh chống thực dân Pháp sắp trở lại Nam Kỳ, để bảo vệ nền độc lập tự do”. Khi Việt Minh rút lui khỏi Sàigòn trong đêm 23/9/1945, ông cùng Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân thành lập Ủy ban Phong tỏa Đô thành Sàigòn-Chợlớn để chống Pháp. Nửa đêm hôm đó, VM tới bắt ông dẫn đi biệt tích. Về sau người ta được biết năm 1946, ông Hồ Văn Ngà bị đập chết bằng củi đòn, thi hài bị thả trôi sông ở vùng Kim Qui Đá Bạc (Nguyễn Long Thành Nam, Phật Giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Nxb Đuốc Từ Bi, California, 1991, Tr.366). Trong sách Hơn Nữa Đời Hư, ông Vương Hồng Sển đã kể lại khi bị VM quy tội Việt gian, ông Hồ Văn Ngà đã trả lời như sau: “Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi tội Việt gian” (Nxb Văn Nghệ, California, 1995, tr.162).

Tác giả ghi lại ký ức ngày Tết đầu năm 1955 tại nhà ông bà ngoại, năm ĐMD 9 tuổi, trước khi thân sinh cô và các cậu lên đường tập kết ra Bắc.

“Bữa cơm cuối cùng trong gia đình bị gián đoạn bởi một chuyện bất thường xảy ra. Trong khi chúng tôi đang ăn, một người có trách nhiệm giữ an ninh cho ba và mấy cậu bước vô, xin nói chuyện với cậu Chin Thùy…Một lát sau ba tôi trở lại bàn ăn, nói cho gia đình biết là có một người đàn ông muốn băng qua lộ để về Cái Thanh, một làng nhỏ bên kia quốc lộ số 4. Ông ta nói rằng má của ông đau nặng, ông muốn về thăm má. Không một ai trong nhóm giữ an ninh biết ông là ai, nên họ quyết định giữ người này lại. Ông ngoại ngồi nhâm nhi cốc rượu, chờ ba tôi dứt lời mới lên tiếng: “Thà bắt lầm hơn thả lầm, phải không con?” Ông cho rằng ba tôi không có quyền quyết định khi chuyện có liên quan đến gia đình người khác. Ông nói “Nếu má thằng Khôi đau nặng, cậu muốn thằng Khôi về thăm má nó, con tính làm sao?”

Sau bữa ăn, cậu Chín dẫn người đàn ông vô nhà. Ông ta là một nông dân. Chân ông còn dính xình khô, quần xắn lên khỏi đầu gối và ướt nhẹp. Ông khép nép ngồi bên mép chiếc ghế đẩu, mặt đầy lo sợ. Ông cúi đầu chào gia đình tôi, nhưng không dám nhìn thẳng mặt ai. Người đàn ông lập đi lập lại lý do cần phải băng qua lộ đêm đó “Má tui đau nặng, tui phải gặp bả trước khi bả nhắm mắt ông à”. Tôi thấy bác nông dân ôm mặt khóc. Tim tôi đau nhói khi tôi nghe tiếng nức nở của bác. Tôi nhìn người đàn ông trạc tuổi ba tôi, ngồi trước mặt ba tôi và các cậu Tư cậu Chín. Những người đàn ông này đều có mẹ già, ai cũng biết thương yêu, và ai cũng được yêu thương. Rồi tôi tự hỏi cái gì đã tạo nên sự khác biệt giữa người đàn ông này và những người đàn ông trong gia đình tôi? Người nông dân nầy đã vô tình đem tôi ra khỏi cái nôi của “cách mạng”. Lần đầu tiên trong tuổi thơ, tôi dám nghĩ thầm rằng hành động đêm đó của ba tôi vừa tàn nhẫn, vừa sai bét. Tôi nói thẳng với ông là ba không công bằng với người nông dân nên tôi ngủ không được.

Hai mươi năm sau (1975) tác giả đến thăm cha ở Tokyo, là kẻ vừa chiến thắng….
“Khi bước vào phòng ông, tôi thấy ông đang ngồi cạnh một xấp giấy, trông giống thẻ căn cước, nhưng lớn hơn. Tôi tò mò cầm một thẻ lên coi thì biết đó là giấy gọi nhập ngũ của Mỹ. Giấy này được gởi đi vào tháng 7/1969 cho một thanh niên 19 tuổi. Lúc đầu tôi nghĩ đây là thẻ động viên của một người lính Mỹ tử trận. Một niềm thương cảm tràn ngập trong lòng. Chết cho tổ quốc là một vinh dự. Nhưng tình thương bị dập tắt ngay khi ba tôi cho biết những thẻ động viên đang để trên bàn là những thẻ của những tên phản chiến. Khi nhận được lệnh nhập ngũ thì chúng bỏ trốn, rồi gởi những thẻ này đến Tòa Đại sứ của MTGPMN. Tôi giận tím người khi biết chúng là những tên phản quốc. Như đổ dầu vào lữa, ba tôi vui vẻ nói; “Điều đó chứng tỏ rằng Mỹ đã sai lầm khi tham chiến ở VN”.

Tôi chưa cần phân tích xem Mỹ sai lầm ở chỗ nào, nhưng đã nhận ra một sự thật làm tan nát tim tôi. Đó là sự ngăn cách giữa hai cha con tôi quá lớn; chúng tôi gặp nhau chỉ để xa nhau thêm mà thôi. Lẽ thường ở đời, ai không muốn ngả theo phe thắng, để mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Nhưng tôi thì không, tôi không bao giờ phản lại Quốc Gia, phản lại lý tưởng mà gia đình tôi đã đi theo. Vì lý tưởng đó mà em trai tôi đã chết khi mới chập chững bước vào binh nghiệp. Tôi nghiêm giọng nói với ba tôi: “Hạng người phản chiến nầy chỉ là những tên phản quốc, hèn nhát, nên mới gởi những thẻ nầy cho kẻ thù”. Ba tôi lắc đầu: “Mỹ nhẩy vào VN là một sai lầm to lớn. Những người Mỹ trẻ này đã sáng suốt nhận ra như vậy”. Tôi cãi: “Họ ngay thẳng, thật thà, làm sao hiểu nổi cái lưu manh của cộng sản. Vậy khi Liên Xô và Tàu Cộng viện trợ khí giới cho các du kích của MTGP giết đồng bào, thì có chính nghĩa không? Cuộc chiến này sai bét vì người Việt lại giết người Việt”.

Ông dịu dàng nói: “Ba không muốn tranh luận với con gái cưng của ba. Vì ba không bao giờ muốn thay đổi cách suy nghĩ của con. Nếu con hài lòng với niềm tin của con, tức là con đang có hạnh phúc. Đối với ba, gia đình rất đáng quý”. Tôi trả lời “Nhưng đảng của ba còn đáng quý hơn tụi con”. Ba tôi chậm rãi: “Đất nước trên hết đối với ba. Con can đảm, con đã tự lập, con lo cho con được. Con OK”. Tôi lấn tới: “Tất cả người dân miền Nam cũng đã OK. Vợ của ba, con cái của ba đều là hình ảnh của người dân miền Nam sống đơn sơ và hạnh phúc. Chúng con không có gì khác biệt với mọi người. Những nhu cầu, những mơ ước của chúng con đều là nhu cầu và mơ ước của hàng triệu dân miền Nam. Và mọi người đã OK, cho đến ngày Hà Nội đem quân xâm chiếm miền Nam”. Ba tôi gật đầu: “Ba biết rõ những nhu cầu của người miền Nam. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức mình để đáp ứng những nhu cầu đó”. Tôi chưa kịp nói gì thêm, ông đã đề nghị: “Mình nói chuyện khác đi con”.

ĐMD từng tâm sự “Tôi yêu ba tôi vì tôi yêu người đã xả thân cho đất nước. Tôi có làm phiền lòng ông, chỉ vì tôi dám nói lên là ông đã bước quá sâu vào cậm bẫy của một lũ người phản quốc”.

Để kéo ông ra khỏi cạm bẫy CS ở tuổi cuối đời, trong các cuộc gặp gỡ sau đó ở Paris (1976) và London (1977), ĐMD gợi ý ông về hưu, đoàn tụ với gia đình với lý lẽ: Ba đã cống hiến gần hết cuộc đời cho dân tộc. Nay đất nước đã hòa bình, ba 68 tuổi rồi, chúng con muốn ba về sống với má và chúng con. Ba chọn một nước trung lập nào ba thích, dành quảng đời ngắn ngủi còn lại để má và chúng con được cận kề bên ba. Đó là lẽ công bằng. Ông dứt khoát: Ba là người VN, sanh ra ở VN và sẽ chết ở VN.

Trong khi đó, đại diện MTGPMN tại Paris là Phan Thanh Nam và các đồng chí của ông ta ra sức “động viên” ĐMD thuyết phục bà mẹ trở về nước. Y tuyên dương hành động trở về của bà là một chiến thắng lớn của VN, là cái tát vào mặt TT Gerald Ford và Chính phủ Mỹ đã cho CIA bắt cóc bà đem về Mỹ.

ĐMD không có ý định “tát vào mặt” chính quyền Hà Nội khi thuyết phục người cha rời bỏ VN. Hành động này chỉ muốn nói lên sự thức tỉnh của một người CS sau khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Nhưng ông phản đối ý kiến của con, cho đó là thái độ vô cùng ích kỷ. Ông phải trở về nước, hoàn thành nhiệm vụ giúp MN tái thiết, để phát triển vững mạnh trong một thời gian năm bảy năm, trước khi thống nhất với MB. Trong khi ông lạc quan ở Paris, thì số cán bộ MTGPMN sau chiến thắng 30/4/1975 đã thấy rõ thân phận của mình, như câu nói của người xưa “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh” (Thỏ chết thì chó săn bị làm thịt).

Kỹ sư Trương Như Tảng, Ủy viên Trung ương MTGPMN và là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa MN đã bày tỏ sự bất mãn khi CS chiến thắng MN, “một quyền lực sắt thép bao trùm khắp nước VN. Lúc thắng trận cũng là lúc CS bắt đầu loại bỏ MTGPMN. Trong buổi tiệc đơn sơ được tổ chức vào năm 1977 để chính thức giải thể MTGPMN, Đảng CS và chính quyền Hà Nội không thèm cử đại diện đến dự”.

Ý định thuyết phục thân phụ lìa bỏ CS bất thành, ĐMD dấn thân vào nghiệp vụ điệp viên chống CS. Nhờ Phan Thanh Nam đón tiếp một cách nồng hậu ở Paris, cô có dịp đặt chân vào trụ sở MTGPMN và văn phòng bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Paris. ĐMD đã tiếp xúc với Đại sứ Hà Nội Võ Văn Sung và phát hiện một số cán bộ CS nằm vùng ở Paris. Những ghi nhận về nhân sự và hoạt động của CSVN tại Paris đều được MD báo cáo cho CIA. Cô giữ mối liên lạc với những người CS bạn của ba cô ở Paris, ông có uy tín lớn đối với họ. Những người CS tin tưởng ĐMD với tình thương cha sâu đậm, cô sẽ giúp họ thu thập những tin tức kỹ thuật và tình báo từ chồng cô. Lần hồi qua sự giao tiếp, cô được Đại sứ Võ Văn Sung giới thiệu với Chủ tịch hội Việt Kiều yêu nước ở Mỹ và Đinh Bá Thi, đại sứ CSVN ở LHQ. Qua Phan Thanh Nam cô gặp Trương Đình Hùng và một số cơ sở CS hoạt động ở Hoa Thạnh Đốn. Hùng nhờ cô chuyển một số tài liệu mật do Ronald Humphrey (một viên chức cao cấp của bộ Ngoại giao HK được phép đọc tài liệu mật) lấy trộm từ bộ Ngoại giao. MD trao những tài liệu mật này cho CIA để tráo thành tài liệu giả chuyển đến Tòa Đại sứ Hà Nội ở Paris. Humphrey có vợ là cháu của một nữ cán bộ CS, ông liều lĩnh hành động để CS sớm cấp giấy xuất cảnh cho vợ.

Bọn phản chiến và các hội Việt kiều yêu nước đã tiếp tay giúp CS chiến thắng ở MN. Sau đó chúng ra sức tuyên truyền, phá hoại và tranh thủ đồng bào tị nạn vừa mới đặt chân đến Pháp và Mỹ. Việc ĐMD phát hiện các ổ CS nằm vùng, các tổ chức Việt Kiều yêu nước và ra toà làm nhân chứng để phá vỡ mạng lưới gián điệp của Hà Nội ở Mỹ là một đóng góp lớn giúp củng cố và phát triển Cộng đồng Người Việt Tự do ở HK trong bước đầu hình thành khi làn sóng thuyền nhân ồ ạt đến Mỹ hồi cuối thập niên 1970.

Trong lời nói đầu quyển A Thousand Tears Falling, ông Griffin Boyette Bell, cựu Bộ trưởng Tư pháp HK, đề cao “Yung Krall (tức Đặng Mỹ Dung) đúng là một công dân Mỹ vĩ đại. Tình yêu nước Mỹ đã dẫn dắt cô trở thành nhân chứng then chốt trong vụ án gián điệp mang tên Con Rồng Kỳ Diệu. Tôi nhiệt liệt tán thưởng sự nghiệp của cô đối với nước ta (HK), và tôi vui mừng thấy câu chuyện của ngưòi phụ nữ xuất sắc nầy cuối cùng đã được để cho mọi người cùng đọc và biết đến…”

Riêng cá nhân tôi, ĐMD còn là một người VN yêu nước trong sáng, chống CS có ý thức. Chị đã góp phần giúp HK tiến hành cuộc chiến “cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”. Một nước VN dân chủ tự do, không CS, là nguyện vọng tha thiết của mọi người VN yêu nước. Quyển NGLR là cuộc đấu lý có tính ý thức hệ, bày tỏ thái độ chính trị giữa người con Quốc Gia và người cha yêu nước theo chủ nghĩa CS.

2. ĐẾN BIỂN MÁU NGẬP TRÀN:


Bài viết này xin không kể đến những tội ác tày trời mà Đảng CSVN đã gây ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc mà chỉ kể những tội ác mà CSVN đã gây ra cho đồng bào miền Nam sau tháng 4 năm 1975. Sau khi chiếm trọn miền Nam, CSVN đã phạm nhiều tội ác chống nhân loại đối với đồng bào miền Nam một cách quy mô và có kế hoạch:

-Tội đưa đi lưu đày (deportation) 1.5 triệu đồng bào miền Nam tại những nơi rừng thiêng nước độc mà chúng đặt cho cái ngụy danh là “vùng kinh tế mới”. Khí hậu khắc nghiệt tại nhnữg nơi lam sơn chướng khí này đã gây ra những cái chết cho nhiều chục ngnà người.

-Tội xử tử một cách phi pháp (ex-trajudical, or summary, execution) 100.000 quân dân cán chính VNVCH trong thời gian 10 năm kể từ sau tháng 4 – 1975, gây đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân ruột thịt của họ.

-Tội giết 160.000 người bằng cách đuổi theo pháo kích và bắn trực xạ trong nhiều ngày vào đoàn người chạy giặc suốt theo chiều dài của Tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuống duyên hải trong tháng 3 năm 1975, để lại đau thương suốt đời cho hàng trăm ngàn thân nhân của họ.

-Tội giam cầm phi pháp (imprisonment without formal charge or trial) 1.000.000 quân dân cán chính VNCH trong những cái gọi là “trại cải tạo” với thời gian bị giam cầm từ 3 tới 10 năm, và có nhiều người đã bị giam tới 17 năm. Tội ác này đã gây đau khổ tinh thần cho hàng triệu thân nhân ruột thịt của họ.

-Tội ác thủ tiêu mất tích (enforced disappearance of person)165.000 quân dân cán chính VNCH bị chết vì đòn thù trong cac1 trại tù cải tạo. Hiện nay VC còn đang chôn giấu 165.000 bộ haì cốt của những người này trong rừng núi với chủ tâm trả thù, gây thống khổ tinh thần suốt 35 năm nay cho hàng trăm ngàn cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.

-Chế độ độc tài khủng bố của VC đã là nguyên nhân xô đẩy 3,000,000 đồng bào miền Nam lao ra biển trên những con thuyền mỏng manh để đi tìm tự do, gây ra những cái chết thảm cho 700,000 đồng bào trên biển cả, để lại đau thương suốt đời cho hàng triệu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái của họ.

-Chúng tổ chức vượt biên để thu vàng và cướp nhà của dân: khi thuyền vượt biên tới hải phận quốctế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo bắn chìm thuyền và giết chết những người đã nộp tiền cho chúng. Đây là một tội ác man rợ của VC đối với đồng ab2o miền Nam.
Một số tội ác kể trên đã đủ chứng minh rằng hầu hết các gia đình tại miền Nam đều là nạn nhân của tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại của CSVN(2).

*
Xin thưa tôi không phải tác giả bài viết này, tôi chỉ mượn phần trình bày của hai ông Lê Quế Lâm và ông Đỗ Ngọc Uyển để trình bày về những nhức buốt của một cuộc chiến đã im tiếng súng trong 36 năm qua; nhưng vẫn còn âm thầm tiếp tục tàn phá sinh lực của dân tộc Việt Nam và đất nước đang có nguy cơ lệ thuộc ngoại bang.

Phần đầu, tôi mượn phần trình bày của tác giả Lê Quế Lâm về bi kịch mà bà ĐặngMỹ Dung và gia đình bà phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.

Với bi kịch của đời mình, bà Đặng Mỹ Dung đã viết thành tự truyện Ngàn Giọt Lệ Rơi.
Phần thứ hai, tôi trích một đoạn ngắn từ bài viết “Con Đường Hoà Giải Dân Tộc” của tác giả Đỗ Ngọc Uyển với ước vọng là sẽ có những người cầm bút sẽ tổng kết coi có bao nhiêu xương máu đã đổ xuống trong cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh đã theo đuổi và quyết tâm áp đặt chủ nghĩa cộng sản cho đất nước Việt Nam.

Chỉ trong một gia đình của bà Đặng Mỹ Dung đã ngàn giọt lệ rơi.
Cuộc chiến “xẻ dọc Trường Sơn” với đoàn quân “Sinh Bắc, tử Nam” của ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN, 20 triệu dân miền Nam và những người anh em miền Bắc, trong vai trò quân xâm lược, dân tộc Việt Nam đã đổ xuống bao nhiêu máu xương trong cuộc bể dâu này?!
Có bao giờ các vị lãnh đạo của Đảng CSVN hiện nay nghĩ đến chuyện:

“Chén rượu nhân quần xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc bể dâu này!”
(thơ Tô Thuỳ Yên)

Hay là quý vị “vẫn quyết tâm tát cạn, bắt lấy” 3 triệu người Việt tỵ nạn hải ngoại là những người đã vì sự cai trị hà khắc của quý vị mà phải liều chết vượt biển để tìm tự do trên những chiếc thuyền mà mạng sống mỏng manh – như những con muỗi mắc trong nghiên son?!

LÃO MÓC

thunder  
#109 Posted : Sunday, May 15, 2011 3:02:11 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

QUÊ HƯƠNG ĐỔI MỚI ?

Anh khuyên tôi : “Về thăm lại quê hương
để nhìn thấy Việt Nam giờ đổi mới !”

Nghe anh nói lòng tôi buồn quá đổi
Ba mươi năm vẫn một điệu tuyên truyền
Ba mươi năm vẫn gạt gẫm triền miên
Ba mươi năm vẫn miệng lằn lưỡi mối !

Vâng, nước Việt từ lâu đà “đổi mới”
“Mới” từ ngày giặc cưỡng chiếm Miền Nam:
Đời yên vui chợt đổ vỡ điêu tàn
Đang giàu có bỗng thành tên hành khất

Đời sống mới, ôi cuộc đời súc vật
Kẻ mang xiềng người lao dịch rừng sâu
Giặc từ rừng về bắn giết, tịch thâu
Người trí thức cúi đầu đi “học tập” !

Trên rừng, dưới biển, bóng người tấp nập
Hẹn nhau đi, không hẹn chuyến quay về
Dù “công an”, hải tặc khắp tư bề
Người dân Việt vẫn liều mình vượt biển !

Ba mười năm, nước ta còn chậm tiến
Dân bần cùng đem bán cả con thơ
Thiếu miếng ăn còn đâu những ước mơ
Phụ nữ bán thân mình ngoài muôn dặm !

