Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

107 Pages«<104105106107>
Options
View
Go to last post Go to first unread
CỏThơm  
#2101 Posted : Sunday, December 13, 2020 1:07:49 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 194
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)
.


Credit Photo: Manhhai Flickr
UserPostedImage


Quai Hồng

Quai hồng guốc đứt rồi o
đi mô luống cuống cho đò trễ sông
anh xin làm sợi tóc bồng
cột dùm o chút buồn không giữa chiều
e chừng gió thổi người xiêu
áo mờ hết cả đường theo trắng ngần

Hoàng Xuân Sơn
(trích Huế Buồn Chi)


.

Edited by user Monday, December 14, 2020 7:29:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Duy An  
#2102 Posted : Friday, January 1, 2021 12:06:58 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,282

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)

Trang Nguyên

12/31/2020

Kim Chung một thời vang bóng

Nếu đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng vào thập niên 1960 thì đoàn hát Kim Chung cũng vang bóng một thời vào nửa cuối thập niên 1950. Đoàn hát ban đầu gặp nhiều khó khăn khi di cư vào Nam. Người dân trong Nam không quen với lối ca hát của đào kép đất Bắc nên người xem ít ỏi. Dần dần đào kép đoàn Kim Chung nhận ra điều đó, cố gắng ca vọng cổ theo giọng Nam, càng ngày càng thu hút khán giả.

UserPostedImage

(Ảnh: Internet)


Ông Tư Giao, một người mê cải lương và cũng là ký giả kịch trường của tờ Sân Khấu kể cho tôi nghe chuyện thăng trầm của sân khấu Kim Chung khi mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn hồi năm 1954. Ðến xứ lạ, không hợp phong cách với lời ca giọng điệu nên vắng bóng người xem. Hầu hết khán giả của đoàn Kim Chung lúc đó là người Bắc mới di cư vào Nam, nhớ quê, nhớ các giọng ca của đào kép xứ Bắc nổi tiếng đương thời như Kim Chung, Bích Hợp, Bích Sơn, Huỳnh Thái… nên đến rạp xem ủng hộ. Tuy nhiên, đó chỉ là số ít khán giả, không đủ bù các chi phí hằng ngày. Ông bầu Long (Trần Việt Long) làm liều để giữ đoàn không tan rã, dùng tiền túi nuôi cả đoàn hát ba bốn chục người, thuê luôn rạp Trung ương Hí viện (tức rạp Aristo trên đường Lê Lai) để củng cố niềm tin cho đào kép.

Ông Long từng là công tử con nhà giàu, từng đi du học ở Pháp, Ðức lại mê cải lương và mê thêm luôn cô đào Kim Chung nên bỏ tiền thành lập đoàn hát lấy tên là Ðoàn cải lương Kim Chung. Thuở đó, đoàn Kim Chung đình đám lắm, mệnh danh là “Tiếng chuông vàng Bắc Việt”. Từ lúc lên mười, Kim Chung đã tham gia Ban Ðồng Ấu Nhật Tân, chuyên diễn tuồng Hồ Quảng của ông bầu Tài Quang. Năm 16 tuổi, Kim Chung đã là đào chính của đoàn Cải Lương Tố Như, nổi tiếng trên sân khấu đất Bắc, được mệnh danh là “Ðệ nhất danh ca Bắc Hà”.

Khi cải lương có mặt ở Hà Nội lập tức được khán giả miền Bắc tiếp nhận, nhanh chóng trở thành một môn nghệ thuật sân khấu mới ngày càng ăn sâu bám rễ trên đất Hà thành. Và không ngờ, hơn 20 năm sau, Công ty Sân khấu Kim Chung – công ty mang tên “Ðệ nhất danh ca Bắc Hà” lại làm nên sự nghiệp lớn trên đất Sài thành, không chỉ ở sân khấu cải lương thu hút đông đảo khán giả miền Nam mà còn là nơi phát hiện, đào tạo và làm nên tên tuổi của nhiều ngôi sao cải lương Nam phần.


Cải lương dễ đi vào lòng người, phù hợp với tâm lý con người Việt Nam, không phân biệt ở địa phương nào. Về mặt nghệ thuật, cải lương vừa thừa kế được một số yếu tố của tuồng, chèo, lại vừa có được những yếu tố mới mẻ, hiện đại của nghệ thuật phương Tây là kịch nói. Có lẽ vì thế cải lương được đông đảo quần chúng ở cả ba miền đón nhận như một xu hướng nghệ thuật sân khấu mới, ra đời và lan tỏa vào nửa đầu của thế kỷ XX.

Theo tài liệu kỷ niệm 100 năm sân khấu cải lương cho biết: Từ năm 1935 tới năm 1941 nhiều gánh hát cải lương được thành lập ở miền Bắc như Nhật Tân Ban, Quốc Hoa, Tố Như, Ái Liên, Ðức Huy, Nam Hồng v.v. Nhiều gánh vào Nam biểu diễn và gặt hái được thành công. Ngược lại, một số gánh hát của miền Nam như An Lạc Ban, Phước Cương, Tân Hí Ban, Trần Ðắt, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Thanh Tùng, Năm Châu, Kim Thoa ra Bắc biểu diễn cũng được khán giả rất mến mộ.

Bấy nhiêu chi tiết lịch sử đủ cho thấy nghệ thuật cải lương dù xuất phát từ miền Nam nhưng rất nhanh chóng chinh phục được công chúng miền Bắc, nhất là ở Hà Nội, một công chúng có trình độ, không hề “dễ tính” trong thưởng thức văn học nghệ thuật. Trước đó đã có tuồng, chèo và cả kịch nói là loại hình sân khấu hoàn toàn mới mẻ, mới được du nhập vào nước ta gần như đồng thời với sự xuất hiện của cải lương trên đất Bắc.

Trở lại đoàn Kim Chung khi vào Nam, cái nôi sản sinh ra nghệ thuật cải lương, đoàn hát mới đương nhiên bị lấn áp. Ðất mới, khán giả mới, giọng ca đào kép mới không giống giọng ca của đào kép trong Nam, sân khấu Kim Chung sẽ bị ảnh hưởng nếu không thay đổi cho phù hợp thị hiếu khán giả trong Nam vốn khó tính nhưng lại bao dung với các đoàn cải lương. Dần dần đoàn Kim Cương bắt đầu chinh phục được khán giả. Ông Long thuê dài hạn rạp Aristo để cả đoàn có nơi hoạt động và định hình lại phong cách biểu diễn. Ấy thế mà hồi đó, giới cải lương trong Nam cứ bảo ông Long này dở hơi. Một tuồng diễn chừng tuần lễ là hết khán giả, xưa nay chưa có gánh hát nào nằm lì một chỗ vài ba tháng diễn tuồng. Ðó là lý do tại sao các đoàn hát phải lưu động biểu diễn ở khắp nơi. Hơn nữa, rạp Aristo tuy nằm ở trung tâm Sài Gòn nhưng lại là nơi mà sinh hoạt của người dân rất phức tạp vì nằm gần nhà ga xe lửa, đường sá di chuyển bất lợi, so với các rạp gần đó như Thành Xương hay Nguyễn Văn Hảo.


Sở dĩ ông bầu Long chọn thuê rạp Aristo dài hạn là vì giá thuê khá rẻ do ít đoàn hát nào đến thuê. Ông ký hợp đồng 5 năm, trả tiền từng năm, chủ rạp mừng húm lại còn cho giá rẻ. Tính ra chi phí thanh toán cho đào kép và số khán giả người Bắc di cư ủng hộ từng đêm, ông cũng không lỗ lã bao nhiêu. Nhưng thật may mắn, khán giả trong Nam bắt đầu tò mò đến rạp để xem đào kép mới miền Bắc hát cải lương ra sao. Ðào kép Kim Chung đáp ứng được giọng hát không thua gì đào kép trong Nam, dần thu hút đông đảo khán giả. Gánh Kim Chung bắt đầu ăn nên làm ra chỉ sau một thời gian ngắn. Ðiều làm cho giới cải lương kinh ngạc là đoàn Kim Chung hát liền tù tì vở “Trăng giãi đêm sương” suốt 40 đêm, phá kỷ lục của các đoàn khác diễn vở ăn khách nhất cũng chỉ đến tuần thứ ba là thưa khán giả.

Ngoài những đào kép đất Bắc của đoàn Kim Chung sẵn có, bầu Long còn hợp đồng với các đào kép tên tuổi được khán giả mến mộ, cho nên có thể nói phần lớn tài danh sân khấu cải lương đã ở dưới trướng của bầu Long. Các nghệ sĩ tên tuổi hát cho Kim Chung người ta phải kể: Út Trà Ôn, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Thanh Hải, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, và ba giọng ca mùi mẫn: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương…

Thời gian này cũng là lúc Sài Gòn phát triển nhanh chóng các rạp chiếu bóng. Các rạp hát nhỏ dần bị phá bỏ và nhiều địa điểm xây cất mới rạp hát hiện đại hơn dành cho điện ảnh và các đoàn cải lương.

Rạp Aristo không còn nữa nhưng vẫn là nhân chứng cho một giai đoạn phát triển và làm nên tên tuổi của đoàn Kim Chung tại đất Sài thành. Ðó cũng là nhờ tài năng quán xuyến của ông bầu Long và hiền thê Kim Chung của ông. Trong giới cải lương nhiều người còn nhớ tài ngoại giao của ông bầu Long với Bộ Thông Tin khi xin cho đoàn được sang Pháp lưu diễn, sau khi đoàn Thanh Minh Thanh Nga được Bộ cử sang Pháp biểu diễn thành công rực rỡ. Ðoàn Kim Chung xin đi tự túc, lời ăn lỗ chịu. Hơn nữa, bấy giờ chính quyền cũng ý thức được tầm quan trọng trao đổi văn hoá của các đoàn nghệ thuật sang nước ngoài nên dễ dàng chấp thuận cho đoàn Kim Chung lưu diễn. Sang Pháp biểu diễn, ông Long thuê rạp ở các tỉnh có đông người Việt, hát suốt cả tuần thu về bộn bạc, rồi về Paris hát nhiều suất ở các rạp lớn. Sau chuyến lưu diễn đoàn Kim Chung càng nổi tiếng hơn trong nước, suất hát nào cũng đông kín khán giả kéo dài cả chục năm. Làm ăn phát đạt, ông bầu Long sắm nhà bên Pháp, cho con cái học hành bên đó, hai vợ chồng ông đi Tây liên tục.


Sau 1975, ông bầu Long và đào Kim Chung cùng gia đình đi Pháp. Ðến năm 1981, ông về nước mang theo dự tính xây dựng lại đoàn Kim Chung. Nhưng, tuổi già sức yếu, ông đành ẩn thân cho đến năm 81 tuổi, năm 2003, thì về với Tổ nghiệp cải lương. Và bà vợ, đào Kim Chung thì mất sau ông 5 năm tại Tân Bình, thọ 85 tuổi.

Edited by user Friday, January 22, 2021 12:57:07 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
CỏThơm  
#2103 Posted : Saturday, January 23, 2021 1:33:43 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 194
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


môi Tháng Giêng


Tháng Giêng nhớ về thăm quê Nội
để ngắm mùa hoa tươi rói Xuân
và nghe em cười khoe tuổi mới
với tóc thay màu như tuyết sương

Tháng Một Anh chào Em rất duyên
lao xao quên nhớ rộn hai miền
đọc nhau trong mắt mà thương quá
nhờ cất trong lòng môi Tháng Giêng

Tháng Giêng, Tháng Một tựa vai nhau
nhìn Xuân thay áo Tết muôn màu
dư âm guốc mộc trên nền pháo
hồng quá ngày xưa mấy ngõ Đào

mới nhắc về thơ ý đã tình
gặp nhau lời còn biết mấy xinh
Tháng Giêng môi thắm đầy bao mộng
nhớ giữ giùm anh trót cuộc gìn.


