Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

101 Pages«<9899100101>
QUÊ HƯƠNG & DÂN TỘC
Duy An
#2032 Posted : Friday, March 11, 2016 3:29:07 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Buồn vui cùng những “thùng quà Mỹ” xa xưa



Ngọc Lan/NV

WESTMINSTER, Calif. (NV) - “Thùng quà Mỹ” một thời là niềm vui, là kỷ niệm, là nhung nhớ, là nụ cười và cũng là nước mắt, mồ hôi của người tị nạn bên này lẫn người thân yêu bên kia.

“Thùng quà Mỹ” của những năm 80, 90 lại càng là một “cứu cánh” để người ở lại nuôi thêm những ước mơ tính chuyện “tìm đường đi”, tìm đường sống.

Những mẫu chuyện nhỏ dưới đây chính là ký ức một thời của nhiều người từng viết thư xin đồ Mỹ, từng đi lãnh đồ Mỹ và cũng từng đi gửi đồ Mỹ về quê nhà. Ký ức đó, dù bao thập niên trôi qua, vẫn mãi là những dấu ấn đậm nét yêu thương cho một dân tộc luôn hứng chịu nhiều nghiệt ngã này.



Những thùng quà từ Mỹ chuẩn bị gửi về Việt Nam tại một công ty 'cargo.' (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Kỷ niệm viết thư xin quà Mỹ

Anh La Quốc Tâm, hiện là kỹ sư cao cấp của hãng Amway, nhớ lại:

“Mấy anh tôi đi vượt biên tới Mỹ chừng 1, 2 năm, một hôm có người đưa thư báo tin 'đi Sài Gòn lãnh đồ từ Mỹ.' Chưa bao giờ tôi thấy cả nhà năm đứa nhỏ cùng reo mừng, nhưng người mừng nhất chắc chắn là mẹ tôi vì thùng quà này sẽ giúp gia đình tôi khỏi cảnh cơ cực.

Hôm đó một mình mẹ từ Cần Thơ đi Sài Gòn tuyến xe tài nhất sáng sớm để nhận quà. Cả ngày mấy anh em tôi chờ mẹ về để coi thùng hàng từ Mỹ. Nhưng đứa nào cũng bất ngờ vì... mẹ về tay không! Những ổ bánh mì Sài Gòn to lớn với bồ câu quay mẹ mua ở bến phà Mỹ Thuận cùng trái cây, những cao lương mỹ vị của chúng tôi thời ấy, đã không làm đám con nít tụi tôi không quan tâm, tụi tôi chỉ mong thấy quà từ Mỹ mà thôi. Nhưng mẹ chỉ nói ngắn gọn, “Mẹ bán rồi.”

Sau này, mẹ kể lại cho biết thùng quà đó anh tôi được người ta chỉ dẫn nên gởi cái gì có thể bán được giá ở Việt Nam, nên thùng quà đó toàn vải và thuốc Tây.

Tôi không biết anh tôi mua hàng tốn bao nhiêu tiền và gởi tốn bao nhiêu tiền, chỉ biết rằng thùng quà đó là cứu cánh cho cả gia đình tôi, là cái vốn để mẹ tui đi buôn bán để rồi dành dụm và lo cho những chuyến vượt biên kế tiếp của tụi tôi.

Tôi nhớ khi cuộc sống có vẻ khá hơn, một lần mẹ kêu mỗi đứa viết vài hàng hỏi thăm anh tôi. Cùng một lá thư, đứa lớn viết trước, rồi chuyền xuống cho đứa kế tiếp, mỗi đứa vài dòng. Tôi thấy ai cũng hỏi thăm thì ít mà xin quà thì nhiều. Sợ mất phần, tôi cũng ráng chu mõ nắn nót viết xin quà. Lúc đó đang là con trai mới lớn, tôi thích đeo đồng hồ. Tôi xin anh cho tôi cái đồng hồ để lấy le. Rồi như thấy còn ít quá, tôi xin thêm cái quần jeans. Mà chả lẽ bận quần mà không bận áo, thế là tôi nhét vô thêm vài chữ xin luôn cái áo thun. (Cái thư đó mà giờ anh đem ra đọc cho cả nhà, trước mặt vợ và con tôi thì có nước tôi chung xuống lỗ trốn quá!)

Thư gửi đi có vài ngày, mà mỗi buổi đi học về là tôi cứ ngóng ông đưa thư còn hơn là trông chờ thư tình.

Đến ngày nhận được giấy báo đi lãnh đồ ở Sài Gòn, đêm đó tơi cứ trằn trọc không ngủ được (không phải để lo vận nước) mà chỉ vì không biết anh có thương tôi mà gởi về những thứ tôi xin.

Khi thùng quà được mẹ tôi và người cậu đi Sài Gòn lãnh và được cẩn thận khiêng vô nhà, cả nhà xúm xít vây quanh chờ đón. Vừa mở thùng ra, chu choa quà Mỹ nó thơm gì đâu. Không có đồng hồ, không có áo thun, nhưng tôi được cái quần jeans, mừng vô hạn! Lần đầu được mặc cái quần jeans của Mỹ, tôi thấy nó oai gì đâu!”

Kỷ niệm đi nhận đồ Mỹ

Cô Trần Nguyễn Kim Chi, một kỹ sư hiện sống ở Sài Gòn, cho biết:

“Thùng quà Mỹ đầu tiên mà mà và tôi đi nhận có trọng lượng khoảng 1.2 kg (tức khoảng 3 pounds). Đêm đó tôi trằn trọc suốt, không ngủ được vì nôn nao ngày mai đi lãnh hàng từ Mỹ. 5 giờ sáng, hai má con đã đi xếp hàng ở Bưu điện Chợ Lớn. Thùng hàng lãnh ra gồm một lon sữa ca cao, và 2, 3 cái áo vải xoa. Tôi nhớ lúc đó nhân viên Bưu điện hay Hải quan kiểm tra đồ rất kỹ. Họ cứ cầm cái lon ca cao lắc lên lắc xuống, nhưng không phát hiện gì.

Thế nhưng về đến nhà, tôi cầm cái lon ca cao và nhận ra nó bất thường. Thì ra là có một cái la bàn được giấu trong đó. Những người bạn đi vượt biên trước đã tìm cách gửi nó cho cậu tôi.

Cậu tôi đi vượt biên đến lần thứ bảy mới đến Thái Lan, sau khi trải qua hai lần bị cướp biển tàn bạo. Những ngày đầu qua Mỹ với hai bàn tay trắng, cậu vừa đi học vừa đi phụ rửa chén, lại dành dụm gửi tiền mua quà gửi về Việt Nam lo cho những người thân còn lại...”


Bà Châu Hà ở Oregon cũng bâng khuâng nhớ lại kỷ niệm ngày đầu đi lãnh quà Mỹ:

“Trong xóm có ông đưa thư, mỗi khi nhà nào có giấy báo nhận quà Mỹ là ông to miệng la lớn như mừng dùm, nên ai cũng biết nhà trong góc cách nhà tôi hai căn có quà nhiều nhất. Mỗi lần họ khệ nệ ôm thùng quà về là cả xóm xôn xao, ồn ào vui cùng. Tôi nhớ nhất là những viên kẹo chocalate M&M nhiều màu được nhà đó chia cho.

Mỗi lần như vậy, ba mẹ tôi lại thở dài như có chút tủi thân vì nhà mình có con gái lớn theo chồng đi từ 1975, mà sao im re không có thùng quà nào hết.

Nhưng một năm sau, nhà tôi cũng có giấy nhận quà Mỹ từ chị tôi gửi về. Tôi được đi cùng ba ra bưu điện lãnh quà.

Đứng ngoài cửa lưới nộp giấy tờ, ba tôi thở dốc hồi hộp nhìn các nhân viên bưu điện bê thùng quà có tên của ba, rồi đổ tung thùng ra cái bàn để khám. Tôi nhìn vào chỉ mong làm sao khám lẹ lẹ để được ôm quà Mỹ về.

Không biết có phải lúc đó thuốc lá bị cấm hay không mà họ tịch thu cây thuốc lá ba số 555 màu đỏ. Nhớ mãi khuôn mặt buồn của ba lúc đó...”

Chị Trần Thị Hoàng, một cư dân Quận Cam, hồi tưởng:

“Quà Mỹ tôi nhận đầu tiên từ chị tôi là không phải 'thùng' mà là 'gói'. Gói nhỏ gồm một gói bột ngọt và một cây thuốc lá. Bột ngọt để lại dùng, còn thuốc lá thì bán. Trong nhà còn lại mấy đứa thì được mấy gói như thế. Vì chị tôi nói lần đầu gởi về Việt Nam, không biết có tới được tay người nhận hay không, nên chị không dám gởi thùng mà chia thành từng gói nhỏ.

Thời đó bột ngọt là mặt hàng hiếm nên nhận được mừng lắm.

Nhớ 'thùng' quà đầu tiên, tôi và người chị phải thức lúc 3 giờ sáng đón xe ra Lăng Cha Cả để xếp hàng vào phi trường Tân Sơn Nhất lãnh. Cứ tưởng mình đi sớm, không ngờ đến nơi thấy cả rừng người đến sớm hơn. Thôi thì rồng rắn để được thấy 'quà Mỹ.'

Vào được phi trường 'ôm' được cái thùng, rồi lại phải ngồi chờ tới phiên mình 'được' khui thùng để hải quan kiểm tra. Khi nghe các anh kiểm tra nói rất nhẹ nhàng rằng 'Ồ! Chai thuốc (trụ sinh) nầy tốt lắm', thì chị tôi bảo 'Nếu anh muốn thì lấy đi.' Các anh không ngần ngại 'Cám ơn'. Vậy là 'thùng' quà tôi được vội vàng chất lại, và thủ tục được làm với ba từ 'Nhanh-Gọn-Lẹ.'

Chị em tôi rời khỏi nơi nhận hàng, lên xe của phi trường đưa ra nơi buổi sáng xếp hàng thì mặt trời đã tắt nắng. Vất vả cả ngày, niềm vui buổi tối của chúng tôi được là 'ngắm' hàng Mỹ, dù biết rằng sáng mai mọi thứ sẽ lần lượt đem đi bán để thay thế cho nhu cầu cuộc sống gia đình.”

Cô Vân Nguyễn, một lập trình viên máy tính ở Arizona, kể:

“Thùng quà đầu tiên gia đình tôi nhận được từ người thân ở nước ngoài gởi về không phải là quà Mỹ, mà là quà Pháp. Trong thùng quà toàn là thuốc, hộp lớn hộp nhỏ hộp to hộp bé. Khi thùng thuốc về tới nhà thì cũng có rất nhiều người về theo để mua thuốc, họ ngồi dưới đất, nói nhiều cười ít, thì thầm thầm thì.

Trong thùng quà dường như còn có hai cuộn phim màu, cả nhà bàn tán sẽ chụp hình chung bao nhiêu tấm, chụp riêng mỗi người bao nhiêu tấm. Cái gì cũng ít ỏi hiếm hoi cho nên thấy quý vô cùng.

Thùng quà thứ hai là do anh tôi mang từ Mỹ về thăm nhà hồi năm 91. Đó là lần đầu tiên tôi được ăn kẹo M&M, viên tròn tròn, đủ màu đủ sắc, có đậu phộng bên trong. Nhà đông anh em nên mỗi người chỉ được chia cho một nắm. Nhớ cái cảm giác giấu vài viên, gói cẩn thận, đem chia cho bạn. Nhớ cũng từ thùng quà này, anh tôi cho tôi cái áo thun có hai hàng chữ ‘Don’t worrry, Be happy!’. Đó là lần đầu tiên được mặc áo thun Mỹ, áo rộng thùng thình, mặc áo đóng thùng, đi theo anh ra ngoài Sài gòn chụp hình, đẹp lé mắt!”

Kỷ niệm đi gửi quà Mỹ

Một độc giả có nick name Trùm Sò, hiện sống ở San Jose, cũng mênh mang nhớ lại thưở chắt chiu dành dụm gửi quà về cho gia đình còn ở quê nhà:

“Nhớ mỗi lần cuối tuần tới tiệm AA Mini Fabrics bên hông Phước Lộc Thọ để đóng thùng quà gởi về Việt Nam là mỗi lần cháy túi.

Hồi còn đi học, làm 'work study,' lúc nào có vài đồng rủng rẻng rủng rỉnh là chạy tới tiệm nầy gởi quà. Bà chủ 'tư vấn' món nào bán được giá ở Việt Nam, món nào cần cho gia đình xài, mình chỉ việc 'ừ' là họ bỏ vô thùng. Lần nào cũng vậy, thấy thùng người ta bự tổ chảng đầy ắp mà thùng mình thì nhỏ xíu lại còn lưng lưng, bà chủ biểu bỏ hàng thêm cho đầy, mình cũng ái ngại thùng nhỏ nên gật đầu và lần nào cũng 'vung tay quá trán,' thủng túi, phải chạy ra ngân hàng gần đó lấy thêm tiền để trả.

Gởi xong thì thấy túi nhẹ, đầu nhẹ, mà người cũng nhẹ. Túi nhẹ là vì 'mậu lúi'. Đầu nhẹ vì làm xong bổn phận làm con. Người nhẹ vì dạ dày trống rỗng. Còn ít tiền lẻ, đi ăn tô phở cầm hơi, rồi ghé qua tiệm sách bên kia đường đọc lóm vài trang, nghe ké vài bản nhạc mà không còn tiền để mua mặc dầu trước đó định mua vài cuốn sách, vài CD nhạc thưởng thức.”

Cô Jennifer Nguyễn ở Garden Grove chia sẻ:

“Khi tôi định cư ở Mỹ, mỗi lần chị Hai tôi đi gửi quà về Việt Nam là luôn kêu tôi đi theo phụ giúp. Nơi gửi giúp ý kiến gửi gì về bán được, cái nào thông dụng ở Việt Nam. Thường quà gửi về cho gia đình là thuốc tây, quần áo, vải vóc…

Chị tôi là người đã hy sinh quá nhiều cho gia đình, “lén” chồng con để gửi quà về giúp đỡ ba tôi nuôi các em. Thời đó tình trạng 'giúp gia đình em thì cũng phải giúp gia đình anh' luôn là vấn đề đau đầu của nhiều gia đình di tản năm 75. Ai cũng muốn gửi cho gia đình mình, nhưng tài chánh lại có hạn nên muốn gửi cho gia đình đôi khi phải giấu chồng giấu vợ.

Do được người khác bày mà dần dần chị em tôi biết cách giấu tiền trong thùng quà gửi về bằng cách vo tròn tờ $100 cho thật nhỏ, xong lấy băng keo dán kín và mở ống thuốc Bengay đút vào đó. Tiền bỏ thêm này là để ba tôi có tiền để đóng thuế nhận thùng quà kế tiếp. Sau khi đi gửi hàng về thì lập tức phải gửi thư để báo cho gia đình ở Việt Nam tìm những món đồ 'đặc biệt' đó, dĩ nhiên là phải nói bóng nói gió để chỉ có mình và gia đình biết thôi.”

Chị Bình Trịnh, hiện đang sống tại New York, bồi hồi:

“Ngày thứ ba khi vừa đặt chân tới Mỹ, tôi được bạn của người bà con dắt đi interview và bắt đầu làm công trên đất Mỹ này cho đến ngày hôm nay. Nhớ lúc đó ở nhà 'share' với bạn, nấu cơm để dành ăn suốt ngày, ăn sáng cũng ăn cơm luôn, nên chỉ vài tháng sau là gởi một thùng đồ to đùng về nhà. Bên tôi không có ai chỉ bảo nên mỗi cuối tuần đều đi mua nào là thuốc, đồ dùng trong nhà, búp bê cho nhỏ cháu, quần áo giày dép cho mấy đứa em, ai cũng có nhiều món hết.

Nhớ lúc sắp xếp đồ vô thùng chuẩn bị mang đi gửi thì nước mắt đoanh tròng, tôi biết mình gởi hết cả niềm thương yêu vào đó…” (N.L)
Duy An
#2033 Posted : Wednesday, March 23, 2016 4:44:45 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Thăm bà quả phụ 'Người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương'




* Mong một lần sang Hạ Lào, nơi chồng hy sinh



Việt Hùng/Người Việt


SÀI GÒN (NV) - Năm nay, 2016, là đúng 45 năm ngày mất của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương (1971-2016), Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðại Úy Ðương hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971, và được mọi người biết đến như một huyền thoại qua tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, “Anh Không Chết Ðâu Anh.” Phóng viên Việt Hùng của Người Việt đến thăm bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị Mai, tại tư gia ở Quận 11, Sài Gòn và được bà dành cho cuộc phỏng vấn dưới đây.




Bà Trần Thị Mai bên di ảnh chồng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Việt Hùng (NV): Xin bà cho biết ký ức về thời gian Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương hy sinh ở mặt trận Hạ Lào?

Bà Trần Thị Mai (TTM): Tôi còn nhớ những ngày đó, nó rơi vào những ngày cuối Tháng Hai Dương Lịch, 1971. Lúc đó tôi lên phòng hậu cứ để lãnh lương của anh Ðương, thì được một người lính nhảy dù, buồn bã nói với tôi là “một tuần nữa chắc chị có khăn mới đeo.” Lúc đó tôi không biết khái niệm “khăn mới” là gì hết.

Một tuần sau, tôi nhận được giấy báo mất tích của anh Ðương tại đồi 31, căn cứ Hạ Lào (tức vào sâu trong vùng biên giới nước Lào khoảng 25km). Lúc đó tôi vẫn còn hy vọng. Tôi cầu nguyện và xin lá xâm trên chùa, thì được thầy cho biết là “người này đang gặp đại nạn.” Tuy vậy, tôi vẫn còn rất tin tưởng là chồng mình còn sống.

Thế nhưng anh Ðương, ảnh rất là “linh.” Sau đó khoảng 3 ngày thì tôi nằm ngủ mơ, trong giấc mơ, tôi thấy anh Ðương về nhà trong tình trạng bị thương ở chân, vẫn còn mặc bộ đồ lính và nói với tôi là “lần này anh đi không trở lại được, em ở nhà ráng nuôi các con khôn lớn. Anh vẫn luôn che chở cho mẹ con em.” Tôi òa khóc! Giật mình tỉnh dậy thì không thấy ai bên mình hết. Lúc đó thì tôi tin là anh Ðương đã mất.

Sau đó đúng 3 ngày thì tôi nhận được giấy báo tử của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đề ngày mất là 24 Tháng Hai, 1971, nhằm 29 Tháng Giêng, năm Tân Hợi. Bởi vậy gia đình tôi vẫn luôn cúng giỗ cho anh Ðương vào ngày 29 tháng Giêng âm lịch. Năm nay là nhằm ngày 7 Tháng Ba Dương Lịch.




Với bà Mai, “anh Ðương vẫn mãi sống trong tim mình.” (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


NV: Về thông tin những giây phút cuối đời của Ðại Úy Ðương, bà có nắm được gì không?

TTM: Lần cuối anh Ðương ở nhà là vào Mồng Một Tết Tân Hợi 1971. Qua ngày Mồng Hai anh được lệnh phải vào gấp trong trại, và anh gọi điện về là sẽ đi chiến dịch quan trọng, nên mẹ con ở nhà ăn tết vui vẻ. Sang Mồng Ba thì toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù đã âm thầm di chuyển bằng không vận từ các căn cứ gần Sài Gòn ra Ðông Hà, Quảng Trị.

Lần lượt các đơn vị Dù đã được không tải đến những địa điểm ấn định từ trước, phối hợp với các đơn vị khác, thực hiện cuộc hành quân mang tên là “Hành Quân Lam Sơn 719” nhằm tiến quân đánh thẳng vào các căn cứ tiếp vận quan trọng của Cộng Sản ở đường mòn Hồ Chí Minh, vùng Hạ Lào (tức là vượt biên 25 km qua lãnh thổ Lào). Con số 719 là gồm 71 là năm 1971 và số 9 là Quốc Lộ 9, con đường huyết mạch để chuyển quân trong chiến dịch này. Vì vậy có tên gọi “Hành Quân Lam Sơn 719.”

Sau này khi tôi nghe các anh lính cũng là lính Nhảy Dù trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719 kể lại thì lúc giáp chiến với quân đôi Bắc Việt là vào 19 giờ tối ngày 24 Tháng Hai, 1971. Cả pháo đội 3 của anh Ðương đều bị trúng đạn, đường tiếp viện bị cắt, biết không thể thoát, anh Ðương ra lệnh cho các anh em tuyến dưới ai tháo chạy được thì cứ chạy. Còn anh Ðương vẫn ở lại với một chân bị thương rất nặng, sau đó anh tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn vào đầu mình.

Qua hôm sau là ngày 25 Tháng Hai, 1971, cả căn cứ 31 thuộc vùng Hạ Lào đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt. Rất nhiều người lính VNCH đã bỏ mạng nơi đây... (khóc)

NV: Rồi sau năm 1975 cuộc sống gia đình bà ra sao?

TTM: Từ năm 1971 đến 1975 thì tôi vẫn còn lương của chính quyền VNCH, nên tuy một mình, tôi vẫn đủ nuôi 4 đứa con (3 trai 1 gái). Tuy nhiên sau năm 1975 thì cuộc sống gia đình tôi bắt đầu gặp rất nhiều khó khăn. Ðầu tiên là từ phía chính quyền CSVN, thời gian đầu họ “kiểm tra hộ khẩu” nhà tôi liên tục. Có nhiều đêm tôi không dám ở nhà vì sợ cảm giác “gõ cửa lúc nửa đêm.”

Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng. Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ hít phải mùi cao su quá nhiều và ăn uống kham khổ nên đổ bệnh.





Nguyễn Viết Xa, con trai cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, bên bàn thờ thân phụ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Ðứa con trai út đang sống với tôi là Nguyễn Viết Xa, năm nay đã 47 tuổi, lúc bố mất, nó mới có 2 tuổi à. Hiện nay nó đang làm nghề chạy xe ôm. Còn đứa con gái thì lấy chồng ở bên phía nhà chồng.

Bản thân tôi năm nay đã bước sang tuổi 76, bệnh tật đầy mình, một con mắt đã mù hẳn vì nhà sập trong quá khứ. Hiện nay căn nhà tôi đang ở là của bố mẹ chồng (tức bố mẹ anh Ðương).

NV: Với tư cách là vợ người anh hùng đã hy sinh vì sự bình yên của miền Nam, bà có mong muốn điều gì?

TTM: Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng. Từ ngày anh ấy mất cho đến giờ, tôi chưa một lần được sang vùng đất đó, vì nhiều lý do, trong đó vì không có kinh phí và người dẫn đường, cùng với những bộn bề của cuộc sống làm tôi vẫn chưa thực hiện được mong muốn của mình.

NV: Với những thăng trầm của cuộc sống, điều gì khiến bà cảm thấy hối tiếc nhất, và tự hào nhất?

TTM: Ðiều tôi hối tiếc là chưa nuôi dạy con được tốt. Bốn đứa con không đứa nào được học hành đàng hoàng. Hai đứa đầu thì đã mất, đứa con gái lấy chồng thì cũng tạm ổn, nhưng thằng con trai út thì vẫn phải hành nghề xe ôm kiếm sống qua ngày. Tôi có lỗi với anh Ðương về điều này (khóc).

Còn điều tôi tự hào nhất thì chắc chắn là về anh Ðương. Tôi tự hào khi có được người chồng anh dũng như vậy. Bản thân tôi không “đi bước nữa” cũng vì lý do này. Với tôi anh Ðương vẫn luôn là người anh hùng trong tim tôi!

Cho đến bây giờ, lâu lâu tôi vẫn mở bản nhạc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để nghe. Tôi thuộc làu từng lời bài hát đó, nhưng vẫn cứ thích nghe đi nghe lại và ngồi hát một mình vu vơ (cười).

NV: Cảm ơn bà đã dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Xin chúc bà được nhiều sức khỏe và mong bà sớm thực hiện được ước muốn của mình là được sang vùng Hạ Lào để nhìn thấy nơi Ðại Úy Ðương đã anh dũng hy sinh. Biết đâu điều kỳ diệu sẽ đến, khi bà tìm được xương cốt của cố đại úy.

