Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

104 Pages«<100101102103104>
NHỮNG NÉT ĐẸP VĂN HÓA VIỆT NAM
Hạ Vi
#2119 Posted : Sunday, November 1, 2015 5:05:54 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,336
Points: 16,894
Location: CỏThơm

Thanks: 4127 times
Was thanked: 9987 time(s) in 2476 post(s)





Thu lúa mới


Ngày tháng mười cười đã tối
Quê ta bước rộn vào mùa.
Đường làng bánh xe lăn vội
Tiếng người đi sớm về trưa!

Vụ đầu đi thu lúa mới
Lúa khoe bông nặng hạt vàng.
Lưỡi liềm em đưa nhanh vội
Trong lòng biết mấy bâng khuâng!

Lúa chạm vào tay là lạ
Lúa thi nhau nói rì rào.
Đã trải những ngày vất vả
Lúa cho hãnh diện tự hào

Đồng vàng chúng em thu lại
Sân phơi mấy dãy núi cao.
Em cầm trang thóc trong nắng mới
Tung sáng vàng muôn vạn vì sao!



Hồng Xuyên

16-6-1971.










Hạ Vi
#2120 Posted : Sunday, November 1, 2015 5:06:55 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,336
Points: 16,894
Location: CỏThơm

Thanks: 4127 times
Was thanked: 9987 time(s) in 2476 post(s)





n h ư .... .t h á n g .m ư ờ i

____________________________________________________________________________________________


Như tháng mười vẫn hanh vài vạt nắng
Sưởi cô đơn chiếc lá sắp lìa cành
Như nỗi nhớ bùng lên từ thưở đợi
Của thu buồn lây lất về mong manh

Như tháng mười, vay nắng về hong lạnh
Bềnh bồng mây, trôi giạt bóng thời gian
Hứng lòng tay, chắt chiu từng hạt nắng
Thả xuống triền sóng vỗ bạt cao ngàn

Phải tháng mười, phải chăng thu hờ hững?
Khuyết vầng trăng lấp lững sáng rọi qua
Treo dấu ái cheo leo chòm sao rụng
Rơi vào vần thơ gởi người phương xa

Phải chăng thu, rồi đông sẽ thức giấc
Mùa lạnh mùa ngơ ngác dậy, nhú mầm
Phải chăng thu, tháng mười trời mau tắt
Rũ hoàng hôn, đêm thắt... hạt ưu... tầm?

Này tháng mười còn không đủ thắp sáng
Thắp lung linh đáy mắt ngọn thu phong
Rồi xoay xoay chiếc lá chiều hoang nhạt
Rớt xuống vườn, sương phũ miền long đong...


N t H a v y













Hạ Vi
#2121 Posted : Friday, November 6, 2015 3:04:35 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,336
Points: 16,894
Location: CỏThơm

Thanks: 4127 times
Was thanked: 9987 time(s) in 2476 post(s)
.

Bình Yên
click nghe nhạc >> Toccata - Paul Mauriat













































Photos - sưu tầm



2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 11/10/2015(UTC), Ngoc N Hao on 11/23/2015(UTC)
phamlang
#2122 Posted : Tuesday, November 10, 2015 6:10:40 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Lá không rụng về cội

Cẩm Giang



Thắm Nguyễn

1.

Buổi chiều ngột ngạt. Không gian như một cái bình nhớt cũ quánh đặc. Cây lá im ắng. Mọi thứ báo hiệu sẽ có một trận mưa lớn, nhưng chừng nào trận mưa ấy chưa tới, thì con người còn bị đè nặng, mệt mỏi theo cơn chuyển dạ của đất trời.

Trong một góc phòng nhỏ của mẹ con Thu, chiếc máy may vẫn vang lên tiếng lạch xạch đều đều. Thu thoăn thoắt đưa tay đẩy vải. Còn hai bộ đồ nữa phải làm gấp để kịp giao cho khách vào sáng mai. Cái đầu Thu căng ra vì những tính toán vụn vằn. Mai giao hàng cho khách là có tiền. Vừa lúc phải đóng tiền lớp Anh văn cho nhóc Huy, mua thuốc cho mẹ, hũ gạo mới vừa hết… Ðủ thứ việc cần tiền mà đồng tiền mồ hôi sao nhỏ nhoi quá thể.

Cũng may là nhóc Huy học giỏi, siêng năng nên Thu cũng đỡ lo. Huy đi học về đã biết phụ mẹ dọn vải vụn, cắt chỉ, lo bắc nồi cơm, lặt rổ rau khi gần tới giờ cơm mà mẹ còn mải miết may đồ khách. Thằng nhỏ cũng ham chơi, nhưng không phá phách nghịch ngợm nên coi bộ dư dả thời gian ở nhà hơn mấy đứa khác. Nó sống trầm lặng. Suốt ngày, nếu không học bài hay đi đá banh thì nó chúi mũi vào mấy cuốn truyện tranh. Nó chỉ mê mỗi truyện tranh, có bao nhiêu tiền mẹ cho ăn sáng cũng để dành mua truyện đọc. Cô giáo chủ nhiệm cứ nhắc chừng Thu về vụ thằng bé cứ mang truyện vào lớp, xao nhãng chuyện học hành. Cuốn tập của nó, viết được vài trang là nó vẽ loạn lên đó, từ công chúa tóc vàng đến mụ phù thủy gớm ghiếc, từ con cóc xấu xí đến chàng hiệp sĩ oai hùng. “Thấy bé có năng khiếu, chị nên cho bé đi học vẽ thêm…” – cô giáo nhắc vậy. Nhưng Thu, dù thương con mình đứt ruột cũng lắc đầu nói không, vì cái gánh cơm áo gạo tiền với Thu hiện tại đã quá nặng. Dứt khỏi một công việc lương cao nhưng suốt ngày phải chạy lông rông ngoài đường, chấp nhận ngồi may “cong xương sống”, để có thêm thời giờ ở nhà lo kèm đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn học hành, lo chăm sóc người mẹ già bị tai biến thay cho mấy anh chị lập gia đình ở xa… không phải là chuyện dễ làm. Nhưng rồi ơn Trời, mọi việc cũng qua. Thu khéo tay, lại cũng thích thiết kế những mẫu áo mới, nên ai đã tới làm khách của Thu thì tới hoài, dù ngoài chợ vẫn bán đầy đồ “lên” sẵn.

Có tiếng tằng hắng ngoài hiên. Thu ngẩng lên. Là Dũng.

Dũng ngồi đó từ hồi nào. Dáng ngồi gù gù, nhẫn nại. Cái dáng ngồi dễ làm mủi lòng người.

Thu thản nhiên như chưa hề thấy sự có mặt của Dũng. Thường khi, Dũng tới nhà cũng đứng loanh quanh hết ngoài sân tới vào thềm nhà ngồi, ngắm nghía mấy chậu cây kiểng, giỡn với con mèo già nằm trầm ngâm góc sân, rồi… lôi tờ báo trong xe ra đọc. Thỉnh thoảng, Dũng đánh tiếng hỏi một hai câu về Huy. Thu nghe câu được câu mất, nghe câu nào trả lời câu ấy, như một cái máy. Thu không tỏ ra vồ vập, cũng không tỏ vẻ giận hờn. Chỉ là, trong mắt Thu, Dũng chỉ là một người khách không mời. Dũng biết mình là người thừa, nhưng không thể không lui tới.

Mưa đột ngột. Thu bước ra sân, rút mớ đồ ngoài dây phơi vào nhà. Dũng phác một động tác gì đó như để giúp nhưng Thu làm như không thấy. Không có Dũng thì ai làm? Thu cần một người có mặt bên mình hàng ngày hàng giờ, để chia sẻ mọi việc, để nói chuyện vui buồn với Thu, chớ không cần một người chỉ biết lâu lâu xuất hiện ngoài sân nhà... Ngay cả nhóc Huy cũng vậy. Nó cần một thứ khác thiêng liêng hơn là mớ quà bánh và những lời hỏi han như được lập trình. Một đôi lần, Thu đã nói điều đó với Dũng, nhưng không nhận thấy một hồi đáp tích cực.

2.

Cái hôm định mệnh đó, Thu ngồi ở cà phê Mây. Quán bữa đó tự nhiên vắng vẻ lạ lùng. Thu ngồi thu lu một góc ghế trên cái gác gỗ lộ thiên, dưới tàng cây mận trổ hoa trắng, trước mặt là cái bàn gỗ vuông vức, đóng bằng gỗ tạp, mặt bàn đóng bằng ba mảnh ván như một cái bàn tạm trong bếp nhà ai đó. Trên bàn có một cái chén cũ, men đã rạn, đựng đầy nước và thường có một bông cúc vàng hay tím lửng lơ nằm trên mặt nước, như một nụ cười với khách.

Khi muốn cà phê thư giãn đầu óc một chút, Mây là cái quán duy nhất ở thành phố mà Thu nghĩ tới, và chỉ ngồi một mình. Cái quán nhỏ, chứa chừng khoảng vài mươi khách một lúc, nhưng chưa bao giờ thấy ngồi kín bàn. Lần đầu đi với bạn tới đây, thoạt nhìn quán Thu đã thấy không “bắt” vì bên ngoài nó không khác gì cái lò gạch cũ. Tuy nhiên, khi bước qua ngạch cửa nhỏ vào bên trong, thì một không gian xanh tươi khác mở ra với tiếng suối reo, chim hót và nhiều hoa lá. Góc sân, gần chỗ cổng ra vào có một cây mận lớn, trái nhỏ nhưng thơm. Chủ quán thiết kế một cái gác gỗ lộ thiên dưới tán mận, đủ kê ba cái bàn nho nhỏ. Ngồi trên đó, có thể ngắm toàn bộ sân vườn phía dưới. Mảnh gác bé tẹo ấy như một không gian riêng tư vừa đủ để khách ngồi ngẫm ngợi một mình hay trò chuyện với bạn.

Bữa đó, Thu không biết, góc sân bên dưới cũng có một người ngồi giống mình. Thu ngồi được một lúc, thấy anh ta lững thững lên gác, kéo ghế ngồi bàn kế bên, kêu cà phê rồi… bắt chuyện làm quen Thu.

Thu thấy xao xuyến ngay từ khi anh ta bước sang bàn mình ngồi. Tuy vậy, cô vẫn giữ một thái độ chừng mực, nói cười đáp lễ. Sau này, anh nói, chính nụ cười La Joconde của cô đã kéo anh tới với Thu. Thực ra, anh cũng hay ngồi một mình ở đây, những lúc rảnh rỗi. Nghề viết lách khiến anh cần những khoảng không gian riêng tư như thế này, bởi vậy, anh nhìn thấy ở Thu một cái gì đó đồng điệu. Sau này quen nhau lâu, anh mới kể: có lần, bắt gặp Thu vừa điện thoại cho bạn vừa mỉm cười, anh đã… phát điên lên trước nụ cười đó và quyết tâm chinh phục cô. Trong nhiều năm đi làm, Thu cũng quen nhiều người, cũng có người tán tỉnh Thu, thậm chí đặt vấn đề cưới hỏi Thu, cô đều lắc đầu. Vậy mà cái kiểu nói chuyện của anh làm cô xiêu lòng.

Cái gác gỗ đó đương nhiên trở thành nơi hò hẹn. Cái bàn góc nơi cây mận trổ bông trắng như thể là bàn được dành riêng cho họ. Cả ngàn ngày đã trôi qua. Rồi một ngày nắng đẹp, góc bàn nhỏ xíu đó trống một chỗ ngồi.

3.

Người đàn ông bối rối trước ánh mắt thẳng thắn, có phần hơi quyết liệt của thiếu phụ. Ánh mắt và nụ cười dịu dàng từng làm lòng anh cảm thấy rất yên bình bây giờ lại khiến anh đau đớn đến ngộp thở. Bàn tay thuôn mềm, có đeo chiếc vòng cẩm thạch màu hoa lý đã từng làm anh giật cả mình khi được cầm gọn nó trong tay mình, đang hờ hững đặt trên bàn. Anh muốn cầm lấy bàn tay ấy, vuốt ve âu yếm, và sau đó là những nồng nàn như đã từng. Nhưng hình như nàng đã trở thành một người khác. Sự lạnh lẽo toát ra từ nàng như hơi lạnh từ một quả cầu tuyết vừa kích thích anh tới gần vừa đẩy anh ra xa. Thậm chí anh cũng không biết nói gì với nàng.

Nhiều năm rồi, anh mới gặp lại nàng. Chuyến đi sang tận trời Tây không ngờ đã kéo anh xa nàng lâu đến vậy.

Người chủ quán nói, thỉnh thoảng nàng vẫn tới Mây, một mình. Thỉnh thoảng lại dẫn theo một bé con. Không thấy đi cùng ai khác.

Nàng đã lập gia đình?

Mà thật ra, anh có quyền gì để hỏi nàng điều đó. Anh đã bỏ nàng đi quá lâu. Hơn thế nữa, bên cạnh anh, còn có một gia đình. Người phụ nữ bên cạnh anh sống chỉn chu ngăn nắp, hai đứa con anh được nuôi dạy đầy đủ, có cuộc sống không thua gì những đứa trẻ vốn được sinh ra để hưởng thụ. Nếu anh không đi xa như vậy, lâu như vậy, cuộc tình giữa anh với nàng không biết nay đã ra sao. Tuy nhiên, anh vẫn cảm thấy tiếc nuối. Nàng thông minh và hiểu biết quá nhiều. Thiếu nàng, anh thiếu đi một phần cuộc sống. Nhưng, nếu ngày xưa cứ ở mãi bên cạnh nàng thì có tốt không? Không có cái gì bảo đảm là cuộc sống của anh và nàng sẽ đủ đầy sung túc để cho anh thỏa sức sáng tác, để cho nàng sớm đạt được ước mơ của mình là đi chu du khắp nơi.

Chỉ khi anh nhìn thấy thằng bé bước vào từ ngoài cổng thì anh run lên.

Nó giống anh như tạc.

Và nàng, vẫn dịu dàng một cách bí ẩn:

- Anh cứ đến thăm con. Con cần một người cha. Nhưng em thì không cần một người đang phải gánh vác trọng trách của một người chủ gia đình khác.

4.