Cao Nguyên




UserPostedImage



Edited by user Sunday, January 31, 2021 11:24:51 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
CỏThơm  
#2104 Posted : Friday, February 5, 2021 12:56:39 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 194
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Rằng từ


Rằng từ tóc bỗng là mây
Người vui chân bước xuống ngày đào hoa
Môi vừa chớm nụ kiêu sa
Lòng thu tím lục hoá ra Xuân hồng

Đi về với mộng thong dong
Chẳng hay bão cuốn ngang lòng giêng hai
Rằng từ khoác bụi trên vai
Năm chưa đủ rộng tháng dài đã trôi

Người đi tìm lá ngậm ngùi
Ta về đốt lửa hong lời gió mưa
Rằng từ lá ngọn tóc tơ
Rong rêu chợt tím bến bờ ai qua

Thuyền nằm nhớ bến nào xa
Chẳng hay thu đợi vốn là xuân mong
Người đi tìm lá sắc không
Ta về thắp ngọn đèn chong. Ta về…



Mường Mán




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2105 Posted : Thursday, February 18, 2021 4:24:00 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy, Trầm Tử Thiêng
~ Hoàng Oanh ~






Một ngày vào thuở xa xưa trên đất thần kinh
Người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh
Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời
Khắp cố đô dân lành an vui ca thành điệu Nam Bình
Niềm vui bao lâu ước mơ giờ trên xứ thơ cầu nối liền bờ
Thỏa lòng người dân hằng chờ có ngày hẹn hò tình đẹp như mơ

Ngày ngày cầu đã đưa em qua nhóm chợ khuya
Cầu đã đưa anh qua xới ruộng nâu
Giờ êm ái quen nghe tiếng hò Ngự Bình
Nước dưới cầu nước vẫn trong xanh như lòng người dân lành
Cầu đưa ta đi sớm trưa tìm trong nắng mưa niềm vui ngày mùa
Hết lòng gìn giữ nhịp cầu nối liền tình người đẹp đời mai sau.

Từng đoàn người dệt tương lai đi nắng về trưa
Dập dìu trong tay chan chứa tình thương
Giờ êm bóng xa xa nắng tre rập đường
Áo trắng về trắng cầu quê hương
Mỗi lần chiều tan trường
Cầu quen đưa bao chuyến xe
Nhiều khi vẫn nghe buồn vui tràn trề
Âm thầm người đi, người về, trót ghi lời thề
ngoài miền sơn khê

Ngày nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em
Cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau
Cầu tha thiết khuyên anh giữ trọn tình đầu
Nước dưới cầu nước vẫn trong veo
Như cuộc tình duyên nghèo
Tình yêu ta như nước trong
Dù qua mấy sông lòng vẫn một lòng
Thương người nhìn qua đầu cầu
Hứa hẹn ngọt ngào tình bền duyên lâu

Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui
Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi.
Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài

Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu
Mối thù chờ sang ngày nào nối lại nhịp cầu rửa hờn cho nhau




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2106 Posted : Thursday, February 18, 2021 4:31:00 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


Photos sưu tầm



UserPostedImage.......UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage.....UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage............UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage.......UserPostedImage


UserPostedImage

UserPostedImage


UserPostedImage........UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage






UserPostedImage
CỏThơm  
#2107 Posted : Thursday, March 4, 2021 3:49:24 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 194
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)



UserPostedImage


Lục bát buồn về


Hai câu lục bát bắc cầu
Nối mười bốn nhịp chừ lâu chưa về
Câu sáu cong nghĩa phu thê
Tủi thân câu tám tóc thề vấn quên

Mười năm quán gió rộng thênh
Trăng lu soi bóng vẫn nghiêng dáng mình
Giang hồ lỡ bước bất minh
Bờ lau đứng giũ bụi lên ráng hồng

Réo đò, đò đã sang sông
Gọi người, người cũng đánh vòng cuộc chơi
Áo phai, rượu cạn, mưa rơi
Chiều nay hảo hán, trời ơi, biết buồn …



ĐCĐ




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2108 Posted : Friday, March 12, 2021 1:40:32 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage

Giọng Huế của Mạ


Chưa đến ba mươi tuổi, một nách hai đứa con thơ, theo Ba, Mạ phải xa Huế. Từ đó, hơn nửa thế kỷ qua cho đến khi lìa đời, Mạ xuôi Nam, rồi sang Đức. Suốt mấy chục năm, Mạ chỉ còn những lần về Huế đôi ba ngày ngắn ngủi thăm gia đình, chứ Mạ không còn được sống ở Huế nữa. Bầy con Mạ sanh ở Quảng Ngãi, có lẽ đã ngấm giọng ru ngọt ngào của Mạ từ thuở chưa lọt lòng… à ơi, chiều chiều ông Ngự đi câu, cái ve cái chén cái bầu sau lưng… Bởi vậy, đứa nào giọng nói cũng đầy đủ sáu vài, mười hai nhịp.

Ở Quảng Ngãi, ở Sài Gòn, đi đâu chăng nữa, lời ăn tiếng nói của Mạ luôn xếp đặt mọi việc ổn thỏa ba bên, bốn bề. Mạ vào Sài Gòn đặt sách báo cho tiệm sách. Mạ đi mua trang thiết bị cho quán cà phê. Mạ đến những công sở ở Quảng Ngãi để tham dự đấu thầu cung cấp bút chỉ văn phòng. Mùa hè đỏ lửa, Ba không thể rời nhiệm sở ở miền Trung, Mạ dẫn bầy con nhỏ vào Sài Gòn chạy loạn. Thời gian này, một cảnh hai quê, lòng Mạ lo lắng ngổn ngang trăm mối. Tuy vậy, Mạ vẫn sắp xếp dắt bầy con nhỏ đi đó đây khắp Sài Gòn. Mạ muốn đưa mấy đứa con đi Chợ Lớn. Mạ hỏi đường, người Sài Gòn ngẩn người, không biết “Chợ Lợn” ở đâu. Nhưng rồi, Mạ vẫn tìm đến được những địa điểm như ý muốn. Người bạn của Mạ ở gần chợ Cầu Muối. Bác diễn tả, nhà bác có lát gạch bông đàng trước. Bình thường, với thông tin như vậy, có lẽ ai cũng phải lắc đầu, từ bỏ ý định tìm kiếm. Mạ lặn lội hỏi quanh và cuối cùng Mạ cũng đến thăm được người bạn.

Mạ giải quyết êm đẹp những “bất đồng ý kiến” giữa khách của quán cà phê nhà và các cô hàng cà phê. Một người khách quen kể: “Thiệt kỳ lạ, mỗi lần anh hồi tưởng về quê nhà Quảng Ngãi, là anh nhớ tới Mạ các em. Một người phụ nữ Huế, có khuôn mặt đẹp, cương nghị, dáng điệu khoan thai, trầm tĩnh, cư xử dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ. Các cô trong nhà chỉ cần học Mạ các em là đủ, không cần học thêm bất cứ ai”.

Người giúp việc trong nhà không hề chịu cảnh chủ tớ, mặc dầu có những người quen gọi Ba Mạ là ông chủ, bà chủ. Có nhiều người, đã nghỉ việc, nhưng khi có dịp vẫn ghé qua nhà, thăm hỏi gia đình.

Sau cuộc đổi đời 1975, vai Mạ oằn xuống vì những gánh nặng khổ ải dồn dập. Khi công an, bộ đội súng ống hung dữ ập vào tịch thu nhà, Mệ nội quá hoảng sợ, tức giận, Mệ khóc lóc không chịu đi. Những khuôn mặt sắt máu lớn tiếng nạt nộ. Bầy con ngơ ngác, bàng hoàng. Mạ nhẹ nhàng trấn an cả nhà. Mạ tiếp tục cưu mang, gánh vác gia đình, sau khi cả nhà phải rời khỏi ngôi nhà Ba Mạ đã gầy dựng biết bao năm. Mất tiệm sách, mất quán cà phê, mất nhà, Mạ tảo tần với hàng cơm ở bến xe Quảng Ngãi, khách hàng đa số là người dân lao động. Trong những lần đi thăm Ba, Mạ luôn an ủi, khuyên nhủ, để Ba khỏi suy sụp tinh thần, để còn có ngày về đoàn tụ với gia đình. Mạ đau đứt ruột, tiễn các con rời Việt Nam, mà thuở ấy, khó mong có ngày trở về, với hy vọng các con có cuộc đời đáng sống. Ba về nhà sau gần mười năm tù với nhiều chứng bệnh mang trong người. Sau lần bị đột quỵ, Ba đã bị liệt nửa người. Mạ ghé vai Ba cho Ba vịn đứng dậy. Mạ rốt ráo hỏi tìm khắp nơi cách chữa trị, thuốc ta, thuốc tây. Mạ vái tứ phương. Tình thương yêu của Mạ như phép màu giúp Ba bình phục và vượt qua những cơn bệnh thập tử nhất sinh.

Mạ và một cô giáo của con, đã có những lần cùng nhau đi thăm chồng ở trại cải tạo. Mấy chục năm sau, gặp lại cô, cô hồi tưởng: “Dáng Mạ gầy gầy, vẻ nhẫn nhục chịu đựng gian khổ lo cho chồng, cho con. Nhưng vẫn toát lên vẻ quý phái, cao sang. Dạo ấy, là người Huế, sống giữa đất Quảng, lại xa chồng, cô càng thấy mình bơ vơ, lạc lõng. Mỗi khi cô đến với Mạ con, cô có cảm tưởng như mình đang ở Huế, gần gũi với gia đình… ”

Lúc khá giả cũng như khi cơ cực, Mạ đối xử với mọi người như bát nước đầy. Thời nhà sách, Mạ thân thiết với những gia đình trên đường Phan Bội Châu. Sau khi Ba đi cải tạo, nhà bị tịch thu, bác Kh., một người chưa quen biết, đã mở lời giúp đỡ Mạ trong lúc ngặt nghèo, mặc dầu gia đình bác cũng chỉ sống đắp đổi qua ngày. Mạ về cùng bác Kh. bán hàng cơm ở bến xe lam cạnh cây xăng. Ban đầu, có người hàng xóm do đố kỵ, tỏ vẻ hằn học, hiềm khích. Thế mà, sau một thời gian, Mạ đã lay chuyển được thái độ của người ấy. Rồi Mạ có thêm nhiều người láng giềng gần gũi, tối lửa tắt đèn có nhau. Những năm cuối thập niên 70 cho đến ngày các con rời Việt Nam, nhà ở Phú Nhuận, các con nhiều lần khốn đốn với phường khóm địa phương. Vậy mà, khi Mạ ở đây và lúc Ba về nhà sau khi ra khỏi trại cải tạo, những tổ trưởng, tổ phó khắt khe, xét nét đã trở thành những người người quen thoải mái, vui vẻ với Ba Mạ.

Ngày đón Ba Mạ ở phi trường Frankfurt, bầy con xúc động nước mắt lưng tròng. Gia đình sum họp sau nhiều năm xa cách. Mạ vui mừng khôn xiết. Nhưng Mạ lo Ba vừa qua cơn trọng bệnh, khéo léo nói nhỏ vào tai bầy con: “Mấy đứa đừng khóc, sợ Ba xúc động mạnh, không tốt”.

Mạ dặn dò, con gái đừng cằn nhằn với chồng, con trai đừng gắt gỏng với vợ. Khi thấy con phải đối mặt với nguy cơ rạn vỡ trong gia đình nhỏ, Mạ ân cần khuyên nhủ, “Con nì, quyết định chi, con nhớ nghĩ đến con của con nghe”. Mạ thấy đứa con này cuối tuần ở nhà, Mạ nhỏ nhẹ: “Sao con không đi thăm bồ!” Mạ thấy đứa con kia hơi tròn trịa, Mạ nghiêm giọng: “Ăn uống kỹ kỹ lại nghe con.”

Như vậy đó, giọng Huế của Mạ đã ru, đã nuôi, đã dưỡng bầy con từ thuở còn thơ cho đến khi con đầu có hai thứ tóc. Giọng Huế của Mạ tận tụy chăm sóc Ba trong những thăng trầm của cuộc đời. Giọng Huế của Mạ đã bươn chải ở nhiều nơi, để chồng con đầy đủ miếng ăn, cái mặc. Giọng Huế của Mạ đã chạm vào trái tim của người chưa quen biết để họ trở thành ân nhân của gia đình. Giọng Huế của Mạ đã là bản đồ tìm đường, kiếm lối. Giọng Huế của Mạ đã mang đến những bạn bè, những láng giềng tử tế. Giọng Huế của Mạ đã an ủi chia sẻ với những người cùng cảnh ngộ.