Vâng, tôi biết quê hương thay đổi lắm
Đạo làm người, liêm sỉ nay còn đâu
Bọn tam vô chuyên bóc lột, làm giàu
Trên xương máu của người dân nước Việt!

Nơi viễn xứ, không về, tôi vẫn biết
Đồng Mỹ kim rất qúi ở quê mình
Mang nó về mua được chút HƯ VINH
Trên TỦI NHỤC của đồng bào tôi đó !

Này anh hỡi, xin anh nghe cho rõ
Chỉ quay về khi đất nước TỰ DO
Khi quê hương thay đổi một màu cờ
Khi DÂN CHỦ phục hồi trên đất mẹ

Trần Chiêu Yên

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
phamlang on 5/18/2011(UTC)
Ngoc N Hao  
#110 Posted : Sunday, May 15, 2011 8:34:54 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Từ một trẻ mồ côi Việt Nam trở thành Phó Thủ Tướng Đức: Dr. Philipp Rösler


Rostock, Dr. Philipp Rösler là chủ tịch mới của đảng Dân chủ Tự do FDP ở Đức. Các đảng viên tại đại hội đảng được tổ chức tại tỉnh Rostock, vùng Biển Đông đã bỏ phiếu chọn nhà chính trị trẻ gốc Việt Nam, 38 tuổi với 95,1 phần trăm số phiếu. Một thành quả hầu như tuyệt đối cho vị chủ tịch trẻ nhất trong lịch sử đảng FDP. Toàn đại hội gồm 651 đại biểu toàn quốc đã có 619 vị tin tưởng trao lá phiếu cho Dr. Rösler. 22 đại biểu không thuận chọn ông và 10 vị bỏ phiếu trống. Nói chung đây là một kết quả tuyệt vời (Traumergebnis) cho Dr. Philipp Rösler.


UserPostedImage


Tại đại hội đảng FDP ở tỉnh Rostock các đại biểu tiếp tục bầu ban lãnh đạo đảng vào chức vụ Phó chủ tịch: Bà Birgit Homburger đạt 66,1 % số phiếu, bà Sabine Leutheusser đạt 85,51 % và ông Holger Zastrow đạt 89,35 %.

Với chức vụ chủ tịch đảng FDP và là Liên Minh cầm quyền với đảng CDU/CSU do nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel điều hành guồng máy quốc gia, Dr. Philipp Rösler kiêm nhiệm luôn chức vụ Phó Thủ Tướng Đức, một phó thủ tướng trẻ nhất nước Đức và là một người đầu tiên trong lịch sử không phải gốc Đức đảm nhận. Dr. Rösler từ giây phút này trở thành người quan trọng thứ hai trong guồng máy nước Đức.

Hôm qua, 12/5/2011 tổng thống Đức, ông Christian Wulf đã trao bằng bổ nhiệm Dr. Philipp Rösler vào chức vụ bộ trưởng Kinh Tế, đồng thời tổng thống nhận sự từ chức của ông trong chức vụ bộ trưởng Y Tế mà ông đã đảm nhiệm từ tháng 10/2009.

5 tuần lễ vừa qua, khi đảng Dân chủ Tự do FDP chọn Dr. Philipp Rösler ứng cử vào chức vụ chủ tịch đảng và trong thời gian này đảng FDP rơi vào cuộc khủng hoảng nhân sự cho ban chấp hành đảng. Với tính cách nhã nhặn, luôn nở nụ cười trên môi, không độc đoán Dr. Rösler đã trở nên những cuộc đàm tiếu thiếu khả năng và đánh giá thấp về vị chủ tịch tương lai của đảng FDP. Giới báo chí Đức cũng đã có lần gọi ông Rösler là con cọp không có răng hoặc điều hành kém.

Cuối cùng, ngày 10/5/2011 ông Philipp Rösler đã thành công đưa ra ban chấp hành đảng với những khuôn mặt mới tươi trẻ. Hành động quyết định này của ông đã gây ấn tượng trong đảng và trong giới truyền thông, điều này đang được chứng minh trong đại hội đảng tại Rostock và họ tin rằng sẽ tạo nên sự thu hút trở lại các cựu cử tri cho đảng FDP.

Thông Tấn Xã Đức bình luận ngắn gọn với hàng tít lớn: "Nhân vật canh tân nhẹ nhàng Rösler đã cho thấy móng vuốt".

Nhân sự mới của FDP trong nội các Đức gồm tân bộ trưởng Y Tế, ông Daniel Bahr (34 tuổi) thay thế ông Philipp Rösler. Ông Rainer Brüderle (65 tuổi) đang là bộ trưởng Kinh Tế đã từ chức và đồng thời nhận chức vụ Chủ tịch Trưởng Khối FDP tại quốc hội. Ông Philipp Rösler từ chức chức vụ bộ trưởng Y Tế và đảm nhiệm chức bộ trưởng Kinh Tế. Đây là một quá trình đàm phán khó khăn trong nội bộ đảng FDP trong những ngày qua. Trước đây 5 tuần ông Rainer Brüderle đã từng tuyên bố "Ai muốn chức vụ này thì phải bước qua xác của tôi", lời này làm cho nội bộ đảng FDP trở nên rất căng thẳng. Thế mà hôm 10/5 ông Brüderle đã đặt quyền lợi của đảng lên trên vì thực tế ông Bộ trưởng Kinh tế Brüderle không muốn rời nhiệm sở. Nhưng để có một bước tiến tốt đẹp cho vị Tân chủ tịch thì ông Brüderle phải dọn chỗ bởi vì ông Rösler phải được hỗ trợ tối đa cho công việc của vị chủ tịch đảng. "Tôi biết rằng nếu chúng tôi không đến được với nhau, thì không thể thực thi được chính sách tự do dân chủ của đảng FDP". Đây không phải là điều đặt cá nhân lên cao nhưng để thực hiện các đường hướng của đảng và tạo các điều kiện để vị chủ tịch đảng có thể điều khiển bộ cho tốt, ông Brüderle nói vào thêm.


UserPostedImage



Ông Rainer Brüderle là một bậc thầy về ngôn ngữ chính trị. "Kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch của trưởng khối FDP tại quốc hội thì tôi biết rằng vị chủ tịch đảng là số một. Tôi biết cách ăn mặc trật tự này", ông nói.

Ở Đức ai cũng biết Bộ trưởng bộ Y Tế là một chức vụ rất khó khăn và bị chống đối nhiều nhất, một điển hình chi phí bảo hiểm sức khỏe chỉ cần tăng lên 0,5% là bị chống đối từ mọi tầng lớp xã hội. Người ta ví dụ Bộ trưởng bộ Y Tế lúc nào cũng phải sống trong một hồ đầy cá mập lượn vòng quanh.

Chủ đích của ban lãnh đạo đảng FDP muốn Dr. Philipp Rösler đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Kinh tế với một lý do duy nhất dùng sức mạnh kinh tế Đức làm điểm tựa cho chức vụ chủ tịch đảng FDP và sẽ tránh được nhiều bình luận về cá nhân. Thông thường Bộ Kinh tế Đức lúc nào cũng trình diễn được các con số đẹp trong sự tăng trưởng tốt của Đức vì Đức đang là mốt quốc gia xuất cảng đứng thứ nhì thế giới, ví dụ hàng hóa xuất cảng trong tháng 3 của Đức thặng dư trên 90 tỷ Euro. Vài ngày qua theo sự tiên đoán của nền kinh tế Đức sẽ có lợi nhuận thu thuế từ năm 2011 đến 2014 sẽ tăng lên 135 tỷ Euro. Hãng xe AUDI trong quý 1 đã tăng trưởng và tạo ra 10.000 chỗ làm. Chỉ nhìn vào những con số tốt đẹp đó sẽ tạo ra hình ảnh tốt cho bộ trưởng Kinh Tế cũng như cho Phó thủ tướng – đúng ra cho riêng đảng FDP. Bộ Kinh Tế Đức rất quan trọng với một đội ngũ 1.718 nhân viên hùng hậu phục vụ dưới quyền Dr. Philipp Rösler.

Đại hội đảng FDP 2011 tại Rostock, theo chủ tịch Rösler: Từ bây giờ bắt đầu sự tiến lên trở lại của đảng Dân chủ Tự do FDP và phải lấy lại uy tín cho đảng nơi cử tri.

Thật sự đảng FDP đang gặp khủng hoảng về lòng tin và làm cho cử tri dần dần tránh xa. Năm 2009 họ đã đạt được gần 15% số phiếu kỷ lục trong toàn Liên Bang, thế mà chưa đầy 2 năm sau, hiện tại đảng FDP chỉ còn được ủng hộ trong khoảng 3 đến 5%. Tại Đức các đảng phái có thể bước được vào ngưỡng cửa quốc hội Tiểu Bang hoặc Liên Bang thì họ phải đạt được mức tối thiểu 5% tổng số phiếu của cử tri.

Với tình trạng xuống dốc của đảng FDP thời hiện tại thì đó là một bài tập chính trị đầy khó khăn cho Dr. Philipp Rösler. Có một lần giới truyền thông đả kích các thất bại của ông Rösler về cải tổ nền y tế Đức thì ông đã trả lời với triết lý Á Đông: „Cây tre không dễ dàng bị đổ gẫy trước sóng gió, nó chỉ bị uốn cong mà thôi“.

Dr. Philipp Rösler, độ tuổi 38, đang thuộc về một thế hệ lãnh đạo trẻ tài giỏi của nước Đức, mà lại là một người gốc Việt Nam thì càng làm cho người Đức, người Việt và thế giới kính phục. Nước Đức đang hy vọng vào nhà chính trị gốc Việt này.

Đại hội đảng FDP tại Rostock cho thấy một thế hệ trẻ lãnh đạo: Dr. Philipp Rösler (38 tuổi), Bộ trưởng Y Tế, ông Daniel Bahr (34 tuổi) và ‎Tổng bí thư, ông Christian Lindner (32 tuổi). 3 vị lãnh đạo trẻ FDP này nằm trong độ tuổi con cái của các chính trị gia của đảng CDU/CSU trong Liên Minh cầm quyền của nữ thủ tướng Angela Merkel (57 tuổi), Bộ trưởng Tài Chính, ông Wolfgang Schäubner (68 tuổi), Bộ Trưởng Giáo Dục Đào Tạo, bà Annette Schavan (57 tuổi), Bộ Trưởng giao thông, ông Peter Ramsauer (57 tuổi).

So sánh về tuổi tác như trên cho thấy điều thú vị và sức mạnh trẻ trung của các chính trị gia theo đảng FDP. Họ sẽ có nhiều sức mạnh trong cuộc chạy đua đường dài chính trị tại Đức. Ý tưởng táo bạo của chủ tịch Dr. Philipp Rösler mà chưa có người nào nghĩ tới: đến 45 tuổi là chấm dứt cuộc đời chính trị, đúng thời điểm tháng 2 năm 2018 cho ông. Nếu đúng như thế thì ông Rösler sẽ là vị chủ tịch đảng trẻ nhất giã từ sự nghiệp chính trị tại Đức.

Hà Long
Vietcatholic


Ngoc N Hao  
#111 Posted : Sunday, May 15, 2011 8:45:46 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Vai trò mới của Bộ trưởng Kinh tế gốc Việt Philipp Rösler trên chính trường Đức
UserPostedImage



Philipp Rösler




Hôm nay ông Philipp Rösler, 38 tuổi, lãnh tụ mới của đảng Tự Do sẽ trở thành Bộ trưởng Kinh tế Đức kiêm Phó thủ tướng. Hiện đang là Bộ trưởng Y tế, người chính khách gốc Việt sẽ đảm nhiệm một trọng trách mới trên sân khấu chính trị của đất nước châu Âu hùng mạnh này.

Tiến sĩ chính trị học Âu Dương Thệ, từ Dortmunt, Đức Quốc đã cho biết nhận định về sự kiện trên.

Vai trò của Bộ Kinh tế là như thế nào thưa ông? Liệu sẽ có những thay đổi gì khi ông Rösler từ bộ Y tế chuyển sang làm bộ trưởng bộ này, đồng thời kiêm luôn Phó Thủ tướng?

Ngày thứ ba vừa qua (10/5) lại đã có những thay đổi lớn trong ban lãnh đạo của đảng Tự do (FDP) ở Đức, một chính đảng đang cầm quyền trong Chính phủ liên hiệp của nữ Thủ tướng Merkel. Đó là Bác sĩ P. Rösler, một người Đức gốc Việt Nam, Chủ tịch đảng tương lai của đảng Tự Do, sẽ rời chức Bộ trưởng Y tế để đảm nhiệm chức Bộ trưởng Kinh tế liên bang Đức. Việc này đã xẩy ra sau khi có những áp lực từ nhiều phía trong đảng khiến bà B. Homburger, trưởng nhóm của đảng Tự Do trong Quốc hội Liên bang Đức phải rút lui sau mới hơn một năm và nhường lại cho ông R. Brüderle, đương kim Bộ trưởng Kinh tế Đức.

Trong vài ngày tới sau khi được Tổng thống Đức bổ nhiệm chính thức thì ông Rösler, mới 38 tuổi, sẽ là Bộ trưởng Kinh tế trẻ tuổi nhất của Đức từ trước tới nay. Trong tư cách là Chủ tịch đảng của một trong ba chính đảng trong Chính phủ liên hiệp hiện nay ở Đức, nên BS Rösler còn kiêm chức Phó Thủ tướng, tức người thứ hai sau Thủ tướng TS Merkel.

Trong hệ thống chính trị của Đức thì Bộ trưởng Kinh tế không quan trọng bằng các Bộ trưởng Tài chính và Bộ trưởng Ngoại giao. Nhưng với chức vụ mới này ông Rösler có được hai may mắn trong chính trị là: Thứ nhất, kinh tế Đức đang lên như diều, nên trong tư cách Bộ trưởng Kinh tế ông Rösler sẽ tạo được sự thiện cảm của nhiều giới ở Đức. Thứ hai, từ bỏ chức Bộ trưởng Y tế là một chức rất nhức đầu và không được lòng của nhiều giới. Với hai điều kiện tốt này BS Rösler và đảng Tự Do hy vọng rằng sẽ cải thiện được tình hình đang vô cùng xấu từ hơn một năm nay.

Ông Rösler có khả năng vực dậy uy tín cho đảng Tự Do hay không?

Về câu hỏi này chính ông D. Bahr, một trong ba người chính và thân cận của tân Chủ tịch đảng Rösler, đồng thời sẽ giữ chức Bộ trưởng Y tế mới, đã trả lời trên báo Đức là, việc lấy lại uy tín cho đảng Tự Do cần phải có thời gian chứ không thể một sớm một chiều được. Vì theo các cuộc thăm dò ý kiến của cử tri ở Đức mới đây thì đảng Tự Do chỉ còn được khoảng 3-5% cử tri ủng hộ. Nghĩa là đảng này đang đứng trước một sự phá sản chính trị. Vì theo luật bầu cử Quốc hội Liên bang và tiểu bang ở Đức thì mỗi chính đảng phải được ít nhất 5% tổng số phiếu của cử tri mới được cử đại diện vào Quốc hội.

Trong cuộc bầu cử Quốc hội Liên bang vào cuối năm 2009, đảng Tự Do đã chiếm được gần 15%, mức cao nhất mà đảng này đã đạt được từ trước tới nay. Đó là nhờ tài hùng biện và lãnh đạo của cựu Chủ tịch đảng, ông G. Westerwelle. Nhưng từ khi tham chính làm Phó thủ tướng và kiêm Bộ trưởng Ngoại giao thì ông Westerwelle đã trở thành người tự kiêu, mất khôn ngoan, khiến cho đảng Tự Do đã bị mất uy tín trầm trọng và rất nhanh, nên ông đã phải từ chức Chủ tịch đảng Tự Do từ đầu tháng 4/2011. Trong ba cuộc bầu cử Quốc hội ở ba tiểu bang trong năm nay đảng Tự do đã mất toàn bộ ghế trong Quốc hội một tiểu bang, còn hai tiểu bang khác số ghế của đảng Tự Do đã xuống tới mức thấp nhất.

Trong năm nay còn bốn cuộc bầu cử ở 4 tiểu bang nữa ở Đức. Đây sẽ là dịp thử thách và thước đo là liệu tân Chủ tịch đảng Rösler sẽ tạo lại uy tín cho đảng Tự Do hay không.

Các nhiệm vụ trước mắt của tân Bộ trưởng Kinh tế sẽ là gì ? Người ta chờ đợi gì ở ông Rösler?

Một số nhiệm vụ ưu tiên trước mắt của ông Rösler là làm sao gây được sự tin tưởng và đoàn kết ngay trong ban lãnh đạo mới của đảng Tự Do, để rồi từ đó tạo uy tín trở lại trong trong dư luận Đức, ngõ hầu trong các cuộc bầu cử sắp tới ở một số tiểu bang đảng Tự Do thu được ít nhất trên 5% số phiểu cử tri để có chân trong các Quốc hội tiểu bang. Xa hơn nữa, ban lãnh đạo mới của đảng Tự Do dưới sự lãnh đạo của ông Rösler phải thắng cử lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội Liên bang vào cuối năm 2013.

Sở dĩ lúc này chưa thể nói một cách chắc chắn là liệu ông Rösler có thể phục hồi uy tín cho đảng Tự Do hay không là vì một số lý do khách quan và chủ quan:

1. Giải pháp nhân sự mới vừa được thành hình ngày 10/5 không phải là giải pháp thượng sách mà ông Rösler mong ước, mà chỉ là trung sách mà thôi. Vì trong thành phần nhân sự mới này có hai nhân vật cũ đã thất bại chính trị nhưng vẫn được tiến cử giữ các chức vụ quan trọng trong ban lãnh đạo của đảng Tự do. Đó là ông R. Brüderle, tân Trưởng nhóm của đảng Tự Do trong Quốc hội Liên bang, và bà B. Homburger sẽ được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất của đảng Tự Do trong đại hội đảng bất thường vào cuối tuần này.

2. Ở Đức, đảng Tự Do bảo vệ quyền lợi của các giới hành nghề tự do như bác sĩ, dược sư, luật sư và giới chủ nhân các hãng xưởng cỡ trung bình. Đây là những thành phần trung lưu trong xã hội Đức, và thường giữ thái độ độc lập cũng như chủ nghĩa cá nhân rất cao.

3. Từ khi Đức thống nhất thì cơ cấu và sinh hoạt chính trị ở Đức phức tạp hơn ở các tiểu bang cũng như liên bang. Từ một hệ thổng 3 đảng nay trở thành hệ thống 5 chính đảng trong các Quốc hội, đặc biệt là Quốc hội Liên bang, nơi nắm quyền lực cao nhất của nước Đức. Vì thế sự cạnh tranh và ganh đua giữa các chính đảng gay gắt hơn và khó khăn hơn.

Vai trò quan trọng của tài năng và cơ may trong chính trị theo ông là như thế nào?

Trong chính trị, tài trí hay khả năng là một yếu tố quan trọng, nhưng sự may mắn và cơ duyên cũng đóng vai trò rất lớn Điển hình như trong chính trường Đức hiện nay bà Tiến sĩ Merkel là một biểu tượng của cả tài năng riêng cũng như cơ may. Bởi vì nếu không có cơ may là nước Đức thống nhất từ hơn hai chục năm, thì bà Merkel tuy là người có tài nhưng có lẽ chỉ là một chuyên viên vật lý trong đại học hay viện nghiên cứu của chế độ Cộng sản Đông Đức trước đây mà thôi.

Riêng với bác sĩ Rösler, người ta cũng thấy ngoài tài năng giúp ông đã sớm thành đạt trong việc học tập lẫn sự nghiệp chính trị, khiến cho ông đã trở thành bộ trưởng của một tiểu bang khi mới giữa 30 tuổi. Từ gần hai năm nay, nhờ có đảng Tự Do thắng cử lớn và tham chính, nên ông Rösler đã trở thành Bộ trưởng Y tế. Và nay do những sai lầm của cựu đảng trưởng Westerwelle, nên BS Rösler đã được đề cử là Chủ tịch đảng và Phó Thủ tướng. Ông còn được may mắn nữa là bà Thủ tướng Merkel rất có thiện cảm với ông, và đặt nhiều hi vọng là ông Rösler sẽ giải quyết được các khó khăn nội bộ của đảng Tự Do.

Nhưng may mắn nhất trong đời của BS Rösler là khi mới vài tháng tuổi, từ một trẻ mồ côi ở Việt Nam, ông đã được một gia đình trung lưu Đức nhận làm con nuôi và được hướng dẫn tốt. Nếu còn ở Việt Nam thì cuộc đời của ông có lẽ cũng như nhiều trẻ em mồ côi phải sống lang thang trong xã hội XHCN!