Tiếng máy may vẫn vang lên lạch xạch đều đều trong căn phòng mười sáu mét vuông. Bóng Dũng cao cao, gù gù, đang dắt xe ra khỏi cổng. Thu thở dài. Má cô từng căn dặn: “Con phải có trách nhiệm nói cho thằng nhỏ biết nguồn cội của mình, để cho Dũng có thể lui tới mà thăm con… Lá rụng về cội, gì thì gì, rồi nó cũng lại quay về với cội nguồn của nó thôi con ơi!”

Nhưng, dẫu cố gắng lắm thì cái người mà thằng nhóc phải gọi bằng cha ấy không gây ấn tượng gì cho nó. Dũng tới rồi đi, dù lâu mau, cũng giống như một người khách. Nếu nó ở nhà, nó sẽ ân cần chu đáo với Dũng, nhưng cha con vẫn mơ hồ một khoảng cách. Nó chỉ thắc mắc: “Giờ con mới biết là ba đi làm xa đó mẹ. Nhưng Ba đi làm việc gì mà đi hoài vậy, mẹ? Ði riết tới nỗi khi con lớn như vầy mới về. Trong nhà, chuyện gì ba cũng không biết, chuyện gì cũng hỏi con hết á… Mà tại sao ba già rồi, không về nhà nghỉ luôn hay chuyển công tác cho gần nhà, đi xa làm gì đi hoài vậy chứ?”

Thu đã ngẩn người thật lâu trước câu hỏi của con. Nó có lý của nó. Ðừng tưởng trẻ con không biết gì, chỉ là, nó không nói hết những điều nó biết cho người lớn biết thôi. Rồi Thu nghĩ đến câu má hay nhắc “lá rụng về cội”. Liệu cái gọi là cội kia có đủ sức nặng để níu lá rụng về ngay gốc, hay chiếc lá có khi chưa tới lúc lìa cành đã bị gió bứt đi, mang về một nơi nào đó?
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
CỏThơm on 11/19/2015(UTC), Ngoc N Hao on 11/23/2015(UTC)
phamlang
#2123 Posted : Sunday, November 15, 2015 1:19:26 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Ngã ba sông!



Đất lành, quê, giờ là đất dữ,
cải tạo xong, an phận không xong,
đành phải chịu, nén lòng vượt biển,
đưa con buồn, vàm, ngã ba sông!

Cơm ơn huệ: tép rang mằn mặn,
canh mồng tơi, con nhớ quê nhà,
rưng rưng má, nhai cơm, nhai sạn,
đưa con vào chỗ chết đêm nay?!

Vào chỗ chết tìm ra chỗ sống,
tử biệt buồn hay nỗi sanh ly?
thuyền ra biển, trùng trùng biển sóng,
vỗ ngàn sao – dõi mắt con đi.

Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ,
đưa con buồn, vàm, ngã ba sông,
xót má xa con, trời vần vũ,
đêm mịt mùng… má sợ bão giông.

Con chạm đảo, má mừng hết biết;
công an hầm hè, hỏi: “nó đâu?”
“nó vượt biên rồi, giờ đỡ khổ,
còn thân già …nhốt…cũng chẳng sao”.

Đất quê người biết thân, biết phận,
công danh gì? con nhận cu li,
cơm hộp xách đi, chiều tắt nắng,
xe lái về trời rạng bình minh.

Tiền con gởi má may áo mới,
Giữ dùm con tấm áo năm nào,
áo vá vai, nhớ ngày nhịn đói,
cắt rừng thăm, nuôi con… tù đày.

Chiều cuối năm nhớ nhà, nhớ tết,
tép rang mằn mặn, canh mồng tơi,
năm tận, tháng cùng, ngày sắp hết,
lệ chan cơm buồn lắm má ơi!

đoàn xuân thu


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
CỏThơm on 11/19/2015(UTC), Ngoc N Hao on 11/23/2015(UTC)
CỏThơm
#2124 Posted : Thursday, November 19, 2015 9:59:40 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)






Ra phố với Thu


Đút túi mùa thu tìm ra phố
Thấy em diễm lệ đến đau lòng
Thấy mình hiền triết hơn cọng cỏ
Quanh quanh gặp lại một ngày rong

Mùa thu ngắn tóc mùa đã chết
Tím cả Phạm Duy tím Lệ Thu
Mùa thu ướt mắt mùa thu hết
Yểu điệu tình xưa rất hảo cầu

Giấu một mùa thu vào sự tích
Chùm hoa thạch thảo bể dâu chìm
Vó ngựa gõ lên hè tịch mịch
Cúi đầu chờ máu ngược về tim

Đút túi mùa thu mưa vật vã
Lừng khừng với nẻo với thu phong
Tháng chín rối nùi như xác lá
Giật mình, ai nhắc - sắp vào đông



ĐCĐ








1 user thanked CỏThơm for this useful post.
Ngoc N Hao on 11/23/2015(UTC)
Hạ Vi
#2125 Posted : Thursday, November 26, 2015 5:23:38 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,336
Points: 16,894
Location: CỏThơm

Thanks: 4127 times
Was thanked: 9987 time(s) in 2476 post(s)

.




t h á n g .m ư ờ i .m ộ t .. .t r ờ i .m ư a

________________________________________________________________________


lấp xấp giọt chiều . mùa nán lại
lòng chưa kịp nắng ủ ê thêm
tay che không hết trời mưa . biết
em ướt hai vai phút lỡ đường

gió tạt vào đâu mà chớm lạnh
hiên nhà ai hẹp trú vừa chân
nhớ giùm tôi khoác đôi ba áo
giữ kín trong tim chút lửa nồng

ở đây tôi đốt cỏ tương tư
gởi khói về em những sợi mềm
quấn qua quấn quýt vào đâu đó
sẽ thở chung trời lãng đãng thơm



t h a n g t r a m





Duy An
#2126 Posted : Saturday, December 5, 2015 9:15:38 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Từ Hiếu, ngôi chùa đặc biệt triều Vua Nguyễn



Bài và hình: Nguyễn Đạt/Người Việt

HUẾ (NV) - Chùa Từ Hiếu là ngôi chùa đặc biệt triều Vua Nguyễn, có mối quan hệ thắm thiết của triều đình, từ Vua Tự Đức tới các quan thần, kể cả các vị thái giám.




Cổng chùa Từ Hiếu.


Tên chùa Từ Hiếu từ biển đề “SẮC TỨ TỪ HIẾU TỰ” do Vua Tự Đức ban.

Hòa thượng Đức Phương, trưởng môn phái tổ đình Từ Hiếu hiện nay, giải thích cho chúng tôi biết về ý nghĩa tên chùa Từ Hiếu, có ghi trong một tấm bia khi xây dựng chùa: Từ là đức lớn của Phật; có Từ thì mới tiếp độ tứ sanh, cứu giúp vạn loài. Hiếu là đầu hạnh của Phật; có Hiếu thì mới đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.

Chùa Từ Hiếu ở cách trung tâm thành phố khoảng 5 cây số về hướng Tây Nam, thuộc địa phận thôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân - thành phố Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đi từ đàn Nam Giao, theo lối lên lăng Tự Đức, sẽ qua khu vực bảo tháp của các vị cao tăng chùa Tường Vân, chùa Diệu Đế, và tẩm mộ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Từ đây có con đường đá, rẽ bên phải rồi đi khoảng 300 mét sẽ tới chùa Từ Hiếu.

Tọa lạc trên vùng đất rộng 8 mẫu, chùa Từ Hiếu thấp thoáng giữa đồi cây bao la. Mặt tiền của chùa Từ Hiếu nhìn về hướng Đông, đối diện có ngôi tháp bồ đề 3 tầng, kiến trúc đơn giản. Hòa thượng Đức Phương cho biết, tháp bồ đề này dùng để tàng trữ tượng và kinh cũ nát.




Lăng mộ trong khuôn viên chùa.



Ở mặt tháp hướng vào chùa, có khắc ghi sắc chỉ của Vua Thành Thái nói về điều này. Phía trái, sát khuôn viên chùa, là lăng mộ bà Chiêu Nghi, thứ phi của Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Đây là lăng mộ duy nhất còn lại của gia đình các Chúa Nguyễn, các lăng mộ khác đã bị đập phá vào thời Tây Sơn.

Chùa Từ Hiếu được xây dựng vào năm 1843. Thoạt đầu chỉ là am, do Hòa Thượng Nhất Định dựng nên để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già. Hòa Thượng Nhất Định vốn là Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự, đã từ chức và trao quyền điều hành chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm, rồi tới đây khai sơn phá thạch, dựng Thảo Am An Dưỡng.

Hòa Thượng Nhất Định nổi tiếng là người con hiếu thảo. Mẹ già yếu bệnh, hòa thượng lo thuốc thang hoài không khỏi. Nhiều thầy thuốc cho rằng phải tẩm bổ thêm dưỡng chất là thịt cá cho người bệnh mới mong hồi phục sức khỏe.

Hòa Thượng Nhất Định đã nghe theo lời thầy thuốc, chịu đựng trước những đàm tiếu của thiên hạ, hằng ngày chống gậy băng rừng lội suối, xuống chợ cách xa vài cây số, mua cá đem về nấu cháo cho mẹ ăn.

Câu chuyện cảm động này tới tai Vua Tự Đức, vốn là vị vua rất có hiếu với mẹ là bà Từ Dũ, nên vua rất cảm phục, xúc động trước tấm lòng của hòa thượng, ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu tự.” An Dưỡng Am trở thành chùa, và mang tên Chùa Từ Hiếu từ lúc đó.

Ngoài sự đóng góp của Phật Tử đương thời, Vua Tự Đức ban cấp nhiều kinh phí, chùa Từ Hiếu còn được sự hỗ trợ của các vị quan trong cung triều Nguyễn, đặc biệt là các vị thái giám cúng dường tiền bạc để xây dựng chùa.

Đấy là năm 1848, các vị thái giám trong triều đình nghĩ tới ngày nhắm mắt xuôi tay, ký thác thể xác lẫn tâm linh cho nhà chùa là hay hơn cả. Nên các vị thái giám đã cùng góp tiền bạc mua ruộng đất cúng dường nhà chùa, đồng thời xin vua ban cấp thêm vật liệu tu sửa xây dựng chùa Từ Hiếu thành ngôi chùa đồ sộ uy nghiêm.

Hòa Thượng Cương Kỷ, kế tục Hòa Thượng Nhất Định, phụ trách việc xây dựng chùa Từ hiếu trở nên quy mô như hiện nay.




Ngôi chùa chính.


Chùa Từ Hiếu xây theo kiểu chữ khẩu. Chùa chính gồm 3 căn và 2 chái. Phía trước chính điện thờ Phật, phía sau chính điện thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu Đường, chính giữa thờ Đức Thánh Quan, bên trái thờ Hương Linh Phật Tử Tại Gia, bên phải thờ các vị thái giám; đặc biệt một án dành riêng thờ Thái Giám Lê Văn Duyệt, có sơn son thiếp vàng, bên án có con ngựa gỗ và thanh đại đao của vị tả quân đô thống, bậc công thần của Vua Gia Long mà về sau bị tội oan. Thời Vua Tự Đức là lúc xét lại công trạng của vị tả quân, nhà vua cho đưa vào thờ trong chùa Từ Hiếu, đêm ngày hương khói, gần gũi kinh kệ, cầu giải thoát oan nghiệp.

Cổng chùa Từ Hiếu xây theo kiểu vòm cuốn 2 tầng có mái, ở chính giữa phía trên thờ tượng thần Hộ pháp. Bên trong cổng tam quan có hồ bán nguyệt, cá lớn nhỏ bơi lội đầy đàn, chen giữa hoa sen hoa súng... Nhìn vào, phía bên phải của hồ bán nguyệt là bãi cỏ xanh non, những hòn đá trầm mặc với dòng thời gian...

Năm 1848, buổi khánh thành chùa Từ Hiếu có sự tham dự của Vua Dực Tông, bà Từ Dũ, và các quan đại thần. Khi chùa Từ Hiếu tổ chức Đại Giới Đàn vào năm 1924, có sự tham dự của Vua Khải Định. Hòa Thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu, Hòa Thượng Huệ Minh làm đàn chủ.

Các Hòa Thượng Mật Khế, Viên Quan, Bích Phong, Đôn Hậu là những giới tử xuất thân từ giới đàn này. Thiền Sư Nhất Hanh cũng từng tu tập tại chùa Từ Hiếu, và là trú trì đời thứ 6 của chùa Từ Hiếu.

1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 1/17/2016(UTC)
Duy An
#2127 Posted : Thursday, December 17, 2015 1:44:18 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Người Chợ Lớn ăn chè chí mè phủ Hội An



Trần Tiến Dũng/Người Việt



Ðã là người từng sống ở Chợ Lớn trước 1975, ai cũng nhớ các món ăn đậm sắc màu văn hóa của người Hoa. Nhiều người sinh sau 1975 cứ nói về văn hóa Trung Hoa là họ lầm tưởng đến khu vực ảnh hưởng Trung Cộng.

Ðến nhiều người Hoa trẻ sinh ra ở Chợ Lớn cũng ngộ nhận điều này. Anh Minh, tên phát âm theo tiếng Quảng Ðông là Mành Có, nói: “Tôi đi Trung Quốc đặt hàng bao bì mỹ phẩm, khi qua đó tôi mới biết là chẳng có gì giống với Chợ Lớn, họ mất gốc có khi còn hơn mình. Ðến chén chè chí mè phủ mà kiếm không ra để ăn cho đã thèm thì nói làm chi.”



Người phụ nữ kiếm sống bằng gánh chè chí mè phủ ở Hội An. Chè chí mè phủ là món ngon bổ rẻ của người Sài Gòn-Chợ Lớn trước đây. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)


Thật ra ở Chợ Lớn ngày nay, muốn tìm được gánh chè “chí mè phủ” bán rong cũng phải đỏ con mắt. Phải chăng một thời những gánh hàng rong đặc sắc của người Việt lẫn người Hoa đã lụi tàn!

Hôm chúng tôi đi Hội An, trong những điều bất ngờ nhất mà các du khách từng sống với cộng đồng Hoa kiều-Chợ Lớn bắt gặp ở Hội An đó là gánh hàng rong bán “chè chí mè phủ.”

