Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages«<23456>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#61 Posted : Monday, April 25, 2011 5:14:48 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Bà Ngô Đình Nhu qua đời


Thứ hai, 25 Tháng 4 2011

UserPostedImage


Theo tin tôi lượm từ internet thì bà Trần Lệ Xuân, phu nhân của ông Ngô Đình Nhu, vừa qua đời vào lúc 2 giờ sáng ngày 24/4/2011, tức ngày Lễ Phục Sinh, ở Rome (Ý). Cái chết của bà Ngô Đình Nhu là một dấu chấm cho một thời kì lịch sử đầy dao động.

Theo wikipedia, bà Trần Lệ Xuân sinh năm 1924, như vậy bà thọ 87 tuổi. Bà sinh ra và lớn lên ở Hà Nội trong một gia đình trung lưu. Bố bà là ông Trần Văn Chương, và mẹ là bà Thân Thị Nam Trân (là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại). Bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943 bà thành hôn với ông Ngô Đình Nhu năm 1943. Ông Ngô Đình Nhu là em ông Ngô Đình Diệm, cựu tổng thống miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa. Bởi vì ông Diệm không có vợ, và vai trò quan trọng của ông Ngô Đình Nhu trong chính phủ, nên bà Ngô Đình Nhu được xem là first lady (có khi báo chí phương Tây còn đặt biệt danh Dragon Lady).

UserPostedImage

Bà Ngô Đình Nhu lúc còn trẻ


Trong vai trò phi chính thức first lady, bà Ngô Đình Nhu được người đời xem là “lộng quyền” trong chính quyền. Cùng với ông anh là Giám mục Ngô Đình Thục, và những người em (Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Cẩn, và first lady), chế độ ông Diệm được xem là chế độ gia đình trị.

UserPostedImage

Bà Ngô Đình Nhu lúc về già


Là một gia đình danh giá và quyền thế, nhưng kết cục thì lại có màn bi thảm. Năm 1963, trong biến cố Phật Đản, chính quyền ông Diệm bị lật đổ. Hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị giết chết một cách dã man. Đến năm 1964, ông Ngô Đình Cẩn bị đem ra tòa và bị tử hình vào ngày 10/5/1964. Cần nói thêm rằng trước đó, ông Ngô Đình Khôi (là anh cả trong gia đình Ngô Đình), bị Việt Minh bắt và giết chết vào năm 1945 cùng với người con trai là Ngô Đình Huân và Thượng thư Phạm Quỳnh (tức bố nhạc sĩ Phạm Tuyên). Sau này, con của bà Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy cũng chết vì tai nạn xe hơi.

Bà Ngô Đình Nhu đã về bên kia thế giới, nhưng những “di sản” bà để lại thì chắc sẽ còn rất lâu. Có lẽ nói không ngoa rằng bà Ngô Đình Nhu là một người phụ nữ hiện đại và thông minh. Bà tốt nghiệp trường Tây, thông thạo tiếng Pháp và tiếng Anh, ăn mặc trang nhã, lịch sự (với cái áo dài cổ rộng nổi tiếng). Nhưng chẳng hiểu sao bà có nhiều phát biểu rất cực đoan và có thể nói là thiếu tế nhị. Trong biến cố đàn áp Phật giáo 1963, bà phát biểu rằng "hoạt động của Phật giáo là một hình thức phản bội xấu xa ...". Trước sự tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, bà nói một số câu rất “khó nghe”, như "Vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu, nếu ai có thiếu xăng dầu thì tôi sẽ cho" và xem đó là một cuộc nướng thịt BBQ (nguyên văn tiếng Anh: I would clap hands at seeing another monk barbecue show). Những câu nói của bà gây ra một làn sóng phản đối dữ dội, và sau cùng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1963. Có thể nói sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hòa có sự “tiếp tay” của bà Ngô Đình Nhu.

Tháng 10 năm 1963, bà và cô con gái là Ngô Đình Lệ Thủy đi công cáng bên Mĩ, nhưng đến ngày 1/11/1963 thì chính quyền anh chồng của bà bị sụp đổ, và bà bắt đầu cuộc sống lưu vong. Theo wikipedia:

“Ngày 15 tháng 11 năm 1963, Trần Lệ Xuân và Lệ Thủy rời khỏi Los Angeles để đi Roma sinh sống sau khi phát biểu: "Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi.

[…]Những năm đầu thập niên 1990, Trần Lệ Xuân sống tại vùng Riviera Pháp và thường chỉ trả lời phỏng vấn một lần duy nhất để lấy tiền và vé máy bay khứ hồi cho con gái út qua thăm ông bà ngoại ở Mỹ.

[…] Trước khi qua đời, Trần Lệ Xuân đang sống một mình, viết hồi ký tại một trong 2 căn hộ thuộc quyền sở hữu của bà (căn thứ hai cho thuê) trên tầng 11 của một tòa nhà cao tầng gần tháp Eiffel tại Quận 15, thủ đô Paris (Pháp) và cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật chính trị. Hai căn hộ này theo bà là của một nữ bá tước tỷ phú người Ý là Capici tặng mặc dù hai người chưa từng gặp nhau."

UserPostedImage

Hình hai mẹ con Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Lệ Thủy trên tạp chí LIFE


Ông bà Ngô Đình Nhu có bốn người con, tất cả đều thành đạt. Con con gái đầu lòng là Ngô Đình Lệ Thủy chết vào năm 1968 trong một tai nạn giao thông ở Paris. Ngô Đình Lệ Quyên là tiến sĩ luật khoa, có chồng người Ý. Ngô Đình Trác, năm nay đã gần 60 tuổi, là kĩ sư canh nông. Ngô Đình Quỳnh là một chuyên gia về kinh tế, đang làm việc cho một công ti Mĩ. Nghe nói Ngô Đình Lệ Quyên vẫn không vào quốc tịch Ý và vẫn đặt tên con với họ Ngô Đình.

Nói đến chế độ Ngô Đình Diệm là người ta nhớ ngay đến ông bà Ngô Đình Nhu. Cái chết của bà khép lại một chương sử đầy biến động. Nhìn qua sự thăng trầm của gia đình bà, chợt nhớ đến câu không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Có người xem những câu chữ khiêu khích cùng sự lộng quyền của bà, các chiến dịch đàn áp Phật giáo, gia đình trị chính là những yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1963. Sự sụp đổ và những yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm cũng là một bài học cho những chế độ kì thị đàn áp tôn giáo và khinh thường người dân.

NVT

thunder  
#62 Posted : Monday, April 25, 2011 11:16:20 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Tướng NGUYỄN KHOA NAM:
Cuộc Đời Đã Thành Huyền Thoại!

UserPostedImage


Nguyên là Hải Quân Trung Úy thuộc QLVNCH vào năm 1975, được giao trách nhiệm nhuận bút và hoàn thành tác phẩm “Nguyễn Khoa Nam” ấn bản đầu tiên 2001.

Từ ngày nhập ngũ cho đến khi tuẫn tiết, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã dâng trọn cuộc đời cho quân đội, chiến đấu bên cạnh các chiến hữu của ông trên khắp mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam. Chín năm sau, hài cốt ông đã được bà Nguyễn Khoa Phước (em dâu ông) cải táng, hỏa thiêu và trong cuộc hành trình về lại Sài Gòn, rải tro cốt xuống giòng sông Hậu, sông Tiền, nơi mà Tướng Nam đã sống và chết bảo vệ an ninh lãnh thổ cho vùng Đồng Bằng Cửu Long. Xác thân ông đã hoà vào giòng nước đục phù sa, linh hồn ông đã nhập cùng hồn thiêng sông núi! Tướng Nam không bỏ người chiến hữu nào mà đã vĩnh viễn ở lại cùng họ, những người lính chiến VNCH đã hi sinh mạng sống hay một phần thân thể để bảo vệ nền tự do, dân chủ non trẻ của miền Nam suốt 20 năm dài. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ông bình thản chu toàn trách vụ của vị tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV tới phút cuối cùng xong mới thanh thản trở về với lòng đất mẹ. Tướng Nam đã không đành đoạn bỏ nước và dân chúng ra đi hay chịu yên vui sống tiếp quãng đời còn lại trên xứ người, nhìn đất nước bị Cộng Sản nhuộm đỏ và đồng bào ông sống trong cảnh tủi nhục đọa đày.

Dù không bắt buộc, theo quan niệm về nhân đức truyền thống Việt Nam, 5 vị tướng cùng nhiều vị quân cán chính VNCH đã tự nguyện trói buộc sinh mạng mình với nỗi thăng trầm của vận nước. Như Tướng Nam, cả đời xả thân phuc vụ dân tộc, đã đứng chiêm ngưỡng non sông, khóc cho vận nước lần cuối trước khi tuẫn tiết để bảo toàn danh dự. Như Tướng Hưng, từng hứng chịu hàng vạn quả đạn pháo sấm sét trên công sự phòng thủ An Lộc chẳng hề nao núng mà không thể sống nhục.” Như Tướng Hai, khi tuẫn tiết vẫn mang trong lòng niềm tin son sắt: “Sớm muộn gì đất nước ta cũng có ngày sáng sủa.” Như Tướng Phú, Tướng Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và hàng ngàn chiến sĩ anh hùng khác đã hiên ngang tìm cái chết để “trả nợ núi sông” chứ không chịu hàng giặc.

Trong thời gian làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4, Tướng Nam không những chưa để mất một tấc đất nào mà trong cơn dầu sôi lửa bỏng nhất, ông vẫn sát cánh chiến đấu và chăm lo cho đời sống quân dân. Tinh thần trách nhiệm, khả năng và đức độ của ông đều được quân dân biết tiếng: là một vị tướng nhân hậu, tận tụy với công việc, giỏi điều quân, trăm trận trăm thắng mà số binh sĩ thương vong rất thấp. Tài đức đó đã trở thành mẫu mực, gương sáng được thuộc cấp tâm phục, noi theo. Thế nên, thật dễ hiểu khi một số tướng lãnh, sĩ quan và binh sĩ dưới quyền cũng đã chọn lối xử sự tương tự như ông và quân nhân các cấp thuộc Quân Đoàn IV-Quân Khu 4 ở lại chịu cảnh tù đày cải tạo đông nhất. Dù chưa phải là một vị tướng chiến lược như Alexander Đại Đế mở rộng Đế Quốc Hi Lạp thành rộng lớn nhất thời cổ, Tướng Subodai “bất bại” của Mông Cổ giúp Hốt Tất Liệt san thành bình địa bao quốc gia từ Á sang Âu hay Mac Arthur, chỉ huy toàn bộ chiến trường Á Châu thời Đệ II Thế Chiến nhưng Tướng Nam với những cá tính và khả năng đặc biệt, trong ý niệm so sánh chừng mực, cũng đã trở thành vị tướng VNCH mà cuộc đời đượm màu huyền thoại (legendary) như các tướng nói trên. Cái chết của ông cùng các anh hùng liệt sĩ khác để lại trong lòng người bao nhiêu thương tiếc, ngưỡng mộ lẫn ngậm ngùi!

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam


Tướng Nam Là Hiện Thân Của Danh Tướng Nguyễn Khoa Kiên?
Chiến thắng Đồi Ngok Van đã nâng tên tuổi Tướng Nam lên ngang tầm với các vị tướng giỏi của VNCH mà thuật dụng mưu của ông trong nhiều trận chiến quan trọng đã được các “Thiên Thần Mũ Đỏ” ưu ái đặt cho ông biệt danh “Hành Khất Đại Hiệp,” nhân vật bất hủ trong truyện kiếm hiệp Kim Dung. Khả năng điều quân của Tướng Nam được một số thân nhân, bằng hữu tin rằng ông thừa hưởng từ nhiều danh tướng thuộc dòng họ Nguyễn Khoa; đặc biệt, có người đã coi ông là hiện thân của Tướng Nguyễn Khoa Kiên vì nhiều điểm trùng hợp.

Dưới đời Huệ Vương (1765-1777), Tướng Nguyễn Khoa Kiên giữ chức Khâm Sai Đốc Chiến Triệu Thành Hầu. Ông có sức mạnh hơn người, được vua phái đi đánh dẹp loạn Tây Sơn. Ông đánh đâu thắng đó, nên được ví như Triệu Tử Long, một danh tướng nhà Hán, thời Tam Quốc bên Tàu. Trong một trận thủy chiến ngoài khơi Phú Yên, chiến thuyền ông gặp bão, phải tấp vào đảo Tam Sơn và bị địch bắt sống. Nhà Tây Sơn dùng kế “ly gián,” phong cho ông Kiên chức Đại Tướng, sai cầm quân đánh lại quân nhà Nguyễn do Tướng Quyên và Tướng Xuân chỉ huy đang chống cự Tây Sơn ở Quảng Nam. Ông Kiên hiểu rõ mưu kế của địch nên nhất định từ chối, xỉ vả sứ thần rồi rút kiếm tự vận lúc mới 22 tuổi.

Ngày 28 tháng 4 năm 1915, vị cố đạo Pièrre Cardière nghiên cứu về tộc Nguyễn Khoa đã viết: “... Tôi tìm được bia mộ ghi tên một vị tướng trong tộc Nguyễn Khoa là Nguyễn Khoa Kiên. Trong Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện sơ tập, và Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên cũng đã viết về một danh tướng tên là Nguyễn Khoa Kiên. Nguyễn Khoa Kiên thuộc đời thứ bảy dòng họ Nguyễn Khoa, sanh năm Giáp Tuất 1754 và mất năm Ất Vị 1775.”

Như vậy, Tướng Nguyễn Khoa Kiên tự vẫn đúng 200 năm trước ngày Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết. Cả hai Tướng Kiên và Tướng Nam đều nổi danh, cùng tự vẫn ở tuổi còn rất trẻ. Người tin vào thuyết Luân Hồi của Phật Giáo có lẽ sẽ tự hỏi: “Phải chăng Tướng Nguyễn Khoa Nam là hiện thân của danh tướng Nguyễn Khoa Kiên, 200 năm về trước?”

Kế Hoạch Hành Quân Mật

Quân Đoàn IV vào khoảng đầu tháng 4 năm 1975 vẫn giữ vững được hoàn toàn lãnh thổ và còn nguyên vẹn 3 Sư Đoàn Bộ Binh 7, 9 và 21 cùng các lực lượng Không Quân và Hải Quân yểm trợ. Nhiên liệu dự trữ còn đầy đủ với vũ khí và đạn dược, tuy thiếu thốn vẫn đủ khả năng chống cự với đại quân CSBV trong ít nhất là nửa năm trời mà có thể kéo dài lâu hơn nếu nhận thêm tiếp vận. Trong giờ phút sinh tử của Quân Đoàn IV-Quân Khu 4, Tướng Nam vẫn theo đuổi một kế hoạch, gọi là “Hành Quân Mật” với hi vọng lật ngược thế cờ. Kế hoạch này đã soạn thảo từ khi Tướng Nam nhận được lệnh chuẩn bị căn cứ cho Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH cùng Bộ Tư Lệnh các quân chủng di tản chiến thuật về Quân Đoàn IV chỉnh đốn lại lực lượng. Cuộc hành quân mật nhằm mục đích triệt thoái toàn bộ lực lượng Quân Đoàn IV cùng các đơn vị di tản về một vị trí hiểm yếu hầu tiếp tục chiến đấu để chuyển bại thành thắng hay kéo dài thời gian tìm một giải pháp chính trị thuận lợi hơn cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Thế nhưng, “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên,” khoảng 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh, vị Tổng Thống cuối cùng của miền Nam ra lệnh cho quân đội VNCH buông súng chờ đợi bàn giao cho CSBV. Trưa hôm đó, tại văn phòng làm việc dưới hầm của Tướng Nam, một quyết định nghiêm trọng cho đất nước đã được thi hành: Thay vì ban lệnh Hành Quân Mật, Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam đã ra lệnh hủy bỏ kế hoạch này.

Tướng Nam quyết định hủy bỏ Kế Hoạch Hành Quân Mật, có lẽ dựa vào nhiều dữ kiện:
Ngay từ đầu, lệnh hành quân mật không được thi hành đúng như kế hoạch chiến lược đã được hai Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam và Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng soạn thảo. Ví dụ, vào khoảng 5 giờ chiều ngày 29 tháng 4, Tướng Nam đã viết nhật lệnh trấn an quân dân Vùng 4, kêu gọi đồng bào bình tĩnh và ra lệnh các đơn vị quân đội tử thủ. Bản nhật lệnh được Thiếu Tá Đức, chánh-văn-phòng chuyển đến phòng CTCT để đọc trên Đài Phát Thanh Cần Thơ. Nhưng nội dung bản nhật lệnh này đã bị “ai đó” sửa đổi và thay vì “BTL ra lệnh tử thủ thì lại kêu gọi buông súng và trấn an dân chúng.” (1)

Vào khoảng nửa đêm ngày 29 tháng 4, Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Sông Ngòi đã di tản một số đơn vị tại Cần Thơ khi nhận được lệnh từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Phải chăng sự ra đi của Lực Lượng Hải Quân mang theo một số dân chúng đã làm nản lòng phần nào binh sĩ Vùng 4? Lực lượng Hải Quân rất cần thiết cho các cuộc chuyển quân, hành quân trong vùng sông rạch chằng chịt thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Do đó, cuộc ra đi của Hải Quân Vùng IV đã làm hỏng một phần quan trọng của Kế Hoạch Hành Quân Mật chăng?

Là Tư Lệnh Quân Đoàn, Tướng Nam chắc chắn phải suy nghĩ nhiều về hai cuộc triệt thoái đầy bí ẩn của Quân Đoàn I và Quân Đoàn II. Ban Mê Thuột thất thủ vào giữa tháng 3, nhưng đó không phải là lý do “sống còn” để Tổng Thống Thiệu ra một lệnh rất khó hiểu mà đối với vị tướng cầm quân, đó là lệnh “tự sát” khi quyết định bỏ vùng Cao Nguyên. Cuộc di tản từ Cao Nguyên, bỏ trống phần đất phía Nam Quân Đoàn I-Quân Khu 1 đã gây hoang mang tinh thần khi quân dân Quân Đoàn I cảm thấy bị cô lập giữa hai gọng kềm CS từ Bắc địa đầu đang áp lực nặng xuống và từ Cao Nguyên lên. Sau đó, lệnh bất nhất, truyền thông đưa tin thất thiệt, cuộc di tản hỗn loạn đã gây tác dụng bi thảm “giây chuyền” kéo tới sự tan rã nhanh chóng của hai quân đoàn và rồi sự sụp đổ của miền Nam. Tuy thế, sáng sớm ngày 30 tháng 4, Tướng Nam vẫn bay xuống họp ở Tiểu Khu Định Tường. Cuộc họp chấm dứt và ông bay trở về Cần Thơ ngay để họp hành quân tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4. Bề ngoài, Quân Đoàn IV cho đến lúc này vẫn trong tình trạng chiến đấu.

Như vậy, lý do tối hậu khiến ông bãi bỏ kế hoạch chính là lệnh buông súng do Tổng Thống Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh khoảng 10:30 sáng ngày 30 đã làm “bể quân” khiến ông, dù có muốn, cũng khó thể thi hành kế hoạch Hành Quân Mật được nữa. Biết rằng, “không thể cãi mệnh Trời,” phần vì đức hiếu sinh, lòng thương quân dân vô tội, ông đành tuân lệnh vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội hủy bỏ kế hoạch. Do đó, ông không cho phá sập cầu Long An để chận bước tiến của quân CS. Cũng vì thế, sau bữa ăn trưa ở Câu Lạc Bộ Cửu Long về, Tướng Nam mới ra lệnh cho Trung Úy Danh tháo gỡ những dấu chỉ ranh giới, mũi tên tượng trưng kế hoạch điều quân giữa lực lượng ta và địch trên bản đồ Hành Quân Mật. Đây cũng là chỉ dấu cho biết căn cứ mật thuộc Quân Khu 4, có thể là vùng Thất Sơn (2) như phu nhân cố Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng là Phạm Thị Kim Hoàng sau này đã tiết lộ về kế hoạch Hành Quân Mật có tên “Nối Bàn Tay” trong bài Hồi Ký của bà.

Bảo Vệ An Ninh Và Sinh Mạng Quân Dân Trong Giờ Thứ 25


Đã quyết định dứt khoát, nhưng khi cuộc chiến đến hồi tàn, lúc tinh thần con người hỗn loạn và khi kẻ thắng, lòng vẫn còn ngun ngút hận thù thì bất cứ chuyện bất trắc nào cũng có thể xảy ra gây phương hại đến tình trạng an ninh của dân chúng. Tướng Nam đã cố gắng giữ yên tĩnh cho Quân Đoàn IV, bảo toàn sinh mạng, tài sản của binh sĩ thuộc cấp và của dân chúng tối đa. Thực hiện điều này, vào trưa ngày 30, Tướng Nam chỉ định Đại Tá Thiện vào chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh thay Đại Tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh đã ra đi. Đến 4 giờ chiều ông vẫn bình thản tiếp hai VC vào Dinh, chỉ uống trà nói chuyện chứ không bàn giao sổ sách, giấy tờ gì cả; có lẽ, ông thuyết phục CS đừng giết hại quân dân vô tội; đổi lại, sẽ để họ “tiếp thu” một cách êm thắm chăng?

Khoảng 6:30 chiều, Tướng Nam đi thăm viếng các thương bệnh binh tại Bệnh Viện Phan Thanh Giản, an uỉ từng người, một thương binh chợt níu tay ông nói:

“Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em, nhé Thiếu Tướng?”
“Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em!”
Tôi tưởng tượng ra hình ảnh đầy xúc động này:
“Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi (Trung Uý Danh) thấy Tư Lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư Lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào: “Em cố gắng điều trị... có Qua ở đây!”

Trở về Quân Đoàn IV, Tướng Nam đứng trên ban-công lầu hai của Bộ Tư Lệnh nhìn lại giang sơn lần cuối với hai Trung Úy Tùy Viên Lê Ngọc Danh và Trung Úy Việt, cả ba cùng khóc nức cho cảnh “vật đổi sao dời” đang thật sự xảy ra trước mắt. Sau đó, Tướng Nam chắc hẳn thức suốt đêm 30, suy ngẫm về thế cuộc, vận nước nổi trôi của một dân tộc hiền hòa và cầu nguyện trước khi tuẫn tiết trước bàn thờ Phật vào khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 1 tháng 5, 1975.

Nghĩ đến việc Tướng Nam lo lắng cho sinh mạng dân chúng, vào thăm viếng uỷ lạo thương bệnh binh khi cuộc chiến đã tàn, khi mà nhiều đồng đội chẳng qui hàng, bỏ nước tìm tự do đã yên lành trên các chiến hạm Đệ Thất Hạm Đội hay một quốc gia đệ tam nào đó mà lòng tôi thương cảm, kính phục ông hơn. Là một vị tướng liêm khiết, yêu nước, thương dân, hết lòng lo lắng cho chiến sĩ thuộc cấp, Tướng Nam đã chọn cách tuẫn tiết để “ở lại với thuộc cấp đúng như lời hứa,” ở lại với đồng bào, quê hương và để giữ tròn tiết tháo của một tướng lãnh trách nhiệm an ninh lãnh thổ cho một Quân Khu đông dân và trù phú nhất miền Nam.

Điều Lạ Lùng Xảy Ra


Có một điều khác thường đã xảy ra trong buổi lễ Kỷ Niệm Ngày Quốc Hận và ra mắt sách “Nguyễn Khoa Nam” tổ chức vào 1:30 trưa ngày Chủ Nhật 29 tháng 4 năm 2001 tại Trung Tâm Công Giáo, Nam California.