Như vậy Đại hội đảng Tự Do sẽ bắt đầu vào ngày mai, cũng sẽ khởi đầu sự thách đố và cơ may đối với ông Rösler?

Nói tóm lại, đảng Tự Do đang bị khủng hoảng lãnh đạo rất lớn ở Đức trong hơn một năm qua. Cuối tuần này đại hội đảng sẽ quyết định một ban lãnh đạo mới, do BS Rösler làm tân Chủ tịch đảng. Kết quả các cuộc bầu cử Chủ tịch đảng và các nhân vật chính trong Ban chấp hành mới sẽ cho thấy tài năng và uy tín thực sự của BS Rösler có thực sự cao không để ông và đảng Tự Do có thể vượt qua những vấn nạn hiện nay được không. Đây vừa là một thách đố gai góc, nhưng cũng được coi là cơ may chính trị mới cho ông Rösler. Hiện nay dư luận ở Đức đang đặc biệt theo dõi Đại hội của đảng Tự Do.

Cộng đồng người Việt ở Đức cũng khá đông, ông Rösler có quan tâm đến cộng đồng này không, và ngược lại người Việt ở Đức có trông đợi gì ở ông không?

Chúng tôi thấy là ông Rösler rất có cảm tình với cộng đồng người Việt Nam ở Đức, và người Việt Nam ở Đức cũng rất có cảm tình với ông. Cụ thể là trong nhiều dịp cộng đồng người Việt Nam tổ chức những cuộc họp lớn, thì ông Rösler cũng đã tới tham dự, và nhiều khi ông cũng phát biểu ý kiến. Điều đó chứng minh là giữa cộng đồng người Việt ở Đức và ông Rösler có những tình cảm gắn bó với nhau.

Xin rất cảm ơn Tiến sĩ Âu Dương Thệ.

Nguồn RFI
13-05-2011 19:38

thanks 1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
phamlang on 5/18/2011(UTC)
thunder  
#112 Posted : Sunday, May 15, 2011 2:27:20 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

THÁNG TƯ ĐẾN ÔM NỖI BUỒN DĨ VÃNG


Có những lúc nỗi buồn khơi trổi dậy
Tôi miên man tưởng nhớ chuyện ngày qua
Lòng bâng khuâng hình bóng cảnh quê nhà
Mùa biển động Tháng Tư Đen ập đến

Con nước lớn thuyền nhấp nhô đầy bến
Từ Xuân Đừng, Vạn Giã có người thân
Quê hương tôi ngày ấy rất ân cần
Lòng phập phỗng gói hành trang di tản

Mẹ đàn em cùng tôi đi lánh nạn
Thuyền nhổ neo thẳng đến tận Đầm Môn
Xa Phú Yên tôi con bé mất hồn
Giọt nước mắt giã từ nơi phố nhỏ

Vầng trăng treo nỗi buồn con mắt đỏ
Những muộn phiền cay đắng tội quê hương
Hình ảnh tuổi thơ và những con đường
Làm di tản đến một nơi xa lắc

Muộn phiền ơi ! vẫn nỗi buồn thắc mắc
Từng người thân lần lượt đã ra đi
Giờ trong tôi còn nhớ lại những gì
Tháng Tư đến ôm nỗi buồn dĩ vãng..


Tưởng nhớ Tháng Tư Đen
San Jose Ngày 18 Tháng Tư Năm 2010

Hồ Duy Hạ

thunder  
#113 Posted : Sunday, May 15, 2011 2:44:59 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Nỗi ám ảnh của đảng Cộng sản Việt Nam


Trong Tạp chí cộng sản, số tháng 4/2011, Mai Anh cho phổ biến một bài nhận định tình hình đảng và Nhà nước cộng sản Hà Nội bị trong và ngoài nước tấn công kịch liệt trên lãnh vực Nhân quyền và Dân chủ. Tác giả nêu lên những lực lượng tấn công gồm có ở trong nước và ở bên ngoài, phân tích chiến thuật tấn công và đề nghị cho cán bộ đảng cách ngăn chận và phản công. Nhưng qua bài viết của Mai Anh có giá trị như một chỉ thị của đảng, chúng ta nhận thấy đảng cộng sản thật sự đang đuối lý trên mặt trận Nhân quyền và Dân chủ hiện nay. Đó quả thật là những thắng lợi bước đầu rất phấn khởi của “Phe thù địch của đảng cộng sản Hà Nội”, tức những lực lượng tranh đấu Nhơn quyền và Dân chủ trong nước và hải ngoại hiện nay.

Đảng cộng sản và Nhà nước Hà Nội gọi mặt trận “Nhơn quyền và Dân chủ” là chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Chiến lược này là luôn tìm cách tấn công mạnh vào các mục tiêu nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc mà chế độ độc tài ở Hà Nội đang vi phạm có chủ trương.

Mặt trận Nhơn quyền và Dân chủ là nỗi ám ảnh thật sự


Chiến lược “diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch” là nỗi ám ảnh của Hà Nội được Mai Anh bộc lộ “Đặc biệt từ sau năm 1991 đến nay, lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng sử dụng các vấn đề nhạy cảm Dân chủ và Nhân quyền để chống phá, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, hướng Việt Nam đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Về cơ bản, hoạt động của các thế lực thù địch chống ta tập trung vào vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo, dân tộc nhằm can thiệp, gây sức ép, kích động chủ nghĩa ly khai gây mất ổn định chính trị - xã hội diễn ra ngày càng gay gắt, ráo riết tập trung vào các hoạt động chủ yếu thông qua các tổ chức quốc tế, các đạo luật, các báo cáo lên án Việt nam vi phạm Nhân quyền, Dân chủ”.

Hà Nội biết rất rõ “vấn đề nhân quyền và nghĩa vụ thực hiện nhân quyền là mối quan tâm chung của nhân loại, là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu”, nên Hà Nội vô cùng lo sợ các nước phương Tây đang gia tăng bảo vệ và thúc đẩy thực hiện vấn đề này. Họ sẽ can thiệp và có những biện pháp mạnh sử lý Hà Nội khi vi phạm. Những buổi điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành nghị quyết của các Tổ chức tranh đấu Nhơn quyền và Dân chủ… đều là những hình thức lên án Hà Nội vô cùng hữu hiệu đã làm cho đảng cộng sản phải lo tìm tìm cách đối phó. Hà Nội rất sợ phản ứng của các cơ quan, tổ chức, như: Bộ Ngoại giao Mỹ, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện Châu Âu, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI)…vì trong các báo cáo hàng năm đều xếp Việt Nam vào danh sách những nước vi phạm Nhơn quyền nghiêm trọng. Thực tế, Việt Nam vẫn tiếp tục chẳng những đàn áp người dân tộc thiểu số mà còn sát hại hàng loạt người dân tộc thiểu số như vừa rồi giết gần 60 người Hmong, đàn áp và cướp đoạt tài sản tôn giáo, khủng bố các chiến sỹ Nhơn quyền và Dân chủ, cướp đoạt tài sản của nhơn dân và nhứt là của nông dân, xuất khẩu lao động thu tiền trong chiến dịch xóa đói giảm nghèo vừa khéo léo cướp đoạt ruộng đất thế chấp ngân hàng của nông dân ghèo Miền Bắc và Trung. Hà Nội bị thế giới lên án vi phạm nhơn quyền vì vẫn duy trì và áp dụng Nghị định 31/CP nhằm bỏ tù tại tư gia mọi người một cách tùy tiện.

Hà Nội bị bao vây trong Mặt Trận Nhơn quyền và Dân chủ


Đáng chú ý gần đây, trong báo cáo nhơn quyền năm 2009, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tiếp tục lên án Việt Nam gia tăng đàn áp những người tranh đấu Dân chủ và Nhơn quyền ôn hòa, các nhà báo nói sự thật, các blogger, tước đoạt quyền tự do ngôn luận, lập hội, tự do tôn giáo, sử dụng hệ thống tư pháp đàn áp những người bất đồng chính kiến, ngăn cấm thành lập các công đoàn độc lập của người lao động, tình trạng tham nhũng gia tăng, ….

Cùng quan điểm với Mỹ, ngày 17/3/2010, Bộ ngoại giao Anh công bố “Báo cáo Nhơn quyền năm 2009” của các nước trên thế giới. Nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của “Nhơn quyền” trong các mục tiêu chính sách can dự của Anh ở nước ngoài. Đáng chú ý là Anh cũng đưa Việt Nam vào danh sách 22 nước cần đặc biệt quan tâm về “Nhơn quyền” vì trong năm 2009, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những vi phạm Nhơn quyền mang tánh cơ bản như tự do bày tỏ chính kiến, tự do báo chí, tự do lập hội, …đều không được thừa nhận tuy những quyền đó có ghi trong Hiến pháp 92.

Trong Quốc hội Mỹ, một số Nghị sĩ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam, liên tục đòi tổng thống Mỹ Obama đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (C.P.C). Ngày 25/3/2010, Uỷ ban Nhơn quyền thuộc Hạ viện Mỹ tổ chức điều trần về tình hình Nhơn quyền Việt Nam đã nhận định hết sức sát thực tế “tình hình Nhơn quyền Việt Nam ngày càng sa sút” và ủng hộ thông qua “Dự luật Nhơn quyền Việt Nam” (HR.3096). Ngoài ra, chính quyền Obama tái khẳng định tiếp tục thúc đẩy thực hiện “tự do”, “dân chủ”, “Nhơn quyền” trên toàn thế giới vì đó là “Đạo lý trách nhiệm của Huê kỳ” (Ethique de responsabilité)

Cùng lập trường với Mỹ về Mặt Trận Dân chủ và Nhơn quyền, Liên Hiệp Âu châu thông qua hoạt động hợp tác văn hoá, giáo dục, đang công khai hoặc ngấm ngầm khích lệ xu hướng chống đối nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu “dân chủ hoá” Việt Nam.

Tác giả Mai Anh cho rằng nhiều nước, nhất là các nước trong Liên Hiệp Âu châu luôn tìm cách gắn liền vấn đề hợp tác phát triển viện trợ, đầu tư với những điều kiện đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhơn quyền như mở rộng tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, đòi cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài được tham dự các phiên toà xét xử những người bị bắt vì lý do chánh trị và nhơn quyền, đòi thả những “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”.

Mai Anh không đồng ý các nước Huê kỳ và Tây phương cho rằng Nhân quyền mang tính phổ cập toàn cầu vì Nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia. Khi phủ nhận điều đó, Mai Anh đã quên con người có trước quốc gia, chánh trị là sản phẩm của con người để phục vụ con người, chớ không phải để khủng bố con người. Nên hiểu Nhơn quyền không phụ thuộc vào tính đặc thù văn hoá, xã hội của từng quốc gia, từng khu vực. Vả lại, Việt Nam đã tham gia 2 Công ước Quốc tế về Quyền Chánh trị và Kinh tế xã hội thì luật pháp Việt Nam phải phù hợp với tinh thần của hai văn kiện đó. Không tôn trọng điều đã ký là lật lộng. Mà lật lộng vốn là bản chất cố hữu mang tính phổ quát của cộng sản.

Tác giả Mai Anh cảnh cáo đảng là các thế lực thù địch vận dụng dụng Dân chủ, Nhơn quyền để phá hoại tư tưởng, tác động “tự diễn biến hòa bình” vào nội bộ đảng cộng sản.

Cũng Mai Anh cho rằng “các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng; đưa ra các quan điểm sai trái cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với trình độ phát triển của khoa học, công nghệ nhanh chóng như hiện nay; chế độ XHCN không còn thích hợp để làm suy giảm niềm tin của quần chúng đối với chế độ”.

Những lời phản bác của Mai Anh trên đây không thể bênh vực cho đảng cộng sản không suy thoái đạo đức được vì làm sao Mai Anh trả lời về tài sản của cán bộ lãnh đạo các cấp? Cụ thể lương của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng bao nhiêu một tháng? Còn chủ nghĩa Mác-Lê, chế độ xhcn nếu có giá trị thì tại sao toàn khối Liên-sô, nơi sản sanh ra nó, lại sụp đổ trọn vẹn chỉ trong một thời gian ngắn? Phải chăng vì tự nó không còn cần thiết tồn tại nữa? Và Mai Anh nên nhớ chỉ có cộng sản mới có khả năng giết cả trăm triệu dân của chế độ? Vậy cái thứ này có nên tồn tại chăng?

Sau cùng Mai Anh lo sợ cách tranh đấu của Người Việt Hải ngoại là vận động Hạ viện Mỹ, Nghị viện châu Âu… ban hành các “Dự luật”, “Nghị quyết”, “Báo cáo”… tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động của Người Việt Hải ngoại chống phá chế độ. Đồng thời Mai Anh cũng thừa nhận những cuộc biểu tình, hội thảo, các diễn đàn trên mạng, liên hệ những tổ chức tranh đấu hải ngoại với trong nước là nguy hiểm cho chế độ.

Thuận lợi mới

Đầu thập niên 70, cả thế giới, cả bạn đồng minh của Việt Nam, đều tỏ ý muốn Miền Nam Việt Nam hãy mất đi cho mọi người được nhẹ nhõm. Ngày 30/04/75 xảy ra, Miền nam mất vào tay cộng sản Hà Nội, quả thật chẳng thấy ai tỏ lòng thương hại. Tiếp theo thảm cảnh thuyền nhơn Việt Nam là hiện tượng di dân đầu tiên vĩ đại của loài người, gồm đủ hạng người, đủ lớp tuổi, đã làm cho thế giới ngoảnh mặt nhìn lại con người Việt Nam với lòng thương hại. Phản ứng của thế giới chỉ vì lòng nhơn đạo phải có, không nghĩ tới số phận của Miền Nam Việt Nam bị chính họ ra tay khai tử.

Hai Hiệp định chấm dứt chiến tranh cho Việt Nam trong đó có ghi đậm nét “Quyền Tự Quyết Dân tộc” đều bị những nước ký kết bảo đảm việc thi hành Hiệp định làm ngơ khi cộng sản Hà Nội xé bỏ.

Nhưng ngày nay, sau khi khối cộng sản Liên sô và Đông Âu sụp đổ, thế giới như bừng tỉnh với lẽ phải nhơn loại. Trước hơn hết, Huê kỳ vì "đạo lý của niềm tin" ở lẽ phải, không chờ đợi sự chấp thuận của LHQ, một mình tiến dánh dẹp Irak, một nhà cầm quyền độc tài ác ôn và mối nguy cho thế giới. Trong vừa qua, LHQ đồng thanh chấp thuận cho các quốc gia Huê kỳ và Tây phương can thiệp bảo vệ dân chúng các nước Á-rặp nổi lên lật đổ chế độ độc tài ác ôn cai trị lâu đời xứ họ. Huê kỳ đã hành xử theo “đạo lý trách nhiệm” vì trước đây Huê kỳ và cả Tây phương đã suốt thời gian dài ủng hộ các chế độ độc tài đó.

Phản ứng đồng loạt của thế giới ngày nay về thiên tai ở Thái-lan năm 2004, ở Nhựt vừa qua và cuộc cách mạng dân chủ ở các nước Á-rập cho thấy cùng với sự toàn cầu hoá vừa nảy sanh tình cảm về lòng vị tha, tính bao dung. Lòng ích kỷ, hẹp hòi của cuối thế kỷ XX đã cáo chung. Khi thấy xe tăng của Khadafi cán dân chúng, bom dội xuống để dẹp cuộc biểu tình đòi Nhơn quyền và Dân chủ, thế giới không thể chịu nổi. Họ bảo nhau không thể để như vậy được. Tình cảm vị tha này đã lập tức tiến thẳng vào trụ sở LHQ.

Ngày nay, lần đầu tiên trong lịch sử nhơn loại, con người thật sự đang phải đối diện với sự tự hủy thể bởi con người có xu hướng tiến tới một nền văn minh toàn cầu, được cai trị chung, liên hệ với nhau thường xuyên, phải vượt qua những thử thách, những nguy hiểm chung.

Hơn bao giờ hết, nay thật sự là lúc thuận lợi về cả hai mặt: quan điểm của thế giới và sự suy thoái của chế độ, để chúng ta, người Việt yêu chuộng Dân chủ Tự do, cùng nhau nỗ lực, kết hợp trong ngoài, nắm tay nhau tranh đấu cho Việt Nam sớm có đưoc chế đô dân chủ tự do để mọi người được sống đúng nhơn phẩm của mình.

Nguyễn văn Trần

thunder  
#114 Posted : Monday, May 16, 2011 5:22:54 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

NGƯỜI CẦM BÚT TRONG THỜI CHIẾN


Dù ở tại hải ngoại, đang tự do an hưởng một đời sống thanh bình với đầy đủ quyền hạn của một công dân, nhưng không thể quên rằng, chúng ta đứng trước một cuộc chiến không quy ước và đang trực diện với một kẻ thù gian manh nguy hiểm : Đó là tập đoàn cộng sản Việt Nam và bè lũ của chúng.

Những ai bỏ nước ra đi vì lý do chính trị, nếu còn chút tình đối với Quê Hương Dân Tộc, chắc chắn không thể khoanh tay làm ngơ trước hoàn cảnh đồng bào trong nước đang khổ đau dưới chế độ áp bức tàn bạo của bè lũ việt gian cộng sản…Nếu nói về những người cầm bút thì bổn phận còn nặng nề hơn nữa, vì chính thành phần nầy, hơn ai hết, phải nhận lấy một phần trách nhiệm tư tưởng đối với tập thể trong công cuộc tranh đấu của toàn dân nói chung, và cho cộng đồng người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, nói riêng.(Xin bấm vào hình để đọc toàn bài viết)

Trước tiên, đề cập đến giới cầm bút trong nước. Trừ thành phần bưng bô cho việt gian cộng sản, đa số còn lại cũng vì miếng cơm manh áo và mạng sống, họ phải nhắm mắt đưa chân, an phận làm kiếp ký sinh hoặc bán linh hồn cho quỷ dữ. Trái lại, đối với những người cầm bút chân chính thì hoàn toàn bị nhà cầm quyền cô lập từ tư tưởng đến kềm chế tinh thần cũng như việc kiểm soát hành động. Họ buộc phải im lặng. Ngoài ra, hành phần nầy không đủ phương tiện để lo ngày hai bữa, đó là chưa đề cập đến khả năng tài chánh để trang bị cho mình các phương tiện truyền thông…Do đó một số nhà văn trong nước dù có hoàn thành tác phẩm của mình nhưng không thể in ấn, phổ biến dưới chế độ kiểm duyệt hay chuyển ra nước ngoài. Tuy nhiên mấy năm gần đây, một số nhà tranh đấu, có thể xem như những chiến sĩ bóng tối, qua ngòi bút, họ đã xử dụng tối đa các blogs và facebook để nói lên quan niệm chính trị cũng như những nỗi trăn trở của mình trước thời cuộc. Nhờ đó người Việt hải ngoại đã theo dõi được tình hình cũng như những biến cố vừa xảy ra trong nước. Tuy nhiên, mọi việc cũng không dễ dàng dưới một chế độ bưng bít thông tin mà Hà Nội đã đưa lên hàng đầu, như vấn đề kiểm soát tư tưởng và hành động của người dân, nhất là đối với thành phần cầm bút không nằm trong các tổ chức văn hóa của cộng sản.

Bình thường người cầm bút bao giờ cũng mong được sự ủng hộ cũng như thương mến của độc giả, và trước tình trạng bát nháo chính trị hiện nay, người nào muốn yên thân thì không nên đụng chạm cũng như đừng bao giờ làm mất lòng bất cứ một ai, bạn hay thù, thân quen hoặc xa lạ... Có lẽ vì lý do nầy mà đa số người cầm viết chuyên nghiệp cũng như tài tử từ quốc nội ra đến hải ngoại đều né tránh hai chữ ‘chính trị’ và chưa ai can đảm xác nhận việc dùng ngòi viết tham gia vào hoạt động chính trị. Có lẽ họ nghĩ rằng muốn trở thành một nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa của thời bình thì phải tránh xa các tổ chức tranh đấu hiện nay của toàn dân. Ngoài ra, một số người cầm bút còn xác nhận rằng, muốn tránh mất lòng độc giả thì phải đứng ngoài và đứng trên tất cả hoạt động chính trị. Vậy trước tình trạng đất nước hiện nay, họ được xem như thành phần trốn bổn phận người cầm viết, hay nói một cách khác, tránh trách nhiệm của ‘người lính’ trong thời chiến. Như vậy, thành phần nầy có khác gì hơn là những người trốn quân dịch trước kia !