Chí mè phủ, gọi theo người Việt là chè mè đen. Nhưng không hiểu sao tất cả người Việt đều thích gọi đúng tên tiếng Hoa của loại chè này. Nhạc sĩ Tuấn Khanh, người sống lâu năm ở quận 5, Chợ Lớn, nói: “Hồi nhỏ, cứ mỗi lần Sài Gòn lành lạnh trong mùa mưa, chiều tối nghe tiếng rao chè chí mè phủ là có cảm giác tiếng rao ấy biến mình thành người lữ thứ cặp bến Hồng Kông vậy.”

Chè chí mè phủ là thứ chè sền sệt một màu đen đậm như than đá, như bùn dưới cống. Chè được làm từ mè đen, dược tính của loại mè này được tán dương không hết lời trong các sách y thuật phương Ðông.

Mè đen chứa nhiều dưỡng chất như protein, lipit, gluxit, canxi, photpho, sắt và vitamin B1, vitamin B2. Ngoài ra, hàm lượng vitamin E có trong mè đen rất lớn, đứng hàng đầu trong các loại thực phẩm. Vitamin E có tác dụng chống oxy hóa, cải thiện tuần hoàn máu, phòng trị bệnh xơ vữa động mạch và tai biến mạch máu não, giúp sáng mắt, làm chậm quá trình lão hóa. Hơn nữa, mè đen còn trị chứng thiếu máu, chóng mặt, hỗ trợ hệ tiêu hóa, giúp làm đẹp da, mượt tóc.

Nhưng khi biến thành chè thì dù màu sắc dễ khiến người ăn dị ứng nhưng phẩm chất một chén chè chí mè phủ nóng là hàng cao thủ trong giới “võ lâm chè,” vì người ăn sẽ ngọt mát cái lưỡi, êm ái cuống họng, ấm áp cái bụng...

Lúc ở Hội An, chúng tôi hỏi thăm qua qui trình nấu chè chí mè phủ, chị bán chè cho biết công phu nấu chè gia truyền như sau. Phải chuẩn bị cẩn thận từ khâu chọn lựa mè đen, đãi mè, vo gạo cho đến lúc mè được nấu chín. Mè đen phải được đãi cho sạch rồi rửa qua nước, sau đó đem đi phơi khô. Khi rang mè, phải rang cho mè nổ và nhảy trong chảo nóng. Nước cốt dừa được cho vào bột gạo quấy đều đến khi hỗn hợp quyện đều vào nhau. Xay nhuyễn mè đen cho vào nồi nấu khoảng 3 phút rồi mới cho đường, nước cốt dừa, bột gạo, tiếp tục quậy liền tay đến khi chè đen đậm, mè đã chín thì nhắc chè xuống bếp. Những ai thao tác quen tay thì mới giữ cho chè không bị khét, không quá đặc hoặc quá lỏng, mùi vị béo thơm đặc trưng của chè.

Khi trò chuyện với người đàn bà bán chè chí mè phủ ở Hội An, chị không cho chúng tôi biết tên mà cũng tránh chuyện nhận mình là người Việt gốc Hoa, chị chỉ nói là một ngày chị bán hết ba nồi chè, hôm nào thấy trời mưa dầm, nấu ít một chút không đủ bán thì hôm sau thế nào cũng bị khách hàng cằn nhằn.

Chuyện một đô thị cổ xưa, thích ăn một món ăn truyền thống cũng là chuyện dễ hiểu, nhưng ở Việt Nam hiện nay một món ăn ngon như chè chí mè phủ, dù cho món này được bảo bộc bởi cả một không gian văn hóa di sản thế giới như Hội An, nhưng không ai chắc sẽ tồn tại được trước cơn bão các món ăn nhanh Âu Á hầm bà lằng đang hàng ngày thay đổi khẩu vị thế hệ trẻ Việt Nam.

1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 1/17/2016(UTC)
phamlang
#2128 Posted : Friday, December 25, 2015 8:12:39 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Những bài hát Giáng sinh chưa bao giờ cũ


Tuấn Khanh



Kể từ sau khi bài Silent Night ra đời (1818), bài hát được ghi nhận là tác phẩm lâu đời nhất viết cho lễ Giáng sinh, thì đến nay đã có vô số những bài hát được sáng tác dành cho dịp lễ cuối năm này. Mỗi dịp Giáng sinh về, con người ở khắp nơi trên thế giới lại có dịp ngẫu hứng thêm biết bao những giai điệu mới. Thế nhưng lạ thay, vẫn có những bài hát đặc biệt luôn luôn vang lên, lặp lại nhiều lần mà không thấy chán trong trái tim mỗi người. Những bài hát xa xưa mà không bao giờ cũ.

Có những người đã đi qua hàng chục mùa Giáng sinh, nhưng mỗi năm, khi bài Jingle Bells cất lên, mọi thứ trong đời như được nhấn phím f5 trên máy tính, lại tươi mới và xao xuyến như thuở ban đầu. Nhà phê bình âm nhạc Rachel Pomerance Berl, khi viết trên tờ Huffington Post đã đặt ra câu đố rằng “những bài hát nào có sức mạnh hơn cả những bài hát?”, câu trả lời nhanh, đó là nhạc Giáng Sinh. Đôi khi người ta không còn lắng nghe âm nhạc trong mùa Giáng Sinh bằng sự thưởng thức thông thường, không còn phân tích về logic đời sống của bài hát đó nữa, mà chỉ còn bí mật tìm những người đồng điệu với mình trong một khoảnh khắc. Âm nhạc như một thông báo về những ngày rất quen mà trái tim cần đập chậm lại và thêm những nụ cười. Sức quyến rũ kỳ lạ của nhạc Giáng sinh là vậy.

Trong lời giới thiệu mở đầu cho chương trình nhạc Giáng sinh năm ngoái, Jonathan Henley, người cầm trịch của đài phát thanh Road Signs (Mỹ) với giờ âm nhạc có tên WEND trên băng tần 106.5 FM đã nói rằng “chào mừng con người đang bước vào khoảng thời gian của lý lẽ không tồn tại”. Lúc này, chúng ta chỉ cần lắng nghe âm nhạc như để tự nhắc mình là ai, ý nghĩa của cuộc sống này là gì. Nhiều cuộc điện thoại sau lời giới thiệu đó gọi vào, gửi tặng nhạc đến người thân, tiết lộ cho biết rằng ngoài những người Công Giáo, còn có người Do Thái hay Phật Giáo… Đỉnh điểm của Giáng Sinh là nơi tập hợp mọi niềm tin tinh thần, là lòng nhân ái và chia sẻ, nên con người không biên giới đã cùng gặp nhau nơi đó.

Sẽ chẳng còn ai quan tâm đến việc bài Jingle Bells chưa bao giờ thật sự là một bài nhạc dành cho Giáng sinh cả. Thực tế là bài hát này được nhạc sĩ James Lord Pierpont ở Massachusetts viết cho dịp lễ Tạ Ơn. Và cũng không ai quan tâm rằng bài Rudolph The Red-Nosed Reindeer (ở Việt Nam vẫn hay dịch là Ông Rudolph mũi đỏ) lại là một bài Giáng Sinh được viết nên bởi một nhạc sĩ Do Thái Giáo, tên là Johnny Marks. Giáng sinh làm nên niềm vui của những người có đạo, nhưng âm nhạc thì nối dài vòng tay làm nên một mùa Giáng sinh an lành cho cả thế giới. Âm nhạc phá bỏ mọi ranh giới tín ngưỡng, gợi lại những giấc mơ đẹp và sẽ không bao giờ cũ trong trái tim con người.

Khác với những thể loại âm nhạc khác, nhạc Giáng sinh có giá trị như một bước nhảy alpha, vượt thời gian trong khoa học vũ trụ. Con người có thể đột ngột chuyển vùng tồn tại của mình, quay trở lại những kỷ niệm vui buồn trong đời mình đã qua khi nghe thấy những giai điệu này. Không có một liều thuốc estacy nào đủ mạnh để tạo được những cảm giác khi ngày cuối năm đến, tiếng chuông nhà thờ và âm nhạc vang lên: con người trở nên mộng mơ hơn trong thực tại, và thanh bình ập đến trong trái tim mình.


Nhạc Giáng sinh gần với người Việt hơn, kể từ khi có một trào lưu Việt hoá dòng nhạc này. Sớm nhất, được biết là hai ca khúc Hang Bê-Lem của nhạc sư Hải Linh và Cao Cung Lên của Linh mục Hoài Đức. Cả hai bài này đều được ghi nhận cùng xuất hiện vào năm 1945. Đó cũng là giai đoạn của tân nhạc tiền nội chiến Việt Nam phát triển mạnh mẽ nhất. Trước đó, các bài hát Giáng Sinh phần lớn đều được hát bằng tiếng Latin hay tiếng Pháp nên ít người hát được. Vì vậy việc viết và dịch lời Việt bùng nổ. Đến thập niên 60-70 thì những bài tình ca Việt nhân dịp Giáng Sinh đã xuất hiện rất nhiều. Người ta bắt đầu ngâm nga những bài nhạc Việt có hình ảnh Giáng Sinh, xao xuyến đem vào ký ức thế hệ mình. Trong đó phải kể đến Bài Thánh Ca Buồn của Nguyễn Vũ, Hai Mùa Noel của Đài Phương Trang, Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời của Phạm Duy… So với nhiều nước ở Đông Nam Á, Việt Nam là một quốc gia hết sức giàu có giai điệu và niềm vui trong mùa Giáng Sinh. Thật thú vị khi nhiều nơi đang hát vang lời ca tràn đầy tuyết lạnh, nhưng thực tế thì người ta có thể toát mồ hôi với ngày nhiệt đới.

Trong khi những bài hát mới về Giáng Sinh có thể bị lãng quên nhanh, thì ngược lại những bài hát truyền thống thì luôn được đợi chờ trong trí nhớ. George Michael, một trong những ca sĩ thời hiện đại, hiếm hoi được ghi nhớ với bài Last Christmas trong danh sách những bài hát cùng vang lên trong mùa Giáng Sinh, đã tóm tắt “những bài hát vui tươi nhưng thầm lặng nhắc về hạnh phúc đã mất. Và ngay khi bạn từng khổ đau trong quá khứ, thì giờ đây nhớ lại, đó cũng là một cảm giác hạnh phúc của đời người, mà hạnh phúc thì không bao giờ cũ”.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 1/17/2016(UTC)
Duy An
#2129 Posted : Sunday, January 3, 2016 8:41:24 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Miền Tây với những con sông cạn nguồn


Liêu Thái/Người Việt

VIỆT NAM (NV) - Câu chuyện Cửu Long cạn dòng đã được tác giả Ngô Thế Vinh đề cập trong “Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng” cách đây khá lâu. Nhưng khi ông Ngô Thế Vinh viết cuốn sách này, đời sống của đồng bào miệt Tây Nam Bộ chưa khốn khó như hiện tại.




Nếp nhà quen thuộc của người Tây Nam Bộ sông nước. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)


Có thể nói rằng Tây Nam Bộ không còn là vựa lúa, ao cá của miền Nam nữa. Mọi sự đã đối thay đến mức khó mà tưởng tượng!

Cá sông, cá đồng nay về đâu?

Nói về miệt Tây Nam Bộ, không riêng gì sách vở, tạp chí văn hóa, tạp chí địa lý mô tả mà ngay cả những người từng đến thăm Tây Nam Bộ như chính người viết bài này vào những năm 1990, đều công nhận là nơi này trái cây bạt ngàn, chim rừng cũng bạt ngàn và cá lội đen cả nước. Muốn ăn nhậu chỉ cần rủ nhau vác cần ra một đám ruộng sâu nào đó ngồi thả mồi, chừng nửa giờ thì cá không làm gì cho hết...

Nhưng đó là chuyện của những năm 1990, cách đây 20 năm. Còn bây giờ, trở lại đồng bằng sông Cửu Long, không riêng gì một tỉnh nào, đều trở nên trơ trọi khi nói về chuyện cá mắm ở đây. Có một điều lạ là hiện tại, xuống miệt Tây Nam Bộ, nếu muốn tìm mua món cá khô, mua mắm thì rất nhiều nhưng vác cần ra đồng thì chuyện này đã xưa, ngồi cả ngày cũng không có con cá nào.

Và cũng xin nói thêm là hầu hết các món khô đều là hàng tích trữ từ nhiều năm trước, nguồn hàng hiện tại cũng rất quí hiếm, được bán với giá trên trời bởi nó được xếp vào nhóm đặc sản hiếm. Như lời của Bà Út Lời, một người buôn bán các loại khô sặc ở Ninh Kiều, Cần Thơ: “Mọi thứ bây giờ khó kiếm rồi. Như món rắn khô, cá da trơn khô đã thành đặc sản hiếm.”

Theo bà Út Lời: “Những món như cá lóc khô, cá trê khô, nhái khô bây giờ cũng có giá cao rồi. Không như trước đây muốn có thì mang đèn pin ra đồng, sau một đêm thì nhiều nhóc ra đó, tha hồ mà làm, mà phơi. Bây giờ thứ gì cũng hiếm, cá mắm cũng không còn nữa.”




Một lượng cá ít ỏi sau một ngày đánh lưới trên sông Hậu. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)



“Chuyện đồng ruộng không còn cá nữa cũng dễ hiểu thôi, một phần do cá không dám bén mảng vào ruộng vì người ta bơm thuốc độc quá nhiều. Các công ty sản xuất thuốc trừ sâu bây giờ mọc ra đầy, công nghệ Trung Quốc rẻ như bèo, chỉ cần bỏ ra vài trăm triệu là có cái nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu. Chính vì vậy mà thuốc rẻ, người nông dân xài vô tội vạ... Kết quả là cá không tài nào dám vào ruộng, vào bao nhiêu chết bấy nhiêu!”

Phần khác nữa, cũng là phần quan trọng nhất là nước trên các con sông chính gồm sông Tiền và sông Hậu đã tuột xuống mức rất thấp trong mùa khô. Ngay cả bây giờ đang mùa nước nổi mà nước vẫn thấp. Nước không dẫn vào ruộng được, cá cũng không có chỗ để đẻ. Thường thì cá đẻ trong ruộng đồng và vào các lùm cây bần, đước, sú, vẹt... để đẻ. Nhưng chủ yếu là đồng ruộng.

