Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages«<34567>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hạ Vi  
#81 Posted : Tuesday, May 17, 2011 2:24:25 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
UserPostedImage


Hát dỗ em ở làng quê Viêt Nam


Nói đến đời sống của dân cư tại các làng mạc miền Nam, mà không nói đến những câu hát dỗ em ngủ là còn một chút gì đó chưa trọn vẹn. Những câu hát dỗ em, ở những vùng khác còn gọi là ru em, dường như đã thấm vào từng mạch nguồn của đời sống dân quê ở đây, giống như những dòng nước mát mang phù sa với màu đục ngầu thấm vào ruộng lúa với những chùm rễ lúa non hấp thụ, nuôi dưỡng những lá lúa tươi xanh mơn mởn, lặt lìa. Như tiếng hát dân ca, ca dao, vè , hò, ...tiếng hát dỗ em ngủ cũng bắt nguồn từ một nền văn chương truyền khẩu, bình dân mà trai, gái, già, trẻ, ai ai cũng nhớ, cũng thuộc, cũng biết hát. Nếu đã nằm võng đưa em là tự động cửa miệng phải hát. Hát một cách tự nhiên, không thẹn thùng, không mắc cở. Hát nghêu ngao, hết câu này chuyển sang câu khác, hết bài này chuyển sang bài khác, đến khi em bé ngủ, rồi người hát dỗ em bé cũng ngủ lúc nào không hay, không biết. Mà trẻ nít ở đồng quê riết rồi cũng quen, nếu hôm nào không được đưa võng, không được hát, không được dỗ bằng những lời hát bắt quàng nhưng êm ái, y như rằng, hôm ấy thức hoài không chịu ngủ. Cho nên, ca dao có câu :


" Ðố ai nằm võng không đưa,
Ru em không hát, anh chừa rượu tăm. "



Thông thường những lời hát dỗ em được lấy từ những câu ca dao trong dân gian, được truyền đi từ những người mẹ, người chị, không biết từ đời nào. Nhiều lúc những người hát cũng ít thắc mắc tại sao phải thế này, tại sao phải thế khác, mà họ vẫn hiểu ý nghĩa thật giản dị của câu hát. Còn trẻ con, thật ra, có khi chẳng hiểu ý nghĩa của những câu hát, cốt sao vần điệu êm tai , giọng hát ngân nga cho trẻ nít dễ ngủ là được rồi . Câu hát dỗ em sau đây, có lẽ, ai cũng có lần đã nghe với âm điệu réo rắt, nói lên tấm lòng cùng sự hy sinh của người Mẹ phải thức trắng đêm để dỗ con khi con còn bé hoặc lúc con bịnh, con đau :


" Gió mùa Thu, Mẹ ru con ngủ,
Năm canh chầy, thức đủ về năm. "



Ðó là câu ca dao nguyên thủy như vậy. Nhưng khi hát dỗ em, thường thường người nhà quê cho thêm vào những chữ " ầu ơ ! " hoặc " ví dầu ! " để cho lời hát thêm dịu dàng, thêm êm êm, thêm réo rắt. Lúc bấy giờ hai câu trên, ở quê tôi, thường được nghe người ta hát như sau :


"Ầu ơ ... Gió mùa Thu ... Mẹ ru con ngủ ...ờ ...
Năm canh chầy ...ơ ờ, Mẹ thức đủ ...về năm ... "



Có lẽ những từ ngữ đặc biệt này giúp chúng ta phân biệt được giữa hát dỗ em, hò miền Nam và nói vè. Hò miền Nam là một cách thể hiện những câu đối đáp bằng những vần điệu đặc biệt để quên đi những nhọc nhằn, cực khổ trên đồng áng hoặc chọc ghẹo, làm quen giữa những đôi trai gái trên ruộng lúa hay trên dòng sông, trên ghe xuồng vào những đêm trăng sáng vằng vặc. Nếu không có khiếu, không có hồn thơ, không lanh trí ứng phó không thể có những câu hò xuất sắc được vì hò không có bài bản sẵn như ca, ngâm sa mạc, nói vè, hoặc hát dỗ em. Nói như người bình dân, những câu hò từ trong bụng mà ra, chứ không có sẵn trong dân gian. Cho nên, hò là cả một nghệ thuật, là một cách ứng phó thật tài tình, thông minh mà không xa rời với thực tế của những điều đang đối đáp. Thí dụ như câu hò ngõ ý trong một mối tình nhà quê vừa mới chớm nở, sau đây :


"Hò o o ớ ớ ... Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng, ơ ơ ơ ...
Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng, ơ ơ ơ ... thật là dễ thương ơ ơ ...
Hò o o ớ ớ ... Nghe giọng nàng, anh những vơ vẩn vấn vương.
Sống cùng nhau chẳng được, cho anh phải mơ màng chiêm bao. "



Còn câu ca dao sau đây :


"Ví dầu tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra ."



Sau khi thêm vài chữ, trở thành câu hát dỗ em:

"Ầu ơ ... Ví dầu ... tình bậu muốn thôi ...ờ
Bậu gieo tiếng dữ ơ ờ ..., Cho rồi ... bậu ra ... ."



Những câu hát dỗ em, ngoài những chữ " Ầu ơ ", " Ví dầu " , người bình dân còn thêm vào những chữ phụ nhằm làm cho câu hát được kéo dài cho phù hợp với ý nghĩa hoặc giọng hát mà dường như sự thêm bớt này không theo một qui luật nào, thật tự nhiên như giọng hát tự nhiên của họ. Chẳng hạn câu ca dao sau đây :


"Má ơi, con vịt chết chìm,
Thò tay vớt nó, cá kìm cắn tôi ."



Ðến khi hát, tôi thường nghe hát như sau :


"Ầu ơ ... Má ơi, con vịt " nó" chết chìm ...ờ
Con thò tay vớt nó ơ ờ ..., Cá lìm kìm ... , nó cắn tay con ... ."



Tiếng hát dỗ em bay theo gió, có khi trẻ em hát thật lớn cả xóm đều nghe, còn người lớn hát vừa đủ để em bé nghe êm tai dễ ngủ. Dưới mái lá nghèo nàn, dưới gốc xoài, bên chuồng bò, ở nhà bếp, ngoài vườn cam, vườn chuối... đâu đâu bạn cũng đều được nghe những tiếng hát bổng trầm như vậy dọc theo những con đường làng, cặp bờ sông sâu nước chảy, dọc theo những con đường mòn trong rẫy, trong ruộng hoặc theo các con rạch cạn nước vào mùa nắng hạn.
Mặc dù phần lớn những câu hát dỗ em đều không có vẻ văn hoa bóng bẩy, nhưng nó phù hợp với sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ. Những câu hát ấy cũng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa thâm thúy, chuyên chở những tình tự êm đềm, những bài học ý nhị, những mĩa mai nhẹ nhàng nhằm mục đích giáo dục, khuyên răn thật bình dị, thân tình mà những người bình dân nhất họ cũng dễ nhận ra. Chúng ta thử đi vào một vài thôn xóm miền Nam, ngồi dưới bóng cây bên quán nước dừa tươi, hay bên chòi hớt tóc ở lề đường hoặc vào bất cứ nhà quen nào, vẳng đâu đây giọng hát :



UserPostedImage



" Ầu ơ ...Ví dầu cá bống ... hai hang...ờ
Cá trê hai ngạnh ơ ờ ..., tôm càng ... hai râu ... ."



Hoặc thể hiện rõ cái chơn chất ruộng đồng :


"Ầu ơ ... Ví dầu ... ví dẫu, ví dâu ...ờ
Ví qua, ví lại ơ ờ ..., con trâu ...nó vô chuồng .... "



Miền Nam sông rạch chằng chịt, việc đi lại từ bờ sông này sang bên kia bờ, người trong xóm, trong làng phải đi ngang những chiếc cầu tre lắt lẻo. Những chiếc cầu khỉ ở miền Nam là hình ảnh thân thương của làng quê, làm cho bức tranh quê thêm nét hữu tình. Nó đã đi vào tiềm thức của mọi người rồi hiện ra trong ca dao, biến thành tiếng hát dỗ em, mang một tâm tư não lòng của những kiếp nghèo nơi ruộng đồng, thật cảm động :


"Ầu ơ ... Ví dầu cầu ván ... đóng đinh ...ờ
Cầu tre lắt lẻo ...ờ, gập ghình khó đi ...
Khó đi mượn chén ăn cơm,
Mượn ly uống rượu ơ ờ ..., mượn đờn ... kéo chơi ... "



Ðôi khi những câu hát ví von những đứa không có tài cáng gì đặc sắc, làm gì cũng không nên thân, rớ tới đâu hư tới đó :

"Ầu ơ ... Rủ nhau xuống biển ...mò cua ...ờ
Bắt cua, cua kẹp ơ ờ..., bắt rùa,... rùa bơi .... "



Sau đây là câu hát lúc nào tôi cũng nghe hát, nhớ những ngày Mẹ tôi kể lại, hồi xưa khi trẻ con còn bú sữa mẹ, không có sữa bò như bây giờ, nhiều lúc phải nhờ người lối xóm cũng có con còn nhỏ, cho em bú dùm khi mẹ đi chợ hoặc đi đồng chưa về, gọi là " bú thép " :


"Ầu ơ ... Em tôi khát sữa ... bú tay ...ờ
Ai cho bú thép ơ ờ ..., ngày rày ... mang ơn .... "



Ở nhà quê, sự sanh sản dường như nhiều hơn ở thành thị, nên có nhiều gia đình con cái nheo nhóc, đứa này khóc dỗ chưa nín , đứa kia lại thức giấc :


" Ầu ơ ... Em tôi buồn ngủ ...buồn nghê ...ờ
Con này chửa nín ơ ờ ..., con kia dậy rồi ... "



Câu hát này có chỗ còn hát như sau, mặc dù trong câu hát dường như không có nghĩa :


" Ầu ơ ...Em tôi buồn ngủ ... buồn nghê ...ờ
Con tầm chửa chín ơ ờ ..., con dê đã muồi ... "



Có nhiều đứa trẻ khóc hoài dỗ không nín, nên những đứa bé hát dỗ em nhiều lúc cũng muốn khóc theo, buộc lòng phải nài nĩ :


" Ầu ơ ... Ví dầu ... tình bậu muốn thôi ...ờ
Bậu gieo tiếng dữ ... cho rồi bậu ra ...
Bậu ra, ...bậu lấy ông câu ...
Bậu câu con cá bống ơ ờ ..., chặt đầu kho tiêu ...
Kho tiêu, kho ớt, kho hành ...
Kho ba lượng thịt ơ ờ ..., để dành ... cho em ăn... "



Ðứa bé đang khóc, nghe chị nó hát " để dành cho em ăn " thì dịu cơn khóc lại và từ từ ngủ thiếp trong những lời hát kế tiếp hoà vào trong cái cõi không gian vừa quê mùa chơn chất, vừa thanh nhã êm êm, vừa thương yêu đầm thắm như mật ngọt của bông chuối, bông so đủa, thơm thơm của hương thơm hoa cau, hoa bưởi, hoa chanh, hoa lài ngoài vườn toả nhẹ ngập đầy. Ðôi lúc, những câu hát nhằm diễn tả lòng nhân ái, từ tâm, yêu thương loài vật :


" Ầu ơ ... Chiều chiều ... bắt két nhổ lông ..ờ.
Két kêu bớ chị ơ ờ ... , sao đành ... bất nhơn ... "



Thật ra, câu ca dao này nói về thảm cảnh ở trong triều đình nhà Nguyễn, nguyên văn như sau :


"Chiều chiều bắt két nhổ lông,
Két kêu bớ Tự, sao đành bất nhơn ?"



Theo cụ Vương Hồng Sển trong sách Nửa Ðời Còn Lại, chữ " Tự " ám chỉ vụ " em giết anh khác mẹ, để giành ngôi ". Trở lại câu hát dỗ em sau đây, mang ý nghĩa từ tâm, nhân ái tương tự


" Ầu ơ ... Chiều chiều ... bắt nhái cắm câu ...ờ
Nhái kêu cái eọ ơ ờ ..., thảm sầu ... nhái ơi ! !... "



Lòng nhân ái đó nó tự nhiên như khí trời, như gió, như mây, như mưa, như nắng, như ánh trăng sáng đêm rằm, không một chút gượng ép, không một chút giả tạo như tấm lòng của người Mẹ lo cho con sau đây :


" Ầu ơ ...Miệng ru ... mắt nhỏ hai hàng ...ờ
Nuôi con càng lớn ơ ờ ..., Mẹ càng... lo thêm ... "



Bởi lẽ rất đơn giản vì người đời luôn luôn quan niệm : " Phúc đức tại mẫu là lời thế gian. " Hoặc tục ngữ còn có câu : " Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. " Do đó, cha mẹ hết sức quan tâm đến việc giáo dục con cái :


" Ðẻ con, chẳng dạy, chẳng răn,
Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy lòng. "




UserPostedImage




Vì thế, ở nhà quê cũng thường nghe câu hát dỗ em :


" Ầu ơ ... Trồng trầu ... trồng lộn với tiêu ...ơ
Con theo hát bội ơ ờ ..., Mẹ liều ... con hư .... "



Và cũng không ít những lời hát dạy con hiếu đạo, một trong những đạo trọng của con người với nền giáo dục Ðông phương, như các gia đình nhà quê ở làng mạc miền Nam :


" Ầu ơ ... Mẹ cha là biển ... là trời ...ờ
Làm sao con dám ơ ờ ... cải lời ... mẹ cha ... "



Bên cạnh những lời hát mang tính chất giáo huấn, cũng có những câu hát biểu lộ lòng cảm thông, chia xẻ với cảnh nghèo :


" Ầu ơ ...Than rằng ... nhà dột, cột xiêu ...
ờ Muốn đi cưới vợ ơ ờ ...,sợ nhiều ... miệng ăn .... "



Hoặc có những lời hát cũng ẩn chứa nhiều ý nghĩa thâm trầm :


" Ầu ơ ...Ai về ... nhắn với ông câu ...
Cá ăn ... thì giựt ờ ..., chứ để lâu ...hết mồi ... "



Rồi trẻ con cũng có những suy trước nghĩ sau thật chí lý :


" Ầu ơ ... Cá không ăn câu ... thật là ... con cá dại ...ờ
Vác cần câu về rồi ờ..., nghĩ lại ...con cá ... khôn .... "



Bên cạnh những câu hát có những ý tứ rành mạch, còn có những câu hát mang tính cách đố chơi, nhiều lúc gợi cho người nghe những suy nghĩ, tò mò tìm hiểu vật gì qua câu hát :


" Ầu ơ ...Non cao ...ai đắp mà cao ơ...?
Sông sâu ai bới ờ ..., ai đào ...mà sâu ...? "



Hoặc câu hát đố sau đây, nếu không ở đồng quê, có lẽ khó biết vật gì :


" Ầu ơ ... Ta đâu há dễ ... chịu nghèo ...ờ
Hóa công dẫu định ơ ờ ..., mấy đèo ... cũng băng ...."



