Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages«<45678>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hungholland  
#101 Posted : Tuesday, June 7, 2011 4:25:13 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
XUỒNG BA LÁ


UserPostedImage


Xuồng ba lá là tên gọi dựa trên cấu tạo của loại xuồng được ghép bởi ba tấm ván. Gồm có hai tấm ván be và một tấm ván đáy. Để xuồng được cứng chắc, người ta dùng những chiếc “cong” tạo thành bộ khung mô phỏng bộ xương sườn của cá. Bộ cong này có nhiệm vụ cố định thân xuồng, chống đỡ sức ép của nước từ bên ngoài vào, đồng thời giữ chặt ván xuồng, giúp xuồng không bị biến dạng. Dưới các thanh cong, người thợ đóng xuồng nghĩ ra cách khoét lõm hình bán nguyệt gọi là những “lỗ lù”, có nhiệm vụ thông nước giữa các khoang xuồng, giúp nước gom lại một chỗ, dễ tát.

Mũi và lái xuồng ba lá có hình dạng không khác gì nhau, khác chăng chỉ là ở kích cỡ bộ ván sạp. Nhờ mũi và lái xuồng ba lá giống nhau mà tính linh hoạt trong việc điều khiển xuồng càng cao. Nếu như ở các loại ghe, thuyền khác cần phải quay mũi khi cần trở lại thì với xuồng ba lá, người ta chỉ cần hoán đổi vị trí ngồi bơi, mũi thành lái là xong ngay. Đây là một trong những ưu điểm của xuồng ba lá, rất có ý nghĩa khi sử dụng xuồng ở nơi đường đi quá chật hẹp.

Trọng tải của xuồng ba lá được tính bằng kích cỡ của bộ ván be. Phổ biến là xuồng các cỡ từ khoảng be sáu đến be mười. Xuồng có số đo be càng thấp thì càng nhỏ, càng nhẹ, khả năng di chuyển cao, nhưng sức chở thấp, thích hợp làm phương tiện đi lại. Xuồng lớn có thể chở nhiều, nhưng di chuyển chậm nên thường được dùng để vận chuyển hàng hóa. Cùng với quá trình hoàn thiện chiếc xuồng ba lá là quá trình sáng tạo ra các công cụ và phương pháp điều khiển nó như: cây sào nạng dùng để chống, dầm dùng để bơi và cuối cùng là cây chèo. Mỗi thứ có cách sử dụng riêng. Nhưng dù cho điều khiển xuồng bằng bất cứ cách nào, giữ thăng bằng cho xuồng khỏi tròng trành hoặc lật úp mới là điều quan trọng nhất. Để đạt được sự thăng bằng cần thiết là cả một nghệ thuật và nghệ thuật đó chỉ được thành hình qua một quá trình rèn luyện. Hiện nay, phần đông nhân dân trong vùng, do đời sống ngày càng được cải thiện nên đã sắm được máy nổ thay cho dầm, chèo. Tuy nhiên, dù cho đã có máy móc, nhưng bất cứ chiếc xuồng máy nào cũng đều mang theo giầm, chèo để phòng khi máy móc trục trặc mà dùng, nhất là chống, chỏi khi ra vào bến.

Xuồng ba lá là sự lựa chọn tuyệt vời để khắc phục hoàn cảnh, đối phó với môi trường tự nhiên. Sự gắn bó của nó đối với con người nơi đây được ví như một bộ phận không thể tách rời của cơ thể. Không có xuồng được người dân nơi đây ví như bị “cụt chân”. Quá trình hoàn thiện chiếc xuồng ba lá, những công cụ đi kèm, cách thức điều khiển và những ứng dụng thực tiễn của nó đã tạo nên một sắc thái riêng cho diện mạo văn hóa Nam bộ. Đó là một nền văn hóa sông nước. Có thể nói, chiếc xuồng đã gắn bó với cư dân nơi đây từ thuở thiếu thời cho đến lúc già. Hàng trăm năm qua, từ ngày cha ông ta đi mở cõi, chiếc xuồng luôn giữ một vị trí quan trọng đặc biệt trong đời sống của người dân vùng quê sông nước. Xuồng là người bạn đồng hành, là bạn đời thủy chung, son sắt gắn bó với con người suốt lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này.

Xưa kia, với địa hình kinh rạch chằng chịt, rừng rú um tùm, giao thông đường bộ kém phát triển thì chiếc xuồng là loại phương tiện đắc dụng và phù hợp nhất. Nó được sử dụng để đi lại dễ dàng cả trên sông lớn lẫn kinh nhỏ. Nhưng chiếc xuồng ba lá tỏ ra có ưu điểm cao hơn các loại phương tiện giao thông thủy khác khi cần thiết phải di chuyển trên mương, rạch nhỏ. Người ta chọn xuồng làm phương tiện giao thông chủ yếu không hẳn do điều kiện kinh tế, mà trước hết là vì tính linh hoạt, hữu hiệu của nó. Tính linh hoạt của xuồng ba lá đặc biệt có ý nghĩa khi được sử dụng ở trên ruộng hoặc chân rừng ngập nước, là những nơi mà hầu như các loại phương tiện khác phải “chào thua”. Nhờ nhỏ, gọn, nhẹ nên xuồng có thể dễ dàng luồn lách trên những đoạn đường chật hẹp. Đồng thời, do diện tích mặt tiếp xúc với nước nhỏ làm hạn chế sức cản của nước nên xuồng có khả năng di chuyển nhanh ngay cả ở nơi nước cạn. Người ta dùng xuồng để đi lại cũng như trong lao động sản xuất. Chiếc xuồng dùng để đi thăm câu, giăng lưới, vận chuyển sản vật khai thác được ở rừng, chuyên chở thành quả lao động từ đồng ruộng về, dùng xuồng để đi buôn bán. Độc đáo hơn, xuồng đôi khi còn được sử dụng như một ngôi nhà lênh đênh trên mặt nước với hai tấm rèm dựng hình chóp trở thành mái ấm con người trước mưa nắng vô thường của đất trời Tây Nam bộ.

UserPostedImage


Từ khởi thủy là chiếc xuồng độc mộc của tổ tiên đến chiếc xuồng làm bằng vật liệu mới composite đương đại, chiếc xuồng ở vùng này đã qua một quá trình hơn ba thế kỷ phát triển không ngừng. Suốt dòng lịch sử này, chiếc xuồng ba lá là cả một sự phát hiện đầy tính sáng tạo của con người Nam bộ. Xuồng ghe đã in đậm vào tâm trí người dân Đồng bằng sông Cửu Long dù đi đến đâu, họ vẫn luôn nhớ tới loại phương tiện mà trước đây họ đã dùng thường xuyên từ đi lại thăm viếng nhau đến chở lúa, mạ, phân bón, chợ búa trao đổi... Độc đáo nhất trong lịch sử sông rạch ở đây là “hiện tượng” mà người ta gọi là “chợ nổi” - nơi tập trung các loại ghe xuồng lớn, nhỏ để trao đổi hàng hóa. Chợ nổi mang đậm nét văn hóa vùng đất sông nước này như các chợ: Quới Thiện (Cù lao Dài, Mang Thít, Vĩnh Long); Trà Ôn (ngã ba sông Hậu), Lục Sĩ (Cù lao Mây) đều thuộc Trà Ôn, Vĩnh Long; Phong Điền (TP Cần Thơ)... Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là các chợ: Cái Răng (TP Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang), Cà Mau (TP Cà Mau). Ở các xã, ấp vùng sâu của các huyện Đồng bằng sông Cửu Long đều có “chợ di động”. Với một số ít hàng hóa chứa trong khoang, người ta chèo xuồng đi khắp nơi rao bán cho cư dân hai bên bờ sông, rạch...

Chiếc xuồng đã gắn bó với vùng quê sông nước miền Tây như gắn bó với cuộc đời họ từ lúc sinh ra, lớn lên, biết đi lại, học hành, se duyên thành vợ thành chồng. Nhiều cụ già vùng Cù lao Mây, Cù lao Dài cho rằng từ lúc sinh ra họ đã nằm trong xuồng rồi, đi học, đi chơi, đi chữa bệnh, đi đám cưới, đám hỏi, thăm viếng nhau... mọi việc đều được xuồng vận chuyển. Ghe, xuồng - phương tiện đi lại ở vùng sông nước Nam bộ từ rất lâu đời đã kết gắn cả cộng đồng người Việt trong sự nghiệp khai khẩn, mở mang vùng đất Nam bộ phì nhiêu. Thật vậy, xuồng ghe đi lại đã sống cùng cốt cách sông nước con người miền Tây. Những người con ở xa quê hương cứ nhớ mãi những trại cây, bóng nước, bóng hình những chiếc xuồng ba lá... thành hồn thơ lưu mãi của người dân vùng sông nước qua bao năm tháng sinh thành. Ngày nay, người ta còn làm ra xuồng bằng các loại vật liệu hợp kim và vật liệu hợp chất phi kim loại. Tuy làm bằng nhiều cách thức khác nhau, tác dụng của chiếc xuồng ba lá đối với người dân vùng sông nước Nam bộ vẫn giữ nguyên giá trị của nó, vẫn là truyền thống được kế thừa, vẫn giữ được những nét độc đáo trong làm ăn và sinh hoạt của người dân nơi này. Hữu dụng và đậm sắc miền quê là chiếc xuồng ba lá - một nét quê hương ai cũng lắng đọng nhớ thương. Chiếc xuồng ba lá đã đi vào nghệ thuật qua văn, thơ, nhạc, họa... Cùng với mái đình, cây đa, bến nước, chiếc xuồng là biểu tượng gợi nhớ quê hương cho những người con xa xứ.

- ST -

Xin tặng các bạn bài tân cổ giao duyên CHIẾC XUỒNG do Trọng Phúc & Hà My trình bày

Edited by user Tuesday, June 7, 2011 4:50:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thuongquanphi  
#102 Posted : Tuesday, June 7, 2011 4:44:07 PM(UTC)
thuongquanphi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 297
Man
Location: Việt Nam

Thanks: 73 times
Was thanked: 158 time(s) in 68 post(s)
Cô này là Hà My đó mà!!! Blushing Blushing

Tặng Hungholland bài này nak:

http://www.4shared.com/a...h_xua_-_Ly_Van_Long.html


____Trên đời này không có gì là ngẫu nhiên, mọi việc xảy ra là đương nhiên và tất cả đều là tất nhiên ____
thanks 1 user thanked thuongquanphi for this useful post.
Hungholland on 6/7/2011(UTC)
Hạ Vi  
#103 Posted : Wednesday, June 8, 2011 9:23:58 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


Cô Ngọ Ở Trong Thơ



Ngày còn học trung học, lũ con trai chúng tôi rất thích ôm đàn ghi ta nghêu ngao vào những dịp cắm trại hay trong những kỳ nghỉ cuối tuần. Một trong rất nhiều bài hát thời ấy được chúng tôi ưa thích là ca khúc “Ngày xưa… Hoàng thị” được phổ từ thơ của thi sĩ Phạm Thiên Thư.

Chúng tôi thích bài hát này bởi vì ca từ là những lời thơ tình đậm chất học trò nhẹ nhàng và mênh mang, được thể hiện bằng tiết tấu valse và hợp âm Đô trưởng dễ chơi dễ nhớ.