TTM: Cảm ơn Người Việt rất nhiều. Xin chúc độc giả quý báo một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.



Anh Không Chết Ðâu Anh

Tác giả: Trần Thiện Thanh

Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Ðương
Tôi vẫn thấy đêm đêm, một bóng dù sáng trên đồi máu
Nghe trong đêm kêu gào, từng tiếng súng pháo đếm mau
Và tiếng súng tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi

Anh, anh không chết đâu em, anh chỉ về với mẹ mong con
Anh vẫn sống thênh thang, trong lòng muôn người biết thương đời lính
Trong tim cô sinh viên hay buồn thường nhắc nhở những chiến công
Chuyện nước mắt ướt sân trường đại học chuyện anh riêng anh riêng anh

Ôi đất mát trên đồi xanh, tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Ðâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia, lẻ loi tiếng súng anh nhiệm màu
Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh

Không, anh không, anh không chết đâu em, anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua
Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ
Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân
Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh...
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2034 Posted : Wednesday, March 23, 2016 4:48:54 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Con trai ‘người anh hùng tên Ðương’ chạy xe ôm ở Sài Gòn


Việt Hùng/Người Việt


Lời Tòa Soạn: Sau khi báo Người Việt đăng bài “Thăm bà quả phụ “Người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương”,” tức cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực VNCH, hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971, rất nhiều độc giả đã liên lạc với tòa soạn bày tỏ sự quan tâm thăm hỏi và giúp đỡ tới gia đình bà Trần Thị Mai. Ðể độc giả hiểu rõ hơn về hoàn cảnh hiện tại của gia đình, phóng viên Việt Hùng tìm hiểu công việc chạy xe ôm của anh Nguyễn Viết Xa, người con trai út của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.

***


SÀI GÒN (NV) - Ở Sài Gòn, nếu có dịp đi ngang qua ngã tư Dương Tử Giang-Nguyễn Chí Thanh, phường 4 quận 11, có thể chúng ta sẽ bắt gặp một người đàn ông có nét da ngăm đen, cao to và hiền lành, hành nghề lái xe ôm. Ít ai biết người đàn ông có cái tên Nguyễn Viết Xa ấy lại là con trai út của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, “Người anh hùng Mũ Ðỏ,” nhân vật chính trong ca khúc “Anh không chết đâu anh” của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.




Anh Nguyễn Viết Xa bắt đầu một cuốc xe chở khách trên chiếc xe đã quá cũ của mình. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


*Ðời xe ôm vất vả

Mười hai giờ trưa ngày 15 tháng 3 năm 2016, chúng tôi ngồi ở một quán cà phê cóc ven đường Nguyễn Chí Thanh, quan sát bác tài xế xe ôm “đặc biệt” này. Khi không có khách, anh dựng chân chống đứng xe lên, rồi ngồi lên yên xe quan sát từng người đi đường qua lại.

Thấy một người trẻ đi bộ ngang qua, anh đứng xuống đất, giơ tay vẫy: “Xe ôm nhé! Về đâu anh chở, giá phải chăng thôi?” - “Cảm ơn. Em có bạn đến đón rồi,” - người bạn trẻ trả lời. Anh đành ngồi lên lại yên xe, chờ cơ hội khác.

Tôi đưa ly cà phê đến, ngồi bắt chuyện với anh. Có người trò chuyện, anh dốc bầu tâm sự: “Bây giờ taxi nhiều, giá cũng khá bình dân, khách đi “mưa không đến mặt, nắng chẳng tới đầu,’ nên cánh xe ôm tụi anh ế lắm. May thì kiếm được dăm, ba chục nghìn đồng mỗi ngày. Nhưng có không ít hôm ‘lỗ’ cả tiền xăng.”

“Nói thật với em, không nghề ngỗng gì, mới chạy xe ôm chứ đứng phơi mặt ra đường hết ngày này qua ngày khác, hết năm nọ sang năm kia, nắng mưa không cần biết, khá sao được?” Ðang chuyện vui, thấy có khách đến hỏi, anh Xa chào tôi rồi cùng khách, rú ga cho xe chuyển bánh.

Chiếc xe Dream “Made in China” cũ nát từ từ lăn bánh. Khách hàng là một người đàn ông đứng tuổi, dáng vẻ khắc khổ, hỏi ra mới biết là người dân ở quê lên Sài Gòn khám bệnh. Anh Xa chở khách tới bệnh viện Chợ Rẫy, xuống xe anh lấy 10,000 đồng (gần 50 xu Mỹ) rồi nở nụ cười, “chúc anh mau lành bệnh nhé!”

Quay xe về chỗ cũ, lần này tôi có dịp được quan sát “cần câu cơm” của anh một cách tỉ mỉ hơn. Phải nói là chiếc xe quá cũ, đèn xi nhan phía trước đã bị bể. Anh Xa cho biết: “Anh mua xe này cũng được 10 năm rồi. Hồi đó có người ở Úc gửi cho mẹ anh 200 đô la, anh mới bán chiếc Honda cup 50cc đời cũ, để chuyển sang xe này. Tuy là của Trung Quốc, nhưng phân khối cũng được 100cc.”

Với 20 năm trong nghề chạy xe ôm, anh Xa cho hay: “Nếu là khách lạ bảo chở đi xa, nếu thấy khách có vẻ hiền lành thì mới nhận lời. Nếu mặt mũi bặm trợn là phải từ chối khéo. Còn nếu là khách quen, đi xa như về Ðồng Nai, Vĩnh Long hay Bình Dương... thì luôn sẵn lòng.”

Trong những ngày chạy xe, anh Xa cũng đã gặp không ít những chuyện khó lường. Anh kể: “Ba năm trước, tôi chở một đàn ông khoảng 50 tuổi, nhìn vẻ bề ngoài thấy mặt mũi hiền lành, đi Tây Ninh. Ðến đoạn bãi tha ma vắng vẻ, anh này bảo chở vào tận bên trong rồi mới trả tiền. Thấy vậy, tôi vờ dừng xe mua nước rồi hỏi người dân xung quanh thì họ bảo đừng vào, vì nhiều vụ xe ôm bị cướp đã xảy ra ở đó. Nghe vậy, tôi thấy rợn cả người, quay ra đòi tiền khách, nhưng anh ta không trả mà đi thẳng. Tôi đành ngậm ngùi về.”

“Làm xe ôm tuy có vất vả, nguy hiểm, nhưng mỗi ngày có thể kiếm được 100 ngàn đồng (khoảng 5 đô la Mỹ) sau khi đã trừ tiền xăng xe, ăn uống. Còn những hôm trời mưa, không có nhiều khách, kiếm được vài chục ngàn cũng cảm thấy vui,” anh Xa cho biết.




Anh Nguyễn Viết Xa khi đậu xe ở ngã tư Dương Tử Giang-Nguyễn Chí Thanh chờ đón khách. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Với những người làm nghề xe ôm như anh Xa, một ngày mới trôi qua, nhưng nỗi lo cơm áo, gạo tiền vẫn còn đó. Mặc sương gió đêm đông, mặc cho cái nắng gay gắt của mùa hè, họ vẫn cần mẫn bám “bến,” vẫn chạy xe trên những đường phố quen thuộc để kiếm miếng cơm, manh áo...

*Tự hào về người cha anh hùng quá cố

Gian nan là thế, nhưng khi nhắc đến người cha của mình, ánh mắt anh sáng hẳn lên, khuôn mặt hởn hở và anh kể: “Lúc cha anh mất, anh chưa đầy 2 tuổi. Cái tuổi chưa hiểu được sự mất mát khi không có cha là gì?”

Lớn lên đi học, thấy bạn bè ai cũng được có ba đến đón khi tan trường. Anh mới bắt đầu thấy “có sự khác biệt.” Lúc đó tôi có hỏi mẹ tôi thì chỉ được mẹ bảo là “cha đi công tác xa chưa về, nên con cố gắng chăm ngoan, học giỏi thì lúc cha về mới có quà.”

Ngày tháng tuổi thơ cứ thế trôi qua. Bốn anh em chúng tôi chở nhau đi học. Mẹ tôi lúc đó bán hàng nhỏ ở chợ chồm hổm hỏm gần nhà. Nhưng sau này khu chợ này cũng bị chính quyền dẹp không cho bán, vì lấn chiếm lòng lề đường.

Lúc tôi lên 15 tuổi, mẹ tôi mới kể sự thật về ba tôi. Lúc đó trong lòng tôi đã bắt đầu cháy lên một niềm tự hào về cha mình. Qua thời gian sau, được nghe những người lính Nhảy Dù kể về cha tôi, tôi mới biết được “cha tôi là một anh hùng.”




Anh Nguyễn Viết Xa thắp hương trên bàn thờ của cố Đại uý Đương trong ngày giỗ cha. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Với khuôn mặt chùng xuống, nét mặt buồn vơi đi như muốn trào ra nước mắt, anh Xa tiếp lời: “Nhưng thời thế nó vậy em à. Là một người lính chết ngoài xa trường, thì âu cũng là chuyện thường. Cái anh đang lo và thương nhất là mẹ anh.”

“Ngày tụi anh còn bé, mẹ anh làm đủ thứ nghề, từ buôn bán nhỏ lẻ ở chợ, rồi sang bưng bê phục vụ quán ăn. Ban ngày đi làm, ban đêm về còn phải lo những công việc như nấu ăn, giặt áo quần và dạy chúng tôi học bài.”

“Anh có mong muốn điều gì ở hiện tại?” Anh Xa cho biết: “Anh đã li dị vợ từ lâu rồi, lại không có con nên chỉ sống với mẹ mà thôi. Bây giờ mẹ cũng đã lớn tuổi, mà anh suốt ngày cứ rong ruổi ngoài đường thì thấy không yên lòng. Bởi vậy nếu có chút vốn thì anh sẽ mở một tiệm tạp hóa bán ở nhà để vừa có thu nhập mà vừa được gần mẹ hơn.”

Trả lời cho câu hỏi: “Có khi nào anh oán trách cha mình?, vì nếu còn có cha, chắc chắn đời anh đã khác?” Anh liền trả lời: “Không bao giờ có chuyện oán trách đâu em. Ðúng là có lúc anh đã nghĩ nếu còn có cha, chắc chắn anh sẽ không khổ như bây giờ. Nhưng mọi chuyện đã qua rồi. Anh tự hào khi cha anh đã có cái chết vì lý tưởng bảo vệ sự bình yên của miền Nam Việt Nam.”

“Nếu cho anh được lựa chọn lại. Anh vẫn sẽ chọn làm người con của ba anh. Cuộc sống của anh có thể nghèo, nhưng khi nói về cha, anh có khối ‘tài sản’ để tự hào mà lấy ra để kể cho bạn bè.” Ðó là cảm nghĩ của anh Xa khi nói về người cha quá cố của mình, Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, mà nhiều người biết đến với tên gọi “Người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương"
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2035 Posted : Wednesday, March 23, 2016 4:54:51 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Thị Trưởng Trí Tạ gây quỹ giúp bà quả phụ ‘Anh Hùng Tên Đương’


Saturday, March 19, 2016 6:33:37 PM

WESTMINSTER (NV) - Ông Tạ Đức Trí, thị trưởng thành phố Westminster, California, gây quỹ giúp gia đình bà quả phụ “anh hùng Mũ Đỏ tên Đương.”

Ông Tạ Đức Trí quyết định gây quỹ sau khi nhật báo Người Việt đăng loạt bài về gia cảnh bà Trần Thị Mai, người vợ của cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương, người tuẫn tiết trong chiến dịch “Hành Quân Lam Sơn 719” năm 1971.

Thị Trưởng Tạ Đức Trí nói với Người Việt: “Tôi rất xúc động khi biết được hoàn cảnh sống vô cùng khó khăn của bà quả phụ Nguyễn Văn Đương tại Việt Nam. Cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương đã hy sinh vì lý tưởng tự do và sự an bình của miền Nam Việt Nam. Để bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự hy sinh của thế hệ cha anh, tôi quyết định gây quỹ giúp bà quả phụ Nguyễn Văn Đương và con trai bà. Hy vọng sự đóng góp của các đồng hương tại hải ngoại sẽ phần nào xoa dịu và chia sẻ những mất mát và khổ đau mà gia đình bà quả phụ Nguyễn Văn Đương phải chịu đựng trong hơn bốn thập kỷ qua.”

Trên bức Thư Ngỏ kêu gọi hỗ trợ gia đình bà quả phụ Nguyễn Văn Đương, thị trưởng Tạ Đức Trí viết: “Là con một gia đình đến Mỹ với danh nghĩa tị nạn chính trị và là con rể của một cựu Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến, Quân Lực VNCH, từng bị tù Cộng Sản sau 1975, tôi đã rất xúc động sau khi đọc được loạt bài về gia đình bà quả phụ cố Đại Úy Quân Lực VNCH Nguyễn Văn Đương, nhân vật chính trong ca khúc ‘Anh Không Chết Đâu Anh’ của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.”

“Hoàn cảnh khó khăn, bi thảm của gia đình 'người anh hùng Mũ Đỏ tên Đương' gần như bị lãng quên hơn 40 năm qua, cũng như ước mong của bà Trần Thị Mai được một lần đi đến Hạ Lào, nơi Đại Úy Đương hy sinh trong cuộc 'Hành Quân Lam Sơn 719,' đã thôi thúc tôi lập ra trang mạng gây quỹ này.” Vẫn theo thư ngỏ.

Phu nhân thị trưởng Tạ Đức Trí là bà Dược Sĩ Đoàn Quế Anh, ái nữ của cố trung tá Thủy Quân Lục Chiến VNCH, Đoàn Trọng Cảo.

Mục đích gây quỹ của thị trưởng Tạ Đức Trí: “Một là giúp anh Nguyễn Viết Xa, người con trai út của cố Đại Úy Đương, hiện đang hành nghề xe ôm ở Sài Gòn, có chút vốn liếng mở một tiệm tạp hóa bán ở nhà để vừa có thu nhập mà vừa được ở gần để chăm sóc mẹ, như mong ước của anh.” Và “Thứ hai là giúp bà Trần Thị Mai có đủ tài chánh trang trải cho chuyến đi đến Hạ Lào, mà theo lời bà là 'muốn chứng kiến nơi ấy và biết đâu sẽ còn tìm được xương cốt' của anh hùng Nguyễn Văn Đương.”




Giấy “báo mất tích,” bà Trần Thị Mai giữ từ năm 1971 đến nay. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Để công việc gây quỹ được minh bạch, thị trưởng Tạ Đức Trí đã mời, và được văn phòng tài chánh của ông Jonathan Tôn - D.T. Tôn - đứng ra đảm trách công việc kiểm toán.

Ông Jonathan Tôn, chủ nhân công ty cố vấn tài chánh D.T. Tôn lâu năm tại Little Saigon, nói với Người Việt: “Đây là việc đáng làm, cần làm, nên tôi sẵn lòng giúp. Bất cứ ai, có lòng yêu quê hương, yêu tổ quốc, nhớ công lao của những người đã hy sinh cho tổ quốc, đều sẵn lòng tham gia, không tư lợi, không tính toán.”

Hình thức gây quỹ lần này không giống cách thức “truyền thống.” Thị Trưởng Tạ Đức Trí chọn cách gây quỹ trên mạng Internet để người hảo tâm ở khắp nơi có thể đóng góp. Quý độc giả có thể vào trang này https://www.gofundme.com/63uy9wgs để theo dõi và biết thêm chi tiết của công việc gây quỹ này. (Đ.B.)


***


Hưởng ứng gây quỹ giúp bà quả phụ ‘Anh Hùng Tên Ðương’



Monday, March 21, 2016 7:10:06 PM

WESTMINSTER (NV) - Chưa đầy 2 ngày sau khi Thị Trưởng Tạ Ðức Trí phổ biến lời kêu gọi đóng góp giúp bà quả phụ “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương,” đã có 287 người và tập thể hưởng ứng, góp số tiền lên đến $17,600 (tính đến 6:30 chiều ngày 21 Tháng Ba).

Khởi thủy, số tiền dự định của ông thị trưởng thành phố Westminster khá “khiêm nhượng,” chỉ $3,000. Thế nhưng, đóng góp của đồng hương nhanh hơn rất nhiều, Thị Trưởng Tạ Ðức Trí đã phải liên tục nâng con số dự tính, thành $6,000, rồi $9,000, $12,000... và đến chiều ngày 21 Tháng Ba là $20,000.




Trang mạng Gofundme.com, nơi Thị Trưởng Tạ Ðức Trí gây quỹ. (Hình: Người Việt)



Một trong những người đầu tiên đóng góp vào khuya ngày 19 Tháng Ba là ca sĩ Thanh Mai. Theo lời người trong gia đình ca sĩ Thanh Mai, thì bà “đã khóc” khi đọc bài báo về gia đình bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, đăng trên Người Việt.

Có rất nhiều người tham gia đóng góp, không để lại tên, thay vào đó bày tỏ hai điều: Tri ân sự hy sinh của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương cùng những khó khăn mà gia đình ông chịu đựng từ 1975 đến nay; và cảm ơn Thị Trưởng Tạ Ðức Trí đứng ra kêu gọi gây quỹ.

Có một nhóm thân hữu, không để lại danh tánh, nhưng qua liên lạc với Người Việt, thì được biết là những độc giã từ Arizona. Người đại diện nhóm nói, nhiều người trẻ không biết đến trường hợp cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, nhưng vẫn sẵn lòng đóng góp, “tấm lòng quý hơn số tiền.”

Trong ngày 21 Tháng Ba, một cựu trung tá Không Quân VNCH, ông Trần Dật, đến tận tòa soạn, trao $500 tiền mặt để hiến vào quỹ. Ðồng thời, trao tấm ngân phiếu $500 do Hòa Thượng Chơn Thành trao tặng.

Sự đóng góp của đồng hương như cơn mưa rào xả xuống đồng ruộng khô hạn. Khi bài báo của tác giả Việt Hùng/Người Việt đăng về cảnh sống khó khăn của gia đình bà Nguyễn Văn Ðương, hàng trăm độc giả email vào tòa soạn, xin địa chỉ liên lạc để giúp đỡ.

Một độc giả của Người Việt cho biết người thân của mình ở Sài Gòn sẽ đến khám bệnh và săn sóc y tế cho bà Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị Mai.

Ðộc giả có thể theo dõi diễn tiến gây quỹ qua đường link www.gofundme.com/63uy9wgs. Kết quả gây quỹ sẽ được kiểm toán do công ty cố vấn tài chánh D.T. Tôn, văn phòng tại Little Saigon, đảm trách theo lời mời của Thị Trưởng Tạ Ðức Trí.

Bà Nguyễn Văn Ðương nay đã 76 tuổi, mù một mắt do nhà sập, con mắt thứ hai cũng đã yếu nhiều. Bà có bốn người con, 3 trai, 1 gái. Hai con trai đầu đã chết trong thời gian đi cạo mủ cao su tại Cambodia. Người con trai út đang hành nghề lái xe ôm tại Sài Gòn.

Cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương thuộc Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mất năm 1971 trong cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Khi cả pháo đội của ông bị trúng đạn, đường tiếp viện bị cắt, biết không thể thoát, ông ra lệnh mọi người tuyến dưới rút lui, còn cá nhân ở lại với một chân bị thương rất nặng, sau đó tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn vào đầu. Câu chuyện về cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương trở thành huyền thoại sau khi nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết thành ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh,” trở thành bài hát quen thuộc của rất nhiều người. (Ð.B.)
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2036 Posted : Thursday, March 31, 2016 10:27:21 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)


Một tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan tốt nghiệp



Nguyễn Kỳ Phong

Trong hai năm 1973 và 1974, một tham vụ chính trị ở Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tên là James Nach, bắt đầu thâu thập một số chi tiết lịch sử về nguồn gốc các trường đào tạo sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) và sĩ quan tốt nghiệp từ các trường đó. Tác giả ghi lại rất nhiều chi tiết về mười khóa đầu của Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt và năm khóa đầu của Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức. Ðây là một tập tài liệu với nhiều chi tiết lý thú. Ông James Nach còn bỏ công ra ghi lại chức vụ đương nhiệm của một số sĩ quan tốt nghiệp.

Theo sự hiểu biết của người viết bài này, tài liệu của James Nach là một trong hai tài liệu duy nhất của người Mỹ nghiên cứu về hệ thống đào tạo sĩ quan và xuất thân của sĩ quan QLVNCH. Năm 1970, cơ quan Advanced Research Projects Agency (một cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) có thực hiện một nghiên cứu với tựa đề An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính cách chính trị nhiều hơn là lịch sử, vì tài liệu chỉ nói đến hệ thống sĩ quan tướng lãnh và phân loại họ có chiều hướng theo “phe” nào trong thời điểm đó. (i)

Tài liệu của James Nach được viết ở Sài Gòn và gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với sự chuẩn hành của Ðại Sứ Graham Martin. Vì tài liệu nằm trong dạng công văn, nên chỉ được lưu trữ trong văn khố hay các trung tâm nghiên cứu về Việt Nam. Bài viết dưới đây sơ lược lại những chi tiết lý thú của tác giả James Nach trong The National Military Academy and Its Prominent Graduates, và, Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools. (ii)

The National Military Academy and Its Prominent Graduates

Trong phần nghiên cứu về Trường Võ Bị Quốc Gia và Những Sĩ Quan Tốt Nghiệp Danh Tiếng, James Nach sơ lược lại sự thành hình của trường Võ Bị Quốc Gia. Hai khóa đầu tiên Trường Sĩ Quan Hiện Dịch bắt đầu ở Huế, Khóa 1 tháng 12, 1948, và Khóa 2 tháng 9, 1949. Tháng 10, 1950 trường dọn về Ðà Lạt và bắt đầu Khóa 3, với tên mới là Trường École Militaire Inter-Armes de Dalat. (iii) Trường chánh thức đổi lại thành Trường Võ Bị Liên Quân sau khi người Pháp rời Việt Nam năm 1955, và trở thành Trường Võ Bị Quốc Gia từ tháng 4 năm 1963 cho đến khi giải tán (Sắc Lệnh 325-QP, 10.4.1963).

Hai Khóa 1 Phan Bội Châu (53 sĩ quan tốt nghiệp) và Khóa 2 Quang Trung (97 tốt nghiệp) ở Huế ra trường một số sĩ quan sau này trở thành những tướng lãnh quan trọng của đầu thập niên 1960. Thủ khoa Khóa 1 là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có; Khóa 2 là Thiếu Tướng Hồ Văn Tố (chết bất thình lình năm 1961 trong lúc chỉ huy Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức). Những tướng lãnh tốt nghiệp Khóa 1 như các Trung Tướng Ðặng Văn Quang, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Trung. Một số sĩ quan cấp thiếu tướng và chuẩn tướng như Bùi Ðình Ðạm, Phan Xuân Nhuận, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Văn Chuân. Khóa 2 có chín sĩ quan trở thành Tướng lãnh: Trung Tướng Ngô Dzu và Nguyễn Văn Mạnh; các Thiếu Tướng Trần Thanh Phong; Huỳnh Văn Cao; Hoàng Văn Lạc; Lê Ngọc Triển; và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường. Trung Tá Vương Văn Ðông, một trong những nhân vật chủ mưu đảo chánh 11 tháng 11, 1960, cũng ra từ Khóa 2 này.

Khóa 3 Trần Hưng Ðạo có 135 sĩ quan tốt nghiệp. Ðây là khóa đầu tiên khai giảng ở Ðà Lạt. Có 9 sĩ quan trở thành cấp tướng - cấp tướng hạng “nặng ký.” Khóa có 4 Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm (tư lệnh Quân Ðoàn I, tốt nghiệp hạng 5), Nguyễn Xuân Thịnh (tư lệnh Binh Chủng Pháo Binh, hạng 8), Lâm Quang Thi (tư lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn I, hạng 12); và Lữ Lan (tư lệnh Quân Ðoàn II, hạng 24). Hai sĩ quan tốt nghiệp trở thành tướng của quân chủng Không Quân là Chuẩn Tướng Võ Dinh (tham mưu trưởng Không Quân VNCH) và Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh (chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân). Hai Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu (Á khoa, tư lệnh Phó Quân Ðoàn III, khi bị tai nạn súng chết) và Lâm Quang Thơ. Tướng Thơ và Thi đều trở về trường mẹ, làm chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia.

