Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages123>»
NHỮNG NÉT ĐẸP VĂN HÓA VIỆT NAM
Hạ Vi
#1 Posted : Wednesday, March 16, 2011 5:35:12 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
.





Thân mến chào các Anh Chị và các bạn,


Welcome to the Beauty of Vietnamese Culture forum.

Nơi đây chúng ta cùng chung nhau làm đẹp vườn hoa "Những Nét đẹp Văn Hóa Việt Nam".
Mong được nhận posts bài viết, về thơ văn, ca dao, tục ngữ, và hình ảnh đẹp của Quê Hương.


Hạ Vi




.


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
PhiLong on 6/27/2011(UTC)
Hạ Vi
#2 Posted : Wednesday, March 16, 2011 6:04:08 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
.





Áo Dài
Trong Thơ và Nhạc



Lê Hữu


"Tâm tư khép, mở đôi tà áo..."
("Tự tình dưới hoa", Đinh Hùng)



Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người...


Giọng hát dìu dặt và trầm ấm của Duy Trác cất lên đâu đó trong một chiều cuối thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước "cổng trường áo tím" những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những lối đi dưới lá trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Sài Gòn ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, đã làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:


Dưới mắt Phạm Đình Chương là "áo bay mở, khép nghìn tâm sự..." (Mộng Dưới Hoa)

Dưới mắt Vũ Thành là "áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời..." (Mùa Kỷ Niệm)

Dưới mắt Hoàng Dương là "áo mầu tung gió chơi vơi..." (Hướng Về Hà Nội)

Dưới mắt Trịnh Công Sơn là "áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều..." (Tình Nhớ)

Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ "đôi tà áo lụa bay trong nắng…" (Áo Lụa, Bàng Bá Lân) đến:


"Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài...." (Áo Trắng, Huy Cận).


Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:

"Hồn anh như bông cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em" (Bông Cỏ May)


Và len cả vào dòng thơ hào hùng mà lãng mạn của Quang Dũng:

"Em đi áo mỏng buông hờn tủi
dòng lệ thơ ngây có dạt dào" (Đôi Bờ)






Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:


"Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười..." (Quê Nghèo)

Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:

"Em đến thăm anh, người em gái, tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh..." (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

"Ta ước mơ một chiều thêu nắng..." Nỗi "ước mơ" của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong thơ Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:

"Môi cười vết máu chưa se
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên
ngoài song lá động, trên thềm áo bay" (Khi Nàng Đến)


Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:


"Chiều nay nhớ em rồi, và nhớ áo em đẹp trời thơ, môi tràn đầy ước mơ..." (Bây Giờ Tháng Mấy)


Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:


"Một hôm trận gió tình yêu lại,
đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư" (Học Sinh)


Áo bay làm thẫn thờ, như chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:

"Đò qua sông chuyến đầu ngày,
người qua sông mặc áo dài buông eo" (Chuyến Đò Cửu Long)


"Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong" (1)

Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của "một thời áo trắng", từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy "áo ai bay trắng cả giấc mơ". Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận:


"Dịu dàng áo trắng trong như suối,
tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay" (Áo Trắng)


Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:

"Áo em lụa trắng sông Hương
qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào" (Về Chân Trời Tím)


Hay trong thơ Kim Tuấn:

"Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh" (Thu ở Xa Người)


Hay trong thơ Nguyên Sa:
[/b]


"Mây cao, gót nhỏ, mây vào gót,
áo lụa trăng mềm bay xuống thơ" (Tám Phố Saigon)


"Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng" (Áo Lụa Hà Đông)


Áo trắng như gió, như mây, để "nhà thơ của tình yêu" phải bâng khuâng:

"Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi, một phần mây?
Hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay?" (Tương Tư)



Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài ở chốn xa quê nhà:


"Anh về giữa một dòng sông trắng
là áo sương mù hay áo em" (Paris Có Gì Lạ Không Em?)


Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…

"Ngày nào em đến áo em mầu trinh, áo xinh là xinh, áo em trong trời buồn, là gió, là bướm, là hoa, là mây chiều tà..." (Hình Ảnh Người Em Không Đợi)

Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:

"Áo trắng em bay như cánh thiên thần…" (Bài Thánh Ca Buồn)

Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:


"Tà áo trinh nguyên tung bay, nụ cười thân ái..." (Chiều Bên Giáo Đường)


Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:

"Áo em trắng quá nhìn không ra" (Đây Thôn Vĩ Dạ)

Áo trắng như đôi cánh trắng trên sân trường kỷ niệm trong thơ Luân Hoán:

"Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh" (Trong Sân Trường Bữa Ấy)


Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về.... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy người bạn, là nhớ về những lớp học những sân chơi và những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ.


"Áo mầu tung gió chơi vơi"

Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ:

"Hôm nay sao áo bay nhiều thế! Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu..." (Tà Áo Cưới)

Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ:

"Xin cho em một chiếc áo mầu, cho em đi nhẹ trong nắng chiều. Một chiều nhiều người theo, ở ngoài đường trên phố, và lòng người như áo phất phơ..." (Tuổi Ngọc)





Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:

"Nhớ Sài Gòn những chiều lộng gió, lá hát như mưa suốt con đường đi, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian mầu áo bay lên..." (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)


Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:

"Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc" (Tuổi Mười Ba)

Có khi là nắng thu vàng:

"Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh lúc đêm khuya?
hay là em chọn sai mầu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi?" (Tương Tư)


Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về một sắc áo:


"Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng, chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ..." (Đồn Vắng Chiều Xuân)

Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa:

"Ngày hành quân, anh đi về cánh rừng thưa
thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa
Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư
có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ..." (Màu Kỷ Niệm)


Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:

"Người qua sông mặc áo hường
Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều" (Chuyến Đò Cửu Long)


Áo mầu tím, mầu của "định mệnh", của mộng mơ, nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình "ngàn thu áo tím" của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, "nhạc sĩ của mầu tím", kể lại:

"Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím... Chiều xuống áo tím thường thướt tha, bước trên đường thắm hoa, ngắm mây trời lướt xa..."

Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu:

"Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím,
ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím..."
(Ngàn Thu Áo Tím)

Cũng một mầu áo tím, một chân trời tím trong thơ Kim Tuấn:

"Áo nàng bay lên tím ngát trời chiều" (Phố Xưa)

Trong mắt Vũ Thành, "nhà thơ của mầu tím", khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:

"Áo em tím cả phương này
anh nghe thành phố đêm nay trở buồn" (Áo Tím)






Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:

"Áo em vạt tím ngàn sim
nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
gặp đây giả bộ hững hờ khói bay" (Động Hoa Vàng)


Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:

"Thế giới của anh không có chân trời
không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm
không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn
áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu" (Thế Giới Của Anh)


Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo:


"Một chiều lang thang bên dòng sông Hương,
tôi gặp một tà áo tím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương...
Rồi lòng bâng khuâng theo mầu áo ấy,
mầu áo tím hôm nào..."
(Tà Áo Tím)


"Nhạc sĩ của mầu xanh và mùa thu", danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ không ai khác hơn:

[color= mediumblue]"Với bao tà áo xanh đây mùa thu..."
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)
[/color]

Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh. Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một "tà áo xanh" và một "màu xanh ái ân":

"Tà áo xanh nào về với giấc mơ.
Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu..." (Thu Quyến Rũ)


"Trót", như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát với mầu xanh kia.

"Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo..." (Cánh Hoa Duyên Kiếp)

Nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son...

"Khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh..." (Tà Áo Xanh)

Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa...
Nhớ về một mầu áo là "nhớ những giây phút êm đềm, nắng loang trên sân trường một chiều nào..." (2). Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vĩ:

"Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường" (Tuổi Mười Ba)


Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:

"Chiều xưa mưa rơi âm thầm,
để thấm ướt chiếc áo xanh,
và đẫm ướt mái tóc em..." (Tôi Đưa Em Sang Sông)

Tà áo mầu xanh thắm của một "tiếng hát học trò" gieo vào lòng nhạc sĩ Nguyễn Hiền bao "niềm thương nhớ đầy vơi":

"Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ.
Tà áo em xanh, mầu mắt ngây thơ..."
(Tiếng Hát Học Trò)


Thiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo mầu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên:

"Biết anh thích mầu trời, em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh..." (Bảy Ngày Đợi Mong)

Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Đà Lạt một mùa nào Giáng Sinh:

"Tà áo năm xưa xanh màu thông Dalat…" (Màu Xanh Noel)

Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng:


"Biển dâu sực tỉnh giang hà
còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh" (Áo Xanh)

Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng:

"Trong vườn quên lãng áo ai xanh..." (Dạ Hội)


Làm sao kể hết được hình ảnh tà áo dài mềm mại và dịu dàng, thướt tha và duyên dáng trong những dòng thơ dòng nhạc, như mầu "áo mơ phai" trong thơ Nguyễn Đình Toàn, như "áo mầu rêu đá" trong thơ Nhất Tuấn, như "áo đỏ như son môi, áo vàng như gấm dệt" trong thơ Trần Mộng Tú, như "áo tím ngày xưa đi lấy chồng" trong thơ Kiên Giang, như "áo tím trên cầu Trường Tiền" trong nhạc Văn Phụng, như "áo mầu xanh tha thướt đi lễ đêm" trong nhạc Tuấn Lê, như "thuyền ai thấp thoáng muôn tà áo tung bay" trong nhạc Y Vân.... Và còn rất nhiều, rất nhiều... những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người...

Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở một góc trời xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người. Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi.

Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn ở lại mãi trong lòng người.



(1) Áo Trắng, thơ Huy Cận
(2) Từ Giã Thơ Ngây, nhạc Nguyễn Hiền




.


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
Xuân Hương on 2/14/2013(UTC)
thunder
#3 Posted : Thursday, March 17, 2011 9:05:19 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
CÁI TÌNH TRONG CA DAO VIỆT-NAM



Ca dao là tiếng nói trung thực,phản ảnh rõ nét nhất trong văn chương bình dân, được miêu tả sự việc xẩy ra hằng ngày giữa cuộc đời và trở thành những câu hò, điệu hát của nhân gian như những bản tình ca bất diệt, đượm màu thế tục;tình yêu,tình đời với một ẩn dụ tự nhiên làm cho người ca ngâm cũng như người nghe có một cảm nhận gần gủi,tuyệt vời.Ca dao còn hóa giải mọi tình huống uẩn khúc,lời ca ấy làm cho con người không còn cảm thấy đau khổ nữa “L’homme souffre,mais en chantan sa souffrace,il la dépasse”.

Vì vậy; nói đến văn chương bình dân chúng ta không thể quên thi ca bình dân mà ca dao nắm một vai trò chủ lực và những thể loại quen thuộc, không ước lệ,không qui cách,tuy nhiên lời thơ của ca dao vẫn giữ đúng vần điệu có khi rất chuẩn về luật bằng trắc nhờ đó mà dể đả thông tư tưởng, trực chỉ vào lòng người một cách sâu lắng.

Ca dao là ca hát,tự nó trở thành khúc đi thẳng vào lòng và bày tỏ được nội giới dù dưới một không gian hay thời gian nào ngoài ra ca dao còn là gia-huấn-ca,một tâm lý đạo đức,dạy làm người…đôi khi văn thơ phải mượn ngôn từ của ca dao để nói lên cái tình người,tình đời một cách chính xác hơn.

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra


giáo dục con trẻ khi mới lớn:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu giao tình

hoặc một ý nghĩa thâm sâu khác:

Cá không ăn muối cá ương
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư


Những câu ca dao lục bát như thế ắt phải nằm sẳn trên môi của mọi người một cách dể dàng và thông đạt lắm!

Đó là cái nhìn nội giới trong ca dao mà mỗi khi chúng ta phóng vào hiện tượng; đó là bản thể của “cái tình” trong ca dao.Tuy mỗi câu hò điệu hát có khác nhau nhưng cái nhìn của tình yêu vẫn là một và cái gặp gỡ đó,nói chung; là cái đồng tình bất biến của con người.Sự gặp gỡ chính nơi lòng ý thức,nơi thức tỉnh của ý thức trước những hiện hữu đời và gia đình hay chính là nơi những gì mà con người kêu lên thiết tha hay để bộc lộ sự thống khổ.Hình ảnh của thi ca nói chung và của ca dao Việt Nam nói riêng là tiếng kêu thức tỉnh của con người tạo nên, dùng để ví von của người dân quê trước cuộc đời.Mà cuộc đời này; con người đã gắng bó chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh trong mọi tình huống của đời người,từ những tình cảm của cái tình đó đã nói lên được một cái gì âu yếm và thầm kín.

Anh đi ba bửa nhớ về
Rừng sâu nước độc chớ hề ở lâu


Hình ảnh “anh đi ba bửa”rồi”chớ hề ở lâu” nó biến ca dao thành thi ca,từ những hiện tượng thực thể biến thành tha thể xuất phát từ ngoại giới đi vào nội giới giữa mối liên hệ tha nhân và chủ thể nó cặp kè,sánh vai trong hoàn cảnh đối đáp để nên vợ nên chồng,ca dao không còn hiện diện với ca với hát mà biến dạng thành hò,câu hò trực diện với thực tại như một sự hiến dâng!

Trai nào nỗi tiếng anh hào
Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ…ơ


Cái vũ trụ mộng mơ ấy hoàn toàn ở trong đôi mắt chiêm ngưỡng của con người khi phóng cái nhìn vào tương lai giữa sự viên mãn của tình yêu.Vũ trụ này chưa hiện thực rốt ráo nhưng đã xuất phát một ước vọng thực hữu.Hình ảnh cuộc đời không bị tha hóa mà bắt nguồn từ vũ trụ thực hữu;vì vũ trụ ấy có thực trong cuộc đời này.

Trai nước Việt nỗi tiếng anh hào
Anh đà đối đặng vậy má đào xin trao dâng ơ…ơ

Hẳn nhiên; ý thức giữa trai gái rất đặc thù trong phạm vi lứa đôi,nói trắng ra là tình yêu qua mọi lứa tuổi, đặc biệt tình yêu nông thôn, ý thức ấy bừng lên từ cuộc sống và chiếu sáng cuộc sống đó là lối tả chân mà cảnh đời không có hoặc chưa có nên chi vũ trụ dự ước của con người cũng là những cảnh đời có thực mà được phóng nhiệm lên cảnh đời có thực trong ca dao.Cho nên ca dao phát ra giữa chốn đồng quê,giữa nơi xa phố thị tự nó dâng tràn trong nhân gian,vì thế tìm đến một tác giả trong ca dao đều trở nên không cần thiết và có muốn biết chăng nữa cũng không được vì mọi người đã đi vào cảnh đời một cách tự nhiên và tự nhiên như mình là tác giả vậy! Nó vượt thoát cả không gian và thời gian kể cả hiện tại,quá khứ và tương lai,vượt thoát từ những người sáng tạo ra ca dao,ca dao bỗng nhiên độc lập để tạo cái đắm đuối,rụt rè,e lệ nhưng đầy tính lãng mạn cho dù mối tình chân lấm tay bùn.

Ngó em chẳng dám ngó lâu
Ngó qua một chút đở sầu mà thôi!


Cái ngó ấy là cái ngó thức tỉnh,một cái ngó của kẻ tình si và cũng là cái nhìn mơ mộng của người đồng quê đứng trước cuộc đời có thực.Chính đó là sự sáng tạo của ca dao.Nói đến mơ mộng hình như chúng ta đụng phải một phản ứng tâm lý.Theo tâm lý học giài thích: khi mơ mộng thì đó không phải là một trạng thái thức tỉnh.Tâm lý học quan niệm như thế nầy”En suivant la pente de la reverie”Tiếp đó là cái mơ về của ý thức thức tỉnh “đở sầu” nằm trong ý thức mơ về (rêver à/daydreaming)mà ở đây mơ không có nghĩa là buông xả theo giòng đời và chìm dần trong mộng để rồi mất luôn tính sáng tạo nghệ thuật vì ý thức thức tỉnh thường đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật và làm lu mờ ý thức mơ về cho dù trong chiêm bao chăng nữa đã cho thấy một ý thức thức tỉnh.

Một duyên, hai nợ, ba tình
Chiêm bao lẫn quất bên mình năm canh


Thành ra mơ chiêm bao ở đây là cái nhìn sáng tỏ của cái mơ về giữa duyên,nợ và tình đã bừng lên trong ý thức về thân phận của người phụ nữ.

Mơ về hay chiêm bao không còn là mối sầu buông xuôi của tâm lý học mà trái lại mơ và chiêm để phóng thể ngôn từ”bên mình năm canh”trong giấc mơ nữa đêm trở nên ý thức chớ không phải chiêm bao vô thức.

Trong cái nhìn vũ trụ quan như thế đã cho ta thấy được ca dao là một lối sáng tạo hết sức đặc biệt mà chất liệu là cảnh đời,cô đọng trong từng câu hò điệu hát mượn từ ca dao để mơ về…

Ca dao không đòi hỏi tác giả là ai,nó đã trở thành của chung,tác giả chung giữa cuộc đời này mà trong thi ca vốn có sự bừng tĩnh đầy sáng tạo,ca dao đại diện cho những cuộc tình trọn vẹn hay tan hợp,nói lên nỗi nghẹn ngào,uất nghẹn tất cả qui về sự mơ về cõi thực để tìm thấy được chân lý của cuộc đời.Giờ đây ngôn từ sáng tạo của ca dao đã thành thơ,những thể thơ mới như ngày nay.

Cá lý ngư sầu tư biếng lội
Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay
Anh thương em đừng vội nắm tay
Miệng thế gian ngôn dực
Phụ mẫu hay sẽ rầy


Ca dao như thế đấy! mỗi khi đọc lên đã cho chúng ta cái cảm giác tợ như ức chế,như phụ rẫy như khoa phân tâm học quan niệm.Lối thoát bằng ức chế chỉ xẩy ra với cảnh đời,những người bị tập quán kiềm chế mới lâm vào khát vọng của bản năng cho nên mới tìm lối thoát bằng lối này hay hình thái khác để tránh né.Quan điểm đó đôi khi cũng có tính võ đoán và không hoàn toàn đúng hẳn,cho nên đừng để cái nhìn ức chế vào đây.Vì sao? Vì “anh thương em” có nghĩa là đừng vội đánh mất cái đẹp mà đây là tiếng nói mặn mà,bất luận ở đâu nơi chốn nào người phụ nữ Việt Nam đoan trang trong tiếng nói ấy tức tiếng nói của ca dao,tiếng nói soi sáng,tiếng nói của ái tình.

Em có thương anh
Em nói cho thiệt tình
Để anh lên xuống
Ơ…ơ chớ một ơ…ơ mình ơ bơ vơ


Đó là một thứ gì vô biên chân thật của tình đồng quê một bày tỏ cao nhất trong đời nhưng biết nói làm sao khi ý thức vô biên chưa có thì nói làm sao khi cái nhìn tuyệt đối chỉ ngưng trong hiện tượng của đất trời cho nên họ không ngần ngại bộc bạch một cách chân tình cho dù ngập ngừng bày tỏ “ơ.. ơ chớ một ơ.. ơ mình ơ..bơ vơ” Ca dao nông thôn nó diễn tả tích cực như thế đó!diễn tả cái mùi vị chất phát mặn mà, đượm bạc,cái ngập ngừng dể yêu ấy.

Đó là hướng đi lên của ngôn từ ca dao Việt Nam thoát ra từ tiếng nói văn chương bình dân để đạt tới hiệu năng của sự bày tỏ.Cho nên hình ảnh của ca dao;dù sao đi nữa nó vẫn có cái mới của riêng mình,mở ra một ngôn từ sáng lạn và nó cũng đánh dấu những bước thăng trầm của sức diễn đạt giữa người với người,những hình ảnh của ca dao vô hình chung trở nên tư liệu của cảnh đời:người,cảnh vật,nhân sinh và tình yêu.Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng nhờ ý thức chuyển vị đẹp đẻ đó của con người cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn “the beautiful-life”nhờ đó tình cảm con người được tỏa rạng.Cho nên khi bắt gặp một hình tượng trong ca dao,dù có mộc mạc bao nhiêu cũng mở rộng cho chúng ta một chân trời mới đầy ý nghĩa hơn nhất là tình yêu có một sắc màu luôn luôn lung linh của người con gái xuân thì dưới một cái gì lả lướt của ca dao.Ngôn ngữ ca dao rất cô đọng và tràn đầy.

Tóc em dài em cài bông hoa lý
Miệng em cười anh để ý anh thương


Ý nghĩa của ca dao là ở cái chỗ mộc mạc đơn sơ nhưng lại là một sự thức tỉnh nội tại,một sự khám phá của con người vừa hào hứng vừa can đảm mà chúng ta phải đón nhận như chính chúng ta đón nhận cuộc đời này. Đó là cái nhìn khám phá:

- Khám phá nội tâm bằng cái nhìn ngoại giới.

- Khám phá ngoại giới bằng cái nhìn nội tâm.

Chính hai cái nhìn tuy nghịch đảo nhưng bổ sung cho nhau để nhìn thấy giấc mơ của người nghệ sĩ ca dao. Đó là một vũ trụ hiện thực để góp phần hạnh phúc cho đời.

Cho nên cái mộc mạc của nông thôn đã làm cho họ cảm thấy hạnh phúc,sung sướng và mỗi câu ca dao nói lên cảnh đời;dù trong mơ vẫn trung thực với đời.Vì vậy cái nhìn của họ như bao trùm từ ngoại giới đến nội giới đều đúc kết thành lời thơ,lời thơ đó chúng ta gọi là ca dao.

Nàng về nàng nhớ ta chăng
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười


Mỗi lúc cái nhìn hay cái nhớ càng phóng ra rộng rãi, càng thấy cuộc đời đẹp và bao la diệu vợi,kể cả nụ cười nhe răng”cần cẩu” vẫn là niềm nhớ không quên,bởi vì; chán gì những cái nhớ mà lại đi nhớ hàm răng em cười,biết đâu trong cái nhớ đó có một chút gì lãng mạn của ca dao(?),tầm thường thật nhưng bao la và mênh mông vô cùng đối với ngôn từ của ca dao.

