Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

104 Pages«<101102103104>
NHỮNG NÉT ĐẸP VĂN HÓA VIỆT NAM
CỏThơm
#2139 Posted : Monday, February 1, 2016 1:06:25 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)





Gửi người em gái miền Nam
Đoàn Chuẩn & Từ Linh


Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Đượm đà phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng
Hà Nội chờ đón Tết, vắng bóng người đi, liễu rũ mà chi
Đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh
Hoa mai rơi, rủ nhau nơi phương xa
Đường phố vắng bóng đèn, chạnh lòng tôi nhớ tới người em.

Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương
Mắt nồng rộn ý yêu thương
Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như dáng kiều
Ôi tình yêu...

Nhưng một sớm mùa thu, giữa chân trời xanh ngát
Nàng đi gót hài xanh, nàng đi cho dạ sao đành
Đường quên lối cũ ân tình nghĩa xưa...

Rồi từ ngày ấy nước sông ngăn cách đôi lòng
Chuyện tình vỡ lỡ, bến cô đơn không ai ngờ
Tình nghèo xa cách mãi, em tôi đành ôm mối sầu mà đi...

Em tôi đi màu son lên đôi môi
Khăn soan bay lả lơi trên hai vai
Nhìn xác pháo bên thềm, gợi lòng tôi nhớ tới người em...









1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 2/6/2016(UTC)
CỏThơm
#2140 Posted : Monday, February 1, 2016 1:07:33 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)










































sưu tầm




phamlang
#2141 Posted : Saturday, February 6, 2016 1:01:09 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)

Thơ Tết đầu Xuân



Nguyễn Mạnh Trinh


Với người bản xứ, tháng của lễ lạc đã qua và bắt đầu bằng những tháng ngày của cuộc khởi hành mới của một năm, còn với người Việt Nam, thì vẫn tràn đầy không khí lễ hội. Dù ngày đầu năm âm lịch năm nay là ngày thường không phải cuối tuần nhưng ý xuân tưng bừng vẫn dường như còn lẩn khuất đâu đây. Ở sở làm và các nơi khác, tôi thấy mọi ngày như mọi ngày. Nhưng khi về đến gần nhà, lái xe qua khu phố Bolsa cuối tuần, thấy không gian tết chan hòa. Nắng tươi nhưng pha những cơn gió lạnh nhắc đến những ngày xuân năm nào. Dạo qua chợ hoa đang tấp nập lại nhớ đến chợ hoa Nguyễn Huệ ngày xưa. Một thuở nào hiện về. Chao ơi là nhớ!

Bây giờ, cũng là mùa của báo xuân. Muôn hồng ngàn tía đua chen. Ðọc những tờ báo xuân hôm nay lại nhớ đến những tờ báo xuân ngày cũ. Những ngày cận tết khi còn ngày xưa ở trong nước, đi qua sạp báo, dù là ở một tỉnh thị heo hút cao nguyên hay phố quận sình lầy miền Tây, thấy cả bóng dáng mùa xuân. Những bức tranh, những chân dung thiếu nữ, như mỉm cười với cái lạnh ngọt ngọt của trời đất sang mùa. Những trang bìa báo xuân, như dấu hiệu báo trước năm tháng tươi đẹp của đất trời.

Và trong những tờ báo ấy, như một tập tục đáng yêu, lại thấy những bài thơ xuân hoặc chữ Hán hoặc chữ quốc ngữ nhưng viết bằng lối thư họa ở ngay trang đầu. Những bài thơ như bàn tay mở cửa đón xuân, mà một trong những người mở cửa đón xuân nổi bật nhất là nhà thơ Vũ Hoàng Chương với những bài thơ trang trọng như mang lại một không khí đầy mùi trầm thơm ngát…

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương là giáo sư Trường Chu văn An. Mặc dù tôi không học thầy nhưng cũng có lúc đứng ngoài cửa lớp nghe thầy giảng thơ và đọc thơ. Tôi cũng đã thấy nhiều đứa học trò ngỗ nghịch học ban B nhưng đứng ở ngoài cửa lớp ban C để nghe một cách chăm chú bài giảng văn chương của thầy. Thỉnh thoảng thầy lại ngâm thơ và nhắc lại một vài giai thoại văn học của thời tiền chiến và cả hiện đại.

Hình như mỗi năm khi xuân về Vũ Hoàng Chương thường làm thơ để tỏ tâm tình với nhà, với nước khi trời dất giao mùa. Như bài Ðón Xuân Mười Chín làm vào dịp tết Quý Sửu 1973:

Bấm đốt từ di cư đến nay

Ðón xuân vừa vặn hết bàn tay
Sang sông Ngựa đã hai lần hí
Vạch đất Trâu thêm một luống cày
Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc
Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây
Bút toan chạy ngược đau lòng chữ
Núi vẫn ngàn năm bạc tóc mây
Dăm kẻ tri giao toàn kiết xác
Nửa đêm trừ tịch cũng vờ say
Hằng nga bỏ địa cầu đi mãi
Tết đến buồn không chịu vẽ mày
Xưa rồi lửa phỏng tên bay
Giờ chơi nhạc sống nào đây hỡi giàn
Bóng ai trên đá ngồi gan
Có nghe rung một giây đàn lẻ loi
Trời xuân chẳng én đưa thoi
Mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua
Nghé kêu đầy bến vàng hoa.


Trong hai mươi năm văn học miền Nam, thầy Chương đã có nhiều bài thơ xuân, thơ Tết đăng trang trọng ở các tờ báo xuân ngay trang đầu tiên. Thế mà có một bài thơ Tết lại không được đăng ở trong bất cứ báo nào ở thời điểm ấy. Bài thơ Vịnh tranh gà lợn tuy không được đăng báo nhưng lại được truyền tụng và coi như là dấu hiệu bất khuất của văn nghệ sĩ miền Nam.
Lúc ấy, ngày tết Bính Thìn, khi Cộng Sản vừa chiếm được cả đất nước và một chính sách trả thù phân biệt được áp đặt lên toàn dân tộc. Lúc ấy, viên chức, sĩ quan của chế độ VNCH bị tù đày đến gần cả triệu người. Lúc ấy, văn nghệ sĩ bị truy bức, bắt bớ, sách vở bị tịch thu đốt bỏ. Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái:

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Ràng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi đừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh


Những thành ngữ, tục ngữ của dân gian dưới tay nghệ sĩ đã thành đắc địa. Chữ không còn là một nghĩa nữa mà thành nhiều nghĩa, và, sự thâm trầm sâu lắng trong ngữ nghĩa làm bài thơ lột tả được một tâm sự chung mang của cả một thế cuộc tao loạn đầy bất trắc.

Bài thơ được truyền tụng trong thời buổi ấy và cũng là nguyên nhân để những người cầm quyền Cộng Sản bắt giam tác giả. Thi sĩ bị giam tại khám Chí Hòa, sau vì đau yếu nên được thả về nhà và mấy ngày hôm sau thì từ trần, đúng vào ngày 6 tháng 9 năm 1976.
Trong tù, ông viết bài thơ cuối cùng của đời mình, bài Thơ Gởi Vợ, gửi cho người thân nhất đời của mình, như linh cảm thấy một chuyến đi đã kề sẵn. Thơ như tiếng khóc nén thầm của những dòng thơ, từ dòng cổ thi từ thuở Nguyễn Du xưa xa, của nỗi niềm “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” đến nỗi đau mất nước quặn thắt bây giờ.
Con chim trước khi chết, tiếng hót bi thương. Người thi sĩ, trước khi lìa bỏ trần gian, lời kêu ai oán. Bài thơ thất ngôn bát cú gói ghém cả một tâm tình. Quốc phá, gia vong, thân trong ngục tù, nhưng, tất cả rồi sẽ trôi qua như nước chảy dưới cầu và không bao giờ phai nhạt tấm lòng son sắt với đời, với người, với dân tộc, với đất nước.

Thấm thoát vào đây tháng đã tròn
lông hồng gieo xuống nặng bằng non
một manh chiếu lỉa hồn ngây ngất
ba chén cơm rau xác mỏi mòn
ngày tới bữa ăn thường nhớ vợ
đêm về giấc ngủ lại thương con
bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa
chẳng dễ gì phai nhạt tấm son
tình thương nỗi nhớ chon von
trưa nay bừng thức vẫn còn đổi trao
thật rồi đâu nữa chiêm bao
tin ra Vĩnh Hội thư vào Hòa Hưng


Một bài thơ chữ Hán khác mà theo những nhà sưu tập thì đó là bài thơ viết vào đêm trừ tịch Tết Ất Mão mà bản viết gửi cho ông Ðặng Tiến là một mảnh bìa của tạp chí Nhà Văn số xuân Ất Mão. Bài thơ Khai xuân thạch khúc, bản dịch nghĩa, và bài thơ dịch trích dẫn sau đây:

Tường vân mãn tọa tọa bôi minh
Hy chúc xuân khai dạ bán quỳnh
Ðông liễu tây đào song tận mỹ
Tần tang Yên thảo nhất hồi thanh
Tần giao cố quốc hoài kim phấn
Tư hữu cuồng ngôn xuất thạch bình
Ðối ngọa dữ sa trường túy ngọa
Cổ lai thùy dã chiếm cao thanh?
Dịch nghĩa:
Thạch khúc vào xuân
Mây lành tràn ngập ghế ngồi trên chén rượu rực rỡ
Vui chúc vào xuân đêm gioa thừa nhiều tốt đẹp
Hai cây liễu phía đông và đào phía tây đều tuyệt đẹp
Dâu nước Tần và cỏ nước Yên cùng một sắc xanh rì
Dẫu cho nặng lòng nhớ thương hoià hương phấn nước cũ
Song vẫn có lời cuồng ngông vong lên giữa búi dựng tưa thành
Giữa người thơ nằm say ngất và chiến sĩ say ở chốn sa trường
Xưa nay ai lưu danh cao hơn mấy ai?
Bản dịch:
Mây quẩn ngôi thơ, chén rạng ngời
Giao thừa mừng chúc đêm xuân tươi
Tây đào đông liễu hây hây phất
Dâu cỏ Yên Tần rỡ rỡ phơi
Luyến phấn- hoa nghiêng đài nhớ nước
Cuồng ngâm- thơ dựng vách in trời
Thi nhân, tráng sĩ cùng say khướt
Ai biết danh đời ai nhựơng ai?


Những bài thơ xuân, bây giờ cuối năm ngồi đọc lại thấy một điều gì bâng khuâng trong tiềm thức. Tác giả thì đã ra đi vào miền vô thủy vô chung từ lâu nhưng những nét chữ để lại dường như cón tươi nét mực. Tôi nhớ lai hình ảnh của một giáo sư lúc nào cũng ăn mặc tề chỉnh đi trong hành lang trường. Mái tóc ngắn rẽ đầu ngôi ở giữa, những bộ veste màu nhạt, những nụ cười hóm hỉnh, những câu thơ đọc trong lớp nghe vang vang nỗi niềm nào đồng vọng từ xưa. Có người gọi Thầy Chương là Ðỗ Phủ của Việt Nam. Theo tôi, chẳng có ai và chẳng có gì so sánh được với một người đã suy tư và đã sáng tác bằng trái tim Việt Nam và tâm thức Việt Nam như thầy…
Ở hải ngoại, tết đến cũng có không khí rạo rực đón năm mới, cũng có những bản nhạc xuân vang vọng trên phố phường, cũng có những tập báo xuân với tranh bìa màu sắc lộng lẫy. Những trang đầu của báo xuân cũng có những bài thơ trang trọng khai hội như nét bút xương kính của thi sĩ Cao Tiêu.

Nhà nhận định phê bình văn học Tam Ích Lê Nguyên Ngư đã nhận xét về thơ Cao Tiêu như sau:
“Con người và cái tâm cùng cái thính giác của con người, khi đã theo nhip lịch sử, thì cũng làm thơ theo thi hiệu mới- trên bối cảnh dân tộc. Bỏ dân tộc thì mất tính dân tộc trong thơ: Cao Tiêu tránh được sự mất, để nuôi và duy trì sự còn- thành ra thơ CaoTiêu mới mà lại rất Á Ðông. Nói cách khác rất Việt Nam: hiếm ở đấy; khó ở đấy; quý ở đấy -mà cái đẹp ở đó trưởng thành theo nhịp tâm tư, vươn theo nhịp thời gian; thời gian bên trong, kể cả thời gian mới nhất là thời gian nàng Giáng Hương ứa nước mắt dùng để đưa người danh sĩ về cõi mầu hồng- hồng trần”
Có lẽ nhận xét ấy tuy đã viết từ cách xa hơn 50 năm đến nay vẫn còn ý nghĩa?

Thi sĩ Cao Tiêu có tay bút bay bướm viết chữ Hán Tự và Việt ngữ kiểu chữ thảo rất đẹp và thường được mời để viết trang đầu tiên của những giai phẩm xuân ở hải ngoại.

Theo truyền thống từ trong nước ra tới hải ngoại những vị được coi như là tiên chỉ trong làng văn có nét chữ bay bướm thường được mời để viết những trang thơ khai bút của các giai phẩm xuân. Như các giai phẩm như báo Tự Do, hay tạp chí Văn ở trong nước thường có nét bút của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Còn ở hải ngoại thì các giai phẩm xuân của báo Người Việt, Viễn Ðông,Việt Tide,… thường có thơ xuân của thi sĩ Cao Tiêu ở trang đầu tiên.

Thơ xuân chữ Hán của ông có nét cổ kính của những thời xa xưa nhưng lại có nét mới của nhịp sống tương lai. mở ra những điều tốt lành cho xuân mới.Ví dụ như bài Xuân Cầm:

Xuân cầm tư diệu thủ
Tư diễm phát hoa y
Thuyền hội thanh giang độ
Sương lung bích liễu ti
Cảm quan ca chúc tửu
Thôi ngã túy đề thi
tùy dương xuân nhập mộng
Thủy ánh nguyệt lưu ly
Và tác giả dịch sang Việt ngữ:
Đàn xuân rung nhớ điệu tay ai
nhớ áo hoa buông mướt tóc dài
thuyền thả sông xanh neo bến hối
liễu chùng tơ biếc rủ sương lơi
như say bút múa niềm thơ gửi
nghe ấm hơi ca hứng rượu mời
theo khúc dương xuân vào cảnh mộng
trăng lồng bóng nước ánh chơi vơi.


Một bài thơ khác, Phùng Xuân, cũng là cảm giác của một người hòa đồng với thiên nhiên tìm thấy không gian yên hòa của đất nước quê hương.
Ðông phong xuy lục liễu
Nhật noãn chiếu xuyên vân
Ðiểu minh sơn thủy họa
Vô xứ bất phùng xuân.

Diễn nghĩa:

Gió đông thổi vào khóm liễu đậm xanh lá cành tha thướt
Ánh nắng ấm chiếu qua đám mây lờ lững trên không.
Tiếng chim rộn ràng hót chào trước cảnh non nước đẹp như một bức tranh.
Buông tầm mắt nhìn quanh khắp mọi nơi, không chỗ nào là không thấy xuân về.

Tác giả dịch:
Gặp xuân
Gió xuân thổi liễu xanh xanh đậm
Nắng xuyên mây tỏa ấm không gian
Ðón xuân chim hót rộn ràng
Bức tranh non nước vô vàn gấm hoa
Gặp xuân khắp chốn gần xa.

Giở những trang thơ của thi sĩ Cao Tiêu, nhìn những nét Hán tự bay bướm nhưng tề chỉnh, đọc những câu thơ chuyển dịch Việt ngữ tài hoa để tưởng tượng lại một thời đã qua của lịch sử. Những nét chữ những ý thơ đã thành của những hồn trăm năm cũ.
[/size]
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
CỏThơm on 2/15/2016(UTC)
Duy An
#2142 Posted : Sunday, February 7, 2016 2:22:31 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Tết Của Ngày Xưa



Nguyễn Phan Quế Mai

Mỗi năm, khi những tờ lịch còn lại trên bàn mỏng đi, thì trí nhớ của tôi lại dày lên những ký ức về Tết. Tết trong tôi luôn bắt đầu từ những ngày thơ ấu, trong căn nhà nhỏ nép mình bên rặng dừa xanh ở ngoại ô thị xã Bạc Liêu, nơi mẹ tôi đã dành dụm gói gém tất cả tình yêu của mẹ dành cho gia đình, để Tết nở bung rực rỡ.

Hình ảnh Tết trong tôi là dáng mẹ ngồi bên hiên nhà. Tóc của mẹ xõa xuống che phủ một phần khuôn mặt sạm đi vì nắng gió và vất vả. Khuôn mặt ấy thoang thoảng niềm hạnh phúc khi mẹ chăm chú tước đi phần héo úa của những củ hành, củ kiệu. Tôi lăng xăng giúp mẹ rồi vui mừng trước rổ kiệu sáng ngời lên trong nắng và rổ hành lấp lánh ánh tím. Mẹ dạy tôi cách pha muối, đường, giấm… và cách cắt kiệu, cắt hành sao cho giữ được độ tươi, để hành và kiệu giòn tan trong miệng trong những ngày Tết sắp tới.

Khi những lọ thủy tinh đựng hành và kiệu sáng lên một góc bếp, thì cũng là lúc tôi được giao phó một công việc đặc biệt: hái dừa làm mứt. Mảnh vườn nhà tôi không lớn, nhưng có ba cây dừa trĩu quả, soi bóng xuống những chiếc ao lăn tăn vết cá quẫy. Những cây dừa không quá cao, nhưng chúng cũng đủ cao để thử thách kỹ năng leo trèo của tôi. Với sự dẻo dai của một đứa con gái đang lớn, tôi nhanh chóng thoắt mình lên cây, tựa mình vào những bẹ lá to vững chãi ở trên cao, chọn những quả dừa già vừa đủ, để mứt thơm, dẻo và mềm. Bố và anh trai tôi giúp chúng tôi tước sạch vỏ và bổ những trái dừa. Mẹ thưởng cho mỗi người một cốc nước dừa thơm ngọt, mát rượi, phần còn lại sẽ để dành để làm món thịt kho tàu cùng trứng – một món không thể thiếu được trong những bữa cơm ngày Tết ở miền Nam. Cạy cơm dừa ra khỏi chiếc sọ dừa cứng, mẹ hướng dẫn tôi cách gọt bỏ phần da nâu, rồi bào dừa thành từng miếng mỏng và dài. Bàn tay gầy với những đường gân xanh của mẹ chần sơ dừa qua nước nóng rồi ướp dừa cùng đường trắng. Khi dừa đã trong và đường đã tan hết, tôi nhóm lửa và giúp mẹ xào mứt. Mẹ dạy tôi cách xào với lửa thật nhỏ, đảo thật đều và nhẹ tay để mứt không đứt gãy.

Ngày ấy, trong căn bếp nhỏ được lợp bằng lá dừa nước, ngồi bệt trên một chiếc ghế nhỏ cạnh chiếc bếp được đốt bằng than củi, tôi đã cùng mẹ chuẩn bị rất nhiều loại mứt: mứt dừa, mứt gừng cay, mứt gừng dẻo, mứt bí đao… Tết gia đình tôi những năm ấy, sơn hào hải vị chính là những món mứt do chính tay mẹ và tôi tự làm – những món mứt còn ngọt và thơm trong ký ức tôi đến tận hôm nay.

