Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

107 Pages«<23456>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#61 Posted : Tuesday, April 26, 2011 1:22:23 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Hello HungHolland,

Rất vui có HungHolland cùng sinh hoạt trong " The Beauty Of Vietnamese Culture " với tất cả cac anh chị em nơi đây .
Mến chúc HungHolland một ngày đẹp và vui nghe .

thunder

thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 4/26/2011(UTC)
Hungholland  
#62 Posted : Tuesday, April 26, 2011 2:05:21 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Originally Posted by: thunder Go to Quoted Post
Hello HungHolland,

Rất vui có HungHolland cùng sinh hoạt trong " The Beauty Of Vietnamese Culture " với tất cả cac anh chị em nơi đây .
Mến chúc HungHolland một ngày đẹp và vui nghe .

thunder



Dankjewel =Thank you Thunder, Hưng rất vui khi được WELCOME ở đây.
Have a good day,
Hungholland
thunder  
#63 Posted : Tuesday, April 26, 2011 2:12:15 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Mưa Tháng 4

Giọt nước mắt thương Anh
Nơi trại tù cải tạo
Những trận đòn hung bạo
Da thịt máu tuôn rơi

Giọt nước mắt thương Chị
Với đàn con mồ côi
Vành khăn tang vô tội
Héo hắt cả mảnh đời

Giọt nước mắt thương Em
Lang thang nên hè phố
Bán từng tấm vé số
Mong có bát cơm đầy

Giọt nước mắt thương Mẹ
Trông ngóng phương trời xa
Đàn con nay biệt tích
Còm cõi tấm thân già

Giọt nước mắt thương Cha
Quê hương mình đổ nát
Bao nhiêu người kinh ngạc
Tự Do biến mất rồi

Viết Cho Tháng 4 Đen

ĐHH

Hạ Vi  
#64 Posted : Tuesday, April 26, 2011 9:13:10 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
Originally Posted by: Hungholland Go to Quoted Post
Originally Posted by: Ha Vi Go to Quoted Post
Halo @ hungholland,

woa, rất ngạc nhiên khi đọc thấy hungholland bước qua trang The Beauty forum, và xì top ở topic Sài Gòn của Hạ Vi, post bài thơ và có hình mùa Thu nữa~~~~. Đẹp lắm.

Merci nghen và chờ đón thêm những bài, post khác của Hưng trong The Beauty forum ..


NO HAVE LIMBS,NO HAVE LIMBS(Do you understand what it means? LOL LOL). Và cám ơn Hại Vi đã có lời khen. Vi tuần trước bận rôn với trò chơi Trivia vui quá nên lúc đó không có pót bài lên được. Thỉnh thoảng có đọc bài của Vi. Nhiều khi cũng "ngứa nghề" lắm Laugh. Đừng nghĩ là Hưng thích CƯỜI ĐÙA thôi đâu. Mà Hưng cũng là người YÊU NGHỆ THUẬT,YÊU CÁI ĐẸP và lúc nào cũng hướng đến cái CHÂN - THIỆN - MỸ hết đó. Hưng sẽ cố gắng tham gia thường xuyên. Dể forum của TT Asia chúng ta càng ngày càng NHỘN NHỊP,VUI VẺ và ĐẦY MÀU SẮC. Boo hoo! Dancing Boo hoo!

À,tuần trước có đọc được bài của Hạ Vi post lên có nội dung nói về CẦN THƠ. Hưng rất thích thú. Vì Hưng dược sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất thân thương đó. Nhưng bài viết đó vẫn còn thiếu nhiều về Cần Thơ lắm. Hưng sẽ cố gắng tìm tòi và post nhiều bài nói về Cần Thơ nói riêng và Miền Tây nói chung.

Hẹn gặp lại và chúc 1 buổi tối vui vẻ,

HưngHolland

P/s: Hôm qua Hưng có gửi email (via forum) cho Hạ Vi. Nhưng không biết Hạ Vi có nhận được không?? Có gì thì cho Hưng biết nhé. Thanks,


Halo Hungholland,
ahah, hiểu chứ ...câu nì là HỖNG CÓ CHI ! (hí hí, thấy Hưng đố OVXV hôm thứ bảy sau khi played trivia games đó. Hôm đó vui quá, phá phách nhau thật là ồn ào, cười chảy nước mắt. LOL LOL
Welcome Hưng một lần nữa nha, ghé đến The Beauty of Vietnamese Culture forum, và posted bài thật hay cho topic SàiGòn ..., và còn nhiều nữa hén .. thêm bài về Cần Thơ nha. Thanks a bunches.

Hạ Vi nhận emeo của Hưng và có gửi lại ngày hôm qua, mong rằng Hưng đã nhận được rồi ...

Chúc Hungholland một ngày mới vui tươi
ThumpUp


UserPostedImage
havi  
#65 Posted : Wednesday, April 27, 2011 2:57:05 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


ĐẤT KHÁCH ~ LÒNG NHƯ ĐANG CÓ MƯA


Nhớ quá Sàigon của thuở xưa
Ta từ Bưu Điện bước ngang qua
Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng
Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa

Bóng mát hàng cây gió nhẹ nhàng
Con đường Thống Nhất rộng thênh thang
Thổi tung tà áo bay tha thướt?
Cuống quýt chân ai bước vội vàng?

Người lính tiền phương của chiến tranh
Loanh quanh lạc lối giữa đô thành
Gặp em cô nữ sinh nho nhỏ
Cùng đứng trú mưa dưới mái hiên

Ánh mắt nai tơ ngó thật hiền
Nụ cười tươi tắn đóa hoa tiên
Hồn anh đắm đuối sa trong mắt
Lính chiến nhưng tim lại rất mềm

Hai đứa ngồi trong quán Mai Hương
Nhìn ra khung cảnh ở bên đường
Giòng xe tấp nập tuôn đi mãi
Tiền tuyến về thăm em hậu phương

Cuộc đời như nước chảy hoa trôi
Từ đấy chúng ta xa cách đôi
Bàn cờ thua cuộc từ hôm ấy
Kẻ ở lao lung, kẻ cuối trời

Nhớ đến Sàigon một thuở xưa
Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa
Gọi thầm khe khẽ tên ai đó
Đất khách trong lòng đang đổ mưa.



VŨ UYÊN GIANG
Castro Valley, 10th, 3, 2008



.

Edited by moderator Tuesday, May 15, 2018 4:17:36 PM(UTC)  | Reason: Not specified


UserPostedImage
thunder  
#66 Posted : Wednesday, April 27, 2011 8:19:11 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Originally Posted by: Hungholland Go to Quoted Post
Originally Posted by: thunder Go to Quoted Post
Hello HungHolland,

Rất vui có HungHolland cùng sinh hoạt trong " The Beauty Of Vietnamese Culture " với tất cả cac anh chị em nơi đây .
Mến chúc HungHolland một ngày đẹp và vui nghe .

thunder



Dankjewel =Thank you Thunder, Hưng rất vui khi được WELCOME ở đây.
Have a good day,
Hungholland

Mong Hưng thường xuyên ghé " The Beauty..." sinh hoạt được vui & thoải mái .
Nghe Hưng nói được sinh trưởng trên mảnh đất dễ thương Cần Thơ nên thunder post bản nhạc
" Chiều Tây Đô " để chia sẻ với Hưng và các bạn nha .


UserPostedImage

Chiều Tây Đô

Sáng tác: Lam Phương
Trình bày: Tuấn Vũ & Mỹ Huyền

http://www.youtube.com/watch?v=AteYrYSlB-4

Một đêm anh mơ mình ríu rít đưa nhau về
Thăm quê xưa với vườn cau thề
Bàn tay anh đang dìu em bước trên cỏ khô
Đi trong hoang vắng chiều Tây Đô

Bờ sông yêu xưa tà aó thướt tha mỹ miều
Sao anh không thấy về Ninh Kiều
Dường như anh nghe đời nặng trĩu trong màu đen
Đen như manh áo buồn chưa quen

Ghé hỏi cỏ cây ...cỏ cây khóc
Gió than van
Kể từ khi mất quê hương
Gió ra khơi đưa người vượt biển

Mẹ chờ thư về ngồi thèm thuồng miếng trầu cay
Trẻ thơ lang thang vì cơn đói suốt bao ngày
Vợ chờ tin chồng ngày về quá xa xăm
Bao năm giải phóng như thế này phải không anh ?

Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường
Nay sao nghe khác từ tên đường
Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương
Tây Đô sẽ sống lại yêu thương

Hungholland  
#67 Posted : Wednesday, April 27, 2011 3:47:14 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Chào Thunder,Hạ Vi và các bạn,

Rất cám ơn Thunder về bài nhạc Chiều Tây Đô của Nhạc sĩ (Ns) Lam Phương.

Có thể nói Chiều Tây Đô là 1 trong những bài hát đầu tiên trong cuộc đời của Hưng và từ đó Hưng đã yêu thích nhạc vàng như là một món ăn tinh thần.

Hưng vẫn còn nhớ như in trong tâm khảm vào năm 1986,lúc đó Hưng chỉ còn là 1 đứa bé lên 8. Kinh tế gia đình thuộc dạng đủ ăn. Vì gia đình Hưng bị liệt vào GIA ĐÌNH MỸ NGUỴ vào thời đó. Nên tất cả mọi thứ đều thua sút với mọi người.

Lúc đó có phong trào cho thuê đầu Video và TiVi ở Việt Nam. Nếu nhà nào giàu có thì có thể mua luôn cũng được. Vào ngày thứ 7 cuối tuần,gia đình chị hàng xóm thuê 1 bộ đầu máy Video về nhà chiếu phim thu tiền. Tôi bước vội qua nhà chị ấy xin được vào coi ké. Vì thực sự không biết Tivi và Video là gì. Nhưng chị ấy vẫn chối từ không cho tôi vào. Chẳng những như thế mà chị ta còn mắng cho tôi 1 trận : Không có tiền thì ở nhà đi. Ở đây đâu phải là chùa đâu mà coi ké. Tôi đứng khóc và không chịu về. Mẹ tôi qua dỗ dành và hứa sẽ cố gắng kiếm tiền để thuê cho tôi 1 bộ Tivi và Video về xem.

Hứa thì hứa vậy thôi. Vì tôi hiểu rằng gia đình còn bữa đói bữa no và thỉnh thoảng vẫn mang bụng đói đi học thì làm gì có đủ khả năng thuê 1 bộ Tivi và Video về xem. Nhưng khoảng 1 tháng sau mẹ tôi ôm tôi vào lòng và hỏi: Hưng,con còn nhớ mẹ đã hứa gì với con không? Và đúng là con nít hay quên lắm. Tôi trả lời là không nhớ. Mẹ tôi liền nói: Vậy thì mẹ sẽ cho con bất ngờ. Nhưng tối thứ sáu phải cố gắng hết bài vở để thứ 7 có thời gian rãnh nhiều hơn. Tôi nôn nóng không biết chuyện gì mà mẹ bí mật thế.

Thứ 7 đã tới và lời hứa của mẹ đã thực hiện. 1 bộ Tivi và Video trong nhà tôi. Ông chủ cho thuê cho mượn vài cuốn phim võ Hongkong và trong đó có 1 cuốn ca nhạc.

Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ 1 bài duy nhấy đó là Chiều Tây Đô do Cố nhạc sĩ ca sĩ Duy Khánh trình bày. Và đó cũng là 1 trong những bài nhạc vàng đầu tiên mà tôi được nghe.

Tôi quay sang hỏi mẹ : Mẹ ơi,bài này nói gì vậy mẹ? Tại sao lại ríu rít đưa nhau về? Tại sao lại mất quê hương vậy mẹ?

Mẹ kể,nếu ơn trên cho mẹ 1 phép mầu. Mẹ sẽ cho thời gian quay trở lại. Tại sao?- Tôi hỏi mẹ. Mẹ nói tiếp- lúc con 2 tháng tuổi,bác 2 có đến năng nỉ ba mẹ cho phép bác 2 bồng con đi VƯỢT BIÊN. Chứ ở bên Việt Nam tương lai mù mịt và khổ lắm. Nhưng vì thương con và còn bé quá. Sợ con mình không chịu nỗi những cơn sóng dữ. Nên mẹ tôi không ngần ngại dứt khoác là KHÔNG. Bây giờ mẹ tiếc quá. Phải chi dánh liều một phen. Vì Bác của tôi đã tìm được bến bờ TỰ DO trên đất Mỹ.

Tháng lại ngày qua,tôi lớn lên từng ngày. cuộc sống cũng không khá gì mấy. Ba mẹ Hưng vẫn LÀM LỤNG VẤT VÃ nuôi tôi ăn học. Thế là cuối cùng tôi cũng lấy được bằng Tú Tài. Sau đó thi vào Đại Học với quyết tâm cố gắng học hành để mai này có tương lai và đổi đời. Đùng 1 cái,gia đình Hưng lại lâm vào cảnh khó khăn. Chiếc xe Honda ngày nào Ba Mẹ sắm cho đi học cũng đành bán để trang trải cuộc sống. Không xe thì sẽ không có bạn bè. Bạn bè tôi bắt đầu từ từ không còn đến nhà rủ tôi đi chơi nữa. Cuộc đời sao khốn nạn quá,khốn nạn quá - tôi tự hỏi. Chẳng lẽ Tiền là tất cả sao? Từ động lực đó tôi đã cố gắng lấy bằng dại học kỹ sư.

Nhưng chuyện không dừng ở đó,tôi với tấm bằng trên tay đi xin việc nhưng chẳng có Công ty nào nhận chỉ vì cái 3 KHÔNG khốn nạn của cái XÃ HỘI BẤT CÔNG kia : KHÔNG TIỀN - KHÔNG THÂN - KHÔNG THẾ. Hưng lủi thủi về nhà với tâm trạng buồn khôn xiết. Mẹ lại là người an ủi tôi và khuyên tôi. Trái lại với tôi là bộ mặt khó ưa của thàng bạn học chung lớp - Nó ra trường với tấm bằng Trung Bình và nghỉ nhiều hơn học nhưng lại có ngay 1 chổ làm ngon lành sau khi vừa Tốt nghiệp. Sau đó,Hưng mới biết vì nó đã hơn mình 3 KHÔNG kia. Chuyện đời sao lắm BẤT CÔNG nhưng hễ đi ra đường lúc nào cũng thấy treo khẩu hiệu XÃ HỘI CÔNG BẰNG - VĂN MINH. Nực cười quá !!!

Chán với cái Xã Hội lúc nào cũng tự cho mình là Thanh cao. Hưng nói với mẹ rằng con sẽ không đi tìm việc nữa. Con biết bây giờ con phải làm gì? Tôi xin 1 việc làm trong 1 nhà Hàng Tây. Với suy nghĩ sẽ kiếm Cơ Hội và nếu may mắn thì sẽ được QƯỚI NHÂN giúp đỡ mình thoát ra khỏi VÒNG TÙ ĐÀY này.