Thật ra đi vào cuộc đời, đi vào vũ trụ không dể dàng như thế mà chính là một sự khám phá không ngừng.Trong sự khám phá ấy,con người bắt gặp vừa mình vừa vũ trụ một lối khám phá tìm ra được hai hiện tượng. Đối tượng của sự tìm gặp chính là khám phá cái nội giới mà ca dao lãnh một phần trách nhiệm trong ngôn từ(kể cả đối thoại) và ý nghĩa.Nhưng trong hai tượng ấy người ta có thể phân biệt được;

- Bản ngã tự tại
- Vô ngã vũ trụ

Những cái vô ngã vũ trụ được hữu ngã hoá cho nên cái bản ngã tự tại ngay phút đầu đã trở thành cái vô ngã của bản ngã. Đó là sự cố đã khua động bản ngã của con người để sáng tạo và giúp cho con người thực hiện câu thơ để chia xẻ với tha nhân;con người đã nhìn cái đẹp một cách siêu thoát đó là cái vô ngã được hữu ngã hoá nhờ cái nhìn của bản ngã từ “một thương cho tới mười thương” là đề cao cái đẹp phong phú vừa cao đẹp vừa thẩm mỹ học và chính cái tôi bày tỏ lại đứng sau và được hữu ngã hoá vũ trụ để làm tan biến ngoại giới mà trở về với bản ngã mà không có cái tôi trong đó .




Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai thao dịu dàng
Bảy thương nét ở khôn ngoan
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương em ở một mình
Mười thương con mắt đưa tình với anh


Do đấy con người của ca dao là con người của cuộc đời,của vũ trụ chớ không phải con người chỉ là con người như một ý thức bi đát về người.Lối về của vũ trụ đã chiếm cứ hiện tượng bằng bản ngã của mình,chính là lối đi về của tình thương,cái tình mà con người tìm thấy;tất cả ca dao là ở chỗ ấy và có thể nói ca dao có hai bề mặt là bản ngã và vô ngã cả hai mảng nầy dùng để xoa dịu những xót thương hay thương mong về tình cảnh khi con người mới dấn thân vào đời và vũ trụ.Bởi vì tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được.

Từ những vị trí đó giấc mơ về vũ trụ giúp cho con người thoát được thời gian,không còn thấy sự lôi cuốn của thời gian.Từ bản thể nhìn ra đó là trạng thái của tâm thức và ca dao mở rộng trước mắt ta bằng hiện tượng của trạng thái tâm hồn.

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chít chìu


Tất cả là biểu tượng để biểu dương trạng thái mơ về(Rêve a/daydreaming) đó là trạng thái thắc mắc về nhớ thương. Đấy là tâm hồn hiến dâng cho vũ trụ “chiều chiều” là thời gian thuộc khách thể,trong cái đau đớn “ruột đau”là thế giới của nội tại.Với ca dao những ngôn từ thường chứa đựng một nội dung mới của từ ngữ đều qui định một tâm thức trước cuộc đời và vũ trụ.

Mọi sự vật đều hướng tới với con người và đó là cơ hội để người nghệ sĩ đưa vào ca dao những khát vọng yêu đương một khát vọng đầy hứa hẹn,như cuộc tình hay cuộc đời mong muốn.

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em đợi mười thu em chờ


Đó là hiện thực của sự bày tỏ về cảnh giới giữa thành thị với nông thôn và ngôn từ của cuộc sống đã lý giải cái tâm sự tha thiết và chân thật của người yêu,chân thật ở cái chỗ ẩn dụ đó.Người nghệ sĩ bình dân sắp xếp ngôn từ trong thơ để có cái nhìn sự vật và chính cái nhìn đó thoát ra một số tâm lý của con người và chính cái tầm thường đó chẳng hạn như “râu tôm”hay”ruột bầu” ở những nơi thôn dã đìu hiu được người nghệ sĩ cho sống lại cái tình chân đó như một đòi hỏi cần thiết mà nghe rất bình dị của lớp người muôn đời trong ao tù nước đọng.Ca dao bình dân nói lên được cái khát vọng đó mà nhà thơ bình dân của chúng ta hoà nhập một cách tài tình giữa vũ trụ đầy khát vọng tình người.

Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon


Đọc lên ta cảm nhận được phần nào lẽ sống,một lẽ sống nồng đượm của tình yêu khát khao đi từ chủ thể con người đến cuộc đời.Ca dao diễn đạt được cái mối giây liên lạc ấy.Mối giây đó không phải hai chiều giữa người và sự vật.Vũ trụ khát vọng của ca dao là hình ảnh cuộc đời mà con người mơ về một cái gì tầm thường nhưng ước sống.Ca dao tạo được cảnh giới mơ về cho những người thành thị và những người xa tầm vóc bình thường.Ngay cả việc mơ về của tình yêu trong cái dung dị đó nó đã hàm chứa một tương lai,một lối đi về của cuộc đời.Mơ về ở đây là cuộc đời có thực chính đấy là phần ý nghĩa hiện hữu của con người.Ca dao tạo nên những giấc mơ hiện thực như vậy đó; cho nên cuộc đời mà ca dao vốn có ý nghĩa và sống có ý nghĩa để đưa tới cảnh đời hiện thực.

Trầu vàng ăn với cau xanh
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời


Cho nên văn chương bình dân thường nói lên tâm trạng khát vọng đôi khi nó pha lẫn màu sắc triết lý tiềm ẩn trong ca dao,nó có cái gì mầu nhiệm trong cuộc đời tình ái, đầy bí ẩn trong cái nhìn ẩn dụ(metaphorical) của con người đó là biện-chứng-tức-thì trong mỗi tâm trạng,một tình cảm đơn thuần.Nhưng với triết học có một sự tương quan tối thiểu giữa ta và cuộc đời như một tương quan giữa chủ thể và tha thể; đó là tương quan giữa con người với cuộc đời.Nên chi vượt qua cái nhìn đối tượng và cũng nhờ cái nhìn đó mà vượt qua được giới hạn để đi tới một giá trị trực tiếp.

Duyên,nợ,tình là khát vọng của tình cảm song hành với công việc và sự vật đó là cái nhìn mơ về của hạnh phúc,một gắng bó thực hữu giữa tình yêu vợ chồng một lối mơ về của ca dao,một khát vọng trung thành phát xuất từ cảnh đời hiện thực cho nên lối mơ về đó tạo nên một hiện hữu đồng nhất giữa người và vũ trụ.Con người trôi chảy vào đời nhờ những hình ảnh thuần đơn mà khát vọng đó đã tạo nên thơ;một nguồn thơ nhất thể.Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để tiến tới khát vọng.Vì thế ca dao là tiếng kêu chân thành của con người ham sống,yêu đời,yêu người.Ca dao không yêu cầu cái ủy mị đài các,mơ mộng viễn vông,ca dao đi gần với quần chúng,nhất là đồng bào miền quê và hoá giải mọi uẩn khúc,vui buồn đưa con người về với hạnh phúc.Tác giả của ca dao muốn vậy! Đó chính là cuộc đời mà người nghệ sĩ miền quê yêu cầu.

Sớm mai gánh nước mờ mờ
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu nầy ăn thật là cay
Dù mặn dù lạt dù cay dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương
Cầm lược thì nhớ tới gương
Cầm trầu nhớ túi,nằm giường nhớ nhau.


Ca dao còn là hình ảnh, ở đây là những hiện tượng của bản thể.Do đó hình ảnh không còn là hiện tượng đơn thuần mà hiện tượng có nội dung cho nên mới được gọi là hình ảnh.Chính những chất liệu trong ca dao đã tạo nên hình ảnh,hình ảnh của vật thể,hình ảnh của vũ trụ,hình ảnh của tình yêu. Đó là những cái nhìn khai phóng của chúng ta để tìm ra cái nội dung đó;với cái nhìn của ca dao luôn luôn có sự ẩn dấu,tiềm ẩn, đẩy cái hình ảnh đó như thúc dục người nghệ sĩ ca dao phải ẩn mình, đấy là cái nhìn thuở ban đầu.Cái nhìn hai chiều song phương từ bản thể đến hiện tượng để rồi từ hiện tượng qui về bản thể tạo nên một nội dung hình thể như thế là cái nhìn trực tiếp của ca dao nói riêng và thi ca nói chung do đó những sự vật cùng từ ngữ tham dự vào cuộc đời và tạo nên hình ảnh và từ hình ảnh tạo nên ý nghĩa của mình.Cái nhìn đồng hoá mình với sự vật như vậy là cái nhìn trực tiếp đi vào bản thể không cần tìm đến bản thể mà thấy hiện tượng từ bản thể và từ đó tình yêu được bừng sáng lên và hiện hữu “Tôi đặt trái táo trên bàn,rồi tôi hoà mình vào trong trái táo. Ôi!tuyệt vời biết là bao…”(Henri Michaux) Tuy không trực tiếp bằng cái nhìn phối hợp của ca dao nhưng cũng tương đồng ý nghĩa.Tâm trạng đó người ta gọi là ý thức biểu tượng.

Qua đình ghé nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói,thương mình bấy nhiêu

Cho nên cái nhìn trong ca dao dù chỉ là cái nhìn ban đầu là truyền thừa vào biến trình diễn đạt của dân tộc,nội dung ý nghĩa vẫn còn vang vọng nhờ những hình ảnh đó.Cái ngôn từ trong ca dao Việt Nam trước sau vẫn vướng vít hình ảnh của tình yêu mà ca dao là môi giới trong lãnh vực của tình yêu.

Kết.

Ca dao là mạch thở của thơ,là nguồn sáng tạo vô tận,là ngôn từ của văn chương bình dân chứa đựng hết thảy tình người trong đó.Ca dao càng mộc mạc bao nhiêu thì càng chan chứa bấy nhiêu,ca dao không đỏm dáng,chải chuốt bóng bẩy mà thường xử dụng những ngôn từ thực tế của cuộc đời,mà chúng ta thường gắn liền với nhau:con người và cuộc đời,nó trở thành như định lệ.Nhưng nghĩ cho cùng đó chính là sức sống,chính bản thể thôi thúc,con người với hiện tượng tình yêu và từ hiện tượng nầy thoát ra hiện tượng khác bằng ý thức bản thể có ý hướng của mình.

Valery có lần nói:”Le vrai poète est celui qui inspire”Giòng thơ thực chỉ đến với người có tâm hồn bộc phát;người nghệ sĩ ca dao thực thi đúng tinh thần ấy, đó là ca dao khua động bản thể của con người,gợi lên sức sống để đi vào cuộc đời và hoà mình với hiện tượng rồi từ hiện tượng ấy hoà mình với sự vật để đột biến thành hình ảnh cho ca dao,lúc đó sự hiện diện của ca dao sáng tỏ không còn gì gọi là ẩn tàng hay ẩn dụ nó biến thành thi ảnh mang nội dung ý nghĩa biến động của bản thể con người.Do đó ca dao trở nên hiện hữu như ta đã thấy trong ca dao.

Cho nên những nhà nghệ sĩ nông thôn,không phải là nhà nghệ sĩ của văn chương bác học mà họ từ những người thợ cày,thợ gặt,trẻ chăn trâu đều có con mắt nhìn vào thực tế, họ nhìn thấu suốt giữa người và vật,ca dao nông thôn đầy cảm hứng thi vị.Nghệ sĩ ca dao bình dân thể hiện được ý thức đó nghĩa là muốn xây dựng một hình ảnh phải phóng bản thể của mình vào hiện tượng cho bản thể sống trong hiện tượng và trở thành hiện tượng của bản thể và cho sự vật là ta như ta trong sự vật.Vì đó; là khi bản thể giao tiếp với cuộc đời.

Tóm lại ca dao đã du nhập những giòng thơ của văn chương bình dân,biến hình từ câu hò điệu hát,trao đổi,hò đối đáp,cắt xén,rút gọn,dể dàng truyền khẩu từ đó được gọi là ca dao,nó thường mô tả tình người dưới muôn hình vạn trạng, từ nội giới tới ngoại giới. Đấy cũng là một phần bản thể dân tộc,một văn hoá văn minh truyền thống. Điều đặc biệt của ca dao ,ngôn từ không ước lệ,ca dao nói những gì thực hữu giữa cuộc đời,nương theo chiều sáng tạo của thi ca qua bao thế kỷ và chế ngự cả thơ Việt lẫn thơ Đường bằng những câu rất đơn sơ mà đầy ý nghĩa và đi sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội một cách dể dàng và nhanh chóng.Một ngôn từ thiết tha,một đường giây giữa nội tâm và ngoại giới. Đó là nhân tố trong văn chương bình dân Việt Nam.Một thứ triết lý của văn chương bình dân cần phải tô điểm và nghiên cứu chiều sâu của nó ./.

VÕ CÔNG LIÊM

Hạ Vi
#4 Posted : Friday, March 18, 2011 6:34:21 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)





Nỗi nhớ trong ca dao


Xa nhau xa bóng xa hình
Nhưng không xa được tấm tình cho nhau



Yêu nhau chẳng quản gần xa
Một ngày chẳng đến bằng ba bốn ngày



Áo tứ thân em treo trên mắc
Đêm anh nằm anh đắp lấy hơi
Nhớ em em vẫn ở đời
Quên em em mới ra người kiếp xưa



Yêu anh tâm trí hao mòn
Yêu anh đến thác cũng còn yêu anh



Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay



Tìm nàng mà chẳng thấy nàng
Bâng khuâng như mất lạng vàng trong tay



Anh đi đằng ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh



Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười



Chàng về cho chóng mà ra
Kẻo em chờ đợi sương sa lạnh lùng



Hun em anh hít lấy hơi
Lỡ khi phòng vắng còn mùi của em



Trèo non những ước non cao
Anh đi đò dọc ước ao sông dài



Yêu nhau chẳng quản chiếu giường
Dẫu rằng tàu lá che sương cũng tình



Duyên kia ai đợi mà chờ
Tình này ai tưởng mà tơ tưởng tình


Qua cầu than thở cùng cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu



Chẳng tham nhà ngói rung rinh
Tham về một nỗi anh xinh miệng cười
Miệng cười anh đáng mấy mươi
Chân đi đáng nén miệng cười đáng trăm



Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
Bảy thương nết ở khôn ngoan
Tám thương ăn nói dịu dàng thêm xinh
Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt có tình với ai



Yêu nhau chữ vị là vì
Chữ dục là muốn chữ tùy là theo


Gần thì chẳng hợp duyên cho
Xa xôi cách mấy lần dò cũng theo


Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền


Công trình ân ái biết bao
Gặp nhau lại thẹn toan chào lại thôi



Đôi ta như nghĩa tào khang
Xuống khe bắt ốc lên đàng hái rau


Đôi ta như đũa nòng nòng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha



Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về


Con dao vàng rọc trầu vàng
Mắt anh anh liếc mắt nàng nàng đưa


Thấy anh như thấy mặt trời
Chói chang khó ngó trao lời khó trao


Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất trông sông sông dài
Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuất trông người người xa


Chim xa bầy thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Thà rằng chẳng biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa một nơi sao đành


Chiều chiều ra đứng ngõ trông
Ngõ thì thấy ngõ người không thấy người
Chiều chiều ra ngõ mà trông
Bạn không thấy bạn tình không thấy tình


Ước sao ăn ở một nhà
Ra vào đụng chạm kẻo mà nhớ thương


Thương anh em chẳng nói ra
Trong ruột thì héo ngoài da thì vàng



Chẳng chè chẳng chén sao say
Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm



Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi


Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng
Cá buồn cá lội tung tăng
Em buồn em biết đãi đằng cùng ai


Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân



K. Trần sưu tầm




1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
baophuong on 2/10/2012(UTC)
Ngoc N Hao
#5 Posted : Sunday, March 20, 2011 8:38:09 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Phong cách ăn mặc là mảng mầu quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa Huế.



Hài hòa trong cách ăn mặc, sử dụng màu sắc là một trong những nét nổi bật của phong cách Huế, con người Huế. Điểm chủ đạo trong trang phục của người Huế là màu sắc, màu sắc thiên nhiên đã ảnh hưởng nhiều tới thẩm mỹ và thị hiếu ǎn mặc của người Huế.


Áo dài Huế


Góp phần tạo nên phong cách ǎn mặc Huế còn phải kể tới điều kiện lịch sử, đó là ý định lâu dài của chúa Nguyễn Đàng Trong muốn tạo ra quốc gia, phong tục riêng, lệnh "trai gái hai xứ đòi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi", tới thời Nguyễn, Minh Mạng lại lệnh cấm mặc "quần không đáy" (váy) thành ra ở Huế cũng như miền Nam có nhiều phong tục ǎn mặc riêng, sớm mặc quần, ít dùng áo tứ thân, không quen mặc yếm, vấn tóc, đội khǎn vuông đen... Trong các giai đoạn lịch sử sau này, Huế cùng miền Nam sống dưới sự chia cắt và thống trị của Mỹ - Ngụy suốt 20 nǎm ròng, Huế với bản sắc vǎn hóa truyền thống của mình đã tẩy chay cách ǎn mặc đua đòi của lối sống ngoại lai, do vậy, nơi đây hơn mọi địa phương của miền Nam vẫn giữ lại những cung cách ǎn mặc riêng của mình. Người Huế ǎn mặc giản dị, nhưng vẫn tươm tất đàng hoàng, khi hữu sự cần tề chỉnh, nhưng vẫn không ra vẻ sang trọng, phô trương, các kiểu mốt thời trang sặc sỡ, lòe lọet của Tây Âu, Bắc Mỹ, đều khó tìm được chỗ đứng chân nơi Huế.


Một thoáng áo dài trên đất cố đô

Nói tới phong cách ǎn mặc truyền thống Huế, người ta thường nghĩ tới chiếc áo dài Huế. Vẫn là chiếc áo dài Việt Nam có gốc gác từ áo nǎm thân cổ truyền, nhưng trong dòng cải biến, cách tân chung ấy, Huế đã tạo cho mình một phong cách riêng, bởi màu sắc, cách may, kiểu mặc... áo dài Huế không chấm gót như áo Sài Gòn, cổ áo cao vừa phải, co áo cũng thắt đáy lưng ong, nhưng lại không bó quá, tà cũng không xẻ quá cao. Đặc biệt, người Huế đã thể hiện nét riêng của mình qua chọn các loại hàng vải với màu sắc khác nhau để may áo dài: màu trắng hay tuyền đen, các màu nhẹ như xanh lơ, hồng nhạt, vàng mơ, tím phớt... vải hoa chỉ điểm vài bông màu đậm hay nhạt hơn màu vải một chút, chứ không dùng các loại vải hoa to, màu sắc vải nền hay hoa quá tương phản, sặc sỡ.

Áo dài Huế được nhiều thế hệ người Huế ưa mặc, trước nhất là học sinh, sinh viên, viên chức, thanh niên, rồi cả đến những lớp người trung niên, các bà già, chị em làm nghề buôn bán nhỏ ở các cửa tiệm, ở ngoài chợ... Các cô gái chọn màu quần tuyền trắng hay màu tím nhạt, các em học sinh, sinh viên chọn màu áo tím Huế thành đồng phục với áo trắng, áo tím, với cánh nón trắng mỏng manh là thế, nhưng suốt hàng thế kỷ nay, nó vẫn bền vững, thủy chung đầy nữ tính và đậm đà bản sắc dân tộc, bất chấp mọi sự du nhập của lối sống, lối mặc lai cǎng mất gốc.


Cô gái Huế với chiếc áo dài truyền thống


Tà áo dài trắng, tím cùng cánh nón bài thơ luôn đi liền với hình bóng người phụ nữ Huế mọi lúc, mọi nơi, cả trong nhà và ngoài phố. Những làng thủ công làm nón này, người thợ biết mấy công phu châm lên những chiếc nón khéo léo ít nơi nào sánh kịp: vàng tre cái chuốt nhỏ như tǎm, mượt trơn như ngà, nhẹ như khung bấc, những tấm lá cọ phơi khô, trắng muốt xếp đều đặt trên mặt khung, những sợi cước trong suốt khâu kín đáo, tỉ mỉ những lá cọ mềm vào thân nón. Cầm nón soi lên mặt trời, giữa những thân lá mỏng tang, xen vào giữa những cánh hoa là câu thơ được người thợ lồng khéo léo vào giữa các lớp lá. Nón bài thơ Huế có chiếc quai lụa nõn đủ màu, khi thì màu tím ấp ủ, khi lại màu vàng mỡ gà, khi lại màu hồng ráng chiều, cũng có khi người ta chọn chiếc quai nón lụa trắng bạch hay giải yếm gấm đen tuyền, tôn thêm làn da, khuôn mặt người đội nón.

Không như những thiếu nữ Bắc Hà, 13-14 tuổi mẹ đã dạy cách chải tóc, vấn khǎn, thiếu nữ Huế thường để tóc xõa bờ vai, tóc thề, các em sinh viên đến trường kẹp tóc gọn gàng để chảy nhẹ xuống lưng áo dài màu tím. Khi đã có chồng con, các bà chải tóc ngược lên (gọi là chải láng) rồi búi gọn sau gáy, như phụ nữ Nam Bộ. Cũng có đôi người vẫn giữ cổ tục nơi đất bắc xưa, vấn tóc quanh đầu, nhưng không dùng khǎn mà để tóc trần như vùng quê Nghệ Tĩnh. Mái tóc Huế không chỉ đẹp kiểu dáng, mà lúc nào cũng như tắm trong hương sắc đất trời, mùi nhẹ nhàng thoang thoảng nơi mái tóc, hoa bưởi, hoa quýt, bồ kết, hoa cam, hoa nhài, hoa lý... Hương ướp từ nước gội đầu, nhưng cũng có khi trên mái tóc kín đáo cài thêm một bông thiên lý. Cũng chính vì vậy, phụ nữ Huế ít dùng nước hoa hay chỉ dùng đôi chút thoảng nhẹ, bởi vì thiên nhiên và con người ở đây lúc nào mà chẳng thoảng nhẹ mùi hương.


Áo dài truyền thống thêm một lần nữa được tôn vinh


Ngày tết, ngày hội, những dịp cưới xin, màu sắc y phục Huế như nở bừng trên nền màu đen và trắng thường ngày. Xưa kia, người Huế thường mặc áo nǎm thân, nhưng không mặc yếm trong, nên cổ cài cúc kín. Ngày hội, mặc áo mớ ba, mớ bảy, không như phụ nữ Bắc Hà để hở màu áo trong thấp thoáng ở tà áo gần cổ, mà mỗi màu áo trong hở ra một chút nhờ khéo léo xếp thấp dần chiếc áo đứng ôm gọn lấy cổ thon cao ba ngấn; nhờ tà áo thấp thoáng theo những bước đi thanh thản.