Đối với giới cầm bút hải ngoại, ngoài các nhà-văn-nhà-thơ-nhà-báo kỳ cựu, còn xuất hiện hàng ngàn ‘trăm hoa đua nở’ sau 36 năm định cư của người Việt tỵ nạn trên các vùng đất tự do. Nhưng những cầm bút, có tinh thần, biết nghĩ đến quốc gia dân tộc và tham gia tranh đấu giành miếng cơm manh áo, tự do dân chủ cho người dân trong nước…thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Dù ít, nhưng là những người can đảm, chấp nhận tất cả gian nan cũng như ‘tai nạn’ xuất phát từ đâu và bất cứ dưới hình thức nào…một khi họ quyết định dùng ngòi bút để phục vụ lý tưởng. Vậy những người nầy đã hành xử đúng vai trò của một người cầm bút trong thời chiến, hay có thể xem như một người lính, để cùng cộng đồng hải ngoại cũng như đồng bào trong nước đứng lên đánh đổ chế độ việt gian cộng sản.

Còn lại đa số đều quan niệm phải đứng ngoài chính trị. Họ dùng văn thơ chữ nghĩa để phục vụ văn hóa thuần túy hoặc để tự phục vụ cá nhân. Biết bao hội đoàn ở hải ngoại nhân danh hai chữ ‘văn hóa’ nhưng không bao giờ quan tâm việc bảo vệ văn hóa tự do nhân bản, không chào cờ Quốc Gia mỗi khi hội họp. Tệ hơn nữa, đôi lúc còn bắt tay phối hợp hoặc bám vào các cơ sở văn hóa đỏ của việt gian cộng sản để trục lợi. Những người còn giữ căn cước tỵ nạn rất buồn khi thấy rằng rất ít hội văn hóa tại hải ngoại công khai ra mặt chống chế độ việt gian cộng sản hoặc tẩy chay những cơ sở văn hóa đỏ mà thành phần cò mồi thường tổ chức nhằm phá rối cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại theo nghị quyết 36 của Hà Nội.

Tóm lại, thành phần cầm viết đứng trong hàng ngũ tranh đấu, tức là những người chấp nhận rủi ro cũng như khó khăn để chọn cho mình con đường đi đến mục đích theo tiếng gọi của lương tâm :

1. Có thể nói đa số người cầm bút không tham vọng chính trị, nếu người nào dấn thân vào công cuộc tranh đấu chung thì cũng là thực hiện một hoài bảo nào đó cho lý tưởng. Ngoài ra họ còn xem việc tranh đấu như một đam mê để viết…nhằm giải tỏa những trăn trở ấp ủ trong lòng từ lâu nay…Họ không cần chỗ ngồi, chức vụ, không cần tạo niềm tin để kiếm phiếu cử tri qua các cuộc bầu cữ và cũng không nghĩ đến phần thưởng danh vọng và vật chất trong mai sau. Do đó, những người cầm bút không cần nịnh bợ o bế và cũng không sợ mất lòng ai khi viết ra những điều suy nghĩ trong đầu.

2. Chịu thua thiệt về nhiều phương diện. Quan trọng nhất là mất cảm tình và sự tránh né của gia đình, anh em, dòng họ, bạn bè (vì những người nầy sợ dây dưa với những kẻ được việt gian cộng sản gán cho cái tên là ‘cực kỳ phản động’) vì những người nầy sợ gặp rắc rối mỗi khi đi về Việt Nam. Về mặt văn chương, người cần bút tranh đấu sẽ mất phần nào lòng ái mộ của độc giả - nhất là phái nữ và giới trẻ - khi hai giới nầy đang bị ảnh hưởng văn hóa đỏ công sản là tránh đề cập đến hai chữ ‘chính trị’.

3. Trong giới văn học đã khó tránh được chỉ trích ganh tỵ của vài đồng nghiệp, người cầm bút, nếu còn vướng thêm vào con đường chính trị thì không khỏi bị các mũi dùi từ nhiều phía, trong đó là những đoàn thể, hội đoàn cũng như cá nhân sẽ công kích mỗi khi có một vấn đề gì có liên quan hay va chạm đến quyền lợi của họ. Nhưng dù phải đối đầu với nhiều trở ngại, một khi đã là người cần bút tranh đấu với chủ trương chống cộng một cách công khai, thì không bao giờ chịu buông tay trước hăm dọa của tập đoàn Hà Nội cũng như đánh phá, bôi nhọ của thành phần nằm vùng, hoà giải hoà hợp và các tổ chức cơ quan ngoại vi của tập đoàn việt gian cộng sản.

4. Từ bỏ những thú tiêu khiển cần thiết của tuổi già : Không nghỉ hè, không du lịch, không ngồi quán café, không bạn bè, không ăn nhậu, không tiệc tùng… mà suốt ngày tự giam mình trước máy vi tính, có nghĩa là tự rút ngắn thời gian quý báu của những ngày còn lại. Những người cần bút tranh đấu nầy bất chấp và thách thức thí mạng với việt gian cộng sản thì sá gì những lời hăm dọa đánh phá của những người điên khùng, thành phần nằm vùng cũng như hạng vô liêm sỉ giấu mặt đổi tên để đánh phá…

Có thể kết luận, người cầm bút tranh đấu có lý tưởng thì không thể đóng vai con lừa…ngoan ngoãn theo sau bó cỏ. Cũng như không thể đóng vai con ngựa, chỉ biết tuân lệnh dây cương và ngọn roi… Đó là điểm then chốt mà việt gian cộng sản và bè lũ không bao giờ mua chuộc được những người cầm bút chân chính.

Việt gian công sản xếp thành phần cầm bút vào loại nguy hiểm của chế độ. Chúng biết rằng, một ngòi bút có thể ví như một binh đoàn trên mặt trận chống cộng sản, do đó, chúng đã công khai ra lệnh cho các tổ chức tình báo, gian điệp, công an, đầu gấu, mafia... phải triệt hạ cho bằng được giới cầm bút chống cộng. Nhưng thành phần tranh đấu nầy, một khi đã đương đầu với cộng sản thì chấp nhận một mất một còn với chúng. Chỉ buồn một điều là ngay trong hàng ngũ người Việt Tỵ Nạn cộng sản hải ngoại vẫn còn một số người luôn vỗ ngực xưng danh là lính, là vua chống cộng…nhưng lại đi đúng rập theo con đường âm mưu của địch để hãm hại những người cầm bút tranh đấu.

Đồng bào trong nước cũng như người Việt Quốc Gia hải ngoại đang cần nhiều ‘binh đoàn’ cho cuộc chiến giành lại tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc cho người dân. Vậy xin tha thiết kêu gọi những vị cầm bút hãy tham gia vào lực lượng chống cộng bằng chính ngòi viết của mình.

Đinh Lâm Thanh
Paris, 22.4.2011

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
phamlang on 5/18/2011(UTC)
thuylinh  
#115 Posted : Monday, May 16, 2011 9:49:03 AM(UTC)
thuylinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 534
Location: Canada

Thanks: 1187 times
Was thanked: 353 time(s) in 196 post(s)

Thời đã qua rồi ...

Giao Chỉ, San Jose.


Lời nói đầu :

Theo tin thời sự của cộng đồng Việt hải ngoại,

bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân mới qua đời tại Âu Châu. Ông Nguyễn Cao Kỳ, sau thời gian về Việt Nam tới lui làm duyên với chính quyền Hà Nội, nay lại trở về tạm cư tại Texas, Hoa Kỳ.

Bà Nhu ra đi hưởng thọ 86 tuổi. Ông Kỳ vẫn còn khỏe mạnh nhưng năm nay cũng đã ngoài 80 tuổi. Một người là phụ nữ nổi tiếng của đệ nhất Cộng Hòa. Một người là nam tử mà vai trò hết sức ồn ào thời đệ nhị Cộng Hòa. Bây giờ viết về hai nhân vật danh tiếng nam và nữ, xem lại sự so sánh có phần khập khiễng. Kẻ mất người còn, tưởng rằng không cân xứng. Tuy nhiên chúng tôi không thể so sánh bà Lệ Xuân và bà Tuyết Mai. Cũng không thể so sánh ông Ngô Đình Nhu với ông Nguyễn Cao Kỳ.

Phải viết về bà Trần Lệ Xuân và ông Nguyễn Cao Kỳ mới ra chuyện. Cả hai người đã có những điểm rất gần gũi. Cả hai đều nói năng hành động khác thường thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Cả hai đều trải qua cuộc sống thật dài sau khi “Thời của họ đã qua rồi”. Nhưng cách sống cuả hai người sau chính trường mới khác nhau biết chừng nào.

UserPostedImage

Mùa Xuân diễm lệ.


Bà Trần Lệ Xuân sinh trưởng tại miền Bắc năm 1924. Năm cô 16 tuổi gia đình ông bà Trần Văn Chương quen biết chú Ngô Đình Nhu và năm 18 tuổi cô Xuân vốn đạo Phật đã lấy chồng theo công giáo. Lệ Xuân theo chồng về định cư tại Đà lạt sinh được 3 trai và 2 gái.

Số mệnh thay đổi khi ông Ngô Đình Diệm trở thành vị tổng thống độc thân. Ông em Ngô Đình Nhu trong vai trò cố vấn chính trị toàn quyền đã đưa hình ảnh bà Nhu thành người thay thế đệ nhất phu nhân. Từ một phụ nữ nội trợ cô Lệ Xuân trở thành dân biểu, chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên Đới, sáng lập Thanh nữ Cộng Hòa, tác giả đạo luật gia đình và sau cùng “Mùa Xuân Diễm Lệ” trở thành biểu tượng của một phụ nữ Việt Nam tranh đấu cho nữ quyền với chiếc áo dài hở cổ. Bà đón tiếp phái đoàn quốc tế, bà chủ tọa quốc lễ Trưng Vương.

Vinh quang lên cao nhất khi Saigon xây dựng tượng Hai bà Trưng đã lấy hình ảnh của bà Nhu làm khuôn mẫu. Người ta còn nhớ vai trò của bà nổi bật vào những ngày tháng cuối của đệ nhất Cộng Hòa. Trong dinh Độc Lập bà luôn luôn là người thuộc phe chủ chiến. Những lời phát biểu hết sức thiếu văn hóa và thiếu chính trị của bà đã làm cho quần chúng tức giận. Đặc biệt là dư luận Hoa kỳ ảnh hưởng quan trọng tại Việt Nam. Báo chí Việt và ngoại quốc rất thích thú đăng tải. Khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm thơ ca ngợi ngọn lửa từ bi soi sang cuộc đấu tranh thì bà Nhu lên tiếng nói lời tai hại nhất. Bà tuyên bố sẵn sàng tiếp thêm xăng viện trợ cho phe Phật giáo đấu tranh để nướng các nhà sư tự thiêu. Báo chí Hoa Kỳ đăng hình ảnh nhà sư tự thiêu cùng lời bình luận của bà cố vấn. Tướng lãnh Mỹ bên phái bộ quân sự vẫn hết lòng yểm trợ Việt Nam đã lắc đầu than rằng: “Sẽ tận thế vì tấm hình này.” Cho đến ngày nay, đoạn phim đáng tiếc của bà Nhu vẫn còn phổ biến tràn đầy trên Utube.


Dưới thời đệ nhất Cộng Hòa, bà Nhu đã đóng góp nhiều công sức về việc xây dựng chế độ, đấu tranh cho nữ quyền, nhưng đồng thời cũng đã làm nhiều điều tai hại cho chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm. Cho đến khi cả tổng thống và ông cố vấn phu quân cũng phải đồng ý đưa bà ra ngoại quốc gọi là để thuyết phục dư luận, nhưng thực sự là để tránh cho bà làm Saigon thêm rối rắm.
Thêm vào đó, lại còn chuyện cha mẹ bà Trần Lệ Xuân là ông bà Trần Văn Chương. Năm cuối cùng của triều đại nhà Ngô thuộc đệ nhất Cộng Hòa, ông đại sứ họ Trần ở Hoa Thịnh Đốn đã lên tiếng chống lại chính quyền Saigon vì đàn áp Phật giáo

Bà Trần Lệ Xuân ra đi với sứ mạng vận động dư luận Âu Châu và Mỹ Châu cùng với cô con gái Ngô Đình Lệ Thủy. Báo chí Hoa Kỳ viết rằng mẹ con bà Rồng cái và Rồng con đi tuyên truyền cho chế độ. Nhưng bà không ngờ đây là lần vĩnh biệt gia đình,vĩnh biệt chế độ và vĩnh biệt quê hương.

Lệ Xuân của “Mùa Xuân Diễm Lệ” trở thành “Nước Mắt Mùa Xuân”.


UserPostedImage

Số phận cay nghiệt.

Bà là người phụ nữ một thời hết sức quyền uy và danh tiếng. Chồng là cố vấn tối cao của triều đại nhà Ngô. Các anh em nhà chồng là tổng thống, là tổng giám mục, là đại sứ bên Âu Châu, là cố vấn chỉ đạo chính trị miền Trung.Thân phụ của bà là đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn. Chỉ một sớm một chiều cả đại gia đình tan nát. Ông tổng thống và bào đệ bị giết trong cách mạng. Em chồng bị cách mạng xử tử. Tổng giám mục mất chức. Cha mẹ bà bị thảm sát tại Hoa Thịnh Đốn. Sau cùng con gái yêu của bà là Ngô Đình Lệ Thủy bị tai nạn chết. Quả thật Lệ Xuân chỉ đơn thuần là nước mắt mùa Xuân. Mùa Xuân Diễm Lệ của một thời Đà Lạt và một thủa Saigon sẽ không bao giờ trở lại.

Những ngày tháng cũ.

Suốt từ sau chuyến đi 1963, người ta không hề thấy tin tức về bà Ngô Đình Nhu. Trừ một lần NBC phỏng vấn. Sau đó bà không hề lên tiếng. Cho đến năm 2002, một luật sư Việt Nam tại Seattle, ông Trương Phú Thứ có dịp gặp lại và viết bút ký về chuyến thăm viếng đặc biệt với bà Trần Lệ Xuân tại Paris. Một số tin tức về hoàn cảnh gia đình được phơi bày. Đơn giản và trung thực. Tác giả kín đáo đề cao cuộc sống đạm bạc và nhân bản của người phụ nữ đã một thời hết sức danh tiếng tại Việt Nam. Bà không nói về chuyện chính trị, chuyện oán thù. Chỉ là những lời hỏi thăm về gia cảnh và cuộc sống thường nhật. Những đứa con, những đứa cháu. Không một lời nói về tiếng khen chê và lời đồn đãi. Không nói đến đau thương tang tóc. Tuyệt đối không tuyên bố hay nhận định.

Xem ra, ngoài những hành động và lời nói của bà Nhu gặp báo chí Việt Mỹ trong thời kỳ đệ nhất Cộng Hòa. Từ đó đến nay không có gì để viết thêm về người phụ nữ một thời đã nổi danh là Newsmaker của Saigon. Ngay khi được tin tổng thống và chồng bà bị giết lúc bà đang ở Hoa Kỳ năm 1963, bà lập tức bay qua Âu châu, tấm lòng tan nát chờ đón đám con vừa mồ côi cha. Sau này bà chỉ trở lại Mỹ một lần cho cháu út thăm ông bà ngoại. Từ đó đến nay bà không về Việt Nam, cũng không trở lại Mỹ. Đối với bà Việt Nam cộng sản vốn thù nghịch đã đành, nhưng Hoa Kỳ cũng chẳng phải là đồng minh.

Khi cụ bà Trần Lệ Xuân bước vào thế kỷ 21 đã ngoài 80 tuổi.
Bà nói rằng : Thời của tôi đã qua rồi.
Câu nói đáng được khắc trên bia đá.


UserPostedImage



Ngược đường lịch sử.

UserPostedImage

Nhưng đối với Nguyễn Cao Kỳ, ông luôn luôn hành động như thời của ông không bao giờ qua đi. Ông là con người nổi nang ồn ào nhất thời đệ nhị Cộng Hòa. Giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ đảo chánh, binh biến giữa hai nền Cộng Hòa, Nguyễn Cao Kỳ cũng luôn luôn là Newsmaker. Ông làm cách mạng, ông làm tư lệnh không quân, ông bỏ vợ, ông lấy vợ, ông làm thủ tướng chính phủ Saigon, ông làm phó tổng thống trong cánh trái dinh Độc lập, ông về làm vườn ở Khánh Dương, ông ra cứu Saigon vào giờ thứ 25, ông di tản vào Pendleton, ông bán rượu ở Orange County, ông đánh tôm ở Lousiana, rồi ông lại bỏ vợ và lấy vợ. Một chuỗi dài thất bại. Sau cùng, ông làm môi giới cho tư bản về làm ăn ở Saigon. Ông ra Hà Nội nói là để chỉ dẫn cho chính quyền cộng sản cách giao thiệp với Hoa Kỳ. Ông ca ngợi lãnh đạo cộng sản. Bây giờ ông lại trở về Texas, chưa biết sẽ làm gì. Nhưng ông nghĩ rằng, dường như thời của ông vẫn còn mãi mãi..

UserPostedImageUserPostedImage
Giữa 2 nền Cộng Hòa

Thời của ông Kỳ thực sự chỉ ngắn ngủi có 2 năm cầm quyền với danh hiệu chủ tịch ủy ban hành pháp, một kiểu gọi mới của chức vụ thủ tướng giữa thời kỳ trái độn của 2 nền Cộng Hòa. Trong giai đoạn này, chính quyền của ông đã để lại cho chiến tranh Việt Nam tấm hình tướng Loan bắn tên đặc công Việt Cộng. Với nhận định của đồng minh Hoa Kỳ, sự nghiệp chính trị lâu dài của ông Kỳ không có tương lai, khi mà tấm hình tai hại này còn được phổ biến. Sau đó ông chỉ là phó tổng thống 1 nhiệm kỳ như một bóng mờ cạnh ông Nguyễn Văn Thiệu. Rồi ông chẳng còn chức vụ gì cho đến 1975 mất nước và cho đến ngày nay 2011, ba mươi sáu năm sau.

Vào tháng 4-1975 với sự nhận định tình thế sai lầm, với tánh nết bồng bột ồn ào, ông đã có những hành động tai hại chết người khi lên tiếng hô hào ở lại chiến đấu. Ông hô hào ở lại trên trường chỉ huy tham mưu tại Long Bình, ông hô hào quyết chiến tại họ đạo bên Gia định. Nhưng rồi ông lại ra đi. Bà Tuyết Mai nói rằng không ai có thể trách anh Kỳ được. Anh chỉ có 2 khẩu súng lục thì làm cái gì. Đúng như vậy, lúc đó ông không còn trách nhiệm ngoài chức vụ chủ trại cây Khánh Dương đã tan hàng. Không trách nhiệm, ông có thể ra đi như hàng ngàn người di tản, và đừng tuyên bố nhố nhăng. Nhưng ông đã nói lời tâm huyết tại Long Bình, cử tọa là các sĩ quan cao cấp lòng dạ đang tan nát vì gia đình còn kẹt tại miền Trung. Ông thề quyết tâm với họ đạo Saigon, những người di cư đã từng biết thế nào là cộng sản. Niềm tin nhỏ bé cuối cùng đặt tất cả vào ông. Như vậy, vào giờ phút cuối thì người tự vẫn phải là Nguyễn Cao Kỳ chứ không phải Nguyễn Khoa Nam.

Con chim khi chết.

Năm 1983 khi phê bình cuốn sách 20 năm của tác giả Nguyễn Cao Kỳ, tôi có dịp viết rằng. Con chim trước khi chết, tiếng hót bi ai, con người về già, trước khi chết, lời nói linh thiêng và ứng nghiệm. Vậy thì, niên trưởng của tôi, người đã một thời lãnh đạo, mỗi năm vào 30 tháng 4 báo chí Hoa Kỳ có hỏi bậy bạ, tôi xin niên trưởng lựa lời mà nói cho anh em khỏi tủi nhục. Ông đã từng hô hào anh em ở lại, biết bao nhiêu đứa chết, bao nhiêu đứa đi tù. Đau thương nhường đó, biết lấy gì đền bù cho hết! Tiếc thay, niên trưởng của tôi, suốt 36 năm di tản, chứng nào tật ấy, chỉ chuyên làm nhục anh em.