Những cái tết Mạ còn trên đời, đêm ba mươi bên mâm cúng tất niên, Mạ lâm râm cầu nguyện cho toàn thể gia đình an lành, mạnh khỏe. Mạ vẫn giữ thông lệ lì xì con cháu cho đến cái tết cuối cùng, năm Mạ vĩnh viễn lìa xa trần thế. Con cháu, dâu rể xếp hàng khoanh tay chờ Mạ mừng tuổi. Mạ ngọt ngào gọi tên từng đứa con, cháu, nhỏ trước lớn sau và đặt vào tay con, tay cháu phúc lộc đầu năm.

Giờ đây, tụi con không còn được nhận được bao lì xì mừng tuổi của Ba Mạ nữa. Nhưng trong tim tụi con vẫn nghe được giọng Huế của Mạ, phù hộ cho con cháu luôn được an lành, trên thuận dưới hòa, gia đình yêu thương đùm bọc nhau, vạn sự hanh thông như ý trong cuộc sống.


Hoàng Quân
Tháng Chạp Canh Tý

Nguồn: Sáng Tạo





UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2109 Posted : Tuesday, March 23, 2021 3:52:43 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 65
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)

UserPostedImage


Bên khung cửa sổ


Nắng về lợp
mái trường xưa
Che ô cửa sổ
chiều mùa xuân
trôi…
Cảm ơn em
thả nụ cười
Níu tôi đứng lại
hát lời tình ca
Bên trong cửa sổ

Em …và,
Bầy chim oanh
ríu rít …òa !
hồn nhiên
Trong tim tôi
những muộn phiền
Theo làn gió
rong qua miền
tình không!

Mai này…
dù có qua sông
Xin em đừng
khép nửa lòng
muộn trôi !



Dzạ Lữ Kiều




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2110 Posted : Monday, April 5, 2021 11:47:03 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage


Nỗi nhớ

Bên kia thấp thoáng khói cơm chiều
Hiu hắt theo về bóng tịch liêu
Cuối xóm mấy gian nhà quạnh quẽ
Đầu làng vài giọt nắng liêu xiêu

Líu lo vẳng lại câu hò lả
Vi vút ngân qua tiếng sáo diều
Tôi đứng đây như người khách lạ
Hồn chìm trong nỗi nhớ tiêu điều.



dp.
dangphuong





UserPostedImage
CỏThơm  
#2111 Posted : Friday, April 16, 2021 4:18:02 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 194
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)

UserPostedImage


Màu Tím Hoa Sim - Sắc Màu Vĩnh Cửu


Tôi rất thích câu của Đặng Tiến trong Vũ trụ thơ khi viết về Nguyễn Du như sau: Nghệ thuật là những gì còn lại khi định mệnh bị bôi xóa. Quả đúng như vậy, điều làm nên sự bất tử của người nghệ sĩ là những gì họ để lại cho đời, cho dù để tạo nên những kiệt tác không chỉ bằng trí tuệ, tài năng, cảm xúc mà còn có cả máu, nước mắt và biết bao hệ lụy của một cuộc đời. Hữu Loan và bài thơ Màu tím hoa sim là một hiện tượng như thế.

Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa. Bài thơ Màu tím hoa sim được sáng tác năm 1949 khi người vợ trẻ của ông, bà Đỗ Thị Lệ Ninh, qua đời. Lần đầu tiên thi phẩm xuất hiện trên tờ Trăm Hoa của Nguyễn Bính và mãi đến năm 1990 mới được in trong tập thơ cùng tên của Hữu Loan. Phận số của thi nhân và bài thơ cũng trái ngang như câu chuyện tình yêu trong tác phẩm. Nhưng xưa nay cái đẹp có thể bị quên lãng chứ không bao giờ bị tiêu diệt. Màu tím hoa sim đã khẳng định sức sống của nó bởi đơn thuần bài thơ không chỉ là hoàn cảnh cá nhân mà nó đã trở thành một biểu tượng của tình yêu và cái đẹp, chiến tranh và mất mát chia lìa, khát vọng hạnh phúc và bi kịch đời người…

Viết về người thật, việc thật nên tình cảm của nhân vật trữ tình ngập kín trang thơ. Bài thơ là một trời tâm trạng. Từ những ngày quen nhau tình yêu thầm lặng, thiết tha, êm đềm và giản dị như tình anh em; rồi đến phút giây hân hoan, vui sướng trong ngày hợp hôn; Và biết bao âu lo, nhớ thương trong tháng ngày xa cách; để khoảnh khắc bàng hoàng khi nhận tin người vợ hiền đã mất biến thành xa xót theo suốt một đời…Những xúc cảm đối lập, trái chiều tiếp nối như diễn tả tâm trạng khó thể nói hết thành lời của một người từ thiên đường ngọt mật rơi xuống đáy sâu của chín tầng địa ngục. Cuộc đời, tình yêu, hạnh phúc phút chốc vụt khỏi tầm tay, còn rớt rơi lại một cành hoa tím ghi dấu một thời. Bài thơ là tiếng khóc, là thương đau nhưng không bi lụy vì nước mắt của tình yêu tan vỡ đã vẽ thành một loài hoa.

Hoa sim trong thực tại bước vào trang thơ và trở thành một biểu tượng tình yêu. Hữu Loan không ví von tình yêu là những đóa hồng kiêu sa lộng lẫy mà chỉ là một bông hoa rừng đơn sơ khiêm nhường. Vẻ đẹp riêng biệt của loài hoa dại này đến từ cái mỏng manh như tình yêu ngắn ngủi, đến từ cái màu tím làm xao xuyến lòng người và đến từ một sức sống mãnh liệt khi nó bất chấp cảnh hoang vu của núi rừng, khô cằn của sỏi đá, khắc nghiệt của thời tiết để dâng hoa cho đời. Bài thơ diễn tả những cung bậc tình cảm tăng dần tới đỉnh điểm nỗi đau khi trái tim vỡ òa ngàn mảnh gửi trong từng cánh sim tím ngát trong chiều hoang biền biệt. Màu hoa sim ở đây là một nguồn mỹ cảm vì nó trở thành sắc màu thời gian, sắc màu thương nhớ. Dư âm của tình yêu, của cái đẹp và của niềm đau xót tràn trề suốt bài thơ tạo nên một sắc tím thủy chung, u buồn; bạt ngàn núi đồi, trùng trùng tiếc nuối…

Bài thơ ra đời khi mảnh khăn tang còn trĩu nặng, khi nước mắt chưa khô nên lời thơ bật ra từ trái tim nát tan rất chân thành, rất thực và điều làm thổn thức tâm hồn người đọc cũng chính từ điều rất thực đó. Vậy nên, nhịp điệu câu chữ trong thi phẩm gắn chặt với cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thể thơ tự do tạo ra một hiệu quả thẩm mỹ trong việc bộc lộ tâm trạng. Nếu có thể chia bài thơ thành ba đoạn với các nội dung : phần 1- kể vê tình duyên của chàng vệ quốc; phần 2 – kể về cái chết của người vợ trẻ; phần 3 – niềm đau khôn nguôi của nhân vật trữ tình thì cách tổ chức các câu thơ có nhịp điệu tương ứng. Cụ thể như sau: Phần 1chủ yếu tác giả sử dụng thể thơ 5 chữ diễn tả tâm trạng vui tươi hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ, nhịp thơ nhanh còn thể hiện không khí khẩn trương của lễ thành hôn diễn ra trong đợt nghỉ phép ngắn ngủi của người chiến sĩ. Đó còn là sự ra đi vội vàng của hạnh phúc. Ở phần 2, việc xen kẽ giữa câu thơ 2 chữ, 3 chữ và những dòng thơ 7, 8 chữ thể hiện thật sâu sắc cái trái ngang, trớ trêu của phận số và đồng thời cũng bộc lộ tâm trạng bàng hoàng, đau đớn của tác giả. Đến phần 3, nhà thơ sử dụng chủ yếu những câu thơ 7, 8, 9 chữ tạo nên dư âm da diết, buồn thương, âm hưởng câu thơ kéo dài như niềm tiếc nuối vô bờ. Những câu thơ dàn trải làm nên một không gian mênh mang của những đồi hoa sim dài trong chiều không hết và một thời gian bất tận của những ngày hành quân.

Màu tím hoa sim hay không chỉ bởi những xúc cảm chân thành mà cái hay đến từ thi phẩm còn bởi nó gắn kết hài hòa tính tự sự, tính kịch và tính nhạc. Đây là điều mà hiếm nhà thơ nào cùng thời với Hữu Loan làm được. Trước hết, Màu tím hoa sim là một câu chuyện tình lãng mạn của một người lính kể về tình duyên của mình trên chặng đường hành quân. Đối tượng tự sự được giới thiệu ngắn gọn mà đây đủ : tôi và nàng, hoàn cảnh, tình cảm :

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái


Câu chuyện của những anh lính san sẻ cho nhau trong rừng hoang sương muối, trong phút giây chờ giặc tới không chỉ nối kết tình đồng đội hay mong ước vợi bớt cô đơn mà còn như lời trối trăn cho chút yêu thương để lại cõi đời khi không biết ngày mai ai còn, ai mất. Vậy nên, đó là những gì riêng tư sâu kín nhất, chân thành nhất…phải chăng cũng vì lẽ đó mà bài thơ đã phải chịu bao nỗi long đong và không ít lời chỉ trích khi nó ra đời?

Tính chất tự sự của bài thơ được thể hiện qua những sự kiện quan trọng mang dấu ấn đậm nét theo trình tự thi phẩm. Đó cũng là cách kể của những ai khi mất mát người thân. Ta đã từng bắt gặp lối kể này trong thi phẩm Khóc Dương Khuê của cụ Tam Nguyên. Những sự kiện tái hiện trong kí ức lần lượt hiển hiện trên trang thơ vừa bộc lộ tâm trạng buồn đau trước sự mất mát không gì bù đắp nổi vừa vừa là những kỷ niệm đẹp đến tàn nhẫn của quá khứ khoét sâu vào mất mát hiện tại. Với Hữu Loan, quá khứ là màu áo tím dịu dàng, là mái tóc xanh người thiếu nữ, là nụ cười xinh xinh rạng ngời hạnh phúc của giai nhân và còn là vết bùn đất hành quân trên đôi giày người lính trẻ…


Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh
Bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.


Cái xinh xinh và độc đáo được đặt trong tương quan với quân nhân, giày đinh, hành quân – Tình yêu nảy nở và chịu thử thách trong thời chinh chiến. Các từ ngữ kết hợp lạ lùng báo hiệu những bất trắc, éo le không thể tránh thoát của con người. Bất ngờ sẽ xảy ra, chiến tranh là đồng nghĩa với mất mát, chết chóc, thương đau. Theo logic bình thường thì người nơi chiến trận ắt sẽ phải chịu nhiều nguy hiểm. Nhưng cái bất ngờ của bất ngờ là không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương. Cái chết ập đến quá nhanh đã tạo ra kịch tính trong thi phẩm. Tính kịch trong bài thơ thể hiện qua nhiều mâu thuẫn, trái ngang bám theo con người; trớ trêu do con tạo bày ra như khẳng định chân lý ngàn đời : Con người có đủ sức mạnh, niềm tin, nghị lực để vượt qua tất cả nhưng không thể vượt qua định mệnh. Bài thơ xất hiện nhiều hình ảnh, sự kiện đối nhau chan chát: Từ chiến khu xa / nhớ về ái ngại / lấy chồng thời chiến binh / mấy người đi trở lại - nhưng không chết / người trai khói lửa / mà chết / người gái nhỏ hậu phương; Má tôi ngồi - bên mộ con đầy bóng tối; Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương; Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc / được tin em gái mất trước tin em lấy chồng…Nhưng cái bi đát hơn cả của con người là những niềm mơ ước giản dị đôi lúc lại trở nên quá xa vời không thể nắm bắt, cái ta có mà tuột mất tự bao giờ.


UserPostedImage


Như người con gái ấy chờ mong hạnh phúc, khát khao tình yêu và ngày trọng đại nhất một đời nàng cũng không đòi may áo mới; thế mà, người chồng sau lễ thành hôn phải ra trận; từng đêm trông chồng đã kết thúc bằng nấm mồ tàn lạnh. Còn người lính chiến chợt nghe câu ca dao xưa để nhận ra nỗi bẽ bàng của tình duyên : Áo anh sứt chỉ đường tà / vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu. Không phải là câu ca tình tứ thủa nào của chàng trai mượn sợi chỉ vá áo để kết duyên tơ hồng mà câu ca dao khi mang vào bài thơ nó được chứa đựng thêm nghĩa mới. Áo sứt chỉ như tình yêu dở dang, như cuộc đời đứt đoạn, như vết thương không được vá…vì thế cuối bài hình ảnh này được Hữu Loan lặp lại ở mức độ cao hơn:


Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu.