Có thể nói phong cách Huế, mảng màu Huế đã được thể hiện trong các đám cưới truyền thống. Trong lễ rước dâu, cô dâu mặc áo điều lục (điều là đỏ, lục là xanh) chít khǎn vàng màu vàng trang nhã, sang trọng, các cô phụ dâu đi cạnh mặc áo màu tường vi, nguyệt bạch hay màu thiên thanh. Bà già đi trước bưng quả hộp sơn son, mặc áo xanh rộng, chít khǎn màu hoa hồng; các ông già, bà già đi sau, ông thì mặc áo cổ đồng chít khǎn đỏ, bà thì chít khǎn lục. Đi sau cô dâu là bạn bè nam nữ thanh niên đi dự lễ, người mặc áo đơn, người mặc áo cặp đội với các màu lát gừng và bông bèo, tường vi và nguyệt bạch, màu mỡ gà và màu xanh da trời...

Người Huế giản dị nhưng rất tinh tế trong cả cách trang sức hàng ngày cũng như khi có lễ hội hè, lễ tết. Phụ nữ Huế ít dùng son phấn hay khi cần thiết chỉ dùng thoảng nhẹ, tạo nên vẻ hài hòa tự nhiên, chứ không tô, vẽ đến mức giả tạo. Trang sức đeo trên người có chiếc kiềng vàng nơi cổ, tạo nên sự hài hòa giữa vật đeo với cổ áo dài, một dáng vẻ riêng của cô gái Huế. Nơi cổ tay đeo ngoài tay áo là những vòng xuyến, cũng như kiềng, có thể đánh trơn hay chạm trổ tinh vi, ngón tay đeo nhẫn vàng trơn hay mặt ngọc. Thời xưa các cô gái đi hài mũi cong quai thêu đính hạt cườm lóng lánh...

Những cô gái Huế thướt tha trong tà áo dài truyền thống và nón lá (Ảnh: theo Traveladventures.com)


Trong nước cũng như nước ngoài, nói tới Huế, người ta thường nghĩ tới màu tím, một hiện tượng hiếm thấy khi gắn phong cách của một địa phương với màu sắc và từ đó trong bảng màu dân gian, có màu sắc mang tên một địa phương. Có lẽ không nên hiểu Huế trong ǎn mặc chỉ có màu tím, thậm chí không phải chỉ chủ yếu là màu tím, mà bảng màu của nó trong ǎn mặc, kiến trúc, pháp lam đa dạng và phong phú hơn nhiều, tạo nên một bản sắc riêng của mảng màu địa phương, mà nhà nghiên cứu hội họa Phan Đǎng Trí gọi là ngũ sắc Huế. Chính ngũ sắc Huế đã ảnh hưởng chi phối nhiều tới thẩm mỹ và thị hiếu Huế trong ǎn mặc và nó cùng với các kiểu cách ǎn mặc, phong độ trong ǎn mặc, tạo nên đặc trưng của riêng phụ nữ Huế, trong nữ phục miền Trung và nữ phục cả nước.

Màu tím, phụ nữ Huế quan niệm đó là màu trang nhã, trông không buồn, có vui cũng chỉ vui nơi khóe môi, không nồng nàn như hoa lài, và thoang thoảng như hương lan thanh đạm, tế nhị. Bởi vậy, đàn bà, con gái thường mặc màu này trong những lúc giao tế bình thường, hay trong những ngày kỵ giỗ sau khi đoạn tang. Còn nữ sinh Huế từ những nǎm 30, 40 thế kỷ này, chọn màu tím làm đồng phục. Màu tím Huế không chỉ nói về màu, mà nói về con người.


Thiếu nữ Huế


Chọn màu sắc hợp với từng lứa tuổi là một nghệ thuật tinh tế của người Huế. Các cụ già, râu tóc bạc phơ thường chọn những màu thiên về sắc đỏ. Sắc này tạo ấn tượng vui, mạnh nên tiệc khao tiệc cưới không thể thiếu màu đỏ ẩn trong quà mừng, trên trang trí nhà cửa, bàn tiệc. Con cháu cũng thường sắm quà mừng cho các bậc cha mẹ, ông bà... màu đỏ với ý nghĩa mong mỏi các cụ khỏe mạnh, sống lâu, vui với tuổi già.


Chất Huế


Đàn ông con trai mặc áo xanh sẫm lót màu cổ đồng (như sắc đồng cũ). Họ quan niệm đỏ tuy có cường, mạnh, hợp với nam tính, nhưng quá rực rỡ, thiếu vẻ khiêm tốn của người trẻ. Màu cam, màu vàng trông chói chang, còn màu đọt chuối hoa cà thì lại dịu dàng, hợp với nữ tính. Theo đó, đàn ông đứng tuổi thường dùng màu xanh nguyên thủy, tuổi càng trẻ, màu xanh càng sẫm.


Lễ rước sản phẩm thêu và nón lá đã kết thúc Festival nghề truyền thống Huế 2005


Phụ nữ thường thích những màu tươi. Những cô gái trẻ, mặc màu càng tươi, ẩn hiện trong các cặp áo với màu cặp môi hòa hợp, như lát gừng- bông bèo, lòng tôm- nguyệt bạch, mỡ gà- xanh da trời. Đó là những cặp màu tươi sáng, non dẻo, khi đã chuyển sang mặc áo dài tân thời, các cô gái trẻ vẫn ưa các màu xanh lơ, hồng nhạt, vàng mơ, tím phớt... phụ nữ có tuổi một chút, vẫn ưa thích những màu tươi, những sắc độ đằm và dịu mắt hơn. Các cụ bà chít khǎn nhiễu lục, mặc áo dài lá cam, bày ra chút khǎn nhiễu lục, mặc áo dài lá cam, bày ra chút bên trong màu dạ lang (đỏ tím gần như vỏ khoai lang). Thị hiếu màu sắc Huế đã tìm sự hòa hợp trong sự tương phản giữa con người với thế giới thiên nhiên giàu màu sắc. Trong quan niệm ngũ sắc phương đông, màu đen và các màu có sắc độ tối đậm đều thuộc về âm, còn màu trắng và sáng đều thuộc dương. Thế nhưng, người phụ nữ Huế, khác với phụ nữ miền Bắc gắn bó với màu đen, nâu bình dị, người Nam bộ gắn với màu đen của bộ bà ba. Phụ nữ Huế chọn màu trắng, màu sáng, là những màu đối lập với tính giới của mình, tạo nên sự tương hợp cao hơn và cũng nhuần nhụy hơn. Đó là một nét riêng của nữ phục Huế cổ truyền.

Theo Sắc Màu Văn Hoá
Ngoc N Hao
#6 Posted : Sunday, March 20, 2011 8:47:26 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)





Ngoc N Hao
#7 Posted : Sunday, March 20, 2011 8:51:05 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Hello , cou cou Sis Ha Vi uiBigGrin hu hon ui' mèn ,cuoi cung em cung login vo forum duoc roi ....ma gio user name thanh vay Ngoc N Hao....
Hạ Vi
#8 Posted : Sunday, March 20, 2011 10:36:38 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
Originally Posted by: Ngoc N Hao Go to Quoted Post
Hello , cou cou Sis Ha Vi uiBigGrin hu hon ui' mèn ,cuoi cung em cung login vo forum duoc roi ....ma gio user name thanh vay Ngoc N Hao....


Bonjour Ngoc N Hao ui, (nick mới của NgocHao đó các anh chị, và các bạn ơi ) ..

Rất vui khi thấy Ngọc ghé new Asia forum và post bài trong forum The Beauty of Vietnamese Culture , hình ảnh cho ca sĩ Hồ Hoàng Yến...

Merci Ngọc nha, ghé topic sis Vi .... posted bài và áo dài đẹp wá ..Nice pictures.
Chúc Ngọc buổi chiều chủ nhật, beau dimanche, thật đẹp và vui tươi nhé.

Hạ Vi


Ngoc N Hao
#9 Posted : Sunday, March 20, 2011 12:27:43 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Chi Vi ,bai va hinh anh em lay tu link Chi goi cho em....Con nhieu hinh nua de em se tiep tuc post len them....Thank Chi ,em cung chuc Chi ,Sunday ...vui ve nha...
Originally Posted by: Ha Vi Go to Quoted Post
Originally Posted by: Ngoc N Hao Go to Quoted Post
Hello , cou cou Sis Ha Vi uiBigGrin hu hon ui' mèn ,cuoi cung em cung login vo forum duoc roi ....ma gio user name thanh vay Ngoc N Hao....


Bonjour Ngoc N Hao ui, (nick mới của NgocHao đó các anh chị, và các bạn ơi ) ..

Rất vui khi thấy Ngọc ghé new Asia forum và post bài trong forum The Beauty of Vietnamese Culture , hình ảnh cho ca sĩ Hồ Hoàng Yến...

Merci Ngọc nha, ghé topic sis Vi .... posted bài và áo dài đẹp wá ..Nice pictures.
Chúc Ngọc buổi chiều chủ nhật, beau dimanche, thật đẹp và vui tươi nhé.

Hạ Vi

Ngoc N Hao
#10 Posted : Sunday, March 20, 2011 2:03:59 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
Trang phục Huế xưa & nay - Royal Hue costumes


Bộ ảnh này do anh Huybank chụp. Bộ ảnh này phục vụ cho Áo dài Festival Huế 2010.





Ngoc N Hao
#11 Posted : Sunday, March 20, 2011 2:09:41 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)




Hạ Vi
#13 Posted : Monday, March 21, 2011 12:28:54 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
Điều Bí Ẩn Trong Tình Khúc Mùa Xuân Duy Nhất Của
Đoàn Chuẩn







Trong 10 tình khúc nổi tiếng của Đoàn Chuẩn, thì có 9 tình khúc mùa thu. Duy nhất chỉ có Gửi người em gái là tình khúc mùa xuân. Gửi người em gái được biết vào mùa xuân Bính Thân (1956) và có lẽ đó là tình khúc cuối cùng mà Đoàn Chuẩn dành tặng cho một mối tình mê đắm nhất. Tình khúc viết xong đã được tài tử Ngọc Bảo thu thanh rồi phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh thống nhất. Sau khi xuất hiện, do đã được một số nhà phê bình " chăm sóc" khá chu đáo, nên tình khúc này chìm vào im lặng mấy chục năm ở miền Bắc. Tại sao lại viết rằng: Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ? Thế là lạc quan tếu. Tư tưởng ấy thật không ổn cho cuộc đấu tranh của chúng ta đang rất khó khăn, cam go... Có lẽ mọi người đều nghĩ rằng qua tình khúc này, Đoàn Chuẩn muốn gửi tới người tình đã biệt xa miền Bắc vào Nam, bởi vậy, nó mới có cái tên ban đầu nguyên vẹn là Gửi người em gái miền Nam. Khi Khánh Ly hát tình khúc này ở Sài Gòn thì mới đặt lại là Gửi người em gái với những ca từ không phải của Đoàn Chuẩn.

Thực ra, Gửi người em gái là tình khúc Đoàn Chuẩn mượn cái cớ thật của thời cuộc để gửi gắm tình ý khôn nguôi tới người mến thương mà mình đành dằn lòng chia biệt. Đấy là điều bí ẩn trong tình khúc mùa xuần duy nhất nàỵ Vậy nàng là ai? Sau một vài cuộc tình từ đó nảy sinh những Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Cánh hoa duyên kiếp..., Đoàn Chuẩn nghĩ đã nguôi ngoai trong lòng, đã kín miệng những vết thương yêu. Nhưng nghiệp đời chưa cho chàng bằng an. Vết thương lại nhói buốt lúc trở trời. Hình ảnh người thiếu nữ đăng quang " vương miện thủ khoa" của cuộc thi hát do đài Pháp-á tổ chức lại làm lung lay chỗ chàng định ngồi thiền ở tuổi gần tam tuần. Có một cái gì thật mơn mởn, thật tơ non như bàn tay thần diệu vuốt qua con tim định già cỗi của chàng, khiến nó đập nhịp bồi hồi trở lại.

Hoá ra, nàng là con gái đầu lòng của một công chức hoả xa. Kháng chiến, cha nàng là tự vệ chiến đấu nột thành. Khi rút ra chợ Đại, cha nàng mang theo nàng khi ấy mới 12 tuổi. Ở chợ Đại ít lâu, nàng phải về lại Hà Nội với mẹ để cùng mẹ chăm sóc 5 em nhỏ. Cô bé mới tuổi dậy thì đã tảo tần làm thuê, đánh máy chữ, đan áo len để có tiền góp với mẹ nuôi các em.

Nàng đẹp kiêu sa và có giọng hát mê hồn. Nàng tình cờ được một nhạc công của Đài Pháp-á phát hiện và đưa ngay lên ngôi thủ khoa khiến Đoàn Chuẩn lập tức ngất ngư.

Từ buổi nàng đăng quang, chàng đã tìm gặp được nàng và nàng đã hát rất hay những Lá thư, Đường về Việt Bắc, Chuyển bến... Chàng còn giúp nàng học nhạc, giúp nàng những show hát ở rạp chiếu bóng Hà Nội trước lúc chiếu phim với thù lao đặc biệt. Có show, chàng để riêng mình nàng hát. Giọng hát của nàng đầy hứa hẹn. Biết bao thanh niên Hà Nội mê đắm nàng, sẵn sàng mua hai vé để theo nàng từ rạp này sang rạp khác chỉ để nghe nàng hát. Nàng còn quá hồn nhiên nên mặc dù rất yêu chàng nhưng vẫn có lúc làm cho chàng buồn.

Nghe tin cha mất ở vùng tự do, nàng đã khóc sưng mắt. Rồi người chú ruột là bộ đội đã cử liên lạc vào thành đón nàng ra vùng tự do vào cuối mùa xuân 1954. Đoàn Chuẩn bất ngờ chống chếnh. Chàng cảm thấy mất mát thực sư.. Chàng cô đơn đến xót xa. Chàng tin là đã mất nàng.

Nhưng nàng không bỏ chàng. Nàng trở về khi thủ đô giải phóng. Họ gặp lại nhau gấp gáp, hối hả, như tìm lại một cái gì đó mà cả hai cùng đánh mất. Để rồi lại chấp chới đón những bi kịch đời sống sắp sửa ập xuống đè nát sự lãng mạn. Chỉ nghe phong phanh nàng có người dạm hỏi là chàng đã phát điên lên. Chàng hoàn toàn bất lực. Chàng chẳng có gì ngoài con tim yêu nàng đến muốn vỡ vụn.

Những ngày tháng ấy, Đoàn Chuẩn dường như không phải sáng tác gì cả. Những giai điệu cứ trải theo diễn biến từng ngày của chàng với nàng: Tà áo xanh, Lá đổ muôn chiều, Vàng phai mấy lá, Chiếc lá cuối cùng... trong tập Bài hát bị xé. Tình khúc Đoàn Chuẩn lúc này như không để hát lên mà là để khóc nức cho sự thương tổn. Tình sử đã khép lại, nhưng những dấu yêu thì đâu đã tàn phai. Và sự ra đi của " tà áo xanh" ấy đã buộc Đoàn Chuẩn phải da diết viết lên những cung bậc chót cùng trong mùa xuân cô đơn:


Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Rừng đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng
Hà Nội chờ đón Tết hoa chen người đi liễu rủ mà chi
Đem tân xuân Hồ Gươm như say mê
Ngàn phía đến lễ đền chạnh lòng tôi nhớ đến người em...


Nàng thật lộng lẫy trong giai điệu Đoàn Chuẩn:

Tôi có người em gái tuổi chớm dâng hương mắt nồng rộn ý yêu thương
Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như dáng Kiều ôi tình yêu.
.


Bài hát viết theo khúc thức ba đoạn A - B - A mà Cung Tiến và sau này là Trịnh Công Sơn thường sử dụng viết tình khúc. Trước "Gửi người em gái", Văn Cao đã viết "Suối mơ" với khúc thức ấỵ. Cái lạ là Đoàn Chuẩn viết nhạc mang hơi hướng phương Tây song ở đoạn B của "Gửi người em gái" lại có câu thơ lục bát rất dân tộc:


[center]...Người đi trong dạ sao đành !??
Đường quen lối cũ ân tình nghĩa xưa !...


Nàng còn được đặt ở một góc nhìn tình tứ hơn:

[center]Em tôi đi mầu son lên đôi môi
Khăn san bay lả lơi trên vai ai
Trời thắm gió trăng hiền
Hà Nội thêm dáng những nàng tiên


Phải nói rằng Gửi người em gái miền Nam đã ẩn chứa trong ấy đầy đủ bóng dáng của người tình bí ẩn được vẽ lên trong nỗi nhớ thương đến ngẩn ngơ ! ! !



(dactrung.net, sưu tầm )


Hạ Vi
#14 Posted : Wednesday, March 23, 2011 6:14:09 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)





Gửi Người Em Gái Miền Nam
Tác giả: Đoàn Chuẩn - Từ Linh


Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
Lượm đào phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng
Hà Nội chờ đón tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi
đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh
Hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa
đường phố vắng bóng đèn, chạnh lòng tôi nhớ tới người em !


Tôi có người em gái, tuổi chớm dâng hương
mắt nồng rộn ý yêu thương
ôi mắt em nói nhiều tha thiết như dáng kiều
ôi tình yêu
Nhưng một sớm mùa thu giữa chân trời xanh ngát
Nàng đi gót hài xanh nàng đi cho dạ sao đành
Đừng quên lối cũ ân tình nghĩa xưa


Rồi từ ngày ấy nước sông ngăn cách đôi lòng
Chuyện tình vỡ lỡ bến cô đơn không ai ngờ
Tình nghèo xa cách mãi em tôi đành ôm mối sầu mà đi
Em tôi đi màu son lên đôi môi
Khăn soan bay lả lơi trên hai vai
Nhìn xác pháo bên thềm, gợi lòng tôi nhớ tới người em !



Quang Tuấn






thunder
#15 Posted : Wednesday, March 23, 2011 9:04:34 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Lá Thư

Sáng tác : Đoàn Chuẩn - Từ Linh
Trình bày : Trần Thái Hoà

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=51ZkCUlFMs

Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau
Phong thư ngào ngạt hương
Nét bút đa tình lả lơi
Nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng
Chờ đến kiếp nào
Tình đầu trong gió mùa
Người yêu ơi
Em nay về đâu?
Phong thư còn đây
Nhớ nhau tìm trong ánh sao
Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu
Ngồi xõa tóc thề
Hẹn lời ân ái
Trôi đến bến nào hình dáng thuyền yêu

Thời gian như xóa lời yêu thương
Thời gian phai dần màu bao lá thư
Anh quay về đây đốt tờ thư
Quên đi niềm ân ái ngàn xưa
Ái ân theo tháng năm tàn
Ái ân theo tháng năm vàng
Tình người nghệ sĩ phai rồi

Nhớ tới mùa thu năm nào
Mình anh lênh đênh rừng cùng sông
Chiếc lá thu dần vàng theo
Nhớ tới ngày nào cùng bước đến cầu
Ngồi xõa tóc thề
Còn đâu ân ái chăng người xưa?
Hạ Vi
#16 Posted : Sunday, March 27, 2011 6:14:41 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
.


Đoàn Chuẩn - Từ Linh
Một mùa Thu nào lãng mạn






Lê Hữu

"Mộng nữa cũng là không..."
ĐC-TL

Thực tình không rõ là "mầu xanh ái ân" trong câu hát "có mầu nào không phai như mầu xanh ái ân..." của Đoàn Chuẩn-Từ Linh (ĐC-TL) có đúng là không hề phôi phai cùng năm tháng, thế nhưng tôi biết chắc một điều là hình ảnh tà áo màu xanh thắm cùng những nét nhạc trữ tình ấy thật khó mà phai mờ trong tâm tưởng của rất nhiều người. Tôi cũng không rõ là cảnh trí mùa thu đất Bắc đã quyến rũ ĐC-TL đến đâu để viết nên câu hát "mùa thu quyến rũ anh rồi", thế nhưng tôi biết một điều khá rõ ràng là những bản tình ca mùa thu thật êm dịu của của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy đã thực sự quyến rũ biết chừng nào những người yêu nhạc của hơn một thế hệ. Tuổi trẻ tôi ngày ấy, dù chỉ ở vào lứa tuổi mới biết yêu thôi, cũng đã từng có những phút giây để lòng mình lắng xuống, thả hồn vào thế giới âm nhạc lãng đãng của những sáng "mong chờ mùa thu", những "phong thư ngào ngạt hương", những "xác pháo bên thềm tản mác bay" và những mối tình dở dang hẹn "chờ nhau đến kiếp nào..."


Hai chàng nghệ sĩ, một mối tình thu


Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, Từ Linh hay Đoàn Chuẩn, ai là người thực sự đã viết nên những khúc nhạc tình làm rung động trái tim người nghe ấy? Hai người cùng viết chung hay chỉ một người viết (người kia chỉ đứng tên cho vui)? Bài nào viết chung, bài nào viết riêng? Bài nào của người này mà không phải của người kia? Tại sao cũng bài nhạc ấy, khi thì ghi tên người này, khi lại ghi tên người khác? Người này viết nhạc, người kia viết lời, có phải vậy?... Những câu hỏi không có lời giải đáp hoặc có những lời giải đáp không giống nhau (của những người tự nhận quen biết tác giả hoặc am hiểu chuyện ấy).

Trong số những nhạc phẩm của ĐC-TL được các nhà phát hành nhạc Tinh Hoa và An Phú in lại ở miền Nam trước năm bảy mươi lăm, hai cái tên này có khi được tách riêng, chẳng hạn "Tà Áo Xanh" và "Lá Thư" được ghi là của Từ Linh, "Chuyển Bến" và "Thu Quyến Rũ" được ghi là của Đoàn Chuẩn. Không rõ những nhà phát hành ấy đã dựa trên những căn cứ nào để đánh rơi một trong hai cái tên, và chứng cứ ấy liệu có xác thực(?).

Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên một tờ báo ở trong nước (Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tháng 10/95), nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cho biết là ông đã ký tên ĐC-TL cho bài nhạc đầu tiên của ông. (Từ Linh là em một người bạn khá thân của ông. Ông rất quý mến cậu em này và xem như bạn vậy). Bài nhạc ấy và cái tên ấy được nhiều người yêu thích, và thế là từ đấy về sau ông cứ ký tên chung như vậy cho những bài nhạc tiếp theo.