Còn nhớ những cậu nhỏ lớp 10, 11 chúng tôi lúc đó vừa mới ổn định xong cái giọng vỡ ồ ề đã say sưa cất lên từng câu hát:


Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ…
Ôm nghiêng tập vở
Tóc dài tà áo vờn bay…



Mà cũng không chỉ có bọn con trai chúng tôi, các bạn gái cũng rất thích bài hát này. Có lẽ vì mỗi người đều cảm thấy có mình trong cái dáng xinh của cô Hoàng Thị Ngọ duyên dáng ấy. Và thế là chúng tôi lại hát lên:

Em đi dịu dàng
Bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường
Nằm im dấu mỏ
Anh theo Ngọ về
Gót giày lặng lẽ đường quê…


Cái tình cảm ấy sao mà trong trắng, sao mà “thương” quá đỗi! Mà không thương sao được khi người con trai ấy:

… Anh trao vội vàng
Chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở
Muôn thuở còn thương còn thương…


Thế rồi cũng qua đi một thời học trò lưu luyến và ân cần. Chúng tôi trưởng thành, vào đời rồi tất bật cho cuộc mưu sinh. Thuở học trò ngày xưa lặng lẽ đi về hồi ức cũng giống như chúng tôi lặng lẽ lớn lên mà không kịp tìm xem cho đầy đủ bài thơ tình thuở ấy.

Thật ra cô gái có tên là Ngọ ấy trong thơ đẹp hơn nhiều. Cô không chỉ đơn giản “ôm nghiêng tập vở” hay “em đi dịu dàng bờ vai em nhỏ” và “tóc dài tà áo vờn bay” như một thuở nào chúng tôi đã từng yêu mến.

Và người con trai trong bài thơ ấy cũng lãng mạn hơn. Tình cảm của anh dành cho cô Ngọ vừa nhẹ nhàng lại vừa sâu sắc, và niềm nhớ của anh như ẩn dấu bên trong một nỗi buồn cỏ hoa kín đáo. Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh rất đẹp:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Dưới cội hoa vàng…



UserPostedImage



Ở đây, không chỉ cây cỏ, thiên nhiên mang sắc màu tươi đẹp, cái tình si của chàng trai cũng đẹp qua cách thể hiện mang nhiều hình sắc:

… Thương ơi! vạn thuở
Biết nói chi người
Em mĩm môi cười
Anh mang nỗi nhớ
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau

Ơi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng hòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ…



Có lẽ không ai đi qua tuổi học trò mà không có ít nhất một mối tình. Xin hãy hiểu tình ở đây theo một nghĩa ngây thơ và non dại nhất. Thường đó là những mối tình như thoáng chút lao xao trên mặt hồ tâm hồn sóng gợn hay chỉ như một chút rung nhẹ của dăm nốt nhạc trầm.

Thật ra câu chuyện tình của cô Ngọ cũng có hồi kết cuộc. Họ không “gặp” được nhau. Để rồi sau mười năm người con trai tình cờ đi qua chốn xưa và bỗng nhớ đến Hoàng thị… ngày nào mình đi theo và thổn thức.

Nhưng người đã không còn. Chỉ còn cảnh cũ và tình cũ thuở xưa, người thì đã xa vời vợi.
Cũng giống như tôi mới hôm nào tình cờ đọc được bài thơ lại nhớ về một khoảng trời đã qua xa lơ xa lắc.

Và tất nhiên tôi cũng không đủ tài để viết được như Phạm Thiên Thư:

…Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng ai nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!

… Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài…

… Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn


Cảm ơn nhà thơ và người nhạc sĩ đã một thời làm con tim chúng tôi xao xuyến.








Lê Phú Hải



UserPostedImage
Hạ Vi  
#104 Posted : Wednesday, June 8, 2011 5:54:33 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
Thương sao những nhịp cầu quê


UserPostedImage



Qua những nẻo đường trên quê hương yêu dấu đọng lại trong tôi là hình ảnh những cây cầu. Tuổi thơ tôi đã nghe không biết bao nhiêu lần câu à ơi mẹ hát mỗi trưa Hè:


“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời…”



Có lẽ cũng từ lúc đó những cây cầu đã đi vào trong tôi thật gần gũi, thân thiết biết bao.

Càng gắn bó hơn khi trên con sông hiền hòa uốn khúc chảy ngang nhà tôi duyên dáng hiển hiện một cây cầu. Những ngày thơ bé ngồi sau xe ba mẹ thả dốc cầu, những buổi chiều tàn cùng lũ bạn đứng bên thành cầu hóng gió, hóng những ngôi sao đầu tiên nhấp nhánh trên vạt áo trời nhung tím… Tất cả đôi lúc lại ùa về gợi nhớ da diết về những ngày tháng cũ.

Tôi sinh ra và lớn lên ở phố. Tôi chưa một lần được đi qua cầu tre lắc lẻo, chênh vênh cùng những cây cầu dừa hay cầu ván khó đi. Dù vậy không lúc nào trong tôi không ngân vang lời một bài hát cũ mỗi lần có ai đó nhắc đến những cây cầu. Hát rằng:

“… ai nâng niu mấy nhịp cầu tre
Lặng nghe ai ca trong nắng chiều vàng hoe
Cầu tre bao nhiêu Hè vui một câu vè
Để lòng ai quên hết não nề…”

Và rằng:

“Nhờ ai em tôi qua lấy chồng làng bên
Nhờ ai ai đem ngô lúa về ngoài hiên
Cầu ơi, ai đem tình gieo trải khắp miền
Lòng cầu như đôi cánh chim hiền…”



Có thể cũng bởi những cây cầu ấy gắn liền với yên ả, thanh bình nơi làng quê mà ít khi tìm lại được giữa những bộn bề, tất bật của cuộc sống ngày nay.

Thời sinh viên cô bạn chung phòng trọ hay nói tôi nghe mơ ước về một cây cầu. Quê bạn, nơi miền Tây mênh mông sông nước, có được một chiếc cầu để nối nhịp đôi bờ luôn là một niềm mong mỏi thiết tha. Tôi chưa qua phà nên cũng không hiểu hết nỗi khổ của những chuyến phà ngày Tết. Nhưng nhờ bạn tôi biết mình thật may mắn vì có một cây cầu gắn bó suốt tuổi thơ…

Bến phà Rạch Miễu quê cô bạn tôi giờ đây đã lộng lẫy xuất hiện một cây cầu như bạn từng ao ước… Bạn viết cho tôi trong niềm vui thấm đẫm trên từng con chữ: “Hạnh phúc làm sao khi đặt chân trên cây cầu mới xây, cảm giác dòng sông như thu lại dưới chân mình…”. Tôi vui chung trong niềm vui của bạn.

Tự dưng, thèm được 1 lần đi trên chiếc cầu khỉ.....Ôi thương lắm những cây cầu quê hương!


by mong1ty



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
sinsin  
#105 Posted : Thursday, June 9, 2011 10:44:14 AM(UTC)
sinsin

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 5/9/2011(UTC)
Posts: 162
Woman
Location: miền tây quê tui ^^"

Thanks: 42 times
Was thanked: 31 time(s) in 26 post(s)
mẹ và lời ru
( bài thơ con cò của CHế Lan Viên)