Các niên trưởng đang dâng hương trước Bàn Thờ Tổ Quốc
(4)

Trong lúc các niên trưởng đại diện quân, cán, chính dâng hương lên Bàn Thờ Tổ Quốc thì thấy một con chim sẻ bay quanh Bàn Thờ, lởn vởn trong Hội Trường một lát rồi bay đi mất. Sáng hôm sau, trên đường đưa tôi ra phi trường trở về Michigan, anh Nguyễn Mạnh Thông có đề cập đến chuyện con chim sẻ và anh cũng thắc mắc về sự kiện xảy ra _ biết đâu chẳng liên hệ đến tính siêu hình? Chị Nhã Ca suy diễn sự kiện xảy ra một cách rất lạc quan rằng: “con chim sẻ tượng trưng cho anh linh các vị anh hùng liệt sĩ hiển hiện để chia sẻ niềm đau buồn trong ngày tủi nhục của cả dân tộc.” Tôi chợt nhớ đến một đoạn trong Thánh Kinh về việc Chúa Thánh Thần hiện ra dưới dạng con chim bồ câu khi Thánh John Baptist rửa tội cho Chúa Giê Su dưới sông Jordan. Mỗi lần nghĩ đến điều đó, tôi tự nhiên cảm thấy lòng ấm áp và phấn khởi vô cùng.

Cho đến nay, tôi vẫn thắc mắc về thân thế và sự nghiệp của Tướng Nam _ phải chăng Tướng Nam là hiện thân của Tướng Kiên? Tôi vẫn thắc mắc về Kế Hoạch Hành Quân Mật _ phải chi kế hoạch đó được thực hiện tới cùng thì chưa biết dân tộc ta ngày nay sẽ ra sao và đời sống của 3 triêụ người Việt tại hải ngoại chắc chắn đã đổi khác? Tôi vẫn thắc mắc về con chim sẻ bay quanh Bàn Thờ Tổ Quốc mà cánh chim quạt mẩu tàn nhang rơi vào tay tôi một cách lạ lùng. Tôi vẫn nghĩ mãi: “Phải chăng hồn thiêng sông núi và anh linh tiền nhân cùng các tướng sĩ tuẫn tiết “vị quốc vong thân” vẫn hiện diện khắp nơi trên núi sông đất nước để quan phòng và phù trợ cho dân tộc Việt Nam?” Điều này ngoài sức hiểu biết của tôi, nhưng có một điều tôi có thể khẳng định mà không sợ lầm là: Cuộc đời và sự nghiệp của Tướng Nguyễn Khoa Nam đã trở thành huyền thoại!

Chú Thích:

(1) “Nguyễn Khoa Nam,” Hội Phát Huy Văn Hóa Việt Nam, 2001.
(3) Đây chỉ là điều suy đoán của tác giả bài viết:
“Vùng Thất Sơn giáp biên giới Việt Miên, có nhiều hang động, thuận tiện cho việc ẩn nấp, tàng trữ vũ khí, tránh được thiệt hại do các cuộc tấn công hoặc không tập, pháo kích bằng đại pháo của quân CS. Cứ địa hoạt động phải gần hậu cần có đông dân chúng hậu thuẫn, yểm trợ lâu dài về mọi mặt như nhân lực, vũ khí, lương thực, tin tức tình báo, v.v. Hơn nữa, thành phần dân chúng theo đạo Hoà Hảo sống chung quanh vùng này đều căm thù Cộng Sản đã sát hại Đức Huỳnh Giáo Chủ nên lực lượng quốc gia dễ được cảm tình của dân chúng. Do đó, địa điểm Thất Sơn là một chọn lựa tốt nhất vì địa thế hiểm yếu, có nhiều ưu thế về chiến lược, chiến thuật vì quân đội quốc gia có thể cầm cự lâu dài trong các hang động ngõ ngách của vùng thâm sơn cùng cốc Thất Sơn huyền bí. Trong trường hợp gặp áp lực địch quá mạnh, muốn bảo toàn lực lượng hoặc cần thời gian dưỡng quân, quân đội quốc gia sẽ rút tạm qua bên kia biên giới.”
(3) Hồi Ký “Ngày Cuối Cùng Trong Cuộc Đời Của Chồng Tôi, 30-4-1954” của bà Phạm Thị Kim Hoàng, phu nhân cố Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV-Quân Khu 4.
(4) Trích trong “Nguyễn Khoa Nam,” Vân Lộc Foundation, 2007, pg 578.

Phạm Văn Thanh

Ngoc N Hao  
#63 Posted : Tuesday, April 26, 2011 8:50:25 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Những Bài Viết Về Bà NGÔ ĐÌNH NHU


Mạn Đàm Với Bà Ngô Đình Nhu

UserPostedImage

Bà Ngô Đình Nhu (nhũ danh Trần Lệ Xuân)



Tôi đến thăm Bà Ngô Đình Nhu vào lúc 2 giờ trưa ngày 16 tháng 3 năm 2002 tại kinh thành Paris của nước Pháp. Nắng êm dịu vừa lên sau buổi sáng ẩm ướt của những ngày đầu Xuân và Paris thì lúc nào cũng chật ních những người và xe.

Thành phố có cả một kho tàng bảo vật và huyền thoạị. Ở đây người đi bộ đầy đường với những tiệm ăn và quán cà phê nối tiếp chạy dài cả dẫy phố. Người Paris nhàn hạ và ham muốn hưởng thụ, chậm chạp nhưng thon thẻ hơn người Seattle. Cuộc sống thư giãn chậm chạp của những ông Tây bà Đầm là niềm ước mơ của những người luôn phải vội vã lập cập với tốc độ từ sáng sớm đến nửa đêm ở Cali hay Texas.

Bà Nhu ở một mình trong một đơn vị gia cư (apartment) của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Nói là mới để phân biệt với những chung cư san sát ở Paris đã được xây cả đến vài ba thế kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư Bà Nhu ở có những nét kiến trúc đương đại giống như một cái nôi khổng lồ bằng kính, có lẽ đã được tạo dựng từ 30 đến 40 năm.

Bà Nhu là sở hữu chủ hai (02) đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của tòa nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất Paris, ngay giữa cái nôi của văn hóa và chính trị thế giới. Nơi đây, một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay mấy trăm tấc vàng.

Cả vùng này hầu như là nơi cư ngụ của các nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là lợi tức duy nhất của Bà, cũng tiệm tạm đủ sống và không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, đi về lẻ loi thầm lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng người Việt quốc gia ở Paris là cựu Trung Tướng Trần Văn Trung vẫn nghĩ là Bà Nhu sống ở bên Ý.

Trên đường đến thăm Bà Nhu, tôi vẽ ra trong đầu óc qua hình ảnh của những chung cư đắt tiền ở New York hay San Francisco đã xem trên những tạp chí chuyên về địa ốc ở Mỹ và nghĩ là nơi cư ngụ của Bà Nhu chắc phải sang trọng lắm.

Những apartment của Jacqueline Kennedy hay Joyn Lennos ở New York và của các tay tài phiệt ở San Francisco gợi cho tôi một náo nức mong chờ. Các cụ mình ngày xưa vẫn nói “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây” thì chắc là đã có một so sánh cẩn trọng.

Tôi bước đi vội vàng với những lung linh nơi lãnh địa của giới thượng lưu. Những dòng họ quý tộc từ bao nhiêu đời cấu trúc nên vẻ hào nhoáng phong nhã của kinh thành Ánh Sáng và dân cư ngụ dù ở chân trời góc biển nào lưu lạc tới đây cũng được nhận lãnh ấn tích của người Paris.

Chiếc thang máy nhỏ hẹp vừa đủ chỗ đứng cho một ông Mỹ quá khổ đưa tôi lên tầng 11 của tòa nhà cao tầng. Bà Nhu mở cửa đón khách trong chiếc áo Kimono Nhật mầu xanh nước biển, khuôn mặt trang điểm kỹ lưỡng với giọng nói đặc Huế không vồn vã mà cũng chẳng quá lạnh nhạt. Bà Nhu sắp vào tuổi 80 nhưng rất khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Có người nói từ năm 1963 đến nay Bà chẳng già đi chút nào.

Thật ra đó chỉ là một lối nói để diễn tả sức khoẻ sung mãn của một người tuy đã nhiều tuổi đời nhưng vẫn giữ được vóc dáng linh hoạt và nét mặt không có những nếp nhăn theo thời gian. Tuy nhiên “cái già” cũng vất vưởng đâu đó trên khoé mắt vành môi. Khi Bà cười thì khuôn mặt trông rất tươi trẻ phô bầy bộ răng trắng vẫn còn đầy đủ trong tình trạng hoàn hảo.

Chỗ ở của Bà Nhu tuy không nghèo nàn nhưng chẳng có gì đáng nói, ngay cả không bằng cái apartment mà tôi thuê mướn ở ngoại ô thành phố Seattle vào mùa Đông năm 1975 khi vừa đến Mỹ. Đơn vị gia cư của Bà Nhu rất tầm thường giống như những apartment rẻ tiền ở Mỹ với hai phòng ngủ và một diện tích nhỏ làm phòng khách. Phía tay trái lối đi từ của ra vào là nhà bếp.

Trên tường phòng khách treo vài khung hình lớn có những tấm hình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Cha Ngô Đình Thục, Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy và nhiều người thân tộc đã quá vãng. Khoảng trống phía bên tay phải là phòng khách có một bộ xa lông, bên cạnh kê bàn ăn với 6 cái ghế. Bộ bàn ghế này và cài cái tủ nhỏ kê ngoài phòng khách làm bằng gõ gụ mầu đỏ với những nét chạm trổ Việt Nam quen thuộc.

Bà Nhu cho biết trước kia thân sinh là Ông Bà Trần Văn Chương có một apartment ở Paris và những đồ đạc này được mang từ Việt Nam qua, lâu lắm rồi. Khi hai cụ thân sinh bán cái apartment đi thì cho Bà Nhu bộ bàn ăn và hai cái tủ nhỏ này. Tôi đã đọc mấy bài báo nói về khiếu thẩm mỹ của Bà Nhu qua việc sắp xếp và trang hoàng Dinh Độc Lập. Giờ này được đứng ngay giữa cơ ngơi của riêng Bà mà chẳng thấy một “công trình” nào xem cho bắt mắt, có thể vì điều kiện tài chánh hay thời trưng diện của Bà đã qua.

Đứng ở nhà bếp nhìn ra ngoài có cảm tưởng như tháp Effel sát ngay bên cạnh khung cửa kính. Tôi tiếc thầm, phải như phòng khách mà được xếp đặt ở chỗ này thì đẹp biết bao. Ngồi đây nhâm nhi ly cà phê nhìn thiên hạ từ khắp nơi trên thế giới đổ xô đến chân tháp chờ lên thang máy nhìn cả kinh thành Paris. Ngày như đêm lúc nào cũng là hội hè đình đám. “Vui với cái vui của thiên hạ” chắc lòng mình cũng phần nào đỡ trống trải.

Có lẽ cũng vì vậy mà phòng ngủ bên cạnh nhà bếp có kê một bộ xa lông để bù đắp lại sự thiếu sót to lớn của người thiết kế khu chung cư. Phòng ngủ thứ hai là chỗ làm việc của Bà Nhu với đủ loại sách báo.

Cả đơn vị gia cư của một người sống lẻ loi một mình không có một cái giường nhỏ. Buổi tối Bà Nhu trải một cái chăn trên nền nhà, ở một chỗ nào đó trong “căn hộ” nhỏ hẹp để nghỉ qua đêm. Bà không ngủ trên giường nệm nên mặc dầu đã lớn tuổi mà vẫn giữ được lưng thẳng và đi đứng nhanh nhẹn, mạnh dạn.

Bà Nhu mời tôi ngồi trên một cái ghế ngay đầu bàn ăn cạnh khu phòng khách. Bà ngồi ghế đối diện, chân trái gác lên một chiếc ghế thấp hơn. Bà nói kỳ này khí hậu thay đổi bất thường nên cái chân hơi bị đau vì vết thương ngày trước. Bà Nhu bị gẫy chân trái trong vụ hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 năm 1962. Sau này bà đang đi bộ thì trượt chân ngã và cũng cái chân trái này gẫy lần thứ hai. Mặc đầu Bà không gặp khó khăn gì khi đi đứng nhưng đôi khi cũng thấy khó chịu.

Đối với tôi đây chỉ là một cuộc thăm viếng thường tình giữa người đồng hương nơi xứ la. Tôi không có ý định phỏng vấn Bà Nhu và chắc chắn Bà sẽ không được tự nhiên, thoải mái khi phải đóng khung trong những câu hỏi của một cuộc phỏng vấn. Phần khác tôi cũng không muốn khơi lại những đau thương mà Bà phải gánh chịu trong cơn bão táp lịch sử và bể oan cừu cay nghiệt của cuộc đời.


UserPostedImage

Maria Trần Lệ Xuân cùng chồng, Ô. Ngô Đình Nhu


Tôi muốn cuộc thăm viếng không bị gò bó và trói buộc vào một chủ đề, đồng thời cũng không muốn tìm tòi những gì mà cá nhân tôi và rất nhiều người được nghe đủ loại chuyện tốt xấu về Bà mà chẳng biết hư thực ra sao, và từ những mù mờ đó đã có biết bao câu hỏi về một người đàn bà một thời xe ngựa thênh thang.

Tôi muốn câu chuyện được tự nhiên và để Bà chủ động bất cứ những gì Bà muốn nói. Tôi có thể dùng những tiểu xảo của kỹ thuật phỏng vấn “gài” Bà vào những sơ hở để thỏa mãn những gì tôi muốn biết hoặc chỉ nghe đồn thỗi. Tôi đã không làm như vậy vì lòng kính trọng đối với Bà và lương tâm ngay lành của tôi.

Tôi mở đầu câu chuyện bằng mấy lời xã giao thông thường, kính chúc Bà luôn được mạnh khỏe an vui. Bà bắt đầu nói về lai lịch nơi hiện cư ngu. Rất nhiều người biết qua báo chí chuyện một người Pháp giầu có biếu Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đã cho Bà Nhu để mua một đơn vị gia cư trong tòa nhà cao tầng này và sau đó Bà dành dụm mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thật không phải như vậy.

Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ân nhân ẩn danh. Có tiền trong tay, Bà đã nhờ một cựu Bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai đơn vị gia cư này. Vào những năm mà người Việt vượt biển ra đi một cách rầm rộ gần như công khai, Bà Nhu cho mấy thanh niên mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở đơn vị gia cư thứ hai và không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào cả.

Một thời gian sau những thanh niên này tìm được thân nhân hay vì nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống mới thì Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến ngày nay. Vị ân nhân tặng Bà Nhu số tiền kếch xù đó là Bà Capaci, một cư dân thành Milan nước Ý và cũng là một trong bẩy người phụ nữ giầu nhất thế giới. Bà Nhu chưa được một lần gặp vị ân nhân này và mãi đến bốn năm sau khi Bà Capaci tạ thế Bà Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của người đã gia ân cho mình.

Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp có treo tấm hình đen trắng ngôi nhà của Ông Bà Nhu ở Đà Lạt, tôi kể cho Bà nghe chuyến đi về Việt Nam nhân dịp Tết Tân Tỵ, lần đầu tiên sau 26 năm vội vã ra đi lánh nạn Cộng sản. Tôi đã đi Đà Lạt, ghé lại thăm ngôi nhà xưa của thời trung học, bước qua đường đứng nhìn nhà Ông Bà Nhu một lúc lâụ Ngôi nhà của Ông Bà Nhu hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không thấy những đổ vở hoang tàn vì thời gian hay qua những biến động.

Hiện nay Bà Nhu không có ý định về thăm Việt Nam mặc dầu Bà được nhà cầm quyền Hà Nội đánh tiếng cho biết là nếu Bà muốn về thì cũng chẳng có trở ngại gì. Những kỷ niệm về một nơi chốn thân thương xa xưa gợi lại miền ký ức dấu ái, Bà nói “Tôi gặp Ông Cố Vấn năm 16 tuổi, đến năm 18 tuổi thì làm đám cưới”. Bà có vẻ buồn khi nói đến ngôi nhà ở Đà Lạt. Một vùng trời mộng mơ với những kỷ niệm của ngày tháng êm đềm nơi sứ sương mù vẫn còn vương vất đâu đây.

UserPostedImage


Khi nói về những người con thì Bà Nhu có vẻ bằng lòng với chút hãnh diện. Tôi cố tình không hỏi gì về trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy đã bị chết thảm trong một tai nạn xe cộ trên xa lộ vòng đai của Paris. Rất có thể đây là một âm mưu quốc tế còn nhiều nghi vấn chưa được sáng tỏ và tôi cũng không muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn để rồi những giọt nước mắt của bà mẹ lại một lần nữa ướt đẫm trên khuôn mặt đã có quá nhiều khỗ đau.

Ông con trai lớn Ngô Đình Trác tốt nghiệp Kỹ sư canh nông, năm nay cũng đã 55 tuổi, lấy vợ người Ý và có bốn con, ba trai một gái. Bà Nhu nói về những đứa cháu nội, con trai của Ông Trác, trong niềm vui “cao một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm”. Vợ ông Trác thuộc giòng dõi quý tộc rất giầu có.

Ông Trác rất đam mê công việc trồng trọt chăn nuôi và đã chế tạo được nhiều dụng cụ nông cơ thích hợp cho việc canh tác những thủa đất nhỏ. Gia đình Ông Trác sỡ hữu một biệt thự to và rất đẹp trong nội thành La Mã. Ngôi biệt thự này có cách cấu trúc và dáng dấp như một tu viện. Bà Nhu đã ở đấy nhiều năm nên rất nhiều người lầm tưởng rằng Bà đã tá túc ở một tu viện Công giáo trong khoảng thời gian dài.

Người con trai thứ hai là Ngô Đình Quỳnh cũng đã trên 50 tuổi, tốt nghiệp trường E.S.E.C. (École Suprrieure de l’Econmie yet du Commerce) chứ không phải trường H.E.C. (Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí và sách vở đã sai lầm. E.S.E.C. là trường tư đào tạo các chuyên gia kinh tế và tài chánh cao cấp, có học trình gay gắt và học phí rất cao.

Sinh viên được nhận vào học trường này phải vượt qua những cuộc thi cử cam go và sau khi tốt nghiệp được các cơ quan kinh tế và tài chánh trên toàn thế giới trọng vọng. Khi Ngô Đình Quỳnh học trường này Bà Nhu đã không đủ khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền học. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một số công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đình. Bà Nhu cười nói “Ông Quỳnh giống Bác”, hàm ý sống độc thân như Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đang lúc tôi nói chuyện với bà Nhu thì một thiếu nữ người Pháp gõ cửa bước vào với một xấp hình trên tay.

Cô bé 17 tuổi này vừa trở về sau chuyến đi làm công việc thiện nguyện giúp các thanh nữ Phi Luật Tân bị bệnh AIDS. Tất cả chi phí cho chuyến đi của cô bé này do ông Ngô Đình Quỳnh đài tho. Cô bé có những lọn tóc mầu hạt dẽ khoe những tấm hình chụp chung với các nạn nhan của căn bệnh thời đại và ước mong sẽ được trở lại thủ đô của nước Phi Luật Tân để tiếp tục công viêc bác ái. Bà Nhu nói ông Quỳnh sống đạm bạc và rất tích cực trong những hoạt động từ thiện nên ước vọng của cô bé chẳng phải là một giấc mợ.

Cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên có bằng Tiến sĩ Luật từ trường đại học Roma. Lệ Quyên là một luật gia ngành Công Pháp rất nổi tiếng nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở phân khoa Luật của đại học Roma mà thôi. Lý do đơn giản là Lệ Quyên không chịu vào quốc tịch Ý.

Luật lệ nước Ý không cho phép những người không có quốc tịch được quyền giảng dậy một cách chính thức trong học trình. Lệ Quyên thường xuyên được mời dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc làm sửng sốt các “cây đại thụ” của ngành công pháp thế giới.

Lệ Quyên có chồng người Ý và đứa con trai 7 tuổi lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu hãnh diện nói tên cháu bé là Ngô Đình Sơn, một tự hào dòng họ hay là sự gìn giữ gốc rễ gia tộc.



Mỗi buổi sáng sớm, bất kể thời tiết. Bà Nhu đều “xuống đường” đi bộ chừng độ 10 phút đến nhà thờ Saint Léon dâng thánh lễ hằng ngày. Cũng tại ngôi thánh đường này, lần đầu tiên vào tuần lễ đầu tháng 11 năm 2001, Bà Nhu tổ chức lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thông thường sau thánh lễ Bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bày hoa nến.

Ngày Chúa nhật Bà phụ trách dậy lớp thánh kinh cho các trẻ nhỏ. Bà gia nhập đạo Công giáo khi lập gia đình, nhưng lúc thiếu thời được giáo dục trong các trường Công giáo nên có thể nói là Bà đã lớn lên và trưởng thành trong tín lý của đạo Chúa. Trong câu chuyện, Bà Nhu nhiều lần biểu lộ Đức Tin tuyệt đối nơi sự an bài của Đấng Tối Cao.

Khi nghe tôi nói có thân nhân đang bị bệnh và rất muốn trở về Mỹ sớm hơn, Bà Nhu đi vào phòng làm việc lấy cho tôi một tượng ảnh Đức Mẹ Maria đúc bằng kẽm to hơn đồng một xu Mỹ kim. Bà nói mang tượng ảnh về cho bệnh nhân thì Đức Mẹ sẽ cứu giúp và chữa khỏi. Tôi nghĩ là vì có Đức Tin mạnh mẽ như vậy nên Bà đã vượt qua được bao cơn sóng gió ba đào mà sống mạnh khỏe đến ngày naỵ

Trên đường từ nhà thờ về Bà Nhu cũng thỉnh thoảng ghé lại tiệm bán hoa và cây cảnh, mua vài bông hoa hay một chậu cảnh trang hoàng trong nhà. Ít khi Bà phải nấu nướng vì ăn rất ít và những bà bạn người Pháp thương mang đồ ăn đến cho nên cũng chẳng bận rộn gì việc bếp núc. Trước kia tôi nghe có người nói Bà Nhu chỉ ăn qua loa, hai ba lần một tuần.

Tôi nghĩ là nếu ăn uống như vậy thì làm sao mà… thở được. Bây giờ tôi nghe chính Bà Nhu nói “hai ngày nay tôi chưa ăn gì cả, vì tôi không ăn nên không có bệnh”. Các vị tu sĩ Ấn Độ giáo rất ít khi ăn uống nhưng người nào cũng mạnh khỏe và sống lâu trăm tuổi. Ở các nước Âu Mỹ đa phần người ta chết vì ăn chứ có ai chết vì đói.

Bà Nhu hầu như không đi sắm sửa quần áo giầy dép. Mỗi năm một bà bạn người Nhật gởi qua cho vài cái áo Kimono đủ mặc trong nhà, có việc đi đâu thì mặc mấy cái quần áo cũ cũng còn tạm được. Nói đến quần áo, Bà có vẻ đăm chiêu “ở Sàigòn nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ, Tổng Thống không bằng lòng”.

Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là”kiểu áo Bà Nhu” đã một thời là “mốt” của các thiếu nữ Sài Gòn và cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rồi nghề. Bà kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu nhân các vị quốc khách mà chẳng có đến một món trang sức nên thấy thiếu sót. Nhân có bà vợ một ông Bộ trưởng muốn bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (ruby), Bà Nhu có trình và xin Tổng Thống số tiền sáu ngàn đồng bạc Việt Nam để mua lại.