Tôi cũng được trông thấy ông Đoàn Chuẩn trong một băng ghi hình (năm 1997), và người ta cũng hỏi ông những câu hỏi nhiều người muốn biết. Tiếc rằng ông không thể trả lời được. Giọng nói của ông khi ấy chỉ còn là những lời thều thào một cách khó khăn, và chân trái ông bị liệt vì chứng áp huyết cao (bà vợ ông cho biết như vậy). Người trả lời thay cho ông là bà vợ yêu quý, có khuôn mặt và dáng vẻ hiền hậu, cho biết là "tất cả những bài nhạc ông Chuẩn làm, thường là ông và chú Từ Linh vẫn có trao đổi với nhau", mà không giải thích rõ "trao đổi" nghĩa là sao (bàn bạc, góp ý, nhận xét phê bình, khen chê hay dở, đề nghị thêm bớt sửa đổi, hay còn có nghĩa gì khác...). Chữ dùng của người miền Bắc đôi lúc khó hiểu! Về "nhân vật" Từ Linh (ngoài vài tấm ảnh đen trắng mờ mờ chụp chung với Đoàn Chuẩn thuở cả hai còn phong độ, đến nay vẫn cứ là dấu hỏi lớn), bà vợ cũng không cung cấp thêm được những thông tin nào mới mẻ, ngoài việc cho biết hai chàng nghệ sĩ này là đôi bạn tri kỷ, thường hàn huyên tâm sự rất là tương đắc, có khi hàng giờ không biết mệt, và "ngày chú Từ Linh mất, ông Chuẩn có ở cạnh giường cho đến lúc chú ấy đi..."



Từ Linh và vợ

Có vẻ bà vợ nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cũng không biết gì nhiều lắm về sự nghiệp sáng tác của ông chồng mình nên chỉ tiết lộ qua loa một vài điều (mà nhiều người cũng đã biết), chẳng hạn ông Đoàn Chuẩn rất là say mê âm nhạc, lúc nào cũng kè kè cây đàn bên cạnh, và "Tình Nghệ Sĩ" là sáng tác đầu tay từ thuở ông còn cắp sách đến trường. Bà cũng thú nhận là "không để ý lắm đến những bài nhạc ông Chuẩn làm", và mãi đến năm 1987, khi nhạc Đoàn Chuẩn được cho phổ biến lại ở trong nước, bà mới có cơ hội được... thưởng thức đầy đủ những bài nhạc ấy!


Vậy thì Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, biết ai là ai đây? Cứ theo như lời nhạc sĩ Đoàn Chuẩn được ghi lại trong bài phỏng vấn ở tờ báo trong nước (nếu được ghi lại trung thực) và các câu trả lời của bà Đoàn Chuẩn (không được rõ ràng, đầy đủ lắm) thì có vẻ như là Đoàn Chuẩn (tên đầu trong cái tên ghép chung "ĐC-TL"), chứ không phải Từ Linh, nhiều phần là tác giả chính, là nhân vật chính đã viết nên những tình khúc nổi tiếng được nhiều người yêu nhạc biết đến dưới cái tên ĐC-TL. Ông Từ Linh là người có "trao đổi", có "tham gia" đôi chút vào việc biên soạn những tình khúc ấy... Từ Linh lại qua đời trước Đoàn Chuẩn (năm 1987, nghe đâu vì ung thư cổ). Người chết thì chịu không thể lên tiếng gì được, nên mãi đến nay người ta vẫn chẳng biết gì nhiều về ông, ngay cả chuyện ông có phải là nhạc sĩ, có biết làm nhạc hay không, hoặc chỉ biết thưởng thức và bình phẩm về âm nhạc, đặc biệt là âm nhạc của ông bạn Đoàn Chuẩn, nghĩa là chỉ khiêm tốn đóng vai Tử Kỳ mà thôi. Thực hư thế nào, chẳng ai biết được!... Buồn thay và cũng trớ trêu thay, năm ông mất cũng là năm những nhạc phẩm của ĐC-TL được ký giấy phép cho phổ biến lại ở trong nước, vì thế không chắc là ông có đã dịp nào để nghe được những bài nhạc mà nếu ông không dự phần vào việc sáng tác thì cũng ít nhiều liên hệ. Ít ra thì Đoàn Chuẩn cũng có được may mắn hơn ông chút đỉnh (dù khá muộn màng) là vào những năm tháng cuối đời còn được người đời đến gõ cửa xin phỏng vấn ít câu, còn được an ủi là thân bại nhưng danh chưa liệt. Còn như Từ Linh, vì ít có ai biết rõ về ông, cũng chẳng ai kịp phỏng vấn, hỏi han gì đến ông như là Đoàn Chuẩn nên ông không có được cơ hội nào để bộc lộ và vì vậy chỉ như chiếc bóng mờ nhạt bên cạnh Đoàn Chuẩn.


Ngay đến những tin tức về năm tháng ông Từ Linh từ biệt cõi đời này cũng khá mơ hồ và không được đồng nhất, tin thì nói ông mất năm 1987, tin khác lại nói ông mất năm... 1992 (chênh lệch đến năm năm chứ đâu có ít!). Thành thử, ông Từ Linh này đến với cuộc đời thật âm thầm, mà ra khỏi cuộc đời cũng thật lặng lẽ, không ai biết chẳng ai hay!... Về những tin khác, chẳng hạn Từ Linh di cư vào Nam năm 1954 cũng chỉ là "nghe vậy thì biết vậy", và nếu đúng thế thì chắc phải có lý do gì đó khiến ông không muốn cho người đời biết mặt biết tên nên mới im hơi lặng tiếng kỹ như vậy. Ông quả là con người nghệ sĩ có lai lịch rất mù mờ và đạt thành tích khá cao về mai danh ẩn tích.

Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, ai tài hoa hơn ai? Nếu chỉ căn cứ vào những tấm ảnh hai chàng chụp chung với nhau thời còn trai trẻ ấy thì Đoàn công tử có nhiều phần đẹp trai hơn, nhưng chàng nào trông cũng có vẻ "nghệ sĩ đa tình" cả. Phong lưu hơn, chắc phải là Đoàn Chuẩn, vì chàng là công tử con nhà giàu. Thân mẫu chàng, góa phụ từ thời còn xuân sắc, một tay gây dựng cơ đồ, tạo được sản nghiệp lớn là hãng nước mắm "Vạn Vân" nức tiếng thời ấy (nghe chẳng có chút gì văn nghệ và lãng mạn cả), vẫn được truyền tụng trong câu "nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét". Chàng được nuông chiều hết mực và ăn xài rộng rãi, thoải mái. Một trong những cái thú chơi của chàng thời đó là sưu tập... xe hơi, một mình chàng có đến sáu bẩy chiếc ô-tô mới toanh. Theo nhạc sĩ Phạm Duy cho biết thì "đã vài lần được trông thấy công tử họ Đoàn lái chiếc xe Ford mui trần kiểu Vedette mầu trắng đi học đàn..." Cả Bắc kỳ thuở ấy chỉ có được hai chiếc bóng loáng thì chàng và ông thủ hiến chia nhau mỗi người một chiếc, và chàng cũng lấy làm tự hào về điều đó lắm. (Chắc là chàng cũng ít nhiều tiếc nhớ thời vàng son ấy nên trong "Đường Về Miền Bắc" mới có câu "tiếc đời gấm hoa ta đành quên"). Chàng được nuôi cho ăn học đàng hoàng, không rõ có học tới nơi tới chốn, chỉ biết là môn học mà chàng say mê nhất là âm nhạc, và chàng cũng sử dụng thành thạo các loại nhạc khí như vĩ cầm, tây ban cầm và hạ uy cầm. (Một trong những người thầy có uy tín của chàng là nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ, tác giả "Giáo Đường Im Bóng"). Vừa đẹp trai, con nhà giàu, lại vừa tài hoa lẫn phong lưu rất mực như vậy, chắc hẳn cánh "bướm đa tình" là chàng đã phải mặc sức mà "đùa vui trên muôn hoa, bên những bông hồng đẹp xinh" của Hà thành hay thành phố Cảng, chứ đâu có lý nào chàng lại than thở "thuyền tình không bến đỗ người ơi" và thở than "đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi", nghe mà thảm sầu!...

Sự nghiệp sáng tác âm nhạc của ĐC-TL cũng khá khiêm tốn, được đâu khoảng chục bài nhạc, từ năm 1948 đến 1956, kể từ bài đầu tiên được trình làng là "Tình Nghệ Sĩ", nhưng cũng đủ để lại những dấu ấn đậm nét và được người đời mãi nhắc tên. Có người còn kể thêm ra một danh sách cũng đến gần chục bài nữa, gọi là những sáng tác của Đoàn Chuẩn chưa hề được phổ biến, không rõ có đúng vậy và cũng chẳng biết đâu mà kiểm chứng. Thực ra ai cũng biết, cái quan trọng đâu phải là ở số lượng, một chục hay mấy chục bài được viết ra, mà là những bài nhạc nào đã đến được và ở lại được trong lòng người yêu nhạc.

Tất nhiên, như hầu hết những nhạc sĩ sáng tác khác, không phải tất cả những bài nhạc ĐC-TL viết ra đều hay, đều là "tuyệt phẩm" như nhiều người vẫn gọi... Ở những bài như "Đường Về Miền Bắc" hoặc "Cánh Hoa Duyên Kiếp" và cả "Gửi Người Em Gái" nữa, ta thấy giai điệu và lời nhạc cũng đã kém hay so với những bài khác. Điều rõ ràng là, sau ngày nhạc sĩ Đoàn Chuẩn qua đời, người ta vẫn hay làm công việc giới thiệu lại những tình khúc gọi là "tiêu biểu" của hai ông, được hiểu là những bài hay nhất, được nhiều người yêu chuộng nhất, những bài kể trên đã không được hoặc ít được nhắc đến... Ngoài những bài nhạc được phổ biến từ trước, những bài khác nữa nếu có, cũng ít người biết đến, ít được giới yêu nhạc chú tâm và tán thưởng. Tôi có được nghe qua ít bài nhạc được giới thiệu là sáng tác của Đoàn Chuẩn những năm về sau này, qua giọng hát của vài ca sĩ tên tuổi, nhưng vẫn không nghe ra được cái xuyến xao, không bắt gặp được cái rung động "đoàn chuẩn-từ linh" như mỗi lần nghe lại những bài nhạc quen thuộc trước đó. Trong số những "tuyệt phẩm" ấy, có bài cả nhạc lẫn lời nghe qua thấy tầm thường, không thấy Đoàn Chuẩn đâu cũng chẳng thấy Từ Linh nào trong đó cả, tựa như những mặt hàng sản xuất được dán vào cái nhãn hiệu nhiều người ưa chuộng, nhưng người tiêu dùng vẫn cảm thấy không đúng là mặt hàng mình yêu thích. Lại có những bài không rõ xuất xứ và người tìm ra nó có lẽ đã đánh rơi đâu mất cái tựa, nên phải gán cho nó cái tên khác, "Vĩnh Biệt" hay "Xin Vĩnh Biệt" gì đó (ý nói đây là nhạc phẩm cuối cùng của nhạc sĩ trước khi nhắm mắt xuôi tay), rồi sau đấy chắc thấy hơi cải lương hay sao đó, bèn đổi cái tựa khác là "Vàng Phai Mấy Lá" cho có vẻ... Trịnh công Sơn hơn (cũng đại khái như "Vàng Phai Trước Ngõ" hoặc "Chiếc Lá Thu Phai" của ông nhạc sĩ này vậy, trong lúc ai cũng hiểu là thuở ấy làm gì có cái lối đặt tựa kiểu "hoa vàng mấy độ", "tóc xanh mấy mùa"... như thế). Nội dung bài hát mượn câu chuyện tình éo le ngang trái trong truyền thuyết thuở xưa để giải bày nỗi lòng (vốn là sở trường của Văn Cao, Phạm Duy hơn là ĐC-TL)... Có vẻ như là những bài nhạc ra đời những năm về sau này chỉ với tên Đoàn Chuẩn không thôi (mà không có Từ Linh bên cạnh) không phải là những bài nhạc hay như là những bài nhạc nổi tiếng từng được nhiều người biết đến.


Trở lại với cái tên ấy, Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, Từ Linh hay Đoàn Chuẩn, hai tên hay một tên, thiết nghĩ cũng đâu có gì là quan trọng để phải cố công tìm hiểu, vì chính người viết ra cái tên ấy cũng chẳng hề bận tâm, cũng chẳng xem chuyện gì là quan trọng. Cứ xem như một cái tên cũng được vậy, có sao đâu. Hai tên đã như một tên gọi đầy tình thương mến và ngưỡng mộ đối với người yêu nhạc. Người đời vẫn cứ nói "bài hát ấy là của Đoàn Chuẩn Từ Linh", chứ không nói "...là của Đoàn Chuẩn và Từ Linh". Tác giả của những bản tình ca đó đã muốn ghép chung hai cái tên ấy thành một, vậy thì ta cũng nên tôn trọng, cũng nên hiểu như vậy mà xếp hai cái tên ấy nằm cạnh bên nhau, gần lại với nhau. Hơn thế nữa, một khi đã xem "mối tình nghệ sĩ" chỉ "như giấc mơ" thôi và đã từng có những lúc quay lưng "lạnh lùng mà đi luyến tiếc thêm chi", thì có sá gì một cái tên mà hai chàng chẳng "gửi gió cho mây ngàn bay"...





Thực ra, nếu có ý định tìm hiểu, ca sĩ Đoàn Chính, con trai trưởng của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, có thể nói thêm được ít nhiều về hai ông ĐC-TL. Ca sĩ Anh Ngọc chẳng hạn, cũng có thể bộc lộ một đôi điều (vì nghe đâu ca sĩ Ngọc Long là em của ông Từ Linh, mà theo nhạc sĩ Phạm Duy, Ngọc Long cũng lại là em của Anh Ngọc, vậy thì Anh Ngọc là anh em thế nào với ông Từ Linh này không rõ), tuy nhiên trước giờ vẫn không nghe ông này nói năng gì...

(Những giai thoại về hai chàng nghệ sĩ này có khá nhiều, chẳng biết đâu là hư là thực, chẳng biết đâu mà kiểm chứng, và phạm vi bài này cũng không có ý định tìm hiểu tính cách xác thực của những giai thoại ấy. Sau cùng có lẽ nên nói như nhạc sĩ Phạm Duy, "... trừ phi chính Đoàn Chuẩn viết ra những lời phủ nhận, Từ Linh vẫn không phải là người được ghép tên vào ca khúc").

Kể ra trong lịch sử âm nhạc và trong số những nhạc sĩ tên tuổi của chúng ta, thật hiếm thấy có đôi nhạc sĩ nào gắn bó với nhau thiết thân và tri kỷ đến như vậy. Khi cùng gắn bó với mùa thu, với những mối tình dang dở, hai chàng cũng đồng thời gắn bó với nhau; khi cùng yêu một mầu áo, cùng yêu những cung đàn, hai chàng cũng đã cùng chung một mối tình.


"Mùa thu quyến rũ anh rồi"





Cuốn video tape ca nhạc ấy cũng chẳng có gì đặc biệt lắm, thế nhưng có một đoạn phim ngắn không tới một phút, giới thiệu một trong những tình khúc của ĐC-TL, cứ làm tôi nhớ mãi. Một người ngồi trong căn phòng mờ mờ tối, chậm chạp đứng dậy, chậm chạp bước những bước nặng nề về phía cửa, chậm chạp đặt nhẹ bàn tay lên nắm cửa. Cánh cửa từ từ mở ra, chút ánh sáng lùa vào. Một vòm trời, một chiếc lá rơi. Không gian ấy không rõ là buổi sáng hay buổi chiều. Người đàn ông đứng quay lưng, không nhìn rõ mặt. Người ấy là ông Đoàn Chuẩn. Bài hát được giới thiệu là "Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay".

Với bao tà áo xanh, đây mùa thu... Câu nhạc đầu như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu. Mùa thu của ĐC-TL.

Trước và sau ĐC-TL cũng đã có nhiều nhạc sĩ viết về mùa thu, và có nhiều ca khúc khá hay về mùa thu nữa, thế nhưng mùa thu trong nhạc ĐC-TL vẫn như có khí hậu riêng, không gian riêng, khiến người nghe nhận ra những khác biệt. Mùa thu ấy không chỉ thật đẹp, thật quyến rũ, mà còn là mùa thu của những chuyện tình "yêu một sớm, nhớ nhau bao mùa thu"...


Thực ra, đâu phải chỉ có mùa thu, trong nhạc ĐC-TL ta nghe cả bốn mùa. Qua những lời nhạc trữ tình, ta như nghe được những đổi của thời tiết, của khí hậu từng mùa. Những mùa màng của đất trời, hay mùa màng của tình yêu, hay mùa màng đời người. Thế nhưng nhiều nhất vẫn cứ là mùa thu. Hầu như không có bài nhạc nào của hai chàng nghệ sĩ lại không bàng bạc ít nhiều tình thu, ý thu, không phảng phất chút hương thu dịu nhẹ. Có khi là cụm mây lững lờ trôi về cuối trời, là cơn mưa làm rụng lá vàng, là cánh hoa tàn tạ trong đêm tối, hay nỗi tiếc nhớ những mùa thu không trở lại...




Có rất nhiều lá vàng trong mùa thu của ĐC-TL, và lá vàng rơi không làm sao đếm hết:

Lá vàng từng cánh rơi từng cánh... (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Mưa rơi làm rụng lá vàng... (Thu Quyến Rũ)

Thôi thế từ nay như lá vàng bay... (Lá Đổ Muôn Chiều)

Lá thu còn lại đôi ba cánh... (Lá Đổ Muôn Chiều)

Lá thu lìa cành nhớ hoa ngàn xưa... (Tình Nghệ Sĩ


Những chiếc lá lìa cành mà hai chàng gọi là "những cánh đời mong manh" hay là "nước mắt người đi". Trên những dòng nhạc ấy, chỉ thấy những hoa rơi, lá rơi, và những chuyện tình buồn vời vợi....


Mùa thu có đẹp nhưng sao cứ nghe man mác buồn! Thực ra đâu có riêng gì mùa thu, mùa nào trong nhạc ĐC-TL cũng có vẻ buồn cả. (Mùa xuân mà "lá vẫn bay...", vẫn "hoa mai rơi từng cánh trên đường..." thì cũng đâu có vui gì).

Nhưng tại sao lại là mùa thu? Có phải vì mọi chuyện khởi đầu từ mùa thu...

Ta quen nhau mùa thu, ta thương nhau mùa đông, ta yêu nhau mùa xuân... (Tà Áo Xanh)
Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương... (Lá Thư]


Và cũng kết thúc vào mùa thu...


Nhưng một sớm mùa thu, giữa chân trời xanh ngắt, nàng đi gót hài xanh... (Gửi Người Em Gái)

Để mùa thu lá vàng khóc tình ta... (Vàng Phai Mấy Lá}


Chuyện tình mùa thu để lại nhiều hối tiếc.

Thu nay vì đâu tiếc nhiều, thu nay vì đâu nhớ nhiều... (Thu Quyến Rũ)

Mùa thu ĐC-TL đẹp như bài thơ. Có khi chỉ trong một bài nhạc ("Cánh Hoa Duyên Kiếp" chẳng hạn) ta nhặt ra được những câu thơ viết về mùa thu thật là đẹp, tưởng như hai chàng nhạc sĩ bỗng nhiên nổi hứng, bỏ nhạc quay sang làm thơ vậy: yêu một sớm, nhớ nhau bao mùa thu..., tình em như mây trong mùa thu bay rợp lối..., hương thu màu tím buồn... (cũng tựa như "màu thời gian tím ngát" trong thơ Đoàn Phú Tứ vậy).


Mùa thu ĐC-TL đẹp như tranh vẽ. Có khi chỉ là những nét chấm phá:

Hàng cây đứng hững hờ, lá vàng từng cánh rơi từng cánh... (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Hoặc có khi là cảnh trí đầy mầu sắc, bầu trời trong xanh, bướm hoa và chim chóc:

Trời đất kia ngả mầu xanh lơ, đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa, bên những bông hồng đẹp xinh... (Thu Quyến Rũ)

Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay... (như sợ làm vỡ mùa thu)


Làm sao có thể vẽ được bức tranh sinh động ấy, làm sao có thể bắt được những rung động của thiên nhiên ấy nếu không có một trái tim thật là nhạy cảm. Người nghe tưởng nghe được cả tiếng thở nhẹ của mùa thu, tưởng thấy được cả không gian lắng đọng của đất trời vào thu, tưởng chạm tay vào được cả vạt áo dài lướt thướt của mùa thu, và như ngất ngây trong khoảnh khắc "dìu thế nhân dần vào chốn thiên thai" ấy...

Nàng thu của ĐC-TL mang vẻ đẹp tự nhiên, không trang hồng điểm phấn, không tô vẽ màu mè, như thể trời cho thế nào thì cứ bày ra như vậy. Nàng thu ĐC-TL mang vẻ đẹp đơn sơ, nhưng cũng thật mơ màng và tình tứ, quyến rũ và mời mọc, như muốn "dìu thế nhân dần vào chốn thiên thai" vậy.

Những chữ "thế nhân", "trần gian", "đường trần", "tình trần", hoặc "người đời", "nhạc đời"... vẫn hay được ĐC-TL đưa vào trong lời nhạc như thể hiện ước muốn kéo lại gần hơn những giấc mơ xa vời và hoang tưởng của con người. Mộng nữa cũng là không..., câu ấy hai chàng đâu phải chỉ nói với chính mình mà còn muốn nhắn nhủ "người đời". Nhà phê bình Đặng Tiến đã so sánh và đưa ra lời nhận định xác đáng: "ĐC-TL đã đưa Thiên Thai về đây với thu trần gian, trong khi Văn Cao phải lên tận cõi Đào Nguyên".





Tôi vẫn cho rằng "Thu Quyến Rũ" là một trong những bài hát hay nhất nói về mùa thu. Những nốt nhạc mềm mại rót xuống ở cuối câu "mùa thu quyến rũ anh rồi" nghe như chiếc lá vàng lìa cành nhẹ rơi trong không gian tĩnh lặng của mùa thu.