UserPostedImage UserPostedImage
Tôi làm tròn bổn phận....... Tôi sẵn sàng hợp tác.....


Cho đến mấy năm gần đây, ông muối mặt cam tâm đóng vai hàng thần lơ láo về nước nịnh bợ đám lãnh đạo cộng sản.Tôi chẳng còn biết dùng chữ nghĩa gì để phê phán ông, vốn một thời là thượng cấp của tôi. Có người nói rằng vì ông có tấm lòng yêu nước như trời biển nên về chỉ vẽ cho Việt cộng con đường theo Mỹ đánh Tầu. Có người lại nói rằng ông có mưu thần chước quỷ sẽ lèo lái cộng sản xây dựng đất nước. Sự thực anh em biết rõ, ông chỉ bố lếu bố láo để làm xấu mặt Việt Nam Cộng Hòa. Sau cuộc chiến, cộng sản giam giữ hàng trăm ngàn chiến binh nhưng không cải tạo được người nào. Tất cả đều bỏ nước ra đi. Không ai ngờ, chúng lại cải tạo được một anh tư lệnh trở về. Thật chán biết chừng nào.

Ông già thì tôi cũng già. Ông cao niên thì anh em cũng cao niên. Suốt cuộc đời, trải qua cái nhục mất nước, bây giờ lại thêm cái nhục là đã một thời được lãnh đạo bởi những người như niên trưởng.

Thôi thì những sai lầm thời cầm quyền ta tạm bỏ qua. Nhưng cái thời hết quyền lực trong tay, sao ông không học được gương sáng của bà Trần Lệ Xuân. Kể từ 1963 cho đến 2011 gần nửa thế kỷ, đúng ra là 48 năm. Người phụ nữ đó ở vậy nuôi con thành đạt. Sau 6 cái tang của chồng con cha mẹ và anh em. Bà đã hành xử đúng vai trò của một chính khách mà thời thế đã qua đi. Bà nói rằng:“Thời của tôi đã qua rồi”. Câu nói đáng được khắc trên bia đá.

Còn phần ông Kỳ, thời của ông thực sự đã qua ngay sau nhiệm kỳ thủ tướng. Nhưng ông cố lội ngược dòng lịch sử, không biết chấp nhận hoàn cảnh. Ông là người đất Sơn Tây nhưng không bao giờ xứng đáng với quê hương Sơn Tây của tướng quân Lê Nguyên Vỹ tư lệnh Sư đoàn 5 Lai Khê, người đã ở lại tự vẫn sáng ngày 30 Tháng 4-1975.

Bây giờ quí vị đã hiểu vì sao mà chúng tôi lại so sánh hoàn cảnh của bà Trần Lệ Xuân và ông Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 30 tháng tư lần thứ 36 đã qua rồi, lại sắp đến ngày quân lực tháng 6-2011. Nhiều năm qua, trên lưng đồi nón sắt phế thải, đàn em thấy chúng tôi nghênh ngang giữa đường nên thường chửi bậy. Mình biết mình tội lỗi cũng nhiều nên đành phải nhắc nhở: Chửi nữa đi em. Bây giờ, tất cả đều gần đất xa trời, xin phê bình niên trưởng Kỳ một lần cho rõ ràng. Xin phép dùng ngôn ngữ ông xếp cũ của tôi là trung tướng Dương Văn Đức khi phê bình Việt Cộng trong trại tù. Ai không biết thì hỏi anh em HO, nhiều người biết là ông Đức mắng mỏ cộng sản ra sao để rồi bị chúng dứt điểm.

Ngày xưa, thời kỳ 50, có anh trung úy Bắc Kỳ ngồi hầu chuyện đại tá Nam Kỳ, Dương văn Đức tại phân khu Sóc Trang. Trong câu chuyện đời, nghe ông dùng toàn ngôn ngữ với hàng họ dưới thắt lưng. Mở đầu chấm dứt bằng tiếng Đan Mạch. Ông chết trong tù vì phê bình cộng sản bằng ngôn ngữ của ông. Đ M, chơi ngon như vậy, ông mới đích thực là niên trưởng của tôi.


UserPostedImage Trung tướng Dương Văn Đức


Giao Chỉ, San Jose.

Edited by user Monday, May 16, 2011 9:53:40 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#116 Posted : Tuesday, May 17, 2011 10:40:06 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Mất gì ngày 30 Tháng Tư?


Tuesday, April 26, 2011

Từ giữa thế kỷ 20 môn kinh tế học mới bắt đầu chú ý đến luân lý như một tài nguyên; có người gọi thẳng là Love (tình thương), có người gọi là Civic spirit hoặc Civic Culture (tinh thần công dân), hoặc như Albert O. Hirschman từ năm 1970, gọi chung là các tài nguyên tinh thần (moral resources).

Gọi là một tài nguyên, người ta công nhận nó giống như một thứ “Vốn” chung của xã hội, nó có thể giúp gia tăng của cải, sẽ sinh lợi không khác gì các thứ vốn như tiền bạc, đất đai, hiểu biết, vân vân; và nó cũng có thể bị phí phạm, hao mòn, hay được làm cho đầy, cho phong phú thêm.

Dần dần, hầu hết các nhà kinh tế đã đồng ý “tài nguyên tinh thần” rất quan trọng, nên giữ gìn và phải học cách sử dụng sao cho hiệu quả nhất. Một thứ tạo nên tài nguyên tinh thần là Niềm Tin (Trust) trong xã hội. Kinh tế chỉ có thể phát triển nếu mỗi người ký một hợp đồng có thể tin rằng phía bên kia sẽ hết sức thi hành bản hợp đồng đó. Ngay cả những doanh nhân không thích ký hợp đồng, nhưng họ biết đang làm ăn những người đáng tin (quân tử nhất ngôn), khi bắt tay nhau là họ có thể tin nhau rồi, thì việc kinh doanh của họ rất phát đạt. Các Hoa kiều hải ngoại hay làm ăn kiểu đó. Nhưng nếu niềm tin được bảo vệ bằng các định chế chính thức của xã hội, như luật lệ, hệ thống tư pháp sạch sẽ và tòa án công minh, thì thứ tài nguyên đó sẽ giúp cho kinh tế phát triển rất mạnh. Chỉ khi nào chứng kiến những xã hội lạc hậu về kinh tế vì người dân không ai dám tin ai mà cũng không nghĩ người khác sẽ tin mình, thì mới thấy thiếu niềm tin là mất một tài nguyên kinh tế rất quan trọng. Trong các xã hội lạc hậu, mọi người sống ích kỷ không nghĩ đến người khác, không có lòng tôn trọng công ích hơn tư lợi, thì nền kinh tế không thể nào phát triển cao được; vì mọi người khó cộng tác với nhau.

Tại sao có những xã hội mà người ta tạo được tài nguyên tinh thần rất giầu, còn nhiều xã hội thì không? Tài nguyên tinh thần cần được gieo giống, rồi được tưới tẩm, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Muốn hiểu diễn trình cấu tạo nên tài nguyên tinh thần, có thể dùng một phương pháp kinh tế học là Game Theory (Lý thuyết Trò chơi). Một câu chuyện nổi tiếng là Chuyện Hai Người Tù (The prisoners dilemma). Ðại khái, có hai người bị bắt, nếu cộng tác với nhau cùng khai vô tội thì sẽ được bị án rất nhẹ, còn nếu nếu phản phúc thì cả hai sẽ bị án nặng nề. Nhưng hai người tù không tin được nhau. Khi suy xét một cách thuần lý, cuối cùng mỗi người tù thấy chọn đường phản phúc thì có lợi nhất, mặc dù cả hai đều bị thiệt. Trong xã hội, mọi người đều biết suy nghĩ như thế. Ðiều này trái ngược với nhận xét chung là trong rất nhiều xã hội người ta vẫn tin tưởng nhau, vẫn cộng tác với nhau. Làm cách nào giải thích được hiện tượng nghịch lý này?

Các nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội học đã thấy là có một cách để bảo đảm một người sẽ không phản phúc, là tiếng tăm. Nếu anh bị mang tiếng là hay phản phúc thì sẽ bị mọi người ruồng bỏ, không ai tin anh nữa, đó là một hình thức trừng phạt. Một “định luật” được công nhận là khi một người tham dự vào “nhiều cuộc chơi lập lại rất nhiều lần” (repeated games) thì dần dần họ sẽ sợ bị người chung quanh trừng phạt, do đó sẽ chọn hành vi cộng tác để được tín nhiệm. Có những điều kiện giúp cũng có luật chơi tín nhiệm này: Số người tham dự nhỏ (trong một xóm ai cũng biết ai, phản phúc là tự loại mình); hoặc thông tin về hành vi của mọi người đều dễ phổ biến cho tất cả biết (không cấm tự do thông tin, không có những quyết định trong các phiên họp bí mật); và các người tham dự biết giá trị của những lợi ích tương lai chứ không chỉ chú tâm đến hiện tại. Khi xã hội đã thiết lập được một hệ thống trừng phạt và tưởng thưởng như thế, niềm tin chung sẽ gia tăng. Nếu ngược lại, có lúc hệ thống tưởng thưởng và trừng phạt này bị phá vỡ vì xã hội theo những luật chơi mới, niềm tin sẽ tan mất. Muốn lập lại, phải bắt đầu cuộc chơi lại từ đầu, xây dựng niềm tin lên dần dần, mất nhiều thời gian.

Trước Hirschman có người đã nhận xét rằng Niềm Tin là “một thứ tài nguyên càng sử dụng thì càng giầu hơn chứ không bị hao mòn; nhưng nếu không được đem dùng thì nó sẽ dần dần tiêu tán.” Nó cũng giống như một kỹ năng (skill), chẳng hạn tài chơi đàn, hay nói được một tiếng ngoại quốc. Nó cũng không hiếm hoi như quặng mỏ hoặc trình độ giáo dục.

Albert Hirschman đưa ra một cách nhìn mới. Ông nhận thấy có hai trường hợp khiến tài nguyên tinh thần có thể bị hủy hoại: Một là khi nó không được dùng tới, sẽ hao mòn đi, như người khác đã thấy. Hai là nếu nó bị sử dụng nhiều quá, quá khả năng cung cấp của loài người, thì cũng sẽ giết chết nó.

Hirschman (năm nay 96 tuổi) đã nhìn thấy, từ 1970, 80, tình trạng tài nguyên tinh thần bị hao mòn hay bị hủy diệt, trong cả hai hệ thống kinh tế tư bản và cộng sản. Trong kinh tế tư bản, người ta không chú ý vận dụng tài nguyên tinh thần, vì rất khó đo lường để đưa nó vào phương trình kinh tế. Cho nên, tài nguyên tinh thần có thể bị hao mòn (atrophy) vì mọi người chỉ lấy lợi nhuận làm thước đo thành công. Nếu niềm tin còn tồn tại trong thế giới tư bản, đó là nhờ các định chế pháp luật và các quyền tự do dân chủ, chúng bảo đảm những người cộng tác được thưởng, kẻ phản phúc bị trừng phạt.

Trong hệ thống kinh tế cộng sản thì ngược lại. Họ tận dụng tài nguyên tinh thần, cổ động niềm tin vào chủ nghĩa, vào khả năng giới lãnh đạo; họ không coi niềm tin giữa các cá nhân là quan trọng như một tài nguyên tinh thần; vì tất cả đã được thay thế bằng niềm tin chung vào chủ nghĩa cộng sản. Chỉ cần động viên niềm tin vào đảng cho vững chắc là mọi chuyện sẽ thành tựu. Nhưng hệ thống kinh tế và chính trị cộng sản cổ động niềm tin quá khả năng cung cấp của tất cả mọi người, nhất là các đảng viên. Họ đưa ra những khẩu hiệu, như “Con người mới” của Fidel Castro, “Tự chủ” của Kim Nhật Thành. Ðiều nguy hiểm là sự thành công của cả hệ thống lại tùy thuộc vào tài nguyên tinh thần này. Cho nên họ đòi hỏi, “muốn có xã hội cộng sản phải có con người cộng sản.” Mà một mẫu người lý tưởng theo kiểu các tôn giáo vẫn đề cao như thế thì chỉ có trong tưởng tượng, không xã hội loài người nào đạt được. Hậu quả là hệ thống kinh tế cộng sản tạo ra một xã hội sống giả dối, dùng nhiều mặt nạ khi sống với nhau. Lối sống đó tất nhiên phá hoại tất cả tài nguyên tinh thần. Tình trạng tài nguyên tinh thần bị hao mòn là một phần nguyên do đã gây ra hậu quả kinh tế trì trệ rồi sụp đổ.

Ðảng Cộng Sản ở hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã “đổi mới kinh tế.” Họ đã khai thác ngay được một thứ tài nguyên lớn, là sức người. Chỉ cần họ nới lỏng guồng máy kiểm soát kinh tế; cứ cho người dân được thêm một chút tự do làm ăn là khả năng sản xuất của người ta chắc chắn sẽ tăng lên. Nhưng cả hệ thống chính trị của hai nước vẫn chưa nghĩ đến chuyện khôi phục lại các tài nguyên tinh thần đã bị mất. Ngược lại, việc họ tìm cách bảo vệ quyền lợi các đảng viên bằng hệ thống tham ô toàn diện còn làm cho các tài nguyên tinh thần bị hủy hoại mạnh và nhanh hơn trước. Tình trạng đạo đức giả chỉ tăng lên chứ không giảm đi, vì nó thể hiện từ cấp cao nhất: lý thuyết, tư tưởng chính thức của guồng máy cai trị. Họ vẫn nói đi theo chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng trong thực tế họ pha trộn một hệ thống tư bản thời hoang dã với một chế độ công an trị thời phát xít. Miệng đề cao công ích nhưng ai cũng chỉ lo vơ vét tư lợi. Tham ô và nhũng lạm quyền hành được phơi bầy công khai, trâng tráo, trong khi nhà nước vẫn hô hào chống tham nhũng. Tài nguyên tinh thần đã bị phá hoại toàn diện chứ không phải chỉ bị hao tổn như khi còn theo kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một độc giả Người Việt mới viết cho tòa soạn kể chuyến đi thăm quê hương mấy tháng. Vị độc giả nhận thấy guồng máy chính quyền bóc lột dân; chuyện đó nhiều người đã nói. Nhưng ông (hay bà) còn thấy, “người dân cũng bóc lột lẫn nhau vô tội vạ, đối xử với nhau bằng những cái mặt nạ nhân nghĩa giả dối trơ trẽn!”

Hồi đầu Tháng Ba năm 2011, ký giả Carl Robinson sau khi thăm Việt Nam, mới nêu một nhận xét: “Sau gần 60 năm cai trị của đảng Cộng Sản ở miền Bắc và hơn 35 năm ở miền Nam, tất cả người Việt Nam ngày nay theo chủ nghĩa cá nhân tột cùng. Thay vì tinh thần hướng về cùng một mục đích chung và đoàn kết với nhau thì bây giờ ai cũng chỉ lo cho bản thân mình, như tâm trạng sauve qui peux (ai chạy được thì thoát, tiếng Pháp trong nguyên văn)...” Robinson cho biết ông đã đi khắp nơi, gặp rất nhiều người ở Việt Nam trong 18 tháng trời.

Không biết Carl Robinson có đọc Albert O. Hirschman hay không, nhưng ông mô tả tình trạng ở Việt Nam hiện nay giống hệt điều mà nhà kinh tế đã nêu ra trước đây mấy chục năm: Lạm dụng tài nguyên tinh thần sẽ hủy hoại nó. Ông kể đã thấy người Việt Nam được đảng và nhà nước đối đãi giống như các học sinh trong các trường mà trong đó các vị giáo sĩ dạy trẻ những quy luật không bao giờ được ai theo cả: “Tất cả mọi người được coi như trẻ nít, được học giáo lý suốt ngày bằng những khẩu hiệu, các ngày lễ lạt, các giấc mơ vĩ đại. Khi tôi than phiền với một số người ở một thành phố ven biển gần đây về những bài phát thanh tuyên truyền mỗi sáng, một người cười lớn nói, Ðó chỉ là tuyên truyền thôi; chúng tôi không bao giờ nghe cả!”

Ðó là một cách tiêu diệt tài nguyên tinh thần một cách có hệ thống. Muốn xây dựng lại được vốn liếng tinh thần mà tổ tiên đã xây dựng trong mấy ngàn năm trước người Việt Nam biết sẽ phải làm gì. Phải thay đổi cách sống chung với nhau, tất cả mọi người. Một chế độ đã hủy hoại tài nguyên tinh thần của dân tộc hơn một nửa thế kỷ qua, không có lý do gì để tiếp tục việc tàn phá đó nữa.

Không phải ai cũng ở Việt Nam lâu ngày, được đi nhiều, thấy nhiều, gặp gỡ và chứng kiến nhiều cảnh sống để kết luận như ký giả Robinson. Nhưng chắc phần lớn mọi người quan sát đời sống ở nước ta hiện nay đều thấy nền tảng tinh thần, đạo đức đã bị xói mòn khá nặng nề trong mấy chục năm qua. Ðó là một sự mất mát lớn.

Tài sản mất sẽ tạo lại được. Của cải mất rồi có lúc lại làm ra, khá nhanh. Tự do bị mất, mất rất nhanh, ngay lập tức sau ngày 30 Tháng Tư, nhưng thế nào cũng sẽ đòi lại được, cũng không lâu lắm đâu. Nhưng có một thứ đã mất mất, mất từ từ chậm chậm; mà muốn phục hồi được rất khó, đó là nền tảng tinh thần của xã hội. Cái vốn tinh thần phải hàng ngàn năm mới dựng lên được. Khi muốn phá, chỉ cần một thế hệ cũng đủ. Muốn dựng lại, cần vài ba thế hệ mới hy vọng xong.

Vậy chúng ta đã mất gì sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975? Nếu nhìn lại lịch sử cả nước Việt Nam thì câu hỏi không còn là ngày 30 Tháng Tư nữa. Bởi vì chỉ có người Việt ở miền Nam bắt đầu thấy các tài nguyên tinh thần bị xói mòn từ ngày đó; còn đồng bào ở miền Bắc đã bị mất mát như vậy từ một phần tư thế kỷ trước, tính đến nay hơn 60 năm rồi.

Ngô Nhân Dụng

phamlang  
#117 Posted : Wednesday, May 18, 2011 11:11:53 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
PONCHOS BUỒN

Không biết từ bao giờ, chiếc áo poncho đã trở thành chiếc áo đi mưa của người lính VNCH. Thời chiến tranh Việt – Pháp, người lính Pháp dùng áo đi mưa bình thường như ta vẫn dùng, nhưng màu sắc là màu kaki. Bộ đội Việt Minh thì dùng “tơi” làm bằng lá cọ, rất bất tiện. Về sau họ được trang bị bằng tấm vải nylon được lén lút mua từ vùng “Tề”. Trong những món quân trang được cấp phát cho người lính, có tấm poncho màu ô liu, dùng để làm áo đi mưa. Ý nghĩ đấu tiên của người lính giản dị chỉ có thế. Nhưng khi vượt sông, người lính được chỉ cách dùng tấm poncho, gói tất cả ba lô, quân trang quân dụng, cột túm lại để trở thành cái phao mà vượt qua dòng nước. Khi đi hành quân, với hai tấm ponchos nối lại với nhau, một sợi dây căng dùng làm đòn dong, người lính đã có một “túp lều lý tưởng của anh và của em”, của ba người lính, hay ba chàng “ngự lâm pháo thủ”. Vì cần thêm một người lính nữa chung vào, tấm poncho thứ ba làm tấm drap trải nền. Người lính đi hành quân dài ngày, ngoài ba lô quân dụng, phải mang một cấp số rưởi đạn dược, nhiều trái lựu đạn, hành trang thường nặng trên 20 ki lô, nên ít ai mang theo chăn mền. Do đó tấm poncho thứ ba, khi đêm khuya lạnh lẻo giữa nơi núi non, hay vùng đồng không mông quạnh, đã trở thành chiếc mền cho ba người lính đắp chung. Ba người lính cùng dựng “túp lều lý tưởng”, cũng là tổ “Tam Tam” trong cơ chế quân đội, là đơn vị nhỏ nhất: tổ Tam Tam, Tiểu đội, Phân đội, Trung đội, Đại đội,…Khi đi vào những vùng khan hiếm nước, hay không có nước như mật khu Hắc Dịch thuộc tỉnh Phước Tuy chẳng hạn, người lính đào một cái hố cạn, phủ poncho lên trên, tạo thành một cái giếng cạn để hứng những giọt sương đêm, hay gặp may, có một cơn mưa nào bất ngờ chợt đến để hứng nước. Sau cùng, khi người lính hy sinh nơi chiến địa, tấm poncho đã trở thành chiếc áo quan “phủ kín thân xác của người chiến sĩ”. Bảo Định

UserPostedImage
Mùa hè đỏ lữa năm 1972, Tiều đoàn 2/43 cùng Đại đơn vị Sư đoàn 18BB nhảy vào An lộc thay thế Sư đoàn 5BB, trấn giữ Thị xã này của “Bình Long Anh Dũng”.