Dù lâu mà vết thương chẳng nguôi ngoai, đường chỉ nát là sự côi cút của một con người, cái trơ trọi của kiếp sống được thể hiện qua câu kết hẫng hụt. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được tâm tư người viết qua cái kết mở ấy. Nếu như lời ca dao xưa Áo anh sứt chỉ đã lâu bộc lộ niềm mong mỏi hạnh phúc đôi lứa khi thấy cần Mai mượn cô ấy về khâu cho giùm; còn với Hữu Loan, dư âm nỗi đau còn vọng mãi theo thời gian mà thời gian không phải được đo bằng ngày, tháng, năm mà trở thành vô hạn được ghi dấu bằng bội số của chỉ nát và dù lâu. Trong cái bội số của thời gian ấy niềm hy vọng tàn lụi, dù hy vọng mong manh đến nỗi không thể gọi tên là hy vọng mà chỉ là ví vọng, với vọng; và có cố thắp lên một niềm tin bé nhỏ nhưng cũng chẳng biết gửi vào đâu…Ba câu kết ngẩn ngơ và dang dở đã kết thúc một cách hoàn hảo mối tình ngắn ngủi và thương tâm của thi sĩ. Nhưng hơn là một bi kịch cá nhân. Bài thơ gây xúc động cho người đọc bởi nó chứa đựng bi kịch muôn đời của thân phận làm người. Đó là sự đối chọi không khoan nhượng giữa khát vọng và hiện thực; giữa sự sống và cái chết; giữa tình yêu và định mệnh…Mà trong đó bao giờ giai nhân cũng mang một dự cảm chẳng lành về phận số. Màu tím người con gái yêu thích như nhuốm màu thiên định:


Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
Một mình đèn khuya
Bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
Ngày xưa


Một đoạn thơ thật lạ so với toàn bài, bởi Ngày xưa được nhắc đến 3 lần. Ngày xưa không chỉ là kí ức chứa đựng thời gian mà còn như khắc họa một vẻ đẹp ngàn đời của người thiếu phụ. Hình ảnh đêm khuya ngồi may áo cho chồng xuất hiện trong ca dao, trong thơ Trung đại là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam với phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó, khéo léo và đầy tình yêu thương…nhưng cũng là bao kiếp đời bạc mệnh của ngày xa xưa đó. Người con gái hiện lên qua đoạn thơ như một đóa sim rừng dịu hiền, nhỏ nhoi và mong manh quá! Làm sao cành hoa ấy chống chọi được bão tố cuộc đời? Đây còn là sự trùng hợp kỳ lạ giữa hiện thực và huyền thoại. Hữu Loan viết về những kỷ niệm có thật nhưng bản thân người thiếu phụ đã tự vận vào người cái phù du, hư ảo của kiếp sống để tạo thành một giấc mộng buồn. Huyền thoại về nàng tiên nữ xuống trần gian được hóa thân vào một loài hoa, câu chuyện về sự tích loài hoa tím đã mang đến cho bài thơ sắc màu liêu trai, huyền ảo. Và từ đó, trên bước đường hành quân, những đồi hoa sim trở thành nỗi ám ảnh như ẩn hiện dáng hình người vợ đã qua đời. Năm lần Hữu Loan viết về đồi sim với năm cung bậc khác nhau tạo thành một mảng màu ấn tượng với chỉ gam màu duy nhất :

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt…
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết…
Màu tím hoa sim tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím.


Chiều tím, hoa tím – tím cả không gian, tím cả hồn người. Điệp ngữ Những đồi hoa sim vừa có tính tạo hình khi vẽ nên một không gian dài rộng lại vừa là một biểu tượng nghệ thuật mang giá trị thẩm mỹ cao. Bởi, cái hữu hình Những đồi hoa sim tím đã biến thành cái vô hình Tím màu da diết; từ sắc màu cụ thể màu tím đã trở thành màu biểu trưng cho tình yêu, cho tâm hồn, cho nỗi lòng thi nhân khi nó biến thành màu của xúc cảm : Tím tình trang lệ rớm, Tím tình ơi lệ ứa. Và sắc màu ấy cộng hưởng với bóng tối, ráng vàng ma khiến cho chiều hoang càng thêm vắng, hồn hoang càng thêm lạnh.

Màu tím hoa sim còn là bài thơ đầy âm hưởng. Giai điệu của thi phẩm được cất lên nhờ nhịp điệu linh hoạt của bài thơ. Cách tổ chức câu chữ trong từng phần và việc phối thanh hài hòa khiến người đọc có thể cảm nhận kết cấu toàn bài như một bản sonate hoàn chỉnh với khúc dạo đầu bay bổng nhịp nhàng của kèn clarinette ( thanh âm nhịp nhàng của thể thơ 5 chữ; cảm xúc rộn ràng, náo nức của ngày hợp hôn); đoạn giữa là sự phối thanh trái chiều của tiếng kèn trompette vang rền như khúc tráng ca và âm thanh lắng đọng, bi thương của tiếng dương cầm cùng điệu khoan nhặt, réo rắt tiếng vĩ cầm (đó là bè trầm trong phút giây câm lặng của hình ảnh người mẹ ngồi bên mộ con đầy bóng tối, đó là những cơn sóng cuộn xé trong lòng thi nhân khi phút giây cuối không được thấy mặt nhau, đó là sự trào dâng trước nghịch cảnh của những người anh khi biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng) ; và kết thúc là một bè trầm sâu lắng diết da của tiếng đàn alto hòa âm cùng tiếng dương cầm hiu hắt (thanh âm lan tỏa từ những câu thơ dàn trải, từ những điệp khúc lặp mãi không thôi, từ nỗi lòng ngập tràn thương nhớ; có thể xem những đồi hoa sim là nền như tiếng dương cầm đệm lót cho tiếng đàn alto vang ngân – tiếng đàn ấy là khúc nhạc lòng của người quân nhân nức nở, nghẹn ngào, bi thiết).

Giai điệu của thi phẩm còn được ngân lên nhờ tác giả đã sử dụng các từ láy kết hợp với phép nhấn rất hiệu quả. Nếu đoạn 1 là Tóc nàng xanh xanh, cười xinh xinh thì đoạn 2 là Ngày xưa, màu sim tím và đoạn 3 là Những đồi hoa sim, chiều hoang biền biệt…Đặc biệt đoạn thơ cuối cách lặp tữ ngữ, cú pháp với tần số cao đã tạo thành một điệp khúc gây ấn tượng mạnh với độc giả. Điều này có thể lý giải vì sao sau khi bài thơ của Hữu Loan ra đời đã có đến 3 nhạc sĩ phổ nhạc cho thi phẩm.( Phạm Duy, Anh Bằng và Dzũng Chinh).

............................................

Tác giả: Người Sưu Tầm




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2112 Posted : Wednesday, May 5, 2021 1:43:33 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)



UserPostedImage


Mưa học trò


Hình như là lất phất mưa
Đủ cho hạt bụi lên vừa mắt em
Tiếng ve ru cánh phượng mềm
Cháy trong vòm lá nỗi niềm tháng năm

Tóc dài từ thủa xa xăm
Thả trên vạt nắng xưa nằm nghiêng nghiêng
Mộng về một khoảng trời riêng
Mắt xanh cửa lớp ưu phiền gửi theo

Tay lùa ngọn gió trong veo
Mới thương mùa hạ rơi vèo như không
Hàng me xanh đến nao lòng
Tiếc chi một nét môi cong với chiều

Em về khua guốc liêu xiêu
Áo bay cuối phố dài theo mắt người
Hình như mưa lất phất cười
Hồn nhiên làm tuổi hai mươi biết buồn.


Từ Kế Tường




UserPostedImage





UserPostedImage
Hạ Vi  
#2113 Posted : Thursday, May 13, 2021 6:34:00 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


Tiếng gọi đò


Hồi đó, nhà tôi nằm cặp con sông xáng Ba Hồ, cách chợ xã hai cây số, cách chợ huyện chừng mười cây số, còn chợ tỉnh thì xa xôi cách trở, lại ít người đi nên không tính!

Thông thường, người ta hay đi chợ xã để mua hoặc bán một ít đồ lặt vặt cho sinh hoạt hàng ngày. Cỡ hừng đông người ta chèo xuồng đi, tới chợ mua vội vàng vài thứ rồi chèo về lúc trời vừa hửng nắng. Vì vậy, hầu như nhà nào cũng có chiếc xuồng để làm phương tiện đi lại.

Còn nếu muốn lên chợ huyện phải đi đò dọc. Đò dọc bao giờ cũng làm cái mui vuông để che mưa che nắng, bên trong có hai hàng ghế dọc thành đò hoặc nhiều tấm ván bắc ngang sườn đò làm chỗ cho khách ngồi, phía sau gắn máy đuôi tôm. Tùy theo quãng đường xa hay gần, sông lớn hay nhỏ, rồi khả năng tài chánh của chủ đò, số lượng khách có nhu cầu đi nhiều hay ít... mà người ta ước tính trọng tải để đóng chiếc đò. Nhưng ít nhất cũng phải chở được trên hai mươi người khách, tính người lớn nghen!

Đò rời bến chợ xã rất sớm, chạy ngang qua nhà tôi lên chợ huyện và đến trưa thì quay về. Mỗi ngày chỉ có một chuyến duy nhất. Khoảng ba giờ rưỡi sáng, đò thổi kèn tin tin báo hiệu sắp tới giờ chạy, đồng thời cũng là đánh thức những ai định đi chợ dậy chuẩn bị xuống đò. Tiếng kèn vang vang trong đêm vắng, trôi dài trên mặt sông, văng vẳng vọng đến tận nhà tôi. Đò thổi kèn hồi thứ ba thì nổ máy rời bến, lúc ấy đúng bốn giờ sáng. Đó cũng là lúc má tôi thức dậy, lục đục chuẩn bị xuống bến đón đò. Má đi chợ huyện thường xuyên, có tháng đi vài lần. Khi thì đi mua phân bón lúa, thuốc trừ sâu trừ rầy, lúc chỉ bán vài chục ký sầu riêng, mấy bao khóm. Lần nào má đi chợ cũng kêu tôi dậy đưa má xuống bến, má nói không nên kêu tía, để tía ngủ thẳng giấc mai còn đi ruộng.

Những đêm tối trời, để chủ đò thấy có khách đứng đợi, tôi cầm cây đèn bão quơ quơ, tay ngoắc lia lịa, còn má thì gọi lớn: “Đò ơi! Ghé đây nè... e...”. Có lúc gió thổi mạnh tắt đèn, tôi cột lá dừa thành một bó cỡ... bắp chân người lớn, đốt sáng rực bến sông. Cũng có lần trời mưa lâm thâm, đò vừa tới thì ngọn đuốc của tôi tắt ngúm, má chạy dọc bờ sông một quãng xa gọi đò mới nghe. Những đêm sáng trăng đón đò vui lắm, nhất là lúc gần Tết. Sương mong manh như khói. Gió mỏng thổi liu riu. Lành lạnh. Má chỉ bóng hai má con soi nước lung linh, cười: “Con coi má con mình có giống bụi chuối sau hè không?”. Dạ, giống. Má là cây chuối mẹ, tôi là cây chuối con mà. Sau này nghĩ lại cứ thương hoài nếp nghĩ kỳ lạ, sự so sánh ngồ ngộ của má mà nghe lòng rưng rưng!

Tôi nhớ mãi mỗi khi cận Tết, người ta đi chợ huyện rất đông để mua đồ chuẩn bị đón năm mới. Ấy cũng là lúc người ta dỡ chà bán cá lấy tiền sắm sửa nên lục bình tuôn ra đầy sông. Con đò dọc loay hoay, chao nghiêng hết ghé bến bên này lại sang bờ bên kia rước khách. Thỉnh thoảng, đò vướng lục bình phải dùng sào chống, chân vịt quấn lục bình phải tắt máy gỡ. Chúng tôi trên bờ hô hào kéo xuống bến đứng xem, chỉ trỏ, cười nói. Nói cái gì vậy ta? Lâu quá, hình như tôi đã quên. Nhưng đại khái là chuyện đò bị mắc kẹt... lục bình!