Trời sẽ không phụ người có lòng. Thế là tôi đã làm quen được 1 gia đình người Hà Lan. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Và họ hỏi về thân thế và cuộc đời của tôi. Và Hưng đã nói thẳng với họ rằng: Điều Hưng mong muốn trong cuộc sống là có thể lo cho Ba mẹ đầy đủ và lúc nào cũng muốn chính tay Hưng viết lên 2 chữ TỰ DO. Và họ hứa là sẽ cố gắng lo cho tôi được qua BẾN BỜ TỰ DO.

Không người thân, không bạn bè. Trên đất khách tôi cố gắng đi làm để kiếm tiền vì lúc nào trong đầu cũng hoài 1 câu hát của NS Lam Phương mà Hưng rất ưng ý CUỘC ĐỜI LÀ HƯ VÔ,BÔN BA TRÊN XỨ NGƯỜI,KHI MÌNH CÒN ĐÔI TAY. Nhưng cuộc đời vẫn còn nhiều Bất Công. Khi Hưng có đủ khả năng chăm sóc gia đình thì Mẹ đã ra đi.

Thỉnh thoảng Hưng có về thăm nhà và gần đây nhất là Tết vứa rồi,gia đình dẫn tôi đi lên Cầu Cần Thơ. Ông ngoại buộc miệng hỏi : Có vui không con? Tự hào không con? Tôi chỉ trả lời :Dạ. Nhưng ông đâu biết trong lòng tôi đau từng cơn và mang nỗi buồn nghiệt ngã. Vui gì đâu ông khi vẫn còn những Người nghèo,những người dân THẤP CỔ BÉ MIỆNG không thể nào nói lên TIẾNG NÓI của mình. Vui gì ông khi còn rất nhiều trẻ em thang lang không nơi nương tựa mà những đứa Con Ông Cháu Cha vẫn PHÈ PHỞN tay cầm chai rượu bạc chục triệu uống trong Vũ trường . Vui gì ông khi còn những BẤT CÔNG CỦA XÃ HỘI mà chính đứa cháu của ông cũng là 1 trong những nạn nhân....Tự hào gì ông KHI ĐẤT TỔ TIÊN của mình CÀNG NGÀY CÀNG THU HẸP LẠI, Tự hào gì ông khi đến giờ này mà không chính tay mình xây dựng nổi 1 cây cầu mà phải nhờ vã dựa vào người khác,Tự hào gì ông khi lúc nào cũng Oang Oang tự cho mình là tiến bộ về Khoa học kỹ thuật nhưng không làm tốt được 1 đoạn đường cao tốc. Nhiều và còn nhiều lắm những chuyện mà họ đã BƯNG BÍT,Ông à.

Đến lúc này Hưng lại nhớ đến 1 câu của Nhạc sĩ Lam Phương : BAO NĂM GIẢI PHÓNG NHƯ THẾ NÀY PHẢI KHÔNG ANH ????

Không có lúc nào như lúc này Hưng cảm thấy mình rất may mắn. May mắn hơn 87 triệu người trong nước và lúc nào cũng cố gắng giũ gìn trong tay như ngọc như ngà 2 chữ TỰ DO. Xin cám ơn Thượng đế đã ban phép màu cho con, con xin cám ơn mẹ đã hy sinh cả cuộc đời cho con và khuyên con những lúc con gặp khó khăn trên bước đường đời.

Và một lần nữa rât Cám Ơn Thunder vì bài hát này. Đã gợi nhớ cho Hưng những chuổi ngày thơ ấu. Cám ơn các bạn đã cho Hưng cơ hội ở đây để chia sẽ tâm sự của mình. Cám ơn rất nhiều .
Hungholland

Edited by user Sunday, June 12, 2011 9:57:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked Hungholland for this useful post.
Hạ Vi on 4/27/2011(UTC), 1ngayvn on 4/30/2011(UTC)
thunder  
#68 Posted : Wednesday, April 27, 2011 7:58:27 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Originally Posted by: Hungholland Go to Quoted Post
Chào Thunder,Hạ Vi và các bạn,

Rất cám ơn Thunder về bài nhạc Chiều Tây Đô của Nhạc sĩ (Ns) Lam Phương.

Có thể nói Chiều Tây Đô là 1 trong những bài hát đầu tiên trong cuộc đời của Hưng và từ đó Hưng đã yêu thích nhạc vàng như là một món ăn tinh thần.

Hưng vẫn còn nhớ như in trong tâm khảm vào năm 1986,lúc đó Hưng chỉ còn là 1 đứa bé lên 8. Kinh tế gia đình thuộc dạng đủ ăn. Vì gia đình Hưng bị liệt vào GIA ĐÌNH MỸ NGUỴ vào thời đó. Nên tất cả mọi thứ đều thua sút với mọi người.
...........................
...................................................


Thunder cảm động nhiều khi đọc những dòng tâm sự trên đây của Hưng . Khoảng thời gian xa xưa đó có thể nói là hầu hết dân tộc mình đang chìm sâu trong nỗi đau đớn triền miên của hoạ mất nước , ngoại trừ đám cán bộ & bè lũ lãnh đạo trong trong hàng ngũ CS .
Đọc đến đoạn Hưng viết về Mẹ , thunder bùi ngùi xúc động vô cùng ! Người Mẹ nào cũng tận tuỵ một đời yêu thương hy sinh cho con mình ...Niềm kính yêu mẹ của Hưng cũng là tình cảm chung của mỗi người trong chúng ta khi nghĩ nhớ đến mẹ ...nhất là trong trường hợp khi mình có thể phần nào phụ giup mẹ ... thì mẹ đã vĩnh viễn ra đi !
Cám ơn Hưng đã chia sẻ tâm sự thực quý trong đời mình với thunder , havi và tất cả cac anh chị em nơi đây .
Mến chúc Hưng thành công và mọi chuyện được an vui tốt đẹp !

Thunder


thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
havi on 4/28/2011(UTC)
havi  
#69 Posted : Thursday, April 28, 2011 3:45:14 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


TÀ ÁO TRƯNG VƯƠNG


Này em! Cô bé nhỏ Trưng Vương
Áo trắng tung bay trước cổng trường
Ta đứng đợi hoài trên góc phố
Lá me xao xuyến rụng bên đường

Chân đạp xe theo bóng dáng ai?
Bao nhiêu cây số chặng đường dài
Buổi trưa nắng gắt không e ngại
Chỉ thấy quanh cô vạt áo phai

Áo lụa bay trong gió ngập ngừng
Làm tung tà áo lộ eo thon
Cho ta say đắm ươm hoa mộng
Chết giấc trong hồn nỗi vấn vương

Tà áo ngày xưa nay ở đâu
Người sông Tương vẫn ngóng giang đầu
Đi tìm hình bóng ngày xưa cũ
Chỉ thấy thời gian đã uá màu

Một thoáng mơ hồ vạt áo xưa
Bâng khuâng lá đổ dậu rào thưa
Tìm trong ký ức bao ngày trước
Ngọn gió vô tình chợt thoảng qua

Ôi người em gái nhỏ Trưng Vương
Ta vẫn tìm em khắp phố phường
Bóng chim thăm thẳm bên trời vắng
Có biết lòng ta nặng nhớ thương?



VŨ UYÊN GIANG
Castro Valley, June 26, 2008



Edited by moderator Tuesday, May 15, 2018 4:31:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified


UserPostedImage
thunder  
#70 Posted : Thursday, April 28, 2011 7:38:30 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tà Áo Trưng Vương
Truyện vui
Nguyễn Hồng Tước


UserPostedImage
HT, BMinh, Vượng, và Minh Phú

Khi tôi quyết định thi đệ Thất Trưng Vương, cả nhà tôi đều ngạc nhiên lắm. Mẹ hỏi tôi :”Mày có điên không mà đòi thi vào trường xa tít mù tắp thế ? Rồi nếu mày đỗ, làm sao đi học được ?” Quả thật tôi cũng không biết trả lời Mẹ sao. Tôi cũng hơi chột dạ vì trường Trưng Vương xa quá, mãi tận Sở thú, trong khi đó, nhà tôi ở Nancy, tức là đương Cộng Hòa, ngay sát cạnh trường nam trung học Petrus Ký. Từ nhà tôi đên trường Gia Long tương đối gần hơn nhiều, nếu tôi phải cuốc bộ.

Nhưng không ai hiểu tâm trạng của tôi, tâm trạng của một cô bé mới hơn 11 tuổi đầu. Số là như sau. Khi gia đình tôi còn ở Thị Nghè, hang` ngày tôi gặp các chị nữ sinh Trưng Vương đi hay về học qua nhà. Trông các chị thướt tha, kiều diễm quá, rất dễ thương. Thế là tôi thầm mơ ước được làm nữ sinh Trưng Vương như các Chị. Suốt bao nhiêu năm trời, giấc mộng của tôi lớn dần, rồi trỏ thành…bất diệt. Tôi nhất quyết phải trở thành một nữ sinh Trưng Vương, ngay cả khi nhà tôi dọn về đường Nancy.

Thế rồi ngày có kết quả thi vào đệ Thất, tôi mừng hết lớn vì thấy tên mình trong “bảng hổ đề danh”. Chao ôi ! Sao mà sung sướng quá vậy ! Mộng ước từ bao lâu nay đã thành sự thật. Nghĩ lại, tôi thấy các bài thi tôi làm rất đầy đủ, nhưng ai dám chắc mình sẽ đậu trong một kỳ thi tuyển lựa. Số người được nhập học có hạn mà người giỏi hơn mình thì nhiều, nhất là tôi lại học trường Tây. Sau khi xem đi xem lại tên mình trong bản danh sách các học sinh trúng tuyển, tôi hối hả về báo tin mừng cho ba mẹ và các chị tôi hay. Tất nhiên là ai cũng mừng cho tôi và rất vui. Chị Thanh liền thưởng cho tôi chiếc xe đạp mà chị vừa được thưởng trong một cuộc thi lái khéo. Thế là tôi không còn lo vấn đê di chuyển nữa. Ðạp xe từ Nancy lên Sở thú, đúng là từ cuối tỉnh lên đầu tỉnh, có nghĩa lý gì với một cô bé hăng say như tôi. Mẹ tôi thi cho tiền để mua vải may áo dài trắng. Ba tôi làm công chức, gia đình chỉ đủ sống trong eo hẹp nên tôi cũng không dám hoang phí, chỉ tính mua vải nội hóa thôi.

Một cái may nữa chợt đến với tôi. Tôi tình cờ gặp một bà chị dâu họ trong chợ Bến Thành. Khi biết tôi vừa đỗ đệ thất, bà liền mừng cho tôi năm trăm. Tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Thế là tôi đổi ý, không mua vải nội hóa nữa. Tôi cười thầm tự trách mình là “có mới nới cũ”. Nhưng, thật ra, ai ở hoàn cảnh tôi cũng sẽ cư xử như tôi thôi. Vừa thi đỗ vào trung học, một tương lai tươi sang mới mở ra trước mắt mình, làm sao không tự thưởng nếu có điều kiện. Thế là tôi hăm hở tìm đên khu bán vải, vào một tiệm lớn có nhiều hang ngọai hóa. Tôi nhẩm tính với số tiên hiên có, tôi có thể may hai áo chớ không phải một. Tôi vui lắm, hí hửng kiếm loại hang mà tôi vẫn thích từ lâu. Soie Pháp vừa sang trọng vừa mịn màng, tôi thầm nghĩ như vậy. Khổ người khô đét và gầy như cá mắm của tôi phải mặc loại soie này mới thướt tha, yểu điệu. Tôi vuốt ve cuốn lụa trắng thấy mát tay quá chừng. Trước khi quyết định mua vải, tôi thò tay vào túi để ước tính số tiền phải trả. Tôi ngạc nhiên vì thấy túi trống rỗng. Tôi vội móc vào túi khác, cũng không thấy gì. Thế là tôi bắt đầu hoảng hồn. Ô hay, rõ ràng mình bỏ tiền vào túi này mà ! Nó biến đi đâu mất rồi nè ! Tôi vội tìm khắp nơi, cả mấy túi trong túi ngoài. Không thấy đâu hết. Cả hai số tiền Mẹ cho lẫn chị dâu cho đều không cánh mà bay mất rồi. Tôi luống cuống không biết tính sao bây giờ. Nước mắt tràn lên đầy mi. Bà bán hang dường như nhận ra vẻ hoảng hốt của tôi tiến lại gần hỏi :”Cháu làm sao ? Ðịnh mua vải gì ?” Nước mắt tôi liền trào xuống hai má. Tôi ấp úng nói :”Cháu…cháu mất hết…cả tiền rồi.” Bà tỏ vẻ ái ngại hỏi :”Cháu để tiền đâu mà mất ?” Tôi cho bà biết tôi để trong túi áo bên tay phải. Bà chép miệng :”Vậy thì cháu bị chúng nó móc túi lấy mất rồi. Trong chợ nhiêu bọn móc túi lắm. Sơ hở làm thịt ngay.” Tôi chỉ còn có nước là lủi thủi ra khỏi tiệm để về nhà. Từ lúc đó, nhìn những người chung quanh trong chợ tôi cũng tưởng họ đều là những tên móc túi đáng ghét.

Về nhà, tôi chẳng nói chẳng thưa với ai, lẩn vào một góc vắng ngồi khóc. Mẹ và các chị tôi đều ngạc nhiên vì không thấy vải vóc đâu mà còn ngồi khóc. Chờ một lúc không thấy tôi nói năng gì, chị Thanh lên tiếng hỏi :”Hồng, mày đi chợ mua vải may áo thì vải đâu ? Sao lại nhè ?” Lúc đó tôi mới òa khóc lớn, rồi nức nở cho cả nhà biết tôi đã bị bọn móc túi lấy hết tiền. Tôi cũng không quên kể lại chuyện bà chị dâu họ cho tôi năm trăm và cũng bị mất luôn. Mẹ tôi giữ im lặng một lúc, rồi hỏi :”Có phải mày đi chợ Bến Thành không ?” Tôi thưa phải, Mẹ tôi liền nói :”Mày bày vẽ lên tận chợ Saigon nên mới bị chúng nó lấy hết tiền. Mua vải nội hóa thì chợ An Ðông thiếu gì, có khi còn rẻ hơn nữa. Thôi nín đi, sang mai tao đưa mày đi chợ An Ðông.” Tôi không dám nói gì nữa, lủi thủi vào nhà tắm rửa mặt, trong lòng vẫn ấm ức thầm tiếc món tiền khá lớn.

Hôm sau tôi theo Mẹ tôi đi chợ An Ðông mua vải may luôn một lúc hai áo bằng lụa Hà Ðông. Thế là giải quyết xong vụ áo dài. Ngày nay nhớ lại, tôi thắc mắc không biết hồi đó thi sĩ Nguyên Sa đã sang tác bài thơ “Áo lụa Hà Ðông” chưa ? Và không biết khi tôi mặc áo để đến trường thì có cậu nào thấy “chợt mát” không ? .