"Thu Quyến Rũ" phải được nghe bằng giọng nam chứ giọng nữ thì khó mà... quyến rũ, nhất là khi lời nhạc bị đổi thành "em mong chờ mùa thu" hoặc "mùa thu quyến rũ em rồi" thì không thấy... mùa thu ĐC-TL ở đâu cả! Cũng không hẳn là sai quấy, thế nhưng người nghe thấy kỳ kỳ, chỉ vì trước giờ người ta vẫn cứ nghe ĐC-TL là nghe "anh mong chờ mùa thu" hoặc "mùa thu quyến rũ anh rồi". Hơn thế nữa, "tà áo xanh nào về với giấc mơ" ở đây nhất định không phải là tà áo xanh của chàng về trong giấc mơ của nàng, vậy thì "mầu áo xanh là mầu em trót yêu" nghe cũng hơi... sường sượng. (Dù sao vẫn còn khá hơn là "khi nào anh đến với em, xin đừng quên chiếc áo xanh...").

Nghe nhạc ĐC-TL là nghe mùa thu kể chuyện tình, là nghe những lời tự tình ngọt ngào hay buồn bã của những người yêu nhau và xa nhau. Những chuyện tình như mang theo cả khí hậu của mùa thu ấy, và cũng tựa như mùa thu trong những nét nhạc ấy, đẹp và buồn.

Mùa thu trong nhạc ĐC-TL không có cái buồn ủ rũ, ảo não của mây hắt hiu ngừng trôi..., mưa giăng mù lê thê... như "Giọt Mưa Thu" của Đặng thế Phong, cũng không có cái buồn se sắt, rã rượi của năm tháng qua dần mùa thu chết bao lần... như "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao, và cũng không có cái buồn tái tê, sướt mướt của nước mắt mùa thu khóc cho cuộc tình... như "Nước Mắt Mùa Thu" hay mùa thu đã chết, đã chết rồi, em nhớ cho... như "Mùa Thu Chết" của Phạm Duy... Mùa thu ĐC-TL có buồn nhưng chỉ là cái buồn phảng phất, nhẹ nhàng như chìm lắng trong mơ, như được bao phủ trong màn sương lãng đãng, đượm chút thi vị ngọt ngào trong từng cánh lá thu màu vàng úa và trong hương thu màu tím buồn. Mùa thu ấy có vẻ gần với cái buồn mênh mang trong "Thu Vàng" của Cung Tiến hay "Tiếng Thu" của Lưu trọng Lư hơn.

Mùa thu ĐC-TL mang vẻ "cổ điển", nhưng là cái vẻ cổ điển muôn đời muôn thuở của thiên nhiên, của đất trời, của hàng cây khô trụi lá, của cụm mây thu lờ lững, của bóng trăng thu mơ màng..., tất cả đều nhuốm một vẻ buồn man mác khi mùa thu buông áo xuống phương này.

Mùa thu ĐC-TL là mùa "thu trần gian", là thu của bốn mùa, là thu của những chuyện tình, và chắc chắn không giống, không phải là "một mùa thu năm xưa..." như những chuyển hướng sáng tác của không ít những nhạc sĩ ở cùng thời để cố gắng bắt kịp những đổi thay hay đáp ứng những yêu cầu tình thế. Tất cả những thứ đó không vào được trong mùa thu, trong dòng nhạc của ĐC-TL.

Mặc cho những biến động, những xoay vần của thời cuộc, mặc cho bao nhiêu là vật đổi sao dời, bao nhiêu là tang thương dâu bể, đất trời vẫn cứ bốn mùa, mùa thu của ĐC-TL vẫn cứ ở lại, và cũng chính vì thế, cũng chính điều này đã khiến mọi người yêu thêm những dòng nhạc, yêu thêm những mùa thu đoàn chuẩn-từ linh.



[cont...]


Hạ Vi
#18 Posted : Sunday, March 27, 2011 8:20:00 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
Đoàn Chuẩn - Từ Linh

một mùa thu nào lãng mạn


(tiếp theo)

"Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu"

Nếu gọi Hoàng Trọng là "nhạc sĩ của mầu tím", thì chắc chắn danh hiệu "nhạc sĩ của... mầu xanh" phải thuộc về tay ĐC-TL chứ không thể là ai khác. Có lẽ cái tên ấy nghe không được hay lắm nên chưa thấy có ai gọi như vậy, nhưng dù sao vẫn cứ đúng hơn là ghép tên hai chàng nghệ sĩ này với mùa thu, vì không có mùa thu này ta còn mùa thu khác, không có ĐC-TL ta vẫn có những nhạc sĩ khác viết về mùa thu, chứ còn mầu xanh thì hầu như trước sau chỉ có hai chàng là tỏ ra nâng niu và gắn bó thiết tha hơn cả...





Thực ra, không hẳn là hai chàng chỉ sử dụng có một màu xanh đó thôi để vẽ nên những nét nhạc, những mầu sắc khác, mầu tím chẳng hạn, vẫn có đấy chứ. Nhưng trên hết và nhiều nhất, vẫn là mầu áo xanh.


Hầu như ĐC-TL không bỏ lỡ dịp nào để đưa mầu áo xanh mà hai chàng "trót yêu" vào trong những lời nhạc của mình. Khi cần tô đậm thêm cho mầu xanh ấy thì hai chàng gọi là mầu xanh "ái ân":


Hẹn một ngày nao khi màu xanh lên tà áo... (Cánh Hoa Duyên Kiếp)


Giữa chân trời xanh ngắt, nàng đi gót hài xanh... (Gửi Người Em Nhỏ)


(Phải là gót hài xanh chứ không chịu màu gì khác!)


Với bao tà áo xanh, đây mùa thu... (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

(Khác với "ngàn thu áo tím" của Hoàng Trọng)


Gửi thêm ánh trăng mầu xanh lá thư..., rồi lại

Gửi thêm lá thư mầu xanh ái ân... (Lá Thư)


(Chỉ gửi đi toàn một mầu xanh)

Tà áo xanh nào về với giấc mơ... (Thu Quyến Rũ)

("Giấc mơ xanh", có thể gọi vậy)

Có mầu nào không phai, như mầu xanh ái ân... (Tà Áo Xanh)


(Chẳng biết đúng, sai. Nói vậy chắc phải vậy!)

Có rất nhiều, rất nhiều màu xanh như thế trong nhạc ĐC-TL.


Thử nghe lại "Tà Áo Xanh" (có tên khác là "Dang Dở"), bài hát tiêu biểu trong số những bài tiêu biểu. Gọi là "tiêu biểu" vì được nhiều người hát nhiều người nghe, vì cái tực của bài hát, và vì cả bài hát ấy là câu chuyện tình được kể lại một cách trọn vẹn nhất.



Tôi vẫn cho rằng câu mở đầu của bài nhạc luôn luôn là một trong những câu hay nhất, dẫn đưa người nghe vào thế giới âm nhạc ĐC-TL, như lạc vào cánh rừng thu ngập xác lá vàng. Ở "Tà Áo Xanh", khởi đầu là gió. Gió từ muôn hướng. Một mảnh hồn đầy gió. Gió bay từ muôn phía, tới đây ngập hồn anh... Gió ấy chắc phải lạnh nhiều, từ "lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn..." Gió mang lời dẫn nhập câu chuyện tình kể lại, gió cũng đưa tình lên chơi vơi, đưa thuyền anh một lá ra khơi... Hình ảnh con thuyền và cánh chim có vẻ được ĐC-TL đặc biệt ưa chuộng, dùng đi dùng lại nhiều lần. Khi thì "thuyền cắm tay sào tự cuối thu", lúc thì "thuyền tình không bến đỗ người ơi", hoặc là "thuyền đã sang bờ, đường về không lối", có khi lại tự ví von "tình anh một con thuyền bé chìm sâu đại dương một đêm nổi sóng". Lại có cả một bài hát nói về con thuyền nữa. Thuyền anh mai ra đi rời bến... (Chuyển Bến). Có bài chở theo một lúc đến mấy con thuyền làm người nghe cứ lẫn lộn, không rõ thuyền nào là chàng thuyền nào là nàng, như lúc thì "thuyền phiêu lãng từ nay không bến đỗ", khi thì lại "thuyền rời xa bến vắng người ơi" (Lá Đổ Muôn Chiều). Có rất nhiều thuyền bè lờ lững, nổi trôi trên dòng nhạc ĐC-TL.

Đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai... Phải yêu say đắm lắm, thiết tha lắm mới trải qua bao đêm thức trắng để chỉ ngồi chờ sáng và mơ tưởng đến một bóng hình, dẫu biết rằng "người mơ không đến bao giờ".


Ta yêu nhau mùa xuân, để rồi tàn theo mùa xuân... Có là bốn mùa yêu nhau, hay những mùa màng trong tình yêu chỉ có tính ước lệ. Người về lặng lẽ sao đành... là lời trách cứ hay tiếng thở dài.


Anh còn nhớ..., em còn nhớ anh nói rằng... Đâu phải chỉ là những câu thề thốt chót lưỡi đầu môi hay những lời tình tự ngọt ngào của một mùa ái ân, mà còn là nỗi niềm trăn trở vì những câu hỏi "tại sao" không có lời giải đáp. Sao mùa xuân lá vẫn rơi, sao mùa xuân đến không vui?... Có hoa nào không tàn, có tình nào không phai?...


Khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh... Làm sao mà quên được, mà khước từ cho được lời dặn dò ân cần mà thiết tha đến vậy. Làm sao mà dám chắc có tình nào không phai như tình anh với em.

Rồi chiều nao, xác pháo bên thềm tản mác bay... Câu nhạc chuyển đoạn ở chỗ này thật khéo, thật đẹp. (Các nhạc sĩ thời ấy vẫn hay sử dụng những câu nhạc chuyển tiếp như vậy. Anh Việt trong "Thơ Ngây" chẳng hạn: "Rồi một hôm, có chàng trai trẻ đến nơi này..." Hoặc, cũng ĐC-TL trong "Gửi Người Em Gái": "Rồi từ ngày ấy, nước sông ngăn cách đôi dòng..."). Như cuốn tự truyện vừa lật sang một chương khác, như cuốn phim, vở kịch vừa chuyển sang một cảnh khác, màn khác, mở ra khung cảnh mới, không gian mới, dẫn đến kết thúc câu chuyện tình dở dang. Tôi yêu chữ "tản mác" trong câu ấy, tưởng trông thấy được xác pháo đỏ tươi, vật vờ, nhẹ cuốn theo làn gió đùa. Chuyện tình ấy, xác pháo ấy rồi "cuốn theo chiều gió". Hai người đã hai lối đi.


Em đi trong xác pháo, anh đi không ngước mắt... Hình ảnh anh chàng thất tình, cúi mặt cúi đầu lầm lũi đi trong ngày đám cưới người yêu mới tội nghiệp làm sao, mới thương tâm biết chừng nào. Chỉ là xác pháo, chỉ là những bước đi câm lặng, không nói gì đến tình cảm vui, buồn, nhưng vẫn làm gợn lên nỗi xúc động, vẫn khiến người nghe phải mủi lòng. (Hình ảnh "em đi trong xác pháo" còn được nhiều nhạc sĩ lập lại về sau này). Thôi đành... em, câu hát như bị tắc nghẹn, như muốn nói điều gì đó nhưng lại thôi, và đổi thành tiếng thở dài thật nhẹ.

Hoa tàn tình tan theo không gian... Vẫn cứ chậm rãi, nhưng những nốt nhạc được đẩy nhẹ từ thấp lên cao, và người hát cũng đẩy giọng cao hơn sau chỗ xuống giọng và ngưng nghỉ ở câu trước. Tôi yêu nét bay bổng ở những nốt do cao trong câu nhạc cuối. Những nốt ngân thảng thốt, rời rạc, và tan loãng trong không, nghe như những mảnh tình tan tác "cũng theo hư không mà đi". Những nốt nhạc cuối cùng ấy phải được nhấn sâu và rõ trên từng phím đàn. Một trong những câu hát đẹp nhất và đoàn chuẩn-từ linh nhất.

Câu chuyện tình kể lại khá đầy đủ, trọn vẹn, kết thúc bằng một đám cưới mùa xuân, có hoa mai rơi từng cánh, có xác pháo bên thềm, có em đi trong xác pháo, có anh đi không ngước mắt, có tiếng thở dài "thôi đành... em"..., nghĩa là có nhiều "kịch tính", nhiều hình ảnh sắc nét đan chéo vào nhau, như bày ra trước mắt, như rọi thẳng vào tim người nghe, dễ tạo những cảm xúc.

Tại sao lại tà áo xanh? Tà áo xanh nào về với giấc mơ... Tà áo xanh chỉ có trong giấc mơ thôi sao? Tại sao lại là mầu xanh ái ân? Gửi thêm lá thư mầu xanh ái ân... Sao không phải là màu xanh thắm, xanh ngắt hay xanh biếc...? Mầu xanh ái ân ấy biết có là thực hay mơ? Và mối tình nghệ sĩ nữa, cũng chỉ như giấc mơ thôi sao?


"Tà Áo Xanh", cũng như các bài nhạc khác của ĐC-TL, thường có chung một nhịp điệu chậm và buồn, thích hợp với những lời kể lể, tình tự. Hầu hết các bài nhạc được viết ở nhịp 4/4 trên những cung bậc và giai điệu thật mềm mại, bằng những nốt nhạc rót xuống thật dịu dàng như vuốt ve mơn trớn, như lời thầm thì rót mật vào tai, thật nhẹ nhàng như lời gió rì rào, thật chậm rãi như "lá vàng từng cánh rơi từng cánh" và thật thong thả như bước chân lững thững dạo trên những lối đi mùa thu.

Ý nhạc diễn tả theo tình cảm của lời, đôi lúc ngẫu hứng, bất chấp những quy luật sáng tác. Luật cân phương, cân đối ư? Làm sao có ở những "Tà Áo Xanh", "Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay"... Cũng đâu có sao, trước và sau đấy vẫn có những người soạn nhạc theo lối đó. Đã gọi là nghệ sĩ mà! (Đâu phải riêng gì ĐC-TL, nhiều nhạc sĩ khác ở cùng thời cũng có vẻ không mấy thích những khuôn khổ và luật lệ lỉnh kỉnh trong sáng tác âm nhạc). Vấn đề là nhạc, là thơ có chuyên chở được những cảm xúc, có làm người nghe phải lắng nghe, có làm rung lên những sợi dây đàn âm thanh trong mỗi trái tim người nghe.

Đâu phải chỉ có ở "Tà Áo Xanh" không thôi, mầu áo xanh còn ẩn hiện chập chờn chỗ này chỗ khác. "Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay" chẳng hạn, với bao tà áo xanh đây mùa thu... "Thu Quyến Rũ" chẳng hạn, mầu áo xanh là mầu anh trót yêu... Sao lại "trót", trót yêu nghĩa là sao? "Trót" như một định mệnh, không làm sao tháo gỡ, không cách chi cởi bỏ được. Định mệnh nào đã buộc chặt người viết câu hát ấy với mầu xanh kia? Mùa thu quyến rũ hay mầu áo xanh quyến rũ? Trót yêu mầu xanh, hay trót yêu mùa thu..., hay trót yêu "người mơ"? Nhưng sao "người mơ" lại "không đến bao giờ"? Như vậy thì tình yêu đưa vào trong bài hát ấy rồi sau cùng chỉ còn lại có một mầu xanh ái ân đó thôi. Như vậy thì tất cả những lời thơ ý nhạc trong những tình khúc ĐC-TL cuối cùng chỉ nằm gọn lại trong câu hát "có mầu nào không phai, như mầu xanh ái ân".





Tìm đẹp trong nét bút Đoàn Chuẩn-Từ Linh


Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi...



Khi đặt bút viết câu hát "... đập gương xưa tìm bóng" (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay), tôi đoán chừng hai chàng ĐC-TL đã có ý mượn ý thơ trên của ông vua Tự Đức (lòng tưởng tiếc, nỗi nhớ quay quắt người ái phi đã lìa trần) để bày tỏ nỗi nhớ nhung da diết về một bóng hình đã xa khuất. "Đập gương xưa tìm bóng", chứ không nói "nhớ em trong tận cùng nỗi nhớ" hoặc "lòng cuồng điên vì nhớ..." (Hoài Cảm, Cung Tiến) như là những người viết sau này.


Ta còn thấy rải rác những câu hát viết theo lối ấy, như "nước sông ngăn cách đôi dòng", "thuyền đã sang bờ", "thuyền cắm tay sào tự cuối thu", "gửi bướm đa tình về hoa", "chim rồi bay, anh rồi đi"... chẳng hạn.

Đêm đêm nhìn cây trút lá, lòng thấy rộn ràng ngỡ bóng ai về... Câu hát ấy nghe ra cũng từa tựa "giọt sương khuya rụng xuống lá, như chân ai lần về..." (Nguyệt Ca, Trịnh công Sơn), chỉ có khác chút đỉnh là "Thu Quyến Rũ" được viết ra tính đến nay cũng đã trên năm mươi năm chứ không phải mới bây giờ. Thử làm một sự so sánh nho nhỏ để thấy rằng người đời sau thật không dễ gì qua mặt được những người đi trước, và có những cái tưởng như mới thực ra lại chẳng mới chút nào.

Đôi lúc tôi tự hỏi làm sao mà ngày ấy người ta lại viết được những câu hát như là "nhớ nhau từ làn môi, đôi mắt", rồi lại "nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát" (Lá Đổ Muôn Chiều), hay là "nhớ nhau đành tìm trong ánh sao" (Lá Thư), và nhất là "nhớ nhau từng phút, yêu từng giây..." (Đường Về Miền Bắc)...

Không chỉ là những câu, mà cả đến những chữ dùng trong câu cũng làm người nghe thú vị, như là chữ "ngập ngừng" (như đã nói ở phần trên): Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay... (Thu Quyến Rũ)

Ngập ngừng như sợ cái đập cánh sẽ làm hỏng mất khoảng không gian lắng đọng tuyệt vời của mùa thu, làm hỏng mất bức tranh thu tuyệt diệu ấy.


Nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng: chờ đến kiếp nào... (Lá Thư)

Những phút ngập ngừng ấy là những phút xao động của tình yêu.

Hay là chữ "hững hờ" chẳng hạn:

Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ... (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Tại sao lại "đứng hững hờ"? Nghe có vẻ... hờ hững quá, dửng dưng quá. Hàng cây đứng hững hờ hay mùa thu đó hững hờ? Cái "hững hờ" ấy, những nốt nhạc xuống giọng lửng lơ ấy nghe mới có vẻ mùa thu làm sao.

hững "ái ân" và "ân ái" có thấy rải rác đâu đó trong thơ và nhạc thuở trước, chẳng hạn "ta sẽ là vợ chồng, sẽ yêu nhau mãi mãi, sẽ xe sợi chỉ hồng, sẽ hát câu ân ái..." (Hôn Nhau Lần Cuối, Nguyễn Bính), hoặc "trời hết một mùa đông, gió bên thềm thổi mãi, qua rồi mùa ân ái..." (Một Mùa Đông, Lưu trọng Lư), hoặc "một chiều ái ân, say hồn ta bao lần..." (Bóng Chiều Xưa, Dương thiệu Tước); thế nhưng, quả tình là chưa có nơi đâu "ân ái" lại được mùa cho bằng ở những câu nhạc tình ĐC-TL:

Gửi thêm lá thư mầu xanh ái ân về đôi mắt như hồ thu... (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Có mầu nào không phai như mầu xanh ái ân... (Tà Áo Xanh)

Bóng anh phai dần ái ân tàn theo... (Tình Nghệ Sĩ).

Anh quay về đây đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa... (Lá Thư)

Ái ân theo tháng năm tàn, ái ân theo tháng năm vàng... (Lá Thư)

Còn đâu ân ái chăng người xưa... (Lá Thư)



Tôi không rõ là những "ái ân, ân ái" nở rộ trong những dòng thơ dòng nhạc đó có khác gì nhiều lắm những câu, chữ ấy hiểu theo nghĩa bây giờ, nhưng chắc là phải tình tứ hơn, thơ mộng hơn. Những "câu ân ái" chắc phải hiểu là những lời tình tự êm ái ngọt ngào nhất, những "chiều ái ân" từng làm "say hồn ta bao lần" chắc phải hiểu là những thờ? khắc yêu đương đắm say, nồng nàn nhất...

Tương tự, chữ "lả lơi" trong những câu hát dưới đây chắc không có nghĩa "xem trong âu yếm có chiều lả lơi" như cụ Nguyễn Du tả cảnh Kim Trọng lả lơi với Thúy Kiều, mà vừa có vẻ "lả lướt, bay bướm", lại vừa chan chứa những tình ý yêu đương:


Nét bút đa tình lả lơi... (Lá Thư)

Nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi... (Tình Nghệ Sĩ)

Khăn san bay lả lơi trên vai ai ...(Gửi Người Em Gái)


Đã "lả lơi" lại còn "đa tình" nữa thì chịu gì nổi hai chàng nghệ sĩ... đa tình ấy:

Nét bút đa tình lả lơi... (Lá Thư)

Gửi bướm đa tình về hoa... (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)

Anh mơ trong nét bút đa tình sao... (Tà Áo Xanh)


Đến những câu như là "nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát, đời vắng em rồi vui với ai..." (Lá Đổ Muôn Chiều) lại nghe sao mà thiết tha quá chừng!



(còn tiếp)


thunder
#19 Posted : Sunday, March 27, 2011 3:54:01 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


CHIỀU NAY KHÔNG CÓ EM

Sáng tác : Ngô Thụy Miên
Trình bày : Sĩ Phú

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Z4xAuyQqXw

Chiều nay mình lang thang trên phố dài
Không có em ai chung bước dỗi nhau giận hờn
Không có em đường xưa giăng mắt mây trôi
Chiều nào hai đứa chung đôi
Lặng nhìn mùa thu lá rơị

Dù mai tình lên khơi như sóng gào
Không có em cho phố vắng dấu chân hẹn hò
Không có em mùa thu thôi lá vương bay
Mùa đông buốt giá qua đây
Vòng tay ấy ôi sao lẻ loị

Đ.K.:

Không có em đời mình, sao vắng vui cuộc tình,
như lá khô mộng mơ cơn mê chiềụ
Không có em đôi mắt buồn nào đợi chờ,
Xin cho nhau lời vỗ về,
sao đành quên đi ngày tháng đó.
Không có em một mình, ta với ta ngày dài,
thôi chóng qua tuổi hoang trôi vai gầỵ
Như ước mơ xin nhớ lần mình hẹn hò,
xin cho nhau 1 lời rồi,
xin tình yêu hãy lên ngôị

Rồi mai mình em thôi trên phố người
Sao mắt nhung không nuối tiếc khát khao đợi chờ
Không có em còn ai thương lá thu bay
Còn ai vương vấn cơn say
Đời gian dối cô đơn mình tạ
thunder
#17 Posted : Sunday, March 27, 2011 4:04:56 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)



30 Lời Tâm Sự - Ngô Thụy Miên


Trong nền tân nhạc Việt nam, đặc biệt là tình ca, dòng nhạc Ngô Thụy Miên là một nét đẹp đài cát, mang một phong cách rất riêng. Người ta thường cho rằng không có gì trong cuộc đời là vĩnh cữu. Nhưng Ngô Thụy Miên đã đóng góp cho âm nhạc Việt nam những bản tình ca mà tôi tin rằng sẽ bất tử.
Tôi đã hân hạnh được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho phép làm một bài phỏng vấn sau đây. Hy vọng rằng qua bài phỏng vấn này, chúng ta sẽ cảm thấy gần gũi hơn với tác giả của những bài tình ca tuyệt vời.