Ðó là loại rau cải trời. Chỉ có " cải trời " là cải lại "Hoá công " thôi. Rải rác đó đây, còn biết bao câu hát dỗ em như vậy. Tùy nơi, tùy vùng, tùy chỗ đông đúc hoặc vắng vẻ , mà giọng hát êm êm non nớt hoặc cao vút xa đưa khắp xóm, khắp rạch như bất tận nhưng dịu dàng, quen thuộc thân thương, không tách rời ra được như sự buộc chặt giữa những xóm làng với người nhà quê, giữa những câu hò tiếng hát nơi thôn dã với cái thanh tao, bình dị của những hương vị cỏ nội hoa đồng, không sặc sở nhưng lâu bền, không ngào ngạt mà thoang thoảng nhẹ nhàng, làm thành cái bền vững của nét đẹp ruộng đồng, khó mà tìm thấy ở bất cứ nơi nào trong cõi đời này ! !

Những lời hát dỗ em ngủ ở làng quê miền Nam là một phần của đời sống tâm linh của người nông dân. Ở đó nó biểu lộ cái rung cảm thật dịu dàng, thật trong lành, thật bình dị, chất phác mà an nhàn, hạnh phúc, bởi lẽ, người ta khi cất lên được giọng hát, dù là hát dỗ em ngủ, là đã thả hồn bay bổng ra khỏi đời sống thường với những nhọc nhằn, cơ cực rồi



Lương Thư Trung

Edited by user Tuesday, May 17, 2011 6:26:00 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
CatLinh on 5/20/2011(UTC)
phamlang  
#82 Posted : Wednesday, May 18, 2011 12:01:31 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
CHUYỆN ĐÔI ĐŨA UserPostedImage

Từ giã quê hương ra đi, những gì ta mang theo, nếu có, nhứt định không phải là đôi đũa. Vậy mà ngày đầu tiên đặt chưn đến đảo cũng như sau nầy.. trong những bữa ăn, đôi đũa vẫn xuất hiện bên cạnh ta, đi theo ta suốt một đời.. Nó hiển nhiên đến đổi không còn ai biết nó từ đâu đến, tại sao có? Trong những bữa cơm nghèo nàn, muối dưa đạm bạc hay những yến tiệc linh đình, mỹ vị cao lương, người Việt ta vẫn phải dùng đến đôi đũa. Không thể dùng tay để bốc thức ăn như con người 5000 năm trước đây của nửa phần trái đất nầy.

Tuy tầm thường, thô sơ, rẻ mạt.. không ai để ý, nhưng nó luôn luôn ở bên cạnh ta. Cả đến khi ta qua đời, đôi đũa cũng được so ngay ngắn để bên chén cơm cúng ta trên bàn thờ.

Đôi đũa là một phát minh của nền văn minh nông nghiệp cách đây hàng ngàn năm của vùng Hoa hạ và sau đó lan tràn cả vùng Đông Nam Á. Nó vừa là một dụng cụ vừa là một chứng nhân của dòng sinh hoạt văn hóa dân gian, biểu tượng một phần của đời sống văn minh trong sự ăn uống. Riêng người Việt Nam, qua cung cách sử dụng, đôi đũa còn thể hiện nét đẹp của tinh thần gia tộc: Biết kính trên nhường duới, biết ''ăn coi nồi, ngồi coi hướng'', biết gắp miếng ngon dâng cho ông bà, cha mẹ, nhưng đồng thời cha mẹ, ông bà cũng chia sẻ, nhường nhịn thức ăn cho con cháu. Tình gia tộc chan hoà ấm áp qua sự sử dụng đôi đũa trong bữa cơm.

Trước khi ăn, người ta còn cầm đũa xá 3 xá, để nhớ ơn người nông dân lam lũ, một nắng hai sương, nhọc nhằn vất vả, mới tạo ra được hột cơm. Và khi ăn, phải ăn cho sạch cơm trong chén – để thể hiện cái đạo lý ''Ăn trái nhớ kẻ trồng cây'' của dân tộc ta. Tập quán tốt đẹp nầy hiện vẫn còn một số gia đình áp dụng. Đôi đũa còn mang lại cho ta cái thú vị trong cách thưởng thức món ăn. Cứ thử ăn món phở mà dùng chiếc nĩa cuộn tròn mấy cọng bánh đưa vào miệng, hoặc ăn món mắm và rau mà cầm nĩa xăm từng cọng rau, con dao cắt từng miếng thịt – mắm, thịt và rau rời rạc.. không còn là món ''mắm-thịt-cá-và-rau'' hài hoà tuyệt diệu.. ăn một miếng, ngon thấm tận vào da thịt.. như âm hưởng một bản đàn đã dứt mà dư âm còn lan man mãi trong tâm hồn. Ăn mắm bằng muỗng nĩa.. thì không còn thú vị gì nữa..

Nếu văn hoá là cái gì còn sót lại, khi người ta đã quên hết.. như một tác giả nào đó đã nói (“La culture est ce qui reste, quand on a tout oublié”), thì chính đôi đũa là cái còn sót lại..


ĐÔI DÒNG VỀ LỊCH SỬ ĐÔI ĐŨA
Theo nhiều sử liệu nghiên cứu về đôi đũa thì người dân vùng Hoa Nam thuộc giống dân Bách Việt là dân tộc đầu tiên phát minh ra đôi đũa dùng để gắp thức ăn. Trong quyển L'histoire culturelle de la Chine, sử gia Đàm Gia Kiện xác nhận người Tàu thời tiên Tần (trước Tần Thỉ Hoàng) vẫn còn ăn bốc tức dùng tay như một đứa trẻ đưa thức ăn vào miệng. Riêng dân Trung Hoa miền Hoa Bắc – ăn bốc là một thói quen truyền thống. Vì miền nầy khí hậu lạnh lẽo.. dân ở đây chỉ trồng được lúa mạch (orge) và lúa kê (millet) và ăn bánh mì, tất nhiên là ăn bốc, vì phải dùng tay để cầm bánh mì đưa vào miệng ăn. Và bánh mì của họ khác với bánh mì Tây Phương. Chỉ khi họ bành trướng lãnh thổ về phương Nam – vùng đất của dân Bách Việt (100 giống dân Việt) đất ấm áp, nơi có nhiều rừng tre và trồng được lúa nước, người Hán khám phá ra dân nơi nầy dùng một dụng cụ thô sơ bằng tre, dùng để và cơm và gắp thức ăn đưa vào miệng. Đôi đũa đuợc phát sinh qua hình ảnh cái mỏ con chim ngậm giữ một cách có hiệu quả.. hột lúa hay một con cá, trước khi đưa vào miệng ăn. Và cũng vì thức ăn có nhiều thứ ẩm nước hay nóng sôi.. dùng tay ăn sẽ dơ bẩn hay bị phỏng tay, rất bất tiện.. Từ đó, họ dùng 2 cái que, hình ảnh cổ xưa nhứt của đôi đũa. Họ Đàm kết luận, với những khám phá mới gần đây nhứt, đã minh chứng ĐÔI ĐŨA là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp của vùng Đông Á. (Đàm Gia Kiện, L'histoire culturelle de la Chine - p.769)

Người Tàu còn sử dụng đôi đũa trong Toán học trước khi phát minh ra được bàn toán (boulier ). Đời nhà Hán, người Tàu đã biết sử dụng những chiếc đũa viết những con số để xếp thành những phương trình đại số.. Liu Hui (220-280 ) dùng những chiếc đũa màu đỏ (chỉ số dương) và những chiếc màu đen (chỉ số âm), để dạy Toán học, để xếp thành những ma trận (matrice), một ngàn năm trước cả GAUSS. Người Tàu cũng sớm biết rút căn số (extraire les racines carrées) từ thời đó. (Theo J. Claude Marzloff, Histoire des Mathématiques chinoises (J. Claude Marzloff, 1988, p.376)

Qua những nghiên cứu về nguồn gốc đôi đũa, luận chứng của sử gia Đàm Gia Kiện gần đây nhứt, có lẽ là đáng tin cậy hơn cả. Nhà Hán bành trướng lãnh thổ về phương Nam – vùng các tỉnh phía Nam sông Dương Tử gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến – là những vùng khí hậu tương đối ấm, trồng được lúa nước và có nhiều rừng tre. Thực phẩm vùng nầy là cơm nấu từ lúa gạo không phải là bánh mì như vùng Hoa Bắc (ăn bằng cách cầm tay). Ăn cơm thì phải dùng 2 cái que bằng tre để lua cơm vào miệng và để gắp thức ăn – tiện lợi, sạch sẻ hơn dùng 2 bàn tay.

TRÊN ĐƯỜNG LƯU LẠC XỨ NGƯỜI.


Bây giờ lưu lạc xứ người, cộng đồng ta là một thiểu số nhỏ bé. Môi trường khác, văn hoá khác, ngôn ngữ tập quán khác. Văn hóa mới ảnh hưởng ào ạt trực tiếp – tác động có tánh cách thượng phong, áp đảo, nhứt là đối với giới trẻ. Muốn sống còn, dù không muốn, ta vẫn phải hội nhập vào xã hội mới. Giới trẻ được giáo dục theo văn hoá sở tại. Từ nơi ăn chốn ở, cách ăn uống, nếp suy tư – là hệ quả của nền giáo dục mới. Bữa cơm Việt Nam, tất nhiên có đôi đũa, có còn giữ vững địa vị của nó trong nếp sống của nhiều thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại hải ngoại không?

Nhiều người ưu tư.. nghĩ rằng chỉ vài ba thế hệ sau.. nền văn hoá ta sẽ chìm mất vào nền văn hóa bản địa. Trẻ con ta dần dần sẽ không nói được tiếng Việt, không học tiếng Việt hoặc có, cũng chỉ là qua loa, thứ yếu.. Hậu quả tất nhiên là không đọc sách báo Việt, không thích nhạc Việt. Trẻ con thích Hamburger hơn cơm, thích khoai tây chiên hơn phở. Bữa cơm gia đình sẽ không còn canh chua cá kho, sẽ vắng bóng mấm tôm cà pháo, và đôi đũa, cũng sẽ bị dòng nước lũ văn hoá mới cuốn trôi đi mất…

Mặc dù có rất nhiều tổ chức, hội đoàn, chùa chiền.. khắp thế giới hoạt động thiện nguyện, nhiệt tình, tích cực cho việc giáo dục tiếng Việt cho con em, nhưng có một sự thật không thể chối cãi là phần lớn con em sinh tại hải ngoại không đọc sách báo Việt ngữ và thích ăn Hamburger, hot dog hơn cơm và phở.

Bảo tồn và duy trì văn hoá cũng còn tùy thuộc nơi sức tranh đãu của chúng ta – những bậc cha ông của các thế hệ sinh tại hải ngoại. Tại sao các cộng đồng Tàu còn giữ được văn hóa của họ. Thăm dò những người Tàu nhiều thế hệ sinh đẻ tại đây – hiện có người từ 60 tới 90 tuổi.. họ vẫn đọc được tiếng Tàu, ăn cơm Tàu, sử dụng đôi đũa.. Người Tàu đã làm được. Còn ta thì không biết ra sao!

ĐÔI ĐŨA TRONG BÀN TIỆC.

Một người Tây Phương, Ô. G. Charles, trong tác phẩm: ''La table du dragon'' hết sức ca tụng đôi đũa và thức ăn Á Đông. Ông viết: ''Người ta tự đào huyệt chôn mình bằng chiếc nĩa, nhưng ngườt ta xây dựng sức khoẻ của mình với đôi đũa (On creuse sa tombe avec la fourchette, mais on construit sa santé avec les baguettes). Tác giả một mặt đề cao đôi đũa và thức ăn Á Đông, mặt khác, ông nhận xét cung cách ăn uống của mấy ông con trời: ''Bữa ăn được xem là khoảng thời gian xum họp, vui vẻ, nên người Tàu gây nhiều tiếng động ồn ào trên bàn ăn. Xương xẩu, rác rưởi bỏ bừa bãi bên cạnh chén cơm hoặc vứt đầy xuống mặt đất.. và rất ít khi không thấy họ khạc nhổ xuống nền nhà. Chiếc bàn sau bữa ăn giống như một bãi chiến trường ngỗn ngang xác chết..'' (G. Charles, La table du dragon).

Người Việt ta có lẽ cũng đã từng thấy ngoài đời lẫn trong phim, người ta ăn lẫu.. Họ dùng đôi đũa dính cơm, thức ăn đang nhai, gắp thịt cá nhúng vào lẫu rồi đưa vào miệng ăn. Đôi đũa dính đầy đờm dãi, xác rau, thịt cá nhai nát.. nhúng vào rồi còn quậy quậy trong nước lẫu.. cho thịt mau chín. Chao ơi! cái lẫu bây giờ giống như một chậu nước rữa chén! Mọi người dùng cái muỗng múc nước trong lẫu húp xì xụp..!