Ngày đầu tiên nhập học, tôi bỡ ngỡ như mán mới từ trên rừng về. Theo sự sắp xếp trước, tôi được học lớp đệ Thất B2, ban Anh văn. Ðứng ngơ ngác ở giữa sân trương, tôi nhìn người và cảnh vật đều thấy lạ hết. Tôi chú ý nhất là mấy chị lớp lớn. Chị nào trông cũng xinh đẹp, tươi tắn. Áo của các chị trông thướt tha, mưọt mà quá, chẳng ai giống tôi. Cũng áo trắng, cũng ủi thật mịn mà sao cứ thẳng đuột. Về sau này tôi mới hiểu rằng sở dĩ áo tôi thẳng đuột, thong thẹo vì tôi…chưa có ngực. Không phải chỉ một mình tôi khám phá ra điều “bí mật” này mà mấy cô bạn cùng lớp với tôi, mới quen sau ngày khai trưòng, cũng đã hiểu như vậy. Thế là một hôm Minh và Vượng , hai người bạn cùng ở khu Nancy, rủ tôi đi chợ Bến Thánh (lại Bến Thành) để mua…xú cheng. Thoạt đầu tôi cũng hơi ngạc nhiên vì nghĩ rằng mình đã có ngực đâu mà cần…che với đậy. Lúc đó, ngực tôi cứ thẳng tuột như ngực con trai vậy, nếu không muốn tự nói xấu mình là có bộ ngực…omega. Hai người bạn của tôi, dù cao lớn hơn tôi, ngực cũng chăng…gồ ghề bao nhiêu, giỏi lắm chỉ bằng núm cau. Tôi nói chuyện với chị Kim là có bạn rủ tôi đi mua xú cheng, chị liền cười phá lên, rồi hỏi :”Ðể làm gì ? Mày dung xú cheng để che cái gì ?” Tôi mắc cỡ nóng cả mặt mà không biết nói sao. Chị Thanh cũng cười nhưng lại nói: ”Ừ, mày nên mang xú cheng cho ra vẻ người lớn, có eo có ếch.” Nói đến eo, tôi liền nghĩ đế mấy chị lớn, nhất là những chị các lớp đệ Nhất đệ Nhị, chị nào trông cũng quyến rũ, rất yểu điệu, thướt tha. Thế là buổi sang chủ nhật tuần đó ba đứa chúng tôi hăm hở đạp xe lên Saigon. Mọi việc trôi chảy êm đẹp, không gặp một tên móc túi nào. Tôi mua đưọc hai xú cheng. Trước khi về nhà, chúng tôi còn rủ nhau đến chợ Vườn Chuối ăn bún ốc để đánh dấu ngày chúng tôi thành người lớn. Là người lớn nên chúng tôi phải mang xú cheng…cho ra vẻ.
Hôm sau đén trường, tôi không còn cảm thấy thua kém mấy chị lớn nữa. Tôi cũng có eo, có vòng lớn vòng nhỏ rồi chứ bộ…

Hồng Tước (CA)
thanks 1 user thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 5/1/2011(UTC)
Hungholland  
#71 Posted : Saturday, April 30, 2011 5:18:49 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
GIỌNG SÀI GÒN


Với tôi, giọng nói Sàigòn mãi mãi hay hơn giọng Bắc Kỳ Hà Nôi gốc Nghệ đang lan tràn trong nước.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười he he he xuống dưới ấy…

Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá ! Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn ở với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi…
Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong


UserPostedImage


Chuyện con gái Sài Gòn “mỏ” có cong không thì hổng có biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẩu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ “hônggg…” khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, đem gương hay kiến soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm. Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được, người đó sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy…

Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách trú (người Hoa hay chú ba tàu), những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến cái giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ còn có giọng tha thiết của người con gái xứ Huế trầm tư mới cùng được ví von như thế…

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào… mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt. Giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, thứ giọng chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, nó chính là cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng riêng… Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có thích hay khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này.

Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen !” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen !”.

Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen !”. “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên lên tiếng “Hay hén mậy ?” bằng giọng điệu thoải mái…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau, lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen !”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen !”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!”

Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à !” khá nhiều, như một thói quen, như cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy.

Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn..

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy !” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen !”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm “v” như “về, vui, vườn, võng” có cảm giác sao sao ấy, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào…
Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh… cho đến Sài Gòn, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer… Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là khách trú (người Hoa), và một số dân tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa như đàn ông không mặc quần mà quấn sà rông, nhà giầu quê bận bộ áo bà ba mầu trắng, làm ăn khi giao tiếp phải có chầu “nhậu”, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.

Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì,cái ki …” là tiếng mượn của khách trú, những từ như “xà quầng, mình ên…” là tiếng của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.

Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi… cười vì chưa đoán ra được ý. Điển hình như tiếng “địt”, có nghĩa là cái bụng nó sả hơi. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó… vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ làm sao.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa !”; “Mới dìa/dzề hả nhóc ? – Dạ, con mới! “… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳng hay…
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”… người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê !” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.)

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó xinh lắm !”, “Nhỏ đó ngoan !”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực !” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe !” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều, tiền ít coi !”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, kiểu bắt chước Tây, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho”ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi !” “Ngon làm thử coi !” “Cho miếng coi !” “Nói nghe coi !”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta ?” “Sao rồi ta ?” “Được hông ta ?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi !”. Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô thiển mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì “Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” – còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi. Khi gọi một cách thân mật có ý khuyên bảo với một em nhỏ, người Sài gòn thường nói “Nầy, chú em…”
Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này : Ông đó = ổng – Bà đó = bả – Anh đó = ảnh – Chị đó = chỉ

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông ? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ – Sài Gòn á nghen.
Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng, anh Sáu Lèo …

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành “Hai ơi Hai, em nói nghe nè…” và “Gì dzạ Út ?”… Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút !” hoặc với mấy chị tôi thì “Hai ơi Hai… em nói nghe nè !”. Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi…rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể “anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba…” một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi…lâu.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc biệt của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh. Cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ !” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Yên Huỳnh (Theo Hải Phan)



Edited by user Saturday, April 30, 2011 5:26:28 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Hungholland for this useful post.
Hạ Vi on 5/1/2011(UTC)
1ngayvn  
#72 Posted : Saturday, April 30, 2011 7:09:54 PM(UTC)
1ngayvn

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/14/2011(UTC)
Posts: 369
Location: Toronto, Canada

Thanks: 534 times
Was thanked: 209 time(s) in 122 post(s)
Nói đến Sài Gòn lịch sữ, văn hóa mà không nhắc đến môn thễ thao Túc Cầu (Đá Banh) mà người dân Sài Gòn hay gọi trước năm 1975 qủa là một thiếu sót rất lớn.
1NGAYVN xin gửi đến các bạn bài viết nầy mà mình đã lượm lặt được từ trên mạng. Xin cám ơn người viết.


Lịch Sử Đá Banh Việt Nam Cộng Hoà
Mường Giang, C/N Nhân Ngày Final World Cup 2010/07/11


UserPostedImage UserPostedImage

Association Vietnam Football Association (VFF)
Confederation AFC (Asia)
FIFA code VSO

Đội tuyển quốc gia VNCH

1 - Lịch sử 100 năm Túc Cầu VN

UserPostedImage

Phạm Huỳnh Tam Lang * nâng cao cúp Vàng Merdeka, tổ chức tại Mã Lai Á năm 1966

Dân tộc VN xưa nay vốn có truyền thống thượng võ, nên rất coi trọng việc rèn luyện cơ thể hằng ngày như là phương tiện để mà phát triển quân sự. Đá cầu là một trong những môn chơi rất được mọi tầng lớp xã hội các thời Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn.ưa thích và được coi đây là xuất xứ của môn Túc Cầu VN, chính thức thành hình hơn 100 năm qua.

Theo tài liệu, thì đội túc cầu đầu tiên của nước ta ra đời vào năm 1906 tại Gia Định. Hai mươi năm chiến tranh (1955-1975) với bao nhiêu nổi buồn bom đạn nhưng cũng là thời kỳ huy hoàng nhất của nền túc cầu Nam VN, chẳng những trong khu vực Đông Nam Á, mà tiếng thơm còn bay bổng tận làng bóng quốc tế, với những tên tuổi Phạm Văn Rạng, Phạm Văn Mỹ, Đỗ Thới Vinh, Phạm Huỳnh Tam Lang, Lâm Hồng Châu ...

Ở Miền Bắc xã nghĩa, từ năm 1964 các giải Túc Cầu thường diễn ra trên các sân vận động Hải Dương, Thái Bình, Bắc Giang ... mà không tổ chức tại Hà Nội, vì sợ máy bay Mỹ oanh tạc. Năm 1965, đội tuyển Bắc Việt, tham dự Giải Túc Cầu hữu nghị, được tổ chức tại sân vận động Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) gồm các đội banh Trung Cộng, Nam Dương, Kampuchia, Guinee, Bắc Cao. Đội Bắc Việt đứng hạng ba. Năm 1966, Liên Xô đá giao hửu và thua Bắc Việt 1-0. Cũng năm 1966, trong giải Ganefo tổ chức tại Nam Vang, gồm 10 nước tham gia, đội Bắc Việt lãnh huy chương đồng. Nói chung, trước năm 1975, Bắc Việt cũng có một đội Túc Cầu, gồm Nguyễn Văn Vĩnh (thủ môn) và các cầu thủ Hiếu, Thêm, Hiền, Hiển, Long, Vinh, Thọ, Ngọc, Phàn, Chinh ... tuy nói là tham dự nhiều nới, nhưng chẳng đem về cho quê mẹ một chiến thắng nào đáng kể, vì lúc đó Đảng tại Bắc Bộ Phủ, chỉ trăm phương ngàn kế, để mà làm sao cưỡng chiếm cho được Miền Nam, nên đâu còn sức lo cho thể thao, Túc Cầu ... những món hàng được coi là xa xĩ, vô ích trong thế giới các nước xã hội chủ nghĩa.



Đội Tuyển Túc Cầu Miền Nam VN


UserPostedImage

Phạm Văn Rạng, thủ môn đội tuyển VNCH 1959

Năm 1959, lần đầu tiên đội tuyển Túc Cầu VNCH đã đoạt được huy chương Vàng, tại Đông Nam Á Vận Hội (không có sự tham dự của Nam Dương và Phi Luật Tân). Kỳ đó, phái đoàn thể thao Nam VN tham dự rất nhiều môn thi đấu như Boxing, bơi lội, bóng bàn, bóng chuyền, bóng rổ, xe đạp, điền kinh và Túc Cầu. được tổ chức tại Thái Lan. Về đội tuyển VNCH có Phạm Văn Rạng (thủ môn), Nguyễn Văn Cụt, Phạm Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Thanh, Lê Văn Hổ (Myo), Nguyễn Văn Nhung, Đỗ Thới Vinh, Há, Đổ Quang Thách, Nguyễn Văn Tư. Đội tuyển VN vào chung kết hạ đội Thái Lan 3-1 và được chính tay Hoàng Thái Tử Xiêm trao chiếc cúp vàng, tại sân vận động.

Trước đó ở miền Nam, có trung phong đội AJS (Association de la Jeunesse Sporttive), tức là Đội Cảnh Sát Quốc Gia sau này, cầu thủ Phạm Văn Mỹ, nổi danh trong làng bóng Đông Nam Á là "Cọp Đồng Nai" qua kỷ thuãt chơi bóng, cú sút trời giáng, tốc độ nước rút phi thường. Bên cạnh còn có Phạm Văn Rạng, từng được tạp chí thể thao hàng đầu của Pháp là tờ 'France Football' vinh danh là thủ môn số 1 của nền Túc Cầu Châu Á, khi đội tuyển VNCH đã thắng đội banh Do Thái 2-0, trong khuôn khổ vòng loại, để được tham dự Thế Vận Hội năm 1964. Trận đấu diễn ra trên sân vận động Cộng Hoà, do công của Ngôn và Quang. Nhờ những thành tích trên, nên đội tuyển túc cầu VNCH đã có 4 cầu thủ là Phạm Văn Rạng, Nguyễn Ngọc Thanh, Đổ Thới Vinh, và Nguyễn văn Ngôn, được vào đội tuyển Châu Á, do Thiết túc cầu đại vường Hương Cảng là Lý Huệ Đường làm huấn luyện viên và Peter Velappan phụ tá.

Năm 1966, đội tuyển VNCH lại lập thêm kỳ tích khi đoạt cúp vàng Merdeka, tổ chức tại Mã Lai Á. Tham dự lúc đó gồm có Lâm Hồng Châu (thủ môn), Lại văn Ngôn, Phạm Văn Lắm, Văn Có, Phạm Huỳnh Tam Lang, Nguyễn Văn Chiêu, Nguyễn Vinh Quang, Nguyễn Văn Ngôn, Dương văn Thà, Đổ Thới Vinh, Nguyễn Văn Mộng, Trên sân cỏ, đội banh VN đã liên tiếp hạ Tân Gia Ba (5-0), Nhật (3-0), Mã Lai Á (5-2), Đài Loan (6-1) và thua Ấn Độ (0-1). Cuối cùng VN vào chung kết với Miến Điện. Trong trận này, đối phương tấn công VN tới tắp và ba lần banh vào khung thành của thủ môn Lâm Hồng Châu nhưng đều bị gạt ra ngoài, nhờ tài nghệ phi thường của cặp trung phong Văn Có - Tam Lang và thủ môn Châu. Đến phút 68, Tam Lang cướp được banh dẫn thẳng vào tuyến địch và sút vào cầu môn Miến, đem về chiếc cúp vàng vô địch cho quê hương.

Tại Đông Nam Á Vận Hội kỳ IV năm 1967, đội Túc Cầu VNCH lại đoạt huy chương Bạc, khi thắng Lào 5-0, Thái Lan 5-0 và thua Miến Điện 1-2 khi vào chung kết. Trong trận đó, hội tuyển VN có Lâm Hồng Châu (thủ môn), Hồ Thanh Chinh, Lại Văn Ngôn, Nguyễn Văn Mộng, Phạm Huỳnh Tam Lang, Nguyễn Vinh Quang, Dương Văn Thà, Nguyễn Thái Hưng, Đỗ Thới Vinh, Võ Bá Hùng, Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Thuận, Hồ Thanh Cang, Quang Kim Phụng, Nguyễn Văn Chiêu, Cù Sinh, Nguyễn Văn Ngôn, Trương Văn Tư. Năm 1973, tại Đông Nam Á Vận Hội ở T6n Gia Ba, đội tuyển VN lại dành Huy chương bạc, sau khi vào chung kết lại thua Miến Điện, khi trận đấu chỉ còn 8 phút thì kết thúc với tỷ số 3-2.