Hoàng Vi Kha

1. Trong các chủ đề sáng tác, thông thường là: Tình Yêu (đôi lứa), Thân Phận, và Quê Hương, phần lớn các nhạc sĩ đều viết cho cả ba chủ đề này, riêng chú, tất cả cho tình yêu (đôi lứa), vì hễ nói đến nhạc của chú, là nghĩ ngay đến “tình ca”, vậy chú có thể cho biết tại sao chú lại chỉ chọn một chủ đề mà thôi?

Từ bao nhiêu năm nay tôi chỉ viết tình ca vì thấy thích hợp với con người, với cá tính của mình, và cũng vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thưở cho người nghệ sĩ sáng tác. Các chủ đề Tình Yêu, Thân Phận, và Quê Hương đã được khai triển rộng rãi trong nhiều thập niên vừa qua với bao nhiêu tác giả và tác phẩm. Được biết đến như một người viết tình ca (đôi lứa) cũng đã là quá đủ cho tôi rồi.

2. Chú viết rất nhiều cho tình yêu. Vậy theo chú, định nghĩa của chú về tình yêu ra sao?

Cho, Chấp Nhận, và Tha Thứ.
Cho người, Chấp Nhận tình, và Tha Thứ cho mình, như một lần tôi đã nói: Tình ơi! Dù sao đi nữa xin vẫn yêu em.

3. Trải theo thời gian, cái nhìn (hay quan niệm) về tình yêu của một người sẽ có ít nhiều thay đổi, vậy ở chú thì sao? Có hay không sự đổi thay quan niệm về tình yêu từ những tình khúc đầu tay của chú và những tình khúc mới nhất? Sự thay đổi (nếu có) là nguyên do nào và thay đổi ra sao?

Dĩ nhiên, tình yêu cũng như đời sống, đều luôn biến đổi theo thời gian, và không gian. Lấy 1975 làm dấu mốc quan trọng trong tình ca Ngô Thụy Miên. Trước Em Còn Nhớ Mùa Xuân là một thời của tuổi trẻ, mộng mơ, lãng mạn. Sau Em Còn Nhớ Mùa Xuân là hạnh phúc, khổ đau, là những mất mát, hiện thực của đời sống. Ở tuổi 20, tình yêu nồng nàn, say đắm, miệt mài… và khi cuộc tình đã chết thì là nỗi buồn đau, xót xa nhẹ nhàng của Bản Tình Cuối, là tiếc nuối chất ngất của Niệm Khúc Cuối. Tuổi 30, tình yêu thổi qua đời như cơn gió lạ đầu mùa, là bát ngát mộng mơ, rồi bỗng thành chia lìa, tan tác. Đó là thời kỳ của Em Còn Nhớ Mùa Xuân, của Dốc Mơ. Còn ở tuổi 40, tình sâu lắng cùng những tiếc nhớ khôn nguôi của một thời đã qua với Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng, Riêng Một Góc Trời. Tuổi 50, nhìn lại mình, những sợi tóc xanh xưa đã bỏ đi như những kỷ niệm cũ, nhưng trái tim hồng ngày nào vẫn rung động cùng Mưa Trên Cuộc Tình Tôi, Nỗi Đau Muộn Màng...

4. Tình yêu đi liền với tính lãng mạn. Trong giòng nhạc của chú, bàng bạc vẻ trữ tình, lãng mạn. Nhưng tính lãng mạn của Ngô Thụy Miên khác với những nghệ sĩ khác. Chú có thể nào nói về sự lãng mạn đó?

Tính lãng mạn trong giòng nhạc Ngô Thụy Miên? Có thể nói từ những ngày còn trẻ, tôi đã nghe và yêu thích những giòng nhạc tình tự, trong sáng của các tác giả thời tiền chiến, và cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của nhạc cổ điển tây phương, nhất là nhạc classique của thế kỷ 19, mà tôi đã theo học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trong thập niên 60. Cho nên có lẽ vì thế mà sự lãng mạn trong giòng nhạc NTM có một chút trang nghiêm cổ kính, và pha một chút “thơ” của những Lamartine, Chopin, George Sand… cùng Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn…

5. Thông thường, ở tuổi mới lớn, đó là tuổi của hoa mộng, ngọt ngào men say của những rung động trinh nguyên, ban đầu và vì vậy, đó cũng là tuổi mà đưa đến sự xuất hiện của hầu hết những văn sĩ, thi sĩ, hay nhạc sĩ. Với chú điều này đúng không? Và tại sao chú lại chọn âm nhạc mà không chọn thơ, hay văn?

Đúng đấy chứ, tôi hoàn tất tình khúc đầu tiên Chiều Nay Không Có Em năm 17 tuổi. Tuổi trẻ tôi cũng viết văn, làm thơ…nhưng chỉ được biết đến trong giới bạn bè thân cận. Còn âm nhạc, thì nhờ được học hành trường lớp đàng hoàng về nhạc lý, nhạc sử, hòa âm, vĩ cầm…và còn chơi đàn trong ban nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng, nên phương tiện sáng tác, cũng như phổ biến có phần dễ dàng hơn.

6. Khi viết một tình ca, thông thường cảm xúc dẫn dắt chú đến điều nào trước: giai điệu hay ngôn ngữ (ca từ)?

Tiết tấu và ca từ, cả 2 điều này đều rất quan trọng trong việc sáng tác một tình khúc. Như VK đã nói, tôi thường để cảm xúc tự nhiên dẫn dắt trong việc sáng tác, không gò bó theo một khuôn khổ, qui luật nhất định nào. Tuy nhiên nhìn lại quá trình sáng tác thì có thể thấy ngoài những ca khúc phổ thơ, và 4 bài tôi đã hoàn tất giai điệu trước (Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ, Miên Khúc), phần còn lại là kết hợp của cả hai, ý nhạc và lời ca.

7. Hầu hết các tình ca đầu tay của chú đều được diễn đạt qua thể điệu chậm, thướt tha của Boston, chú có chủ đích chọn thể điệu này như một hướng sáng tác riêng? (cũng như hễ nói đến thơ lục bát thì nghĩ ngay đến Nguyễn Du hoặc thơ năm chữ thì Nguyễn Tất Nhiên, hoặc thể điệu Bolero thì nhạc Lam Phương)

Giản dị thôi, như đã nói tiết tấu và ca từ của một tình khúc đều rất quan trọng, tôi vẫn quan niệm là khi nghe một bài tình ca, nếu ta yêu được ý nhạc thì hạnh phúc một, mà nếu thấu được lời ca nữa thì hạnh phúc gấp đôi. Do đó rất nhiều sáng tác của tôi đã được viết theo thể điệu chậm của Boston để ca sĩ có thể trình bầy, diễn tả hết được cái nồng nàn, tha thiết của lời ca ý nhạc. Tôi nghĩ rằng khi bản nhạc được làm mới thêm với phần hòa âm viết lại từ những thể điệu chậm thành Tango, Samba, ChaChaCha… đều đã làm mất đi cái đẹp nguyên thủy của nó.

8. Nghe những tình khúc của chú, có thể nói, đối tượng thính giả là những người ở thành thị hơn là ở nông thôn. Hơn thế, không chỉ âm hưởng mà ngay cả ngôn ngữ của những tình ca của chú cũng đòi hỏi người nghe ở một trình độ cảm nhận (hoặc kinh nghiệm sống) nào đó chứ không là quảng đại, bình dân. Chú nghĩ sao về nhận xét này? Phải chăng nhạc của chú cần có đối tượng thích hợp?

Thật ra những sáng tác của tôi viết ra không hẳn cho một đối tượng thính giả nào, mà chỉ dành cho những người có thể chia sẻ những tình cảm, tâm tư riêng với mình mà thôi. Nhưng có lẽ đây là một sự tình cờ của định mệnh. Tôi sinh trưởng tại 2 thành phố lớn Hải Phòng, và Sài Gòn. Chịu ảnh hưởng của nền âm nhạc, cũng như sách báo, phim ảnh tây phương. Đọc nhiều thơ văn viết về Sài Gòn, Hà Nội, Paris…Chỉ một dịp duy nhất được bước chân về miền quê yêu dấu của mình trong lần đi vượt biên dưới Cà Mâu! Cho nên dù muốn cũng không thể dối mình để viết những bài tình ca Quê Hương. May mắn là trong bao năm qua, đã có nhiều nhạc sĩ để lại cho chúng ta những ca khúc với chủ đề Quê Hương thật tuyệt vời.

9. Khi mang tình yêu vào âm nhạc, đơn thuần chỉ là bày tỏ cảm xúc của chính mình hay chú còn nhắn gởi thông điệp nào khác về tình yêu?

Ở cái tuổi bắt đầu sáng tác, cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ là tất cả những hận thù, đố kỵ, bon chen, lừa lọc đều sẽ qua đi, chỉ còn tình yêu là sẽ ở lại mãi với chúng ta. Tình yêu giữa người và người, giữa người và cuộc sống, cũng như thiên nhiên. Đối với tôi âm nhạc cũng chính là tình yêu. Xin hãy để âm nhạc ngự trị trên khắp quả địa cầu khô khan, nơi chúng ta đang tạm trú đây.

10. Tình yêu có lúc làm cho trái tim con người đi qua, hoặc cưu mang khổ hạnh. Trong tình ca của chú nỗi khổ hạnh của tình yêu được chú trình bày có nét riêng biệt – không sến – không quy lụy. Xin chú cho biết thêm về điều này?

Tình yêu đối với tôi dù sung sướng hay khổ đau cũng là một điều rất thiêng liêng. Yêu không có nghĩa là phải chiếm hữu cho riêng mình, yêu là cho tận cùng, là chấp nhận hết những buồn vui, khổ hận để mang lại hạnh phúc cho người yêu. Yêu cũng là tha thứ cho những vấp ngã của người và của chính mình. Đó chính là cái nét riêng biệt của tình ca NTM.

11. Có phải chăng càng đau khổ, càng ma sát với đời, người sáng tác càng có nhiều tác phẩm hơn và tác phẩm càng sâu sắc hơn? Hay nói cách khác, khi trọn vẹn hạnh phúc, dường như sáng tác ít đi ? Chú có bị trường hợp này không? Chú nghĩ gì về điều này từ kinh nghiệm sáng tác của chính chú?

Có lẽ đây là một nhận định, một quan điểm chung của mọi người, là càng đau khổ, càng hận sầu thì viết văn, làm thơ, họa tranh, hay sáng tác nhạc càng hay hơn? Người nghệ sĩ càng sống bệ rạc, phóng túng thì sáng tác càng sâu sắc hơn? Tôi nghĩ không hẳn là như vậy. Bằng chứng là vào thế kỷ 19, nhạc sĩ Mendelssohn là một người sung sướng từ đầu đến cuối, không bị một đau khổ nào trong cuộc sống, ngoại trừ lúc ông ra đi vào cái tuổi rất trẻ, nhưng ông đã viết, đã để lại rất nhiều tác phẩm bất hủ cho đời.

Riêng tôi có lẽ được may mắn sinh trưởng trong một gia đình tương đối ổn định về cả 2 mặt vật chất cũng như tinh thần, nên những sáng tác của tôi từ trước cho đến nay vẫn là một đời nhạc NTM, chỉ có khác biệt là những tình khúc viết trước 75 là của tuổi trẻ mộng mơ, tươi mát, tràn đầy hy vọng, còn sau 75 thì mang nỗi khổ đau, xót xa, mất mát của cuộc sống tạm dung nơi đây. Những đau khổ, mất mát này đã xẩy ra hàng ngày quanh tôi từ những kinh nghiệm sống của chính mình, của bạn bè, gia đình và những người thân của một thời.

12. Khi tạo ra một tác phẩm, thường so sánh như một đứa con tinh thần vừa chào đời, chú có mong muốn gì ở nó và mong muốn gì từ những người chung quanh?

Nói chung, những người làm công việc sáng tạo, khi cho ra đời một đứa con tinh thần thì điều đầu tiên là họ mong muốn tác phẩm của mình được phổ biến rộng rãi, và được người thưởng ngoạn yêu thích (dĩ nhiên điều này không đúng với những người chỉ viết cho riêng mình). Với những người sáng tác có tinh thần trách nhiệm thì ngoài điều mong muốn trên, còn hy vọng là tác phẩm của mình đã nói lên được những điều mình muốn nói.

13. Có thể nói rằng tất cả các sáng tác của chú đều rất giá trị vì không phải chỉ qua ngôn ngữ, âm điệu mà còn vì chú viết từ rung động chân thật (điều này người nghe có thể cảm nhận được). Chú không chạy theo thị hiếu và thời đại. Vậy chú có nghĩ sẽ gặp khó khăn từ phía thính giả trẻ không? Chú nghĩ thế nào về việc sáng tác cần hoặc nên thích hợp với thời đại khác nhau?

Cám ơn VK. Một lần nào đó tôi cũng đã có nói là “Tôi không viết nhạc để sống, mà sống để viết nhạc”. Tôi yêu âm nhạc từ bao nhiêu năm nay, và vẫn tiếp tục sáng tác cho mình, cho bạn bè, cho người thân, và cho tất cả những ai đã có thể chia sẻ những tâm tình của tôi thể hiện qua tình ca NTM.

Tôi không có nhu cầu chạy theo thị hiếu của thời đại. Giòng nhạc thính phòng nói chung, giòng nhạc NTM nói riêng, hiện nay vẫn được rất nhiều bạn trẻ chú ý, theo dõi và ủng hộ. Qua những lần tham dự các chương trình nhạc chủ đề tại nhiều nơi, tôi đã có dịp gặp gỡ những người trẻ này, và tôi vẫn nhận được khá nhiều email của các bạn trẻ yêu nhạc khắp nơi từ những làng xóm, thành phố ở Việt Nam, cho đến những tỉnh thành khắp nơi trên thế giới. Email từ các em, các cháu sinh ra, và lớn lên tại hải ngoại thì cũng có, nhưng không nhiều lắm. Tôi vẫn nghĩ nền tân nhạc Việt Nam dù mới có mặt trên dưới 70 năm, nhưng đã trải qua rất nhiều giai đoạn, thời kỳ, mà mỗi một giai đoạn, thời kỳ, chúng ta đều có những giòng nhạc đáp ứng được những bước đi thăng trầm của lịch sử quê hương dân tộc. Hiện nay ở hải ngoại, dù vẫn có nhiều người sáng tác, nhưng nếu muốn tiếp tục duy trì nền tân nhạc (đây chỉ nói đến nhạc phổ thông) các tác giả phải viết nhiều hơn nữa những ca khúc nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn của lớp trẻ ngày hôm nay. Tuy cần những tiết điệu mới, nhưng vẫn phải không mất đi cái đặc thù của nhạc Việt chúng ta.

14. Những ca khúc sau này của chú (từ thập niên 80 trở đi) giòng giai điệu thay đổi hẳn so với thập niên 70. Thưa chú, nhận xét này có đúng không? Và nếu đúng thì có nguyên do nào không? Không những vậy, nét trau chuốc trong ngôn ngữ cũng thay đổi. Chú nghĩ sao?

Tôi vẫn nghĩ thời gian ở quê hương (trước 75) với những thân yêu quanh mình, với những lụa là, mưa nắng Sàigòn, những quán hàng, con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều…đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở đây, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn…Những thành phố, nhà cửa thật huy hoàng, thật to lớn, nhưng cũng thật lạnh lẽo, cô đơn. Ngày tháng bên này đã để lại trong tôi những nét nhạc muộn phiền, ghi lại những lời ca mệt mỏi, buồn bã của cuộc sống tạm dung, của một phần đời tỵ nạn.

15. Chú có những ca khúc viết cho Sài Gòn (Hát Cho Người Ra Đi, Nắng Paris – Nắng Sài Gòn, Sài Gòn Còn Đó Nỗi Buồn, Thu Sài Gòn) Qua những lời chú viết cho thấy nỗi gắn bó giữa chú và Sài gòn rất tha thiết. Xin chú có thể cho biết cảm xúc của chú khi rời Sài Gòn và khi viết những bài nhạc trên.

Tôi sinh ra ở Hải Phòng miền Bắc Việt Nam, nhưng đã lớn lên tại Sàigòn, đã được nuôi dưỡng bởi cái tánh khí bình dị, cái tinh thần mộc mạc của miền Nam, đã có cả một thời mơ mộng, cả một tuổi trẻ với bao mộng ước đầu đời, khát khao…
Hỏi nếu vì lý do nào đó phải rời xa nơi chốn ấy thì làm sao không khỏi đau lòng, không khỏi xót xa cho được. Trong nỗi nhớ thương tận cùng, tôi đã viết một số ca khúc cho Sàigòn, và sáng tác gần đây nhất có tựa đề Biết Bao Giờ Trở Lại, đã được nữ danh ca Khánh Ly trình bầy lần đầu tiên trong 2 đêm nhạc NTM tại Sydney, và Melbourne, Australia. Một bài hát đã một lần nữa nói lên nỗi gắn bó của tôi với Sàigòn sẽ là mãi mãi.

16. Xưa nay, “thi-ca” thường đi chung với nhau và chú là một nhạc sĩ có rất nhiều tác phẩm phổ thơ rất thành công. Nhưng phổ nhạc một bài thơ là một việc không dễ, vì nó không chỉ đòi hỏi ở kỹ thuật mà còn cả ở sự cảm nhận. Chú có thể chia xẻ một vài kinh nghiệm về việc phổ thơ thành nhạc không? Đối với chú, đâu là điều quan trọng nhất của bài thơ có thể phổ nhạc (vì không phải bài thơ nào cũng có thể phổ nhạc được).

Thực ra thì tôi phổ thơ đâu có nhiều, chỉ trên dưới 10 bài thôi, thì kinh nghiệm làm gì mà có chứ! Tôi chỉ biết phổ thơ là một việc không khó, nhưng phổ để có được một bài nhạc hay, tồn tại được với thử thách của thời gian thì không phải là chuyện dễ. Tôi vẫn nghĩ bản nhạc với những niêm luật gò bó, nhất định, sẽ không bao giờ có thể nói lên hết được ý thơ của tác giả (đó là cảm nghĩ của tôi khi phổ thơ Nguyên Sa).
Điều quan trọng nhất của bài thơ có thể phổ nhạc, không nằm ở bài thơ, mà nằm trong lòng người muốn phổ bài thơ đó, có cảm xúc khi đọc bài thơ? có chia sẻ, cảm nhận được những gì nhà thơ muốn nói? có đặt được mình vào cương vị của nhà thơ khi sáng tác bài thơ? có đủ khả năng dùng nốt nhạc để trình bầy ý thơ của tác giả… Khó như vậy, nên tôi không còn phổ thơ nhiều như trước nữa.

17. Thơ ngay tự nó cũng đã có vần điệu. Có những bài thơ mà khi đọc lên đã nghe như một nhạc khúc. Thưa chú, vậy đối với kinh nghiệm sáng tác của chú, khi một bài thơ được phổ nhạc, có nên không tạo ra sự khác biệt giữa vần điệu của thơ và âm giai của nhạc?

Người ta vẫn thường nói trong thơ đã có nhạc. Tôi nghĩ là không những nhạc, thơ còn chất chứa cả hội họa, và vượt thoát được những gò bó, giới hạn của quy luật, văn phạm trong ngôn ngữ thông thường nữa. Tuy nhiên vần điệu của thơ dễ bị lập đi lập lại (tùy theo thể loại), và như vậy dễ trở nên nhàm chán, nhạt nhẽo…Người phổ nên đem những âm giai của nhạc vào thơ, sáng tạo những thang âm khác lạ, làm mới câu thơ hơn, và hy vọng người nghe sẽ có thể chia sẻ những cảm nhận chung với mình.

18. Thơ có nhiều thể loại khác nhau như lục bát, đường luật, tự do . và số chữ, cũng như cách gieo vần tùy vào thể lọai thơ mà khác nhau. Khi đem thơ phổ nhạc, chú có gặp sự hạn chế trong sáng tác về những luật thơ, và vần thơ không? Đối với kinh nghiệm của chú, thể thơ nào là dễ phổ nhạc nhất (nhận thấy lọai 5 chữ là được đi vào nhạc nhiều nhất có phải chăng vì nó dễ dàng hơn các lọai khác?)

Như đã nói bản nhạc với những niêm luật gò bó, nhất định, sẽ không bao giờ có thể nói lên hết được ý thơ. Dĩ nhiên thơ cũng có những niêm luật, những cách gieo vần riêng…Như vậy khi phổ thơ thì phải biết dung hoà 2 vấn đề này, nghĩa là có khi phải du di, thay đổi nốt nhạc để họa vần thơ, hay đôi khi phải thay đổi lời thơ để nhập với ý nhạc. Tôi thường phổ thơ 5 chữ, hay 7, 8 chữ… cũng có 1, 2 bài theo thể tự do. Thể thơ nào dễ phổ nhất? Thì tùy người phổ thôi. Thông thường những bài thơ có vần điệu dễ phổ hơn thơ tự do.

19. Khi một người ca sĩ trình bày ca khúc của chú, những điều gì chú mong mỏi ở ca sĩ đó? Có những ca khúc được hát qua nhiều giọng ca khác nhau, qua nhiều thời đại khác nhau. Mỗi cái khác nhau đó là một diễn đạt khác (kỹ thuật cũng như cảm xúc) Đối với một nhạc sĩ như chú, chú có thể chia sẻ một nhạc phẩm nào đó mà khi nghe qua nhiều cách trình bày, đã tạo cho chú sự thích thú, khám phá khác cho chính tác phẩm của mình, hoặc một cảm xúc mới?