Chính người viết bài nầy những ngày gần đây cũng đã từng trải qua nhiều lần ăn lẫu như thế: Cá bóng kèo còn sống nhảy soi sói.. được bỏ vào chiếc lẫu để giữa bàn. Rau rác cũng được bỏ vào cùng lúc. Hàng chục đôi đũa chỏ vào nhúng, gắp, quậy quậy.. rồi đưa vào miệng nhai, ăn.. và tiếp tục dùng đôi đũa dính đầy thức ăn chỏ vào lẫu lập lại cái ''điệp khúc'' nầy nhiều lần trong bữa ăn. Nước dùng trong giây lát.. ngã màu, nổi màng màng. Kỳ vi, thịt cá, rau rác vụn và chắc chắc có cả nước miếng, đờm dãi trôi lều bều trong nước lẫu.. Ly la ve độc nhứt trên bàn chuyền nhau.. nốc ừng ực một hơi, khà một tiếng khoái trá! Những người khác trong bàn vỗ tay: ‘Dzô! Dzô! Chăm phần chăm’! Tiếng vỗ tay rôm rốp. Tới phiên mình cũng đành phải nâng ly và cũng đành chỏ đũa, nhúng, gắp như mọi người, nếu không muốn lãnh cái cán búa. Thiệt tình! Ớn thấu trời xanh!

Thói quen ''truyền thống'' nầy đã có lâu đời nên người trong cuộc thấy rất bình thường. Nếu để ý một chút hoặc khi xem người Tàu ăn lẫu.. thấy thật muốn nhợn.. Ớn quá trời! Người Tây Phương lấy làm lạ trong lòng!

Trong bàn tiệc, người mình cũng vậy thường dùng đôi đũa đang ăn dính đầy nước miếng, đờm dãi chỏ vào gắp thức ăn trong dỉa. Mười người mười đôi đũa chỏ vào gắp cá, thịt, rau.. cho vào miệng nhai.. rồi tiếp tục dùng đôi đũa đó gắp như vậy suốt bữa tiệc. Cứ tưởng tượng thức ăn nhai nát cùng đờm dãi, vi khuẩn, vi trùng sẽ đi du lịch thoải mái từ miệng người nầy sang miệng người khác.. Và nếu có người bị cảm cúm, hépatite, ho lao hay bệnh truyền nhiểm nào đó, thì nhứt định sẽ lây sang người khác.. Trong tiệc cưới hỏi hay party hội họp bạn bè.. người mình có thói quen dùng đôi đũa đang ăn trong miệng gắp thức ăn bỏ vào chén các vị cao niên, các bà, các cô… để bày tỏ sự kính trọng người lớn tuổi hay sự xã giao lịch lãm của mình. Tuy nhiên, qua sự thố lộ của nhiều người, họ rất khổ tâm trước vấn đề nầy. Có nhiều điều bất tiện. Dùng đôi đũa đang ăn gắp thức ăn phục vụ cho người khác có khi làm họ không hài lòng. Vì món ăn đó không thích hợp với cái răng vừa mới thay, vì muốn tự mình gắp món nào mình thích, hoặc vì cử món đó, hay vì món đó khi được phục vụ chỉ còn đầu và vỏ (Thí dụ như tôm hùm) Và đôi đũa mình đang ăn, đã dính nước miếng, cơm và thức ăn nhai trong miệng, mà gắp thức ăn bỏ vào chén phục vụ người khác. Bỏ thì sợ mích lòng bạn mà ăn thì nuốt không vô.. Một bà bạn tâm sự: Tui ngồi chết trân, hổng biết phải làm sao, bèn lén lén để ra dĩa lấy giấy khăn ăn đậy lại, mắt lấm lét vì sợ bị bắt gặp. Trông cho anh bồi đi tới dọn để phi tang cho lẹ lẹ..

Ta vẫn có thể lịch sự phục vụ người khác bằng cách sử dụng muỗng nĩa do nhà hàng dọn sẳn trong dĩa để lấy thức ăn để vào chén họ. Ta vẫn giữ được thói quen tốt đẹp nầy. Người viết đã có một lần chứng kiến một vị phu nhân dùng đôi đũa bươi bươi dĩa mì xào.. để tìm kiếm cái gì đó. Dường như bà bất mãn nhà hàng xào mì không có tôm. Dĩa mì sau đó còn nguyên, không ai rớ tới.. Dùng đôi đũa để gắp thức ăn, cái muỗng để húp canh, là một thói quen lâu đời. Thay đổi một thói quen không phải là một việc dễ dàng có khi còn lãnh cái cán búa.

Xoá bỏ một thành kiến còn khó hơn phá vỡ một thành trì. Huống chi đôi đũa trong bữa ăn người Việt còn là một tập quán lâu đời, một nét văn hoá trong đời sống ông cha hàng ngàn năm nay. Bỗng nhiên thay đổi cung cách sử dụng, dù biết đúng đi nữa cũng khó mà chấp nhận. Nhưng nếu so sánh chuyện cái búi tóc và bộ âu phục ngày xưa, quả nhiên chuyện đôi đũa có phần dễ dàng hơn. Đạo lý Khổng Mạnh quan niệm: ''Thân thể phát phu thọ chi phụ mẫu – bất cảm hủy thương hiếu chi thị giả'' (Thân thể, tóc da, do cha mẹ sinh ra. Hủy bỏ hay làm thương tổn đến nó là điều bất hiếu). Bất hiếu là tội lớn nhứt. Làm thương tổn đến tóc da là bất hiếu. Làm sao có thể tưởng tượng người Việt Nam thời đó dám hy sinh cái búi tóc. Thế mà các nhà ái quốc Trần Cao Vân, Mai Xuân Thưởng đã dám đứng lên cổ xúy cho phong trào cắt cái búi tóc thế kỷ trước đây, đã gặp một sức phản kháng dữ dội. Thế nhưng dần dà.. dân chúng ý thức được cái tiện lợi, sạch sẽ.. nên cái ''củ tỏi'' lần lần biến mất. Các chiếc áo dài, khăn đống, giày hàm ếch, dây thắt lưng bằng lụa xanh, cũng chỉ còn lại trong các buổi lễ… để tượng trưng cho một dấu vết của nền văn hóa dân tộc.

Dòng văn hóa ngàn đời của ta là gạn lọc và thâu thái. Gíáo dục của ta vừa dân tộc, vừa khai phóng.. Vừa bảo tồn, vừa biến đổi.. Gìn giữ cái hay nhưng đào thải cái dở.. Nhưng chính chúng ta là những người trực tiếp tham dự, đóng góp vào dòng văn hoá đó. Đôi đũa là một di sản dân tộc.. Cho đến ngàn sau ta vẫn còn sử dụng nó, nếu ta còn là người Việt.. Nhưng biến đổi, cải tiến cung cách sử dụng.. cho thích nghi với nếp sống văn minh hiện đại là điều cần thiết, là phù hợp với dòng văn hóa ngàn đời của ông cha ta.. Hiện tại, sau gần bốn năm, kể từ khi phổ biến bài viết nầy, có một số khá đông hưởng ứng. Cứ nhìn cái cung cách sử dụng đôi đũa trong bàn tiệc, trong bữa ăn người ta thấy được điều đó. Nhưng cũng có một số người không hưởng ứng. Nhưng dầu không đồng ý –thậm chí đến mỉa mai, chống đối– nhứt định không thể dữ dội bằng vụ cái búi tóc hai thế kỷ trước. Dần dà bà con thấy là chuyện nên làm thì như sự hiện diện bộ âu phục ngày nay và sự biến mất cái búi tóc ngày trước, đôi đũa sẽ được sử dụng đẹp hơn bao giờ hết.


LÊ QUỐC
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thanks 1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 5/18/2011(UTC)
thunder  
#83 Posted : Thursday, May 19, 2011 8:20:45 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Hoài cảm

Sáng tác : Cung Tiến
Tiếng hát: Lệ Thu

http://www.youtube.com/w...-DWo&feature=related

Chiều buồn len lén tâm-tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa

Quạnh hiu về thấm không gian
âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều chợt nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn

Lòng cuồng điên vì nhớ
ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa

Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối
Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưả

Chờ nhau hoài cố nhân ơi!
Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!

Thời gian tựa cánh chim bay,
qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vuỉ
Nhớ thương biết bao giờ nguôỉ


CatLinh  
#84 Posted : Friday, May 20, 2011 7:15:26 AM(UTC)
CatLinh

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/27/2011(UTC)
Posts: 710
Location: fa la la

Thanks: 972 times
Was thanked: 867 time(s) in 466 post(s)
Lễ hội Việt Nam : Hội Lim



UserPostedImageQuan họ là loại dân ca đặc sắc của vùng Kinh Bắc xưa và nay là tỉnh Bắc Ninh. Lim là tên Nôm của xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 18 km. Hội mở trên đồi Lim, có chùa Lim nơi thờ ông Hiếu Trung Hầu, người sáng lập tục hát quan họ.



UserPostedImageHội Lim mở vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Khách kéo về dự hội Lim rất đông để được xem hát quan họ giữa các "liền anh" "liền chị", hát sau chùa, hát trên đồi, hát đối đáp từng cặp đôi, hát trên thuyền... với đủ các làn điệu quan họ khác nhau. Ngoài ra, trảy hội Lim còn được xem các cuộc thi dệt của các cô gái Nội Duệ, vừa dệt thi vừa hát quan họ. Cũng như các Hội khác, hội Lim cũng có đủ các phần từ lễ rước đến tế lễ cùng nhiều trò vui khác.



Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ.




Gương mặt người quan họ



13 tháng giêng hội Lim sẽ diễn ra. Ngay từ bây giờ khắp các làng, xã ở Bắc Ninh đã rộn ràng tiếng hát của những liền anh, liền chị. Những câu ca thật mộc mạc, trọng nghĩa, trọng tình giống như con người vùng này vậy. VnExpress ghi lại chùm ảnh về cuộc thi hát giao duyên, hát đối đáp được tổ chức vào hai ngày mùng 10 và 11 tháng giêng.



UserPostedImageTại cuộc thi giọng hát trẻ, các thí sinh lo lắng vì phải thuộc ít nhất 130 làn điệu.



UserPostedImageCác trưởng đoàn chăm sóc cho chị em từng tí một.





UserPostedImageCác cô ngồi đợi đến lượt và nhiệt tình cổ vũ cho các làng khác.





UserPostedImage





UserPostedImage





Hội Lim





Vùng đất Kinh Bắc không chỉ là đất võ mà còn là đất văn, nơi đây đã sản sinh cho đời rất nhiều thuần phong mỹ tục. Hệ thống hội hè, đình đám và ca hát là nét đẹp tiêu biểu của đất này nhưng không gì gây dấu ấn sâu đậm bằng Hội Lim vùng quan họ.



Hội Lim được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm, đó là hội hàng tổng gồm các làng Nội Duệ, Nội Duệ Khánh, Nội Duệ Nam, Lũng Giang (tức Cầu Lom và Xuân Ó). Tổng Nội Duệ huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn) trải dài trên đôi bờ sông Tiêu Tương, ôm ấp ngọn núi Hồng Vân (còn gọi là núi Lim), trên có ngôi chùa thờ phật. Hội Lim là nét kết tinh độc đáo của vùng văn hoá Kinh Bắc.



Như các lễ hội khác, hội Lim cũng có đủ các phần từ lễ rước, lễ tế đến các trò chơi như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm... nhưng phần căn bản nhất của Hội Lim là hát. Từ hát mời trầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng... Cả một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian, xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm... như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật.

Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc đáo. Dường như mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc thái văn hoá cao. Hội Lim xưa để lại trong lòng người đi hội một cái gì đẹp lắm. Người vùng Lim, nhất là các cụ già không ai nghĩ về thời thơ trẻ và các ngày hội của mình như nghĩ về một quá khứ buồn, trái lại mọi người đều như nhớ về tuổi xuân, mùa xuân và cội nguồn, gốc gác. Hội Lim bây giờ vẫn bảo tồn cốt cách của hội Lim xưa, nhưng đã xen phần dấu ấn của văn hoá đương đại.

Chỉ cách Hà Nội 18km nên Hội Lim không chỉ mở riêng cho tổng Nội Duệ xưa mà trai thanh gái lịch thủ đô và các vùng lân cận cũng náo nức mong chờ. Người Lim vẫn hát quan họ trên đồi Lim và dưới thuyền, nhưng phải hát bằng micro qua máy phóng thanh. Vậy là người Lim không còn hát giao duyên trong một không gian hạn hẹp mà hát cho cả thiên hạ, cả đất trời và mùa xuân cùng nghe.

Tuy nhiên, những ai sành thưởng thức và lọc lõi dân ca quan họ thường đi lang thang trong các làng vào ngày hội, để nghe các cụ vùng quan họ hát thâu đêm. Lời ca quan họ và tiếng trống hội làng như len lỏi trong tâm khảm làm thức dậy trong mỗi người những gì thiêng liêng và cao quý nhất.

