Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages<12345>»
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
Hạ Vi
#43 Posted : Thursday, April 14, 2011 10:58:57 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)

Sài Gòn , những con hẻm nhỏ






Ði đâu xa tôi vẫn nhớ những con hẻm nhỏ của Sài-gòn. Tôi đã may mắn được đi hết năm châu bốn biển, nhưng chưa thấy quốc gia nào có những con hẻm nhỏ như ở Sài Gòn. Ở Hồng Kông chỉ có những tòa nhà chọc trời, những đường xe điện ngầm "xuyên bang", với hàng quán shopping tấp nập như một thành phố bên dưới một thành phố, không cách chi tìm được một con hẻm nhỏ.

Ở Thái Lan có những đêm tôi tò mò thả bộ suốt đêm để tìm hiểu dân tình và... đường xá. Những con hẻm ở Băng-Cốc so với Sài Gòn là những con hẻm lớn. Ở Cam-pu-chia có thể là có những con hẻm gần giống với Sài Gòn, nhưng vẫn khó tìm ra được những con hẻm nhỏ. Nói "có thể" vì tôi chưa sống qua một thời gian lâu dài ở nước này, nơi mà ngay cả nhiều người Cam-bốt kiều (?) cũng không dám về, do tình hình bất an với me xanh me đỏ - Khờ Me xanh, Khờ Me đỏ - cộng thêm sự tranh chấp dữ dội giữa chánh quyền Hunsen và Shihanouk. Tôi cũng tò mò tìm vào những xóm nhỏ, nhưng tựu trung chúng vẫn là những con hẻm lớn hơn so với những con hẻm Sài-gòn, dù là rất dơ bẩn, nước sình bùn chảy dài trong khi dân cư họp chợ ngồi chồm hổm lổng nhổng trên mặt nước. Ở Băng Cốc cũng có những khu chợ sình ngập đến gần mắt cá, mang dép bước vào là hai bàn chân ngập sình đen ngòm. Nhưng vẫn không tìm được những con hẻm nhỏ.






Khi trước nhà tôi ở quận Ba, trong hẻm Niệm Phật Ðường Huệ Quang ngó ra đường Phan Ðình Phùng, sau này đổi tên thành đường Nguyễn Ðình Chiểu. Hẻm này thông ra một cái chợ gần trường tiểu học Bàn Cờ. Cái chợ này sáng sớm đã ồn ào, với những hàng xôi, chè, bánh mì, chè, cháo, bánh xèo, bánh cuốn, bánh mì hấp, bánh bèo v.v... Mỗi sáng tôi thường ra đây làm gói xôi hoặc khúc bánh mì. Gọi là khúc chứ không phải ổ, vì ổ bánh mì rất dài và ốm, được cắt thành từng khúc bán cho người ăn sáng. Hôm nào có tiền thì ăn bánh mì ba-tê, thiếu tiền thì chỉ mua khúc bánh mì chan nước cá cũng xong bữa điểm tâm. Gần chợ là trường tiểu học Bàn Cờ. Từ đây đi bọc ra sau là khu Cư xá Ðô Thành dẫn ra đường Phan thanh Giản, gần đó là bệnh viện Bình Dân, bên kia đường xích về phía Lê văn Duyệt là trường Văn Học của nhà thơ Nguyên Sa. Hầu hết những con hẻm này là những đường hẻm cỡ trung bình, đủ cho xe ba gác đi lọt . Nhưng nối liền những con hẻm trong khu Niệm Phật Ðường Huệ Quang là những đường hẻm rất nhỏ, có khi chỉ một xe Honda đi vừa, hoặc chỉ vừa đủ cho hai xe đạp đi ngược chiều nhau .

Lại có những đường hẻm rất nhỏ chỉ đủ cho một xe đạp hay một người đi . Từ hẻm Niệm Phật Ðường Huệ Quang, có một hẻm nằm ngang, thông ra đến ngoài đường Phan Ðình Phùng gần trường "Ô-Ro", cái tên chúng tôi vẫn dùng để gọi một trường tiểu học khá nổi tiếng gần ngã tư Phan Ðình Phùng - Cao Thắng. Hẻm này khá nhỏ và lắt léo, cong cong quẹo quẹo . Ðầu hẻm chỗ đâm ra đường Phan Ðình Phùng có một nhà thuốc Tây, nơi tôi vẫn thường đến mua thuốc trụ sinh để trị bệnh mũi kinh niên của mình, mua riết đến nỗi bà dược sĩ quen nhẵn mặt. Khúc đầu hẻm bề ngang chỉ đủ cho 2 xe Honda đi ngược chiều nhau. Nhìn xéo qua bên kia đường là nhà sách Thanh Bình. Ði xích xuống về phía đường Cao Thắng là nhà bảo sanh Hồng Ðức. Cạnh nhà bảo sanh lại có một con hẻm nhỏ, bề ngang chỉ vừa đủ cho 2 chiếc Honda đi song song, hoặc đi ngược chiều một cách chật vật. Ở đầu hẻm, một bên là nhà bảo sanh Hồng Ðức, một bên là Nhà vẽ Văn Phong, cũng là nhà của Quy, một thằng bạn từ tiểu học.

Con hẻm này đi suốt vào đến tận cùng là nhà của Mai, một thằng bạn tiểu học khác. Thời tiểu học, tôi vẫn thường đi suốt con hẻm này vào nhà Mai, trước nhà có một cái sân xi măng vừa đủ chơi, phía trên là một cái cây lớn có tàn che mát những hôm trời nắng.







Từ con hẻm này, lại có con hẻm nhỏ đâm ngang, thông ra một con đường không tên. Trên giấy tờ đường này cũng là một con hẻm, nhưng lại khá lớn, đủ rộng cho xe chạy hai chiều, kể cả xe hơi và xe ba gác, nên chúng tôi vẫn kêu nó là con đường. Ðầu đường mé Phan đình Phùng có tiệm giò chả Thanh Hương. Giữa đường là nhà mướn của nhà văn Nguyễn Ðình Thiều, đầu đường mé Trần Quí Cáp là một đồn lính Ðại Hàn. Con đường này nối liền hai đường Phan Ðình Phùng và Trần Quí Cáp. Mé đầu đường gần đồn lính Ðại Hàn lại có một con hẻm nằm ngang, đầu hẻm trông như cái hầm, trong hầm có xe bán thức ăn. Hẻm này thông ra một con đường khác cũng nối liền Phan Ðình Phùng và Trần Quí Cáp. Ðầu đường chỗ Trần quí Cáp là tiệm cá hấp Tám Lọ, đối diện là trường tiểu học Minh Chánh. Cái hẻm ngang này khá "lớn", bề ngang đủ cho ba xe Honda đi song song, hoặc hai xe đi ngược chiều thoải mái, nhưng khúc giữa tóp lại, chỉ đủ cho một xe đi lọt. Tôi và Mai thường hay đi xuyên con hẻm này, vì gần chỗ Tám Lọ là một tiệm đá banh bàn, bề ngang tiệm chỉ vừa đủ đặt một bàn banh và đủ chỗ cho một thằng học trò ốm yếu như tụi tôi đi lách qua, lưng ép sát vào tường. Chiều dọc tiệm banh đủ đặt bốn cái bàn. Ở cuối tiệm lúc nào cũng có bà chủ người Trung mặc bộ đồ bà ba ngồi đổi tiền giấy ra tiền cắc cho chúng tôi đá banh. Tôi và Mai đã từng say mê đóng đô tại đây trong suốt những năm tiểu học. Về sau, khi Mai sắp qua đời, tôi và nó còn đến đây đá thêm một trận nữa . Năm đó chúng tôi học lớp 10. Sau cơn bạo bệnh, Mai bỗng nhiên tỉnh dậy mạnh khỏe như thường, đến tìm tôi và chúng tôi lại rủ nhau đến đây đá banh, có lẽ để hồi tưởng lại những ngày tiểu học, vì khi đó chúng tôi tự coi mình như đã "lớn", không thèm chơi banh bàn nữa, mà chỉ thích ngồi quán cà phê nghe nhạc tiền chiến, nhạc phản chiến hoặc nhạc kích động của Mỹ, nhạc nào cũng mở lớn đến điếc con ráy, nói chuyện phải hét vào tai nhau mới nghe rõ. Chỉ sau hai tuần đi thăm hết bạn bè, Mai bỗng nhiên bị cảm trở lại rồi qua đời . Năm lớp mười tôi đi chôn nó. Theo người ta nói, có lẽ nó "hồi dương", tỉnh dậy đi thăm bạn bè lần chót. Tôi và Hoàng, thằng bạn chung xóm thi vô Ðệ Thất ba năm không đậu, cuối cùng phải đi học trường tư, cùng với chị Lèo chung xóm đi đưa đám Mai . Gọi Lèo là chị vì cô ta hơn tôi một tuổi, hình như cũng hơn một lớp, học lớp 11 hay gì đó. Còn thằng Hoàng, dù hơn tôi hai tuổi mà vẫn xưng hô mày tao, vì nó với tôi chơi chung như bạn, hai đứa cùng thi vào Ðệ Thất chung một năm với em gái nó, vì nó thi rớt hai năm nên em nó bắt kịp. Cuối cùng nó xui xẻo vẫn rớt, còn tôi thì đậu gần cuối sổ, nhưng cũng may mắn vào được trường công. Lèo hồi đó vừa sang vừa đẹp, lại hơn một tuổi, nên tôi không dám tán. Sau ra nước ngoài, nghe tin thằng cháu kém tôi hơn mười tuổi đang cặp với.... "con Lèo", thật là hậu sinh khả ố!

