Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

102 Pages<12345>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#41 Posted : Saturday, April 9, 2011 6:23:27 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Bộ Ngoại Giao Mỹ:
Công an VN thô bạo, người vận động bị bắt, mất tích đáng nghi


Saturday, April 09, 2011 5:56:08 PM

'Áp lực của kẻ cầm quyền, nạn tham nhũng phổ biến và không hiệu quả đã làm lệch hệ thống tư pháp'

WASHINGTON (NV) - Vào ngày kỷ niệm 5 năm thành lập Khối 8406, một tổ chức đối lập đa thành phần ở Việt Nam được hưởng ứng rộng rãi, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 8 tháng 4 công bố bản phúc trình thường niên về nhân quyền trên thế giới.

Riêng về phần phúc trình tình hình nhân quyền ở Việt Nam, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tố cáo trên 41 trang giấy rằng nhà cầm quyền Hà Nội gia tăng đàn áp nhân quyền trong năm 2010.

Bản phúc trình năm nay liệt kê ra nhiều trường hợp hơn để chứng minh có sự gia tăng đàn áp.

Ngay ở phần đầu tóm tắt nội dung, bản phúc trình chứng minh rằng ít nhất có 25 người vận động chính trị bị bắt giữ, 14 người bị kết án tù trong các năm 2008, 2009 và 2010. Ðồng thời, bác bỏ kháng án của 10 người khác đã bị kêu án hồi cuối năm 2009.

Bản phúc trình cáo buộc công an thường hành động thô bạo đối với nghi can khi bắt người hay cả khi giam giữ. Nhà tù thì thường rất hà khắc. Tuy tính chuyên nghiệp của lực lượng cảnh sát được cải thiện nhưng thành phần này nhiều khi hành động mà không sợ bị trừng phạt.

Các cá nhân bị bắt giữ một cách độc đoán vì hoạt động chính trị thì bị từ chối quyền được xét xử công bằng và nhanh chóng.

Áp lực của kẻ cầm quyền, nạn tham nhũng phổ biến và không hiệu quả đã làm lệch hệ thống tư pháp.

Bản phúc trình nhân quyền Việt Nam năm 2010 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nêu ra 9 trường hợp người dân bị công an đánh chết khi bị bắt giữ hoặc bắn chết khi đi biểu tình khiếu kiện đất đai. Hầu hết các vụ này đều được nhà nước cho chìm xuồng, chỉ có một vụ công an đánh chết thanh niên Nguyễn Văn Khương hồi tháng 7, 2010 ở Bắc Giang là bị kết án tù.

Có nhiều vụ công dân, tu sĩ bị mất tích rất đáng hoài nghi. Tu sĩ Thích Trí Khải thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mất tích từ năm 2008 đến nay không ai biết tin tức.

Phúc trình nói tuy luật lệ cấm cư xử thô bạo nhưng công an cảnh sát Việt Nam hành hung nghi can khi bắt giữ là rất phổ biến. Những sự việc như vậy xảy ra ở Hà Nội, Ðà Nẵng, Bắc Giang, Bình Phước, Ðắc Lắc, Ðiện Biên, Gia Lai, Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An, Quảng Nam, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Trà Vinh.

“Có những bản tường trình rất đáng tin cậy cho biết công an sử dụng các tên ‘xã hội đen’ hay dân phòng để đánh đập, sách nhiễu những người vận động dân chủ hóa đất nước hoặc các người đấu tranh cho tự do tôn giáo bị vu cáo là ‘đe dọa an ninh quốc gia’ hay không được ưa chuộng.” Bản phúc trình viết.

Bản phúc trình nói tuy luật qui định các người dân bị bắt giữ được phép tiếp cận luật sư từ khi bị bắt, tuy nhiên nhà cầm quyền dùng trì hoãn hành chánh để cản trở. Các trường hợp người dân bị vu cho các tội chính trị thì luật sư còn không thể tiếp cận thân chủ cho tới khi cuộc điều tra đã xong, sắp xử án. Nhiều khi các vụ việc này kéo dài đến 2 năm.

Không có con số đích xác số lượng tù nhân chính trị nhưng cho đến cuối năm 2010 thì có hơn một trăm người đang bị giam giữ tù đày. Một số tổ chức quốc tế cho rằng con số này còn lớn hơn nhiều.

Bản phúc trình liệt kê khá nhiều trường hợp từ những người bị cáo buộc liên quan đến Việt Tân như ông Phạm Minh Hoàng đến các người vận động công đoàn độc lập như Ðoàn Huy Chương, Ðỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, một số người Thượng theo đạo Tin Lành, một số thành viên của đảng Dân Chủ, một số người theo đạo Tin Lành Mennonite, tín đồ Cao Ðài v.v...

Những người này bị vu cho tội vi phạm các điều 79, 88 của Luật Hình Sự.

Nhóm ông Luật Sư Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim và Nguyễn Tiến Trung bị vu cho tội âm mưu lật đổ nhà cầm quyền cộng sản đã bị kết án với các bản án nặng nề, đặc biệt là Trần Huỳnh Duy Thức bị tới 16 năm tù.

Nhiều tù nhân là các người bất đồng chính kiến, thành viên của các tổ chức đối lập như Khối 8406, Ðảng Dân Chủ, Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng, Ðảng Dân Chủ Nhân Dân, Tổ chức Công Ðoàn Ðộc Lập, người gốc Khmer, v.v... Riêng Khối 8406 liệt kê 38 thành viên đang bị án tù. Mười người bị kết án ở Hà Nội và Hải Phòng chỉ vì kêu gọi chống tham nhũng, đa nguyên đa đảng và bảo vệ chủ quyền đất nước.

Khoảng 30 người vận động dân chủ bị bắt giữ trong các năm 2006-2007 tuy sau đó được thả nhưng vẫn bị quản chế và theo dõi mà không hề bị chính thức truy tố.

Các tổ chức quốc tế ước lượng nhiều trăm người Thượng liên quan đến các vụ biểu tình đòi tự do tôn giáo và đòi đất canh tác truyền thống hồi năm 2004 hiện vẫn còn đang bị tù. Nhà cầm quyền cũng bắt giữ và bỏ tù nhiều người dùng Internet để bày tỏ ý kiến về nhân quyền, các chính sách của nhà nước và kêu gọi đa nguyên đa đảng.

“Quyền tự do hội họp bị luật pháp giới hạn chặt chẽ. Các đảng phái chính trị đối lập bị cấm hoặc không dung thứ. Nhà cầm quyền cấm mọi tổ chức tư nhân hợp pháp và độc lập...” Phúc trình viết.

Tuy Hiến Pháp công nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân nhưng một số cá nhân thì bị hạn chế. Một số người còn bị cấm ra nước ngoài như Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn (mới bị bắt), Lê Thị Kim Thu, Lê Trần Luật, Lê Quốc Quân (ông này hiện mới bị bắt).

Bản phúc trình tố cáo chế độ Hà Nội cấm người dân tham gia và tổ chức các công đoàn độc lập. Bởi vậy, một số người vận động đã bị bắt giữ và bỏ tù. Các tổ chức bảo vệ nhân quyền cũng bị cấm.

Cùng một ngày công bố bản phúc trình nhân quyền của Bộ Ngoại Giao, bốn dân biểu thuộc hai đảng Công Hòa và Dân Chủ đã đệ nạp tại hạ Viện dự luật giới hạn các khoản viện trợ cho Việt Nam nếu nước này không cải thiện nhân quyền.

Ngày 9 tháng 4, 2011, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội, cũng giống như tất cả những lần bị đả kích vi phạm nhân quyền trước đây, lên tiếng phủ nhận tất cả.

Bà Nguyễn Phương Nga nói rằng: “Ðáng tiếc là Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Anh, Phái Ðoàn Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam và một vài tổ chức đã có những nhận xét thiếu khách quan, dựa trên những thông tin sai lệch, không phản ánh chính xác tình hình và có những ý kiến can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.”
thunder  
#42 Posted : Wednesday, April 13, 2011 3:06:21 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM LÀ GÌ ?


BBT.- Chúng tôi chỉ yêu cầu HĐGMCGVN hảy trả lời một câu duy nhất. " Ai là kẻ đã đặt để ông Phan Khắc Từ, một vợ hai con giữ chức linh mục chánh xứ họ đạo Vườn Xoài (Saigon) mà lại còn có quyền làm Thánh Lễ và phân phát bánh thánh cho giáo dân. Việc nầy có đúng luật Giáo Hội Vatican không?"

CHỐNG LẠI
TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM
LÀ TÒNG PHẠM VỚI TỘI ÁC CSVN


UserPostedImage


Khi Hồng y PHẠM MINH MẪN và Gm NGUYỄN VĂN KHẢM nói lòng vòng để đưa đén kết luận rằng những Giáo dân hay Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ ủng hộ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM là phản lại Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, là không theo Công Đồng Vatican II, khi Hồng y PHẠM MINH MẪN dám nói rằng TGM NGÔ QUANG KIỆT xin từ chức là vì lý do Lương tâm, đó là có ý xấu kết án TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM tự xuất phát từ Giáo dân mà TGM NGÔ QUANG KIỆT dám can đảm đứng đầu sóng ngọn gió đại diện.

Với bài này, chúng tôi muốn chứng minh rằng việc quyết tâm bảo vệ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM không những không phải là chống Giáo Hội mà ngược lại là làm Giáo Hội hãnh diện với tinh thần của mình. Giáo dân Công Giáo Việt Nam là thành phần của Dân Tộc. Khi đặt TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM như «sống Phúc Am giữa lòng Dân Tộc« , chúng tôi muốn kết luận rằng những ai làm tay sai cho CSVN để diệt TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM là những kẻ tòng phạm với tội ác CSVN nhằm tiếp tục áp đặt BẤT CÔNG thêm nữa cho Xã Hội Việt Nam.

Chúng tôi bàn vấn đề dưới những khía cạnh sau đây :

=> Hình thành TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM
=> Những kẻ làm mất thanh danh Giáo Hội CGVN
=> Những kẻ tòng phạm với CSVN phản lại Dân Tộc VN
=> Ai làm tay sai CSVN làm hại Vatican ?


Hình thành
TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM


TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM được Giáo dân, Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ làm sống mạnh trong tâm hồn và giơ cao lên như biểu tượng hướng dẫn hành động bảo vệ Giáo Hội, đồng thời thực hành “sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc“ đặt nền tảng vững chắc trên ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM theo lời dậy của Chúa Giêsu và được soi sáng bởi Thánh Linh. Không ai vượt qua Lời Dậy của Phúc Âm và do đó không ai có quyền, ngay cả Đức Giáo Hoàng, mạ lỵ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM, con đẻ của ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Công Giáo. Những ai mạ lỵ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM là mạ lỵ ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Công Giáo, sẽ được xếp vào phía Satan phá hoại.

Ngày 06.01.2010, CSVN phạm thánh đối với Công Giáo, không phải chỉ đối với Đồng Chiêm, mà còn đối với Giáo Hội Công Giáo VN, đối với Giáo Hội Công Giáo Hòan vũ và đối với tất cả các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Tin Lành, Chính Thống Giáo và Anh Giáo. Tất cả các Giáo Hội này lấy THÁNH GIÁ làm biểu tượng hữu hình cho ĐỨC TIN vào ơn cứu rỗi mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể nhận lấy tội trần gian trên Thánh Giá. Chính trên cây Thánh Giá, Philatô cho ghi INRI (Giêsu Nazaret, Vua Dân Do Thái), nhận Vương Quyền của Chúa Giêsu.

Tại Tòa Khâm sứ, tại Xứ Thái Hà, CSVN có thể lấy ra vấn đề Đất đai để hạ thấp ý tưởng đấu tranh cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Tại Tam Tòa, CSVN cũng nại ra vấn đề di tích Chiến tranh. Nhưng tại Đồng Chiêm, không có vấn đề đất đai hay di tích chiến tranh mà CSVN đã bạo hành đánh đập Giáo dân, nhất là đàn bà.

Tại Đồng Chiêm, CSVN đã phạm một sai lầm rất lớn, đó là động chạm đến THÁNH GIÁ, biểu tượng hữu hình của ĐỨC TIN THIÊN CHÚA GIÁO. Thực vậy, trung tâm điểm của Đức Tin Thiên Chúa Giáo là cây Thánh Giá.

Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể và đã chịu chết trên cây THÁNH GIÁ để cứu Nhân lọai. Đó là trung tâm của Đức Tin vào sự Cứu Rỗi mà mọi người theo Thiên Chúa Giáo nhìn vào đó để hành đạo. Thập tự giá thời Đế quốc La Mã là một hình phạt cho những người bị kết án tử hình. Chúa Giêsu đã biến thập tự giá hình phạt mà ai cũng sợ hãi thời La Mã thành cây THÁNH GIÁ biểu tượng tình Thương yêu cứu rỗi Nhân Lọai. Cây THÁNH GIÁ được kính trọng bởi mọi Tín đồ Thiên Chúa Giáo: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành cũng như Anh Giáo.

Ngòai việc cây THÁNH GIÁ biểu tượng hữu hình cho Đức Tin, cây THÁNH GIÁ còn là phương tiện mà Chúa Giêsu thiết lập Vương quyền. Năm 1925, Đức Giáo Hòang PIO XI đã tuyên bố LỄ CHÚA GIÊSU VUA, Vương quyền trên THÁNH GIÁ. Thánh Bộ Phụng Tự đã trích Phúc Am Thánh Gioan (Jn 18, 33-37), theo đó Vương quyền của Ngài được tuyên xưng trong mùa Phục Sinh và kết thúc trên cây THÁNH GIÁ. Philato đã cho viết tấm bảng INRI (Giêsu Nazaret, Vua dân Do Thái) đóng trên cây THÁNH GIÁ.

Phạm đến cây THÁNH GIÁ là phạm vào sự thánh, vào ĐỨC TIN GIÁO DÂN, vào VƯƠNG QUYỀN CHÚA GIÊSU. Ngay thời Vua, Chúa cấm đạo, các Vua, Chúa cũng đã hiểu ý nghĩa phạm sự thánh này. Các Vua Chúa chỉ yêu cầu Tín hữu bước qua cây THÁNH GIÁ, là được tha chết. Giáo dân biết rằng bước qua cây THÁNH GIÁ là chối bỏ ĐỨC TIN.

Tại Dồng Chiêm, CSVN đập phá cây THÁNH GIÁ, tức là mạ lỵ chính ĐỨC TIN người Thiên Chúa Giáo vậy.

Những kẻ làm mất thanh danh
Giáo Hội CGVN



UserPostedImage


TGM NGÔ QUANG KIỆT chỉ là một cá nhân đã can đảm chấp nhận đứng ở vị trí đầu sóng ngọn gió đại diện cho TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM. Nguyễn Thế Thảo, CSVN muốn loại cá nhân NGÔ QUANG KIỆT ra khỏi địa bàn Hà Nội nhằm triệt hạ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM.

Trong thời gian gần đây, một số Giám mục làm tay sai cho Nguyễn Thế Thảo, cho CSVN, khuynh đảo cả Hội Đồng Giám mục Việt Nam để loại trừ TGM NGÔ QUANG KIỆT và thay thế vào đó một Giám mục, Gm.NGUYỄN VĂN NHƠN, đã từng tích cực hợp tác với đám ngợm Giáo gian quốc doanh Phan Khắc Từ, Nguyễn Tấn Khóa… ca tụng Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, một Văn Bản kèm kẹp mọi Tôn Giáo. Việc loại bỏ và thay thế này đối với một Chủ chăn can đảm đại diện cho TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM là hành động phản lại ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Công Giáo, nền tảng của TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM. Đối với trách nhiệm điều hành Giáo Hội, việc làm tay sai cho CSVN để thực hiện chủ trương triệt hạ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM là việc đặt cả một Hội Đồng Giám mục, đại diện Giáo quyền, bên dưới Thế quyền của quân Pharisiêu CSVN. Khi Hồng y Phạm Minh Mẫn nói rằng TGM NGÔ QUANG KIỆT xin từ chức là vì “lý do Lương Tâm “ là có ý xấu mạ lỵ Lương Tâm TGM KIỆT đã theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM và do đó mạ lỵ chính TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM, mạ lỵ cả ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Công Giáo do chính Chúa Giêsu dậy.

Việc âm mưu làm tay sai cho CSVN để kéo theo cả một Hội Đồng Giám mục VN đặt Thế quyền bên trên Giáo quyền trong chủ trương phá hoại TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM là hành động làm mất thanh danh Giáo Hội Công Giáo VN vậy.

Những kẻ tòng phạm với CSVN
phản lại Dân Tộc VN


Ở đoạn trên, chúng tôi phân tích vấn đề thuần túy trong phạm vi Tôn Giáo. Nhưng những Giáo dân, Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ, Giám mục là người Việt Nam. Tất cả sống trong lòng Dân Tộc Việt Nam. Cái vui, cái buồn, cái đau khổ của Dân Tộc cũng là cái vui, cái buồn, cái đau khổ của người Công Giáo Việt Nam. Người Công giáo không thể reo hò vui mừng khi xây một Thánh Đường to lớn do CSVN ưu đãi với ý đồ bắt mình làm tay sai trong khi ấy những bà mẹ già hem hễ mất cả nhà đất không có nơi che nắng mưa và trồng cấy rau cỏ nuôi con. Đây không phải là tưởng tượng mà là cụ thể nhan nhản ở Vườn Hoa Mai Xuân Thưởng tại chính Thủ đô Hà Nội.

Họ là những người bị quân ăn cướp đánh trọng thương nằm bên lề đường. Hãy mở Phúc Âm đọc chính tỉ dụ mà Chúa Giêsu dậy:

“Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêsricô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.” (Lc 10, 30-35)

Chúa Giêsu để chúng ta kết luận thẩm định giữa ba người Samari, thầy Lêvi và thầy Tư tế.