UserPostedImageUserPostedImage




Đã là người Việt nam, ai lớn lên mà chẳng mang theo, dù ít, dù nhiều hơi ấm của những lời ru, những lời yêu thương êm đềm khi xưa mẹ hát. Đã mang trong mình dòng máu Việt, ai mà chẳng có một góc tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, chập chờn theo đôi cánh cò trắng ở nơi sâu thẳm hoài niệm, tâm hồn. Chế Lan Viên cũng vậy, ông cũng là người Việt Nam, dòng máu chảy trong huyết quản ông cũng mang tên Lạc Hồng, có lẽ vì thế, trong thơ ông, dù là suy ngẫm, dù là triết lí, ta vẫn gặp lời ru ầu ơ của mẹ, ta vẫn thấy kỉ niệm tuổi thơ nồng cháy, ta vẫn nghe trong gió thong thả nhịp vỗ cánh cò. Và “Con cò” là bài thơ tiêu biểu cho một hồn thơ như thế, một bài thơ mà chất triết lí, suy tưởng đã hoà làm một với những lời ca đẹp đẽ nhất ca ngợi tình mẹ, ca ngợi ý nghĩa của những lời hát ru với cuộc đời mỗi con người.
Trong trang thơ, cánh cò không tự có, không tự hiện hữu bất di bất dịch như muôn vàn câu chữ của thi ca, nó phải bay ra từ một miền xa xôi lắm. Chế Lan Viên đã đánh thức cánh cò yên ngủ, gọi cò về với những lời ru ấp ủ trong tâm hồn thi nhân để rồi, qua lời ru của mẹ trên trang thơ, con cò bắt đầu đến với tuổi thơ diệu kì của đứa trẻ. Dịu dàng, ên ái, người mẹ bắt đầu thủ thỉ, tâm tình với niềm yêu thương tha thiết:
“Con cò bế trên tay
Con chưa biết cánh cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay”
Rất tự nhiên, mẹ thấy con vẫn còn bé bỏng lắm, vẫn còn phải bế trên tay mẹ. Con đã biết cánh cò trắng là gì đâu, con đã biết cuộc đời xung quanh là gì đâu, con chỉ đón nhận cuộc đời một cách vô thức. Vô thức thôi nhưng dường như đứa trẻ đã cảm nhận được cánh cò trắng đang bay đến bên mình, đã nghe thấy âm điệu ngọt ngào trong trẻo của lời ru. Em chưa hiểu tình mẹ, nhưng mơ hồ, em đã thấy bên em một sự che chở, vỗ về thiêng liêng, một tình yêu thương êm đềm, trìu mến. Và cánh cò, cánh cò bắt đầu chao lượn trong lời hát ru con:
Con cò bay la
Con cò bay lả
Con cò cổng phủ
Con cò Đồng Đăng
Thi sĩ không trích hết lời ca dao, chỉ gợi thôi mà cả một bầu không khí đã rất xa xăm bỗng trở về nguyên vẹn. Nơi thanh bình và yên ả. Nơi ấy có cánh cò, có những hình ảnh rất đẹp đã đi vào tiềm thức không biết bao thế hệ con người. Ở nơi ấy, ta vẫn nghe được tiếng cuộc đời vất vả, nhọc nhằn của người nông dân và đặc biệt là những người phụ nữ, những người chị, người mẹ Việt Nam, tiếng những đứa con yêu thương tha thiết, sẵn sàng hi sinh cho con tất cả những cánh cò kia, dù sa cơ, dù chết cũng xin được “xáo nước trong” để khỏi mang tiếng xấu cho đàn con nhỏ. Dẫu rằng đó là lời hát ru, lời ca dao cách tân trong thơ hiện đại, cánh cò vẫn mang theo cả nỗi buồn, niềm vui hoà lẫn, khiến người đọc phải nghĩ, phải suy. Người mẹ ru con trong vất vả, nhọc nhằn càng gieo thêm đắng cay, cái vị đắng cay mà Xuân Quỳnh từng không giấu nổi xúc động khi nghe câu hát ấy trong “gió Lào” và “cát trắng” miền Trung:
“Trong gió nóng những trưa hè ngột ngạt
Mẹ ru tôi hạt cát sạn hàm răng”
Lời ru của mẹ có đứa con bé bỏng, có cánh cò yếu đuối, nó không còn là lời hát ru nữa, nó là lời tâm tình của trái tim người mẹ nhân từ, bao dung. Khi thì mẹ thương con, khi thì mẹ thương cánh cò cả cuộc đời yếu đuối. Dù rằng lời ru có mang theo bao điều như thế, em bé vẫn say ngủ ngon lành. Tình mẹ hoà vào lời ru vẫn vỗ về tâm hồn non nớt, vẫn cho con niềm yêu thương và che chở tuyệt vời. Bầu không khí của hoài niệm quá khứ dần dần khép lại, đưa con người trở về với thực tại, với mẹ, với em:
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cánh cò mềm mẹ đã sẵn tay nâng
Lời mẹ trước kia còn trầm, buồn vang lên trong cái âm điệu dài, xa vắng vậy mà giờ đây sao trìu mến, sao tha thiết đến lạ lùng, vỗ về, nâng giấc tình yêu, thi nhân bước đến khoảng trời vời vợi chân lí, nơi ấy có một sự thực mà cả đời người kiếm tìm mới chợt hiểu, nó ở bên ta, nó ở giữa cuộc đời:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con.
“Dù”, “vẫn”, sự khẳng định chắc chắn hơn bao giờ hết. Nó hiển nhiên như chính cuộc đời. Con dù lớn khôn, dù trưởng thành đến đâu, trước long mẹ bao la con vẫn luôn bé bỏng. Mặt trời con luôn sưởi ấm trái tim mẹ, còn mẹ, mẹ mãi yêu con, yêu con bằng tình yêu theo bé bước đi mãi mãi. Tình mẹ là thế, lời ru của mẹ là thế, suốt đời con được hưởng, suốt đời con tìm thấy, nhưng chắc gì con đã thấu hiểu
“Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”
(Nguyễn Duy)
Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết những vần thơ như thế vì bằng trải nghiệm, ông đã hiểu cái bao la bất tận của tình mẹ yêu con. Còn Chế Lan Viên, thi sĩ tìm thấy trong cánh cò yêu thương bay ra từ câu hát, một triết lí thiêng liêng đủ soi rọi mọi tâm hồn tận ngóc ngách sâu thẳm nhất. Có lẽ phút hiểu ra cái điều cả đời mình tìm kiếm, nhà thơ phải nén lại niềm xúc động đến rưng rưng trực tuôn trào ra khoé mắt để viết lên cái điều ấp ủ bấy lâu, rằng tình mẹ là vĩnh hằng, bất diệt, luôn tìm thấy bên cuộc đời chúng ta, rằng lòng mẹ là bao la, vô bờ bến, luôn ôm ấp tâm hồn mỗi con người. Với mẹ, con là hơi ấm nồng nàn, là sự sinh tồn, sự sống, con đem lại cho mẹ hơi sống, niềm hạnh phúc yêu thương lớn nhất cuộc đời. Ta chỉ có thể nói như vậy về cái quy luật bất biến ấy, vì tự nó đã nói lên tất cả những điều thấm thía nhất trong cuộc đời. Biểu tượng của lòng mẹ thì thiêng liêng, biểu tượng của cuộc đời thì ấm áp:
À ơi
Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Còn là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi
Sau lời à ơi ban đầu, người mẹ quên mình đang trò chuyện với đứa con, … Người mẹ dường như đang đối thoại với chính lòng mình. Lời hát chỉ là lời ru qua cái “à ơi” quen thuộc, còn tất cả, chúng đã thuộc về tâm sự của cả đời người mẹ, nghĩa là thuộc về cái thế giới nội tâm trong sâu thẳm tâm hồn. Mẹ ru con từ lúc tóc còn xanh đến khi đầu bạc, nào ai đếm được nỗi buồn vui cuộc đời mẹ đã gửi vào lời hát. Cánh cò cũng thế, nó trở thành cuộc đời, cũng buồn, cũng vui, còng nông sâu như lòng mẹ. Nó là tiếng lòng của mẹ cũng là tất cả những người phụ nữ trên đất nước Việt Nam. Nó là âm thanh của một cuộc đời khắc khổ, một kiếp sống nghèo nhưng chan chứa niềm hạnh phúc, yêu thương chân thành, mộc mạc mà con người Việt Nam đã ôm ấp từ ngày xưa, sau luỹ tre làng, bên cây đa, bến nước, mái đình thân thuộc. Khi con cò “vỗ cánh qua nôi’ em bé đâu có biết, cò đã chở theo cả một đời người về bên câu hát, đời người như mẹ, như chị, như cuộc đời tất cả nhũng người phụ nữ Việt Nam chỉ biết sống, sống và hi sinh hết thảy, trong lặng lẽ, âm thầm. Cuộc đời ấy, dù đắng, dù cay, dù khổ đau, dù mất mát vẫn muôn đời là vậy, son sắt, thuỷ chung, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, cho đến khi ngọn gió cuộc đời ngừng thổi:
”Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi”
Có bao giờ cánh cò đẹp và thân thiết đến vậy không? Có bao giờ sự liên tưởng của con người lại trong sáng và tinh khôi đến vậy không? Cò và em bé như đôi bạn thân thiết, nghĩa là cũng trong sáng, cũng hồn nhiên, cũng chan chứa biết bao ước mơ và hi vọng như màu cánh cò trắng, thong thả bay trên bầu trời xanh thẳm tương lai. Hai người bạn, hai tâm hồn non nớt đắp chung đôi cánh ấm áp của cò. Hình ảnh thơ có cái hiện thực của cuộc đời quanh em bé vừa có cái huyền ảo, lấp lánh của một thế giới cổ tích xa xăm, gợi lên sự gắn bó thân thiết, cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng bên nhau dù là trong giấc ngủ tuổi thơ, dù là trên con đường tương lai rộng bước. Cánh cò bay ra từ câu hát ru con cũng như lời ru, cũng như tình mẹ sẽ theo con dù hết cuộc đời. Với mỗi người, đâu có niềm hạnh phúc nào bằng niềm hạnh phúc được che chở yêu thương trong tình mẹ bao la, vô bờ bến. Tình mẹ cứ theo con đi suốt năm tháng, trở thành hành trang cho đứa con bé bỏng bước vào đời. Con sẽ bước đi trong niềm tin mạnh mẽ vì “Cánh cò trắng bay theo gót đôi chân”. Cánh cò của Chế Lan Viên biết đánh thức cả bầu trời lấp lánh hi vọng những vì sao mơ ước, cho em tương lai đẹp đẽ, sáng rực lên muôn vạn sắc màu. Và trong muôn vàn sắc màu rực rỡ ấy, rất nhẹ nhàng đọng lại một thứ màu dìu dịu yêu thương, màu của tình mẫu tử. Cứ như vậy, em bé ngủ yên trong tình mẹ dạt dào, trong sự che chở, chăm sóc, nâng niu ẩn chứa yêu thương vô bờ bến. Lời ru - giọt mật đầu tiên mẹ rót cho em bé trong cuộc đời sóng sánh tình mẹ, sóng sánh không khí của đất trời. Em ngủ say, ngủ say trong tình mẹ, ngủ say trong tình yêu thương của đất trời bao la ban cho những thiên thần bé nhỏ. Và khi ấy, dù:
“Con chưa biết con cò, con vạc
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”
Cánh cò, cánh vạc bay, ngân xa mãi tình yêu vô tận ấy. Em bé có hiểu tình mẹ không nhỉ? Nhưng thôi, cứ ngủ đi em ạ, vì còn gì êm ả, thanh bình bằng giấc ngủ của em trong lời ru ầu ơ tha thiết ấy của mẹ.
( Sưu tầm)
Nghe xuân đến bồi hồi ôm chặt súng
Đêm giao thừa khe khẽ gọi tên quê
Hungholland  
#106 Posted : Thursday, June 9, 2011 12:37:01 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

Chào tiểu sư muội Sinsin,

Huynh rất ngạc nhiên và rất vui được gặp muội ở đây góp phần tô điểm cho nhà của Hạ Vi. Có muội vui quáLOL LOL . Welcome!!LOL LOL

P/S: Hạ Vi mến, sorry Hạ Vi nhiều vì chưa gì hết mà đã qua mặt chủ nhà chào mừng đôn đã và cám ơn khách trước rồiBlushing . Nhưng vì gặp tiểu sư muội Sinsin ở đây nên Hungholand nén nỗi vui không được. Vì thế đành thốt nên lời. Một lần nữa SORRY,

Và nhân đây cũng cám ơn Hạ Vi post bài "THƯƠNG SAO NHỮNG NHỊP CẦU QUÊ" nhé. Vi làm hại Hungholland nhớ Cần Thơ quá à. Thích nhất là khi về thăm gia đình,sau đó cùng cả nhà đi về trong vườn chơi. Ở đó thú vui tao nhã mà Hungholland thích nhất là : CHÈO XUỒNG BA LÁ, ĐI CẦU KHỈ, GẶT LÚA,... và còn nhiều nữa.

Ôi,vừa mới về thăm nhà hồi Tết nhưng bây giờ lại nhớ nhà nữa rồi. Bắt đền Hạ Vi đó. Laugh Laugh
Hungholland
thunder  
#107 Posted : Thursday, June 9, 2011 12:50:40 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Có Khi Nào

Có khi nào thoáng gửi buồn cho gió
Xé mây ra xin tia nắng ngọt lành
Rồi nhè nhẹ...đưa đôi chân lên cỏ
Đọng lại nỗi buồn trên những búp non xanh.

Có khi nào khẽ nhìn về bên ấy
Mắt nâu đên ngơ ngác - biết gì?
Người ta trả cái nhìn ngúng nguẩy...
Miệng khẽ cười...chân bước vội ra đi.

Có khi nào thở dài lưu luyến
Thấy nhớ nhung như khúc nhạc dịu dàng
Rồi bỗng hát khi tim mình xao xuyến
Đứng thở dài chia nỗi nhớ mênh mang

ĐK


Hungholland  
#108 Posted : Thursday, June 9, 2011 1:18:04 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

MÙA GẶT
(Thơ Đường Luật)

Tác giả : Vũ Quốc Khánh

Bùn cấy còn vương đã chín vàng,
Đang mùa gặt hái nắng chang chang.
Mồ hôi tất tả đồng trên dưới,
Sức lực căng mòn bãi dọc ngang.
Thật thóc ba trăng là đã đủ …
Nên danh một kiếp cũng chưa rằng …
Tro rơm nâng bát cơm thơm trắng,
Một chút Tâm giao chín đãi đằng.


UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage
Hạ Vi  
#109 Posted : Friday, June 10, 2011 5:18:39 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
Originally Posted by: Hungholland Go to Quoted Post

Chào tiểu sư muội Sinsin,

Huynh rất ngạc nhiên và rất vui được gặp muội ở đây góp phần tô điểm cho nhà của Hạ Vi. Có muội vui quáLOL LOL . Welcome!!LOL LOL

P/S: Hạ Vi mến, sorry Hạ Vi nhiều vì chưa gì hết mà đã qua mặt chủ nhà chào mừng đôn đã và cám ơn khách trước rồiBlushing . Nhưng vì gặp tiểu sư muội Sinsin ở đây nên Hungholand nén nỗi vui không được. Vì thế đành thốt nên lời. Một lần nữa SORRY,

Và nhân đây cũng cám ơn Hạ Vi post bài "THƯƠNG SAO NHỮNG NHỊP CẦU QUÊ" nhé. Vi làm hại Hungholland nhớ Cần Thơ quá à. Thích nhất là khi về thăm gia đình,sau đó cùng cả nhà đi về trong vườn chơi. Ở đó thú vui tao nhã mà Hungholland thích nhất là : CHÈO XUỒNG BA LÁ, ĐI CẦU KHỈ, GẶT LÚA,... và còn nhiều nữa.

Ôi,vừa mới về thăm nhà hồi Tết nhưng bây giờ lại nhớ nhà nữa rồi. Bắt đền Hạ Vi đó. Laugh Laugh
Hungholland


Hi Sinsin Hưngholland,

Hạ Vi rất vui với ngạc nhiên khi thấy Sinsin ghé đến post bài và hình nữa nha, đẹp lắm , có các bạn ghé đến post bài là vui mừng lắm, vì forum của The Beauty of Vietnamese Culture đã được các bạn "ghé mắt" đến thăm nhà, đọc bài và post bài ...Dancing Whistle

Cảm ơn tất cả các anh chị mới (new forum), cũ (old forum) ~.~ posted bài trong topics của Hạ Vi: anh Thunder, Chú PhamLang, sis Chiều Tím, sis ThuỳLinh, Cát Linh, Khoaitay, NgocHao, Hungholland, Sinsin ...