Tuy đã đi qua nhiều hẻm nhỏ, nhưng có lẽ chưa con hẻm nào nhỏ cho bằng con hẻm cạnh chùa Tam Tông Miếu đường Cao Thắng. Ðây là một con hẻm dài, khá dài so với những con hẻm khác. Hẻm này ăn thông từ đường Cao Thắng ra đến khu Cư xá Ðô Thành, khúc đi ra bệnh viện Bình Dân. Con hẻm này nhỏ đến nỗi chỉ có một xe đi lọt. Xe đạp thì đỡ hơn, còn Honda thì đi khá chật vật. Ðặc biệt là có một khúc cua, xe nào cũng phải lách tới lách lui mới qua được . Trước khi vào, người đi xe phải nhìn suốt con hẻm xem có xe đi ngược chiều không, nếu có thì phải chờ xe kia ra khỏi, rồi mới vào hẻm . Nếu không cả hai xe sẽ kẹt trong hẻm, một xe phải lùi lại cho xe kia tiến lên. Tôi rất thích đi xe đạp, và còn thích đi bộ hơn nữa trong con hẻm này, không hiểu tại sao, có lẽ tính tôi hay tìm những ngõ ngách lắt léo của cuộc đời. Vì vậy nên đã có lần tôi đứng chờ em suốt ba ngày dưới mưa cạnh con hẻm này . Em không thèm đến, nên tôi bỏ cuộc. Về sau em trở lại theo, tôi giận không thèm, đi tìm em khác! Lúc trở về thăm xóm cũ thì cả hai đã tròm trèm bốn mươi, em vẫn còn nói với tôi, em luôn luôn là người đi sau một bước. A! Phải chi em chịu gặp tôi dưới mưa!...





Ðúng vậy, có lẽ tôi là người đi sớm, quá sớm, nên phải đứng dầm mưa tầm tã suốt ba ngày ướt nhẹp! Nhưng tôi biết, tôi đứng dưới mưa vì thích thế, chứ chưa chắc là tôi cần em đến!??

Nói về hẻm thì kể mãi tới chiều cũng không hết. Có những con hẻm trong chợ Bàn Cờ gần cuối đường Phan Ðình Phùng thông ra hông chợ ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Lại còn khu Vườn Bà Lớn trước Tết Mậu Thân, trong Tết bị chiến tranh cháy rụi, về sau xây lại thành khu chung cư Nguyễn thiện Thuật, tiếp giáp với đường Phan thanh Giản, đầu đường có trạm xăng và Viện Bài Lao, gần đó là nhà của nữ tài tử cải lương Lệ Thủy.

Trước Tết Mậu Thân năm 68, tôi có lần vào Vườn Bà Lớn mướn xe đạp đi chơi, bị mưa phải dắt xe đi bộ nước ngập đến đầu gối, vừa đi vừa khóc vì lạc trong ma trận đầy dẫy những con hẻm nhỏ ngoắt ngoéo không tìm được lối ra. Sau phải nhờ con nhỏ thua mình đến mấy tuổi dẫn đường mới biết ngõ ra . Cũng lạ, nghĩ lại sao hồi đó người cho mướn xe không sợ, mà người mướn là tôi cứ sợ không tìm được nhà người cho mướn để trả xe!

Lại còn những con hẻm trong khu trường tiểu học Phan Ðình Phùng, gần chùa Kỳ Viên Tự ở góc đường Phan Ðình Phùng và Bàn cờ. Sát bên là trường tiểu học tư thục Bình Dân Học Hội và chùa Phước Hòa . Trong khu này có những con hẻm thông ra Hồng Thập Tự, có những "hẻm hầm", đi như đi trong hầm bên dưới núi, thông ra nhà thờ Ðức Bà hay gì đó (không phải là Nhà thờ Ðức Bà hay Vương Cung Thánh Ðường gần Bưu Ðiện). Những đường hẻm này dẫn ra đến công viên đường Hồng Thập Tự và công viên "Ðại Hàn" đối diện trường Petrus Ký, gần bùng binh góc đường Lý Thái Tổ và Hồng thập Tự. Nằm gần đó trên con đường nhỏ ăn thông từ Nguyễn thiện Thuật ra Lý thái Tổ là tiệm cà phê Nam Dưỡng, đối diện tiệm cà phê trong một con hẻm nhỏ là nhà của nghệ sĩ Hùng Cường. Có lần đi ngang cà phê Nam Dưỡng, tôi được thấy Hùng Cường tướng thật đẹp trai từ trong nhà đi ra, cả khu phố nhìn theo với ánh mắt trìu mến và ngưỡng mộ.

Những con hẻm này cũng là khu tôi từng mài đũng quần những năm tiểu học, buổi sáng học trường Phan Ðình Phùng, buổi trưa học thêm trường Cô Hạnh. Nhiều buổi tối rủ nhau ra công viên bắt dế cơm, dế trống, gặp mấy đứa lạ đến làm quen rủ chơi năm mười tôi tự xưng tên Vũ, tới khi nó gọi tên cũng không nhớ là nó gọi mình. Không hiểu sao nó lại nhớ tên, trong khi chính mình cũng không nhớ. Nhưng mãi đến giờ mấy chục năm sau tôi vẫn còn dùng tên này làm bút hiệu .





Những con hẻm nhỏ thân thương của Sài Gòn, tôi nghĩ một ngày nào đó có lẽ cũng không còn, theo đà tiến bộ của hệ thống giao thông và phát triển đô thị . Nhưng tôi mong rằng chúng sẽ không thay đổi. Thật ra, đối với tôi, chúng không bao giờ thay đổi . Ở Mỹ hơn hai mươi năm, nhiều khi tôi vẫn cảm thấy mình như người khách lạ. Nhưng sau hai mươi năm trở về khu xóm cũ, những người quen vẫn tay bắt mặt mừng, những con hẻm thân thương vẫn hân hoan chào đón. Tôi chợt hiểu ra! Ðường xá dù thay tên đổi họ, những con hẻm và lối đi quen thuộc vẫn mãi mãi thuộc về tôi. Thành phố vẫn thuộc về Lệ Thủy, Hùng Cường. Nó mãi mãi vẫn là nắng Sài Gòn anh đi chợt mát của Nguyên Sa, vẫn là khu phố quen thuộc với các vũ trường ăn chơi nhảy nhót của Nguyễn Ðình Thiều. Vẫn là thành phố vang vọng tiếng hát cải lương của Thanh Nga, Bạch Tuyết và gánh Dạ Lý Hương. Những con hẻm nhỏ vẫn mãi mãi là của Mai, của Lèo, của Hoàng và của tôi. Nhà cửa dù xây lên, đập xuống, khu phố dù kẻ đi người ở, vẫn mang một linh hồn thủy chung không thay đổi. Cô gái Sài Gòn vẫn là người chinh phụ đi sau một bước, suốt hơn hai mươi năm vẫn ngày ngày tựa cửa đợi chồng . Những người mới dù vào Sài gòn hơn hai mươi năm vẫn là khách lạ, sống cô đơn trong những khu phố đầy người tôi quen, những khu xóm quen thuộc mà tôi rành từng cành cây, khúc quẹo. Những con hẻm nhỏ ôm ấp nhiều kỷ niệm vẫn vui mừng chào đón tôi về. Những con hẻm thân thương đã cho tôi sự giao thông cực kỳ tiện lợi và ấm cúng, những đường đi lắt léo trong những ngõ ngách tế nhị của cuộc đời. Chúng vẫn mãi mãi thuộc về tôi !