Trong khi mẹ và tôi bận rộn với công việc bếp núc, bố và anh trai tôi cũng chuẩn bị cho một công việc đại sự của cả năm: đó là việc bắt cá ở chiếc ao cạnh nhà. Chiếc ao không lớn, nhưng hàng năm đều chứa đựng những bí mật của riêng nó. Bố tôi và anh trai tôi, mỗi người một đầu dây, dùng gàu tát nước vào con mương đằng sau nhà. Ao nước cạn dần, cùng với những tiếng quẫy ngày càng lớn của những chú cá lóc, cá trê, trắm cỏ, cá rô… Tôi thấy Tết đang về trong tiếng cười của anh tôi khi đầm mình vào lớp bùn đặc quánh, dâng lên cao đến hông, để chụp bắt những con cá đen trũi. Cả khuôn mặt của anh tôi lấm lem bùn, chỉ còn mỗi hàm răng là trắng. Chúng tôi đựng những con cá to và ngon nhất vào một chiếc xô to, đổ đầy nước và buộc đằng sau chiếc xe đạp của mẹ. Tôi vẫn còn nghe tiếng chuông xe đạp của mẹ lanh canh xa dần, khuất dần sau những cành mai đang vươn nụ. Rồi mẹ trở về vài tiếng sau đó, lưng áo đẫm mồ hôi. Mẹ ngồi và đếm những đồng tiền nhàu nát, cũ kỹ. Đó cũng là tiền ăn Tết của gia đình tôi.



Tết này lại nhớ tết xưa

Tiền bán cá giúp chúng tôi mua gạo nếp, thịt lợn, đỗ xanh, và lá dong. Dù đang sống ở miền Nam, nhưng bố mẹ tôi – những người gốc Bắc, không thể nào thiếu bánh chưng trong những ngày Tết. Hạnh phúc lớn nhất của tôi và anh tôi là được quây quần gói bánh chưng cùng bố tôi. Bàn tay khéo léo của bố thoăn thoắt gói từng chiếc bánh xanh vuông vức mà không cần bất cứ chiếc khuôn nào. Bố dạy chúng tôi cách xếp lá, đong gạo, xếp thịt, rải đỗ và trải lên đó một lượt nếp nữa. Bàn tay ông cẩn thận hướng dẫn chúng tôi cách bẻ lá sao cho bánh chưng thật vuông vức, và cách thắt nút lạt sao cho bánh chưng không bị bung khi nấu. Chúng tôi được tự tay mình gói những chiếc bánh bé xíu, để rồi tự tưởng cho mình những chiếc bánh ấy trong ba ngày Tết.

Vào ngày mùng một Tết, tôi được mẹ mặc cho một bộ quần áo mới – bộ quần áo mới duy nhất của năm, rồi được mẹ dẫn đi chùa, đi thăm họ hàng, thầy cô. Tôi nép vào những bước chân của mẹ, rạo rực một niềm vui khó tả. Hai bên đường, vị thơm của Tết dâng lên từ những mái nhà đơn sơ. Những cành hoa mai rực nở, khoe sắc vàng cùng nắng mùa xuân.

Tôi nhớ một lần, mẹ đã dẫn tôi đi thăm một người quen, băng qua một cánh đồng lúa đang dào dạt sắc xanh. Cánh đồng trải mãi, trải mãi đến tận chân trời. Chúng tôi đi trong dào dạt hương lúa, và hương mùa xuân thênh thang ùa về từ mọi phía. Tôi ước mình được đi mãi, đi mãi trong lòng mùa xuân cùng mẹ như thế.

Sau này, tôi xa quê hương và phải ăn Tết ở những nơi xa lạ – nơi không có rặng dừa, ao cá, cánh đồng, không có anh trai và bố mẹ ở bên. Tôi phải mua tất cả những nguyên vật liệu chuẩn bị Tết từ chợ hoặc siêu thị. Dù cố gắng hết sức, nhưng những món ăn chuẩn bị cho ngày Tết những lúc xa quê vẫn thấy thiêu thiếu một loại gia vị nào đó. Và dù cố gắng hết sức để chạm tay vào Tết, cùng với cộng đồng người Việt ở những nơi tôi sống, nhưng tôi thấy không khí Tết thật sự ở bên bờ kia của đại dương – nơi những cành đào, cành mai đang ửng lên sắc thắm, nơi những gia đình đang quây quần tụ họp sau một năm vất vả làm việc.

Những năm đón Tết xa tổ quốc, giữa mùa hè bỏng nắng của nước Úc, dưới sự lạnh giá của mùa đông châu Âu, hoặc trong sự hờ hững của những nước châu Á nơi người dân không biết gì về Tết, tôi nôn nao thèm nắng ấm của ngày xưa, thèm nghe tiếng cá quẫy, và tiếng gió trên những đọt dừa non. Tôi thèm được hít hà hương thơm ấm nồng tỏa lên từ bếp của mẹ tôi, và mùi thơm của những nén hương trầm trên tay bố tôi, khi ông trịnh trọng thắp hương bên bàn thờ tổ tiên, mời ông bà tôi cùng về ăn Tết. Tôi thèm được nghe tiếng nô đùa của anh tôi cùng bạn bè trên con đường nhỏ thoai thoải vắt qua xóm nhỏ quê hương tôi, nơi những niềm vui bao giờ cũng bắt nguồn từ những điều chân chất và giản dị.

Có một điều gì đó thật thiêng liêng về Tết, mà chỉ có những người Việt Nam mới hiểu. Và vì thế, khi xa quê, những người Việt đều đau đáu mong ước được trở về nguồn cội để đón Tết, để được ấp đầy lồng ngực hương vị quê hương, để rồi bớt mong, bớt nhớ trong những tháng năm dài đằng đằng ở xứ người.

Manila, Philippines ngày 8/12/2011
1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 2/15/2016(UTC)
phamlang
#2143 Posted : Saturday, February 13, 2016 1:16:16 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Hoa đào Việt Nam




Xuân về, trên những miền đất lạnh, hoa đào rực rỡ mà dân gian thường gọi là xứ Đào nguyên:

Tiếng ai hát chiều nay vang rừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào nguyên…


Thú chơi đào Tết ở Việt Nam có từ lâu, với nhiều loại đào, kiểu dáng và màu sắc khác nhau. Chơi đào ngày Tết là cả một nghệ thuật. Đào có nhiều giống: đào bích, đào phai, đào trắng (bạch đào, rất hiếm); có đào thế, đào cảnh trồng chậu, đào cắt cành cắm lọ…

Đào bích là giống phổ biến nhất, tán tròn, hoa kép thắm đỏ rải đều khắp các cành nụ đỡ hoa quấn quít như như một sự yên ấm, sum vầy. Đào phai cũng có loại cánh kép, có loại cánh đơn nhưng màu lợt hơn, phơn phớt hồng vừa có tính cách thanh tao, trang nhã. Người Việt luôn mong muốn được may mắn nên thường chọn màu đỏ thắm của bích đào. Người có tuổi và dân nghệ sĩ thường thích dùng đào phai trong khi lớp trẻ, người làm ăn thành đạt lại mua nhiều đào bích.

Cách chăm sóc

Dùng lửa đốt gốc cành cho cháy sém rồi cắm vào bình nước sạch đào sẽ tươi lâu (đây là kinh nghiệm nhưng về mặt khoa học chưa chắc là đúng). Vài ba ngày thay nước sạch một lần có pha thêm một ít đường nhằm cung cấp thêm dinh dưỡng cho cành đào đẹp hơn, tươi lâu hơn. Với những cây đào trồng chậu cần tưới nước thường xuyên, giữ sạch, để nơi mát thì hoa sẽ bền, tươi lâu. Nếu trời nóng, hoa nở rộ thì hạn chế tưới nước để hãm hoa. Nếu đào cành cắm trong nhà nở quá nhanh, bạn có thể dùng dao sắc cứa một vòng quanh thân, cách chỗ phân cành độ 1 gang tay nhằm hạn chế chất dinh dưỡng lên thân nuôi hoa. Cũng có người cho sỏi vào bình giữ lạnh, đào sẽ nở chậm lại. Ngược lại muốn kích thích cho đào nở nhanh, dùng vôi đắp quanh gốc, đảm bảo sau 1 đêm đào sẽ nở bung.

Tại sao ngày Tết phải có hoa đào và cách bố trí bình đào hợp phong thủy

Cây đào trong phong thủy được xem là tinh hoa của Ngũ hành. Đào không những có thể trị bách quỷ, xua đuổi tà ma mà nó còn là biểu tượng cho sự đổi mới và sức sinh sôi phát triển mạnh mẽ nên khi đón năm mới. Việc hướng bình đào theo con giáp cũng được các chuyên gia phong thủy đánh giá là khá quan trọng đối với tiền tài, địa vị, sức khỏe của gia đình đó trong một năm. Màu sắc của bình cắm đào cũng nên theo phong thủy. Nếu đặt bình về hướng Bắc nên chọn màu xanh da trời, màu đen; nếu đặt bình về hướng Đông Nam hay Đông nên chọn bình màu xanh ngọc, xanh lá cây; nếu đặt bình phía Nam nên chọn bình màu đỏ hoặc tím; nếu đặt bình hướng Tây, Tây Bắc nên chọn bình màu vàng hoặc trắng; và hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc nên sử dụng bình màu vàng nâu.

Biện pháp cho hoa đào nở đúng dịp Tết
Để đào nở hoa vào đúng dịp Tết, không phải chỉ có giai đoạn cuối mà phải chú ý trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Ngoài các chăm sóc như tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, cắt tỉa tạo tán, để đào ra hoa đúng dịp Tết Nguyên Đán cần thực hiện biện pháp khoanh vỏ hoặc đảo cây, vắt lá…

Khoanh vỏ: Thời gian khoanh vỏ: tùy theo các giống đào thời điểm khoanh vỏ sẽ khác nhau: Đào Bích là khoảng 15/8 (âm lịch), đào Phai là 5/8, đào Thất Thốn là 1/7.

Cách khoanh vỏ: Chọn vị trí thân cây cách gốc 20 – 40 cm, dùng dao sắc khoanh 1 vòng tròn sâu tới phần gỗ của cây một vết khoanh rõ rệt. Khoanh vỏ vào buổi sáng ngày không mưa. Khoanh vỏ thành công là sau 1 ngày thấy nhựa cây đùn ra vết khoanh, và sau 2 – 3 ngày cây trở lên hơi bị héo. Nếu không thấy 2 hiện tượng này hoặc khi khoanh xong gặp trời mưa thì phải khoanh lại.

Đảo cây: Thời gian đảo cây: Giống Đào Bích đảo cây khoảng 1/8 (âm lịch), đào Phai 20/7, đào Thất Thốn 1/7. Cách đảo cây: Đào 1 bầu cách gốc 20 – 25 cm, sâu 20 – 25 cm (tùy theo kích cỡ của cây), tránh làm vỡ bầu. Chọn ngày trời nắng để đảo và đảo vào buổi sáng. Khi đảo cây ta có thể bứng cây vào chậu luôn hoặc chuyển cây sang hố khác, lấp đất chặt gốc.

Vặt lá: Sau khi khoanh vỏ hoặc đảo cây khoảng 30 ngày, cây bắt đầu xuất hiện mầm nụ ở nách lá, mầm nụ to dần thì tiến hành vặt lá. Đối với đào Bích thời điểm vặt lá là trước Tết 45 – 50 ngày, đào Thất Thốn vặt lá trước Tết 85 – 90 ngày, đào Phai 50 – 60 ngày. Sau khi vặt lá, tiến hành buộc tán cây lại cho gọn.

Ngoài ra, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết mà đào có thể nở sớm hoặc nở muộn. Có một số cách điều khiển như sau:

Thúc ra hoa: Vào tháng 12 âm lịch, nếu trời lạnh và kéo dài quá 7 ngày thì lúc này phải thúc hoa nở bằng cách ngưng tưới nước khoảng 3 – 4 ngày. Sau đó tưới thật đẫm trở lại bằng nước ấm 40-50 độ C vào quanh gốc 2- 3 lần/ngày, có thể bọc nilon, thắp đèn điện vào ban đêm và tưới thêm phân bón để kích thích cho hoa nhanh nở.

Hãm nở hoa: Nếu thời tiết nóng ấm kéo dài, vào hạ tuần tháng 11 đầu thâng 12 âm lịch, nụ hoa sẽ phát triển rất nhanh, hoa có khả năng nở sớm thì phải hãm bằng các cách làm giàn che và pha phân ure nồng độ 1% vào nước lạnh phun nên thân lá hoặc tưới vào gốc. Dùng dao khoanh 1 hay nhiều vòng xung quanh cành đào, thân đào để hạn chế vận chuyển chất dinh dưỡng nuôi cây. Có thể chặt bớt từ 10-12% bộ rễ, rải rác quanh gốc cây.
Hoa đào trên đất nước Việt Nam
Sapa: Vùng núi cao phía Bắc, Sapa nổi tiếng với giống đào phai, hoa năm cánh phớt hồng, có những gốc đào cổ, thân cành rêu mốc xù xì, từ đó nảy lộc đơm hoa. Hoa mọc bạt ngàn trên những triền núi, nương rẩy, ven đường, từ trung tâm thành phố đến các bản làng, chân núi…

Mộc Châu: Ngày xưa nói về Mộc Châu là nói về những đồi trà, nhưng bây giờ, người ta nói nhiều đến mùa hoa, đặc biệt là mùa hoa mận, hoa đào. Khi trời bắt đầu se lạnh vào khoảng cuối thu đầu đông, Mộc Châu được phủ hồng mọi lối đi, đó là những hoa đào Pháp. Hoa đào Pháp có màu lợt và ít cánh, sẽ nở rộ từ 2 đến 3 tuần. Hoa đào nở sớm là nét độc đáo của cao nguyên Mộc Châu. Khi xuân bắt đầu rải những tia nắng đầu tiên, là lúc những cây đào rừng trên toàn Mộc Châu đồng loạt nở hoa, khoe sắc. Xen kẽ giữa màu trắng của hoa mận là sắc bích đào đã biến Mộc Châu thành thiên đường ở giữa lưng chừng mây.

Đà Lạt: Mùa xuân về, thành phố ngàn thông là khi những gốc anh đào nâu sần, khẳng khiu quanh khu vực hồ Xuân Hương, dọc các con đường Trần Hưng Đạo, Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng bắt đầu xuất hiện những nụ hồng chúm chím. Hoa anh đào Đà Lạt có nguồn gốc rất đặc biệt, thân thì giống cây đào miền Bắc, hoa thì lại có năm cánh giống hoa mai.

Trước kia hoa anh đào ở Đà Lạt là những cây anh đào dại, mọc rải rác. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Ông Tỉnh Trưởng là Trần văn Phước đã cho trồng nhiều loại hoa anh đào do chính phủ Nhật Bản gởi tặng, từ đó giống anh đào của Nhật nở rộ trên các đường phố của cao nguyên Lâm Viên.

Những hoa anh đào đua nhau bung nở, nhuộm hồng, dù cho mùa hoa có ngắn ngủi, chỉ độ một tháng đầu xuân thì cũng đủ để làm đắm say, ngơ ngẩn bất kỳ ai được một lần chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy. Mùa xuân Đà Lạt nắng vàng như mật, đào đẹp như mơ chứa chan tình ý và đặc biệt các cô gái má hồng chúm chím trong sương mai.

Ngoài hoa anh đào, Đà Lạt còn có giống đào lông nở hoa vào đầu xuân và trái vào mùa hè. Trên các chuyến xe đò Đà Lạt-Sài Gòn vào dịp gần Tết, các bó đào đựợc chuyển về Sài Gòn để bán trên đường Nguyễn Huệ,

Hà Nội: Nói đến những vùng đất hoa đào, cũng không thể quên Hà Nội, nổi danh nhất vẫn là đào Nhật Tân.
Đào Nhật Tân là đào trồng, rất nhiều công lao chăm bón, chơi đào Tết là thú chơi tao nhã của người Hà Nội. Các cây đào Nhật Tân thường được tạo các thế, các dáng long phụng cầu kỳ, phù hợp cho việc cầu chúc may mắn, sung túc trong dịp Tết. Đào bích là loài hoa đào phổ biến, cũng là đặc trưng của làng Nhật Tân. Cành hoa thắm sắc, nhiều lộc. Bên cạnh đó còn có đào phai hoa kép, sắc hồng phảng phất kiêu kỳ. Đào Nhật Tân bấy lâu đã trở thành một nét riêng của Tết trong lòng người Hà Nội

Hà Giang: Tết đã qua, hoa đào đã biến mất riêng Hà Giang, mùa hoa đào rất lạ lùng, đó là hoa đào tháng ba. Khi không khí mùa xuân đã đi qua phân nửa, những lễ hội cũng đã ngớt dần thì những bông hoa đào e ấp trên núi đá của Hà Giang mới bừng nở.
Ở đây, nhà nào cũng có cây đào, trên các triền núi, các con đèo, những thảm hoa đào khoe sắc thắm che đi vẻ trơ trọi đơn độc của những khối đá tai mèo; làm toát lên vẻ đẹp hoang sơ nhưng lại nhiều thơ mộng của vùng cao nguyên đá.

Mùa hoa đào nữa đang về, những bông hoa mỏng manh mà kiêu hãnh đang mang không khí rộn vui lan tỏa khắp nẻo đường nhưng tiếc thay người dân trên đất Việt vẫn cuối đầu lầm lủi đi trong tuyệt vọng vì không biết tới bao giờ quê hương này được nhuộm đỏ bởi anh đào, đào bích, đào phai, đào trắng …..

LHCT (Mùng Một Âm Lịch Bính Thân 2016)

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
CỏThơm on 2/15/2016(UTC)
CỏThơm
#2144 Posted : Monday, February 15, 2016 4:18:51 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)
.





Gửi Người Em Gái Bức thư tình mùa Xuân của Đoàn Chuẩn



Sinh thời, Đoàn Chuẩn vẫn được biết đến như một nhạc sĩ của tình yêu. Chùm ca khúc về mùa thu của ông bao gồm Thu quyến rũ, Tà áo xanh, Lá đổ muôn chiều, Gửi gió cho mây ngàn bay, Ánh trăng mùa thu… đã đi vào lòng khán giả nhiều thế hệ bởi chất trữ tình sâu lắng và mối thâm tình với quê hương, xứ sở. Không nằm trong chùm ca khúc đó nhưng cũng được khán giả biết đến và yêu thích còn có bài hát Gửi người em gái, qua sự thể hiện của nhiều thế hệ ca sĩ Việt Nam.

Bài hát được viết vào khoảng những năm 1954, khi đất nước trong cảnh chia hai miền Nam – Bắc. Nhiều người vì thế coi ca khúc này là ca khúc mang tính chất “chính trị” duy nhất trong cả cuộc đời “viết thơ tình bằng nhạc” của Đoàn Chuẩn. Không chỉ có thế, nếu như hầu hết tình khúc nổi tiếng của ông đều được khơi gợi cảm hứng từ mùa thu – mùa tình trong năm, trong khi Gửi người em gái lại viết về mùa xuân – mùa sum vầy, đoàn tụ.