Tổng Thống nghe lời giãi bầy cũng hợp lý nhưng yêu cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận với đầy đủ lai lịch của những món đồ trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy nhất Tổng Thống cho tiền và cũng chẳng còn nhớ những đồ trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.

Trong lúc nói chuyện, thỉnh thoảng Bà Nhu cũng đề cập đến những diễn biến chính trị, kinh tế và xã hội toàn cầu. Bà có những phân tích, lượng giá vấn đề một cách chi tiết và hợp lý đồng thời đưa ra những kết luận làm người nghe dẽ dàng bị thuyết phục. Điều này chứng tỏ tuy sống khép mình trong một căn phòng nhỏ bé những Bà vẫn theo dõi thời cuộc một cách cẩn thận. Bà vẫn còn giữ những liên lạc cần thiết với giới ngoại giao quốc tế trong một giới hạn cẩn trọng.

Nhớ lại Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới năm xưa, Bà nắm hai tay trước mắt nhìn lên trần nhà nói bằng tiếng Pháp “phụ nữ phải được giải phóng, phụ nữ phải được tôn trọng”. Giấc mơ của Bà là người phụ nữ phải có chỗ đứng và tiếng nói trong xã hộị. Ước vọng của Bà là người phụ nữ phải có những cơ hội thuận tiện để thăng tiến trong mọi lãnh vực của đời sống. Tiếng nói của Bà rõ ràng , chắc nịch, lên xuống với những cảm xúc làm người nghe rất dễ bị lôi cuốn rồi nhiệt tình ủng hô..

Trong cả một buổi chiều, lúc nói chuyện này và đột nhiên nói sang chuyện khác nhưng Bà không hề đả động gì đến nước Mỹ mặc dầu Bà biết tôi đến từ một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ. Nhiều người nói Bà Nhu căm thù Mỹ lắm vì những sai lầm trong chính sách đối với Việt Nam và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng HòaViệt Nam. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn Bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những nhà lãnh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Tòa Bạch Ốc một quãng đường.

Tôi nghĩ là Bà đã không còn mang những “hận thù” đó trong tim óc nữa và thực sự muốn quên hết để mọi chuyện nhẹ nhàng đi vào lịch sử. Bà kể chuyện vào mùa Xuân năm 1975, sau khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, hệ thống truyền thanh NBC của Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lý do Bà chấp nhận lời yêu cầu của NBC và đòi mười ngàn (10,000) Mỹ kim thù lao cộng với hai vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris – Washington DC, vì lúc đó Lệ Quyên rất nhớ và muốn đi gặp ông bà ngoại.

Bà Nhu không có tiền trang trải cho chuyến đi nhưng vì thương con nên bằng lòng trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp Ông Bà Trần Văn Chương ở thủ đô của nước Mỹ. Đối với một tổ hợp truyền thông to lớn như NBC thì những điều kiện đó thật quá nhỏ bé và họ đã vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn. Đó là lần duy nhất Bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất Bà tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế sau năm 1963.

Ngoài ra, Bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt ngữ dưới bất cứ hình thức nào. Trong quá khứ đã có vài tờ báo ở Đức quốc và California đăng tải bài phỏng vấn Bà Ngô Đình Nhu. Tất cả những bài “phỏng vấn” đó đều là những ngụy tạo mà độc giả rất dễ dàng nhận ra tính chất giả dối và bịa đặt của người viết.

Bà Nhu cũng không nói gì về vụ phản loạn 1.11.1963 và những người được ngoại bang thuê mướn sát hại chống Bà. Tôi có nói xa gần đến đám quân nhân phản loạn để dò xét phản ứng của Bà nhưng không trong chờ ở một sự tức giận thường tình của một con người vì thời gian đến gần 40 năm cũng đã làm nguôi ngoai cơn thịnh nộ. Bà có vẻ buồn, nhìn qua khung cửa sổ nói một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Anh “đó là một bọn ngu dốt”.

Đồng hồ chỉ tám giờ rưỡi tối. Những ngọn đèn của Paris kết nối làm thành một biển ánh sáng và thành phố đã bắt đầu đi vào cuộc sống ban đêm. Hơn sáu giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi đã uống hết hai ly nước bưởi nhưng tuyệt nhiên không thấy Bà Nhu uống một chút nước nào. Tôi sợ ngồi lâu quá Bà sẽ mệt mỏi những thực sự thì chính tôi là người đã thấm mệt.

Bà Nhu không tỏ ra mệt mỏi hay có một dấu hiệu nào biểu hiện sự rã rời sau một buổi chiều dài chuyện trò. Trước khi tôi xin cáo từ Bà Nhu có nói đến cuốn sách của Bà. Theo chỗ tôi được biết thì cuốn sách sẽ được phát hành cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới bằng bốn thứ ngôn ngữ: Việt Nam, Anh, Pháp và Ý. Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ý.

Bản dịch tiếng Việt đang trong giai đoạn nửa chừng. Cũng vì vậy mà tôi hạn chế bài viết này trong một kích thước vừa đủ, những gì độc giả muốn biết hay những gì gọi là “bí mật lịch sử” sẽ rất có thể được nói đến hoặc phân giải trong cuốn sách mà rất nhiều người chờ đợi. Tôi chợt nghĩ đến “ông tướng phường chèo” Nguyễn Khánh. Ông này đi đến đâu cũng cầm cuốn vở học trò huyênh hoang có nhật ký của Bà Nhu trong tay.

Tôi nghĩ rất có thể Ông này lượm được cuốn vở Bà Nhu ghi chép những chuyện vụn vặt của một người nội trợ trong gia đình nhu hôm nay đi chợ cần phải mua những món gì, đến bao giờ thì phải đóng tiền trường cho con… Ngoài ra chẳng có gì đáng nói tới hay có một giá tri gì cả. Tôi cũng không hiểu được lý do tại sao khi bị đuổi ra khỏi nước mà đương sự còn ôm theo “báu vật” đó để làm gì. Đặt trường hợp “báu vật” đó mang lại danh vọng và lợi lộc hoặc là một thứ vũ khí để mạt sát hay nhục mạ Bà Nhu thì chắc chắn độc giả đã được đọc từ lâu rồi.

Tôi bước ra chỗ thang máy để xuống phố lang thang với người Paris mà trong lòng xôn xao niềm vui vì không ngờ một “bà cụ” gần 80 tuổi đã vật vã với bao sóng gió phủ phàng của cuộc đời mà lại còn có một sức khoẻ thật sung mãn, trí óc minh mẫn đến như thế.

Ở vào tuổi đời như vậy mà còn giữ được thể chất và tinh thần trong một tình trạng gần như lý tưởng thì thật là hiếm có. Bà Nhu đã thực sự lánh xóa những tục lụy phù phiếm của trần gian. Bà sống trong hơi thở nhịp tim của đời sống tận hiến và phó dâng với niềm cậy trong tuyệt đối nới sự quan phòng của Đấng Tạo Hóa. Tôi cầu chúc Bà luôn mạnh khỏe, an vui.

L.S.Trương Phú Thứ

Edited by user Tuesday, April 26, 2011 9:57:54 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Ngoc N Hao  
#64 Posted : Tuesday, April 26, 2011 9:15:57 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Mời bạn xem lại những bức ảnh của bà Trần Lệ Xuân
(vừa qua đời ở tuổi 87) được đăng tải trên tạp chí Life.


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



Bà Trần Lệ Xuân sinh năm 1924 tại Hà Nội, là quả phụ ông Ngô Đình Nhu (em trai và cố vấn của cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm). Thân mẫu của bà là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại, nhà vua cuối cùng của triều Nguyễn.

Những năm tháng cuối đời, bà Xuân sống khép kín trong một căn hộ ở gần trung tâm Paris (Pháp).

Rạng sáng 24-4, bà Trần Lệ Xuân ra đi ở tuổi 87 trong vòng tay con cháu tại một bệnh viện ở Rome, Ý.


Ngoc N Hao  
#65 Posted : Tuesday, April 26, 2011 9:52:06 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Nói chuyện với ông Trương Phú Thứ, người sẽ xuất bản hồi ký của bà Ngô Ðình Nhu.
Ngọc Lan/Người Việt




WESTMINSTER (NV) - “Tôi chỉ muốn dùng chữ bể oan cừu để nói về cuộc đời của bà Nhu. Với tôi, bà luôn là một người đàn bà giỏi, đức hạnh và biết tha thứ.” Ông Trương Phú Thứ, người duy nhất có những cuộc tiếp xúc với bà Ngô Ðình Nhu, cũng là người sẽ xuất bản quyển hồi ký của cựu đệ nhất phu nhân này, nói với phóng viên Người Việt hôm Thứ Hai.

UserPostedImage

Bà Ngô Ðình Nhu quan sát dinh tổng thống bị thả bom năm 1962. (Hình: Life)


Bà Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, qua đời hôm Chủ Nhật Phục Sinh trong một bệnh viện ở Rome. Bà “trút hơi thở cuối cùng thanh thản và an bình với tất cả các con và cháu nội ngoại quây quần bên giường bệnh,” theo tin ông Thứ gởi ra bằng email. “Bà đã nhận lãnh các phép bí tích cuối cùng với tràn đầy ân sủng của Chúa Phục Sinh.”


Nói chuyện qua điện thoại từ Seattle, ông Thứ, một trong số những người Việt Nam hiếm hoi có dịp gặp gỡ, trò chuyện với bà Nhu từ sau chính biến 1963 cho đến ngày bà mất, chia sẻ cảm nghĩ, “Ðứng trên phương diện tình cảm con người, bất kỳ sự ra đi của một người nào cũng đều là tin buồn, là sự mất mát. Nhưng riêng trường hợp của bà Nhu, tôi lại cảm thấy mừng cho bà, người đàn bà trung trinh tiết hạnh, thờ chồng nuôi con.”

Cái mừng của ông Thứ là cái mừng của một giáo dân tin vào nước Chúa. Ông Thứ nói trong sự xúc động, “Bà đã sống thui thủi gần suốt cả nửa thế kỷ trong một căn apartment, để làm gì? Ðể hy vọng đến một ngày nào đó được gặp lại người chồng của mình, người mà lúc ông chết, bà đã không được nhìn mặt, không được lo chôn cất, không được đeo khăn tang. Giờ thì bà đã được gặp chồng bà. Chính vì vậy mà tôi mừng cho bà.”


Có rất nhiều những lời dị nghị về người vợ ông cố vấn Ngô Ðình Nhu và là em dâu Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tuy nhiên, thời gian gần 50 năm sống gần như ẩn dật, không giao thiệp với bất cứ ai có liên quan đến chính trường, không lập gia đình dù đang ở độ tuổi đẹp nhất của một người phụ nữ, dù có nhiều người chính khách, nhiều nhà tài phiệt trên thế giới đeo đuổi, muốn giúp đỡ “bà đều lắc đầu, ở vậy nuôi các con học thành tài,” cũng đủ cho thấy bà là một phụ nữ “rất hay”. Ông Thứ, người đã “quen biết gia đình bà Trần Lệ Xuân từ khi còn nhỏ,” nhận xét như thế.
Sau thời gian dài sống một mình ở Pháp, 3 năm trước khi mất, “lúc sức khỏe bắt đầu suy yếu,” bà Nhu sang Ý sống cùng gia đình người con trai lớn là Ngô Ðình Trác.


Bà Nhu mất vì bệnh già, sau gần một tháng nằm bệnh viện. Bà ra đi có sự chứng kiến đầy đủ của các con bà, gồm gia đình Ngô Ðình Trác, Ngô Ðình Lệ Quyên sống cùng bà tại Ý, và Ngô Ðình Quỳnh từ Bỉ cũng kịp quay về.
Lễ tang của cựu Ðệ Nhất Phu Nhân Ngô Ðình Nhu được tổ chức tại Ý “rất đơn giản, kín đáo, và chỉ trong vòng gia đình”, theo lời một vị linh mục người Ý.

Về quyển hồi ký bà Ngô Ðình Nhu

Ông Trương Phú Thứ, người chịu trách nhiệm xuất bản quyển hồi ký của bà Ngô Ðình Nhu nói với Người Việt, “Nếu bà còn sống, chúng tôi dự định sẽ xuất bản sách vào khoảng tháng 9, tháng 10 năm nay. Nhưng giờ bà đã mất, thời gian ra mắt quyển hồi ký có thể phải trễ hơn.”
Quyển hồi ký này được bà Nhu viết trong thời gian khá dài, có thể đến 10 năm, bằng tiếng Pháp. Lúc đầu, bà dự định sẽ tự dịch ra tiếng Anh và tiếng Ý. Sau đó sẽ xuất bản bằng 4 thứ tiếng là Anh, Pháp, Ý và Việt.
Tuy nhiên, về sau sức khỏe không cho phép, bà Nhu chỉ viết bằng tiếng Pháp, “loại tiếng Pháp thượng thừa, hay hơn cả người Pháp viết,” theo nhận xét của ông Thứ. Ông Thứ, cùng ông Nguyễn Kim Quý, một người có bằng tiến sĩ về văn chương Pháp, hiện đang ở Oregon, sẽ dịch sang tiếng Việt.


“Hồi ký của bà Nhu sắp tới sẽ chỉ xuất bản bằng tiếng Việt,” ông Thứ khẳng định.
Chia sẻ về nội dung quyển hồi ký với phóng viên Người Việt, người chịu trách nhiệm dịch thuật, in ấn và phát hành cho biết, “Nếu ai tò mò muốn biết những chuyện thuộc về thâm cung bí sử của gia đình họ Ngô, hay muốn nghe bà Nhu thanh minh, cải chính những chuyện bịa đặt về bà, như bà có 17 tỷ Mỹ kim, trong khi bán cả Sài Gòn lúc ấy có được 17 tỷ đô la hay không... thì sẽ không thể tìm thấy trong quyển hồi ký này.”
Thay vì tiết lộ chuyện giật gân, cuốn sách đưa suy nghĩ, tư tưởng của bà Nhu đến cho người đọc. Ông Thứ nói:


“Quyển sách này là những vấn đề bà ấp ủ, bà muốn đưa những suy nghĩ, những tư tưởng của bà đến với mọi người, để mọi người hiểu. Hồi ký của bà không phải như cách người ta vẫn thường viết về những kỷ niệm, những hồi tưởng, những chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn đã xảy ra trong đời. Quyển sách này đáp ứng những chuyện cao hơn, xa hơn.”
Những tư tưởng hận thù, những lời nói động chạm hay nặng nề đến những người đã làm đảo chính, lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và giết chết chồng bà, cố vấn Ngô Ðình Nhu, đều không được nhắc đến trong hồi ký.
“Anh Thứ à, những chuyện người ta nói xấu về tôi thì tôi không biết. Nhưng nếu họ có nói xấu tôi, thì tôi cũng tha thứ hết.” Bà Ngô Ðình Nhu đã nói như thế, theo lời ông Trương Phú Thứ.

Nguồn Người Việt







xuan hoang  
#66 Posted : Tuesday, April 26, 2011 7:05:09 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Em trở lại Việt Nam


UserPostedImage



Em trở lại Việt Nam
Nhặt giùm tôi ánh mắt
Của em bé thơ ngây
Vỉa hè khuya hiu hắt

Em trở lại Việt Nam
Mang giùm tôi tiếng khóc
Của một kẻ lưu vong
Xa nửa vòng trái đất

Em trở lại Việt Nam
Nhặt giùm tôi sợi tóc
Của mẹ lúc chia tay
Tiễn chồng đi ra Bắc

Em trở lại Việt Nam
Mang giùm tôi tiếng thét
Của chị lúc đêm khuya
Ngỡ còn trên biển Thái

Em trở lại Việt Nam
Nhặt giùm tôi mơ ước
Ðã bỏ lại năm xưa
Trên vùng kinh tế mới

Em trở lại Việt Nam
Mang giùm tôi tổ quốc
Trái tim nhỏ của tôi
Ðã nhiều năm đau nhức.


Trần Trung Ðạo



UserPostedImage
thunder  
#67 Posted : Wednesday, April 27, 2011 5:08:37 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
TIẾNG NÓI CỦA TRẠI GIA BINH HOUSTON
TRONG MÙA QUỐC HẬN 2011


30 tháng Tư là ngày đau buồn của toàn thể con dân Việt Nam Cộng Hoà, là ngày mà tất cả chúng ta, những người Việt ly hương, tỵ nạn Cộng Sản sống ở hải ngoại khó dằn lòng để không bật lên tiếng khóc xót thương cho quê hương đã lọt vào tay cộng sản 36 năm qua, và đau đớn hơn nữa là bọn cán bộ cộng sản này trong mưu đồ củng cố quyền lực đã cấu kết với nhau cắt đất dâng biển quê Mẹ cho bọn Trung cộng. Nếu chúng ta không đề cao cảnh giác thì một ngày không xa bọn Trung cộng sẽ chiếm toàn bộ Quê Hương của chúng ta với sự tiếp tay của bọn người rước voi về dày mảTổ.

Trong thời gian qua, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã tung ra hải ngoại nhiều chiêu bài nhằm thu gồm tất cả những người Việt hải ngoại để mong xử dụng những người Việt xa xứ này vào công cụ phục vụ cho chế độ qua nghị quyết 36.

Thực hiện nghị quyết 36, bọn chúng tung tiền ra mua chuộc một số người hám danh hám lợi phục vụ cho bọn chúng bằng cách dùng những người này tạo sự chia rẻ trầm trọng khắp nơi trong các sinh hoạt, từ hội đoàn dân sự đến hội đoàn quân đội, từ sinh hoạt bên ngoài cộng đồng ... cho tới sinh hoạt trong chùa chiền nhà thờ. Đâu đâu bọn người quay lưng lại với chính nghĩa Quốc Gia cũng tìm cách khuấy động gây nên cảnh nồi da xáo thịt!

Trước tình trạng đau lòng này, chúng tôi là những người vợ lính, con lính... khi còn ở quê nhà là những cái bóng âm thầm thay chồng nuôi con để các anh là những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà yên tâm ra sa trường chống giặc. Ngày hôm nay, sau 36 năm dân tộc của chúng ta vẫn còn nằm trong bàn tay thống trị của những kẻ tôn thờ chế độ Cộng Sản, trong khi các anh là những cựu quân nhân vẫn còn quan hoài đến Tổ Quốc, mong muốn đất nước chúng ta sớm được tự do dân chủ và nhân quyền. Hiện giờ tại hải ngoại, mặc dù các anh không còn cầm súng để chiến đấu chống giặc thù vì tuân lệnh thượng cấp buông súng, nhưng về mặt lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc, các anh không thể chấp nhận những người đã từng chạy trốn CS ra hải ngoại tỵ nạn nay lại cố tình làm lợi cho CS. Chúng tôi, những người phụ nữ Việt Nam trước kia đã âm thầm ủng hộ các anh với tư cách cá nhân, bây giờ thì ra mặt ủng hộ các anh với tư cách một đoàn thể với danh xưng đầy kỷ niệm và ý nghĩa, đấy là đoàn phụ nữ Trại Gia Binh Houston.

Ngày 30/4 năm nay, đoàn phụ nữ Trại Gia Binh Houston chúng tôi cũng có những khắc khoải lo âu khi nhìn về Quê Hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Chúng tôi tự hỏi:

- Nào những ai ở hải ngoại đã và đang về thăm quê hương, trước mắt họ dẫy đầy sự hào nhoáng ăn chơi phè phởn nơi thành thị, thì có mấy ai biết được sau lưng là sự đói nghèo khổ đau của người dân thấp cổ bé miệng?
- Nào những ai đã và đang về thăm quê hương, có mấy ai tìm thăm những anh thương binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà sống lây lất ở đầu đường xó chợ, nhờ vào tấm lòng hảo tâm ít ỏi của kẻ qua đường?

- Và đã có được những ai nhận chân rằng nhà cầm quyền cộng sản không hề lo cho dân mà chỉ áp bức, tước đoạt quyền tự do căn bản của con người, là quyền được sống, được nói, được tự do tín ngưỡng. Bên cạnh, tập đoàn bán nước này chỉ lo tu bổ cho túi tiền của họ, nhiều người có số vốn phi nghĩa lên tới hàng trăm triệu đô la bằng những chương trình thu hoạch quy mô nơi sòng bài, nơi giải trí, thậm chí họ lợi dụng niềm tin tín ngưỡng của đồng bào hải ngoại và trong nước xây cất những ngôi chùa thật vĩ đại để câu khách. Mặt khác nhà cầm quyền CS còn tham nhũng che đậy, mở những đường dây bán buôn phụ nữ và trẻ con cho ngoại nhân một cách tàn nhẫn và vô nhân đạo.
Những điều đó có được mấy ai thấy rõ để mà thương, để mà xót cho đồng bào ruột thịt của chúng ta ở quê nhà hay không?

Ngày 30/4 năm nay, đoàn phụ nữ Trại Gia Binh chúng tôi nhìn lại nơi thành phố Houston thân yêu này, nơi mình chọn làm quê hương thứ hai để tránh xa bọn CSVN thì đang thấy:
- Một năm qua, Toà Tổng Lãnh Sự Việt cộng hiện diện nơi thành phố Houston này là một cái gai nhọn của những người Việt tỵ nạn Cộng sản. Chúng tôi là phận nhi nữ mà còn thấy phẫn nộ, huống hồ chi các anh là những người cựu chiến sĩ đã từng vào sinh ra tử để xua đuổi họ, bảo vệ từng tấc đất dấu yêu. Đồng đội của các anh đã có biết bao nhiêu người nằm xuống, chết cho lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc. Nay các anh lại thấy kẻ thù đang hiện diện nơi đây, đưa cánh tay dài với những đồng tiền phi nghĩa, mua chuộc những kẻ hám danh hám lợi muốn đem cả cái cộng đồng người Việt tỵ nạn này dâng cho nhà cầm quyền Cộng Sản thì làm sao tránh khỏi sự tức giận buồn bực. Chính vì thế mà suốt hơn một năm qua, hằng tuần vào mỗi sáng thứ Năm, các anh em đã cùng với đồng hương tham dự biểu tình trước Toà Tổng Lãnh Sự Cộng Sản VN dưới sự điều động của cựu Đại Tá Trương Như Phùng bất kể nắng mưa gió lạnh.

Trước tình cảnh này, chúng tôi tuy là phận nữ nhi, nhưng không quên câu tục ngữ “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” nên đã cùng nhau quyết định xuất đầu lộ diện. Đoàn phụ nữ Trại Gia Binh Houston với trên 30 thành viên sẽ không trang bị với súng ống đạn dược và lòng hận thù, chỉ kết hợp lại thành một đoàn phụ nữ với đồng phục màu xanh của lính, với cờ vàng ba sọc đỏ trên tay, cùng cất cao tiếng nói:

“Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam
Chúng ta phụ nữ tiên rồng
Soi gương Trưng Triệu một lòng sắt son

Ra đi vì nước vì nhà
Hiên ngang tiến bước xông pha ngại gì...
Vai vai sát cánh nhau đi
Chung lưng chung sức xá gì chông gai...

Đứng lên đập đổ bạo quyền
Toàn dân thoát ách gông xiềng dã man
Bắc, Trung, Nam quyết một lòng
Đấu tranh cho đến thành công vững bền...

Tiến lên, phụ nữ Gia Binh
Vang danh hào kiệt con rồng cháu tiên
Bắc, Trung, Nam Việt ba miền
Nắm tay kết chặt lời nguyền không phai.

Việt Nam tươi sáng ngày mai
Tự do dân chủ ấm no thanh bình...”