Suu tam
UserPostedImage
thunder  
#85 Posted : Saturday, May 21, 2011 1:29:40 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

MƯA HUẾ, HUẾ MƯA

Huế như dài ra theo cơn mưa
Huế khoác khăn che mỏng bụi mờ
Huế xắn quần cao lên tới gối
Huế bàn chân nhỏ gót tiểu thơ

Mưa rót cô đơn lòng thiếu phụ
Mưa chìm phố cổ đợi ai qua
Mưa trải rộng thêm ngàn tâm sự
Mưa nhả vào tim nỗi nhớ nhà

Mưa Huế hình như chỉ bắt đầu
Mà dài se thắt mãi về sau
Trầm ngâm một bóng ai ngồi dợi
Chỉ thấy mưa rơi đỏ mắt sầu

Huế xa xôi mà Huế thật gần
Mưa qua khuấy động cõi tình nhân
Mưa siết tay cho tình thêm ấm
Mưa tạt vào lòng những bâng khuâng

Hỏi nhỏ khi mô trời mưa tạnh
Huế buồn khẽ nói biết khi mô
Có lẽ mưa tuôn chưa dứt hạt
Mưa hoài nên Huế đọng thành thơ

Trần Kiêu Bạc

Dáng Xuân  
#86 Posted : Saturday, May 21, 2011 6:19:12 PM(UTC)
Dáng Xuân

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 48
Location: thailand

Thanks: 184 times
Was thanked: 5 time(s) in 5 post(s)
SÔNG CỬU LONG, TRƯỜNG GIANG VẠN DẶM

» Tác giả: Hứa Hoành

Sông Cửu Long 9 cửa, 2 dòng,
Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em
(Ca Dao)


UserPostedImage


Nhiều du khách mới đến Việt Nam, đứng trên lầu khách sạn Caravelle hay Majestic, nhìn ra bến Bạch Đằng, thấy tàu bè san sát, tưởng rằng đó là sông Mê Kông. Thực ra, sông Mê Kông không có một chi lưu nào chảy ngang qua thủ đô Sài Gòn cả. Trước bến Bạch Đằng là sông Sài Gòn, một phụ lưu của sông Đồng Nai. Đứng hàng thứ 7 trên thế giới về chiều dài và sức mạnh phi thường, sông Cửu Long là một loại "trường giang vạn dặm" của nước ta. Phát nguyên từ vùng cao nguyên quanh năm giá buốt Hi Mã Lạp Sơn, nguồn sông Cửu Long chảy xiết qua các ghềnh đá, các hẻm vực cheo leo của châu Đại Lý bên Vân Nam Trung Quốc, rồi qua nội địa nước lào, ngoằn ngoèo như con rắn vĩ đại dài khoảng 1200 dặm. Tới đây dòng sông Cửu Long trở thành sông mẹ chung cho bốn nước: Lào, Thái, Cam-pu-chia và Việt Nam, mỗi nơi có khoác một tên bản xứ khác nhau. Tại Lào gọi là sông Nâm Khoong. Đến Thái Lan được gọi là Mae Khong. Từ đó, người Pháp phiên âm lại là Mékong (Mê Kông). Vào lãnh thổ Cam-pu-chia gần thác Khône vĩ đại, sông Mê Kông chảy vào nội địa xứ chùa Tháp, rồi chia làm hai nhánh:

- Sông Tonlé Sap đổ vào Biển Hồ, có công dụng như một hồ chứa nước nhân tạo, để điều hòa mực nước giữa hai mùa mưa nắng.

- Một nhánh ngoặc về phía Đông, chảy vào Nam Việt trước khi ra bể cả. Đây cũng là con đường lưu thông huyết mạch của nước Cam-pu-chia trước khi có hải cảng Kom-pong-som (Sihanouk Ville).

* CỬU LONG, RỒNG VÀNG CHÍN KHÚC CỦA MIỀN NAM

Từ trên cao nhìn xuống, sông Cửu Long long lanh như một dải lụa, quanh co uốn khúc chảy ra bể Đông. Rời lãnh thổ Cam-pu-chia, sông Cửu Long chia ra làm hai nhánh xâm nhập nội địa nước ta:

- Nhánh Tiền Giang:

Là một loại sông ngòi cổ, lòng sông cạn, nhiều cát, khúc khuỷu với các cù lao trù phú, chảy qua các thị trấn Tân Châu, Hồng Ngư, ngã ba Chợ Vàm, Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Bến Tre, rồi đổ vào biển Đông bằng 6 cửa:

* Cửa Tiểu, hay Vàm Láng, làng Thới Thuận, Gò Công.

* Cửa Đại, thuộc quận Bình Đại Bến Tre, với quận lỵ án ngữ bên hữu ngạn.

* Cửa Ba Lai, một thoát lưu nhỏ chảy qua cầu Chẹt Sậy, Bến Tre.

* Cửa Hàm Luông, còn gọi là Giồng Luông, hay Hàm Long, rất rộng. Khi thủy triều lên, đứng bên bờ bên này không nhìn thấy bên kia, vì nó nhận nước từ các chi lưu Chợ Lách, Cái Mơn, Hàm Lòng đổ qua.

* Cửa Cổ Chiên, do sông Cổ Chiên cháy từ tỉnh lỵ Vĩnh Long, qua cù lao Quới Thiện, Rạch Bàng, Trà Vinh... đổ ra bể. Hai bên bờ và trên những cù lao có vô số những cây bần, sách xưa gọi là cây thủy liễu.

* Cửa Cung Hậu.

- Nhánh Hậu Giang:

Người Pháp gọi là sông Bassac, thuộc loại sông trẻ, dòng sông thằng, ít phù sa, nước chảy xiết, đổ ngang qua Châu Đốc, Long Xuyên, Thốt Nốt, Ô Môn, Cần Thơ, rồi chảy ra Đại Ngải, cù lao Dung, rẽ dòng làm hai nhánh thoát ra biển: cửa Đinh An và cửa Bassac. Nơi đây dòng sông sâu rộng, tàu bè ra vào dễ dàng thủ phủ miền Tây (Cần Thơ). Cuối cùng, có một thoát lưu rất nhỏ, bề ngang hơn 100m, chảy qua Cổ Cò, đổ ra cửa Mỹ Thanh (hay Tranh Đề). Theo nhà kinh tế hậu chiến Lilienthal Hoa Kỳ thì sông Mê Kông "đổ ra một lưu lượng gấp 6 lần sông Nile, có thể sản xuất một số điện lực khổng lồ, giá rẻ để làm phát triển kỹ nghệ mới như luyện nhôm, các quặng mỏ, và sau cùng có thể mang ánh sáng đến các nơi xa xôi tận Mã Lai Á và Singapore. Thật ra, sông Cửu Long chỉ có 8 cửa mà thôi, cửa Tranh Đề chỉ là một thoát lưu phụ, không đáng kể. Một ký giả Mỹ viết trong tạp chí National Geographic: "Lúc ở VN, ông đã dùng trực thăng bay qua bay lại cửa sông Cửu Long nhiều lần, để kiểm chứng lại sông này có 9 cửa, nhưng không lần nào ông đếm được 9 cửa như sách địa lý đã nói. Ông chỉ tìm ra được 8 cửa mà thôi" (Không có cửa Tranh Đề). Theo cụ Nguyễn Văn Vực năm nay 62 tuổi, nguyên là Chánh Sự Vụ Sở Thông Tin Đô Thành dưới thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã cho biết rằng: "Chính ông Trịnh Hoài Đức đã đặt tên sông này là sông Cửu Long trong Gia Định Thành Thông Chí, có nghĩa là 9 con rồng. Con số 9 là một tín ngưỡng đặc biệt của dân miền Nam, cũng như con số 7. (Người ta thường nới núi Thất Sơn, nhưng thật ra có hơn 7 ngọn núi). Ý nghĩa số 9 biểu trưng cho số cực đại của hào dương trong dịch lý. So 9 chỉ hào dương lên tột đinh, tượng trưng sự thịnh vượng.

Cũng như sông Danube bên Âu Châu, Cửu Long là một con sông quốc tế, bị chi phối bởi quyền lợi của những quốc gia mà nó chảy qua. Chẳng hạn như ở miền hạ lưu (Nam VN), muốn bắc một cây cầu qua bến phà Mỹ Thuận, hay Cần Thơ, cần có sự đồng ý của Cam-pu-chia, vì nếu cầu này xây thấp quá sẽ làm cản trở tàu bè của họ lưu thông. Đối với bốn quốc gia nằm trong lưu vực sông Cửu Long, thừa hưởng được nguồn tài nguyên vô tận: nước tưới. Lưu vực sông Cửu Long rộng độ 236,000 dặm vuông, một vựa lúa thơm ngon, nước trong, gạo trắng, đã nuôi sống hơn 40 triệu dân của bốn nước Thái, Lào, Cam-pu-chia, Việt Nam. Ngoài tư cách một phúc thần mang lại sự thịnh vượng chung cho bốn xứ, sông Cửu Long có những lúc thịnh nộ giữa những cơn nước lũ tháng 10, cuồn cuộn nước phù sa. Đến mùa nắng, dòng sông hẹp lại, nước chảy hòa hoãn lờ đờ, nhất là khoảng từ Paksé trở lên Mường Luồng (thủ đô Luang Prabang):

"Nhờ nước chảy êm, nên con tàu kéo theo mấy chiếc thuyền chở cả mấy chục chiếc xe hơi mà đi khá nhẹ nhàng. Ngồi trên tàu, nhìn ra hai bên bờ, cây cối xanh tươi bên này là nước Lào, bên kia là Thái Lan, lâu lâu có một vài người làm ruộng gần bờ sông, ở quãng trống không có rừng..."

(Bài Đem Xuống Tuyền Đài của Minh Lãng)

Từ tháng 9 đến tháng 10, khi mùa mưa đến, dòng sông mở rộng ra, có nơi đến 10 km, nước sông dâng lên ngập các khu rừng già ở Miên, Lào, liếm các cột nhà sàn. Điều này cũng giải thích tại sao dân chúng Long Xuyên, Châu Đốc thích ở nhà sàn. Đến tháng 11, khi mùa mưa dứt, sông Cửu Long lại hồi sinh. Ngay trước khi nước rút, dân chúng ở hai bên bờ sông dẫn nước tưới vào ruộng, để nuôi sống cây mạ non mềm mại, và họ cầu mong cho nước ấy đừng bốc hơi trước khi hoa màu chín.

Mùa hè ở Cam-pu-chia nắng chang chang như thiêu đốt, dòng sông trở nên hẹp, để lộ ra nhiều bãi cát. Nước sông Cửu Long uể oải chậm chạp qua những dòng sông uốn khúc lồi lõm. Cùng với phụ lưu của nó, sông Tonlé Sap đã mất đi sức mạnh, không còn cuồn cuộn mang phù sa ra bể như trước nữa. Đến dây, sông Cửu Long đã có thủy triều chảy ra chảy vào. Đối với miền Nam, sông Cửu Long mang đến nhiều lợi ích phi thường. Nó đem phú túc thịnh vượng cho những miền nằm trong lưu vực hai con sông Tiền và Hậu. Sông Cửu Long mang đến phù sa, nước ngọt, tưới ruộng vườn cho cây trái sanh sôi nay nở, cho mạ non xanh tốt, cho lúa sai oằn. Một nguồn lợi khác rất đáng kể đó là cá tôm phong phú, đặc biệt vùng Châu Đốc, Tân Châu, Hồng Ngư... hứng trọn nước Biển Hồ đổ xuống. Dòng sông đã mang lại ấm no, đời sống lạc quan cho thôn xóm ven bờ như Cao Lãnh, Nha Mân, Cái Mơn, Cái Bè:

Gà nào hay cho bằng gà Cao Lãnh.
Gái nào bảnh bàng gái Tân Châu
Anh thương em chẳng nệ sang nghèo...
(Ca dao)

Có sống về nông nghiệp mới biết sự quý báu và cần thiết của nước tưới, mà sông Cửu Long đã mang lại cho dân chúng miền Nam một nguồn lợi thiên nhiên vô tận. Giới nông dân có câu: “Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”. Lúc ở Philippines, tôi có dịp đi chung xe với một bà y tá người Phi tên Laniel, đã từng qua VN, sống ở Mỹ Tho, Tây Ninh... Bà kể rằng: "Đất nước anh may mắn hơn đất nước chúng tôi (dĩ nhiên nếu không có CS) vì ở đây chúng tôi thiếu nước, cho nên trái xoài trái dừa ở Phi ăn không ngon bàng xoài cát và dừa xiêm ở Mỹ Tho. Cũng như trái sầu riêng, trái bon bon, trái chôm chôm, là những trái cây rất quý, rất đặc biệt. Tôi đã từng ở Pénang, Singapore, đã từng thưởng thức những món ấy, nhưng trái cây ở miền Nam (VN) rất độc đáo”.

Điều đó rất đúng. Các loại chôm chôm Java, bòn bon, sầu riêng là những trái cây miền nhiệt đới, gốc từ Nam Dương, Mã Lai, Singapore du nhập vào Việt Nam. Theo nhiều bậc kỳ lão ở Chợ Lách, Cái Mơn, Cái Nhum kể lại rằng các loại trái cây vừa nêu trên do chính nhà bác học Trương Vĩnh Ký, quê ở xã Vĩnh Thành Cái Mơn đem về, nhân các chuyến đi lại giữa Nam Kỳ và Pénang của các cố dạo. Hồi còn nhỏ, tôi được nghe thân phụ kể lại rằng trái sầu riêng trong vườn chúng tôi, gây giống từ loại sầu riêng đặc biệt của Singapore, nên khi chín rụng xuống, thì lắc nó kêu “xục xạc” nên còn gọi là sầu riêng “xục xạc Singapore”.

Sở dĩ trái cây miền Nam ngon ngọt, hương vị độc đáo khó quên là nhờ phù sa nước tưới của sông Cửu Long, mà những nơi khác không có được trừ Thái Lan, chung dòng sông mẹ. Đồng bằng sông Cửu Long là một khu vực đa diện, đặc biệt nổi tiếng với trái cây nhiệt đới, như chôm chôm tróc java, Cái Mơn, cam quýt, sầu riêng Cái Bè, Sa Đéc Nha Mân, Phong Điền, vú sữa Vĩnh Kim (Sầm Giang). Vùng Mỹ Tho, Sa Đéc, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Cần Thơ... là địa đàng của miền Nam, nhờ phù sa màu mỡ của sông Cửu Long bồi đắp hàng năm. Không giong như những sông khác, sông Cửu Long không cần phải đắp đê ở hai bên bờ. Mỗi năm đến mùa nước nổi tháng 10 âm lịch, phù sa tràn vào ruộng. Lúc nước rút đi để lại một lớp bùn non, là phân bón cho ruộng vườn, cây trái, tạo ra một khu vực trù phú độc đáo ở hạ lưu sông Cửu Long. Nơi đây dân chúng sống thong dong, nhàn hạ, nếu có một mẫu vườn, vài công ruộng.