Khuyết Danh




1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 4/20/2011(UTC)
thunder
#44 Posted : Friday, April 15, 2011 10:25:06 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Tặng Em

Tặng em góc phố thu vàng
Có con bướm lạ bên đàng dạo chơi
Tặng em những chiếc lá rơi
Với ta đang đứng bên đời thiết tha

Tặng em đôi cánh thiên nga
Bên hồ xanh ánh chiều tà mênh mang
Tặng em những đoá hoàng lan
Buồn như hai đứa muộn màng quen nhau

Tặng em một thoáng mưa mau
Chập chùng huyền ảo ngát màu áo xanh
Tặng em chút nắng vàng hanh
Hong trên dòng tóc thơm lành dấu yêu

Tặng em ngày tháng cô liêu
Ngất ngây nỗi nhớ ta chiều làm thơ
Tặng em giây phút ngẩn ngơ
Lúc ta chợt thấy bất ngờ yêu ai

Tặng em cơn mộng tàn phai
Trôi trong kỷ niệm rất dài nhớ thương
Tặng em cơn gió buồn vương
Thơm hương áo lụa con đường em qua

Khieu Long

Hạ Vi
#45 Posted : Saturday, April 16, 2011 4:51:06 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)

TRƯỜNG NỮ TRUNG HỌC LÊ VĂN DUYỆT





NGÔI TRƯỜNG MANG TÊN ĐỨC TẢ QUÂN


Vũ Ngọc Mai


Trường Nữ Trung học Lê Văn Duyệt tọa lạc trên đường Lê Văn Duyệt, gần Lăng Ông thuộc xã Bình Hòa tỉnh Gia Định, nơi thờ phượng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt.

Theo Nguyễn Ngọc Oanh, một trong những học sinh kỳ cựu nhất của Lê Văn Duyệt, vào năm 1957 trường chỉ có 2 lớp Đệ Thất, một nam và một nữ, được học nhờ tại trường Nam Tỉnh Lỵ. Trường này còn có tên là Trương Tấn Bửu, theo cô Trần Thị Ngoạn. Hiệu trưởng đầu tiên là ông Lê Ngọc Toản. Lớp nam sinh sau đó đã dược chuyển về Hồ Ngọc Cẩn.

Theo bà Bùi Thị Lắm, tòa tỉnh trưởng Gia Định đã cấp cho môt khu đất để xây trường Lê Văn Duyệt mà chúng ta hiện có. Miếng đất này được biết trước đó là nơi trồng rau muống. Bà Bùi Thị Lắm đã trở thành vị Hiệu trưởng thứ nhì bắt đầu từ niên khóa 1959-60, và bà cho biết đã đích thân khánh thành ngôi trường mới này.

Sau Bà Lắm, Giáo sư Phạm Thị Diệu Linh đã lãnh chức quyền hiệu trưởng trong một thời gian ngắn, từ cuối tháng 11 năm 1963 đến đầu năm 1964, rồi được điều về Trưng Vương làm Giám Học.

Vị Hiệu trưởng kế tiếp là Bà Nguyễn Ngọc Hương, một người tài đức vẹn toàn, rất được giáo sư và học sinh kính mến. Hiện nay tuổi Bà đã cao, đang cư ngụ tại San Jose và thỉnh thoảng vẫn được cựu đồng nghiệp và nữ sinh ghé thăm.

Bà Trần Hoàng Mai đã trở thành vị Hiệu trưởng cuối cùng của Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt tính đến năm 1977 khi bà bị chính quyền cộng sản cho nghỉ việc. Từ một ngôi trường bé nhỏ với mươi lớp, trường đã được xây thêm nhiều lớp học và lên một tầng lầu, và đã là nơi cư ngụ cho gia đình bà Trần Hoàng Mai trong suốt thời gian bà làm Hiệu trưởng nơi đây.

Bà đã lâm bịnh trong một thời gian khá dài và từ trần vào cuối năm 2007 trong sự thương tiếc của cựu đồng nghiệp và nữ sinh.

Một số giáo sư và nhân viên khác cũng lần lượt ra đi, trong số có Cô Trần Ngọc Lan, Giáo sư Pháp Văn, mất năm 1975 khi còn rất trẻ. Các cố giáo sư khác gồm Cô Đoàn Thị Lài dạy môn Việt Văn, Cô Nguyễn Thị Thanh Lan phụ trách môn Lý Hóa, Cô Đinh Thị Bạch Nga dạy Pháp Văn. Cách nay gần 3 năm, Cô Dương Thị Diệp, giám thị, đã mất ngày 12 tháng 8 năm 2006. Hai nhân viên văn phòng nữa là bà Sáu và bà Lương Ngọc Tương cũng đã ra người thiên cổ.

Trở lại ngôi trường cũ, chúng tôi đã có từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Nhị, rồi Đệ Nhất, đào tạo được rất nhiều thế hệ học sinh đa tài và hữu dụng cho đất nước.

Vào năm 1963, sau lớp Đệ Nhị, Ngọc Oanh và các bạn phải chuyển qua Trưng Vương học Đệ Nhất vì năm đó trường ta chưa có cấp lớp này. Lớp Anh Văn sinh ngữ chính của Thúy Lan, cựu hội trưởng Lê Văn Duyệt, cũng đã được chuyển qua Trưng Vương, trong khi lớp Đệ nhất Pháp văn sinh ngữ chính của Trưng Vương thì lại được qua học tại Lê Văn Duyệt.

Nhưng chỉ vài năm sau thì trường nhà có lớp Đệ Nhất và học sinh không còn phải từ giã trường của mình sớm một năm nữa.

Bây giờ khi nhẩm tính lại, trường Lê Văn Duyệt đã được thành lập trên nửa thế kỷ. Nhưng so với hai trường nữ Gia Long và Trưng Vương, Lê Văn Duyệt được coi như một ngôi trường trẻ với thành phần giáo sư cũng có tinh thần trẻ trung và rất gần gụi với học sinh.





Trường tôi đó, nơi rất nhiều lần tôi đã được nghe câu hỏi: “Sao trường nữ mà lại có tên một vị nam tướng quân?” Tôi không biết ai đã đặt tên trường, song thường nghĩ rằng cái tên này đã gắn liền với cuộc đời của một vị khai quốc công thần suốt đời lo cho dân cho nước.


Ngài sinh năm 1763, gốc người làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, là danh tướng thời Nguyễn sơ, rất có công trong việc giúp chúa Nguyễn chống lại nhà Tây Sơn. Ngài rất thông minh, có sức khỏe và chuộng võ nghệ. Từng hai lần hộ giá Chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy sang Xiêm, đánh chiếm thành Qui Nhơn, dùng hỏa công đốt phá toàn đội chiến thuyền và các thủy trại của Tây Sơn tại cửa biển Thị Nại.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Gia Long phong cho Lê Văn Duyệt chức Khâm-sai Chưởng Tả- quân-dinh Bình-Tây Tướng-quân tước Quận công, rồi cùng với Trung Quân Nguyễn văn Trương và Hậu quân Lê Chất tiến đánh Bắc hà. Sau khi đất Bắc được dẹp yên, ông được cử làm Kinh-lược xứ Thanh Nghệ.

Ngài đã 2 lần được bổ làm Tổng Trấn Gia Định, theo Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm. Lần thứ nhất từ 1812 đến 1815, thời vua Gia Long. Và lần thứ nhì từ năm 1820 đến năm 1832 là năm ngài mất .

Không những là một vị tướng tài, Đức Tả quân còn là một nhà chính trị lỗi lạc, hết lòng chăm lo cho đất nước và dân chúng. Ông cũng là nhà ngoại giao giỏi, thức thời trong cách đối xử với người Tây phương đến buôn bán tại Saigon.

Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt đã làm được hai điều rất khôn khéo: đó là không theo chính sách bế quan tỏa cảng mà đón nhận thương gia vào buôn bán, và làm ngơ cho việc truyền đạo.

Hiện nay tại xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định có lăng Đức Tả quân, còn được gọi là Lăng Ông, nơi dân chúng rất sùng bái vì tin rằng Ngài rất linh thiêng. Người ta đến đây để cầu phúc, cầu tài, xin xâm, nhất là vào dịp lễ vía và đầu năm âm lịch.





Cho đến hôm nay và mãi mãi về sau, ngôi trường mang tên Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt vẫn để lại trong lòng chúng ta những hình ảnh thân thương và những kỷ niệm khó nhạt phai nhất.

(Tài liệu tham khảo về Đức Tả Quân: Việt Nam Danh Nhân Tự Điển của Nguyễn Huyền Anh. Nhà xuất bản Hội Văn Hóa Bình Dân Saigon, 1960).






Ngoc N Hao
#46 Posted : Monday, April 18, 2011 8:38:53 AM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
TRƯƠNG VƯƠNG KHUNG CỬA MÙA THU








Như bất cứ thiếu nữ nào khi vừa lớn, chập chững bước vào ngữơng cửa tình yêu, họ thường đối diện với những giấc mơ thật đẹp, tôi không ra ngoài biệt lệ đó. Những năm cuối cùng của bậc trung học tại trường trung học Trưng Vương Sài Gòn, tôi gặp Vinh, để rồi quen nhau, thân nhau và thương với tất cả tấm lòng mà hôm nay tôi xin kể lại ra đây, dù rằng nhiều lúc tôi chỉ muốn chôn vùi mối tình vào rừng sâu theo chuyến bay định mệnh của chàng trên vùng chiến trường Tây Nguyên Việt Nam.