Hôm nay ngày 30/4/2011, trước bàn thờ Tổ Quốc, trước anh linh Ngũ Hổ Tướng, trước vong linh Quân, Cán, Chính đã hy sinh cho quốc gia dân tộc, trước hương linh của đồng bào đã tử nạn trên bước đường tìm tự do đang phảng phất quanh đây, chúng tôi thành viên của Trại Gia Binh Houston cương quyết sát cánh với các Tổ Chức Hội Đoàn Quân Đội QL/VNCH để cùng các anh xiển dương chính nghĩa Quốc Gia.

Nguyện cầu hồn thiêng sông núi chứng giám và phò hộ cho tất cả quý đồng hương, quý Hội Đoàn Quân Đội, Cảnh Sát Quốc Gia, các Hội Đoàn Dân Sự trong đó có một Hội Đoàn Quốc Gia non trẻ mới thành lập là Trại Gia Binh Houston được sức khoẻ dồi dào, tinh thần vững mạnh, chờ ngày về quang phục Quê Hương.

TRẦN KIM VY
(Phát ngôn viên chính thức của Trại Gia Binh Houston)



UserPostedImage

TRẦN KIM VY, Tổng Thư Ký TRẠI GIA BINH HOUSTON TX


UserPostedImage

Ảnh lưu niệm một nhóm Chị Em trong TRẠI GIA BINH HOUSTON
(Bà Hoàng Minh Thúy, Trại Trưởng đứng bên trái hàng thứ nhì)


UserPostedImage

Ảnh lưu niệm một nhóm Chị Em trong TRẠI GIA BINH HOUSTON

Edited by user Wednesday, April 27, 2011 5:13:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#68 Posted : Wednesday, April 27, 2011 5:25:40 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

KHÔNG THỂ HÒA GIẢI, HÒA HỢP


Cho đến hôm nay, còn có một số người ray rức: vì sao cứ mãi hoài niệm(?) 30/4 mà tình thương dân tộc vẫn còn mờ nhạt? Ý họ muốn kêu gọi “lấy hòa hợp thay cho oán thù”. Họ đã quên rằng hòa hợp không thể đến chỉ từ một phía. Làm sao có thể hòa hợp với những người cho đến hôm nay, vẫn khư khư khẳng định "Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa cộng sản" và xác định "Việt Nam không có nhu cầu Đa Nguyên Đa Đảng và nhất quyết không Đa Nguyên Đa Đảng". "Việt Nam không có nhu cầu Đa Nguyên Đa Đảng và nhất quyết không Đa Nguyên Đa Đảng". Trong khi đó, nhân dân Việt Nam, ngoài trừ đảng viên CS và những kẻ theo đám ăn tàn, đã trãi qua nhiều kinh nghiệm đau thương ở đó, nên đã thấy rõ bộ mặt thật của CS và xác định chính CS là "Nguyên Nhân Của Mọi Nguyên Nhân", đã đưa đến “NHỮNG THẢM TRẠNG CHO ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VN”, và chính CS là người phải chịu trách nhiệm. Trách nhiệm là ở người gây ra oán thù, chứ không phải ở người trong tình thế phải oán thù. Tại sao có ngày 30/4? Ai đã họp ĐH đảng năm 1959, quyết định xâm lăng VNCH, thành lập MTGPMN năm 1960, sau đó mở màn cho kế hoạch từ đánh du kích, đánh trận địa, đến vượt đường Trường Sơn cả người và chiến cụ để cuối cùng bất kể HĐHB Paris 1973 mở chiến dịch HCM tổng tấn công VNCH tháng 3/1975 (do Văn Tiến Dũng và Lê Đức Thọ tổng chỉ huy) và kết thúc vào ngày 30/4/75? Ai đã lấy chiêu bài “giải phóng dân tộc” bằng bạo lực cách mạng để thực hiện đấu tranh giai cấp ở Miền Nam kể từ 1960, biến Miền Nam trù phú, phồn vinh trở nên xác xơ thảm đạm? Ai đã làm cho con người Miền Nam vốn hiền hòa, cần mẫn, vị tha trở thành căm hận, chai lười, vị kỷ? Nếu không phải do csHà Nội gây ra thì Ai là người đã gây ra những oán thù chồng chất từ đó đến nay? Bao nhiêu đó cũng đủ để nhân dân Miền Nam gọi ngày 30/4 là ngày Quốc Hận và cứ đến ngày đó họ lại thêm một lần chỉ “Tưởng Niệm” chứ không “Hoài Niệm” như những người khác. Cùng một ngày lịch sử nhưng có hai cái nhìn khác nhau đã cho thấy việc ai đó “tìm mãi yêu thương từ 30/4” là điều không lấy gì làm lạ, bởi vì ở đó “Tình Người” đã mất thì làm gì còn tình thương Dân Tộc?

Đem “Tình Thương để hòa hợp và hóa gỉải Hận Thù” là điều rất tốt và đáng khích lệ. Tuy nhiên, trước những kẻ hung tàn, chỉ biết bạo lực và trấn áp để "còn đảng còn mình", coi mạng người như cỏ rác, coi công lý như trò chơi, coi Tự Do như của riêng, coi Dân Chủ như "thúng gạo" (Dân Chủ Tập Trung, kiểu của HCM), coi nhân quyền là xa xỉ và coi Tổ Quốc là của Đảng (yêu nước là yêu CNXH), thì liệu cái Tình Thưong ấy có hóa giải được hận thù do cs VN gây ra, hay chỉ là công "Dã Tràng xe cát"? Vậy, Hòa Hợp để "gạn đục khơi trong" chứ không phải Hòa Hợp bằng mọi giá để tiếp tục nghe "Dân Oan kêu khóc" mà đau lòng, hoặc nhìn "Phiên Tòa Bao Cao Su biến thành Phản Quốc" mà tủi nhục!

Người ta còn nhớ, Ông ĐT/TT Dương văn Minh và đám thành phần thứ Ba ở miền Nam trước 30/4/75, không biết cố tình hay khờ khạo đến độ để mắc mưu cs Hà Nội, tưởng Hoà Giải Hòa Hợp Dân Tộc với "anh em phía bên kia" (csHN và MTGPMN) là điều có thể làm để biến MNVN thành một nước Trung Lập, nên ngày 29/4/75 đã ra lệnh cho tất cả Quân Cán Chính VNCH buông súng chờ bàn giao(?), trong khi quân của cs HN đã đến sát nách và đang hăm hăm tiến vào Saigon. ("Ngụy Tạo" và "Bất Ngờ" là một trong những kế mưu cần có trong quân sự cũng như trong chính trị để đánh lừa đối phương). CsHN dùng HĐ Paris 73 để chiếm nước VNCH trong sách lược nhộm đỏ Thế Giới của CSQT, chứ không phải để hình thành ở đó một chính quyền Trung Lập. Đối với chủ thuyết của CS thì chỉ có Tổ Quốc Cộng Sản chứ không có và nhất định không có(?) một Tổ Quốc VN hay một Tổ Quốc nào khác

"Đối với cộng sản không thể sửa đổi, chỉ có thay thế" (Boris Yelsin). Việc đi tìm Tình Thương ở CS cũng như Đa Nguyên - Hòa Hơp với CS để xây dựng xã hội công bằng, bác aí và sống chung hòa bình là điều hoang tưởng, huống hồ với tập đoàn tư bản đỏ mafia Hà Nội, vì tham vọng và tiền của do cướp đoạt mà có, và cố tình dùng bọn côn đồ công an kèm kẹp nhân dân để duy trì chế độ như hiện nay, thì con đưòng chính trị dung hợp đươc đặt ra với chúng lại càng không những hoài công mà còn gặp hiểm nguy không ít!

Xin hỏi, không kể 3 triệu đảng viên, đảng cộng sản VN đã hòa giải hòa hợp được với hơn 8 triệu nhân dân ở trong nước chưa? Nếu đã hòa giải hòa hợp thì tại sao còn những tiếng nói đòi công lý, đòi Tự Do Dân Chủ, đòi Nhân Quyền, và quan trọng hơn nữa là đòi bỏ CNXH, đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp? Và, tại sao cứ vẫn kèm kẹp, bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chính kiến? Và còn nhiều cái tại sao nữa mà không đủ chỗ để nêu ra đây. Nếu không hòa giải hòa hợp được với dân của mình thì làm sao có thể nói chuyện đó với những người thuộc chính quyền và quân đội của VNCH trước 30/4/75 đang cư ngụ ở nước ngoài? Vấn đề đặt ra là tại sao không thể hòa giải hòa hợp? Hãy đọc lại những lời phát biểu trước đây của các ông Nguyễn Văn An, Cựu CTQH VN, BS Nguyễn Đan Quế, TS Cù Huy Hà Vũ, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và của nhiều vị đảng viên lão thành cách mạng, của nhiều vị Trí Thức Yêu Nước, của các tầng lớp dân oan, của các tín đồ Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài v.v...rồi đối chiếu với Nghị quyết của ĐH đảng csVN lần XI: “Khẳng định thời kỳ quá độ tiến lên CSCN” và lời tuyên bố của đảng: “VN không có nhu cấu Đa Nguyên Đa Đảng và nhất quyết không Đa Nguyên Đa Đảng”, chúng ta sẽ thấy ngay câu trả lời cho v/đ “tại sao không thể hòa giải hòa hợp?”.

"Vâng, Dân Tộc VN có thể hoà giải hòa hợp với nhau, NHƯNG DÂN TỘC VN KHÔNG THỂ HÒA GỈẢI HÒA HỢP VỚI CỘNG SẢN". Ngày nay, trình độ nhận thức chính trị của nhân dân VN đã vững vàng, csHN đừng nhìn qua lăng kính từ một số ít người “mất lương tri, vô liêm sỉ, cơ hội xu thời, giá aó túi cơm” mà đánh giá sai lầm tinh thần bất khuất trước bạo quyền của đại khối người VN (vì Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tiền Đồ Dân Tộc), để chuốc lấy thảm họa như những tập đòan độc tài ở Bắc Phi và Trung Đông hiện nay. Chiêu bài “Hòa giải hòa hợp” đã bị lật tẩy rồi, không còn ru ngủ và lừa mị được ai. Cứ xem một em bé gái 10 tuổi ở mìên Tây Nam Việt vừa qua đã dùng thuyền ba lá để vượt biên và đã bị công an biên phòng dùng tàu đuổi bắt. Tuy tuổi em còn nhỏ, hiểu biết em nông cạn, sức lực em non kém, nhưng quyết định và hành động của em có một tác dụng to lớn và một giá trị khác thường đủ để chứng minh cái tinh thần bất khuất ấy thì với cái chiêu bài hòa giải hòa hợp cũ rích của CS để giả bộ cầu hòa và cải thiện hầu tránh ngọn sóng CM Dân Chủ từ Bắc Phi và Trung Đông lan tới, làm sao có thể thuyết phục? CSHN hãy lo thu xếp hành trang đi, đừng om sòm nhiều chuyện để câu giờ, sẽ mất cả chì lẫn chài, không ai cứu được đâu!

Hà Phương

Edited by user Wednesday, April 27, 2011 5:29:00 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
1ngayvn on 4/30/2011(UTC)
Ngoc N Hao  
#69 Posted : Wednesday, April 27, 2011 10:06:41 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Xây dựng trường ĐH, tìm được 22 bộ hài cốt Tử sĩ VNCH



Trong lúc thi công xây dựng nền móng của trường Đại học Giao thông vận tải SG (ĐH GTVT) ở cơ sở 3 , thuộc phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, SG, các công nhân đã phát hiện hàng chục bộ hài cốt.

Anh Võ Thanh Dũng, công nhân đang tìm những bộ hài cốt còn lại cho biết: “Khoảng một tuần trước, trong quá trình đào các hố móng sâu gần 1 mét thì chúng tôi phát hiện nhiều bộ hài cốt nằm rải rác trong khu vực đang xây dựng. Trong đó nhiều hố chôn chung từ 3-4 bộ hài cốt. Đến nay tìm được 22 bộ, một số hài cốt có kèm theo thẻ làm bằng kim loại ghi rõ họ tên, số quân, nhóm máu và quê quán”.

Hiện các bộ hài cốt được các công nhân rửa sạch, và sắp xếp đưa vào hộp giấy, rồi lập một bàn thờ ngay tại công trường để thắp hương cho họ.

Cho đến thời điểm này, các công nhân tìm được 7 thẻ bài ghi rõ họ tên, quê quán, số quân, nhóm máu gồm:
*Cao Văn Tình số quân 59135886;
*Trần Văn Sang số quân 70126078, nhóm máu A;
*Nguyễn Văn Quốc, chưa xác định quê quán;
*Nguyễn Văn Chúc số quân 202048, ngày nhập ngũ 14/01/1960;
*Trần Đình Đăng quê Bình Định;

*Riêng : Phạm Văn Thắng số quân 69/123640 và Ngô Văn Đức số quân 73/105119, nhóm máu O thì các công nhân không xác định được hai người này thuộc về bộ hài cốt nào, vì hai tấm thẻ này không nằm cạnh các bộ hài cốt.

Bà Trịnh Thị Mỹ Lan - Chủ tịch UBND phường Tân Chánh Hiệp, quận 12 cho biết: "Sau khi nhận được thông báo của trường ĐH GTVT , chúng tôi đã lập tức thông báo cho UBND quận 12 và có kế hoạch triển khai cụ thể, phối hợp cùng các cơ quan, ban ngành liên quan để xác định nguồn gốc những bộ hài cốt này".

Ngày 20/04, đại diện UBND phường, Phòng Lao Động-Thương binh và Xã hội cùng Ban chỉ huy quân sự quận 12 đã có mặt tại hiện trường lập biên bản và ghi nhận sự việc trên. Hiện công nhân đang tiếp tục tìm kiếm thêm nên cũng chưa biết là còn hài cốt hay đã hết.

Những người dân sinh sống lâu năm gần khu vực này cho biết, nơi phát hiện ra các bộ hài cốt trước 1975 là khu vực quân sự của Chế độ cũ .


*Một số hình ảnh thu thập trên báo :
Khu vực phát hiện hài cốt tại trường ĐH GTVT :


UserPostedImage

Thẻ bài ghi rõ họ tên, số quân, nhóm máu:

UserPostedImage

Những bộ hài cốt được cho vào thùng bọc giấy đỏ, lập bàn thờ - ảnh: H.C

UserPostedImage

Người dân đến viếng và đốt nhang :

UserPostedImage


Đệ(( nkk72 ,người post bài ) vừa đọc bài này hôm nay , nhận thấy rõ ràng đây là những hài cốt của tử sĩ QL VNCH hy sinh trong những giờ phút cuối của SG vậy nên đệ post lên đây nhờ các ACE trong QHNM nếu biết hoặc đăng lại giùm ở các forum ,diển đàn khác cho thân nhân của Tử sĩ đến nhận người thân . Nghĩa tử là nghĩa tận mong mọi người phụ giúp 1 tay .

Xin nghiêng mình kính cẩn trước Anh Linh các Anh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã Vị Quốc Vong Thân

*source from :
Code:
http://phapluattp.vn/201...t-hien-22-bo-hai-cot.htm

thanks 1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
1ngayvn on 4/30/2011(UTC)
xuan hoang  
#70 Posted : Wednesday, April 27, 2011 6:18:04 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Vọng Nam Quan

Nhạc và lời: Phan Văn Hưng_Nam Dao - Trình bày: Phan Văn Hưng



UserPostedImage



Ải Nam Quan ơi ta đã mất tên em
Như một phần hồn tự nghìn năm
Lòng ta đau như ai đem dao
Xé nát da non cứa trên thịt gan

Rừng chiều nay trong cơn gió bấc thê lương
Như trăn trở một giòng sử đắng
Hằn trên mỗi vách đá trơ sương
Tiếng thét oai phong của thời liệt anh

Gió hú vào hồn
Cho ta hận buồn
Sương rơi nghìn trùng
Giá buốt mịt mùng

Lời Phi Khanh sao vẫn thoảng thốt đâu đây
Suối vẫn cuộn chảy từng nhịp máu
Ai bây giờ là kẻ tội đồ hiến dâng người

Ai đem hình hài
Giang Sơn đọa đày
Cho thân lìa cành
Cho cây lìa đất
Cho ta lìa cội
Như sông bỏ nguồn

Ta nghe tủi nhục dâng vào lòng
Từ nghìn xưa qua bao nhiêu giấc phong ba
Em kiêu hùng trơ gan tuế nguyệt
Gọi tên nhau rừng chiều hôm nay ngập nuối tiếc thương




UserPostedImage
thunder  
#71 Posted : Thursday, April 28, 2011 7:31:46 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tiễn Bà Lên Đường


Mấy ngày nay lênh đênh trên biễn. Không biết có cái gì xẩy ra mà trong tim tôi cảm thấy bồi hồi, nhịp loạn.

Con tôi bảo " Mẹ phải đi lấy stress test". Trong khi thằng con rễ âu lo “hay là tại vì mẹ say sóng”. Còn thằng cháu tôi thì bảo: " Cô Hoa are you boat people?"

Tôi cười trên sự quan tâm của con cháu. Đêm hôm nay không có trăng. Trong căn phòng của chiếc du thuyền nhỏ tôi nhìn ra cửa mênh mông là biển. Một vầng sao nhỏ trên cao. Ánh sáng loãng nhạt vừa đủ cho con người nhìn từ xa, từ một thế giới đang có sự sống và sự chết.

Sáng hôm sau trở về nhà. Tôi vào internet đọc email của anh Khánh thông báo bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã qua đời.

Một sự chết đã đi qua và có rất nhiều ngưồi còn đang sống. Đương nhiên là sự sống bao giờ cũng quyến rũ hơn sự chết. Nhưng con người nếu đôi lần có vượt qua sự sống thì cũng không tránh khỏi sự chết. Nhưng quan trọng hơn cả là phải sống ra sao cho đúng với sự sống và phải chết ra sao cho trọn vẹn sự chết.

Bà Ngô Đình Nhu đã ra người Thiên cổ. Trong buổi tiễn đưa bà có người thân, có bè bạn, có con dân của Đệ Nhất VNCH và cũng có bọn Việt Cộng nằm vùng đâm thuê chém mướn bôi nhọ bà Ngô Đình Nhu để phỉ báng chính nghĩa VNCH. Cho dù chính thể VNCH đã ra đi nhưng bọn VC vẫn sợ hãi, vẫn tranh thủ mọi thủ đoạn như cái thủ đoạn mà chúng đã đem về cho dân tộc VN từ năm 1930. Đó là sự "Tẫy Não".

Chúng càng vung vít qua văn phong thiếu đạo đức, cốt để hạ nhục đối phương, chúng bịa đặt đủ mọi sự như gọi Bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu là bà Tổng Thống Ngô Đình Diệm với ác tâm bôi nhọ bà. Người ta không giận cho những bản chất đó nhưng bất cứ con dân VN nào muốn cho VN tiến nhanh hơn trong tương lai, chắc chắn sẽ cúi đầu ngậm ngùi thưong xót cho một thế hệ đã bị chủ nghĩa phi nhân cộng sản tẩy não để trở thành những xác chết biết thở vả trí óc đã bị đẩy vào bản năng tư vệ để vồ mồi chiếm đoạt hơn là có lòng trắc ẩn với tha nhân.

Con người sống trên đời nhanh như ánh sáng từ tâm khởi đến tâm thành. Từ đi cho tới khi đến chỉ là một chớp mắt. Trong cái chớp mắt đó nếu con người có công dân giáo dục, có lòng trắc ẩn thì trong cái chớp mắt ấy sẽ toả sáng hương hoa, và cuộc đời sẽ dâng hương ngào ngạt. Nhưng nếu con người được huấn luyện để làm công cụ thì cho dù chỉ có một chớp mắt dâng hương cũng không có mà chỉ có một con đường đi đến tha nhân bàng rắn rít bọ cạp nọc độc hung tàn.

Ngày tôi còn rất nhỏ, tôi nghe về bà Ngô Đình Nhu rất nhiều điều qua sự thảo luận trong gia đình. Những người theo Tây học họ cho bà Ngô Đình Nhu là một phụ nữ thông minh có kế hoạch để đối phó với bất cứ một áp bức nào từ Mỹ đưa đến cho VNCH dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Bằng chứng là trong cuốn "Ông Cố Vấn" của văn nô Hữu Mai viết do VC xuất bản để đề cao tên phản gián VC Vũ Ngọc Nhạ, cũng phải công nhận bà Ngô Đình Nhu là một người linh hoạt rất thông minh, ngay thẳng. Nhân vật tình báo phản gián VC Vũ Ngọc Nhạ qua nhân vật Hai Long đã cho biết bà Ngô Đình Nhu sau khi tiếp xúc với Vũ Ngọc Nhạ qua tên Hai Long đã tỏ ý nghi ngờ tên Vũ Ngọc Nhạ ngay phút đầu gặp gở. Bà cho rằng một tên có hành động chính trị nhưng lúc nào cũng thấp thỏm dưới hình ảnh của Cha Hoàng (Tên trong truyện tức là Linh Mục Hoàng Quỳnh) và thích nói chuyện đạo.

Trích : " - Em muốn nói Hai Long là đạo đức giả ư? – Nhu hỏi lại vợ.

- Không hẳn thế. Em đã nói y là một anh chàng toqué... Làm chính trị là để đạt được một cái gì.., địa vị danh vọng, tiền tài, chứ đây lại không vì cái gì cả! Chỉ vì Chúa! Vì thế nên em bảo đầu óc anh ta lộn xộn, anh thấy đúng không?
- Một nhận xét hay!

( Hết trich) ( Ông Cố Vấn)

Chính sự nghi ngờ của bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu cũng đã làm cản trở con đường lặn sâu để trèo cao của tên tình báo VC Vũ Ngọc Nhạ từ Dinh Độc Lập qua Dinh Gia Long.

Trong chương 11 tên văn nô VC Hữu Mai viết về Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm:

Trích: " Diệm không lấy vợ, quen sống cô độc, khắc khổ. Diệm ăn, ngủ và làm việc đều trong một căn buồng. Một ông bõ già, người cùng quê, tóc bạc lưng còng, chuyên phục dịch cơm nước theo kiểu miền Trung. Diệm ngại đi ra ngoài, ngại tiếp xúc với đám đông, đặc biệt ngại tiếp xúc với phụ nữ. Lệ Xuân là người trong nhà, nhưng khi vào phòng của Diệm bao giờ cũng phải có mặt một người thứ ba."

( Hết trich) ( Ông Cố Vấn)

Chính tên văn nô VC đã viết ra như vậy mà bọn cán ngố vẫn tiếp tục bôi nhọ bà.

Xin trích một đoạn trong bài viết " Nén Hương Tưởng Niệm" của ông Lê văn Ẩn để quí vị hiẻu rõ hơn những gì về bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu:

Trích: " Góa chồng lúc mới 41 tuổi, với vẽ đẹp Á Ðông quyến rủ, thế mà bà vẫn sống độc thân trong 48 năm, thờ chồng nuôi con, không có bất cứ một tiếng thị phi nào. Các con của bà đều thành danh và cũng là những con người có tư cách đáng trọng. Những người ngày xưa được ân ban “Tiết Hạnh Khả Phong” cũng không thể “tiết hạnh” hơn bà Ngô Ðình Nhu. Những ai chê trách bà, trả thù bà hãy nhìn lại gia đình mình có mấy người được như bà? Người ta trách bà “theo đạo chồng”, nhưng sau khi chồng qua đời bà vẫn giữ đạo Công Giáo một cách sốt sắng. Yêu chồng mà giữ đạo chồng trọn đời dù góa bụa, hay tìm được chân lý trong đạo của chồng mà theo cho đến chết, cả 2 đều đáng ca ngợi.