Nghe thêm về Đoàn Chuẩn


Sau này, qua những lời kể lại, người yêu nhạc mới biết Gửi người em gái có một số phận khá thăng trầm. Theo đó, bài hát ban đầu vốn có tên đầy đủ là Gửi người em gái miền Nam, được tác giả viết dành tặng riêng một người con gái ông đem lòng thương mến đã cùng gia đình vào Nam sinh sống, trong bối cảnh loạn lạc của chiến tranh.

Nhiều giai thoại cho rằng, “bóng hồng” đó của Đoàn Chuẩn chính một trong hai danh ca Tâm Vấn hoặc Mộc Lan danh tiếng một thời. Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về người con gái “tuổi chớm dâng hương, mắt nồng rộn ý yêu thương” này. Tuy nhiên, không ai trong hai nữ ca sĩ có xác nhận chính thức về mối tình giữa hai đầu đất nước đã đi vào bài hát.

Bản thân ca khúc đến nay cũng được biết đến với hai phiên bản khác nhau. Một phiên bản do ca sĩ Khánh Ly thể hiện trước năm 1975 và một bản được biết đến phổ biến hơn sau này, được rất nhiều các ca sĩ miền Bắc thể hiện thành công. Về tinh thần chung, cả hai bản đều thể hiện nỗi niềm nhớ thương da diết của người con trai gửi tới người con gái phương xa, trong không khí rạo rực xuân về. Tuy nhiên, ở bản đầu (trước năm 1975), nhạc sĩ thể hiện một không gian tâm trạng khác so với bản về sau:

“Hà Nội chờ đón tết, vắng bóng người đi”

(bản về sau: “Hà Nội chờ đón tết, hoa chen người đi”)

Hồ Gươm trong bản đầu của Đoàn Chuẩn cũng mang một nỗi niềm riêng (Hồ Gươm sao long lanh), khác hẳn với không khí hân hoan, phấn khởi của bản về sau (Hồ Gươm như say mê). Chỉ với đôi câu chữ, tinh thần của bài hát đã hoàn toàn đổi khác.

Khó có thể quy kết rằng phiên bản bâng khuâng, nhớ thương trong cô đơn, tuyệt vọng hay phiên bản háo hức, hân hoan hướng về người yêu khi mùa xuân về là chủ ý chính của tác giả. Đoàn Chuẩn lúc sinh thời cũng đã lên tiếng xác nhận bản về sau là do ông đặt bút chỉnh sửa. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, bản do ca sĩ Khánh Ly thể hiện trước năm 1975 mới là bản gốc của bài hát. Sau này, do thời thế hỗn loạn, để tránh “tính chính trị” nhạy cảm, Đoàn Chuẩn đã thay đổi ít nhiều phần lời để hợp thức hóa ca khúc, hòa mình vào tinh thần chung của đất nước, của thời đại.

Mặc dù vậy, giấc mơ về “ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ” có thể là một chỉ dẫn thú vị về cách hiểu bài hát ở đây. Bởi lẽ, vào thời điểm tác giả viết ca khúc, rõ ràng ngày “giang sơn thu về một mối” còn rất xa (tận năm 1975). Nếu cho rằng đây là lời tiên đoán trước thời đại cũng không hoàn toàn sai nhưng e rằng có phần hơi gượng ép. Đặt vào hoàn cảnh “yêu xa” của tác giả, “ngày thống nhất” ở đây có lẽ nên hiểu là một giấc mơ mòn mỏi, xa vời mà người nghệ sĩ mang theo giữa mùa xuân – mùa đôi lứa sum vầy, đoàn tụ.

Theo cách ấy, chúng ta mới thấy Hồ Gươm sao long lanh, Hà Nội hoang vắng, u buồn, không người qua lại. Chính tình yêu thiếu vắng đã làm nên chất thơ, khoảng sâu lắng cho bài hát chứ không phải đất trời mùa xuân rạo rực, say mê gọi mời.

Bài hát được viết theo khúc thức ba đoạn A – B – A. Đây là hình thức phổ biến mà không chỉ Đoàn Chuẩn, rất nhiều nhạc sĩ khác như Cung Tiến, Văn Cao sử dụng trong các tình khúc của mình. Song, điểm độc đáo, mới mẻ của Gửi người em gái là trên tinh thần phương Tây hiện đại đó, tác giả thả vào một nét chấm phá bằng cặp câu lục bát:


“… Người đi trong dạ sao đành
Đường quen lối cũ ân tình nghĩa xưa…”

Ca khúc nhờ thế vẫn mang đậm tinh thần dân tộc và không khí Hà Nội xưa. Nhiều thế hệ người Việt xa xứ đã lắng nghe và đồng điệu với “bức thư tình” của Đoàn Chuẩn cũng bởi mối “tình xưa nghĩa cũ” mà nhạc sĩ gửi gắm trong bài hát này.

Không rộn ràng, hân hoan như các ca khúc về mùa xuân thông thường vốn thế, Gửi người em gái của cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sau nhiều năm qua đi, vẫn khiến chúng ta nao lòng trong khoảnh khắc Tết đến, xuân về.

Cảm thức về thời gian như một nỗi ám ảnh lớn đối với người nghệ sĩ đã chứng kiến những bước thăng trầm trong lịch sử. Dấu vết về sự đổi thay, phôi phai in rõ trên từng lớp ca từ của ông (lớp người đổi mới khác xưa/ đường xưa lối ngập lá vàng, đường nay thong thả bao nàng đón xuân…). Đó là cảm thức của một trái tim nặng lòng với quá khứ, với “đường quen lối cũ” và những mối tình vượt thời gian.

Có thể nói rằng Gửi người em gái là tình khúc Đoàn Chuẩn ưu ái viết riêng về Hà Nội. Bởi chỉ có ai chứng kiến một Hà Nội hoang vắng, lặng lẽ trong những ngày đầu năm, mới hiểu được cảm giác “Hồ Gươm sao long lanh”, “Ngọc Sơn sao uy nghi” và nhận ra một Hà Nội rất tình, rất xưa dường như vẫn chưa mất hẳn, giữa dòng đời chật chội, xô bồ…



Khuyết Danh






.
Duy An
#2145 Posted : Sunday, February 21, 2016 1:48:25 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)




Tết này anh trở về



Hồ Trường An

Cô Hai Nguyện săm soi mớ dưa giá trắng phau phau trong chiếc thau nhôm. Cọng giá mập mạp thấy thương hết sức! Ðiểm vào đó là những cọng hẹ xanh biếc. Tui có biệt tài nấu bất cứ món rau cải nào cũng giữ được màu xanh. Rau lang luộc, rau cải trời luộc, rau giền, mồng tơi, bồ ngót, cao kỷ nấu canh xanh tươi ngăn ngắt. Còn tui mà xào cải bẹ với thịt gà thì màu cải khi chưa vô chảo chỉ xanh có bảy, đến khi ra dĩa nó xanh tới mười, vừa xanh vừa trong, đẹp dễ sợ!

Năm nay cô Hai Nguyện tính ăn Tết tươm tất hơn năm ngoái. Cô đã lựa con cá lóc vừa bự vừa mập để kho chung với thịt bắp đùi, nước kho phải bằng nước dừa xiêm tươi thì cô mới bằng bụng. Có nồi thit cá kho chung đệm trứng luộc để dành ăn với bánh tét hoặc bánh chưng của cô Ký người Bắc thì phải điệu quá rồi, ăn lai rai, ăn hoài hoài tới hạ nêu cũng không ngán. Bánh tét ăn với món kho phải đệm thêm dưa giá, dưa cải hoặc củ kiệu, củ hành ngâm giấm thì mới nổi vị mà không ngán. Bởi vậy cô Hai Nguyện cùng hai đứa con gái lớn, Trang và Hiền, làm đủ thứ dưa. Trang trổ tài làm khéo, mua củ cải trắng, cà rốt, đu đủ xanh để tỉa bông huê, chim bướm trước khi ngâm giấm, coi vừa đẹp lại vừa ngon!

Sáng ba mươi tháng chạp ta, cô Hai Nguyện thở một cái phào, khoan khoái hết sức. Nồi cá thịt cùng trứng luộc kho chung đã xong. Cô còn làm thêm nồi giò heo hầm với măng, nồi khổ qua dồn thịt bằm với bún tàu, nấm mèo nước trong leo lẻo, niêu tôm kho tàu nước gạch đỏ ối… Chiều nay cô mới mổ gà nấu cháo kèm gỏi gà trộn bắp chuối, rau răm để cúng rước ông bà.

Cô Hai Nguyện đã lau chùi, quét tước nhà cửa, bàn thờ ông bà. Lư hương, chân đèn, mâm cổ bồng đã đánh sáng loáng. Trên vách, cô treo bộ tranh tứ quí màu sắc tươi rói. Trên các cột hàng ba, cô dán liễn bằng giấy hồng đơn, chữ thảo mực tàu đen lánh. Năm nay cô chỉ mua một cặp cúc vạn thọ màu hoàng yến, một cặp mồng gà lưỡi búa đỏ để bày trong sân. Bánh phồng, bánh tráng, bánh tét thì đã có má cô là bà Hương kiểm Thiện ở chợ Trường An cho ê hề. Còn mứt thì cô mua ở chợ Vĩnh Long. Hai hộp mứt hình trái tim gói giấy trang kim lấp lánh cài cái nơ sa-ten hường coi mê quá! Trong hộp, mứt củ cải và mứt bí như giồi phấn, mứt khổ qua tươi nước cốt cỏ rồng chầu xanh như cẩm thạch, mứt cà-rốt màu gạch mới, mứt cà chua đỏ như son tàu, mứt nào cũng khéo ơi là khéo, bỏ tiền ra mua giá phải chăng, tội gì mà làm cho mệt để lãnh cái thua sút, thô kém!

Dữ ác! Năm nay không hiểu ông ứng bà hành gì mà cô Hai Nguyện phấn khởi đón xuân như vậy? Năm năm qua, thằng bảy Huỳnh Kim Báu, thằng chồng trời đánh thánh đâm của cô đã bỏ nhà theo vợ bé, trôi nổi ở chơn trời góc biển nào rồi. Hễ cỡ mười năm mà nó không về, hoặc cô không tìm được tung tích nó, thì cô đành lấy cái ngày nó ra đi để làm đám giỗ. Thây kệ, ai quấy ai sai có trời cao đất dày, có nước mây cây cỏ chứng giám. Thằng Bảy kia dù gì cũng là tía của lũ con cô. Bên chồng cô kể từ khi biết nó ăn ở tệ bạc với cô, họ đâm ra thương mến cô. Bởi đó tuy giận nó, cô vẫn không nỡ để lũ con cô quên nguồn cội, tổ tông.

Năm năm qua, một thân đàn bà yếu đuối, cô Hai Nguyện vẫn phải đảm đương mọi việc mưu sinh. Cô mua lúa đem tới nhà máy chà gạo rồi đem gạo ra bán ngoài chợ. Con Trang vừa học xong đệ lục phải bỏ học ngồi trước rạp hát bóng Lạc Thanh bán quà vặt như cốc, ổi, xoài dầm chua, me ngào đường…Con Hiền thì ở nhà coi việc bếp núc, dọn dẹp. Chỉ có thằng Ðức được đi học. Nhờ trời thương Phật độ, má con cô lần hồi đủ ăn. Tối tối Trang đi xuống cầu Cái Cá học nghề luôn áo vắt sổ nơi cô Tám Kim Chi, em kế ba nó. Tới năm ngoái, bà nội nó mua cho nó cái máy vắt sổ để nó trả góp. Nhờ luôn áo khéo, vắt sổ tính giá phải chăng nên nó có khá nhiều khách hàng.

Năm nay con Trang mười tám, sáng đẹp như trăng rằm. Con nầy lanh lợi, biết phải quấy, ăn nói mực thước, lớp lang nên được lối xóm mến yêu, bạn bè trang lứa nể nang. Còn con Hiền mười lăm tuổi mà khờ khạo lắm! Nước da nó trắng hơn con Trang, vóc vạc thanh cảnh, thân hình đã bắt đầu dậy mẩy. Chiều chiều nó ưa mượn cáo quần xăng-đầm của cô Hai Nguyện mặc vào rồi kéo quần lên tới ngực buộc chặt, nhảy xuống cái đìa bên hông nhà tắm lội đùng đùng như cù dậy. Một hôm ngủ đêm sáng dậy, nó thấy máu từ quần loang ra ướt mền, ướt chiếu, nó hoảng hồn gọi cô Hai Nguyện, mếu máo kể lể: “Má ơi, con hay tắm đìa nên chắc đĩa chui vô người con làm ổ, máu me nhểu tùm lum đây nè!”. Cô Hai an ủi: “Hễ làm đờn bà con gái, tới tuổi dậy thì là mỗi tháng máu tuôn ra rỉ rả như vậy đó, không sao đâu con”.

Nhìn hai đứa con gái, cô Hai Nguyện tự hào, nhủ thầm: “Tui không được đẹp nên không giữ nổi thằng chồng mắc dịch, bị nó phụ bạc bỏ lăn bỏ lóc. Bù lại, tui được bầy con hiếu hạnh, ngoan ngoãn. Con Trang sắc sảo, con Hiền đoan trang, thằng Ðức siêng năng, tuy giống ông già nó như đúc nhưng thằng tía nó mặt mày dúc dắc, lẳng lơ bao nhiêu thì thằng con nghiêm trang, đằm thắm bấy nhiêu.

***

Từ ngoài đầu ngõ, Trang và Hiền la chói lói:

– Má ơi, ba dìa! Ba dìa má ơi!

Cô Hai Nguyện đang ngồi xắt su hào, vụt đứng dậy, mặt xanh dờn như đờn bà xảo thai. Nhưng cô không nhúc nhích, chơn cẳng như chôn chặt trong đất. Thằng Ðức tưởng má nó chưa nghe kịp, nhắc:
– Ba dìa má à. Ba dìa thiệt mà!

Cô Hai Nguyện vụt tỉnh cơn bàng hoàng, ngây ngất. Thằng chồng ôn dịch của tui về? Nó còn dám vác cái bản mặt chai mày đá về đây làm gì? Tưởng nó chết bờ chết bụi, không bỏ xương trong miệng cọp thì cũng gởi thịt trong bụng sấu rồi chớ! Ai dè nó còn xách đít về đây để tui tức thiếu điều trào máu hoè ra khỏi họng.

Cô rít lên:
– Thây kệ mồ nó!

Cô ngoe nguẩy ra ngoài vườn, ngồi trên cây sung gie ra mặt ao. Hừ, thằng khốn nạn Bảy Báu, thằng chồng oan gia của cô, năm năm nay đi theo con Tư Mỹ Huệ, chẳng hiểu nó có phỉ chí trong thú yêư đương, hay bị con dâm nương kia hành thân hoại thể? Hồi nó gây gổ, bỏ cô đi theo con Tư, cô hăm he:

– Mầy đành đoạn bỏ tao mà đi theo bợ đít mấy con thúi thây lầy cốt, mai sau mầy vác mặt về đây là chổi nhúng đường mương, chổi dọn chuồng heo tao sẽ quét mầy ra khỏi nhà, biết chưa?

Tên Huỳnh Kim Báu đã mặt trơ trán bóng, bảo:

– Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc,
Bơi dọc lộc ngang, không chắc trở về.

Ôi năm năm qua, ngày ngày cô làm lụng đầu tắt mặt tối để kiếm miếng ăn. Ðêm đêm, càng nghĩ tới thằng chồng lòng lang dạ thú kia mà tay chân cô lạnh ngắt, ngực cô nặng trĩu, châu lụy cô tuôn rơi đồm độp:

Cu kêu từng cặp trên cây
Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao?

Ngồi trên cành sung, cô Hai Nguyện lắng tai nghe tiếng lao xao từ trên nhà vọng tới. Có lẽ chòm xóm tới chào hỏi thằng chồng đi hoang của cô đó mà. Xời ơi, họ chỉ biết nó là thằng hàng xóm dễ thương chớ đâu thèm biết tới cái tánh bạc bẽo, ưa thay đào đổi mận của nó! Còn lũ con cô đó, bởi sợi dây huyết thống thiêng liêng, thấy tía nó về là mừng rối rít. Lá rụng về cội mà! Tụi nó quên tuốt luốt cái thói vô trách nhiệm của tía tụi nó, quên lúc tên Bảy Báu bỏ nhà ra đi, bốn mẹ con đổ mồ hôi hột ra vật lộn kiếm miếng ăn, chơn chạy không bén đất. Ðã bao phen đi bán gạo về, thay vì nghỉ ngơi, cô hăng hái ra sở rẩy sau nhà để săn sóc mười luống dưa gang. Tháng bảy âm lịch vừa rồi, cô trúng mùa dưa. Cô bán mớ dưa chín mềm, còn kỳ dư loại dưa cứng cạy, cô bán cho các vựa mắm để họ gài mắm. Vốn là dân làng Tân Ngãi nên cô rất mát tay trồng dưa:

Dưa Tân Ngãi, bự trái dầy cơm,
Dẫu mình không nợ, không duơn,
Tháng bảy, tháng tám mau chơn trở về

Té ra, Tết nầy chồng cô trở về! Cơn giận làm trái tim cô nhảy ạch đụi trong lồng ngực. Thiệt tình cô Hai Nguyện không oán cô Tư Mỹ Huệ. Cô có bao giờ gặp mặt con tình địch nầy đâu! Nhiều lần cô suy nghĩ, biết Bảy Báu là thứ tham thanh chuộng lạ, hết đèo con nọ tới xọ con kia. Cô đã từng nhiều phen trách ai tham giấy bỏ bìa; khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa… Chồng của cô nếu không dính con Tư Mỹ Huệ vốn là gái điếm chợ Lách, thì cũng rượn theo con Bảy Kim Hoàng ở Cái Nhum, cũng lẹo tẹo với con Mít con Xoài, cũng mê say con Ổi con Lựu nào đó…Trước con Tư Mỹ Huệ, Bảy Báu cũng đã từng cặp xách hết con ngựa bà nầy lại du dương mùi mẫn với con khác. Cô Hai Nguyện đã từng ốm o so bại, mình mẩy mỏng lét, da dẻ xanh chành vì ghen. Ngày tối cô đâu có làm ăn gì cho an ổn được! Cô cứ rình rập để bắt gian phu. Cô hết ghịt tóc lột quần tình đình lại đè đầu đè cổ chồng ngắt véo, đánh vả. Cô phung phí hơi sức chửi bới la rầy chồng tới mỏi miệng rát cổ, ran ngực thốn tim. Chồng cô lúc nào cũng nhịn cô, mặt mày lấm la lấm lét, mắt mũi dớn dác, lơ láo… Vậy mà đời nào nó chừa thói ngoại tình, bỏ tật phong nguyệt cho cô nhờ! Mà cắc cớ thay, ông trời ổng sanh chi cho cô cái tánh lạc lòng. Chồng cô mỗi khi chán mèo hoặc bị mèo đá đít là quay về với cô, dùng giọng kèn tiếng quyển lung lạc khiến cô xiêu lòng ăn ở với nó, để nó bơm cho cô một cái bầu bự chình ình. Hễ cô vừa đẻ xong là nó đánh lừa đánh đảo cô để đi ve vãn, tò tí mấy con khác rồi quất ngựa chuối bôn đào.