Thật ra có lâu lắc gì lắm đâu, chừng hai mươi năm trước chớ mấy. Vậy mà cứ sau một khoảng thời gian tôi bôn ba xuôi ngược, lúc trở về quê bất chợt giật mình, bỡ ngỡ nhận không ra. Hình ảnh con đò dọc ngày xưa không còn nữa, thay vào đó là xe chạy trên con lộ nhựa nhẵn bóng nối thông từ xã lên huyện, lên tỉnh. Nếu còn chăng, đò dọc chỉ dùng để chuyên chở, vận chuyển hàng hóa vào sâu trong kênh rạch mà xe không vào được. Theo đó, dòng điện cũng lần theo về tỏa sáng từng nhà, nhấp nháy ở các quán cà phê ven sông. Lục bình cũng chẳng còn trôi nổi vô định rày đây mai đó, cái thứ thân phận hoang dại, nghèo nàn luôn gây cản trở như người đời nhận định, mà bỗng chốc rũ bỏ kiếp nghèo biến thành những mặt hàng mỹ nghệ sang trọng xuất khẩu sang tận trời Tây, từ sọt, chậu, bình hoa, giỏ xách, thảm..., đến kệ sách, ghế salon, giường ngủ. Duy chỉ có tiếng gọi đò trôi dài, âm vang trên sông quê trước lúc hừng đông là mất - mất vĩnh viễn như không bao giờ tìm thấy má tôi trên cõi đời này nữa!

Bây giờ, nhà tôi vẫn nằm cặp con sông xáng Ba Hồ, ngay chỗ cũ, nhưng dời sâu vào trong một chút để làm con lộ nhựa. Nhiều lúc thèm gọi đò nhưng có con đò dọc nào nữa đâu. Chỉ có trong sâu thẳm miền ký ức trẻ con vọng về tiếng gọi tha thiết của má: “Đò ơi! Ghé đây nè... e...”.


Hồ Kiên Giang




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2114 Posted : Saturday, May 22, 2021 12:08:10 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)


UserPostedImage


Khúc nhạc_Thơ

Ta gửi hồn Ta trong ý thơ

Trôi theo vạt nắng thoáng xa mờ

Trời cao bãng lãng vầng mây trắng

Mặt đất rêu mòn vương bóng tơ

Khúc nhạc muôn thu dường lắng đọng

Tơ lòng dệt mãi vẫn hoài mơ

Đa mang cho lắm nên hồn vẫn...

Khắc khoải ngàn năm nỗi đợi chờ...



tú_Yên





UserPostedImage
CỏThơm  
#2115 Posted : Saturday, June 5, 2021 1:42:01 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 194
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Tại Áo Người Mà Tôi Mê Thơ


Tại áo người mà tôi mê thơ
Vần âm mang từ đó đến giờ
Đã bốn mươi mùa thu lá đổ
Đầy sân vườn nhẹ nắng vàng tơ

Nghìn tứ thơ về vương vấn ai
Tà sau vạt trước dáng trang đài
Của thuở đầu húi cua mười sáu
Chung trường chưa lần dám so vai

Tại áo người mà tôi mê thơ



Cố Quận




UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2116 Posted : Tuesday, June 15, 2021 12:49:10 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 65
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)
🦋💚🦋💚🦋💚🦋💚🦋🦋💚🦋💚🦋💚🦋💚🦋

Người hàng xóm – Thơ: Nguyễn Bính


Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có giậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

🦋 Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Có con bướm trắng thường sang bên này.
Bướm ơi, bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.
Mắt nàng đăm đắm trông lên...
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!

Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi,
Tôi buồn tự hỏi: Hay tôi yêu nàng?
- Không, từ ân ái nhỡ nhàng,
Tình tôi than lạnh gio tàn làm sao!

Tơ hong nàng chả cất vào,
Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.
Mấy hôm nay chẳng thấy nàng.
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong.

Cái gì như thể nhớ mong?
Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng!
Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng,
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa.

☔️ Tầm tầm giời cứ đổ mưa,
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!
Cô đơn buồn lại thêm buồn...
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

Hôm nay mưa đã tạnh rồi!
Tơ không hong nữa, bướm lười không sang.
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,
Rưng rưng... tôi gục xuống bàn rưng rưng...

Nhớ con bướm trắng lạ lùng!
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.
Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.

🌼️ Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!


Nguyễn Bính

(Trúc Bạch, 12 tháng 7 năm 1940)




Bướm Trắng - Tuấn Vũ | Nhạc: Anh Bằng, Thơ: Nguyễn Bính | Asia 49

🌿Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Ϲách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

Giá không có dậu mồng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Một con bướm trắng thường sang bên nàу.

🦋 Bướm ơi! Bướm hãу vào đâу!
Ϲho ta hỏi nhỏ câu nàу chút thôi...
Tại sao không thấу nàng cười,
Khi hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.

Mắt nàng đăm đắm trông lên...
Ϲon bươm bướm trắng về bên ấу rồi!

☔️ Hôm naу mưa đổ sụt sùi
Tơ không hong nữa bướm lười không sang
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn rưng rưng..


🌼️🦋💚🌼️🦋💚🌼️🦋💚 🌼️🦋💚






UserPostedImage
Hạ Vi  
#2117 Posted : Saturday, June 26, 2021 11:20:33 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,588
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10700 time(s) in 2632 post(s)

UserPostedImage


..Từ Ai trong VIỆT NGỮ



Tôi còn nhớ thuở xưa, hồi còn là chú thanh niên chưa đầy hai mươi tuổi, vốn thích nhạc từ nhỏ, tôi đã ngẫu hứng sáng tác một bản nhạc xinh xinh, lời ca như sau:

Sương mùa thu sao trắng xoá,
Mây mùa thu xa vắng quá
Ai nhớ ai mắt say mơ màng
Rằng ai có thấu ai chăng


Khoái chí hát đi hát lại dăm ba lần tôi bỗng khám phá thấy mình khéo sử dụng từ ai một cách thật ngộ nghĩnh:

Ai nhớ ai mắt say mơ màng

Từ ai thứ nhất chỉ chính mình – ngôi thứ nhất. Từ ai thứ hai chỉ ngôi thứ hai - người mình yêu trộm nhớ thầm!

Thế là từ đó nhường như tiềm thức tôi bỗng chú ý nhiều đến từ ai! Và tôi đã gặp được một trường hợp khá ngô nghĩnh làm sao, kỳ thú làm sao của từ ai!

Câu chuyện như sau:

Thuở thế hệ tôi còn là vị thành niên - khoảng thập niên ba mươi, bốn mươi của Thế Kỷ Hai Mươi - người con dâu mới về nhà chồng lung túng, ngượng ngùng nhiều thứ lắm.
Ngày đó mới về làm dâu, cứ vào bữa ăn là thím tôi đã ngồi cạnh nồi cơm để phục vụ sới cơm cho mọi người.

Nhiều lần bà tôi giục:
- Con cùng ăn với cả nhà đi chứ!

Thím tôi đáp :
- Dạ con ăn sau một chút cũng không sao!

Khi mọi người vừa ăn xong bữa, thím tôi vội thực hiện công việc dọn dẹp bát đũa, rửa bát đũa, xếp gọn bát đũa đâu vào đây! Rồi lẻn về thẳng nhà ! cũng ở xóm gần đấy thôi ăn cơm với mẹ, với anh chị em. Cứ như vậy khoảng một tháng trời!

Hôm đó, vì đương là vụ mùa, chú tôi phải miệt mài cày gấp phần ruộng chuẩn bị gieo mạ cấy lúa, không về ăn cơm trưa. Tôi đã phụ một tay giúp thím cùng mang phần cơm canh ra đồng, để chú tôi lúc nghỉ ăn trưa, ăn cơm trên gò cỏ gần đấy.


UserPostedImage



Thuở đó nàng dâu mới về nhà chồng đâu đã dám âu yếm xưng hô "anh anh, em em" như các cô các cậu ngày nay!

Chú tôi đương cày ruộng, biết là thím tôi đã mang cơm tới, nhưng vờ như không biết, cứ cắm cúi tiếp tục cày để xem thím tôi ứng xử ra sao!

E lệ kín đáo theo dõi, khi thím thấy chú cày gần đến khoảng gò có mình đứng, thím ỏn ẻn lên tiếng vừa đủ cho chú tôi nghe:

- Này ai ơi lên sơi cơm!

Chắc là chú tôi có kín đáo mỉm cười rồi mới cất tiếng:

- Ai mời ai lên sơi cơm đấy?

Tôi thoáng thấy thím tôi nguýt yêu một cái rồi mới đáp - vẫn bằng giọng ỏn ẻn dễ thương:

- Ai mời ai lên sơi cơm chứ còn mời ai nữa?!


Tôi hốt nhiên thấy được hết nét ngộ nghĩnh kỳ thú của từ ai trong tiếng Việt.

Sau đó, suốt thời gian dậy ở Đại học Sư Phạm Saigon, Đại học Văn Khoa Saigon, Đại học Vạn Hạnh, tôi đã kể giai thoại về từ "ai" và chỉ rõ cho giới trẻ sinh viên thấy nét nghộ nghĩnh
kỳ thú của từ ai trong trường hợp trên.

Ai mời ai lên sơi cơm chứ còn mời ai nữa!


Cùng một từ ai mà lần lượt chỉ cả ba ngôi. Từ ai thứ nhất chỉ chính mình – ngôi thứ nhất! Từ ai nhứ hai chỉ người mình đương nói với - tức ngôi thứ hai! Từ ai thứ ba chỉ ngôi thứ ba - một người nào đó!

Ai mời ai lên sơi cơm chứ còn mời ai nữa!

Quả thực tôi vẫn luôn cảnh giác giữ cho lòng hết sức bình thản, nhũn nhặn, nhưng mặc dù đã cố hết công tìm kiếm, tôi vẫn chưa tìm ra được một ngoại ngữ nào có được trường hợp một từ ngộ nghĩnh dễ thương như từ ai trong Việt ngữ!



DOÃN QUỐC SỸ




UserPostedImage
Cỏ Thơm  
#2118 Posted : Friday, July 16, 2021 12:06:47 PM(UTC)
Cỏ Thơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 10/11/2012(UTC)
Posts: 65
Location: Hạvi nè

Thanks: 48 times
Was thanked: 63 time(s) in 28 post(s)


UserPostedImage


Vứt Gánh Thơ!


Hỡi ơi! Nửa gánh thơ tôi
Đành sao vứt lại để rồi áo đi
Cho vần chữ nặng sân si
Cho tình nghĩa hết cả thì tình tan

Bây giờ áo đã ra đàng
Mai đây bóng sẽ xa ngàn...ngàn xa
Mùa sau dưới ánh trăng ngà
Tiếng thơ ngồi nhớ hai tà áo ai



Cố Quận



UserPostedImage
Duy An  
#2119 Posted : Thursday, August 12, 2021 12:46:17 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,282

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
UserPostedImage


Cầu quay Khánh Hội


Tim Nguyễn


“Chừng nào cầu quay nọ thôi quay
Thì qua với bậu mới đứt dây cương thường”.


Câu ca dao thề non hẹn biển của đôi lứa yêu nhau thuở người Pháp xây dựng những cây cầu sắt có thể quay ngang hoặc nâng thẳng lên cho tàu bè qua lại trên các con sông huyết mạch giao thông. Dân xứ mình hồi đó không hiểu nguyên lý vận hành của nó nên gọi chung chung là cầu quay cho tiện. Cứ nghĩ những cây cầu sắt của công ty Eiffle xây dựng tồn tại mãi theo thời gian nên câu ca dao trên xuất hiện từ dân thương hồ sống rày đây mai đó, dùng để minh chứng cho lòng thuỷ chung sắt son.

Cầu quay nọ là cầu nào? Cầu Quay Khánh Hội hay một cây cầu quay nào khác? Vì vậy, trước khi tìm hiểu Cầu Quay Khánh Hội, tôi muốn dẫn các bạn về miền Tây tìm đến Cầu Quay ở thành phố Mỹ Tho. Mỹ Tho ngày xưa khi còn là làng Mỹ Chánh cũng có cây cầu như vậy trên sông Bảo Ðịnh thay thế bến đò Ðiều Hoà đã không kham nổi lượng khách bộ hành và xe cộ (xe ngựa, xe bò). Năm 1890, chính quyền Pháp cho xây cây cầu sắt theo kiểu của công ty Eiffle, riêng nhịp giữa, nhờ một trục quay kéo dây cáp ở hai đầu, được nâng lên cao khi có tàu lớn qua lại, nên người dân gọi là Cầu Quay. Ðúng ra phải gọi nó là “Cầu Nâng” (pont livis) mới hợp lý. Cây cầu này bị sập hồi năm 1938, người Pháp cho xây lại cầu bê tông cốt thép cho phù hợp với hệ thống giao thông đường bộ thuở ấy.