Bây giờ mực nước luôn luôn thấp, nước mặn từ ngoài cửa biển tràn vào mỗi mùa trăng. Như vậy thì cá nước ngọt phải tìm đường mà tránh, chúng sẽ bơi về thượng nguồn, chúng không dám ở miệt đồng bằng Tây Nam Bộ này nữa vì ở đây nguy hiểm tính mạng. Chính vì vậy mà trước đây chừng ba năm, mang giỏ đi buổi sáng thì trưa về đầy giỏ cá tôm. Còn bây giờ mang giỏ đi buổi sáng sớm, chiều về được lưng giỏ cá, tôm, ốc...


Những cái đập đe dọa đồng bằng sông Cửu Long



Hoàn toàn đồng ý với nhận xét của bà Lời, ông Tư Hùng, người mới đổi nghề từ đánh cá đồng, đặt ống trúm sang thụt ba khía trong rừng ngập mặn, cũng nói: “Tui phải bỏ nghề cá nước ngọt vì loài cá bây giờ tinh khôn và hiếm hoi rồi. Kiếm cả ngày chẳng được mấy con, sông ngòi cũng không còn cá mắm gì!”

Theo ông Tư Hùng, “Trước đây mười năm, mỗi đêm tôi đánh được hai chục, ba chục ký cá. Còn bây giờ may mắn lắm thì được năm, sáu ký, có đêm được nửa ký. Như vậy thì sống sao nổi. So với trước đây ba chục năm thì khỏi phải nói. Hồi đó đánh lưới một giờ là có vài chục ký cá. Bây giờ cạn kiệt hết rồi!”

“Đi thụt ba khía thì phải tới rừng ngập mặn, đường sá xa xôi, cả đi và về có khi tốn sáu bảy chục ngàn đồng tiền xăng nhưng bù vào đó cũng còn cái để sống. Chứ đánh lưới và đặt ống trúm, đặt lờ thì bây giờ người ta bỏ nghề nhiều rồi, cá đồng bằng sông Cửu Long không còn để đánh đâu. Ruộng thì bị ngập mặn.”

Nói về ruộng ngập mặn thì bây giờ bị nhiều rồi, ruộng ở Sóc Trăng, Cà Mau, An Giang, Cần Thơ, đâu cũng có đất ngập mặn hết. Do nước sông Cửu Long cạn dòng, nên thủy triều ngoài biển vào là vào tận lên tới An Giang, Cần Thơ, có khi lên tới Vĩnh Long, Bến tre, nói chung là đâu cũng có nguồn nước mặn đổ vào. Hậu quả thì miễn bàn, ngập mặn chừng ba mùa thì thành ruộng muối!




Một người thụt ba khía ở Đất Mũi, Cà Mau. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)


Cứ tưởng tượng một lúc nào đó đồng bằng sông Cửu Long thành ruộng muối? Vì chuyện này không phải là không thành hiện thực khi mà Trung Quốc xây chín cái đập thủy điện ở Vân Nam, thượng nguồn sông Mê Kông rồi mà vẫn còn tiếp tục xây nữa. Trong khi đó, Thái Lan và Cambodia cũng xây mấy đập nữa. Lúc đó cả đồng bằng sông Cửu Long này phải ngửa mặt kêu trời, chờ mấy ông trời Trung Quốc, Thái Lan và Cambodia ban cho nguồn nước.

“Tôi sợ rồi đây đồng bằng sông Cửu Long không còn lúa gạo nữa, tôm cá thì hết lâu rồi. Ngay cả con ba khía ở rừng ngập mặn hay con ốc đen ở rừng ngập mặn bây giờ cũng hiếm lắm rồi! Không phải dễ kiếm như ngày xưa nữa. Tôi lội ruộng, lội rừng ngập mặn quanh năm nên linh cảm của tôi về ruộng đồng ở đây cao lắm. Tôi sợ đến một lúc nào đó mọi thứ sẽ trơ trọi và hoang mạc chứ đừng tưởng nói đùa.”

Câu nói của ông Tư Hùng, một nông dân quanh năm làm ruộng và đánh trúm, thụt ba khía nhưng lại sâu sắc và thấm thía vô cùng. Nhưng điều này cũng làm cho chúng tôi hết sức ngạc nhiên bởi vì sau một kì nghỉ dài, tham quan “lục tỉnh miền Tây” và tiếp xúc với nhiều người. Chúng tôi luôn bị cảm giác hình như người miền Tây không bận tâm đến chính trị, xã hội, họ chỉ cần làm kiếm tiền, ăn, nhậu và đẻ con...

Đa phần là vậy. Ngoại trừ trường hợp ông Hùng biết được có chín con đập của Trung Quốc và nhiều con đập của Thái Lan, Cambodia trên thượng nguồn MêKông hay bà Út Lời bán khô sặc biết rằng có nhiều cái nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu công nghệ Trung Quốc đã phá nát ruộng đồng Tây Nam Bộ... Hầu như chẳng có mấy người biết chuyện này. Khi hỏi về chuyện những con sông cạn dòng, họ chỉ trả lời rất tỉnh: “Anh/chị lo làm ăn, nghèo khổ quá làm kiếm đồng thôi chứ không có quan tâm chuyện này!”

Lại thêm một con sông khác đang cạn dòng nơi tâm hồn người Tây Nam Bộ, nơi của bạt ngàn trái ngọt, phù sa màu mỡ, lòng người khoáng đạt và cởi mở.
1 user thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 1/17/2016(UTC)
Duy An
#2130 Posted : Saturday, January 16, 2016 12:15:06 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)


Âm Hưởng

Tác giả: Đinh Hùng

Hôm nay chim yến vui ca
Ran ríu bên sườn núi trắng:
Xuân này có nắng gieo hoa,
Ta sẽ cùng ra biển lặng.

Hôm nay gió bảo cùng mây:
Rời xa những miền tuyết trắng,
Tôi từ biển vắng về đây
Mừng hội xuân này đẹp nắng.

Hôm nay cây quế trong rừng
Bỗng nhủ cùng làn suối bạc:
Xuân này tôi khoác áo nhung,
Mà bác vang lừng tiếng nhạc.

Hôm nay chim nhạn sang sông
Tìm sợi rong vàng làm tổ,
Tôi đan những sợi thơ hồng
Nhờ chim gửi người viễn phố.

Hôm nay hoa bướm hẹn thề,
Hương có bay về phương ấy?
Mưa phùn lả ngọn tường vi,
Mái tóc em còn suối chẩy?

Em là công chúa si mê
Ngủ giữa ngàn hoa lửa cháy.
Bao giờ lại trắng hoa lê,
Em tỉnh giấc mơ bừng dậy?
2 users thanked Duy An for this useful post.
Vương Thịnh on 1/16/2016(UTC), Hạ Vi on 1/17/2016(UTC)
Hạ Vi
#2131 Posted : Sunday, January 17, 2016 1:36:56 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,336
Points: 16,894
Location: CỏThơm

Thanks: 4127 times
Was thanked: 9987 time(s) in 2476 post(s)


Làng hoa Tân Quy Đông Sa Đéc mùa đón Tết



Làng hoa Tân Quy Đông mùa Tết Bính Thân (ảnh: N. Thịnh)


Đồng bằng sông Cửu Long có 3 trong số 10 làng hoa nổi tiếng nhất cả nước, đó là: Làng mai Phước Định ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; làng hoa Cái Mơn tập trung ở các xã: Vĩnh Thành, Cái Mơn, Vĩnh Hòa, Phú Sơn và xã Long Thới thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có hơn 60 ha với hơn 4,000 gia đình sản xuất và kinh doanh hoa, cây cảnh; và làng hoa Sa Đéc (Đồng Tháp) với hơn 400 ha chuyên canh, với hơn 2,000 gia đình trồng hoa.

Làng hoa Sa Đéc thường đến biết đến với tên gọi làng hoa Tân Quy Đông. Nơi đây có tới 1,000 chủng loại hoa và mỗi năm đều đưa ra nhiều giống hoa mới chào hàng. Khác với những làng hoa khác, hầu hết hoa kiểng ở Tân Quy Đông được trồng trên giàn. Dự kiến tết năm nay làng hoa Tân Quy Đông sẽ cung cấp cho thị trường khoảng 600,000 giỏ hoa kiểng các loại. Còn mua bán thường xuyên thì mỗi ngày làng hoa xuất ra khoảng 20 xe tải, mỗi xe chừng 2,000 giỏ. Riêng vạn thọ tết năm nay nông dân trồng với số lượng ít, chỉ chừng 10,000 giỏ. Nhiều nhất là hoa hồng, hơn 100,000 giỏ. Cúc thì có nhiều loại, như cúc mâm xôi, cúc Đài Loan, cúc Tiger… Còn lại là các loại hoa kiểng phục vụ trang trí như cây phát tài, đại phú, ngọc lan, cát tường, dạ yến thảo…

Ông Ngô Tấn Tài, khóm Tân Hiệp cho biết gia đình ông có hai công ruộng, tết này trồng 5,000 giỏ, chủ yếu là hồng nhung, hồng tiểu muội, tường vy, vạn thọ. Hiện ông đang bán lai rai với giá tương đương như năm rồi: vạn thọ, hồng nhung 30,000 đồng/cặp, tường vy 40,000 đồng/cặp và rau dừa 10,000 đồng/cặp. Riêng hoàng yến đỏ là giống mới, có giá từ 80,000 đến 400,000 đồng một cây, tùy theo lớn nhỏ.





Trong khi đó thì giá phân bón và công lao động lại tăng. Năm ngoái công lao động khoảng 110,000 đồng/ngày, thì năm nay lên 150,000 đồng/ngày. Phân rơm năm rồi 40,000 đồng/bao thì năm nay lên 60,000 đồng/bao… Một lão nông trồng hoa ở xã Tân Qui Đông, nói một giỏ hoa cẩm tú sau khi gia đình tự cắt cành ươm cây con, dưỡng cây cao khoảng 2 tấc (20 cm) tốn công chăm sóc trong 3 tháng. Nhưng bán mỗi giỏ hoa giá 2,500 đồng, sau khi trừ tiền giỏ, nước tưới, phân bón (chưa tính cây con và công chăm sóc) còn lời khoảng 1,000 đồng/giỏ.

Hiện tại, dọc theo bờ sông Sa Đéc, chỗ nào cũng hoa, hoa trên bến, hoa dưới thuyền, hoa tràn ngập trên các nẻo đường. Dưới sông tàu ghe neo đậu, trên bờ đủ các loại phương tiện vận chuyển đang chờ đợi lấy hàng. Nhiều thương lái hoa kiểng cũng bắt đầu săn hàng khiến cho làng hoa Sa Đéc trở nên rộn ràng náo nức.



Vũ Minh Ngọc / SBTN





2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 1/20/2016(UTC), Duy An on 2/21/2016(UTC)
Duy An
#2132 Posted : Tuesday, January 19, 2016 5:18:51 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,216
Points: 3,740

Thanks: 205 times
Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
Làng bánh chưng Tranh Khúc nhộn nhịp đón Tết


Hà Phương/VOV online


Những ngày giáp Tết âm lịch, người dân làng Tranh Khúc tất bật rửa lá dong, vo gạo, đãi đỗ, thái thịt chuẩn bị gói bánh chưng.

Làng Tranh Khúc (xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội) từ lâu đã nức tiếng với nghề gói bánh chưng truyền thống. Những chiếc bánh chưng Tranh Khúc dẻo, thơm ngon là địa chỉ quen thuộc không chỉ của người dân Hà Nội mà nhiều khách phương xa cũng tìm đến mỗi dịp Tết đến xuân về.




Những ngày cận Tết nguyên đán làng bánh chưng Tranh Khúc như nhộn nhịp hẳn lên với những chuyến hàng vận chuyển lá dong về chuẩn bị gói bánh chưng





Lá dong dùng để gói bánh được mua từ rừng vùng Hà Giang, Tuyên Quang...





Sau khi được rửa sạch, lá dong sẽ được lau khô cẩn thận, sau đó được tước sống để khi gói bánh lá không bị gẫy, bánh sẽ vuông và đẹp.





Gạo nấu bánh có rất nhiều loại nhưng nếu chọn loại nếp cái hoa vàng của vùng Hải Hậu là ngon nhất. Hạt tròn, thơm, dẻo trắng, đều, không gãy




Đỗ xanh nấu bánh chưng phải là đỗ mới, bở, vàng, đẹp, được nấu chín và nghiền nhuyễn




Mặc cho nhân đỗ xanh còn đương nghi ngút khói, người gói bánh nhanh tay vo thành từng nắm, bao lấy miếng thịt lợn đã được ướp sẵn muối tiêu





Các thế hệ trong gia đình cặm cụi với từng chiếc bánh chưng





Những người cao tuổi ở Tranh Khúc cũng tranh thủ gói bánh chưng giúp con cháu dịp Tết





Mặc dù những ngày cận Tết, việc gói bánh chưng phải bắt đầu từ sáng sớm đến tận đêm khuya, nhưng những người dân trong làng vẫn hào hứng với công việc này





Người Tranh Khúc có thể gói bánh chưng vừa nhanh, vừa chắc chắn, vừa đẹp mà không cần khuôn như ở nhiều nơi khác





Nếu nhanh tay, một người có thể gói được 120 chiếc bánh chỉ trong một giờ đồng hồ







Đôi bàn tay khéo léo gói chiếc bánh chưng vuông vắn, lạt buộc chắc chắn chỉ trong nháy mắt





Bánh phải gói chặt tay, buộc chặt rồi xếp đều vào nồi to




Nồi bánh chưng chuẩn bị được đưa lên bếp





Hiện nay, nhiều gia đình trong làng sử dụng bếp điện để luộc bánh chưng, nhưng một số nhà vẫn luộc bánh chưng bằng bếp củi, than. Bánh được luộc từ 7- 8 tiếng. Mùa làm bánh, ở làng Tranh Khúc, nhà nào cũng có 2-3 bếp đỏ lửa




Những chiếc bánh chưng vuông vắn sẽ được chuyển đến người mua

1 user thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 1/20/2016(UTC)
phamlang
#2133 Posted : Wednesday, January 20, 2016 12:34:10 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,513
Points: 4,755

Thanks: 1669 times
Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
Chuyện người con gái Nam Xương


Sớm mai thức dậy nghe chim hót nhớ vu vơ, một nỗi nhớ rất đời thường mà cũng rất bâng quơ. Tôi như nhìn thấy đâu đây những ảnh hình quá khứ, những bóng dáng thân quen mới ngày nào còn tươi cười diễm lệ, thoắt một cái đã ra người thiên cổ. Có kẻ xuôi tay nhắm mắt rồi thôi. Nhưng có những cái chết hóa thành bất tử, khiến lòng ta thương nhớ không nguôi. Tôi muốn đốt đỉnh trầm hương cung chiêu anh hồn “Người Con Gái Nam Xương,” để cùng với đất trời cảm thương thân phận bèo dạt hoa trôi của đời hồng nhan bạc mệnh.