Ngày 12 tháng 6 năm 1972, khi lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới tung bay trên đỉnh đồi Đồng Long, người hùng An Lộc, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên VTVN: “Thành phố An Lộc đã được hoàn toàn giải tỏa”. Sau hơn hai tháng giao tranh, lực lượng tấn công cộng sản xâm lăng Bắc Việt với quân số đông gấp 4 lần lực lượng của QLVNCH, nhưng quân trú phòng đã gây cho chúng thiệt hại ít nhất là 30 ngàn quân trong tổng số 4 sư đoàn quân CSBV. Tổn thất về phía QLVNCH cũng khá nặng nề. Nhưng điều quan trọng là họ đã giữ vững được Thị xã. Mặc dù An lộc đã trở thành một địa ngục của trần gian! Mưu đồ của CSBV mong chiếm được An Lộc để đặt làm Thủ đô của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, con đẻ của Hànội, và làm bàn đạp tiến đánh Thủ đô Sàigòn hoàn toàn bị bẻ gãy. Cuối cùng bọn đầu lĩnh Bắc Bộ Phủ đành phải chọn Lộc Ninh, một quận nhỏ của tỉnh Bình Long, nằm cách biên giới Việt – Miên vài cây số để làm thủ đô! Thật là khôi hài!

An Lộc đứng vững là nhờ sức chịu đựng, tinh thần chiến đấu dũng cảm, và lòng hy sinh vô bờ bến của người lính VNCH. Họ là những chiến sĩ Nghĩa Quân, Địa Phương Quân tỉnh Bình Long của Đại tá Trần Văn Nhựt, Sư đoàn 5 của Tướng Lê Văn Hưng, vài đơn vị của Sư đoàn 9, Sư đoàn 18, Sư đoàn 21, Biệt Động Quân, và lực lượng Nhảy Dù. Hai câu thơ của một cô giáo An Lộc, được viết lên trên một tấm gỗ của thùng đạn pháo binh, cắm trước Nghĩa trang Biệt Cách Dù, ngay giữa khu phố chợ Bình Long:

“An Lộc Địa, sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân”

đã nói lên lòng biết ơn sâu xa của người dân địa phương đối với sự hy sinh cao cả của người lính VNCH.

An lộc đã đứng vững, các ngọn đồi chung quanh như Đồi Đồng Long, Đồi Gió, Đồi 169,…đã được tái chiếm. Quân CSBV bị thua nặng, bị kiệt quệ, nên thôi mở những cuộc tấn công thiêu thân. Nhưng vòng vây bao quanh thị xã vẫn xiết chặt. Không đũ khả năng hay không còn dám mở những cuộc tấn công bằng bộ chiến, chúng tấn công bằng trận địa pháo. Những trận mưa pháo liên tục trút lên thị xã nhỏ bé, ngày cũng như đêm. Những người lính VNCH tử trận không có phương tiện để mang về Hậu cứ trong hoàn cảnh súng phòng không dày đặc, đường bộ thì bị cắt tại Tàu Ô trên QL13, đành phải “vùi nông một nấm” tại chỗ. Nhưng mỗi tấc đất của An Lộc là một tấc lãnh đạn pháo của địch. Do đó chuyện “người chết hai lần, thịt xương nát tan” như lời một bài ca của Trịnh Công Sơn là chuyện thường tình. Tại An Lộc, Tiểu đoàn 2/43 đã có những người lính chết ba lần, bốn lần, thậm chí năm lần! Thử hỏi thịt xương còn gì? Không chỉ là nát tan!

Sư đoàn 18BB của Đại tá Lê Minh Đảo, sau khi nhảy vào An Lộc, để cùng với Trung đoàn 52 và một Tiểu đoàn của Trung đoàn 48 tăng phái cho Sư đoàn 5, đã có mặt tại đây ngay từ những ngày đầu của trận chiến, liền cấp tốc mở những cuộc hành quân tái chiếm những vùng đất bị mất, nới rộng vòng đai phòng thủ, hầu giảm thiểu những trận mưa pháo của địch. Phi trường Quản Lợi nằm cách xa thị xã An lộc lối 10 cây số về hướng Đông – Bắc. Trong thời kỳ quân đội đồng minh còn tham chiến ở VN, nơi đây là căn cứ của một Lữ đoàn Quân đội Hoa Kỳ. Người bạn đồng minh đã xây dựng tại đây những pháo đài, những bunkers rất là kiên cố để bảo vệ sân bay. Khi trận chiến An Lộc xảy ra, đây là địa điểm tốt để đặt sở chỉ huy của chúng, nhất là những dàn đại pháo để bắn vào An Lộc. Do đó, Tư lệnh Mặt trận Lê Minh Đảo quyết định bằng mọi giá, phải tái chiếm Phi trường Quản Lợi.

Vào một ngày đầu thu năm 1972, Sư đoàn 18BB đã mở cuộc hành quân cấp Trung đoàn để tái chiếm Phi trường Quản Lợi. Đây là vùng đồn điền cao su Đất Đỏ (Terre Rouge) của người Pháp. Từ An Lộc đi về hướng Đông theo con đường 303. Trước khi đến Phi trường, phải vượt qua một thung lũng hẹp. Đây là thung lũng mà những người lính của Tiểu đoàn 2/43 gọi là “Thung lũng Tử thần”. Chính cái thung lũng nhỏ hẹp này đã cướp mất biết bao nhiêu là sinh mạng của các chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43.

Từ sáng sớm, những phi cơ chiến đấu thay nhau trút bom đạn lên đầu giặc; tiếp theo là những tràn đạn pháo 105ly, 155ly. Những khẩu pháo này đã hoạt động liên tục trong suốt trận chiến, nòng súng bị nở rộng, đường khương tuyến bị mòn, nên bây giờ tác xạ không còn chính xác. Độ sai số có thể lên đến 500 mét! Sau những đợt mưa bom và đạn pháo, Tiểu đoàn 2/43 của Đại úy Nguyễn hữu Chế, khóa 13 Võ khoa Thủđức, và Tiểu đoàn 3/43 của Thiếu tá Lê Thanh Quang, khóa 16 Võ bị Đàlạt bắt đầu mở cuộc tấn công. Trước khi mặt trời lặn, hai tiểu đoàn đã tiến chiếm được một đầu phi đạo. Trận chiến diễn ra rất ác liệt, sự thiệt hại của cả hai bên đều khá cao! Nhưng quân bạn đã lập được đầu cầu, xua quân địch về bên kia và về cuối phi đạo! Cuộc hành quân chỉ tiến đến được ngang đó. Bên kia phi đạo là một dãy pháo đài và bunkers kiên cố của quân đội Mỹ để lại. Sức chống trả của địch thật mãnh liệt, quân bạn không thể tiến xa hơn. Sau nhiều ngày tạm nghỉ ngơi, một trận đánh quyết liệt đã diễn ra mà nổ lực chính là Tiểu đoàn 2/43 để giải quyết trận địa.

Tiểu đoàn được tăng phái Đại đội Trinh sát 43 của Đại úy Nguyễn Tấn Chi, khóa 12 Võ khoa Thủđức. Từ sáng sớm, bom và đạn pháo thay nhau trút xuống mục tiêu. Thời gian của cơn mưa bom đạn kéo dài gần suốt ngày. Trước khi tấn công, một màng khói nhân tạo, do những trái đạn khói pháo binh tạo thành, dày đặc, làm màng che cho bộ binh tiến lên. Trận đánh kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ để vượt qua một phi đạo không rộng lắm. Nhưng quân bạn không thể nào chiếm được những pháo đài và bunkers. Cộng quân với các khẩu súng cộng đồng 12ly7, đại liên, trung liên, SKZ, B40, B41 đã chống trả quyết liệt. Một vài toán quân tiến được qua bên kia phi đạo, nhưng không thể nào xâm nhập vào bên trong, đành phải bỏ cuộc, rút lui. Con số thương vong khá cao. Trời vừa tối, trước mặt vị Tiểu đoàn trưởng là 19 chiến sĩ QLVNCH nằm ngay hàng với tấm poncho phủ kín:

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại?
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng,
Poncho buồn liệm kín hồn anh.
Anh trở về bờ tóc em xanh,
Chít khăn sô lên đầu vội vã…Em ơi!”
(Kỷ Vật Cho Em – Phạm Duy)

Còn nỗi buồn nào hơn nỗi buồn này. Chỉ trong một cuộc tấn công ngắn ngủi, con số thiệt hại đã lên quá cao! Nhiệm vụ chưa hoàn thành. Mục tiêu vẫn chưa bị thanh toán. Bóng đêm đến nhanh. Ta và địch đều phải bận rộn lo việc tản thương và tiếp tế. Địch bên kia phi đạo. Ta ở bên này, mặt đối mặt, tất cả đều mệt mỏi rã rời! Không ai buồn bắn pháo vào nhau. Một đêm yên tĩnh trôi qua. Trời thu ảm đạm, mây đen vần vũ. Cơn mưa chợt đến. Gió núi từng cơn thổi qua. Người lính VNCH áo quần ướt nhẹp, co ro trong cái lạnh đầu mùa. Nhưng súng không rời tay, mắt đăm đăm nhìn về hướng địch đang cố bám bên kia phi đạo, để theo dỏi động tĩnh của đối phương.

Ngày hôm sau, trận đánh lại tiếp tục. Nhưng lần này Tiểu đoàn được tăng cường Trung đội Hỏa tiễn TOW của Chuẩn úy Phương, vị sĩ quan tốt nghiệp Trường Fort Benning bên Mỹ. Khi đưa Trung đội Hỏa tiễn TOW vào, Tư lệnh cho biết mỗi trái đạn trị giá 7 triệu đồng (vàng lúc đó là 20 ngàn/lượng). Hỏa tiễn TOW là loại vũ khí chống xe tăng ra đời vào khoảng năm 1945. Nhưng hình như chưa được tung ra mặt trận thì cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai chấm dứt. Không biết trong trận chiến tranh Cao Ly, quân đội đồng minh đã có dịp xử dụng loại hỏa tiễn này chưa. Trong chiến tranh Việt Nam, loại hỏa tiễn này chỉ mới trang bị cho QLVNCH từ hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, và chỉ mới xuống đến cấp Trung đoàn Bộ binh. Mỗi Trung đoàn có một Trung đội gồm hai khẩu, gắn trên xe jeep. Tầm bắn của viên đạn là 3000 mét. Khi viên đạn rời nòng súng, nó kéo theo một sợi dây kim tuyến. Chính nhờ sợi dây kim tuyến này mà ta có thể điều khiển viên đạn đến mục tiêu theo ý muốn. Trên ống nhắm có một chữ thập. Ta chỉ cần đưa chữ thập vào mục tiêu thì nhất định viên đạn phải trúng mục tiêu. Khi nổ, sức nóng tõa ra trên 3000 độ. Đặc biệt viên đạn có thể luồn lách qua những hàng cây như cây cao su. Đây là loại vũ khí chống xe tăng rất hữu hiệu. Chỉ tiếc rằng người bạn đồng minh đã viện trợ cho ta quá trể. “Mất bò rồi mới làm chuồng!” Cũng giống như hồi Tết Mậu Thân năm 1968, khi quân CSBV xâm lăng xử dụng AK47 để tấn công trên toàn cỏi VNCH thì người bạn đồng minh mới cung cấp cho ta súng M16. Sau này khi bộ đội CSBV xử dụng xe tăng T-54, ta mới được ông bạn quý nhượng lại cho M48, do họ rời chiến trường VN, nặng quá không tiện mang theo! Có lẽ ông bạn Mỹ không muốn ta thắng VC, chỉ muốn ta thủ huề! Họ sợ ta thừa thắng rồi mở cuộc Bắc tiến! làm mất thế cân bằng toàn cầu của họ. Ôi! Thương thay cho thân phận người lính của một nước nhược tiểu.

Vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/43 hân hạnh được bắn phát đạn đầu tiên. Viên đạn chạm trúng mục tiêu, vị trí của khẩu thượng liên 12ly7. Viên đạn nổ, khẩu súng câm họng ngay. Hàng mấy chục tên bộ đội bỏ chạy tán loạn. Chúng tìm cách nhào xuống triền đồi, lủi nhanh vào rừng sâu. Thêm hai viên đạn nữa rời nòng súng. Những ổ kháng cự mạnh nhất của cộng quân bị vở. Tiểu đoàn trưởng cho lệnh tấn công. Chỉ trong một khoảnh khắc, toàn bộ trận địa của địch đã bị quân bạn chiếm lĩnh. Xác địch nằm la liệt. Nhiều tên bị xiềng vào chân súng, vào bunkers. Nhiều tiếng rên, nhiều tiếng khóc la. Nào là “Bác ơi! Đảng ơi! Con chết mất. Tuyệt nhiên không có tiếng “Bố ơi! Mẹ ơi!” hay “Trời ơi! Phật ơi!” như ta vẫn thường thốt lên mỗi khi đau đớn hay gặp cơn nguy biến. Khói súng, và mùi da thịt cháy khét lẹt của giặc tõa ra cả một vùng. Súng cá nhân, súng cộng đồng vất bỏ ngổn ngang. Kết quả ta thu được 1 súng thượng liên 12ly7, 1 súng cối 82ly, 2 khẩu 61ly, nhiều AK, B40 và B41. Bên ta hoàn toàn vô sự! Phi trường Quản Lợi đã được tái chiếm.

Nhưng chiến thắng này Tiểu đoàn đã phải trả cái giá quá đắc! Đó là mười chín sinh mạng của các Chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43. Những người lính dũng cảm, ra đi không hẹn ngày về. Họ đã nằm lại trên mảnh đất quê hương, đã hy sinh thân xác để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam được ĐỘC LẬP, TỰ DO, và mang lại HẠNH PHÚC, ẤM NO cho toàn dân. Họ đã hy sinh thân xác để chống lại làn sóng đỏ tràn vào từ phương Bắc. Nhưng cuối cùng, vì sự ngu dốt của bọn người “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, bọn người ngây thơ và nhẹ dạ, và vì sự phản bội của đồng minh; sự hy sinh của những người lính VNCH xem ra có vẻ oan uổng! Họ đã bỏ phí đời trai trẻ. Khi nằm xuống, những tấm ponchos đã phủ kín đời họ. Là những chiếc áo quan buồn, ra đi giữa vùng lửa đạn. Nhưng cũng là cái may! Họ đã chết vinh quang! Họ không phải sống nhục sau ngày 30/4/1975, để phải chứng kiến cảnh “nước mất nhà tan”. Chỉ có những người còn lại là phải sống nhục, sống trong nỗi đau triền miên!


Michigan, ngày cận Xuân năm 2007.
BẢO ĐỊNH
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thunder  
#118 Posted : Thursday, May 19, 2011 8:36:15 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Vì Sao Phải Đứng Dưới Cờ Máu CSVN Mới Được Yêu Nước
Và Chống Giặc Tàu Xâm Lược Hai Đảo Hoàng Sa - Trường Sa?


Suốt 75 năm qua, CSVN lúc nào cũng tìm đủ mọi cách để trương ngọn cờ máu trên lãnh thổ Hồng Lạc. Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt VN thành hai miền riêng biệt tại vỹ tuyến 17, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới. Theo quy định, mỗi một miền được đặt hai đồn canh, dọc theo bờ sông giới tuyến : Đồn Hiền Lương và Cửa Tùng (Bắc Việt), Xuân Hòa và Cát Sơn (VNCH), cả hai phía đều có treo cờ hằng ngày. Và đó là nguyên nhân đã làm hai phía đổ máu nhiều lần vì Lá Cờ được treo ở hai đầu cầu Hiền Lương.

Thời gian đầu thi hành Hiệp định (1954-1956) còn có sự hiện diện của các toán kiểm soát đình chiến, nên hai phía vẫn tôn trọng cở lá cờ được qui định 3,2x 4,8m. Nhưng từ sau năm 1956, phía VNCH bên đồn canh Xuân Hòa luôn thay đổi khổ lá cờ Vang ba Sọc Đỏ , theo lệnh của các đơn vị trưởng trấn đóng miền giới tuyến. Thế là trận giặc Chọi Cờ bùng nổ hai bên bờ sông Bến Hải , mà phần thắng luôn về phía VNCH vì có đủ phương tiện và được tự do quyết định hơn phía CSBV. Theo các tài liệu còn lưu trữ cho biết suốt 20 chia cắt, cả hai phía đã thay đổi cở cờ tới 267 lần để ăn thua, trong đó nhiều lần cột cờ phía bắc bị máy bay oanh tạc mà nặng nhất vào năm 1967, cả cột cờ, đồn canh và cầu Hiền Lương về phía CS bị bom đánh xập.

Có hiểu thấu những câu chuyện bên lề lịch sử, chúng ta mới thấy được tầm mức quan trọng và thiêng liêng của lá cờ. Cho nên không ai có thể muốn người khác phải theo ý mình , đứng chung dưới một ngọn cờ mà trong thâm tâm của họ, đã coi nó như là biểu tượng của một chế độ dã man, xấu xa bán nước như lá cờ máu của Cộng Đảng VN.

Theo sử liệu, thì quốc hiệu VIỆT NAM chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802 là năm mà Đức Gia Long Hoàng Đế, đã có công thống nhất được toàn cõi sơn hà từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 năm nội chiến triền miên, giữa các dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn.

Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai tiếng Việt Nam đã thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như Nam Thế Chí của Hồ Tông Thốc, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.. Ngoài ra, các nhà khảo cồ sau này, còn tìm thấy nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất cả các bia ký này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của các học giả, sử gia hiện tại, thì hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ý nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt dòng lịch sử, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị An Nam hay Giao Chỉ .Thời Pháp thuộc, thực dân cũng sử dụng những danh từ hạ bạc của người Tàu trong quá khứ, mục đích cũng chỉ để làm nhục dân tộc VN mà thôi.

Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết năm 1792, cho biết vào thời Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đã ban chiếu đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiếc thay triều đại trên quá ngắn ngũi, nên việc sử dung quốc hiệu VN cũng theo vận nước trôi vào quên lãng.

Riêng hai tiếng VN cũng đâu có khác gì thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn bấp bênh trong dòng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua Gia Long đã cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh, trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam Việt.

Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích.

1 + Cờ Đỏ Sao Vàng Của Đảng CSVN:

Về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp vì đang sử dụng hai lá cờ: Đảng cọng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội, xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của đảng cong sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến. Ngoài ra Việt Cộng còn xài thêm lá cờ đảng giống cờ nước VN xã nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá cờ của Liên Bang Xô Viết cũ.

Căn cứ các nguồn sử liệu hiện tại, thì lá cờ máu trên được gọi là Hồng Kỳ (Cờ Đỏ), do Nguyễn Hửu Tiến đã vẽ và xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 11-1940. Tuy nhiên Lá Cờ Đảng đã xài từ sau ngày 20-7-1954 tới nay, đã khác với Kỳ Hiệu của Phong Trào Việt Minh, vì các cạnh của Ngôi Sao Vàng không còn là đường cong, mà đã trở thành đường thẳng, y chang Cờ Liên Xô và Trung Cộng.

Tổng hợp các tài liệu viết về phong trào đầu tiên của Cộng Sản Tàu tại Huyện Phúc Châu (Fuzhou) tỉnh Phúc Kiến, vào năm 1934, đã tìm thấy Lá Cờ Đỏ Sao Vàng, mà CSVN đang sử dụng làm quốc kỳ từ đó đến nay. Ngoài ra Đảng còn xài thêm Lá Cờ Búa Liềm, đã sao chép của Liên Xô. Đây là những lá cờ của ngoại bang đem về, nên làm sao có thể bắt buộc mọi người phải tôn trọng, trừ phi họ bị áp buộc và khủng bố .