Tôi nghĩ, ngày xưa cây cầu này chắc có một cái tên tiếng Pháp nhưng tìm hiểu đến giờ vẫn chưa tỏ tường. Cái tên Cầu Quay xuất hiện ngay từ lúc nó được xây dựng, mặc dầu cho đến ngày nay nó không còn nâng lên nữa và được xây lại vài lần nhưng dân chúng già trẻ lớn bé ở vùng này vẫn gọi là Cầu Quay. Cách nay khoảng 30 năm, có lần tôi về Mỹ Tho bằng xe đò, anh lơ xe đứng đánh đu ở cửa, hô to: “Trạm Cầu Quay, Ngã tư Giếng Nước xuống xe nha bà con”.


Cầu Quay ở vùng Khánh Hội, Sài Gòn bắc qua đầu vàm rạch Arroyo Chinois người Việt gọi là Bến Nghé, người Triều Châu gọi là kênh Tàu Khậu phát âm thành “thổ khố” (khu nhà gạch), đọc trại âm thành Tàu Hủ, người Pháp cho xây chiếc cầu Le Pont Tournant và được dân chúng gọi đúng cái tên theo nghĩa của nó. Dân địa phương gọi là Cầu Khánh Hội hay Cầu Quay Khánh Hội vì vị trí của nó là cửa ngõ bước vào vùng đất Khánh Hội thuộc huyện Tân Bình, tỉnh Gia Ðịnh (nay là Quận 4).


Khi Pháp chiếm Gia Ðịnh, vùng đất này ngoài khu nhà gạch của người Tàu làm nghề buôn bán ra, phần đất còn lại là đồng không mông quạnh, sông rạch chằng chịt. Phía ngoài đầu vàm là vài kho chứa gạo hoặc ngũ cốc làm bằng gỗ, trữ hàng xuất cảng theo sông Sài Gòn ra biển. Các Thống đốc quân sự Pháp nhanh chóng cho xây khu thương cảng Sài Gòn (Port de Commerce de Saigon) để làm đầu mối thông thương với quốc tế. Việc xây dựng cảng được giao cho hãng vận tải biển Messageries Impériales. Các bến cảng đầu tiên được xây dựng tại Bến Thành, gần hải quân công xưởng Sài Gòn (Arsenal de Saigon hay Ba Son), trong thời gian gần một năm.

Ðể tiện việc quản lý thương cảng, ngày 4 tháng 3 năm 1863, tòa nhà trụ sở của hãng Messageries Impériales cũng được xây dựng để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và nơi bán vé tàu. Năm 1871 Messageries Impériales đổi tên thành Messageries Maritimes. Khu thương cảng ngày càng được mở rộng cho đến đầu thế kỷ 20 các bến cảng và nhà kho vẫn còn cất bằng gỗ, cho đến năm 1930 mới được thay bằng bê tông cốt thép, mái fibro tường gạch kiên cố.

Trước khi có Cầu Quay thì đã có một cây cầu do Pháp xây dựng bắc qua rạch Bến Nghé, bên kia là Bến Vân Ðồn thuộc khu Vĩnh Hội. Ðó là cầu Messagies Maritimes. Cầu này được coi là một trong những cây cầu cổ xưa nhất tại Sài Gòn, do công ty vận tải biển Messageries Maritimes của Pháp bỏ vốn xây dựng vào năm 1893-1894. Cầu xây một nhịp theo kiểu vòng mống cho nên dân gian gọi là Cầu Mống, có nhiệm vụ nối cảng với thành phố.

Ðến đây, tôi tự hỏi: “Tại sao đã có cầu Messagies Maritimes cách không xa vàm Bến Nghé nhưng người Pháp vẫn thêm xây cầu Pont Tournant (Cầu Quay)”?

Cầu Messagies Maritimes kiểu dáng rất đẹp, đường cong mềm mại nhưng lại khá cao. Ðây là một trở ngại lớn với các tài xế xe kiếng, xe song mã. Họ phàn nàn đường dốc cao gây nguy hiểm cho ngựa và hành khách trên xe.

Thật ra, kế hoạch xây cầu Pont Tournant có từ năm 1895, không phải vì chính quyền nhận quá nhiều phàn nàn từ những tài xế xe ngựa qua Cầu Mống mà vì lợi ích từ việc vận chuyển hàng hoá bằng các toa xe hàng sử dụng đường ray xe lửa từ cảng về ga xe lửa Sài Gòn. Tuy nhiên, kế hoạch xây cầu lại gặp sự phản đối mạnh mẽ từ phía các chủ tàu buôn ở Chợ Lớn. Họ sợ khi cây cầu hoàn thành sẽ làm giảm nhu cầu vận chuyển bằng phương tiện tàu bè, thiệt hại đến lợi ích của họ. Kế hoạch xây cầu đành đình trệ đến năm 1902.

Nhà nghiên cứu Ðông Dương Jean Baptiste Paul Beau, ghi nhận kế hoạch việc xây Cầu Quay trong Situation de l’Indo-Chine de 1902 à 1907 (1908) như sau: “Cầu quay trên Arroyo-Chinois ở Sài Gòn được đưa vào chương trình làm việc theo nghị định ngày 12/11/1900 nhằm cải thiện thương cảng Sài Gòn. Công ty Société de constructions de Levallois-Perret xây dựng theo các điều khoản của hợp đồng đã được phê duyệt vào ngày 06/07/1901. Cầu được xây dựng cao hơn mặt đường (đương nhiên), cầu kết nối thành phố với cảng, dành cho tuyến đường sắt, vận tải và người đi bộ với một nhịp quay dài 49.20m, có trục xoay vòng theo chiều ngang trên một trụ cột trung tâm. Cầu rộng 7.10m, gồm một đường rộng 5.10m, hai bên có hai làn đường dành cho người đi bộ rộng 1m. Công trình bắt đầu vào tháng Giêng năm 1902 và được hoàn thành vào tháng 7 năm 1903. Chi tiêu lên tới 382,755.12 francs cho chiếc cầu và 11,166.12 francs cho các phần liên quan…”.

Cầu quay xây trong một năm thì hoàn thành. Năm 1904 được đưa vào sử dụng. Tuy nhiên chục năm sau đó, chính quyền nhận được nhiều chỉ trích, khiếu nại do chân cầu quay quá tệ và rất nguy hiểm để điều hướng và con kênh ở hai bên nó quá hẹp để cho số lượng lớn các tàu ra vào. Do sức ép từ các chủ tàu ghe và nhiều bài viết phê bình từ báo chí, năm 1930, họ phải chi ra 4,100 đồng bạc Ðông Dương để chuyển nhịp cầu quay thành nhịp cố định. Còn việc lắp đặt tuyến đường sắt vào bến cảng trên cầu đến năm 1940 mới thực hiện được, do khối lượng hàng hoá xuất nhập cảng ngày một nhiều hơn.

Sau khi Pháp rút quân năm 1954, Cầu Quay được đổi tên là cầu Bắc Bình Vương. Ðến năm 1961, nó bị phá bỏ và thay thế bằng bê tông cốt thép gọi là Cầu Khánh Hội. Vào năm 2006, để xây dựng đường hầm sông Sài Gòn, cầu Khánh Hội lại bị phá dỡ để xây mới cao hơn như hiện nay. Cầu mới có chiều dài 167m với 4 nhịp, rộng 22m, đáp ứng bốn làn xe lưu thông và được đưa vào sử dụng từ ngày 24/01/2009.

Trẻ Magazine
UserPostedImage
Duy An  
#2120 Posted : Tuesday, September 14, 2021 10:32:20 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,282

Thanks: 211 times
Was thanked: 696 time(s) in 508 post(s)
Hồ Trường An, tác giả tác phẩm


UserPostedImage
Nhà văn Hồ Trường An (1938-2020)


Hồ Trường An là một tác giả có sức sáng tác sung mãn và liên tục có mặt trong cả 20 năm văn học miền nam và hơn 30 năm văn học ở hải ngoại. Vừa là nhà văn, nhà thơ, người nhận định văn học và âm nhạc, những tác phẩm phong phú và đa dạng của ông đã tạo thành một vóc dáng tác giả có nhiều cống hiến cho nghệ thuật.

Hơn thế nữa, đời sống thực tế và đời sống văn chương của ông cũng có nhiều chi tiết thú vị. Cũng như giữa tác giả và tác phẩm có nhiều liên hệ đáng chú ý.

Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang sinh năm 1938 tại Long Ðức Ðông, tỉnh Vĩnh Long và hiện sinh sống từ năm 1977 ở thành phố Troyes, Pháp cho tới bây giờ. Trước năm 1975, ông học Ðại Học Dược khoa nhưng chưa tốt nghiệp và động viên Khóa 26 sĩ quan trừ Bị Thủ Ðức rồi phục vụ tại hai chi khu Trị Tâm và Lái Thiêu thuộc tiểu khu Bình Dương từ năm 1969 đến năm 1971. Sau ông thuyên chuyển về Ban Thông Tin Báo Chí Quân đoàn III tại Biên hòa tới khi mất nước. Trong khoảng thời gian này ông vẫn liên tục tham gia sinh hoạt văn nghệ và là cộng tác viên của nhiều tờ báo xuất bản tại Sài Gòn trước ngày 30 tháng tư năm 1975 như tranh Thủ, Tiền Tuyến, Tin Sách, Bách Khoa, Ttin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Bút Hoa, Vấn Ðề, Văn Học…

Khi tị nạn tại Pháp, ông từng là Tổng thư ký tòa soạn các tập san Quê Mẹ, Làng Văn và là cộng tác viên của các tạp chí như Văn, Văn học, Thế kỷ 21, Gió Văn, Hợp Lưu, Lửa Việt,…

Ông ký rất nhiều bút hiệu : Ðào Huy Ðán, Ðinh Xuân Thu, Ðông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Ðoàn Hồng Yến, Ðặng Thị Thanh Nguyệt.

Ông là em ruột của nhà văn Nguyễn ThịThụy Vũ và cha ông là nhà thơ Mặc Khải, tác giả của tập thơ Phấn Nội Hương Ðồng

Ðặc biệt, ông hay tự xưng mình là Bà Già Trầu với những chi tiết khá thú vị. Sau vài tháng khi in truyện dài Lớp Sóng Phế Hưng thì độc giả rất ái mộ vì theo họ, Hồ Trường An đã rất thành công trong việc mô tả đời sống ở nông thôn miền Nam và tặng cho ông cái tên “ Bà Gìa Trầu” Trong bức thư gửi cho nhà văn Trương Anh Thụy, giám đốc Tủ Sách Cành Nam ông viết: “lúc đầu tôi hơi giận nhưng nghĩ lại đó là cái vinh dự cho đời cầm bút. Vì mình đã xây dựng Bà Già Trầu trong tác phẩm bằng cả tâm cơ nay được độc giả chú ý đến rồi trộn lẫn tác giả vào nhân vật, há không phải là điểm thành công hay sao?”

Có người khác thì cho rằng Hồ Trường An dùng cái biệt danh Bà Già Trầu vì ông viết truyện ngắn “Bà Già Trầu Cảm Khái” hay và sống thực quá nên bạn bè gọi đùa ông và riết rồi ông cũng tự nhận mình với cái tên ấy. Bà già trầu là hình ảnh của một bà già quê mùa chất phác kể lại những “vận sự” của một người tị nạn sống ở Pháp.