Chào mr. Hungholland, thanks nha, đã thích bài "THƯƠNG SAO NHỮNG NHỊP CẦU QUÊ" mà Hạ Vi posted ngày hôm kia, đã gợi nhớ về quê nhà của Hưng. Bài viết nhẹ nhàng hén, với hình ảnh cô em gái nhỏ bé (hay là chị lớn ! nhìn hình không rõ lắm) trên cầu khỉ với đòn gánh bán chè hay bún nước gì đó , nhìn rất tội quá. Lúc set up bài Hạ Vi muốn tìm thêm những tấm hình cầu khỉ với những em nhỏ đi trên cầu khỉ nhưng chưa có nhiều thời giờ, từ từ nếu tìm thêm được những hình ảnh đó thì Hạ Vi sẽ post sau ....

Thanks again đến Hungholland & sinsin đã đóng góp post bài nha. Chúc các bạn vui khoẻ nhen.Cool Have a nice weekend.



Hạ Vi

Edited by user Friday, June 10, 2011 5:27:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
sinsin  
#110 Posted : Friday, June 10, 2011 9:49:21 AM(UTC)
sinsin

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 5/9/2011(UTC)
Posts: 162
Woman
Location: miền tây quê tui ^^"

Thanks: 42 times
Was thanked: 31 time(s) in 26 post(s)
ko những ở nước ngoài, ngay cả những người ở Việt Nam sống xa quê vẫn nhớ quê, nhớ đến cả trong giấc mơ...sin xa nhà nhớ nhất dòng sông và gió. đáng tiếc ở chốn mà người ta gọi là " hòn ngọc viễn đông" này ít có ai còn hoài niệm lại quê hương, chắc tại vì " đèn sài gòn ngọn xanh ngọn đỏ" còn " đèn mỹ tho ngọn tỏ ngọn lu", nhắc lại thấy buồn . thế hệ 8x, 9x ngày nay mấy ai còn hoài niệm lại những ký ức về nét văn hóa xưa, những bài hát đồng dao, những bài hát ru đã chấp cánh cho ước mơ tuổi nhỏ .(bây giờ mà nghe nhạc vàng, nhạc trữ tình là bị chê là " quê" rồi, buồn cho lớp trẻ bây giờ)
đây là một bài thơ mà sin đã viết tặng mẹ năm sin năm sin học lớp 10, cùng chia sẻ cảm xúc với mọi người, cảm ơn sư huynh, ha vi,...tất cả mọi người đã viết lên những dòng thật ý nghĩa, cảm nhận được vẫn còn có những người đồng cảm với mình.

lời mẹ ru

UserPostedImage

lời mẹ ru con có dòng sữa ngọt ngào
cò cánh cò chiều bay về phù đổng
có lũy tre làng bình yên dung dị
cả cuộc đời bao bọc làng quê
lời mẹ ru con có một triền đê
mòn lối cỏ mẹ về chiều tắt nắng
kẽo kẹt gánh gồng oằn lưng mẹ
như đê làng sau năm tháng mưa giông
lời mẹ ru con có một dòng sông
đỏ phù sa mỡ màng vườn ruộng
trưa nắng cháy mẹ cày đồng cạn
gạo trắng ngần đắng giọt mồ hôi
lời mẹ ru con vọng ước xa xôi
mai con lớn cuộc đời vẫy gọi
chỉ có lời ru ngàn đời vẫn vậy
cả cuộc đời ơn mẹ nước biển đông.

Edited by user Friday, June 10, 2011 10:03:31 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Nghe xuân đến bồi hồi ôm chặt súng
Đêm giao thừa khe khẽ gọi tên quê
Ngoc N Hao  
#111 Posted : Friday, June 10, 2011 11:11:41 AM(UTC)
Ngoc N Hao

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Chiếc nón bài thơ



Đối với người phụ nữ Huế chiếc nón bài thơ luôn là một người bạn đồng hành. Trong cuộc sống thường nhật, chiếc nón đối với người phụ nữ Huế rất thân thiết. Chiếc nón không chỉ có chức năng che mưa che nắng, mà người phụ nữ Huế còn dùng nó để làm đồ đựng, phương tiện quạt mát và cao hơn hết là chức năng làm đẹp, góp phần làm tăng thêm nét duyên dáng phụ nữ Huế. Đặc trưng của người phụ nữ xứ Huế mộng mơ là chiếc áo dài, đôi guốc và không thể thiếu chiếc nón bài thơ. Có lẽ vì thế mà nghề làm nón từ xưa ở Huế rất phát triển. Ở Huế có các làng sản xuất tập trung và nổi tiếng một thời như Triều Sơn, Đồng Di, Tây Hồ, Phủ Cam... Và cũng chỉ có phụ nữ Huế với đôi tay mềm mại và tinh tế, điêu luyện kết hợp với tài năng của mình mới tạo ra được những chiếc nón nên thơ, mang đậm phong cách Huế.

[/UserPostedImage


UserPostedImage


Trong thư tịch cổ thời Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII), nón Huế đã có những nét riêng được thẩm định là: Nón ở Thuận Hoá kiểu hơi khác với các xứ, xóm Tam Giáp Thượng, xã Triều Sơn, huyện Phú Vang chằm nón rất nhỏ, mỏng. Mặt khác trong khâu kỹ thuật, người thợ Huế chọn lá nón dù khô cũng còn giữ được màu xanh nhẹ, mười sáu vành nức thường mảnh được vót tròn trĩnh, tỷ mỷ và công phu. Người thợ ủi lá nhiều lần và cẩn thận cho thật phẳng và láng. Khung chằm (còn gọi là khuôn nón) phải tự mình đặt làm ở thợ chuyên môn. Có khi phải trực tiếp góp ý và đề nghị với thợ làm khung một số chi tiết cần thiết để dáng của chiếc nón sau này đẹp mắt, vừa ý. Đặc biệt, khi xây và lớp lá đòi hỏi người thợ phải thật khéo nhất là khâu sử dụng lá chêm, tránh việc chồng nhau nhiều lớp để nón thanh và mỏng, đường kim mũi chỉ chằm phải sát để kẽ lá ôm khít lấy nhau. Nón chằm hoàn tất, người ta đính cái soài đã được chuẩn bị bằng chỉ màu rất đẹp vào chóp nón sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để thành nón bóng láng và giữ được bền.

Nón bài thơ là một sản phẩm tiêu biểu cho nghề nón Huế. Với kỹ thuật tạo hình và cắt chữ trên giấy màu đậm, xếp chen giữa hai lớp lá nón, người thợ có thể làm tăng thêm phần mỹ thuật và nét duyên dáng cho người sử dụng với hình ảnh: sông Hương, núi Ngự, tháp chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền... Để rồi dưới ánh sáng mặt trời, thành nón mỏng làm nền để hiện lên sau mái tóc của người phụ nữ Huế cả một tác phẩm thi và họa...

Bằng những chiếc nón đặt, chủ nhân có thể gởi gắm ý tình, sở thích và cả tâm sự của mình trong lớp lá nón, nhưng sự chia xẻ ấy lại không trọn vẹn cho một ai vì tất cả chỉ thấp thoáng kín đáo như chính khuôn mặt của cô thiếu nữ Huế đằng sau chiếc nón vậy.


UserPostedImage


UserPostedImage



Ngày nay, phải nói rằng, nón bài thơ đã trở thành món quà lưu niệm cho tất cả mọi người khắp nơi đến Huế. Nhưng, cũng có điều cần phải nói thêm rằng: Mẫu hoa văn và nét thơ ngày trước, thợ thường cắt lấy, nắn nót bằng tài năng của mình cho từng chiếc một. Cho nên lựa nón cũng là một cái thú cho người đi mua. Mẫu hoạ thơ bây giờ được cắt hoặc in hàng loạt khiến cho chiếc nón giảm đi sự ý nhị và phần nào đã đánh đồng tài năng của người thợ nón. Tuy nhiên hình ảnh chiếc nón bài thơ vẫn là một nét riêng rất Huế mà không thể lẫn được với các vùng miền khác.

UserPostedImage

Nón bài thơ


Netdepviet.org
Hạ Vi  
#112 Posted : Friday, June 10, 2011 2:46:22 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


Trang Phục Xưa Của Người Đồng Bằng Sông Cửu Long


Ngay từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa thì trang phục của cư dân vùng này không có gì khác biệt so với trang phục ngoài Bắc. Nhưng dần dần càng tiến về phương Nam thì trang phục của cư dân Đàng Trong càng có những đặc điểm khác biệt so với trang phục của cư dân Đàng Ngoài. Đặc biệt là, từ khi người Hoa vào Đàng Trong năm 1680 thì trang phục của cư dân bản địa đã có những ảnh hưởng nhất định. Điều này đã được Trịnh Hoài Đức ghi lại trong Gia Định thành thông chí như sau: “Duy có người Việt ta noi theo tục cũ Giao Chỉ: người quan chức thì đội khăn cao sơn, mặc áo phi phong, mang giày bì đà, hạng sĩ thứ thì bới tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay bâu thẳng, may kín hai nách, không có quần, con trai dùng một miếng vải buộc từ sau lưng thẳng đến dưới háng quanh lên đến rún, gọi là cái khố, con gái có người không mặc váy, đội nón lớn, hút điếu binh, ở nhà thấp, trải chiếu ngồi dưới đất, không có bàn ghế. Năm Mậu ngọ (1738) Thế tôn Hiếu võ Hoàng đế định lại sắc phục, các quan văn võ châm chước theo chế độ của đời Hán Đường, đến Đại Minh thì hình thức mới chế như phẩm phục quan chế ngày nay đã ban hành theo trong Hội điển, gồm đủ cả văn chất. Còn y phục gia thất khí dụng của hàng sĩ thứ đại lược như thể chế đời Minh”.(1)

Đến đời chúa Thế Tông Nguyễn Phước Khoát lại có một biến động lớn xảy ra trong việc cải cách trang phục. Triều đình quy định cư dân Đàng Trong phải ăn mặc như người Tàu, phụ nữ mặc quần chứ không còn mặc váy như người Đàng Ngoài, nhằm tạo nên sự khác biệt trong trang phục so với Đàng Ngoài.

Cho đến nay, về cơ bản, cách mặc của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long có sự thống nhất với các vùng miền khác trong nước. Nhưng do đặc điểm địa hình, thời tiết, khí hậu, mà cư dân Đồng bằng sông Cửu Long đã chọn cho mình những bộ trang phục phù hợp, mang tính đặc trưng.

Cư dân Đồng bằng sông Cửu Long sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Làm nông nghiệp thì buộc con người suốt ngày phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời, quanh năm chân lấm tay bùn, trong điều kiện thời tiết hai mùa mưa nắng rõ rệt màu sắc trong trang phục của người dân ĐBSCL ngày xưa thường chọn gam màu chủ đạo là màu đen, nâu sậm, ít khi mặc màu trắng, trừ khi đám tiệc, lễ hội. Ngày xưa, để nhuộm vải, người ta dùng lá bàng, vỏ trâm bầu, trái mặc nưa… làm nguyên liệu. Chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn từng là phục sức hết sức phổ biến của cư dân. Cho đến nay, chưa thấy có tư liệu nào xác định rõ nguồn gốc của chiếc áo bà ba. Người ta chỉ biết rằng, vào đầu thế kỷ XX loại áo này đã được mặc khá phổ biến của cả vùng Nam bộ. Theo nhà văn Sơn Nam thì “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa.