Đền Bà Vũ, nơi thờ Vũ Nương, tỉnh Hà Nam - NGUỒN WWW.OPUSMANG.COM



Nàng là ai hỡi Vũ Nương? Chuyện kể: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương. Người đã thùy mị, nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp.” [1] Ở cái thời chim sa cá lặn, mắt phượng mày ngài, được dùng làm mỹ từ tả giai nhân, mà Nguyễn Dữ chỉ viết “thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp,” đã vẽ lên được hình ảnh người con gái vừa có nhan sắc vừa có phẩm hạnh đoan trinh, thì bút pháp của tác giả quả thực tài tình. Khi chồng ra quan ải, nàng đã: “Gió tây nổi khôn đường hồng tiện. Xót cõi ngoài tuyến quyến mưa da. Màn mưa trướng tuyết xông pha. Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.”
  • . Ðến đây thần bút của tác giả lại phác họa thêm khía cạnh tuyệt vời khác của Vũ Nương: Nàng là người có văn tài! Nếu không tài hoa, sao khi tiễn biệt chồng nàng lại có thể mượn lời của “Người Chinh Phụ” để diễn tả lòng riêng? Có một sự đối nghịch độc đáo ở đây. Chàng Trương tuy con nhà dòng dõi, nhưng ít học. Còn Vũ Nương nhà nghèo, nhưng lại là người nghiên bút theo học sách thánh hiền. Tuy không giới thiệu gia thế của Vũ Nương, nhưng bằng vào những lời nàng thốt ra khi nâng chén rượu tiễn chồng, tác giả mặc nhiên bảo: Vũ Nương là người có kiến thức, am hiểu văn chương. Ðưa chồng ra quan ải, nàng không mong chàng “đeo ấn hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi.” [1].

    Từ khi chàng Trương ra đi, Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ chồng, con thơ. Những tưởng ngày đoàn viên mẹ con, chồng vợ sẽ được sum vầy, nào ngờ “…tuổi thọ có chừng, số trời khó tránh…” [1] Mẹ già vì nhớ thương con trai đã lâm trọng bệnh, lúc trăm tuổi chỉ biết trông cậy vào nàng. Người trung hậu như thế, những tưởng “…xanh kia quyết chẳng phụ lòng...” [1] Ngờ đâu đất bằng dậy sóng. Ngày đón chồng về là ngày nàng mang tiếng bạc tình. Chỉ vì tính cả ghen, nông cạn, nghe qua những lời con trẻ “…Thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến. Mẹ Ðản đi cùng đi, mẹ Ðản ngồi cùng ngồi…,” chàng Trương đang tâm ruồng rẫy vợ. Mặc nàng khóc lóc van xin, chàng quyết tuyệt tình. Nàng vì oan ức đã phải thốt lên: “…Ân tình như lá, gièm báng nên non. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rủ trong ao, liễu tàn trước gió. Khóc tuyết bông hoa gãy cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa…” [1]

    Bằng những câu trần tình bi thiết ấy, tác giả một lần nữa tái hiện nét tài hoa cho Vũ Nương. Cả một đoạn văn biền ngẫu đầy những hình ảnh tan vỡ, chia ly, đối xứng nhịp nhàng, hệt như tiết tấu của Cung Thương, dùng để hát lên nỗi buồn hải giốc thiên nhai cho nàng. Trinh chuyên mang oan phụ chồng, Vũ Nương chỉ biết ngửa mặt lên trời than: “…Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ nhổ…” [1]

    Nói rồi gieo mình xuống giòng nước, trôi xa, trôi mãi theo giòng Hoàng Giang. Éo le thay khúc đoạn trường, khi nàng tự trầm chàng Trương “…mới tỉnh ngộ ra nỗi oan của vợ…” [1] thì đã muộn. Cho đến ngày Phan Lang, người cùng quê bị chết đuối may được bà Linh Phi cứu mạng, ở chốn thủy cung trở về nhân gian. Phan Lang đem chuyện gặp Vũ Nương kể với chàng Trương, rồi trao lại hoa vàng và lời nàng nhắn gửi: “…Nếu còn nhớ chút tình xưa, nên lập đàn giải oan ở bên sông, đốt cây thần đăng chiếu xuống nước…” [1] Chàng Trương ngậm ngùi lập một chay đàn ba ngày ba đêm trên bến sông xưa, mong gặp lại vợ hiền. Quả nhiên, nàng linh hiển trở về, nhưng chỉ nói lời cảm tạ phu quân, rồi bóng hình lại chìm sâu trong sóng nước mênh mông.

    Những hình ảnh diệu kỳ chốn thủy cung huyền ảo. Những ân điển đặc thù của trời đất, bàng bạc trong từng câu chữ của tác giả, khi viết về đoạn đời sau của Vũ Nương, phải chăng chỉ để chứng minh chữ “Nhân” tuyệt vời có trong cõi người ta. Vì lòng nhân hậu, Phan Lang phóng sinh con rùa mai xanh, nên sau này được đền ơn cứu tử. Vì lòng nhân nghĩa, Vũ Nương hết dạ phụng dưỡng mẹ chồng, với chồng một lòng thủy chung như nhất; nên khi bị thác oan, chư tiên đã cứu giúp để chữ Nhân được vẹn toàn. Lời văn sâu sắc. Ý văn thâm trầm. Tác giả vừa đề cao nghĩa khí của người xưa, vừa thực hiện câu văn dĩ tải đạo, để người đời nay mỗi khi đọc “Chuyện Người Con Gái Nam Xương,” phải tự hỏi lại chữ Nhân của lòng mình.

    Năm tháng qua đi, Vũ Nương đã rũ bụi trần gian, về chốn non bồng nước nhược, hóa thân làm thần tiên vĩnh cửu, vùi chôn tiền kiếp cơ cầu. Chuyện xưa như khói như mây, thế nhưng mỗi khi nhớ đến “ngọc Mỵ Nương, cỏ Ngu Mỹ,” lòng tôi lại rơi lệ khóc “người con gái Nam Xương.”

    Ơi Nguyễn Dữ! Văn tài của ông đã làm cảm động lòng người. Hay vì người mà văn tài ấy đã viết lên khối lệ tình thiên thu.

    Hải Vân - 4:43am Thứ Sáu ngày 27 tháng 11 năm 2015

    [1]. Trích trong “Truyền Kỳ Mạn Lục” của Nguyễn Dữ
  • . “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đoàn Thị Điểm
    Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
    -Trịnh Công Sơn-
  • 1 user thanked phamlang for this useful post.
    Duy An on 1/22/2016(UTC)
    Duy An
    #2134 Posted : Friday, January 22, 2016 6:26:32 PM(UTC)
    Duy An

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 6/5/2011(UTC)
    Posts: 1,216
    Points: 3,740

    Thanks: 205 times
    Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
    Bây giờ có còn nước mắm đồng?



    Tạ Phong Tần


    Người Việt ai mà không biết thứ chất lỏng làm cho bữa ăn đậm đà, ngon miệng nổi tiếng khắp nơi, chất nước màu nâu vàng sóng sánh như mật ong rừng, vị ngọt đậm đà mùi cá và mặn tê đầu lưỡi tên gọi là nước mắm. Nhưng mấy ai biết rõ nước mắm có từ bao giờ, và để có chất nước mắm ấy phải kỳ công chắt lọc tinh túy từ con cá như thế nào.

    Ngày xưa, cư dân Việt ven biển làm nước mắm bằng cách thủ công, trong nhà thường có cái thùng bằng ván (gỗ) bự cao quá đầu người, bề vòng lớn cỡ ba người lớn ôm mới giáp, xung quanh được kiềng đai bằng những vòng dây mây vót mỏng và dẻo, đánh lại thành cọng lớn bằng cườm tay như dây thừng, bên hông thùng phía dưới thấp có một cái vòi bằng ống tre để rút nước trong thùng ra, kêu là thùng ủ nước mắm. Bình thường, cái vòi tre này luôn luôn được nút kỹ bằng lá buông khô và một loại gỗ trắng, mềm, xốp, khi hút nước thì nở ra khít rịt (chuyên dùng để làm nút chai) kêu là gỗ cặc bần. Thùng được để trong những căn nhà có vách, mái che đàng hoàng phía sau nhà ở chính. Cá biển đánh bắt được, sau khi phân loại để bán tươi liền ở chợ, để ở nhà ăn, để làm khô, còn lại những thứ vụn vặt, cá nhỏ người ta tận dụng làm nước mắm. Cá rửa sạch, để ráo, cho vào thùng cây, cứ một lớp cá dày cỡ 1 gang tay, lại đến một lớp muối hột dày y như vậy, lần lần cho đến đầy miệng thùng, trên cùng là lớp muối hột dày hơn những lớp bên dưới. Rồi lấy những tàu lá buông khô thật lớn đậy phủ lên trên, bịt kín miệng thùng lại. Thùng nước mắm để ủ như vậy khoảng một năm, người ta rút cái nút gỗ bên hông thùng ra để hứng nước mắm. Chất nước sánh như mật ong, thơm mùi cá này chảy ra kêu là nước mắm nhỉ.

    Sau khi lấy nước nhỉ người ta nấu nước muối đổ vào thùng, để ngâm chừng ba tháng thì rút ra lấy nước nhứt, rồi nước nhì, nước ba... cũng tương tự. Càng về sau, thời gian ngâm càng ít và chất nước mắm cũng bớt đậm đà hơn. Cho đến khi thịt cá trong thùng đã rã kiệt chỉ còn xương, thì người ta mới bắc thang leo vào thùng hốt xác cá ra làm thức ăn gia súc, rửa sạch thùng, phơi thùng thật khô để chuẩn bị ngâm tiếp.

    Nước mắm nhỉ rất ngon và hiếm, thường thì người làm chỉ để trong nhà ăn dần chớ không bán, người ta chỉ bán nước nhứt, hai, ba mà đã được coi là “hảo hạng” lắm rồi. Chan một chút nước mắm này vào chén cơm nóng bốc khói, và vào miệng, mùi nước mắm thơm phức bốc lên, vị ngọt tự nhiên của cá, vị mặn đậm đà, đằm thắm của muối biển, hòa vào cơm, thật không gì ngon ngọt bằng, ăn hoài không biết chán, ăn hết cả nồi cơm to đùng vẫn còn thèm. Nước mắm ngâm sau bán giá rẻ hơn, người ta dùng để nấu các món kho, làm cho mùi vị món kho Việt Nam vô cùng đặc biệt.

    Cha tôi, một nông dân xuất thân từ miệt U Minh Hạ (Cà Mau) thời “khai hoang lập ấp” vùng đất mới hoang sơ này, nên món ăn gì từ thiên nhiên vùng ấy ông cũng biết làm. Cha tôi thường cho tôi nếm thứ nước mắm thủ công ấy, rồi dạy cho tôi phân biệt hương vị chất ngọt tự nhiên của cá trong nước mắm, và cái ngọt “công nghiệp” từ đường mía, đường hóa học, chất cam thảo mà người bán pha thêm vào nước mắm, để bán được nhiều lời (lãi) hơn.

    Bây giờ, người dân quê tôi không ai tự làm nước mắm theo kiểu ấy nữa, đã có những công ty, những xí nghiệp công nghiệp sản xuất nước mắm, đóng chai hàng loạt dán nhãn hiệu “nước mắm Phú Quốc,” nhưng nếm vào miệng chẳng thấy hương vị ngọt đằm thắm của cá biển chút nào. Muốn biết chất ngọt của cá biển nó ra làm sao, nếu có dịp, bạn hãy theo một chuyến tàu đánh bắt ra khơi. Khi mẻ cá vừa kéo từ dưới nước lên, bạn bắt lấy những con cá nục chuối, cá thu hay cá bạc má còn nhảy xoi xói, lấp lánh, dưới ánh mặt trời. Bạn cho chúng ngay vào nồi nước đang sôi sùng sục, chờ cá vừa chín tới, vớt ra dĩa, dùng đôi đũa xé từng miếng lớn thịt cá trắng phau, chấm vào chén muối ớt vừa giã rồi ăn liền tại chỗ, đó chính là vị ngọt tươi giòn tự nhiên từ cá. Muối ớt phải được đâm bằng ớt chỉ thiên chín đỏ còn tươi và muối hột Bạc Liêu, hột nào hột nấy bự bằng ngón chân cái, lấy chày gỗ giả cho nó lại thành những hột nhỏ như hột ớt thì mới ngon.

    Ngoài cách làm nước mắm bằng cá biển với “quy mô” thùng lớn, cha tôi còn biết làm nước mắm đồng bằng các loại tôm, cua, ốc... vụn vặt bắt được ngoài ruộng, hoặc nghêu, sò biển. Vào mùa nghêu, cha tôi ra chợ mua hàng chục ký nghêu, con nào con nấy nhỏ bằng ngón tay đem về luộc kỹ lấy nước luộc nghêu làm nước mắm, xác nghêu, vỏ nghêu đem đốt làm phân trồng cây. Nếu nấu bằng cá, tôm, cua vụn thì cũng y như vậy, tức là luộc thật kỹ chúng trong nước cho chúng ra hết chất ngọt, lược bỏ xác bằng miếng vải mùng. Xong thêm muối và một số cây, lá, trái gì đó vô nấu lại. Nước mắm đồng không cần ủ lâu, nấu xong trong ngày, chờ nguội đổ vô chai thủy tinh nút kín là hôm sau lấy ra ăn được liền. Bí quyết nấu nước mắm đồng là nấu xong để ăn dần được lâu, mà nước mắm không bị ôi, thiu, thúi gì hết. Tôi thấy cha tôi thường cho thêm vào nước mắm đồng khi nấu, một ít mắt khóm (là thứ khi gọt khóm người ta cắt ra bỏ, không ăn được) để nước mắm trong và thêm chất ngọt. Hồi đó, mỗi lần nấu, cha tôi thường bắt tôi phải học cách làm. Lúc đó, tôi còn nhỏ, chưa biết gì là “giá trị văn hóa ẩm thực khẩn hoang” nên tôi cãi lại, không chịu học: “Chời ơi! Cha nấu làm chi cho mệt dị. Có tiền ra chợ, muốn bao nhiêu nước mắm nhỉ cũng có, người ta bán đầy chợ kìa.”