Vào giờ Việt văn với cô Thúy Lan, chúng tôi được biết có phái đoàn trường nam láng giềng sang Trưng Vương bán bích báo mùa Xuân. Tôi quan sát cô Thúy Lan tiếp xúc với 3 thanh niên trong y phục quần xanh dương đậm, áo trằng rất chỉnh tề. Người đi trước hình như là phát ngôn nhân đại diện chỉ cầm chừng hai ba cuốn báo. Hai người đi sau khệ nệ vác những chồng báo khá nặng mà bọn con gái chúng tôi chịu thua nếu phải khuân nó.
Cô Thúy Lan đứng trên bục giới thiệu Vinh, người đại diện đoàn và hai người bạn kia. Cả lớp lắng nghe Vinh giới thiệu về mục tiêu của chuyến ghé thăm trường chúng tôi và chàng nói nhiều về giao tình giữa hai trường Trưng Vương và Võ Trường Toản và sau cùng là đi qua sơ lược về cuốn bích báo trên tay chàng. Cô Thúy Lan ngỏ lời với tôi trong cương vị trưởng lớp, Tường Vy phó trưởng lớp và Anh Thư thủủy hãy ra phụ giúp phái đoàn bạn bán báo và giữ trật tự cho lớp. Chính trong buổi bán sách này chúng tôi đã có những mẫu đối thoại sơ giao. Tôi nhận thấy Vinh có nét thu hút, nhất là lời nói khi chàng dễ thuyết phục cử tọa, Vinh lanh lẹ, hoạt bát và có năng khiếu ăn nói trước đám đông, là người lý tưởng của quần chúng, cũng chính điền này tôi chú ý chàng nhiều hơn.

Tuần sau đó, tôi còn nhớ trời mưa tầm tã, chiếc xe Honda dame của tôi bị hư, tôi đang dẫn chiếc xe dọc theo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng về đại lộ Thống Nhất có dinh thủ tướng, tình cờ Vinh chạy ngang và chàng nhận tôi, chàng vòng trở lại giúp tôi. Lúc này trời bớt mưa hạt mưa nhỏ dần như hạt bụi, trong khi tôi không đem theo áo che mưa, chàng biết tôi lạnh, chàng trao tôi áo mưa của chàng và bảo tôi đứng sát vào trong dãy các xe hàng rong như bánh cuốn, hủ tiếu mì và sinh tố, chè đậu gần đoạn hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy ở Vinh một nét ấm cúng, ân cần rất đáng quý. Chàng quả thật khéo tay, tôi ngồi bên xe bán nước giải khát với ly cà phê nóng trên tay, chăm chú theo dõi những cử chỉ như người sành nghề về xe, chàng gỡ chiếc bougie lâu ngày đóng bụi và bị nước thấm vào nên không bắt lửa được nữa. Một hồi sau xe đã nổ máy, tôi trao ly cà phê mới cho chàng tỏ lời cảm ơn. Trong hai ánh mắt nhìn nhau lần này trước khi chia tay tôi thấy có sự thân tình hơn, và có chút gì lưu luyến hơn, tôi bông đùa với chàng:
“May cho học trò Trưng Vương được ở gần trường Võ Trường Toản. Bích Diễm cám ơn anh nhé”.
Chàng nheo mắt mĩm cười trả lời trong sự duyên dáng:
“Thực ra học trò Võ Trường Toản chúng tôi nhờở gần Trưng Vương nên có dịp học sự khéo tay mà thôi. Bích Diễm đừng ngại nhé. Bạn bè giúp nhau là lẽ đương nhiên thôi”.



Sự tình cờ trùng hợp để tôi và Vinh gặp nhau trong một hoàn cảnh khác lại hứa hẹn hơn cho duyên tiền định khi dịp cuối năm tôi đi được đám cưới của cô bạn Kiều Loan, học trên tôi một lớp, Loan lập gia đình với người anh họ của Vinh. Tôi tình cờ được xếp ngồi cùng bàn với Vinh trong tửu lầu Ngọc Lan Đình mà lòng tôi lại ngẩn ngơ, linh tính cho một sự liên hệ mà hình như do cao xanh đã khéo léo sắp xếp hay sao đó, để rồi sau này tôi và Vinh đã trao nhau lời hẹn thề cũng tại nhà hàng này một năm sau. Đám cưới hai chúng tôi bạn bè hai trường thăm dự khá vui tôi nhớ có cô Thúy Lan, Anh Thư, vợ chồng Tường Vy, vợ chồng Kiều Loan,...
Khi chiến tranh bộc phát dữ dội, Vinh được lệnh gọi động viên, chàng rời trường đại học khoa học để gia nhập vào binh chủng không quân. Trong khi tôi vẫn tiếp tục học tại đại học sư phạm Sài Gòn. Ngày tôi tốt nghiệp sư phạm để ra đi dạy học thì có hai sự kiện quan trọng trong đời tôi là tôi có tin vui cho Vinh là chúng tôi sẽ có cháu đầu lòng và chàng sẽ sang Hoa Kỳ tu nghiệp khóa huấn luyện hoa tiêu trực thăng, nghiã là chúng tôi sẽ phải xa nhau một thời gian vì tương lai quân nghiệp của chàng. Được tin này các bạn cũ Trưng Vương của tôi và Võ Trường Toản của Vinh, qua sự móc nối của vợ chồng Kiều Loan sẽ tổ chức buổi hội ngộ picnic tại Thảo Cầm Viên trên ngọn đồi hoa thị, mà từ đỉnh đồi này người ta sẽ nhìn thấy cả hai trường Võ Trường Toản và Trưng Vương.

Sáng chủ nhật năm đó tôi còn nhớ Vinh đưa tôi đến địa điểm hẹn vào ngày nắng mai ấm áp của mùa thu đang lên. Bạn bè đã tụ họp đông đủ, họ chia vui và ăn mừng cho chúng tôi luôn 3 niềm vui trước mắt chúng tôi: Tin chúng tôi sẽ có tác phẩm chung đầu lòng, tin tôi được nhận nhiệm sở dạy học tại trường Lê Văn Duyệt, Gia Định và tin Vinh thụ huấn quân nghiệp tại Lackland, Hoa Kỳ để trở thành pilot. Thức ăn được bày biện cho buổi picnic, tiếng chào hỏi, cười đùa nhắc nhớ về lớp học Trưng Vương của tôi hay Võ Trường Toản của chàng, bạn bè ca hát cho nhau nghe. Vinh hát tặng chúng tôi hai bản tình ca mà tôi vốn thích “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” của nhạc sĩ Nguyễn Nam Lộc để nhắc về ngôi trường nữ của bọn con gái chúng tôi và bài tình ca tôi yêu muôn thuở “Tà Áo Xanh” của Đoàn Chuẩn Từ Linh. Vinh là người gần gủi với nhạc thu ca của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn Từ Linh. Tôi nhớ có những đêm chàng ôm đàn guitar ngồi ngoài balcon nhà ca ru tôi trở về với giấc mơ mùa thu ngày cũ mà chúng tôi cùng nhau đi dưới hàng me của Sài Gòn đong đầy trong nỗi nhớ ngập lá me bay, chan chứa kỷ niệm yêu nhau trong tâm hồn tôi. Tôi nhớ từng lời ca giọng hát của chàng:

“Gió bay từ muôn phía
tới đây ngập hồn anh,
rồi tình lên chơi vơi
Thuyền anh một lá ra khơi
về em phong kín mây trời
đêm đêm ngồi chờ sáng, mơ ai ...”
(Tà Áo Xanh)


Hồn thu nhắc nhở mùa thu quyến rũ cả trần gian đắm chìm trong vườn hoa tình ái mà chúng tôi đi qua:

“Anh mong chờ mùa Thu
Trời đất kia ngả mầu xanh lơ
Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa
Bên những bông hồng đẹp xinh...”
(Thu Quyến Rũ)


Mùa thu Đoàn Chuẩn có lá đổ khóc cho cuộc tình không trọn vẹn của những kẻ yêu nhau, Vinh khoan thai hát tiếp:

“Thu đi cho lá vàng bay,
lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong
thuyền hoa tình duyên đành dứt
Có những đêm về sáng đời
sao buồn chi mấy cố nhân ơi
đã vội chi men rượu nhấp đôi môi
mà phung phí đời em không tiếc nhớ
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa,
phải chăng là nước mắt người đi
Em ơi đừng dối lòng
dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta...”
(Lá Đổ Muôn Chiều)


Muà thu chia ly với xác lá vàng rơi, cho hoa tàn rời xa hàng cây buồn bã, tiếng hát của Vinh trong đêm tối vẫn vang văng vẳng đầy thổn thức trong tim tôi:

“Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian...”
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)