Những đức tính và những trí tuệ của bà Ngô Ðình Nhu chứng tỏ bà là một mẫu người Á Ðông với tất cả những nét đặc thù phương Ðông, đáng cho người đời ca ngợi. Lúc chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ tôi chỉ là một công chức trung cấp ngoại ngạch, nghĩa là chẳng có ân huệ gì, nhưng cái ân huệ mà tôi mang: đó là một chế độ đã biết phục vụ dân tộc và tổ quốc của tôi mà bà Ngô Ðình Nhu nhủ danh Trần Lệ Xuân đã đóng góp rất nhiều.

Xin thắp một nén hương tưởng niệm một phụ nữ Việt Nam kiên cường, đoan chính và đạo đức. Xin Chúa cho linh hồn Maria sớm hưởng Nhan Thánh Chúa. " Hết trich ( Lê Văn Ẩn)

Thì ra bọn VC cho mãi đến hôm nay vẫn khiếp sợ chính nghĩa của chính thể VNCH

Hôm nay sự chết đã đưa bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu về nước Chúa nhưng sự sống đã đưa bà trở về trên những cảm xúc hồi tưởng của con dân VNCH.

Sư sống ấy là những hình dáng màu sắc hôm nay, qua những lời tiễn đưa lung linh màu nhang khói. Con người chắc chắn sẽ không nhìn ngắm thấy khi đối tượng đã tan dần trong chủ thể của sự chết ra đi, nhưng những bồi hồi, thương tiếc là những nguy nga của đền thiêng sống lại giữa những tiếng tiễn đưa bùi ngùi trong im lặng.

Trời đã đổ xuống và chiều đã đến với vài tiếng chim kêu về tổ trong khi đó , phía thấp hơn những tiếng chó suả không phân biết bạn hay thù, bóng tối hay ánh nắng ban mai, tiếng chân người đi không biết người tốt hay xấu, chúng vẫn sủa. Không lẽ trời sinh ra chỉ để sủa nên hở một tiếng động nào cũng chu mõ sủa oang oang... Trong khoảnh khắc giao thoa, bóng tối sẽ trở về và con người sẽ đi vào giấc ngủ để sửa soạn cho một ngày tời. trong khi đó từ xa tiếng chuông nhà thờ đổ canh khuya. Cho dù tiếng chuông nhà thờ có ngân nga hay tiếng chuông chùa có lan dần trong buổi tinh sương của trời đất ban mai thì cũng khó để mà thức dậy những con người đang say ngủ.

Nhưng tất cả điều đó đã không còn quan trọng khi thực tế là một cuộc tiễn đưa một nhân vật cuối cùng của một nền chính thể đệ nhất VNCH chưa được hồi sinh mà đã bị chết vì bức tử

Cũng trong bồi hồi ấy tôi xin tiễn đưa bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu lên đường về nơi xa xôi của miền Viên Mãn. Giờ thì không còn sự chết và cũng sẽ tan dần sự sống qua ngày tháng trôi xuôi. Trong tiếng chuông nhà thờ đổ như những linh hồn đang mơ màng gọi Chúa. Tôi kính cẩn tiễn đưa Bà lên đường về nơi cõi Phúc với đầy đủ tình thương bao la của Chúa và xin nguyện cầu bà yên nghĩ bình an trong cõi Vĩnh Hằng……

Tôn Nữ Hoàng Hoa
4/27/2011

chiều tím  
#72 Posted : Saturday, April 30, 2011 11:02:01 AM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Một ngày Việt Nam


Một ngày Việt Nam, quê hương yêu dấu
Nét đẹp tuyệt vời, chiếc áo bà ba
Không cần đâu em, những mãnh lụa là
Môi son, má phấn, chỉ là hoang phí

Một ngày Việt Nam, quê hương hùng vỹ
Xin tạ ơn Người Chiến Sĩ Vô Danh
Lịch sữ muôn đời ghi khắc tên anh
Người con đất Việt, trở thành bất tử

Một ngày Việt Nam, trong cơn sóng dữ
Gió thét, mưa gào, vẫn cứ hiên ngang
Rồi một ngày mai, lịch sữ sang trang
Năm châu bốn biển, huy hoàng nước Việt

Một ngày Việt Nam, nung bầu nhiệt huyết
Khắp bốn phương trời, hãy xiết chặc tay
Xin nguyện một lòng, góp sức, chung vai
Một ngày Việt Nam, tương lai tươi sáng




Quê hương và nỗi nhớ


Quê hương và nỗi nhớ
Vẫn còn ở trong tim
Chừng đã mõi cánh chim
Mãi đi tìm nguồn cội

Quê hương xa diệu vợi
Xin gắng đợi chờ nhau
Ôm một trái tim đau
Và nỗi sầu muôn kiểp

Ta nhìn vầng trăng khuyết
Nghe luyến tiếc ngập lòng
Dù không phải mùa đông
Mà tâm hồn buốt giá

Quê hương chừ xa quá
Nơi xứ lạ mưa rơi
Nghe mặn đắng bờ môi
Một kiếp người lưu lạc


Nguyễn Văn Nhơn




thunder  
#73 Posted : Saturday, April 30, 2011 7:56:23 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Thiền Sư Nhất Hạnh là ai?


Ngàn năm mây trắng còn bay
Nghiệp kia là đấy, chướng này là kia

Thiền Sư Nhất Hạnh tên thật là Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926 tại làng Minh Hương, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Bên nội của Thiền Sư gốc Thanh Hoá, phiá ngoại gốc quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1942, Nguyễn Xuân Bảo đi tu ở chùa Bảo Quốc, Huế. Sau khi học xong phần Phật giáo cơ bản, được chuyễn qua chùa Từ Đàm rồi sang chùa Từ Hiếu để hoàn tất chương trình Phật học hầu trở thành Đại Đức do Hoà Thượng Thích Nhất Định chủ trì. Sau đ ó ông theo học bậc trung học tại Huế.

Năm 1956, Thiền Sư vào Sàigòn học tại đại học văn khoa và tốt nghiệp cử nhân năm 1959.
Năm 1961, Ông được chính phủ Ngô Đình Diệm cho xuất ngoại du học tại Princeton University của tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ.

Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ vào ngày 1-11-1963 thì chuyện tranh chấp nội bộ Phật giáo xảy ra giữa khối Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự do Thượng Toạ Thích Tâm Châu lảnh đạo.
Để tạo uy thế cho chính mình, năm 1964, TT Thích Trí Quang đã mời Đại Đức Thích Nhất Hạnh về nước để giúp ông thống nhất Phật giáo và tìm hướng đi cho tương lai.

Khi về nước, ông giảng dạy tại đại học Vạn Hạnh. Tại đây, đại đức đã không dạy cho đàng hoàng nhưng lại vừa giảng bài, vừa đảo mắt liếc tình, phải lòng sinh viên Cao Ngọc Phượng, người tỉnh Bến Tre. Cô sinh viên nầy bèn tâm đầu ý hợp vào chùa tu với thầy. Vì chỉ mới xảy ra lần đầu trong đời, tim đập loạn xạ bởi qúa hồi hộp, cô đã để quên đôi dép Nhật bên ngoài, phải đi vào Chân Không.

Năm 1965, Chân Không tiếp tục thọ giới tiếp hiện với Đại Đức tạo nên một đứa con trai. Từ đó, ông tự gọi mình là Thiền Sư mà không còn là Đại Đức, Thượng Tọa nữa; nhưng mới đây khi về Việt Nam vào năm 2008, tự phong mình là Hoà Thượng, có lộng trướng đưa rước đàng hoàng !

Năm 1968, Cao Ngọc Phượng đi Chân Không sang Pháp thọ giới vĩnh viễn với TS tại làng Mai, toạ lạc ở Meyrac Loubes Bernac, 47120 Duras phiá nam nước Pháp. Ngoài ra, họ còn có ba thiền viện khác là chùa Pháp Vân, chùa Từ Nghiêm và chùa Cam lộ.

Thiền Sư được mọi người biết đến từ năm 1964 khi xuất bản cuốn Phật Giáo Ngày Nay. Tên tuổi của Thầy được giới văn học Miền Nam xếp chung trong nhóm Thiền Vi của các nhân văn trong phong trào Phật Giáo đương thời; nhưng hào quang nầy đã sớm vụt tắt khi ông đã hiện nguyên hình một sư không bình thường trong những bài viết và bài giảng thuyết sau nầy.

Vào đầu năm 1966, Đại Đức Nhất Hạnh được Thượng Tọa Trí Quang phái ra ngoại quốc kêu gọi chấm dứt chiến tranh , lập chính phủ hoà giải hoà hợp mà môi trường hoạt động đầu tiên là nước Pháp. Xin nghe ông nói :" Tôi rời đất nước năm 1966, vào tháng 5. Lúc đó chiến tranh Việt Nam đã đi tới mức khủng khiếp. Tôi nghĩ rằng mình phải ra đi để cất lên tiếng kêu gọi hoà bình. Tôi chỉ muốn đi vài tháng thôi rồi về. Lúc đó trường đại học Cornell ở Ithaca mời tôi qua để giảng một loạt bài về tình hình ở Đông Nam Á. Người đứng ra mời là giáo sư George Kahin, giáo sư chính trị học ở tại trường Cornell. Tôi đi ra để nói rõ là dân VN không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp hoà bình và các cường quốc trên thế giới đừng dùng VN làm một chổ để để tranh dành ảnh hưởng nữa, đừng sữ dụng ý thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé đó...

Trong qúa trình vận động hoà bình nầy, tôi được báo tin rằng chính quyền Việt Nam không muốn cho tôi về nữa. Vì vậy tôi đã bị lưu đày từ tháng 5 năm 1966 đến bây giờ...
Tôi bị lưu đày vì đã dám cất lên tiếng kêu gọi hoà bình..."

Qua đoạn văn trên, rõ ràng Nhất Hạnh vờ giả dạng kẻ ngây thơ bởi với kiến thức như Thiền Sư, ông đã rõ cuộc chiến nầy phát xuất từ Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế mà Hồ Chí Minh là người thừa hành để xâm lăng miền Nam. Vậy muốn chấm dứt chiến tranh, kêu gọi hoà bình phải yêu cầu kẻ gây chiến Cộng Sản Hànội dừng tay lại. Đằng nầy ông làm ngược lại, kêu gọi người BỊ xâm lăng NGƯNG chống đở kẻ XÂM LĂNG !

Lúc bấy giờ, năm 1966, Pháp là thiên đường của nhóm Tướng Tá lưu vong chính trị của Miền Nam được Tướng Charles de Gaule gom lại để đánh phá VNCH và trợ giúp Hànội để trả thù Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm đã đuổi Pháp ra khỏi Miền Nam.

Cuối tháng 5 năm 1966 khi ông đang thuyết trình ở Pháp thì tổ chức Fellowship for Reconciliation và Cornell University ở New York, một tổ chức phản chiến Mỹ, mời qua Hoa Kỳ.

Ngày 1-6-1966, ông tuyên bố một bản tuyên cáo nói lên lập trường 5 điễm của Giáo hội Phật Giáo Ấn Quang gồm:
Yêu cầu chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ chức,
quân đội Mỹ rút khỏi Miền Nam VN,
ngưng oanh tạc Bắc Việt
và ngưng các cuộc hành quân ở Miền Nam.
Mỹ phải giúp lập chính phủ dân chủ và tái thiết Miền Nam
Rập khuôn đòi hỏi 5 điễm của Cộng sản Bắc Việt qua cái gọi là Mặt trận giải phóng Miền Nam ( MTGPMN ).

Ngày 2-6-1966 ông được đưa vào trình bày trước Thượng Viện Hoa Kỳ với nội dung tố cáo Mỹ và VNCH đã gây ra thãm họa tại VN, bị nhân dân bản xứ chống đối một cách mạnh mẽ?! Đúng là Thiền Sư nầy vừa ăn cướp vừa la làng !
Đến đây mới thấy bài viết Sleeping with the enemy của đương kim Thượng nghị sĩ James Webb của tiểu bang Virginia qúa chính xác. Ông viết : cũng không hiễu được tại sao lại có những kẽ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cã Quốc Hội cũng bị nhiễm con vi khuẫn nầy.
Để trả lời câu hỏi: ....không hiễu được tại sao, thì xin thưa với TNS tiểu bang Virginia rằng vì ông tăng phản Phật, phản Đạo, phản Dân Tộc nầy .

Năm 1967 ông cho xuất bản cuốn Viet Nam, lotus in a sea of fire, a Buddhist proposal for Peace- Việt Nam, hoa sen trong biển lửa, một đề nghị hoà bình của Phật Giáo. Sách nầy đề cập đến cuộc đấu tranh của Phật giáo từ 1963 đến 1966 cũng như những chết chóc, tang thương do quân đội Hoa Kỳ và Miền Nam gây ra ?!
Ông lên án chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo và Nguyễn Cao Kỳ độc tài, quân phiệt. Ông cho MTGPMN là do những người Quốc gia lập ra để chống ông Diệm, không phải do từ Hànội, nhưng vì Mỹ đổ quân vào Miền Nam nên họ nghiêng về phía Cộng sản !. Ở phần cuối để lộ sự mâu thuẩn, lắt léo khi ông trích dẫn lời Lê Duẩn tuyên bố trong đại hội đảng kỳ 3 năm 1960: Đảng ta lảnh đạo mặt trận !
Điểm đặc biệt nhất trong cuốn sách nầy ở trang 52 dòng 20,21 và 22 ông viết: In the minds of the Vietnamese people in general, Ho Chi Minh was a national hero who had led their struggle against the French- Trong đầu óc của người dân Việt Nam nói chung, Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc đã lảnh đạo cuộc tranh đấu chống Pháp. Qua câu nầy, nhận thấy ông không dám trực tiêp nói HCM là vị anh hùng mà chỉ mượn từ ngử "người dân" để nói thay cho mình, nhưng ở đầu trang nầy lại chạy một tít lớn đánh máy bằng chữ hoa: HO CHI MINH, A NATIONAL HERO.
Đây là TIỂU XẢO rất thường thấy của NHẤT HẠNH trong các tác phẩm của ông !
Ông có biết đấu tranh dành độc lập theo kiễu cộng sản chỉ có xảy ra ở Việt Nam đã đưa dân tộc nầy đến ngày hôm nay đi về đâu? Tất cả những chết chóc, tang thương, đau khổ tinh thần lẫn vật chất về mọi phương diện, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

Để hợp thức hoá tình trạng phá giới của mình, ông đã đưa ra một phương thức tu tập mới để thanh minh hành động của mình bằng cách ra cuốn Phật Giáo Hiện Đại Hoá xuất bản tại Sàigòn vào tháng 5-1965.

Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là ngày mà Hoa Kỳ và cã Thế giới sửng sốt và đau thương vì khủng bố đã dùng phương tiện của chính người Mỹ đánh sập toà tháp đôi tại New York khiến trên 3000 người bị chết thảm, Nhất Hạnh phải là người cầu kinh để chia xẻ niềm đau thương nầy, trái lại, vào ngày thứ ba, 25-9-2001 lúc 7 giờ chiều, ông đến Riverside Church ở thành phố New York kêu gọi hoà giải với những tên khủng bố, lại còn quảng cáo rùm beng trên tờ New York Times nguyên 2 trang A 5 và A 22 tốn hết 45,000 USD; trong đó có đăng câu trả lời của ông do ký giả Anne A Simpkinson hỏi, ông nói trong vụ Mậu Thân 1968, chỉ có vài tên du kích bắn vu vơ, lập tức Mỹ đem bom tới dội, tàn phá thành phố Bến Tre làm hư hại 300,000 căn nhà. Đây là đoạn văn được đưa lên tờ New York Times số ra ngày 25-9-2001, có cả hình ông ngồi chắp tay như đang cầu nguyện !

Sự thật thì trong vụ Mậu Thân 68, VC đã tấn công Thị xã Trúc Giang của tỉnh Bến Tre vào lúc 3 giờ sáng rạng ngày mồng 3 Tết âm lịch. Chúng đã pháo vào toà Hành Chánh tỉnh và Bản Doanh trung đoàn 10 của sư đoàn 7 bộ binh rất ác liệt nhưng không chiếm được. Đến 10 giờ sáng, 2 tiểu đoàn 3 và 4 của trung đoàn 10 BB chiến đấu dũng cảm trong thị xã và đã đẩy lui được VC ở khu vực Toà Hành Chánh, Bản Doanh Trung đoàn và bệnh viện thị xã. Các khu vực thương mãi, VC vẫn chiếm giử các cao ốc, trừ đài phát thanh.
Đến chiều, 2 tiểu đoàn thuộc lử đoàn 2 bộ binh Hoa Kỳ tăng viện. Vào ngày mồng 4 tết, VC bỏ chạy để lại trận địa 300 xác và hơn 100 vũ khí đủ loại. Phía thuờng dân có 90 người chết và 50% nhà cửa bị hư hại. Chợ Thị xã Trúc Giang bị hủy hoại hoàn toàn. Tham dự trận đánh nầy, VC đã huy động 2000 lính chiến đấu gồm 2 tiểu đoàn tân lập 3 và 4, hai đại đội địa phương, nhiều trung đội du kích và dân quân. Thế nhưng Nhất Hạnh đã ăn gian, nói dối với báo chí quốc tế với dụng ý bôi nhọ quân đội Mỹ và quân lực VNCH. Trong khi đó tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế là sinh quán và nơi tu học Phật Pháp của ông, trong vụ Mậu Thân đồng bào của ông đã bị VC chôn sống, bị chém giết dã man, ông không lên án hành động bất nhân nầy cũng như chẳng có một lời phân ưu, chia buồn đến đồng hương của mình !

Trước năm 1975, Nhất Hạnh đã tuyên truyền rầm rộ khích động phản chiến, ngụy hoà Mỹ giúp Hànội thành công. Ngày nay ông kêu gọi hoà hợp để đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào giáo hội quốc doanh Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1981, sau khi thanh toán xong tổ chức Phật giáo Ấn Quang, Hànội một mặt huấn luyện khoảng 5000 công an được phân phối để kiểm soát hầu hết các chùa và các tổ chức Phật giáo trong nước, mặt khác cho phát triển phong trào Phật học và tập thiền. Đã có bốn học viện lớn được dùng để huấn luyện Sư quốc doanh và thiền.
Đó là học viện Phật giáo Việt Nam và thiền viện Vạn hạnh ở quận Phú nhuận, thiền viện Trúc Lâm ở thành phố Đàlạt, thiền viện Phật giáo Huế và thiện viện Phật giáo Việt Nam ở chùa Sứ quán tại Hànội.

Trong khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không ngừng lên án Hànội đàn áp Phật giáo và đòi trả tự do cho Đức Tăng Thống Huyền Quang và Hoà Thượng Quảng Độ, thì vào năm 2002, Hồng Quang, người lảnh đạo nhóm Giao Điễm ở hải ngoại được mời về Việt Nam tham dự đại hội Phật giáo quốc doanh toàn quốc lần thứ V được tổ chức tại Hànội vào ngày 4 và 5-12-2002. Trong bài tham luận, ông tuyên bố: Không có nhân quyền nào bằng quyền tự chủ để độc lập, tự cường để tồn tại. Không có tự do nào bằng tự do vượt ra khỏi sức ép của ngoại nhân. Với lập luận nầy, ông gián tiếp cho phong trào đấu tranh tự do tôn giáo của Phật Giáo Ấn Quang và các tổ chức khác ở hải ngoại là sai lầm , chỉ có giáo hội quốc doanh là đi đúng hướng.

Độc lập và tự cường của Hồng Quang là loại độc lập và tự cường của 2 triệu đảng viên Cộng Sản đối kháng lại ý niệm độc lập và tự cường của dân tộc Việt Nam vốn có trên bốn ngàn năm lịch sữ; trong đó, có một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, tám mươi năm giặc Pháp cai trị, vẫn chưa đến nổi qúa thê thảm như dưới chế độ Cộng sản ngày hôm nay. Các chế độ đó chưa đấu tố chết 178,000 người Việt Nam ở Miền Bắc, chưa chôn sống hàng trăm người như vụ Mậu Thân tại Huế, phẫm gíá phụ nử Việt Nam chưa qúa tồi tệ nhục nhả như bây giờ, chưa lấy quốc nạn tham nhủng làm lẽ sống cho đảng mình hưởng sự phè phởn trên thảm trạng nghèo đói của dân tộc và chưa có hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi trên những chiếc ghe thuyền mỏng manh, vượt đại dương tìm cái sống trong cái chết !

Mọi người từ lâu đã thừa hiểu nhóm Giao Điễm là cộng sản trá hình, pha lẫn với những Phật tử qúa khích, thiển cận ở hải ngoại mà công tác chính là đánh phá Vatican (vốn luôn đề cao quyền làm người của mọi dân tộc trên Thế giới và bênh vực kẻ bị áp bức trong bất cứ chế độ chính trị nào) , đánh phá Công giáo Việt Nam, gây đố kỵ, chia rẽ giửa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, lôi kéo khối Ấn Quang sáp nhập vào Phật giáo quốc doanh. Mục đích tối hậu của họ là tạo thành trì bảo vệ chế độ.

Năm 2004 Hànội mời TS Nhất Hạnh về nước C4ể tiếp nối việc làm của Hồng Quang hầu chứng minh cho thế giới biết VN có tự do tôn giáo, vừa gây chia rẽ nội bộ Phật giáo ở trong nước và hải ngoại.
Nhận lời mời, ngày 12-01-2005, vừa bước xuống phi trường Nội Bài cùng với 100 đệ tử thiền sinh, Hànội cử một đội ngủ đông đảo tiếp đón sư ông, sư bà, có rắc hoa thơm trên lối đi, có phóng viên đến phỏng vấn và đưa lên mạng liền. Dịp nầy ông được đi giảng thuyết nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều người. Tại Thanh Minh Thiền Viện ở Sàigòn, Sư bà Chân Không được cử đến trước để thăm dò, nhưng Hoà Thượng Quảng Độ từ chối. Tại chùa Già Lam,được Trí Quang tiếp trong 40 phút, nội dung chuyện trò được giử kín.
Ông đã lưu lại VN trong 3 tháng để thuyết pháp và tổ chức trai đàn( cầu nguyện cho những vong linh đã nằm xuống trong cuộc chiến) nhưng bên trong ông đã nhận sứ mệnh vận động nhóm Phật giáo Ấn quang gia nhập vào Phật giáo quốc doanh của Hànội.

Dịp nầy, Ông cũng đã hướng dẫn 100 thiền sinh lên Lâm Đồng được Thầy Đức Nghi- Phật giáo quốc doanh- đón tiếp long trọng.
Thầy cao hứng tuyên bố: Rất tâm đắc với những tác phẫm của TS Nhất Hạnh. Thầy muốn khôi phục lại trường thanh niên phụng sự xã hội do TS thành lập vào năm 1964 trước đây. Pháp môn làng Mai thích hợp với đồng bào Việt Nam và Thiền sư là người yêu nước, có lòng tôn vinh đạo pháp và dân tộc ! Vì thế, thầy cúng dường tu viện Bát Nhã cho Thiền Sư ! Qúa đả !!!

Tháng 1 năm 2006 tại làng Mai ở Pháp, thầy Đức Nghi được Thiền Sư truyền đăng đắc pháp, trở thành thọ giáo làng Mai và là đệ tử ruột của Sư Ông Nhất Hạnh.