Từ Khóa 4 (Khóa Lý Thường Kiệt, tháng 11.1951 - tháng 12.1951) đến Khóa 10 (Khóa Trần Bình Trọng, tháng 10.1953 - tháng 6.1954) trường đào tạo thêm 23 tướng lãnh. Phần lớn là những tướng hành quân/tác chiến, hơn là tướng tham mưu/hành chánh. Khóa 4 có hai trung tướng là Nguyễn Văn Minh (tư lệnh QÐ III, 1972) và cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh (tư lệnh QÐ IV khi tử nạn tháng 5, 1970). Hai sĩ quan kia là Chuẩn Tướng Ðỗ Kiến Nhiểu (Ðô Trưởng Sài Gòn) và Thủ khoa Nguyễn Cao Albert (giải ngũ). Riêng tên của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh được đặt cho hai khóa tốt nghiệp sĩ quan của QLVNCH: Khóa 6/1970 Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức, và Khóa 26 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt.

Khóa 5 Hoàng Diệu (8.1951 - 5.1952), với 225 sĩ quan tốt nghiệp, là khóa đào tạo nhiều tướng lãnh nhất: 10 sĩ quan cấp Tướng. Các trung tướng Nguyễn Văn Toàn; Nguyễn Vĩnh Nghi; Phạm Quốc Thuần; Dư Quốc Ðống; Phan Trọng Chinh. Hai thiếu tướng Trần Bá Di và Ðỗ Kế Giai. Các chuẩn tướng Trần Văn Cẩm; Chương Dzếnh Quay; Lê Văn Tư. Có ba đại tá tốt nghiệp khóa này cũng được nhắc đến nhiều là Dương Hiếu Nghĩa (thủ khoa, liên hệ đến vụ đảo chánh 1.11.1963); Phạm Văn Liễu (ra trường hạng 19, liên hệ đến nhiều vụ đảo chánh); và Lê Ðức Ðạt (hạng 20, tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh khi bị mất tích ở Tân Cảnh tháng 4, 1972).

Khóa 6 Ðinh Bộ Lĩnh (12.1951 - 10.1952; 181 sĩ quan tốt nghiệp) có ba chuẩn tướng Lý Tòng Bá (Thủ khoa); Trần Quang Khôi (hạng 6); và Trần Ðình Thọ (hạng 79). Nhà văn Trung Tá Nguyễn Ðạt Thịnh cũng đến từ khóa này.

Khóa 7 có Chuẩn Tướng Trương Quang Ân (Thủ khoa, tử nạn trực thăng năm 1968); Lê Văn Thân; và Trần Văn Hai.

Khóa 8 có Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, và Chuẩn Tướng Huỳnh Thới Tây (tư lệnh Cảnh Sát Ðặc Biệt).
Khóa 9 không có sĩ quan tốt nghiệp nào lên tướng.

Khóa 10 Trần Bình Trọng (10.1953 - 6.1954) là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên, với 400 sĩ quan tốt nghiệp. Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18); hai chuẩn tướng Vũ Văn Giai và Trần Văn Nhật.

Mười khóa đầu của trường Võ Bị Quốc Gia đào tạo tất cả 40 tướng trong số 80 tướng hiện dịch của năm 1974 (80 tướng hiện dịch không kể tướng của quân chủng Hải Quân hay ngành Quân Y).

Trong khi 10 khóa đầu đào tạo nhiều tướng lãnh chỉ huy của QLVNCH, các Khóa 11 đến 20 đào tạo nhiều sĩ quan trung cấp, cột trụ của quân đội. Những sĩ quan cấp trung tá và đại tá của Khóa 14-18 hiện diện và chỉ huy hầu hết các đơn vị chủ lực của QLVNCH. (iv) Khóa 16 Ấp Chiến Lược (226 sĩ quan tốt nghiệp; Thủ khoa Bùi Quyền) có nhiều sĩ quan đã lên đến cấp bậc trung tá hay đại tá, chỉ huy Trung Ðoàn hay Lữ Ðoàn trong quân đội.

Hai Khóa 19 và 20 thì có nhiều sĩ quan tiểu đoàn trưởng. Khóa 19 có 394 sĩ quan tốt nghiệp và là khóa kém may mắn nhất: ba sĩ quan vừa tốt nghiệp vài ngày đã tử trận ngay ở chiến trường, trong đó Thủ khoa Võ Thành Kháng (trận Bình Giả). Khóa 20 được coi là đông nhất (406 tốt nghiệp; Thủ khoa Trần Thanh Quang). Khóa 22B là khóa đầu tiên ra trường với trình độ văn hóa bốn năm. Nhưng khóa cũng không được may mắn khi Thủ khoa Nguyễn Thanh Phóng bị tử trận vài tháng sau đó, trong cuộc hành quân đánh qua đánh qua Cam Bốt năm 1970.

Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools

Ðây là tài liệu nghiên cứu về Lịch Sử Quân Ðội Quốc Gia, hệ thống sĩ quan, và các trường huấn luyện quân sự. Tác giả James Nach đi ngược về năm 1939, khi Cao Ủy Ðông Dương, Tướng Catroux, bắt đầu tuyển mộ và huấn luyện sĩ quan Việt Nam cho quân đội Pháp và cho quân đội thuộc địa trong tương lai. Ðây không phải là một thiện chí của chánh phủ Pháp đối với người dân thuộc địa, đây chỉ là một phòng hờ cho Thế Chiến Thứ Hai bắt đầu nhen nhúm.
Tài liệu nói về một số trường đào tạo cấp chỉ huy quân sự từ năm 1939 trở đi như, Nội Ứng Nghĩa Ðinh và Nội Ứng Nghĩa Quân. Theo tác giả Nach, Trung Tướng Văn Thành Cao và Trình Minh Thế của quân đội Liên Minh Cao Ðài được huấn luyện từ trường này. Người Pháp cũng lập ra một vài trường huấn luyện quân sự cho các Giáo pháo.
Trường huấn luyện Cái Vồn của Hòa Hảo là nơi xuất thân của các Tướng Trần Văn Soái, Cao Hảo Hớn, Lâm Thành Nguyên. Tác giả cho biết sau khi trường Cái Vồn bị đóng cửa, một số sinh viên được phép ghi danh nhập học trường Võ Bị ở Huế. Những trường khác được nhắc tên trong giai đoạn này như Trường Móng Cay, Trường Quân Chính, trường Quốc Gia Thanh Niên Ðoàn (một trường quân sự chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lập).

Năm 1946-47, Ðảng Ðại Việt của Trương Tử Anh thiết lập trường huấn luyện quân sự Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Trường khai giảng ở Thanh Hóa, nhưng sau đó vì áp lực của Việt Minh nên phải dời về Yên Bái, và sau cùng về vùng Chapa gần biên giới Việt-Trung. Trường này đôi khi còn được gọi là trường Sĩ Quan Yên Bái. Những người đã theo học trường này gồm có Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu; Ðại Tá Phạm Văn Liễu; Ðại Sứ Ðinh Trình Chính (đại sứ ở Thái Lan); Ðại Sứ Ngô Tôn Ðạt (đại sứ ở Ðại Hàn); và ký giả Nguyễn Tú (nhật báo Chính Luận). (v)
Cũng trong thời gian 1938-1940, quân đội Pháp thiết lập hai trường huấn luyện Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan thành sĩ quan (vi) ở Thủ Dầu Một và Tong. Ðại Tướng Dương Văn Minh, và Tổng Trưởng Tư Pháp Lê Văn Thu theo học Trường Thủ Dầu Một; trường Tong thì có những sĩ quan tốt nghiệp như các Trung Tướng Trần Văn Ðôn; Linh Quang Viên; Nguyễn Văn Vỹ; và Trần Văn Minh.

Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, Bộ Tư Lệnh Quân Ðội ở Ðông Dương gia tăng tuyển mộ lính thuộc địa cũng như huấn luyện cấp chỉ huy để phục vụ ở những đơn vị này. Trường Võ Bị Võ Bị Liên Quân Viễn Ðông được thành lập tháng 7, 1946 tại Ðà Lạt. Trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp. (vii) Những sĩ quan tốt nghiệp trường này gồm có hai Ðại Tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm; Trung Tướng Trần Ngọc Tám và Dương Văn Ðức; các Thiếu Tướng Nguyễn Văn Kiểm (Chánh Võ Phòng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu); Lâm Văn Phát; Bùi Hữu Nhơn; Cao Hảo Hớn; và Dương Ngọc Lắm.

Năm 1947-1948, trường được dọn Vũng Tàu và có tên mới là École Militaire Nuoc Ngot (Trương Võ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu). Những sĩ quan tốt nghiệp trường này có cố Trung Tướng Ðỗ Cao Trí; Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang (Tham Mưu Phó/Nhân Viên, Bộ Tổng Tham Mưu); Ðại Tá Trang Văn Chính (Chỉ Huy Phó Chiến Tranh Chính Trị); và Ðại Tá Bùi Quang Ðịnh (Bộ Chiêu Hồi).

Trong 5 năm, 1949-1953, một trung tâm huấn luyện hoàn hảo sĩ quan được thành lập ở Cap St. Jacques. Trung tâm huấn luyện năm khóa. Khóa 1 có những sĩ quan tốt nghiệp như cố Ðại Tướng Cao Văn Viên; cố Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh; và Ðại Tá Vũ Quang Tài.

Như đã nói ở phần đầu bài viết, năm 1948, một trường đào tạo sĩ quan được thành lập ở Huế để bắt đầu lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia. Tác giả James Nach đã sơ lược về Trường Võ Bị Quốc Gia. Cũng trong cùng tài liệu, ông Nach sơ lược về lịch sử Trường Liên Quân Võ Khoa Thủ Ðức. Tài liệu này cũng công phu không kém tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia. Vì khuôn khổ giới hạn của bài viết, ở đây chỉ tóm tắt lại những chi tiết đáng ghi nhớ.
Nguyên thủy lúc thành hình là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thu Duc va Nam Dinh (Les Écoles des Cadres de Réserve de Thu Duc et Nam Dinh), với Khóa 1 Lê Văn Duyệt được khai giảng ngày 1 tháng 10-1951 ở hai nơi, Thủ Ðức và Nam Ðịnh. Thủ Ðức có 278 sĩ quan tốt nghiệp; Nam Ðịnh có 218. Khóa 1 đào tạo tất cả 19 tướng lãnh cho QLVNCH, trong đó có bốn trung tướng Trần Văn Minh, Nguyễn Ðức Thắng, Lê Nguyên Khang, và Ðồng Văn Khuyên (Á khoa). Sau Khóa 1, trường dời về Thủ Ðức.

Trong mười khóa đầu tiên, Khóa 4 Cương Quyết (12.1953 - 6.1954) và Khóa 5 Vì Dân (6.1954 - 2.1955) có số sinh viên tốt nghiệp nhiều nhất, 1,148 sĩ quan cho Khóa 4; 1,396 cho Khóa 5. Khóa 4 có được 5 sĩ quan lên cấp tướng: cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng; Thiếu Tướng Bùi Thế Lân; cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và Hồ Trung Hậu; và Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm. Khóa 5 có Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. trừ những sĩ quan Tướng lãnh, Khóa 4 có nhiều sĩ quan cấp Trung Tá và Ðại Tá chỉ huy những đơn vị chủ lực của QLVNCH. Nhìn lại lịch sử cuộc chiến, đây là những sĩ quan đứng mũi chịu sào của giai đoạn khói lửa 1965-1972. Theo tài liệu của James Nach, từ năm 1951 đến năm 1965, Thủ Ðức đào tạo 20,927 sĩ quan. Ðến tháng 9, 1973, có tất cả 80,115 sĩ quan tốt nghiệp từ trường. (viii)


Chú thích:


(i) Allan E. Goodman, An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Rand Research, RM-6189-ARPA, June 1970 (declassified 1992). Tài liệu này được bắt đầu thực hiện vào năm 1967, thời gian này vẫn còn nhiều xung đột giữa hai nhóm tướng lãnh, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Trong tài liệu, ngoài một số chi tiết cá nhân của các tướng lãnh, tác giả Goodman còn phân loại ra tướng lãnh thuộc phe nhóm nào.

(ii) The National Military Academy and Its Prominent Graduates, James Nach, American Ambassy Saigon, Airgram A-95, May 13, 1974; Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its, James Nach, airgram A-131, no date.

(iii) Một số sĩ quan tốt nghiệp Khóa 3 Trần Hưng Ðạo không đồng ý gọi đó là Khóa 3, mà là Khóa 1 Ðà Lạt. Ðại tá Bùi Dzinh, thủ khoa khóa Trần Hưng Ðạo (11 tháng 10,1950 - 24 tháng 6, 1951) trong một lá thư viết cho ban biên tập Nội San Ða Hiệu (Ða Hiệu, Số 43, phát hành 19 tháng 6, 1996, trang 247-149), nói ý kiến của ông là, vì trường bắt đầu một tiến trình mới của quân đội, không có liên hệ với trường Sĩ Quan Hiện Dịch Ðập Ðá ở Huế, nên ông không gọi đó là Khóa 3. Ông viết, “Tôi không muốn tranh ngôi thứ của khóa, chỉ nhằm nói lại cho danh chánh ngôn thuận mà thôi.” Trung Tướng Lữ Lan, cũng khóa Trần Hưng Ðạo, thì nói, vì mình kính trọng hai lớp đàn anh đi trước, nên gọi đó là Khóa 3. Trong bài viết này, Khóa 3 là khóa bắt đầu ở Ðà Lạt.

(iv) Dĩ nhiên chúng ta không thể không nhắc đến sĩ quan tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Liên Quân Thủ Ðức. Tuy nhiên đó là một đề tài khác. Khóa 14 Ðà Lạt tương đương với Khóa 8 Thủ Ðức, cùng ra đầu năm 1960. Khóa 20 Ðà Lạt (11-1965) và Khóa 20 Thủ Ðức cũng tốt nghiệp cùng thời gian (12-1965; năm 1965 Thủ Ðức cho ra trường ba khóa, 18, 19, và 20).

(v) Theo lời ký giả Nguyễn Tú kể, thì đại sứ chỉ học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn trong thời gian ở Yên Bái, và bỏ dở chương trình lúc trường dọn về Chapa.

(vi) Trường Hạ Sĩ Quan Thành Sĩ Quan, còn gọi là Trường Hoàn Hảo Sĩ Quan - Centre de Perfectionnement des Sous Officiers Indochinois.

(vii) Tài liệu của James Nach nói 16 sĩ quan tốt nghiệp, trong khi sách quân sử VNCH Quân Lực Việt Nam Trong Giai Ðoạn Hình Thành nói chỉ có 10 sĩ quan tốt nghiệp.

(viii) Vì khuôn khổ giới hạn, người viết sơ lược đến đó. Ðọc giả có thể tìm tài liệu này ở hai nơi: Vietnam Center, Texas Tech University, Lubbock, Texas; hay, Cornell University, Ithaca, New York.
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2037 Posted : Thursday, April 14, 2016 3:56:47 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Bà quả phụ ‘Mũ Đỏ Tên Đương’ cảm ơn cộng đồng hải ngoại



Linh Nguyễn/Người Việt


WESTMINSTER, Calif. (NV) - Bà Trần Thị Mai, quả phụ “Người Anh Hùng Mũ Đỏ Tên Đương,” xác nhận bằng thư viết tay và video vào ngày 6 Tháng Tư tại Sài Gòn, đã nhận đủ số tiền do thị trưởng thành phố Westminster, Tạ Đức Trí, gây quỹ tại hải ngoại.




Lá thư viết tay của bà quả phụ Nguyễn Văn Đương. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Thư xác nhận của bà Trần Thị Mai viết: “Tôi, Trần Thị Mai, là vợ của cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương. Tôi viết thư này để gởi lời cám ơn chân thành Thị Trưởng Tạ Đức Trí, độc giả báo Người Việt và cộng đồng người Việt hải ngoại đã giúp đỡ cho tôi.

“Không biết nói gì hơn, xin cầu chúc mọi điều may mắn nhắn đến với quý ân nhân.

Sài Gòn, ngày 6 Tháng Tư, 2016.”



Số tiền quyên góp trên là kết quả gây quỹ của Thị Trưởng Tạ Đức Trí qua trang Gofundme.com, được thực hiện trong bốn ngày, từ 20 đến 24 Tháng Ba.

Tại nhật báo Người Việt, thị trưởng Tạ Đức Trí bày tỏ: “Tôi cảm tạ đồng hương cùng tôi quyên góp ủng hộ bà quả phụ Nguyễn Văn Đương trong thời gian qua. Tôi lại càng cảm động hơn khi đọc những bài viết trên nhật báo Người Việt về hoàn cảnh khó khăn bà phải trải qua trong 40 năm trường. Lòng tôi thôi thúc, tự hỏi phải làm gì?”

“Đó cũng là lý do khiến tôi mạnh dạn kêu gọi đồng hương đóng góp. Kết quả đồng hương ủng hộ đông đảo thể hiện sự biết ơn của đồng bào hải ngoại, sẵn sàng chia sẻ những khó khăn của bà và gia đình trải qua trong 40 năm,” thị trưởng nhấn mạnh.

Nhân dịp này, thị trưởng Tạ Đức Trí cũng cám ơn ông D.T. Tôn, nhà hoạch định tài chánh, đã giúp cố vấn các thủ tục tài chánh, đảm nhận công việc kiểm toán; và ông Phạm Phú Thiện Giao, chủ bút nhật báo Người Việt, giúp phối hợp chuyển giao số tiền về Việt Nam.




Từ trái: Bà Đoàn Quế Anh (phu nhân Thị Trưởng Tạ Đức Trí), chủ bút Người Việt, Phạm Phú Thiện Giao, ông D.T. Tôn, Thị Trưởng Tạ Đức Trí và Tổng Thư ký Người Việt Online, Khôi Nguyên, tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Ông D.T. Tôn nói với Người Việt: “Khi được mời cố vấn, tôi nhận lời vì thấy cách gây quỹ mới lạ và mau chóng của thị trưởng.”

Sau 4 ngày gây quỹ, có 515 người vào đóng góp, số tiền tổng cộng quyên được là $32,615. Sau khi trừ lệ phí 5% trả cho Gofundme.com, 2.9% cho công ty kiểm toán Wepay và 30 cents cho mỗi một ân nhân đóng góp, số tiền còn lại là $29,975.80.

Câu chuyện về cuộc sống của gia đình bà quả phụ Nguyễn Văn Đương, do phóng viên Việt Hùng thực hiện tại Sài Gòn, gây xúc động dư luận hải ngoại. Rất nhiều độc giả vẫn cho rằng gia đình bà Nguyễn Văn Đương “chắc đã định cư tại Hoa Kỳ,” không ngờ họ vẫn còn sinh sống trong cực khổ tại Sài Gòn.

Ông bà Nguyễn Văn Đương và Trần Thị Mai có với nhau 4 người con, 3 trai, 1 gái. Hai người con trai đầu đã qua đời tại Cambodia, người con gái đã lập gia đình, người con trai út làm nghề lái xe ôm tại Sài Gòn.

Mục đích gây quỹ của thị trưởng Tạ Đức Trí, như đã nêu trên Gofundme.com, “một là giúp anh Nguyễn Viết Xa, người con trai út của cố Đại Úy Đương, hiện đang hành nghề xe ôm ở Sài Gòn, có chút vốn liếng mở một tiệm tạp hóa bán ở nhà để vừa có thu nhập mà vừa được ở gần để chăm sóc mẹ, như mong ước của anh. Thứ hai là giúp bà Trần Thị Mai có đủ tài chánh trang trải cho chuyến đi đến Hạ Lào, mà theo lời bà là 'muốn chứng kiến nơi ấy và biết đâu sẽ còn tìm được xương cốt' của anh hùng Nguyễn Văn Đương.”
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2038 Posted : Tuesday, April 26, 2016 5:19:24 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Bà quả phụ anh hùng 'Mũ Ðỏ tên Ðương' tìm về Ðồi 31 Hạ Lào


Monday, April 25, 2016 3:47:02 PM

Ước mơ 45 năm


QUẢNG TRỊ (NV) - Sau khi được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ, trưa 12 Tháng Tư, 2016, bà quả phụ cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, tức Trần Thị Mai, và người con trai út Nguyễn Viết Xa đã có chuyến đi từ Sài Gòn đến đồi 31, Hạ Lào, nơi “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương” hy sinh.



Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa khấn vái vong linh của chồng và cha trên đỉnh đồi 31, Hạ Lào. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.

Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”

Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.

Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.

Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến.

Ðường đến Hạ Lào


Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.




Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa lần đầu tiên trong đời đi máy bay. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.

Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.

Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.

Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.

Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.

Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.

Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”



Hai mẹ con khi vừa bước qua cửa khẩu biên giới Việt-Lào. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.


Ðồi 31, nơi người lính không về!


Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.

Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết: “Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”

Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”

Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác... Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này.

Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.”




Ngôi miếu thờ trên đỉnh đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”

“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”

Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”

Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”

Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.




Bà Mai đã lấy nắm đất trên đồi 31, nơi Ðại Úy Ðương hy sinh để mang về Việt Nam. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.

Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.


'Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam'


Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.

Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.

Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.

Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.

Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”

“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”

Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.



Bàn thờ tạm trong ngôi miếu trên đồi 31, nơi bà Mai cúng vái vong linh của chồng cùng các tử sĩ của cả 2 bên.



Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”

“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”

Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à...”

Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.

Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn...

“Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”

Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt.

Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”



Hai mẹ con bà Mai thắp nhang khắp khu đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


“Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Bởi vậy ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Bà Mai gửi lời đến các vong linh.


Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau



Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”

Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”

“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”

Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.

Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.

“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.

Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.

“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.

Việt Hùng/Người Việt
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 4/28/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2039 Posted : Thursday, April 28, 2016 9:34:48 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Anh không chết đâu anh



Ngô Nhân Dụng

Bà Trần Thị Mai, quả phụ cố Thiếu Tá Nguyễn Văn Ðương, và người con trai, anh Nguyễn Viết Xa, đã đi thăm nơi cố thiếu tá tử trận ở Hạ Lào. Bà bốc nắm đất trên ngọn đồi ở nước Lào, bỏ vào cái khăn vải đỏ, gói lại để mang về nước. Bà coi nắm đất như di cốt của người chồng tử sĩ, đưa tới ban thờ trong chùa, rồi mai mốt bình đựng tro hỏa táng của bà, khi bà qua đời sẽ đặt bên cạnh, vợ chồng bên nhau mãi mãi.

Câu chuyện phóng viên Việt Hùng kể làm nhiều người rơi lệ. Sau 45 năm, bà Mai và con trai mới thực hiện được điều mong ước, đi thăm ngọn Ðồi 31, nơi Thiếu Tá Nguyễn Văn Ðương đã nằm xuống. Tất cả là nhờ quý vị độc giả nhật báo Người Việt hết lòng ủng hộ, góp chi phí cho chuyến đi “thăm mộ” người chiến sĩ đã thành bất tử qua bài hát “Anh Không Chết Ðâu Anh” của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Tấm lòng của người Việt khắp nơi hướng về một gia đình tử sĩ, thể hiện vào trước ngày 30 Tháng Tư, ngày đau thương trong lòng người Việt Nam, cho thấy sau 41 năm chúng ta vẫn hãnh diện về các chiến sĩ đã đem xương máu bảo vệ phần đất nước được sống tự do, trước khi bị bạo quyền cướp đoạt.

Ðồng bào miền Bắc cũng nên nghe những lời bà Trần Thị Mai khấn khứa khi thắp những nén hương cắm rải rác trên ngọn Ðồi 31. Bà khóc chồng, nhưng bà cũng thương xót bao nhiêu tử sĩ cả hai bên.