2 + Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ:

Quốc dân VN thì chính thức sử dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng 7-1954. Sau đó, dù đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía nam vĩ tuyến 17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc kỳ của quốc dân VN. Kể từ ngày 1-5-1975, tuy đất nước VN bị cọng sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại, hơn ba triệu ngươì Việt tị nan cọng sản, vẫn theo truyền thống của ông cha, trân quý và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu tượng của Tổ Quốc và Dân Tộc VN.

Tại Úc và nhất là Hoa Kỳ, hai quốc gia tự do có nhiều người Việt tị nạn định cư, sau bao chục năm đấu tranh liên tục, nên đã đạt được ý nguyện, thỉnh cầu chính quyền sở tại, công nhận Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VN, như là một biểu tượng tinh thần cao quý nhất của Cộng Đồng VN tị nạn. Sự kiện mới đầy, chính quyền tại Tiểu Bang California (Hoa Kỳ), ban hành quyết định công nhận Lá Quốc Kỳ VN Hải Ngoại, là một chiến thắng lớn của người Việt, trên đường đấu tranh quang phục đất nước.

Về nguồn gốc của Lá Cờ, căn cứ theo tác phẩm Quốc Kỳ Việt Nam của tác giả Quốc Duy Nguyễn Văn An, thì quốc kỳ VN được khởi đầu từ sáng kiến của Phan Thanh Giản. Năm 1863 khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần : Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862. Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. Vì không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự Đại Nam Khâm Sứ . Cũng từ đó, lá cờ trên đã trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đình Nhà Nguyễn, với lãnh thổ còn lại gồm Bắc và Trung Phần.

Ngày 16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm lập Chính Phủ với nội các gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ Ly (–-)trong kinh Dịch. Ngày 30-6-1945, Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều.

Tháng 2-1946, DArgenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đã bị quân phiệt Nhật đánh đuổi khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ý đồ bất lương trên, thực dân mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lãnh thổ Pháp, đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện và chống trả, khiến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, cũng lần lượt sụp đổ theo ý đồ thâu tóm đất đai của người Việt.

Ngày 8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia, đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị thuộc Pháp.

Nương theo lòng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, đã đề nghị Thủ Tướng Xuân, sử dụng danh xưng Nam Phần VN , để thay thế cái gọi là Nam Kỳ Cộng Hòa Tự Trị , mà Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đã ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đã chọn Quốc Ca - Quốc Kỳ cho cả nước.

Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lãnh thổ VN đang sử dụng năm lá cờ khác nhau: Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Hòa Hảo.

Trong thành phần Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho Quốc Gia VN độc lập, lúc đó có Nguyễn Hữu Thiều là chủ tịch, cùng các đại diện Đổ Quang Giai (Miền Bắc), Trần Văn Lý (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng hai đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lãm năm mẫu cờ tại Phòng Khánh Tiết Sài Gòn. Cuối cùng Uỷ Ban đã quyết định chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỷ của Quốc Dân và Quốc Gia VN.

Sự kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo Đại, đề cập tới trong tác phẩm Con Rồng Việt Nam (Le Dragon DAnnam), xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện diện của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quý trên khắp mọi nẻo đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN trong nước đang sống nơi xã nghĩa thiên đàng.

Cho nên Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có một ý nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cọng Sản VN, vì nó không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Dại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong khi đó là cờ máu sao vàng, từ hình thức tới nội dung là tài sản riêng của đệ tam cọng sản quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lý do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn lịch sử, từ trong nước cho tới cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm gìn giữ và đấu tranh để quốc tế công nhân, dù hiện nay ngươi Việt quốc gia không có lãnh thổ, từ sau ngày 30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời, súc vật lên làm chánh quyền, cai trị cả nước.

Lá quốc kỳ VN là biểu tượng cao quý nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai triệu người đất Bắc và các tỉnh miền Trung bên kia vỷ tuyến 17 vì công nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ xứ vào Nam tìm tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975 người Việt lại bỏ nước ra đi vì không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng cọng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi.

Lá Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, hình chữ nhật bề ngang bằng 2/3 chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tròng, trong suốt chiều dài của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba phần của đất nước VN.

Lúc đó, chính ký giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật Lý Thanh Cần), giữ chức Giám Đốc Phòng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân. Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song Thủ Tướng Xuân còn chấp nhận bài hát Thanh Niên Hành khúc của Lưu Hữu Phước sáng tác làm Quốc Ca, vì lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp, trong hàng ngũ Việt Minh.. nên tim-óc, chữ nghĩa, chỉ hướng về hồn nước, hồn người. Đó cũng là lý do mà Chính phủ VNCH khi trước và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại hiện nay, không thay đổi bài hát nào khác, dù bài VN-VN của Phạm Duy, rất được nhiều người ưa thích nên đề nghị dùng nó để thay thế bài hát của họ Lưu.

Cũng liên quan tới Lịch sử Lá Quốc Kỳ, trong tác phẩm Việt Nam Nhân Chứng, cựu tướng Trần Văn Đôn đã viết là, chính ông ta và tướng Lê Văn Kim, là tác giả đã đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà còn bị nhiều người gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê Văn Kim.. chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội Pháp , thì chừng nào mới tới phiên được mời vào phòng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và lãnh đạo cao cấp của của các giáo phái .. mới được mời họp với ý kiến và quyết định.

Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm (1955-1975), những ai đã từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm nhận được sự thiêng liêng của lá cờ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên khi xung trận.

Quốc kỳ VN như một ngọn đuốc, soi đường mở lối đấu tranh cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, vì đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt. Cũng nhờ Lá Quốc Kỳ, mà những người Việt lưu vong tị nạn khắp bốn phương trời, sau ngày mất nuớc 30-4-1975, đã ngồi lại với nhau để cùng sớt chia buồn vui vận nước. Đó là cấp lãnh đạo tối cao nhất của Cộng Đồng VN Tị Nạn Hải Ngoại, hầu như từ truớc tới nay chưa có ai dám phản đối hay xúc phạm.

Có còn nhớ hay không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc (Bình Long), Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định.. Rồi những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975, lá cờ lại đẳm thêm thịt xương, máu và nước mắt Lính.

Tại chiến trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia, lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trền ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc), Tòa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Quảng Trị.. đã có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, đã gục ngã, trong quyết tâm làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng.

Năm 1973, cọng sản Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, được công khai đóng quân trên lãnh thổ VNCH theo tinh thàn hiệp ước ngưng bắn. Chúng đã cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn tới cờ nhỏ, những lá cờ máu, khiến cho người lính VNCH, lại phải chịu nhiều thương vong, dễ bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay cọng sản. Điều vinh hạnh nhất hiện nay tai hải ngoại, đối với những người lính già mang mọi cấp bậc, thành phần, giai cấp xã hội.. ai mà chẳng mơ ước được Cộng Đồng người Việt Quốc Gia và đồng đội, phủ cho mình một Lá Quốc Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên nắp quan tài, trước khi vĩnh viễn bước vào cõi niết bàn thênh thênh không vướng bận.

Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975, trong khi hầu hết bọn khoa bảng trí thức xôi thịt, chuyên lợi dụng sự tự do dân chủ của chế độ, để phá thối đất nước miền Nam, ùn ùn tìm đủ mọi cách bỏ chạy trước ra ngoại quốc. Giờ vẫn chứng nào tật nấy, vẫn sống nhờ mồ hôi nước mắt của người Việt Quốc Gia nhưng cứ lại tiếp tục pha thối cộng đồng người Việt tị nạn, tuyên truyền và bẽ cong ngòi bút, cứ đòi thay đổi lá cờ , làm lợi cho đế quốc CS đang cai trị VN, hầu kiếm chút danh cặn tiền bèo vào lúc cuối đời.

Trong lúc đó, hằng vạn người lính chết hay bị thương, vì đã ở lại để bảo vệ thủ đô, bến tàu, phi trường, xa lộ và những bãi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu phương bạc bẽo, có cơ hội chạy. Còn biết viết gì hơn, trước cảnh tượng, những người đưo.c may mắn thoát được địa ngục trần gian, đầu thai trở lại kiếp người. Nay hầu hết, mà trong số này có rất nhiều đấng HO, một thời sống nhục nơi các hỏa lò, địa ngục của CS, cũng hồ hởi kéo nhau về quê hương đã đổi mới. Thực chất, phần lớn chỉ để trả thù dân tộc , vinh qui bái tổ hay tệ nhất như Nguyễn Cao Kỳ, công khai đầu hàng VC, bêu xấu danh dự của người lính cũ, mà đượng sự có lúc nhờ đó, mới được vinh thân phì gia, sung sướng một đời.

Thử hỏi trong giờ thứ 25, tính sổ lại xem có bao nhiêu tướng lãnh đã bỏ chạy? Hay nói đúng hơn gần hết đã ở lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc. Những danh tướng Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Tấn Nghĩa.. há không có phương tiện như Nguyễn Cao Kỳ, để trốn chạy ra tàu Mỹ hay sao ? Nhưng họ là thanh niên thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí tiết làm tướng, hơn sinh mạng phù vân một đời.

Vì vậy biết ở lại sẽ bị giặc đày đọa lăng nhục tới chết nhưng vẫn chấp nhận hoàn cảnh. Cuối cùng, kẻ thì tự tử, còn người bị giam cầm nhiều chục năm nơi tận cùng biên tái, làm gương muôn đời cho hậu thế soi chung, vì hai chữ hy sinh cao quý lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh , được tất cả mọi người từ dân tới lính, thương mến trân trọng.

Trong khi nguyên thủ quốc gia bị cưởng bức từ chức, nhiều đại bàng tối cao tại Sài Gòn tìm đủ mọi cách bỏ chạy để giữ mạng. Còn TT Dương Văn Minh thì chuẩn bị đầu hàng giặc nhưng quanh thủ đô và khắp bốn phương tám hướng, tất cả những đơn vị còn lại của VNCH, vẫn hiên ngang chiến đấu trong dơn độc. Nên không ngạc nhiên khi được đọc được lời phê bình đầy trang trọng, của Sử gia người Anh, Sir Edward S Creasy, qua danh phẩm Fifteen Decisive Battles of The World , cho biết tầm quan trọng của một cuộc chiến, không phải chỉ căn cứ vào số người chết, tù binh và chiến lợi phẩm. Nó được tính bằng thành quả ngày hôm nay, do cuộc chiến thắng đem lại.

Vậy ta thử hỏi sau ba mươi hai năm chiến tranh chấm dứt (30/4/1975 - 30/4/2007) kẻ chiến thắng là CS đã làm được những gì, để mang tới phúc lợi, no ấm cho dân tộc VN ?. Trong thời gian đó, đất nước chúng ta có được độc lập tự do hay không ? cứ nhìn kết quả mà không cần phải đơi câu trả lời.

Thật sự cho tới bây giờ, đất nước VN vẫn là một quê hương bị đọa đày tang tóc khổ đau. Dân chúng đại đa số nghèo đói lạc hậu. Xã hội băng hoại, kỷ cương tan nát, đạo đức suy đồi và oán thù chất ngất vì hố phân chia mọi thành phần trong nước, càng lúc càng sâu thẳm không biết đâu mà so sánh. Trong lúc bọn cán bộ viên chức đảng nhà nước, bọn Việt gian-Việt kiều cò mồi, bọn tư bản đỏ trắng tại VN càng lúc càng giàu có vinh hiển tột cùng với tiền tỷ vàng tạ, thì người dân cả nước từ nông dân, người đánh cá, cho tới kẻ lạo động, gần như kiếm ăn từng bửa. Như vậy bảy mươi lăm năm qua, nói là đi làm cách mạng để giải phóng nước nhà và người dân bị ngoại xâm kềm kẹp. Thế nhưng ba mươi hai năm hòa bình, giờ tính lại sổ đời, nước vẫn bị ngoại bang thao túng, không phải chỉ có Nga-Trung Cộng mà cả khối tư bản Mỹ, Nhật, Âu Châu, Nam Hàn, Đài Loan-Singapore.. Còn người dân thì cuộc sống còn thua cả thời Pháp Thuộc, nói chi tới Hai mươi năm VNCH.

Hơn ba mươi hai năm đổi đời rồi, cho dù Bắc Bộ Phủ có gian ngoan xảo trá tới đâu, bọn Việt gian biển lận thế nào, thì người trong nước cũng như ở hải ngoại, ai nấy đều hiểu tất cả tấn thảm kịch VN. Tất cả chỉ do bàn tay đẫm máu của băng đảng Hồ Chí Minh dàn dựng và thao túng mà thôi.

Ba mươi hai năm nói là thống nhất nhưng Bắc-Nam cũng vẫn là Nam-Bắc. Lúc nào cũng to mồm lớn miệng nói là tự do-độc lập thế nhưng mọi việc lớn nhỏ của nước, đều do bàn tay tối cao của Liên Xô-Trung Cộng, nay lại thêm bàn tay lông lá của lái súng Mỹ quyết định giùm.

Gần hai trăm năm trước (1858), vua Tự Đức nhà Nguyễn vì thiển cận, không chịu nghe theo lời canh tân đất nước của các sĩ phu trí thức thời đó như Nguyễn Trường Tộ, Đinh văn Điền, Bùi Viện.. mà cứ chạy theo ôm chân người Tàu lúc đó cũng lạc hậu yếu hèn, nên rốt cục dân tộc phải bị thực dân Pháp đô hộ đày đọa gần 100 năm tủi nhục thương đau. Ngày nay Việt Cộng cũng đã bước vào lối mòn năm cũ, đã và đang ôm chân Tàu đỏ lẩn Tàu trắng một cách tận tuyệt, để có một chỗ dựa an toàn cho đảng sinh tồn. Rồi tháng lại ngày qua làm ngơ nhắm mắt, mặc kệ cho đồng bào cả nước càng lúc càng lầm than đói rách, qua cái vỏ phát triển tiến bộ, được sơn phết và tuyên truyền, khiến cho bất cứ ai còn một chút hơi hám của con người, thấy ngó cũng phải đau lòng cho vận nước, chỉ vì một gã Hồ Chí Minh trôi sông lạc chợ, đã làm cho non sông gấm vóc phải tan hoang, không biết đến bao giờ mới được quang phục.

Ba mươi hai năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay hình người có thay đổi từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẩn đảng cọng sản là trên hết, còn nước thì nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy cả nước, đều là tài sản của đảng, của cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu quả di hại cho con cháu mai sau.

Không ai muốn thấy cảnh máu đổ xương tan, xảy ra trên quê hương mình. Nhưng người Việt quốc gia dù ở đâu và thuộc về thế hệ nào chăng nữa, đều đau lòng trước cái tên thân thương của thành phố Sài Gòn nay bỗng dưng phải mang tên Hồ Chí Minh phản tặc, một kẽ dâm hung cực ác, đứng đầu lịch sử.

Cũng không thể đứng nhìn đồng bào cả nước, nhất là phu nữ đã phải bán trôn khắp thế giới để nuôi miệng, bán mạng để sống. Cũng không thể bắt người Việt hải ngoại cứ đổ võ cho kẻ ăn ốc là bọn cọng sản và đám việt gian, việt kiều tay sai năm vùng, bằng cách mỗi lần có thiên tai hoạn nạn, thì lại cứ nhân danh này này nọ nọ, bắt đồng bào gửi tiền bạc về nước, để bọn lãnh đạo Bắc Bộ Phủ vểnh râu làm giàu trên xương máu mồ hôi nước mắt của đồng bào tị nạn.

Cũng không thể để cho lá cờ máu và những tên quốc tặc, hiện diện tuyên truyền, trong nhưng nơi chốn, có người Việt tị nạn sinh sống, mà điển hình là vụ tên Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ Tặc tại Tiểu Sài Gòn, vào dịp Tết Kỷ Dậu 1999. Sau rốt cũng không cho VC tiếp tục lộng hành, toa rập với đám tư bản bất lương Tây phương, Nam Hàn, Nhật Bản, Tàu Trắng và tàn độc nhất là Trung Cộng, lũng đoạn kinh tế, phá nát kỷ cương và chia xén lãnh thổ VN

Bảy mươi lăm năm qua, người Việt đã trăm lần hòa hợp, hòa giải, hòa bình với cọng sản nhưng trăm lần như một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên ba mươi hai năm nay, kể cả trẻ con cũng không còn ai tin vào sự hứa hẹn của cọng sản, trừ bọn cò mồi không tim óc dù đã có cả núi bằng cấp và chữ nghĩa. Bởi vậy chỉ còn một cách duy nhất, là cả nước đứng dậy phá tan xiềng xích nô lệ của đảng cọng sản, để đòi lại những gì mà chúng ta đã mất, trong đó quan trọng nhất là quyền sống của kiếp người.

Chừng nào CSVN còn nắm giữ quyền hành và súng đạn trong tay, ngày đó đừng hòng chúng san sẽ hay nhượng bộ bất cứ ai, nhất là giai đoạn đảng đang sống sướng trên núi bạc rừng vàng, lại được cả Tàu và Mỹ hợp tác chia phần, nên chỉ cần đảng làm giàu mà thôi , còn nhân quyên, tự do dân chủ.. coi như là cỏ rác.

Suốt tháng nay, từ VN cho tới hải ngoại, bất cứ nơi chốn nào có người Việt sinh sống, cũng đều sôi sục phong trào đã đảo VC bán nước cho Tàu , đồng thời cũng dấy lên sự chống đối quyết liệt Trung Cộng cướp chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN, nay được giặc công khai đổi thành một đơn vị hành chánh mang tên Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam.

Sự kiện lịch sử trên đã làm cho bọn chóp bu Bắc Bộ Phủ kinh hoàng, trước những cuộc biểu tình của Thanh niên, Sinh viên, Học sinh và Đồng bào tại Hà Nội , Sài Gòn. Đảng một mặt ra lệnh cho công an đàn áp nhưng vẫn không quên lợi dụng thời cơ kêu gọi người Việt trong và ngoài nước phải đứng dưới ngọn cờ máu của đảng để được yêu nước chống Tàu.

Tại Hải Ngoại, bọn thời cơ cũng hùa gió bẻ măng, kêu gọi người Việt Tị Nạn phải đứng chung với VC dưới ngọn cờ máu, để chống Tàu. Câu chuyện lạ lùng trên làm cho mọi người sực nhớ lại giai đoạn lịch sử năm 1946, khi Hồ Chí Minh một mặt cho Pháp đổ quân vào đất Bắc, để có cớ kêu gọi toàn dân đứng chung dưới lá cờ búa liềm chống Pháp .Trò bịp bợm lần nữa lại tái diễn qua lời kêu gọi đứng chung dưới cờ máu của đảng để chống Tàu đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa do chính Hồ Chí Minh ký nhượng cho giặc năm 1958.

Tới nay mà vẫn còn những loại sâu bọ như vậy, hèn chi đất nước chúng ta cứ tiếp tục bị giặc Tàu lần hồi thôn tính bởi lòng dân cả nước, còn được mấy ai ngu chịu làm bia đở đạn Tàu, để VC cứ lại tiếp tục bán nước?

Xóm Cồn
Cuối tháng 12-2007
MƯỜNG GIANG

thunder  
#119 Posted : Thursday, May 19, 2011 10:09:25 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Vạch Áo Cho Mọi Người Cùng Xem


Ông Phan Thanh Tâm, tác giả bài này, là cháu năm đời của cụ Phan Thanh Gi ản. Trước 1975, ông làm ở Việt Tấn Xã, Sài Gòn. Sau 75, ông vượt biển trên một chiếc thuyền nhỏ 13 người từ năm 1976. Lưu lạc một tháng trời giáp một vòng bờ biển các nước Đông Nam Á, đâu đâu ông cũng bị người ta đẩy trở lui ra biển cả. Chặng cuối cùng là đảo Palawan, Phi Luật Tân, thuyền được nhận trở lại vào bờ, nhờ sự can thiệp của một ông cố đạo người Ý đang coi một họ đạo tại đảo này. Ông là một trong nhũng «thuyền nhân» đầu tiên được đặt chân lên đảo nói trên. Bài này viết cách đây 6 năm rồi, với một phong thái thẳng thắn, nhưng ôn hoà, về một vấn đề tự-bản khá gay gắt. Tác giả sẵn lòng cho phép đăng lại để độc giả có dịp chia sẻ những suy nghĩ với ông.

Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại và nhất định không có chuyện vạch aó cho mọi người cùng xem. Đó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt, cũng bảnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngoại quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bắng thằng, bắng con. Còn nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng đó. Họ cho rằng cứ hót ca, nâng bi dân tộc mình một cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như con gà mắc dây thun. Chắc hằn phải có vấn đề, có trục trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả trong khi các nước lân bang ở Đông Nam Á nay đã là con cọp, con beo, con sư tử rồi.