Trong nỗi thăng trầm của túc cầu VNCH từ 1955-1975, chỉ có một điều đáng tiếc được báo chí thời đó ghi nhận,là sự xung đột giữa trung phong Ứng đội CSQG và tiền vệ Tống Mành của đội Tổng Tham mưu. khi tranh dành chức vô địch trên sân cỏ, Mành chẹn gãy chân Ứng. Tuy nhiên đó chỉ là chuyện rất thường trên sân cỏ. Điều quan trọng nhất là hầu như tất cả các cầu thủ của VNCH, hiện còn sống tại Sài Gòn, khi được báo chí thành Hồ phỏng vấn, đều tỏ ra xúc động và luyến tiếc thời vàng son của nền Túc Cầu Miền Nam, giờ đây gần như tuyệt vọng, trước tệ nạn tham nhũng và cá độ của cái gọi là đội tuyển quốc gia,khi mang chân tới đá tại các sân cỏ xứ người, mà tỷ số thắng thua đã được định trước bằng tiền thưởng.

Dương Văn Thà, một cầu thủ lừng danh là ' thần mã', của đội tuyển Miền Nam từ 1967-1974, cho biết trước năm 1975 là thời kỳ cực thịnh của Túc Cầu VN, qua nghệ thuật nhồi bóng cùng với tinh thần kỹ luật, tự giác và sự luyện tập. Còn Lê văn Tâm (cha Lê Huỳnh Đức, trung phong số 1 của VN ngày nay), nhắc lại trận đấu giữa VN và Nam Hàn, trong giải King's cup ở Thái Lan năm 1970, VN thắng nước này 1-0, qua cú sút phạt của Võ Thành Sơn và Lê văn Tâm đội đầu.

Thế mà ngày nay, đội bóng của VN càng ngày càng sa sút, trong khi đó Nam Hàn, chẳng những lừng lẫy tại Á Châu mà còn được chen chân vào các kỳ Thế Vận Hội,điển hình là kỳ World Cup 2006 tại Đức sắp tới. Riêng Đổ Càu cho biết, cầu thủ VNCH khi dự các cuộc tranh giải ở các quốc gia bạn, đều được đồng bào địa phương, thương mến, trân trọng vì bản chất của cầu thủ VN hiền lành, đứng đắn, biết tôn trọng kỷ luật trên sân cỏ, cũng như đã giao đấu rất dũng mãnh, nhiệt tình, để dành vinh quang danh dự về cho màu cờ, sắc áo của dân tộc. Sau năm 1975, các cựu cầu thủ miền Nam như Phạm Huỳnh Tam Lang, Quảng Trọng Hùng, Cao Cường**, Dương Văn Thà ... làm huấn luyện viên thể thao, Nguyễn Kim Hằng bán cà phê, Tư Lê lái taxi, Nguyễn văn Mộng, Đinh Công Hoàng ... thì ẩn dật ...

Viết chuyện người khiến hồn thêm bồi hồi khi nghĩ tới quê hương và những ngày xa cũ, nhất là Phan Thiết quê tôi, vùng đất đam mê đá banh như là món ăn tinh thần không sao thiếu được. Trước khi Việt Cộng cưỡng chiếm được VNCH ngày 30/04/1975, Bình Thuận là một trong những tỉnh có phong trào thể thao rất mạnh, mà tiêu biểu là môn túc cầu. Từ năm 1962-1968, hàng năm Bình Thuận đều tham gia giải Liên quân khu, gồm 11 đội bóng của các tỉnh Quảng Ngãi, Pleiku, Kontum, Darlac, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Tuyên Đức và hầu như chức vô địch trong những lần tổ chức ấy, khó có đội nào hơn được Bình Thuận.

Năm 1971, tại giải vô địch toàn miền Nam, với sự tham dự của 43 đội từ các tỉnh thị và 4 quân khu, đội bóng Bình Thuận, đã đoạt chức vô địch Túc Cầu toàn quốc, sau khi hạ đội Mỹ Tho với tỷ số 2-1 tại sân vận động Cộng Hoà. Ngoài ra đội Bình Thuận còn đá giao hữu với các đội chuyên nghiệp lúc đó tại Sài Gòn như Quan Thuế, Không Quân, Hải Quân và Cảng. Các cầu thủ Tam Lang, Dương Văn Thà, Nguyễn Văn Ngôn, Võ Thành Sơn, Cù Sinh, Phạm văn Rạng ... măc dù chơi hay, nổi tiếng và chuyên nghiệp nhưng khi đụng với Phan Thiết, cũng rất e dè và thán phục.

Đó cũng là do công dìu dắt của ông bầu Tăng Khánh (nhà sách Vui Vui), và các ông Quản Đầu, Ba Hoàng (nước mắm Vĩnh Hương), Khánh Cao. Nhưng đặc biệt nhất phải kể tới công của ông Bầu Ba Toại, đã chiêu dụ được nhiều cầu thủ danh tiếng ở tỉnh ngoài về đá cho Phan Thiết như Đổ Thới Vinh, từng đá cho các đội Quân Cụ, Quan Thuế, Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn. Với chiếc đầu hói, sống mũi dọc dừa, đôi mắt sâu sâu và nước da ngâm đen, đã tạo cho đồng đội nhiều cơ may dứt điểm khung thành địch. Vinh đang ở trong đội tuyển Miền Nam, thì được chọn vào đội tuyển Quốc Gia tham dự giải Đông Nam Á Vận Hội.

Cầu thủ Trần Ta, em ruột cầu thủ Trần Néo, sinh tại Phú Trinh, Phan Thiết, năm 18 tuổi là cầu thủ của đội trường trung học Phan Bội Châu, giúp đội đá bại trường trung học Võ Tánh, Nha Trang, đoạt chức vô địch Túc Cầu cấp tỉnh miền Trung. Sau Trần Ta về đầu quân cho đội Thương Khẩu của Bầu Quyền. Rồi được tuyển chọn vào Đội túc cầu Thanh Thiếu Niên Miền Nam, tham dự nhiều nước Đông Nam Á như Phi, Mã và Nam Dương. Từ năm 1961 trở về sau, tài năng của cầu thủ Trần Ta người Phan Thiết đang lên vùn vụt, thì đột nhiên anh bị tử nạn năm 1966, trên đường từ Sài Gòn đi Đà Lạt. Người ta đã tìm thấy xác Ta và chiếc xe gắn máy hiệu Sprint dưới lũng sâu của đèo Blao, quốc lộ 20.

Tuy nhiên cũng có nguồn tin nói là Trần Ta bị Việt Cộng chận đường giết, rồi xô xuống đèo làm như là một tai nạn giao thông, câu chuyện xì xào một thời gian rất lâu trong giới mộ điệu thể thao tại Phan Thiết. Hai anh em Trần Mai và Trần Đáng cũng được Bầu Toại chiêu mộ từ Huế vào, đá cho đội banh Phan Thiết. Nhiều năm liền, cả hai rất được hâm mộ, vì đều là trụ cột làm bàn, sát bóng manh, lừa giỏi, đưa đội bóng Bình Thuận đoạt được nhiều giải tại miền Trung và toàn quốc. Sau năm 1957, hai anh vì lý do gia cảnh, nên trở về Huế và gia nhập đội tuyển miền Trung từ giai đoạn 1961-1963.

Tóm lại, ngoài các cầu thủ trên, thành phần đội túc cầu Bình Thuận-Phan Thiết gồm có : Thủ môn Đại, Du (thập niên 50,60). Hậu vệ Xây, Bụt (sau bị hư một mắt), Lâu (được mệnh danh là trụ đồng), Ngọ (búa). Hàng tiền vệ có Thơm, Néo (anh ruột Trần Ta), Phối, Nhiều, Minh. Tiền đạo Mỉn (chết trong tù cải tạo VC năm 1975), Phê, Tùng (năm 1970 được tuyển vào Đội Thanh Thiếu Niên Miền Nam, tham dự các giải Đông Nam Á), Quang. Hàng Trung phong có Hoan dù chỉ thuận chân mặt nhưng là một trong những kiện tướng làm bàn hàng đầu của Đội.

Phan Thiết còn có Huyền Vũ, là một ký giả thể thao nổi tiếng, qua những bài tường thuật cũng như bình luận, các trận cầu quốc tế tại sân cỏ, trên làn sóng phát thanh Sài Gòn, được phóng đi cùng khắp. Do trên nhiều người không có thì giờ vì bận rộn sinh kế, công vụ, chỉ cần mở máy thu thanh cũng đủ cảm thấy như mình đang tham dự trận đá một cách thích thú. Giọng tường thuật của ông rất truyền cảm, thu hút được nhiều người nghe cũng như ái mộ.

Ông cũng là ký giả của nhiều tờ báo, viết nhiều bài tường thuật rất có giá trị. Theo Đinh văn Ngọc, vì ông với bản tính ăn ngay nói thật của người Phan Thiết, thấy sao nói vậy, không bưng bợ hay phe cánh cá nhân, do trên bị va chạm nhiều người, nhất là giới thể thao và đồng nghiệp. Tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, sinh tại Phú Trinh Phan Thiết, chủ bút tạp chí thể thao hàng tuần và báo Nguồn Sống trước năm 1975 ... Ngoài ra cũng kể thêm một ký giả thể thao khác của Bình Thuận là Thanh Điều kiêm Trọng tài các trận túc cầu giao hữu trên sân cỏ Phan Thiết Huyền Vũ vừa qua đời tại Hoa Kỳ.

Trước năm 1975, những ông bầu túc cầu nổi tiếng của Phan Thiết như Tăng Khánh, Ba Hoàng, Khánh Cao, Ba Toại ... là những nhà Mạnh Thường Quấn, rất quan tâm tới đội tuyển của tỉnh nhà. Tiệm cà phê Phú Ngữ là nơi thường trực tập trung các cầu thủ cũng như giới hâm mộ, mỗi buổi sáng, để bàn chuyện thể thao. Trong những khi có trận đấu, trước khi đội ra sân, các cầu thủ tập trung tại Phú Ngữ, vừa uống cà phê, vừa lắng nghe Huấn Luyện Viên Nguyễn Văn Quới, nguòi Hóc Môn, Gia Định, đã từng đá cho các đội AJS, Cảnh Sát Quốc Gia và Đội tuyển Miền Nam. Ông Quói được Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, chọn về làm huấn luyện viên trưởng cho đội tuyển Túc Cầu Phan Thiết, nhờ vậy mới đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.

Vậy mà cũng bốn chục năm rồi đó, nhưng không làm sao quên được, những tháng sáu mùa hè, ngồi trong lớp học hay đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, bất chợt nhìn thấy hoa phượng chúm chím nở hoa, là lòng lại bồi hồi xúc động và vui tới rớm lệ khi giờ cuối cùng đã hết, học trò lớn nhỏ, ai cũng nhắp nhỏm chờ lên tàu, để trở về quê củ, có thầy me đợi em trông, trên đường làng huyết lệ nở thành bông và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt, như Xuân Tâm đã viết, mà bọn học trò nhỏ ngày xưa ai cũng thuộc.

'Kiểm soát kỷ có khi còn thiếu sót
Rương chật rồi khó nhốt cả niềm riêng'

Nhưng làm sao quên được những niềm vui ấu thơ, những ngày theo bạn bè đá banh hay leo tường vào sân vận động, để mà xem chui những trận giao đấu banh, giữa các đội học sinh Trung Học Phan Bội Châu với đội tuyển Phan Thiết và các đội banh danh tiếng tại Sài Gòn.

Nhật Trường Trần Thiện Thanh trước khi trở thành ca nhạc sỷ nổi tiếng của VN, từng là thủ môn của đội Túc Cầu Trung Học Phan Bội Châu - Phan Thiết.

(Bài viết của Mường Giang)



Chú Thích: 1* Cầu Thủ Phạm Huỳnh Tam Lang, thủ quân của đội tuyễn VN (hình chụp ở trên) cũng có một thời là chồng của Nữ Nghệ Sĩ Bạch Tuyết.

2** Xin đính chánh với người viết là 2 Cầu thủ được nêu tên ở trên là Quảng Trọng Hùng và Cao Cường không
phải của Miền Nam mà là của Miền Bắc thuộc Câu Lạc Bộ Thễ Dục Thễ Thao Quân Đội còn gọi tên khác là Thễ Công của Hà Nội

Edited by user Saturday, April 30, 2011 8:09:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Sa Và Trường Sa Là Của Việt Nam!
VIET NAM BELONGS TO THE PEOPLE OF VIET NAM !
thanks 1 user thanked 1ngayvn for this useful post.
Hạ Vi on 5/1/2011(UTC)
Hạ Vi  
#73 Posted : Sunday, May 1, 2011 9:31:34 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


Sài-Gòn, Quán Cà-Phê và Tuổi Lang Thang ...

UserPostedImage


Bạn đã uống cà-phê nhiều, bạn biết mà, muốn phà một ly cà- phê tuyệt vời đâu có khó: Cà-phê sẻ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà- phê Mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hã? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưởi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị Rhum, thì Rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhỉ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan mới đã đời, thú vị phải không? Thì đó, bạn đã có đủ hết những gì bạn cần sao không tự pha ra mà uống, lại cứ đòi đi uống cà- phê tiệm, dị hợm không?

Nói vậy chứ tôi biết, tôi không trách bạn đâu. Cà- phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà- phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người cà- phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà- phê; “uống” câu chuyện quănh bàn cà- phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn đi với tôi, quanh quanh Sài Gòn làm vài ly chơi. Dĩ nhiên là tưởng tượng, cả bạn và tôi đều biết, đã xa rồi, biền biệt lắm rồi, ngày đó.

Tôi xin bắt đầu từ giữa thập niên 60, những năm đầu tôi sống ở Sài Gòn và cũng là giai đoạn đất nước thực sự có những trở mình to tát; những cơn lốc kinh hồn; những bùng vỡ vượt mọi giới hạn; những xô đẩy, mời gọi đầy lôi cuốn và cũng nhiều cạm bẩy.

Niềm vui và nỗi hy vọng về một vận hội mới sau biến cố 1963 qua nhanh theo với sự yểu tử tất yếu của những người đã nhân danh một cuộc cách mạng, nhưng là thứ cách mạng nửa vời, có khả năng đả phá nhưng lại thiếu bản lãnh và tâm lực để xây dựng, kiến tạo; rồi chỉnh lý, tái chỉnh lý; chính quyền quân nhân; chính quyền dân sự; Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và các tỉnh miền Trung; Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết ở Đà Nẵng; Phật Giáo đưa bàn thờ xuống đường; Thiên Chúa Giáo biểu dương lực lượng ở chỗ này chỗ khác; người Mỹ đổ bộ càng lúc càng đông , theo với nó là các Snack Bar, gái làm tiền và sự phá sản nghiêm trọng của nhiều giá trị luân lý và đạo đức. Chiến trường càng lúc càng khốc liệt, càng áp gần và đã trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng; một cơn ác mộng thường trực. Đủ thứ chiêu bài, đủ thứ lý thuyết mới mẻ và lôi cuốn được nhân danh, được nhắc đến...