Ngay nơi chúng tôi picnic là khu Đồi Thị, nơi có bóng mát của tàn cây thị mà muà trái chín cho quả vàng thật nhiều trên cây. Vinh leo lên hái tặng tôi hai quả thị vàng dính chùm thơm ngào ngạt. Thị là loài cây vùng nhiệt đời mà khi xa quê hương tôi chỉ còn tìm trong ký ức mà thôi. Buổi chiều hôm đó sau khi chúng tôi giải tán, Vinh và tôi đảo một vòng khu vườn bách thảo này, nơi có quá nhiều kỷ niệm trong quảng thời trung học của chúng tôi, để rồi chính nơi đây chúng tôi gặp nhau trong hai năm cuối cùng của bậc thi tú tài, nơi hẹn hò mà chúng tôi đã từng dìu nhau tay đan tay mà xao xuyến cả cõi lòng, nơi có Nhà Lồng Thủy Tọa trong đầm sen với chiếc cầu màu đỏ bắc ngang cho du khách thăm viếng, rồi những đàn két màu sặc sỡ từ Phi châu biết nhái tiếng người, rồi những đàn nai, hươu, sơn dương, đại thử, ngựa rằn đang nhai cỏ thật đẹp mắt, nơi có đền vua Hùng Vương đối diện Bảo Tàng Viện Quốc Gia, nơi có nhà kiểng nuôi dưỡng các loại hoa lan hay bonsai, nơi nhiều vườn muôn hoa đúng nghiã với tên vườn bách thảo và nó đã in sâu đậm vào ký ức trung học của tôi,...
Từ Mỹ về Vinh được biệt phái về Pleiku đóng tại đó. Do đó tôi phải xin nghỉ việc và đem con theo ra Pleiku. Tôi yêu mến cái thành phố cao nguyên đất đỏ này. Và có thể cũng một phần trước đó tâm hồn tôi bị ru ngủ bởi huyền thoại về Pleiku qua bài ca bất hủ “Còn Một Chút Gì Để Nhớ “ mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ Vũ Hữu Định. Thành phố Pleiku không lớn về mật độ dân số hay phồn thịnh như những thành phố tại bình nguyên khác. Nhưng cái dễ thương của Pleiku là khung cảnh và thời tiết ôn hoà dễ chịu, kèm theo sự hiền hoà của người dân cao nguyên lắm đất đỏ, hay vẽ đẹp thơ mộng của thiên nhiên có những hàng cây cao và của rừng nhiều hơn phố xá, đô thị. Tôi và Vinh rất mến cái thiên nhiên tại đâỵ
Một hôm Cảnh, một người bạn pilot của Vinh bận công việc phải về Sài Gòn, Cảnh nhờ Vinh bay thế trong các phi vụ hành quân và yểm trợ các đơn vị bạn. Từ trên cao, Vinh nhận tín hiệu một toán nhỏ quân nhân Hoa Kỳ bị phục kích và họ chạy lạc trong rừng sâu, Vinh cho phi cơ rà xuống tiếp cứu. Sau khi bốc hai quân nhân Mỹ xong, chiếc trực thăng của chàng vừa bay trở lên không phận thì bị trúng hỏa tiển tầm nhiệt SA-7 của địch quân, chiếc chopper chao đảo rơi mất hút vào rừng sâu. Khi nhận được tin chàng mất tích mà tính mạng khó lòng sống sót, tôi bàng hoàng như kẻ mất trí, tinh thần tôi bị khủng hoảng, bị giao động tựa nhưđôi chim đã từng bên nhau, mà khi một bị nạn, thì một còn lại bịủ rũ đôi cánh. Tôi khóc thật nhiều.

Sau năm 75, do sự sắp xếp vợ chồng Kiều Loan, tôi dẫn cháu Uyển Mi vượt biên đến Mỹ. Tôi được một nhà thờ Mỹ bảo trợ sang thành phố Newark, New Jersey. Tôi tìm được việc làm thơ ký hành chánh tại một trường đại học cộng đồng địa phương. Cái may mắn cho tôi là ông Viện trưởng trường này là Dr. Oliver Patterson, một cựu thiếu tướng không quân Hoa Kỳ đã giải ngũ, nhưng ông hoạt động rất tích cực cho chiến dịch tìm người Mỹ mất tích (MIAs) tại Đông Dương. Ông nghe nói về trường hợp của Vinh cứu các quân nhân Hoa Kỳ mà trực thăng bị bắn rơi, ông muốn gặp tôi để tìm hiểu thêm. Sau khi ông liên lạc với Bộ Quốc Phòng Mỹ ông cho tôi biết theo hồ sơ có thì có 2 chiến binh Mỹ và 2 quân nhân Việt Nam trên chuyến bay bị mất tích ngày hôm đó mà 2 quân nhân Hoa Kỳ là trung sĩ Paul Cahni và binh nhất John Dremmer thuộc đơn vị thám báo bộ binh Hoa Kỳ. Ông Patterson cho tôi biết ông mang trường hợp Vinh vào hồ sơ tìm kiếm và ông thường lập lại câu nói nước Mỹ chịu ơn Vinh. Ông dàn xếp cho tôi gặp phái đoàn MIAs của trung tướng John Vessey, cũng như gặp dân biểu Steven Solarz, Trưỏng khối Thái Bình Dương vàÁ Châu Sự Vụ tại Hạ Viện Hoa Kỳ. Ngoài ra, ông Patterson còn liên lạc với vợ của 2 chiến binh Mỹ mất tích là các bà Susan Cahni tại Virginia và Margaret Dremmer tại Iowa để 2 người Mỹ này có dịp trao đổi tin tức với tôi. Cả 2 bà Susan và Maggie cùng Dr. Patterson đã vận động Quốc Hội Hoa Kỳ trao bằng Tưởng lục Tri ân cho Vinh và tôi cũng đại diện cho Vinh nhận huy chương từ Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Năm sau đó Uyển Mi tốt nghiệp trung học, cháu được nhận vào học trường dược khoa của đại học USC tại nam Cali. Thế là hai mẹ con chúng tôi dọn về Cali.

Gần khu chung cư condo của chúng tôi ở có một người dược sĩ chủ nhân tiệm pharmacy, ông Ben Lloyd, cho tôi công việc thơ ký phụ bán hàng. Việc làm thật đơn giản, nhưng tôi thấy khó chịu với cái tật hay trêu ghẹo, ăn nói xàm xỡ, kém lịch sự của ông chủ nàỵ Cái sai lầm của nhiều người đàn ông khi thấy một người đàn bà không có chồng, họ thường nhận xét sai lầm hay phán đoán rất nông nỗi là chúng tôi luôn luôn khao khát nhu cầu phòng the. Mỗi khi tôi nghe ông đề cập đến y’ nghĩ này mà lòng thật bực dọc và chua xót. Có thể nó đúng với ông ta từ khi ông bị đổ vỡ vì vợ ly dị. Trước ngày tôi xin nghĩ việc, tôi nhắc ông nhớ tôi không nhưông nghĩ và trên đời này sự thủy chung vẫn là giá trị cao quý cho cuộc sống. Thất nghiệp hai tháng ở nhà tôi thật sự buồn bã. Có những hôm cháu Uyển Mi đi học đến tối mới về, tôi quanh quẩn lo bếp núc, dọn dẹp nhà cửa, đốt nhang tưởng nhớ đến Vinh, tôi nguyện lòng sẽ cố gắng tìm kiếm chàng. Dù là chàng đang bơ vơ từ nơi rừng sâu, dù thân xác chàng còn hay không tôi vẫn cố tìm. Tôi nhìn bức ảnh chàng khi xưa bên khói hương nghi ngút trên bàn thờ, hình chụp Vinh trước khi sang tu nghiệp tại Mỹ, tôi nhớ chàng nhiều lắm, tôi đoạn nhìn những thành quả mới đây trong nổ lực tìm kiếm chàng, tôi mang về là chiếc huy chương danh dự và bằng tưởng lục tri ân của nước Mỹ trao cho chàng, những dòng lệ lại lăn dài trên khoé mắt. Nhiều đêm tôi khóc thầm và tôi cố dấu con gái tôi. Tôi không muốn cháu thấy hình ảnh một người mẹ yếu đuối và u hoài thiếu đi bản lĩnh tạo gương tự tin dẫn dắt cháu đi trên đường đời.

Một hôm tôi xem báo địa phương, một công ty bảo hiểm rất lớn ở vùng Woodland Hills đang tuyển mộ nhân viên data entry. Tôi đến xin việc, sau khi phỏng vấn chấp nhận mướn tôi, họ cho biết chỉ có ca đêm mà thôi nếu tôi muốn làm ngay. Tôi đành chấp nhận đi làm cho ngân quỹ gia đình. Khi làm ban đêm tôi và cháu Uyển Mi như mặt trời và mặt trăng ít khi nào mẹ con chúng tôi gặp nhau. Nếu cần liên lạc nhau nói chuyện hay dặn dò nhau qua giấy nhiều hơn.