***

Bảy Báu xách chiếc valise bự tổ chảng, tay kia bồng một thằng nhỏ cỡ hơn một tuổi đứng tần ngần trước ngõ. Trang vồn vã:

– Ba vô nhà đi ba, kẻo nắng. Không sao đâu!

Bảy Báu gượng làm tỉnh:
– Ừ, có sao đâu! Nhưng ba nhờ tụi bây năn nỉ má tụi bây dùm ba một tiếng.

Hiền rụt rè hỏi:
– Con của ai đây ba?

Bảy Báu tỉnh tuồng:
– Em của bây đó đa. Ba đặt tên nó là thằng Phước. Má nó chết rồi. Ba vừa làm tuần bách nhật cho cổ hôm qua.

Ðứa nhỏ thiệt dễ thương, mập mạp trắng trẻo. Nó giuơng cặp mắt đen huyền như hai hột nhãn, nhìn hai cô gái rồi cười hịch hạc, thấy thương đứt rưột. Trang sốt sắng:
– Ba đưa em cho con bồng. Vô nhà mau đi ba.

Khi bốn cha con vô nhà thì Hiền đòi bồng em lấy hên rồi hun thằng nhỏ chùn chụt. Trang giằng lấy thằng nhỏ, hun ngay cái nọng của nó, đả đớt:
– Mèn ơi, cưng của chị “Chang” thơm “xữa” quá “chời” quá đất!

Hiền xía vô nựng đứa nhỏ, miệng tía lia:
– “Chắng” gì mà “chắng” như dừa nạo, như bông bưởi vậy nè “chời”!

Thằng Phước nhột quá cười sằng sặc. Chu choa ơi, hoàn cảnh côi cút của đứa nhỏ cùng sợi dây huyết thống đã làm hai cô gái yêu thương đứa em khác mẹ của mình tức thời. Hai cô gái giống mẹ ở chỗ ưa con nít. Ba mẹ con hễ rảnh rang là dạo xóm, thấy con ai cũng bồng, cũng hun hít, cũng nựng nịu. Cô Hai Nguyện ưa làm bánh chuối, kẹo chuối để kêu tụi con nít lối xóm lại ăn.

Thằng Ðức lỏn lẻn nhìn cha rồi nhìn thằng Phước. Vì nhút nhát, nó không dám tới gần để rờ rẫm hun hít, nhưng nó nhìn em nó bằng cặp mắt sáng quắc vì thèm thuồng coi thiệt tức cười. Bảy Báu buông valise ở góc nhà một cái xạch rồi dựa ngửa người trên ghế, hỏi:

– Má tụi bây đâu rồi?

Ðức xớt trả lời:
– Nghe tin ba dìa, má bỏ ra vườn sau rồi. Má cứ bụm mặt khóc ào ào…

Bảy Báu nhìn đứa con trai, ứa nước mắt:
– Ðức lại đây!
Ðức ngoan ngoãn bước lại gần cha. Bảy Báu vuốt ve con trai, ngậm ngùi:
– Thiệt thằng con tui mau lớn quá! Năm nay con ngồi lớp mấy?
Ðức thỏ thẻ:
– Dạ con học lớp đệ thất rồi ba. Con thi nhảy lớp hồi năm ngoái, nghĩa là từ lớp nhứt con thi thẳng một lèo vô đệ thất chớ không cần ngồi lớp tiếp liên.
Bảy Báu đỏ mặt vì ăn năn, hổ thẹn, nước mắt chảy ròng ròng.

Sau cùng, anh ta nói vắn tắt:
– Con học giỏi là ba mừng.

Vừa thấy Bảy Báu cà rà trước ngõ, bà Năm Thẹo ở gần bên, cách hàng rào xương rồng, đã lập lờ lập lượn sau cánh cổng để nghe ngóng. Rồi kế đó bà chạy qua nhà thím Năm Én, nhà cô Bảy Ơn rủ họ nhập bọn qua nhà cô Hai Nguyện. Liền sau đó, bà Chín Ích ở đối diện nhà bà Năm Thẹo cũng lạch bạch bước qua, miệng ong óng:
– Bây chờ tao đi với chớ!

Bà Năm Thẹo tuôn vô nhà cô Hai Nguyện trước hết, cười ỏn ẻn:
– Nghe thằng Bảy mầy dìa nên tao rủ chị Chín với mấy con lủng, con lành qua thăm.

Bà Chín Ích nhìn thằng Phước trầm trồ:
– Chèn ơi, thằng nhỏ giống cháu Bảy quá chừng chừng!

Cô Bảy Ơn nói:
– Thiệt tình, chị Bảy khi khổng khi không có thằng con dễ thương quá!

Thím Năm xuýt xoa:
– Tui nghĩ rằng ông trời thương chị Bảy nên Tết nầy ông lì xì cho chỉ đứa con trai nầy. Con Trang, con Hiền, thằng Ðức đều thua nó màu da trắng.
Phút chốc chòm xóm bu tới, ồn ào bàn tán. Cô Hai Nguyện từ ngoài vườn bước vào, mặt trắng bệch như sáp, mắt chau quảu ngút lửa. Cô hét:
– Ai vào đây làm giặc, nổi loạn đó vậy?

Bảy Báu làm tỉnh, đứng dậy:
– Qua đây, em Hai. Bảy Báu, chồng của em dìa ăn Tết với vợ con đây!

Cô Hai Nguyện xáng cho chồng một cái nhìn sấm sét:
– Báu nào? Báo đời, báo hại chớ quí báu gì nà! Mà thôi, nhà tui là nhà mần ăn, không chứa cái phường mèo mả gà đồng, cái quân mèo đàng chó điếm, thầy nghe chưa? Thầy làm ơn xách gói đi chỗ khác, chỗ nào có mấy con dâm phụ chuyên môn cướp giựt chồng người. Thầy còn nấn ná chần chờ thì tui sẽ lấy chổi quét cứt gà, chổi tẩm cứt heo quét thầy xuống đường mương cho thầy coi.

Bảy Báu nhăn nhó:
– Tội nghiệp qua lắm mình ôi. Mình hãy cho qua phân giải đôi lời.

Cô Hai Nguyện nhảy đong đỏng:
– Thầy đã phân giải nhiều lần rồi. Tui cũng đã lạt lòng nhiều quá rồi. Không mình không đầu gì nữa hết! Thầy hãy cuốn gói cho lẹ để mẹ con tui ăn Tết.

Nói được những tiếng thô nhám như đá ong, cứng nặng như đá xanh đó, cơn giận cô hạ xuống, rút biệt một cái rột như nước lọt qua miệng cống.
Bà Năm Thẹo tằng hắng can:

– Thôi cho tao can đi! Mầy cũng để cho thằng chồng mầy phân bua phải quấy đôi lời chớ! Hễ nó vừa mở miệng là mầy nạt nhào thì còn non nước gì!
Thím Năm Én khuyên:
– Hai, em phải nghe lời bác Năm, bác Chín. Chị cũng can em. Bổn phận làm vợ là phải nể nang, ngọt dịu với chồng. Nó dẫu ăn ở quấy với em thì có trời cao chứng giám, có bà con láng giềng chê cười nó. Nhưng nếu em mà gay gắt với nó quá thì té ra em cũng quấy theo nó hay sao? Gắt quá thì nó nổ đa em! Hễ mọi sự nổ tanh banh tét bét thì mụ nội ai mà hàn gắn lành lặn như xưa?

Cô Hai Nguyện quét mắt qua khắp bà con hàng xóm láng giềng. Coi bộ ai cũng có ý binh vực thằng chồng dâm bôn bạc bẽo của cô. Cô nhìn con Hiền bồng đứa nhỏ. Mèn đéc ơi, thằng nhỏ coi giống hịt thằng Bảy Huỳnh Kim Báu quá trời quá đất! Nó ngó cô, hả miệng chim dòng dọc ra cười hịch hạc, bày cái nướu màu hồng tươi vừa nhú mấy cái răng sữa lùn tịt. Chèn ơi, nụ cười nó giống nụ cười tía nó quá chừng chừng! Bởi nụ cười đó mà hồi mười tám năm về trước, cô lén ăn cắp tiền bạc vòng vàng của tía má cô để đi theo tiếng gọi của trái tim. Trái tim cô lúc nào mà chẳng dại dột! Nụ cười đó đã từng hóa giải tủi hờn, căm tức nơi cô mỗi khi thằng Bảy Báu bị mèo đá xất bất xang bang bò về.

Cô Hai Nguyện hét:
– Con cái ai đây?

Bảy Báu ấp úng:
– Thì…nó là con của…qua. Qua bồng nó về đây cho em nuôi làm phước.
– Ê, đùng có giỡn nghe cha nội! Cây không trồng, lòng không tiếc; con không đẻ, mẹ ghẻ không thương

Cô Bảy Ơn khuyên lơn:
– Chị Bảy, em khuyên chị bớt nóng. Thiệt tình chị nóng cũng phải, chẳng ai dám trách chị chút nào. Anh Bảy bậy quá, sái quấy lung lắm. Em mà ở vô hoàn cảnh chị, em cũng giống như chị vậy, cũng tức bể ngực rồi hộc máu cả chậu cả vịm chớ không vừa. Nhưng mà xin chị suy cho cùng, nghĩ cho cạn. Nếu chị nóng quá mất khôn, làm cho gia cang xào xáo thì tụi nhỏ khốn đốn, gẫm có ích lợi gì đâu! Xin chị cho ảnh ăn năn chuộc tội.

Cô Hai Nguyện rống lên khóc:
– Ðây đâu có phải lần đầu nó vác mặt mo mặt thớt về đâu? Tui nuôi nó lúc nó thất cơ lỡ vận để rồi khi sung sức mập thây, nó xách đít đi cho ốm o so bại, thân tàn ma dại rồi mới trở về. Một lần, hai lần thì còn bỏ qua được, chớ lần nầy thì nhứt quá cửu, quá thập rồi chớ đâu phải quá tam! Nó đội vàng cả thúng, hột xoàn cả tráp về đây tui không ham nữa là!

Bà Chín Ích xía vô ỉ ôi:
– Con vợ thằng Bảy nè. Con phải nghe lời má Chín lần nầy. Chồng con trở về đây tốt tươi phi mỹ chớ không te tua bèo nhèo, không rách rưới đói khát. Nó ăn bận như thầy thông thầy ký ở đất thầy-gòn đó con. Nó về đây chắc có duyên cớ gì đó chớ không phải mong nhờ hột cơm của con đâu! Vợ chồng bây có thể hiểu nhau, chớ người ngoài làm sao tỏ tường trong đục! Vậy con gắng nuốt giận, nghe nó cạn phân bày giải. Má Chín khuyên con đùng tỏ ra lấn lướt với kẻ lép vế, thất thế hơn mình. Không nên đâu con!

Thấy chưa? Chỉ vừa thấy thằng nhỏ mà coi bộ bà con lối xóm đều ngã rạp về phía tên Bảy Báu hết trọi. Họ thấy đứa nhỏ mồ côi mồ cút chớ họ làm sao thấy lúc cô canh khuya trằn trọc, tủi phận bị chồng chán, chồng chê, não nề lo gánh mưu sinh cho bầy con dại? Té ra tên Bảy ó đâm nầy sanh ra để được thương yêu dung thứ. Còn cô sanh ra để làm nạn nhơn của nó cho tới tim bảy lỗ héo khô, gan bảy lá héo hắt mà người ngoại cuộc đương thèm biết tới.

Bỗng đứa nhỏ bị con Hiền ôm chặt khóc ré lên. Thằng Ðức vụt chạy lại ôm tía nó, khóc rống:
– Ba ơi, ba đừng đi đâu hết! Má ơi, má đừng để ba bồng em cho bà phước xóm đạo nghe má! Em con dễ thương quá má à!
Mấy bà lối xóm cùng khóc ngon khóc ngọt theo thằng Ðức.

***

Khi lối xóm về hết, cô Hai Nguyện xuống bếp bắt con cá lóc rọng trong vịm ra cạo vẩy. Cô hỏi Trang:
– Tía mầy đâu rồi?
– Ông Năm Thẹo mời tía qua cụng ly bên bển rồi.
– Còn con Hiền đâu?
– Nó bồng thằng Phước qua nhà thím Năm Én mượn cái bình sữa và núm vú cao su.

Cô Hai Nguyện trề môi:
– Tía mầy là thứ đờn ông hư thúi. Vừa về tới nhà là liệng va-ly cái xạch nên bình sữa mới bể hai bể ba như vầy….

Bảy Báu chỉ dám nhậu sương sương với ông Năm Thẹo rồi lật đật trở về nhà kẻo vợ quở, vợ rầy. Cô Hai Nguyện và Trang lo nấu, dọn cơm trưa. Cô dặn cô trưởng nữ của minh:
– Con lên nhà trên mời tía con rửa mặt, thay đồ mát đi. Cơm nước xong, con nhớ gói bánh tét, bánh dừa để tối nay má luộc. Chút nữa má ra chợ Vãng mua bình sữa, xà bông, khăn lau,thau chậu cho thằng Phước.

Hiền mượn được bình sữa, bồng em về nhà. Cơm canh chưa xong nhưng cô Hai Nguyện đã dọn chén, bày bàn sẵn. Cô rửa tay sạch sẽ, bồng đứa nhỏ. Thằng nầy dễ thương thiệt mà. Cô vừa bồng nó là nó rúc đầu vô ngực cô làm cô bồi hồi xúc động. Nó lại cười tít toát, thấy ghét hết sức! Nhưng cô Hai Nguyện chưa hun nó liền đâu. Cô tự hỏi mình có thể yêu thương nó thiệt tình không? Cô chưa biết mặt má nó lần nào. Cô chỉ có thể hình dung má nó qua khuôn mặt của những tình địch khác: mắt con nầy, mũi con kia, tóc tai con nọ, hình vóc con khác nữa…Mà lạ dữ! Thiệt tình cô chẳng ghét con nào hết. Bao nhiêu việc oan trái cũng do cái tánh chuộng trăng hoa của tên Bảy Báu mà ra. Nếu nó không có tâm địa uốn éo ruột rồng, lòng vòng ruột rắn, lắn quắn ruột dê thì chẳng có con nào có thể nhảy vào cuộc sống lứa đôi của cô để ăn mót hoặc cướp giựt hạnh phúc của cô được hết. Bởi chồng cô già không bỏ, nhỏ không tha, tươi như hoa nó liền mê lú, xấu như ục cú nó cũng say sưa…như vậy thì con đờn bà nào cũng có thể để nó dê, nó nịch ái ráo trọi. Nhưng mà trời ơi, dù cô đã khóc cả thùng, cả thau, cả xô nước mắt vì sự bạc bẽo của chồng, nhưng lòng cô vẫn sẵn sàng dọn một chỗ tha thứ đợi ngày nó trở về.

Trang làm bình sữa xong, đem lại mẹ. Cô Hai Nguyện cho thằng Phước bú. Và khi bình sữa chưa cạn thì nó đã ngủ khò, miệng thỉnh thoảng mỉm cười. Cô Hai Nguyện đặt nó lên vạt tre trải chiếu đậu, rồi đắp mền mỏng lên tận ngực nó. Thằng Ðức cứ cà rà bên em ngắm nghía, lâu lâu hun lên đôi má măng sữa của nó.

Bảy Báu rửa mặt chải đầu, thay đồ mát xong. Biết là vợ bớt cơn thịnh nộ, anh ta giả bộ ra sàn nước rủa chơn rồi mang guốc lóc cóc tới bên vợ nói nhỏ:
– Mình! Bảy Huỳnh Kim Báu, chồng mình dìa với mình đây nè, mình.

Cô Hai Nguyện quắc mắt khi thấy Bảy Báu chờn vờn muốn ôm mình:
– Anh chớ rớ tới tui. Anh mà xáp lại gần là tui tri hô anh muốn ám sát tui, nói cho anh biết.

Bảy Báu tha thiết:
– Mình ôi, anh dìa đây là quyết lòng trụ luôn bên mình cho tới mãn đời suốt kiếp. Anh đã chán ngán việc mèo đàng chó điếm rồi. Khi má thằng Phước lâm chung có dặn anh quay về với mình và bắt anh thề dứt bỏ chuyện én anh, ong bướm để tạo dựng nghiệp nhà.

Cô Hai Nguyện trề môi:
– Nói dóc! Con Tư Mỹ Huệ đó mà kể số gì tới tui. Ðừng có xạo nghe cha nội! Con này ăn cơm bảy phủ, dạo đủ khắp nơi, nó đâu có khờ như anh tưởng!

Bảy Báu giọt dài giọt vắn:
– Má thằng Phước không phải là cô Tư Mỹ Huệ đâu!

Cô Hai Nguyện chưng hửng:
– Ủa! Vậy chớ con nào?

Bảy Báu kể vắn tắt:
– Khi qua đưa cô Tư Mỹ Huệ lên Tân Châu lập nghiệp thì cổ tình cờ gặp lại thằng chồng cũ. Ông bà mình thường nói: “Vợ chồng cũ không rũ cũng tới” nên cổ đành đoạn bỏ qua để về với thằng cha đó. Cả hai dắt nhau qua Hồng Ngự mần ăn. Riêng qua thì dẫu gặp cảnh xất bất xang bang thì cũng không còn mặt mũi nào về với mình. Qua nhờ nghề chích dạo kiếm ăn rồi gặp má thằng Phước tức cô Hai Lành con gái thầy Hương quản Nên…Cổ làm cô mụ vườn mát tay lắm, tiền kiếm bộn bàng nhưng duyên số hẩm hiu nên mãi ba mươi ngoài mà cổ còn ở vá. Cùi mít trôi lên gặp cùi thơm trôi xuống, cả hai gá nghĩa với nhau mà ăn nên làm ra. Bởi qua xử tệ với mình nên trời không cho qua hưởng trọn cảnh êm ấm với cô Hai Lành cho tới mãn kiếp. Ðẻ thằng Phước xong một tháng là cô Hai đau dây dưa gần một năm rồi nhắm mắt qua đời…

Món canh chua cá lóc với bạc hà do Trang nấu ngon dễ sợ. Trong bữa cơm trưa hôm đó, Bảy Báu hỏi han vợ con đủ thứ.

Hiền mặc cái áo lụa màu hoàng yến, đeo sợi dây chuyền bướm lóng lánh, dịu dàng bảo mẹ:
– Má cứ ở nhà hủ hỉ với ba, con đón xe ngựa ra chợ Vãng mua sắm vật dụng cho thằng Phước. Con có nấu nước bồ kết và hái chanh cho má gội đầu.

Cô Hai Nguyện ôn tồn:
– Con nhớ mua phấn trị sảy, xà bông thơm, rượu chổi cho em con. Về sữa, con nhớ mua sữa hiệu Con chim chớ đừng mua hiệu khác. Nhớ mau về nghe con. Má cần đủ thứ bộ vận để tắm rửa cho nó.

Khi thằng Phước thức dậy, thằng Ðức giành bồng em đi dạo xóm. Cô Hai dặn dò:
– Nhớ đừng bồng em ra chỗ nắng nôi, gió máy mà nó ấm đầu sổ mũi nghe hôn con!

Rồi cô dặn Trang:
– Con Trang nhớ làm gà nấu cháo và trộn gỏi bắp chuối để ba con rước ông bà về ăn Tết với con cháu. Tối nay con nhớ ủi quần áo cho cả nhà. Cúng tất, hạ nêu xong, má sẽ đi chuộc bùa trừ tà tróc quái cho em con ăn chơi, mau lớn.