Phong cảnh ở miền đồng bằng sông Cửu Long cũng rất êm đềm thơ mộng, đã làm say mê, quyến rũ các du khách từ nơi xa đến... Ngược dòng Tiền Giang, qua Mỹ Tho, Sa Đéc, Cao Lãnh, Tân Châu, Hồng Ngự... hai bên bờ cây cối ruộng vườn xanh mướt quanh năm. Mùa nào cũng có trái cây chín. Nếu nhàn nhã, mời bạn làm một cuộc du lịch bằng ghe, lênh đênh trên sông nước để quan sát cảnh vật và đời sống của người dân quê. Từ miền cửa Đại, với vườn dừa bát ngát nằm bên những cồn phù sa như Cồn Cống, Cồn Bà, Cồn Ong, Cồn Cô, Cồn Cậu chảy dọc theo dòng sông cho đến Mỹ Tho. Hai bên bờ cây cối sai oằn, nặng trĩu những dừa, những chuối, những cam quýt, bưởi, mận, xoài, Cù Lao Rồng, còn gọi là Cồn Rồng, nằm đối diện với chợ cũ Mỹ Tho, trước kia làm nơi sống riêng cho người cùi, và cũng là nơi Thủ Khoa Huân bị hành quyết cuối thế kỷ 19. Cồn Phụng, nằm án ngữ trước phà Rạch Miễu đi Tân Thạch, thánh địa của Ông Đạo Dừa, với nhiều kiến trúc độc đáo. Lên phía trên, ta qua cù lao Tân Phong nổi tiếng với ốc gạo ngon đặc biệt. Sau đây là đoạn tả cảnh du lịch trên sông Cửu Long của Phạm Quỳnh mấy mươi năm trước:

“Nhưng thật ra đi trên sông Mê Kông mà không ngờ là sông Mê Kông, lắm khi tưởng ở trong cái kênh, cái lạch nào, không mấy lúc có cảm giác ở giữa chốn tràng giang. Vì trong khoảng từ Mỹ Tho lên Châu Đốc, trong sông đầy những cù lao cùng bãi cát, nhiều nơi to rộng lắm, từng làng từng tổng ở vừa, đầy những cây cỏ um tùm, chật mát cả lòng sông, cho nên coi hẹp đi”.

Theo nhánh sông Cổ Chiên từ Vĩnh Long lên, thì mỗi cù lao, mỗi cồn là những vườn cây ăn trái sum suê, dân cư trù phú, tám tiết có cây thạnh mậu. Nào cù lao Quới Thiện (còn gọi là cù lao Dài, hay cù lao Năm Thôn), cồn Phú Đa, cù lao An Thành, cồn Chọi (Sa Đéc) đâu đâu cũng nhà cửa, ruộng vườn san sát, nhà sàn, nhà gạch mái ngói ẩn hiện trong các vườn cây xanh tươi. Cồn thì nhỏ hơn cù lao, là một loại đất bồi mới nổi lên khỏi mặt nước, do phù sa tạo lập nên, do đó trồng trọt rất tốt. Nơi đây người ta làm "bờ bao" để trồng chôm chôm, xoài cát. Danh từ bờ bao mới xuất hiện độ hơn 10 năm nay, do sáng kiến của nhà vườn miền Nam. Vì là đất tân bồi còn thấp ngang mặt nước, hay có nơi thấp hơn mặt nước, khi nước rộng cao tháng 10, nên người ta phải đắp bờ bao xung quanh, chớ không đợi cho phù sa bồi đắp cao lên, phải mất vài chục năm nữa, cho đến cả thế kỷ. Đấy là một sáng kiến độc đáo, mang lại lợi tức sớm cho nhà vườn. Chôm chôm bờ bao ở Tân Phong rất nổi tiếng, bán được giá ở thị trường. Còn xoài cát sầu riêng bờ bao đặc sắc, đã mang lại một nguồn lợi lớn, làm giàu cho chủ vườn sau một thời gian ngắn. Họ trồng xoài tháp, mận chiết, độ ba năm thu huê lợi, trong khi đó xen kẽ các loại cây mắc tiền hơn như cam quýt. Ngày nay, dân "bờ bao" đi ghe gắn máy dầu, ở nhà gạch, có đời sống vật chất phong phú. Nhà nào cũng có TV, Radio Cassette để nghe hát cải lương. Mot nguồn lợi đặc biệt khác là các vườn dừa ở Bến Tre. Việt Nam có những vườn dừa khá lớn như ở Hiệp Mỹ (Phan Rang), Tam Quan, Bồng Sơn, nhưng so với Bến Tre nào có thấm gì.

Ở đây dừa được trồng ngay ngắn trên liếp, dưới là mương nước ăn thông với mương cái, chảy ra sông, rạch. Kinh nghiệm chủ vườn cho biết dừa khô chỉ rụng về đêm khi nhiệt độ xuống thấp do đó giảm mức nguy hiểm cho người làm vườn. Đến kỳ thu hoạch, người ta dùng cù móc, hoặc cho người leo lên giựt từng quày dừa cho rụng xuống mương. Xuống nước, dừa khô nổi, do đó, dễ gom lại một chỗ lột vỏ rồi bán. Cái dừa dùng làm xà bông, mỹ phẩm, dầu ăn và làm bánh, là một nguồn ngoại tệ rất lớn. Ngày nay, cộng sản vào "quản lý" tất cả. Họ đánh thuế từng gốc dừa. Khi bẻ xuống nó thu mua, và đánh thuế một lần nữa. Dân chúng miền Nam nói rằng nhà nước đánh thuế từ gốc tới ngọn. Cây dừa rất quý, tất cả mọi thứ đều có công dụng trong đời sống hằng ngày của dân quê. Cây dừa thuộc "diện quản lý", chủ nhà muốn đốn dừa lão (lâu năm) phải làm đơn xin phép. Chở đi xa quá 3 trái dứa khô bị tịch thu. Ngày nay chủ vườn dừa ở miền Nam chi còn làm chủ lá dứa và tàu dừa để làm củi chụm mà thôi.

Edited by user Saturday, May 21, 2011 6:23:57 PM(UTC)  | Reason: Not specified

phamlang  
#87 Posted : Monday, May 23, 2011 6:22:12 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

CHIỀU CỐ ĐÔ

Ruổi rong bao tháng năm dài
Tôi về thăm lại hình hài cố đô
Hương Giang chảy mãi về mô?
Hay chăng bến Đục xác xơ dáng chiều
Hoàng thành bóng đổ liêu xiêu
Thời gian hóa hết xanh nhiều rêu rong
Nắng mưa Huế chẳng bạc lòng
Nhớ thương nên Huế oằn cong kiếp người
Mặc trầm khuông mõ còn rơi
Xót xa mà vẫn lả lơi tiếng đò...
À ơi! đau một câu hò
Tuổi xuân gom chỉ con đò tái tê.
Đâu rồi cái thuở đam mê
Huế trong tôi đã thuộc về xa xăm
Trách mình sao mãi biệt tăm
Huế ơi có kẻ về thăm lỡ làng.

Lý Thành Tâm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#88 Posted : Tuesday, May 24, 2011 5:47:51 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
UserPostedImage


Hoa Tím


Xuân Diệu


Lâu lắm, em ơi, tháng rưỡi rồi
Sao nhiều xa cách thế em ơi!
Sớm trông mặt đất thương xanh núi
Chiều vọng chân mây nhớ tím trời.


UserPostedImage



Bỗng nhiên trời đất nhớ người yêu !
Mây vắng chim bay, nắng vắng chiều
Nước chảy lơ thơ bờ líu ríu
Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu.


UserPostedImage



Hoa tím tương tư đã nở đầy,
Mời em dạo bước tới vườn đây
Em xem, yêu mến em gieo hạt,
Hoa tím tương tư đã nở đầy.




UserPostedImage


Edited by user Tuesday, May 24, 2011 5:51:39 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hungholland  
#89 Posted : Tuesday, May 24, 2011 8:54:16 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Wow,thấy HaVi post thơ của Xuân Diệu hay quá. Hưng cũng xin góp 1 tay nè. Bài này là 1 trong những bài Hưng rất thích. Nhất là đoạn cuối của câu câu : " Ờ nhỉ, Sao hoa lại phải rơi? ..."Wow,quá tuyệt. Câu hỏi mà cũng không phải để hỏi. Xin mời Ha Vi và các bạn cùng chia sẽ cảm xúc đó với Hưng nhé!

Ý Thu

Xuân Diệu

UserPostedImage

Những chút hồ buồn trong lá rụng
Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa cũng hết dần

Dưới gốc, nào đâu thấy xác ve
Thế mà ve đã tắt theo hè
Chắc rằng gió cũng đau thương chứ
Gió vỡ ngoaì kia ai có nghe?

Hôm nay tôi đã chết theo người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi
Với bóng hình xưa, tăm tiếng cũ
Cách xa chôn hết nhớ thương rồi

Yên vui xây dựng bởi nguôi quên
Muốn bước trong đơì phải dậm trên
Muôn tiếng kêu than thầm lẳng lặng
Nhưng hoa có thể cứ lâu bền

Ờ nhỉ ! Sao hoa lại phải rơi ?
Đã xa, sao lại hứa yêu hoài
Thực là dị quá mà tôi nữa!
Sao nghĩ làm chi chuyện nhạt phai?


UserPostedImage

Edited by user Tuesday, May 24, 2011 1:28:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Hungholland for this useful post.
havi on 5/24/2011(UTC)
Hạ Vi  
#90 Posted : Thursday, May 26, 2011 2:41:04 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

UserPostedImage



HUẾ: MƯA VÀ KỶ NIỆM



Những ngày tháng theo học ở Saigon, tôi rất thích những cơn mưa rào dữ dội của miền Nam. Mưa đỗ xuống như thác, tạo thành những dòng sông trên mọi ngã đường. Rồi cơn nóng hừng hực của thành đô bổng chốc tan biến. Mưa dứt hạt rất nhanh. Mọi sinh hoạt thường ngày lại tái tục trong bầu không khí mát mẻ và cảnh vật như đang bừng sống lại sau những ngày hè oi bức. Cơn mưa miền Nam chợt đến, chợt đi trong thoáng chốc, khác với cơn mưa dầm ở xứ Huế quê tôi, kéo dài từ ngày này qua ngày khác, trong nỗi buồn dai dẳng khôn nguôi.

Tôi đã sống ở Huế trong suốt quảng đời thanh xuân với rất nhiều kỷ niệm. Đẹp nhất là tuần học trò khi đang ngồi trong lớp học, nhìn mưa giăng mắc qua khung cửa sổ . Bên kia đường là trường Đồng Khánh với lá phượng tả tơi trong gió. Cơn mưa lất phất se lạnh của mùa đông khiến những thiên thần áo trắng phải thu mình, co ro trong bước chân của nàng tôn nữ.

Mùa đông xứ Huế buồn da diết, nhất là những sinh viên trọ học như chúng tôi. Có nhiều đêm cảm thấy trống vắng, chúng tôi dăm ba cậu sinh viên trong cư xá Hoàng Trọng Bá đối diện với trường Thiên Hữu Huế trên đường Lý Thường Kiệt và rũ nhau xuống phố mua bắp nướng sẵn ở bên vệ đường Trần Hưng Đạo, rồi cùng bá vai nhau cùng hát vang trên hè phố vắng mặc cho những giọt nước mưa xát vào mặt lạnh buốt. Tuổi trẻ có những giây phút ngông cuồng đáng yêu mà ngày nay khi đã xế bóng, nhìn lại đoạn đời đi qua với ít nhiều nuốc tiếc.

Tôi bỏ Huế ra đi vào mùa thu 1966, rồi lại trở về Huế cũng vào mùa thu năm 1970 để tiếp nối con đường của các bậc đàn anh, đứng trên bục giảng của đại học đường Văn Khoa để truyền thụ kiến thức cho các thế hệ tương lai của đất nước cố đô mà mình đã học hỏi được từ các bậc thầy đáng kính. Tuy rằng giờ đây không còn là chàng sinh viên với lứa tuổi mộng mơ của một thời cắp sách, không còn những chiều lang thang dươí cơn mưa dầm, cùng nhai bắp nướng và đếm bước chân đi trên hè phố vắng. Không còn cái thú nhìn mưa bay giăng giăng khi cùng bách ngang qua cầu Tràng Tiền mầu trắng tinh nguyên. Phía dưới kia là thôn Vỹ dạ với hàng cau mờ ảo trong làn mưa bụi. Nhìn xa hơn chùa Linh Mụ với cột tháp lung linh huyền ảo trong cơn buốt của chiều đông. Xa rồi tuổi thanh xuân với ước vọng tràn đầy!

Tôi trở lại Huế trong lứa tuổi "tam thập nhi lập" với trách nhiệm nặng nề trên đôi vai của kẻ mới bước vào đời. Tôi tự thấy mình nghiêm trọng hơn, đứng đắn hơn, tuy chưa già dặn đủ để cáng đáng trọng trách trên bục giảng đại học.



UserPostedImage



Tôi đã sống với Huế hết mình, yêu thương Huế như người tình muôn thuở, cũng buồn với Huế về những cơn mưa dầm bất tận và những đêm đông lạnh buốt thấu xương. Nhưng tôi vẫn thương Huế qua từng con đường rợp đỏ mùa hoa phượng. Tôi thương Huế với những cơn lũ cuồng nộ đầu nguồn. Tôi thương Huế với những thành quách lâu đài cổ kính của kinh đô một thời vang bóng và thương Huế qua tiếng mưa rơi tí tách ở hàng hiên khi ngồi bên cốc cà phê với điếu thuốc lá trong quán Lạc Sơn, bên bờ sông Hương dạo đó.

Biết bao mùa mưa ở Huế đi qua trong đời tôi, với biết bao kỷ niệm của một thời dĩ vãng….

Tôi lại rời Huế một lần nữa vào tháng tư đen 1975, để vào trại cải tạo. Tôi chỉ trở lại với Huế vào cuối năm 1981, khi được phóng thích từ trại tù ở vùng núi Trường Sơn Đông. Tôi được thả cùng với một số bạn tù vào một buổi sáng mưa rơi lất phất trong giá buốt của mùa đông.