Bà Mai nói: “Tôi là vợ của người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng tôi cũng cầu nguyện cho vong linh của các người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.” Bà Mai nói lên tâm sự của hầu hết người Việt Nam bây giờ. Tất cả chúng ta để tang cho những người lính miền Nam và miền Bắc, tất cả đều là người Việt Nam. Lịch sử sẽ phán xét những kẻ có tội gây ra cuộc chiến tranh tàn sát hàng triệu người cùng một dân tộc. Ngày 30 Tháng Tư là dịp chúng ta suy nghĩ về trách nhiệm đó.

Cuộc cuộc hành quân Lam Sơn 719 là một thất bại quân sự lớn của miền Nam. Trong trận này, 31,000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi qua vùng núi non ở Nam Lào. Có khoảng 10 ngàn quân đội Mỹ yểm trợ bằng không quân và pháo binh, nhưng không được phép tham gia, nên họ vẫn đóng bên trong biên giới Việt Nam. Quân Bắc Việt có 50,000 người. Trong các tài liệu của miền Bắc vẫn nói là có quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tham dự trận chiến, nhưng đó là một ngụy tạo, ngay trong Wikipedia cũng phạm sai lầm này. Mặt Trận Giải Phóng chỉ là cái bình phong chính trị, hoàn toàn không có quân ở Hạ Lào.

Cuộc hành quân Lam Sơn-719 bắt đầu vào ngày 8 Tháng Hai năm 1972; nhưng theo tài liệu của miền Bắc, ngay từ ngày 26 Tháng Giêng quân Bắc Việt đã chuẩn bị chờ đợi một cuộc tấn công. Vào Tháng Ba, trên chiến trường quân Bắc Việt đông gấp rưỡi quân miền Nam. Máy bay và trực thăng mất lợi thế vì mây mù thấp và hỏa lực phòng không của quân miền Bắc được bố trí rất mạnh trên các ngọn đồi.

Nhiều người đã thuật lại, đã phân tích về cuộc chiến, nhiều kinh nghiệm đã được người trong cuộc kể lại. Tôi cũng được nghe một câu chuyện do một sĩ quan trong quân đội miền Bắc kể lại. Vì người kể vẫn đang sống ở Hà Nội vào lúc này, Tháng Tư năm 2016, cho nên tôi xin không tiết lộ tên họ, chỉ gọi tắt là anh Tư.

Anh Tư là một sĩ quan pháo binh miền Bắc, đã giải ngũ sau năm 1975 và đi du học ở Nga (lúc đó còn là Liên Xô), rồi về nước làm công việc kỹ thuật, hoàn toàn dân sự. Tôi gặp anh tình cờ, khi tham dự một cuộc hội thảo ở Ðại Học Utah trước đây 15 hay 20 năm, về một đề tài nào đó thuộc phạm vi văn hóa, hay ngôn ngữ, bây giờ tôi cũng quên rồi; chỉ nhớ cuộc hội thảo không nói gì tới chiến tranh Việt Nam. Sau vài lần gặp gỡ, chúng tôi ngồi uống la de với nhau sau bữa cơm tối, những người cùng lứa tuổi dễ dàng đưa tới câu hỏi: Thời chiến tranh anh làm gì mà vẫn còn sống tới bây giờ?

Anh Tư kể đáng lẽ anh không phải đi lính, vì anh là con một. Nhưng thân phụ anh lại là cấp tướng, cho nên anh vẫn nhập ngũ, một phần cũng để giữ sĩ diện cho gia đình. Một ngày đầu năm 1972, đơn vị pháo binh của anh được lệnh di chuyển vào miền Trung. Anh kể, cấp trên giải thích rằng có tin “quân Mỹ sắp đổ bộ đánh Quảng Bình.” Nhưng khi vào đến Quảng Bình thì tất cả được lệnh di chuyển sang Lào. Tất cả cuộc hành quân này thực hiện ban đêm, đi trong vùng rừng núi, không ai được tiếp xúc với dân chúng bên ngoài.

Khi qua đến đất Lào, đơn vị pháo binh của anh Tư được lệnh bố trí súng và tính toán phương hướng để nhắm vào một ngọn đồi trong vùng. Anh không biết tại sao họ lại chọn ngọn đồi đó, làm lính chỉ biết tuân lệnh. Anh còn nhớ đã có đủ thời giờ để đo đạc cả hướng gió và tốc độ gió, điều chỉnh các khẩu súng. Nhưng đến ngày trận chiến bắt đầu thì ngọn đồi đó là nơi quân nhảy dù miền Nam chọn để đáp xuống lập phòng tuyến.

Từ lần gặp gỡ tình cờ bên chai bia đó, tôi không bao giờ gặp lại anh Tư. Nếu tôi có kể sai, xin anh tha lỗi. Nhưng một điều ám ảnh tôi từ đó tới giờ là tại sao quân miền Bắc lại “biết trước” địa điểm mà quân miền Nam đã chọn? Có thể nào kế hoạch hành quân, đến bản đồ hành quân đã bị tiết lộ hay sao? Có những điệp viên Việt Cộng trong dinh tổng thống ở Sài Gòn, hay ở Bộ Tổng Tham Mưu, hoặc trong bộ tham mưu MACV của quân đội Mỹ?

Nhưng có thể họ không cần có những bản đồ hành quân của quân miền Nam. Họ chỉ cần biết tin có cuộc hành quân và địa điểm là vùng tỉnh Xê Pôn bên Lào. Khi quan sát địa thế vùng này, những quân nhân chuyên nghiệp có thể đoán trước phe tấn công sẽ chọn địa điểm nào để đổ quân. Họ cũng có thể đoán hai, ba địa điểm và đặt súng lớn nhắm vào tất cả các ngọn đồi đó, đơn vị của anh Tư được chỉ định nhắm vào một trong các mục tiêu đó. Anh Tư kể rằng khi tiến tới ngọn đồi mới chiếm, anh còn được nghe một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa còn sống khen rằng “các anh đánh pháo giỏi!” (Ðánh pháo là một thuật ngữ quân sự miền Bắc, chắc người sĩ quan miền Nam nói “pháo kích.”)

Thiếu Tá Nguyễn Văn Ðương đã tử trận trên Ðồi 31, cùng với bao nhiêu quân nhân Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù sau khi cầm cự dưới các trận pháo kích ngày đêm của quân địch. Không biết những họng súng đơn vị pháo binh của anh Tư có nhắm vào ngọn Ðồi 31 hay không? Bài tường thuật của Việt Hùng trên Người Việt kể lời một người tại chỗ cho biết số quân miền Bắc chết trên ngọn Ðồi 31 đông hơn quân miền Nam nhiều. Họ đã hy sinh để đưa đến kết quả nào?

Anh Tư bây giờ nghĩ gì về cả cuộc chiến tranh Việt Nam? Tại sao người Việt Nam phải giết nhau, như ông Lê Duẩn nói, “Ðánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc!” Khẩu hiệu “Chống Mỹ Cứu Nước” có nghĩa gì không trong khi cả đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang tìm đường làm thân với nước Mỹ? Trong khi kẻ thù nguy hiểm nhất, độc ác nhất của dân tộc là Cộng Sản Trung Quốc đang lấn chiếm biển, đảo, và đánh, giết các ngư dân Việt Nam? Cuộc chiến tranh đã đưa “Bên Thắng Cuộc” lên ngôi cai trị toàn thể nước Việt Nam, nhưng họ đã làm gì cho đất nước này? Hay là chính họ cũng “sắp chết” như bài báo Người Việt hôm qua viết “Ðã 20 ngày kể từ khi cá chết trắng đoạn bờ biển chạy dọc bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế nhưng hệ thống công quyền ở Việt Nam lúng túng như… sắp chết.”

Nhưng đồng bào miền Bắc có thể yên tâm, những người miền Nam như bà quả phụ Thiếu Tá Nguyễn Văn Ðương cũng không nuôi thù hận. Lời bà khấn vái các tử sĩ cả hai miền nói rõ: “Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.”

“Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Lời khấn chân thành của bà Trần Thị Mai là một tiếng nói của hy vọng, của tương lai, cho tất cả mọi người Việt Nam. Anh Nguyễn Văn Ðương, hương linh anh chứng giám cho tấm lòng bao dung, độ lượng của người vợ chung thủy, 45 năm sau đã lặn lội qua Ðồi 31 tìm anh, đưa anh về quê cha đất tổ. Anh Không Chết Ðâu Anh. Trần Thiện Thanh đã nói một sự thật. Anh Không Chết Ðâu Anh!
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2040 Posted : Thursday, April 28, 2016 2:02:09 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Tại sao không giữ lời hứa với mẹ tôi



Nguyễn Bảo Tuấn


LTS - Sau loạt bài về gia cảnh bà quả phụ “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương,” đăng trên Người Việt, rất đông độc giả liên lạc tòa soạn, hỏi về gia cảnh cố Ðại Tá Nguyễn Ðình Bảo, người mà chúng ta đã quá quen thuộc qua nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie,” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết gia đình bà quả phụ Nguyễn Ðình Bảo hiện sinh sống tại Sài Gòn. Bà Nguyễn Ðình Bảo nay 76 tuổi, vẫn minh mẫn và khỏe mạnh. Hai ông bà có ba người con. Trưởng nam, Nguyễn Bảo Tường, là một bác sĩ Nhi Khoa. Thứ nữ, Nguyễn Bảo Tú, làm việc tại Tòa Lãnh Sự Anh Quốc tại Sài Gòn. Con trai út, Nguyễn Bảo Tuấn, kiến trúc sư và đang giảng dạy tại một đại học ở Sài Gòn. Dưới đây là bài viết hồi năm 2012 của anh Nguyễn Bảo Tuấn, về thân phụ mình. Tòa soạn tìm thấy bài viết này trên trang Facebook riêng của Nguyễn Bảo Tuấn, xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

***

Trên FB tôi thấy đại đa số thường chọn hình mình hoặc hình con mình để làm avatar, ít hơn một chút thì lấy hình của người yêu, vợ hoặc chồng, hoặc một hình gì đó mà mình yêu thích. Riêng tôi thì tôi lại chọn một đối tượng khác mà hình như tôi thấy chưa một ai chọn giống như tôi: Một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.




Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo (phải) và Ðại Tá Trương Vĩnh Phước (trái) trong chiến dịch Damber, Cambodia, Tháng Tám, 1971.



Tôi sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh đầy phong ba bão táp. Cả nhà 6 người mà chỉ có một chiếc xe đạp thay phiên nhau đi, gạo thì chạy ăn từng bữa, anh trai tôi ngày ngày cứ 5 giờ sáng phải chạy lên Gò Vấp để lấy bánh đậu xanh về đi bỏ cho các tiệm bánh rồi mới về đi học trong suốt 7 năm trời, từ năm học lớp 11 đến hết năm thứ 6 Y Khoa. Khó khăn là vậy nhưng tôi vẫn trưởng thành một cách đầy kiêu hãnh. Ðôi khi nhìn lại tôi tự hỏi là điều gì đã giúp tôi mạnh mẽ mỗi khi đương đầu với những khó khăn? Và câu trả lời là do trong huyết quản tôi vẫn đang mang một dòng máu nóng trong mình và tôi đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ người đã cho tôi dòng máu ấy: Một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.

Tôi cũng không biết tại sao tôi và người đó chỉ gặp gỡ và tiếp xúc trong có vài chục ngày, chính xác là từ ngày 6 tháng 1, 1972 đến ngày 25 tháng 3, 1972, mà tôi lại luôn luôn thương mến, cảm phục, tự hào và luôn lấy người làm tấm gương soi để tôi có đủ nghị lực vượt qua mọi khó khăn. Có lẽ là do cuộc sống của người quá vĩ đại và tôi đã được thừa hưởng một phần của nó. Mặc dù khi ra đi người đã không thực hiện được một lời hứa với mẹ tôi mà cho tới bây giờ tôi vẫn hỏi: “Tại sao?”

Charlie, tên nghe quá lạ!

“Toàn thể những địa danh nơi hốc núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy hừng hực, cháy cực độ... Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt...

Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy.

Mùa Hè năm 1972 - Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện.

Nếu không có trận chiến mùa Hè năm 1972 thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.

Charlie, “Cải Cách,” hay “C,” đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-Kơ và Ðường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên.”

(Trích trong “Mùa Hè Ðỏ Lửa” của Phan Nhật Nam)



"Charlie bỗng trở thành một địa danh được nhắc nhớ từ sau 4,000 quả đạn pháo tới trong một ngày, từ sau người mũ đỏ Nguyễn Ðình Bảo nằm lại với Charlie."

(Trích lời giới thiệu trong CD Chiến Tranh và Hòa Bình của Nhật Trường Trần Thiện Thanh)



Cho đến bây giờ cũng ít người biết rằng tôi chính là “đứa bé thơ” với “tấm khăn sô bơ vơ “ trong bài hát “Người Ở Lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Và tôi lớn lên cùng với ký ức về một người Cha hào hùng như vậy.

Tôi không thần tượng Cha tôi từ một bài hát viết về người, cũng không thần tượng từ một hai trận đánh trong cuộc đời binh nghiệp của người, mà tôi thần tượng Cha mình từ chính cuộc đời của Người. Trải qua biết bao thăng trầm đời binh nghiệp và cuối cùng người đã được giao làm tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn “Song Kiếm Trấn Ải” (biệt danh của Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù), một trong những tiểu đoàn được xem là thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Cha tôi là một người khát máu hung tàn, mà ngược lại hoàn toàn, mọi người đều nhớ về hình ảnh Cha tôi như là một võ sĩ đạo đúng nghĩa: Giỏi võ, dũng cảm và cao thượng. Thời bấy giờ có mấy ai dám đánh một sĩ quan của Mỹ, vậy mà Cha tôi đã làm điều đó khi người sĩ quan đó dám làm nhục một người lính Việt Nam (chuyện này tôi được nghe bác ruột tôi kể lại). Có tiểu đoàn nào trong quân đội mà luôn gọi Tiểu Ðoàn Trưởng bằng tên thân mật “Anh Năm”?, nhất là trong binh chủng Nhảy Dù, việc phân chia cấp bậc luôn được tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Vậy mà trong Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù, tất cả mọi người, từ lính đến sĩ quan, chẳng ai gọi Cha tôi là Trung Tá cả, mà luôn gọi là Anh Năm, và “Anh Năm” thường hay nói với mọi người trong tiểu đoàn rằng: “Tụi mày thì chẳng biết mẹ gì, nhưng tất cả tụi mày tao đều coi là em tao hết.”

“Anh Năm,

“Ngoài đời anh sống hào sảng, phóng khoáng và thật ‘giang hồ’ với bằng hữu anh em, còn trong quân ngũ, anh như một cây tùng ngạo nghễ giữa bão táp phong ba, Anh không nịnh cấp trên đè cấp dưới, anh chia sẻ vinh quang buồn thảm với sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp.

“Anh sống hùng và đẹp như thế mà sao lúc ra đi lại quá phũ phàng!?

“Tôi về lại vườn Tao Ðàn, vẫn những hoa nắng tròn tròn xuyên qua khe lá, lấp loáng trên bộ đồ hoa ngụy trang theo mỗi bước chân. Cây vẫn xanh, chim vẫn hót, ông lão làm vườn vẫn lom khom cầm kéo tỉa những chùm hoa loa kèn, những cụm hoa móng rồng và những bụi hồng đầy màu sắc. Bên gốc cây cạnh căn lều chỉ huy của anh hồi tháng trước khi còn đóng quân ở đây, tôi thấy có bó hồng nhung đỏ điểm vài cánh hoa loa kèn trắng. Chống đôi nạng gỗ xuống xe, tiếng gõ khô cứng của đôi nạng trên mặt đường khiến ông lão ngẩng đầu và nhận ra tôi. Siết chặt tay ông cụ, trong ánh mắt già nua chùng xuống nỗi tiếc thương, chòm râu bạc lưa thưa phất phơ trước gió. Ông cụ đọc báo, nghe đài phát thanh nên biết anh đã ra đi, nên sáng nào cũng để một bó hoa tưởng nhớ và tiễn đưa anh. Cụ mời tôi điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, rồi ngồi xuống cạnh gốc cây, tay vuốt nhẹ trên những cánh hồng, sợi khói mỏng manh của điếu thuốc nhà binh quện trong tiếng nói:

“- Thuốc lá ông Quan Năm cho, tôi vẫn còn đủ dùng cho đến cuối năm. Mấy chục năm nay tôi mới gặp một ông quan nói chuyện thân mật và tốt bụng với những người dân như tôi. Người tốt mà sao ông Trời bắt đi sớm như vậy!?”

(Trích trong “Máu Lửa Charlie” của Ðoàn Phương Hải)



Cha tôi đã sống như thế nào mà những người ít ỏi còn sống sót trở về sau trận chiến tại đồi Charlie đều nói là họ thật hối tiếc khi không được nằm xuống cùng Cha tôi ở đó.

“Tô Phạm Liệu cảm thấy lẻ loi ở cái đại hội y sĩ có nhiều những người ‘mặc quần mới áo đẹp’ và ‘ăn to nói lớn,’ thích ‘nhảy đầm’ và ‘xếp hàng để lên hát’... Trong cơn say, anh nói là phải chi trước kia, mười mấy năm trước kia, anh được ‘ở lại Charlie’ với Trung Tá Nguyễn Ðình Bảo, với các bạn nhảy dù thì ‘sướng hơn nhiều.’”

(Trích trong “Tô Phạm Liệu: Người trở lại Charlie” của Phạm Anh Dũng)



Viên sĩ quan cố vấn Mỹ Duffy cho tới tận bây giờ vẫn còn luôn mang trong người những hoài niệm về Cha tôi và trận chiến tại Charlie. Mỗi lần tham gia các cuộc gặp gỡ của Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam (trong đó có một số hiện đang là tướng lãnh cao cấp trong quân đội Mỹ) ông ta đều hỏi mọi người, “Tụi mày có từng tham gia trận Charlie không, tụi mày có ai từng chiến đấu cạnh Colonel Bao (Trung Tá Bảo) chưa? Thế thì tụi mày còn xoàng lắm. Và hàng năm cứ mỗi lần sinh nhật của mình, ông ta đều đặt một ổ bánh kem làm hình một ngọn đồi và ghi chữ Charlie lên đó. (Chuyện này do chú Ðoàn Phương Hải khi về Việt Nam năm 2011 thuật lại cho tôi nghe).
Cha tôi đã sống như thế nào để một người Mỹ phải luôn khắc trong tâm khảm những hoài niệm như vậy?

Tôi chỉ có thể kết luận một câu: “Cuộc đời của Cha thật vĩ đại.”

Ngày hôm nay khi viết về Cha, tôi không biết viết gì hơn, chỉ xin dâng về hương hồn Cha một vài câu thơ nói về khí phách của Người và nơi mà Cha đã gửi lại thân xác vĩnh viễn cho núi rừng Charlie. Ở đây tôi xin dùng từ “Cởi áo trần gian” vì tôi tin rằng Cha vẫn đang khoác một chiếc áo khác và vẫn đang nhìn tôi từ một nơi rất xa...

Lặng lẽ ngàn năm chẳng danh xưng
Bỗng chốc một hôm hóa lẫy lừng
Charlie gầm thét trong lửa đạn
Gọi mãi tên người nước mắt rưng

Trai thời nỗi chết tựa trên lưng
Khí phách hiên ngang bước chẳng dừng
Charlie vẫy gọi người ở lại
Cởi áo trần gian tặng núi rừng
(Kính dâng tặng hương hồn Cha)


Sinh nhật mẹ tôi ngày 11 tháng 4. Trước khi hành quân vào Charlie ngày 25 tháng 3, Cha tôi đã đặt một chiếc bánh sinh nhật cho mẹ với lời hứa là sẽ về dự sinh nhật mẹ. Ðến ngày sinh nhật, mẹ đã không tổ chức mà vẫn chờ Cha về, và cho đến tận bây giờ mẹ vẫn chờ...

Tuy nhiên Cha đã thất hứa với mẹ vì ngày 12 tháng 4 Cha đã cởi áo trần gian và nằm lại vĩnh viễn với Charlie. Còn tôi, tôi chỉ biết hỏi là tại sao Cha lại không giữ lời hứa với mẹ tôi? Tại sao và tại sao...?

(29 tháng 5 năm 2012)
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
mozart
#2041 Posted : Friday, April 29, 2016 8:58:57 PM(UTC)
mozart

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 344
Points: 1,045

Thanks: 114 times
Was thanked: 387 time(s) in 160 post(s)


30.04.2016
một chút gì để nhớ

1 user thanked mozart for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2042 Posted : Saturday, May 14, 2016 3:52:08 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)



CƠN NƯỚC LŨ


Để biết ơn Thương Binh V.N.C.H.

ĐIỆP MỸ LINH

Thấy một thanh niên trông quen quen, mặc quân phục Hải Quân, đi ngược chiều với mình, Thạch chậm Vespa lại. Nhận ra người bạn thân hồi trước học trường Hưng Đạo rồi sau cùng vào Đại Học Khoa Học với chàng, Thạch thắng Vespa, reo lên:

-Luân! Phải Luân không?

Chàng Hải Quân ngạc nhiên:

-Ủa, Thạch! Mày làm gì mà mặc đồ Biệt Động Quân “ngon” vậy?

-Tao bị động viên vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức; ra trường, xin về Biệt Động Quân. Còn mày, đi Hải Quân hồi nào? Tao nhớ hình như mày nhỏ tuổi hơn tao mà.

-Ừ, tao chưa bị động viên; nhưng thấy bạn bè nay đứa này “lên đường”, mai đứa kia bị thương, mốt đứa khác tử trận, tao chịu không được, tình nguyện vào Hải Quân.

-Hải Quân mà giờ này lang thang ở đây?

-Chiến hạm vừa về nghỉ bến, tao muốn ghé thăm bà Cô để nhờ nhỏ em chở giùm về nhà Bố Mẹ tao. Còn mày?

-Tao đi phép về thăm gia đình. Mày đi đâu, tao chở mày đi?

Vừa “phóng” lên phía sau Vespa Luân vừa nói:

-Cảm ơn mày. Cô tao ở gần đây thôi.

-Có phải bà Cô mà hồi trước tụi mình thường tới chơi rồi đàn hát hay không?

-Đúng rồi.

-Vậy thì tao nhớ rồi.

Thạch chợt nhớ Cô có người con gái đàn và hát rất hay, nhưng chàng không nhớ tên; vì lúc đó cô bé còn nhỏ, chưa gợi được sự chú ý của thanh niên.

Thạch dừng Vespa trước nhà Cô. Luân bước xuống, chưa kịp cảm ơn Thạch thì Thủy Ngọc – con gái của Cô – đi học vừa về. Thủy Ngọc vui mừng chào Luân và Thạch rồi đi vào nhà. Ánh mắt của Thạch không rời Thủy Ngọc.

Thấy ánh mắt của Thạch, Luân hơi phân vân; vì biết Chú của chàng không thích nhà binh – nhất là sĩ quan thuộc các quân binh chủng “thứ dữ” – vì Ông ngại con gái của Ông sẽ…Nhưng nếu, ngay bây giờ, Luân từ giả người bạn thân từng học chung, đi biểu tình chung, từng “văn nghệ văn gừng” với nhau trên các sân trường đại học thì Luân không đành!

May quá, nhờ Thủy Ngọc cho biết có Luân và Thạch đến thăm, Cô bước ra cửa:

-Luân! Sao không đưa bạn vô nhà chơi, con?

Luân chưa kịp đáp, Thạch đã vội dựng Vespa, cúi chào:

-Dạ, kính chào Cô. Lâu rồi mà Cô vẫn nhận ra cháu.

-Cháu bận đồ lính thấy khác thật, nhưng Cô vẫn nhận ra. Vô chơi, cháu.

Từ hôm đó, mỗi ngày Thạch đều đến Bến Bạch Đằng, lên chiến hạm HQ505, rủ Luân đi thăm Cô. Như dạo còn đi học, mỗi khi đến nhà Cô, Thạch thường đệm Guitar, Luân đàn Piano, Thủy Ngọc đàn Violon; đôi khi ba người thay đổi nhạc cụ hoặc cùng hát bên nhau.