Ký giả BT (tức ký mục gia Bùi Bảo Trúc) đã xếp hạng Hồ Trường An trong số báo xuân năm 1988 của tờ Diễn Ðàn Tự Do là “bà già trầu nhất”. Nhà văn Võ Ðình cũng đồng ý. Ðúng vậy. Trong những cây bút gốc Nam hiện nay không thiếu các “bà già trầu”. Chơn chất như Võ Kỳ Ðiền, mạnh mẽ như NguyễnVăn Sâm, sôi động như Kiệt Tấn, trẻ trung như Ngô Nguyên Dũng.. không có cây bút Nam Kỳ nào mà không có ít nhiều cái bóng dáng le te của một “bà già trầu”. Nhưng Hồ Trường An: “bà già trầu” nhất, mặn mà nhất, tía lia nhất, thiệt nhất. Chính ông cũng đã khơi khơi khai ra: “bạn bè tôi ưa chế diễu rằng tôi thưởng thức văn nhghệ giống như các bà già trầu, giống các cô sến. Tôi không chối cãi điều đó!”

Hồ Trường An còn có một biệt danh nữa cũng độc đáo không kém là nhà văn miệt vườn. Tác giả Hồ Trường An có văn phong rất đặc biệt của những tác giả miền Nam. Trong văn học Việt Nam có rất nhiều người có văn phong như vậy như bắt đầu bằng Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh rồi đến Phi Vân, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc, Xuân Vũ, Nguyễn Văn Sâm ,.. và sau này ở hải ngoại như Kiệt Tấn, Nguyễn Ðức Lập, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Tấn Hưng…

Hồ Trường An đã viết nhiều về chân dung nhân vật gốc miền Nam với tính tình và cuộc sống của những người di dân từ vùng ngoài vào khai hoang lập nghiệp. Ông viết tỉ mỉ về lối sống , từ miếng ăn thức uống đến quần áo chưng diện, trong những tiểu thuyết của ông đã phản ánh một cuộc sống với nhiều chi tiết tuy có lúc tỉ mẩn chi ly nhưng thú vị. Nhân vật của ông, từ ngôn ngữ đến vóc dáng, có nét đặc thù khác với các nhà văn miệt vườn khác. Văn phong của ông tràn đầy cảm giác và có người đã nói rằng khi đọc những trang sách của ông người đọc có cảm tưởng đang ăn một miếng mứt me, vừa ngot vừa chua với cái ê răng thú vị…

Từ truyện dài Phấn Bướm xuất bản năm 1986 tới nay, ông đã trình làng gần 60 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm 22 truyện dài, 12 tập truyện ngắn, 22 tác phẩm biên khảo nhận định văn học, âm nhạc và chân dung tác giả. Ông còn là thi sĩ với hai tập thơ Thiên Ðuờng Tìm Lại (2002) và Vườn cau Quê Ngoại (2003).

Tác phẩm mới nhất mà ông xuất bản trong năm nay là “Núi Cao Vực Thẳm” chân dung của 9 vóc dáng văn học Việt Nam thế kỷ 20 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương in và phát hành. Mặc dù tháng 11 năm 2008 ông bị stroke đứt mạch máu não bị liệt nửa người mà năm nay vẫn còn cố công in sách. Cầu mong cho ông sớm được bình phục.

Những năm đầu thập niên 80 khi tôi cũng vừa bắt đầu viết lách thì qua tạp chí Làng Văn mà ông là tổng thư ký có liên lạc thư từ với tôi. Thư ông viết khá dài và biểu lộ nhiều tình cảm. Có lần khi nói chuyện bằng điện thoại tôi than là bị thiếu ngủ mà ông lại tưởng tôi bị mất ngủ nên gửi cho tôi những toa thuốc tàu và cả những món dược thảo để trị bệnh. Tôi phải cải chính là tôi không bị bệnh mất ngủ mà bị thiếu ngủ vì thời gian này tôi vừa đi học vừa đi làm nên không có đủ thời giờ để ngủ. Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn lòng tốt của ông đối với bạn bè.

Năm 1982 thì tôi và ông cùng cộng tác với tạp chí Việt Chiến của các anh Ngô Vương Toại, Giang Hữu Tuyên và Nguyễn Ðình Hùng. Có một số báo đăng truyện ngắn “Tím Mồng Tơi” của ông và bài thơ “Mầu Tím Mồng Tơi” của anh Giang Hữu Tuyên. Cả hai bài đều làm tôi thích thú vì cũng có nhiều điều để nói về những dậu mồng tơi này lắm. Ông viết thư hỏi tôi có ý nghĩ gì về bài viết của ông không. Tôi trả lời rằng đã có nhiều người viết về dậu mồng tơi thí dụ như trong thơ Nguyễn Bính chẳng hạn. Nhưng chưa thấy có bài nào tạo cho tôi một cảm giác gần gũi và làm sống lại những ký ức của riêng tôi mà từ lâu tôi đã quên như bài viết của Hồ Trường An và bài thơ của Giang Hữu Tuyên. Cả hai nhắc tôi nhớ lại những ngày khốn khó ở quê nhà, ở trong trại tù cải tạo mà lá mồng tơi là món rau “sang trọng” nhất lúc đó. Và tôi hứng lên hứa với ông là sẽ viết để kể lại bằng bút mực. Ông viết sẽ chờ để đọc. Nhưng tôi hay quên và cũng lười nên thất hứa khiến mấy năm sau gặp lại ông còn trách tôi hứa lèo…

Hồ TrườngAn là một chân dung nghệ sĩ đa diện. Như là một thi sĩ, ông đã in hai tập thơ và thơ của ông cũng như văn xuôi đầy ắp những tình cảm và với ngôn ngữ thật bình dị nhất là những bài thơ bảy chữ, tuy có phong vị cổ điển nhưng ý tình đơn sơ thành thật. Trong tập thơ: “Vườn Cau Quê Ngoại” ông viết tặng cho những bằng hữu thân thuộc bằng tất cả những thiết tha của tâm cảm mình. Ông viết “Trại Lá Chầm” để tặng cho chị ruột của mình là nhà văn Thụy Vũ để nhớ lại những ngày sống dưới mái lá chầm ở làng Tân Giai tỉnh Vĩnh Long. Ông cũng viết “Khúc Hát Thương Hồ” để tặng hương hồn nhà văn Nguyễn Văn Ba, một người đã thực hiện tuyển tập những cây bút miền Nam và cũng là một nhà văn miệt vườn như ông….

Thơ của ông đầy những bóng dáng của quê xưa của làng cũ. Và đó là nét riêng biệt của ông. Thí dụ như trong bài “Nhớ đất Tiền Giang” tặng nhà thơ Phương Triều:

“.. năm cùng tháng tận trạm thời gian
đánh dấu từng xâu chuỗi mộng tàn
nhưng ngọn tàn đăng vùng ký ức
đưa tôi về viếng đất Tiền Giang.

Hồi chuông kim cổ Vĩnh Tràng ơi
Chùa đất Mỹ Tho nhạt bóng rồi
Trái mận hồng đào xuân thiếu nữ
Như bình minh sáng rực lòng người

Cồn Phụng Cồn Rồng soi bóng nước
Ai qua Rạch Miễu nhớ con đò?
Thương hồ bao mảnh đời xuôi ngược
Thắm mặn ngày xanh đĩa cá kho

Cá úc cá duồng còn béo lắm?
Hến cồn có ngọt tộ canh rau?
Vĩnh Long quà tặng chàng thi sĩ
Trái mận da người dòn ngọt sao…”

Thơ của ông qua những địa danh và những đặc sản địa phương đã nhắc chúng ta đến một quê hương của đồng bằng sông Cửu Long hiền hòa trù phú. Thơ của ông đẹp nhưng lại có người phê bình rằng những hình ảnh ấy quen thuộc quá và đã thành một khuôn sáo thi ca nên thơ của ông chỉ tha thiết một giọng và không có nhiều mới lạ làm bất ngờ người đọc. Mỗi một nhận định như thế đều có những lý lẽ để chứng minh. Tôi chỉ đọc thơ bằng cái cảm của mình và không thích phân tích tìm tòi cái hay cái dở như một nhà phê bình. Tôi đọc thơ Hồ Trường An để nhớ lại những buổi chiều qua bắc Mỹ Thuận của một chuyến vượt biển, lòng nao nao buồn khi nhìn những bè lục bình trôi phăng phăng theo triều nước xanh in bóng mây trời và thấy mình cô đơn xiết bao trong thiên nhiên. Lúc ấy , thời gian và không gian như lắng đọng vào nhau thành một giao hưởng nào ngân nga không dứt trong lòng tôi. Ðọc thơ Hồ Trường An tôi như nghe lại những giao hưởng ấy.

Thơ của ông không chỉ có toàn về ký ức mà còn có nhắc nhở cho hiện tại và tương lai . Trong bài thơ: “Khai từ cho một quyển sách” Hồ Trường An viết:

“Bỗng tiếng thổ ngơi xưa nhắn nhủ
trong chiều hoang vắng giữa lòng đêm
Từng phen gục ngã, từng phen chết
xin ngẩng đầu lên hãy đứng lên

Hãy nhớ mảnh ao dòng nước mát
Hãy yêu vườn rộng rẫy xanh tươi
Có nghe vết cháy hồn đau cũ
Ngời vết son trang điểm cuộc đời

Tươi mãi trong lòng bóng khóm tre
Vàng hanh kỷ niệm buổi trưa hè
Ngát thơm ký ức mùa xôi cốm
Sớm nắng còn say lắng tiếng ve.

Nuôi mãi niềm tin qua đất cũ
Ðể còn gốc rễ bám quê hương
Ngẩng đầu thế kỷ huy hoàng đón
Dẫu đã chồn chân mấy chặng đường”


Nuôi mãi niềm tin qua đất cũ/ để còn gốc rễ bám quê hương. Thơ của ông không phải chỉ nhắc mãi những kỷniệm của đời sống đã qua trong qúa khứ. Mà thơ của ông còn hướng về tương lai để tin tưởng vào những chặng đường sắp tới.

Thơ của ông nhắc đến nhiều người thân, gửi đến nhiều thân hữu tâm giao và là những ngôn từ thiết tha thành thật nhất của ông. Hình ảnh gây cho ông nhiều cảm xúc và nhớ thương nhất là hình ảnh của bà ngoại ông, một hình ảnh không bao giớ phai mờ của bài thơ Vườn Cau Quê Mẹ.

Bà ngoại sống lúc thúc trong căn nhà xưa mà hình bóng đã thành quá quen thuộc trong thi ca. Thế mà với tâm cảm đậm đà chứa đựng bên trong, cảnh không còn đơn thuần là cảnh nữa mà gián tiếp phác họa thành môi trường của tình yêu thương của nỗi nhớ mong trong hồn người. Bà quét lá buổi chiều ở hiên ngoài có phải là hành động quét đi ánh trăng trên sân lá như cơn gió quét đi lớp mây giăng của chiều buồn? Vườn cau không phải đáng nhớ từ cái vẻ đẹp và mùi hương mà vườn cau chính là một nhắc nhở đến một cuộc đời của ngoại luôn luôn săn sóc che chở con cháu

vườn cau quê mẹ thời niên thiếu
ươm giữa hồn thơ nét đẹp buồn
ký ức tháng ngày rung bóng lá
thơm hương cau tỏa dưới trăng sương

vườn cau hòa tiếng tim châu thổ
dựng mộ bia sau mái miếu đường
có bóng ma người bao thuở trước
suốt đời bám riết đất quê hương”


Từ tác phẩm đầu tiên in ở hải ngoại, chúng ta có một Hồ Trường An, nhà văn miệt vườn. Thực ra, tôi không thích lắm cái tên “miệt vườn” nghe quê quê làm sao ấy… Nhưng đó lại là một đặc tính rất rõ nét của văn chương Việt Nam ở hải ngoại cũng như một đặc tính khác cũng nổi bật là văn chương nữ giới mà các nhà ghi chép lại văn học sử không thể nào bỏ qua. Có rất nhiều tác giả tự nhận mình là nhà văn miệt vườn và đọc tác phẩm của họ quả thực đã có nhiều tính chất của một đời sống và sinh hoạt khởi đi từ những người di dân đến những nơi đất đai còn hoang vu để xây dựng cuộc sống mới. Tính chất ấy biểu lộ trong nếp sống, trong phong tục, trong ngôn ngữ và cả trong tình cảm, trong tính tình nữa.

Chúng ta hãy bước vào thế giới miệt vườn của nhà văn Hồ Trường An. Trong tất cả các tác phẩm của ông, tác phẩm nào cũng bàng bạc chân dung của một nhà văn miệt vườn.