Thực hành điều răn thứ hai là yêu người như chính mình ta vậy, người Công giáo không thể lạnh lùng làm ngơ sống ích kỷ như thầy Lêvi và thầy Tư tế trước cảnh Dân TộcViệt bị kẻ cướp CSVN áp đặt BẤT CÔNG đánh trọng thương. Người Công Giáo đồng hành với Dân Tộc để chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ theo TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM không phải là hành động Chính trị mà là tích cực thực hiện Tình yêu mà Chúa dậy như người Samari đã can đảm thực hiện lòng thương sót.

Một số Giám mục làm ngơ trước những cướp bóc đánh đập dân chúng của CSVN, giống như thầy Tư tế và thầy Lêvi, đã bị Chúa Giêsu chê trách rồi. Nhưng số Giám mục này còn làm tay sai cho CSVN tiếp tục gây tội ác đối với Dân, giống như thầy Lêvi và thầy Tư tế không những đã không cứu giúp người bị trọng thương nằm bên đường mà còn ngăn cản người Samari không được cứu vớt người trọng thương, thậm chí còn khuyến khích CSVN cứ tiếp tục cướp bóc, đánh đập Dân chúng nữa.

Âm mưu với CSVN loại TGM NGÔ QUANG KIỆT nhằm triệt hạ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM đúng là hành động tòng phạm với TỘI ÁC CSVN đang cướp bóc, đánh đập Dân Tộc Việt Nam. Những Giám mục âm mưu với CSVN hãy nghĩ mình đang tòng phạm với TỘI ÁC bằng cách triệt hạ TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM, một tinh thần cùng đấu tranh chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ với Dân Tộc. Xấu hổ thay khi không cứu giúp người bị trọng thương nằm bên đường, mà còn ngăn cản người Samari muốn thực hiện tình Thương yêu.

Ai làm tay sai CSVN làm hại Vatican ?
CÁI TẨY đời tư để bắt ép Đức Ông phải làm theo chỉ thị.


UserPostedImage


Chúng tôi chống những Giám mục tay sai CSVN đã đánh lừa Vatican, chống những Cố vấn gốc Việt Nam làm việc tại các Thánh Bộ mà theo chỉ thị của CSVN.

Chúng tôi xin nhắc lại rằng khi bảo vệ và phát huy TINH THẦN ĐỒNG CHIÊM, chống lại những loại người như thầy Lêvi, thầy Tư tế, nhất là chống lại những kẻ làm tay sai cho CSVN làm mất thanh danh của Giáo Hội CGVN, tòng phạm với TỘI ÁC CSVN tiếp tục cướp bóc gây BẤT CÔNG nữa cho Dân Tộc, chúng tôi không những không chống lại Vatican, mà ngược lại còn bảo vệ Giáo Hội Hoàn Vũ khỏi tai tiếng đã hợp tác với Thế quyền CSVN Pharisiêu.

Thực vậy, Vatican đã can thiệp hai lần ngăn cản Giáo dân Tổng Giáo phận Hà Nội “sống Phúc Âm giữa lòng Dân tộc “, cùng Dân tộc chống BẤT CÔNG, đòi CÔNG LÝ.

Lần thứ nhất can thiệp là cấm Giáo dân cầu nguyện ở khuôn viên Tòa Khâm sứ cho CÔNG LÝ và HÒA BÌNH. Lần thứ hai can thiệp là làm theo đúng ý định của CSVN loại bỏ TGM NGÔ QUANG KIỆT và thay thế vào đó một Giám mục đã từng tích cực hợp tác với đám ngợm Giáo gian quốc doanh Phan Khắc Từ, Nguyễn Tấn Khóa. Hai lần can thiệp này giống như Vatican bất chấp sự đau khổ của Giáo Hội CGVN và sự đớn đau của Dân Tộc Việt Nam đã bao năm trường sống dưới cướp bóc và đàn áp của Cộng sản.

Chúng tôi không tin rằng Vatican đã tự ý can thiệp để tòng phạm với TỘI ÁC CSVN. Thánh Bộ Ngoại Giáo và Thánh Bộ Truyền Giáo không tự ý làm công việc ác nhân như vậy. Những Hồng y, Tổng Giám mục điều hành các Thánh Bộ là người nước ngoài, không trực tiếp nghiên cứu tường tận tình hình Việt Nam. Các Vị trách nhiệm này phải qua những Vị Giám mục Việt Nam và qua những Cố vấn gốc Việt Nam làm việc trong các Thánh Bộ tại Vatican. Nếu những người này, Giám mục tay sai CSVN hay Cố vấn nằm tại Vatican mà do CSVN cho chỉ thị, thì trách nhiệm việc can thiệp của Vatican là do những Giám mục tay sai và do Cố vân làm theo chỉ thị CSVN.

Dư luận có những bằng chứng nói rằng ĐÔ.Cao Minh Dung, Cố vấn chính về việc chọn hay thuyên chuyển Giám mục tại Việt Nam, đã làm theo chỉ thị của CSVN, (i) một là vì Đức Ông tự mình có liên hệ thân thiết với CSVN, (ii) hai là vì Đức Ông ngầm nuôi hy vọng danh vọng tại VN mà CSVN có quyền chấp nhận hay không, (iii) ba là vì CSVN giữ những bí mật đời tư của Đô.Cao Minh Dung.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN

Hạ Vi  
#43 Posted : Wednesday, April 13, 2011 1:11:30 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,549
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10698 time(s) in 2630 post(s)


UserPostedImage

SƯƠNG ĐÀ LẠT MÙ RƠI


( tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang )

UserPostedImage


một làn gió
loan tin
buồn hiu
làm xốn xang cây cỏ
đêm lặng thầm
đốt ngọn nến chao dao
đà lạt thức khuya
đêm nay khóc

sương ngủ trên đỉnh cây
mơ trên hoa tường vi
cũng bừng mắt khóc

đà lạt của một thời mệt nhọc
một thời chiến tranh đi qua
tuổi trẻ việt nam
những đêm thức trắng
uống giọt sương đầu cành
nối những vòng tay thao thức
trong âm vang lời hát của anh
tiếng đàn gõ bập bùng bên đống lửa kiêu căng
dội vào tim
làn sóng tràn trề

một quê hương ngạo nghễ

hôm qua hàng thông cúi đầu
nghe dội trong tiềm thức
bài hát hào hùng
khua vang xiềng xích

cúi chào anh lần cuối
xin hãy về bên kia sông
có ánh mặt trời.


31.03.2011
âu thị phục an





UserPostedImage
thunder  
#44 Posted : Friday, April 15, 2011 9:57:19 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

"Chợ máu" ngày đầu năm



Phapluattp
08/02/2011

Những ngày tết vẫn có những người nghèo khổ tìm đến đây với hy vọng bán được thứ duy nhất bán được để tồn tại.

Những ngày tết, tại BV Truyền máu và huyết học (quận 5) lại tấp nập kẻ đứng người ngồi. Gọi là “chợ” vì có kẻ bán, người mua. Nhưng nơi đây chỉ duy nhất một “người mua” là bệnh viện.

UserPostedImage
Hàng trăm người nuôi hy vọng bán được máu để có vài trăm ngàn đồng. Ảnh: NGUYỄN DÂN


....
NGUYỄN DÂN


<< đó là cha mẹ

còn đây là con cái >>



Còn VN ta anh hùng, trẻ em ta bươi rác mỗi ngày, coi như pha.



UserPostedImage


UserPostedImage


Tại sao, tại sao hả anh Triết? Anh biết câu trả lời hông?
Tui biết. Vì Nhật Bổn chỉ động đất còn Việt Cộng động… trời.


<< bức tranh xã hội Việt Nam thời cs nơi đại đa số dân lành

>>
<<

>> cũng là bức tranh xã hội Việt Nam thời cs nơi thiểu số đám dòi bọ, quái vật hút máu dân đen



Những bữa ăn nghìn đô thời ‘bão giá’


Trong mùa 'bão giá', 'mức độ' ăn chơi của người giàu không hề giảm. Cận cảnh những bữa tiệc 'vàng' giá hàng nghìn USD, tôi đã sốc vì độ xa hoa vượt xa trí tưởng tượng.

Bảng giá trên thực đơn ghi, một bát soup khai vị tổ yến gạch cua có giá 46 USD, soup tổ yến thịt gà 65 USD, soup bào ngư Nam Phi sốt dầu hào 96 USD. Bát soup bào ngư Nam Phi sốt dầu hào ấy nếu quy ra tiền Việt thì khoảng 2,1 triệu đồng...

Bữa ăn nghìn đô dát vàng 24k


Lối đi lên phòng vàng nổi tiếng sang trọng, huyền bí của nhà hàng Long Đình (Hà Nội) được trải thảm. Bước vào phòng, tôi choáng ngợp bởi màu vàng đầy vẻ vua chúa ánh lên từ bức rèm pha lê lộng lẫy, tranh thủy mặc tô điểm thêm không khí hoàng cung, ánh sáng từ bộ đèn chùm giữa phòng tỏa ra dịu nhẹ.


UserPostedImage
Muốn ngồi phòng vàng ở nhà hàng Long Đình phải thanh toán hoá đơn ít nhất 1.000 USD.


Màu trắng sang trọng của chiếc bàn ăn càng làm nổi bật những cốc chén, thìa dĩa mạ vàng 24K tinh xảo. Muốn được ngồi ăn với cảm giác đế vương ở phòng vàng thì hóa đơn thanh toán phải trên 1.000 USD (chưa bao gồm thuế VAT). Hóa đơn thanh toán 50 - 100 triệu đồng cho một bàn dăm thực khách VIP với “một bữa no” ở Long Đình trở thành chuyện thường ngày.
Bảng giá trên thực đơn ghi, một bát súp khai vị tổ yến gạch cua có giá 46 USD, súp tổ yến thịt gà 65 USD, súp Bào ngư Nam Phi sốt dầu hào 96 USD. Bát súp bào ngư Nam Phi sốt dầu hào ấy nếu quy ra tiền Việt thì khoảng 2,1 triệu đồng....

Cô nhân viên phục vụ đưa cho tôi cái thực đơn, nói: “Nhà hàng chúng em có khoảng 300 món, món nào quy ra thóc thì cũng phải cỡ tạ thóc. Một gói hạt điều nho nhỏ cũng 800 nghìn rồi”.

Bất chấp giá cao ngất, Long Đình vẫn đông khách. Muốn có chỗ ở phòng vàng thường phải đặt trước. Nhà hàng này của ông chủ người Hồng Kông, giá niêm yết bằng đôla Mỹ, nhưng thực khách đa số là dân ta. Những đại gia, ông chủ, sếp lớn xem ra không bị “xiêu vẹo” gì trong cơn bão giá, khi vẫn thường xuyên có những bữa ăn với giá hàng nghìn đô.

Trong phòng bếp của Long Đình, bếp trưởng Chang Kam Lun cần mẫn nhặt từng sợi lông tơ ra khỏi tổ chim yến trắng quý giá và đắt đỏ. Các món cao lương mỹ vị như bào ngư vi cá đều qua bàn tay chế bến của Chang.

Bát soup bằng hai tấn thóc và bát phở bạc triệu
Những con tôm hùm to cỡ bắp chân, càng dài, lưng ánh màu xanh biếc đang chen chúc trong bể kính của nhà hàng S.H trên phố Lý Thường Kiệt (Hà Nội) sẽ sớm bị đưa vào nhà bếp để chế biến thành nhiều món ăn được giới thiệu trong thực đơn.

Mỗi ngày, nhà hàng tiêu thụ khoảng nửa tạ tôm hùm nên loại hải sản từ Nha Trang đưa về chưa kịp “ấm chỗ” đã bị giết thịt. Ở nhà hàng S.H, mỗi cân tôm hùm giá 3,2 triệu đồng, nhưng khách đã đến đây thường gọi món này. Có nhiều thực khách thanh toán khoảng vài chục triệu riêng tiền tôm hùm.

Cô T. nhân viên của nhà hàng cười bảo: “Như thế cũng chẳng nhằm nhò gì, bởi nhà hàng em có những món soup khai vị như soup vi cá hồng xíu cua gạch đã 1,5 triệu đồng, soup yến vi cá 1 triệu đồng, soup cá bào ngư Úc 1 triệu đồng”.

UserPostedImage
Một ngày ở nhà hàng S.H tiêu thụ khoảng nửa tạ tôm hùm như thế này.

Chưa hết choáng vì giá bát soup nhỏ xíu, tôi đã lại giật mình vì số tiền phải trả cho một bữa tiệc gồm nhiều món hảo hạng cho 6 người ăn mà cô nhân viên “tư vấn” giúp lên tới 30 triệu đồng không bao gồm đồ uống và thuế VAT. Đồ uống ở đây, chai rượu vang hảo hạng để đưa mồi cũng trên 20 triệu. Có thể mang rượu từ nhà đi, nhưng vui lòng trả 15 USD/chai gọi là phí mở rượu cho rượu nhẹ và 20 USD cho rượu mạnh.

T, cô nhân viên mặc áo dài màu vàng, bảo: “Mỗi ngày, nhà hàng đón khoảng trên trăm thực khách, họ thường đến đây vào ngày thường, thứ bảy và chủ nhật ít hơn. Họ chủ yếu đến đây bàn công việc, thanh toán mỗi bữa ăn vài ba chục triệu đồng mà mặt không biến sắc, em đoán phần lớn là từ tiền chùa mới vung như thế, chứ các gia đình ít đến đây lắm”.

“Bão giá có khiến lượng khách đến nhà hàng giảm đi không?”, T. lắc đầu: “Không hề giảm. Bão giá đâu không biết chứ ở đây chỉ có “bão ăn”, nhà hàng em mỗi ngày thực khách vẫn xơi nửa tạ tôm hùm đều như vắt chanh”.

Khách sạn Vườn Thủ Đô vào những buổi sáng cuối tuần thường khó tìm chỗ đậu xe ôtô vì nhiều người đánh xế hộp tới ăn phở bò. Món phở bò Kobe 850 nghìn đồng/bát rất đắt khách, bất chấp nỗi lo phóng xạ ở Nhật Bản. Cách đây chưa lâu, bát phở bò Kobe loại Gyu này chỉ 750 nghìn đồng, dường như để “hưởng ứng” cơn bão giá, người ta tăng thêm 100 nghìn đồng mỗi bát nhưng không vì thế mà số người ăn giảm xuống.

Phở bò Kobe có gì đặc biệt mà giá khủng như vậy? Anh Phạm Văn Sơn, bếp trưởng khách sạn Vườn Thủ Đô, cho hay: “Bò Kobe được nuôi ở thành phố Kobe, tỉnh Hyogo, Nhật Bản với quy trình hết sức đặc biệt. Bò được xài toàn những thứ hảo hạng như ngô non, lúa mạch, uống bia thay nước, được xoa bóp bằng rượu Sake hằng ngày và nghe nhạc Mozart, Chopin. Phở bò Kobe được chế biến theo công thức riêng, đặc biệt là món nước dùng không thể bắt chước”.
Tôi cũng liều gọi một bát phở bò Kobe. Đĩa thịt đỏ tươi được máy cắt ra mỏng dính, phải tự tay nhúng vào bát phở. Miếng thịt giòn tan trong miệng. Có thể ăn sống vẫn ngon. Nhưng chớ có kiểu suy nghĩ “quy ra thóc” sẽ đắng miệng.

Dĩ nhiên thịt con bò Kobe nuôi theo kiểu cung đình như vậy phải khác với thịt con bò nuôi bằng rác ở tỉnh Thái Nguyên, nhưng theo GS-TS Hoàng Văn Tiệu - Viện trưởng Viện Chăn nuôi, thành phần dinh dưỡng của bò nội hay bò ngoại cũng không cách xa nhau là mấy, chỉ hơn kém nhau về độ khoái khẩu.

Nhiều người Hà Nội cứ đều đặn tuần 3,4 lần đến đây ăn sáng bát phở bò Kobe gần triệu bạc. Riêng tiền ăn sáng mỗi tháng đã trên 10 triệu đồng mà không hề phải bận tâm đến bão giá hay nhập siêu. Dường như thắt lưng buộc bụng là chuyện của người khác.

UserPostedImage
Cô nhân viên nhà hàng bấm máy tính: bữa ăn cho 6 người là 30 triệu đồng.


50 triệu đồng ăn một con rùa

Nhưng những bữa ăn xa hoa ấy của dân Hà thành nếu so với bữa tiệc rùa vàng của những đại gia ở vùng biên Móng Cái (Quảng Ninh) thì còn “giản dị”. Bạn tôi, người vừa được dự bữa tiệc rùa vàng, bây giờ kể lại giọng vẫn hơi run: “Một đại gia chuyên đánh hàng qua cửa khẩu Móng Cái mời tôi và một chiến hữu nữa vào nhà hàng vùng biên. Nhìn vẻ bề ngoài không có gì sang trọng nhưng ở đây có những món cực độc mà ngay ở Hà Nội cũng khó tìm.

Đại gia quát gọi ba con rùa vàng nhỏ bằng cái bát ăn cơm, bảo tôi: “Rùa vàng cực quý hiếm, nó sống trên đại ngàn, hấp thụ linh khí của trời đất nên máu thịt tinh khiết, đại bổ, ăn vào tăng cường sinh lực, đặc biệt ai có bệnh tim nếu uống rượu pha mật rùa, huyết rùa sẽ hết ngay. Chú có biết một con rùa nhỏ thế này bao nhiêu tiền không?”. “Chắc vài triệu”, đại gia cười ha hả, vỗ vai tôi: “50 triệu một con đấy. Thiên hạ gọi rùa vàng là “vàng sống”, không có mà bán cho các đại gia Trung Quốc, Hồng Kông” .