Như vậy đó, Miền Nam Việt Nam những năm giữa thập niên 60; như vậy đó, tuổi trẻ Việt Nam lột xác: phải biết lớn ra, phải tự già đi trước tuổi của mình. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó đã thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ dường như tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không còn, cũng không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng đầu tiên trong đời được nhấp vào và dù muốn hay không, tuổi trẻ đã thực sự bị chi phối, và phải thường xuyên đối diện với những bất hạnh của dân tộc mình; những thảm kịch của thân phận mình và quán cà phê trở thành cái nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Thông cảm giùm đi, tập làm người lớn mà.

Những ngày mới vào Thủ Đô, tôi ở Đại học xá Minh Mạng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Trong suốt nhiều tuần lễ đầu tiên tôi đã dè dặc khi đi lại và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu “thần chú” bạn bè mớm cho: Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên và mườn tượng ra một “lá bùa” như một thứ kim chỉ nam khả dụng. Hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Dĩ nhiên nếu tính từ Đại học xá, Phan Thanh Gian được hiểu như bao gồm cả khúc Minh Mạng nối từ Ngả Bảy đến Ngả Sáu Chợ Lớn và Phan Đình Phùng phải cộng thêm khúc Lý Thái Tổ rẽõ phải đến Ngả Bảy hay rẽ trái đến Trần Hoàng Quân để về Ngả Sáu.

Về sau, khi đã khá quen quen, lá bùa được vẽ lớn thêm ra: Từ Phan Thanh Giản , rẽ phải theo Lê Văn Duyệt sẽ đến phố chính Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, chợ Bến Thành, rẽ trái lên Hòa Hưng, Bảy Hiền; từ Phan Thanh Giản rẽ phải ở Hai Bà Trưng sẽ đến bến Bạch Đằng, rẽ trái sẽ qua cầu Kiệu, Ngả Tư Phú Nhận; cũng từ Phan Thanh Giản rẽ trái ở Đinh Tiên Hoàng sẽ đến rạp Casino Dakao, Lăng Ông Bà Chiểu và hướng ngược lại là trường Văn Khoa. Cứ như thế, cái xe Gobel hai số cọc cạch, nổ bành bạch như máy xay lúa, trung thành như một người bạn thân thiết tha tôi đi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

Những ngày này tôi là khách thường trực của quán Cà-phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặc quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà- phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà- phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hảnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà- phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó, việc của bạn là uống vậy thì đừng táy máy đụng vào làm hư cà- phê của tôi. Cà- phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và chờ. Yên tâm đi, đừng nôn nóng gì cả, bạn sẽ có cà- phê ngon để uống mà. Ông chủ sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường cho bạn, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà- phê như vậy mới là cà- phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Nhiều người mới đến lần đầu không biết, cà- phê bưng tới là tự lo liệu cho mình đều bị chỉnh ngay: Ông nôn nóng mở phin lỏng như vậy nước chảy ào ào còn gì là Thu Hương! Ông bỏ đường ngọt như ăn chè vậy còn gì là Thu Hương! Ống klhuấy cốp cốp kiểu đó cà- phê sẽ chua lét là ông giết Thu Hương rồi! “Thằng cha” này rắc rối thật nhưng là sự rắc rối có thể hiểu được, thông cảm được miễn là cà- phê ngon. Mà cà- phê Thu Hương ngon thiệt, ngon lắm.

Trong lãnh vực kinh doanh quán cà- phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà- phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.

Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc lên; từ Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Hội Việt Mỹ lại; từ Huỳnh Thị Ngà, Nguyễn Công Trứ, Vương Gia Cần, Võ Trường Toản, Thư Viện Quốc Gia tới, quanh quanh khu Tân Định, Dakao cả mà. Cũng có người từ xa hẹn nhau đến nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa”lắm, “ông” nào “bà”ø nào cũng tha tập cours quằn tay, cọng với nào là “Hố Thẳm Tư Tưởng” của Phạm Công Thiện; Cho Cây Rừng Còn Xanh La”ù của Nguyễn Ngọc Lan; Nói Với Tuổi 20 của Nhất Hạnh và vân vân...

Ở Thu Hương dĩ nhiên là có thể “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” hay nhiều thứ giải khát khác; tuy nhiên, phần lớn là nhâm nhi ly cà- phê. Thu Hương nổi tiếng như vậy; ông chủ điệu như vậy, dù rành hay không cũng phải ráng tỏ ra sành điệu với người ta chứ! Lại còn phải cố bậm môi kéo Basto xanh cho có vẻ phong trần. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự; đốt bao tử, đốt phổi và đốt thời gian. Nghĩ lại thật phí phạm và đáng tiếc nhưng hồi đó thì không thấy như thế. Phải như vậy chứ sao! Thời chiến mà, buổi nhiễu nhương mà!

Ngày đó tôi thường ngồi Thu Hương với VCT, một người bạn đang học năm cuối ở trường Y Khoa, anh là người rất mê giáo sư Trần Ngọc Ninh, coi ông là một nghệ sĩ tài hoa, một tay dao bậc thầy trong ngành giải phẩu và vẫn thường say sưa kể việc thầy Ninh có thể cầm lưỡi dao lam khẻ vào tập giấy quấn thuốc và cho biết trước là sẽ rạch đúng mấy tờ. Bạn tôi đúng là người trời sinh ra để làm thầy thuốc, anh muốn xoa dịu mọi khổ đau và không chịu được những điều tàn nhẫn, thô bạo. Hồi sinh viên LKSN té lầu chết ở trường Y Khoa, báo đăng nói là tai nạn nhưng không biết từ đâu bạn tôi khẳng định đây là một vụ ám sát, thanh toán lẫn nhau và anh đau đớn, tức giận lắm. Người với người, chả lẻ không còn cách nào để có thể đối với nhau phải chăng hơn hay sao? Câu hỏi này theo anh rất lâu; anh ra trường, làm y sĩ tiền tuyến, ở lại với thương bệnh binh ngày thành phố di tản và vào tù. Đến lúc này anh đã có câu trả lời cho điều ám ảnh nhiều năm trước: Không phải không có cách mà là dường như người ta không cần và cũng không muốn phải chăng với nhau. Đau thật, nỗi đau quặn thắt tim gan.

Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may Thiết Lập, vậy bạn có biết cà-phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó chéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung Tâm Thực Nghiệm Y Khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng không biết do ai đặt, gọi riết thành quen chứ thực sự dường như quán không có bản hiệu, và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cữa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.

Cà- Phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là loại nhạc “mệt mỏi” cở “đại bác đêm đêm...” hay “đàn bò vào thành phố...” đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà- phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán - những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút - đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.

Đến Hồng không chỉ có nghe nhạc về quê hương, chiến tranh và thân phận; ở đây còn có thể đọc về những điều đó. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà-phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ.

Hồi Nguyễn Đăng Trừng chuẩn bị ứng cử vào Tổng Hội Sinh Viên, ban tham mưu của anh ta thường gặp nhau ở cà-phê Hồng và khi Trừng thành chủ tịch, Đặng Tấn Tới phụ trách tờ Nội San Sinh Viên, mặc dù lúc đó đã có trụ sở ở số 4 Duy Tân, rất nhiều anh em cũng vẫn thường kéo nhau đến cà-phê Hồng. Những ai hồi đó nhỉ? Đông lắm và vui lắm; vui và có ý nghĩa vì dường như tất cả đều muốn làm một điều gì. Tôi nói dường như bỡi vì, nhiều năm sau thực tế đã chứng minh là không phải chỉ có những người đến với phong trào sinh viên vì nhiệt huyết và lý tưởng, muốn một miền Nam tốt hơn, muốn bảo vệ hữu hiệu và xây dựng đất nước hoàn hảo hơn mà còn một số khác, dù không nhiều, đến với chủ tâm lợi dụng, coi phong trào như một cơ hội để phục vụ cho những ý đồ đen tối mà họ đang theo đuổi.

Say này, khi đã đắc thời, người côïng sản vẫn thường hảnh diện nhắc đến phong trào sinh viên, coi đó như là sản phẩm của họ. Ai cũng biết là không phải như vậy. Thật tội nghiệp cho những người cứ phải giả vờ như không biết; cứ phải ra rả như cái máy lặp đi lặp lại những điều mà chính họ cũng biết là không có thật.

Tôi đã đi quá xa rồi phải không? Xin lỗi, cho tôi được mượn cơ hội này để nói về tuổi trẻ của chúng ta một chút, tôi đang trở lại với cà-phê Hồng đây. Hồng là ai? Tôi không biết, quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó, Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xan lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và đều ít nói, ít cười; cái kiểu ít nói ít cười làm chết người ta. Còn cái dáng đi nữa, bạn còn nhớ không? Làm ơn nhắc giùm để tôi tả cho chính xác đi, khó quá. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những lời hát khó giải thích nhưng dễ cảm nhận như “vết lăn, vết lăn trầm” hay “vết chim di” gì đó có lẽ có thể mượn để hình dung ra dáng đi của mấy cô chủ cà-phê Hồng; nó nhẹ lắm, êm ái thước tha lắm và cũng lặng lờ khép kín lắm. Chính cái vẻ lặng lờ vừa như nhu lệ thẹn thùng, vừa như kênh kiệu kêu sa, vừa lãng đãng liêu trai đó đã làm khổ nhiều trái tim trai trẻ lắm, rất nhiều.

Giữa những năm 80, sau nhiều năm bầm dập ở nhiều trại giam khác nhau, tôi về lại Sài Gòn và có nhiều lần đi qua đi lại ở đường Pasteur. Cà-phê Hồng không còn, dãy phố nhỏ buồn thiu, im lìm và trống vắng như nét ảm đạm chung của toàn thành phố một thời rộn rã của chúng ta. Đối diện nơi quán cũ, gần cuối bờ thành viện Pasteur là một bãi rác khổng lồ, ruồi nhặn đen gật và mùi hôi thối nồng nặc, trùm tỏa; ở đó, hàng trăm ông lão bà cụ; hàng trăm trẻ em trai gái tranh nhau giành giật, đào móc từng chút sắt vụn, từng mảnh nhỏ nylon. Tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Anh em ta có bao giờ tự thấy là dường như mình đã đắc tội, đã phụ lòng, đã không làm hết, đã không cố gắng đủ để bảo vệ cho những gì cần bảo vệ, giữ gìn hay không? Và những người bên kia, có bao giờ nghĩ lại và tự hỏi họ đã nổ lực để đạt đến điều gì? có xứng đáng cà cần thiết không? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào? Ai có thể trả lời được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong nổi tan tác chung của cả một dân tộc!

Viện Đại Học Vạn Hạnh mở cữa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý: Hào quang của phong trào Phật giáo đấu tranh từ nhiều năm dồn lại, cùng với những tên tuổi chính trị Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Hộ Giác...,những cổ thụ văn hóa Minh Châu, Mãn Giác, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tôn Thất Thiện...đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân nhất.

Ở Sài Gòn, ngoài viện Đại Học Vạn Hạnh và các trường Bồ Đề, Tổng vụ Giáo Dục và Thanh Niên thuộc Giáo Hội Phật Giáo còn nhiều cơ sở trực thuộc khác như cư xá Quảng Đức ở đường Công Lý, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở chùa Ấn Quang..., nói chung là dân Vạn Hạnh có nhiều chỗ để lui tới, để “dụng võ” lắm; tuy nhiên, dường như “tổng đàn” của Vạn Hạnh không nằm ở những nơi chốn “thâm nghiêm” này, nó đặt tại một tiện cà-phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó chéo về phía chợ Trương Minh Giảng.

Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thước, có vẻ chữ nghĩa. Chừng đó là quá đủ, quá đạt để phe ta tụ lại: Các anh chị em thuộc khối Văn Thể Mỹ của thầy Phạm Thế Mỹ tấp vào nói chuyện văn nghệ; nhóm làm thơ trẻ Nguyễn Lương Vỵ, Võ Chân Cửu -lúc đó đang lên và đang chiếm đều đặng nhiều cột thơ trên báo Khởi Hành - ngồi đồng từ sáng đến tối để...làm thơ; những “chuyên viên xuống đường trong sáng” chụm đầu lại để bàn kế hoạch; những “chuyên viên lợi dụng xuống đường” cũng chụm đầu lại để bàn quỷ kế và đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau ở Nắng Mới.

Đại học Vạn Hạnh có một phân khoa mà bên Văn khoa không có: Phân khoa báo chí. Vạn hạnh còn có một lợi thế như là một sự ưu đãi đặc biệt vì nhu cầu giáo dục là phân khoa sư phạm thi tuyển và được tăng một tuổi theo luật động viên. Vì lẽ đó anh em đến với Vạn Hạnh đông lắm; không khí ở Vạn Hạnh hào hứng và sôi nổi lắm. Mỗi lần có đợt tranh đấu, xuống đường, ngày Vạn Hạnh chạo rạo, đêm Quảng Đức không ngủ, sáng Nắng Mới không có chỗ ngồi. Vạn Hạnh như một lò lửa, một điểm nóng, một trung tâm. Tiếc thay đàng sau những nhiệt tình trong sáng; những lý tưởng vô cầu là những bóng đen rình rập, những nanh vuốt hờm sẵn.

Hình như Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh, sống theo Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nó chứng kiến cảnh Nguyễn Tổng cởi áo thầy tu, đi tiếp thu một trường Trung học; Nguyễn Lương Vỵ bỏ bộ mặt hiền thi sĩ đóng vai mặt lạnh ở phòng giáo dục Phú Nhận; Vỏ Như Lanh xông xáo từ Thành Đoàn qua báo Tuổi Trẻ; Trần Bá Phương làm chúa một trại giam, gọi đẹp đẽ là hiệu trưởng trường giáo dục lao động và còn nhiều lắm, kẻ thù mai phục và bạn bè bạc bẽo trở cờ; tất cả thành một bầy kên kên nhởn nhơ trên nỗi khổ của anh em, nỗi đau của cả dân tộc.

Ngày tôi về lại Sài Gòn sau nhiều năm phải xa, cà-phê Nắng Mới không còn; Đại học Vạn Hạnh biến thành một cư xá sinh viên, áo thun quần lót treo la liệt từ trên xuống dưới, quang cảnh vừa đìu hiu vừa bát nháo nhìn thấy mà đứt ruột. Nghe nói núi sách của thư viên bị lấy hết, đốt sạch. Thầy Minh Châu dời lên một Phật học viên nhỏ trên đường Võ Di Nguy gần Trung Tâm Tiếp Huyết; thầy Quảng Độ bị quảng thúc đâu đó tuốt ngoài Bắc; thi sĩ, thầy Bùi Giáng lang thang ngạo đời ở đầu phố cuối chợ; không lâu sau đó Đại Đức Tuệ Sĩ, Trí Siêu lần lược bị bắt. Vạn Hạnh không còn gì, thật sự không còn gì. Những con người cũ tứ tán muôn phương. Cái nơi chốn đầy sức sống và niềm tin ngày nào giờ tiêu điều buồn bã như giòng kinh nước đen uể oải dưới chân cầu Trương Minh Giảng.