Tết nầy cô Hai Nguyện mua xấp lụa cẩm vân màu cánh sen, xấp lụa hồng đào để may áo dài cho Trang. Cô mua xấp cẩm nhung màu hoàng yến và xấp nhiễu tím may áo dài cho Hiền. Còn thằng Ðức, cô sắm cho nó chiếc quần tây bằng nỉ xám, áo sơ-mi trắng bằng tít-so và đôi giày xăng-đan.

Sực thấy chồng cứ theo tò tò bên mình, cô hỏi:
– Còn ông tía non nầy, ông uống trà hay uống cà-phê thì nói một tiếng cho tui biết để tui làm?

Bảy Báu cười mơn:
– Mình cho gì thì uống nấy.

Cô Hai Nguyện nguýt chồng rồi lủi xuống bếp, lầu bầu lẩm bẩm:

– Cái thứ trời đánh thánh đâm như anh, uống nước cống, nước đường mương mới đáng, ở đó mà uống cà phê, uống trà…
Nói vậy, nhưng cô vẫn pha một tách cà phê cho chồng và không quên pha thêm một bình trà Xiểu Chủng.

Xế xế, cô Hai Nguyện gội đầu bằng nước bồ kết và nước cốt chanh tươi. Hôm nay là ngày ba mươi tháng chạp, cô Hai Nguyện theo thường lệ, tắm rửa và gội đầu để xả xui.
Bữa cơm chiều, vì để mừng ngày phu thê tái hiệp, cô Hai Nguyện làm thêm vài món nhậu tươm tất cho chồng như mắm cá cơm ăn với thịt phay, bún, rau sống; như gỏi sứa tôm thịt…
Tối hôm đó, Trang và Hiền tình nguyện thức canh nồi bánh tét, bánh dừa cùng nồi luộc đầu heo, lòng heo.

Vợ chồng lâu ngày tái hiệp, ân ái thiệt mặn nồng. Thằng Ðức nằm ngủ ở vạt tre kê giáp tấm vách ngăn buồng cô Hai, nửa đêm thức giấc, nghe tiếng lào xào của cha mẹ.
Tối hôm nay, cô Hai Nguyện mặc chiếc áo bà ba lụa tím, quần lãnh trơn cặp lưng bằng nhiễu màu hường cánh sen, chơn đi guốc sơn đen. Khi cô ra ngoài trung đường thắp nhang, cúng nước trở vào thì thấy Bảy Báu mở valise lôi ra một cái gói vuông bọc mo cau. Anh ta mở gói, bày những phiến vàng lá, bảo vợ:

– Bốn chục lượng vàng đó. Xứ Tân Châu dễ làm ăn hơn ở đây nhiều. Qua tặng mình hết để làm vốn, đặng cho hai đứa con gái mình rảnh rang kiếm cách học thêm.
Cô Hai Nguyện nhìn sững chồng rồi gói vàng lại, cẩn thận cất vô tủ. Cô nhỏ nhẹ:

– Mình cứ ngủ đi. Em sửa soạn cúng giao thừa đây.

Giao thừa tới. Pháo chuột, pháo tre hàng xóm nổ vang. Thằng Phước giật mình khóc ré. Cô Hai Nguyện cúng kiếng xong, lại bồng nó, dỗ nó ngủ lại. Bảy Báu ăn mặc chỉnh tề, bước ra phòng khách, bảo vợ:

– Mình kêu sắp nhỏ ăn mặc đàng hoàng để mừng tuổi vợ chồng mình.

Bảy Báu lì xì cho Trang chiếc kiềng chạm, cho Hiền chiếc kiềng trơn kèm chiếc nhẫn nhận hột cẩm thạch hình hột dưa. Thằng Ðức thì được chiếc đồng hồ đeo tay.
Trước khi xuống bếp vớt bánh tét dừa đặt vào rổ cho ráo nước, Trang hỏi mẹ:

– Năm nay con gì ra đời vậy má?

Cô Hai Nguyện trầm ngâm:
– Má chẳng nghe con gì ra đời hết! À, lúc giao thừa, em con giựt mình khóc om sòm. Vậy là con trống ra đời đó. Con trống nầy tên Phước, tức nhiên nó đem phước tới cho nhà mình.

Khi trở về buồng, Bảy Báu ôm chặt vợ vào lòng. Anh ta thấy giờ đây vợ mình mặn mòi quá cỡ, môi má đỏ au chớ không xanh xao như chầu xưa. Anh ta ứa nước mắt:

– Kiếp trước chắc anh tu kỹ nên kiếp nầy được trời ban thưởng cho một người vợ hiền như mình.
Cô Hai Nguyện nguýt:

– Xạo vừa vừa chớ! Em đã bao phen bầm dập bởi lời ỏn thót của mình rồi. Mình về đây được…

Cô toan nói rằng mình về đây được ngày nào là em mừng ngày đó, nhưng cô ngưng ngang vì đó là câu nói gở, gây điềm xui xẻo. Cô nằm bên chồng, cất giọng ngọt lìm lịm:

– Ra giêng, mình nhớ đem hình má thằng Phước họa lớn để thờ. Em muốn vong linh má nó theo phù hộ cho nó mạnh khoẻ, ăn chơi….

1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/22/2016(UTC)
Hạ Vi
#2146 Posted : Monday, February 22, 2016 1:43:58 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)






Xuân


Em về cầm tháng giêng mơ
Rót hồn Xuân tươi thắm mãi
Trên nhánh thời gian mềm mại
Nở bung lộc biếc Xuân thì

Em về cầm nắng trong ngần
Vỗ xanh trên từng nõn lá
Mắt em tươi đồng trổ mạ
Cười vui trong ánh Xuân sang

Em về cầm tiếng thời gian
Soi trong lòng đời dâu bể
Đời người đa đoan sự thế
Xuân chưa đến, sợ Xuân già

Gấm hoa một dải Sơn Hà
Xuân về bồng bềnh khắp chốn
Ươm trong lòng Xuân mơn mởn
Em cầm một nụ tình hoa

Em cầm cả nắng bao la
Trải khắp đồng quê về phố
Nghe Xuân reo vang từ độ
Mai vàng một đoá giêng mơ.

Em mang về cả nguồn thơ
Gửi trong tiếng lòng đất Mẹ
Én mang cánh Xuân vừa hé
Nghe lòng phơi phới tình Xuân.



Mộc Miên Thảo



,


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
ASIAlcoholic on 2/23/2016(UTC)
ASIAlcoholic
#2147 Posted : Tuesday, February 23, 2016 8:18:43 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,207
Points: 3,678
Location: USA

Thanks: 2239 times
Was thanked: 1566 time(s) in 844 post(s)




















h ì n h . s ư u . t ầ m
1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
CỏThơm on 2/28/2016(UTC)
Duy An
#2148 Posted : Sunday, March 6, 2016 8:52:49 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Mùa hẹ nước



Tạ Phong Tần

Nếu không phải là dân miền Tây chính hiệu và quen thuộc cuộc sống hoang dã, rừng rú, nắng bụi mưa sình thời hoang sơ mấy chục năm về trước thì ít ai biết một thứ rau đồng ăn vô mê chết bỏ là hẹ nước. Kêu là hẹ nước vì nó mọc dưới nước, ở trong các thửa ruộng phèn, gốc bám sâu dưới bùn đất, bụi hẹ vươn lên khỏi mặt nước và xòe ra xung quanh, lá tỏa ra dập dềnh, dập dềnh, uốn éo theo từng đợt sóng mỗi khi có cơn gió thổi qua làm mặt nước ruộng chao động, phập phồng.




Vớt hẹ nước


Thật ra, không thấy nó giống với hẹ trên cạn chút nào hết. Hẹ trên cạn dày lá nhưng bề ngang lá hẹp, màu xanh sẫm. Hẹ nước lá mỏng, có gân trắng chính giữa và giống lá sả hơn, nhưng không dày, cứng, có lông tơ như lá sả, mà mỏng, mềm, hơi trong trong, màu xanh nhàn nhạt như lá sả. Lá hẹ nước mềm, xốp và giòn, vị ngọt thanh mát rượi.

Hồi tôi còn nhỏ, vào mùa mưa tháng 8, tháng 9, tháng 10 âm lịch, ngoài ruộng nước ngập chứa chan, mênh mông thì cũng là lúc bọn con nít tụi tôi suốt ngày trầm mình ngoài ruộng để chơi và hái rau đồng. Thôi thì các loại rau trai, rau chóc, hẹ nước, rau dừa... ngày nào cũng ôm về nhà cả thúng ăn không hết. Có hôm say mê hái rau, trời chuyển mưa tối sầm mà không hay, đến chừng mưa đổ xuống sầm sập, trời đất tối mù, gió thổi vù vù, sấm nổ ầm ầm tôi mới giật mình. Nhìn quanh cả cánh đồng vắng ngắt không một bóng người, chỉ có mỗi một mình mình, không dám leo lên bờ đành nằm im không cục cựa dưới mặt nước ruộng, ló có cái đầu lên, vừa đỡ lạnh, vừa tránh sấm sét, chờ đến khi tàn hết đám mưa mới trồi lên đi về nhà. May mắn ở chỗ nước dưới ruộng bao giờ cũng ấm hơn nhiệt độ trên mặt nước nên muốn tránh lạnh cứ trầm mình ngập xuống nước là xong.

Không hiểu hẹ nước từ đâu sanh ra, không thấy nó có bông, có trái. Mùa nắng đất ruộng khô rang, nứt nẻ, không có cây cỏ gì sống được. Vậy mà hễ mưa xuống đầy nước trên ruộng là có hẹ nước, không cần gieo, không cần trồng gì hết. Cho nên dân quê coi hẹ nước là thứ “của ngon vật lạ trời cho”, không phải là thứ ai muốn cũng được, vùng đất nào muốn cũng có.

Hẹ nước phần càng gần gốc trắng phếu càng ngon. Muốn hái hẹ nước phải lội xuống ruộng, trầm mình dưới nước, thò tay tìm cái gốc hẹ mà lắc lắc vài cái cho đất nhão ra rồi nhổ lên cả bụi lẫn gốc rễ. Ruộng nước càng sâu, lá hẹ càng dài, màu lá càng xanh nhạt, trong sáng, bề rộng lá lớn khoảng một phân. Ruộng nước thấp lá hẹ ngắn và màu sậm hơn, lá cũng dày hơn, bề rộng lá nhỏ hơn.

Hẹ nước mới nhổ đem về cho vô thau lớn đổ nước sạch vô ngâm khoảng một giờ đồng hồ cho dễ rửa. Khi rửa tẽ lá ra vuốt từng cái lá cho sạch đất và phèn màu vàng vàng bám trên lá, nhất là phần gốc và gần gốc hẹ, nhưng đừng tước riêng lá ra bỏ gốc nó sẽ rối thành từng nùi nhìn xấu xí lắm. Rửa xong rồi xếp ngay ngắn đầu theo đầu, đuôi theo đuôi trong cái rổ lớn cho ráo nước, lúc nào ăn xếp lên đĩa bàn lớn. Ðể nguyên gốc rễ ăn vẫn được nhưng nếu muốn nhìn thấy đẹp mắt thì lấy kéo cắt bỏ phần rễ đi. Khi ăn cuộn nó lại thành một cuộn cỡ ngón chưn cái, chấm vô nước mắm kho, cá kho hay thịt kho mà ăn. Ngon nhất là chấm với nước mắm kho, ăn với bún tươi hoặc cơm.

Miền Tây có nhiều loại mắm, cá biển đem làm mắm kêu là mắm biển, cá đồng đem làm mắm kêu là mắm đồng. Mắm kho ngon nhất phải là mắm cá sặc, cá linh đem kho nước, vừa rẻ tiền mà mùi vị lại ngon ngọt, đậm đà.

Thường thì người ta nấu mắm kho ở nhà để ăn rất đơn giản, nêm nếm gia vị theo ý mình cho vừa miệng. Mua mắm cá sặc Cà Mau là loại mắm mặn trộn thính thơm phưng phức, không xài đường hay mật mía chao cho mắm ngọt như mắm Châu Ðốc, Long Xuyên. Chỉ cần nửa ký lô mắm cho vô nồi nấu với hai lít nước lã cho con mắm rã ra hết thịt tan vô nước, chắt nước ra hoặc lấy rây lược bỏ hết xương cá. Ðổ nước mắm lại trở vô nồi, nêm thêm gia vị gồm bột ngọt, muối, đường tùy khẩu vị người ăn. Sả để nguyên cây rửa sạch, tước bỏ lá hư bên ngoài, chặt bỏ phần đầu rồi lấy sống dao dần cho gốc sả hơi dập để dễ cột lại thành một nắm bỏ vô nồi nước mắm. Có thêm củ ngải mắm giã nhuyễn bỏ vô nấu sẽ dậy mùi mắm rất thơm ngon, nhưng nấu xong phải lược lại lần nữa bỏ xác ngải bún đi rồi mới có thể cho thịt, cá vô nước mắm kho được. Nấu cho nước mắm sôi lên, bay mùi sả, mùi mắm thơm phưng phức. Nếu không còn thứ gì thêm vô thì tới đây phi một ít mỡ tỏi với sả, nhắc nồi xuống rưới nước mỡ tỏi phi này lên mặt là ăn được rồi. Ở nhà quê mùa mưa chỉ cần nồi mắm kho có vậy, đơn giản mà ăn rất hao cơm.

Còn muốn ngon hơn nữa thì bổ sung thêm thịt cá. Như vậy khoan đổ mỡ tỏi phi vô mắm kho mà phải chờ đến cuối cùng mới cho vô. Kiếm thêm cá rô, cá lóc, cá sặc, cá kèo, nghêu, vọp, tép... nói chung là bất cứ thứ cá tôm đồng loại nhỏ nào kiếm được (cái này kêu là cá xà bần, cá hủng hỉnh) đã làm sạch để ráo nước bỏ vô nồi nước mắm, có thêm vài miếng thịt ba rọi xắt miếng nhỏ bằng ngón chưn cái càng tốt. Nấu nước mắm sôi trên lửa vừa phải cho cá, tép, thịt chín, hớt bỏ bọt dơ rồi hạ lửa còn sôi liu riu cho nước mắm thấm vô thịt, cá, tép. Nếu có cà dái dê rửa sạch cắt khúc dài chừng ba bốn phân, chẻ đứng khúc cà làm hai cho vô nồi nước mắm kho cho cà chín, đừng kho lâu quá cà thấm nước mắm quá mặn ăn không ngon.

Nhà ai có sẵn vài cây dừa trồng trong vườn nhà, lấy nước dừa xiêm tươi để nấu mắm cho đến khi rã hết thịt con mắm thì cái nước mắm kho này nó trở thành loại “thượng thừa” trên cả tuyệt vời.

Hồi xưa hẹ nước mọc bao la, mênh mông, ai muốn lặn hụp hái bao nhiêu cũng được, chủ ruộng còn mừng, đỡ tốn nhiều tiền kêu công làm cỏ ruộng. Bây giờ món này đã leo lên bàn ăn trong các nhà hàng đặc sản sang trọng ở Sài Gòn, thì cái giá của nó cũng khác xưa. Chủ ruộng khôn ra, canh me không cho hái thả cửa như trước mà tổ chức một đội quân “thu hoạch sản phẩm” hẳn hoi, bán cho thương lái vận chuyển về bỏ mối các chợ rau và các nhà hàng, kiếm được bộn bạc chớ chẳng chơi. Chủ ruộng còn be bờ giữ cho mực nước trong ruộng cao hơn để có bụi hẹ nước vừa dài vừa đẹp, bán có giá hơn. Làm xong vụ lúa đông xuân là cày đất cho nhuyễn, bơm nước vô giữ nước thiệt cao trong ruộng để chờ thu hoạch tiếp vụ hẹ nước.

Trời bên ngoài đang mưa lạnh lạnh mà trong nhà bếp dọn ra một mâm mắm kho thơm phức, cơm nóng bốc khói xới tơi xốp, thêm rổ rau hẹ nước xanh mướt rượt là thấy hấp dẫn quá chừng rồi. Cuộn một cuộn hẹ nước chấm một miếng vô tô mắm kho, rồi bỏ vô miệng nhai rau ráu, vừa giòn tan, vừa mềm, vừa ngọt, vừa mát lạnh trong cổ họng, thiệt không có thứ rau nào ngon bằng, ăn một lần là nhớ mãi mùi vị đặc biệt dân dã của món rau này. Bưng chén cơm nóng hổi lên và một miếng cơm, gắp thêm miếng cá, miếng cà, chợt thấy thế giới này thu nhỏ lại chỉ trong vòng có mấy bước chưn thôi.
1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 4/1/2016(UTC)
Duy An
#2149 Posted : Friday, March 11, 2016 9:57:34 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Đường nhà quê


Phan Thị Lan Phương

Bữa nọ, con Hoàng bạn tui rủ ra quán Vy ngồi cà phê ngó phố cái tui có cớ gặp được thằng nhỏ đồng hương. Hỏi ra cũng dân Bình Nguyên hết, cái hắn hỏi rứa nhà chị đỗi mô mà em không biết, nhà em chỗ nghĩa trang đi lên. Rứa là mình hỏi lần tới rằng nhà nó có gần nhà ông Hai Phò không, nó nói không, quành lại chỗ cầu mương lớn tê. Mình hỏi rứa chắc gần nhà Bốn Luận, hắn nói đúng rồi, đúng rồi, em cháu ông Bốn Luận đây, bà con nhà ông Ba Hạ, ông Chín Đỗ. Con Hoàng ngồi nghe một hồi nói trời quơi, răng mi còn nhớ tên ông ni bà nọ ở quê, còn nhớ đường ni nẻo kia hay rứa.

Hỏi răng không nhớ được, cái thời não mình còn rộng rãi, mình ghi nhớ bao nhiêu là chuyện. Sáng ăn cơm xong mới 6 giờ là đã í ới nhau đi học. Từ nhà lên trường có 3 đường chính mà đường nào cũng thú vị. Con đường đi lên cầu máng là con đường ngắn nhứt, gọi là đường kênh vì đi men theo bờ kênh. Hai bên bờ kênh này toàn bông xương rồng li ti, đẹp không tả nổi, hiềm một chuyện là má dặn đi dặn lại không có ăn cái bông đó, chết nghe con. Cái cầu máng có mấy bậc thang cũ mèm bằng xi măng, đi cẩn thận chứ trợt té. Mùa đông má thường không cho đi đường kênh vì sợ bùn trơn, lỡ té xuống kênh chắc chết đuối. Còn mùa hè mà đi đường kênh thì lại nắng nóng vì bờ kênh không có bóng cây to. Cái cây lớn nhứt dọc bờ kênh là cây dừa đối diện nhà ông Hai Phò. Thế rồi một ngày, cả đám đi học về thấy cái hòm bự tổ chảng để dưới bóng cây, hương khói thắp nghi ngút, chiêng trống đánh chuông bùm. Bọn con nít cứ nhái tiếng chuông đám ma, đọc rằng: “Chuông chuông, bùm bùm! Chung chi? Chung chi? Chung tiền, chung tiền!” Nhái rứa thôi chứ ngó cái hòm đứa mô cũng sợ. Mấy bữa sau, cả đám nghe nói đó là đám ma con trai ông Hai Phò, bị chi không biết mà có cái mụt chỗ đầu gối, sưng lên, cái rồi chết. Có đứa còn nói tau dòm vô cái hòm, thấy cái mụt ở chưn to tướng nghe bay, nhưng thực hư đến giờ cũng không biết vì răng con ổng chết. Chỉ biết là sau đó, cứ mỗi lần cả đám đi gần đến gốc dừa nhà ông Hai Phò là đứa nào đứa nấy lồng dép vô hai tay, chạy trối chết.