Choáng váng. Bữa tiệc vùng biên chỉ riêng tiền rùa đã lên tới 150 triệu đồng, chưa kể mấy chai Chivas 25 năm ngự trên bàn. Đại gia lại “bồi” thêm: “Thường thôi, mỗi tháng có khi anh chén vài ba con rùa vàng”.

Trong cơn bão giá, nhiều người giàu “bật mí” rằng, có thể duy trì lịch sinh hoạt đế vương như thế này: sáng ăn phở bò Kobe, trưa xơi tôm hùm, tu hài Mexico, ốc vòi Canada, chiều chén rùa vàng và khuya điểm tâm bát bào ngư Nam Phi sốt xì dầu hay soup yến cua gạch...

Theo Tiền Phong


thunder  
#45 Posted : Saturday, April 16, 2011 3:23:02 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

CỜ MÁU CỦA VC BỊ HẠ TẠI HAWAII


Honolulu, Vào hồi 10:30 sáng Thứ sáu, ngày 8 tháng 4 năm 2011. Tại khuôn viên Hawaii Army Museum, trên đường Kalea, Waikiki, Honolulu, cộng đồng Đại Hàn (Kerea) tổ chức kỷ niệm 60 năm sau chiến tranh ( Korea War ) . Trong buổi lễ này Ban Tổ Chức có treo cờ của 40 quốc gia trên thế giới, trong đó có cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng.

Đây là khu vực đông người và nhiều khách du lịch đủ mọi sắc tộc qua lại. Việc treo lá cờ Máu của VC làm cho người Việt tỵ-nạn cộng sản không thể chấp nhận được! Cũng may, ngay lúc đó có một tài xế Taxi người Việt chaỵ ngang qua trông thấy nên ngừng xe, xuống tự gỡ lá cờ Máu mà không cần hỏi những người phụ trách nơi đó.

Thấy thế toán người trong BTC Đại Hàn ào tới và định kêu cảnh sát.. Tuy nhiên, người tài xế Việt này bình tĩnh giải thích cho những người trong BTC biết, cờ đỏ sao vàng là cờ của đảng cộng sản VN. Lá cờ Máu này đã làm cho hơn 3 triệu người Việt liều chết trốn chạy nó. Hiện nay các cộng đồng người Việt tại các tiểu bang Hoa Kỳ và trên thế giới tự do là cộng đồng người Việt quốc gia chống cộng sản, chống lá cờ Máu. Lá cờ biểu tượng cho chính nghĩa tự do của người Việt tỵ nạn là cờ vàng 3 sọc đỏ đã được thành phố Honolulu và Tiểu Bang Hawaii công nhận. Vì thế, nếu BTC không chịu gỡ cờ đỏ sao vàng xuống thì thì chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ được thông báo, sẽ có hàng trăm người Việt kéo tới phản đối. Nghe giải thích, những người trong BTC sau khi hội ý đã đồng ý bỏ cờ Máu ngay và yêu cầu người tài xế taxi nói với cộng đồng người Việt cung cấp cho lá cờ Vàng để thay thế, vì họ không biết mua ở đâu. Người tài xế liền điện thoại ngay cho Khu Hội CTNCT để xin cờ và yêu cầu Khu Hội cử người tới gặp gỡ BTC Đại Hàn.

Nhận được thông báo. chiến hữu Ngô Xuân Tâm, Chủ Tịch Khu Hội và chiến hữu Ngô Đăng Tỉnh đã hẹn mang cờ Quốc Gia tới gặp gỡ lúc 4:30 chiều và nói chuyện với BTC buổi lễ, có sự hiện diện của một số đại diện Hội Đoàn người Việt và đồng hương nghe tin cũng tới quan sát và tham dự. Sau đó, cờ vàng 3 sọc đỏ đã được dựng lên cùng tung bay với 40 lá cờ của các quốc gia trên thế giới tại khu vực làm lễ.

Ban tổ chức buổi lễ của Đại Hàn tỏ ra hiểu biết và đã cám ơn lại những anh em người Việt đã sửa sai cho họ, và choàng cho mỗi người một vòng hoa, chụp hình chung để tỏ tình thân thiện; đồng thời trao lại lá cờ Máu cho Khu Hội CTNCT để hủy bỏ.

Đây là tấm gương sáng về nhiệt tình chống Cộng của một người Việt tỵ nạn. Ông tài xế taxi này đã được chiến hữu Chủ Tịch Khu Hội CTNCT Hawaii và những người có mặt trân trọng ngỏ lời khen ngợi và cảm ơn. Người viết không nêu tên tuổi thể theo yêu cầu của người tái xế. (Xin mở Att. file coi hình đính kèm)

Khu Hội Hawaii tường thuật

thunder  
#46 Posted : Monday, April 18, 2011 8:46:00 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Hai công ty của chính phủ Việt Nam bị kiện tại Hoa Kỳ vì tội buôn người


UserPostedImage
Tòa án liên bang Galveston, Hoa Kỳ.
DR


Một nhóm người lao động ngày thứ Tư vừa qua đã đệ đơn lên toà án liên bang Galveston, tại bang Texas, Hoa Kỳ, để kiện hai công ty, mà một phần là thuộc quyền sở hữu của chính phủ Việt Nam. Đó là Công ty Đầu tư Thương mại Dịch vụ Quốc tế Interserco và Tổng Công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam Vinamotors.

Hai công ty này bị cáo buộc vi phạm luật của Hoa Kỳ về chống buôn người. Cụ thể, theo đơn kiện mà 13 người lao động đứng tên, khoảng 50 người trong nhóm của họ đã nghe quảng cáo trên đài truyền hình Việt Nam, hứa hẹn những việc làm lương cao tại Houston, Texas. Để được tuyển chọn, họ đã phải trả từ 7 ngàn đến 15 ngàn đôla lệ phí. Hợp đồng làm việc trên nguyên tắc là 30 tháng, với mức lương tổng cộng được hứa hẹn là 100 ngàn đôla, nhưng chỉ sau 8 tháng, họ đã bị sa thải và được lệnh phải trở về Việt Nam, mà không được trả lại những khoản tiền đã đóng.

Cũng theo đơn kiện, những người lao động nói trên phải làm việc như nô lệ vả phải sống chật chội trong những điều kiện rất tồi tệ như là súc vật. Họ lại còn bị dọa sẽ bị đánh đập hoặc bắt giữ nếu nói chuyện với người bên ngoài.

Những người đứng đơn kiện yêu cầu tòa phạt hai công ty Việt Nam bồi thường trên 200 triệu đôla cho họ. Đứng ra bảo vệ quyền lợi cho nhóm người lao động này là hai luật sư Tony Buzbee và Tammy Tran. Theo lời luật sư Buzbee, những người lao động nói trên « Lo sợ cho cuộc sống của họ và cuộc sống của gia đình họ ở Việt Nam. Vì họ không kiếm được tiền như đã hứa, họ còn có nguy cơ bị mất nhà cửa và các tài sản khác ở Việt Nam. » Luật sư Buzbee cũng tố cáo là hai công ty Việt Nam đã thay thế nhóm người lao động nói trên bằng một nhóm khác, cũng được tuyển dụng sau khi trả những món lệ phí tương tự, hình thành một được dây buôn người quốc tế.

Trong khi chờ kết quả vụ kiện, nhóm người lao động này đang làm thủ tục di trú để được ở lại Hoa Kỳ, với sự trợ giúp của các sinh viên Đại học Luật khoa Texas và một luật sư chuyên giúp các nạn nhân đường dây buôn người.

Hai công ty cung cấp nhân dụng của Mỹ có liên quan đến đường dây buôn người này gần đây đã bị một toà án tại Houston ra phán quyết buộc phải bồi thường 60 triệu đôla cho nhóm người lao động mà hiện đang kiện hai công ty Việt Nam.

Trong báo cáo năm 2010 về nạn buôn người trên thế giới, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chỉ trích chính phủ Việt Nam là: « Không có tiến bộ trong việc truy tố hình sự và trừng phạt những kẻ buôn bán người vì mục đích lao động và bảo vệ các nạn nhân của tất cả các hình thức buôn người khác, đặc biệt là nạn nhân của nạn buôn người vì mục đích lao động và buôn người trong nước. Do đó, Việt Nam bị xếp vào danh sách Loại 2 cần theo dõi. »

Thanh Phương - rfi
Hạ Vi  
#47 Posted : Monday, April 18, 2011 2:21:43 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,549
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10698 time(s) in 2630 post(s)


UserPostedImage


TÂM Ý THÁNG TƯ


Trời mưa, thứ bảy trời mưa lớn
Gió chuyển quằn cây, sấm sét đầy
Nhìn lịch, tháng tư ngày cuối tháng
Lòng ta bỗng choáng váng như say

Mười năm, mười năm, lại mười năm
Quê hương ngàn dặm vẫn xa xăm
Tung trời thách thức cờ sao máu
Đất Việt, trời Nam bụi cát lầm..!

Ta đứng trên bờ đất tự do
Biển xa còn rõ dáng con đò
Con Hồng cháu Lạc ôi thương quá
Biết đến bao giờ mới ấm no

Tháng tư buông súng tuổi còn xuân
Nước mắt hoen mi ướt thấm dần
Cả một đọan đường đầy gian nhục
Hận thù hứng chịu nặng quằn thân !

Rồi cả đời không thể nào quên
Tháng tư đi- đến cũng đều đen
Ngày cờ tơi tả đau lòng nhớ
Nhớ để buồn cho thân phận hèn

Khói nghĩa trung đài- lời minh thệ
Nát đời vẫn nhớ rõ trong tâm
Thân trai trung hiếu đâu điều dễ
Đường bước chông gai vẫn cứ lầm...

Bụi chiến trường bay trong giấc mơ
Tay cung tay kiếm dưới quân cờ
Nửa đêm thức giấc lòng đau xót
Thân phận ăn nhờ rối ý tơ

Tháng tư vẫn đến theo ngày tháng
Tóc trắng dần chung bước ly hương
Tuổi dẫu sương pha đời dày dạn
Nát lòng vẫn tủi vẫn thê lương !

Tháng tư máu lệ hờn vương vấn
Biết đến bao giờ vui tháng tư !?



THY LAN THẢO




UserPostedImage
thunder  
#48 Posted : Wednesday, April 20, 2011 12:23:13 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Các ngân hàng tại VN sẽ gom hết ngoại tệ


Monday, April 18, 2011

HÀ NỘI (SGTT).- Dư luận trong nước đang xôn xao trước tin có thể ngay từ đầu tháng 5 tới, tất cả các công ty quốc doanh hoặc thành viên có 50% vốn nhà nước đều phải bán ngoại tệ cho ngân hàng.

Tin này xuất phát từ việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị Ngân Hàng Nhà Nước nội trong tháng 4 phải ra quyết định mới buộc các công ty phải cân đối thu chi ngoại tệ và bán tất cả số ngoại tệ còn dư cho ngân hàng.

UserPostedImage
Ngoại tệ ngày càng bị xiết tại Việt Nam. (Hình:AFP/Getty Images)

Báo Sài Gòn Tiếp Thị còn xác định “không chỉ có 7 tổ hợp lớn nhất nước hiện nay thuộc sở hữu nhà nước gồm Dầu khí Việt Nam; Than, khoáng sản Việt Nam; Công nghiệp hoá chất Việt Nam; tổng công ty Cảng hàng không miền Nam; tổng công ty Lương thực miền Nam; tổng công ty Lương thực miền Bắc; tổng công ty Lắp máy Việt Nam phải tuân thủ quy định mới.”

Ngược lại, tất cả các tổ hợp kinh tế, các tổng công ty quốc doanh khác bao gồm cả doanh nghiệp thành viên có trên 50% vốn nhà nước đều phải bán ngoại tệ cho ngân hàng.

Theo qui định mới mà người ta tiên đoán sẽ được ban hành vào đầu tháng 5 năm 2011, các công ty phải “tự cân đối thu chi ngoại tệ hợp lý và bán phần ngoại tệ còn dư cho ngân hàng.”

Điều này có nghĩa là tất cả các công ty lớn nhỏ trong nước sẽ không còn được cất giữ ngoại tệ cho riêng mình. Ngân hàng hứa hẹn sẽ bán ngoại tệ cho các công ty một cách dễ dàng khi cần, nhưng chưa ai dám bảo đảm lời hứa này sẽ được thực hiện.

Lâu nay, các công ty “găm” giữ ngoại tệ lại để sử dụng khi cần thanh toán hàng hóa nhập cảng vì thực tế hàng chục năm nay cho thấy lúc cần mua thì không ai bán.

Trước đó mấy ngày, ông Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Ngân Hàng Nhà Nước ban hành qui định mới thắt chặt ngoại tệ chuyển ngân qua đường du lịch. Theo qui định này, mỗi người Việt Nam xuất ngoại chỉ được phép mang theo 5,000 Mỹ kim thay vì 7,000 Mỹ kim mà không cần khai báo hải quan như luật hiện hành.

xuan hoang  
#49 Posted : Wednesday, April 20, 2011 9:06:20 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Tiếng Vọng


UserPostedImage



Đêm nằm nghe sóng vỗ
Lắc lư bên mạn thuyền
Ta nhớ trăng cố thổ
Của những ngày bình yên


Một quê hương như thế
Văn hiến bốn ngàn năm
Sao bây giờ đặt để
Vào tay người xâm lăng


Mơ ước ta - Phù Đổng
Thân thế ta - lạc loài
Trái tim ta - khát vọng
Hồn ta - nát tơi bời


Đêm nằm nghe tiếng gọi
Vọng vang trên đỉnh trời
Giọt nước mắt nóng hổi
Lăn tròn và ... chực rơi


Quê hương ta vẫn đó
Hay đã ... mất lâu rồi
Mai này bao em nhỏ
Còn biết không, giống nòi!


TV-08292009



UserPostedImage



UserPostedImage
phamlang  
#50 Posted : Wednesday, April 20, 2011 9:24:51 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,536

Thanks: 1730 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Sẽ Có Một Ngày
Tác giả: Phan Văn Hưng


Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng vất cùm, vất cờ vất đảng
Đội lại khăn tang quay ngang vòng nạng oan khiên

Sẽ có một ngày con người hôm nay
Về với miếu đường mồ mả gia tiên
Hàng chục năm qua bức bách nhạt nhòa cho quên

Và hận thù xưa như làn hương thu tan về cao rộng
Tất cả lùa qua một cơn ác mộng
Kẻ lọc lừa kia bạo lực xô chân sống sót về đây
Nghe tiếng bình tâm an nhờ phúc phận
Trong buổi đoàn viên xum họp hàn huyên huynh đệ tương thân
Đứng bên nhau trên mất mát quây quần
Kẻ bùi ngùi rưng rưng đặt vòng hoa ngộ lên mộ cha ông
Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng

Sẽ có một ngày khắp nẻo quê hương
Tiếng sáo mục đồng êm ả ngân nga
Và bài hùng ca là tiếng sáo diều bao la

Sẽ có một ngày
Sẽ có một ngày
Sẽ có một ngày
Sẽ có một ngày:

VẤT CỜ VẤT ĐẢNG !
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
chiều tím  
#51 Posted : Wednesday, April 20, 2011 10:20:22 AM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Lời Thầm Gửi Gió

Ba mươi sáu năm xa quê
Ngày đi, ai hẹn ngày về! hỏi ai?
Đêm nhìn trời, cánh Sao Mai
Mắt đêm thăm thẳm u hoài... phương thơ

Từ chia ly ấy đến giờ
Biển trời luân lạc ngẩn ngơ đường chiều
Thuyền ai đỗ bến cô liêu
Có nghe hiu hắt... ơi chiều lưu vong!

Mênh mông chiều gió mênh mông...
Tháng Tư quốc nạn! ai không đau buồn!
Thơ nào viết hết đoạn trường
Tình nào gửi gió bốn phương quan hoài ...

Nỗi lòng khứ quốc chơi vơi
Tháng Tư! biệt xứ ngậm ngùi... Tháng Tư!
Từ phong ba! lửa đỏ mù!
Quê Cha, Đất Mẹ, đã nhừ tang thương...

Nhớ ba mươi sáu phố phường
Ơi, ba con giáp sống nương đất người!
Tiếng hờn! vời vợi... trùng khơi....
Vết đau! thầm lặng.... trắng trời tuyết bay



Chưa Thu lòng đã heo may
Lời thầm gửi gió.... vơi đầy Tháng Tư!

Oregon Tháng Tư 2011
Tuệ Nga





Con Duong Toi Ve -Le Tin Huong- Anh Dung


thunder  
#52 Posted : Thursday, April 21, 2011 1:11:20 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

ỦY BAN CHỐNG CỜ VIỆT CỘNG
4110 14th Ave SE, Lacey, WA 98503

THÔNG CÁO BÁO CHÍ
(Press Release)


Ủy-ban Chống Cờ Việt Cộng (UBCCVC) trân trọng thông báo cùng toàn thể cộng-đồng NVQG chống Cộng và các cơ quan truyền-thông TIN QUAN TRỌNG sau đây:

Tiép theo phiên xử ngày 14 tháng 01 năm 2011, ngày 19 tháng 4 năm 2011, Tòa Phúc Thẩm Tiểu-bang Washington (Địa hạt II) đã công bố kết quả là ĐẢO NGƯỢC PHÁN QUYẾT của Tòa Thượng thẩm Quận Thurston, và TRUYỀN CHO TÒA NẦY PHẢI BẢI BỎ HOÀN TOÀN VỤ KIỆN do Ông Tân Thục Đức và Cộng-đồng Người Việt Q. Thurston (CĐNVQT) khởi tố UBCCVC năm 2004 vì bị UBCCVC tố cáo là cộng-sản hay ủng hộ CS.