Dĩ nhiên mong người ca sĩ đó có thể diễn tả được lời ca ý nhạc, chuyên chở được nhưng tình cảm tâm tư mà mình muốn gửi đến người nghe… Điều này không phải là dễ! Lý tưởng nhất là có điều kiện tập cho ca sĩ như khi tôi thực hiện cuốn băng tình ca NTM đầu tiên tại Sàigòn năm 1974.

Một ca khúc muốn được tồn tại với thời gian thì phải được trình bầy bởi những giọng ca của nhiều thế hệ khác nhau, qua nhiều thời đại khác nhau. Trong 4 thập niên vừa qua tôi đã được nghe Áo Lụa Hà Đông qua rất nhiều tiếng hát như Duy Trác, Sĩ Phú, Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Hoàng Nam… Mỗi giọng hát đều có một lối diễn tả khác, một kỹ thuật trình bầy riêng, từ mượt mà, sâu lắng, đến ngọt ngào, trầm ấm, từ tiếng hát trẻ trung, mới mẻ, cho đến nồng nàn, sống động của các ca sĩ, đã cho tôi nhiều nỗi xúc động khi nghe một sáng tác của mình được trình bầy bởi nhiều tiếng hát, mà tiếng hát nào cũng để lại trong tôi một nỗi thích thú, một nỗi sung sướng nhẹ nhàng,dù không bao giờ có thể tìm lại được cái cảm giác hôm nào khi nghe anh Duy Trác hát bài này lần đầu tiên.

20. Nếu có thể điều khiển (thay đổi) được thời gian và không gian, chú sẽ làm gì?

À, nếu có thể thay đổi được thời gian, thì tôi muốn trở lại cái thưở tuổi trẻ, mộng mơ ngày nào, để sẽ viết nhiều hơn, và yêu nhiều hơn nữa. Dĩ nhiên muốn là mình sẽ được ở mãi trên đất nước thân yêu, và sẽ dành thật nhiều thì giờ để đi thăm khắp nẻo đường quê hương.

21. Giai đọan sáng tác (hay cũng là cuộc đời) nào tạo cho chú nhiều gắn bó nhất?

Trước 75, là vì giai đoạn này là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Vẫn là một thanh niên trẻ tuổi, sống giữa lòng quê hương với đầy nhiệt tình,hy vọng, và lạc quan trước tương lai, nhưng không còn quá trẻ để ngu ngơ trước cuộc đời, cũng như chưa già hẳn để học được, để nhìn thấy những lọc lừa, những xấu xa, hiện thực đầy chua xót của đời sống. Và đó cũng chính là giai đoạn sáng tác gắn bó nhất trong đời tôi.

22. Chú có theo dõi các sáng tác của các nhạc sĩ trẻ tại hải ngọai và tại Việt nam không? Nếu có, xin chú cho vài nhận xét về giòng nhạc trẻ tại hải ngọai cũng như tại Việt nam.

Trong những năm tháng vừa qua, tại hải ngoại, cũng như trong nước đều có những tác giả trẻ với những tác phẩm có giá trị. Nhưng chủ yếu các tác phẩm được giới thiệu và phổ biến rộng rãi vẫn chỉ là những ca khúc. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của ca khúc phổ thông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, nhưng tôi vẫn kỳ vọng nhiều hơn nơi các nhạc sĩ trẻ bây giờ, vì tôi nghĩ rằng họ đã có một cơ hội thật đầy đủ, thật tốt đẹp để nghiên cứu, trau dồi, cũng như học hỏi những giòng nhạc mới lạ trên khắp thế giới qua những phương tiện như CDs, Internet, concerts, books… mà những người viết nhạc chúng tôi 30, 40 năm trước không thể có. Họ là những người có thể làm mới lạ hơn cho âm nhạc Việt của chúng ta với những kiến thức tổng hợp của cả 2 nền âm nhạc Đông Tây. Dĩ nhiên khi viết những tác phẩm này, họ cần phải có một cơ hội để phổ biến. Tôi hy vọng các trung tâm video sẽ dành ít nhất một tiết mục trong chương trình để giới thiệu, cũng như đưa giới thưởng ngoạn đến một cuộc hành trình mới vào âm nhạc Việt Nam của chúng ta ở thể kỷ thứ 21 này.

23. Chú nhận thấy ra sao về ngôn ngữ trong âm nhạc Việt nam hiện nay? Có nhiều ý kiến cho rằng đã không còn sự đậm đà, sâu sắc, giàu hình ảnh tượng hình như xưa mà hầu hết là đơn giản, không trau chuốt. Theo chú thì điều này đúng không và sự quan trọng (cần thiết) của ngôn ngữ trong âm nhạc như thế nào?

Hiện nay chúng ta đang ở một thời kỳ mà nền âm nhạc Việt Nam đang cố gắng tìm cho mình một vị trí, tìm cho mình một lối đi riêng để thoát khỏi những ảnh hưởng của các luồng nhạc thổi đến từ các nước bạn. Cho đến khi chúng ta có được một định nghĩa chính đáng của nhạc Việt bây giờ, thì khó có thể tránh được ảnh hưởng từ những điệu nhạc vay mượn, ảnh hưởng từ những phương cách trang phục, và lối trình diễn của nước ngoài! cũng như ca từ của chúng ta sẽ không thể sâu sắc, giầu tượng hình như trước kia được nữa! Nhưng điều đó có quan trọng không khi hiện nay người ta đi xem nhạc nhiều hơn là nghe nhạc, khi ca sĩ không chỉ còn là người hát, mà còn phải là người trình diễn nữa?

Những ca khúc Việt Nam tồn tại đến ngày hôm nay là nhờ một phần rất lớn vào ca từ. Nhạc hay, cấu trúc đẹp, thì rất khó bàn, nhưng khi hát lên một câu, thì chỉ vài lời ca đơn giản thôi cũng đã có thể đem lại sự xúc động tột cùng cho người nghe, cũng có thể gợi nhớ lại cả một cuộc hành trình trong đời người. Ca từ trong nhạc Việt Nam quan trọng là như thế đó.

24. Cũng có nhiều bạn trẻ cho rằng họ không được sự lưu ý đúng mức của thế hệ đi trước. Không có sự dìu dắt, nâng đỡ hoặc tận tình chỉ bảo, san sẻ kinh nghiệm. Đặc biệt là trong âm nhạc. Những nhạc sĩ sáng tác trẻ hầu như bị bế tắt trong vấn đề phổ biến sáng tác. Chú nghĩ sao về điều này? Chú có những điều gì san sẻ cho những nhạc sĩ trẻ không?

Thực sự tôi không nghĩ là những bạn trẻ bây giờ cần có sự dìu dắt, nâng đỡ, hay tận tình chỉ bảo của những người đi trước. Họ có đầy đủ khả năng, điều kiện để viết những tác phẩm có giá trị. Cái mà họ cần là được giúp đỡ phổ biến những sáng tác mới của họ, và đây đúng như VK đã nói là một vấn đề bế tắc từ căn bản. Trong nước thì tôi không rõ lắm về những phương tiện truyền thông, điều kiện phổ biến, cũng như phát hành sáng tác của những người viết mới? Ở hải ngoại, chúng ta chỉ có 2, 3 trung tâm video đang hoạt động mạnh, các trung tâm băng nhạc nhỏ thì cũng có khá nhiều, nhưng hoạt động rời rạc, hạn hẹp! Như vậy thì lấy đâu ra chỗ cho các người viết mới chen chân vào thị trường âm nhạc? Chưa kể đất nước người quá rộng lớn, vấn đề phát hành cũng là một trở ngại không nhỏ. Hiện nay trên mạng lưới Internet đã có khá nhiều diễn đàn văn học, nghệ thuật. Ở đây các bạn có thể gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm, học hỏi cùng nhau để có thể tiến bộ hơn trong lãnh vực sáng tác. Nhưng dù sao tất cả vẫn còn trong một hoàn cảnh, một môi trường hạn hẹp.
Nếu có lời gì muốn nói với những bạn trẻ muốn lập sự nghiệp âm nhạc? một điều rất quan trọng, đó là cho dù gặp bao nhiêu khó khăn trước mặt thì các bạn đừng nản lòng, phải tiếp tục sáng tác, tiếp tục cố gắng học hỏi trau dồi để những sáng tác của mình mỗi ngày một đặc sắc hơn. Có những chuyện các bạn có thể làm thử: Trước hết gửi một vài bài mà bạn vừa ý nhất đến một vài trung tâm. Nếu họ không trả lời! thì bạn phải tự thực hiện CD với những tiếng hát và hòa âm thích hợp với giòng nhạc của mình, rồi gửi đến các trung tâm video, băng nhạc, nhờ họ phổ biến hay phát hành dùm. Nếu các trung tâm không thể giúp đỡ, thì phải tìm cách giới thiệu trên internet, và nhờ đến bạn bè, anh em, để tổ chức những đêm hát, những chương trình ra mắt những sáng tác mới của mình... Nhiều khi phải hy sinh, và chấp nhận nhiều thiệt thòi, mới có cơ hội tạo dựng tên tuổi.

25. Có nhiều nhạc sĩ vẫn chạy theo thị hiếu hoặc danh vọng mà có những sáng tác “vay mượn” từ người khác. Xưa nay, chữ đức vẫn luôn quan trọng trong mọi ngành nghề nói chung và nghệ sĩ nói riêng. Thưa chú, xin chú nói vài lời (quan điểm) về “đức” của người nghệ sĩ được không?

Từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ người nghệ sĩ phải thẳng với mình, và thật với người. Một lần nào đó tôi đã có nói “Là một người viết nhạc, có 2 điều mà tôi không thích là giả dối và vay mượn”. Người nghệ sĩ nói chung, người nhạc sĩ nói riêng cần phải có một tấm lòng độ lượng, chân thành yêu đời, một trái tim chan chứa, nồng nàn yêu người, và nên tìm cho mình một hướng đi riêng, một con đường mới để phục vụ nhân sinh.

26. Đối với chú, trong sáng tác âm nhạc, kỹ thuật và nội dung điều nào quan trọng hơn? Có những tác giả chú trọng khai thác kỹ thuật viết nhưng lại thiếu cân bằng trong ngôn ngữ hay nội dung bài nhạc.

Mặc dù trong việc sáng tác ca khúc, cả 2 phương diện kỹ thuật, và nội dung đều rất quan trọng, nhưng căn bản của ca khúc là những bài hát ngắn gọn, dễ nghe, dễ hát, và bản chất của người Việt chúng ta hiền hòa, giản dị, thích nghe những điệu nhạc êm tai, những câu hát dễ nhớ. Do đó nếu quá chú ý đến kỹ thuật thì bản nhạc sẽ trở nên cầu kỳ, khô khan khó hát. Vì vậy nói tới ca khúc (tấu khúc là một đề tài khác) nội dung, ngôn ngữ trở thành quan trọng hơn.

27. Thông thường, tính đa cảm, lãng mạn, giàu mơ mộng là những yếu tố chính đối với một nghệ sĩ. Nhưng ngòai đời, họ có thể lại là một con người khác. Vậy, Thưa chú, giữa một Ngô Thụy Miên trong âm nhạc và một Ngô Thụy Miên ngoài đời có điều gì khác nhau không?

Khi còn trẻ, còn độc thân thì chẳng khác gì đâu. Bây giờ đã có gia đình, thì ở ngoài đời tôi xử sự cân nhắc hơn với trái tim đầy tình cảm, cũng như tính lãng mạn, mơ mộng của mình. Sống trong đời, mình có nhiều trách nhiệm với những người xung quanh, cần phải làm sao dung hòa được cả 2 phần, trái tim và lý trí.

28. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật như một phương tiện để nói về cuộc sống và con người, cũng như về chân thiện mỹ. Chú là một nhạc sĩ có tài, xin chú cho biết quan niệm của chú về thế nào là “chân thiện mỹ”?

Là một người viết nhạc, thì đối với tôi, âm nhạc là một phương tiện biểu hiện được tất cả những tình cảm giao hòa giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, giữa con người và thiên nhiên. Nghe nhạc, hòa mình trong nhạc vẫn là nỗi sung sướng, niềm hạnh phúc nhất sau tình yêu. Như vậy có thể nói âm nhạc chính là tình yêu vậy.

29. Đối với chú thế nào là một sáng tác thành công? Được số đông khán thính giả yêu thích? Đạt được kỹ thuật viết nhạc cao? Hay chuyển đạt, bộc bạch được những điều mà mình muốn gởi gắm (cho dù có thể không cần kỹ thuật hoặc số đông người yêu mộ)?

Tất cả những gì VK đề cập tới đều có thể coi như là những câu trả lời đúng. Tuy nhiên giản dị mà nói, với tôi thì sự thành công của một ca khúc chính là sự tồn tại của ca khúc đó sau những tháng năm, những thử thách của thời gian và không gian. Hiện nay những tác phẩm của 2 thập niên 40, 50, và vẫn đang còn được trình bầy, được yêu thích bởi mọi từng lớp khán thính giả là những tác phẩm được coi là thực sự thành công.

30. Trải qua một thời gian dài miệt mài với âm nhạc và có nhiều đóng góp giá trị cho nền âm nhạc Việt nam, nếu chính chú là người nhìn lại tất cả những sáng tác của mình, chú có suy nghĩ gì hay nhận xét gì về chính các tác phẩm của chú?

Cám ơn VK. Tôi đóng góp không được bao nhiêu, nhưng rất hãnh diện về những gì mình đã viết, những gì mình đã chia sẻ được với người, với đời. Đôi khi tôi nghĩ là mình viết đã đủ rồi; đời đã nghe, người đã hiểu, nhưng khi ý nhạc tới thì lại ngồi xuống phím đàn, để mong tiếp tục gửi tới khách tri âm những tình ca của một đời nhạc NTM.

Thành thật cảm ơn chú Ngô Thụy Miên đã dành thời gian quý báu để trả lời những câu hỏi của VK. Mến chúc chú luôn bình an và tiếp tục đem lại cho đời những sáng tác tuyệt vời. VK tin rằng, trên bầu trời âm nhạc Việt nam mãi mãi lóng lánh một ngôi sao đẹp mang tên - nhạc sĩ Ngô Thụy Miên.

Hạ Vi
#21 Posted : Monday, March 28, 2011 10:38:08 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
.




Đoàn Chuẩn - Từ Linh

một mùa thu nào lãng mạn


(tiếp theo & đoạn cuối)


Nếu không phải là câu hát, câu trên chắc phải là câu thơ. Nếu là câu thơ, câu thơ ấy ngẫu nhiên đã chảy xuôi cùng một dòng với câu thơ Vũ hoàng Chương. Em ơi lửa tắt, bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai... (Đời Vắng Em Rồi). Có khác chăng là men rượu với men tình. Có tình nào không say..., hai chàng đã chẳng nói vậy sao(?). Tìm vui trong tiếng hát hay tìm quên trong chén rượu cũng chỉ là đi tìm những lãng quên thôi.

Có rất nhiều câu hát chan chứa những tình cảm yêu đương đắm say như vậỵ.

Tình đầu trong gió mùa, người yê...êu... ơi... (Lá Thư ). Những nốt luyến láy uyển chuyển kéo dài nơi chữ "yêu" nghe như lời nhắn nhủ thiết tha và nhớ nhung da diết...

Trong "Lá Thư", có một câu tôi rất thích. Anh quay về đây đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa... Hành động đốt tờ thư là hành động thể hiện sự dứt khoát, là muốn đoạn tuyệt, muốn quên hết. Thế nhưng khi lòng đã thực sự muốn quên, muốn dứt khoát thì sao không đi dài đi thẳng, sao không "lạnh lùng mà đi luyến tiếc thêm chi" để khỏi bận lòng chi nữa lúc chia phôi mà còn "quay về đây" làm gì nữa? Phải đốt hết, phải thiêu hủy cho bằng hết những "phong thư ngào ngạt hương" ấy mới quên đi được sao?



Tương tự, đã nói là "nhưng thôi tiếc mà chi, chim rồi bay, anh rồi đi..." (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay), nhưng sao vẫn cứ "thấy hối tiếc nhiều, thuyền đã sang bờ..." và vẫn còn lời trách cứ nhẹ nhàng "người về lặng lẽ sao đành!..." (Tà Áo Xanh). Nói quên mà thật khó quên, nói không hối tiếc mà còn nhiều hối tiếc, có phải đấy là tâm trạng dùng dằng, là những giằng xé dày vò của bao kẻ trót vướng vào lưới tình, là những hệ lụy của tình yêu ở bất cứ thời nào.


Những tình khúc ĐC-TL, về giai điệu, tuy mượt mà nhưng khá đơn giản, không có những chỗ luyến láy lả lướt quá, không có những biến khúc, biến tấu khi lên khi xuống, lúc nhanh lúc chậm, những nốt nhạc lên cao hoặc xuống thấp quá, hoặc đòi người hát phải có những hơi ngân thật khỏe thật dài. Tất cả chỉ là "nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi", lại có vẻ là những bài bản dễ hát, ai hát cũng được, nhưng không phải là ai hát cũng hay được. Khác với những tình khúc của những nhạc sĩ tên tuổi thường gắn liền với giọng hát của những ca sĩ tên tuổi, tôi chưa hề nghe nói giọng hát nào là đặc biệt thích hợp với nhạc tình ĐC-TL. Mỗi người có thể yêu thích những giọng ca khác nhau, có thể nghe được ĐC-TL bằng giọng ca này mà không phải giọng ca khác. "Thu Quyến Rũ", với tôi, trước giờ vẫn chưa có ai hát qua được Ngọc Long (cũng là người hát hay nhất "Ngày Về" của Hoàng Giác). Đã nghe giọng hát ấy thực tình không còn muốn nghe thêm giọng hát nào khác nữa. "Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay", cứ mỗi lần nghe là mỗi lần nhớ giọng hát Lệ Thanh một mùa nào. "Tà Áo Xanh" nghe được cả với giọng nữ cao Thái Thanh và giọng nam trầm Sĩ Phú. Có thể kể thêm những Mai Hương, Quỳnh Giao, Xuân Thu (giọng từa tựa Lệ Thanh)... ở một đôi bài ĐC-TL (và còn những ca sĩ nào khác nữa tôi chưa được nghe qua...). Các bài "Chuyển Bến", "Thu Quyến Rũ" có vẻ thích hợp với giọng nam hơn là giọng nữ. "Gửi Người Em Gái", "Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay" lại thích hợp với giọng nữ hơn. Giọng nam phải là giọng trầm, giọng nữ phải mềm mại, tự nhiên.


Những lối thay đổi tùy tiện lời nhạc và cả giai điệu, bằng cách chế biến, thay đổi nhịp điệu nhanh chậm, uốn éo lời ca giọng hát, hoặc hát hoặc ít câu bài này chuyển sang ít câu bài kia theo lối "liên khúc"... đôi lúc vẫn thấy trong cách trình diễn của một vài ca sĩ. Tất cả những kiểu "tự biên tự diễn" ấy đều không thích hợp và không diễn tả được tình cảm lời nhạc, khiến người nghe không mấy hứng thú hoặc rung động, nếu không muốn nói là có đôi chút khó chịu vì không còn nhận ra ĐC-TL...


Sánh đôi cùng giai điệu mượt mà trong những tình khúc ĐC-TL là những lời lẽ thật tự nhiên, không chút bóng bẩy, cầu kỳ, không ẩn chứa những triết lý cao xa, mơ hồ, mà chỉ là những ý tưởng thật giản đơn, thật gần gụi như bày ra trước mắt mọi người, và cũng thật dễ dàng nhận biết, hiểu thấu. Những ý tưởng thoạt nghe tưởng như cũ kỹ, nhưng lúc nào cũng mới và vẫn được lặp đi lặp lại mãi về sau này. Mộng nữa cũng là không..., thế thôi, hoặc những quy luật bất biến, muôn đời của cuộc sống: Có hoa nào không tàn, có tình nào không phai...


Lời nhạc chỉ đơn giản là vậy, không gọt dũa trau chuốt, không làm duyên làm dáng, chỉ như những chuyện trò thân mật, những tâm tình vụn vặt giữa hai người bạn, giữa cặp tình nhân, nhưng lại đi thẳng vào trái tim người nghe. Sao lại như vậy được? Cũng dễ hiểu thôi, những lời lẽ ấy có bình thường nhưng không tầm thường chút nào, mà ngược lại, nói như nhà phê bình Đặng Tiến, đấy là tiếng nói được "phát ngôn trên tư cách nghệ sĩ, đưa tác phẩm nghệ thuật đến một quần chúng nghệ thuật, trên những tiêu chuẩn thẩm mỹ". Cái đẹp trong lời nhạc ĐC-TL không chỉ ở tính sáng tạo nghệ thuật mà còn ở cách thể hiện. Nghe lại một lần nữa, cũng là "Cánh Hoa Duyên Kiếp" ấy, ta gặp được những câu hát thật đẹp:


Đêm hôm nay chợt nhớ tới nơi xa, lúc anh về nhặt mấy cánh hoa, kèm vào thư "lá thư xanh mầu yêu" cánh hoa duyên kiếp này, tìm em trong ý thu...Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng thu, viết tơ lòng gửi tới cho nhau, rồi ngày mai nhắn mây đưa tờ thư tới em, đôi mắt sầu, kèm theo bao ý thơ...


Tình em như mây trong mùa thu bay rợp lối, rồi tan trong chiều vắng, khi gió mang về thành mưa...những câu hát giàu hình ảnh và ý tưởng đẹp như thế có thể gặp rải rác ở bất cứ tình khúc nào của ĐC-TL.

Người thưởng ngoạn khó tính một chút vẫn có thể tìm ra được những hạn chế trong nét đẹp ấy. Những ý tưởng trùng lắp hay những câu, chữ lặp đi lặp lại ở bài này bài kia (những "xác pháo bên thềm", "nét bút đa tình", "dệt mấy cung đàn", "lòng thấy rộn ràng"... chẳng hạn). Có khi không phải chỉ vài chữ mà gần trọn câu nhạc vừa ở bài này vừa ở bài kia ("nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi..." ở "Tình Nghệ Sĩ" và "Đường Về Miền Bắc" chẳng hạn), có lẽ vì nghệ sĩ vẫn hay có những phút... lơ đãng!