Con đường êm ái hơn là đường dưới. Đường dưới là lối từ bờ kênh, đi vòng qua ngõ nhà ông Ba Hạ rồi lại quành lên bờ kênh, về trường. Nếu vẽ hình chữ D thì đường dưới là cái bụng, đường kênh là cái thanh dọc. Đường dưới râm mát, nhiều cây trái ăn vặt. Nói về mấy trái ăn vặt phải kể đến cây chùm rượu, trái nó chín hồng, mọng nước, ăn hơi ngọt nhẹ thôi chứ không có chi đặc biệt nhưng đứa nào cũng mê, có khi chưa chín cũng vặt nốt. Kế đến phải kể trái dủ dẻ, chín mềm, vàng và ngọt lự. Bông dủ dẻ cũng vi diệu lắm, có thể xài nó như con quay cho nó xoay dưới nền đất, có thể “nhốt” nó vô trong ly uống nước, trời chạng vạng mở ra hít hà, thơm dịu nhẹ như dầu dừa. Ngoài ra còn có dúi, trái chùm miễu, trái giằng, trái cơm nguội, nhãn dại… toàn mấy thứ không no đủ gì nhưng bọn con nít đứa nào cũng khoái. Đường dưới là con đường êm ả nhứt dù mùa mưa hơi lầy lội. Cũng không sao, cả lũ được phen lội nước. Khi chúng ta còn bé, cái rãnh nước bé tí cũng đẹp như một con sông.




ẢNH MINH HỌA

Con đường sóng gió nhứt phải kể đến đường chó. Muốn đi đường này phải ven theo bờ kênh, tới đường rẽ vô nhà ông Bốn Luận thì quẹo xuống, hoặc đi giữa bờ kênh, sau khi chạy trối chết qua khỏi cây dừa nhà ông Hai Phò thì rẽ phải cũng đặng. Thường thì cả đám không ưng rẽ đường nhà ông Hai Phò đâu, phải rẽ chỗ trước cầu máng, gần nhà ông Bốn Luận vui hơn. Ở sát cầu máng, người ta đặt cái cống nhỏ dẫn nước về cái mương bé tí trước nhà ông Bốn Luận. Chẳng có cái chi đặc biệt đâu, chỉ là mỗi lần đi ngang đó, cả đám ngồi túm hụm ngó xuống cái xoáy nước chảy từ kênh thủy lợi vô cái mương. Cái xoáy nước đó đứa nào cũng mê vì thả cọng rơm, con kiến xuống, nó đều chạy lòng vòng rồi rớt xuống cái xoáy sâu hoắm đó, mất hút và trồi qua bên kia cống, chảy vào con mương nhỏ. Tiếng nước chảy ở cái xoáy đó rít rất lạ, mà hễ thò chưn xuống nó còn rít to hơn. Về nhà kể má nghe, má nói đừng có lội xuống chỗ xoáy nớ, hắn cuốn cái chưn cái lún xuống chết chừ! Đường chó tất nhiên là có nhiều chó rồi. Từ nhà ông Bốn Luận phải đi vòng ra phía ruộng, ngang mé nhà bà Bốn Dưỡng, vòng về bờ mương lớn chỗ cầu Lùm là rẽ theo đường lớn về nhà. Chẳng nhớ đám chó dữ đó của nhà ai, chỉ nhớ rằng cả đám hô một, hai, ba là xách dép lên chạy, càng chạy chó càng sủa dữ, lại càng chạy dữ. Mà đường chó còn có một đoạn cũng bí hiểm đáng sợ không kém đoạn qua nhà ông Hai Phò, đó là cái đoạn người ta để bàn linh đám ma. Bàn linh là cái kiệu để bài vị, khiêng đi trước quan tài, sau lưng ông Quan công. Cái bàn linh của làng đã đưa bao nhiêu lượt người về với âm ti nên đương nhiên, nó linh thiêng lắm lắm. Nhưng khổ nỗi gần cái nhà để bàn linh đó lại có một loạt cây cỏ cao ngang hông, gọi là cây cứt mũi. Ấy là bởi bóc cái vỏ khô của nó ra sẽ có một loại hạt nhớt nhớt, đen đen như cứt mũi, ăn chẳng mùi lai chi nhưng đứa nào cũng ăn. Và ăn xong là lại chạy nín thở qua khỏi đoạn cái bàn linh, vì má dặn là đừng dòm vô mấy cái bàn linh nghe con, không nên nghe con. Cứ “không nên” theo nghĩa của bọn con nít ở quê nghĩa là linh thiêng, cấm kỵ rồi.

Tất nhiên, ngoài 3 đường đó còn có cả đường nghĩa trang, tức là qua khỏi nhà ông Hai Phò rẽ lên thẳng tới Gò Núi, qua cống nhà Bình Gặp, tạt nghĩa trang, lên quốc lộ về, nhưng đường này ít vui, lại nhiều xe, ba má không ưng. Rồi chưa kể chỉ cần tới bờ kênh hay đường chó là có tới mấy lối rẽ về nhà. Một lối là đi băng đồng trước nhà con Đậu, nhưng lối này phải đi qua mương thủy lợi, có cái cầu tròn quyn bằng sắt. Thiệt ra nó là cái ống nước bằng sắt thôi chứ cầu chi, lại bị rỉ rét lủng mấy lỗ mà tui rất sợ, đi được vài bước là ngồi xuống tru tréo rồi. Đường ấy tui chỉ đi lúc có con Sự con cô Bốn Quýt đi cùng. Con Sự hắn lớn hơn tui hai tuổi nhưng học chung, hắn đen thui mà hắn khỏe lắm. Cứ tới cái cống đó là hắn cõng tui qua, bao nhiêu đận mà chưa bao chừ rớt mương, hay thiệt. Cũng với con Sự, con Diễm Xuân Dây (ba hắn tên Xuân, ông nội hắn tên Dây, kêu tới hắn là kêu cả 3 đời, ghê thiệt), một đận tui làm ba tui hú hồn. Số là cả đám nghe lời con Sự đi theo con đường khác. Từ nhà bà Bốn Dưỡng, có cái lối băng sau hè, tạt ra một lộ nữa thì đi đến sau lưng nhà ông Bốn Xa đổ ra cái bàu giáp bờ kênh. Mấy đận, tụi tui toàn tự đi bộ về thôi, rứa mà bữa nớ ba thấy nắng nôi, ba rảnh nên đạp xe đi ngừa. Ba đi đường dưới không thấy, đi vòng lên đường kênh cũng không gặp con. Ba đạp tới đạp lui, thấy mấy người tát cá dưới bàu hỏi có thấy con tui không, họ kể nó vừa đi vừa thổi bong bóng với 2 đứa nữa kia. Ba đạp xe tận tới nhà bà Trụng mới gặp cả lũ đang bứt lá lốt hít hà, bị chó nhà bà Trụng sủa ỏm.

Ngó rứa mà cũng gần 30 năm trôi qua rồi. Bữa nọ tìm được con Sự, con Diễm trên Facebook, thấy nhớ ngày xưa. Mấy dạo về quê cũng nhớ lắm những con đường quê nên tui thường tranh thủ lấy xe chở thằng Bin đi học. Thằng Bin vẫn học cái trường Thanh Ly đó, trường mà ba nó, cô nó, chú nó đều từng học. Tui đi trở lại những con đường cũ, sao mà nó ngắn ngủn như vầy, chẳng dài được như trong những giấc mơ mà tui thường thấy. Nhà ông Hai Phò vẫn dày hàng cây mây phía trước, cái cống rẽ vào ngõ nhà con Thư Một Ngọt cũng còn y nguyên, lối về ngang đường lên nhà ông Sửu Mù qua bờ sông vẫn đó nhưng đường cũ chẳng thể như xưa được nữa.
Duy An
#2150 Posted : Wednesday, March 23, 2016 4:32:58 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)


Khúc Tháng Hai


tôi đã buồn như nỗi ngóng trông
tháng hai, trở lại những con đường
thấy tôi trên những tàng cây cũ
và những ngôi nhà đã bỏ không

tôi đã buồn như một ngọn cây
tháng hai, cành nhớ lá sương đầy
tháng hai, thôi đã không tay vẫy
và tiếng buồn rơi đều phương tây

tôi đã buồn như một nhánh sông
tháng hai, thôi vẫn chẻ đôi dòng
cánh chim nào lỡ quên soi bóng
trong nỗi sầu tôi, lên nước sơn

tôi đã buồn như một bàn tay
tay ai gió bão nổi hiên ngoài
tháng hai, nắng ở phương trời khác
mà tiếng rơi ròn khua ở đây

tôi đã buồn như một sớm mai
tháng hai, hoa cỏ, dấu chân người
có ai mưa ướt đôi vai nhỏ
và nhốt hồn tôi ở một nơi

tôi đã buồn như một giấc trưa
hồn đi trăm xứ vẫn mưa về
tháng hai, lệ chảy trong yên ắng
và dáng ai ngồi như chết khô

tôi đã buồn như một quán không
chiều lên lênh láng một dây đàn
tháng hai, bụi phủ từng vai ghế
tôi với bàn chia nỗi ngổn ngang

tôi đã buồn như chiếc bóng tôi
mai kia tôi sẽ bỏ xa đời
tuổi, tên, thôi cũng đi về… đất
riêng ở nơi này vẫn tháng hai.

Houston 2-84
Du Tử Lê
Hạ Vi
#2151 Posted : Friday, April 1, 2016 11:29:02 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)






Nhớ tháng giêng


Sao không ngày nào cũng tháng giêng ?
Cho hoa đua nở khắp trăm miền
Cho người tìm chút vàng phai cuối
Xưa cũ nhạt màu ... sương pha thêm .

Sao không ngày nào cũng tháng giêng ?
Cho em quên bớt những ưu phiền
Nâng ly tình cũ kề môi nhấp
Nhấm nháp hương đời ... say trong quên

Sao không ngày nào cũng tháng giêng ?
Để em gom nhặt chút trăng hiền
Tả tơi trong gió mùa đông trước
Vá thả lên trời mơ tơ duyên ...

Sao không ngày nào cũng tháng giêng ?
Tháng giêng xưa cũ đã thề nguyền
Nghĩ mãi về nhau trong tha thiết
Dẫu cho dông bão tả tơi thuyền

Sao không ngày nào cũng tháng giêng ?!!



thanhha







Duy An
#2152 Posted : Wednesday, April 6, 2016 1:19:51 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Tiếng mì gõ trong đêm


Tạ Phong Tần

Tiếng lóc cóc, lóc cóc vang lên đều đều giữa đêm khuya vắng lạnh lẽo. Không phải tiếng mõ tụng kinh của ngôi chùa nào đó. Tôi hé cửa sổ ra nhìn, trước mắt tôi là thằng bé khoảng mười một mười hai tuổi, da đen nhẻm, mặc quần đùi, áo thun ngắn tay cũ xì, tay cầm hai thanh tre vừa đi dọc con hẻm nhỏ vừa gõ hai thanh tre vào nhau phát ra âm thanh lóc cóc, lóc cóc đều đều theo bước chân không nhanh không chậm của nó.




NGUỒN PANORAMIO.COM


Sau lưng thằng nhỏ, nhìn ra đầu hẻm thấy có một xe mì gõ đóng bằng gỗ thô sơ, xập xệ với ánh đèn neon nhỏ xài điện accu, tỏa ra thứ ánh sáng trắng yếu ớt. Trên xe, nồi nước lèo bốc khói nghi ngút, tỏa mùi hành tỏi phi thơm phưng phức, làm cho ai có cái bao tử đang trống vắng phải rột rẹt xiêu lòng. Âm thanh xì xụp húp tô nước lèo của khách, tiếng nói chuyện rì rầm từ ngoài đầu hẻm vọng tới. Thấy cũng vui vui, bình an và ấm cúng trong đêm khuya lành lạnh.

Sở dĩ kêu là mì gõ vì món này du nhập từ miền Trung vào Sài Gòn, rồi xuống tận miền Tây Nam bộ, mà những ông chủ, bà chủ xe bán mì lẫn đứa nhỏ đi theo gõ miếng tre phụ bán đều nói giọng đàng ngoài. Xe bán mì không cần rao hàng, chỉ với âm thanh lóc cóc quen thuộc của miếng tre phát ra đã trở thành “nhạc hiệu” của món ăn bình dân này, và cũng là tên gọi của nó: Mì gõ. Bày bàn ghế cho khách ngồi bên vỉa hè, không gõ lóc cóc thì không phải là mì gõ dù cũng bán mì y chang như vậy.

Đây là món mì cực kỳ bình dân, giá cả cực kỳ rẻ. Một gói mì tôm ăn liền bán trong tiệm chạp phô hàng xóm cạnh nhà tôi giá hai ngàn đồng một gói, thì tô mì gõ bốc khói nghi ngút thơm phức kia chỉ có hai ngàn rưỡi đồng, mà không phải mất công nấu nước sôi, rửa tô sau khi ăn xong. Quan trọng hơn trong tô mì có thêm nhúm giá đậu xanh, hẹ lá, nhúm hành lá xắt nhuyễn, ngò rí cho thơm, hành khô phi mỡ tỏi, tóp mỡ, ớt bằm, miếng chanh tươi, mỗi thứ có một chút xíu và hai lát gan heo luộc, ba lát thịt heo nạc luộc xắt mỏng như tờ giấy quyến cuốn thuốc lá.

Mì gõ bán rẻ được như vậy nhờ người bán dùng loại mì ăn liền đóng gói bán theo ký lô, gói năm ký, mười ký, mỗi gói bự như vậy có đến mấy chục đến hàng trăm miếng mì kèm gói gia vị, bột nêm trong đó, loại mì gói bự này giá bán tại nơi sản xuất hoặc tại chợ giá rẻ hơn thứ mì đóng gói nhỏ mỗi gói một miếng mì.

Bí quyết để bán được mì gõ là làm sao nấu cho được một nồi nước lèo trong vắt, ngon lành mà lại giá rẻ, bán có lời. Nước lèo được ninh từ xương heo mua gom từ những buổi chợ chiều ở các chợ bình dân, chồm hổm, gia giảm thêm chút gia vị tùy theo khẩu vị người nấu nêm nếm. Muốn cho nước ngọt hơn thì bỏ thêm củ cải trắng. Thịt nạc luộc để xắt ra bán cho khách cũng luộc chung luôn cho ngọt nước, thành ra khi miếng thịt xắt mỏng cho lên mặt tô mì, nó chỉ là hình thức miếng thịt, chớ đã trở thành lạt nhách, không còn vị ngọt nữa. Người xưa có câu: “Bò teo heo nở”, nên thịt heo cứ luộc thoải mái đi, luộc lâu cũng không bị teo nhỏ như thịt bò.

Khi có khách hàng, người bán lấy một miếng mì cho vô cái tô sành bằng đất nung tráng men loại rẻ tiền nhứt. Múc một dá nước lèo chan vô tô, rắc lên bên trên miếng mì nào là giá, rau, hành khô, tóp mỡ..., và thêm ba lát thịt, hai lát gan heo. Cái tài của người bán là xắt gan heo, thịt luộc ra miếng nào miếng nấy mỏng như lưỡi lam, cảm giác có thể dùng miếng gan hay miếng thịt đó để cạo râu được nữa. Rau giá thì dùng tay nhón lia lịa vài phát bỏ vô tô, nhìn thì thấy nhiều nhưng thả vào tô có chút xíu, gom lại chắc cũng cỡ ngón cẳng cái là nhiều.

Được mỗi một cái là nước lèo thơm phức, ngọt mặn vừa miệng ăn, mì dai, không phải ngon lắm nhưng tô mì làm ấm bụng, no lòng những người khách ít tiền trong cái vắng lạnh, cô độc giữa đêm hôm khuya khoắt. Nó là món ăn thường xuyên của học sinh, sinh viên, công chức nghèo, của tốp thợ đi làm về khuya.

Cứ tầm ba giờ chiều là vang lên tiếng lóc cóc, lóc cóc quen thuộc. Thằng nhỏ đi hết một vòng, hễ có khách kêu: “Ê mì gõ, cho một (hai, ba, bốn...) vô đây nghen nhỏ”, là nó “Dạ” thật lớn rồi quay đầu đi nhanh trở ra xe mì. Năm phút sau, nó bưng tô mì kèm theo đôi đũa tre rẻ tiền vô tận nhà cho khách. Nếu nhiều tô, nó để mì trên một cái mâm nhựa cũ xì để bưng. Xong nó lại tiếp tục đi sâu vô hẻm, vừa đi vừa gõ. Khoảng ba mươi phút sau, nó quay trở lại dọn tô, thâu tiền mì. Bán hết xóm này, nó và chủ xe mì vòng sang xóm khác, rồi khuya khuya một chút lại quay lại, bán tới bán lui tận hai giờ sáng mới nghỉ.

Ban đầu, mì gõ chỉ đơn giản có vậy. Người miền Tây Nam bộ thích ăn hủ tiếu hay mì Tàu, ít ăn mì ăn liền đóng gói do có quan niệm ăn mì gói nóng nổi mụn. Khi thâm nhập miền Tây, mì gõ cũng phải “Quá giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Mì Tàu sợi mì khô và cứng, trước khi ăn phải trụng qua nồi nước sôi sùng sục cho mì nở rồi mới vớt lên chan nước lèo vô. Nước trụng mì Tàu không thể ăn được do biến mùi và trở thành đục ngầu bột mì.

Dân Bạc Liêu vốn “Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu” nên ảnh hưởng cách ăn uống của người Tàu rất nhiều. Bạc Liêu có món hủ tiếu tươi sợi lớn nổi tiếng mềm, dai ngon, thơm phức, béo ngậy. Làm món hủ tiếu khô hay hủ tiếu nước kiểu Tàu bằng hủ tiếu tươi cực ngon. Hủ tiếu khô bán rẻ, sợi nhỏ, dễ mềm trong nước lèo. Người bán hủ tiếu gõ không xài hủ tiếu tươi mà xài hủ tiếu khô, rủi bán ế chỉ mất nồi nước lèo, hủ tiếu và các thứ khác còn nguyên, chỉ cần giữ lạnh đúng độ để thịt, rau không bị hư, hôm sau bán tiếp.

Xe mì gõ không có khả năng “chơi” một lúc hai nồi nước sôi trên xe để vừa trụng mì vừa nước lèo, mà làm vậy lại mất thời gian nhiều lắm, thành ra xe mì gõ biến đổi thêm bằng cách dùng hủ tiếu khô bán cho khách, tên gọi từ mì gõ chuyển thành hủ tiếu gõ, ai muốn kêu tên nào cũng được. Hủ tiếu khô trụng luôn trong nồi nước lèo rất đơn giản, nhanh chóng mà không làm thay đổi hương vị cũng như độ trong của nồi nước lèo. Xe mì gõ bán luôn hai thứ mì lẫn hủ tiếu, khách muốn ăn mì có mì, muốn ăn hủ tiếu có hủ tiếu.