Quyết định nầy đã được CẢ BA VỊ THẨM PHÁN PHÚC THẢM ĐỒNG THANH CHẤP THUẬN. Và như vậy thì, theo luật lệ hiện hành, BÊN THUA KIỆN (Tân Thục Đức và Cộng-đồng Người Việt Quận Thurston) KHÔNG ĐƯỢC PHÉP KIỆN TIẾP LÊN TỐI CAO PHÁP-VIỆN.

Một nguyên bản tiếng Anh và bản dịch ra tiếng Việt của Bản Tóm-Lược Quyết định nói trên (Synopsis of the Published Opinion) được đính theo Bản Thông cáo nầy để Quý Vị tiện tham khảo. Toàn văn của Quyết-định bằng tiếng Anh được đăng trên Trang Mạng của Toà :

http://www.courts.wa.gov...n&filename=394472MAJ

UBCCVC sẽ phổ biến đầy đủ chi tiết về VỤ KIỆN LỊCH SỬ nầy cũng như tầm quan trọng của QUYẾT-ĐỊNH hôm nay của Tòa Phúc-thẩm trong buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận do CĐNVQG/TBWA tại Thư viện Beacon Hill, Seattle lúc 1:30 pm ngày Thứ Bảy 23-4-2011. Kính mời tất cả các cơ quan truyền thông và chiến sĩ Quốc-gia chống cộng đến tham dự thật đông đảo để có được những tin tức chính xác.

QUYÊT-ĐỊNH MANG TÍNH CÁCH LỊCH-SỬ TRÊN ĐÂY ĐÃ TƯỚC ĐI ĐƯỢC VŨ KHÍ HIỂM ĐỘC NHỨT CỦA CỘNG ĐẢNG VN TẠI HẢI NGOẠI LÀ: DÙNG TÒA ÁN MỸ ĐỂ KHÓA MIỆNG TẤT CẢ CÁC LỰC LUỢNG NVQG ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG ĐỂ BỌN VIỆT GIAN TAY SAI CỦA CHÚNG THA HỒ THI HÀNH NGHI-QUYẾT 36 VÀ NHUÔM ĐỎ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI.


UBCCVC dự trù sẽ tổ chức môt Buổi Họp mặt Liên Hoan trong những ngày sắp đến để cảm tạ tất cả những đoàn thể và chiến-sĩ NVQG chống cộng đã từng sát cánh với UBCCVC trong cuộc đấu tranh để giành được thắng lợi vẻ vang hôm nay cho tất cả mọi người Việt Quốc-gia chống cộng ở hải ngoại.

Làm tại Lacey, WA ngày 19 tháng 4 năm 2011


ỦY BAN CHỐNG CỜ VIỆT CỘNG
:

Vũ Anh Tuấn, Đồng Chủ-tịch Ts Lê Thiện Ngọ, Đồng Chủ-tịch
Hồ Tấn Đạt, Tổng Thư ký Nguyễn Xuân Phiệt, Ủy-viên
Trần Thanh Nhàn, Thủ-quỷ Phạm Thị Nga, Ủy-viên.

PHỤ ĐÍNH

BẢN DỊCH TÓM-LƯỢC QUYẾT-ĐỊNH CỦA TÒA PHÚC-THẨM TB. WA




TẠI TÒA PHÚC-THẨM TB. WASHINGTON

ĐỊA HẠT II


DUC TAN, một người đàn ông đơn độc và
CỘNG-ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Q. THURSTON
Một công-ty tại TB. Washington
Các Bị kháng (Respondents)

NORMAN LE và PHU LE, chồng và vợ
TUAN A VU and HUYNH T VU
chồng và vợ PHIET X NGUYEN và
VINH T NGUYEN chồng và vợ DAT
THO và JANE DOE HO chồng và vợ
NGA T PHAM và TRI V DUONG
vợ và chồng NHAN T TRAN và
MAN M VO vợ và chồng.
Các Nguyên kháng (Appellants)


(Chánh Án) ARMSTRONG, J--Năm 2004 các thành viên của Ủy ban Chống Cờ Việt Cộng đã phổ biến một điện thư và nhiều bài viết trên các Bản-Tin trong Cộng đồng người Việt Olympia, tố cáo Ông Tân Thục Đức và Cộng đồng Người Việt Quận Thurston (VCTC), một tổ chức bất vụ lơi, là cộng sản hay hỗ trợ cộng sản. Ông Tân Thục Đức và Cộng đồng người Việt QuậnThurston đã kiện các thành viên Ủy ban vì tội phỉ báng. Một bồi thẩm đoàn đã buộc các bị đơn về tội phỉ báng và phải bồi thường cho ÔngTân Thục Đức và Cộng đồng Người Việt Quận Thurston US$310,000 thiệt hại

Khi kháng cáo các bị đơn nêu ra các lập-luận chính yếu là:

(1) Các lời tuyên bố trong Bản Công-bố (Public letter) là quan điểm (opinions), do đó không thể bị truy tố.

(2) Ngay cả khi một số tuyên bố dẩn chứng sự kiện bị sai lạc, các nguyên đơn dã không chứng minh được rằng các bị đơn đã phổ biến các lời tuyên bố phỉ báng với ác ý thực sự.

Chúng tôi đồng ý rằng các lời tuyên bố trong các điện-thư và bản tin không thể bị truy tố và rằng Ông Tân Thục Đức và Cộng đồng Người Việt Quận Thurston đã không chứng minh được là các bị cáo đã phổ biến các lời tuyên bố phỉ báng với ác ý thực sự. Bởi các lẽ trên, chúng tôi đảo ngược phán quyết của Tòa dưới và truyền cho Tòa nầy phải bải bỏ vụ kiện.

No 394472II
We reverse and remand for dismissal
Ký tên: Thẩm-phán Armstrong J

Chúng tôi cùng đồng ý
Ký tên: Thẩm-phán Quinn-Brintnall, J
Ký tên: Thẩm-phán Penoyar, CJ
NGUYÊN BẢN TIẾNG ANH

IN THE COURT OF APPEALS OF THE STATE OF WASHINGTON
DIVISION II

DUC TAN a single man and VIETNAMESE
COMMUNITY OF THURSTON COUNTY
A Washington corporation
Respondents


NORMAN LE and PHU LE husband and
wife TUAN A VU and HUYNH T VU
husband and wife PHIET X NGUYEN and
VINH T NGUYEN husband and wife DAT
T HO and JANE DOE HO husband and
wife NGA T PHAM and TRI V DUONG
wife and husband and NHAN T TRAN and
MAN M VO wife and husband
Appellants

Case No 394472II

PUBLISHED OPINION

ARMSTRONG, J -- In 2004 members of the Committee Against the Viet Cong Flag
disseminated an e mail message and several newsletter articles throughout the Olympia
Vietnamese community accusing Duc Tan and the Vietnamese Community of Thurston County (VCTC) a nonprofit corporation of being communists or communist supporters Tan and the VCTC sued the committee members for defamation A jury found the defendants liable for defamation and awarded Tan and the VCTC $310,000 in damages On appeal the defendants argue in part that

(1) the statements in the letter are opinions and therefore not actionable and

(2) even if some of the supporting factual statements are false the plaintiffs failed to prove that the defendants published the defamatory statements with actual malice.

We agree that the statements in the email and newsletters are not actionable and that Tan and the VCTC failed to show that the defendants published the statements with actual malice Accordingly we reverse and remand for dismissal.

No 394472II
We reverse and remand for dismissal
Signed Armstrong, J

We concur
Signed
Judge Quinn-Brintnall, J
Judge Penoyar, CJ

xuan hoang  
#53 Posted : Friday, April 22, 2011 12:19:24 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
SÀI GÒN

Biết bao giờ trở lại


Ngô Thụy Miên



UserPostedImage



Tôi đã đi, tôi vẫn đi mãi biết bao giờ trở lại
Sàigòn ơi, sao em còn mãi trong tim tôi
Ôi những con đường ngày nào còn nghe lá rơi
Nụ cười còn tươi nét môi
Hay áo mầu phai úa rồi

Tôi đã đi, tôi vẫn đi mãi biết bao giờ trở lại
Hỏi lòng nhau cơn mưa nào xóa đi thương đau
Bao tháng năm dài miệt mài đời như khói sương
Nghìn trùng giòng sông vấn vương
Để nhớ thương lệ mắt buồn

Tôi vẫn mơ thành phố cũ lối xưa đi về
Dù hồn nghe tái tê, tìm đâu thấy những cơn mộng mê
Một ngày nào đó như cánh chim bạt gió
Có nghe mùa thu qua xót xa tình phôi pha

Tôi vẫn tin, tôi vẫn tin mãi sẽ có ngày trở lại
Để cùng em rong chơi tìm những cánh sao rơi
Cho tiếng hát buồn ngày nào nhịp vang phố vui
Nụ cười về trên nét môi
Hạnh phúc tôi, một góc trời


Edited by user Friday, April 22, 2011 12:22:00 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#54 Posted : Friday, April 22, 2011 2:35:24 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)


Kissinger nói về Cuộc chiến Việt Nam


UserPostedImage


Kissinger người Mỹ gốc Đức và Đức gốc Do thái, sinh tại Barvaria, Đức ngày 27-5-1923, năm 1938 sang Mỹ tỵ nạn khi Đức Quốc Xã khủng bố và bài Do Thái dữ dội. Cậu và và gia đình sinh sống tại New York, xong trung học tại đây, Kissinger lên đại học City College of the New York , học kế toán. Năm 1943 bị động viên vào quân đội, phục vụ tại Sư đoàn bộ binh 84, sau được người bạn gốc Đức đưa sang ngành tình báo Sư đoàn, lên trung sĩ. Chiến tranh kết thúc, năm 1946 Kissinger được giao nhiệm vụ truy lùng các đảng viên Quốc xã còn lẩn trốn. Năm 1950 đậu BA tại Harvard College, năm 1952 đậu MA (Cao học) và năm 1954 đậu Ph.D (Tiến sĩ) tại Harvard university. Ông ở lai làm phụ giáo tại Đại học Havard, năm 1975 viết một cuốn sách nói về vũ khí nguyên tử. Năm 1962 ông trở thành giáo sư thực thụ Harvard.

Từ năm 1956 tới 1968 nhà tỷ phú Nelson Rockefeller mướn Kissinger soạn thảo các dự án cho ông. Qua lời mời của Cabot Lodge, Kissinger sang thăm Việt nam năm 1965, 1966. Ngày 19-8-1966 ông viết bài nhận định đầu tiên về Việt Nam trên tạp chí Look, ông cho biết cuộc chiến Việt Nam khó kết thúc bằng chiến thắng quân sự mà cần thương thuyết tìm hòa bình. Năm 1968 Kissinger trở thành chính trị gia nổi tiếng, khi Nixon đang tranh cử Tổng thống với Humphrey, Kissinger được mời làm cố vấn trong ban cố vấn của Nixon về bang giao quốc tế. Một tháng sau khi Nixon đắc cử Tổng thống, Kissinger được mời làm cố vấn an ninh quốc gia, từ một người lính trơn năm 1943 ông đã trở thành cố vấn Tổng thống và sau đó bộ trưởng ngọai giao. Ông là người nổi bật trong chính sách ngoại giao Mỹ từ 1969-1977, trong thời gian này, Kissinger mở màn cho chính sách hòa hoãn (détente) với Nga sô, mở đầu bang giao với Trung Cộng và giữ vai trò chính trong tại cuộc hòa đàm Ba lê.

Với tư cách cố vấn Tổng thống, ông mở màn cho chính sách hòa hoãn với CS Nga, đàm phán về tài giảm binh bị và hiệp ước chống đầu đạn nguyên tử với Brezhnev, Tổng bí Thư Nga Sô. Kissinger sang Trung Cộng hai lần tháng 7 và tháng 10-1971 để sửa soạn cho cuộc hội họp thượng đỉnh giữa Nixon, Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông năm 1972, để hai siêu cường thiết lập bang giao, chấm dứt 23 năm thù nghịch. Kết quả của bang giao là một liên minh chiến lược ngầm chống Nga của Mỹ và Trung Cộng, nhưng hai bên chỉ thực sự có liên hệ ngọai giao từ 1979 vì vụ Watergate làm chính phủ Mỹ bối rối và vì Mỹ vẫn công nhận Đài Loan.

Nixon đắc cử Tổng thống cuối 1968 vì lời hứa đi tìm hòa bình trong danh dự và chấm dứt cuộc chiến Việt Nam. Ông đưa ra chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để người Mỹ rút dần, VNCH tự vệ chống CSBV và VC. Kisinger đóng vai trò then chốt trong kế hoạch oanh tạc tại Miên để ngăn chận những cuộc tấn công của CS vào VNCH từ Miên và ngăn chận địch dùng đường mòn Hồ Chí Minh để tiếp viện, cuộc hành quân vượt biên giới Miên năm 1970 và những cuộc oanh tạc mở rộng xứ chùa tháp giúp Lonol vì biết Khmer đỏ đang thắng thế.

Hòa đàm Paris bắt đầu từ 10-5-1968 do Harriman đại diện Mỹ và Xuân Thủy đại diện Hà Nội khai mạc. Từ tháng 5 cho tới tháng 10 cuộc hòa đàm dậm chân tại chỗ vì Hà Nội đòi Mỹ phải ngưng oanh tạc toàn diện miền Bắc VN, ngày 31-10-1968 TT Johnson chấp nhận yêu cầu của BV, khi ấy cuộc đàm phán mới thực sự bắt đầu. Năm 1969 Nixon đắc cử nhậm chức Tổng thống, Cabot Lodge thay thế Harriman. Việc thương thuyết thực ra không đạt được trên bàn hội nghị nhưng do đi đêm (secret negotiations) giữa Kissinger và trùm Cộng Sản BV Lê Đức Thọ bắt đầu từ 4-8-1969. Suốt ba năm liên tiếp, Thọ yêu cầu Mỹ loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu, Kissinger và Nixon không chấp nhận.

Một tiến triển, khai thông lớn vào ngày 8-10-1972, chiến dịch Nguyễn Huệ hành quân sang Miên khiến CSBV mất tinh thần, họ càng lo sợ bị cô lập khi Nixon đã hòa hoãn được với Nga và Trung Cộng, hai siêu cường đã yểm trợ cho Hà Nội. Trong một cuộc thương thuyết với Kissinger, Lê Đức Thọ không đòi hỏi phải lật đổ Nguyễn Văn Thiệu và hai chính phủ VNCH và chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sẽ đi đến thỏa thuận. Trong vòng mười ngày mật đàm đi tới bản dự thảo Hiệp định, Kissinger vui mừng họp báo cho biết hòa bình đã ở trong tầm tay.

Chính phủ Sài Gòn không hay biết gì về mật đàm giữa Mỹ và CSBV, khi được tiến sĩ Kissinger cho thấy bản dự thảo, TT Thiệu vô cùng bất mãn với Hoa Kỳ, đòi thay đổi nhiều khoản và tuyên bố trên đài phát thanh, truyền hình chỉ trích bản dự thảo còn tệ hơn trước. Phía Hà nội cũng bất mãn cho rằng Kissinger đã đánh lừa họ. Số tử vong của Mỹ lên cao khiến phong trào phản chiến càng mạnh hơn, đầu năm 1973 Nixon bị Quốc hội, cử tri áp lực phải rút quân về nước và ông cũng ép buộc VNCH phải ký hiệp định dù không được sửa chữa, đúng là “dùi đánh đục, đục đánh gỗ”. Nixon cam kết với chính phủ Sài gòn sẽ tiếp tục yểm trợ miền Nam khi BV vi phạm Hiệp định. Giáng sinh 1972, Nixon cho oanh tạc BV dữ dội để họ phải trở lại bàn hội nghị và cũng để trấn an TT Thiệu yên tâm, cuối cùng Thiệu phải ký. Ngày 23-1-1973 Kissinger và Lê Đức Thọ thỏa thuận bản dự thảo đã được đã được soạn từ ba tháng trước. Hiệp định được chính thức ký kết ngày 27-1-1973 tại khách sạn Majestic, Paris. Đại diện hai bên gồm Cabot Lodge, Trần Văn Lắm, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Thị Bình .

Ngày 9-8-1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, 9 tháng sau VNCH sụp đổ vào ngày 30-4-1975, ông Thiệu từ chức, lên án Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh.

* * *

Gần đây cựu ngọai trưởng Kissinger nói chuyện trong một cuộc hội thảo tại Bộ ngoại giao Mỹ về lịch sử sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Bộ ngọai giao cũng đã cho ấn hành nhiều bài tường trình dựa trên hồ sơ giải mật về những quyết định của Hoa Kỳ tại VN trong mấy năm cuối cùng của cuộc chiến .

Kissinger cho rằng phần lớn thất bại ở Việt Nam do chúng ta (người Mỹ) gây ra cho chính mình, trước hết ta đã đánh giá quá thấp sự kiên trì lỳ lợm của các nhà lãnh đạo CS Hà Nội. Ông đánh giá cuôc chiến một cách bi quan, nó kết thúc bằng cảnh Sài Gòn thất thủ ô nhục, ông ta than vãn cho những nỗi niềm đau khổ của lớp thế hệ Mỹ trong khi cuộc chiến kéo dài. Kissinger nói trọng tâm chính sách Hoa Kỳ hồi ấy là để bảo vệ sự sống còn của miền Nam VN đã thất bại, Người Mỹ đã không khuất phục được kẻ thù, Hoa Kỳ muốn đàm phán nhưng Hà Nội chỉ muốn chiến thắng.