Xe đò chở những người tù đỗ lại ở bến xe An Cựu, tôi long thong khoác ba lô trên vai đi bộ qua cầu Tràng Tiền trong làn mưa bay nhè nhẹ. Cầu Tràng Tiền còn đó, nhưng đâu rồi những dáng nét kiêu sa của thuở nào! Dòng sô ng Hương vẫn phẳng lặng chỉ điểm vài đợt sóng lăn tăn. Thỉnh thoảng, dăm ba đám lục bình trôi dật dờ về phía biển. Huế của tôi mới gần bảy năm xa cách sao mà tang thương quá vậy!

Tôi không tìm lại được một dấu nét thân quen nào của bảy năm về trước. Ngôi trường Đại Học Văn Khoa nằm cạnh cầu Tràng Tiền mà tôi đã có một thời là sinh viên nay bổng nhiên xa lạ qúa chừng! Dưới làn mưa bay giăng giăng, tôi nhìn lại ngôi trường cũ mà thấy như có cái gì cay cay trong lòng mắt. Quả thật "tôi đã bước đikhông thấy phố,thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ". Tâm sự của nhà thơ Trần Dần trong nhóm " Nhân Văn Giai Phẩm" thời đó sao giống nỗi lòng tôi trong giờ khắc này quá thế . Tôi cảm thấy hụt hẫng như đã đánh mất quê hương yêu dấu trong sự vong thân của chính mình. Huế của tôi ngày đó bây giờ loang lỗ rách nát, đau thương, câm nín và chịu đựng!

Tôi lại một lần nữa phải bỏ Huế ra đi vì bị chỉ định cư trú tại một vùng kinh tế mới xa xuôi ở trong Nam: Vùng kinh tế mới Phú Cường gần Dầu Giây Long Khánh.

Từ ngày ra khỏi trại tù, tôi chỉ có võn vẹn bảy ngày nắn ngủi để sống lại với biết bao kỷ niệm của một thời ở Huế rồi chia xa mãi mãi cho đến tận bậy giờ. Dễ chừng hai mươi năm tôi đã lìa xa thành phố với quá nhiều thương nhớ này!



UserPostedImage



Huế với những cơn mưa dầm thường khi kéo dài từ ngày này qua ngày khác, nhưng Huế vẫn tràn đầy nắng ấm vào mùa Xuân và bầu trời Huế vẫn xanh trong vào mùa thu. Huế đẹp rực rỡ trong nắng chiều nhàn nhạt và Huế kiêu sa trong dáng nét của đế đô nhà Nguyễn đã một thời vang bóng….

Nào ai biết được rồi có ngày mình sẽ trở về cố hương để thấy lại núi Ngự Bình (trước tròn sau méo), sông An Cựu ( nước đục mưa trong) và để nghe lại tiếng chuông Thiên Mụ ngân dài trầm lắng trong bóng chiều tỉnh lặng của quê nhà…….



UserPostedImage



LÊ ĐÌNH CAI


UserPostedImage
thunder  
#91 Posted : Saturday, May 28, 2011 3:27:14 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

Một Lần Về Thăm Huế


Thăm Núi Ngự, Sông Hương, Cầu Gia Hội
Viếng Nội Thành, bến Thừa Phủ, Kim Long
Ngẩn ngơ nhìn trong một chuyến về thăm
Thấy Huế đẹp, Huế thơ nên quyến luyến

Qua Đồng Khánh nhìn sân trường xao xuyến
Huế muôn đời ưa cám dỗ thi nhân
Bóng dáng nào hò hẹn khách dừng chân
Hay là tại nón bài thơ ai đội

Trải vạt áo dài thi ca muôn thuở
Xỏa mái tóc huyền thi nhạc giao duyên
Môi ai cười vành nón lá che nghiêng
Nghe vướng vấp bước chân người khách lạ

Hôm nay Huế nằm nghe mưa tầm tã
Mưa suốt ngày mưa Huế lạ lùng chưa

Yên Sơn

Edited by user Saturday, May 28, 2011 3:39:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

phamlang  
#92 Posted : Saturday, May 28, 2011 8:35:26 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

HỌC TRÒ TRONG QUẢNG

Lúc tôi còn ở lứa tuổi học sinh trung hoc, sinh viên đại học, mỗi khi đi xa xứ Quảng, thường bị bạn bè quen thân đọc hai câu thơ để “chọc quê” tôi.

Nào là:

“Học trò trong Quảng ra Kinh
Thấy cô gái Huế, muốn rinh về nhà.”

Nào là:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế, chân đi không rời.

Nào là:

“Học trò trong Quảng ra thi,
Mấy “o” gái Huế bỏ đi không đành.”


Có nhiều lúc cũng những câu thơ lục bát dùng để trêu ghẹo bọn học trò “không nói được tiếng trọ trẹ” này, người ta không những chỉ “áp dụng” cho dân “Quảng Nam hay cãi” mà có lẽ không biết rõ xuất xứ của hai câu thơ trên nên cũng dung luôn cho dân “Quảng Ngãi hay co” nữa!

Có một lần, tôi đọc được bài viết của một “ông văn sĩ xưng Quảng Ngãi o-ri-gin” nhận hai câu thơ trên là “Quảng đây là Quảng Ngãi của tụi tui.”

Vì thế, tôi mới phải ghi những dòng chữ này để mong quý bậc trưởng thượng, quý bạn độc giả cùng thời, xin vui lòng cho biết thưc hư thế nào để giai thoại văn chương này không bị “dở dang không có kết luận” như giai thoại văn chương T.T. KH.

Theo tôi, cũng may hai câu thơ này viết rõ ràng, chứ không thì còn bị vô tình “cầm nhầm” nhiều nữa vì nước Việt-Nam ta có nhiều địa danh “xứ Quảng”:

Quảng Yên (hán tự ghi Quảng An) (Quảng Ninh), Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi (Quảng Nghĩa), Quảng Đức.

Tác giả dùng chữ “RA”, nên tôi mới loại bớt mấy tỉnh “VÔ”, “VÀO (HUẾ)” như Quảng Yên( Quảng Ninh), Quảng Bình, Quảng Trị.

Tác giả hai câu thơ này thuộc lớp Thi sĩ Tiền Chiến (trước 1945), nên lại loại bớt thêm Quảng Tín, Quảng Đức là mấy tỉnh mới thành lập sau 1962.

Vậy còn hai Quảng được xem xét kỹ lại đúng là Quảng nào: Quảng Nam hay là Quảng Ngãi?

Ở Việt-Nam ta có nhiều thi sĩ sáng tác nhiều tập thơ (thi phẩm) có nhiều bài thơ rất hay được in ra (hoặc phổ biến miệng) nhưng đa số độc giả chỉ nhớ tên tác giả , tên tập thơ mà không nhớ được một bài thơ nào, thậm chí chỉ một hai câu thơ của nhà thơ đó.

Trái lại, hai câu thơ trên đây “ Hoc trò trong Quảng rat hi…” được nhiều người nhớ, nhiều người thuộc, nhiều người biết… nhưng có lẽ vì truyền khẩu nên đã bị tam sao thất bản! Đa số không biết tên tác giả, đa số không nhớ ai là tác giả hoặc câu thơ này nằm trong bài thơ nào, trong thi phẩm nào? (hoặc “chế” ra những câu thơ tương tự… mà tôi đã ghi từ đầu bài này.)

Trước đây, tôi đã nhiều lần vào các thư viện lớn tại Việt-Nam kể từ 1950 để mong được đọc toàn tập Thi Phẩm có hai câu thơ này. Nhưng không được toại nguyện, vì các thư viện không có thi phẩm này (trong danh sách thư tịch tham khảo).

May mắn thay, chỉ thấy Hoài Thanh và Hoài Chân, tác giả Thi Nhân Việt Nam” xuất bản năm 1942 giới thiệu 2 câu thơ trên trích trong tập thơ Lời Tim Non của nhà thơ Xuân Tâm xuất bản năm 1941.

Thi sĩ XUÂN TÂM có tên thật là PHAN HẠP.

Ông sinh năm 1916 tại làng Bảo An, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Ông ra Huế học bậc trung học tại trường Quốc Học. Sau khi tốt nghiệp bằng Thành Chung (Diplome) tức trung học đệ nhất cấp, ông đi làm công chức ở Đà Nẵng.

Thời gian 1946-1947, chiến tranh Việt-Pháp, ông bị kẹt ở Liên Khu 5 (Nam Ngãi Bình Phú của Việt Minh) và sau Hiệp Đinh Genève 1954 ông tập kết ra Bắc.

Ngoài hai câu thơ lục bát nổi tiếng trích dẫn trên mà nhiều lúc ta tưởng như đọc hai câu ca dao, Xuân Tâm còn có một bài thơ mà thập niên 50-60 có ghi trong chương trình giáo khoa, các học sinh chúng tôi phải học thuộc lòng và thường chép lại trong các tập “Lưu Bút Ngày Hè” mỗi khi mùa phượng vỹ nở hoa chấm dứt năm học :

NGHỈ HÈ

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Doàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!

Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.
Chờ đêm nay; sang sớm bước lên tàu,
Ăn chẳng được lòng nôn nao khó ngủ.

Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ,
Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.

Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót;
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi,
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.

(Lời Tim Non)


Khi tôi ở Hội-An (*) tôi có quen biết với bà Phan Hạp (cô giáo dạy trường Nữ Tiểu học Hội An) có lần tôi hỏi bà về Thi phẩm Lời Tim Non cũng như trọn vẹn bài thơ có 2 câu thơ “để đời” trên của thi sĩ Xuân Tâm Phan Hạp, chồng của bà. Nhưng vì lý do chính trị không muốn tiết lộ có thân nhân đi tập kết, đang ở miền Bắc, nên bà Phan Hạp trả lời “không còn giữ tập thơ đã in và không nhớ bài thơ đã hỏi.”

Sau 1975, tôi nghĩ rằng tác giả Xuân Tâm có thể đã trở về lại quê hương Quảng Nam, nhưng liệu có ai giúp tôi hỏi tác giả câu hỏi thắc mắc về giai thoai văn học của tôi? Khi đó tôi đã buông vũ khí đang đi tù cải tạo nhiều năm trên núi rừng và sau đó cùng gia đình đi định cư tại Hoa kỳ.

Riêng tôi, vẫn thắc mắc không biết cô Tôn Nữ nào… hoặc “o” Nguyễn khoa Diệu… nào thời xa xưa (đẹp như giai nhân Mỹ-Thắng..thời tôi ở Huế) đã làm cho cậu học trò đa tình xứ Quảng say mê mà trở thành thi sĩ?

Người đẹp chưa biết rõ này… phải chăng là “la Muse”, hay chính là nàng Chimène, hoặc nàng Elvire, hay “Nàng Thơ” của Xuân Tâm vậy.

Theo tôi, Nàng nào cũng được. Chúng ta phải cám ơn Nàng. Vì có Nàng thì ngày nay chúng ta còn có hai câu thơ trữ Tình “để đời” của thi sĩ học trò xứ Quảng Xuân Tâm Phan Hạp:

“Học trò trong Quảng rat hi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành.”

Tôi có một ước mong từ nay trở về sau khi chúng ta muốn “xử dụng” hai câu thơ trên, chúng ta nên dẫn chứng “ y sao chính bản” để khỏi làm buồn lòng tác giả.

©TRƯƠNG DUY-CƯỜNG
(QH 54-57)


*(Ghi chú: Lúc tôi hỏi câu hỏi này, cô giáo Phan Hạp ở Hội An tại 13 rue de Hoian, còn tôi ở nhà số 9 rue de Hoian, ville de Faifoo, người hàng xóm)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thunder  
#93 Posted : Saturday, May 28, 2011 10:31:55 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Trời Làm Mưa Ướt Áo O Rồi !

Nì O tê răng mờ đứng đó
Lớp anh tan buổi học trưa về
Sáng vàng thu trời mưa nho nhỏ
Chờ ai răng O nớ, mưa tề!

Đôi mắt nhỏ ngẩn ngơ đến tội
Sợ chi mô lũ bạn anh hiền
Răng O để gío bay tóc rối
Bạn bè mô (mờ) đứng một mình riêng

Cặp của O màu xanh lá mạ
Vở của anh bọc giấy hồng điều
Răng nhìn anh đỏ hồng đôi má
Tên chi nì... nói để anh kêu

Tường trường anh có hàng rêu tím
Đẹp chi mô mờ cứ nhìn hoài
Tà áo O làm chi nên tội
Răng cứ vò nhăn giữa bàn ta

Bạn bè anh về rồi, O nớ!
Còn ai mô mà phải ngại ngùng
Trời mưa lớn ôm giùm sách vở
Anh căng dù hai đứa che chung

O cảm ơn anh làm chi rứa
Răng không về hai đứa có đôi
Mà đi giữa mùa thu tiếc nuối
Trời làm mưa ướt áo O rồi!

Mường Mán

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
havi on 5/31/2011(UTC)
havi  
#94 Posted : Tuesday, May 31, 2011 6:13:46 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)

UserPostedImage



Đồng Khánh ngày xưa

(Lưu Trần Nguyễn)



Răng mà cứ theo tui hoài rứa
Cái ông ni mới dị chưa tề
Sớm trưa chiều ba bữa đi về
Đưa với đón làm chi không biết



UserPostedImage



Ôi đôi mắt chi mà tha thiết
Đừng có nhìn làm loạn bước tui đi
Lá thư tình ông gửi làm chi
Cha mạ biết rầy la tui chết

Ông tán tỉnh làm chi không biết
Tui như ma như quỷ dưới âm ty
Nói hoài lời hoa mỹ làm chi
Tui còn nhỏ chuyện tình răng biết được



UserPostedImage



Tội tui lắm cách cho vài bước
Đừng đi gần hai bước song đôi
Xa xa cho kẻo bạn tui cười
Mai vô lớp cả trường dị nghị



UserPostedImage



Theo chi rứa răng mà không biết dị
Thôi được rồi đưa lá thư đây
Mai tan trường đợi ở gốc cây
Tui sẽ tới trả lời cho biết.