Đầu tháng 5-2007, Thiền Sư được Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết tiếp tại phủ Chủ tịch ở Hànội.

Ngày 7-7-2007, Ban Tôn Giáo chính phủ cho phép các tu sinh tu viện Bát Nhã được tu học theo pháp môn làng Mai.
Tại đây có 250 tăng ni và 100 tập sinh xuất gia tu học và sinh hoạt thường xuyên gồm có các lớp tu học hàng tháng, hàng năm.

Ngày 18-6-2008, Thiền Sư lại lên tu viện Bát Nhã nói chuyện với các đệ tử
với đề tài: Thầy căn dặn. Sau đó thầy Đức Nghi cắt đầu, cắt đuôi chỉ còn lại trong 5 phút và cho là Thiền Sư đã coi thường nhà cầm quyền và giáo hội Phật Giáo địa phương, vi phạm quy chế giáo hội Phật giáo Việt Nam (quốc doanh).

Ngày 29-10-2008, ông Nguyễn Thế Doanh, trưởng ban tôn giáo chính phủ đã tố cáo: Ba lần về VN, tăng thân làng Mai từ Pháp đã tấn phong giáo phẫm mà không thông qua GHPGVN, đề cập sai lệch vấn đề chính trị trong nước, đưa lên mạng một số tin tức sai sự thật tại VN, vi phạm luật pháp VN.

Ngày 13-11-2008, công an Lâm Đồng cưởng bách trục xuất 400 đệ tử xuất gia tu học theo môn pháp làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã bao gồm cả tu sĩ ngoại kiều và 40 ni cô tại Huế.

Sợ dư luận trong và ngoài nước lên án, ngày 19-11-2008, một hội nghị Phật giáo quốc doanh bất thường được tổ chức tại Sàigòn có sự hiện diện của ông Bùi Hữu Dược, vụ trưởng vụ PG từ Hànội vào, một đại diện PG trung ương và một đại diện PG Lâm Đồng, đã đưa ra quyết định như sau: Mọi người có thể tiếp tục tu học. Tăng thân làng Mai ai chưa có đầy đủ giấy tờ, cần bổ túc. Ai quậy phá sẽ xử lý. Về tài sản hai bên làng Mai và Bát Nhã tự giải quyết hay nhờ pháp luật can thiệp..

Ngày 27, 28 và 29 tháng 6 năm 2009, độ 200 thanh niên thuộc xã hội đen kéo đến thiền viện Bát Nhã đập phá nhà bếp và vất nồi, niêu, soong, chảo, gối ngồi thiền, mền chiếu, sách kinh ra bên ngoài . Điện, nước và điện thoại đều bị cúp.

Thiền Sư Nhất Hạnh, một con người dùng tâm địa và miệng lưởi của mình để tuyên truyền cho cộng sản ở hải ngoại hầu giựt sập chế độVNCH, gây tang thương, đau khổ cho dân tộc VN đến ngày hôm nay. Sau năm 1975, ông chưa dừng tay lại, vẫn còn tìm cách triệt hạ GHPGVNTN bằng cách vận động cho giáo hội nầy sáp nhập vào giáo hội Phật Giáo quốc doanh.
Với một con người mặc áo cà sa nhưng đã phạm qúa nhiều tội lổi với dân tộc VN, với Đức Phật, với Đạo Pháp. Tội phản Phật, phản Đạo, phản Đời, phản Dân tộc rất khó rữa sạch. Một Jane Fonda phản chiến sang Hànội kết tình đồng chí và hổ trợ tuyên truyền cho cộng sản Bắc việt trong chiến tranh Việt Nam, cô không ăn chay, không tụng kinh ngày nào, nhưng nay đã tỏ ra hối hận vì hành động khờ dại trước đây của mình. Còn Thiền Sư chưa thấy có chuyển biến rỏ rệt.

Để chuộc lại lỗi lầm tày trời trước đây trong lúc gần đất xa trời, thiết tưởng Thiền Sư cần phải đi vận động các tổ chức nhân quyền, các nhà lập pháp, các tổ chức phi chính phủ trên thế giới đòi hỏi cộng sản Hànội hảy trả quyền tự quyết dân tộc lại cho nhân dân Việt Nam và phải làm ngay tức khắc bây giờ kẻo đã qúa muộn !. Đó là luật công bằng phải trả và phải thực hiện.

Nếu coi thường luật nhân qủa và thuyết luân hồi của triết lý Nhà Phật thì sợ rằng kiếp sau sẽ không còn được ở dưới mái nhà, dù chỉ là túp lều mái tranh, vách đất đơn sơ nơi thôn dã; chừng đó, coi kỳ lắm, thưa Thiền Sư !

Giống như Thiền Sư, hai ông Phan Khắc Từ và Nguyễn Ngọc Lan quậy nát Sàigòn trước năm 1975.

Ông Lan ra tờ Đối Diện đả kích chính quyền. Mỗi lần xuống đường biểu tình, ông mặc áo dòng đen có băng vải trắng, choàng qua vai, xuống ngực đề dòng chữ: Cấm bịt miệng dân. Đi bên cạnh ông là nử phóng viên trẻ, môi đầy son phấn; khi thấy Cảnh Sát đến, cô nầy dẫn ông vào đường hẽm, mất dạng.

Ông Phan Khắc Từ ở tại họ đạo Vườn Xoài. Ông tình nguyện làm phu hốt rác của Sở Vệ Sinh Đô Thành để có môi trường quậy. Ông thường tham gia chống đối chính quyền, đòi dân sinh, dân chủ !
Sau năm 1975, hai ông đều ra ứng cử dân biểu quốc hội khoá I và đắc cử. Cả hai cũng đều phá giới, nhưng ông Lan có xin phép Cha Giám Tỉnh Dòng (dòng Chúa Cứu Thế), còn ông Từ âm thầm xé rào !
Sau nầy ông Lan biết hối hận, ủng hộ phong trào đấu tranh trong nước. Vào dịp đám tang ông Nguyễn Văn Trấn (một cán bộ CS giác ngộ), ông đã chở Linh Mục Chân Tín đến nơi tang lễ, nhưng đã bị hai người đi xe đạp đạp vào xe Honda khiến ông bị té, đầu đập xuống lòng đường. Từ đó, ông sống âm thầm cho đến khi mản phần, cách đây vài năm.

Riêng ông Phan Khắc Từ, Vi Xi tặng ông một khách sạn. Hiện nay ông có nhiều quyền lực trong công giáo quốc doanh mà người ta thường gọi đùa tại Sàigòn hiện nay có hai Tòa Tổng Giám Mục, toà kia là toà tổng giám mục Vườn Xoài !

Trước mặt Thiên Chúa Toàn Năng, ông là một giáo gian bán Chúa, phản Đạo, phản Đời.

Nam Nguyên

Edited by user Saturday, April 30, 2011 10:45:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#74 Posted : Saturday, April 30, 2011 7:59:36 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Bài Học cho Thiền Sư Nhất Hanh


Bắt đầu từ thứ Bảy, 27 tháng Sáu, và kéo dài đến khuya 28, rạng sáng 29 tháng Sáu, nhân chứng nói rằng thanh niên xã hội đen, có khi lên đến 200 người, kéo vào đập phá và đòi đuổi khoảng 400 tăng sinh đang tu tập theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã, xã Dambri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

UserPostedImage


Họ quăng hết đồ đạc của người xuất gia ra khỏi khu nhà “Tâm Ban Đầu.” Họ phá cả bếp nấu ăn của các thầy. Đồ ăn đang nấu sẵn thì họ quăng ra ngoài. Cả soong, nồi, chảo, gối ngồi thiền, quần áo.

Một người tại đây nói rằng các tăng sinh và cả giáo thọ đang lâm vào “ngõ cụt.”
“Sự việc bắt đầu vào khoảng 10 giờ sáng. Hơn 200 người phía bên kia, kéo vào.

UserPostedImage


Thái độ của họ rất hung hăng, họ đòi đập phá và đuổi các thầy ra khỏi chùa. Họ lấy lý do chúng tôi là người nước ngoài, nhưng thật ra tất cả tu sĩ ở đây đều là người Việt Nam, đến tu học theo lời kêu gọi của Thượng Tọa Đức Nghi.

Chúng tôi về đây tu tập theo Pháp Môn Làng Mai. Đến hôm nay thì chúng tôi gặp khó khăn và họ muốn đuổi chúng tôi. Họ đến rất đông, có cả thanh niên xã hội đen.

Họ quăng hết đồ đạc của người xuất gia ra khỏi khu nhà “Tâm Ban Đầu.” Họ phá cả bếp nấu ăn của các thầy.. Đồ ăn đang nấu sẵn thì họ quăng ra ngoài.

UserPostedImage


Đến trưa ngày thứ Hai, 29 tháng Sáu, thì người tu tập tại tu viện Bát Nhã lâm vào “tuyệt lộ:” không điện, không nước, không điện thoại, đặc biệt nước uống bắt đầu cạn dần trong khi các tiếp tế của Phật Tử địa phương thì bị ngăn cản.

Tin tức chính thức từ Bát Nhã Tu Viện gửi đi lên liên mạng toàn cầu kêu gọi:
Xin tất cả đại chúng khắp nơi cùng hỗ trợ năng lượng chánh niệm xua tan màn vô minh đen tối đang trùm khắp tu viện Bát Nhã. Chúng tôi những Phật tử trẻ không khỏi bàng hoàng khi hay tin hơn 400 quý thầy, quý sư cô đang bị cô lập hoàn toàn trong tu viện bởi một nhóm người lộng hành được bao che bởi một thế lực bên ngoài. Họ vô tâm đàn áp, quăng ném tất cả giường, chiếu, mùng mền, kinh sách.. ra sân, tịch thu tất cả thực phẩm, cắt toàn bộ điện, nước, đập phá máy phát điện, cắt đường dây điện thoại, internet, khóa tất cả cửa không cho ra ngoài...

UserPostedImage


Trong ba ngày qua, từ chủ nhật=2 028/6 đến hôm nay thứ ba 30/6, quý thầy quý sư cô phải sống trong cảnh không đèn, không nước, lương thực, thức uống cạn kiệt. Mọi sự hỗ trợ từ bên ngoài đều vô vọng bởi vì con đường độc đạo từ Bảo Lộc dẫn vào Bát Nhã đều có những thanh niên chặn xe, kiểm tra...Một số vị tăng ni, Phật tử, phụ huynh các thầy, sư cô trẻ vì nóng lòng lên Bát Nhã tiếp lương thực đều bị tấn công từ một nhóm khoảng 50 đến 200 thanh niên, phụ nữ ném đá, ném phân bò, gậy gộc vào xe...Họ thẳng tay đánh đập nếu vẫn ngoan cố vào tu viện, thực phẩm chưa kịp trao cho tu viện đã bị họ xé, quăng ném. Họ canh giữ ngày đêm xung quanh tu viện không cho bất cứ người nào được ra hay vào. Với những gì xảy ra hôm nay, chúng tôi thật sự quá đau lòng, chỉ cầu mong sự gia trì của chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Tổ sư và tất cả sự đồng tình ủng hộ khắp nơi đến với tăng thân Bát Nhã trong cơn nguy kịch này.

Quý thầy, quý sư cô tại tu viện Bát Nhã đều là những vị có tuổi đời còn rất trẻ, đang mang trong người một trái tim phụng sự vì đạo Pháp, vì chúng sanh, vì dân tộc.

Qúy thầy, quý sư cô đã bỏ tất cả những xa hoa, cắt dứt mọi sợi dây ràng buộc chỉ với một mục đích giải thoát cho bản thân và cho mọi người. Hôm nay trong tình thế nguy cấp như thế này nhưng tăng thân Bát Nhã không dùng bạo động để chống trả bạo động. Tất cả đều ngồi yên trong Định tạo ra một năng lượng tình thương.. Năng lượng tình thương này sẽ chuyển hóa được h n thù của những người có ác tâm. Mong muốn lòng từ bi dần thấm vào tâm của họ.

Chúng tôi, những Phật tử trẻ mong sự ủng hộ của tất cả mọi người trên thế giới lên tiếng nói chung để giúp đỡ tăng thân Bát Nhã qua cơn nguy biến này. Xin đồng cầu nguyện để tạo nên một năng lượng tình thương chuyển hóa mọi bạo động.
Một sư cô biết rất rõ quá trình thành lập tu viện Bát Nhã, hiện đang ở Huế, nói rằng văn thư mới nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ban hành có thể xem là dấu chấm hết cho sự hiện diện của tăng sinh theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã.
Sư cô Thoại Nghiêm cho biết: “Trong văn thư mới nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do thầy Thiện Nhân ký cũng có thể xem là lời khai tử sự hiện diện của mình ở đó. Nội dung có phần: các vị đã đăng ký thì cho ở tu học, chờ thời gian di chuyển đến chỗ mới. Các vị chưa đăng ký nhưng tu học đàng hoàng thì cũng tạo điều kiện tu học, chờ thời gian di chuyển đến chỗ mới.
Vậy là rõ ràng thầy Đức Nghi không cho mình ở đó nữa. Nhưng chờ thời gian di chuyển đến chỗ mới, thì chỗ mới là chỗ nào, thời gian nào thì di chuyển, không ai giải quyết. Cũng xin thưa rất rõ, mình đã đầu tư tất cả niềm tin, tiền bạc vào đó rồi bây giờ lấy đâu ra chỗ khác?”

Tu viện Bát Nhã được xây dựng theo ý tưởng của thiền sư Nhất Hạnh. Theo đó, ông kêu gọi những ai muốn tu tập theo pháp môn Làng Mai tại Việt Nam thì xây dựng cơ sở vật chất, và phía Làng Mai sẽ cung cấp giáo thọ để giảng dạy.
Tu viện Bát Nhã là cơ sở đầu tiên ra đời theo ý tưởng này. Thầy Pháp Hội nói rằng “Thượng tọa Đức Nghi là người đầu tiên phát tâm cúng dường cơ sở có sẵn để phát triển thêm. Giờ đây đã phát triển rất nhiều lần, nhưng nay thì Thượng Tọa Đức Nghi đổi ý, muốn đuổi tất cả tu sĩ nước ngoài.”

Ngoài những vấn đề rất rắc rối xung quanh yếu tố pháp lý liên quan đến cơ sở vật chất, chủ sở hữu quyền sử dụng đất đai trên đó xây dựng tu viện Bát Nhã, tiền bạc được đầu tư để xây dựng tu viện, vân vân, thì có ý kiến cho rằng tư thế của Làng Mai có thể là nguyên nhân sâu xa của vấn đề.

Đây quả là bài học quý giá cho các tôn giáo,những ai chủ trương mang " Chúa Phật" ra thỏa hiệp với bọn quỷ đỏ. Một chân lý bất biến muôn thuở là thiện và ác không " đội trời chung " !

http://vietnamaaa.numeri...e20120a4c893d1970b-200wi

UserPostedImage
Hí hửng với VC Nguyễn Minh Triết


Nam Nguyên

Edited by user Saturday, April 30, 2011 10:46:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#75 Posted : Saturday, April 30, 2011 8:19:21 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Sự phản bội của thiền sư Thích Nhất Hạnh


Lời tác giả: Bài viết này được lược trích từ bài "Sự Thật Che Giấu Sự thật" và đổi lại tựa đề cho đúng với hoàn cảnh thực tại của Sư ông Nhất Hạnh. Sư ông Nhất Hạnh đã phản bội lý tưởng của ông ta qua hai hành động về Việt Nam để:

1) Giải độc cho CSVN trong thời điểm mà thế giới lên án CSVN đang khốc liệt đàn áp Tôn giáo, và
2) Bành trướng môn phái Tu sĩ có quyền lấy vợ.

Người viết xin được đưa ra một số sự thật như sau:

Sự thật về sự khủng bố

1) Vào ngày 11.9.2001, đã có trên dưới 7 ngàn dân Mỹ và các dân khác trên thế giới đã bị thiệt mạng dưới những khối bê tông cốt sắt khổng lồ tại Nữu Ước và Ngũ Giác Đài – Đó là sự thật!
2) Qua quá trình điều tra của cơ quan FBI, chính thực rõ ràng tên trùm khủng bố Osama Bin Laden và đồng bọn đã trực tiếp gây ra vụ thảm sát đẫm máu này – Đó là sự thật!
3) Nếu vì lý do bất đồng chính kiến với một thể chế chính trị nào đó, Laden có thể nhắm ngay đầu não của một chính quyền, là một chuyện khác; nhưng thật sự Laden đã cố tình giết hại những người dân vô tội tại Trung tâm Mậu dịch Quốc tế. Rõ ràng Laden và đồng bọn là những tên sát nhân, mất hết lương tri, cố tình diệt chủng, không thua gì Cộng sản Việt Nam– Đó là sự thật!
4) Chính quyền Taliban đã đập nát tất cả những tượng Phật, di tích Phật giáo có tầm cỡ lịch sử, hủy diệt một nền văn hóa có tự ngàn xưa, đã chứng tỏ cho thế giới thấy được sự thật về những hành động dã man của bọn chúng. Chính quyền Taliban hiện nay đang diệt chủng, diệt tông, không thể tha thứ – Điều này không thể chối cãi!

Sự thật về Thiền sư Nhất Hạnh:


UserPostedImage
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh


1) Thiền sư Nhất Hạnh đã cố tình quên đi hành động dã man của tập đoàn khủng bố, mặc nhiên trước những sinh linh vô tội, nỗi đau đớn của thân nhân và nhân dân Hoa Kỳ, nỗi lo sợ của toàn thế giới trước âm mưu tiêu diệt nhân loại của tập đoàn này qua biến cố vừa qua. Trước nỗi thống khổ của nhân loại, Thiền sư đã không thể hiện tinh thần Bồ tát đạo, cứu độ chúng sinh qua lời Phật dạy trong Lục Độ Thập Kinh: "Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy, xông mình vào nơi chính trị hà khắc để cứu muôn dân ra khỏi chốn lầm than". Đó là sự thật!
2) Từ ngày bọn Cộng sản áp đặt nền chuyên chính trên toàn nước Việt, chúng ra sức bóc lột nhân dân, tham nhũng cực độ, đàn áp khốc liệt, tiêu diệt tôn giáo, khủng bố chứng nhân và các nhà ái quốc yêu tự do, thủ tiêu Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Trí Thủ… giam cầm và quản chế Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ… thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một Giáo hội Dân lập được truyền thừa gần 2000 năm của Lịch Đại Tổ Sư, một Giáo hội đã dày công nuôi dưỡng Thiền sư Nhất Hạnh và nhờ sự trưởng dưỡng đó mới được đến ngày nay, thế mà khi Giáo hội trong cơn Pháp nạn, kêu cứu từ hơn một phần tư thế kỷ qua mà sư vẫn thiền, vẫn còn tự cho mình là "nhất hạnh". Đó là sự thật!
3) Sư Nhất Hạnh đã chọn thành phố New York để tổ chức một buổi thuyết trình, Thiền sư đã quảng cáo 2 lần, một lần ¼ trang và sau đó quảng cáo nguyên trang. Trong quảng cáo có đăng bài thơ với phần ghi chú rằng, Bến Tre - thị xã ba trăm ngàn dân - đã bị phá hủy chỉ vì 7 du kích bắn vu vơ. Trong quảng cáo lần thứ nh ì, con số "7" bị rút đi vì gặp sự phản ứng của dư luận, nhất là qua cuộc Họp Mặt Cho Sự Thật tại miền Nam Cali vào ngày 14.10.2001 đã minh xác lời của Thiền Sư Nhất Hạnh là sai trái. Đó là sự thật!
4) Sư Nhất Hạnh đã buộc tội quân đội Việt Nam Cộng hòa và Đồng minh Hoa Kỳ một cách hàm hồ như sau:

- Chỉ có "7" hoặc "vài" du kích quân Việt Cộng vào thành phố.
- Du kích quân bắn máy bay Mỹ, không trúng.
- Du kích quân rút đi.
- Mỹ ném bom hủy diệt thành phố ba trăm ngàn dân Bến Tre.
- Viên chức Mỹ tuyên bố: hủy diệt thành phố Bến Tre để cứu nó.

... Những hành vi như đã kể ra ở trên chứng tỏ Thiền sư Nhất Hạnh đã đi ngược lại với nguyện vọng đấu tranh cho công lý của mọi người, thiết thực nhất là nguyện vọng đấu tranh đòi hỏi Cộng sản phải thực thi tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam của toàn thể Người Việt Tỵ nạn Cộng sản ở Hải ngoại. Xin nhấn mạnh một lần nữa là Người Việt Tỵ nạn Cộng sản, nghĩa là tỵ nạn chính trị, nghĩa là không chịu nỗi sự đàn áp chém giết khốc liệt của tập đoàn Cộng sản nên phải tỵ nạn, chứ không phải tỵ nạn kinh tế! Do đó, người Việt lưu vong đó đây được các chính phủ tự do nhân đạo cứu vớt đón nhận để cho ăn nhờ ở đậu, cư trú tạm thời. Nếu là tỵ nạn kinh tế, chúng tôi tin chắc rằng đã không có quốc gia nào đón nhận. Chính vì vậy, bất cứ những tuyên cáo, hoạt động nào nằm trong phương hướng bảo vệ chính nghĩa quốc gia, chống Cộng sản, đều là việc chung của mọi người Việt Tỵ nạn Cộng sản. Mặc dù họ không có nói ra, nhưng trong tâm tư của mỗi người Việt lưu vong hải ngoại sau 1975 đều mang ý nghĩ như vậy, ngoại trừ những tên đã tự đổi cốt của chính mình từ tỵ nạn Cộng sản sang tỵ nạn kinh tế để kiếm sống qua ngày, và sẵn sàng giao lưu, hiệp thông với Cộng sản. (Những tên này đã đánh mất lương tri nhân loại, đánh mất lập trường chính trị để tiếp tay với lũ côn đồ giết hại dân lành, tiêu diệt đạo pháp).