Sau đó, mỗi khi về phép, Thạch đều đến nhà Cô để thăm Thủy Ngọc. Thời gian này Thủy Ngọc đã trở thành một thiếu nữ cao, với những đường nét rất cân đối cùng gương mặt xinh đẹp, nhân hậu và đôi mắt nâu thơ dại. Chính nét thơ dại trong đôi mắt nâu nồng nàn và khuôn mặt phảng phất vẻ đẹp Tây Phương cùng với tiếng đàn, tiếng hát của Thủy Ngọc mà rất nhiều chàng trai say mê, theo đuổi nàng.

Thạch thầm tiếc là thời gian trước đây, cùng Luân đến thăm Cô và biết Thủy Ngọc học cùng trường, Thạch đã không hề để ý đến cô bé con, người còn “suôn đuột”, “chưa có ngực”. Bây giờ, mỗi lần về phép là mỗi lần hồi hộp, vì Thạch không biết Thủy Ngọc đã bị ai chinh phục hay chưa!

Riêng Thủy Ngọc, dù biết Bố không thích nàng giao thiệp với nhà binh, nàng cũng vẫn bị cuốn hút vì bộ quân phục thẳng nếp, mái tóc cắt ngắn, làn da sạm nắng, dáng đi hiên ngang, đôi mắt nhìn thẳng và thái độ tự tin.

Tình yêu trong lòng Thủy Ngọc và Thạch âm thầm nảy sinh cho nên chàng và nàng thường chọn những tình khúc có lời ca ướt lệ để cùng đàn, hát bên nhau.

Những khi vắng Thạch, Thủy Ngọc thường thẩn thơ một mình, nét mặt buồn buồn và đôi mắt xa xăm như mong ngóng một điều gì! Khi Thạch về phép, ghé thăm, Thủy Ngọc tươi cười, líu lo như chú chim non vừa sổ lồng.

Mỗi khi thấy sự thay đổi thái độ nhanh chóng của Thủy Ngọc, Bố Mẹ của nàng tự hỏi, tại sao Thủy Ngọc không vui tươi, hớn hở đối với những thanh niên khác, có bằng cấp và địa vị cao, đang cố chinh phục nàng mà nàng lại chỉ vui tươi hớn hở với Thạch thôi?

Không những thế, khi Thạch và Thủy Ngọc cùng đàn và hát bên nhau, Bố Mẹ của Thủy Ngọc để ý: Dư Âm là tình khúc Thủy Ngọc và Thạch cùng đàn và hát nhiều nhất; kế đến là Love Me Tender. Bố Mẹ của Thủy Ngọc không hiểu tiếng Anh, nhưng động từ “love” thì Bố của Thủy Ngọc biết. Thế là Bố chỉ cần nhớ chữ “tender” rồi phiên âm ra tiếng Việt, hỏi Luân. Luân vô tình và ngay thật cho Bố biết đó là tựa một tình khúc của Elvis Presley. Bố bảo Luân dịch lời ca ra tiếng Việt.

Sau khi hiểu rõ lời ca, Bố Mẹ trực tiếp cho Thạch hay rằng Ông Bà không cho phép Thủy Ngọc giao thiệp với Thạch nữa!
* * *
Nơi hậu trường, cách sân khấu bằng một tấm màn dày, thấy Thủy Ngọc đang hóa trang cho màn trình diễn thời trang, thái độ rất vui và tự tin, Thầy phụ trách văn nghệ hỏi:

-Thủy Ngọc! Sẵn sàng cả rồi chứ?

-Dạ, thưa Thầy…

Vừa nói ngang đó, Thủy Ngọc chợt dừng lại; vì giọng Tenor của ai nghe quen quen, vang lên từ bên kia bức màn ngăn cách sân khấu và hậu trường: “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ. Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ…”(1) Thủy Ngọc nhíu mày, đứng lặng như pho tượng! Nhưng trong tiềm thức, tình yêu nàng âm thầm dành cho Thạch bỗng cuồn cuộn trổi dậy như cuồng phong!

Riêng Thạch, sau khi bị Bố Mẹ của Thủy Ngọc yêu cầu đừng liên lạc với Thủy Ngọc nữa, Thạch rất buồn và thất vọng! Những lúc hành quân truy kích hoặc trực thăng vận nhảy ngay trên đầu địch, Thạch quên mất nỗi buồn; nhưng khi rảnh rỗi hoặc nghe ai đàn, hát một nhạc phẩm mà chàng và Thủy Ngọc thường đàn và hát bên nhau thì nỗi buồn và sự thất vọng kéo về, đè nặng trong tim! Giờ đây, đang diễn đạt tất cả nỗi niềm của tác giả và cũng là niềm đau của chàng, giọng Thạch trở nên tha thiết vô cùng: “…Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời….Anh như lầu vắng em như ánh trăng reo muôn ý thơ…Tim anh băng giá đang ngại ngùng câu năm tháng mong chờ…”(2)

Mấy năm qua, những kỷ niệm khi Thạch và nàng cùng đàn hát bên nhau tưởng đã chìm vào dĩ vãng; nhưng bây giờ, tiếng hát cao vút của ai bên kia tấm màn lại làm cho trái tim của Thủy Ngọc thổn thức âm thầm – nhưng rất dữ dội!

Thái độ của Thủy Ngọc làm Thầy phụ trách văn nghệ thắc mắc:

-Thủy Ngọc! Chị bình an chứ?

-Dạ…thưa Thầy, ai…ai… đang hát ngoài đó, thưa Thầy?

-Nhận không ra giọng à? Thạch đó. Thạch hồi trước cũng trong ban văn nghệ với Luân và Thủy Ngọc đó, nhớ không?

-Dạ thưa Thầy, hôm tổng dợt, sao con không thấy màn đơn ca của anh Thạch trong chương trình?

-Hôm qua Thạch ghé thăm trường, biết trường có buổi văn nghệ đêm nay, Thạch xin hát một bài. Nhận thấy Thạch là học trò cũ, năng khiếu văn nghệ cao, lại lên đường tòng quân, tôi cảm phục và chấp thuận. Thôi, chị chuẩn bị đi, sắp đến phiên chị đó.

Nói xong, Thầy quay đi. Thủy Ngọc thở dài vừa khi Thạch chấm dứt màn đơn ca trong tiếng vỗ tay vang dội; rồi nhiều tiếng “bis…bis…” vang lên. Thạch nói vào micro:

-Xin cảm ơn quý vị, quý Thầy Cô và các bạn. Tiếp theo, Thạch xin trình bày tình khúc My Heart Will Go On của Celine Dion
Lại tiếng vỗ tay. Thạch dạo đàn rồi “bắt” vào: “Every night in my dreams, I see you, I feel you that is how I know you go on. Far across the distance and spaces between us you have come to show you go on…” Theo giọng hát buồn buồn của chính mình, Thạch nhớ những buổi chiều im vắng, sau khi hành quân trở về, chàng thường ôm Guitar, vừa đàn vừa hát vừa nhìn dòng suối cạn phía xa trong khi hoàng hôn lũ lượt kéo về phủ xuống núi rừng thâm u.
Nơi vùng núi rừng thâm u đó, mỗi khi đoàn quân dừng chân, Thạch thường chạnh lòng nghĩ đến phận đời của chàng và của những thanh niên cùng thế hệ với chàng – ở miền Nam – rời gia đình, xa người thân và bạn hữu, phải hành quân liên miên để chống trả những đợt tấn công ác liệt của Bắc quân xâm lược!

Suốt thời gian được tăng phái, Thạch không thể nhớ được bao nhiêu lần đơn vị chiến lược này bị “tiền pháo, hậu xung” và bị tấn công bằng chiến thuật “biển người”. Thạch chỉ nhớ lần cuối cùng, để giải tỏa áp lực của Bắc quân quanh đơn vị chiến lược này, đơn vị của chàng được lệnh tham dự cuộc hành quân hỗn hợp với một đơn vị Bộ Binh, vào một ngày mưa to gió lớn, có thiết giáp yểm trợ để càn quét các đơn vị Cộng Sản Việt Nam từ Bắc xâm nhập.

Chính trong cuộc hành quân quy mô này Thạch bị Bắc quân dùng súng CKC bắn sẻ, khi Thạch đang khom người điều quân qua ống liên hợp. Viên đạn trúng chân trái của Thạch. Thạch và Tiểu Đoàn Trưởng Thiết Giáp xin trực thăng tải thương; nhưng thời tiết quá tệ và cũng vì súng phòng không của địch bắn lên xối xả, trực thăng không thể “bốc” thương binh!

Khi được đưa về quân y viện, vết thương đã sưng to và làm độc!… Nhớ đến đây, giọng Thạch trở nên nghẹn ngào, đầy u uất:”…And my heart will go on and on. Love can touch us one time and last for a lifetime and never let go till we’re gone…”

Trong khi nén xúc động, cố kềm nước mắt để Thầy và bạn khỏi biết, Thủy Ngọc chợt nghe các nam sinh “xầm xì”:

-Anh Thạch “hết sẩy”! Ảnh “ngon” thiệt!

-Tội nghiệp ảnh quá!

Hai tiếng “tội nghiệp” khiến Thủy Ngọc tò mò. Bước đến bên trái sân khấu, nhìn ra, Thủy Ngọc ôm ngực, tưởng như trái tim của nàng đã thoát khỏi lồng ngực! Trước mắt nàng, Thạch – trong quân phục Biệt Động Quân, mũ nâu vắt hờ vào cầu vai trái – đang ngồi trên ghế, chiếc nạn gỗ dựa thành ghế, hai tay của Thạch ôm Guitar. Thạch tựa thùng Guitar lên bắp vế chân phải và đệm theo tiếng ca não nùng của chàng. Như không tin vào mắt mình, Thủy Ngọc cố thay đổi vị thế nhưng nàng cũng chỉ thấy một chiếc giày trận bên chân phải của Thạch thôi!

Trong khi Thủy Ngọc run rẩy, nước mắt nhạt nhòa thì Thạch hát đến câu cuối: “…We’ll stay forever this way. You are safe in my heart. And my heart will go on and on.” Thạch cúi chào. Cả hội trường vừa vỗ tay vừa đứng lên.

Thủy Ngọc hy vọng rằng Thạch sẽ vào hậu trường bằng cánh trái để nàng có dịp trực diện với chàng; nhưng, không hiểu vì vô tình hay cố ý, Thạch rời sân khấu bằng cánh phải. Thủy Ngọc ôm mặt, khóc như mưa!

Vài cô bạn cho Thầy phụ trách văn nghệ biết sự việc đang xảy ra cho Thủy Ngọc. Thầy đến, đưa Thủy Ngọc ra sau tấm màn:

-Tại sao chị lại xúc động quá độ như vậy?

Tự nhủ, sẽ không để niềm đau thương của riêng mình ảnh hưởng đến buổi văn nghệ mà toàn trường đã dày công tập luyện, Thủy Ngọc trở nên bình tĩnh một cách lạ thường:

-Thưa Thầy, con xin lỗi. Như Thầy biết, anh Thạch là bạn cùng lớp với anh Luân của con. Anh thạch thường đến nhà con hòa đàn với anh Luân và con. Bây giờ, bất ngờ thấy anh Thạch như thế con chịu không được!

-Tôi hiểu. Chị nghĩ chị có vững tinh thần để giữ tiết mục độc tấu Violon hay không?

-Dạ, thưa Thầy…

Bất ngờ một ý nghĩ thoáng qua, Thủy Ngọc tiếp:

-Thầy cho con xin một đặc ân, được không ạ?

-Vâng, chị cứ nói.

-Thưa Thầy, con xin Thầy cho con được đổi mục độc tấu bằng mục đơn ca.

Đã từng nghe Thủy Ngọc hát nhiều lần trong những buổi văn nghệ trước đây, Thầy gật đầu:

-Vâng. Chị cho người giới thiệu chương trình biết sự thay đổi này và cho anh đàn Guitar biết “tông” và nhịp điệu của bản nhạc, nhé!

-Dạ. Con xin cảm ơn Thầy.

Sau khi nghe người điều khiển chương trình giới thiệu Thủy Ngọc sẽ trình bày ca khúc Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy, Thạch cảm thấy bồi hồi, xúc động! Nhìn dáng Thủy Ngọc thướt tha bước ra, cúi chào, đến sau micro rồi kéo micro cao hơn, Thạch tự hỏi, không biết tình cờ Thủy Ngọc chọn ca khúc này hay là…Thạch thở dài, lắc đầu, không muốn nghĩ tiếp.
Dạo phân đoạn đầu xong, người đàn Guitar “rải” một tràng hợp âm và Thủy Ngọc “bắt” vào: “Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về… Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ. Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân…” Nét mặt thống khổ, hai hàng nước mắt tuôn dài cùng tiếng ca nức nỡ của Thủy Ngọc khiến tất cả khán giả bàng hoàng đến sửng sờ!

Đến đoạn điệp khúc, giọng Soprano của Thủy Ngọc vút cao: “…Anh trở về nhìn nhau xa lạ. Anh trở về dang dở đời em. Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen. Cố quên đi một lần gian dối, anh ơi!…”. Một quân nhân mặc quân phục Biệt Động Quân, chống nạn, khập khểnh rời hội trường; vì trái tim của quân nhân này không thể nhận thêm bất cứ sự đau đớn, dày vò nào nữa!…
• * * *
Thấy Luân cùng với Bố Mẹ đến thăm, Ni Cô Diệu Thu rất ngạc nhiên; càng ngạc nhiên hơn nữa khi Ni Cô thấy thái độ của Luân rất bối rối, bồn chồn và Bố Mẹ thì lo âu, buồn bả, chứ không bình thản như những lần Bố Mẹ đến thăm nàng trước đây. Luân nhập đề ngay:

-Ni Cô có theo dõi thời sự hay không?

-Dạ không. Nhưng em nghe nhiều Phật tử bàn tán.

-Cô Chú muốn tôi đưa lên đây để thuyết phục Ni Cô cùng di tản với gia đình.

-Thưa Bố Mẹ, thưa anh, con đã an trú cửa Phật rồi thì đâu có gì mà phải di tản?

-Ni Cô chưa hiểu bản chất của Cộng Sản đâu. Ni Cô nên nghe lời, về nhà cùng đi với gia đình; gia đình không bao giờ ra đi mà để Ni Cô ở lại.

Quay sang Bố, Ni Cô giải thích:

-Thưa Bố Mẹ, người đã thành tâm xuất gia thì không bao giờ chọn sự sung sướng cho bản thân mà chỉ cầu an vui cho tha nhân. Con chỉ muốn sớm tối nương tựa cửa Phật và phát huy đạo pháp.

Giọng Bố rất buồn:

-Nếu Ni Cô muốn phát huy đạo pháp thì Ni Cô nên đi với gia đình; dù gia đình cũng chưa biết sẽ đi đâu và đến đâu. Nhưng gia đình – nhất là các em trai của Ni Cô – không thể nào ở lại với Cộng Sản. Đến bất cứ đâu, Ni Cô cũng có thể rao truyền về Phật Giáo để cảm hóa con người.

-Thưa Bố, nếu muốn cảm hóa con người một cách thiết thực thì con nên ở lại Việt Nam để cảm hóa những kẻ ác – những kẻ đã tạo ra không biết bao nhiêu đau thương cho dân tộc Việt Nam!

Rất ngạc nhiên trước sự suy luận rất hiện thực của Ni Cô, nhưng Bố vẫn thuyết phục:

– Ni Cô nên nhớ, ở ngoại quốc rất ít người theo đạo Phật; Ni Cô nên ra đi để có cơ hội giúp người ngoại quốc hiểu về Phật Giáo.

-Thưa Bố, con nghĩ, trên thế giới, bất cứ người nước nào cũng có nhiều thiện tâm hơn người Việt mình; thế thì người ngoại quốc không cần con phải đem đạo lý của Đức Phật ra giảng cho họ.

-Lý do nào Ni Cô lại nói như thế?

-Bố và anh Luân nghĩ xem, trên thế giới có quân đội nào xua quân tàn sát gần như trọn vẹn dân chúng của một thành phố lớn, như Huế, năm 1968? Có quân đội nào mỗi ngày pháo kích cả ngàn quả đại pháo hoặc hỏa tiễn 120 ly vào các thành phố đông dân cư, như Bình Long, An Lộc rồi pháo kích ngay vào trường học Cai Lậy và bệnh viện Long An? Có quân đội nào pháo kích chính xác và điên cuồng vào đoàn dân chạy loạn từ Quảng Trị vào Huế năm 1972 và từ Đà Nẵng sang Tiên Sa vào tháng cuối Ba năm 1975? Có quân đội nào đưa ra chiến trường thanh niên 15, 16 tuổi rồi buộc những thanh niên này phải thực hiện chiếc thuật biển người? Có quân đội nào, ngay sau khi cưỡng chiếm được mục tiêu, đã xua đuổi tất cả thương binh ra khỏi những quân y viện của “bên thua cuộc”? Câu giải đáp là: Chỉ có Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt mới vô nhân tính khi thực hiện những hành động tàn ác đó. Những hành động dã man như thế không thể gọi là chiến đấu.

-Nếu Ni Cô hiểu được như thế thì Ni Cô càng nên ra đi, xa lánh kẻ ác. Nơi môi trường mới Ni Cô cũng vẫn có thể hoằng dương đạo pháp.

-Thưa Bố, nếu cần phải dùng tín ngưỡng để cảm hóa con người thì chúng ta nên dùng tín ngưỡng để cảm hóa kẻ ác trước; và kẻ ác cần phải cảm hóa chính là những người Cộng Sản Việt Nam; vì họ đã bị đầu độc, bị cổ xúy, rồi dùng vũ khí của Nga, Tàu và tất cả mọi thủ đoạn để giết người miền Nam với chủ đích cướp đi phần đất mà chính những kẻ ác đó đã đồng ý phân chia từ năm 1954!

Luân có vẻ sốt ruột:

-Chúng ta không có thì giờ để tranh luận. Ni Cô nên nghe lời Cô Chú kẻo Cô Chú buồn.

-Thưa Bố Mẹ, con xin lỗi Bố Mẹ. Bố Mẹ cho con ở lại để con được thực hiện hạnh nguyện của con.

Đến lúc này, không thể kềm giữ tình cảm được nữa, Mẹ khóc ròng:

-Con ơi! Bố Mẹ chỉ có con là con gái, không hiểu vì lý do gì con đi tu, Mẹ đã đau buồn nhiều lắm rồi! Bây giờ con lại đành đoạn ở lại thì Mẹ sống sao nỗi, con ơi!

… Kể đến đây, Luân cảm thấy đau lòng quá, vội nhìn xuống để Thạch không thấy đôi mắt ửng đỏ của Luân. Cả hai im lặng rất lâu. Nhìn vùng biển lao xao phía xa của trại tỵ nạn Orote Point, Guam, tâm trí của Thạch quay cuồng. Cảm giác hụt hẩng và trạng thái chối bỏ quyện vào nhau khiến Thạch cảm thấy nhức đầu và gần như ngộp thở! Cảm giác này cũng tương tự như buổi sáng năm nào, tại quân y viện Pleiku, Thach tỉnh lại, nhận ra chân trái của chàng không còn nữa!

Luân hỏi:

-Thạch! Lần cuối cùng mày thấy hoặc gặp Thủy Ngọc là lúc nào?

Thạch kể lại diễn tiến buổi văn nghệ liên trường. Luân thở dài:

-Thế thì tao hiểu rồi. Tội nghiệp em tao! Nó giữ kín niềm đau, gia đình không ai biết. Tại sao mày bị thương mà mày cũng giấu tao?

-Vì mày biết thì Thủy Ngọc biết.

-Nếu thế thì mày tham dự văn nghệ liên trường để làm gì?

-Tình cờ ghé thăm trường tao mới biết có buổi văn nghệ đó. Tao suy nghĩ và muốn đích thân tao giải bày nỗi niềm của tao với Thủy Ngọc chứ tao không muốn người khác mách lại.

Bất ngờ nghe Luân vô tình nói tên ngôi chùa mà Thủy Ngọc đang tu, tâm trạng của Thạch rối bời và trí óc quay cuồng! Sau khi bằng lòng với quyết định của mình, Thạch bảo:

-Thôi, tao đi!

-Đang sắp hàng lấy phần ăn, sắp tới phiên rồi, sao mày lại bỏ đi?

Thạch vẫy tay, khập khểnh bước đi…
* * *
Nhờ số tiền những người di tản biếu trước khi Thạch trở về trên thương thuyền Việt Nam Thương Tín – khi Thạch bị giam tại Nha Trang, ban quản giáo tịch thu hơn một nửa – Thạch đi xe đò về Saigon, đến ngay ngôi chùa mà Luân đã vô tình nói tên.

Sư Cô trù trì cho Thạch biết, lý do Ni Cô Diệu Thu xin hoàn tục là vì Bố Mẹ của Ni Cô bị “cách mạng” cho đi kinh tế mới. Ni Cô biết Bố Mẹ không quen lao động cực nhọc, Ni Cô muốn nhận lãnh trách nhiệm của người con bất hiếu! Bao giờ Bố Mẹ quy tiên, Ni Cô sẽ trở lại con đường tầm đạo!

Đến nhà Thủy Ngọc, chỉ thấy những kẻ quê mùa, đen đúa, còi cọc và hầu như ai cũng có đôi má gồ, răng vẩu, đầy cáu bẩn, đôi mắt láo liêng như rình rập ai, như sợ sệt điều gì và phát ngôn the thé thứ tiếng Bắc rất lạ tai, Thạch than thầm: “Những kẻ này mà thắng mình được sao, Trời!”

Đến nhà Bố Mẹ của Luân, Thạch cũng chỉ thấy những người của “bên thắng cuộc”!

Thạch về nhà Cha Mẹ. Một người đàn ông – cũng da xanh mét, răng hô, má gồ và đôi mắt láo liêng như sợ sệt, như theo dõi ai – bước ra, hỏi:

-Anh cần gì?

-Cách nay không lâu, tôi ngụ tại ngôi nhà này.

-Ô, thế anh “nà” con của ông Trưởng Ty…

Thạch đáp nhanh, không để ông này nói tiếp:

-Vâng. Tôi là con cả.

-Thế anh “nà” đại úy Biệt Động Quân, đúng không?

-Vâng.

-Tôi được “nhà nước” cấp cho ngôi nhà này, ngoài ra chúng tôi không biết gì cả.

Thạch thầm nghĩ “Chiến thắng để được như thế này hèn chi ‘cha con nó’ mới thề ‘sinh Bắc tử Nam’!” rồi hỏi:

-Thế ông biết Ba Má tôi dời đi đâu không?

-Gia đình tôi mới dọn vào nhà này khoảng vài tháng thôi nên tôi chả biết.

Thạch cảm ơn ông rồi bùi ngùi quay đi.

Lang thang, đau khổ và lạc lõng ngay trên quê hương mà chàng đã để lại một phần thân thể, Thạch bỗng nghe tiếng hát nghẹn ngào của một thương binh “Ngụy” đang ngồi xin tiền bên gốc cây: “…. Chạnh lòng tìm người em gái cũ, em tôi đã đi phương nào? … Giờ này tìm đâu hình bóng cũ, em ơi! Em đi về đâu?… Để rồi một năm nơi biên cương dấn bước thân nơi sa trường. Ngày thì tìm vui bên tiếng súng khi đêm anh vui với đàn…Dù mộng tàn phai trong thương đau…”(3)

Tiếng ca ai oán của anh thương binh như cơn nước lũ cuốn đi tất cả sự kiên nghị, bản tính can cường và ý chí phấn đấu của Thạch! Thạch hơi cúi đầu, bậm môi thật chặt rồi kín đáo đưa tay quẹt nước mắt!…

ĐIỆP MỸ LINH

(1) và (2) Dư Âm của Nguyễn Văn Tý
(3) Chiều Hành Quân của Lam Phương

1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
thunder
#2027 Posted : Monday, June 6, 2016 2:44:35 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,096
Points: 12,485

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Obama chơi cờ vây



Chuyến đi của ông Obama đến Việt Nam đã gây thành một cơn sốt, người ta gọi nó là Obamania. Gọi là cơn sốt bởi vì Obama từng viếng thăm trên 50 quốc gia, nhưng chưa ở đâu như ở Việt Nam, hàng chục ngàn người dân đổ xô ra đường, sắp hàng chờ đón như ở Việt Nam. Dân chúng bỏ phiếu bằng chân, lòng dân hướng về nước Mỹ.