UserPostedImage
Hạ Vi  
#95 Posted : Wednesday, June 1, 2011 4:31:30 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
GIAI THOẠI TRONG LÀNG THƠ: "ÐỒNG KHÁNH NĂM XƯA"



UserPostedImage




Những năm gần đây, báo chí thường đăng tải một bài thơ rất hay, rất dễ thương mà không biết tác giả. Chung quanh bài thơ này là nhiều giai thoại được nhiều người đọc bàn tán. Bài thơ "Ðồng Khánh Năm Xưa"…


Đồng Khánh ngày xưa

Răng mà cứ theo tôi hoài rứa
Cái ông ni mới dị chưa tề
Sớm trưa chiều ba bữa đi về
Đưa với đón làm chi không biết

Ôi đôi mắt chi mà tha thiết
Đừng có nhìn làm loạn bước tui đi
Lá thư tình ông gửi làm chi
Cha mạ biết rầy la tui chết

Ông tán tỉnh làm chi không biết
Tui như ma như quỷ dưới âm ty
Nói hoài lời hoa mỹ làm chi
Tui còn nhỏ chuyện tình răng biết được

Tội tui lắm cách cho vài bước
Đừng đi gần hai bước song đôi
Xa xa cho kẻo bạn tui cười
Mai vô lớp cả trường dị nghị

Theo chi rứa răng mà không biết dị
Thôi được rồi đưa lá thư đây
Mai tan trường đợi ở gốc cây
Tui sẽ tới trả lời cho biết.



Lần đầu tiên đọc bài thơ này trong một tuần báo địa phương cách đây gần hai năm, gợi tôi nhớ đến những năm Ðồng Khánh hoa mộng, nên khi nhìn tên tác giả "Vô Danh" tôi không khỏi băn khoăn. Bài thơ mới đọc lần đầu sao quá quen thuộc gần gũi với mình làm tôi nhớ như ai đó đã đọc cho tôi nghe vài câu trong bài thơ này mấy mươi năm về trước... Thế rồi thời gian qua dần, bài thơ hầu như chìm vào ký ức.


Cuối năm 1995 tôi lại được đọc một bài thơ hay khác. Bài thơ "Kỳ Nữ Hành" của tác giả Lưu Trần Nguyễn:


Chiều mưa trơn lối em về
Trăm con bóng nước chảy se sắt buồn
Nón nghiêng che hạt mưa tuôn
Dài chân em bước gót hồng xiêu xiêu
Em đi dưới giọt mưa chiều
Tóc bay tám ngả quạnh hiu dáng người
Nón nghiêng che hạt mưa rơi
Hay che mắt lệ khóc đời phấn son...




UserPostedImage




Bài thơ lục bát giản dị mà vẫn làm lòng người xao động. Thơ Lưu Trần Nguyễn như một khắc khoải vọng về quá khứ vàng son đã tan tành như bóng nước. Từ đó tôi thường tìm đọc những bài thơ của LTN và tự mình tưởng tượng đến đời sống tình cảm của anh qua những bài thơ mà tôi thích. Khi đọc bài thơ "Thương":


áo em bay chiều phố thị
anh về thương mãi dáng Thu xưa
em đi từng bước hồn anh úa
chiếc lá nào rơi rụng cuối mùa

quán vắng như lòng anh vắng lạnh
đời không vui, rượu uống không say
vì thương áo tím nên hồn nhớ
điếu thuốc vàng tay tỏa khói bay

áo em tím vui chiều phố thị
anh về mơ tà áo ai bay
em cô chủ quán anh là khách
một chén ân tình trọn kiếp say



Một thời gian về sau khi được quen biết thân thiết với anh và gia đình, trong tôi vẫn mãi thắc mắc về cái bút hiệu của anh. Bút hiệu mang ba cái họ: Lưu, Trần và Nguyễn nhất định phải có một lịch sử gắn liền vào đó. Một may mắn tình cờ người bạn thân của gia đình tôi cho xem tập thơ được xuất bản tại Việt Nam, tập thơ mang tên: "Những Bài Thơ Tình Xứ Huế". Tập thơ là một tuyển chọn của các nhà thơ từ tiền chiến đến hiện đại, và tất cả những tác phẩm đều mang một sắc thái rất Huế. Một điều ngạc nhiên là trong đó có bài thơ "Ðồng Khánh Năm Xưa" với tên tác giả là Lưu Trần Nguyễn. Thật là một kỳ thoại trong làng thơ hải ngoại.



UserPostedImage




Rồi một đêm cách đây vài tháng, Lưu Trần Nguyễn đến thăm gia đình chúng tôi, anh đã cho chúng tôi biết chính anh và người bạn gái đã cùng làm bài thơ này cách đây hơn 30 năm khi anh còn sống tại Huế. Người bạn gái năm xưa của anh là Lưu Thị Mỹ Dung, và anh tâm sự đó cũng là bút hiệu Lưu Trần Nguyễn của anh - Lưu thị Mỹ Dung, Trần Thị Huê (một cô bạn thân của hai người) và Nguyễn Gia Khánh (tên thật của Lưu Trần Nguyễn). Tên Lưu Thị Mỹ Dung được anh nhắc đến làm tôi choáng váng và một trời dĩ vãng đầy hoa mộng của những năm Ðồng Khánh đã hiện về trong tôi.... Năm 1963 tôi đang học IIIC2 Ðồng Khánh. Một sáng đang giờ học thì bà giám thị dẫn đến lớp tôi một học sinh mới vào học. Tôi chú ý đến cô bạn mới vì mái tóc dài quá lưng, chiếc kính cận và nhất là vành khăn tang trên đầu. Ðó là Lưu Mỹ Dung ngày tôi mới gặp. Về sau dần dần Mỹ Dung là một trong những bạn thân của tôi. Chúng tôi gồm 4 đứa luôn luôn quây quần bên nhau trong giờ ra chơi, trước giờ học ở khắp mọi nơi trong sân trường Ðồng Khánh, đó là Ngọc Anh, Quốc Khánh, Mỹ Dung và tôi Thanh Tâm. Nếu ở Ngọc Anh có cái dáng dấp cương nghị của một người thích điều khiển, Quốc Khánh có cái hiền lànhh dễ dãi thì Mỹ Dung có cái thông minh, tài hoa và nghệ sĩ. Tôi còn nhớ giọng đọc tiếng Pháp như đầm của Mỹ Dung, sinh ngữ chính của Dung là Pháp văn, nhưng khi phải vào lớp tôi Anh văn là sinh ngữ chính Dung vẫn cố gắng theo và bọn tôi giúp Dung trong thời gian mới vào học, và ngược lại Dung giúp bọn tôi môn Pháp văn.

Về sau này khi đi học Dung chỉ cài miếng vải đen trước ngực thay cho vành khăn tang. Nhưng tôi vẫn còn in đậm hình ảnh đầu tiên khi Dung đến lớp và có linh tính rằng cuộc đời Dung sẽ không nhiều may mắn. Trong niên học 63-64 năm học mà tôi nhớ nhất trong đời vì có Mỹ Dung là người mà tôi chịu rất nhiều ảnh hưởng, ngay cả chữ viết tôi cũng bắt chước theo Dung, cách trình bày sách vở. Mỹ Dung chỉ cho tôi những bài hát tiếng Pháp thịnh hành lúc bấy giờ như bài "Tous les garcons et les filles, Le temps de l'amour, Qui sait..." và một câu tỏ tình bằng tiếng Ðức mà tôi nhớ mãi: "Ich libe dick." Mỹ Dung luôn mang kính cận trông rất thông minh, sau tấm kính là đôi mắt trong sáng duyên dáng và pha một chút láu lỉnh dễ thương của tuổi 16.


Hồi đó hình như có nhiều chàng theo Mỹ Dung vì cái thông minh tài hoa của Dung cũng như đôi mắt đẹp và mái tóc dài. Trong số người ái mộ Dung có chàng trai Bắc Kỳ ở cách nhà Dung một con đường mà Mỹ Dung thường sang cùng học bài và nói chuyện vu vơ. Chỉ có vậy, tuy mẹ Dung có phần dễ dãi với con cái, nhưng chàng trai Bắc Kỳ kia nhút nhát không bao giờ dám đi quá giới hạn của hai người bạn thân ngay cả cầm tay Dung để biểu lộ niềm thương yêu nung nấu của chàng. Có lần Dung nói với chàng: "Anh nói tiếng Bắc nghe hay quá, bé thích nghe anh nói lắm."

Có lần vào lớp Mỹ Dung nói với tôi:

- Tâm ơi mi nghe thử mấy câu thơ này có hay không?

Lâu quá nên tôi cũng quên đi những gì Dung đã đọc, chỉ còn nhớ lõm bõm: "Răng mà dị chưa tề... răng mà theo tui hoài rứa ..." mà thôi.

Có ngờ đâu hơn 30 năm sau, bài thơ mà Dung đọc cho tôi nghe là một trong những bài thơ hay đã đi vào làng thơ của dân Quốc Học, Ðồng Khánh, bài "Ðồng Khánh Năm Xưa". Còn ngạc nhiên hơn nữa là chàng trai Bắc Kỳ ngày xưa chính là nhà thơ Lưu Trần Nguyễn, người đã cùng Mỹ Dung làm chung bài thơ trên. Bốn câu đầu bài thơ là của Dung và phần còn lại Dung đã nhờ chàng trai Bắc Kỳ hoàn tất để diễn tả "cái gọi là" mối tình ngu ngơ của cô nữ sinh Ðồng Khánh mà hầu như mỗi năm đến ngày kỷ niệm Q.H.Đ.K. người ta vẫn đem bài thơ này ra ngâm đọc. Gần đây nhạc sĩ Hoàng Gia Thành ở Sacramento đã phổ nhạc bài thơ này.

Bẵng đi 17 năm sau. năm 1983, mẹ con tôi về Huế tá túc nhà ông ngoại của cháu. Tôi gặp lại Dung, lần đó chồng Dung sang tìm tôi và nhắn tôi qua thăm Dung vì Dung bận với quán cà phê không đi đâu được. Chồng Dung vẫn còn trẻ và vẻ đào hoa vẫn chưa mất dù đã xấp xỉ 40.

Chiều hôm đó tôi đi xích lô sang thăm Dung, không phải ở Phạm Ngũ Lão, mà tại nhà chồng Dung tại đường Nguyễn Công Trứ. Mỹ Dung hiện ra trước mắt tôi là một thiếu phụ an phận, tóc vẫn dài bím ở sau lưng, Mỹ Dung vẫn giản dị trong chiếc quần jean và áo pull đen. Chúng tôi ôm nhau mừng tràn nước mắt. Hình ảnh Dung cứ ám ảnh tôi. Ðôi mắt buồn an phận, mái tóc thắt bím sau lưng, còn đâu Mỹ Dung thông minh tài hoa của tôi, nhưng trong tôi đôi mắt sáng lấp lánh của Dung vẫn còn mãi. Ðó là lần cuối cùng tôi gặp Dung. Mỗi lần nghe bài hát "Tous les garcons et les filles" là đôi mắt sáng thông minh ẩn hiện như những tia chớp thắp sáng một thời dĩ vãng mộng mơ của thời tóc xõa và những ngày nắng mưa ở Huế những luc' tôi hát bài "Ðồng Khánh Năm Xưa" mà lòng như nghẹn lại. Dung ơi, răng suốt đời mi cứ khổ hoài rứa. Dung là người tài hoa cho nên khổ như định luật của tạo hóa, tuy nhiên tâm hồn luôn luôn phong phú và vững vàng qua mọi hoàn cảnh không gian và thời gian.



UserPostedImage




Ðã tưởng dĩ vãng một thời áo trắng ngủ yên trong ký ức nhưng âm hưởng của "Ðồng Khánh Năm Xưa" vẫn mãi vọng về từ quá khứ xa xôi với những rung động đầu đời, những chiều đạp xe qua cầu Trường Tiền gió tung bay tà áo trắng tóc thề về một nẻo xa, xa lắm mà bây giờ chỉ còn lại trong ký ức những kỷ niệm êm đềm của một thuở không thể nào quên.

Sau này khi quen biết Lưu Trần Nguyễn, tôi được anh cho xem những mẫu báo cũ đã ố vàng cùng thời gian, đã đăng những bài thơ anh làm cho Lưu Mỹ Dung khi anh rời Huế vào Saigon của những năm 1963-1964.

Giai thoại trong làng văn thường có rất nhiều, nhưng khác với giai thoại về T.T.K.H. hiện nay vẫn còn nhiều điểm chưa được sáng tỏ, chúng tôi với bài viết trên đây kèm thêm những phụ bản. Chúng ta có thể hy vọng đã tìm ra được tác giả bài thơ nổi tiếng này. Bài "Ðồng Khánh Năm Xưa" mà giới học sinh hai trường QH và ĐK từ thập niên 60 trở về sau không mấy ai mà không biết. Có rất nhiều nhạc sĩ sáng tác hằng trăm, hàng ngàn bản nhạc nhưng có khi họ quên bẵng đi một bản nhạc nào đó với thời gian nếu không có ai gợi nhớ. Thi sĩ cũng vậy nếu không được ghi chép lại họ không thể nào nhớ được những bài thơ đã làm trong nháp, nhất là giúp cho người khác trong một thời quá nhanh, để rồi bỏ quên đi hằng vài ba chục năm. Vì thế có những bài thơ rất hay mà số phận hẩm hiu vì không ai biết được tác giả là ai, tuy nhiên vẫn được truyền tụng và lưu hành trong dân gian hoặc ghi lại trong văn học sử.

Hơn 30 năm sau Lưu Trần Nguyễn mới được nhìn lại bài thơ của anh, có lẽ do "cố nhân" hay những người thân quen in lại trong tập thơ "Những Bài Thơ Tình Xứ Huế" được xuất bản tại Việt Nam gần đây. Sau hơn 30 năm báu vật mới hoàn cố chủ, ký ức của LTN đã bừng sống dậy anh hân hoan nhìn lại đứa con xưa.