    Người miền Tây có thói quen thắng nước màu để kho cá, kho thịt cho món ăn thêm bắt mắt, ngon miệng. Có hai cách thắng nước màu: Dùng đường với nước lã và đường với chút mỡ (hoặc dầu ăn). Nếu dùng đường với nước lã thì người ta cho đường vào chảo bắc lên bếp, chờ đường sôi bọt cua màu nâu thì đổ nước lã vào, quấy đều thành một chất sền sệt màu nâu đỏ, kêu là nước màu. Để nguội đổ nước màu vào keo thủy tinh cất, lúc nào dùng thì lấy ra cho một muỗng canh vào nồi thịt cá, trộn đều, cho thêm hạt nêm, nước mắm vào ướp cho thấm rồi bắt nồi lên bếp kho. Nếu dùng mỡ thì mỗi lần kho mới thắng một chút nước màu vừa đủ xài, bằng cách cho khoảng một muỗng canh mỡ nước vào nồi, cho chút đường cát vào, dùng đũa quấy đều đến lúc đường sôi bọt cua và chuyển màu vàng nâu thì cho thịt, cá vào nồi, xào cho thịt, cá hơi săn và thấm đều nước màu rồi đổ thêm nước mắm, bột ngọt, gia vị khác vào nồi kho luôn.

    Nước mắm mua trong siêu thị bên Cali này, loại mắc tiền nhứt, một chai ốm nhom chưa đến nửa lít mà hơn $4, cũng in trên nhãn hàng mấy chữ “Phú Quốc,” “Việt Nam.” Về nhà coi kỹ lại mới té ngửa ra, mấy hàng chữ nhỏ hơn con kiến trên nhãn hàng toàn nói vòng vo tam quốc chuyện đâu đâu, tìm không thấy cái địa chỉ và tên công ty sản xuất ở chỗ nào hết. Còn cái chữ “đính kèm” chữ Việt Nam đó, nó viết tiếng Tây, tra từ điển nghĩa là “theo cách Việt Nam.” Trời mẹ ơi! Hóa ra hổng biết thằng cha căng chú kiết nào nó làm mà dám ghi mấy chữ như vậy, hèn gì mở nắp chai hửi nghe mùi nước mắm là chết liền. Cho nên, đi siêu thị mua đồ không đem theo cái kiếng đeo mắt không phải là “sai lầm nghiêm trọng” mà là “sai lầm rất rất nghiêm trọng.”

    Sau bao nhiêu năm “bị” ăn thứ nước mắm công nghiệp đầy những chất hóa học, tôi mới thấy “ăn năn” về cái việc làm biếng không chịu học của mình thì sự đã rồi. Cha tôi mất, gia đình tôi không còn ai biết nấu thứ nước mắm đồng mặn đậm đà, ngon đến say lòng người ấy nữa. Nhớ quá nước mắm đồng ơi!


    1 user thanked Duy An for this useful post.
    CỏThơm on 2/15/2016(UTC)
    phamlang
    #2135 Posted : Saturday, January 23, 2016 2:06:23 PM(UTC)
    Pham Lang

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 4/1/2011(UTC)
    Posts: 1,513
    Points: 4,755

    Thanks: 1669 times
    Was thanked: 1018 time(s) in 660 post(s)
    Thơ xuân Hàn Mặc Tử và Quách Thoại




    Hàn Mặc Tử và Quách Thoại hai cuộc đời, hai thế hệ, hai nỗi buồn và một niềm chua xót vô biên khi một người đã bán cả vầng trăng cho cuộc đời.

    Ai mua trăng tôi bán trăng cho
    Bán cái ảo ảnh đẹp nhất trên đời một cách xót xa, bán cái thiên hạ không bao giờ với tới, không có ai mua để làm gì. Tiếng rao bán đầy sự trêu ngươi, đầy sự hờn tủi xót xa cho cuộc đời vô vọng của mình trên thế gian này.
    Chữ bán trong ý tình nhân loại, trong tấm lòng và ước vọng thi nhân có lẽ khó mà tìm được bởi vì đây là chữ rất thô, rất tầm phào, nhất là đi bán trăng là thứ không ai trên đời quan tâm đến bao giờ. Trong khi Hàn Mặc Tử có rất nhiều vần thơ viết về xuân như Xuân Như Ý, Mùa Xuân Chín, Xuân Đầu Tiên, Đêm Xuân Cầu Nguyện, Lòng Xuân… Chàng -một thi nhân đích thực- cả đời nâng cái thực thể thành sự nhiệm mầu, cả đời say trăng, nghe tiếng trăng vỡ trong khoảng vô biên, ánh sáng thiêng liêng của tâm linh con người, có một lúc nào đó quá hư ảo và không che nổi được sự đau thương của trần thế.

    Ánh trăng mỏng quá không che nổi
    Những vẻ xanh xao của mặt hồ
    Những nét buồn buồn tơ liễu rũ
    Những lời năn nỉ của hư vô…


    Tiếng thơ đã đạt tới cái chín mộng thơm tho và huyền diệu nhất trong đời.
    Trăng như một chân lý kỳ ảo hư hư thực thực rất Đông Phương trong khi đó ngôn từ của thơ Hàn Mặc Tử rất Tây.
    Những mầu nhiệm của ánh sáng cuộc đời Hàn Mặc Tử đã nhân cách hóa vầng trăng vạn cổ để hiện hữu đích thực trước cái khát khao vô cùng của tâm hồn mình.

    Trăng biến thành thiếu nữ, trăng biến thành nguồn sống của tình yêu, nỗi khát vọng ân ái của một linh hồn đau thương sống dở chết dở trong địa ngục của bệnh tình bất trị. Có phải thi sĩ bán trăng là vì đời chàng quá cùng khổ, nghèo nàn và cô đơn, quá đau đớn vì bệnh tình đày đọa mỗi lúc mỗi nặng nề -căn bệnh thế kỷ trong tứ chứng nan y của thời đại bấy giờ- một người sống trong nỗi chết điên mê ngây dại khát vọng yêu thương và tuyệt vọng vô bờ bến trong đời.

    Cho đến nỗi thi sĩ phải uất ức đùa cợt với ý nghĩ phải bán đi, bán đi cái mộng tưởng duy nhất trong đời mình là vầng trăng hư ảo.
    Chúng ta phải choáng ngợp khi đi vào khí hậu thơ của Hàn Mặc Tử. Trước đây có nhiều người đi sâu vào thế giới tâm linh đó như Xuân Diệu hay Hoài Chân Hoài Thanh…

    Bởi vì hành động rao bán vầng trăng rất trần thế mà thời đại của chàng sống nhất là khi Hàn Mặc Tử đã lâm vào chứng bệnh cùi, người đời đều quay mặt. Dường như sau này có người hỏi cô gái Thương Thương bấy giờ đã có chồng con, có nghĩ tới thi sĩ từng say mê mình không, thì được nàng trả lời ai mà lấy cái anh chàng cùi hủi ấy cho được.

    Nàng hỡi nàng muôn năm sầu thảm
    Nhớ thương còn một nấm xương thôi…


    Nàng là ai, là Thương Thương, Mộng Cầm nữ sĩ hay là ai khác? Hay là Trăng? Hàn Mặc Tử đã viết về không biết bao nhiêu là trăng, trọn đời sống với trăng mặc dầu có lúc chua cay đau thương và tuyệt vọng đến phải nghĩ tới bán cả vầng trăng cho cuộc đời. Những rượt trăng, trăng tự tử, chơi trên trăng, một miệng trăng… quằn quại thê lương khôn lường có lúc chàng đành phải đem bán nó. Bán cái thực thể nhiệm mầu kia. Nó khác với vần thơ thuở nào của Nguyễn Trãi với Thị Lộ -cô gái Tây hồ đi bán chiếu gon-:

    Cô ở Tây Hồ bán chiếu gon
    Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
    Xuân xanh nay được bao nhiêu tuổi
    Đã có chồng chưa được mấy con!


    Trong cõi thơ Việt không thiếu gì những ý thơ “bán” với những vẻ khác nhau như bài thơ Bán Than của Trần Khánh Dư chẳng hạn:

    Một gánh kiền khôn quảy tếch ngàn
    Hỏi chi bán đấy gửi rằng than
    Ít nhiều miễn đặng đồng tiền tốt
    Hơn thiệt này bao gốc củi tàn


    Mãi đến sau này thời kỳ đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa chúng ta chợt thấy chữ “bán” lại hiện ra một cách tuyệt vọng không khác chi thơ Hàn Mặc Tử

    Đó là tiếng thơ của Quách Thoại. Trong một bài thơ hay nhất trong số các bài thơ của ông: Trăng Thiếu Phụ, ông cũng đã dùng chữ “bán” trong ấy. Quách Thoại tên là Đoàn Thoại, ông đã chết ở bệnh viện lao Hồng Bàng trong nỗi cô đơn cùng cực của hoài vọng con người, trong khát khao yêu thương và chân lý tình nghĩa cuộc đờì.
    Trong khi hình ảnh trăng của Hàn Mặc Tử thiên biến vạn hóa như những hiện tượng đầy mộng tưởng giữa vô cùng thì trăng của Quách Thoại lại in đậm hình ảnh một người đàn bà. Có thể đó là một mỹ nhân yêu kiều đã có gia đình mà từ lâu Quách Thoại đã ấp ủ cất trọn hình ảnh trong tim. Bài thơ không điên mê say đắm kỳ ảo như thơ Hàn Mặc Tử mà bày tỏ nỗi lòng đau thương cô độc với cái tình của một không gian sâu thẳm mênh mông. Tình mộng đó là một thiết thực yêu thương chân tình đến đỗi rất thơ ngây vì người trong mộng.

    Mỗi thời đại chỉ có riêng vài bài thơ đạt tới cái tinh anh siêu việt của thơ. Nói đến đây, tôi hồi tưởng lại một người -một nhà thơ, một đại triết gia của Việt Nam- trong thế kỷ này. Người mà lúc nào tôi cũng vô cùng quí trọng như ân sư của mình. Đó là Bùi Giáng.

    Khi tôi viết quyển Thi Ca VN, nếu không có Bùi Giáng đem bài thơ Trăng Thiếu Phụ của Quách Thoại đọc cho nghe, chắc tôi cũng khó mà cảm thông được thơ ông lúc này.
    Tôi còn quá trẻ để cảm đến linh hồn Quách Thoại, cũng chưa biết Thanh Tâm Tuyền. Khi đọc những bài thơ Thanh Tâm Tuyền viết cho Quách Thoại trong Tôi Không Còn Cô Độc và sau đó từ Quách Thoại, tôi mới đem lòng quí trọng nhà thơ nhà văn Thanh Tâm Tuyền gấp bội phần với những tập thơ, những tiếng thơ, những ý thơ, lời thơ lạ lùng xuất chúng. Quả là hiếm hoi khi khám phá ra được nếu không có những bằng hữu lão thành chỉ bảo cho tôi như với cụ Bùi Giáng vậy.

    Có lẽ trong mùa xuân này, người yêu thơ có lúc đã quên đi Hàn Mặc Tử một anh chàng đòi đi bán vầng trăng và Quách Thoại, một thi sĩ tài hoa đã mất sớm khi chưa kịp in cho mình một tác phẩm.
    Sau khi Quách Thoại mất, người anh ruột của ông là Đoàn Tường, chủ bút tờ Văn Nghệ thời đó in cho ông một cuốn thi phẩm. Quách Thoại nổi tiếng với bài Như Băng Trường Tình, như bài Trường Tương Tư của Hàn Mặc Tử.
    Ông còn rất nhiều thơ mà tôi thích nhất là bài Anh Hãy Hát Bài Ca Đông Phương Mầu Nhiệm và một bài ngắn mà thơ đạt tới tinh thể tụ thần trong bài Thược Dược sau đây:

    Đứng im ngoài hàng dậu
    Nàng mỉm nụ nhiệm mầu
    Vừa thoáng nghe em hát
    Lời em ca thiên thâu
    Tôi sụp lạy cúi đầu


    Cái ý tưởng đem bán mùa xuân để lại bao nỗi u hoài cay đắng cho cuộc đời của nhà thơ vốn đã thiệt thòi và cô độc cho đến cuối cùng của cuộc đời mình

    Trong bài Trăng Thiếu Phụ, Quách Thoại đã kêu lên nỗi bi thương thất vọng với câu thơ:
    Tôi gặp mặt người người đã bán
    Cả mùa xuân đẹp thuở sắc son


    Hàn Mặc Tử rao bán trăng. Còn Quách Thoại tuyệt vọng vì nguồn yêu thương của mình đã ra đi. Có phải nàng đi lấy chồng vì tình yêu hay vì tiền, vì sự giàu sang tự nhiên của ước vọng đời mình để cho thi sĩ ngậm ngùi cay đắng đã một mất mối ẩn tình bấy lâu nay. Những vần thơ chua chát u buồn thất vọng vì nỗi đời tầm thường trong lòng người đó, ngày nào cũng đã gợi cho thi sĩ Kiên Giang niềm thất vọng đắng cay.