Những bất đồng quan điểm về sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam đã ảnh hưởng đến tinh thần của chính sách ngọai giao và rồi ảnh hưởng đến cả nước Mỹ. Ông nói đối với tôi, bi kịch của cuộc chiến tranh VN không phải chỉ có bất đồng ý kiến, điều đó không thể tránh được nhưng người Mỹ đã hết còn tin tưởng nhau trong cuộc chiến. Tôi cho là tất cả sự thất bại ở VN do chính chúng ta tạo nên. Tôi mong có một chung cục khác hơn là cảnh chúng ta xâu xé nhau tan nát.

Cựu ngọai trưởng khen Cộng Sản Hà Nội đã quyết tâm theo đuổi mục tiêu thống nhất hai miền Nam Bắc, họ đã đánh bại thực dân Pháp năm 1954, các sử gia cũng kết luận như thế. Ông trích lời nhà quân sử John Prados, tác giả cuốn “Việt Nam, Lịch Sử Cuộc Chiến Tranh Không Thể Thắng Được 1945-1975” và nói miền Bắc đã có mục tiêu rõ ràng – thống nhất đất nước- và niềm tin tuyệt đối vào chủ trương ấy.

Kissinger khen Lê Đức Thọ, người đi đêm với ông trong những năm hòa đàm là người khôn khéo thi hành đường lối của Hà Nội để thắng Mỹ, ông nói Thọ đã mổ xẻ chúng ta y như một nhà giải phẫu với đường dao thật khéo. Ngày 10-12-1973 Kissinger và Lê Đức Thọ được giải Nobel hòa bình cho việc ký Hiệp định Paris 12 tháng trước đó, Kissinger nhận giải, ông nói tôi muối mặt nhận giải (he accepted the award “with humility”), Thọ từ chối, ông nói với Kissinger chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Hiệp định Paris là lối thoát cho Hoa Kỳ rút chân ra khỏi Việt Nam khiến miền Nam VN bị nguy cơ CS xâm lăng.

Kissinger nói chúng ta biết đó là một hiệp định nguy hiểm, bấp bênh và cuộc chiến không thực sự chấm dứt nhưng Hoa Thịnh Đốn tin tưởng miền Nam VN có thể đẩy lui cuộc xâm lăng của CS.

Cựu bộ trưởng cho biết đàm phán với Thọ thật là vất vả, nếu không phải nói chuyện với hắn thì đỡ khổ.

* * *

Người Mỹ vẫn thường tổ chức những buổi hội thảo nhìn lại quá khứ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã để lại cho họ nhiều ám ảnh chua cay, chưa bao giờ đất nước bị phân hóa chia rẽ đến thế, nhất là những năm đầu thập niên 70, họ đã cắn xé nhau tan nát vì bất đồng chính kiến bất đồng quan điểm. Không riêng gì Kissinger, nay nhiều người Mỹ đã thẳng thắn nhìn nhận Hoa Kỳ thất bại, thua cuộc, tháo chạy nhục nhã vào những ngày cuối tháng 4-1975. Hình ảnh ông Đại sứ và những người Mỹ cuối cùng vội vã lên trực thăng trên nóc tòa cao ốc làm hoen ố danh dự, thể diện của một siêu cường, nhưng Quốc hội phản chiến và những người chống chính phủ đã chấp nhận sự nhục nhã vì quyền lợi của nước Mỹ. Nhận xét của cựu ngọai trưởng về nguyên do sự thất bại cũng không có gì mới lạ, nhiều người nói họ bại trận vì cuộc chiến tại đất nhà (war at home) chứ không phải tại chiến trường, người Mỹ đã tạo ra chiến bại cho chính họ, có điều là nay Kissinger đã thẳng thắn nhìn vào sự thật.

Sự can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam có hai giai đọan rõ rệt: thứ nhất từ 1965-1968 dưới nhiệm kỳ Tổng thống Johnson và thứ hai từ 1969 tới những năm đầu thập niên 70 dưới nhiệm kỳ Tổng thống Nixon. Ngược dòng lịch sử, năm 1965 là thời kỳ cao điểm của thuyết Domino, cụ thể là nếu mất Việt Nam sẽ kéo theo nhiều nước tại Đông Nam Á sụp đổ như trong ván cờ domino. Năm 1965 tình hình chiến sự tại miền Nam VN vô cùng bi đát, tính trung bình mỗi tuần mất một tiểu đoàn và một quận, trong vòng 6 tháng VNCH sẽ bị rơi vào tay CS nếu không có sự can thiệp của người Mỹ. Được sự ủng hộ của lưỡng viện quốc hội và 78% dân Mỹ, TT Johnson không còn con đường nào khác hơn là đổ quân vào miền nam VN để cứu nguy sự sống còn của người bạn đồng minh.

Cuộc chiến ngày càng mở rộng, Johnson được quốc hội ủng hộ cho tăng quân đều đều hàng năm từ 184,300 người năm 1965…và mấy năm sau 1968 lên tới 536,100 người. Phong trào phản chiến ngày một lên cao, trong hai năm đầu 1965, 66 tuy có chống đối số người ủng hộ chính phủ còn cao khoảng 61%, 51% nhưng tỷ lệ ủng hộ ngày một giảm dần cho tới Tết Mậu thân 1968 thì tụt thang nhanh chóng chỉ còn 30%. Năm 1968 đánh dấu một khúc quành bi thảm cho số phận của VNCH, mặc dù trận Tết Mậu Thân là chiến thắng quân sự lớn của VNCH và đồng minh nhưng niềm tin tưởng của người dân Mỹ vào chính phủ không còn, họ chống đối dữ dội hơn trước gấp bội phần đòi chính phủ phải đem quân về nước, tìm hòa bình vì trước mắt không biết bao giờ mới chiến tranh mới chấm dứt.

Nixon khi tranh cử hứa sẽ tìm hòa bình trong danh dự và đem quân về nước, nhậm chức 1969 ông thực hiện lời hứa đó, có nghĩa là rút bỏ VNCH và Đông Dương. Nixon gặp quá nhiều khó khăn trắc trở gấp bội lần Johnson, chính phủ phải đương đầu với cuộc chiến tại đất nhà đi vào giai đoạn bạo động, đổ máu, bắn giết nhau giữa sinh viên cảnh sát, quân đội… Chính phủ Johnson còn có thực quyền giải quyết cuộc chiến nhưng Nixon không có thẩm quyền là bao, ông đã được cử tri, quốc hội giao trọng trách tìm hòa bình trong danh dự, bỏ VN mà đối với Nixon, việc bỏ rơi đồng minh là điều bất nhẫn nó khiến cho sự hy sinh của 58 ngàn lính Mỹ trở thành vô nghĩa. Mặc dù nỗ lực bằng mọi cách để cứu nguy sự sống còn của miền nam VN nhưng Nixon không thể quay ngược bánh xe lịch sử khi mà phong trào phản chiến đã nắm được quốc hội, đã tước đoạt mọi thẩm quyền của ông.

Marshall McLuhan, nhà văn, giáo sư Gia Nã Đại đã nói về truyền thông trong chiến tranh Việt Nam như sau:

“Truyền hình đã mang những cảnh chiến tranh tàn bạo tới căn phòng khách ấm cúng. Việt Nam thua từ trong những căn phòng ấm cúng ở Hoa Kỳ chứ không phải tại mặt trận bên Việt Nam”

The Media:Vietnam war, Vietnamwar.net

Thật vậy, nước Mỹ thua trận vì cái máy truyền hình , thập niên 50, chỉ có 9% dân Mỹ có TV nhưng sang thập niên 60, những năm chiến tranh VN nóng bỏng 1966, 67, 68 số người xử dụng TV đã tăng lên 93%. Phim ảnh diễn tả cuộc chiến đã gây xúc động cho người dân Mỹ, phong trào phản chiến lan mạnh ở Mỹ lúc này vì đây là lần đầu tiên chiến tranh đã được giới truyền thông đưa vào quảng đại quần chúng và lần đầu tiên tin tức chiến sự đã không bị kiểm duyệt. Các phóng viên, nhiếp ảnh gia tự do lấy tin chiến sự bên VN về nước phổ biến rộng rãi, đài truyền hình quay phim đem về chiếu những cảnh bắn giết, đốt nhà khiến cho người dân ghê tởm cuộc chiến.

Điều tai hại là nhiều phóng viên, nhà làm phim đã xuyên tạc cuộc chiến, đầu độc thanh niên, đổ dầu vào lửa, họ làm giầu vì chiến tranh, hốt bạc nhờ những bản tin đem về từ chiến trường xa xăm bên kia trái đất. Họ loan tin quân đội Hoa Kỳ mất chính nghĩa, tàn ác giết cả trẻ con, hãm hiếp phụ nữ… thậm chí sau khi chiến tranh, cựu chiến binh về nước bị người dân, giới trẻ phỉ nhổ là đồ sát nhân, gian ác, tất cả chỉ là hậu quả của thông tin do những phóng viên, ký giả tán tận lương tâm vô trách nhiệm.

Kissinger khen các nhà lãnh đạo BV lì lợm, kiên trì nhưng nếu không có phản chiến họ có lì lợm được hay không? Các nhà lãnh đạo CSBV theo đuổi chiến lược cố đấm ăn xôi phần lớn họ trông thấy phong trào chống đối ngày càng lớn mạnh, họ sẵn sàng đẩy thanh niên vào chỗ chết để hỗ trợ cho phong trào phản chiến, BV đặt nhiều hy vọng vào phản chiến. Nixon nói nhóm phản chiến đã nối giáo cho giặc, tại Hòa đàm Paris, BV nắm được “cái tẩy” của hành pháp Mỹ đang suy yếu vì bị cử tri, quốc hội gây áp lực. Họ biết vậy nên ngày càng gây khó dễ, không chịu đàm phán nghiêm chỉnh hoặc phá thối hòa đàm, đôi khi Thọ chửi bới Kissinger hỗn hào mà ông ta phải nhịn nhục để mong sớm ký Hiệp định. Tháng 12 -1972, BV tưởng bở, hy vọng Quốc hội sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh đem quân về nước nên Lê Đức Thọ đã bỏ không thèm họp Hội nghị. Nixon cũng chẳng phải tay vừa, ông đã thẳng tay trừng trị BV bằng trận đòn B-52 suốt mười ngày cuối năm 1972 để bắt Hà Nội phải trở lại bàn hội nghị.

Tình hình cuối năm 1972, CSBV bị thảm bại sau trận mùa hè đỏ lửa, từ 500 đến 700 xe tăng bị bắn hạ, từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh bị tử thương. VNCH thắng nhưng khi ký Hiệp định Paris lại như thua nguyên do TT Nixon phải nhượng bộ BV vì sự thúc ép của Quốc hội phản chiến và cử tri Mỹ, họ sẵn sàng ra luật chấm dứt chiến tranh, hy sinh Đông Dương để đánh đổi lấy 580 người tù binh còn bị BV giam giữ nếu việc ký kết không thành, nếu VNCH gây trở ngại.

Nguyễn Đức Phương đã nhận xét:

“Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miền Nam không được chú trọng đến. Một chuyên viên về du kích chiến, Sir R. Thompson, khi thảo luận về việc ký kết hiệp định Ba Lê đã viết “ Sự sống còn của miền Nam VN bị đe doạ chỉ vì để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát. Một điều trái ngược ở đây là miền Bắc VN bị bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị tại Ba Lê không phải để tự cứu họ mà là để cứu nước Mỹ” Vì lý do vừa kể nên mặc dù có quá nhiều khuyết điểm, hiệp định Ba Lê vẫn phải được phê chuẩn với bất cứ giá nào”

Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 811

Theo TT Nixon, sau Hiệp định Paris đầu năm 1973 miền Nam mạnh hơn miền Bắc lý do BV bị thiệt hại nặng trong cuộc tổng tấn công mùa hè đỏ lửa và trận oanh tạc của B-52 dịp Giáng sinh đã phá hủy nhiều kho hàng, cơ sở quân sự tại Hà Nội Hải phòng, nhưng sau đó CS quốc tế tiếp tục viện trợ dồi dào cho BV, ngược lại Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ miền Nam nên cán cân lực lượng đã hoàn toàn đảo ngược. Sự sụp đổ của VNCH là điều không thể tránh khỏi.

Cựu ngọai trưởng ca ngợi quyết tâm thống nhất hai miền Nam Bắc của Hà Nội, họ đã đánh bại người Pháp 1954 để theo đuổi mục tiêu thống nhất và tin tưởng tuyệt đối vào tinh thần ấy. Nếu nói họ hạ quyết tâm thống nhất hai miền vì lòng yêu nước thì chỉ để nói cho vui thôi chứ thực ra vì cái bao tử. Miền Bắc đất chật dân đông, đồng bằng Bắc Việt cằn cỗi vì đã xưa cũ, sản lượng lúa gạo không đủ nuôi số dân quá đông, ngược lại miền Nam đồng bằng sông Cửu Long phì nhiêu, cá tôm dồi dào, dân cư thưa thớt đã được coi là vựa lúa. Trước 1954, miền Nam vẫn thường phải chở lúa gạo tiếp tế cho miền Bắc vì như đã nói trên sản lượng lúa gạo tại đây không đủ nuôi dân, sau Hiệp định Genève 1954 miền Bắc phải nhập cảng lúa gạo của Miến Điện. Năm 1957 Thủ Tướng BV Phạm Văn Đồng gửi văn thư cho ông Ngô Đình Diệm xin hiệp thương hai miền, văn thư rất trịnh trọng “Kính Thưa Tổng Thống….” Nhưng bị ông Diệm từ chối thẳng thừng nên Hà nội phải quay ra dùng quân sự để thôn tính miền Nam, sống chết cũng phải chiếm được vựa lúa miền Nam.

Từ sau 1975 cho đến nay, mức sống tại miền Nam vẫn cao hơn miền Bắc nhiều, kinh tế miền Nam VN vẫn là đầu tầu cho cả nước về mọi mặt: sản xuất lúa gạo, khai thác dầu khí, đầu tư của nước ngoài, hàng xuất khẩu, tiền gửi về từ khúc ruột ngàn dặm… Đó là lý do tại sao Hà Nội phải theo đuổi mục tiêu thống nhất đến cùng, họ đã nướng một triệu quân để chiếm cho được kho tài nguyên phong phú của miền Nam VN.

Thống nhất hai miền Nam Bắc là điều ắt phải làm nhưng có nhiều cách để thống nhất trong hòa bình, bằng ngọai giao, kinh tế, chính trị…tại sao chúng ta phải chém giết nhau, phải làm đổ máu hàng mấy triệu người khiến đất nước tan hoang lạc hậu cả nửa thế kỷ ? Tôi nghĩ có lẽ người Mỹ họ lịch sự, giả vờ ca ngợi mục tiêu thống nhất của CSVN cho vui thôi chứ trong lòng họ không thể nào dấu nổi sự khinh bỉ ghê tởm cho sự lì lợm cố đấm ăn xôi của những người CS da vàng.

Kissinger than thở Lê Đức Thọ gây nhiều khó khăn bực tức cho ông, theo Nixon sở dĩ Thọ hỗn hào chửi mắng Kissinger vì thấy hành pháp lâm vào thế yếu, bị Quốc hội và cử tri phản đối ầm ĩ. Đại diện BV thừa cơ nước đục thả câu, lợi dụng khi hành pháp bị lập pháp gây áp lực, chống đối nên càng kéo dài đàm phán không chịu ký kết để buộc Mỹ phải nhượng bộ tại bàn hội nghị.

Cựu ngoai trưởng nói ông đã thấy Hiệp định Paris nguy hiểm bấp bênh cho miền Nam VN và cuộc chiến không thực sự chấm dứt, nhưng Hoa Thịnh Đốn tin tưởng miền Nam VN có thể đẩy lui sự xâm lăng của CS. Sự tin tưởng của chính phủ Mỹ vào khả năng tự vệ của miền Nam VN là điều giả dối, chỉ là câu nói an ủi cho người bạn đồng minh vì như chúng ta đều đã thấy hỏa lực của CS bao giờ cũng mạnh hơn miền Nam qua nhiều trận thử thách. CS quốc tế đã viện trợ quân sự cho đàn em nhiều hơn Mỹ cho VNCH cả về phẩm lẫn lượng, năm 1968 trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu thân, vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng của cán binh CS toàn là những thứ ác ôn, hiện đại trong khi quân đội miền Nam VN vẫn còn dùng súng đạn từ thời Thế chiến Thứ hai .

Người Mỹ đã đánh giá thấp khả năng viện trợ của Nga sô Trung Cộng và trên thực tế ta thấy một trong những lý do chính khiến cuộc chiến thất bại vì Hoa Kỳ đã không chạy đua kịp với khối CS quốc tế về viện trợ quân sự cho đồng minh của mình. Năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận và một tiểu đoàn lý do viện trợ quân sự của Mỹ cho miền Nam thua viện trợ của CS quốc tế cho đàn em của họ. Hỏa lực của miền Nam không đủ để tự vệ và đẩy lui các cuộc tấn công của VC. Trong trận tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972, nếu không được sự yểm trợ của máy bay chiến lược B-52 thì VNCH khó mà bảo vệ được An Lộc, Kontum và và chiếm lại được Quảng Trị, không lực Mỹ đã duy trì cán cân lực lượng và VNCH vẫn còn một cơ hội tốt để sống còn. Nhất là giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến VN, Quốc hội Mỹ cắt xén viện trợ cho VNCH đến xương tủy trong khi đó Hà Nội vẫn nhận đầy đủ hàng viện trợ quân sự của Nga Sô, Trung Cộng và ngày sụp đổ 30-4-1975 là bằng chứng cụ thể rõ ràng nhất cho sự viện trợ yếu kém của Hoa Kỳ.