UserPostedImage



Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba” (2). Một quan niệm khác lại cho rằng, “Có thể áo bà ba ảnh hưởng, cách tân từ áo lá và áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động, là kiểu áo cứng, xẻ giữa, cài nút thắt… Phải chăng do thời tiết quanh năm nóng bức, họ bỏ luôn chiếc cổ thấp của áo lá và áo xá xẩu, mang thêm áo quanh chân cổ cho chắc. Áo xẻ giữa thay vì cài nút thắt đã được làm khuy, cài nút nhựa do ảnh hưởng phương Tây”.(3)

Người nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa thường vận bộ bà ba đen. Bởi, nó vừa sạch vừa dễ giặt giũ. Vải may là loại vải một, vải ú, vải sơn đầm… rất mau khô sau khi giặt. Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba còn có nhiều tiện dụng khác như: Áo được xẻ ở hai bên hông làm cho người mặc cảm thấy thoải mái, gần vạt áo lại có thêm hai túi to khá tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như thuốc rê, diêm quẹt, tiền bạc… Chính vì tính tiện dụng và sự thoải mái này mà chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở Đồng bằng sông Cửu Long mặc ngay cả lúc đi làm đồng, đi chợ, đi chơi… Tuy nhiên, khi đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn, như màu trắng, màu xám tro. Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt… với chất liệu vải đắt tiền hơn…

“Thời Pháp thuộc, nhất là thời trước 1975, áo bà ba là truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa giữ được tính dân tộc, vừa đẹp và hiện đại hơn. Áo dài, bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, những người dụng công cải tiến áo dài, bà ba tập trung vào việc sáng tạo các kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay… Những cải tiến này trong điều kiện sử dụng áo bà ba rộng rãi hơn, may bằng nhiều mặt hàng vải ngoại, đặc biệt, lúc này người phụ nữ đã tiếp thu và sử dụng khá phổ biến chiếc nịt ngực tân thời. Áo bà bà cải tiến chú ý tới các kiểu bâu (cổ), như lá sen, cánh én, đan tôn… là các loại cổ có ve lật, tiếp thu từ kiểu y phục nước ngoài.

Các kiểu ráp tay cũng được cải tiến. Từ kiểu may áo cánh xưa, liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo. Đặc biệt, trong những năm 1970 thành thị miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên dáng vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo dài và bà ba truyền thống. Với kiểu vai raglan này, hai thân áo trước và sau tách với vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Bà ba vai raglan này chỉ cần may khít, vừa vặn với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước. Tay áo dài hơn nhưng hơi loe, có khi bỏ cả hai túi ở vạt trước để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn.



Đây cũng là thời kỳ các loại vải ngoại đẹp tràn lan vào thị trường miền Nam với nhiều màu sắc đa dạng. Các bà, các cô thường chọn hàng tétơrông, soa, mousơlin… để may loại áo bà ba này. Để kết hợp với bà ba, người ta cũng chọn những hàng soa để may quần kiểu nối đáy, may hơi sát mông, ống hơi loe, để tạo dáng đẹp mềm mại, kín đáo, hiền thục của người phụ nữ”.(4)

Chiếc khăn rằn cũng là hình ảnh hết sức quen thuộc ở Đồng bằng sông Cửu Long. Không biết nó ra đời từ bao giờ, mà người ta chỉ biết nó xuất hiện đồng hành cùng những con người thời khai hoang mở cõi vào phía Nam của Tổ quốc. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã trở thành một hình tượng hết sức quen thuộc và gần gũi với mọi người. Và nó cũng là một biểu tượng cho người phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long rất cần cù và cũng rất đáng yêu.

Theo các nhà nghiên cứu thì chiếc khăn rằn có nguồn gốc từ người Khmer. Chính sự tiện ích của nó mà chiếc khăn rằn phổ biến mà không hề có sự phân biệt về dân tộc, giới tính khi sử dụng nó. Khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2 m, rộng chừng 40 đến 50 cm không có các màu sắc cầu kỳ, sặc sỡ mà rất đỗi bình dị và giản đơn. Chiếc khăn rằn thường có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng. Hai màu này được kẽ thành hai lằn ngang, đan chéo vào nhau tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn. Không chỉ có những người lao động lam lũ mà những điền chủ, những người giàu có cũng sử dụng nó. Khăn được vắt gọn trên đầu đối với người phụ nữ; hoặc cột ngang trán, chừa hai đuôi khăn nhô lên đầu, nút khăn nằm ở phía trước đối với nam. Khăn rằn cũng thường được quàng trên cổ, một đầu thả trước ngực, một đầu thả sau lưng. Đôi khi hai đầu buông xuôi xuống phía trước, đi kèm theo thường là bộ quần áo bà ba làm nên nét đặc trưng của cư dân xứ này.

Bên cạnh chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn, một số thành phần khá giả ở Đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa như công chức, thương gia, điền chủ… thì ăn mặc có phần sang trọng hơn, nhất là ở giai đoạn cuối thế kỷ XX khi mà Việt Nam đã bắt đầu có phong trào Âu hóa thì những tầng lớp này đã chịu ảnh hưởng cách phục sức của phương Tây. Họ ít mặc các trang phục truyền thống hơn, mà thay vào đó là áo vét-tông, giày mỏ vịt, sơ mi cổ cồn, thắt cà vạt… Còn giới điền chủ giàu có thì “khăn đóng, áo dài đen, quần trắng, đi giày hàm ếch, tay chống ba-toong, để râu trái ấu vuốt sáp”.(5)


UserPostedImage



Trong các ngày lễ thì trang phục đã trở thành lễ phục nên cần được ăn mặc chỉnh tề, ngay ngắn, lịch sự. Bộ trang phục được xem là lễ phục phổ biến ngày xưa là bộ khăn đóng áo dài. Thường thì áo dài bằng xuyến hay lương đen, còn quần thì màu trắng bằng lụa hay vải. Bộ trang phục này thường được mặc khi dự lễ cúng đình hay đám cưới, các dịp hiếu, hỉ… Còn nếu như nhà có tang thì trang phục lễ tang thường chọn màu trắng làm màu chủ đạo, được may bằng loại vải thô thưa rẻ tiền, biểu thị tình cảm của mình đối với người đã khuất với ý nghĩa: cha mẹ hoặc ông bà mất rồi, con cái quá đau buồn không thiết gì đến việc ăn mặc nữa. Áo tang phải được may trở sống ra ngoài. Con là nam thì đầu đội mũ rơm, nữ thì đội mấn, những người họ hàng thân thích thì chỉ quấn vòng khăn tang ngang đầu.

Ngày nay, xã hội phát triển, đời sống con người được nâng lên. Từ nhu cầu mặc ấm đã được nâng lên thành mặc đẹp. Người ta sắm cho mình những bộ cánh ưng ý nhất, đắt tiền nhất trong khả năng mình có thể. Trong quá trình giao lưu với văn hóa phương Tây đã xuất hiện nhiều loại trang phục mới,… Dù vậy, chiếc khăn rằn và chiếc áo bà ba không hề mất đi bởi đó là biểu tượng đặc trưng riêng của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long – nhất là phụ nữ. Và nó cũng là một biểu tượng của bản sắc văn hóa cần lưu giữ.



(1) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo. Nha Văn Hóa – Phủ Quốc vụ khanh – Đặc trách văn hóa xuất bản năm 1972, quyển Hạ, Tr. 6.
(2) Sơn Nam: Văn minh miệt vườn.
(3) Ngô Đức Thịnh: Trang phục người phụ nữ Nam bộ. Tạp chí xưa và nay số 66 B tháng 8 năm 1999.
(4) Ngô Đức Thịnh: Trang phục người phụ nữ Nam bộ. Tcđs
(5) Sơn Nam: Đất Gia Định xưa



UserPostedImage
thunder  
#113 Posted : Friday, June 10, 2011 8:29:06 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

Cỏ úa

Sáng tác : Lam Phương
Tiếng hát : Diễm Liên

http://www.youtube.com/w...IT_w&feature=related


Còn nhớ tên nhau xin gọi trong giấc mộng
Còn chút thương yêu xin đưa vào dư âm
Có phải còn yêu vì đôi lần thầm nhớ
Mình đã thật quên cớ sao lòng vẫn chờ.

Từ lúc em đi trong rượu cay men nồng
Màu trắng khăn tang quanh căn phòng cô đơn
Bão tố triền miên ngày em về nhà đó
Buồn hắt buồn hiu ngõ đêm sầu cô liêu

Một chiều trên đồi em làm thơ
Cỏ biếc tương tư vàng úa
Mộng dệt theo đàn bên người mơ
Mới biết mình yêu bao giờ.

Hỡi cố nhân ơi chuyện thần tiên xa vời
Tình đã như vôi mong chi còn chung đôi
Cứ cúi mặt đi để nghe đời lầm lỡ
Đừng níu thời gian cho thêm sầu vương mang

Edited by user Friday, June 10, 2011 8:33:12 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hạ Vi  
#114 Posted : Saturday, June 11, 2011 6:39:18 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
Thu Sầu


Sáng tác: Lam Phương


Thanh Lan
http://music.hatnang.com/audio/by/title/thu_sa_u

Trình bày: Ý Lan

http://mp3.zing.vn/bai-h...-Sau-Y-Lan/IWZABB0I.html



UserPostedImage



Mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ
Trời chiều man mác buồn nát con tim
Lệ tình đẫm ước tà áo trinh nguyên
Kỷ niệm êm đềm còn in trên giấy


Người ôm thương nhớ ra đi từ đấy
Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên
Rừng còn thay lá tình vẫn chưa yên
Thương chi cho lắm giờ cũng xa nhau !


Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu
Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau
Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau
Trên cao bao vì sao sáng
Rừng vắng có bao lá vàng
Là bấy nhiêu sầu !


Người đi hoa lá chết theo mùa nhớ
Người về lặng lẽ tình vẫn bơ vơ
Thà rằng chôn kín mộng ước bên nhau
Quên đi cho hết một kiếp thương đau




UserPostedImage




UserPostedImage
thunder  
#115 Posted : Saturday, June 11, 2011 8:24:17 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Rồi mai tôi đưa em

Sáng tác : Trường Sa
Trình bày : Trần Thái Hoà

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=A3uwHSb_fJ

Rồi mai tôi đưa em xa kỷ niệm.
Xin lời cuối không dối gian trong mắt em.
Tình yêu cho thương đau nghe buồn thêm.
Gác vắng mưa gợi niềm chăn chiếu.

Còn đây không gian xưa quen gót lầy.
Bên hè phố cây lá thưa chim đã bay.
Ngồi nghe yêu thương đi xa tầm tay.
Giữa tiếng ru trầm vào cơn mê này.

Chiều xưa em qua đây ru hồn nắng ngủ say
lời yêu trót đong đầy.
Đón em Thu mây bay tiễn em Xuân chưa phai
xót ngày vàng còn gì?
Đành đoạn rồi những lần chiều hẹn ước...

Rồi mai chân hoang vu lên phố gầy.
Tôi về nhớ trong mắt môi đã đắng cay.
Còn ai mơ trên tay khi hoàng hôn!
Vỗ giấc xuân muộn về trên môi hồng.

Hạ Vi  
#116 Posted : Monday, June 13, 2011 2:43:53 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

Nón quai thao


UserPostedImage



Nói đến trang phục đặc sắc của dân tộc Việt Nam thời hiện đại, nhất là của phụ nữ, của “phái đẹp”, chúng ta và cả bạn bè quốc tế đều nhắc đến chiếc áo dài truyền thống. Thế nhưng trong suốt lịch sử mấy trăm năm về trước, trang phục tiêu biểu đã làm nên dáng đẹp của các “quý bà, quý cô” nước Việt lại chính là những tấm áo mớ ba, mớ bảy với chiếc nón thúng quai thao.