Truyền thông nhà nước thất bại. So sánh với hình ảnh đón tiếp Tập Cận Bình thì rõ. Người ta giăng hình gạch mặt ông Tập, biểu ngữ đuổi Tập xéo khỏi VN. Khẩu hiệu 4 tốt, 16 chữ vàng chỉ là trò lừa đảo. Mới đây, cư dân mạng vừa đăng một truyện cười, chuyện như vầy.

Có hai chiếc xe đang chạy ngược chiều thì đụng nhau. Cả hai đầu xe đều bẹp gí, chủ nhân của hai xe là một người đàn ông và một người đàn bà. Sau phút định thần, người đàn bà mở cửa xe đon đả tiến về phía chiếc xe kia ân cần hỏi han.

Người đàn bà nói, “Trong cái rủi cũng có cái may, chúng ta từ hai nơi xa lạ, vì một cái tai nạn này mà may mắn được biết anh.”

Người đàn ông nói, “Vâng, đụng xe là chuyện nhỏ, rất hân hạnh được biết cô.”
Người đàn bà mỉm cười, “Hay là, mời anh tới nhà, rồi em sẽ tìm phương tiện đưa anh về nhà.”

Người đàn ông hớn hở, đồng ý ngay. Cơ hội hiếm có để quen một người đàn bà xinh đẹp như vầy. Lúc đó, người đàn bà lập tức trở lại xe, lôi ra một chai rượu và khoèo thêm một cái ly.

Nàng cười rạng rỡ, rót đầy một ly, “Nào mời anh, chúc mừng cho cuộc hạnh ngộ của chúng ta hôm nay.”

Anh chàng vui vẻ, nốc cạn 100% bày tỏ thiện ý. Tới phiên chàng, anh ta cũng rót đầy một ly rượu mời nàng. Nhưng, người đàn bà từ chối, “Em không thể uống rượu khi lái xe.”

Theo ghi chú của cư dân mạng, người đàn ông đó là người Việt Nam. Còn mỹ nhân được xác định là người Trung Quốc. Xưa nay trong lịch sử TQ, mỹ nhân kế chưa bao giờ thất bại. Còn rượu là ẩn dụ của khẩu hiệu 4 tốt, 16 chữ vàng trong quan hệ Trung-Việt.

Cái quan hệ ấy ra sao? Báo chí, truyền thông TQ hàng ngày vẫn ra rả luận điệu. Việt Nam là đất thuộc địa cũ của TQ, Đảng CSVN là con đẻ của Đảng CSTQ. Mục tiêu nhà nước TQ hướng tới là phải thực hiện chính sách “thu hồi lãnh thổ”, gần nhất là thực hiện Công Ước Pháp-Thanh 1885-1895. Theo đó, biên giới Trung Quốc kéo dài xuống tận Hà Tĩnh. Để thực hiện chính sách này, đảng CSTQ đã dùng chiến thuật cắt lát “salami” hay còn gọi là “luộc ếch trong nồi”.

Chưa bao giờ như lúc này, người ta thấy rõ chủ nghĩa CS thực chất là một cái bẫy văn hóa nhằm xóa sổ biên giới giữa các quốc gia. Chiến thuật đánh phá toàn diện mà đảng CSVN gần như thúc thủ trước một TQ tàn độc và tinh vi bậc nhất thế giới. Trong khi đó Đảng CSVN hình như vẫn còn say ngủ.

Trong thời gian gần đây, chưa bao giờ tình hình Việt Nam lại nguy ngập như lúc này. Sau vụ cá chết, biển nhiễm độc làm kinh tế toàn bộ Miền Trung bị tê liệt. Hàng triệu triệu người đang đối diện với nạn thất nghiệp. Không chỉ ngư dân mà toàn bộ các ngành liên đới tới thủy sản, đóng tàu, du lịch, khách sạn, nhà hàng, chợ búa,… có nguy cơ bị phá sản. Nạn đói lấp ló ngay trước ngõ. Người ta có thể thấy trong vài tháng tới, một cuộc di cư rầm rộ vào Nam để tìm cái ăn.

Nhưng trong Nam cũng đang lâm nguy. Đồng bằng sông Cửu Long năm nay đã khô kiệt. Lý do bởi vì Trung Quốc đã hoàn thành 8 con đập, nước bị giữ lại trên thượng nguồn. Nền ruộng lún, lúa ngập mặn không làm sao sống được. Cho tới thời điểm này, nhiều nơi mạ chỉ cao quá một gang tay. Hai mươi triệu con người sắp bị nạn đói đe dọa. Chưa hết, Trung Quốc dự định sẽ còn xây thêm 12 cái đập trong vài năm tới. Liệu Cửu Long rồi đây có biến thành dòng sông cạn? Liệu những cánh đồng Miền Tây có biến sẽ biến thành sa mạc? Nhìn lên phía Bắc, vào thời điểm này nước sông Hồng cũng lưng chừng đáy. Có người nói, mùa Hè người ta có thể xắn quần lội qua sông Hồng (?) Việt Nam đang là nước đứng thứ nhì trên thế giới về xuất cảng gạo, năm nay đang có nguy cơ phải nhập cảng gạo để cứu đói. Nhưng giả sử cứu được năm nay, ai cứu đói cho những năm sau nữa?

Giáo sư Marvin Ott (Johns Hopkins University, Hoa Kỳ) nói, “Các con đập trên sông Mekong có ý nghĩa chiến lược vì nó cho phép Trung Quốc quyền lực quyết định sự sống chết của những nền kinh tế hạ nguồn trên toàn vùng Đông Nam Á lục địa.”
Âm mưu ngăn chận nguồn nước, một mặt xả chất độc vào biển Việt Nam là 2 cuộc tấn công vào kinh tế trước khi tấn công về mặt quân sự trong nay mai.

Theo tình hình thì cuộc chiến tranh đối đầu giữa 2 nước khó mà tránh khỏi. Âm mưu xâm chiếm Việt Nam là một tham vọng truyền kiếp từ các bậc đế vương Trung Hoa cho đến các lãnh tụ Trung Quốc ngày nay. Chính sách thu hồi lãnh thổ công khai hơn là từ thời Mao tới Tập. Có chiếm Việt Nam và Biển Đông thì Trung Quốc mới đủ thực lực để vươn mình trở thành siêu cường số một thế giới. Thế thì, Việt Nam có chống trả nổi nếu chỉ dựa vào một vài thứ vũ khí mới mua của Nga không? Chỉ số GDP của TQ gấp 54 lần VN. Việt Nam và Trung Quốc đều mua vũ khí của Nga. Nhìn vào bảng đồ so sánh tương quan lực lượng hiện nay, TQ chỉ thua Hoa Kỳ. Nhưng lúc nào truyền thông Hoa Ngữ cũng đồng loạt tỏ ý lo ngại về những thứ vũ khí của VN, đấy chỉ là những đòn tung hỏa mù để VN không chạy theo một cuộc đua vũ trang hay ngả theo Hoa Kỳ mà thôi.

Nhìn vào hiện tình, TQ đã gần như hoàn toàn làm chủ khu vực Biển Đông. TQ bồi đắp và thành lập căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo như đảo Chữ Thập với phi đạo dài 3,250m, đảo Đá Vành Khăn có phi đạo dài thứ nhì 2,644m, có thể cho các phi cơ quân sự hạng nặng hạ cánh. Nếu so với Trường Sa lớn của Việt Nam, phi đạo chỉ có 500m, chiều dài toàn đảo cũng chỉ có 600m. Tiềm lực TQ vượt trội trên 7 hòn đảo nhân tạo đã được bồi đắp, được cơi nới, TQ có khả năng khống chế dễ dàng nếu chiến sự xảy ra. Chỉ khoảng sau một tiếng đồng hồ áp đảo bằng những hỏa lực mạnh, họ dễ dàng tiêu diệt gọn lực lượng VN trên đảo Trường Sa. Sau đó, với hỏa tiễn tối tân và tàu ngầm hạt nhân từ căn cứ Du Lâm trên đảo Hải Nam, lực lượng TQ tỏa ra bao vây hình cung, họ hoàn toàn khóa chặt Biển Đông theo mô hình đường lưỡi bò. Việt Nam sẽ là một quốc gia bị bao vây, không có biển, cũng không có cả không phận nữa.

Hồi năm 1979, trước khi chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, Đặng Tiểu Bình tuyên bố trong vòng 48 tiếng đồng hồ, TQ sẽ bắt toàn bộ Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam ngay tại thủ đô Hà Nội.

Người Việt có câu, “Nói trước, bước không tới”, khi chấm dứt chiến tranh, Đặng Tiểu Bình cũng chưa thực hiện được lời nói này. Cuộc chiến kết thúc, cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Nhưng sự thật cả hai bên đều thảm bại nặng. Dù TQ dùng một lực lượng đông gấp 6 lần, nhưng kết quả thảm bại với 30,000 thương vong. Còn VN bị mất thêm 60km tính từ cột mốc biên giới cũ.

Cuộc chiến biên giới Việt- Trung trải dài theo chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm dựng và giữ nước. Và cho đến nay vẫn chưa lúc nào kết thúc. Từ năm 1989 đến nay, TQ chuyển sang một chiến lược mới nhằm thực hiện giấc mơ “thu hồi lãnh thổ”. Trong những năm gần đây, TQ vẫn không ngừng chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công cướp nước Việt Nam. Để bao vây VN, họ thuê rừng đầu nguồn: Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Móng Cái với hợp đồng 50-70 năm. Thuê những cao điểm khai thác Bauxit Việt Nam ở Tây Nguyên. Lập những khu tô giới giữa Đèo Hải Vân, và khu Vũng Án Hà Tĩnh, Nghệ An, ở những khu này cấm cư dân Việt Nam không được đặt chân tới. Trong những khu đó, TQ ém bao nhiêu quân? Bao nhiêu xe tăng, tàu ngầm, hỏa tiễn, súng đạn chuẩn bị tấn công VN? Trong bản đồ quân sự, rất dễ nhận ra Miền Bắc bị cô lập hoàn toàn. Khi TQ tấn công Biển Đông thì trên bộ, quân khu Quảng Tây cũng sẽ dùng một lực lượng máy bay hùng hậu lập tức xuất kích tấn công Hà Nội. Phong trào chặt cây xanh ở Hà Nội dọn đường cho chúng không kích chính xác. Theo đúng kịch bản, lực lượng công nhân trá hình TQ trong những khu công nghệ trên rừng, dưới bộ sẽ tràn ra khống chế các lượng bộ đội Việt Nam. Đó là chưa kể lực lượng Lào và Campuchia sẽ hùa nhau “té nước theo mưa”, đây là cơ hội người H’Mong vùng Tây Bắc nổi lên chiếm Lai Châu, Sơn La tạo dựng Nhà Nước H’Mong tự trị, người Campuchia thực hiện giấc mơ chiếm lại 6 tỉnh Miền Tây như lời cam kết của TQ-Campuchia năm 1975.

Chưa hết, qua bọn con buôn TQ, hàng ngày họ tràn qua biên giới cơ man bao nhiêu là chất độc tiềm ẩn trong thực phẩm, gia vị, hương liệu,… Các nhà máy TQ tha hồ xả độc xuống sông hồ. Không khí ô nhiễm ở Hà Nội bây giờ như Bắc Kinh, người dân không biết giấu cái mũi của mình đi đâu. Hà Nội nhiễm thủy ngân, Sài gòn nhiễm bụi chì. Bệnh viện Ung Bướu Sàigon tiên đoán, tỉ lệ người bệnh năm tới sẽ tăng tới mức báo động đỏ 400,000 bệnh nhân nhập viện.

Tờ Tokyo ở Nhật cảnh báo, đây là một kế hoạch diệt chủng VN quy mô và tinh vi bậc nhất trong lịch sử thế giới. Hãy coi chỉ số sinh trưởng các sắc tộc Mãn, Hồi, Mộng, Tạng, sau 67 năm sống với TQ. Hiện nay người Mãn chỉ còn 10 triệu dân, Hồi 8 triêu, Mông Cổ 3,6 và người Tây Tạng chỉ còn 3,1. Dân số Việt Nam có 90 triệu, sau này sẽ còn bao nhiêu?

Thảm họa diệt chủng đang ở ngay trước mắt. Một lần nữa, thời kỳ Bắc Thuộc trong lịch sử đang mở ra với sự cộng tác đắc lực của chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Chưa lúc nào như lúc này, tình thế Việt Nam bi đát như chỉ mành treo chuông. Thì đúng lúc đó, Obama tới. Lập tức sự kiện này trở thành cơn sốt. Người Việt trong và nước nô nức gọi, “ Cơn Sốt Obama”. Cứ lên Youtube coi cái cảnh dân chúng khắp nơi từ Hà Nội đến Sài gòn đổ xô ra đường sắp hàng chờ đợi 3,4 tiếng đồng hồ để chỉ mong thấy chiếc xe Obama chạy ngang qua. Chỉ bởi trong cảnh tuyệt vọng khốn cùng, người ta coi chuyến đi của Obama như nắng hạn gặp mưa rào, Obama thổi một luồng sinh khí hà hơi cho nước Việt. Điều này làm ông Obama cảm động quá sức, chưa ở đâu ông được đón tiếp nồng hậu như ở đây. Cả phái đoàn cùng đi cũng ngạc nhiên quá sức. Bởi trước chuyến công du, người ta đã biết thái độ đón tiếp của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Máy bay phải đáp xuống ban đêm, không có một nhân vật cao cấp xứng tầm nào ra đón tiếp, không có nghi thức 21 tiếng súng, không có thảm đỏ,… Mà nước Mỹ đến là để trao cho Việt Nam nhiều ân huệ. Như gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí, mở cánh cổng TPP cho VN, mở trường đại học miễn phí Fulbright, gửi đội Hòa Bình Xanh Peace Corp. đến để dạy tiếng Anh, dạy nghề cho tuổi trẻ Việt Nam, huấn luyện họ để trở thành lực lượng lao động phẩm chất cho TPP, long trọng cam kết trở thành đối tác toàn diện. Nhiều nước ngó thấy mà thèm. Singapore lên tiếng, ở Singapore cũng có bún chả tuyệt y như ở Hà Nội, mời Obama ghé qua một chuyến. Cơ hội độc nhất vô nhị của VN để biến thành Nam Hàn, còn chờ gì nữa?
Nhưng mà “lòng dân ý đảng” là những con đường ngược chiều, trái với sự nhiệt tình nồng hậu của dân chúng, chính quyền CSVN vẫn nghi kỵ, thờ ơ, bạc bẽo. Những nhân vật tối cao trong chính phủ không hề nở lấy một nụ cười, người nào cũng mang bộ mặt “hình sự” quá thể, cộng đồng mạng còn cho biết, con mắt của ngài chủ tịch nước nhìn Obama mang hình viên đạn mới ghê. Còn TT Obama bị rẻ rúng, bị mất mặt với nước Mỹ, với thế giới mà sao ông vẫn cười tươi quá sức. Hình như chưa có một điều gì làm ông vui như thế. Ông mặc aó sơ-mi tầm thường, ngồi ghế nhựa, ăn bún chả, bắt tay, nói chuyện với người dân gần đó sao mà thân thiện, hiền hòa quá đỗi. Chưa có một vị nào trong Đảng, trong chính quyền “do dân, vì dân” ở VN thể hiện được như thế. Nụ cười Obama chưa tắt trong lòng dân thì cùng lúc đó, cư dân mạng lại dậy sóng vì bức hình một quan chức CSVN bắt người bảo vệ phải cõng mình qua vùng nước ngập trước cửa Học viện Chính Trị Quốc Gia HCM vào ngay ngày hôm sau.

Cười với dân chưa đã, Obama còn cười với những người nhìn ông bằng “đôi mắt mang hình viên đạn”. Ông không theo lệ thường, không đòi hỏi phía nhà cầm quyền Việt Nam thả bất kỳ một nhân vật bất đồng chính kiến bị giam trái phép nào ra cả. Ông cũng không yêu cầu điều kiện tiên quyết mà mấy năm trước đây Mỹ vẫn kiên quyết với Nguyễn Tấn Dũng, với Trần Đại Quang, Nguyễn Phú Trọng trong những chuyến vận động ở Mỹ. Bây giờ ông nói bỏ là bỏ, nói cho là cho, không có bất cứ điều kiện gì cả. Các nhà lãnh đạo chưng hửng, bất ngờ tới nhạc nhiên luôn. Nước Mỹ chơi “điệu” đến thế cơ à?

Báo Mỹ phê phán. Anh em đấu tranh nhân quyền, dân chủ cho VN khắp nơi bối rối, nhiều người không khỏi thất vọng. Vì sao Obama lại chịu lép vế dữ vậy cà?
Nhún mình trước “cựu thù” ông Obama, trước hàng chục ngàn người dân đưa tiễn, ông vẫn nở nụ cười thân ái khi đi cũng giống như khi đến. Ông làm người ta nhớ đến câu chuyện Tả Tông Đường đánh cờ của TQ.

Chuyện xưa kể rằng:

“Tả Tông Đường là một danh thủ chơi cờ vây nổi tiếng khắp kinh thành. Với danh hiệu cờ vương, ông vẫn ngầm tự hào mình là một thứ “Độc Cô Cầu Bại” trong thiên hạ.

Có một ngày, ông vâng mệnh vua dẫn quân đi tiễu trừ phiến loạn. Đường đi xa xôi, khi băng qua một cái núi, ông thấy một ngôi nhà tranh đèo heo bên vách đá, trước nhà phất phơ một chiếc lá phướn có đề “Thiên Hạ Đệ Nhất Kỳ Thủ”. Tả Tông Đường nổi giận, “Không biết cái thằng quỷ nhà quê nào dám lộng ngôn thế này? Được, ông sẽ cho biết tay.” Tả Tông Đường bỏ binh mã, một mình lui cui tới trước nhà gõ cửa. Chủ nhân là một lão già trông tầm thường. Sau khi phân ngôi chủ khách, Tả Tông Đường ngọ ý thách đấu 3 ván cờ. Nếu ông thắng, chỉ yêu cầu chủ nhân hạ danh hiệu xuống. Lão già đồng ý. Quả nhiên, Tả Tông Đường chơi 3 ván, thắng cả 3 một cách dễ dàng.

Tả Tông Đường thích thú, tinh thần phấn khởi dẫn quân reo hò một mạch xông ra sa trường, sức quân như nước vỡ bờ, đoàn quân đánh đâu thắng đó.

Khi thu quân trở về, ngang qua cái núi cũ, Tả Tông Đường nổi xung thiên khi thấy cái lá phướn “Thiên Hạ Đệ Nhất Kỳ Thủ” vẫn còn y nguyện. “Cái đồ chết tiệt kia, dám nuốt lời hứa hả?”

Kỳ này, Tả Tông Đường giao, nếu thua, ông lão phải đốt lá phướn ngay lập tức.
Nhưng mà kỳ thay, Tả Tông Đường đánh 3 ván, thua 3 ván. Thua một cách tâm phục, khẩu phục. Tả Tông Đường ngạc nhiên quá đỗi. “Lần này sao tiên sinh chơi hay thế?”
Ông già nhũn nhặn đáp, “Lần trước tướng quân đang mang sứ mệnh trong người, lão không dám làm mất nhuệ khí của quân ta. Nay sứ mệnh đã hoàn thành, lúc này mới thật là lúc chơi cờ vậy.”

Thiên hạ gật gù, A! thì ra, Ông Obama đang chơi cờ vây đây mà. Hiệp nhất thua, ông bị dân Mỹ chê bai quá cỡ. Nhưng ông không care, “Con chim sẻ làm sao thấy được chí Phượng Hoàng”

Hiệp 2, ông hoàn toàn đại thắng. Chuyến đi của ông là một nhát chém chặt đứt liên hệ Việt Trung đứt lìa. Thứ hai, ông hoàn toàn chinh phục dân Việt qua phong cách thân thiện, bình dân, gần gủi đáng mến. Qua đó họ nhận ra giới lãnh đạo CSVN là một thứ chính quyền phong kiến đỏ. Thứ ba, ông chinh phục giới trẻ bằng thiện chí của nước Mỹ, giúp VN bảo vệ chủ quyền quốc gia trước một TQ hung hăng ngang ngược. Bài diễn văn của Tổng thống Barack Obama hôm 24/5 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội đã làm rung động hàng triệu triệu con tim Việt Nam. Dân Việt khắp nơi hởi lòng hởi dạ, từng câu nói của ông Obama mang những hình ảnh, ngôn từ, mang những vần thơ, nét đẹp gắn liền với lịch sử nhiều nghìn năm, với những nhân vật thật gần gũi với dân Việt. Điều đó đã khiến bài diễn văn của lãnh đạo nước Mỹ được hơn hai nghìn khách tham dự, đa số là thanh niên, sinh viên nồng nhiệt đón nhận qua những tràng vỗ tay.

Ông nói,“…Trong nhiều thế kỷ, vận mệnh của Việt Nam nhiều lần bị các thế lực bên ngoài định đoạt. Đất nước thương yêu của các bạn đã có lúc thuộc về người khác. Như những cây tre, tinh thần bất khuất của người Việt Nam đã được thể hiện rõ qua những câu thơ của Lý Thường Kiệt ‘Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận ở sách Trời.’. Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và không nước nào có thể áp đặt hoặc quyết định vận mệnh của các bạn.”

Nghe tới đây, người Việt không khỏi giật mình. Người Mỹ, Hiến Pháp Mỹ tôn trọng chủ quyền các nước như vậy, vậy thì nước Mỹ nào đổ quân xâm chiếm Miền Nam? Cuộc chiến tranh với chiêu bài “ Giải Phóng Miền Nam”, đánh đuổi đế quốc Mỹ hóa ra chỉ là một sự hiểu lầm tai hại của Đảng. Chỉ tiếc, nếu Obama đọc diễn văn này vào năm 1945 thì Việt Nam sẽ tránh được 20 năm chiến tranh, 4 triệu người cũng không bị hy sinh vô ích.

Ông Obama khẳng định mạnh mẽ, “… Dù lớn hay nhỏ thì chủ quyền quốc gia cũng cần được tôn trọng. Và lãnh thổ của họ là bất khả xâm phạm. Các nước lớn không được ức hiếp các nước nhỏ hơn. Các tranh chấp cần được giải quyết một cách hòa bình.” Tiếp theo, ông còn cam kết, “Máy bay và tàu Mỹ sẽ tiếp tục tuần tra trên không và trên biển, ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép. Và chúng tôi sẽ hỗ trợ quyền của các nước có hành động tương tự. Việt Nam sẽ có nhiều loại thiết bị quân sự cần thiết để đảm bảo an ninh. Và Mỹ đang thể hiện sự cam kết này với Việt Nam. Chúng tôi sẽ ở ngay đây với các bạn, với tư cách đối tác của các bạn, bạn hữu của các bạn.”

Hình như câu nói này giống như một thứ cam kết liên minh quân sự… đơn phương bên phía Mỹ. Nó tránh cho VN vi phạm thỏa ước 3 Không với TQ. Chính sách Ba Không 2010 của Việt Nam bao gồm (không liên minh quân sự với bất kỳ nước nào, không để căn cứ quân sự trên lãnh thổ, không dựa vào nước này để chống nước kia) Cam kết thực hiện chính sách 3 Không là tự tước đi sức mạnh của mình, tự trói mình, tự cô lập mình ra khỏi bạn bè, đồng minh quốc tế. Chính sách Ba Không và chủ trương tọa sơn quan hổ đấu – quăng các vấn đề Biển Đông cho Nhật, Mỹ, Phi giải quyết là thiếu tinh thần trách nhiệm quốc tế, và càng bị TQ hung hãn dồn vào chân tường.