    Tiền không là lá em ôi
    Tiền là giấy bạc của đời in ra
    Người ta giấy bạc đầy nhà
    Cho nên mới được gọi là chồng em


    Vâng, hẳn các nhà thơ của ta vì quá nghèo khổ thường coi thường danh vọng địa vị của cảnh giàu sang quyền quí trong đời nên gặp nhiều hoàn cảnh thất vọng đắng cay như thế. Đâu đó cũng là thường tình, một mùa xuân nữa lại đến trong lúc bận rộn vì cuộc sống chúng ta tạm để cho nó lắng lại để thưởng thức những vần thơ sâu sắc thanh kỳ của các nhà thơ đã lừng lẫy một thời.Mời các bạn đọc thơ xuân của thi sĩ Hàn Mặc Tử và Quách Thoại:

    Xuân Đầu Tiên
    Mai sáng mai, trời cao rộng quá
    Gió căng hơi và nhạc lên mây
    Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm
    Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay

    Mai này thiên địa mới tinh khôi
    Gió căng hơi và nhạc lên trời
    Chim khuyên hót tiếng đầu tiên hết
    Hoa lá hồ nghi sự lạ đời

    Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm
    Còn mặt trời kia tợ khối vàng
    Có người trai mới in như nguyệt
    Gió căng hơi và nhạc lên ngàn

    Thuở ấy càn khôn mới dựng nên
    Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên
    Người thơ phong vận như thơ ấy
    Nào đã ra đời ngọc biết tên

    Xuân gấm đầu tiên giữa cõi đời
    Mùi thơm ngây lại sóng con người
    Hãy hoan hô, lời cao như sấm
    Vạn tuế, bây ơi! Nắng rợp trời
    Hàn Mặc Tử


    Trăng thiếu phụ
    Đã mấy đêm trường tôi không ngủ
    Năm thao thức nhớ mảng trăng thu
    Đã biết bao lần tôi tự nhủ
    Rằng cho tôi chết giữa âm u

    Cớ sao trăng sáng ngoài kia nhỉ
    Làm động tình tôi giữa buổi đêm
    Tôi nhắm mắt nằm không dám nghĩ
    Sợ nhìn trăng lạnh rớt bên thêm

    Tôi muốn phòng tôi luôn mãi tối
    Xin trăng đừng chiếu lướt qua song
    Tôi muốn hồn tôi chìm lạc lối
    Cho tàn chết hết cả hoài mong

    Cơ khổ cho tôi còn mối mộng
    Làm đau chăn gối giữa đêm thu
    Chỉ tội hồn tôi thêm náo động
    Mà thường mà sợ mảnh trăng lu

    Tôi sợ ngày mai trời sẽ sáng
    Trăng thu thơ mộng sẽ không còn
    Tôi gặp mặt người người đã bán
    Cả mùa xuân đẹp thuở sắt son

    Chao ơi trăng hỡi trăng thu đẹp
    Trăng của lòng tôi hay của ai
    Tôi mở hồn thơ, thôi khó khép
    Gởi cả lên trăng tiếng thở dài

    Và cho tôi ngủ cho tôi ngủ
    Thao thức làm chi mãi thế này
    Trăng tội tình chi mà ấp ủ
    Mảnh lòng thi sĩ quá thơ ngây

    Bởi đâu lệ nhỏ lăn trên gối
    Tôi thấy cô đơn lạnh lắm rồi
    Tôi biết đời tôi e hấp hối
    Mà trăng thì sáng tận trên đồi

    Không người thiếu phụ đứng bên tôi
    Quách Thoại

    Thơ Quách Thoại càng buồn càng siêu thoát, vũ trụ vô cùng, không gian vô tận, nỗi buồn của Hàn Mặc Tử của Quách Thoại càng bát ngát, càng mầu nhiệm biết bao nhiêu
    Tuy nhiên cuộc đời không chỉ có những mất mát đau thương mà nó còn có chân lý trường cửu vô tận như cánh hoa mai của một thiền sư:

    Đừng ngại xuân tàn hoa rụng hết
    Đâu qua sân trước một nhành mai

    Xuân vẫn còn đó. Sự vô thường của đời thường đổi lại thành vĩnh cửu của mùa xuân như trong thơ của thiền sư Thích Mãn Giác vậy.

    Trần Tuấn Kiệt
    Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
    -Trịnh Công Sơn-
    2 users thanked phamlang for this useful post.
    Duy An on 1/27/2016(UTC), CỏThơm on 2/1/2016(UTC)
    Duy An
    #2136 Posted : Wednesday, January 27, 2016 9:29:11 AM(UTC)
    Duy An

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 6/5/2011(UTC)
    Posts: 1,216
    Points: 3,740

    Thanks: 205 times
    Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
    Sự độc đáo của phở Việt


    Tuesday, January 26, 2016 3:28:29 PM

    LyVu

    Mới đây, tờ tạp chí kinh doanh nổi tiếng của Mỹ - Wall Street Journal - đã cho đăng tải một bài viết khen ngợi món phở Việt Nam. Bài viết có những nhận định, so sánh sâu sắc về món ăn nổi tiếng của người Việt. Bằng giọng văn dí dỏm và chân thành, phóng viên của tờ Wall Street Journal đã có một bài viết thú vị về phở Việt (LY VU).

    Ðáp máy bay đến Hà Nội trong một buổi sớm se lạnh, khi cảm giác lâng lâng, say say của máy bay vẫn còn khiến đầu óc “nửa mê nửa tỉnh,” tôi bước vào một quán ăn nhỏ ven đường, tỏa ra mùi hương ngào ngạt, quyến rũ. Tôi đã ở đây rồi, nơi tân cổ giao duyên, nơi Ðông Tây gặp gỡ - Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn hiến của Việt Nam.




    “Ông ăn ngay đi nhé!,” cô phục vụ lấy tay ra hiệu chỉ vào bát phở vừa mới đặt xuống trước mặt tôi. Trông cô nghiêm nghị như một vị tướng chỉ huy cấp dưới, nhưng đó chỉ là sự so sánh hài hước của tôi thôi. Thực ra, cô đang thể hiện sự quan tâm, có lẽ trông tôi không khỏe và cô đang lo lắng cho người khách phương xa.

    Bát phở đặt trước mặt tôi - món ăn thương hiệu của ẩm thực Việt Nam đây rồi, trông thật giản dị: những sợi phở trắng bơi trong bát nước dùng, rải đều trên mặt là những lát thịt bò thái mỏng. Ði kèm bên cạnh là một đĩa bày rất khéo những thức rau sống, giá đỗ, miếng chanh cắt nhỏ, lát ớt chỉ thiên...

    Phở, tôi đã ăn nhiều lần. Ðó luôn là món ăn đặc biệt đối với tôi. Kể từ lần đầu tiên được nếm thử hương vị phở ở đất nước quê nhà cách Việt Nam nửa vòng trái đất - nước Mỹ, tôi đã biết mình sẽ không bao giờ có thể quên món ăn này.

    Tôi cũng không bao giờ có thể miêu tả hương vị phở, nó quá sâu sắc và phức tạp, chẳng dễ nói bằng lời được. Bởi lẽ, để có tô phở đặt trước mặt tôi đây, người chủ quán đã phải chuẩn bị cầu kỳ từ trước đó nhiều tiếng đồng hồ.

    Nguồn gốc của phở thật bí ẩn. Người thì bảo phở là món lai Pháp, người lại bảo nó xuất xứ từ Trung Hoa, có người lại quyết bảo vệ: phở là của Nam Ðịnh. Bất kể phở xuất xứ từ đâu, người Việt Nam các bạn vẫn luôn bảo rằng phở là linh hồn ẩm thực của Hà Nội.

    Ở thành phố miền Bắc đông đúc này, mặt trời lên là đường phố bắt đầu hối hả, mặt trời lặn là ai về nhà nấy, đến đêm thì không gian được trả lại sự tĩnh lặng. Tôi thường thấy những người bán hàng rong đạp xe xung quanh thành phố với những thúng mủng đựng chanh, ớt, tỏi,... Và tôi cũng thường thấy các quán phở có khách từ sáng đến đêm, đó là món ăn mà có lẽ người ta có thể ăn từ ngày này sang ngày khác, từ bữa này sang bữa khác không chán, tôi nghĩ vậy.

    Phở là món quà đặc sản của Hà Nội, một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam - Thạch Lam từng viết như vậy hồi thập niên 1940. Ðiều này vẫn không thay đổi cho tới tận hôm nay. Phở là đặc sản Hà Nội không phải bởi chỉ người Hà Nội mới biết nấu phở mà bởi ở Hà Nội, hương vị phở thơm ngon đặc biệt, một thứ vị riêng có.

    Hai thúng hai đầu và một dải quang gánh ở giữa nối liền, ai đó đã miêu tả hình ảnh đất nước Việt Nam như vậy. Miền Bắc với Hà Nội ở một đầu quang và miền Nam với thành phố Saigon ở đầu còn lại. Ðến với thành phố Saigon, tôi cũng dùng phở và nhận thấy hương vị hai nơi thật khác nhau, phong cách nấu ở hai thành phố này có những khác biệt thú vị.

    Tôi muốn kể cho các bạn nghe về trải nghiệm đầu tiên của tôi với phở. Nó bắt đầu từ một nhà hàng ở tận thành phố Cambridge, tiểu bang Massachusetts, Mỹ. Ở những năm 1990, khi đó, phở vẫn còn chưa được nhiều người Mỹ biết tới. Một đầu bếp Mỹ có tên Didi Emmons đã mở quán phở đầu tiên trong tiểu bang. Có lần ghé qua ăn thử và quá ấn tượng với món này, cậu sinh viên trẻ là tôi khi đó đã ngay lập tức xin được làm thêm tại cửa hàng.

    Tôi đã từng làm việc ở nhiều cửa hàng ăn suốt thời đi học nhưng chưa có món nào gây ấn tượng với tôi như phở. Tôi khâm phục cách người ta sáng tạo ra nước dùng của phở, cách người ta thái và chẻ những cọng hành, cách đập gừng làm sao để miếng gừng vừa đủ độ dập và tiết ra hương thơm không quá nhạt cũng không quá nồng. Rồi hằng hà sa số những thứ thảo mộc tinh tế mà người ta dùng để chế vào nồi nước phở. Có những đêm tôi được người chủ quán ở Cambridge giao trông nồi nước dùng, tôi đã say sưa ngắm những bong bóng phập phồng trong nồi nước. Hít hửi hương thơm tỏa ra, tôi tin rằng đây là thứ nước dùng tinh tế nhất trong thế giới của các loại nước dùng.

    Hương vị phở ở Hà Nội giản dị và cổ điển, nước dùng thanh và trung thành với những gì truyền thống - những lát thịt bò thái mỏng, những cọng hành tươi thái nhỏ và một vài chiếc lá rau thơm,...

    Những quán phở ngon nổi tiếng ở Hà Nội lại tập trung ở những con phố hẹp và đông đúc nằm trong khu phố cổ.

    Hàng quán ở đây san sát nhau, người dân “luồn lách” trong dòng xe đông đúc một cách rất “cơ động” bằng những chiếc xe máy nhỏ gọn.

    Ðường phố thì thế nhưng người dân ở đây vẫn giữ được sự thư thái, thoải mái mỗi khi ngồi xuống ăn quà. Nhiều khách du lịch khi sang Việt Nam không dám ngồi xuống những hàng quán vỉa hè và họ đã tự tước đi quyền thưởng thức sự tinh túy của ẩm thực Hà Nội. Sự tinh tế đó lại nằm ở chính những hàng quán ven đường này.

    Phở ở thành phố Saigon có hương vị nồng đượm. Ở đây nước dùng đậm đà, hơi đục chứ không trong và thanh như nước dùng ngoài Hà Nội. Ở đây, phở có nhiều sáng tạo, cải biên thú vị với những nạm, tái, gầu, bò viên... thơm nức, mềm mại. Người yêu phở ở thành phố Saigon vì thế có nhiều lựa chọn “phi truyền thống” hơn.

    Theo tôi, phở có thể được coi là một “thức ăn nhanh” của người Việt. Các nguyên liệu thường được chủ quán bày sẵn ra các khay và chế biến rất nhanh, chỉ vài phút sau khi gọi món, bát phở nóng sốt, thơm lừng đã được đặt ngay trước mặt thực khách.

    Ở Việt Nam có những quán phở mở từ tờ mờ sáng, thậm chí có cả quán mở xuyên đêm. Những nồi nước dùng ở đây to khổng lồ tới mức tôi tưởng tượng mình... có thể bơi trong đó. Chưa tới 2 đô la, du khách đến Việt Nam đã có thể thưởng thức món ẩm thực tinh tế đỉnh cao của Việt Nam - một ưu đãi quá lớn.

    Sau khi đã thưởng thức phở ở cả miền Bắc và miền Nam, tôi nhận ra rằng phở ở Hà Nội thanh và truyền thống còn phở ở thành phố Sài Gòn đậm và “tân thời.” Ðối với cá nhân tôi, tôi thích phở của thành phố Sài Gòn hơn bởi tôi yêu vị ngọt đậm trong tô phở Sài Gòn.

    Trước khi bước ra khỏi quán, cô phục vụ thân thiện hỏi tôi: “Ông đã no bụng chưa?” Tôi chỉ cười. Làm sao có thể no được khi phở Việt Nam ngon đến vậy? Dù đã ăn hết cả tô nhưng tôi vẫn luôn thấy thòm thèm, đúng như người Việt vẫn nói: No bụng đói con mắt. Chắc chắn tôi sẽ còn nhiều lần ăn phở, ngay cả sau khi đã trở về Mỹ. Người Mỹ giờ đây cũng đã có nhiều người “nghiện phở” như tôi.

    Theo Wall Street Journal
    1 user thanked Duy An for this useful post.
    CỏThơm on 2/15/2016(UTC)
    Duy An
    #2137 Posted : Saturday, January 30, 2016 8:48:02 AM(UTC)
    Duy An

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 6/5/2011(UTC)
    Posts: 1,216
    Points: 3,740

    Thanks: 205 times
    Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)



    Thêm một lần xuân viễn xứ

    Rồi cũng tết cũng mùa xuân viễn xứ
    đời chinh nhân sao lắm nỗi đoạn trường
    xưa những mùa tết ngập lệ đau thương
    nơi đồn vắng, hố cá nhân chờ giặc

    Ðêm giao thừa một mình buồn hiu hắt
    ngậm ngùi cùng chiếc bóng chúc tân niên
    loay hoay tìm đâu thấy một ai quen
    chỉ tiếng nhạn kêu sương ngoài quan tái

    Sáng mùng một chờ thư em mòn mỏi
    đứng lại ngồi trông mây nổi mù bay
    cuối quê xa thương mẹ ngóng đêm ngày
    chờ thằng con lính, trăm lần lỗi hẹn

    Nhưng mẹ ơi nơi này xuân nào đến
    với những hồn ma lạnh quẩn quanh đây
    bên suối ngàn róc rách gió lã lay
    tết muôn dặm năm qua buồn muốn khóc

    Tàn chinh chiến tưởng không còn chết chóc
    đâu ai ngờ thảm tuyệt vẫn muôn phương
    xưa banh xác vì bom đạn chiến trường
    nay gục úa bên đòn roi đói bệnh

    Xưa đồn vắng chờ xuân xuân không đến
    nay trong tù không muốn tết vẫn sang
    đời gì đâu sao tàn nhẫn bẽ bàng
    kiếp lính trận cứ ngậm ngùi cô quạnh

    Mùng một tết góp cơm canh trà bánh
    nén hương lòng nhớ bạn chết thảm đơn
    tuổi hoa niên mà đã bỏ trần gian
    nằm với đất bên đường sầu cỏ úa

    Nay xứ lạ một lần xuân tới nữa
    tết không nhà hiu quạnh vắng người thương
    vẫn tỉnh say nơi quán lẽ bên đường
    chờ bạn tới cụng ly mừng xuân thắm

    Nhưng họ đã chết queo ngoài muôn dặm
    kể từ mùa chinh chiến bỏ trường xưa
    chỉ còn ta buồn bã kiếp sống thừa
    bao chục năm héo cùng xuân viễn xứ.