Ngân khoản viện trợ quân sự cho VN được Hành pháp Mỹ đưa ra Quốc hội bàn luận, cắt xén, cò kè bớt một thêm hai trong khi các nước CS Nga Sô Trung Cộng vẫn yên lặng viện trợ ồ ạt cho BV đủ lọai vũ khí tối tân. Trên thực tế viện trợ quân sự của CS quốc tế cho BV để đánh nhau với Mỹ chứ không phải để đánh VNCH. Viện trợ của CS quốc tế cho đàn em toàn những vũ khí tối tân như hỏa tiễn tầm nhiệt, xe tăng hiện đại, đại bác có tầm viễn xạ tối đa 30 cây số… trong khi Hoa Kỳ viện trợ cho miền nam những vũ khí cũ secondhand, không đủ đương đầu với hỏa lực địch. Người Mỹ la làng kêu than cuộc chiến VN quá tốn kém, từ đầu chí cuối mấy trăm tỷ đô la… nhưng họ không biết rằng CS quốc tế chi viện cho BV nhiều hơn Mỹ mà ta không nghe thấy ở họ một lời than thở.

CSBV có nhiều thuận lợi hơn miền nam VN trong việc xin viện trợ vì Đảng CS tại Nga và Trung Cộng toàn quyền trong chính sách yểm trợ cho các nước thuộc quĩ đạo của họ, muốn viện trợ bao nhiêu cũng được, người dân, quốc hội bù nhìn không ai dám hé răng. Ngược lại VNCH mỗi lần xin viện trợ quân sự phải cử người sang Mỹ vận động đi tới đi lui, Chính phủ không thực sự có quyền chi viện mà phải thông qua sự cứu xét của Quốc Hội, thường là bị cắt xén, nhất là giai đoạn cuối của cuộc chiến, họ cắt giảm đến độ vào tháng tư 1975, quân đội VNCH chỉ còn đạn đủ đánh trong hai tuần lễ (Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối của VNCH, trang 92).

Một trong những nguyên nhân thất bại của Mỹ là họ quí trọng sinh mạng con người quá đáng, CSBV rất nhậy bén về nội tình nước Mỹ, họ biết rõ tâm lý anh nhà giầu sợ chết, biết cái “tẩy” tham sinh úy tử của Mỹ. Anh nghèo đói không sợ chết nên họ sẵn sàng chấp nhận tỷ lệ lấy 16 cán binh đổi một lính Mỹ để đẩy mạnh phản chiến, trong những năm 1966, 67, 68… Hà Nội chỉ thị cho cán binh phải giết cho nhiều lính Mỹ để tạo chống đối tại ngay đất nước họ y như tại Pháp thập niên 50 thời chiến tranh Đông Dương.

Cho tới 1968 số tử vong của người Mỹ tại VN là 31 ngàn người chết tại mặt trận (killed in action, battle dead) và khoảng 4 ngàn người chết vì những lý do khác như tai nạn, chết đuối, tự sát, bệnh tật.. tổng cộng năm 1968 khoảng 35 ngàn lính Mỹ chết tại miền nam VN. Suốt bốn năm chiến tranh mới chết có vài chục ngàn người nhưng tại hậu phương nước Mỹ đã có bao nhiêu người khóc than, la làng cho cả thế giới biết trong khi riêng trận tấn công mùa hè đỏ lửa năm 1972 có khoảng 70 ngàn lính BV tử thương, thiệt hại VNCH bằng một nửa, tại trận Stalingrad năm 1942 có tới 500 ngàn (hay nửa triệu) lính Nga tử trận nhưng họ yên lặng chẳng hề than vãn.

Đã sợ chết nhưng lại muốn làm trùm thế giới! mới chết có gần 60 ngàn người trong một cuộc chiến dài mà người Mỹ đã cho là một bi kịch lớn, kêu khóc từ mấy chục năm qua, làm sao họ có thể đương đầu với một cuộc chiến tranh nguyên tử làm chết hàng triệu người? Nếu Hoa Kỳ viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH họ đã không cần phải đem quân vào miền nam để gây ra phản chiến làm sụp đổ cả Đông Dương.

Truyền thông phản chiến Mỹ trong thời chiến tranh đã chế nhạo quân đội VNCH hèn nhát, họ nói lính Mỹ lùng và diệt địch (search and destroy) còn lính miền nam VN thì lùng và tránh địch (search and avoid), họ đăng những hình ảnh lính VNCH bám càng máy bay trực thăng tháo chạy trong trận Hạ Lào để chế nhạo đồng minh hèn nhát. Nhưng thực tế cho thấy ai đã tham sinh úy tử?

Mặc dù cộng tác mật thiết với nhau nhưng trên thực tế lập trường của TT Nixon và người phụ tá Kissinger của ông có nhiều tương phản. Cựu bộ trưởng ngọai giao cho rằng nước Mỹ đã quá lý tưởng để đặt chính sách dân chủ hóa VN của mình trên quyền lợi quốc gia, ông chủ trương phải quay về với quyền lợi của nước Mỹ, hòa hoãn với đối phương, bỏ Đông Dương. Nixon cho rằng nếu bỏ rơi VNCH thì sự hy sinh của 58 ngàn lính Mỹ để bảo vệ miền nam VN sẽ trở thành vô nghĩa. Khi ký Hiệp định ông đã dự trù hai kế hoạch để giữ miền nam VN, trước hết viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH, và sau đó dùng sức mạnh của không lực Mỹ để trừng trị BV nếu mở cuộc xâm lăng miền Nam VN, nhưng Quốc hội phản chiến đã phá hỏng tất cả hai kế hoạch hoạch khiến ông không còn quyền hành gì để đối phó với CSBV.

Nixon không thể quay ngược bánh xe lịch sử khi gió đã đổi chiều, thuyết Domino không còn giá trị. Người Mỹ đã quá chán ghét cuộc chiến Đông Dương, họ chấm dứt sự xung đột này chính là để chấm dứt cuộc chiến tại đất nhà, chấm dứt cảnh cắn xé nhau dữ dội từ bao năm qua.

Trọng Đạt

Tham Khảo

http://www.armytimes.com...vietnam-failures-092910/

Kissinger: Vietnam failures our own fault

By Robert Burns – The Associated Press

Posted : Wednesday Sep 29, 2010 18:11

en.wikipedia.org/wiki/

Henry_Kissinger

http://en.wikipedia.org/wiki/Paris_Peace_Accords

Paris Peace Accords

Richard Nixon:No More Vietnams, Arbor House, New York 1985.

English.illinois.edu/maps/vietnam/antiwar.html: Mark Barringer: The Anti-war Movement in the United States.

Radical times: The antiwar Movement of the 1960s, Politic and the Antiwar Movement.

Answer.com: Vietnam Antiwar Movement

Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war

Google: Research at the National Archives, Statistical information about casualties of the Vietnam war.

The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985

Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh, 2005.

Ngô Quang Trưởng: Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972, Trung Tâm Quân Sử Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bản dịch của Kiều Công Cự, xuất bản 2007

Đoàn Thêm: Những Ngày Chưa Quên, Quyển Thượng (1939-1954), Quyển Hạ (1954-

1963), Xuân Thu 2000.

coffeebean  
#55 Posted : Saturday, April 23, 2011 12:56:25 AM(UTC)
coffeebean

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 1,451

Thanks: 247 times
Was thanked: 896 time(s) in 415 post(s)


UserPostedImage


Ngày Quê Hương


Mỗi độ tháng tư về
Lòng đau như đất hạn
Bật nứt nẻ đồng hoang

Núi sông thôi lửa loạn
Gần bốn chục năm tàn
Nước ... mỗi ngày mỗi nát
Đất ... ngày một hao mòn

Sông ! héo hắt cạn nguồn
Núi ! nổ tan ngàn mảnh
Rừng ! đốn trụi lá xanh
Biên ải ! nhẹ tay dâng
Hải đảo ! cầm bán nốt !.

Còn lại mạng dân lành !
Hết cơn bão thuyền nhân
Lớp liều thân lấy ... chồng
Lớp bán mình ... lao động
Chài lưới ven biển Đông
Trời, nước thuở cha ông
Bị đắm tàu, bắt, giết,
Chuộc mạng ... dân mặc dân
Vẫn mãi là ... "thuyền lạ"
Trong hải phận ... quê nhà

Ai kêu than phản đối
Thẳng tay trừng trị thôi
Tù ngục hết một đời
Có người không kịp trối

Kìa, bầy em lang thang
Cầu sống ... đành mót rác
Bên đàn chuột nháo nhác
Sách vở ...thôi ! hoang đường

Còn biết bao tức tưởi
Số phận đồng bào tôi
Những mảnh đời đớn khổ
Theo vận nước, một thời ...

... lạc vào cơn hồng thuỷ
Giặc xé nát giang sơn
Sống xa hoa thác loạn
Tha hoá trẻ dại khờ
Gông xiềng đời chính trực
Bôi xoá cả sử xanh
Rồi, ... ngày qua tháng lại
Nước Việt còn trong tranh

Đồng bào ơi ! nhin lại
Trường Sa dạt về đâu !
Ải Nam Quan mất dấu !
Tây Nguyên vỡ núi rừng !


Ai người yêu quê hương ?
Nỡ bán tháo đất nước
Cho cuộc chiến thê lương
Triệu người trai ngã gục ! (*)
Triệu người chết biển Đông ! (*)
Bao nhiêu thời "cải cách" ?
Nơi trại tù tập trung !
Bao nhiêu xác vùi nông ?
Nông trường, kinh tế mới !
Bao nhiêu xuân tắt vội ?
Bởi Pol Pot hành hình !
....
Để nay đem đất nước
Cho Bắc thuộc ngàn năm

Đồng bào ơi ! đứng lên
Giành lại quê hương mình
Đất trời Nam muôn thuở
Là của người Việt Nam.

LNL


Chú thích: (*) sinh mạng của cả những người lính VNCH và những người sinh Bắc tử Nam, cũng như cái chết của nhiều đồng bào miền Bắc vượt biển sau 1977 (tuy không nhiều như người từ miền Nam).
thunder  
#56 Posted : Saturday, April 23, 2011 5:13:19 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Nhân mùa QUỐC HẬN 30-04


Thời gian đã trôi đi suốt ba mươi sáu năm ròng rã, thế nhưng trong hoàn cảnh của chúng ta, mỗi độ tháng tư về, khó mấy ai có thể có khả năng không nhớ ra một vài diều thương tâm vì bản thân hay gia đình của họ đã chịu đựng bởi những sự tàn ác, bất nhân của tập đoàn vgcs . Cho dù hiện tại đang sống nơi xứ sở định cư nầy, bản thân đã vì tư lợi, có lúc vô tình bị mua chuộc, hoặc do thiếu thận trọng khi giao tiếp đã bị những tay sai, nằm vùng sai sử làm ra nhiều hình thức đau lòng cho bạn bè thật lòng trong thời gian tham gia vào sinh hoạt các đoàn thể đấu tranh với Bắc bộ phủ, nếu có cơ hội đọc được TÂM THƯ nầy của Bà PHẠM THỊ KIM HOÀNG, biết đâu cũng là một dịp may hiếm có để đặt lên bàn cân so sánh lại sức nặng của chính bản thân cho mình ...

Hy vọng mọi hướng đánh thức lương tri cho chúng ta để cùng hướng về quê Cha đất Tổ trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nầy là yếu tố quá cần thiết ... Giáo Lý chư Phật có dạy rằng : Tâm viên, ý mã, cho nên mọi diễn biến trong Tâm nơi trần thế nầy là chuyện thường tình , là nguyên lý tự nhiên trong vũ trụ. Dù là ở phương vị nào trong đời sống, vì sự bất thường suy diễn của Tâm đã đưa chúng ta vào con đường lầm lổi, mong sao trong số lượng ít ỏi của những người VN tỵ nạn trên những vùng định cư êm ấm nầy, tận dụng thời gian và phương tiện sẵn có như bức thư của Bà Phạm Thị Kim Hoàng, Phu Nhân của Thiếu Tướng LÊ VĂN HƯNG để tự chất vấn lại với bản thân khi đang còn cơ hội mở mắt nhìn đời .

30 tháng 4 Người Lính nghĩ gì về bài viết của tác giả bài này?


Nhân dịp Tưởng Niệm 30/4, xin chuyển bài viết của bà Phạm Thị Kim Hoàng phu nhân cố Thiếu tường Lê Văn Hưng.

Kính chuyển ,

Bài Viết của Phu Nhân Tướng Lê Văn Hưng gửi cho bà Đặng Thi Tuyết Mai và Nguyễn Cao Kỳ Duyên nhân dịp 30 tháng 4 / 2010

Tôi chuyển đến cô bài viết này nhân dịp 30 tháng 4, 2010.
Cô hãy đọc và xin cô chuyển đến ba cô,cựu Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ Phó TT VNCH như là một lời trần tình của một công dân VNCH
gửi đến vị cựu Phó TT VNCH qua lời phát biểu của ông rằng
:

"Từ TT Nguyễn văn Thiệu trở xuống đều ham sống sợ chết".

Nếu nhận được hồi âm của cô hay ba cô thì tốt quá. Vì không có địa chỉ email của ba cô, mong cô giúp tôi.
Cám ơn cô.

***

Tiếc, Thương, Cảm Phục, Yêu Kính...
Tưởng Niệm Những Anh Hùng trọng Tiết Tháo Chiến Sĩ ...
Bà Lê Văn Hưng, nhũ danh Phạm Thị Kim Hoàng.
Từ chàng ra đi lưng khoác chiến y,
và hồn nương bóng quốc kỳ
Nàng ngừng con thoi có khi nhớ chàng.
Có muốn gì đâu! Lệ thắm tơ vàng.
Chàng ngồi trên yên mơ bóng dáng em
mịt mù sau đám khói tên.
Bâng khuâng mắt nhìn tay kiếm.
Không sao dấu đôi lệ hiền….
(Chinh phụ ca – Phạm Duy)

Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:

“Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ”.

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.

Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:

- “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì”. Họ còn hỏi nhau:

- “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?”

Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:

- “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:
- “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.
Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:

- “Tại sao Tướng Nam, Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”

Lại có người nghiêm khắc trách tôi:

- “Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”

Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?

Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị TướngNguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:

- “Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng”.

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.

Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.

Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.

Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:

- “Có đồng ý đem con lánh nạn không?”

Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:

- “Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?” Tôi đáp:

- “Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản”.

Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú. Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:

- “Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…”.
Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:

- “Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng”.
Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:

- “Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh”.

Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:

- “Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.

6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.

7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:

- “Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ”.

Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:

- “Em phải sống ở lại nuôi con”.

Tôi hoảng hốt:

- “Kìa mình, sao mình đổi ý?”
- “Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.”
- “Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc”.
- “Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta”.
- “Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?”

Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:

- “Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?”

Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:

- “Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế”.

Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:

- “Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào”.

Tôi phát run lên hỏi:

- “Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”

Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:

- “Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em.
Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình”.

Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:

- “Vâng, em xin nghe lời mình”.
Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:
- “Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.
- “Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?”

Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:

- “Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh”.
Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:

- “Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó”.

Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:

- “Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.

Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống.

Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:

- “Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.

Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh”.

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:

- “Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả”.

Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:

- “Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.

Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:

- “Nghĩa trở lại với tôi”.

Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:

- “Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?”

Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:

- “Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”

Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc:

- “Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”

Tôi bảo Giêng:

- “Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng”.

Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:

- “Alô, Alô, ai đây?”
- “Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây”. Tôi bàng hoàng:
- “Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”

Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:

- “Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”. Tôi lúng túng vài giây:
- “Ông đang điều động quân ngoài kia”.
- “Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”
- “Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé”.

Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:

- “Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?” Nghĩa lúng túng:
- “Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.
- “Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng”.

Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:

- “Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?”
- “Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”
- “Cẩn vui lòng chờ chút”.

Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:

- “Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”

Cẩn đáp thật nhanh:

- “Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”
- “Tốt lắm, vậy thì y lịnh”.
- “Dạ, cám ơn chị”.

Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:

- “Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”
“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!” Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.

11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam:

- “Alô, chị Hưng!”

Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:

- “Thưa Thiếu Tướng…”

Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:

- “Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.

Tôi vẫn nức nở:

- “Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”
- “Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình”.

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:

- “Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?”
- “Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”
- “Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?”
- “Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản”.
- “Còn mấy chú đâu hết?”
- “Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”
- “Chị tẩm liệm Hưng chưa?”
- “Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.
- “Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên”.
- “Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?”

Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:

- “Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót”.

Người chép miệng thở dài:

- “Thôi chị Hưng ơi”.

Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:

- “Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước”.

Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:

- “Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.
- “Dạ, cám ơn Thiếu Tướng”.

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.
Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.

7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:

- Xin Thiếu Tướng tha thứ. Tôi không dám bỏ xác Hưng để đến vuốt mắt Thiếu Tướng và lo việc tẩm liệm cho Thiếu Tướng. Bây giờ linh hồn của Thiếu Tướng đã gặp Hưng, xin linh thiêng phò hộ cho mẹ con tôi thoát khỏi tay Cộng Sản. Xin thương xót cho quê hương, cho dân tộc chúng ta. Xin thương xót cho toàn thể anh em binh sĩ.

Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia.
Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.

Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?
Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi:

Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?.
Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.
Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ Quốc.


Phạm Thị Kim Hoàng

Edited by user Saturday, April 23, 2011 7:34:56 PM(UTC)  | Reason: Not specified

chiều tím  
#57 Posted : Sunday, April 24, 2011 7:37:39 AM(UTC)
chiều tím

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 262
Location: Nha Trang

Thanks: 207 times
Was thanked: 121 time(s) in 83 post(s)
Tháng Tư... Xót Xa


Mỗi năm cứ đến ngày... Tháng tư.
Lòng buồn vời vợi dạ xót xa!


Thế là chỉ còn khoảng hơn hai tháng nữa mùa mưa sẽ lại đến với thành phố Buồn Muôn Thuở này. Thành phố có hai mùa mưa nắng rõ rệt bắt đầu từ tháng năm cho đến tháng mười. Tôi đã sống ở thành phố này và trải qua hai mùa mưa nên tôi biết là khi mùa mưa đến thì chiều nào cũng có mưa,một thứ mưa nguồn bỗng chốc ầm ầm đổ ập xuống thành phố để rồi không bao lâu sau thì tạnh.