Sau này, mì gõ nâng cấp hơn, bổ sung thêm bò vò viên. Khách hàng muốn ăn thêm thì dặn chủ xe hay thằng nhỏ gõ mì là thêm vô bao nhiêu viên bò, thì cứ đếm viên như vậy mà tính tiền tăng thêm.

Tuy rằng tô mì gõ (hay hủ tiếu gõ) chỉ được chừng ba đũa là hết nhẵn, nhưng cũng đỡ đói lòng, nhất là húp hết tô nước lèo nóng hôi hổi cũng đã lưng lửng bụng rồi. Mùi hành phi, tóp mỡ khô thơm phức, là để “ăn lấy hương lấy hoa thôi”, bỏ vào miệng chưa kịp nhai đã tan biến hết.

Tất nhiên, muốn thưởng thức cho ra hủ tiếu gõ, mì gõ miền Tây ít ra cũng phải về đến Sài Gòn để ngồi bên vỉa hè vào đêm khuya, nghe tiếng kêu lóc cóc, lóc cóc trong khi chờ đợi với cái bụng sôi sùng sục vì đói thì mới thấy nó ngon, nó quý với người bình dân ít tiền đến cỡ nào. Còn ở đây mình nấu nhiều xương, nhiều thịt, nhiều tóp mỡ thiệt là giòn, hành khô phi thiệt thơm, rau mùi cả đống bự chảng thì quá sang trọng rồi, còn gì là cái chất mì gõ, hủ tiếu gõ bình dân nữa.
Duy An
#2153 Posted : Thursday, April 14, 2016 3:48:07 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Xà Bông Cô Ba, hương xưa còn đây



Bài và hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt

SÀI GÒN (NV) - Một bữa gần đây, chúng tôi được người bạn cư ngụ tại quận 5, gần chợ Kim Biên, tặng mấy cục Xà Bông Cô Ba. Chúng tôi xúc động dù chỉ là mấy cục xà bông, nhưng đây là Xà Bông Cô Ba chứ không phải những cục xà bông nào khác.

Kể từ sau ngày 30 tháng 4, 1975, chúng tôi đã nghĩ, trong sinh hoạt hàng ngày, không còn bao giờ gặp lại Xà Bông Cô Ba nữa. Cục xà bông thơm hình trái xoan hay hình chữ nhật, màu xanh, ở giữa có hình in nổi một phụ nữ búi tóc: cô Ba - điển hình người đẹp Nam Bộ, nhãn hiệu xà bông thơm của hãng sản xuất xà bông mang tên “Trương Văn Bền và các con.”



Cục xà bông nhãn hiệu Cô Ba.



Ông Trương Văn Bền là người Việt gốc Hoa, sinh ra tại Chợ Lớn vào cuối thế kỷ XIX, thuộc gia đình khá giả. Ông có điều kiện sang Pháp thường xuyên nhưng không theo học một trường chuyên nghiệp nào. Tham gia thương trường, là người linh lợi nhạy bén, ông Trương Văn Bền mau chóng trở thành thương gia nổi tiếng trong lĩnh vực xay xát lúa gạo, sản xuất dầu thực phẩm và dầu công nghiệp. Năm 1932, ông Trương Văn Bền lập xưởng sản xuất xà bông mang tên Xà Bông Việt Nam, trong đó có loại xà bông thơm lấy tên là Xà Bông Cô Ba.

Xà Bông Cô Ba ra đời đã mau chóng vượt hẳn xà bông thơm nhập cảng từ nước Pháp lúc đó. Người tiêu dùng nhận thấy chất lượng của Xà Bông Cô Ba không thua kém xà bông của Pháp, trong khi giá cả lại rẻ hơn nhiều. Chúng tôi còn nhớ, sau ngày di cư từ miền Bắc vào Sài Gòn, đi trên đường Quai de Cambodge (đường Hậu Giang sau này) nhìn thấy cơ sở bề thế của hãng xà bông Trương Văn Bền, đối diện chợ Kim Biên.

Hãng xà bông của ông Trương Văn Bền tạo uy tín vững vàng trong thương trường, được hầu hết người dân Sài Gòn-Chợ Lớn và các nơi ưa chuộng. Mặc dầu vậy, ông Trương Văn Bền vẫn không ngừng tìm hiểu và học hỏi thêm kinh nghiệm trong sản xuất xà bông qua những lần ông sang Pháp.

Xà Bông Cô Ba trở thành thân thuộc đối với người dân Sài Gòn và các nơi, kể cả các nước lân cận như Lào, Cambodia. Xà Bông Cô Ba còn xuất khẩu sang Hồng Kông và một một số nước thuộc địa của Pháp.

Ông Trương Văn Bền qua đời năm 1956, các con ông tiếp tục duy trì sản xuất của hãng xà bông Trương Văn Bền và các con, trong đó có xà bông thơm hiệu Cô Ba. Chúng tôi được biết, khi máy giặt được nhập cảng vào Việt Nam, bột giặt của hãng Xà Bông Trương Văn Bền và các con tức thời được sử dụng với máy giặt, có sức cạnh tranh ngang ngửa các loại bột giặt nhập cảng.

Nhắc nhớ tới Xà Bông Cô Ba, chúng tôi cũng nhớ lại một kỷ niệm khó quên: ngày đám tang ông Trương Văn Bền, trong năm 1956. Năm ấy người viết bài này mới 11 tuổi. Thổ Mộ Họ Trương tại đường Bình Thới, quận 11 là một khuôn viên khá rộng, tiếp giáp phía sau vườn của căn nhà chúng tôi cư ngụ. Ðám tang ông Trương Văn Bền rất lớn, những người trong ban tổ chức tang lễ mở rộng cửa khuôn viên Thổ Mộ Họ Trương cho mọi người vào. Ðông đảo cư dân ở đường Bình Thới và những đường lân cận thuộc quận 11 tới dự. Mọi người được mời dùng bánh và uống nước xá xị. Phải thấy là đám thiếu nhi chúng tôi mừng rỡ chừng nào, khi được ăn bánh và mỗi đứa được uống trọn một chai xá xị!

Thêm một chuyện nữa về Thổ Mộ Họ Trương ở đường Bình Thới, quận 11. Những năm trước 30 tháng 4, 1975, một người cháu của ông Trương Văn Bền từ Pháp trở về, cùng vợ là một phụ nữ Nga. Họ sinh sống tại ngôi nhà gỗ giữa khuôn viên thổ mộ. Ngôi nhà gỗ rộng lớn xinh đẹp trang nghiêm, thiết kế toàn bằng danh mộc. Mỗi sáng chúng tôi được ngắm người phụ nữ Nga xinh đẹp, rũ tóc sau khi gội đầu, ở ban-công phía trên cao của ngôi nhà. Một lần chúng tôi sang bên thổ mộ, làm quen người phụ nữ Nga này. Trong câu chuyện trao đổi bằng tiếng Pháp, bà người Nga tóc vàng ấy bảo: “Muốn sang Việt Nam sống một thời gian, để tìm hiểu và tận mắt nhìn thấy Cô Ba Sài Gòn!”

Sau ngày 30 tháng 4, chúng tôi không thấy vợ chồng người cháu ông Trương Văn Bền nữa, hình như họ trở lại Pháp. Bà con khu xóm Thổ Mộ Họ Trương cho biết, người cháu của ông Trương Văn Bền đã cho cải táng những phần mộ tại đây tới nơi khác, trong đó có mộ ông Trương Văn Bền; cầm cố trọn khu đất thổ mộ. Ngôi nhà gỗ biến mất sau đó, thay thế là những nhà cửa lô xô chen chúc hiện nay, tại nơi nguyên là Thổ Mộ Họ Trương.

Và cũng sau ngày 30 tháng 4, Xà Bông Cô Ba mất tích. Thời gian những năm đầu trong chế độ Cộng Sản, cả miền Nam đều dùng thứ xà bông cục xám xịt, vừa hôi vừa trơ trơ như gỗ đá. Tới lúc nhà nước “mở cửa thị trường” thì các loại xà bông, từ trong nước lẫn nước ngoài, ồ ạt xuất hiện. Thế nhưng chúng tôi không hề thấy Xà Bông Cô Ba, và nghĩ chẳng còn bao giờ gặp lại. Hóa ra không phải vậy.

Người bạn tặng mấy cục Xà Bông Cô Ba cho biết, sau 30 tháng 4, hãng xà bông của Trương Văn Bền và các con hoạt động dưới hình thức công tư hợp doanh. Tuy nhiên từ lúc đó tới nay, Xà Bông Cô Ba chỉ sản xuất và phân phối giới hạn, cầm chừng, vì gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh với các loại xà bông khác trên thị trường.

Xà Bông Cô Ba hiện thuộc nhóm sản phẩm của công ty thương mại Phương Ðông, cơ sở đặt tại số 40 đường Kim Biên, phường 13, quận 5.

Duy An
#2154 Posted : Thursday, April 28, 2016 10:40:21 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Cây mận trước nhà


Như Sao


Có những cái cây làm bạn với ta từ thời thơ ấu và suốt đời ta vẫn nhớ nó, tìm về với nó mỗi khi có dịp. Đó có thể là cây khế, cây ổi, cây trứng cá… Kẻ viết những dòng này cũng có một: cây bàng. Và còn nhiều người nữa. Sau đây là cây mận của nhà văn Trần Hoài Thư.

Ngày trở về của một người tù cải tạo. Chào mừng người về có cây mận trước nhà trổ bông. Bông trắng rụng trên sân, trên tóc. Tóc tôi trắng, tóc má tôi trắng. Thằng con tôi ngỡ ngàng nhìn bố…

Vâng, quê hương là chùm khế ngọt/cho con trèo hái mỗi ngày… Tôi không có cây khế để con tôi trèo hái, nhưng có cây mận để còn chờ mỗi mùa bông mận nở cho một nỗi rạo rực ngây ngất lạ kỳ. Những cuống bông như những sợi chỉ, rơi xuống, rơi xuống, như mưa đan…để rồi sau đó ít lâu là những chùm trái mận bắt đầu sum suê treo trên cành. Chúng đến như một quy luật tất nhiên của thiên nhiên cho dù lịch sử quá khắc nghiệt đi nữa. Chúng là cái gì kết nối con người với đất đai, gia đình thân thiết.
Nhưng bây giờ gốc mận xưa đã không còn nữa. Con tôi cũng không bao giờ nghĩ về những mùa bông mận rải tấm thảm trắng trên sân nhà như tôi… Vì vậy, tôi ước ao có một nơi để tôi trở về mà khóc sau hơn mấy mươi năm biệt tích, nhưng mà có chỗ nào để tôi khóc đây…?



(Tranh minh hoạ: Thắm Nguyễn)

Ngày tôi vào tù con tôi một tuổi
Ngày tôi ra tù con tôi lên năm
Khi tôi trở về, đứng ngoài cửa ngõ
Mừng tôi trở về cây mận trổ bông

Tôi bước vào sân, bông rơi trên tóc
Con tôi nhìn tôi, ngơ ngác, kêu ông
Cả nhà sụt sùi, má tôi bảo cháu
Ba cháu đây mà, cháu nhận ba không

Thì tôi đã về, bốn năm phù du
Thì tôi đã về, má ôm tôi khóc
Cây mận trước nhà đầy bông nở trắng
Trắng thêm mái đầu tóc mẹ tóc con

Bông mận cứ bay, sợi li ti bay
Rớt trên tóc tôi, rớt trên tóc má
Tôi nhìn bên kia, nhà ai chủ lạ
Tôi nhìn ra đường, đường đã đổi tên

May mà nơi này còn gốc hoa niên
Bám chặt quê nhà trong ngày đen tối


Trần Hoài Thư đã mất cây mận hồi xưa. Kẻ này cũng đã mất cây bàng. Ôi những mất mát trong đời. Thôi thì chỉ có cách lâu lâu nhớ lại để tự an ủi mình rằng đã có một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc.
1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 5/11/2016(UTC)
phamlang
#2155 Posted : Tuesday, May 3, 2016 10:04:11 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Thư miệt dưới: Không còn con sông!

Đoàn xuân Thu





Thưa thân tui giờ già, viễn xứ; nhưng làm sao quên được thời trẻ trâu cho được chớ?

Nhớ xưa, cứ vào tháng Tám tới tháng Chín âm lịch, là dân miền Tây sinh sống dọc hai bên con sông Tiền, sông Hậu, hoặc vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, lại lục tục khăn gói bỏ nhà ra đi khi lũ lớn tràn về.

Lũ về, xóm làng, Tía má nhộn nhạo lên! Riêng đám con nít ‘ke’ vừa dứt mùa hè mới tựu trường được vài hôm, lại được nghỉ học nữa (Khoái quá xá!).

Cả nhà cụ bị tom góp đồ đạc chất xuống chiếc ghe tam bản, chèo riết đến rẻo đất cao, đất gò hay ra chợ xã che chòi ở tạm một hai tháng để chờ cho nước giựt!

Đêm quê người, tha thiết nhớ một dòng sông chìm dưới cơn mưa mùa năm cũ! Nước từ trên Trời rơi xuống và nước từ dưới đất dâng lên! Nhưng mùa nước lũ năm rồi không về; hậu quả khốc liệt là mùa hạn năm nay nước mặn tràn vô vùng quê cũ. Lúa chết, cây trái lá úa vàng, bông bụp, bông nở đều rụng hết ráo, nước ngọt không có để mà uống; nói chi đến tắm giặt.

Thôi rồi: “Không còn con sông, nước dâng tràn lên bãi bờ/ Anh về quê em khắp nơi như là biển khơi/ Chập chờn mái tranh ngoi lên giữa ngọn triều dâng/ Những đàn gà con bơ vơ đứng nhìn trời xanh”

Ôi nhớ xưa! Nơi mà con sông, đồng lúa, rẫy khoai chỉ một đêm, sáng ra thành biển nước khi lũ tràn về. Không còn nhận ra đâu là bờ mẫu, ao cá! Hàng cau trước nhà chỉ còn nhìn thấy mấy ngọn tàu lá dật dờ sóng nước.

Lũ vậy mà bà con mình mừng! Vì ruộng phủ phù sa, kênh rạch thì đầy tôm cá!

Thưa mùa lũ đồng bằng sông Cửu Long dính liền với cá linh. Cá linh lại dính liền tới chuyện tình tui kể người nghe. Chuyện nọ nó xọ chuyện kia thành một đám rối nùi trong trí tưởng.

Mùa thu quê người, đêm nay, bên ly vang trắng, tui tẩn mẩn gỡ ra từng cọng nhớ một để bùi ngùi thương cảm một vùng quê, tui đã nỡ lòng nào bỏ nó đi cho đành đoạn nè Trời!

Nhớ mùa lũ năm 1978, nước chụp xuống tràn đồng, tui lon ton theo một đứa bạn giang hồ sông nước về quê nó mùa nước nổi tận miệt Thơm Rơm, Thốt Nốt, Cần Thơ để ăn chực bậy mấy bữa cơm!

Ôi cái xứ quê nghèo nhưng tình người với nhau không có nghèo như mình tưởng! Có gì ăn nấy! Có cá ăn cá; có mắm ăn mắm!

Miệt đồng bằng mình xưa giờ đãi nhau bằng tấm lòng nhân hậu; dẫu đất nước miền Nam sau khi thua trận, đang chìm trong cơn giông bão rách áo đói cơm.

Thằng bạn có đứa em gái thiệt là hoa đồng cỏ nội nhe bà con. Con gái ruộng vườn rẫy bái làm sao se sua son phấn đẹp như con gái ở thành?

Có điệu hết biết gì chăng nữa chỉ là mái tóc dài chấm lưng thon, xức dầu dừa mướt rượt và dùng cái kẹp lá giữ cho mấy lọn tóc trước cái trán hơi vồ, khỏi lòa xòa che khuất hai con mắt ươm màu khói đốt đồng!

Tui chơi ác nhìn sâu vào đôi mắt đó để em quýnh cẳng chơi! Ôi đôi mắt có bao điều muốn nói, mà em hỏng dám nói huỵch toẹt ra, chỉ vòng vo, để ai muốn hiểu sao thì hiểu vì mắc cỡ quá hè!

“Tình cờ anh Hai về quê em chơi dăm ba bữa, nửa tháng, để em trổ tài đãi anh Hai vài món quê Thơm Rơm! Hỏng phải cao lương mỹ vị gì đâu nhưng ăn đặng cơm lắm đó; để sau nầy anh Hai rời cái vùng quê buồn như tối đỏ đèn nầy mà nhớ em nhe!”

Tui cười he he đáp lại: “Làm liền! Cái gì ăn là tui khoái hè… Cô Út!”

Món em đãi anh Hai năm ấy là món cá linh, con cá quê nghèo như lời em ngọt như đường cát mà mát như đường phèn từng thỏ thẻ!

Tía em đi giăng lưới, dựng đăng, đặt đáy bắt được cá rô, cá mè vinh nè nhưng cá linh ôi nhiều vô số kể, tươi chong, nhảy soi sói cho một rổ.

Đầu mùa lũ, cá linh con ngon bá cháy; bởi cá chưa lớn quá, nên xương chưa cứng, bụng cá lại có mỡ nên ăn rất béo. Cá càng non thì thịt càng ngọt, xương càng mềm ăn nguyên con, không sợ mắc cổ.

Em ra sàn nước cầm kéo cắt ngang rún cá một đoạn nhỏ rồi móc hết ruột bên trong ra. Cắt đuôi, không cần đánh vảy gì ráo!

Sau đó rửa sạch mớ cá, ướp tỏi, ớt, đường, dằn thêm chút muối, để nấu một nồi canh chua với bông điên điển.

Chặt một trái dừa tươi, thêm vài muỗng nước mắm ngon, đường, ít me dầm lấy nước cốt đổ vào nồi; rồi nêm nếm sao cho vừa ăn. Sau đó cho tỏi phi thơm, thêm ít tóp mỡ, rau ngò gai và nấu cho nước canh sôi riu riu lên.

Trút nhẹ cá linh vào nồi. Cho bông điên điển vào rồi vớt ra liền kẻo bông mềm nhũn, hết giòn và hết ngọt. Rồi múc canh chua ra tộ!

Gắp con cá linh vừa chín tới, chắm vào cái chén nhỏ đựng nước mắm y, thêm vài lát ớt sừng trâu, đưa vô miệng nhai từ từ. Cầm cái ly hột mít rượu đế quất nghe cái tróc.

Bà con ơi! Ăn từ độ ấy mà mồ hôi trên chân tóc của tui còn ứa ra tới tận bây giờ…

Cơm quê nghèo có canh chua cá linh là phải có món cá linh kho tiêu.

Em gom mớ cá linh đã làm sạch cho thêm chút nước màu, đảo cho nó đều! Xong cho nước mắm vào nồi đất kho chung với cá, giữ lửa liu riu cái ơ kho cá. Rồi bỏ tiêu cho ngọt; bỏ hành cho thơm!

Bới cơm, chén đầu chan với canh chua, vừa ăn vừa nhậu. Chén cơm trắng cuối bữa, ăn với cá linh kho tiêu mà không cần phải chan canh. Mới ngon!