    Mường Giang
    Duy An
    #2138 Posted : Sunday, January 31, 2016 7:19:34 PM(UTC)
    Duy An

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 6/5/2011(UTC)
    Posts: 1,216
    Points: 3,740

    Thanks: 205 times
    Was thanked: 674 time(s) in 490 post(s)
    Nhà văn Việt Nam nói về Xuân đầu ở Mỹ, 40 năm trước



    Wednesday, January 27, 2016 3:00:33 PM
    Viên Linh


    1- Xuân đầu ở hải ngoại nhất là ở Hoa Kỳ của người Việt lưu vong là Xuân Bính Thìn, ngày Tết Nguyên Đán Bính Thìn nhằm ngày Thứ Bảy, 31 tháng 1, 1976. Xuân đang tới năm nay, Bính Thân, ngày Tết Nguyên Ðán nhằm ngày Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016, vừa chẵn không thiếu một ngày là đúng 40 năm tròn Việt Nam lưu vong, khứ quốc, xa cách xuân Tổ Quốc. Là người làm báo từ thuở thiếu niên, tôi đã ghi chép những cái người vô can chẳng công đâu mà ghi chép, tốn giấy mực và thì giờ. Như đã từng viết, một câu thơ của Thế Lữ đã nằm lòng trong tâm trí một học sinh trung học, chỉ cậu ta nằm lòng câu thơ ấy: “Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?”




    Ảnh bìa báo Xuân Lửa Việt Bính Thìn 1976 của nhiếp anh gia Lê Văn Khoa. (Hình: Viên Linh cung cấp)



    Ta là ai: Anh phải tự hỏi mình, đặt câu hỏi cho chính mình, nghĩa là cũng chính mình phải trả lời câu hỏi của mình, không cần ai khác hết. Cái quan trọng không phải là ta, cái quan trọng cũng không phải là ai, cái quan trọng nhất trong bảy tiếng của câu thơ “Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy” là mấy chữ “giữa mùa thay đổi ấy.” Giữa thay đổi, giữa những đảo lộn xoay vần, giữa cái cũ và cái mới, ta là ai? Ta tên là gì, ta bao nhiêu tuổi, ta đang làm gì, ta vừa mất cái gì hoặc được cái gì, giữa lúc ấy, Lúc là khoảng thời gian ngắn, nhưng mùa cũng rất nhanh và rộng lớn hơn: Mùa là Xuân Hạ Thu Đông trong một năm, mỗi mùa ba tháng, ba tháng còn gọi là quí, quí 1 quí 2 quí 3 quí 4, quí lại chia ra làm ba phần, gọi là mạnh trọng quí; mùa Đông chẳng hạn gọi là mạnh đông, trọng đông, quí đông, tức là tháng thứ nhất của mùa Đông gọi là mạnh đông, tháng thứ hai gọi là trọng đông, tháng thứ ba gọi là quí đông. Lối gọi này được dùng nhiều khi ngày xưa người ta đặt tên cho con cái, bố tôi con cả trong gia đình họ Nguyễn, có tên đệm là Nguyễn Mạnh A, chú kế bố tôi là Nguyễn Trọng B, chú tiếp theo là Nguyễn Mậu C... Cứ phân tích như thế sẽ hiểu câu thơ của Thế Lữ đã tác động lên một trong những người đọc nó những gì: Và ngay những ngày đón xuân đón Tết đầu tiên ở hải ngoại, tháng 1, 1976, không những tự hỏi mình, tôi nhân trường hợp mình đem câu hỏi đó hỏi hơn 10 nhà văn bằng hữu hay đồng nghiệp quanh tôi, và nhờ họ viết xuống giấy cho tôi. 40 mùa xuân trước, họ đã viết, tôi gom lại thành bài “11 nhà văn nhà thơ nghệ sĩ ghi nhận sau gần 1 năm sống trên xứ người.” Đó là bài phỏng vấn các nhà văn Việt Nam lưu vong đầu tiên trong 40 mươi năm qua.

    2- Các tác giả đã trả lời tôi là Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ, Phạm Duy, Hà Mai Phương, Võ Phiến, Lê Văn Khoa và một số nhà báo khác như Ngô Vương Toại, Trần Phong Vũ, ... Hai câu hỏi chính là “Đối với anh (chị) khác biệt nào đáng kể nhất giữa đời sống ở Việt Nam trước kia và đời sống của anh (chi) tại Hoa Kỳ hiện nay.” “Cái Tết đáng nhớ nhất ở quê hương là một cái tết như thế nào, anh (chị) vui lòng cho biết.”

    Trước khi đăng phần trả lời của một tác giả, tôi đều viết vài dòng giới thiệu tác giả đó, nay đăng lại như lúc đầu, để giữ lại tâm tình thuở đó dù có thể thiếu sót, còn chỗ nào sai sẽ sửa cho đúng.


    Nhà văn Nghiêm Xuân Hồng: Xã hội Mỹ thiếu một cái gì



    Luật Sư Nghiêm Xuân Hồng là tác giả hơn mười bộ sách biên soạn công phu ở Việt Nam, được xuất bản trong những năm 50 và 60, như: “Đi tìm một căn bản tư tưởng,” “Luyến Ái Quan,” “Con đường giải thoát trong đạo Phật.” Ông còn là tác giả những kịch bản nổi tiếng: “Người lữ hành cô độc,” “Người viễn khách thứ mười.” Hiện tạm cư ở Seattle tiểu bang Washington.

    1- Tôi nghĩ điểm khác biệt nhất ở đây, đời sống tuy ít sợ đói kém chiến tranh, nhưng lại sợ nhất là buồn. Xã hội Mỹ này quá tổ chức, tổ chức đến độ không để lại một bất ngờ nào cho cuộc đời. Tôi thấy hình như Mỹ thiếu một cái gì. Thiếu một chút thơ mộng, một chút phi lý, một chút hỗn độn, một chút tình người, một chút nhân sinh quan tiêu dao. Trước kia sống ở Sài Gòn bấp bênh loạn lạc, nhưng vui hơn. Nhưng bây giờ Sài Gòn chắc cũng chẳng vui gì.

    2- Tôi không có cái Tết nào đáng nhớ nhất ở quê hương. Vì ở quê hương thì cái Tết nào cũng đáng nhớ cả. Nhưng đậm đà nhất là những cái Tết ở Hà Nội. Có tình người, có chút rét, có rừng hoa đào đỏ ối. Tôi không biết những cái Tết ở vùng quê miền Nam, nhưng Tết Sài gòn thì kém Hà Nội: Tình người loãng hơn và hoa ít thắm hơn. Nguyên nhân là do một phần sự thay đổi hoàn cảnh, phần lớn ở sự thay đổi tâm tư mình.”


    Nhạc sĩ Phạm Duy: Tết năm nay không phải là Tết



    Phạm Duy ở Hoa Kỳ, hiện anh cùng Thái Hiền thường đi hát cho những nơi có nhiều người Việt Nam ở, như New Jersey, New York City (sau khi đã hát ở hai trại Fort Chaffee và Indiantown Gap) hiện đang chuẩn bị hát Tết ở Chicago Grand Rapids Michigan.

    1- Đời sống của tôi ở đâu cũng chỉ có một mục đích: Ca hát! Khi hát bài buồn khi hát bài vui, tùy theo cảm xúc! Có khác biệt thì chỉ ở chỗ khi ở Việt Nam thì ít lo về đời sống, còn ở đây thì phải lo nhiều.

    2- Cái khác biệt nhất là ở Việt Nam ngày nào cũng là ngày Tết đối với tôi. Còn ở Hoa Kỳ (hoặc ở bất cứ đâu chưa phải là quê hương mình) thì chắc Tết năm nay không phải là cái Tết!

    Bài sẽ rất dài nên dưới đây mỗi tác giả sẽ chỉ được trích dẫn một hai câu tiêu biểu.


    Nhà văn Võ Phiến



    1- Ở Sài Gòn tôi là một người hữu ích, ở đây tôi là một cục nợ. Mặt khác ở Sài Gòn tôi sống; ở Minneapolis tôi giương mắt xem người ta sống.

    2- Đó là cái Tết... Mậu thân. Anh thấy sao?




    Trang báo Lửa Việt Xuân Bính Thìn, tháng 1, 1976, đúng 40 Xuân trước, trong có bài phỏng vấn 11 văn nghệ sĩ về sự khác biệt giữa Tết Việt Nam xưa và Tết hải ngoại. (Hình: Viên Linh cung cấp)



    Nhà báo Ngô Vương Toại



    Nhà báo... đã được Việt Cộng tặng 3 phát đạn vào ngực và bụng nhưng không chết, và nhờ đó đã bảo vệ được diễn đàn đại học Văn Khoa Sài Gòn do anh tổ chức. Viết nhiều báo ở Sài Gòn trong có Diễn Đàn, Tìm Hiểu, hiện sống ở Arlington, Virginia.

    1- Cố gắng lột xác. Tôi như con ve sầu cố lột cái lớp vỏ Sài Gòn để hòa trộn với nếp sống mới ở đây. Cố gắng thích nghi càng nhiều thì lại càng thèm cái nếp sống cũ.

    2- Những cái Tết thời niên thiếu. Tôi khoái đốt pháo và đi trên xác pháo đỏ. Từ khi pháo bị cấm đốt, tôi không còn thích Tết như ngày cũ. Tôi bị hố to vì tưởng pháo nổ Tết Mậu Thân khi mấy anh “đồng chí” tấn công vào thành phố biết cái Tết thành những ngày tàn sát. Nhớ vụ này tôi càng căm mấy anh phá bĩnh.


    Kịch sĩ Lê Tuấn



    Kịch sĩ, diễn viên điện ảnh, vai chính trong phim Yêu đối diện Thanh Lan, được Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc về Dịch Thuật (dịch một kịch bản Don Quichote ra Việt ngữ) năm 1972. Cùng làm việc với tác giả bài này trong Đài Mẹ Việt Nam ở Nhà Số 7 Hồng Thập Tự Sài Gòn.

    1- Sự khác biệt đáng kể nhất giữa đời sống ở Việt Nam và đời sống hiện nay ở Hoa Kỳ với tôi là sự chối bỏ tất cả quá khứ, một làm lại từ đầu, cả vật chất lẫn tinh thần. Tôi có cảm tưởng nhiều người xem đó là một điều hay, hoặc may mắn, nhưng riêng tôi xem đó là một bất hạnh.

    2- Cái Tết đáng nhớ nhất ở quê hương đối với tôi là năm Đinh Mùi 1967, anh ruột tôi đền nợ nước. Còn cái Tết nào đáng nhớ bằng cái Tết đó?


    Nhà giáo nhà thơ Vi Khuê



    Dạy học và chủ trường trung học tư ở Đà Lạt, nhà thơ, hiện sống ở Arlington, Virginia.

    1- Tất cả đều là những khác biệt lớn bắt đầu từ khác biệt căn bản: Nghề nghiệp và môi sinh. Về vật chất khác biệt lớn là về thực phẩm. Về tinh thần đó là sự cô đơn.

    2- Nếu là một cái Tết vừa ý thì đã lâu rồi không có, dù là ở quê hương.


    Nhạc trưởng Lê Văn Khoa


    Từng là ca trưởng ca đoàn Cơ Đốc, Trùng Dương, ban hợp ca hòa tấu Tiếng Nhạc Trầm tư đài truyền hình Sài Gòn, tác giả nhiều sách đủ loại, nhiều giải thưởng về nhiếp ảnh.

    1- Ở Việt Nam tôi làm việc cả ngày lẫn đêm, mệt nhoài nhưng thích thú... Hiện tại ở đất Mỹ này tôi chưa có gì làm.

    2- Tết Mậu thân là cái Tết đáng nhớ nhất vì nhiều lẽ. Chiều 29 Tết lãnh lương, trừ nợ hết chỉ còn 55 đồng. Mượn tiền thêm không được chán quá định tuyệt thực 3 ngày Tết cho bõ ghét cuộc đời. Lúc đó nhận được thư của một khán giả tí hon của màn ảnh nhỏ, than không tiền lo cho Ba trong ngày Tết. Tôi nhờ một người bạn đem 50 đồng đi tặng giùm tôi, còn lại 5 đồng để hôm sau mua bánh mì lạt ăn rồi nhịn luôn 3 ngày Tết.

    Đêm đó anh Trần Đại tìm đến chỗ tôi trọ ở Phú Nhuận, nhét vào tủ một xấp tiền, 6,000 đồng bảo là tiền nhuận bút và hình bìa tôi chụp in trên báo Phụ Nữ Mới của anh Ngọc Sơn. Đêm sau tôi được rước xuống tòa báo ở đường Phan Văn Hùm để đốt pháo lấy hên đón giao thừa. Phong pháo dài 2 thước mà chỉ nổ chừng 10 cây là tắt... Việt Cộng tấn công vào thủ đô, lịnh giới nghiêm 24/24 được ban hành. Nhưng tôi với chiếc máy ảnh leo lên chiếc Lambretta cũ kỹ đi “thị sát” các mặt trận Thị Nghe, Bình Lơi, Ngã ba Cây thị, Bảy Hiền, Chợ Lớn, v.v... và lo tiếp trợ đồng bào tị nạn.
    1 user thanked Duy An for this useful post.
    CỏThơm on 2/1/2016(UTC)
    Users browsing this topic
    Guest
    104 Pages«<100101102103104>
    Forum Jump  
    You cannot post new topics in this forum.
    You cannot reply to topics in this forum.
    You cannot delete your posts in this forum.
    You cannot edit your posts in this forum.
    You cannot create polls in this forum.
    You cannot vote in polls in this forum.