Một ngày cuối tuần Uyển Mi và tôi ghé Giovanni’s Ristorante, một nhà hàng Ý gần nhà để ăn tối. Ông chủ nhà hàng nhận ra chúng tôi là ân nhân và láng giềng ở gần. Khi tôi thất nghiệp ở nhà, bố ông chủ nhà hàng Giovanni là ông Luigi tình cờ đi ngang khu nhà chúng tôi, ông đột ngột ngã quỵ vì chứng đau tim, tôi kêu xe cứu thương cứu cấp đến đưa ông cụ vào nhà thương. Do đóông chủ Rudi Giovanni vẫn quý mến chúng tôi. Hôm ăn tối đó ông có nhã ý cho tôi việc làm quản lý nhà hàng ban ngày để tôi đỡ vất vã như làm về quá khuya, để giữ tình bạn láng giềng sau bài học của ông dược sĩ Ben Lloyd, tôi chỉ thoái thác chối từ và cám ơn ông.

Trong dịp lễ Giáng sinh đến ông Rudi mời chúng tôi đến dự sinh nhật của cha ông và mừng ông cụ đã hồi phục. Trong buổi tiệc liên hoan Noel trước đông đảo bạn bè Rudi ca ngợi và cám ơn sự giúp đỡ của tôi. Trong căn nhà nguy nga, Rudi có dịp kể cho tôi nghe là mẹ ông đã mất, ông đem người cha về nuôi, nhưng bà vợ Rudi phản đối cho là ông lão Luigi rất khó tính, sự dằn co đưa đến kết quả hai người ly dị. Những lúc trước khi tôi rảnh rổi tôi hay ghé thăm ông cụ nhiều lần. Rudi kể lại ông cảm động và có thiện cảm với tôi. Rudi ở vậy nuôi cha, sau khi ly dị với vợ. Trước nghiã cữ lo lắng của tôi cho cha ông, Rudi xin cầu hôn, nhưng tôi đã từ chối, tôi muốn sống trọn vẹn cho Vinh và cho Uyển Mi. Sau phần tiệc ăn tối trong phần giải trí, Rudi cho mọi người xem cuốn phim "Romeo & Juliette", một danh tác của văn hào Shakespeare nói về cuộc tình của hai người trẻ yêu nhau giữa mối thù không đội trời chung của gia đình hai bên, họ Montecchi và họ Cappelletti, chuyện xảy ra vào thế kỷ 17 tại Verona, nước Ý. Sự hận thù giữa hai dòng họ Montague và Capulet đã đưa đến kết cuộc bi thương cho đôi tình nhân trẻ cùng ra đi cho trọn cuộc tình. Trong lúc xem hát, tôi thấy ông lão Luigi có vẽ đăm chiêu, buồn bã vì câu chuyện phim hay vì hình ảnh nước Ý ngày xưa của ông. Khi cuốn phim kết thúc ông kể tôi nghe về nước Ý từ Roma, Milan, Genoa, Verona, Venice, Florence đến Naples. Riêng Rudi hỏi tôi nghĩ gì về phim tình này mà ông đã chiếu cho mọi người xem, tôi cho là chuyện thật buồn đến bi thương và tôi nhớ đến chồng tôi, vì khi phim này được trình chiếu đầu tiên tại Sài Gòn, Vinh đã đưa tôi đi xem. Nhiều kỷ niệm xưa của Sài Gòn lại hiện về trong tâm trí tôi. Nghe xong điều này Rudi bảo tôi như mẹ ông là người đàn bà của sự thủy chung, ông rât quý mến cả hai và dặn tôi khi nào cần giúp đỡ thì cho ông biết.
Phần tôi trong thực tế của đời sống khi cố giữ tinh thần phấn đấu với đời song song với hình ảnh của Vinh vẫn ngự trị trong tim tôi vẫn là sự khó khăn, khổ sở vô biên. Vì làm ban đêm ông supervisor của tôi là Jeff Galanti, một mẫu người đàn ông đẹp trai nhưng bay bướm, thích ve vãn, tán tỉnh đối với phụ nữ nào mà ông ta thích. Một hôm vào lúc 11 tối ông gọi tôi vào văn phòng ông để bàn chuyện tăng lương, ông dùng dịp tăng lương và những lời lẽ ngon ngọt để quyến rũ tôi, tôi biết được ý đồ đen tối của ông, tôi đã từ chối những ham muốn của ông. Tôi nhất quyết cự tuyệt và chạy ra ngoài ôm mặt khóc tức tưởi. Các đồng nghiệp của tôi đã bất mãn với bản tính cố hữu của ông Jeff Galanti và họ đồng lòng ký đơn thỉnh nguyện xin truất phế đuổi ông Galanti. Ngày hôm ông này tỏ thái độ bỉổi với tôi, tôi về nhà lòng buồn bã trong cô đơn, trong tủi nhục. Tôi ước gì có Vinh ở bên tôi. Tôi ghé bàn thờ chàng đốt nhang và cầu xin chàng hãy theo bảo vệ tôi và cháu Uyển Mi.

Sáu tháng sau đó Uyển Mi ra trường và nhận việc làm tại San Diego, mẹ con chúng tôi dọn về sinh sống ở một thành phố ven biển vùng San Diego. Lúc này tôi được một tờ báo Mỹ điạ phương thuê dụng trong ban tiếp thị. Vì tiếp xúc với khách hàng thường xuyên nên phải du hành đó đây. Và rồi tôi có những cái khổ sở mới của nghề nghiệp là phải ra ngoài ngoại giao tiếp xúc thường xuyên, chung đụng với khách hàng, Uyển Mi thấy cái vất vã cho cuộc sống của tôi, cháu đề nghị tôi chỉ nên làm bán thời gian mà thôi. Đối diện nhà tôi có một vị bác sĩ nhi khoa và ông Dr. Richard Mayer có phòng mạch tại địa phương này. Ông cần người trông coi văn phòng bán thời gian, công việc khá thích hợp năng khiếu, tôi được mướn vào trông coi, phụ giúp vợ chồng ông bà Mayer quản lý các hồ sơ, công việc hành chánh cho văn phòng y khoa này. Đây là công việc tôi cảm thấy thoải mái và làm lâu nhất từ khi sang Mỹ.

Một hôm ông Patterson gọi tôi từ New Jersey thông báo tin mừng khi ông cho biết phái doàn MIAs đã tìm được nơi chiếc máy bay trực thăng của Vinh bị bắn rớt, ông cũng sắp xếp một chuyến đi nhận xác chồng cho tôi, Susan và Maggie sang Sài Gòn. Khi nhận được hài cốt của chồng xong, Susan và Maggie theo phi cơ sang Hawaii theo thủ tục giảo nghiệm xương, nhưng với trường hợp của tôi và viên phi hành phụ người Việt Nam theo hồ sơ biên bản xác định lý lịch, hai phi hành đoàn người Việt qua tấm thẻ bài và vài di tích còn sót lại về xương răng, kích thước khác nhau mà hai gia đình Việt Nam đồng ý chấp nhận, tôi xin thủ tục hoả thiêu cốt chồng để mang về Mỹ thờ. Gia đình người phi công phụ xin chôn cất tại Bình Dương vì họ sinh sống ở đó.

Ngày cuối cùng tại Sài Gòn tôi muốn Vinh cùng tôi tìm về chốn cũ, tìm lại những kỷ niệm xưa mà trước đây hai chúng tôi cùng bạn bè đã chia sẻ cái quá khứ khôn nguôi của thuở trung học tại Sài Gòn. Tôi để bình cốt trong xách tay đi viếng thăm lại Thảo Cầm Viên, mà gần đó có hai trường Trưng Vương và Võ Trường Toản, tôi mang Vinh đến khu vực Đồi Thị khi xưa chúng tôi tổ chức picnic, rồi khu vực Nhà Lồng Thủy Tọa có đầm sen, nơi mà ngày xưa chúng tôi đã có nhiều kỷ niệm bên nhau, tôi đưa chàng đi trên cầu vòng sang Thị Nghè nơi tiếp giáp với xưởng Ba Son, tôi đưa Vinh vào thăm đền thờ vua Hùng Vương, rồi Viện Bảo Tàng trước lối vào Sở Thú nơi chúng tôi tâm nguyện yêu nhau suốt đời. Tôi ngó về hướng Đồi Thị, tàn cây vẫn xanh um trong cái già nua của tuổi đời của chúng tôi, để chạnh lòng nhớ lại ngày nào Vinh leo lên cây thị bẻ tặng tôi đôi thị màu vàng tươi thơm ngát, tại nơi nầy khi xưa Vinh vuốt tóc và hôn tôi khi chàng trao tôi hai quả thị ghi nhớ chuyện tình mà nay chỉ là buồn vương kỷ niệm của chúng tôi, và rồi những dòng nước mắt ấm nhung nhớ tự động dâng tràn bờ mi của tôi. Tôi thả bộ dọc theo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi rẽ vào trường Võ Trường Toản, tôi thì thầm bên túi xách:
"Anh ạ, bây giờ chúng ta đang ở ngôi trường của anh, em nhìn thấy lớp học cũ trong dãy 12B mà anh học khi xưa. Em muốn anh hãy cùng em trở về kỷ niệm của dĩ vãng xa xưa, nơi đóđã có sự hiện hữu của anh".