Chiếc nón quai thao đi kèm với bộ áo mớ ba, mớ bảy, mà màu hoa đào, màu hoa hiên, màu xanh thiên lý hay màu vàng chanh của những lớp áo trong được phủ ra ngoài bằng chiếc áo the đen mỏng dính, cài bên cạnh sườn bằng chiếc cúc đồng nhỏ xíu – từ nách lên cổ thì lật chéo sang bên, hở he hé những màu sắc bên trong. Cái lối ăn mặc nửa kín nửa hở này khiến cho các tao nhân mặc khách nam nhi thật sự xao xuyến bồi hồi, nhưng nó vẫn tỏ ra nền nã, kín đáo, mang đậm sắc thái của người phụ nữ Việt Nam. Phía dưới, các quý bà, quý cô thường mặc váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hay sồi đen buông chấm gót, làm nền cho những dải thắt lưng cánh sen hay mỡ gà thắt nút so le rủ xuống, đong đưa mỗi khi cơn gió thoảng qua. Các cô còn vấn khăn nhiễu tím hay đen, vắt cao lọn tóc đuôi gà dài óng ả, bên mình là bộ xà tích kèm ống vôi quả đào bằng bạc và con dao gấp xinh xinh, vừa để trang sức lại vừa để têm trầu, bổ cau… Và bộ trang phục này càng thêm hài hòa khi các cô xỏ chân vào đôi dép cong da trâu, hay đôi guốc gỗ cong sơn then quai bằng da hoặc sợi mây. Và lại càng duyên dáng xinh đẹp hơn khi trên tay hay đội đầu là chiếc nón quai thao.



UserPostedImage




Nón quai thao (cũng còn gọi là nón ba tầm) là một loại nón đắt tiền, đẹp và sang trọng, thường các bà, các cô chỉ đội hoặc mang theo trong những dịp lễ, tết, hội hè, hoặc những lúc có công việc nhàn nhã, vui vẻ nhưng cần phải nghiêm chỉnh, lịch sự. Nón thúng quai thao từ lâu đã đi vào ca dao, dân ca, đi vào tiềm thức của người Việt với những câu ca đằm thắm, trữ tình:

“Ai làm chiếc nón quai thao
Để anh thương nhớ ra vào khôn nguôi”

Hay:

“Ai làm chiếc nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh…”


Cho đến nay, thật khó có thể biết được chiếc nón thúng quai thao đầu tiên ra đời từ khi nào? Và ai là người sáng tạo ra nó? Chỉ biết một điều chắc chắn là: Từ khi chiếc nón quai thao ra đời, nó đã dần dần đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người Việt và lập tức trở thành một trong những vật trang sức vừa có ý nghĩa thực dụng cho người phụ nữ Việt Nam, vừa góp phần tôn vinh vẻ đẹp của quý bà, quý cô trong cuộc sống…

Chiếc nón quai thao thường có kích thước khá lớn, đường kính mặt nón ước chừng 70-80 cm, che rợp cả khuôn mặt người đội, tạo nên một không gian rộng, thoáng và mát. Mặt phẳng trên nón lợp lá gồi hoặc lá cọ, sát phía dưới là thành nón cao độ 10-12 cm. Giữa nón gắn một vành tròn như nắp tráp vừa đầu đội cao khoảng 8 cm, gọi là cái “khua”. “Khua” nón làm công phu lắm: Nó là những sợi tre nhỏ chuốt bóng khâu lại với nhau bằng chỉ tơ nhiều màu sắc. Những sợi chỉ đan chéo nhau thành hình hoa lá, chim muông thật đẹp mắt.

Quai thao là bộ phận không thể thiếu của chiếc nón ba tầm, nó chẳng những làm cho nón cân bằng, vững chãi, mà còn làm cho người phụ nữ thêm duyên dáng, thướt tha… Quai thao làm bằng tơ, nhưng là loại tơ đặc biệt, vừa rẻ, vừa bền lại vừa có giá trị cao. Thông thường các cô gái trẻ thì thích dùng quai thao màu trắng ngà gốc tơ tằm, còn quai thao màu tím, màu đen thì được dùng cho phụ nữ đã lập gia đình. Quai thao gồm từ 2 đến 3 sợi bện lại với nhau (gọi là quai kép), thả võng đến thắt lưng. Khi đội đầu, người phụ nữ lấy tay giữ quai ở trước ngực, nón không bị đung đưa lại tiện điều chỉnh khi đội thẳng hay lúc cần nghiêng nghiêng che nắng… Hai đầu quai thao có chừng mươi mười hai túm tua nho nhỏ, dài chừng 20-25 cm rủ xuống trông mềm mại, vui mắt.



UserPostedImage
Chiếc nón quai thao của các liền chị quan họ ngày nay




Từ xưa đến nay, làng Triều Khúc, tổng Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Triều Khúc, huyện Thanh Oai, Hà Nội) là một làng nghề thủ công chuyên làm quai thao để đính vào nón thúng. Nón thúng thì phải đặt mua tại làng Chuông (nay thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Người làng Triều Khúc dệt thao rất nhanh và khéo. Nhiều khi họ không cần nhìn vào bàn dệt, miệng vẫn chuyện trò, cười nói, ấy vậy mà dây thao vẫn đều và mượt, cấm có lỗi nhỏ nào. Sợi thao sau khi dệt xong phải qua công đoạn tết nút, nhiều đoạn được thắt lại thành những họa tiết vừa đẹp mắt, lại làm cho dây thao thêm chắc. Mỗi bên đầu quai thao có hai quả cù, to bằng ngón tay cái, được đan tết công phu, rủ xuống thành tua dài tới 25 cm. Tua được cắt bằng đầu, không để cho sợi dài, sợi ngắn lởm chởm. Người ta có thể để quả thao song song với nhau hoặc so le là tùy ý.

Dây thao được tết thường dài tới 2, 3 thước. Muốn dây có màu thật trắng, người ta đem chuội tơ với nước tro rơm, sau đó với mỡ lợn, cơm xôi rồi ngâm một đêm thì thao sẽ có màu trắng phau. Muốn nhuộm vàng thì cho thêm phẩm để tơ dệt thêm trắng, vàng óng. Còn nếu muốn nhuộm đen thì phải dùng thuốc hoàn nguyên để không bị phai, thôi. Khâu cuối cùng là đính quai thao vào nón để khi mặc với áo tứ thân, áo mớ ba, mớ bảy, váy lĩnh đen bóng, lưng đeo xà tích, đầu đội nón quai thao có tua rủ xuống bờ vai sẽ khiến cho các bà, các cô, các mợ càng thêm vẻ mặn mà, đài các…

Đã hơn nửa thế kỷ nay, nón thúng quai thao và những tấm áo mớ ba, mớ bảy đã lùi xa vào dĩ vãng. Làng Triều Khúc chuyên làm quai thao và làng Chuông chuyên làm nón thúng nổi tiếng khi xưa nay đã đổi nghề. Sự thật là đã từ lâu, nón thúng quai thao không còn được ưa chuộng nữa, vì thế chúng ta và cả bạn bè, du khách quốc tế chỉ còn biết đến trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam thời trước, biết đến nón thúng quai thao, đến áo mớ ba, mớ bảy trên các sàn diễn sân khấu, nhất là trên sàn diễn dân ca quan họ Bắc Ninh… Song những trang phục đơn sơ và giản dị rất Việt Nam ấy sẽ không mất đi, chúng đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam, mãi mãi vẫn là “Hồn dân tộc Việt”.


nguồn: Cuộc Sống Việt


UserPostedImage
Hungholland  
#117 Posted : Monday, June 13, 2011 3:52:17 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

CON TRÂU LÀ ĐẦU CƠ NGHIỆP


UserPostedImage


“Con trâu là đầu cơ nghiệp”, câu tục ngữ gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam đã có từ xa xưa nhưng bây giờ hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau được xem là hình ảnh biểu hiện của một nền nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam.

Dù nói gì thì nói, con trâu vẫn là người bạn thân thương của nông dân Việt Nam tự bao đời nay với những câu ca “trâu ơi ta bảo trâu này, trâu ăn no cỏ trâu cày với ta”. Vậy mà giờ đây, có nơi người ta đang tìm cách bảo tồn con trâu, sợ rồi một ngày nào đó, trẻ em, học sinh Việt Nam chỉ còn biết con trâu trong sách giáo khoa.

Đọc trên báo, thấy tỉnh Đồng Tháp trước đây có hàng chục ngàn con trâu, nay chỉ còn vài trăm con, thậm chí ngành chăn nuôi thú y của tỉnh đang kêu gọi tìm cách bảo tồn đàn trâu. Ở An Giang cạnh đó và nhiều tỉnh lúa khác của vựa lúa miền Tây, rồi hàng loạt tỉnh ở miền Trung, miền Bắc cũng tương tự.

Đàn trâu giảm nhanh cũng đúng thôi. Hai chục năm trước, nền nông nghiệp trong nước với sức kéo cày trên đồng ruộng chủ yếu là trâu, bò. Nay nông nghiệp phát triển, nông dân có tiền mua sắm máy cày kéo thay trâu, rồi đồng cỏ chăn thả mênh mông ở nông thôn nay được trồng luá, trồng bắp thì lấy đâu có chỗ cho trâu bò gặm cỏ. Với nhiều người dân ở nông thôn, bây giờ nuôi trâu, lấy sức kéo là phụ, mà nuôi bán thịt là chính, ngược lại hoàn toàn với trước kia.

Những ai đã từng chăn trâu, chăn bò, thế nào cũng hiểu được sự khác biệt giữa hai loài vật nhai lại này. Bò, có ưu điểm ngoài cày kéo, cung cấp thịt còn có thể nuôi nhốt mà không cần chăn thả nhưng điểm yếu lại là sức kéo không mạnh, không dẻo dai như trâu.

Trâu, có ưu điểm là dẻo dai, có thể cày bừa ở ruộng sâu (nên mới có câu: “ruộng sâu trâu nái”), ruộng nhiều bùn, lún mà bò không thể cày được nhưng nhược điểm thì trâu khó nuôi nhốt như bò, cần phải chăn thả. Ngoài ra, thịt bò được người tiêu dùng khoái hơn thịt trâu và đây cũng là lý do khiến đàn trâu giảm nhanh, trong khi nuôi bò giết thịt trong nước phát triển mạnh.

Ngành nông nghiệp bây giờ cũng đang lúng túng trước việc đàn trâu giảm quá nhanh, vừa biểu hiện cuả cơ giới hóa đồng ruộng đang ngày một tăng nhưng cũng lo lắng bởi ở Việt Nam, còn lâu máy móc có thể hoàn toàn thay thế con trâu.

Trước kia, vì sức kéo trên đồng dựa vào trâu bò, ngành nông nghiệp đã chi không ít tiền cho việc nhập khẩu trâu giống to, khỏe từ nước ngoài để nâng cấp đàn trâu trong nước. Thậm chí có người chăn trâu giỏi được phong tặng Anh hùng Lao động. Hơn chục năm qua, các trung tâm nghiên cứu trâu, các dự án lai tạo, phát triển đàn trâu biến mất trong các báo cáo hàng năm cuả ngành nông nghiệp.