Tác phẩm đầu tiên mà Hồ Trường An viết và in ở hải ngoại và được tái bản nhiều lần. Ðó là truyện dài Lớp Sóng Phế Hưng. Ông viết truyện này khi văn học Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu khởi sắc với sự góp mặt của các cây bút mới thành danh hợp cùng các nhà văn kỳ cựu của 20 năm văn học miền Nam. Hồ Trường An tuy đã làm báo viết thơ truyện từ trước năm 1975 nhưng những tác phẩm đáng chú ý của ông đều là những tác phẩm mà ông viết sau này.

Truyện dài này có bố cục thật đơn sơ. Nhân vật chính là bà Bếp Luông và các con của bà gồm ba gái hai trai. Gia đình này là một gia đình trung lưu sinh sống ở vùng đất Hóc Hỏa, quận Hỏa Lựu, tỉnh Rạch Giá. Mấy người con với danh tính Hai Cường, Ba Kiểm, Tư Diễm, Năm Nhan, Út Biên đều ở tuổi phải dựng vợ gả chồng và bố cục câu chuyện xoay quanh việc gầy dựng hôn nhân của các chàng trai và các cô gái ấy. Họ sống, họ yêu, họ buồn vui, họ thất vọng và họ hy vọng, tất cả chỉ là những chi tiết đời thường nhưng Hồ Trường An đã làm sinh động với bút pháp đặc thù miền Nam. Tả người hay tả cảnh, cái địa phương tính từ ngôn ngữ đến câu chuyện chuyên chở đã làm rõ ràng hơn cái chân chất của người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ðời sống dân quê đơn điệu như vậy chắc khó có những chi tiết hấp dẫn người đọc? Nhưng tại sao tác phẩm này lại được hâm mộ đến như thế để cúng xôi chè cho cái tên Bà Già Trầu của Hồ TrườngAn?

Có một người rất mê văn Hồ TrườngAn sẽ trả lời cho câu hỏi ấy. Ðó là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông viết: “Muốn đọc Hồ Trường An, ít nhất trong Lớp Sóng Phế Hưng, ta không thể chỉ đọc bằng mắt. Ta còn phải nghe được giọng miền Nam với cách phát âm đặc biệt của nó, với những hình ảnh, những ẩn dụ, ngoa ngôn của nó, mới nghe thì tưởng độc địa ác ôn lắm nhưng đích thực, đôi khi lại bao bọc một tình thương vô bờ. Nói cách khác, đọc Hồ TrườngAn, ta phải đọc thực sự – từ “đọc” theo nghĩa là có phát âm lên cho đến “đọc” theo nghĩa là đọc giữa hai hàng chữ, đọc được ra cái tâm lý cái tâm cảnh của người đang phát ngôn, đang nói chuyện, đọc được ra cái tình yêu trong lối chửi đổng của người mẹ” Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã từ những câu chửi với đầy tính ngoa ngôn nhưng ẩn tàng nhiều tình thương của Bà Bếp Luông khi đề cập đến cậu con trai trưởng của bà là Hai Cường tính tình hay đam mê chuyện gió trăng tình dục,..

Hình như trong tất cả các tác phẩm của ông ông đã xử dụng đối thoại như một phương cách tả tình tả cảnh gián tiếp. Ðối thoại chuyên chở tâm ý của nhân vật và tạo ra nhiều ấn tượng cho người đọc. Những câu chửi, những lời bóng gió, như là gia vị cho một món ăn ngon đã làm đậm đà hơn cho câu chuyện kể. Ðối thoại của ông không có những chữ nghĩa rắc rối mà có khi chỉ là những câu nói thường ngày hay những câu ca dao, những câu tân nhạc , những điệu vọng cổ chen vào. Ðối thoại làm sinh động hơn cái sinh hoạt vốn đã thầm lặng của đời sống dân quê

Hồ Trường An tả người với con mắt quan sát của người thích cái đẹp và tìm sự sắc sảo trong cái tỉ mỉ nhỏ nhặt. Tả cô gái đang yêu, ông tả luôn cả cách trang sức, cả cách ăn mặc, cách đi đứng, cách nói chuyện. Và như thế vô tình ông đã phác họa một cách gián tiếp tình yêu của nhân vật này. Tả cảnh, ông đã mang tấm lòng của ông để nhìn vào thiên nhiên để cảnh vật vô tình mang theo những tình ý của người. Tôi nghĩ Hồ Trường An là người lạc quan nên ông nhìn cuộc đời bằng sự bình hòa xuề xòa trong phong cách văn chương. Ông rất khác với nhà văn Nguyễn Bá Trạc: uống nước mưa ở Mỹ đắng cả mồm”. Ông ở Pháp nên bằng lòng với giọt mưa châu Âu rơi xuống thành phố Troyes nơi ông cư ngụ một chút mát lòng..

Ông tả cảnh tả người đẹp qúa như vậy có làm cho người đọc thấy sự đơn điệu không trong nghệthuật của ông?

Tôi nghĩ không có sự đơn điệu, mà trái lại. Thí dụ như về giới tính và ông đã đề cập đến trong truyện dài Hợp Lưu mà nhà văn Võ Phiến đã viết trong bài tựa cho tác phẩm này. Ông viết rất bóng gió nhẹ nhàng:

“ Trong Hợp Lưu thỉnh thoảng gặp một cảnh ái ân, đôi khi là một cảnh ái ân nồng nàn, tôi sắp sửa ngại ngùng thì đã nghe đâu đó lời chị Liên ôn tồn bảo Quế: “Em hãy tìm cái Chân trong Vọng đi (..) Em Chấp trước rồi em ạ,,” Tôi bẽn lẽn trở về chỗ nhát gan của mình.

Hồ Trường An không Chấp trước. Anh không ngại các bộ phận thân thể, các hoạt động sinh lý mà người đời kêu là bẩn thỉu. Anh viết về những cái ấy rất tự nhiên, khơi khơi, như viết về chuyện hò hát trên sông, trên rạch, về bướm bay chim hót trong vườn. Anh không xem cái gì là bẩn thỉu, cái gì là trong sạch cao quí. Ðã chấp nhận được cái xấu lẫn cái tốt, cái ác lẫn cái thiện, chấp nhận đồng hóa ta với người, cởi mở vui vẻ.. thì nghiệt ngã làm chi với chính thân xác của mình? Dù cho cái thân xác ấy có những lúc nhiễu sự đòi hỏi lắm trò..”

Có phải Hồ Trường An là người đồng giới tính? Trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Lưu Diệu Vân trên trang mạng Da Màu, Hồ Trường An đã trả lời rất thành thực về giới tính của mình. Ông tâm sự:

“Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là một lời tự thú trong buổi tàn thu của cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm, trước khi đi ngủ tôi luôn luôn tự hỏi: sáng mai mình có thức dậy được không đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn? Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nho nhỏ nào chăng?

Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng tình dục của mình là một hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân. Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chính gốc, tôi ngang nhiên sống chung với đương sự tới nay kể ra cũng đã 30 năm.. Một phần là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ VănÁi (nhà báo/ nhà thơ) nó nỡ đem tâm sự của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris tôi cũng dắt người bạn lòng của tôi theo. Ðương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi nhưng cái tác của hắn lớn hơn tôi khá nhiều.”

Tác phẩm Hợp Lưu có phải là tác phẩm viết về những người đồng tính? Ông viết: “Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay tên Quế phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi vào năm 1967, bạn tôi tên Ðỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện có tựa là “Vết Hằn Rướm Máu” do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó ở hải ngoại vào năm 1979 thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỹ sư thủy lâm có viết quyển “L’Enfer Rouge, Mon Amour” do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra “Hỏa Ngục Ðỏ, Mối Tình Tôi” kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời gian hai đứa bịCộng Sản giam cầm. Ðúng như cô Vân nghĩ, hình như những cây bút gay như Ðỗ Quế Lâm và Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt như Hồ Trường An, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như Hồ Trường An. Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai Việt và anh chàng gay quý tộc Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên 1980 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song cũng có nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể anh Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tập san văn chương Văn tại sao có thể đăng từng kỳ những chương sách dơ dáy nhớp nhúa của quyển Hợp Lưu?”

Không những Hồ Trường An ngoài viết truyện làm thơ còn viết nhận định về văn học và những ký sự phác họa chân dung các tác giả trong văn học Việt Nam rất sinh động đầy chất sống thực. Ông đã phác họa những chân dung văn học như một cách thế làm sống lại một thời kỳ văn học đã qua nhưng để lại nhiều giai thoại nhiều kỷ niệm. Thí dụ như đã viết Giai Thoại Hồng để kể cho những người không biết tò mò đọc và tìm kiếm một cách thích thú những điều sẽ biết về những nhà văn nữ thí dụ như cách ăn quà vặt và đấu láo với nhà thơ Hoàng Hương Trang hay tổ ấm tình yêu một thời của nữ thi sĩ Tuệ Mai và “ôngđạo” Phạm Thiên Thư hay phong cách nho phong sang cả của nhà thơ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội và nhà văn Ðông Hồ. Dù là người ở trong văn giới hay không nhưng cảm giác làm người khách lạ sẽ có khi giở những trang sách. Một thế giới có nhiều mới lạ.

Tâm tư của ông thế nào khi viết ký sự văn học Giai Thoại Hồng?

Ông viết: “Trong lứa tuổi mùa thu cuộcđời tôi sẽ vẽ từng tấm chân dung các nhà văn nhà thơ nữ kèm theo những cuộc hôn nhân, những giai thoại của họ. Ðó là những điều mà tự thuở hoa niên tươi thắm của tôi thêm phì nhiêu, trái tim tôi chan hòa những cảm hứng trong mát kỳ diệu.

Theo ngón tay lật, từng trang hai quyển album phơi bày những tấm ảnh của nhiều nhà văn nữ. Tôi thấy rồi, qua khóe mắt qua nụ cười qua nét môi họ những giai thoại đẹp của họ đã được tôi đưa lên một vài trang sách báo, đã gợi óc tò mò cho độc giả và đã đóng góp vào tư liệu, tài liệu văn học dù nhỏ nhoi ít ỏi vẫn là một đóng góp chân thành vào các giai đoạn văn chương nào phải buổi bình thời này”

Năm nay , 2011, nhà văn Hồ Trường An có xuất bản một tác phẩm mới

Ðó là tác phẩm nhan đề Núi Cao Vực Thẳm do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương của nhà văn Uyên Thao và Trần Phong Vũ chủ trương.

Nội dung là viết về tác giả và tác phẩm của 9 khuôn mặt văn học: Nguyễn Ngọc Bích, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thụy Khuê, Vũ Tiến Lập, Võ Phiến, Ðặng Phùng Quân, Trương Anh Thụy và Thanh Tâm Tuyền.

Nhà phê bình UyênThao trong bài tựa viết:

“Từ đây, khoảng trống đáng buồn trong sinh hoạt văn học nghệ thuật và cuộc sống Việt Nam càng như mỗi lúc một càng mở lớn hơn để sẽ mang thêm về nhiều nỗi đau đớn theo ngày tháng. Khi viết tác phẩm Núi Cao Vực Thẳm có thể chính Hồ Trường An không hề nghĩ về khoảng trống bi thảm trên của sinh hoạt văn học nghệ thuật cũng như thực tế đời sống Việt Nam. Hồ Trường An chỉ đến với một số tác giả đã hoặc đang góp mặt trong sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam, chính xác hơn là chỉ dừng lại với một số tác phẩm của 9 tác giả Việt Nam và ghi lại những cảm xúc cùng phát kiến khởi từ các tác phẩm đối diện. Hồ Trường An không phác họa chân dung cho những tác giả được nhắc tới không làm công việc của nhà phê bình văn học hay của người ghi chép văn học sử kể cả khi tán thưởng hay bất bình vớiđiều bắt gặp nơi một tác phẩm nào đó. Sẽ không lầm khi nói rằng Hồ Trường An chỉ diễn tả cảm nghĩ của người thưởng ngoạn và đôi khi bước xa một chút bày tỏ nhận định hoàn toàn chủ quan đối với tác giả qua tác phẩm đang đối diện..”

Riêng cảm nghĩ của tôi. Tôi nghĩ mỗi một người đọc sẽ soi bóng chính mình qua những trang sách đang giở. Ðọc được những lời chủ quan mà thành thực của tác giả, tôi dễ dàng có những liên tưởng xa hơn khởi đi từ trang sách….

Nguyễn Mạnh Trinh
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
107 Pages«<104105106107>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.