Cái hay ở chỗ, người tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Sài Gòn, du học ở Nhật; năm 1966, định cư ở Pháp; năm 1996, trong khi sang Tàu, vớ đựơc một cuốn sách khiến ông “thích thú quá cơ” và ông nghĩ rằng “bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo đảm cũng sẽ thích thú”' như ông. Ông tin rằng quyển sách sẽ “giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hoá của mình trong giai đoạn hiện nay”. Vì thiện ý, ông bỏ công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bản Chân Mây Cuối Trời phát hành bản dịch lần đầu tiên tại Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận Cam, thủ đô người tị nạn, hưởng ứng in lại; quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.

Nhà báo Lê Đình Điểu, trước khi qua đời, trong lúc nằm trên giường bệnh, viết bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 04/1999: “Đọc Người Trung Hoa Xấu Xí của Bá Dương", người VN nào cũng liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ thay cái tựa là Người Việt Nam Xấu Xí cuốn sách cũng vẫn có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt Ngữ? Trả lời câu hỏi của nhà phê bình văn học Đặng Tiến, đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói sự đời là thuốc đắng đả tật; có chướng tai cũng phải lên tiếng. Ông tâm sự: «không đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi; còn chẳng may đọc cò thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là thích thú».

Trong bàì phỏng vấn hồi tháng 10/1999, khi đề cập về những cuốn sách như Người Việt Đáng Yêu, Người Việt Cao Quý , dịch giả, đã có bảy tập thơ xuất bàn ờ ngoại quốc từ năm 1968, cho biết: «Đó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người Pháp, người Đại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình. Bây giờ đến lượt người Trung Hoa. Cuốn Người Trung Hoa Xấu Xí xuất bản ban đầu ở Đài Loan; sau đó được tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước lớn, văn hoá lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rả về những cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách, Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi».

Nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung Hoa về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một ngươi bạn ở Hà Nội và cổ võ người này dịch ra tiếng Việt. Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không thề được đọc nó, cho dù không phải đề học hỏi, mà có thể vì hiếu kỳ, tin tức về một nước láng giềng. Ông đã hy vọng cuốn sách sẽ xuất hiện tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hoá Trung Hoa. Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, sai trái của mình.

Đọc người rồi ngẫm đến ta

Tác giả Bá Dương, là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy sang Đài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng Người Trung Hoa Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông. Có người cho rằng nếu không đọc được sách của Bá Dương là một sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn hơn chuyện chưởng của Kim Dung vì nó khiến thiên hạ phải đọc người rồi ngẫm đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy. Giống dễ sợ. Theo ông, văn hoá Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết, càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Đăc tính rõ nhất của người Trung Hoa là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Hoa đến ở là những người khác dọn đi.

Bất kỳ ở chân trời góc biển nào hễ có người Trung Hoa là có cắn xé nhau. Mỗi người Trung Hoa đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Hoa họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi. Người Trung Hoa vĩnh viễn không đoàn kết được. Mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tai sao họ lại không đoàn kết. Bất cứ xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết, hay ho đến Thượng Đế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.

Người Trung Hoa sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hưũ, trung lập, độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hưũ, hưũ thiên trung vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò. Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Đối xử với người Trung Hoa tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính là ngươi Trung Hoa với nhau. Bán rẻ, hăm doạ người Trung Hoa lại không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Hoa đã đánh nhau rồi thì cưù hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đơi cũng chưa hết. Sống trường kỳ trong cái hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra thói cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với người Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật, ngươi Đại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.

Người Hoa sợ sệt đủ mọi thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị tiêu diệt, và đã biến dân tộc Trung Hoa thành một dân tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư tưởng của giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Cái hũ tương văn hoá, cái hũ tương thối làm cho người Trung Hoa xấu xí, không thể dùng tư tưởng của mình giải quyết, phải bắt chước, phải dùng cái tư tưởng của kẻ khác; lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc, bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu. Trung Hoa diện tích rộng thế, lâu đời thế mà người Hoa lại có một tâm địa thật hẹp hòi, không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Đế đã phú cho chúng ta có một nội tâm xấu xa?

Trên đây là những đoạn trích các ý tưởng trong sách của nhà báo Bá Dương. Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một ngàn năm bị đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Hơn nữa, mỗi dân tộc có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ, lệt bệt đi sau hửi đít thiên hạ. Nếu văn hoá Trung Hoa đã biến thành một cái hũ tương thối thì văn hoá ta là cái hũ gì? Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn thoáng vào gương xem.

Mẫu người Việt Nam

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân nghĩa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hoà bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm điạ thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỷ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. Đàn bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ moi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con,thường giữ được các đức tính rất quý là tiết, nghĩa, cần, kiệm.

Với mẫu người nói trên và nếu cho rằng, văn hoá là sinh hoạt, ta không hiểu văn hoá ta là văn hoá gì, lại có thể sinh ra một tay gian hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Độ. Việt Nam Sử Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần Thủ Độ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Độ nói với vua Lý Huệ Tông, tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời “nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái”. Trong khi đó, Nguyễn Trãi, đại công thần của vua Lê Lợi, thảo ra Bình Ngô Đại Cáo, môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình người 'Thương người như thể thương thân', trong tập Gia Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu hại nhà vua.

Trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, tác giả Hoàng văn Chí cho biết, vào những năm 1954 và 1956, khi Cộng Sản Việt Nam đem chiến thuật «Cải Cách Ruộng Đất» của Mao Trạch Đông, áp dụng tại Bắc Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ vậy. Đúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình: «Từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở». Mà theo Bá Dương, Trung Hoa hiện tại còn là một nước dã man nguyên thuỷ, thì việc Cộng Sản Việt Nam đưa ra phương châm: “thà sai hơn là bỏ sót” trong khi phát động chiến dịch long trời lở đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi. Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của CSVN là: thà bắt lầm hơn tha lầm.

Mặt khác, trên sân khấu chình trị nước ta có một “diễn viên kỳ tài”, chữ của nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước, khi ba bước, khi khóc, khi cười, khi ôm hôn thắm thiết, biến ảo khôn lường. Cả thế giới đều nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ «con đường bác đi». Theo giáo sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Để cho «chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới» ông sẵn sàng mua chiến thắng đó «dẫu phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn» hay phải «đánh Mỹ đến người VN cuối cùng». Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà lại có thể sinh ra một con ngươi kỳ dị như vậy? Chính ông đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.

Hồi thập niên 60, có bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Để Lại Cho Em nói lên thực tế của đất nước: «Bây giờ chỉ còn là một mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo lực vênh vang bề thế»; và «Đường về tương lai nghẽn lối». Thế hệ đàn anh chỉ đề lại «những giả dối, đê hèn, và vụng dại». Bài hát lưu hành ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng, máy bay, hoả tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Đó là hệ quả của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kẻ đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc quyền trị nước nên VN thành nơi thử lửa cuộc chiến tranh lạnh. Nước ta hết nạn hủ nho, thì đến nạn hủ Marx, hủ Mao. «Tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin ». Hồ Chí Minh đã khẳng định như thế (1).

Trong ba mươi năm nội chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra Bắc theo Nga, theo Tàu; nửa nước phía Nam chống lại bằng dựa vào Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì đỡ hoài thì ắt có ngày bị đánh gục. Lại nữa, Hoa K ỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng 03 và 04 năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn lanh thì nhiều như lá mùa Thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu tù, chịu nhục, chịu chia sẻ với thuộc cấp? Anh hùng tất phải hiếm. Điều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát “Dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao”?

Ngày 30/04/1975 là ngày phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: Miền Nam hèn kém, miền Bắc xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ. Sau khi chiếm Sài Gòn, nhà cầm quyền Cộng Sản tìm cách tiêu diệt các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét, cướp bóc tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ quản lý. Họ lại đốt sách báo và cấm lưu trữ các sản phẩm văn hoá cũ như thời Tần Thuỷ Hoàng. Họ cố xoá bỏ căn cước của dân miền Nam. Dân miền này không thấy được giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc, cho sóng dữ. Đến ngay «cả cái cột đèn nếu biết đi cũng còn muốn bỏ nước ra đi». Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu; anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?

Con Rồng Cháu Tiên?

Sau thế chiến thứ hai, chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Đức và Nhật đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế. Ông Bá Dương đã ví họ, “chẳng khác nào, một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán”. Còn nước ta, Việt Nam là một nước nghèo. Đời sống nói chung so với các nước ở Đông Nam Á hãy còn thấp. Theo tin báo, nhà nước lại tăng cường tốc độ các bức tường lửa để kiểm soát các ngươì vào Internet. Người dân chưa được tự do sử dụng máy in, một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi ấn phẩm đều phải có giấy phép của nhà cầm quyền. Ở thời đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện lạ bốn phương.

Tháng 05/1999, nhà văn Dương Thu Hương , từ trong nước đã gửi lén ra Hải Ngoại một đoản văn. Theo bà: “sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dải đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào Nam, từ nam ra Bắc” và «Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, sử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thoả hiệp hơn vơi sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác». Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông Luận trong bài Vết Thương 30/04/1999 cho rằng: "Đó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Đó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mỏi, đã mất ý chí và lòng tự hào. Đảng Cọng Sản VN không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy».

Còn Hải Ngoại, được coi như là một VNCH nối dài thì thế nào? Tờ báo Hợp Lưu số 49 viết: «có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa Thu. Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút, cứ là chủ tịch, làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài Tổng Thống (dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói), và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái, nhanh, nhiều như nấm dại mùa Đông». Sang đây, mất tất cả, thiên hạ mơ có quyền lực, mong có cái danh. Ông nào cũng tự cho mình có sứ mệnh, như «ai bao năm từng lê gót nơi quê người» của thuở nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là giả.

Năm 1958 hai tác giả William J Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American (Người Mỹ Xấu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt, tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower phải cho thành lập một uỷ ban gồm chín nhân vật có uy tín để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự. Thượng Viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông Bá Dương viết, họ có năng lực sửa sai, tự điều chỉnh mình. Thay vì lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người biết “'tôi có bệnh trĩ đây”. Họ có được cái trí tuệ và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thoả đáng những lỗi lầm.

Nước Việt Nam cứ lẩn quẩn trong vòng chậm tiến, cũng «hoang mang lúng túng chẳng kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ» là vì ta không biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xấu Xí để «nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột», rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hão, giấy rách giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắn nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải tiến. Trong thế kỷ và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh trong cuộc cách mạng truyền thông, chúng ta phải lẹ lẹ lên. Chậm thì chết. Chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu điên mất. Phải không quý vị?

Phan Thanh Tâm

Edited by user Thursday, May 19, 2011 10:11:18 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Ngoc N Hao  
#120 Posted : Saturday, May 21, 2011 8:48:21 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Hồi ức từ đáy địa ngục cải tạo


Nguyên Huy/Người Việt
Năm 1978 có thể coi như cao điểm khổ nhục của những Quân Cán Chính VNCH mà chưa một ngòi bút viết hồi ký nào về “tù cải tạo” đã lột tả được.


UserPostedImage


Cảnh một buổi sinh hoạt của cựu tù Nam Hà-Hàm Tân tại hải ngoại.



Ðó là thời gian mà người tù cải tạo bị đưa đi biệt xứ trên chính quê hương của mình, cắt lìa hẳn với gia đình và đời sống xã hội, để phải sống trong một hoàn cảnh từ bản năng sinh tồn như loài thú vật mà người tù Tạ Tỵ (họa sĩ trung tá Cục Tâm Lý Chiến) gọi là “Ðáy Ðịa Ngục.”


Xưa nay, tù ngục đồng nghĩa với đói khổ, đầy ải nhưng tại những nước tự do, người tù còn được chút nhân phẩm. Trong chế độ cộng sản từ Liên Xô qua Trung Cộng, tù tập trung cải tạo là mối kinh hoàng khó thể diễn tả hết qua ngôn ngữ của nhân loại. Cộng Sản VN đã chắt lọc được những “tinh túy” từ những phương cách tiêu diệt những người mà cộng sản cho là “phản động” của Nga-Hoa nên đã hoàn chỉnh được hệ thống trấn áp “kẻ thù của giai cấp” trong những trại được gọi là “Tập Trung Cải Tạo“của CSVN.

Nhớ về những ngày này, nhiều người cựu tù cải tạo vẫn còn ngạc nhiên tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể sống thoát được qua hoàn cảnh như thế.

Về phương diện tinh thần, người tù cải tạo sau hơn 3 năm bị cách ly với gia đình, xã hội, chỉ còn hy vọng mờ mịt cho ngày về, thì trong khi đó hằng đêm sau một ngày lao động khổ sai, lại cứ phải ngồi “học tập” trong suốt hai tiếng đồng hồ trước khi được bò vào chỗ nằm. Chỉ 6 tấc cho mỗi người trong điều kiện ăn ở tồi tệ nhất. Những buổi gọi là học tập này chính là những buổi tra tấn tinh thần người tù mà chế độ giam giữ đã quỷ quyệt, dẫn chính những người tù tra tấn lẫn nhau qua những cái gọi là “phê bình kiểm điểm bản thân” và “giúp đỡ nhau học tập cải tạo tốt để sớm trở về với gia đình làm người công dân tốt trong Xã Hội Chủ Nghĩa.”


Thực tế thì phê bình, kiểm điểm bản thân và giúp đỡ nhau học tập cải tạo chính là những buổi phải tự hứa với “Cách Mạng” mọi điều vô lý nhất, phải tố cáo bạn bè về sự “học tập cải tạo” của mọi người. “Giúp đỡ” nghĩa là tố cáo bạn bè về những suy nghĩ thầm kín của nhau hay những lời ăn tiếng nói than thở, bất mãn với chế độ... Cứ như thế, diễn ra hàng ngày, qua tháng, qua năm không ngơi nghỉ thì tinh thần dù có vững lắm cũng phải bị tổn thương nặng nề khi mà người tù, những người có trình độ hiểu biết, phải nói và làm những điều mà mình biết là bất nhân, vô đạo lý.


Trên phương diện vật chất, người tù được nuôi ăn bằng một phần rất nhỏ công sức lao động của mình. Cái đói cái khát là nỗi ám ảnh không rời. Năm trăm hạt bắp cho mỗi bữa ăn hàng ngày hay ngót nghét một ngàn hạt bo bo của Ấn Ðộ viện trợ cho CSVN để nuôi gia súc hay họa hoằn có khoảng một trăm hạt cơm hẩm vì lưu kho quá lâu đã mục nát với một lưng bát nước muối làm canh. Người tù vào những năm này đã chỉ còn là những bộ xương biết đi, nói không ngoa một chút nào. Thế mà hàng ngày vẫn phải lao động cho đủ chỉ tiêu mà trại đề ra.


Vào những năm 1977, 1978 chương trình “cải tạo” của Nhà nước là sẽ đưa thêm khoảng 50 ngàn tù nữa từ trong Nam ra thêm vào số Quân Cán Chính đã đưa ra trong ba năm trước gần cả trăm ngàn. Những người tù của Tân Lập cũng như các trại tù khác ở Vĩnh Quang, Nam Hà, Quảng Ninh, Sơn La... phải gia tăng sức lao động để xây dựng thêm các lán trại cho những người tù sắp tới. Vầu, nứa và cây rừng được chặt xuống để làm vật liệu xây dựng. Nhiều nơi, cán bộ trại đã lợi dụng cơ hội để bán đi chia nhau nên sức tù lại càng phải đổ ra thêm.


Phân trại K1 Tân Lập, Vĩnh Phú được chia công tác đi chặt nứa hay vầu (một loại tre nhỏ mọc trong các triền núi đồi ở miền Bắc). Chỉ tiêu cho mỗi người là 16 cây nứa hay vầu, mỗi cây dài từ 5 đến 6 thước. Người tù K1 Tân Lập phải đi từ sáng sớm (7 giờ) sau khi được ăn sáng bằng một bát sắn lát (khoai mì phơi khô đã mốc xanh) bằng nửa nắm tay. Ðến hiện trường trên một triền núi khá cao may mà gặp được khu rừng nứa hay vầu thì thi nhau chặt cho đủ chỉ tiêu, rồi bó gọn lại bằng dây rừng rồi tìm chỗ mà dở phần ăn trưa ra ăn với nhau. Phần ăn trưa cũng là những lát sắn khô mốc meo nhưng được nhiều hơn phần sáng chút đỉnh. Ăn xong là mạnh ai người nấy vác bó nứa hay vầu xuống núi. Người tù phần nhiều không vác nổi đã phải lựa chỗ dốc mà kéo xuống núi. Ðến chân núi là vào khoảng 2, 3 giờ chiều, họ giúp nhau đổi công hai người vác một bó của nhau mà lần về trại tù. Trại tù nằm bên một con sông mùa nước cạn có thể lội qua, nước chỉ ngang bụng nhưng về mùa nước thì con sông lớn hẳn ra và nước chẩy xiết từ nguồn đổ về.


Cố Trung Tá Nguyễn Quang Hưng bị chết trong một buổi lao động như thế khi qua sông mà nước lũ trên nguồn đang đổ về. Theo một số anh em tù được chứng kiến thì “anh Hưng một mình một bó nứa khi qua sông thả xuống nước bị nước xoáy cuốn đi, anh cố níu theo để giữ bó nứa chỉ tiêu của mình cho khỏi bị phê bình, kỷ luật đã không chống nổi với sức nước bằng cái sức khỏe được nuôi dưỡng bằng sắn lát hư mốc của mình nên đã bị nước cuốn đi không ai cứu đươc.”


Cái chết của anh Hưng đã khiến phân trại phải cho tù tạm ngưng đi lấy tre vầu ít ngày, chờ nước rút. Cái chết của anh như một cái tang phủ chung xuống tinh thần anh em phân trại K1 Tân Lập. Nhiều chuyện kể về anh được anh em kể lại sau đó trong đó câu chuyện thương tâm nhất là khi anh Hưng được lãnh gói quà 3 ký đầu tiên của gia đình. Sau khi bị phân trại sổ tung gói quà để khám xét rồi đổ lẫn lộn vào với nhau, anh Hưng không tìm thấy được tí “chất ngọt” nào mới đề nghị với một bạn tù khác xin đổi một ít “chất mặn” (nửa gói mắm ruốc) lấy một ít “chất ngọt” (một viên kẹo nhỏ) thì bị “ăng ten” nhìn thấy nên việc trao đổi không thực hiện được.


Phải kể thêm rằng vào thời gian ấy, đã sau 3 năm người tù hầu như không được trại cho được một tí đường nào cũng như chút chất béo hay chất tanh của cá. Có anh vì thèm chất ngọt quá, nhận được gói đường nhỏ trong gói quà 3 ký của gia đình đã phải dè sẻn bằng cách đổ đường vào lọ dầu Nhị Thiên Ðường (dung tích lọ dầu Nhị Thiên Ðừng chỉ bằng nửa que tăm dầy) để khi lao động mệt mỏi quá anh lại lấy ra dùng cây tăm nhỏ chấm vào lọ dầu mà mút mút.


Chỉ ít hôm sau việc đổi chất ngọt không thành, anh Hưng đã bị tai nạn chết khiến người tù có kẹo cứ ân hận mãi tại sao sau đó không tìm gặp anh để cho anh có được chút “chất ngọt.”


Gần 33 năm đã qua, nhiều người tù Tân Lập K1 Vĩnh Phú nay đã ổn định được cuộc sống trong đó có cả các chị như chị Hưng, nhà văn Bích Huyền, vẫn không thể nào quên được những đau thương khổ nhục của những người tù của “Tập Trung Cải Tạo.”


Vào sáng Thứ Bẩy, 28 tháng 5 tới đây, đại gia đình của Cố Trung Tá Nguyễn Quang Hưng sẽ cùng các cựu sĩ quan Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt làm một lễ Tưởng Niệm tại khu Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, để tưởng nhớ đến một người tù cải tạo đã chết vì lao động khổ sai trong trại tù Tân Lập (K1 Vĩnh Phú).


Cố Trung Tá Nguyễn Quang Hưng, nguyên là tham mưu trưởng Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt của QLVNCH, sau 30 tháng 4, 1975 đã bị CSVN đưa vào “tập trung cải tạo” tại trại tù Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt Nam.

Theo Người Việt








Users browsing this topic
Guest (2)
102 Pages«<45678>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.