(còn tiếp)

Edited by moderator Tuesday, May 15, 2018 4:38:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#74 Posted : Sunday, May 1, 2011 9:34:51 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
Sài-Gòn, Quán Cà-Phê và Tuổi Lang Thang ...


...tiếp theo


...Mấy năm trước đây tôi có được đọc một bài báo, nội dung của nó cũng thường thường không có gì đặc biệt lắm; tuy nhiên bài báo có nhắc đến một chi tiếc làm tôi ngẩn ngơ nhiều ngày. Tác giả đã nói về một quán cà-phê thân quen: Quán chị Chi ở Dakao. Thật ra đây không phải là quán cà-phê mà là quán trà; mà thật ra có lẽ cũng không thể gọi là quán trà mà chỉ có thể nói là chỗ uống trà ở nhà chị Chi mới hoàn toàn đúng. Bạn hãy tưởng tượng giùm tôi cái khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp hát Văn Hoa Dakao, ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè; ở đó không có cái ồn ào náo nhiệt như ngoài Trần Quang Khải, khúc đổ về Tân Định, cũng không có cái tập nập mắc cưởi của đoạn Lê Văn Duyệt hướng về Lăng Ông; nó trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy bực tam cấp xi măng, mở cữa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường. Quán chị Chi ở một trong những ngôi nhà này. Làm sao để nhận ra? Không biết, tôi đã nói là không phải quán xá gì cả mà, chỉ là tới nhà bà chị uống trà chơi vậy thôi và đã là nhà bà chị thì phải tự biết chớ, cần gì hỏi. Phòng khách- được gọi là quán- chị Chi nhỏ lắm, chắc độ chín mười thước vuông gì đó, chỉ đủ chỗ để đặc ba bốn chiếc bàn nhỏ. Nhà không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Giang sơn của chị Chi chỉ có vậy và chị mở “tiệm”. Khách đến với chị Chi không phải coi bản hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo trên đài địa phương hay đọc giới thiệu trên báo chợ báo bán gì cả, mà hoàn toàn do thân hữu chuyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà-phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chác nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho vài hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc , ấm đôi và ấm bư. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh - loại bánh đặc biệt của chị Chi- nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm vô cùng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm.

Đến với chị Chi có cái thú vị là được hưởng một không khí thân mật, thoải mái như đang ngồi trong nhà của mình; điều thích nữa là không bao giờ phải bận tâm đến chuyện tiền bạc gì cả; muốn đến lúc nào cứ việc đến, không có tiền thì chỉ cần ngồi cười cười, chị Chi sẽ nói giùm cho bạn điều bạn khó nói: “cuối tháng chưa lãnh măng đa phải không? Uống gì nói chị lấy”. Chưa hết đâu, khi đã thân, đã thành “bạn của chị Chi”, hai lần mỗi năm vào khoảng trước Giáng Sinh và hăm ba ông táo về trời bạn sẽ được chị Chi kêu “đến chị chơi”. Đến chị chơi có nghĩa là đến uống trà mà không phải trả tiền và nếu gặp lúc chị Chi vui và khoẻ, “chơi” còn có nghĩa là có bánh bèo tôm chấy hay bánh hỏi thịt nướng kèm thêm nữa.

Khách của chị Chi không đông, giá nước ở chị Chi không đắc vì vậy chắc chắn chị Chi không sống bằng “cữa tiệm”, chị bán cho vui, bán mà như kêu anh em góp chút tiền cho chị để chị nấu giùm chút nước uống cho vui. Mà quả tình ở chỗ chị Chi vui thật, vui vì những đậm đà tình nghĩa.

Hồi đó chị Chi đã khá lớn tuổi, bây giờ sợ chị đã lìa xa chúng ta hoặc nếu không thì cũng không còn đủ sức để nấu nước giùm cho ai được nữa. Quán chị Chi chắc không còn nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị Chi bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cu õ- Tôi nghĩ anh chị em cũng không hẹp lòng gì mà không cho tôi nói lời đại diện này - Cuộc đời chúng ta đẹp vì những niềm vui nho nhỏ không tên; Sài Gòn của chúng ta đáng nhớ vì những dễ thương nho nhỏ không tên. Chị Chi, chị đã cho chúng tôi những niềm vui ấy; chị đã góp cho Sài Gòn một phần của cái dễ thương ấy. Cảm ơn chị.

Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà-phê mới, những quán sau này thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Café Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng...Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ - Hình như là Đào Duy Từ - gần sân vận động Cộng Hoà có một quán cà-phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giả thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lang xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướng của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những bi cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất ...Đa La.


UserPostedImage


Ngày khai trương, Đa La đã mời được Linh Mục Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt đến dự và đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hữu Hà... Chừng đó là đủ chết người ta rồi, dân Đại Học Xá kéo qua, dưới Sư Phạm, Khoa Học lên; Y Khoa; Phú Thọ xuống; cả Petrus Ký, Chu Văn An nữa là đủ bộ, quanh quanh khu Ngả Sáu chấm Đa La và dồn tới. Những ngày đó Đa La đông vui lắm, nó trở thành một chốn tụ tập hết sức văn nghệ; nó đã chứng kiến sự nở hoa của nhiều mối tình và cũng chia xẻ sự héo tàn của nhiều mối tình khác, nó có thể tiếp tục buồn vui với những người bạn trẻ như thế nếu như đất nước không có những đột biến to tát: Biến cố Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy người chết ngay tại thủ đô Sài Gòn; rồi tổng công kích đợt hai; rồi tổng động viên lần thứ nhất năm 1968; quân sự học đường; tổng động viên lần thứ hai 1972; tất cả những điều đó đã làm thay đổi rất nhiều nhịp sống chung và tát động sâu xa đến suy nghĩ và hành động của từng con người. Đa La vắng dần những người khách cũ, lưa thưa có thêm những người mới với dáng vẻ ủ dột trầm ngâm hơn, lác đác những bộ đồ vàng quân sự học đường, những bộ đồ phép Thủ Đức, những bộ đồ lính thứ thiệt của nhiều quân binh chủng vội đến, vội đi. Đa La lần lược nhận được tin tức về nhiều người bạn cũ không bao giờ còn trở về; Đa La tiếp tục có thêm nhiều buổi cà-phê cuối cùng để tiễn những người đến lược ra đi. Đa La không vui và những người bạn của Đa La cũng không vui bỡi vì cả đất nước không vui, cả dân tộc đang muộn phiền.

Đa La còn đến lúc nào? Đóng cữa bao giờ tôi không biết, có điều là đã có thời Đa La giống như một tri kỷ của nhiều người, nó cũng buồn, cũng vui, cũng hy vọng, cũng rã rời, cũng phấn chấn, cũng mệt mỏi, cũng khóc, cũng cười, cũng muốn ngoan ngoản xây dựng, cũng thích tung trời phá phách, cũng tỉnh, cũng điên, nói chung là nó chung chịu với bạn bè những tháng ngày nhiều chuyện, dễ thương lắm và đáng nhớ lắm, một chút Sài Gòn.

Hồi đã vào Thủ Đức tôi còn rất nhiều dịp để ngồi cà-phê Hân, đường Đinh Tiên Hoàng. Thật ra phải nói tôi bị bắt buộc phải ngồi ở đó vì thời gian trong quân trường tôi thuộc loại con bà phước; gia đình ở xa, người yêu thì mặc dù đã quen từ thời còn ở tỉnh nhỏ quê nghèo những cũng vẫn chưa qua được giai đoạn “mặt ngoài còn e”, cuối cùng tôi chỉ còn bạn bè. Hồi đó mỗi lần đi phép, xe quân trường sẽ thả xuống và đón về ở khu Mạc Đỉnh Chi, gần Hội Việt Mỹ; tuy nhiên dạo đó tình hình sôi động lắm, quân trường lúc cắm trại, lúc xả phép, không chắc lúc nào có thể về được vì vậy tôi chỉ có thể nhắn chung chung là “đón tao ở Hân”, phòng hờ có trục trặc gì thì bạn bè kể như đi uống cà-phê chơi với nhau, đỡ sốt ruột. Tôi thật sự vui mừng và cảm động, chưa bao giờ tôi đến Hân mà không có người chờ, cũng chưa bao giờ tôi chờ ở Hân mà không có người đến. Bạn bè! Biết nói sao cho đủ cái nghĩa đặc biệt của hai chữ ấy.


Hân là quán cà-phê thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự chính trị, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy tốt lắm, đáng trân trọng lắm chứ; tuy nhiên, dường như có một chút gì rất xa, rất lạ với một người lính. Thật tình tôi chỉ là một người lính bất đắc dĩ, lệnh tổng động viên giới hạn tuổi ở đại học, ông tướng Đạm không ký giấy hoãn dịch nữa thì trình diện; tôi rời Sài Gòn cũng chưa được bao lâu, ở Thủ Đức thì cũng chỉ mới là lính tập sự, lính sữa; đã có tối nào nhìn toán tiền đồn lầm lũi đi vào đất địch để phục kích, để lấy tin đâu mà hiểu được nỗi cô đơn; đã có đêm nào trùm poncho ghìm súng ngồi dưới mưa giữa vòng vây quân địch đâu mà biết được cái cảm giác trống vắng, khiếp hải; đã bao giờ ôm thân thể thủng nát của một đồng đội rạp người dưới làn đạn thù, nhìn máu chảy cho đến hết đâu mà hiểu được nỗi bi uất, tuyệt vọng; vậy mà tôi đã tự nhân danh là một người lính để cảm thấy xa la,ï lạc lõng với Hân, với Sài Gon. Kỳ cục không? Cảm giác của tôi lúc ấy lạ lắm, khó nói lắm; nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ, để phân tích điều gì, tôi đang đi phép mà, cho tôi nghỉ một chút, chơi một chút dù cả lúc chơi, lúc nghỉ tôi đều bị cái cảm giác lạ lạ, khó nói kia ám ảnh. Sau này, Nhà văn Thế Uyên có viết một quyển tạp bút tựa là “Muời ngày phép của một người lính” tôi đọc và thấy nhẹ nhàn thơ thới lắm; đại khái tác giả đã nhân danh một người lính mà đặc vấn đề với những con người, những cách sống, nói chung là với một hậu phương mà ông cho là bất xứng. Tôi nhẹ nhõm vì ông Thế Uyên đã nói giùm tôi cái mà tôi gọi là cảm giác khó nói ở trên.

(Đoạn sau đây lẽ ra không có trong bài viết này, nhưng tôi vừa nhắc đến nhà văn Thế Uyên với một cách nói được hiểu như là một sự mến mộ vì vậy nên tôi xin phép nói thêm vài đều trong cái ngoặc đóng này. Đúng, có một thời gian rất dài tôi mến mộ ông Thế Uyên. Tôi mê Thế Uyên từ truyện ngắn “ Những Kẻ Thuộc Bài”. Đại khái chuyện muốn nói là mỗi chúng ta đều học được từ sách vở, học đường, tôn giáo và nhiều nguồn giáo dục khác những điều tốt đẹp; thật đáng buồn, thực tế không giống như những gì ta được dạy. Trong cuộc đời có quá nhiều những kẻ không thuộc bài, có quá nhiều những ngụy quân tử, nói rất đúng bài vở nhưng chính họ lại làm khác và Thế Uyên nhân danh một người thuộc bài, phê phán về điều đó. Tôi đã từng có lúc bạo gan nghĩ là mình cũng thuộc loại thuộc bài nên hết sức thông cảm và chia xẻ nỗi buồi của Thế Uyên, ủng hộ Thế Uyên. Về sau Thế Uyên lập nhà xuất bản Thái Độ, lại đúng nữa, xã hội của chúng ta quả là có nhiều vấn đề cần tỏ thái độ và tôi lại tiếp tục ủng hộ Thế Uyên dù tôi chưa bao giờ gặp gỡ hay quen biết gì với ông. Tôi giữ một tình cảm rất đặc biệt về Thế Uyên cho đến năm 1979. Hồi đó các trại tù đã được thăm nuôi và tôi được bạn bè lén lút gởi cho tờ báo Đứng Dậy hay Đối Diện gì đó của nhóm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan; trong tờ báo này có một bài viết của Thế Uyên, anh ta kể về một cái Tết ở trại giam Kàtum. Nhà văn lớn có khác, tả tết thì đúng là tết, có thịt cá bánh trái ê hề, có cà-phê thuốc lá vui vẻ, có giọng nói tiếng cười “ hồ hỡi phấn khởi”, có những khuôn mặt rạng rỡ tin yêu, có các cán bộ khoan hòa nhân ái như những nhà tu; đặc biệt là cảm tưởng sung sướng xúc động của tác giả khi được đứng nghiêm chào lá cờ máu trong ngày đầu năm. Tôi đọc bài báo mà buồn lắm, buồn ghê gớm lắm. Tôi biết là trong hàng ngũ những kẻ không thuộc bài đã có thêm một người và tôi tự buộc mình phải quên hai chữ Thế Uyên đi, thật đau lòng nhưng phải quên, nhất định).

Tôi xin trở lại với cà-phê Hân và xin làm ơn bỏ qua một bên cái cảm giác xa lạ của riêng tôi. Hân vốn tự nó là một nơi chốn hết sức đáng yêu và chắc chắn là một nơi chốn rất đáng nhớ của nhiều người. Về sau, ở đối diện với Hân người ta mở thêm quán cà-phê Duyên Anh ( Không biết nơi này có liên quan gì với nhà văn Duyên Anh hay chỉ là tên đặt bỡi một người chủ ái mộ nhà văn này). Hai tiệm cà-phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, cả hai đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Thống Nhất - Cường Để và các anh em bên khu Đài Phát Thanh, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị hướng Phan Đình Phùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ mỉm cuời và sẽ thấy rất gần gũi, rất thân thiết.

Tôi vừa mời các bạn đi thăm một vòng mấy quán cà-phê mà chắc nhiều anh em trong chúng ta từng quen biết, từng có những gắn bó thế này hay thế khác. Tôi xin ngừng ở đây nhưng anh em có thể tiếp tục đến những nơi chốn kỷ niệm khác của riêng mình. Tôi biết anh em đều là những người nặng tình cho nên tôi tin là mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, mỗi cổng trường đều thấp thoáng bóng hình của tuổi nhỏ, của quê xưa. Tôi xin nhắc là anh em nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiến cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêngtư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối với nhau cũng rất đẹp. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, tặng tất cả những ai còn có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở đâu đó, nơi quê nhà.



Nguyễn Mạnh An Dân

Edited by moderator Tuesday, May 15, 2018 4:39:20 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
havi  
#75 Posted : Sunday, May 1, 2011 9:22:33 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


Edited by moderator Tuesday, May 15, 2018 4:33:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified


UserPostedImage
Hạ Vi  
#76 Posted : Wednesday, May 4, 2011 5:00:22 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
.