Tôi lại đi tiếp trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm thân thương đãđánh dấu những gót chân của hai chúng tôi, con đường đã ghi nhận thuở học sinh ngày nào của hai đứa thì thầm đi bên nhau, đứng trước trường dường như lòng tôi bỗng dâng bao điều xao xuyến, nhắc nhớ lại bao kỷ niệm bồi hồi nào đó đã qua, rồi tôi ngó xuyên qua khung cửa lớn lối ra vào và hàng phượng vĩ xưa vẫn còn đó, tôi bước đi tìm lại kỷ niệm cũ, đi một vòng quanh sân trường và dừng chân trước lớp học cũ cuối của bậc trung học 12A, tôi buông lời khe khẽ nói với Vinh:
"Anh à, đây là lớp học của em mà anh đến bán bích báo năm nào. Anh còn nhớ không? Thời qua nhanh quá để em nhớ đến anh suốt tuổi mùa xuân, đến tuổi tóc hoa râm ngã màu và bây giờ con chúng ta đã trưởng thành ra trường đi làm rồi. Hôm nay em về đây để cám ơn Trưng Vương, cám ơn các cô thầy và cám ơn linh hồn của Trưng Vương cho em nghị lực phấn đấu đi tìm anh và để nuôi cái tác phẩm Uyển Mi của chúng ta nên người. Uyển Mi mang bóng hình của anh và Uyển Mi là lẽ sống của em. Em muốn cám ơn anh cho em cái lẽ sống này, vì chính cái giọt máu này mà anh trao đã an ủi phần còn lại của đời em. Anh có nghe tiếng lòng của em không, anh?".
Tôi ôm chiếc xách tay có Vinh trong đó và ôm Vinh sát hơn vào lồng ngực của mình, trong khi lệứa chan nhoà bờ mi và hình như trong tâm hồn của có tôi linh cảm về kỷ niệm ngày cũ. Kỷ niệm xưa lại hiện về khi nghe văng vẳng đâu đây dâng lên lời ca của Vinh từ trên ngọn đồi cây thị năm nào có Vinh ôm đàn hát dưới tàn cây cao bóng mát, và phải chăng tại nơi đó chàng đã miên viễn cất lên tình khúc yêu đương chờ đợi tôi về đây ngày hôm nay? Vâng, tôi đã nghe và nghe rỏ bài:

"Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu"
Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh
Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày
Những ngày đợi chờ
Trong nắng vu vơ
Trong mắt ngây thơ
Nhớ khói bay lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làn mây yêu thương
Vướng trong hồn em
Người mang cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy
Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời
Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời
Bóng người thì mịt mùng
Từng hàng me rung rung
Trong cơn gió lạnh lùng
Trong nắng ngại ngùng
Nắng vẫn vương nhẹ gót chân
Trưng Vương vắng xa anh dần
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng
Lá rơi đầy sân...


(Gửi chị BH, tác giả LCCSQ, Irvine)
Việt Hải



1 user thanked Ngoc N Hao for this useful post.
havi on 4/19/2011(UTC)
havi
#47 Posted : Tuesday, April 19, 2011 3:55:16 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Points: 123
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)




VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ


Hơn ba mươi năm lưu đày biệt xứ
Ở những ngày tàn cuộc chiến điêu linh
Cũng bấy nhiêu năm xót đời lữ thứ
Tiếng gọi trường xưa rộn rã ân tình


Tôi trở lại thăm qua ngôi trường cũ
Mái ngói rêu phong, tường phủ rêu mờ
Gốc phượng già trổ thêm vài nhánh khổ
Ở đầu cành điểm vài nụ chơ vơ


Phòng ốc cũ cỏ hoang vây kín lối
Bóng thầy cô như nhòa nhạt đâu đây
Giữa trưa hè tiếng ve sầu réo gọi
Như nhớ như thương những tháng cùng ngày







Tôi cố nén tiếng thở dài não nuột
Muốn quay lưng mà chân bước không đành
Đứng trước cổng nhìn sân trường một lượt
Nôn nao buồn trang lưu bút ngày xanh


Tôi cúi mặt dấu lệ buồn nhỏ xuống
Tưởng niệm vong linh bè bạn chung trường
Đứa hy sinh cho tự do… oan uổng
Đứa chết trong tù, đứa bỏ xác đại dương


Tay vuốt tóc, tóc nhuộm màu sương khói
Mồ hôi tuôn ướt mặt giữa trưa hè
Và tiếng ve sầu nỉ non réo gọi
Trong cõi vô tình ấm lạnh hồn quê



Đức Linh 090708


seashore
#48 Posted : Tuesday, April 19, 2011 6:46:38 AM(UTC)
vyvitran

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/8/2011(UTC)
Posts: 169
Points: 507
Location: midwest

Thanks: 756 times
Was thanked: 303 time(s) in 110 post(s)
Chị Havi-Seashore rất thích bài "Saigon, những con hẽm" của chị posted ở trên.
Gợi Seashore đến những con hẽm nho nhỏ mà chính mình khi còn tuổi thơ đã từng lội bộ đến trường và rong chơi trong suốt 6 năm sống trên Saigon. Nay nhờ bài post của chị Havi, kỷ niem tràn về trong Seashore...
havi
#49 Posted : Wednesday, April 20, 2011 6:39:26 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Points: 123
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
Originally Posted by: seashore Go to Quoted Post
Chị Havi-Seashore rất thích bài "Saigon, những con hẽm" của chị posted ở trên.
Gợi Seashore đến những con hẽm nho nhỏ mà chính mình khi còn tuổi thơ đã từng lội bộ đến trường và rong chơi trong suốt 6 năm sống trên Saigon. Nay nhờ bài post của chị Havi, kỷ niem tràn về trong Seashore...


Rất vui & cảm ơn seashore đã ghé đọc topic, thích bài của Hạ Vi post và viết reply dễ thương.
Nơi đây, the beauty of Vietnamese culture...chúng ta cùng nhau nhắc nhỡ, kể chuyện xa xưa, lúc thuở bé thơ, hồn nhiên cắp sách đến trường, áo trắng mơ mộng, phá phách vô tư...

...Mong sẽ nhận được post bài của seashore nha. Mến chúc bạn vui tươi.


phamlang
#50 Posted : Wednesday, April 20, 2011 9:17:07 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,506
Points: 4,734

Thanks: 1665 times
Was thanked: 995 time(s) in 643 post(s)
HẸN NHAU TẠI SÀI GÒN

Hẹn anh tại Sài gòn,
Ngày hội lớn quê hương,
Hẹn em lòng đất nước,
Cùng nhau ta xuống đường,

Làm ngọn triều dân tộc,
Tạo làn thác tràn dâng,
Thúc giục nhau tiến bước,
Xua tan bóng đêm trường,

Giờ tan trường Gia Long
Sài gòn đó đã lừng uy một thuở,
Sài gòn giờ hơi thở nhỏ lệ rơi,
Sài gòn xưa rực rở một góc trời,
Sài gòn nay giặc dày xéo tả tơi,

Em còn nhớ ngày nào trên biển cả,
Bám chiếc phao tìm sự sống mong manh,
Em còn đó vết đau bị vò xé,
Xác mẹ hiền đành thủy táng biển đông,

Anh còn nhớ tháng ngày tù oan nghiệt,
Tìm tự do trước nanh vuốt đại dương,
Giữa ngàn khơi anh mơ một thiên đường,
Mơ ngày về Sài gòn trong yêu thương,

Giờ đến lúc thắp lên ngàn ánh đuốc,
Để Sài gòn rập bóng cờ vàng bay,
Để tòan dân xây dựng lại tương lai,
Để non sông quét sạch bóng độc tài,

Hẹn gặp nhé giữa sài gòn diễm tuyệt
Ác đảng kia phải vĩnh biệt ra đi,
Tuổi trẻ hỡi! đây ngút ngàn ý chí,
Tuổi trẻ ơi! Ta hãy dậy mà đi,

Trả lại ta Sài gòn ngàn yêu qúy,
Trả lại ta Sài gòn thuở lừng uy,
Trả lại ta xanh biếc dãy sơn hà,
Trả lại ta Sài gòn của Ông Cha,

Lê Chân




Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#51 Posted : Wednesday, April 20, 2011 9:57:03 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,506
Points: 4,734

Thanks: 1665 times
Was thanked: 995 time(s) in 643 post(s)

Xe Thổ Mộ Tại Sài Gòn Xưa

Không biết ai đã chế ra chiếc xe ngựa độc đáo này, nó xuất hiện trong thành phố Sài Gòn và những vùng quê lân cận từ thập niên 40. Hồi đó lính biện chà, lính Tây kêu xe đó là boite d' allumettes (xe hộp quẹt) hay bình dân hơn họ cũng gọi là xe "tac a tac", người mình kêu nó là xe thổ mộ vì cái thùng liền với cái mui cong cong giống như một cái mả đất. Nhưng nguồn gốc tên xe thổ mộ này cũng không được nhiều người đồng thuận, có một giả thuyết khác là tên gọi thổ mộ xuất phát từ tiếng Quảng Đông "xe độc mả" người Tàu đọc là thu ma rồi bà con mình gọi trại ra là thổ mộ.