Bữa cơm mùa nước lũ năm 78, và ánh mắt đó theo tui suốt những cơn mơ hằng đêm nơi xứ lạ quê người…

Tía em khề khà cầm ly rượu hỏi tui: “Nghe thằng Hai mầy có mớ chữ chắc hỏng muốn về làm rể miệt ruộng đâu hả? Nếu muốn, tao gả con Út cho mầy. Về nói Tía Má mầy mang trầu cau xuống đây, nói láp giáp vài tiếng… là xong.”

Tui cười hè hè thưa: “Chắc gì cô Út chịu ưng con mà Chú Tư nói như đinh đóng cột vậy hè?”

“Ối! Tao là Tía, tao biết lòng con cái mà! Mầy đừng có lo!”

“Con cá linh mình ăn hết mùa là hết. Muốn ăn nữa là phải chờ mùa nước nổi năm sau. Còn mớ chữ của mầy xài hoài, càng ngày nó càng nở thêm ra chớ không hao hớt gì thì thử hỏi con gái đứa nào mà hỏng khoái có thằng chồng dạy giáo chớ?!”

“Nhưng giờ con bị đuổi rồi chú Tư ơi!”

“Ôi mấy thằng chăn trâu, nó ngu, nó có quyền, nó đuổi mầy vì nó dốt! Nó tị nạnh, cà nanh; chớ chế độ nào mà không cần chữ? Không chữ thì tụi nó chết cha tụi nó hết ráo cho coi!”

Quay qua con gái mình mặt đang đỏ bừng như vừa uống hết một chung rượu đế, hỏi: “Mà Tía nói vậy có hợp ý con không vậy Út?”

Em e thẹn hỏng trả lời trả vốn gì hết ráo.

Cuối mùa nước nổi 3 tháng đó, tui xa Thơm Rơm luôn. Út chống xuồng đưa tui ra mặt tỉnh lộ để đón xe về Cần Thơ, em nói: “Mùa nước nổi năm sau dù bận bịu tối tăm mặt mũi gì đi chăng nữa nhớ về Thơm Rơm ăn canh chua cá linh Út nấu và cá linh Út kho tiêu nhe anh Hai!”

‘Mến anh… Út chẳng dám thưa?! Hai hàng nước mắt như mưa tháng Mười!’

Thời cuộc biến loạn, đổi thay liền xì bóc; tui không về Thơm Rơm quê Út nữa mà tui đi luôn ra biển; tới giờ đã 38 năm trời!

Để bây giờ đêm đêm nhớ lại buồn biết bao trong tấc dạ. Mình mất cái gì quý nhứt của cuộc đời chắc không bao giờ tìm lại được nữa đâu.

Rồi nghe phong phanh thiên hạ nói: “Năm rồi miền Tây vào mùa nước nổi giờ buồn thỉu, buồn thiu khi con cá linh đã sông dài cá lội biệt tăm!”

Bà con miệt vùng trũng tứ giác Long Xuyên than thở: “Tụi tui ở miệt này muốn kiếm dăm mớ cá linh về lai rai ba xị… còn trần ai nè. Muốn ăn cá linh, phải đợi những ngày cá chạy theo con nước. Cá linh không chạy thì tui cũng nhịn thèm món canh chua bông điên điển luôn chứ biết đâu mà tìm!” –

Mùa nước nổi không còn vì mực nước con sông Cửu Long đã xuống mức thấp nhất trong vòng 90 năm qua, kể từ năm 1926.

Biển Hồ và Vùng trũng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và những vùng đất thấp khác thuộc miền Tây Nam Bộ không còn nước để dành vào mùa lũ rồi lai rai chảy ngược ra sông vào mùa nước kiệt, giúp bà con xứ mình đẩy mặn.

Hậu quả là hạn, đất ruộng nứt nẻ, lúa chết, vườn cây ăn trái tưới bằng nước lợ, bông rụng hết ráo, trái không đậu nổi, thất mùa. Và con cá linh sẽ ngàn thu yên nghỉ, nằm trong cổ tích!

Không còn nước, không còn phù sa, không còn tôm cá nghĩa là không còn gì nữa cả nếu dòng sông nầy chết đi! Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang nước mắt chảy ròng ròng trên những cánh đồng nứt nẻ!

Chính bọn Tàu Cộng đã và đang giết chết dòng sông Cửu Long; bởi chúng xây tràn lan những đập thủy điện ở thượng nguồn.

Dù bọn cầm quyền Trung Nam Hải, Bắc Kinh luôn chối bai bải rằng tình hình hạn hán tệ hại hiện nay là do thiên tai El Niño gì gì đó; chứ không phải do con người.

Mùa hạn năm nay, người dân hạ lưu châu thổ sông Cửu Long kêu tới thấu trời xanh; nên Trung Cộng làm bộ giả nhân giả nghĩa, sẽ xả nước từ đập thượng nguồn ở tỉnh Vân Nam nhằm xoa dịu; để chúng bớt chửi!

Nhưng lượng nước xả về đến Việt Nam phải mất khoảng một tháng! Trên đường nước đi, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, hứng trước thì nước về tới quê mình hỏng có được bao nhiêu!.

Dòng sông Cửu Long, Mekong, trong tiếng Thái và Lào, hiểu là ‘Nguồn nước mẹ’ đang cạn dòng. Hơn 50 triệu người dân Miến Điện, Lào, Thái, Campuchia và Việt Nam thuộc hạ lưu của dòng sông đang thoi thóp như những con cá mà người ta tát đìa cạn hết nước chỉ còn bùn với sình! Ráng chòi đạp lung tung mà thở.

Các nhà khoa học về môi trường đã cảnh báo lâu rồi: “Cửu Long cạn dòng; Biển Đông dậy sóng!”

Tất cả đều do một tay Chú Ba Tàu hàng xóm, bự con, nhưng khó chơi nầy gây ra cả! Chúng giết dòng sông vì thói ích kỷ, sống chết mặc bây của một nhà nước bá quyền!

Thưa bà con! Và Út ơi!

Tui tin có ông Trời! Những kẻ tham lam quỷ quyệt hủy hoại môi sinh bằng cách bằm nát cả một dòng sông thì chắc như bắp là ông Trời, có mắt mà, ổng hỏng có để yên cho tụi nó muốn làm gì là làm đâu!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 5/11/2016(UTC)
Hạ Vi
#2156 Posted : Wednesday, May 11, 2016 4:17:42 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)






v u .v ơ . .


ngày đi nắng khuất sau đồi
lưa thưa lá rụng em ngồi nhặt mây
tơ trời đem kết thành dây
em-anh buộc lại cho đầy ý thơ

sợ thu héo úa trong mơ
sợ chiều phai nhạt hững hờ tình ai
sợ đông gió thổi tuyết bay
sợ xuân đến muộn mắt cay nhớ người.



y ê n h à







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2158 Posted : Saturday, May 14, 2016 11:51:16 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Bắp nướng phố Hội


Hỷ Long


Bắp nướng phố Hội thì ngày nào chẳng có, sao lại phải tính đến năm 2016? Nghe có vẻ @ và… Mary Sến! Nhưng thực ra, ai đã từng ăn trái bắp nướng ở Hội An cách đây hai mươi năm và bây giờ quay trở lại Hội An thì có chuyện để nói đấy. Hình như cái thời mà bánh tráng đập, bắp nướng, mì Phú Chiêm còn đậm mùi nhà quê, từ người bán cho đến người mua cũng rất ư nhà quê (mặc dù anh/chị mới ở thành phố về!) đã qua rồi, hiếm họa lắm mới gặp!





Năm 1996, Hội An mới ngấp nghé làm du lịch, hồi đó muốn ra thăm đảo Cù Lao Chàm thì phải xin giấy giới thiệu của xã, phường và nói rõ lý do đến thăm đảo. Vừa ra đến đảo thì gặp biên phòng xét hỏi, kiểm soát đủ kiểu. Nhưng kể cũng lạ, toàn người dân Việt Nam với nhau, quê một cục, nhiều khi ra đảo để mua ít rong biển hay mua ít lá rừng về uống, khi ra thì mang theo rau bù ngót, cải để đổi mấy thứ kia, vậy mà cũng kiểm soát gắt gao. Còn bây giờ khách du lịch Trung Quốc đi dạo khắp đảo, chụp hình tá lả, chẳng biết họ đang chơi trò gì và có bao nhiêu người trong đoàn của họ là đi du lịch thực sự, nhưng biên phòng lại mở cửa đón khách, người dân thì đon đả phục vụ khách…




Bán bắp nướng ở Hội An


Tôi còn nhớ trái bắp nướng giữa khuya năm 1996 mà tôi và thằng Đồi đã ăn sau khi bị dân phòng bắt và quát tháo một trận. Hồi đó đi thi bằng tiếng Anh, hai thằng tôi đăng ký theo diện thi tự do và lệ phí thi là 25 ngàn đồng. Mỗi thằng xin tới xin lui cha mẹ mới cho được 30 ngàn đồng. Số tiền này không nhỏ một chút nào trong hoàn cảnh nhà quê. Nộp lệ phí thi xong, mỗi thằng còn đúng 5 ngàn đồng, ăn một ổ bánh mì để ngủ mà sáng mai thi sớm.

Tối đó hỏi giá phòng trọ thì chỗ nào thấp nhất cũng hai chục ngàn đồng một phòng, hai thằng đi lang thang một chút thì chui vào Chùa Cầu ngủ. Giữa khuya bị dân phòng bắt. Họ quát tháo dữ lắm, thằng Đồi mặt cắt không còn giọt máu. Tôi thì sợ bị nhốt tới trưa mai thì đi toi buổi thi của hai thằng. Đang lo thì anh xuất hiện. Anh chỉ vào mặt tôi: “Anh hai đã bảo tụi mày ở nhà ngủ, sao lại chui ra ngoài này làm chi? Đồ cãi lời, mất dạy! Có muốn tao tát cho một cái không?”. Tôi lờ mờ hiểu ra là có cứu tinh nhưng cũng chưa tin lắm. Thằng Đồi thì tái mét.

Ông dân phòng hỏi anh: “Ủa, em của anh hả anh Quốc?”

“Dạ, nó là em tôi, thằng cu này (chỉ tôi) là em chú bác ruột của tôi ở quê xuống chơi. Còn đây là bạn nó.”

“Nó tên chi vậy anh?” Tay dân phòng hỏi vặn anh.

Tôi nói ngay tên mình và cười. Anh quát: “Hỏi anh thì để anh trả lời, toàn là thàu lạu không! Thôi mấy anh thương hai đứa nhỏ, cho tôi dắt về nhà. Tôi bảo lãnh và báo cáo tạm trú với anh nha!”

Nói xong anh nắm tay, dắt chúng tôi về nhà. Nhà anh nằm sát chùa Cầu, anh nói là đã quan sát tụi tôi từ lúc chiều. Anh nói thêm là ban đầu anh cứ nghĩ tụi tui là dân bụi đời nhưng sau đó thấy tụi tôi đi tìm phòng rồi ra ngoài ăn bánh mì, rồi anh lại quan sát nên tin tụi tôi không phải dân bụi đời. Anh bảo tụi tôi xuống tắm rửa, sau đó chờ bà bán bắp khuya đi qua, anh gọi mua hai trái bắp luộc và hai trái bắp nướng bảo tụi tôi ăn đi cho ấm bụng để mai đi thi. Thú thực là hiếm có trái bắp nào ngon như trái bắp anh cho. Phần vì đói bụng, phần nghe anh thuyết minh về trái bắp nướng Hội An:

“Bắp Hội An, phải là bắp trồng trên đất Cẩm Nam, đất cát bồi pha đầu ghềnh cuối bãi sông Thu Bồn, sau khi phù sa lên ghềnh xuống thác rồi về nằm nghỉ ngơi ở Cẩm Nam, lúc đó cây bắp mọc cũng ung dung tự tại, trái của nó vị ngọt đằm, thơm bùi, bắp luộc thì chỉ cần tới thì bẻ vào luộc, còn bắp nướng thì phải còn hơi ngậm sữa kia mới ngon. Một người biết nướng bắp thì phải biết nướng cả lửa ngọn và lửa than. Và khi chín trái bắp phải thơm lừng đúng mùi vị trái bắp tụi em đang ăn.” (nói đến đây anh nuốt ực một cái).

“Nướng lửa ngọn là sao chú?” Thằng Đồi hỏi.




Bắp nướng nước mắm tỏi ớt


“Ừ, đừng xưng chú, cứ xưng anh đi. Hai đứa em bằng tuổi đứa em út của anh hồi xưa, nó mất rồi. Hồi đó đói quá đi đào khoai, cứ đến mùa thì đi đào mót khoai đó em. Không may nó đào trúng trái lựu đạn, anh mất đứa em. Đau thật, thời nghèo đói tập thể đó. Em mình chết mà mình cũng không dám cúng kính, làm đám cho đàng hoàng vì sợ chính quyền kêu lên phạt! Hồi đó anh nướng mấy trái bắp cúng thằng út. Nó thích món này lắm. Nướng lửa ngọn và nướng than luôn. Nướng lửa ngọn thì phải lửa rơm, để nguyên vỏ bắp và tra thêm một lớp bùn mỏng bên ngoài vỏ bắp, sau đó chất một đống lửa rơm và vùi trái bắp vào đó. Khi nào nghe mùi thơm thì lấy ra. Hạt bắp chín không vàng mà trắng, ngọt và đặc biệt là thơm lắm, kiểu nướng này khiến cho trái bắp có vị hòa giữa bắp nướng và bắp nấu. Người nào mới bệnh dậy, bụng yếu thì ăn bắp nướng kiểu này.”

“Còn bắp nướng than thì làm sao để thơm ngon như vậy hả anh?” Thằng Đồi hỏi tiếp.

“À, bắp nướng than thì chọn bắp cũng giống như nướng lửa rơm nhưng lột trái bắp ra, rửa sạch và để ráo nước. Thực ra thì rửa là đề phòng có những trứng sâu, bột rầy chứ trái bắp có vỏ thì cũng sạch rồi. Sau đó mang nướng trên lò lửa than, cỡ lửa bằng với lửa nướng bánh tráng. Nướng vừa chín tới thì chan nước mắm tỏi, ớt, mỡ hành phi lên và tiếp tục nướng. Chan mấy loại nước này là một nghệ thuật, phải gia vị làm sao đừng quá mặn, đừng quá béo và tra gia vị này vừa ướt qua trái bắp để tránh tình trạng nước mắm hay dầu nhỏ xuống than lửa. Bởi khi loại này nhỏ xuống lửa sẽ bốc khói và phát sinh ra mùi độc, ăn nhiều có thể trúng thực hoặc nặng bụng. Nói chung tuy nướng bắp đơn giản nhưng nó đòi hỏi cái tâm của người nướng phải tập trung và nghĩ đến điều thiện lành. Mọi thứ đều có điện trường.”

Cái triết lý nướng bắp của anh ngày nào cứ đeo đẳng tụi tôi cho đến khi ra trường, đi làm việc. Và hình như cũng chính trái bắp thơm ngon lúc anh cho chúng tôi ăn (thời đó hình như người bán bắp nướng nào ở Hội An cũng thuộc làu kỹ thuật nướng, thậm chí mang cả triết lý về bắp nướng giống anh!) làm cho chúng tôi hiếm khi gặp được một trái bắp nướng thơm ngon ở nơi khác.

Mà hình như cái mùi vị bắp nướng ngày đó bây giờ cũng không còn, nếu có còn thì cũng hiếm lắm. Bởi bây giờ khó mà tìm cho ra một trái bắp trồng từ giống bắp nếp thuần Việt, do người nông dân trồng mấy chục đời nay mà thay vào đó là bắp đủ các loại giống lai căng, nhìn trái bắp to mẩy nhưng lại không có mùi thơm, vị ngọt như trái bắp thuần Việt. Rồi thêm nữa, nước mắm hay dầu phi mỡ hành thời đại mà thứ gì cũng có thể là hàng Trung Quốc vừa vô vị vừa độc hại cũng đủ làm mất hứng ăn bắp nướng hay ăn bất kỳ món gì gọi là quà vặt.




Chùa Cầu Hội An


Tình cờ bà xã tôi đi Hội An đón người bạn ở xa về chơi theo tour của Sinh Café. Trên đường về, hai người phụ nữ ghé Chùa Cầu mua bắp nướng về cho mấy đứa nhỏ. Ui chao là mùi thơm của trái bắp nướng mà anh cho tụi tôi ăn ngày nào gần Chùa Cầu lại dậy lên mũi. Thằng cu lớn bẻ cho tôi nửa trái bắp, tôi cầm lấy và cứ tưởng như mình đang là cái tuổi mười tám ngồi ăn bắp với thằng Đồi. Lại nhớ thằng Đồi và nhớ anh. Cả hai người đều đã đi xa. Anh thì đã qua đời sau trận bạo bệnh năm 2010. Lúc đó tôi đang ở xa, thằng Đồi đến viếng anh và nó không quên tự tay nướng hai trái bắp mời anh lần cuối. Rồi sau đó vài năm, thằng Đồi cũng đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình… Tự dưng cầm nửa trái bắp trên tay mà nhớ đến hai người, một người đã thành thiên cổ, một người thành thiên di!

2016, trở lại Hội An, không khó bắt gặp những hàng bắp nướng dọc những con phố, đủ các loại bắp, đủ các loại hàng ăn vặt, thời du lịch mà. Nhưng để tìm lại hương vị cũ, hương vị của một thuở quê nghèo thì có vẻ hơi khó. Cũng may là còn một vài hàng bắp nướng gần Chùa Cầu, không biết các bà bán bắp có họ hàng gì với anh không? Nhưng rõ cách nướng bắp của các bà cho mùi thơm của bắp nướng giống hệt trái bắp ngày xưa anh cho tụi tôi ăn. Đôi khi, một mùi hương cũ, một vị ngon cũ dễ làm người ta mủi lòng bởi có nhiều điều chỉ gợi nhắc, chỉ tìm về nhưng xa ngái, không thể gặp được nữa!

2 users thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC), Hạ Vi on 6/2/2016(UTC)
thunder
#2157 Posted : Monday, May 23, 2016 1:09:49 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)




NỤ XUÂN HỒNG THUỞ ẤY


Chợt thấy lá trên cành thay áo mới
Chồi non xanh mơn mởn nắng lung linh
Nhựa hồi sinh qua lớp cây già cỗi
Chợt nhớ em dáng nhỏ tiếng cười xinh.

Chim én nhỏ bay ngang trời lộng gió
Sao lẻ loi giữa thung lũng hoa vàng
Em ở đâu trong từng con phố cũ
Hương tình yêu ngày ấy vẫn mênh mang.

Em trong tim bao năm rồi thầm lặng
Chợt trở mình trong sương khói chiêm bao
Mắt môi xưa như ngàn đời say đắm
Làn má ai hồng thắm sắc hoa đào.

Con bướm trắng lại về bên cửa sổ
Thuở ban đầu hai đứa mới quen nhau
Mùa hương mật đã theo dòng nước lũ
Nụ xuân hồng thuở ấy biết tìm đâu?


Nguyễn An Bình



2 users thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 6/2/2016(UTC), CỏThơm on 6/4/2016(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
104 Pages«<101102103104>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.