... Điều mà ai cũng biết Thiền sư Nhất Hạnh là một tu sĩ giỏi (Điều nổi bật nhất là Thiền sư Nhất Hạnh giỏi ru ngủ. Những ai đang được Thiền sư Nhất Hạnh ru ngủ rồi, thì dù bất cứ tiếng kêu la thống thiết nào, ngay cả bom nguyên tử nổ bên tai, cũng không tài nào thức tỉnh họ được), thông hiểu triết lý nhà Phật, và là tác giả của nhiều cuốn sách. Nhưng GIỎI là đặc điểm cá nhân của Thiền sư Nhất Hạnh. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh không đem cái GIỎI của mình để cứu đạo, cứu đời, thì GIỎI trở nên vô dụng và không ăn thua gì đến công cuộc đấu tranh của tập thể Người Việt Tỵ nạn Cộng sản hiện nay. Không những thế, Thiền sư Nhất Hạnh đã nhúng tay vào làm công việc phản chiến và ng y hòa, đã kêu gọi tha thứ cho quân khủng bố trong lúc quân khủng bố cứ liên tục phát động chiến dịch đẫm máu này (cướp máy bay lao vào World Trade Center) đến chiến dịch đẫm máu khác (vi khuẩn anthrax, giựt sập cầu, đánh rớt máy bay dân sự…) để giết hại dân vô tội, đến nỗi người Mỹ đã thay đổi hẳn tình cảm đối với người Việt Nam, cho nên bắt buộc mọi người phải gióng lên những tiếng nói cho công lý và chính nghĩa. Sống trên nước Mỹ, người dân thường thấy, khi mở radio, truyền hình, sau vụ khủng bố, không có tin gì ngoài những tin thương hại do độc khuẩn của bọn khủng bố tạo ra và những lời cảnh giác của phóng viên truyền hình, báo chí. Một con sâu làm rầu bát canh! Sau khi nghe bài thuyết trình "độc nhất vô nhị" của Thiền sư Nhất Hạnh tại Nữu Ước, dân Mỹ quá sức phẫn nộ đã phải hô to lên rằng: "Vietnamese go home!" Thái độ của người Mỹ đối với người Việt Tỵ nạn Cộng sản, nay là thế đó. Từ tình cảm ưu ái, thân thiện, đã trở thành thù ghét đắng cay. Càng thù ghét người Việt quốc gia tại hải ngoại chừng nào, người Mỹ càng trở nên thân thiện gần gũi với bọn Cộng sản nhiều hơn. Và, trận chiến sẽ xoay chiều. Người Mỹ sẽ coi chúng ta là những kẻ đồng lõa, là những người bao che cho tạo tội ác nên giúp tội ác tạo tội ác. Thế rồi, công cuộc đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do tôn giáo tại quốc nội sẽ dư thừa. Không có ai tin chúng ta cả. Người Mỹ sẽ nghĩ rằng chúng ta muốn phát động phong trào khủng bố để chống chính quyền Cộng sản ở Việt Nam, chứ không phải để đòi hỏi tự do, nhân quyền và dân chủ, vì đất nước Việt Nam có tự do thật sự, có nhân quyền hẳn hoi. Hơn nữa, dần dần những tin tức xấu xa do Thiền sư Nhất Hạnh khơi động này sẽ được loan chuyển khắp mọi nơi trên thế giới. Không những người Mỹ, mà dân chúng trên thế giới đều có một nhận định xấu xa về công cuộc vận động đấu tranh cho tự do tôn giáo của người Việt khắp nơi trên toàn cầu. Từ đó, chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trên chiến trường chống Cộng và phục hưng đất nước. Chúng ta không hiểu được điều đó sao ? Thế thì, ai đã gây ra ảnh hưởng xấu ? Không phải là Thiền sư Nhất Hạnh thì còn ai vô đây ? Chúng ta không thể tiếp tục ra sức b ao che cho tội ác, biện minh che cho sự phản bội của Thiền sư Nhất Hạnh!

Đó chỉ mới bàn về những ảnh hưởng tác hại của sự phản chiến của Thiền sư Nhất Hạnh mà thôi. Riêng, trong bài thuyết trình tại Nữu Ước và tại những trang quảng cáo ầm ĩ của Thiền sư Nhất Hạnh trên báo New York Times, chúng ta rất dễ tìm những luận điệu vu khống, bôi nhọ quân đội Cộng hòa, lẫn những lợi điểm cho Cộng sản, như đã liệt kê ở trên. Điều đáng buồn là Thiền sư Nhất Hạnh đã đại vọng ngữ để đưa ra những con số không thật, những tin tức láo khoét khi nói về con số tử thương tại Bến Tre với mục đích gán ghép chồng chất tội ác lên đầu quân nhân Mỹ-Việt Nam Cộng hòa. Thiền sư Nhất Hạnh đã bôi nhọ lên mặt Cộng hòa và tô son trên môi Cộng sản!
... Một điều cần biết là Thiền sư Nhất Hạnh giao du tứ phương để lấy lòng dân. Thiền sư Nhất Hạnh được lòng rất nhiều người. Người theo Thiền sư Nhất Hạnh cũng không phải ít. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh là một tu sĩ biết lo cho dân tộc (quốc nạn) và đạo pháp (pháp nạn), chỉ cần Thiền sư gióng lên tiếng nói cứu độ quần sinh thôi, thì đảng Cộng sản Việt Nam đã tiêu diêu miền khói lửa lâu rồi, chứ đâu mà cảnh địa ngục trần gian còn day dưa đến hôm nay trên đất Việt? (Xin được chú thích: Nói thế không phải để đề cao Thiền sư Nhất Hạnh, nhưng để buồn cho Thiền sư Nhất Hạnh có vũ khí tốt mà không biết dùng, nhất là t rong tình trạng khẩn thiết của Đạo pháp hiện nay). Nhưng, tiếc thay, nhìn vào đội ngũ đông đảo "hùng hậu" của Làng Hồng, Làng Mai, người ta chỉ thấy một đám người đang ngủ gà ngủ gật…

Sở dĩ mà dân New York hô lên "Vietnamese go home" nhưng không nói "Thich Nhat Hanh go home" là vì Thiền sư Nhất Hạnh dẫn cả một đại đội tiến về New York. Nhìn vào đám đông này, người ta chỉ thấy họ là Vietnamese, không phải là Thich Nhất Hanh! "Con sâu làm rầu bát canh" ở chỗ đó! Rõ ràng Thiền sư Nhất Hạnh đã ô nhục toàn dân tỵ nạn CS ở hải ngoại, ô nhục nước Mỹ. Vụ thảm sát vào ngày 11.9.2001 đó, ít nhiều, cũng đã tạo cơ hội cho giới truyền thông báo chí của bọn Cộng sản, như ở Hồng Kông, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba thừa nưBc đục thả câu, tuyên truyền với dân chúng rằng Mỹ là con cọp giấy. Chưa đủ, chúng còn thâu băng, làm phim để kinh tài và hạ nhục Mỹ Quốc. Tại sao Thiền sư Nhất Hạnh không đi qua Afghanistan để "thuyết pháp" cho bọn côn đồ đừng có hủy diệt tượng Phật, đừng có tiếp tục giết người vô tội, ngưng ngay những hành động khủng bố, mà Thiền sư cố nài nỉ người Mỹ tha cho bọn chúng ? (Mặt khác, Thiền sư Nhất Hạnh cố tạo ra những con số bất thật để ghép tội người Mỹ, rồi tạo áp lực tinh thần và nhân tính để bắt buộc người Mỹ nhận thấy rằng chính người Mỹ cũng đã gây khủng bố ở Bến Tre, nên phải tha cho quân khủng bố Osama Bin Laden và đồng bọn). "Từ bi, Vị tha" kiểu ngược đời như thế này, không biết Thiền sB 0 Nhất Hạnh đã tìm đâu ra ở trong Tam Tạng Kinh điển của Phật giáo ? Tạo cơ hội cho kẻ ác hành hung bằng cách khuyên người hiền nên cố tâm chịu đựng! Sao mà hao hao giống luận điệu của Cộng sản vậy kìa: "Bà con ơi, nên chịu đựng đi, đừng nhúc nhích mà chết, tại vì Đảng đã lỡ nắm quyền hành rồi, cho nên bắt buộc Đảng phải bóc lột, ăn cướp, hút máu dân để cho thỏa lòng tham vô cùng vô tận của Đảng, đừng có thắc mắc hoặc khiếu nại mà bị chặt đầu, vì đó là luật Đảng. Tốt nhất là phải chịu đựng, chịu đựng và tha thứ cho Đảng thì mới được sống an thân!…" Thảm khổ!!!

Điều nổi bật hơn về Thiền sư Nhất Hạnh là Thiền sư đã được trưởng thành trong20căn nhà của Giáo hội (GHPGVNTN), Thiền sư cùng tu, cùng ăn, cùng ở với những đồng đạo của mình. Thế nhưng, trong mấy chục năm qua, Giáo hội của mình bị bức tử, đồng đạo của mình bị tù đày, quản chế, 80 triệu dân quốc nội của mình không ngừng kêu cứu, thậm chí giáo pháp của Đức Phật cũng bị bọn côn đồ đảng Cộng sản đảo lộn, bôi nhọ, bảo rằng còn thua xa với thuyết lý Mác-Lê-Hồ rồi mang vào trường học để nhồi sọ sinh viên, miệt thị Phật giáo; Thiền sư Nhất Hạnh vẫn ngậm miệng, giả câm, giả điếc. Là một trưởng tử của Như Lai, Thiền sư Nhất Hạnh đã làm gì để lấy lại hương vị tinh nguyên của Giáo lý nhà Phật khi bị đảng Cộng sản đang bỏ chung vào một soong để chiên xào xáo trộn với chủ nghĩa ma quái Mác-Lê ? Sau này, thế hệ trẻ tại Việt Nam sẽ bị đầu độc rằng: Giáo pháp của Phật chẳng hơn gì lý thuyết Mác-Lê-Hồ cả, thi hành theo chủ nghĩa của Mác coi bộ thực tiễn hơn.. Khi đó, Thiền sư sẽ nghĩ gì ? Đây mới chính là thời kỳ mạt pháp! Phật pháp đang trên đường băng hoại!

Chưa hết, trong thời gian Ngài Quảng Độ bị cầm tù trong ngục, Ngài đã làm 300 bài thơ tranh đấu, Ngài tin tưởng và chuyển ra hải ngoại cho Thiền sư Nhất Hạnh. Thiền sư Nhất Hạnh đã liệng vào sọt rác. Thiền sư Nhất Hạnh tưởng rằng không ai hay biết, vì cứ đinh ninh rằng Hòa thượng Quảng Độ sẽ bị chết trong tù, hoặc ít nhất cũng sẽ không bao giờ thấy được ánh sáng mặt trời. Nhưng trời cao có mắt. Kẻ ác bất khả hại hiền nhân. Nhờ sức vận động hy hữu của tất cả các hội đoàn, Cộng đồng, nhất là của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris và của Văn phòng II Viện Hóa đạo đến với các chính giới hải ngoại đã làm áp lực lớn mạnh, bắt buộc Cộng sản phải phóng thích Ngài Quảng Độ. Sau đó, qua cuộc phỏng vấn của Giáo sư Võ Văn Ái với Ngài Quảng Độ bằng điện thoại viễn liên sau những ngày tù tội, Ngài Quảng Độ có đề cập đến 300 bài thơ trong tù đã được gởi sang cho Thiền sư Nhất Hạnh để nhờ chuyển qua cho Giáo sư Ái. Gs Võ Văn Ái quá đổi ngạc nhiên, trả lời rằng là Anh không có nhận bài thơ nào của Ngài Quảng Độ do Thiền sư Nhất Hạnh chuyển đến cả. Ngài Quảng Độ chỉ phản ứng m t cách rất nhẹ nhàng: "Vậy à?". Ngài Quảng Độ còn bảo rằng Ngài còn ghi nhớ tất cả 300 bài thơ ấy ở trong trí óc của Ngài, khi rảnh rỗi, Ngài sẽ chép lại và gởi qua cho Anh Ái để in thành một tập thơ… (Xin quý vị liên lạc với Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để xin bản sao của cuộc phỏng vấn này, nếu cần).

Sau khi tin tức bị tiết lộ, Thiền sư Nhất Hạnh giả vờ làm một bài thơ "ca ngợi" sự chịu đựng và tinh thần hy sinh cho Đạo pháp của Ngài Quảng Độ, với mục đích là để che đậy sự tráo trở của mình, đề phòng lòng phẩn uất và cũng để thoa dịu sự bất bình của mọi người dân khi họ biết là Thiền sư Nhất hạnh đã dẹm kín 300 bài thơ của Ngài Quảng Độ. (Người viết đã có đọc được bài thơ này của Thiền sư Nhất Hạnh trên một web site nào đó – tạm thời không nhớ rõ là đăng trên web nào.)
Tủi hổ thay, mồ cha không khóc, Thiền sư Nhất Hạnh đi khóc đống tro tàn!

Với tư cách là một trưởng tử của Như Lai, hãy lấy Phật pháp làm sinh mạng, lấy Sự thật làm nền tảng. Vì, căn bản Giáo lý của Đạo Phật là lấy Sự thật làm nền tảng cho sự tu học, hoằng hóa. Chính vì vậy mà Đạo Phật là Đạo Như Thật. Hơn nữa, trên phương diện dẫn chứng lịch sử, thời gian và con số phải được trích dẫn chính xác không sai chạy mỗi khi đề cập đến, cho hợp với câu "Lịch sử đã chứng minh…"

Với cương vị của một công dân, hãy lấy Quốc gia làm đầu, lấy Dân tộc làm gốc.
Với thân phận của một kẻ tỵ nạn lưu vong, nên lấy Tổ quốc làm trọng, phải nổ lực đấu tranh để mong có được ngày về.
Nhưng đau buồn thay, Thiền sư Nhất Hạnh là một tu sĩ Phật giáo mà không làm được chuyện đó! Ngược lại, Thiền sư đã vọng ngữ, bóp méo lịch sử, đưa ra những dữ kiện sai lạc nhằm vu cáo quân lực chính nghĩa Cộng hòa, làm lợi cho Cộng sản, trong lúc mà phong trào tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo đang lên cao. Thiết nghĩ, việc làm của Thiền sư Nhất Hạnh cần phải được chỉnh đốn.

UserPostedImage
Trong vai Thừa tướng Lã Bất Vi của vở tuồng Hát Bội "Hán Sở Tranh Hùng".

Nhất Hạnh = Kẻ thất bại trong những ma gian toan tính, phường "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản".


Phạm Cố Quốc

Edited by user Saturday, April 30, 2011 11:48:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thunder  
#76 Posted : Saturday, April 30, 2011 11:58:01 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Bà Ngô Đình Nhu ‘tha thứ hết’


Nói chuyện với ông Trương Phú Thứ, người sẽ xuất bản hồi ký của bà Ngô Ðình Nhu

“Tôi chỉ muốn dùng chữ bể oan cừu để nói về cuộc đời của bà Nhu. Với tôi, bà luôn là một người đàn bà giỏi, đức hạnh và biết tha thứ.” Ông Trương Phú Thứ, người duy nhất có những cuộc tiếp xúc với bà Ngô Ðình Nhu, cũng là người sẽ xuất bản quyển hồi ký của cựu đệ nhất phu nhân này, nói với phóng viên Người Việt hôm Thứ Hai.

Bà Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, qua đời hôm Chủ Nhật Phục Sinh trong một bệnh viện ở Rome. Bà “trút hơi thở cuối cùng thanh thản và an bình với tất cả các con và cháu nội ngoại quây quần bên giường bệnh,” theo tin ông Thứ gởi ra bằng email. “Bà đã nhận lãnh các phép bí tích cuối cùng với tràn đầy ân sủng của Chúa Phục Sinh.”

Nói chuyện qua điện thoại từ Seattle, ông Thứ, một trong số những người Việt Nam hiếm hoi có dịp gặp gỡ, trò chuyện với bà Nhu từ sau chính biến 1963 cho đến ngày bà mất, chia sẻ cảm nghĩ, “Ðứng trên phương diện tình cảm con người, bất kỳ sự ra đi của một người nào cũng đều là tin buồn, là sự mất mát. Nhưng riêng trường hợp của bà Nhu, tôi lại cảm thấy mừng cho bà, người đàn bà trung trinh tiết hạnh, thờ chồng nuôi con.”

Cái mừng của ông Thứ là cái mừng của một giáo dân tin vào nước Chúa. Ông Thứ nói trong sự xúc động, “Bà đã sống thui thủi gần suốt cả nửa thế kỷ trong một căn apartment, để làm gì? Ðể hy vọng đến một ngày nào đó được gặp lại người chồng của mình, người mà lúc ông chết, bà đã không được nhìn mặt, không được lo chôn cất, không được đeo khăn tang. Giờ thì bà đã được gặp chồng bà. Chính vì vậy mà tôi mừng cho bà.”

Có rất nhiều những lời dị nghị về người vợ ông cố vấn Ngô Ðình Nhu và là em dâu Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tuy nhiên, thời gian gần 50 năm sống gần như ẩn dật, không giao thiệp với bất cứ ai có liên quan đến chính trường, không lập gia đình dù đang ở độ tuổi đẹp nhất của một người phụ nữ, dù có nhiều người chính khách, nhiều nhà tài phiệt trên thế giới đeo đuổi, muốn giúp đỡ “bà đều lắc đầu, ở vậy nuôi các con học thành tài,” cũng đủ cho thấy bà là một phụ nữ “rất hay”. Ông Thứ, người đã “quen biết gia đình bà Trần Lệ Xuân từ khi còn nhỏ,” nhận xét như thế.

Sau thời gian dài sống một mình ở Pháp, 3 năm trước khi mất, “lúc sức khỏe bắt đầu suy yếu,” bà Nhu sang Ý sống cùng gia đình người con trai lớn là Ngô Ðình Trác.

Bà Nhu mất vì bệnh già, sau gần một tháng nằm bệnh viện. Bà ra đi có sự chứng kiến đầy đủ của các con bà, gồm gia đình Ngô Ðình Trác, Ngô Ðình Lệ Quyên sống cùng bà tại Ý, và Ngô Ðình Quỳnh từ Bỉ cũng kịp quay về.

Lễ tang của cựu Ðệ Nhất Phu Nhân Ngô Ðình Nhu được tổ chức tại Ý “rất đơn giản, kín đáo, và chỉ trong vòng gia đình”, theo lời một vị linh mục người Ý.

UserPostedImage


Về quyển hồi ký bà Ngô Ðình Nhu, Ông Trương Phú Thứ, người chịu trách nhiệm xuất bản quyển hồi ký của bà Ngô Ðình Nhu nói với Người Việt, “Nếu bà còn sống, chúng tôi dự định sẽ xuất bản sách vào khoảng tháng 9, tháng 10 năm nay. Nhưng giờ bà đã mất, thời gian ra mắt quyển hồi ký có thể phải trễ hơn.”

Quyển hồi ký này được bà Nhu viết trong thời gian khá dài, có thể đến 10 năm, bằng tiếng Pháp. Lúc đầu, bà dự định sẽ tự dịch ra tiếng Anh và tiếng Ý. Sau đó sẽ xuất bản bằng 4 thứ tiếng là Anh, Pháp, Ý và Việt.

Tuy nhiên, về sau sức khỏe không cho phép, bà Nhu chỉ viết bằng tiếng Pháp, “loại tiếng Pháp thượng thừa, hay hơn cả người Pháp viết,” theo nhận xét của ông Thứ. Ông Thứ, cùng ông Nguyễn Kim Quý, một người có bằng tiến sĩ về văn chương Pháp, hiện đang ở Oregon, sẽ dịch sang tiếng Việt.

“Hồi ký của bà Nhu sắp tới sẽ chỉ xuất bản bằng tiếng Việt,” ông Thứ khẳng định.

Chia sẻ về nội dung quyển hồi ký với phóng viên Người Việt, người chịu trách nhiệm dịch thuật, in ấn và phát hành cho biết, “Nếu ai tò mò muốn biết những chuyện thuộc về thâm cung bí sử của gia đình họ Ngô, hay muốn nghe bà Nhu thanh minh, cải chính những chuyện bịa đặt về bà, như bà có 17 tỷ Mỹ kim, trong khi bán cả Sài Gòn lúc ấy có được 17 tỷ đô la hay không… thì sẽ không thể tìm thấy trong quyển hồi ký này.”

Thay vì tiết lộ chuyện giật gân, cuốn sách đưa suy nghĩ, tư tưởng của bà Nhu đến cho người đọc. Ông Thứ nói:

“Quyển sách này là những vấn đề bà ấp ủ, bà muốn đưa những suy nghĩ, những tư tưởng của bà đến với mọi người, để mọi người hiểu. Hồi ký của bà không phải như cách người ta vẫn thường viết về những kỷ niệm, những hồi tưởng, những chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn đã xảy ra trong đời. Quyển sách này đáp ứng những chuyện cao hơn, xa hơn.”

Những tư tưởng hận thù, những lời nói động chạm hay nặng nề đến những người đã làm đảo chính, lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và giết chết chồng bà, cố vấn Ngô Ðình Nhu, đều không được nhắc đến trong hồi ký.

“Anh Thứ à, những chuyện người ta nói xấu về tôi thì tôi không biết. Nhưng nếu họ có nói xấu tôi, thì tôi cũng tha thứ hết.” Bà Ngô Ðình Nhu đã nói như thế, theo lời ông Trương Phú Thứ.

Ngọc Lan/ Người Việt

xuan hoang  
#77 Posted : Sunday, May 1, 2011 7:06:54 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Trên Đầu Súng

Nhạc sĩ: Anh Việt Thu




1.
Trên đầu súng quê hương... tổ quốc đã vươn mình
Trên lưỡi lê căm hờn... hờn căm như triều sóng
Ôi xôn xao... chiêng trống hối thúc
Đã giục giã khắp... chốn rộn ràng
Ôi lửa thiêng dậy bập bùng
Tay đốt….. lửa, tay vung kiếm
2.
Trên đầu súng xâm lăng... xiềng xích với bạo tàn
Trên lưỡi lê nô lệ... cùm gông phải gục ngã
Tay nâng niu... cây súng súng thép
Với đạn đồng mới... đã lên nòng
Và những loạt đạn đồng vàng
Vun lúa... trổ tràn đồng sâu

Điệp khúc:
Cho quê hương ta rạng ngời
Cho yêu thương xa vời vợi
Cho quê hương ta những đoá tuổi xuân
Để mai đây nghe nắng dậy hoà bình
Ðể ông cha còn nắm đất phủ mình
Ôi quê hương ta nước Việt…. Nam

3.
Từ đó dâng lên... nhà máy với công trường
Những xí nghiệp ngôi trường... nhà thương và hầm mỏ
Ôi bao la... thăm thẳm bát ngát
Cánh đồng vàng... với lũy tre xanh
Và tiếng ê a đầu làng
Là kinh nguyện cầu cho người gục xuống…



UserPostedImage


UserPostedImage
xuan hoang  
#78 Posted : Sunday, May 1, 2011 10:22:35 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
UserPostedImage

30 - 4 - 2011 ở Thành Phố Toronto - Canada



UserPostedImage

Buổi sáng sớm , nắng đẹp tại Mel Lastman Quare thành phố Toronto ,một số người Việt Toroto và vùng lân cận đã đến thật sớm

UserPostedImage


UserPostedImage

Chuẩn bị Lễ Chào Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà


UserPostedImage

Nhớ ơn Các Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage



Phải Lên Tiếng - Nhạc : NS Anh Bằng - Hợp ca Trung tâm Aisa & Ca Đoàn Ngàn Khơi




Cả nước Đấu Tranh - Nhạc : NS Anh Bằng - Hợp ca Trung Tâm Asia & Ca Đoàn Ngàn Khơi



UserPostedImage

Edited by user Sunday, May 1, 2011 10:41:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked xuan hoang for this useful post.
thuylinh on 5/1/2011(UTC)
thunder  
#79 Posted : Tuesday, May 3, 2011 6:43:44 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Vài nét về nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm


Nhân Văn - Giai Phẩm là một trong những hiện tượng nổi bật nhất trong sinh hoạt văn học và cả sinh hoạt chính trị ở miền Bắc vào nửa sau thập niên 1950.Gọi là nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm thật ra chỉ là một cách nói cho tiện. Thực chất những người bị liệt vào Nhân Văn - Giai Phẩm đã tham gia tranh đấu chống độc tài không phải chỉ trên tạp chí Nhân Văn hoặc trên Giai Phẩm.

Mầm mống của sự phản kháng xuất hiện rất sớm, ngay từ đầu năm 1955 và bài viết của họ được đăng tải trên nhiều cơ quan ngôn luận khác nhau, kể cả trên những tờ báo, những tạp chí nằm trong tay các tổ chức đảng.