UserPostedImage


Sài Gòn, cà phê xưa

Chưa rõ những ly cà phê đầu tiên ở Sài Gòn được pha thế nào, nhưng theo cố nhà văn Sơn Nam, miền đất mới này đã xuất hiện sớm hai quán cà phê do người Pháp làm chủ là Lyonnais (trên đường Lý Tự Trọng nay) và Café de Paris (trên đường Đồng Khởi) từ năm 1864. Và cà phê dần hình thành một dòng chảy văn hóa, bạn tri âm, tri kỷ của bao lớp người Sài Gòn …


1)
Khi chiến hạm Pháp tiến vào Sài Gòn, những giọt cà phê hương bơ cũng dần chảy trên miền đất mới này. Trong ký sự Đông Dương ngày ấy, tay bút phiêu bạt Claude Bourrin kể lại một thời bàn cà phê xếp kín chỗ quanh Nhà hát lớn. Giờ đông khách, mùi cà phê ngào ngạt khắp khu vực.

Trên các đường phố khu vực này, nhiều quán cà phê cũng nhanh chóng xuất hiện như Café de la Musique, Grand Café de la Terrasse, Café des Fleurs… để phục vụ kẻ viễn chinh lẫn người bản địa sớm hấp thụ lối sống phương Tây.

Cặp mắt tinh tế của tác giả cũng nhìn thấy hình ảnh trong khi các ông chồng người Pháp tụ tập tán gẫu ở các quán cà phê này, thì các quý phu nhân đi dạo trên những chiếc xe ngựa leng keng.

Sau đó, nhiều bà quay xe về quán để đón phu quân vẫn đang mải mê với thứ nước thơm nồng. Claude Bourrin cũng không quên nhấn nhá kể lại những lời bình phẩm nhỏ to, mà đôi khi thô tục, của những anh lính viễn chinh về các quý bà người Pháp vốn như hoa hiếm ở Sài Gòn thuở ấy…

Trong chiến tranh 20 năm, một góc khác của Sài Gòn, nhà báo Edith Lederer (hiện là trưởng phân xã AP tại Liên Hiệp Quốc), trong chuyến thăm lại Sài Gòn năm 2010 đã ở lại khách sạn Caravelle và kể lại: “Văn phòng của AP nằm trên tòa nhà Eden. Nhà báo chúng tôi ngồi ở Givral, Brodard, nói đủ chuyện trên đời và nghe ngóng tin tức”.

“Trục cà phê” gồm ba quán La Pagode, Givral, Brodard đã từng một thời là trung tâm báo chí của Sài Gòn. Ở đó, những tên tuổi hàng đầu thế giới về báo chí như Peter Arnett, Larry Burrows… đều từng có thời gian la cà, chờ đợi và chiến đấu với những thông tin nóng bỏng nhất của chiến tranh Việt Nam. Cũng ở cái “trục cà phê” đó, “tướng Givral” Phạm Xuân Ẩn cũng quanh năm la cà cà phê Givral ngay dưới chân văn phòng Hãng tin AP. Ông là phóng viên tờ Time, một nhà tình báo xuất sắc nhất của Việt Nam trong suốt cuộc chiến.

Bây giờ La Pagode không còn, Givral cũng ngừng hoạt động cùng với tòa Eden. Nhưng người Sài Gòn đi ngang qua khu vực ấy vẫn thấy Brodard sáng đèn và tấp nập cà phê ngay ngã ba Đồng Khởi – Nguyễn Thiệp. Tên Brodard vẫn còn đây nhưng “gu” cà phê đã chuyển sang phong vị Gloria Jean’s. Người Việt, khách Tây hòa vào nhau bên ly cà phê. Mỗi năm, khi những người xưa cũ của cuộc chiến tranh Việt Nam quay lại thăm thành phố nhiều ký ức này, Brodard – Gloria Jean’s vẫn làm dấy lên những vùng rất rõ nét trong tâm trí họ. Ở đó, đám nhà báo ngồi, chính trị gia đi lại, thông tin khuấy động, Sài Gòn rung chuyển khi những trang tin đến tay thế giới.

2)

Bên cạnh những quán cà phê gắn liền lịch sử, Sài Gòn xưa còn có những quán cà phê bình dân như bộ mặt khác rõ nét và chân thực về người xứ này. Thầy giáo Hoàng Hữu Phước bồi hồi nhớ mãi thuở cầm cốc ra quán cà phê Năm Dưỡng mua cho cha. Ông kể: “Bà chủ cho cả cái vợt đầy bột cà phê nhúng vào bình, vợt lên xuống rồi đổ cà phê ra cốc. Xong bà lại tống nước sôi vào, tiếp tục vợt và đậy nắp lại. Ba tôi ghiền, ông ngoại tôi cũng ghiền”.

Quán cà phê Năm Dưỡng ngày ấy nằm trên đường Nguyễn Thiện Thuật. Cả cái kiểu pha cà phê dùng vợt (còn gọi là “cafe vớ” – vì vợt để bã giống cái vớ) cũng hiếm còn thấy ở Sài Gòn. Sau này bôn ba khắp nơi, ông Phước vẫn nhớ cà phê vợt ngày nào: “Đó là cách pha của các chàng cao bồi, vì khi nấu nước nóng, hương khói tỏa ra nồng nàn cả phòng…”.

Đạo diễn Tường Phương, ngày xưa còn là chàng sinh viên văn khoa Sài Gòn, nhớ mãi chuyện muôn năm cũ: “Bà lão bán cà phê bị hô nhưng lúc nào cũng cười toe toét. Bà biết hết từng người thích gì. Tay vợt vợt cho cà phê ra nước, ông bà bán hàng chẳng lúc nào ngớt chuyện với khách. Quán Năm Dưỡng bình dân nên đông khách, có lúc chẳng có ghế ngồi. Cà phê thơm thiệt thơm”.

Với Tường Phương, cà phê vỉa hè là nơi đã cho ông gặp được những người quan trọng nhất của đời làm phim. Một lần, khi đang tìm hiểu để quay bộ phim tài liệu về quái kiệt cải lương Ba Vân, ông đã được chính nghệ sĩ già này nhắc nhở về những ly cà phê buổi sớm.

Nhà ở Bàu Sen, ông Ba Vân dậy sớm ra chợ Bàu Sen uống cà phê và nhìn người ta chở bông, chở rau quả, rồi buồn vui chuyện trúng mùa, thất bát. Ly cà phê buổi sớm đã giúp ông lão cảm nhận nhân gian thế sự chảy trong máu mình để thăng hoa trong vai diễn.

Ở Sài Gòn, người ta thấy ở quán cóc vỉa hè hoặc tận xó xỉnh nào đó, những bậc thầy văn chương, thi sĩ như Sơn Nam, Bùi Giáng… ngồi cạnh những người xích lô lam lũ. Ông Hoàng Hữu Phước tâm sự: “Hồi ông Bùi Giáng còn sống, đám sinh viên tụi tôi hay đến quán cà phê trong ngõ, đối diện với chùa Kỳ Viên đường Nguyễn Đình Chiểu và gặp ông ngồi đó với ba bốn ông bạn gần tuổi nhau. Rồi tôi cũng thấy ông xích lô bỏ xe ngay đó, vác điếu cày vô ngồi gọi cà phê trong quán”.

Rồi bao chuyện đất và người Nam bộ đã đến với ly cà phê cùng nhà văn Sơn Nam. Cuộc sống và giọt mồ hôi anh xe kéo, ông bốc vác cũng từ ly cà phê ấy mà trôi vào từng dòng tác phẩm của cụ Vương Hồng Sển, vào từng dòng thơ say tỉnh, hư thực của nhà thơ Bùi Giáng.

...........................

Nhiều chủ quán không biết nửa chữ cắn làm đôi, nhưng luôn thủ sẵn cuốn sổ nợ cho người uống ghi nợ. Giá ly cà phê rẻ mạt mà lắm kẻ vẫn không trả nổi nợ. Cứ ít hôm chủ quán lại thở dài nghe tin tay anh chị, cô gái ... nào đó ở xóm mình không thể trở về. Trang giấy ghi nợ đành phải xé đi vì người bất hạnh đã bỏ thân ở góc hẻm, đầu chợ lạnh lẽo nào đó…



QUỐC VIỆT – LAN PHƯƠNG

Edited by moderator Tuesday, May 15, 2018 4:42:16 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#77 Posted : Thursday, May 5, 2011 12:49:14 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
UserPostedImage

Đêm Nhớ Về Sài Gòn

Sáng tác : Trầm Tử Thiêng
Tiếng hát : Gia Huy

http://www.youtube.com/watch?v=WKGVOPpl-PA

Đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi
Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi
Đường im nghe quá khứ trong sấu
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau

Đêm nhớ về Sài Gòn
Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa
Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa
Ai sầu trong quán úa
Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song
Mắt người tình một trời mênh mông .
Gợi bao nhiêu cho cùng ..

Yêu me một khối tình quê
Yêu em từng bước tình ơi
Đêm đêm mộng thấy đường đi đường về

Ta như cậu bé mồ côi
Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi

Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
cho lòng thêm chút ấm
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau

Tình chia trong đêm sầu ..

Hạ Vi  
#78 Posted : Friday, May 6, 2011 2:12:08 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)

UserPostedImage



TÊN GỌI SÀI GÒN



I - Lịch Sử :


Khi nói tới tên gọi Sài Gòn, chúng ta cũng gặp khó khăn vì không có tài liệu, văn bản hành chính chứng minh rõ ràng. Có nhiều tác giả đã viết về tên gọi Sài Gòn. Trong bài này, chúng tôi xin trích dẫn một vài đoạn bài viết của Gs Nguyễn Ngọc Huy với các giả thuyết sau đây:
1. Huỳnh Tịnh Của trong tác phẩm "Đại Nam Quốc Âm Tự Vị" giải thích: Sài có nghĩa là củi thổi, Gòn: tên loại cây có bông trắng và nhẹ xốp người miền Nam dùng làm gối và nệm nằm. Về địa danh thì Sài Gòn là tên riêng của vùng Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé. Như vậy, Sài Gòn chỉ vùng Chợ Lớn ngày nay, còn Sài Gòn bây giờ lại thuộc Bến Nghé. Theo hai người Anh là Crawfurd và Finlayson đã đến vùng này năm 1922 thuật lại thì Sàigòn và Bến Nghé (mà các tác giả trên đây viết là Bingeh hay Pingeh) là hai thành phố khác nhau và cách xa nhau độ 1 hay 2 dặm. Bến Nghé là nơi đồn binh và đặt cơ quan chánh phủ, còn Sàigòn là trung tâm thương mãi và là nơi cư ngụ của người Tầu (theo tập san của Hội Cổ Học Ấn Hoa, năm 1942, tập số 2 - Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises).

Khi người Pháp chiếm ba tỉnh phía đông Nam Kỳ năm 1861, họ dùng tên Sài Gòn để chỉ đất Bến Nghé cũ và dùng nơi này làm trung tâm hành chánh. Đối với người Tây thì Sài Gòn dễ phát âm hơn Bến Nghé. Khi người Pháp cai trị và gọi tên Sài Gòn thay cho Bến Nghé thì dân miền Nam bắt buộc phải theo và gọi Chợ Lớn thay cho địa danh Sài Gòn trước đây.

1. Trương Vĩnh Ký dựa vào bộ Gia Định Thông Chí của ông Trịnh Hoài Đức, tập Souvenirs historiques, lại kể lại rằng người Khmer xưa có trồng cây gòn chung quanh đồn Cây Mai và chính ông còn thấy vài gốc cổ thụ này tại vùng vào năm 1885.

1.3 Lê Văn Phát cho rằng trước đây, vùng Sàigòn Chợ Lớn hãy còn bị rừng bao phủ và tên Sàigòn có lẽ phát xuất từ tên Khmer Prei Kor tức là Rừng Gòn (Forêt des Kapokiers). Prei Kor là tên mà người Khmer dùng để gọi một địa phương mà trọng tâm là Chùa Cây Mai ở Phú Lâm ngày nay. Mặt khác, ông Lê Văn Phát cũng cho biết rằng người Lào (mà ngôn ngữ gần như ngôn ngữ Thái) đã gọi vùng này là Cai Ngon, mà Cai Ngon theo tiếng Thái cũng có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn (Brousse des kapokiers).

1. Vương Hồng Sến trong bộ Sàigòn Năm Xưa cho biết rằng theo tiếng Khmer thì Kor có nghĩa là gòn mà cũng có thể có nghĩa là con bò, và Prei Kor có thể là Rừng Bò chứ chưa ắt hẳn là Rừng Gòn.

Mặt khác, các nhà học giả Pháp nghiên cứu về nước Cam-Bu-Chia đã tìm được trong bộ sử chép tay của nước ấy một dữ kiện quan trọng về vùng này. Theo bộ sử ấy, năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đã đến Cam-Bu-Chia xin vua cho đặt một số sở thuế ở vùng Prei Nokor và Kas Krobey. Vua Cam-Bu-Chia lúc ấy có một hoàng hậu là con gái chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Bởi đó, ông đã chấp nhận lời yêu cầu của chúa Nguyễn. Theo ông Etienne Aymonier thì Nokor là xức, quốc gia và Prei Nokor là rừng của vua (forf royale). Nhưng linh mục Tandart lại bảo rằng tiếng Nokor do tiếng nam phạn Nagaram mà ra, và có nghĩa là thành phố của rừng hay thành phố ở giữa rừng (ville de la forêt). Bởi vậy theo ông, Prei Nokor có nghĩa là thành phố. Nhà học giả Pháp Louis Malleret khi nêu ra tài liệu về Prei Nokor đã dựa vào ý nghĩa của tiếng Khmer này theo linh mục Tandart để bác bỏ thuyết của các học giả Việt Nam trước đó cho rằng Sàigòn có nghĩa là Củi Gòn. Ông đã theo ý kiến của một người Pháp khác là Maurice Verdeille theo đó tiếng Sàigòn có lẽ phát xuất từ tiếng Tây ngòn có nghĩa là cống phẩm của phía tây (tribut de l’ouest). Tiến Hán Việt có nghĩa là cống phẩm của phía tây nếu đọc theo VN là Tây Cống và Tây Ngòn hẳn là Tây Cống, nhưng phát âm theo giọng Trung Hoa. Sở dĩ ông Malleret theo thuyết này là vì ông đã dựa vào một dữ kiện lịch sử do ông Trịnh Hoài Đức chép lại, là khi Cam Bu Chia bị phân ra cho hai vua thì cả hai vua nầy đều nạp cống phẩm cho chúa Nguyễn ở Prei Nokor, vốn là thủ đô của vua thứ nhì từ năm 1674 (trong khi vua thứ nhứt đóng đô ở Oudong ở phía bắc Nam Vang).