Đất nông nghiệp của ta vốn phân tán, manh mún, địa hình lại không bằng phẳng. Như ở miền Tây, đất đai cò bay thẳng cánh thì việc cày bừa bằng máy có vẻ dễ dàng nhưng ở miền Trung, miền Bắc thì khác, thửa đất 2.000-3.000 mét vuông rất hiếm cho máy móc dụng võ. Máy móc chắc chắn sẽ chẳng có hiệu quả cày kéo bằng con trâu nếu thửa ruộng chỉ có vài trăm mét vuông, hay ruộng trũng, luôn ngập nước. Máy móc cũng chẳng thể phát huy tác dụng bằng con trâu nếu đó là đầt đồi địa hình không bằng phẳng.

Cơ giới hóa, hiện đại hóa với ngành nông nghiệp Việt Nam không chỉ đơn giản là loại bỏ con trâu ra khỏi đời sống người nông dân, nơi nó từng gắn bó nhưng cũng là hình ảnh để báo chí bảo rằng nông nghiệp lạc hậu.

Với đà suy giảm đàn trâu như hiện nay, cũng không có gì lạ nếu một ngày nào đó, Chính phủ hay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phải chi tiền để triển khai các dự án phát triển đàn trâu. Nó cũng tương tự như cây lúa, cũng chẳng có gì khó hiểu nếu một ngày nào đó, Việt Nam trở thành nước nhập khẩu gạo nếu cứ mỗi năm, gần 100.000 héc ta đất nông nghiệp được chuyển thành đất ở, thành khu công nghiệp.

Không phải cái gì được xem là lạc hậu thì phải từ bỏ nó trong quá trình phát triển. Con trâu là hình ảnh sinh động nhất để nói lên điều này.

UserPostedImage

- ST -
Hạ Vi  
#118 Posted : Monday, June 13, 2011 2:57:53 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage


CON CÒ TRẮNG



Không nhớ rõ là vào năm tháng xa xưa nào, tôi có dịp nghe một bà mẹ ru con:


Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.
.


Và không hiểu tại sao tôi không bao giờ quên được bài ca dao ru em này. Nhưng chắc chắn một điều là tôi đã không hiểu nó ngay từ lúc mới nghe, và cho đến bây giờ gần hết một đời người vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ 100% bài ca dao này.

Lần nghe đầu tiên, lúc đó tôi vào khoảng 5-6 tuổi gì đó, chỉ nghe âm điệu ngùi ngùi của bài ca dao này mà tự dưng nhớ mãi trong ký ức. Mãi đến năm 10-11 tuổi gì đó, lúc đó bà mẹ tôi hay nghe cải lương trên đài phát thanh Sàigòn, tôi lại nghe nữ nghệ sĩ cải lương Ngọc Hương trong tuồng Con Cò trắng của soạn giả Thu An ngân nga lại bài ca dao nàỵ Trong bối cảnh của tuồng cải lương, nghệ sĩ Ngọc Hương đóng vai một bà mẹ bán thân để nuôi miệng mình và con (không nhớ 1, 2, hay là 3 con). Bà mẹ ăn sương này bị bắt và bà năn nỉ người ta tha cho hoặc giấu nhẹm sự tai tiếng. Lúc đó tôi tự cho là đã thấu hiểu bài ca dao này. Nhưng với tuổi đời chồng chất, tôi lại khám phá ra có những cái khó hiểu trong bài ca dao này nhất là nghĩa đen.


UserPostedImage



Dưới đây là những điều tôi hiểu được:

Hai câu đầu: Cò bao giờ trông cũng ốm yếu mãnh mai. Tác giả của bài ca dao này đã nhân cách hóa và ví von hình ảnh con cò với bà mẹ VN. Khác với con vạc hay đi ăn đêm, con cò luôn đi kiếm ăn ban ngàỵ Do đó con cò đi ăn đêm là một điều trái với sự thường tình. Cộng với sự khác thường này là một sự rủi ro hiếm thấy vì con cò rất nhẹ, rất khó mà làm gãy cành cây nó đậu. Hai câu chót: hiểu đơn giản là chết cho thơm. Tôi xin cám ơn tuồng cải lương Con Cò Trắng.


Và dưới đây là những điều tôi vẫn chưa hiểu 100% được:

Câu 3: Ông ơi ông vớt tôi nao. Xét về ngữ pháp thì chữ nao trong câu là trạng từ cho động từ vớt. Tôi nghĩ chổ này phải là "Ông ơi ông vớt tôi mau" là đúng nhất. Nếu tôi không lầm thì chữ nao trong tiếng Việt dùng rất ít, và để chỉ nơi chốn (đi về nơi nao, trăng phương naọ..). Hay là ngày xưa đã du nhập chữ Now trong Anh ngữ?


Câu 4: Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng. Không biết người dân miền Trung hay Bắc có món xáo hay không. Riêng tôi là dân Nam rặt ri chỉ biết các món khìa, kho, chiên, xào, hầm. Nếu có bạn nào, chắc có lẽ phải nhờ cô giáo gia chánh Cẩm Hồng bày cho món cò xáo măng.


Đó là hình ảnh đáng thương đáng yêu của con cò ngày xưa. Ngày nay, hình ảnh cò rất đáng ghét và đáng giận. "Cò ngày nay" rất đa dạng, biến hóa, và hống hách: cò nhà, cò đất, cò giao thông, cái gì ở VN cũng có cò. Chổ nào có rắc rối là có cò.



Thông
Công Thôn 71-74




UserPostedImage
thunder  
#119 Posted : Tuesday, June 14, 2011 2:52:11 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Cám Ơn Em, Người Tình

Em đến với tôi, xôn xao giấc mộng
Dẫu muà này trời đã chớm vào đông
Không nắng đẹp, mà sao lòng vẫn ấm
Vì yêu thương đang hoá kiếp nẩy mầm.

Tôi cám ơn em,cám ơn người tình
Với cuộc đời rực rỡ sáng lung linh
Ngỡ là trong mơ xa xôi huyền thoại
Đâu biết là em đã đến đây rồị

Vẫn thấy trong tim,bao điều rất lạ
Nhưng cũng là duyên nợ của trăm năm
Thuở xa xưa,đến kiếp này gặp lại
Ai bảo tình là chiếc bóng mơ phaị

Cám ơn em,hoa thơm và trái ngọt
Chợt thấy mình trẻ lại tuổi hai mươi
Quên cuộc đời vừa đi qua một nữa
Mưa đầu muà làm mắt lá đong đưạ

Nhật Khánh

phamlang  
#120 Posted : Wednesday, June 15, 2011 10:19:37 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Những đóa thơ cho phố núi Pleiku Nguyễn Mạnh Trinh / Tuesday, November 04, 2008

Mấy ngày hôm nay, buổi sáng nào cũng mù mịt sương. Mùa Thu ở đây như gợi lại một nỗi niềm nào. Lái xe trên đường, trong cái mù mịt của đất trời thấy mình như sống lại một thuở nào, ở không gian thời gian nào tuy thật xa nhưng trong giây phút hiện tại lại thật gần gũi. Cái tâm trạng bềnh bồng, của tiềm thức chơi vơi trong buổi sáng hôm nay như dẫn từng bước chân trở về, thuở xa xưa, ngày vừa trên hai mươi tuổi.

Lớn lên ở Sài Gòn, cả một thơ ấu nghịch phá, cả một khung trời mơ mộng. Những ngã tư, những con hẻm, những cổng trường, những mầu hoa Mùa Hạ, những xao xác lạnh cuối năm, tất cả đã thành kỷ niệm. Của một thành phố mà tưởng như chứa cả một phần đời sống của mình. Rồi tuổi đôi mươi, rời khỏi ghế giảng đường vào lính. Thì một thành phố, tuy heo hút sơn cùng thủy tận, nhưng lại chan chứa những kỷ niệm của những chàng lính trẻ, ngông nghênh vào đời tưởng như nắm cả vũ trụ trong tay. Sống ở đó, để thấy nhớ sài Gòn. Nhưng khi đổi về Biên Hòa gần Sài Gòn thì lại nhớ lại thời gian đã qua. Không nuối tiếc nhưng đầy bâng khuâng, và cái không gian se lạnh, cái đêm khuya mưa dầm, cái buổi sáng mù mịt, tất cả trộn lẫn để thành một phong vị khó tả.

Năm tôi lên phố núi tôi vừa qua cái tuổi đôi mươi. Hai mươi tuổi, tâm hồn lúc ấy trắng bong, tràn đầy mơ với mộng. Chưa có kinh nghiệm trường đời nên thường phản ứng trước những chướng tai gai mắt và theo suy nghĩ của nhiều vị chỉ huy, tôi là một đứa ba gai cần phải hành hạ để cho vào khuôn phép. Ở đâu cũng xa nhà nên tôi tình nguyện đi biệt đội Pleiku mút mùa lệ thủy và khi ở đây lập không đoàn thì cũng là một trong những người khai sơn phá thạch của đơn vị.

Thời gian ở thành phố biên trấn này chỉ hơn hai năm mà sao tràn đầy kỷ niệm. Có những lúc, cơm sấy đồ hộp ngày này qua tháng khác mà vẫn vui. Lãnh lương xong, chỉ một vài ngày là sạch nhẵn, thế mà tối nào cũng lang thang ở phố đến nửa đêm mới mò về phi trường. Ở đây, biết bao nhiêu đứa bạn, buổi sáng còn đùa giỡn chọc ghẹo nhau mà vài tiếng đống hồ sau thân xác đã thành sương khói cho những phi vụ không về. Ở đây, có sáng mù sương, thấy đời mệt mỏi như chiếc xe dodge già nua ì ạch leo đầu dốc. Dù rằng tôi lúc ấy chỉ vừa hơn hai mươi tuổi.

Ngày lên Pleiku, có một bài thơ tôi đã làm như tiên đoán được cái không gian của biên tái, của những câu thơ như Lương Châu Từ của Vương Han thời Thịnh Ðường xa xưa. Pleiku có khác nào Lương Châu, cũng là quan ải để trấn giữ biên cương. Ngày xưa thì ngăn giặc Hồ, giặc Mông. Ngày nay, thì canh chừng ba biên giới, với những trận đánh ác liệt mùa khô hàng năm tiếp diễn... Bài thơ ấy, làm vào một đêm trước khi sáng mai lên trực thăng vào phố núi.

“Ừ mai tao lên Pleiku
Ðêm căm hơi đá ngày mù núi xanh
Uống say quên mộng quẩn quanh
Về nơi gió cát cũng đành cuộc chơi
Ừ mai cánh vỗ ngang trời
Ngóng thiên thu một cõi đời tịnh yên
Máu xương mãi chuyện ưu phiền
Còn đâu tiếng gọi cho em miệt mài
Ừ mai súng khoác lên vai
Ngẩn ngơ phố núi những ngày đao binh
Chắc đâu rượu uống một mình
Trong thân phiêu bạc nhục vinh nửa vời
Ừ mai thương bóng trăng trôi
Chim quên vẫy mỏi cuối trời chiến tranh
Uống đi mai hát quân hành
Nghe trong hơi bốc long lanh mắt người...”

Tuổi trẻ, ngây thơ và bốc đồng. Tưởng rằng, mình như một hiệp sĩ thời xưa đi vào nơi gió cát. Thơ cũng nghênh ngang kiểu “túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Tuổi trẻ, ơi những giấc mơ của ngày chân không chấm đất cật chẳng đến giời. Có phải là giấc mơ chung của những người lính trẻ chúng tôi.