Năm 1950, trong một cuộc Hội nghị văn công tổ chức tại Việt Bắc, Hoàng Cầm lúc ấy đang là đoàn trưởng Đoàn văn công quân đội khu Việt Bắc đã ngang nhiên tuyên bố: “Đảng không nên nhúng tay vào chuyên môn của nghệ thuật”. Sau năm 1954, về Hà Nội, Hoàng Cầm được cử làm đoàn trưởng đoàn kịch Tổng cục chính trị trong quân đội miền Bắc, vẫn tiếp tục tranh đấu đòi tự do cho văn nghệ sĩ. Thời gian này, bên cạnh ông xuất hiện một người nữa, cũng tài hoa và cũng quyết liệt như ông: Trần Dần. Cả hai người đều tâm đắc với nhau trong mục tiêu tranh đấu đòi đảng Cộng sản phải “trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một Chi hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên huấn và Tổng cục chính trị. Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật quân đội đối với họ” (1).

Yêu sách trên không được đáp ứng, Hoàng Cầm phản kháng bằng cách làm đơn xin ra khỏi quân đội, lột bỏ tất cả các chức vụ quan trọng và hứa hẹn nhiều vinh quang mà cộng sản dành cho ông.

Những biến động trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới càng làm cho Hoàng Cầm, Trần Dần và bạn bè của ông tin tưởng hơn đối với lý tưởng tranh đấu đầy chính nghĩa của mình. Trong các biến động ấy, đáng kể nhất là: sự kiện ngày 24.2.1956, tại Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrouchtchev đọc một bản báo cáo nẩy lửa vạch trần những tội ác tày trời của Staline, lên án cái bệnh sùng bái cá nhân rất mực nghiêm trọng và phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa; sự kiện ngày 26.5.1956, Lục Đỉnh Nhất, trưởng ban Tuyên huấn Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc đọc báo cáo hô hào phát động chiến dịch “Trăm hoa đua nở” với khẩu hiệu “Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh”; sự kiện dân chúng nổi dậy chống chính quyền tại Ba Lan và tại Hung Gia Lợi…

Đầu năm 1956, lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc phát triển mạnh, cực kỳ đông đảo, trong họ có nhiều người là những tài năng lỗi lạc. Về lý luận: Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang… Về thơ: Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Văn Cao… Về văn xuôi: Trần Duy, Thuỵ An, Như Mai, Hoàng Yến, Trần Dần… Về nhạc và hoạ: Nguyễn Văn Tý, Chu Ngọc, Sĩ Ngọc, Đặng Đình Hưng, Văn Cao, Nguyễn Sáng…

Những người trên tập trung trong hai cơ quan ngôn luận chính: một là Giai Phẩm, một loại tập san không định kỳ, hai là Nhân Văn, một tạp chí ra mỗi nửa tháng.

Số Giai phẩm đầu tiên được gọi là Giai phẩm mùa xuân phát hành đúng dịp Tết 1956 thực sự là một tiếng sét nổ trên vòm trời âm u tối sầm của Hà Nội. Hầu hết các bài viết đều tập trung phê phán gay gắt những sự khốn cùng trong xã hội, những hiện tượng mất dân chủ trầm trọng dưới chế độ cộng sản ở miền Bắc. Trong bài Cái chổi quét rác rưởi, Phùng Quán ví xã hội chủ nghĩa giống như một đống rác khổng lồ, và ông, với tư cách là một nhà văn, sẽ nhận trách nhiệm dùng ngòi bút quét sạch hết đi những rác rưởi đó để đem lại sự sạch sẽ, sự trong lành cho mặt đất.

Trong Giai phẩm mùa xuân, bài viết làm cho cộng sản tức tối nhất là bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần. Dài hơn 300 câu, bài thơ vẽ lại khung cảnh miền Bắc bị cộng sản tiếp quản mới có hơn một năm mà đã u uất, tối tăm, cùng quẫn vô hạn. Dân chúng lũ lượt di cư vào Nam. Những người ở lại chịu đựng biết bao đau thương:

Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ !
họ vẫn bảo chờ
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư ?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
trong mưa
cúi đầu
nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Bóng chúng
đè lên
số phận
từng người
Em cúi đầu đi mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót…

Bài thơ cứ lặp đi lặp lại mãi một điệp khúc buồn rầu:

Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.

Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu. Trần Dần bị bắt giam. Phẫn uất, Trần Dần phản kháng một cách tuyệt vọng nhưng vô cùng quyết liệt: cứa cổ tự tử. May, bạn bè ông phát hiện kịp và cứu sống. Sau đó ông xin ra khỏi đảng.

Trong năm tháng cuối năm 1956, Trần Dần và các bạn hữu của ông tái bản Giai phẩm mùa xuân và ra tiếp ba số Giai Phẩm nữa: Giai phẩm mùa xuân tập 1 và 2, Giai phẩm mùa đông, đồng thời xuất bản tạp chí Nhân Văn do Phan Khôi đứng tên làm chủ nhiệm, Trần Duy làm tổng thư ký. Nhân Văn số 1 ra ngày 15.9.1956, đến số 6 ra ngày 30.11.1956 thì bị thu hồi và đóng cửa hẳn.

Như vậy, toàn bộ hoạt động của tạp chí Nhân Văn cũng như các Giai Phẩm chỉ diễn ra trong năm 1956. Trong lịch sử văn học Việt Nam, cho đến nay, chưa bao giờ có một tạp chí hoặc một đặc san nào chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn ngủi mà lại khuấy động được dư luận, có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài như vậy.

Nhân Văn và Giai Phẩm bị đình bản, những người thuộc nhóm này, được sự đồng tình của Ban chấp hành Hội Nhà văn mới được thành lập đầu năm 1957, tiếp tục đăng bài trên báo Văn do Nguyễn Công Hoan, chủ tịch Hội Nhà văn làm chủ bút.(2)

***

Chú thích:

1. Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận của nhiều tác giả, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959, tr. 24.
2. Có thể đọc toàn bộ các số Nhân Văn và Giai Phẩm trên Talawas:

http://www.talawas.org/t...=80&bis=100&pg=1

Nguồn: haingoaiphiemdam


Ngoc N Hao  
#80 Posted : Tuesday, May 3, 2011 9:52:08 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
30-4: LÒNG DÂN KHÔNG THỐNG NHẤT


Trình bày ngày Thứ Bảy 30-4-2011 tại Montreal.


Trần Gia Phụng


Ngày 30-4-1975, Bắc Việt Nam thành công trong việc đánh chiếm Nam Việt Nam và tự hào là đã thống nhất đất nước. Đúng là ngày 30-4-1975, chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ranh giới sông Bến Hải bị xóa bỏ, đất nước quy về một mối dưới chế độ cộng sản, nhưng cho đến nay, 36 năm sau ngày 30-4-1975, thực tế cho thấy rõ ràng Cộng sản Việt Nam (CSVN) chỉ thống nhất lãnh thổ Việt Nam, chứ không thống nhất được tinh thần và tình cảm của dân chúng Việt Nam, nghĩa là không thống nhất lòng dân Việt Nam.


1.- TỰ SÁT CHỐNG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Đầu tiên, khi CS chiếm được miền Nam, khá nhiều người đã tự sát. Báo chí thường ca tụng các vị sĩ quan và tướng lãnh đã tuẫn tiết. Tuy nhiên, còn biết bao nhiêu người vô danh khác nữa cũng đã tự sát trước và trong ngày 30-4-1975, nhất là tại vùng II và Vùng I Chiến thuật, nơi thất thủ sớm nhất

Những người tự sát chứng tỏ hai điều:
1) Thứ nhất, trung thành với chế độ cũ.
2) Thứ hai, không chấp nhận chế độ mới.

Việt Nam nhiều lần thay đổi chế độ, nhưng lần nầy là lần đầu tiên trong lịch sử, rất nhiều người thà chết chứ không chấp nhận sống dưới chế độ mới. Một chế độ mới lên cầm quyền mà người ta không muốn sống dưới chế độ đó, đến nỗi phải tự sát, chứng tỏ rằng ngay từ đầu chế độ đó không được lòng dân, đó làm thảm họa cộng sản mà nhà văn Phan Khôi gọi là “cây cứt lợn” hay “cây chó đẻ”. (Phan Khôi, “Cây cộng sản” (bút ký) trong tập Nắng chiều, Hoàng Văn Chí trích dẫn, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa, 1959, tr. 91.)


2.- PHONG TRÀO DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN

Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh xảy ra. Người ta bỏ chạy vì sợ lửa đạn. Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn súng đạn.

Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150,000 người Việt đã di tản ra nước ngoài, trong đó khoảng 140,000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10,000 đến các nước khác. (Nguồn: UNHCR, The State of the World's Refugees - Fifty Years of Humanitarian Actions, ch. 4, tr. 81.)

Cộng sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ. Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng: “Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.” - Trích nguyên văn:

Code:http://ngoclinhvugia.wordpress.com

Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài “Nối vòng tay lớn”, nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội “phản quốc”.

Sau ngày 30-4-1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên.

Theo thống kê của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989,100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ.

Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước.

Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,500,000 người Việt đã bỏ nước ra đi.

Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi. Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được. Nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: "Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi.”


3.- PHONG TRÀO ĐỐI KHÁNG TRONG NƯỚC

Di tản hay vượt biên là bất tín nhiệm nhà cầm quyền trong nước, nhưng quan trọng hơn những người ở lại và cả những người xuất thân từ chế độ CS, được đào tạo từ trường lớp CS, cũng đối kháng với CS. Có thể chia thành nhiều nhóm đối kháng.

Nhóm thứ nhất xin tạm gọi là nhóm “Cộng hòa” ==>
vì những người đứng lên đối kháng là những người thời chế độ Cộng hòa còn lại. Cuộc nổi dậy bộc phát ngay từ năm 1975 và những người nổi lên chống đối bị ghép vào thành phần phản động. Trong số những cuộc nổi dậy trên toàn quốc, nổi tiếng nhất có thể là hai vụ ở Huế và ở Sài Gòn.

Vào năm 1976, một tổ chức chống cộng gồm nhiều thành phần khác nhau được thành lập tại Huế. Sau khi bị phát hiện, tám người bị án tử hình, trong đó có giáo sư Nguyễn Nhuận ở trường Đại học Khoa hoa Huế và giáo sư Đặng Ngọc Quờn ở trường Đại học Văn khoa Huế.

Tại Sài Gòn, cũng vào năm 1976, tại nhà thờ Vinh Sơn, trên đường Trần Quốc Toản (tên đường trước 1975), Nguyễn Việt Hưng (sĩ quan chế độ cũ) cùng linh mục Nguyễn Hữu Nghị đứng ra tổ chức lực lượng võ trang phục quốc, nhưng bị phát hiện ngày 12-2-1976. Những người cầm đầu đều bị tử hình.

Ngoài hai cuộc nổi dậy quan trọng trên đây, khắp các địa phương đều có nhiều nhóm hoạt động chống đối ở các tỉnh:

- Tại Đà Nẵng, hai giáo sư trường Kỹ Thuật là NguyễnVăn Bảy, Trần Ngọc Thành bị tử hình ở Hoà Khánh. Trước khi bị bắn, hai ông đều hô lớn “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm”.

- Ở Tam Kỳ (Quảng nam) có nhóm thanh niên và học sinh Quốc Dân Đảng. Ở miền Tây Nam phần, rải rác các nhóm thanh niên Phật Giáo Hòa Hảo... Cộng sản thẳng tay đàn áp tất cả những cuộc đối kháng.

Nhóm thứ hai xin tạm gọi là “nhóm tôn giáo” ==>

- Năm 1977, tại Huế, linh mục Nguyễn Văn Lý bị bắt giam vì đã phổ biến hai bài tham luận của giám mục Nguyễn Kim Điền, lên án nhà cầm quyền CS chủ trương tiêu diệt tôn giáo. Linh mục Lý bị bắt giam và bị CS cấm làm linh mục. Từ đó, linh mục Lý không ngừng tranh đấu cho dân chủ Việt Nam.

- Phía Phật giáo, thượng tọa (nay là hòa thượng) Thích Quảng Độ bị nhà cầm quyền bắt giam cũng từ năm 1977. Thượng tọa liên tục tranh đấu bất bạo động, và bị bắt giam hay quản thúc nhiều lần.

- Ngoài hai tu sĩ trên đây, còn có nhiều tu sĩ của Công giáo, Phật giáo, đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo đã hoạt động cho đến nay, lên tiếng kêu gọi tự do tôn giáo, tự do dân chủ cho dân tộc, nhưng đều bị đàn áp, cô lập bằng nhiều cách khác nhau.

Chính sách tôn giáo của CSVN là: Đối với các tôn giáo có ảnh hưởng quốc tế như Phật giáo, Ky-Tô giáo thì CSVN cô lập các tu sĩ chứ không gây ra những vụ án tử đạo vì sợ dư luận thế giới lên án. Đối với các tôn giáo địa phương như Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, CSVN thẳng tay đàn áp, giam cầm, ngược đãi, thủ tiêu. Tuy nhiên, hiện nay tu sĩ các tôn giáo vẫn tiếp tục hoạt động và liên kết với các nhóm khác để tranh đấu đòi hỏi tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho đất nước.

Nhóm thứ ba xin tạm gọi là “cán bộ CS hưu trí” ==>

Bắt đầu từ Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ do Nguyễn Hộ thành lập năm 1986. Nguyễn Hộ là một cán bộ cộng sản miền Nam. Sau năm 1975, ông làm phó chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam, thư ký Liên hiệp Công đoàn TpHCM (tức Sài Gòn cũ), chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TpHCM. Tháng 9-1988, Nguyễn Hộ ra mắt báo Truyền Thống Kháng Chiến, chỉ trích nhà cầm quyền CS nên bị đình bản. Năm 1989, CLB Những Người Kháng Chiến Cũ bị giải tán. Năm 1991 Nguyễn Hộ trả thẻ đảng viên, dầu lúc đó ông đã vào đảng 53 năm. Lúc đầu, ông bị quản thúc tại gia, rồi bị bắt năm 1994. Nguyễn Hộ chết già năm 2009. Trong hồi ký của mình, Nguyễn Hộ tự thú nhận: “Chúng tôi đã chọn sai lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.” (BBC Vietnamese, 3-7-2009.)

Sau Nguyễn Hộ, nhiều cán bộ mạnh dạn lên tiếng chỉ tích chủ trương của nhà cầm quyền CS, kể cả những tướng lãnh, đảng viên cao cấp (Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Trần Anh Kim…). Nhà cầm quyền cộng sản cho rằng những người chỉ trích chỉ là những đảng viên hưu trí, mất quyền lợi nên mới phản đối nhà cầm quyền CS mà thôi.

Nhóm thứ tư xin tạm gọi là nhóm “truyền thông” ==>

Phản đối bằng báo chí, internet. Có thể nói cuộc phản đối nầy rất sôi nổi, do chính những người sinh ra, lớn lên và được đào tạo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó có cả những người xuất thân từ gia đình cán bộ cao cấp của chế độ. Đó là một loạt những luật sư, kỹ sư, mục sư, giáo viên, phóng viên, nhà báo, mà ngày nay rất nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới. Đó là Lê Thị Công Nhân, Đỗ Nam Hải, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Cù Huy Hà Vũ, Trần Khải Thanh Thủy, Phan Thanh Nghiên, Nguyễn Tấn Hoành, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Lê Trí Tuệ, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Văn Trội, Vũ Hùng...(Danh sách nầy còn dài...)

Những nhân vật trên đây sinh ra, lớn lên và học hành trong lòng chế độ cộng sản. Vì vậy không thể kết án những người nầy là tàn dư “Mỹ ngụy”, cũng không thể quy tội những người nầy là “tay sai ngoại bang”, hay là những người hưu trí bất mãn. Họ là những ngưòi trẻ, có khả năng, có địa vị, danh vọng và giàu có, nhưng họ đã hy sinh tất cả, can đảm đứng lên tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ, công bình xã hội cho toàn thể dân tộc. CSVN liền quy chụp họ là “đánh phá cách mạng, âm mưu, lật đổ chính quyền”.

Những người tay không, không súng không đạn, chỉ bằng suy nghĩ phổ biến qua phương tiện truyền thông mà làm sao “âm mưu lật đổ chính quyền”? Họ chỉ là những người trình bày quan điểm của mình một cách bất bạo động nhằm xây dựng chế độ mà vẫn bị trù dập, chứng tỏ chế độ CS không chấp nhận bất đồng chính kiến, nghĩa là CSVN không cần đến ý dân, lòng dân.

Nhóm thứ năm xin tạm gọi là nhóm “nhân dân” ==>

Cộng sản luôn luôn tự hào là được hậu thuẫn của nhân dân và tâng bốc nhân dân là” anh hùng”. Trong thực tế, “nhân dân anh hùng” đứng hạng thứ tư tức hạng chót trong xã hội CS . “Tôn Đản là chợ vua quan, / Vân Hồ là chợ những gian nịnh thần./ Đồng Xuân là chợ thương nhân,/ Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.” Cộng sản lợi dụng khai thác nhân dân tối đa, nhưng CS cũng đàn áp nhân dân tối đa. Bị đàn áp, nhân dân thấp cổ bé miệng không biết làm sao, chỉ còn có cách phản kháng thụ động bằng những câu vè, tục ngữ, ca dao, những câu chuyện tiếu lâm, tạo thành nền văn chương truyền khẩu xã hội chủ nghĩa rất phong phú.

Tục ngữ, ca dao, chuyện tiếu lầm bàng bạc trong dân chúng quá nhiều, xin khỏi cần ghi lại; chỉ xin lưu ý rằng ngày trước đề tài văn chương truyền khẩu có tính cách xã hội nói chung. Riêng đề tài văn chương truyền khẩu thời CS, đặc biệt chỉ tập trung vào vấn đề chính trị, chỉ trích giới lãnh đạo CS mà thôi. Điều nầy cho thấy dầu CS luôn luôn khoe khoang rằng chế độ CS là chế độ của nhân dân, nhưng thực sự CS không bao giờ được lòng dân và luôn bị nhân dân oán ghét, đả kích.


4.- VÌ SAO ĐẢNG CSVN KHÔNG THỐNG NHẤT ĐƯỢC LÒNG DÂN?

Như thế, chế độ CS bị chống đối từ mọi phía, từ những người ở ngoài nước đến những người trong nước, từ những người bị chụp mũ “Mỹ ngụy”, đến những cán bộ CS và cả những thanh niên, trí thức do CS đào tạo. Sự chống đối của những người do chính chế độ CS đào tạo, hay những người sống trong lòng chế độ CS cho thấy rằng sau 36 năm cầm quyền, đảng CSVN vẫn không thu phục được nhân tâm, vẫn không thống nhất được lòng dân. Câu hỏi cần được đặt ra là vì sao CSVN lâm vào tình trạng nầy?

Đảng CSVN không thống nhất được lòng dân vì các lý do sau đây:

- Chủ nghĩa CS vào Việt Nam là một chủ nghĩa không tưởng. Ngày nay, các nước Âu Châu đã loại bỏ và lên án chủ nghĩa CS. Trong khi đó, tại Việt Nam ngày nay, triết học CS vẫn còn là môn học bắt buộc cho học sinh và sinh viên Việt khi thi ra trưòng.

- Chế độ CS chủ trương độc tài toàn trị. Từ khi chiếm quyền lực năm 1945, Hồ Chí Minh đưa ra chủ trương độc quyền cai trị đất nước. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Editions du Seuil, 1952, p. 143.) Cho đến năm 1992, Điều 4 hiến pháp quy định rằng “đảng Cộng Sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Đất nước Việt Nam là của chung do tổ tiên để lại cho toàn dân, tại sao đảng CSVN lại được quyền đứng trên tất cả, để lãnh đạo đất nước, không chấp nhận bất đồng chính kiến, đa nguyên, đa đảng? Trào lưu trên thế giới ngày nay là dân chủ đa nguyên. Chủ trương độc quyền cai trị đất nước của CSVN đã quá lỗi thời, và bị dân chúng chán ghét.

- Từ năm 1975, chính sách kinh tế chỉ huy của CSVN hoàn toàn thất bại. Cộng sản lo ngại, quay lại nền kinh tế tự do mà CS gọi là kinh tế thị trường, nhưng vẫn do nhà nước điều khiển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cởi trói phần nào cho dân chúng làm ăn, nhưng chỉ có cán bộ CS và một thiểu số ở thành thị được hưởng lợi, trong khi đại đa số dân nông thôn vẫn nghèo khổ. Định hướng xã hội chủ nghĩa là gì nếu không phải để CSVN tiếp tục chỉ huy kinh tế?

- Cộng sản cai trị tùy tiện theo nghị quyết của đảng CS, tức cai trị theo ý đảng, chứ không theo pháp luật, không có tính cách pháp trị. Nghị quyết của đảng luôn luôn đứng trên luật pháp. Cách cai trị tùy tiện gây nhiều phiền hà và khó khăn cho người dân trong cuộc sống. Luật quy định một đàng, nghị quyết đảng đi một nẻo, những kẻ thi hành lại làm cách khác.

- Nhà nước CS tham nhũng từ trên xuống dưới. Trước đây, dưới chế độ Cộng hòa, nạn tham những cũng xảy ra, nhưng ở quy mô nhỏ cả về người tham những và cách tham nhũng, và nếu bị phát giác thì sẽ bị luật pháp trừng trị. Đàng nầy, sau năm 1975 chế độ CS tham nhũng từ “vi mô” đến “vĩ mô”, bất cứ chức quyền nào cũng tham nhũng, công khai, trắng trợn và không bị luật pháp chế tài.

- Chế độ CS sai lầm lớn lao trong chính sách ngoại giao, lệ thuộc nặng nề đảng CS Trung Quốc. Cộng sản Việt Nam là nhà cầm quyền đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Việt Nam làm mất đất đai, mất ải Nam Quan, mất một diện tích mặt biển lớn lao vào tay Trung Quốc. Việt Nam thời Pháp thuộc cũng không bị mất một tấc đất nào cho Trung Quốc.


KẾT LUẬN

Tóm lại, tuy CSVN cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, thống nhất lãnh thổ, nhưng rõ ràng CSVN không thống nhất được lòng dân. Đảng CSVN chẳng những độc tài đảng trị toàn trị mà còn phạm nhiều sai lầm quan trọng, nhất là tham nhũng tràn lan, nên cho đến nay, sau 36 năm cai trị độc tài, CSVN cũng không thu phược được lòng dân.

Trong các thập kỷ qua, CSVN tồn tại bằng bạo lực và áp bức. Bạo lực và áp bức không mở cửa được lòng dân. Có người đã viết: "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Vì vậy khi nào Việt Nam còn nạn CS độc tài đảng trị toàn trị, thì chắc chắn dân chúng Việt Nam còn tranh đấu đối kháng. Nếu CSVN tiếp tục đàn áp để tồn tại, bạo lực không thể mở được lòng người, mà bạo lực chỉ tạo thêm đối kháng.

Do đó, chỉ còn hai con đường là:

1) CSVN phải tự mình làm một cuộc cách mạng bản thân, từ bỏ nạn độc tài đảng trị, xây dựng một chế độ dân chủ tự do, đa nguyên, đa đảng để thu phục nhân tâm. Điều nầy xem ra khó thực hiện đối với đảng CSVN.

2) Vậy chỉ còn cách khác là một lúc nào đó, toàn dân đoàn kết nổi dậy chống độc tài đảng trị, tự mình giành lấy quyền tự do dân chủ.

Điều nầy cũng khó khăn không kém, nhưng đường không đi không đến. Phải bắt đầu mới có kết thúc. Lịch sử luôn luôn tiếp tục tiến tới. Trước sau gì cách mạng cũng sẽ bùng nổ ở Việt Nam. Chắc chắn sẽ có ngày đó.



TRẦN GIA PHỤNG
(Montreal, 30-4-2011)


Source: Người Việt Boston + Text from Tỵ Nạn VN



Users browsing this topic
Guest
102 Pages«<23456>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.