Chỉ còn hơn hai tháng nữa thôi tôi lại sẽ vui mừng được đón mùa mưa lần thứ ba đến với tôi. Tôi vui là vì cứ chiều đến,khi mà mọi công việc tôi đã thu xếp xong xuôi để khi mưa đổ xuống là tôi lại cuộn mình trong cái mền ấm nằm đọc truyện chờ anh về cùng ăn bữa cơm tối với nhau.Tôi thích mùa mưa ở thành phố này nhưng anh thì không thích. Anh nói anh bực mình vì thứ đất badan đỏ như son môi người thiếu nữ đẹp nhưng lại như có chất keo làm dính vào bánh xe,làm dính vào đôi giầy như cố níu anh ở lại với nó, trong khi anh lại muốn mau mau được về nhà để nhìn thấy tôi và ôm tôi.

Mùa mưa ở đây hoa hướng dương, hoa bướm, hoa thạch thảo... mọc tràn lan thành rừng, dù chẳng có ai trồng. Cứ sau mỗi mùa mưa thì những củ thược dược ngủ vùi trong lòng đất lạnh để khi mùa mưa kế tiếp đến nó lại đâm chồi nở ra những cái bông cúc đại đóa đủ màu sắc. Tôi thường ví những củ thược dược là những cô gái Thượng đẹp yêu kiều và lộng lẫy,còn những giọt nước mưa là những giọt nước mắt của những chàng hào hoa và đa tình đã nhỏ xuống những gương mặt đẹp và diễm kiều để rồi các cô gái Thượng bừng tỉnh lại, sống lại... trang hoàng cho thành phố đẹp hơn.

Tôi theo anh đến sống ở thành phố này đã hơn hai năm. Làm vợ lính trong thời chiến tôi chấp nhận cuộc sống nay đây mai đó và luôn sẵn sàng đón nhận những chuyện bất trắc sẽ xảy đến với mình và gia đình mình. Thành phố này là thành phố thứ hai tôi đến sinh sống,sau thành phố núi,là thành phố của lính,nơi tôi đã ra chào đời. Vì biết rằng đời lính có nhiều rủi ro nên ngày nào anh và tôi còn được bên nhau thì ngày đó chúng tôi sống hết mình cho nhau. Anh luôn nuông chìu tôi và lo lắng cho tôi có cuộc sống tạm đầy đủ với đồng lương của viên Thiếu úy An ninh. Ngược lại thì tôi luôn yêu thương anh, kính trọng anh, và không làm bất cứ một điều gì cho anh phải buồn lòng.

Sau một chuyến đi công tác về,anh cũng ôm hôn tôi như anh thường làm nhưng lần này anh có vẻ không vui mà tôi thì thấy không tiện hỏi. Bữa cơm tối anh có vẻ lo lắng nhiều nên vừa ngồi vô bàn anh ăn vội qua loa một chén cơm rồi buông đũa. Tôi kiên nhẫn chờ đợi anh sẽ nói cho tôi biết điều đã làm cho anh buồn và làm cho anh lo lắng. Anh không để cho tôi phải chờ đợi lâu.Khi tôi vừa buông đũa sau nửa chém cơm thì anh nắm hai bàn tay tôi rồi âu yếm nói:
- Anh vừa đi công tác ở một Buôn Thượng cách thành phố mình ba cây số. Tuy chỉ cách có ba cây số thôi nhưng đến Buôn Thượng của người Êđê đó giống như mình đi đến một vùng hoang dã hoang sơ trong rừng già vậy. Tại đây anh nhận được tin tức là quân Bắc Việt sắp mở một trận đánh lớn, thật lớn, vào một trong những thành phố ở vùng cao nguyên này. Đây sẽ là trận đánh xả láng của quân đội miền Bắc quyết chiếm cho được một thành phố để làm thủ đô cho Mặt trận giải phóng miền Nam, trước khi mùa mưa đến.

Anh ngưng nói và cầm ly nước trà nóng lên uống một hớp. Rồi anh lại nắm chặt hai bàn tay tôi và nói tiếp:
- Vì sự an toàn của em... và cũng dễ dàng cho anh trong những công tác sắp đến nên em hãy thu xếp để về ở trong Sàigòn. Anh đã nhờ một người bạn mướn giùm cho anh, cho vợ chồng mình một căn gác nhỏ ở khu Bàn Cờ, vì người bạn của anh cũng ở đây...
Nghĩ đến những ngày sống ở nơi đô hội mà lại thiếu vắng anh nên tôi nói:
- Có lẽ... không sao đâu anh à. Quân đội mình ở đây cũng đông. Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 cũng ở đây...
Anh ngắt lời tôi và nói với vẻ mặt nghiêm nghị:
- Việc quân sự có lẽ em không rành nên nói vậy. Khi quân đội Bắc Việt muốn chiếm bất cứ thành phố nào của ta thì họ phải huy động quân đông gấp nhiều lần quân đóng trong thành phố đó. Ngoài ra thì... trước khi tiến chiếm sẽ có màn pháo kích mà đạn pháo thì... biết rơi ở đâu để mà tránh chứ.
Tôi cố nói thêm để mong anh đổi ý và đừng bắt tôi phải xa anh, xa thành phố này:
- Vả lại...mình cũng chưa biết họ định đánh thành phố nào mà anh. Em không muốn...
- Anh biết là em không muốn xa anh và chính anh cũng không muốn chuyện đó xảy ra.Vì chưa biết quân Bắc Việt sẽ đánh thành phố nào nên anh mới lo chứ biết rồi thì... còn lâu.
- Nhưng...
- Hãy nghe anh một lần này cho anh yên tâm đi em yêu.Anh chỉ còn mỗi mình em là người thân nhất mà anh yêu nhất trên đời này... nghe anh đi em!

Nghe những lời như khẩn nài của anh,tôi biết là anh đã quyết định dứt khoát rồi. Như vậy là chỉ trong nay mai đây thôi tôi sẽ phải rời xa anh và rời xa thành phố thân yêu này nên nước mắt tự dưng trào ra ở hai bên khóe mắt. Thấy tôi khóc anh vội ôm tôi an ủi và nói rồi anh sẽ đón tôi về lại với anh và về lại thành phố này, trước mùa mưa.

Mười hai ngày sau tôi lên đường bỏ anh ở lại với đồng bào và với đồng đội của anh trong thành phố. Tôi không ngờ lần chia tay với thành phố mà tôi yêu thương với những chiều mưa lạnh cuộn mình trong chăn ấm nằm đọc truyện chờ anh đi làm về lại là lần chia tay vĩnh viễn. Mãi mãi tôi đã bị mất thành phố và bị mất luôn quê hương thân yêu của tôi.

oOo

Nhìn tấm hình anh trong bộ quân phục của quân đội Việt Nam Cộng Hòa oai phong trên bàn thờ, thế là hai hàng nước mắt cứ tự động chảy ra làm ướt hết cả phía áo trước ngực.

Ngày anh đi trình diện để vào tù có tôi đi bên cạnh tiễn đưa anh. Ngày anh bỏ quê hương và bỏ tôi để đi về bên kia thế giới khi anh còn đang ở trong trại tù ở ngoài Bắc, có hai người bạn tù tiễn đưa anh.

Hôm nay, tháng tư nữa lại về nhắc nhớ tôi là đã ba mươi bốn cái tháng Tư anh bỏ tôi ra đi và ba mươi sáu cái tháng Tư người dân miền Nam và tôi đã bị mất quê hương. Nhìn hình anh trên bàn thờ và nhớ về anh nên tôi đớn đau thảng thốt kêu lên: Anh yêu ơi! Tháng Tư nữa lại về. Tháng Tư xót xa. Tháng Tư đau buồn và...



Tháng Tư Tâm Sự Cùng Anh

Anh,
Em đang nhớ anh
Và đang nghĩ đến
Một ngày của ba mươi sáu năm về trước
Ngày ba mươi tháng Tư
Năm một nghìn chín trăm bảy lăm
Ngày nghiệt ngã
Ngày hai đưá mình đã ôm nhau khóc ngất
Trên căn gác nhỏ
Ở xóm Bàn Cờ

Những giọt nước mắt tức tưởi
Của anh và của em
Đã đổ xuống
Vỡ bờ
Không sao ngăn nổi
Thương một quê hương sau cơn hấp hối
Tắt thở nghẹn ngào
Và thương quá đỗi
Những người lính trận can trường
làm thân chiến bại
Tất tả poncho
Chẳng biết sẽ đi về mô
Trên những đuờng phố Saigon một thời diễm lệ
Bỗng chốc nỡ trở thành điạ ngục trần gian...

Làm gì có ánh hào quang
Anh nhỉ!
Trên những nóc nhà
Ngói khô cũng tuyệt vọng
Màu đõ rợn người lảng vảng không gian
Làm gì có
Từ Bắc vô Nam
“Nối vòng tay lớn”
Hỡi người nhạc sĩ tài hoa
Có tâm hồn đẹp
Sao quá thơ ngây!

Đêm hôm ấy
Ánh đèn nhà mình hình như không đủ sáng
Nhạc dội oang oang
Bức bách
Ta ngồi nhìn nhau
Tắc nghẽn
Cố không nghe thấy
Những tiếng quạ đen sặc mùi tử khí
Làm đặc buồng phổi
Xé nát hoài mong...

Anh,
Nhát dao đâm từ ngày ấy
Máu vẫn còn bầm
Ba mươi sáu năm trôi qua, một dòng sông đục
Làm sao múc được ánh trăng tan...
(thơ Kim Thành)


TOPA
xuan hoang  
#58 Posted : Sunday, April 24, 2011 8:04:54 AM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)

Xin Khóc Giùm



UserPostedImage


Xin khóc giùm cho quê hương yêu dấu
Bao chục năm vẫn tang tóc, nhục hèn
Dân đói lả phải cơm gạo bon chen
Đảng béo phệ trên ngai vàng ngập xác

Tháng tư đen, nước non sầu tan nát
Tháng tư buồn, máu lệ ngập trời cao
Ta ở đây mà hồn vướng nơi nao?
Khi đối diện với chia ly não nuột.

Sông núi vẫn còn, quê hương đã mất
Sống lang thang lê lết khắp chợ người
Hồn nào khác, chiếc lá úa sắp rơi
Giữa cay đắng một đời không trọn vẹn

Kể sao hết, hận thù càng đau đớn
Thương ngàn muôn, mẹ hiu hắt đợi chờ
Con cứ hẹn, rồi ngoảnh mặt làm ngơ
Mẹ mòn mỏi, nay thành người thiên cổ

Buồn đã khắc trên từng con phố nhỏ
Đường đổi tên, nhà cũng vắng người thương
Bạn bè xưa giờ lạc khắp mười phương
Trường lớp cũ, cũng dãi dầu hoang phế

Quên sao được tháng tư đen máu lệ
Người hại người bằng độc lập hòa bình
Người giết người với súng đạn đồng minh
Mồ vô chủ, biển xác người trôi giạt

Tháng tư đen, quê hương mình tan nát
Triệu mẹ già, khóc biệt đám con thơ
Tuổi hoa niên, căng nhựa sống đợi chờ
Đã héo úa vì thân trai thời loạn

Tháng tư đen, triệu người sôi lửa hận
Kỷ niệm buồn như thác lũ réo mời
Ta đứng khóc nhìn biển rộng mù khơi
Tìm nhân ảnh trên tình người sắp cạn.


Mường Giang
UserPostedImage
thunder  
#59 Posted : Sunday, April 24, 2011 1:37:26 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

NGƯỜI CẦM BÚT TRONG THỜI CHIẾN


[color=darkblue]Dù ở tại hải ngoại, đang tự do an hưởng một đời sống thanh bình với đầy đủ quyền hạn của một công dân, nhưng không thể quên rằng, chúng ta đứng trước một cuộc chiến không quy ước và đang trực diện với một kẻ thù gian manh nguy hiểm : Đó là tập đoàn cộng sản Việt Nam và bè lũ của chúng.
Những ai bỏ nước ra đi vì lý do chính trị, nếu còn chút tình đối với Quê Hương Dân Tộc, chắc chắn không thể khoanh tay làm ngơ trước hoàn cảnh đồng bào trong nước đang khổ đau dưới chế độ áp bức tàn bạo của bè lũ việt gian cộng sản…Nếu nói về những người cầm bút thì bổn phận còn nặng nề hơn nữa, vì chính thành phần nầy, hơn ai hết, phải nhận lấy một phần trách nhiệm tư tưởng đối với tập thể trong công cuộc tranh đấu của toàn dân nói chung, và cho cộng đồng người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, nói riêng.

Trước tiên, đề cập đến giới cầm bút trong nước. Trừ thành phần bưng bô cho việt gian cộng sản, đa số còn lại cũng vì miếng cơm manh áo và mạng sống, họ phải nhắm mắt đưa chân, an phận làm kiếp ký sinh hoặc bán linh hồn cho quỷ dữ. Trái lại, đối với những người cầm bút chân chính thì hoàn toàn bị nhà cầm quyền cô lập từ tư tưởng đến kềm chế tinh thần cũng như việc kiểm soát hành động. Họ buộc phải im lặng. Ngoài ra, hành phần nầy không đủ phương tiện để lo ngày hai bữa, đó là chưa đề cập đến khả năng tài chánh để trang bị cho mình các phương tiện truyền thông…Do đó một số nhà văn trong nước dù có hoàn thành tác phẩm của mình nhưng không thể in ấn, phổ biến dưới chế độ kiểm duyệt hay chuyển ra nước ngoài. Tuy nhiên mấy năm gần đây, một số nhà tranh đấu, có thể xem như những chiến sĩ bóng tối, qua ngòi bút, họ đã xử dụng tối đa các blogs và facebook để nói lên quan niệm chính trị cũng như những nỗi trăn trở của mình trước thời cuộc. Nhờ đó người Việt hải ngoại đã theo dõi được tình hình cũng như những biến cố vừa xảy ra trong nước. Tuy nhiên, mọi việc cũng không dễ dàng dưới một chế độ bưng bít thông tin mà Hà Nội đã đưa lên hàng đầu, như vấn đề kiểm soát tư tưởng và hành động của người dân, nhất là đối với thành phần cầm bút không nằm trong các tổ chức văn hóa của cộng sản.

Bình thường người cầm bút bao giờ cũng mong được sự ủng hộ cũng như thương mến của độc giả, và trước tình trạng bát nháo chính trị hiện nay, người nào muốn yên thân thì không nên đụng chạm cũng như đừng bao giờ làm mất lòng bất cứ một ai, bạn hay thù, thân quen hoặc xa lạ... Có lẽ vì lý do nầy mà đa số người cầm viết chuyên nghiệp cũng như tài tử từ quốc nội ra đến hải ngoại đều né tránh hai chữ ‘chính trị’ và chưa ai can đảm xác nhận việc dùng ngòi viết tham gia vào hoạt động chính trị. Có lẽ họ nghĩ rằng muốn trở thành một nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa của thời bình thì phải tránh xa các tổ chức tranh đấu hiện nay của toàn dân. Ngoài ra, một số người cầm bút còn xác nhận rằng, muốn tránh mất lòng độc giả thì phải đứng ngoài và đứng trên tất cả hoạt động chính trị. Vậy trước tình trạng đất nước hiện nay, họ được xem như thành phần trốn bổn phận người cầm viết, hay nói một cách khác, tránh trách nhiệm của ‘người lính’ trong thời chiến. Như vậy, thành phần nầy có khác gì hơn là những người trốn quân dịch trước kia !

Đối với giới cầm bút hải ngoại, ngoài các nhà-văn-nhà-thơ kỳ cựu, còn xuất hiện hàng ngàn ‘trăm hoa đua nở’ sau 36 năm định cư của người Việt tỵ nạn trên các vùng đất tự do. Nhưng những cầm bút, có tinh thần, biết nghĩ đến quốc gia dân tộc và tham gia tranh đấu giành miếng cơm manh áo, tự do dân chủ cho người dân trong nước…thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Dù ít nhưng là những người can đảm, chấp nhận tất cả gian nan cũng như ‘tai nạn’ xuất phát từ đâu và bất cứ dưới hình thức nào…một khi họ quyết định dùng ngòi bút để phục vụ lý tưởng. Vậy những người nầy đã hành xử đúng vai trò của một người cầm bút trong thời chiến, hay có thể xem như một người lính, để cùng cộng đồng hải ngoại cũng như đồng bào trong nước đứng lên đánh đổ chế độ việt gian cộng sản.

Còn lại đa số đều quan niệm phải đứng ngoài chính trị. Họ dùng văn thơ chữ nghĩa để phục vụ văn hóa thuần túy hoặc để tự phục vụ cá nhân. Biết bao hội đoàn ở hải ngoại nhân danh hai chữ ‘văn hóa’ nhưng không bao giờ quan tâm việc bảo vệ văn hóa tự do nhân bản, không chào cờ Quốc Gia mỗi khi hội họp. Tệ hơn nữa, đôi lúc còn bắt tay phối hợp hoặc bám vào các cơ sở văn hóa đỏ của việt gian cộng sản để trục lợi. Những người còn giữ trên người căn cước tỵ nạn rất buồn khi thấy rằng rất ít hội văn hóa tại hải ngoại công khai ra mặt chống chế độ việt gian cộng sản hoặc tẩy chay những cơ sở văn hóa đỏ mà thành phần cò mồi thường tổ chức nhằm phá rối cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại theo nghị quyết 36 của Hà Nội.