Nhân dịp đầu xuân Ðinh Sửu đọc lại bài thơ xưa với những dữ kiện khách quan mà tôi có hân hạnh được biết cả hai nhân vật trong câu chuyện, xin viết lại để quý vị độc giả biết được xuất xứ một bài thơ hay và dễ thương. Nếu có gì sai sót và cần bổ túc xin trân trọng lắng nghe ý kiến của quí vị.



Cao Thanh Tâm
Cuối đông 96

Edited by user Wednesday, June 1, 2011 6:10:32 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#96 Posted : Friday, June 3, 2011 4:08:59 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)
UserPostedImage




UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage




UserPostedImage




UserPostedImage




UserPostedImage




UserPostedImage
havi  
#97 Posted : Friday, June 3, 2011 2:57:24 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
UserPostedImage



O áo tím


Chưa một lần thấy áo o màu tím,
Nên không dám yêu màu ấy đau buồn,
Nếu lỡ về ngang lối nhỏ mưa tuôn,
Và lỡ gặp chắc lòng riêng xao xuyến.


Giữa Sài Gòn, áo tím chừng lạc lỏng
Nhưng tóc thề làm ai đó ngất ngây
Nón bâng khuâng, quai nón xoắn bàn tay
Ngón thon nhỏ, mơ một lần đeo nhẫn.


Mãi ngắm o, nên tâm hồn lẩn thẩn,
Lạc đường theo tà áo tím ai bay,
Dừng lại o ơi! tui hỏi câu này,
Để nghe tiếng dạ thưa, ngọt lịm.




UserPostedImage



Nguyên Thảo





UserPostedImage
Hungholland  
#98 Posted : Sunday, June 5, 2011 7:22:27 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Là người con được sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Nam Bộ,Miền Tây - Cần Thơ thân yêu. Khi sống xa quê hương không khỏi phải buồn và nhớ quê khi nghe lại những câu hò hay câu hát MỘC MẠC của Nam Bộ. Hôm nay Hungholland xin chia sẽ cùng các bạn bài :

CHO THIẾP THEO CÙNG


Đã bao thập kỷ sống trên mảnh đất này lăn lộn khắp hai mươi tám ngàn kilômét đường sông đi qua nhiều tỉnh xuôi theo con nước miệt vườn Nam Bộ, tôi bỗng nhớ đến những cư dân đầu tiên xuôi theo dòng nước đến lập cư ở mảnh đất này:

"Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về."

Như một dòng sông chở nặng phù sa, góp vào dòng chảy dân tộc một dòng nước nặng tình đất thắm tình người, ca dao Nam Bộ hòa điệu với các miền văn hóa khác cùng đổ về cội nguồn dân tộc, nhưng đồng thời cũng giữ được những nét rất riêng biệt của mình. Đó là những hạt phù sa ngọt lòng châu thổ: những câu ca ngọt ngào hồn nhiên như đất, những lời hát thật thà hiền hậu như cỏ cây...

Đã bao thập kỷ sống trên mảnh đất này lăn lộn khắp hai mươi tám ngàn kilômét đường sông đi qua nhiều tỉnh xuôi theo con nước miệt vườn Nam Bộ, tôi bỗng nhớ đến những cư dân đầu tiên xuôi theo dòng nước đến lập cư ở mảnh đất này:

"Bớ chiếc ghe sau
Chèo mau tôi đợi
Kẻo giông khói đèn
Bờ bụi khó qua."


Từ rừng núi u tịch, hoang sơ “dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um”, tiền nhân đã mở điền, lập đất. Nước ngọt, cây lành, kết trái, đơm hoa. Đó là một chuyển biến mầu nhiệm – kết quả của một hành trình chinh phục gian nan:

"An Bình đất mẹ cù lao
Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long
Khách về nhớ mãi trong lòng
Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang."


Trên mảnh đất đồng lúa mênh mông, kênh rạch bạt ngàn cây oằn trái ngọt hôm nay là mồ hôi, nước mắt của cha ông đã đổ xuống thấm vào đất, vào sông, vào cây cỏ, hóa hồn thiêng, hóa thành những khúc tráng ca của lớp người xưa khai sơn hóa thạch để lại cho đời sau một cuộc sống phồn vinh trên sông nước:

"Ghe ai đỏ mũi xanh lườn,
Ghe Gia Định xuống vườn thăm em..."


Cái miệt vườn đó đã làm nên một nền văn hóa độc đáo đầy ắp tình người. Và ai đã từng sinh ra, lớn lên ở xứ sở này thật khó cầm nước mắt khi nghe lời ru của một người mẹ:

"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời."


Như một tất yếu của lịch sử, ca dao Nam Bộ ghi lại đời sống lập cư của người mở đất, là bộ bách khoa toàn thư về địa lý, lịch sử, văn hóa của vùng đất mới: Không gì chính xác hơn, trung thực hơn một nền văn học do chính người lao động làm ra.

"Ghe lui còn để dấu dầm
Người thương đâu mất chỗ nằm còn đây."


Đọc bất kỳ câu ca dao nào ta cũng nghe trong đó cái thần, cái khí của người khai sơn, phá thạch, cái lạc quan hào phóng của dải đất phù sa mà khó có vùng văn học nào có được:

"Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai ngờ giếng cạn nó hụt sợi dây
Qua tới đây mà không lấy được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy... chèo vô."

Hằng năm, hơn 150 triệu tấn phù sa xuôi theo 450 tỉ mét khối nước đổ về tràn ngập các cánh đồng. Và phải chăng đất và người đã có cùng một tâm tính:

"Ngó lên trên trời thấy con chim hóa phượng
Ngó xuống dưới biển thấy con cá hóa long
Anh đi lục tỉnh giáp vòng
Tới đây trời khiến động lòng thương em."


Nếu ca dao miền Bắc uốn lượn:

"Người về, em dặn câu này
Sông sâu chớ lội đò đầy chớ đi
Người ơi! Em dặn thêm rằng
Đâu hơn người lấy, đâu bằng đợi em."


Và miền Trung thiết tha, chan chứa:

"Ngó lên Hòn Kẻm, Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi!"

Thì ca dao Nam Bộ mộc mạc, giản dị và bình yên trên sông nước:

"Gió đâu gió mát sau lưng,
Dạ đâu dạ nhớ người dưng thế này."

Bạn hãy thử một lần xuôi thuyền lênh đênh trên sóng, nghe tiếng rao hàng trên những chiếc xuồng tam bản với nhịp chèo khuya, hẳn những kỷ niệm lắng sâu trong bạn sẽ hiện về:

"Người về Giồng Dứa qua truông
Gió lay bông sậy để buồn cho ai."

Mùa nước lên, bông điên điển nở vàng, đám lục bình lang thang vô định, con thuyền neo bến chở đầy trăng. Bạn sẽ nghe trong đó tiếng hát câu hò của người miệt vườn Nam Bộ, sự an bình của tâm hồn hiền như lúa, mênh mang như con nước và xin bạn hãy nhận nơi đây tấm lòng của người con gái quê tôi:

"Muối chua, chanh mặn, ớt ngọt, đường cay
Lát gừng thì đắng từ ngày xa anh!"


- Lê Mây Hồng -

phamlang  
#99 Posted : Monday, June 6, 2011 11:24:28 AM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,535

Thanks: 1727 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
UserPostedImage

Thơ: Đỗ Trung Quân

Quê Hương - Bài Học Đầu Cho Em


Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè.

Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa đêm mưa
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ...
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#100 Posted : Tuesday, June 7, 2011 3:53:36 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,544
Location: CỏThơm

Thanks: 4253 times
Was thanked: 10696 time(s) in 2628 post(s)

Đôi Guốc Dân Gian



UserPostedImage




Song song hai chiếc thuyền tình
Đầu rồng đuôi phượng đóng đinh hai hàng
Một chiếc em chở năm chàng
Hai chiếc em chở mười chàng ra đi
Trách người quân tử lỗi nghì*
Ăn trên ngồi trốc chẳng nghĩ gì đến em!


(Đố là cái gì?)
*(Lỗi nghì tức là quên điều nghĩa)



Câu đố theo thể lục bát ý nhị trên là đố về đôi guốc nhỏ bé, một vật dụng gắn bó mật thiết trong đời sống của người Việt. Trong văn học dân gian, có truyền thuyết Chín chúa tranh ngôi nhắc đến sự tích đôi guốc đã được truyền tụng nhiều đời trên vùng đất Cao Bằng. Thuở ấy, Cao Bằng thuộc bộ Vũ Định, nước Văn Lang. Bộ này rộng bao la, chia làm chín vùng, mỗi vùng có một Po (chúa) cai quản. Mỗi Po lại có một biệt tài và không Po nào chịu phục Po nào, vậy nên các Po họp nhau lại để thi tài. Có Po khoe tài cấy lúa, có Po khoe tài ghép thuyền, Po này khoe có tài trong một ngày đêm mài một chiếc lưỡi cày thành chiếc kim khâu, Po khác lại khoe tài bắn cung, lại có Po khoe đẽo đá thành đôi guốc khổng lồ. Cuộc đua tài diễn ra trong một ngày đêm mà chẳng Po nào làm xong được việc của mình. Po khoe có tài đẽo đá tuy đã đẽo xong đôi guốc đá rất to, nhưng chưa kịp làm quai, đành bỏ. Ngày nay đối guốc đá đó vẫn còn nguyên vẹn ở làng Bản Thảnh, (xã Bế Triều, Hòa An, Cao Bằng).

Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, quen trồng lúa nước, giỏi dùng thuyền, người Việt thường để chân trần. Vào cuối thế kỷ X, vua Lê Đại Hành còn có lúc cởi trần, đóng khố, đi chân đất, đến đời nhà Trần người dân đều đi chân không, da chân rất dày khiến trèo núi nhanh nhẹn và không sợ chông gai. Người quý tộc đi giày bằng da, khi đến cung điện thì lại tháo giày. Nói chung, người Việt xưa ít khi dùng guốc.


Thế nhưng, theo sử sách đối guốc đã xuất hiện ở Việt Nam khá sớm. Các sách cổ của Trung Quốc như Nam Việt chí, Giao Châu ký có ghi rằng Bà Triệu (ở thế kỷ III) đi guốc bằng ngà voi: "Triệu ẩu vú dài ba thước, không lấy chồng, khi đi núi chân thường mang một loại guốc gọi là kim đề kịch" (Sách Giao Châu ký).

Ngày trước ở nông thôn, vào những ngày giá rét, phụ nữ và đàn ông khi đi dự hội hè đình đám thường đi guốc gộc tre. Guốc đi trong nhà được người đàn ông đẽo bằng gỗ, có mũi uốn cong cong bảo vệ ngón chân, quai dọc thì tết bằng mây chứ không phải bằng quai da đóng ngang như guốc kiểu thời cận đại. Trước kia ở Phú Yên (Nam Trung Bộ), đôi guốc bình dân là guốc do người dân quê tự đẽo lấy. Loại guốc này cao hơn đôi guốc sản xuất để bán, mũi hơi cong lên, trước mũi có dùi một lỗ thủng từ bên trên xuống, phía sau dùi một lỗ ngang. Quai guốc là một sợi dây, có thể dùng vải se lại, mềm, êm, cho khỏi đau chân. Guốc xỏ quai lỗ ngang, đưa tới trước, xuống lỗ phía trước, gút lại bên dưới, giống như quai dép Nhật hiện nay. Chỗ cong lên tránh cho quai không bị giáp đất để khỏi mau mòn, chóng đứt. Bên cạnh guốc tự đẽo, ở tỉnh này cũng đã có bán guốc gỗ dành cho đàn ông và cho phụ nữ. Guốc phụ nữ hơi eo ở chính giữa, guốc đàn ông không eo nên được gọi là guốc xuồng. Guốc sản xuất ở Phú Yên không sơn, giữ nguyên màu trắng của gỗ, thường là cây lòng mực. Còn guốc nhập từ Huế thì có sơn, hoặc sơn đều một màu, hoặc sơn hai màu (thường là màu đen và màu nâu), phía lòng bàn chân là một hình tam giác màu nhạt hơn. Chỉ những người khá giả mới đi guốc sơn. Một số nơi gọi guốc là dỏn nên đã có thành ngữ "Chân giày chân dỏn" chỉ sự giàu có, sang diện.



UserPostedImage



Cho đến năm 1940, học trò nam trường công ở tỉnh Bến Tre mặc bộ bà ba trắng, chân đi guốc.

Vào những năm 50-60, người ta đem guốc mộc được sản xuất ở làng Đơ Đồng tức Yên Xá (xã Tân triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội), ở Kẽ Giày (xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây) về số nhà 12 phố Hàng Gà, hay về phố Bạch Mai ở Hà Nội để sơn, xì hoa, sau đó mới đem đi bán. Đi guốc dưới màu xanh của những hàng cây sấu cổ thụ đã là nét đẹp một thời của thiếu nữ thủ đô:


Đường sấu lâu rồi in tiếng guốc
Xuân về, táo rụng nhớ đàn em



Vào cuối những năm 70, bên cạnh guốc gỗ, guốc nhựa đã ra đời. Cùng với giày dép, chức năng chủ yếu của đôi guốc là vật phục sức ở chân. Tuy vậy, cũng có trường hợp, đối với guốc gỗ, người ta khoét rỗng gót để cất giấu vàng bạc và các thứ nữ trang quý hiếm khác khi đi xa.

Đôi guốc đã gắn bó với đời sống người Việt, có thời gian việc dùng guốc (kéo theo việc sản xuất guốc) đã bị lắng xuống. Sự phục hưng của đôi guốc mấy năm gần đây chứng tỏ quan niệm về cái đẹp đang ngày càng đa dạng hơn, và việc dùng guốc trở lại cũng phần nào thể hiện được sự gìn giữ và trân trọng những vật dụng giản dị của lớp trẻ ngày nay.



VietNamCayDa.com

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (6)
105 Pages«<34567>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.