Ngày 9 tháng 1 năm nay, báo chí truyền thông VN thông báo, đã phát hiện 46 máy bay ngang ngược vi phạm không phận Việt Nam. Đây là hành động diễn tập nguy hiểm mà phía VN không dám có một cảnh cáo nào với TQ.

Cùng tháng 4 năm nay, chính quyền TQ đã tự động nhổ một loạt các cột mốc biên giới theo Công Ước Pháp Thanh. VN cũng không hề có một phản ứng nào, dù một lời phản đối hay khuyến cáo suông.

Mặc dù người dân cả nước mong muốn VN liên minh với Mỹ để chống TQ, nhưng giàn lãnh đạo của Đảng CSVN vẫn không ngớt có thái độ dè dặt. Với các lý do đưa ra để biện minh như chính sách cân bằng đối trọng với TQ, tìm nhiều nguồn cung cấp vũ khí để tránh bị các cường quốc thao túng,… Nhà nước CSVN đang muốn chối bỏ trách nhiệm đẩy đất nước lệ thuộc quá nhiều vào TQ, đưa tới hiểm họa mất nước, trách nhiệm về nạn đói sắp xảy ra,.. Những thái độ e ngại đó chỉ nhằm một mục đích quan trọng nhất là muốn bảo vệ độc quyền lãnh đạo của Đảng. Vì vậy đối sách chính của nhà cầm quyền hiện nay vẫn là lợi dụng thế lực của Mỹ chỉ để ngăn ngừa, răn đe tham vọng của Trung Quốc. Khi tình thế ổn định trở lại, mối quan hệ “môi hở răng lạnh” sẽ không có gì thay đổi. Thủy chung, đảng CSVN vẫn là con đẻ của Đảng CSTQ.
Có lẽ, ông Obama cũng biết vậy, nên ông chuyển sang một thế cờ khác.

Ông nói, “Vào ngày VN tuyên bố độc lập, người dân đã đổ ra những con phố trên khắp Hà Nội. Và chủ tịch HCM đã trích Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ để nói rằng, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và các quyền bất khả xâm phạm trong đó có quyền được sống tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc…. Tôi đã nói điều này từ trước, Hoa Kỳ không áp đặt mô hình chính phủ của chúng tôi lên đất nước Việt Nam. Những quyền mà tôi nói đây. Tôi tin rằng không phải chỉ là các giá trị riêng của Mỹ, tôi nghĩ đó là các giá trị phổ quát được minh định trong Hiến Pháp Việt Nam, khẳng định rằng người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền tụ họp, quyền lập hội và quyền biểu tình. Những quyền này đều được nêu trong Hiến Pháp Việt Nam.”

Thôi, chết! Hình như Obama muốn nói, chính quyền VN đang vi hiến khi họ đàn áp biểu tình. Chính quyền mới là kẻ phạm pháp, còn người dân thì đang hành pháp. Chẳng phải chính quyền đã “bắt cóc” những khách mời của TT Obama ở Saigon đó sao? Những nhà trí thức nổi tiếng trong tổ chức Xã Hội Dân Sự đều bị như thế cả. Gặp hay không cũng như nhau, ông Obama vẫn điềm nhiên, vì các điều họ định nói, có lẽ ngài đã biết cả rồi. Nhưng nhân quyền, tự do, dân chủ là những quyền không thể kế thừa, không thể xin mà có được. Người ta phải tự tranh đấu, giành giựt, đánh đổi bằng máu và nước mắt. Người Mỹ cũng đã từng phải trải qua những kinh nghiệm đau thương như thế.

Ông nói, “Thế hệ người Mỹ trước đây đến để chiến đấu, một thế mới đến đây để dạy học. Đại học Fulbright sẽ thành lập trong mùa Thu này, và đội quân Hòa Bình Xanh sẽ tới đây để dạy tiếng Anh. Một chương trình hợp tác toàn diện về mọi mặt như kinh tế, khoa học, giáo dục,y tế, kỹ thuật,…”

Để kết thúc, ông nhắn nhủ giới trẻ, “Số phận nằm chính trong tay của các bạn. Đây là thời đại của các bạn,… Nước Mỹ sẽ ở cạnh các bạn, với vai trò vừa là đối tác, vừa là bạn bè của các bạn. Tôi hy vọng mọi người nhớ đến khoảnh khắc này, và cái niềm hy vọng mà tôi vừa phác thảo cho tương lai của cả 2 nước. Hay nói một cách khác cho dễ hiểu, tôi mượn những câu trong thơ của đại thi hào Nguyễn Du đã nói: “Rằng trăm năm cũng từ đây. Của tin gọi một chút này làm ghi”.

Vậy là, ông Obama đá nhẹ cái quả bóng “Tự Do, Nhân Quyền” qua cho giới trẻ. Khi quả bóng còn lăn trên sân cỏ, nào ai biết trước được đường đi của nó?


5-6-2016
Nguyễn Thị Thảo An
1 user thanked thunder for this useful post.
Duy An on 6/18/2016(UTC)
Duy An
#2043 Posted : Saturday, June 18, 2016 2:01:33 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Thơ tưởng niệm Chiều trên đồi 31


Tim Nguyễn

Ðường dẫn trước khi vào thơ

Memorial Day đã đi qua nhưng lòng tưởng niệm các chiến sĩ trận vong vẫn còn ở mãi với mọi người. Cho nên khi nhìn lại chiến tranh Việt Nam không ai quên những người đã hy sinh thân mình vì đất nước. Trong số đó trước hết phải kể đến “Người anh hùng mũ đỏ tên Ðương” – Ðại úy Nguyễn Văn Ðương.

Ðại úy Ðương là Pháo Ðội Trưởng Pháo Ðội B của Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, tháng 2 năm 1971, tiểu đoàn 3 Dù trấn đóng đồi 31 vùng Hạ Lào. Theo ghi nhận của nhà văn Phan Nhật Nam, vị trí Ðồi 31 của Tiểu Ðoàn 3 Dù được Pháo Ðội B3 Pháo Binh Dù do Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương chỉ huy yểm trợ. Vòng đai cực Bắc của Biệt Ðộng Quân bị tấn công trước; tiếp vị trí Ðồi 30 của Tiểu Ðoàn 2 Dù bị công phá. Cuối cùng, chỉ còn lại Căn Cứ Ðồi 31 giữa vòng vây của một sư đoàn Bắc Việt (tỷ lệ 1 chống 15). Ngày 25/2, Ðồi 31 bị tràn ngập, Ðại úy Ðương bị thương đã tự bắn vào đầu hy sinh trước khi căn cứ lọt vào tay Cộng sản Bắc Việt.

Ðại úy Ðương mất đi để lại người vợ tên là Trần Thị Mai và bốn con -Nguyễn Viết Xa con trai út lúc đó mới hai tuổi. Bao năm qua, bà Trần Thị Mai mong ước được tới đồi 31 ở Hạ Lào để viếng linh hồn và cầu nguyện cho chồng nhưng đời sống quá eo hẹp không cho phép bà thực hiện được ý nguyện. Vừa qua, may nhờ nhật báo Người Việt biết được hoàn cảnh mẹ con bà nên đã vận động hải ngoại giúp đỡ. Và ngày 16 tháng 4 năm 2016, bà Trần Thị Mai cùng con trai Nguyễn Viết Xa đã tới đồi 31 ở Hạ Lào thăm viếng. Trải qua bao khó khăn vất vả họ đến được vùng đất xưa. Phóng viên Việt Hùng báo Người Việt thuật lại: “

“Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.

“Cầm tấm hình cố Ðại úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi bà ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.

Tại đây, bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”

“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.” Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về.

“Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”

“Bà Mai cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.

“Bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt. Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.” (trích Người Việt Online)

Thật là những lời đầy nhân bản. Xin để gió mang đi. Và xin những anh em trong màu áo khác ở bên kia hãy đọc và nhìn lại đất nước, nhìn lại bản thân và con đường… Nắng chiều trên đồi 31 còn rực trên vai áo.

chiều. trên đồi*

đã đến
trên đồi ba mốt
nắng
và gió lào
gọi tên
bốn mươi lăm năm
áo xưa đã rách
trăng xưa. bạc màu
vẫn còn hai cái bóng
quỳ khóc
buổi chiều. của cỏ khô. và mây xám
những bông hoa vàng mang từ thành phố
những trái táo
chung quanh là chiến xa. và trực thăng. han rỉ
nước mắt. chiều rơi
chiến tranh đã đi qua
nhưng những vệt máu khô
còn trong nắng chiều. và trên mặt người
trong giúm đất
nhớ người anh hùng một thuở. đã nằm lại trên đồi này
cùng nhiều người khác. bạn và thù
xứ lạ
bát cơm ăn cũng khác
giải oan. xin chia hết. hồn ơi
chiều nay
những cánh bướm vàng mã
bay lên
bay lên
đưa người qua biên giới
về lại bến sông xưa
về lại bến sông xưa
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/27/2016(UTC)
Duy An
#2044 Posted : Sunday, June 19, 2016 3:43:28 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)


Anh không chết đâu anh



Hải Vân


Có những người lớn lên trong cuộc chiến dứt rồi lại nối tiếp, dai dẳng lan tràn khắp nơi đến nỗi đứng ở đâu trên quê hương cũng thấy hình ảnh của chiến tranh. Từ đó họ tự tìm cách sống, tự tìm một con đường tiến thân, sao cho phù hợp với tâm ý mà vẫn có hiệu quả như lòng mong muốn. Ðây là những điều mà tác giả Trần Thiện Thanh hay những người thuộc thế hệ của ông, Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương của Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, đã thực hiện. Bằng khả năng và trách nhiệm, họ đã cống hiến tuổi xuân, thậm chí cả tính mạng cho đất nước, cho Miền Nam Việt Nam. Ngày Cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương tử trận, tên tuổi của ông đi vào lịch sử bằng giòng nhạc bất tử của ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh:

“Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Ðương

Tôi vẫn thấy đêm đêm, một bông dù sáng trên đồi máu

Nghe trong đêm kêu gào, từng tiếng súng pháo đếm mau

Và tiếng súng, tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi, anh đi

Anh không chết đâu anh …”


Khúc ca hùng tráng bi thương, nhớ người quân tử chiến trường từ ly. Chiều tà ảo bóng kinh kỳ, giải khăn sô trắng hồ nghi đoạn trường. Con đường viễn mộng mơ sương, huyền cung hoang hoải trầm hương nhớ người. Lời ca vang động chiến trường Hạ Lào 1971. Lời ca đưa hồn người tử sĩ Nguyễn Văn Ðương hòa nhập vào hồn thiêng sông núi, khiến gia đình, bằng hữu, và cả Miền Nam Việt Nam phải rơi lệ. Ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã hát lên khúc tâm ca ngày Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương vị quốc vong thân. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Hay người từ cõi mộng ngùi trông, đưa tay hái một nụ hồng nhớ thương. Cung đàn nhỏ lệ còn vương, khóa sol viết nửa dặm đường châu sa. Chừng như ngàn hống du ca, gió bay trong gió sơn hà tịch dương.

Có phải ra đi là hết rồi? Không! Anh không chết đâu anh, Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương. Mặc cuộc đời nan dị. Mặc lịch sử thịnh suy. Anh mãi là tráng sĩ. Thiên thu không hồ nghi. Sớm mai bóng tối nhạt nhòa, người đi đâu vẫn về qua cội nguồn. Trùng dương xanh sóng lặng buồn, ngã tư cố quận hoàn dương chiêu hồn.

“Anh không chết đâu anh, anh chỉ về với mẹ mong con

Anh vẫn sống thênh thang, trong lòng muôn người biết thương đời lính

Trong tim cô sinh viên hay buồn, thường nhắc nhở những chiến công.

Chuyện nước mắt ướt sân trường đại học, chuyện anh, riêng anh, riêng anh …”


Hồ trường tráng sĩ sầu dâng! Ai dang tay hứng giòng ngân lệ nhòa. Gọi đây là kiếp phù hoa, hay đây là lúc giang hà bi hoan. Ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã hát như vậy, ngày Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương tạ thế. Ông hát lên khát vọng lớn nhất của đời người chiến sĩ, của gia đình, của bằng hữu, của người dân, của quê hương, khi nhắc nhở những chiến công vẫn còn ghi đậm nét trong trang sử của Miền Nam. Trần Thiện Thanh không hát ca ngợi chiến tranh, không hát đề cao súng đạn. Ông hát để Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương bất tử. Cho dẫu lịch sử sang trang, cho dẫu người cùng thời, người đương thời rồi sẽ tạm biệt cõi đời, nhưng về sau và ngàn năm sau nữa, Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương bất tử. Như Lục Quân Việt Nam Hành Khúc bất tử:

“Ðường trường xa muôn vó câu bay dập dồn.

Ðoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang.

Ði đi lên lời nguyền thề tung gươm thiêng thi gan tài.

Ðời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi .

Ðây đoàn quân ra đi nhịp nhàng mang theo

Thiên hùng ca thắm tươi trời Nam bốn phương.

Ta anh hùng muôn quân phá tan cường binh.

Chí tang bồng đem theo khắp nơi tung hoành.

Ðường trường xa ta quyết đi cho đến cùng.

Nhịp trời mây đoàn quân cất bước đi mau.

Nơi biên cương muôn quân theo loa thét vang.

Cố chiến thắng thề một lòng chung sức xây Việt Nam quang vinh.”


Không thể nào quên ngày Mùng Ba Tết Tân Hợi 1971, chính xác là ngày 29 tháng 01 năm 1971 tại Miền Nam Việt Nam. Trong lúc tại hậu phương dân chúng vui hưởng những ngày xuân bình an, Sư Ðoàn Nhảy Dù trong đó có Trung Úy Nguyễn Văn Ðương được phi cơ từ căn cứ gần Sài Gòn đưa ra Ðông Hà, Quảng Trị. Các chiến sĩ Nhảy Dù được đưa đến những địa điểm đã định hướng từ trước, phối hợp với Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, Thiết Giáp, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Không Quân, và Quân Ðội Ðồng Minh Hoa Kỳ, chuẩn bị tham dự Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719, cuộc hành quân lớn nhất trong lịch sử hai mươi năm Chiến Tranh Việt Nam [1955-1975]. Trong cuộc hành quân này, Trung Úy Pháo Thủ Binh Chủng Nhảy Dù Nguyễn Văn Ðương đã dành viên đạn cuối cùng cho ông.

“Ôi đất mát trên đồi xanh tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh

Ðâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh

Trong những tiếng reo hò kia lẻ loi tiếng súng anh nhiệm mầu

Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh ?

Không! anh không, anh không chết đâu anh, anh mới vừa bỏ cuộc đêm qua ….”


Sau từng giai đoạn nguy nan kết thúc bằng cái chết, mỗi một người tự cất giữ những kinh nghiệm đau thương. Có người biết về địa ngục và vực thẳm, như những người bình an ở đâu đó trên Trái Ðất này biết về hạnh phúc. Sự khôn ngoan của những người lớn lên từ chiến tranh, rất nhiều khi khiến các nhà hiền triết phải thinh lặng nghe nước mắt chảy ngược vào lòng. Bởi vì những người lớn lên từ chiến tranh, đã sống trong tận cùng sợ hãi, đã sống trong tận cùng cái chết của những người thân. Từ đó, họ biết rằng, họ được sinh ra và lớn lên trong vực thẳm chiến tranh. Nếu không muốn bị hủy diệt, chỉ có con đường duy nhất, đó là Tiến Lên Ðể Bất Tử. Như Lục Quân Hành Khúc Việt Nam bất tử. Như Anh Hùng Mũ Ðỏ Nguyễn Văn Ðương bất tử. Như ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” của Trần Thiện Thanh bất tử.

3:30am Thứ Bảy ngày 11 tháng 06 năm 2016
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 6/27/2016(UTC)
thunder
#2028 Posted : Monday, June 27, 2016 10:34:43 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,096
Points: 12,485

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)



HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ HAY LÀ MẬT HỘI BÁN NƯỚC THÀNH ĐÔ



Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, bọn lãnh đạo Hà Nội cảm thấy Trung Cộng quá lấn áp Việt Nam; nếu không sớm thoát khỏi sự kìm kẹp này thì sớm muộn gì, Việt Nam, nếu không trở thành một tỉnh của Tầu thì cũng trở thành một nước nô lệ Tầu như hai lần Bắc thuộc trước. Do đó bọn lãnh đạo Hà Nội đã thi hành chính sách đánh tư sản mại bản để không những cướp đoạt tài sản của người miền Nam mà cả của người Hoa và trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam bằng cách cho vượt biên bán chính thức. Điều này đã làm cho Trung Cộng nổi giận. Không những thế, bọn lãnh đạo Hà Nội còn xua quân sang Cao Miên để đánh nhau với bọn Khmer Đỏ là bọn đang cầm quyền và được Trung Quốc ủng hộ và trợ giúp lúc bấy giờ. Trung Cộng cho rằng bọn lãnh đạo Hà Nội là một bọn “ăn cháo đá bát” và cần phải dậy cho chúng một bài học. Đó là nguyên nhân của cuộc chiến Việt Trung vào năm 1979.

Tuy nhiên cuộc chiến Việt Trung 1979 vẫn không làm bọn lãnh đạo Hà Nội khiếp sợ vì. chính Trung Quốc cũng thiệt hại và đã phải rút lui, chỉ chiếm giữ một số đất vùng biên giới, Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. Hơn nữa, bọn lãnh đạo Hà Nội vẵn còn chỗ dựa vũng chắc, đó là Liên Sô, một cường quốc vẫn còn đang ở vị thế vững mạnh nhất nhì thế giới về quân sự. Do đó chúng vẫn tiếp tục đánh nhau với Khmer Đỏ và dựng lên một chính phủ thân Việt Nam do Heng Samrin làm chủ tịch.

I/ Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị Thành Đô .

Sau 10 năm chiến tranh với Khmer Đỏ (1979-1989), Việt Nam tổn phí cũng nhiều. Hơn nữa, Liên Sô, lúc bấy giờ do Gorbachev nắm quyền, chủ trương xét lại, nên bọn lãnh đạo Hà Nội không còn trông mong gì ở Liên Sô nữa. Năm 1989, bức tường Bá Linh xụp đổ. Cộng Sản Hà Nội càng cảm thấy rất nguy hiểm nếu vẫn cứng dắn với Trung Quốc nên đã quyết định rút quân toàn bộ khỏi Campuchia để làm hài lòng Trung Cộng và ngỏ ý muốn sang thăm Trung Quốc để hàn gắn lại tình hữu nghị hai nước. Trung Cộng cũng biệt vậy, nhưng thấy Mỹ đã thay đổi chính sách đối với Cộng Sản Việt Nam, nên cũng cảm thấy nếu qúa cứng dắn với Cộng Sản Việt Nam có thể bất lợi. Do đó mà Hội Nghị Thành Đô đã được manh nha hình thành. Theo các tư liệu được Trung Quốc tiết lộ thì vào chiều ngày 28/8/1990, Đại Sứ Trung Cộng Trương Đức Duy ở Việt Nam đã nhận được chỉ thị từ trong nước để chuyển tới Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh một thông điệp như sau: “Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1990, cũng hoan nghênh Cố Vấn Phạm Văn Đồng cùng đi .

Hội Nghị Thành Đô, đúng ra là một Mật Hội bán nước, được diễn ra vào ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Tứ Xuyên bên Tầu. Cả hai chính phủ Trung Cộng và Việt Cộng đều không chính thức loan báo về bất cứ một tin tức gì về Hội Nghị này. Người ta chỉ mới biết được trong 2 năm gần đây nhờ Wikileaks và một vài tài liệu khác như Nhật Ký của Lý Bằng, Hồi Ký của Trần Quang Cơ, bài viết của Lý Gia Trung (Tham Tán Chính Trị ĐSQ Trung Cộng), bài viết của Trương Thanh (Vụ Phó Vụ Á Châu Bộ Ngoại Giao Trung Cộng) v.v…mà phiá Trung Cộng đã tiết lộ.

II/ Nội dung Hội Nghị Thành Đô.

Lý Bằng, Giang Trạch Dân, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng.

Hội nghị thành Đô không hề nói gì tới những thiệt hại mà Trung Cộng đã gây cho Việt Nam trong chiến tranh Việt Trung năm 1979 và cũng không đề cập gì tới những phần đất của Việt Nam ở biên giới, đến Ải Nam Quan, đến thác Bản Giốc mà Trung Cộng đã chiếm. Trái lại, đảng Cộng Sản Việt Nam lại xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh.Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng Trung Cộng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tài liệu chi tiết như sau:

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá v.v… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó. Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau: “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Còn Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch của Việt Cộng thì than thở: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.” Chính vì lời nói này mà ông đã bị mất chức Ngoại Trưởng.

Cho dù Wikileaks không tiết lộ, thì xuyên qua những hành động hèn nhát và bất động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước và Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước..

Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán gian hiện nay như cá nằm trên thớt, không dám cựa quậy hay phản đối gì.

Theo Huỳnh Tâm tác giả bài “Tiến Trình Đàm Phán Bí Mật Thành Đô 1990” thì “Kỷ yếu hội nghị bí mật Thành Đô 1990″, mà Nguyễn Văn Linh đã ký kết gồm có 5 qui ước Việt Cộng phải tuân thủ thực hiện:

1 – Xác định chủ quyền vùng đảo Bạch Long Vĩ và Vịnh Bắc Bộ.
2 – Laoshan thuộc về lãnh thổ Trung Cộng.
3 – Xác định chủ quyền biên giới Trung-Việt từ đất liền đến Biển Đông.
4 – Áp đặt luật pháp Trung Quốc vào Việt Nam.
5 – Kế hoạch đưa quân đội Trung Quốc vào Việt Nam.

Kết quả của Hội Nghị Thành Đô là Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành “sự nghiệp vĩ đại” đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “4 tốt và16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp gì thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 4 tốt là: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt” và 16 chữ vàng là: “Láng giềng hữu nghi, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”. Và tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng của Việt Nam đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước của Việt Nam đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng mà thực chất là hoàn tất lộ trình 30 năm (1990-2020), để sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Tóm lại, hội nghị Thành Đô không những để tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, mà còn là để cho CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc tức sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Vì thế gọi Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghi Bán Nước của Việt Cộngcũng không sai.

Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện” v.v…

Bọn Tàu được vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi lại như chúng đã từng đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn chúng đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng bọn Tầu.

Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxite Tây Nguyên đến Cà Mau, chúng di dân tới ở và có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân người Hoa, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy nước, các cơ quan quốc phòng, cơ xưởng sản xuất v.v…

Chúng thuê dài hạn những đất đai mầu mỡ của Việt Nam và cho di dân tới tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố ở Bình Dương

“Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, Hà Tĩnh v.v... nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt còn được sử dụng một phạm vi đất đai là bao nhiêu bởi vì biển, rừng, đô thị đều tràn ngập người Hoa ?

Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó len chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện có cả 1,000 giường cho bệnh nhân, một khu vực ăn chơi, giải trí gồm: các sân vận động thể thao, sân golf, các cửa hiệu thương mại, các nhà hàng sang trọng v.v...

Bọn Tàu sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào để kiểm tra cần thiết hay để kiểm soát an ninh khu vực. Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy thử hỏi chủ quyền quốc gia của Việt Nam còn hay đã mất?


Lê Duy San 6/2015

phamlang
#2045 Posted : Tuesday, August 16, 2016 3:48:38 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Quê Nhà, Quê Người, Quê Mỹ, Quê Việt ?





Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở Seattle, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ Sammamish trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.

Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.
Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

“Khi về đổi họ thay tên.
“Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng”.


Trần Mộng Tú.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#2046 Posted : Tuesday, September 6, 2016 5:55:27 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Thép có, mà cá cũng có!



Những con sâu béo tròn béo trục!