Những ví dụ kể trên không có nhiều, ngược lại, đôi lúc nghe nhạc ĐC-TL, ta gặp được những bất ngờ thú vị, chẳng hạn đang giữa những nét nhạc lâng lâng (ít nhiều chịu ảnh hưởng dòng thi ca lãng mạn Pháp từ đầu thế kỷ trước), bỗng lạc ở đâu vào những câu lục bát ngọt ngào ca dao hay âm hưởng làn điệu dân ca:


Nàng đi cho dạ sao đành
đường quen lối cũ ân tình nghĩa xưa
(Gửi Người Em Gái)


mới nghe tưởng như "tân cổ giao duyên", vậy mà vẫn cứ thuận chiều, vẫn cứ xuôi chèo mát mái, chẳng có chút gì ngượng ngập, sượng sùng. Những pha trộn, kết hợp ấy mới thật tài tình.


Về việc đánh giá, xếp hạng những tình khúc của ĐC-TL, thật khó mà nói được bài nào là hay nhất, hoặc bài nào hay hơn bài nào. Kẻ yêu bài này, người thích bài kia, hoặc cho là mỗi bài mỗi vẻ... Cũng không rõ là hai chàng nhạc sĩ đã sử dụng những nhạc khí nào cho việc sáng tác, tuy nhiên, nét nhạc trữ tình ấy khá thích hợp khi được diễn tả qua tiếng đàn (hay nhạc đệm) piano, đôi lúc qua điệu kèn saxo (trong lúc sở trường của tác giả những tình khúc ấy lại là hạ uy cầm), đặc biệt là những bài Lá Thư, Tà Áo Xanh, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay...


Qua việc tìm hiểu lịch sử tân nhạc Việt nam, các nhà nghiên cứu âm nhạc vẫn cho rằng những tình khúc ĐC-TL là tiêu biểu cho dòng nhạc lãng mạn tiền chiến. (Chữ "tiền chiến" lâu nay không còn được hiểu theo nghĩa... tiền chiến nữa mà dường như chỉ được gọi như vậy cho... tiện. Cây cột mốc "tiền chiến" có khuynh hướng bị đẩy lui mãi về phía sau, đến mức hầu như tất cả các văn nghệ sĩ ở lại miền Bắc sau ngày di cư đều mặc nhiên hóa thành các... "văn nghệ sĩ tiền chiến" cả). Nói "tiêu biểu", không phải vì hai chàng đã đặt những bước chân tiên phong mở đầu cho khuynh hướng lãng mạn ấy, cũng không hẳn vì những tình khúc ấy là hay nhất, đẹp nhất, được nhiều người yêu chuộng nhất, hoặc sống lâu nhất (so với những tình khúc của Tô Vũ, Văn Cao, Phạm Duy, Doãn Mẫn, Hoàng Quý, Hoàng Giác...), mà vì đấy là những bản tình ca đằm thắm nhất, trữ tình nhất, lãng mạn nhất, tất nhiên, và thêm một cái nhất nữa (đáng gọi là tiêu biểu), hai chàng nghệ sĩ này trước sau chỉ yêu có nhạc tình và chỉ viết có nhạc tình mà không chơi bất cứ thể loại nhạc nào khác, hay nói như nhạc sĩ Y Vân, chỉ chuyên có một việc là "đem nhạc tình ghi tràn đầy cung điệu buồn...". Trước và sau, ĐC-TL vẫn cứ thủy chung với nhạc tình, "chuyển bến" thì có đấy nhưng không có những "chuyển hướng" sáng tác khiến những người yêu nhạc của hai chàng phải hụt hẫng và thất vọng.

Nếu nói âm nhạc là nguồn an ủi, vỗ về, tìm đến âm nhạc là tìm đến những phút giây quên lãng, những người yêu nhạc ĐC-TL còn yêu thêm cái chất men lãng mạn, còn yêu thêm cái phong vị trữ tình, nhẹ nhàng mà ngất ngây quyện trong từng nét nhạc.

Nội dung các bài hát của ĐC-TL thường là những hối tiếc không nguôi về chuyện tình cách chia, dang dở, những chuyện tình mà những người yêu nhau đã không đến được với nhau, đã không đi chung được một đường. Những chuyện tình thường có chung một không gian mùa thu, một khí hậu cũng mùa thu, một đoạn kết đẹp và buồn. Không có ở nơi đâu bằng trong những tình khúc ĐC-TL, ta thấy rõ quả là... "tình chỉ đẹp khi còn dang dở".

Sự nghiệp âm nhạc của ĐC-TL cũng chẳng may mắn gì hơn số phận những chuyện tình của hai chàng, nghĩa là cũng... dang dở, vì dòng nhạc đã phải tắt lịm ngay giữa thời kỳ sung sức nhất của người nghệ sĩ sáng tạo. Tiếc thay! Nếu không, những gì hai chàng nghệ sĩ tài hoa ấy để lại cho đời chắc không phải chỉ là lác đác những bài tình ca mà người đời còn hát đi hát lại, nghe mãi nghe hoài.


Nhưng có lẽ chính vì sự nghiệp "dang dở" ấy mà cái tên ĐC-TL quen thuộc ấy, những bản tình ca mùa thu ấy, những nét nhạc trữ tình ấy, tất cả đã luôn luôn là những gì đẹp nhất và còn ở lại mãi mãi trong lòng người.

Mùa thu cuối cùng của Đoàn Chuẩn

Chiều nao áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người...
(Đường Về Miền Bắc)



Giọng hát Duy Trác dìu dặt cất lên trong một chiều cuối năm và trong tiết trời se se lạnh làm khơi dậy nỗi xao xuyến bâng khuâng, đánh thức những nhớ thương dịu dàng.

Những nốt láy mềm mại, nhẹ nhàng ở chữ "nhớ" cũng vẽ nên một nét nhạc đẹp.

Giữa những dòng kẻ nhạc vẫn tưởng rằng chỉ thấp thoáng có một mầu áo xanh đó thôi, sao bỗng nhiên lạc ở đâu vào những tà áo tím. Áo tím chập chờn như cánh bướm. Màu tím ấy có vẫn là màu của nhớ nhung, tưởng tiếc?


Mùa thu đã qua từ bao giờ. Thu tàn, nhưng đông vẫn chưa sang. Mùa thu ở đây có đẹp, nhưng ngắn ngủi. Nhủ lòng thôi hết những mùa thu... Người viết nên câu nhạc (hay câu thơ) buồn bã ấy cũng đã lìa đời, mới đây thôi. Như chiếc lá thu lìa cành.

Tất cả những người từng có một thời đã hát, đã nghe ĐC-TL đều ít nhiều tỏ lòng tưởng tiếc đến ông, người từng viết nên những nét nhạc bay bướm bằng "nét bút đa tình lả lơi". Người nhạc sĩ tài hoa, chàng nghệ sĩ đa tình ấy đã vĩnh viễn xa lìa những mùa "thu trần gian" và những người yêu nhạc ĐC-TL.


Đoàn Chuẩn, ông thực sự là "người tình của mùa thu". Ông đã yêu mùa thu biết chừng nào. Cùng với Từ Linh, người bạn đường nghệ sĩ, ông đã không để lại gì nhiều lắm cho đời. Chỉ lác đác dăm bản tình ca mùa thu. Chừng đó thôi, đâu có gì nhiều, nhưng cũng đủ làm lay động những trái tim, làm ngát hương cho cuộc sống và làm đẹp thêm cho những mối tình (dẫu "vẹn câu thề" hay dở dang). Cùng với mùa thu ấy, cùng với cây đàn ấy, ông đã "nâng phím tơ lên" dệt cho đời những khúc nhạc tình chan chứa yêu thương. Những "thu quyến rũ", những "tà áo xanh", những "lá thư", những "dang dở", đấy là những tâm sự, là nỗi lòng của ông trải lên dòng nhạc ấy, và rất nhiều người sau đấy lại mượn dòng nhạc của ông để gửi gấm nỗi niềm tâm sự, hoặc tìm gặp tâm sự của chính mình. Như vậy làm sao nghe những bản tình ca êm dịu ấy mà không thấy lòng lắng xuống.



Trước sau Đoàn Chuẩn vẫn chỉ nhận mình là tay soạn nhạc "tài tử", chỉ để vui chơi chứ không phải chuyên nghiệp. Thế nhưng chính cái phong cách nghệ sĩ ấy, chính những nét nhạc bay bướm của "chàng phiêu lãng ôm đàn tới giữa đời" ấy đã lại dệt nên những "cung đàn yêu" làm đắm say lòng người.

"Cuộc sống của Đoàn Chuẩn chỉ có một mục đích là làm nên những bản tình ca. Anh sáng tác không nhiều, nhưng bài ca nào cũng say đắm, lãng mạn và thành thực. Con người lãng tử ấy đã để lại cho đời những ca khúc bất hủ," một người bạn của Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ Tô Vũ, đã nói về ông như vậy. Trong lời nhận xét ấy (về những bản tình ca), có một chữ tôi cho là đúng hơn cả, không phải "say đắm" hay "lãng mạn", mà là chữ "thành thực". (Những nhận xét ấy cũng thành thực nữa). Cái nét quyến rũ trong nhạc ĐC-TL là ở sự thành thực. Nói cách khác, ông đã say đắm, đã lãng mạn một cách thành thực. Chỉ có những cảm xúc, những rung động thành thực mới truyền được cảm xúc, rung động tới người thưởng ngoạn. Chính là ở sự thành thực, chứ không phải điều gì khác đã dẫn người nghe lại gần dòng nhạc của ông, để nghe những lời ông nói. Chỉ cần nghe những lời nhạc đó thôi là đủ nhận rõ sự thành thực. Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây... (Đường Về Miền Bắc), đó không phải là những lời tình say đắm, lãng mạn và thành thực quá hay sao(?)...Những cảm xúc giả dễ nhận biết và khó mà đánh lừa được người nghe.

Đoàn Chuẩn, "con người lãng tử ấy", nói như Tô Vũ, đã sống đã yêu thiết tha, sôi nổi, đã có những sáng nao nức "mong chờ mùa thu", những chiều dõi mắt lặng nhìn "mây bay về đâu cuối trời", những "đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai"... Và ông cũng đã viết bao nhiêu là "lá thư xanh màu yêu", bao nhiêu là "phong thư ngào ngạt hương" và rồi đã đốt, đốt hết để không còn lại chút gì (nhưng tình vẫn không cháy được!). Và ông cũng đã dệt bao nhiêu là "cung đàn yêu", đã gửi bao nhiêu là "bướm đa tình về hoa", và rồi hoa tàn, tình cũng tan theo không gian, nhạc cũng bay theo không gian. Sau cùng, ông chẳng còn lại chút gì.

Trở lại với bài phỏng vấn đăng trên tờ báo ở trong nước, khi được hỏi: "Sao ông không sáng tác thêm nữa mà chỉ chừng ấy bài rồi thôi?", tôi nhớ Đoàn Chuẩn trả lời đại khái "đã cạn tình cạn ý, có làm thêm nữa cũng chẳng hay ho gì". Câu trả lời ấy tôi cho là đúng mà không đúng, người phỏng vấn cũng chỉ hỏi để mà hỏi (trong lúc đã thừa hiểu tại sao), và ông cũng chỉ trả lời như thế cho... qua chuyện. Có điều gì không thật trong câu hỏi lẫn câu trả lời. Ở một nơi mà mọi người đều có vẻ như đang đóng kịch, những cái tưởng như thật ấy lại là những cái giả, và có vẻ như mọi người đã quen rồi những kiểu cách ấy. Nhạc tình là muôn thuở, lại là "tình nghệ sĩ" nữa, làm sao mà cạn nổi! (Tôi cố hình dung nét mặt của ông khi phải trả lời câu ấy, chắc phải vừa trầm ngâm, vừa lộ vẻ... chán đời). Ai cũng hiểu rằng trong khí thế hừng hực "cách mạng" thuở ấy mà vẫn thản nhiên "nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi", vẫn nhất định chỉ yêu có một "màu xanh ái ân" đó thôi (vì đã "trót yêu" rồi) chứ không chịu yêu màu gì khác, và vẫn nhất định chỉ yêu có một mùa "thu trần gian" đó thôi chứ không phải mùa thu nào khác thì không dễ gì yên ổn để phút này còn ngồi được ở đấy mà... trả lời những câu "phỏng vấn".

Một câu hỏi khác cũng "thật mà giả" như thế, nhưng lại nhận được câu trả lời khá thú vị. Khi người phỏng vấn đặt câu hỏi: "Ông vẫn nói là "thấy hối tiếc nhiều..." trong những lời nhạc, vậy thì điều gì làm ông hối tiếc nhiều nhất trong đời?", Đoàn Chuẩn đã trả lời rằng (không rõ thật hay đùa) ông chỉ tiếc một điều, là suốt đời ông chỉ yêu cái đẹp, vậy mà những cô ca sĩ hát nhạc của ông, tuy hát có hay, nhưng lại... chẳng có cô nào đẹp cả! Người phỏng vấn bèn hỏi tiếp: "Thế thì ca sĩ nào, theo ông, hát nhạc ĐC-TL hay nhất?", ông kể ra được vài tên tuổi ca sĩ ở... trong nước. Về điều mà ông tỏ ra hối tiếc ấy, tôi mong là ông chỉ nói đùa cho vui vậy, nhưng nếu ông nói thật, dù không muốn làm một sự so sánh, tôi thực sự lấy làm "hối tiếc" cho ông là ông đã không được nghe (và thấy) những ca sĩ ở miền Nam trước đây hát nhạc ĐC-TL. Nếu có, chắc là ông sẽ rút lại câu nói ấy, hoặc ít ra cũng không đến nỗi thất vọng nhiều lắm.

Nhưng thôi, tiếc mà chi... Ông đã chẳng nói vậy sao?

Nếu cứ tiếp tục "phỏng vấn" theo kiểu ấy và cứ bắt ông phải trả lời thì kể cũng tội cho ông. Theo tôi, có một câu đáng hỏi mà anh chàng (hay cô nàng) phỏng vấn ấy lại không hỏi (bây giờ thì lại không hỏi được nữa), vì vội quá nên quên hay vì thiếu chuẩn bị. Câu hỏi ấy là: "Cái mầu xanh ái ân mà ông vẫn cứ hay nói tới nói lui, nhắc đi nhắc lại trong nhạc của ông thực ra là mầu xanh gì vậy? (Có như là "lá diêu bông?"). Mầu xanh ấy đến nay đã chịu phai chưa? Ông còn yêu cái mầu xanh ấy nữa hay thôi?" (Giá mà hỏi được vậy thì ta đã có cơ may được nghe ông giải đáp thắc mắc, và dẫu ông có trả lời cách nào đi nữa thì ít nhất ta cũng biết được một điều là cái mầu xanh ấy có thực hay không!).


Nhưng thôi, cũng chẳng "tiếc mà chi" cơ hội đã lỡ làng! Dù sao câu hỏi sau cùng cũng vớt vát được chút đỉnh (có khá hơn, và ít ra còn là một "câu hỏi"), tuy nhận được câu trả lời khá ngậm ngùi. Câu hỏi về những giấc mơ...

Đoàn Chuẩn, ông đã từng có, từng nói về những giấc mơ. Ông đã mơ mộng biết chừng nào, tâm hồn ông tràn đầy những ước mơ... Cho dù những ước mơ và những hối tiếc luôn đến cùng một lúc.


Tà áo xanh nào về với giấc mơ...
Người mơ không đến bao giờ...


"Ông có ước mơ gì trong những ngày còn lại ở thế gian này?", người phỏng vấn hỏi câu cuối cùng. Sau một lúc nghĩ ngợi (đã lâu lắm rồi mới nghe câu hỏi này), ông lắc đầu, nói chẳng có ước mơ, mơ ước gì cả, hay nếu có, chỉ là cuộc hành trình êm ả, là được ra đi thanh thản, nhẹ nhàng... Ít ra có lẽ đây là giấc mơ sau cùng ông đã thực hiện được. Từ đầu năm 2000, do đứt mạch máu não, ông đã rơi vào trạng thái chập chờn khi tỉnh khi mê. Ông nằm đó, bất động trên giường bệnh, mắt nhắm nghiền như đang ngủ say, như đang chìm đắm trong giấc mộng dài, mãi cho đến lúc lặng lẽ ra đi...

Cái chết của Đoàn Chuẩn gần đây thực sự không gây xúc động nhiều lắm, không để lại tiếc thương nhiều lắm đối với những người yêu nhạc của ông, để gọi là một mất mát lớn, vì sau này hầu như ông đã ngưng sáng tác (đối với công chúng, người nghệ sĩ không tiếp tục sáng tạo thêm được nữa xem như đã chết theo nghĩa nào đó), nhưng có làm người ta tưởng nhớ đến ông và muốn tìm nghe lại ĐC-TL.

Khi cho chạy lại cuốn băng video ca nhạc ấy, tôi thấy Đoàn Chuẩn vẫn còn ngồi đó, vẫn còn điếu thuốc trên tay ông. Hầu như lúc nào trên tay ông cũng là điếu thuốc (tựa như Văn Cao, lúc nào cũng ly rượu trên tay). Ông đốt thuốc liên tục, thả khói mơ màng. Khói thuốc mơ màng và đôi mắt ông cũng mơ màng. Ông nghĩ ngợi gì, chẳng ai biết được. Trông ông giống như người đợi chờ mà không đợi chờ điều gì cả, hay như người ngồi đợi hoài những giấc mơ "không đến bao giờ". Ông sống lặng lẽ như một cái bóng, và cử động cũng chậm chạp, nhẹ nhàng như một cái bóng, không nói không năng, không thấy có nụ cười, khuôn mặt không biểu lộ nét vui hay buồn.

Tôi thấy Đoàn Chuẩn vẫn còn ngồi đó, vẫn còn ánh mắt mơ màng, vẫn còn đăm đăm nhìn ra khoảng sân trước nhà. Ông tìm kiếm gì vậy? Đêm đêm nhìn cây trút lá, lòng thấy rộn ràng, ngỡ bóng ai về... Những phút sướng vui rộn ràng ấy chắc cũng chẳng kéo dài được lâu, chắc cũng chỉ là những phút giây hạnh phúc thật ngắn ngủi... Nhưng ông đã bằng lòng, và cũng muốn được tận hưởng những phút giây ấy. Hơn thế nữa, tôi cho là ông cũng đã san sẻ với chúng ta, những người nghe nhạc của ông, chút hạnh phúc như gió thoảng qua ấy. Hạnh phúc như gió thoảng, đó là những phút giây chìm đắm trong thế giới lãng đãng của âm thanh, thả hồn theo tiếng nhạc bềnh bồng và giọng hát dịu dàng cất lên giữa khoảng không gian thật yên tĩnh, thật lắng đọng, trong tiết trời se se lạnh của một ngày chớm thu. Với bao tà áo xanh, đây mùa thu.... Tôi chắc là không có lúc nào người nghe nhạc cảm thấy thèm một hơi thuốc, một tách café nóng hơn là lúc ấy.

Nghe nhạc ĐC-TL đôi lúc có được những khoảnh khắc hạnh phúc như thế, cũng tựa như hạnh phúc ngắn ngủi của người viết nên những tình khúc ấy. Cám ơn ĐC-TL, cám ơn những khoảnh khắc hạnh phúc ấy.


Mùa thu đã qua từ bao giờ. Thu tàn, nhưng đông vẫn chưa sang... Nhưng đã qua hết một mùa thu. Đã qua hết những mùa vui. Những cánh hoa hướng dương đã tàn tạ trong đêm tối. Những chiếc lá thu còn lại đôi ba cánh rồi cũng sẽ lìa cành. Nhủ lòng thôi hết những mùa thu...

Câu hát ấy nghe như tiếng thở dài thật nhẹ, như bước chân ai thật khẽ vừa lặng lẽ rời khỏi chốn này, như tiếng động thật nhẹ nhàng của chiếc lá cuối cùng vừa rụng xuống trong một ngày tàn thu.


Hình ảnh sau cùng về Đoàn Chuẩn tôi còn giữ được, và chắc là còn giữ được mãi về sau này, là những ngón tay kẹp điếu thuốc của ông và những cử chỉ thật nhẹ nhàng, thong thả, gạt tàn thuốc vào chiếc gạt tàn trên mặt bàn. Trong lúc bà vợ ông nói và nói để trả lời các câu hỏi, ông ngồi lặng thinh, dõi mắt mơ màng theo làn khói thuốc (như thể những chuyện ấy chẳng có liên quan gì tới ông). Thật khó mà biết được một người ngồi lặng im với dáng điệu và cử chỉ như thế, với nét mặt không biểu lộ cảm xúc nào như thế, đang nghĩ gì trong đầu. Thế nhưng không hiểu sao, ánh mắt mơ màng ấy và ngón tay trỏ gõ gõ trên chiếc gạt tàn thuốc ấy theo một nhịp thật chậm rãi, thật thong thả và đều đặn ấy vẫn cho tôi cảm tưởng rằng ông đang chăm chú lắng nghe những nốt nhạc. Những nốt nhạc thật xa xôi mà cũng thật gần gũi, những nốt nhạc từng có một thời cùng với ông, và người bạn đường nghệ sĩ của ông, đi suốt chặng đường dài tuổi trẻ. Những nốt nhạc bềnh bồng dắt đưa ông về thăm lại những cây cỏ xanh tươi trên con đường trí nhớ, cho ông tìm gặp lại những mùa thu đã xa như dĩ vãng, những tà áo mầu bay lượn chập chờn, và cũng rót xuống cho ông, chàng nghệ sĩ đa tình một thuở, những yêu thương đằm thắm nhất của một mùa nào lãng mạn...../.



Lê Hữu


Hạ Vi
#22 Posted : Tuesday, March 29, 2011 4:04:07 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)





Ba lời cảm ơn
thi sĩ Xuân Diệu


"Cảm ơn trời đất thật tài hoa
Đưa hết tình anh với đậm đà
Đem cả bài thơ và khúc nhạc
Sắc trời hương đất tạo em ra.


Cảm ơn thầy mẹ khéo nhân duyên
Sinh tạc ra em khối diệu huyền
Dáng nét làm cho anh quyến luyến
Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.


Lắm lúc nhìn em sững mắt anh
Cảm ơn em đã đón anh nhìn
Anh nhìn như thể rơi con mắt
Và cả thời gian cũng đứng im".






Users browsing this topic
Guest
105 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.