Pleiku, một thành phố nhỏ heo hút ở cao nguyên, nhờ thơ và nhạc, đã thành một nơi chốn đầy thơ mộng. Thành phố ấy, có những tương phản kỳ lạ. Chiến tranh đã làm phố núi ấy có một bộ mặt, khi thì lãng mạn thơ mộng với những tà áo dài nữ sinh đi học buổi sớm mai nhưng cũng có lúc đầy nhục dục xác thịt. Con đường từ phố đến camp Holloway đầy những quán rượu và những cô gái phấn son lòe loẹt. Và, thành phố cũng đầy những sắc lính. Những người từ mặt trận trở về, đốt tiền mua vội một đêm vui rồi sáng mai trở lại miền gió cát. Những người lính đồn trú ở đây, ráng làm quen với cuộc sống ở vùng nắng bụi mưa sình, trong một giây phút nào, cũng nao nao vì những tà áo trắng buổi sáng trong sương mù Pleiku, tìm thấy một chút thơ mộng trong đời để làm kỷ niệm Pleiku, những cuộc tình có thực đầy dông bão của những người lính và những cô gái giang hồ. Nhưng Pleiku cũng có những êm ái thánh thiện của tình học trò áo trắng và người lính dạn dầy trong khói lửa. Pleiku có con đường đầy quán rượu cho lính G.I. viễn chinh nhưng cũng có con đường có hai hàng cây cao vút rợp bóng lá và những tà áo học trò tung bay theo nắng.

Người làm thơ, có lúc cũng cảm khái vì cái không gian, thời gian của thành phố ấy. Mưa cũng là cái mưa đặc biệt, mỗi mỗi hạt mưa như chứa đựng cả những nỗi niềm của tất cả những địa phương xa lạ thu góp về. Nắng cũng là cái nắng không phải của một nơi chốn nào khác, nó mang đến cái hanh hao khó chịu nhưng cũng trong màu nắng ấy lấp lánh những tình cảm thầm thì khó tả. Lạnh cũng chẳng phải là cái lạnh lẽo bình thường mà hình như cỏ cây, đường phố, núi non, ở đây cũng se mình và chia sẻ chung vui buồn với con người. Trong giây phút hiếm có trong đời, cảm xúc đã làm ngôn ngữ tăng thêm lôi cuốn và tạo nhiều ấn tượng. Nguyễn Bắc Sơn, một chứng nhân của cuộc chiến, làm thơ như một cách thế sống, đã coi công việc viết như một phần của đời người. Sống ở Plei ku và viết những bài thơ để gửi Plei ku. Thơ ông, có chút cảm khái ngậm ngùi của thời tao loạn nhưng cũng có những xúc động bềnh bồng của tâm tư lãng mạn hay đùa cợt với cuộc đời. Thơ, phảng phất vóc dáng một chàng cuồng sĩ.

Ðọc bài thơ “Hoa Quì Vàng Lạnh Pleiku”, tự nhiên tôi như người trở về thời gian ấy, không gian ấy. Trở về những ngày tuổi trẻ, của những giây phút bốc đồng coi mọi việc như cuộc đùa chơi. Cái lạnh, chưa hẳn là lạnh lẽo Mùa Ðông, mà còn chứa đựng một chút nồng ấm nào đó của Mùa Hạ. Lạnh ở bên ngoài nhưng rần rần nóng hồi ở tim óc bên trong. Sương mù ban đêm trên đỉnh cao nhìn về phố buồn, tâm thức cũng ào ạt như sóng theo tầm nhìn vời vợi.

“Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó”.

Tôi cũng đã sống ở Pleiku gần ba năm. Thời gian ấy trong hơn tổng số bẩy năm ở lính của tôi chắc là đáng kể và đầy chật những điều đáng nhớ. Ngày đầu tiên khi từ Nha Trang xuống phi trường Cù Hanh là một ngày mưa u ám. Mưa sủi bọt trên mặt nhựa phi đạo và bầu trời nặng nề u ám mầu mây đen. Gió ào ạt lồng lộng ngoài kia khiến cho tôi thấy mình quá nhỏ nhoi trong cái buồn mênh mang của đất trời. Lúc ấy, tôi thấy những câu thơ vẩn vơ trong óc của Kim Tuấn, Du Tử Lê, Vũ Hữu Ðịnh, Nguyễn Bắc Sơn. Thơ tự nhiên thành một phần của một ngày, một tháng, một năm, của riêng tôi. Thơ để quên đi hiện tại. Những giọt mưa quất vào mặt, buốt rát. Những ngọn gió thốc vào ngực. Nặng tê.

Ðọc bài thơ dài của Nguyễn Bắc Sơn tôi chỉ thấy có hai câu nói về mầu hoa quì vàng. Thế mà cái mầu sắc hoa man dã ấy chỉ một nét thoáng qua nhưng lại gợi nhiều dư âm. Mầu vàng, có khi là mầu vàng lạnh, nhưng có khi là mầu nóng chói chang của nắng.

“Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh.
Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao.”

Hoa quì vàng, một loài hoa nhỏ, cây từa tựa giống như hoa cúc, tôi đã nhìn thấy miên man mầu vàng khi trên phi cơ nhìn xuống. Mầu vàng, mênh mang trên những ngọn dồi loang lổ mầu xám của đá và mầu đỏ của đất. Hoa quì, lẻ loi một cánh trên tay thú thực cũng chẳng hấp dẫn lắm nhưng nếu bạt ngàn dưới cánh phi cơ, rào rạt trong nắng trong gió sẽ trở thành một ấn tượng khó quên cho cảm xúc. Ơi hoa quì, mầu vàng không phải kiêu sa như mầu hoàng cúc của áo tôn nữ mà có sự gần gũi với tà áo vàng của dân dã, của thiên nhiên. Hèn chi, cũng có nhiều nhà thơ vấn vương với hoa quì vàng, như Nguyễn Xuân Thiệp, như Kim Tuấn.

Người thơ kể chuyện của mình, một câu chuyện có lẽ rất quen tai của những người lính thú. Cũng đi xuống, đi lên, cũng loay hoay bồn chồn như những chàng gà trống...

“Ðời lang bạt của một người lính thú
Sáng hôm qua tôi là người thiếp ngủ
Ði một mình lên xuống phố mù sương
Phố núi kia ơi, phố có con đường
Lên xuống dốc tìm không ra bạn hữu
Không có bạn tôi làm sao uống rượu
Tôi làm sao sống nổi một ngày đây
Phố núi kia ơi, kẻ lạ đông đầy
Nhìn gã lính không khác gì gã lính”.

Không có bạn tôi làm sao uống rượu. Tôi làm sao sống nổi một ngày đây. Nghe như một câu nói thường ngày, không có chất thơ mà sao nghe tràn đầy thi tứ. Chắc lúc ấy, sự cảm khái của người thơ đã lên cao độ, và, nỗi lạnh lùng thiên cổ như bám vào da vào thịt. Có nỗi nhớ mong, có niềm tiếc nuối. Người em, bây giờ lưu lạc ở đâu?

“...Tôi vận rủi làm một người lãng đãng
Ngó mông hoài khuất bóng của người em
Sáng hôm nay đời sống thật bình yên
Sao phố lại đuổi đi người yểu điệu
Vườn đá tảng bàn chân em huyền diệu
In gót hồng lên lớp bụi đời tôi
Là từ khi tôi hạnh phúc rong chơi
Và quên lãng con thú mù phẫn nộ
Ôi phố núi đêm nay là cổ mộ
Một hàng đèn sáng lạnh cõi bi hoang”.

Bài thơ thứ hai tôi đọc để nhớ Pleiku là của Nguyễn Xuân Thiệp, bài “Pleiku, Tháng Ba 1974”. Ba mươi năm trôi qua, nhưng ngày tháng đó vẫn còn sinh động. Thơ, không ghi chép lại nhật ký ngày tháng mà sao đầy dấu viết của một quãng đời. Ngày ấy, lửa cháy đỏ. Ngày ấy.

Người thi sĩ kể chuyện một mình. Ðâu cần ai hiểu, chỉ để nỗi niềm loang vào sương đêm thành nỗi nhớ mịt mùng.

“Cầm bút viết, Tháng Ba rực cháy
Hàng dầu cao trong bình minh
Cơn sốt của trái chín và cánh đồng
Trận gió hung trưa ngày ấy
Cầm bút viết, đồi hoa quỳ vàng
Tháng Ba xuống khu rừng. Bóng quạ
Rung những nhánh cây màu tàn lửa
Tiếng thét hư không
Chiều rượt qua ngàn”

Những hình ảnh đan vào nhau với những liên tưởng tiếp nối. Ảnh tượng có khi như không liên quan nhau, chỉ là những nét phác sơ lược nhưng lại làm nổi bật được một không gian đầy biến động. Ðồi hoa quỳ vàng, khu rừng, bóng quạ, nhánh cây màu tàn lửa, tất cả như chìm đắm trong nỗi bàng hoàng của thế thời. Cơn bão lửa dậy lên từ hoang vu:

“Tháng Ba, chân trời chớp tía
Những chuyến xe lên đường, cơn mưa chợt đến
Rào qua mái nhà, bàng hoàng. mưa ngưng bặt
Ðêm. Những căn nhà gỗ sáng đèn.
Tháng Ba. Trên đồi vông nở
Tôi trở về thị trấn Tháng Ba
Những sợi dây trời cắt đau trí nhớ
Cườm tay em nhỏ máu hè xưa”.

Xa rồi những ngày thơ mộng. Gần lắm rồi những nỗi kinh hoàng. Cái linh cảm của một cuộc địa chấn là cái linh cảm chung của những người như những con chuột đang cuống cuồng trong rọ. Thị trấn sẽ thành biển lửa, nay mai. Sẽ đầy những cuộc chia ly đầy nước mát. Thảm họa sụp xuống, như cơn hồng thủy đến.

“...Vò nát chiếc khăn. và đừng khóc
Chiều nay. Chớp bể mưa nguồn
Chia tay nhau. Sương phụ
Người đi râu bám bụi đường
Tháng Ba. Em. Những căn nhà gỗ
Ánh đèn khuya. Vệt máu hè xưa
Ðừng tiếc chiếc khăn tay ngày ấy
Sẽ bay trong lửa hoàng hôn
Tháng Ba. Cơn giông rền mặt đất.”

Ðọc xong hai bài thơ, tôi như người hụt hơi. Ðời sống, như một hơi khói nhẹ, loãng bay vào hư không. Tự nhiên, thấy lòng mình chùng xuống những kỷ niệm. Những bài thơ. Thuở đã xa. Ngày còn trẻ. Và hoa quì vàng, cái màu vàng loang sắc nắng của buổi nào, bây giờ có còn vương trên núi đồi không? Cái sắc màu hỏa hoàng trong những buổi chiều nhạt nắng ấy sao nhức nhối ký ức. Thị trấn ấy, như câu thơ Vũ Hữu Ðịnh:

“Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Ði dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm Mùa Ðông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong”.

Có khi em Pleiku chỉ là tưởng tượng. Thi sĩ đã làm thành một nhân dáng nữ tuyệt vời để tô điểm cho phố núi ấm áp hơn trong cái lạnh se se Tây Nguyên. Thơ như tháp cánh vút lên, để những hàng cây dầu hai bên con đường học trò vươn lên mầu lá xanh hiền. Thành phố có em, là thành phố mà tình yêu đã làm một thứ trang sức cho đời lính thú biên trấn xa xôi. May mà còn có niềm vui.

Thơ về Pleiku thì nhiều, nhiều lắm. Kim Tuấn, Diên Nghị, Du Tử Lê, Võ Ý, Lê Bá Ðịnh, Lâm Hảo Dũng... đã trải lòng mình lên thành những rung động thật với nơi chốn mà mình đã qua hoặc gắn bó. Pleiku, nhắc đến nó để nhớ lại một thời lửa đạn. Và, nếu có người sưu tập thành một tuyển tập có chủ đề về nơi chốn ấy, chắc sẽ có một quyển sách cả ngàn trang mới mong đầy đủ hết thơ văn của những người hoài vương vấn với mưa sình nắng bụi cao nguyên.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Users browsing this topic
Guest
105 Pages«<45678>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.