Tóm lại, thành phần cầm viết đứng trong hàng ngũ tranh đấu, tức là những người chấp nhận rủi ro cũng như khó khăn để chọn cho mình con đường đi đến mục đích theo tiếng gọi của lương tâm :

1. Có thể nói đa số người cầm bút không tham vọng chính trị, nếu người nào dấn thân vào công cuộc tranh đấu chung thì cũng là thực hiện một hoài bảo nào đó cho lý tưởng. Ngoài ra họ còn xem việc tranh đấu như một đam mê để viết…nhằm giải tỏa những trăn trở ấp ủ trong lòng từ lâu nay…Họ không cần chỗ ngồi, chức vụ, không cần tạo niềm tin để kiếm phiếu cử tri qua các cuộc bầu cữ và cũng không nghĩ đến kết quả danh vọng và vật chất cho mai sau. Do đó, những người cầm bút không cần nịnh bợ o bế và cũng không sợ mất lòng ai khi viết ra những điều suy nghĩ trong đầu.

2. Chịu thua thiệt về nhiều phương diện. Quan trọng nhất là mất cảm tình và sự tránh né của gia đình, anh em, dòng họ, bạn bè (vì những người nầy sợ dây dưa với những kẻ được việt gian cộng sản gán cho cái tên là ‘cực kỳ phản động’) vì những người nầy sợ gặp rắc rối mỗi khi đi về Việt Nam. Về mặt văn chương, người cần bút tranh đấu sẽ mất phần nào lòng ái mộ của độc giả - nhất là phái nữ và giới trẻ - khi hai giới nầy đang bị ảnh hưởng văn hóa đỏ công sản là tránh đề cập đến hai chữ ‘chính trị’.

3. Trong giới văn học đã khó tránh được chỉ trích ganh tỵ của vài đồng nghiệp, người cầm bút nếu còn vướng thêm vào con đường chính trị thì không khỏi bị các mũi dùi từ nhiều phía, trong đó là những đoàn thể, hội đoàn cũng như cá nhân sẽ công kích mỗi khi có một vấn đề gì có liên quan hay va chạm đến quyền lợi của họ. Nhưng dù phải đối đầu với nhiều trở ngại, một khi đã là người cần bút tranh đấu với chủ trương chống cộng một cách công khai thì không bao giờ chịu buông tay trước hăm dọa của tập đoàn Hà Nội cũng như đánh phá, bôi nhọ của thành phần nằm vùng, hoà giải hoà hợp và các tổ chức cơ quan ngoại vi của tập đoàn việt gian cộng sản.

4. Từ bỏ những thú tiêu khiển cần thiết của tuổi già : Không nghỉ hè, không du lịch, không ngồi quán café, không bạn bè, không ăn nhậu, không tiệc tùng… mà suốt ngày tự giam mình trước máy vi tính, có nghĩa là tự rút ngắn thời gian quý báu của những ngày còn lại, thì những người cần bút tranh đấu nầy bất chấp và thách thức thí mạng với việt gian cộng sản, thì sá gì những lời hăm dọa đánh phá của những người điên khùng, thành phần nằm vùng cũng như hạng vô liêm sỉ giấu mặt đổi tên để đánh phá…

Có thể kết luận, người cầm bút tranh đấu có lý tưởng thì không thể đóng vai con lừa…ngoan ngoãn theo sau bó cỏ. Cũng như không thể đóng vai con ngựa, chỉ biết tuân lệnh dây cương và ngọn roi… Đó là điểm then chốt mà việt gian cộng sản và bè lũ không bao giờ mua chuộc được những người cầm bút chân chính.

Việt gian công sản xếp thành phần cầm bút vào loại nguy hiểm của chế độ. Chúng biết rằng một ngòi bút có thể ví như một binh đoàn trên mặt trận chống cộng sản, do đó, chúng đã công khai ra lệnh cho các tổ chức tình báo, gian điệp, công an, đầu gấu, mafia... phải triệt hạ cho bằng được giới cầm bút chống cộng. Nhưng thành phần tranh đấu nầy, một khi đã đương đầu với cộng sản thì chấp nhận một mất một còn với chúng. Chỉ buồn một điểu là ngay trong hàng ngũ người Việt Tỵ Nạn cộng sản hải ngoại vẫn còn một số người luôn vỗ ngực xưng danh là lính, là vua chống cộng…nhưng lại đi đúng rập theo con đường âm mưu của địch để hãm hại những người cầm bút tranh đấu.

Đồng bào trong nước cũng như người Việt Quốc Gia hải ngoại đang cần nhiều ‘binh đoàn’ cho cuộc chiến giành lại tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc cho người dân. Vậy xin tha thiết kêu gọi những vị cầm bút hãy tham gia vào lực lượng chống cộng bằng chính ngòi viết của mình.

Đinh Lâm Thanh
Paris, 22.4.2011

thunder  
#60 Posted : Sunday, April 24, 2011 2:33:56 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Còn Khí Phách Nào Hơn?


Hôm nay, không biết từ một cảm hứng nào tôi vào paltalk dạo chơi mà đã từ lâu tôi hầu như không còn nghĩ đến.

Tôi dừng lại room Cờ Vàng Và Chính Nghĩa Quốc Gia của nick Áo Nhà Binh và người điều khiển room là nick Ninh Bình.

AoNhaBinh hay Tuấn đã quen với tôi gần 8 năm. Áo có tinh thần chống Cộng rất cao và đang là cư dân ở Thụy Sĩ. Áo thỉnh thoảng gởi thư thăm tôi bằng bưu điện, do đó hai chị em không những gặp nhau nhiều trên paltalk mà lại còn giao thiệp cả ngoài đời.

Lâu lắm gặp lại Áo. Room sinh hoạt dưới sự điều khiển của anh Ninh Bình. Tôi không rõ tên thật của anh Ninh Bình nhưng qua giọng nói và lối trình bày tôi biết anh là một Sĩ Quan của Quân Lực VNCH. Tuy anh khiêm nhường và không thích nhắc lại thời vàng son quá khứ nhưng trong âm hưởng của từng lời nói, anh Ninh Bình cho thấy một thiện chí mê say trên công cuộc kêu gọi giãi thể chế độ Cộng Sản tại Việt Nam . Tiếng nói trên ước mơ thực tế vang vọng trong room Cờ Vàng và Chính Nghĩa Quốc Gia đã làm huyên náo lòng người tham dự trong thế trận lưu vong .

Tiếng nói của op Ninh Bình vẫn tiếp tục từ khung trời Âu. Mic rất rõ ràng không mơ hồ hay mang nhiều echo. Trong tiếng nói dõng dạc của người quân nhân Quân Lực VNCH đã trở về sau mùa tàn chinh chiến và sau thời gian bị đoạ đày trong những lao tù của Việt Cộng.

Chiến tranh VN đã qua trên thời gian của 36 năm, nhưng nhìn cách sinh hoạt trong room Cờ Vàng và Chính Nghĩa Quốc Gia người tham dự vẫn có cảm nghĩ chiến tranh chống Việt gian CS vẫn chưa tàn phai trong lòng người chiến binh cũ. Và, niềm tin giãi phóng đất nước VN ra khỏi ách độc tài CS vẫn còn mới tinh.

Tôi bâng khuâng tự hỏi trong chúng ta còn có ai giữ lại niềm tin ấy hay là họ đã đánh mất trên dọc đường trở lại quê hương qua chiêu bài lừa bịp Đổi Mới của VGCS, để hôm nay họ trở thành những bóng dáng thờ ơ bên vệ đường của dòng xe nhiều traffic, nghe chuyện đất nước mình như ngồi nghe tin thời sự 6 giờ sáng, 11 giờ khuya.

Hôm nay anh Ninh Bình nói đến thời gian bị tù đày trong lao tù CS sau khi chính phủ Saigon bị bức tử. Anh kể đến những đoạn đường gian khổ uất nhục mà quân nhân Quân Lực VNCH phải cam chịu dưới sự cai quản của bọn cai tù VC.

Những người chiến binh cũ năm nào giờ đang chuyển mình trong những cây sậy biết suy tư, nương theo ánh nắng của trời cao để vươn lên bên bờ lau lách hẫm hiu.

Anh Ninh Bình nói: Xin quí vị đừng tưởng vì bị lao tù mà chúng tôi sợ hãi không dám lý luận với bọn VC. Anh kể đến nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong cùng trại tù với anh và tỏ lòng ngưỡng mộ trên cái khí khái của nhà thơ.

Anh nhắc lại những kỹ niệm với thi sĩ Hà Thượng Nhân bằng âm hưởng xót xa chua chát. Anh còn cho biết từ khi ra hải ngoại, gặp lại những bạn tù xưa lòng anh vô cùng rộn rã. Nhưng khi anh gọi đến thăm, nhắc lại đoạn đường tủi nhục năm nào thì anh ngỡ ngàng trên trạng huống com-lê-cà-ra-vát-cuối-tuần-và-gịong-nói-diễn-văn-của-bà-Nữ-Oa-đội-đá-vá-trời đã làm lòng người chiến binh cũ chùng xuống.

Giọng nói không buồn, không chán nãn của một người chiến binh già trên đất nước lưu vong về một trạng huống sinh hoạt không mấy gì làm phấn khởi của Tập Thể Người Việt Tỵ nạn CS tại hải ngoại đã thật sự làm xúc động người nghe và cùng ngậm ngùi cho một giai đoạn vàng thau lẫn lộn.

Rồi giọng anh trở nên cảm xúc khi nhắc đến một người tù ở trại tù Hóc Môn năm nào.

Anh Ninh Bình cho biết khoảng năm 1982 khi anh bị giam ở trại tù Z30K2 (Hàm Tân) thì hình ảnh đau thương của một vị Đại Tá Quân Lực VNCH không những anh mà bất cứ ai bị giam ở trại tù Hóc Môn hay Hàm Tân đều nghe tiếng ông Đại Tá Lê văn Tưng.

Đại tá Tưng tuy bị lao tù đày đoạ, nhưng Đại tá Tưng vẫn luôn luôn "đào mồ cuốc mã" bọn VGCS. Ông chửi chúng từ sáng đến tồi . Cứ đêm đêm cả trại tù nghe tiếng đả đảo bọn CS độc tài khát máu và đả đảo Hồ Chí Minh lẫn trong âm thanh đánh đập dã man của bọn VC. Tiếng phản kháng căm phẫn càng to khi tiếng thọi, tiếng đấm đá càng nặng kí, sau cùng lịm dần khi máu từ miệng từ mũi phọt ra trên tấm thân nhầy nhụa và bê bết máu.

Tuy bị giam trong connex loại thùng sắt khoảng 2 mét dùng để chứa đồ vật vận chuyển, nhưng Đại Tá Tưng vẫn ngày đêm la mắng chửi bới bọn Việt Cộng. Chịu không nỗi cảnh bị chửi mắng của Đại tá Tưng bọn cai tù VC bèn dàn dựng một cuộc thãm sát. Tối hôm đó khi nghe tiếng đạn AK bắn dữ dội vào connex ngoài trại, những người tù cứ tưởng là có tù vượt ngục và họ thầm cầu nguyện cho những người vượt ngục được bình an.

Sáng hôm sau thức dậy, họ mới biết bọn cai tù VC đã nhã AK47 vào connex giam đại tá Tưng. Chúng hí hửng tưởng rằng khi mở connex ra thì Đại Tá Tưng chỉ còn là một cái xác không hồn. Nhưng bọn chúng đã lầm, Đại tá Tưng chỉ bị thương nặng trong khi cái connex be bét những viên đạn thù của AK47 mà bọn VC đã bắn vào.

Khi chúng giả nhân giả nghĩa cho người băng bó vết thương cho Đại tá Tưng thì bị ông ta chửi te tua vào mặt chúng. Cả trại tù âm thầm thương xót Đại tá Tưng. Họ gom góp hết thuốc trụ sinh trong trại và hễ cứ mỗi lần đem thức ăn cho Đại Tá Tưng thì họ bỏ thuốc trụ sinh vào canh cho Đại tá dùng. Gọi là canh nhưng thật ra chỉ là nước với muối. Cũng nhờ tấm lòng của những người đồng cảnh ngộ qua sự gom góp những viên trụ sinh mà Đại tá Tưng chóng khoẻ lai.

Nói về Đại tá Lê văn Tưng thật là kỳ diệu. Người ta bị nhốt vào connex khoảng 30 ngày khi ra khỏi connex thì đi không nỗi. Connex chỉ cao khoảng 2 mét và bọn VC chỉ khoét một lổ như lổ chó để đẩy tù nhân vào. Nếu vào mùa lạnh thì con người sẽ không chịu nỗi với cái giá rét căm và nếu đến mủa nóng thì nóng chịu không nỗi. Ây thế , khi ĐT Tưng bị nhốt vào connex trên 30 ngày. Lúc thả ra, ông vẫn đi đứng chững chạc. Còn một giai thoại rất khí phách của Đại tá Tưng là khi bọn cai quản VC gọi đại tá bằng tên này tên kia thì Đại tá Tưng trả lời:

-" Tôi gọi anh là cán bộ thì anh phải gọi lại tôi là Đại tá chứ không thể gọi tên này hay tên kia. Hiểu chưa?"

Sau này anh Ninh Bình cho biết là không còn gặp lại Đại Tá Lê văn Tưng nữa và cũng không biết ông còn sống hay đã mất.

Năm 1982 chúng tôi cư ngụ tại Richmond Virginia ,có chủ trương một chương trình phát thanh bằng Việt và Anh ngữ. Trong khoảng thời gian này, chúng tôi cũng có nghe một trường hợp tương tự như của Đại Tá Lê văn Tưng. Đó là trường hợp của Đại Uý Nguyễn văn Út bị giam cầm và đánh đập dã man tại Hàm Tân bởi anh cương quyết đã đảo bọn VC tham tàn và tên tội đồ Hồ Chí Minh.

Bài viết về Đại úy Nguyễn văn Út đã được chuyển tãi trong chương trình phát thanh Tiếng Nói từ Quê Hương Bỏ Lại trên đài 1360 AM đã thật sự làm xúc động dân địa phương. Từ đó họ là những người mạnh mẽ hổ trợ cho nghị quyết nhân đạo định cư các tù nhân chính trị vào các quốc gia tự do.

Sau đó chúng tôi được biết các anh em tù nhân chính trị nghe trộm đài phát thanh của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và từ đó họ nắm được tin tức được chấp nhận cho đi định cư tại nước ngoài.

Tiếng của op Ninh Bình chấm dứt nhưng âm vang vừa đau xót, vừa căm thù bọn VGCS hừng hực trong room.

Trong câu chuyện, op Ninh Bình cho biết khi kẽ thắng hành hạ kẽ thua là chuyện bình thường. Nhưng cái không bình thường đó chính là sự cư xử tàn bạo phi nhân còn hơn loài dã thú của bọn cộng sản VN mà chắc chắn trong lịch sử tù đày của nhân loại không có một nước nào tra tấn tù nhân một cách man rợ như bọn Việt gian cộng sản .

30 tháng 4 lại trở về trên nỗi buồn tha hương uất nghẹn hờn căm. Chúng tôi chưa bao giờ nghi vấn về chiến tranh VN vì một điều rõ như ban ngày là chính Hồ Chi Minh vì mộng bá chủ xâm lăng của Nga sô mà đưa dân tộc VN vào một cuộc chiến tranh bằng những thủ đoạn gian manh và bịp bợm.

Cuộc chiến đã tàn và một số các anh quân nhân của Quân Lực VNCH đã hiên ngang nằm xuống. Các anh đã từ lòng dân tộc bước ra để chiến đấu cho quê hương xứ sở mà không nhân danh một chủ nghĩa nào. một cá nhân hay đảng phái nào. Nay, xương thịt của các anh đã hoà tan trong lòng đất mẹ tạo nên hồn thiêng sông núi VN.

Hôm nay trên những giòng hồi tưởng đến những quân nhân của Quân Lực VNCH đã bỏ mình trong những trại tù của csVn đã làm chúng tôi bồi hồi xúc động. Tên tuổi của các anh cho dù người dân không nhớ hết nhưng sự an cư lạc nghiệp của họ ở hậu phương năm nào chắc chắn họ sẽ đời đời nhớ đến các anh.

Sau tiếng nói của anh Ninh Bình, room tưởng chừng như chìm trong những tiếng kèn đồng tiễn đưa người quá cố. Âm thanh vang vọng của tiếng kèn đồng nghe não nuột như réo rắc ngày tháng cũ.Trong phút chốc hoài niệm nghe chừng như tiếng trống quân hành. Từng tiếng trống bập bùng trong một thoáng những âm thanh rào rào cho ký ức bật mở trong buổi diễn hành trọn vẹn hình ảnh oai hung của Quân Nhân Quân Lực VNCH năm nào.

Xin hồn thiêng của các anh linh tử sĩ VNCH hãy phù hộ cho dân tộc VN thoát khỏi ách hung tàn của bọn VGCS. Các anh đã làm một cuộc lên đường để qui hồi nhập quốc mà trong đó thịt, xương, máu và nước mắt của các anh là những ngọn suối nguồn đang chảy vào nhịp sống của những người tha hương đang ước ao trở về quê cũ trên quyết tâm đấu tranh giãi thể chế độ cộng sản tại Việt Nam.

Trong ngày Quốc Hận hôm nay, trước khói nhang vọng tưởng của hàng hàng lớp lớp thế hệ trước và sau. Chúng tôi xin thắp lên một nén hương tưởng niệm. Trước làn khói lung linh mờ xám...Chúng tôi kính cẩn ghi nhớ công ơn của các anh hùng Quân Nhân Quân Lực VNCH đã Vị Quốc Vong Thân và xin cầu nguyện cho các anh được yên nghĩ bình an trên cõi vĩnh hằng….

Tôn Nữ Hoàng Hoa
Mùa Quốc hận 30/4/2011

Users browsing this topic
Guest (4)
102 Pages<12345>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.