UserPostedImage




Ông Vương Hồng Sến, nhắc lại trong quyển Sàigòn Năm Xưa rằng người Hoa Kiều đã tập trung vào vùng Chợ Lớn ngày nay để mua bán năm 1778 sau khi Cù Lao Phố (gần tỉnh lị Biên Hòa ngày nay) là nơi được thành lập để mua bán từ cuối thế kỷ thứ 17 đã bị Tây Sơn phá tan khi họ kéo vào đánh Miền Nam. Sau khi thành phố này đã vững, người Hoa Kiều đã đáp thêm bờ kinh Chợ Lớn, cẩn đá cho cao ráo kiên cố. Và có lẽ để ghi công việc này, họ đặt tên chỗ mới này là Đề Ngạn, tức là bờ sông cao dốc trên có đe ngăn nước. Đề Ngạn là tiếng Hán Việt, chớ người Trung Hoa phát âm theo giọng Quảng Đông thì nói thành Tài Ngon hay Thầy Ngồnn. Ông Vương Hồng Sến cho rằng tiếng Sàigòn chính do Thầy Ngồnn mà ra. Về đất Bến Nghé thì người Trung Hoa gọi là Xi Cong. Ông Vương Hồng Sến cho rằng đó là họ đọc trại lại tiếng Sàigòn của ta và khi viết ra Hán văn thì họ dùng hai chữ mà ta đọc là Tây Cống.


II-CÁCH ĐẶT ĐỊA DANH CỦ NGƯỜI XƯA


Chúng ta có thể nhận thấy rằng trong việc đặt địa danh này, ông bà chúng ta đã theo một số nguyên tắc:

1-Các cụ có thể phiên âm một địa danh Khmer đã có và bỏ dấu cho thành tiếng Việt Nam. Thí dụ như Psar Deck tiếng Khmer là Chợ Sắt đã được các cụ gọi lại là Sa Đéc, hay Me So tiếng Khmer là Người Đàn Bà Đẹp hay nàng Tiên được các cụ gọi là Mỹ Tho. Trong một bài kỷ niệm ngày 30 tháng tư, đang trong tờ Việt Báo, ông Phạm Nam Sách khi nói về tỉnh Ba Xuyên đã nhắc đến một địa danh mà ông nói là Bảy Sào, Bải Sào, Bảy Sau hay Bải Sau chi đó. Thật sự đó là Bải Xào, một tiếng phát xuất từ tiếng Khmer Bai Xao có nghĩa là Cơm Sống. Địa danh này sở dĩ có là vì trong trận đánh nhau với người Việt Nam, người Khmer đã thua chạy về đến đó và ngừng lại nấu cơm ăn, nhưng cơm chưa kịp chín thì quân Việt Nam lại kéo đến và người Khmer phải bỏ chạy. Để đánh dấu việc này, họ gọi đất đó là Cơm Sống, tiếng Khmer là Bai Xao và các cụ ta bỏ dấu thêm thành Bải Xào.

2-Các cụ có thể dịch nghĩa một địa danh Khmer đã có. Thí dụ như tên Bến Nghé phát xuất từ tiếng Khmer Kompong Krabei có nghĩa là Vũng Trâu. Theo sử Khmer mà ông Malleret viện dẫn thì ngoài Prei Nokor, vua Cam-Bu-Chia còn cho chúa Nguyễn đặt sở thuế ở Kas Krobey. Chữ Krobey rất gần Krabei, và có thể Kas Krobey với Kompong Krobei cũng là một và có nghĩa là Vũng Trâu, Bến Trâu gì đó.

3-Nhưng tên theo hai loại trên đây là do người Việt Nam bình dân đặt ra khi mới đến một địa phương, về sau, khi đã có nhiều người Việt Nam ở và triều đình Việt Nam đặt ra các đơn vị hành chánh, thì triều đình lại dùng tiếng Hán Việt như Trấn Biên, Phiên Trấn, Phước Long, Phước Tuy v.v... Mặt khác, khi viết sử hay viết sách địa lý mà gặp một tên nôm do người bình dân đã đặt, các cụ đã dịch phăng nó ra tiếng Hán Việt chớ ít khi chịu chép tên nôm. Như Ba Giỗng, các cụ dịch là Tam Phụ và Bến Nghé, các cụ dịch lại là Ngưu Chử khi chép vào sách chớ không chịu viết tên nôm là Ba Giồng, Bến Nghé. Nếu lấy các qui tắc đặt địa danh của các cụ ngày xưa làm tiêu chuẩn để suy luận thì ta thấy ngay các thuyết trên đây về nguồn gốc và ý nghĩa của Sàigòn không ổn.

3-Nếu các cụ ta ngày xưa muốn dịch tiếng Khmer Prei Kor ra tiếng Việt thì các cụ đã dùng tên Củi Gòn, Cây Gòn hay Rừng Gòn để đặt cho địa phương này, chớ không ghép một tiếng Hán Việt là Sài với một tiếng nôm là Gòn để thành Sàigòn, cũng như khi dịch Kompong Krabei ra tiếng Việt, các cụ đã gọi là Bến Nghé chớ không nói Tân Nghé, Chử Nghế hay Ngạn Nghé (Tân, Chử và Ngạn là những tiếng Hán Việt có nghĩa là cái cồn nhỏ, bến sông, bờ sông). Nếu bảo rằng gòn là một loại cây không có tên Hán Việt và các cụ đã dùng tên ấy như tiếng Hán Việt thì các cụ đã theo văn phạm Hán Việt mà gọi Củi Gòn là Gòn Sài chớ không thể gọi là Sài Gòn.

4-Chữ Sài là tiếng Hán Việt có nghĩa là Củi, nhưng cũng chữ ấy mà dùng làm chữ nôm thì lại đọc là Thầy. Vậy, nếu đọc theo tiếng nôm hoàn toàn hai chữ mà ông bà chúng ta dùng để chỉ tên đất ta đang nghiên cứu thì ta có Thầy Gòn. Tên này rất gần với Tây Ngòn hay Thầy Ngồnn là những tiếng Hán Việt Tây Công hay Đề Ngạn đọc theo giọng Trung Hoa. Nhưng các cụ ngày xưa rất sính dùng tiếng Hán Việt. Đến như tiếng nôm hoàn toàn là Ba Giồng, Bến Nghé mà các cụ còn nhứt định phải dịch ra là Tam Phụ, Ngưu Chử khi viết vào sách vở thì không lý do gì các cụ lại không dùng các tiếng Hán Việt đã sẵn có là Tây Cống hay Đề Ngạn, mà lại dùng tiếng Thầy Gòn là tiếng phiên âm theo giọng của người Trung Hoa.



UserPostedImage




Xét về mặt nguyên tắc đăt địa danh của ông bà chúng ta ngày xưa, thì vấn đề này có thể kể là tạm giải quyết. Nhưng nghi vấn còn lại là tại sao lại có tiếng Lào hay tiếng Thái lọt vào đây? Hiện nay, không có nhiều tài liệu lịch sử giúp chúng ta có một sự hiểu biết rộng rãi và chánh xác về thời kỳ người Việt Nam mới vào ở đất Nam Kỳ. Chúng ta chỉ có thể dựa vào một số dữ kiện sau đây để suy luận:

1-Vào đầu thế kỷ 17, nước Cam Bu Chia đã bị người Xiêm (Thái Lan hiện nay) uy hiếp nặng nề, và chính vì muốn dựa vào người Việt Nam để chống lại Xiêm mà vua Chey Chetta II đã đi cưới công chúa Ngọc Vạn (là con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) về làm hoàng hậu năm 1620, rồi đến năm 1623 lại để cho chúa Nguyễn đạt những cơ sở thâu thuế ở vùng Sàigòn, Chợ Lớn ngày nay.

2-Vùng Chợ Lớn chỉ trở thành một vùng thương mãi thịnh vượng từ năm 1788 với khối người Hoa Kiều tụ tập về đó sau khi Cù Lao Phố bị Tây Sơn phá hủy. Vậy, lúc chúa Nguyễn mới đặt cơ sở thuế hơn 150 năm về trước vùng này chưa có mua bán gì nhiều.

3-Người Việt Nam chỉ vào ở Nam Kỳ nhiều từ khi có lực lượng của ông Trần Thượng Xuyên đóng thường trực để bảo vệ cho họ từ năm 1680. Vậy, lúc chúa Nguyễn đặt sở thuế ở vùng Chợ Lớn ngày nay, hơn 50 năm trước đó, chưa có đông người Việt Nam và chưa có sản xuất nhiều lúa gạo để bán.

4-Như thế, cơ sở thuế của chúa Nguyễn chắc chỉ đánh vào một vài sự buôn bán nhỏ, không quan trọng lắm, và do đó mà vua Cam Bu Chia đã dễ dàng cho chúa Nguyễn thâu lấy nguồn lợi này. Nếu có sự mua bán quan trọng và quyền lợi thuế vụ lớn thì vua Cam Bu Chia lúc đó vốn còn hoàn toàn độc lập với chúa Nguyễn, chắc không phải chấp nhận dễ dàng lời yêu cầu của chúa Nguyễn. Vậy, sự mua bán đó dựa vào món hàng gì?

Có thể một trong những món hàng được buôn bán thời đó là gòn, vì vùng này có nhiều cây gòn, có lẽ không nhiều đến thành rừng, nhưng cũng đạt mức quan trọng để có thể gọi là rừng chổi được. Người Xiêm có thể đã đến đó mua gòn đem về nước dồn gối, dồn nệm. Một ít thương gia Xiêm có thể đã có mặt ở vùng này trước khi chúa Nguyễn đặt sở thuế tại đó, và vì thấy vùng này có nhiều cây gòn, họ gọi nó là Cai Ngon tức là Rừng Chổi Cây Gòn, rồi các viên chức Việt Nam liên lạc với họ để đánh thuế lúc mới đến đã theo họ mà gọi đất này là Sàigòn, thay vì phiên âm hay dịch nghĩa tên Khmer của địa phương này.

5-Về cái tên Khmer này, các học giả đã không đồng ý kiến với Prei Kor, người thì nói là Prei Nokor. Ông Malleret đã dựa vào sử Khmer mà bảo đó là Prei Nokor và theo linh mục Tandart để dịch Prie Nokor là thành phố của rừng.

-Nếu Prei Kor có nghĩa là Rừng Gòn hay Rừng Bò thì văn phạm Khmer cũng như văn phạm Việt Nam đăït tiếng rừng lên trên, tiếng phụ nghĩa cho rừng ở dưới. Như vậy Prei Nokor dịch ra là rừng của vua như Aymonier thì vẫn hợp với văn phạm đó, còn dịch ra như linh mục Tandart là thành phố giữa rừng thì lại đi ngược với văn phạm đó rồi. Hiểu theo văn phạm như nói trên đây thì Prei Nokor là rừng của thành phố mới phải, nhưng tên Rừng của Thành Phố thì cố nhiên là không có ý nghĩa gì.
-Mặt khác, nếu Prei Nokor là thành phố giữa rừng hay rừng của vua thì nó chỉ có thể có từ năm 1674 là năm mà vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia cho chúa Nguyễn đến đặt sở thuế tại đó thì đất này hãy còn là một thị xã nhỏ, không có vua ở nên không thể mang tên Prei Nokor là thành giữa rừng hay rừng của vua được.

Do các nghi vấn trên đây, chúng ta thấy rằng thuyết của ông Malleret không vững. Và chúng ta có thể đưa ra giả thuyết khác: địa điểm mà vua Cam-Bu-Chia cho chúa Nguyễn đặt sở thuế vẫn tên là Prei Kor, vì nơi đó có nhiều gòn và là nơi mua bán gòn. Nhưng sau đó, khi vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia đến đóng đô tại đó, nó có tên mới là Prei Nokor (hiểu theo nghĩa là rừng của vua hay thành phố giữa rừng đều được cả).

Các sử gia Cam-Bu-Chia sau này chép lại việc cho chúa Nguyễn đến địa phương này đặt sở thuế đã chép lại tên Prei Nokor mà họ được biết nhiều hơn mà bỏ tên Prei Kor đi. Với giả thuyết này thì ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giải quyết được: đó là một tên phiên âm từ tiếng Xiêm Cai Ngon có nghĩa là Rừng Chổi Cây Gòn, và phù hợp vớ tên Khmer nguyên thủy Prei Kor cũng có ý nghĩa tương tự.

Vì không biết ngôn ngữ và văn phạm Khmer và Thái (Xiêm) nên chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này và chỉ xin nêu ra những nhận xét trên đây. Chúng tôi mong ước rằng có vị nào thông thạo tiếng Khmer hay tiếng Thái lưu tâm đến vấn đề này để làm sáng thêm ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn yêu dấu của chúng ta.



(Nguyễn Ngọc Huy - Viết vào thập niên 80s)







UserPostedImage
Hạ Vi  
#79 Posted : Saturday, May 7, 2011 2:00:32 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


UserPostedImage


Còn nhớ Sài Gòn



Anh còn nhớ Sài Gòn xưa không anh
Nhớ tóc em dài nhớ áo em xanh
Anh còn nhớ Sài Gòn xưa không anh
Nhớ hai mùa mưa nắng loanh quanh

Anh còn nhớ con đường lá me xanh
Nhớ dáng em gầy nhớ bước chân nhanh
Anh còn nhớ Sài Gòn xưa không anh
Nhớ má em hồng nhớ tiếng em thanh



UserPostedImage



Anh còn nhớ lần đầu đôi ta gặp gỡ
Em như chim khuyên tíu tít trên cành
Anh còn nhớ chiều nắng hanh rực rỡ
Con bướm vàng bay lượn giữa vườn chanh


Anh còn nhớ trăng Sài Gòn tháng tám
Ánh lung linh trong đôi mắt em xanh
Anh còn nhớ đèn Sài Gòn thắp sáng
Bóng đôi mình huyền ảo... đẹp như tranh


Anh còn nhớ Sài Gòn xưa không anh
Nhớ lá thư tình nét chữ mực xanh
Anh còn nhớ Sài Gòn xưa không anh
Nhớ chuyện đôi ta dù mộng chẳng thành


Mai Thị Kỷ Niệm



UserPostedImage
Hạ Vi  
#80 Posted : Saturday, May 7, 2011 9:39:29 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,564
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)

UserPostedImage



Sài Gòn Mưa Và Nỗi Nhớ



Sài-gòn mưa tầm tã thêm nỗi nhớ
Co ro ngồi kỷ niệm duỗi sau lưng
Em ngày xưa bì bõm ngập ống chân
Còn nỗi nhớ bây giờ bao la nước .


Mưa Sai-gòn chiều nay đường xe kẹt
Muốn quay về : dĩ vãng quá xa xôi
Muốn gặp nhau : phải đi hết cuộc đời
Nên đầu bạc vẫn còn loay hoay mãi !



UserPostedImage




Em bây giờ đã nghìn trùng xa quá
Người lạc loài giữa phố chợ chiều mưa
Đếm bao nhiêu giọt nhớ để cho vừa
Một biển tình mênh mông trên sóng nước ?

Gió cồn cào thổi tái tê lạnh buốt
Hạt mưa nhòe , ngỡ dấu lệ vừa rơi !!?
Trời sẽ tạnh , phố phường thôi ngập nước
CHỈ NHỚ THƯƠNG CÒN ĐỌNG MÃI BÊN ĐỜI !


UserPostedImage



LÊ NGUYỄN TRÂM CA


UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
107 Pages«<23456>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.