Chưa lúc nào đất nước Việt Nam lại chịu nhục như trong trường hợp này, để một thằng “khách” đến thuê đất làm ăn ở nhà mình mà hỗn xược nói thẳng vào mặt chủ nhà: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được…” Thủ tướng thì không chắc làm được, nhưng Trần Hồng Hà, Bộ Trưởng Tài Nguyên & Môi Trường thì đã nhanh nhẩu “cứu giá,” tuyên bố, vào ngày 22 tháng 8 mới đây: “Người dân miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và cả một môi trường biển sạch, đẹp, an toàn.” “Sẽ” là bao giờ, tương lai gần hay xa?

Nói đến tiểu sử Trần Hồng Hà là nói đến những thứ lổn cổn, lảng cảng toàn là những thứ của đảng: “Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương; Ủy viên Ban cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy, Thủ trưởng cơ quan Bộ, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường…” Đúng là “miệng người sang có gang (mà thêm) có thép!” Dân ráng tin đảng đi, chết thì dân chịu!

Bằng mọi giá phải cứu Hà Tĩnh. Hà Tĩnh là tỉnh có nhiều ủy viên trung ương nhiều nhất, 16 người, trong đó có bộ trưởng Tài Nguyên & Môi Trường Trần Hồng Hà và bộ trưởng Kế Hoạch & Đầu Tư Nguyễn Chí Dũng. Cứu Hà Tĩnh là cứu Formosa và cứu túi tiền, tư lợi của đảng.

Trước khi Trần Hồng Hà tuyên bố chúng ta có cả Thép lẫn Cá, đoàn kiểm tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra và phát hiện thiếu sót 58 hạng mục trong bảo vệ môi trường (phân thành 3 loại: 23 hạng mục về hoàn thành và quản lý công trình bảo vệ môi trường, 23 hạng mục cải thiện khu vực lưu trữ chất thải và 12 hạng mục phối hợp thông tin quan trắc bảo vệ môi trường).

Đến nay, công ty chỉ mới hoàn thành 32 hạng mục; dự kiến đến 30/12/2016 hoàn thành tiếp 22 hạng mục; 30/12/2017 tiếp tục hoàn thiện 2 mục thuộc hạng mục kết nối giám sát ống khói; tháng 6/2018, hoàn thành 2 mục thuộc hạng mục lắp đặt thêm bể sự cố nước thải của xưởng xử lý nước thải.

Những hạng mục chưa thể hoàn thành chủ yếu là các hạng mục phải cải thiện lâu dài gồm hệ thống xả nước thải và xả khí thải; hiện đã sắp xếp thời gian cải thiện, có thể hoàn thành trong 3 năm.

Trong lĩnh vực quản lý xả thải, nhằm đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quản chế nước xả thải, Formosa sẽ lắp đặt thêm thiết bị quan trắc tự động chất lượng nước và bể sự cố nước thải, 3 hạng mục cải thiện đối với xưởng xử lý nước thải.

Với lĩnh vực quản lý hệ thống khí thải, kết nối đường truyền thiết bị quan trắc tự động của 20 ống khói xưởng luyện thép. Cùng đó, Công ty Formosa đang khởi động đánh giá kỹ thuật và tác nghiệp công trình xây dựng, dự kiến, đến 3/2019, hệ thống dập cốc khô sẽ đi vào sử dụng.

Vậy mà giới chức đảng đã coi thường sinh mạng dân, tuyên bố bừa bãi.

Vào ngày 5-8, Viện Kiểm Nghiệm An Toàn Vệ Sinh Thực phẩm Quốc Gia đã lấy 9 mẫu hải sản tại huyện Kỳ Anh và huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh để thử nghiệm. Theo báo cáo văn bản số 752/VKNQG-QLCL, kết quả tìm thấy:

Trong mẫu cá trạng chuồn có hàm lượng cadimi là 0,079mg/kg, vượt quá giới hạn cho phép. Phát hiện lượng hoá chất độc hại cyanua trong 5 mẫu cá – gồm: Cá đuối (0,8mg/kg); ghẹ 3 mắt (0,8mg/kg); cá nhồng (0,6mg/kg); cá man (0,5mg/kg) và cá mỏ neo (3,9 mg/kg). Ngoài ra, xét nghiệm cũng phát hiện hàm lượng phenol trong 3 mẫu cá (gồm: Cá đuối (14mg/kg); ghẹ ba mắt (10mg/kg) và cá man (8,3mg/kg).(theo Danlambao)

Trong khi đó chất thải công nghiệp được nước ngoài, các công ty đã chọn Việt Nam làm bãi rác để tống khứ, vì đất nước dễ hối lộ, không có dân quyền, chính phủ chỉ lo tiền mà không lo cho sinh mạng của dân chúng. Chất thải của Công ty Formosa Hà Tĩnh hiện đã đổ thải trái phép ngay trong trang trại của ông Lê Quang Hòa, Giám đốc Công ty môi trường đô thị thị xã Kỳ Anh. Chất thải này cũng được chia phần cho Phú Thọ. Công ty Ánh Dương ở Đà nẵng cũng bị phát hiện đã chôn lấp hơn 35 tấn rác thải. Nhiều bao bì để lại chứng minh những loại chất thải này cũng đến từ Formosa.

Sự thật đang xảy ra trên đất nước khác hẳn với những lời khoa trương của các cấp lãnh đạo. Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì một hội nghị “trực tuyến” toàn quốc về bảo vệ môi trường, hùng hậu vì có sự hiện diện của hai ông Phó Thủ tướng khác.

Ông Thủ Tướng cũng công nhận rằng, trong thời gian qua, các vi phạm pháp luật về môi trường bùng phát, xảy ra nhiều sự cố môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống người dân, gây bất ổn xã hội. Ông này cũng đã hứa “Kiên quyết không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên của người dân.”

Bộ Trưởng TN& MT cũng phê bình: “Một số ngành, địa phương chỉ chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt nên dễ dãi trong việc thẩm định, xét duyệt dự án; hiệu lực, hiệu quả trong việc phòng ngừa, kiểm soát các nguồn ô nhiễm của nhà nước chưa cao..”.

Hai ông Phó Thủ Tướng cũng lên án: “vừa qua việc đánh giá các dự án có tác động môi trường còn dễ dãi” (Trịnh Đình Dũng) hay “yêu cầu các địa phương phải có kế hoạch cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, lâu nay chỉ nói nhiều, hành động ít.” (Vũ Đức Đam)

Thủ Tướng, Phó Thủ Tướng và Bộ Trưởng TN&MT hiện nay là những nhân vật cao cấp, quyền hạn nhất trong vụ Formosa, nhưng nhân vật nào nói cũng nhiều, phần lớn đổ cho cấp dưới, những thứ gọi là ngành, địa phương, và toàn là kiên quyết, yêu cầu, ra lệnh…
Ai cho phép Formosa, một thứ độc dược đã bị ngay quê hương của nó xua đuổi, đến đây để đầu độc dân mình, chẳng nghe đứa nào đấm ngực nhận tội cả. Đảng lãnh đạo, đảng dẫn đường, đảng chỉ huy. Toà án, quốc hội, chính phủ đều nằm trong tay đảng, thì “ai trồng khoai đất này?”

Không nghe nói đến số tiền bồi thường 500 triệu, cũng không nghe nói đến vụ “xử lý” Formosa, dân 4 tỉnh miền Trung vẫn còn gác thuyền lên bãi, di cư đi bán vé số, làm thuê… để chờ biển sạch, hay chờ ngày không còn… đảng.

Cũng với cung cách và tư duy mị dân hạ đẳng, “những con sâu béo tròn béo trục!”(chữ của Nguyễn Đức Lập) gồm Bộ Trưởng Trần Hồng Hà và đảng ủy 4 tỉnh miền Trung kéo nhau đi tắm biển và ăn tôm mực tại chỗ để cho dân vững lòng tin ở đảng! Kết quả biển đã sạch chưa, tôm cá đã hết nhiễm độc chưa, lấy lại niềm tin của dân, phải chứng minh bằng khoa học, chứ không phải bằng lối nếm nước biển hay ngửi tôm cá để hô lên là biển đã sạch.

Nguyên Chủ Tịch nước thì sau khi lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của ngư dân đã có những “chia sẻ, động viên ngư dân bám biển, vươn khơi!” Nghĩa là sao? Biển độc, cá chết, cũng bám biển, vươn khơi …để làm gì? Đúng là một bọn phục vụ nhân dân bằng “đầu môi, chót lưỡi” và phát ngôn những lời rất là vô nghĩa.

Thật là phước đức cho dân tộc Việt Nam, nhờ có đảng dẫn đường, ngày nay Việt Nam không những đã có cá mà còn thêm thép nữa, hạnh phúc trong vòng 70 năm, thời gian đủ cho chất độc ngấm vào đất, vào nước, vào thực phẩm, vào máu dân Việt.

Cứ tin tôi đi, việc đuổi Formosa, 500 triệu bồi thường, chất độc trong cá trong biển, sẽ được đảng giải quyết theo lối “cứt trâu để lâu hoá bùn,” chỉ có những ông chủ của đất nước sẽ đói từ từ và chết cũng từ từ.

Sợ đến lúc đó, “còn đảng” mà không “còn mình!”

Vậy muốn “còn mình” thì đất nước này phải không “còn đảng!”

Huy Phương
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 9/14/2016(UTC)
thunder
#2047 Posted : Wednesday, September 14, 2016 12:55:37 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,096
Points: 12,485

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Cái chết rình rập trên từng mâm cơm gia đình Việt Nam


Dịp này, đại diện phía doanh nghiệp, bà Thái Hương – chủ tịch Tập Đoàn TH nhấn mạnh, minh bạch là nguồn gốc của mọi vấn đề trong xã hội và là cội nguồn của bất kỳ nhà sản xuất nào.

Dẫn số liệu của Bộ Y Tế, bà Thái Hương cho biết, mỗi năm Việt Nam có hơn 75,000 người chết vì ung thư, nghĩa là trung bình một ngày có 250 người chết. Bộ Y Tế cũng thống kê, chỉ với 6 loại ung thư phổ biến: ung thứ vú, ung thư gan, ung thư đại tràng, ung thư khoang miệng, ung thư dạ dày, tổng chi phí trực và gián tiếp đã lên tới gần 26,000 tỷ đồng, chiếm 0.22% GDP của Việt Nam (năm 2012).

Đầu tháng 5, 2016 vừa qua, ông thủ tướng mới Nguyễn Xuân Phúc chỉ thị “ngay trong năm 2016 phải tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý nhập khẩu, sản xuất, sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y và xử lý dứt điểm việc sử dụng salbutamol, vàng ô, kháng sinh trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Người đứng đầu bộ ngành, địa phương phải chịu trách nhiệm về vấn đề này.”

Nếu có “chuyển biến rõ nét,” các báo tại Việt Nam đã được lệnh đồng ca rầm rộ về các thành tựu đã đạt được và không có lời kêu gào ai oán “Cái chết đang rình rập trên từng mâm cơm gia đình.”

Ngày 12 tháng 7, 2016 vừa qua, Hội Tiêu Chuẩn và Bảo Vệ Người Tiêu Dùng Việt Nam vừa công bố bảng báo cáo khảo sát cà phê trên thị trường một số tỉnh và thành phố trong thời gian qua. Sau 3 đợt khảo sát từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2016, trên các mẫu cà phê bột và cà phê nước tại Hà Nội, Sài Gòn, Bình Dương, Sóc Trăng và Lâm Đồng, kết quả cho thấy “tổng cộng có tới 9 mẫu cà phê hoàn toàn không phát hiện hàm lượng caffeine.” Chúng chỉ là bột bắp, bột đậu nành rang cháy pha thêm hương liệu hóa chất độc hại để đánh lừa vị giác của khách hàng.

Hồi giữa tháng 11 năm ngoái, một đại biểu quốc hội sau khi nghe ông Bộ Trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát điều trần đã kêu rằng “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế!”
Ông Cao Đức Phát báo cáo rằng tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm.

Năm ngoái, nhiều báo đã có những bản tin, ký sự khá dài về tình trạng sử dụng các loại chất cấm trong chăn nuôi, đặc biệt là “thuốc tạo nạc” giúp cho thị heo nhiều nạc ít mỡ đế bán được nhiều tiền hơn dù người ta biết đây là chất bị cấm, độc hại cho con người vì dẫn đến các chứng bệnh nguy hiểm, đặc biệt là ung thư.

Nông dân trồng rau đậu hoa quả sử dụng những loại thuốc bảo vệ thực vật rất độc, trái cây ngâm trong các thùng hóa chất, kể cả thuốc trừ sâu. Người bán thịt ở chợ dùng một ít bột hóa chất “không rõ nguồn gốc” biến thịt ôi thiu thành thịt “xịn,” biến thịt heo sề thành thịt bò “xịn” để lừa người tiêu thụ. Những tin loại này không hiếm trên báo chí tại Việt Nam. (TN)


Source: Báo Người Việt
Posted on: 2016-09-12


Ý kiến độc giả:

Việt Cọng nổi tiếng là bạo tay, nhưng chỉ bạo để bảo vệ quyền lực của chúng chứ không bao giờ bạo tay đối với những thành phần phá hoại xã hội vì chúng xem ngưòi dân là kẻ thù của chúng, dân càng chia rẻ, yếu mòn và chết yểu thì chúng lại càng vui mừng vì bớt được những thành phần chống đối chế độ chúng.
Đây là lúc người dân phải ra tay bằng hành động cụ thể để tự cứu mình chứ đừng ngồi phân tích tình hình rồi than khóc chờ chết. Đảng CS chỉ có 1 triệu đảng viên mà dân thì có những 90 triệu, nếu trực diện chiến đấu thì dân chắc chắn sẽ thắng vì mọi bộ đội, cán bộ, công an đều phải ăn ngủ trong lòng dân chứ không cứ núp mãi trong trụ sở của họ.
Súc vật mà còn biết chống đối và đương đầu với bạo lực huống chi con người có trí tuệ. Hãy vùng dậy để khỏi chết !!

Kim Hoa Bà Bà


Duy An
#2048 Posted : Friday, December 16, 2016 5:34:10 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Vé số dạo


Nguyễn Sinh
December 11, 2016



Chưa khi nào người bán vé số đông như bây giờ, cứ thử ngồi quán cà phê vỉa hè một lúc, vé số dạo nườm nượp đi qua như trẩy hội. Một tờ vé số 10 nghìn đồng lời từ 10 tới 12 phần trăm, tùy đại lý, tức lời từ 1000 -1200 đồng.

Chuyện người đi bán vé số

Ðây là công việc tự do, không chịu quyền hành chủ trên, người dưới hay bị la lối khi chợt cảm thấy… lười. Nếu không muốn ngồi một chỗ với chiếc bàn vé số cố định dưới gốc cây, cạnh cột đèn hay góc vỉa hè… thì bán dạo, chỉ cần có sức khỏe và đôi chân dẻo dai đi bộ dãi dầu mưa nắng.

Trước cửa các đình miễu nghe đồn linh thiêng cũng thường luôn tập trung nhiều người bán vé số dạo, kể luôn cổng nghĩa trang, nghĩa địa vào các ngày lễ lộc lớn là những nơi người ta cho rằng nếu khấn khứa thành tâm, cõi âm có thể dành cho những tấm vé hên! Trẻ nhà nghèo cũng đi bán vé số để giúp đỡ gia đình hoặc kiếm tiền đóng học phí, mua sách vở. Nhiều người lớn tuổi, con cái trưởng thành không cần lo nhưng vẫn khoái đi bán vé số vì muốn sống độc lập, khỏi nhờ vả con cháu mắc công. Ðây cũng là cách kiếm tiền đơn giản và chắc chắn vì nếu không bán hết, vé có thể mang trả lại chủ đại lý thay vì buôn bán thứ gì bây giờ cũng sợ ế ẩm hay lỗ vốn.



nguồn sogddt.camau.gov.vn



Hiện nay nhiều người đi bán vé số không ăn mặc luộm thuộm mà rất gọn gàng. Phụ nữ đứng tuổi hay mặc đồ bộ nhưng các cô gái trẻ thường mặc quần jeans, áo thun, áo khoác, tay chân mang vớ, đội mũ rộng vành, khẩu trang tươm tất. Một số trẻ em còn mặc nguyên đồng phục thêu tên nhà trường. Tuy vậy, việc bán vé số dạo ngoài đường vẫn luôn ẩn chứa rất nhiều bất trắc. Người bán vé số dễ bị bắt nạt, bị giật vé, giật tiền, phụ nữ xinh đẹp bị kẻ xấu chọc ghẹo, lạm dụng… Như đã nói, hầu hết những người đi bán vé số đều là người già, trẻ em, phụ nữ, tàn tật, là những người không có khả năng tự vệ trước những tai họa bất ngờ. Nhưng dù sao đi nữa khi trong tay không có nghề nghiệp chuyên môn, không biết làm gì khác để kiếm sống thì bán vé số là công việc cuối cùng được họ nghĩ tới. Vì thế đội ngũ người bán vé số vẫn không ngừng gia tăng.

Chuyện người mua vé số


Ở khu vực ngã Năm Thủ Ðức, già Tám hành nghề xe ôm ngày ngày dù đắt hay ế khách đều đặn mua một, hai vé. Nhà thơ nọ ở quận 12 mỗi ngày được vợ phát 30 ngàn đồng ăn sáng, ông chỉ ra quán uống ly cà phê đen, đổi bữa điểm tâm lấy hai tờ vé số và ngày nào cũng vậy. Tờ vé số chỉ 10 ngàn đồng thôi nhưng hy vọng đặt vào đó thì không nhỏ. Chị Tư bán xôi ở chợ Tam Hà sáng sớm đang bày hàng nhưng thấy vé số đi ngang cũng gọi mua liền hai vé. Hỏi bán xôi lời lóm bao nhiêu mà phải chi 20 ngàn đồng. Chị Tư phẩy tay: “Lời lóm vô chừng chú em ơi, mình cùng nghèo mua giúp cho nhau vậy mà!”

Nhiều người khác vốn không thiếu tiền nhưng vẫn mong trúng dù theo lý thuyết, xác suất trúng số chỉ là 0.001%. Có người mua vé số đều đặn không vì mục đích tậu nhà đất, xe hơi đời mới, mua vàng, mua “đô”… mà thuần túy theo thói quen. Mỗi người có một cách chọn mua số khác nhau. Chẳng hạn có người chỉ thích mua vé số phút chót cận giờ xổ thường được coi là giờ “ăn may”. Có người lại mua tờ vé được mời đầu tiên trong ngày, người khác nuôi luôn con số đặc biệt nào đó như người ta nuôi số đề. Mua từ người già hay trẻ con, mua của người lạ hay quen, mua tình cờ hay chỗ cố định… Bàn vé số hay ông bà nào bán ra tấm vé trúng độc đắc hôm sau thế nào cũng có nhiều người tìm tới xin hốt nguyên cả bàn hay dành mua luôn nguyên xấp!

Thời gian gần đây giá vé số tương đối cao (10 nghìn đồng/tờ) nên số người mua cũng giảm bớt. Trước kia nhiều người không thích chơi vé số nhưng gặp dịp, họ vẫn có thể mua giúp cho người già hoặc người tàn tật vài ba tấm như một sự giúp đỡ, sẻ chia nhưng nay, nhiều người tính toán kỹ lưỡng các món chi tiêu trong nhà, nên việc mua giúp có phần hạn hẹp. Số khác vẫn tiếp tục mua vé số với hy vọng có khi được trúng cao. Trong trường hợp được trúng số, trừ phi mua dọc đường, còn thì người bán so cùi liền biết rõ ai trúng liền tìm tới tận nhà để xin được thưởng. Quan niệm “Lộc bất khả hưởng tận” nên khi trúng độc đắc, bao giờ người trúng cũng hay chia tặng cho những người chung quanh, để ra ít nhiều dành làm từ thiện nhằm tránh chuyện xui xẻo mà có kẻ nào đó ngứa mồm vẫn hay nói đại loại rằng: “Thằng đó (hay con đó) nó tới…số rồi!”.





Chuyện vé số… “xổ liền”!


Sáng ấy, cây cọ hài D. và nhà thơ chua Tr, đang cùng cà phê – cờ tướng tại một quán bình dân gần chợ Bình Chánh bỗng gặp một cô gái bán vé số tìm vào. Tiến lại chỗ hai người đang ngồi, cô gái thoải mái cởi bỏ áo khoác ngoài để lộ ra chiếc áo dây khoe làn da trắng mịn. Vừa tháo luôn chiếc khẩu trang thì cả hai đều trố mắt vì thấy cô gái bán vé số mà cũng xức nước hoa, make-up, tô môi đỏ chót. Tiếp đó cô gái bán vé số nhanh chân tự nhiên bước tới ngồi xuống cạnh hai biếm sĩ. Lúc đó quán khá vắng khách. Cô bán vé xưng tên Thắm quê ở miền Tây lên đây thuê nhà trọ bán vé số. Chẳng cần quan tâm hai biếm sĩ đều ở độ lục tuần, cô gái có gương mặt non choẹt cứ gọi bừa “anh” xưng “em” ngọt hơn mía lùi. Cô liên tục nhắc đi nhắc lại: “Hai anh mua giúp em vài tờ đi! Sáng giờ hông hiểu sao ế quá chừng!”. Hai người đang phân vân chưa biết làm sao thì cô gái bỗng dáo dác nhìn chung quanh, rồi rỉ tai cây cọ hài D. nói vừa đủ nghe: “Thật ra em đi bán vé số là nghề phụ, còn nghề chính là… Nếu như anh thích “xổ liền” thì em lấy giá 2 “xị” thôi, anh trả giùm em tiền nhà trọ”. Anh D. thoáng giật mình nhưng máu “tò mò” chợt nổi lên, bèn cố gắng kéo dài thời gian để khai thác thêm thông tin về cô Thắm đặc biệt này với cái nghề bán vé số “xổ liền”. Thắm kể rằng cái nghề bán vé số thật sự chẳng thể nuôi sống cô và hai đứa em ở nhà trọ. Người ta chỉ hay mua giúp mấy ông bà già, cho người khuyết tật, còn những người trẻ như Thắm “xem vậy chứ khó bán lắm”. Nhiều khi gặp mấy ông “ba lăm” còn bị quấy rối một cách trơ trẽn! Chẳng thà mình “đánh phủ đầu” vẫn hay hơn!” (?)

Và chuyện “cấm chợ – ngăn sông”!

Người bán vé số dạo vất vả, cực nhọc, đôi khi tủi nhục là thế song xem ra vẫn chưa đủ đã nư, bằng chứng là gần đây một số họ lại bị người ta rượt đuổi, giật vé số, bắt bớ… nhưng không phải do bọn cướp đường mà do vài ông quan ở một tỉnh vùng biển miền Trung. Theo những ông quan này, vụ việc xuất phát từ “Thông tư 75 của Bộ Tài chính”, theo đó vé số khu vực nào chỉ được phát hành ở khu vực đó, không được phát hành sang khu vực khác nên các quan cứ “chiếu” từ quy định này mà bày trò “cấm chợ ngăn sông”, một việc tưởng chừng chỉ tồn tại cách nay mấy chục năm về trước. Chắc các quan xứ biển tào lao xịt bộp nêu trên chưa từng hình dung ra việc này: giả sử các quan xứ biển cấm bán vé số miền Nam, lãnh đạo các địa phương khác bèn trả đũa bằng cách cấm bán vé số, bán nho, thanh long hay các sản phẩm khác sản xuất từ quê quán của các quan thì sự việc sẽ diễn biến như thế nào? Vậy nên có thơ rằng:

“Vé số dạo vốn đời khốn khó

Mong các quan bỏ chín làm mười

Đừng vin quy định lỗi thời

Cho em kiếm chút cơm rơi, thịt thừa…”


1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2049 Posted : Sunday, February 19, 2017 11:38:05 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Đọc
Mùa Hè Đỏ Lửa – Bút ký Phan Nhật Nam


https://ongvove.wordpres...a-but-ky-phan-nhat-nam/










Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
Users browsing this topic
Guest
101 Pages«<9899100101>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.