Xe ngựa còn gọi là xe thổ mộ, dùng để chở người đi lại trong vùng hay vận chuyển hàng rau cải từ những vùng quê lên Sài Gòn. Mỗi khi có việc đi lại trong vùng, đi mua sắm, thăm viếng, cưới xin, người ta đều chọn phương tiện xe ngựa vì tính tiện lợi của nó. Thời điểm lúc bấy giờ, xe ngựa vừa nhanh chóng, vừa tiện lợi bởi người ta có thể lên xuống bất kỳ chỗ nào.

Xe thổ mộ có thùng (khoang chứa người) dài 1,18m, chiều cao 1m bằng gỗ mít, phía trên chia làm ba ô cửa sổ, chiều ngang thùng xe 0,85m đặt chồng lên hai gọng dài 2,7m (từ cuối thùng đến đầu gọng) vít cứng trên bộ nhíp thép bốn lá (bốn trên bốn dưới) hình trái khế (ô-van) tạo đàn hồi nâng thùng xe thăng bằng khi xe chạy, cặp vào một thanh ví bằng thép, hai đầu trui đến độ thép xanh luồn vào hai ổ trục (không dùng bạc đạn). Hai bánh (mỗi bánh 12 căm) bằng gỗ giáng hương tiện khá sắc sảo, ngoài cùng bọc lòng máng (niềng bằng sắt) để tròng lớp vỏ cao su cắt ra từ vỏ xe tải xe hơi, nối hai đầu cao su bằng một cọng kẽm cứng. Một bộ yên lưng bằng da có hai quai lồng vào hai gọng đặt hai bên vai ngựa. Sợi yên lưng xuôi trên sống lưng ngựa và lồng vào đuôi (để khi xuống dốc ngựa ghìm chiếc xe lại), ngoài ra có dây bụng mắc vào dưới bộ yên lưng có tác dụng nâng ngựa khi xe chạy, xà ích đôi khi nhờ khách ngồi dịch lên trên hoặc lùi xuống chút là để cho ngựa không bị sức nặng đè vai hoặc bó chặt ngực khó chạy.

Bên trong thùng xe, khách ngồi trên chiếc chiếu bông đâu mặt nhau, chân co về một phía, guốc dép máng ở hai cọc sắt phía sau hai góc thùng, ít người thì khách ngồi thòng chân ở phía có bàn đạp lên, xuống dễ dàng. Phía đầu thùng xe hai bên là cặp tai đèn. Hai cái vè chở hàng (porte bagage) bằng gỗ bề ngang hơn tấc tay, uốn lượn như dợn sóng rất thẩm mỹ, cặp trên hai bên thùng xe có sức chịu lực mỗi bên khoảng ba bốn mươi ký. Trên cùng là cái mui uốn cong, lợp thiếc nhô ra tới nửa mình ngựa, khum lại như cái vành mũ”.

Ở Sài Gòn - Gia Định có nhiều bến xe ngựa chạy đủ các tuyến đường, bến xe ngựa trước chợ Bến Thành rất đông xe và nhộn nhịp, xe vào bến phải xếp tài khi nào đủ khách (khoảng 6-7 người) là xe lên đường theo từ tuyến đường về Đất Hộ miệt Đa Kao hay vào Chợ Lớn hoặc xuống Tân Thuận. Dân biết ăn, biết xài khi lên Chợ Đồn, Biên Hòa ăn cháo cá, khi xuống Chợ Đệm ăn thịt luộc, cháo lòng nên mới có câu: "Cháo cá Chợ Đồn, cháo lòng Chợ Đệm". Lên Chợ Đồn hay xuống Chợ Đệm nào phải ai cũng có xe hơi, xe máy dầu nên thường bạn hữu năm, sáu người rủ nhau thuê bao một chiếc xe thổ mộ. Mười mấy cây số đường trường, đổ xuống chợ, vào một quán, đầu tiên kêu món luộc, lai rai ít chung đế Gò Đen, hay đế Đức Hòa, tiếp sau đó mới kêu cháo lòng. Một bữa ăn ngon, xe thổ mộ hai lượt rong ruổi đi về. Tháng Chạp, tháng Giêng, từ Sài Gòn - Gia Định ngồi xe thổ mộ xuống Chợ Đệm uống chơi chơi vài chung rượu, ăn chơi mấy miếng thịt luộc với tô cháo lòng cũng có thể coi như một chuyến tất niên, một chuyến du xuân.

Xe cá thường thấy ở Long An, được thiết kế rất đơn giản không mui, không đèn vì chủ yếu chở người làm đồng, người buôn bán. Xe lá liễu khá mỏng manh và phổ biến ở Đà Lạt, Vũng Tàu phục vụ cho các tiểu thư, phu nhân thời Pháp thuộc.

Ngày xưa nghề đánh xe ngựa có hai thời kỳ lên hương, thời kỳ đầu vào những năm 1960, thời kỳ thứ hai vào những năm 1976 - 1978 (lúc này xăng còn hiếm).
Trong dòng tem VNCH, ngày 1-5-1967 Bưu Chính Sài Gòn cho phát hành bộ tem Đời Sống Dân Chúng với 4 tem, trong đó có con tem mang giá mặt 3 đồng với hình ảnh chiếc xe thổ mộ. Bộ tem này được rất nhiều bà con sưu tập FDC với nhiều cách et rất đẹp.

Đi xe ngựa thích thú nhất là được ngồi phía sau hai chân thòng xuống thỏa mái, gác lên cái bửng sắt nhỏ dùng làm chổ leo lên xe. Xe chạy chậm chậm hướng về Tân Thuận Nhà Bè gió mát từ bờ sông Sài Gòn làm dịu đi cái nắng gắt của thành phố, tiếng vó ngựa lốc cốc trên đường nhựa cộng thêm tiếng chuông leng keng và thỉnh thoảng tiếng kêu tróc..tróc đều đặn của người xà ích đã ru hồn những người bạn hàng vào một giấc mơ.

Xe thổ mộ được trưng bày trang trọng trong Bảo tàng Bình Dương. ên gọi xe thổ mộ và xuất xứ của xe còn nhiều thông tin khác nhau như tên gọi xe thổ mộ tại vì cái mui khum khum của nó giống ngôi mộ, vì xe ban đầu được dùng để chở quan tài ra mộ để chôn. Hoặc thổ mộ là tên gọi trại từ xe thảo mã của Trung Quốc, hay thổ mộ là cách gọi tắt nói nhanh của địa danh Thủ Dầu Một Cũng như xuất xứ của chiếc xe thổ mộ đầu tiên ở Nam Bộ có người cho là ở Sài Gòn nhưng cũng có ý kiến cho rằng xe thổ mộ có ở Bình Dương trước tiên.

Nhưng gọi xứ Bình Dương là xứ của xe thổ mộ thì không ai tranh cãi, chẳng vậy mà trong vè 47 chợ, đặc trưng này đã được khẳng định: Khô như bánh tráng là chợ Phan Rang; Xe thổ mộ dọc ngang là chợ Thủ Dầu Một; Chẳng lo ngập lụt là chợ Bưng Cầu". Những thập niên 40, 50 là giai đoạn phát triển mạnh của xe thổ mộ, tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ nhộn nhịp mà lúc tập trung đông nhất cũng trên 50 chiếc. Không chỉ vậy Thủ Dầu Một còn có nhiều trại đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc.

Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe thùng Thủ" để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định đẳng cấp" của mình. Xe thổ mộ khi đó có vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa, hành khách vì các phương tiện giao thông đường bộ chưa phát triển. Những ngày tháng đó trên khắp nẻo đường dẫn ra chợ vào mỗi sáng tinh sương, tiếng lốc cốc, lốc cốc đều đều của vó ngựa; tiếng lục lạc ngựa vang leng keng, leng keng; tiếng hô họ,họ" điều khiển ngựa của người xà ích là những âm thanh cuộc sống trong hồi tưởng của nhiều cụ già đất Thủ Dầu.

Ngày nay tuy trên đường không còn nhìn thấy bóng dáng của những chiếc xe thổ mộ xuôi ngược nhưng nhìn vào nhiều ngôi nhà hình bóng xe thổ mộ vẫn hiện diện. Dễ thấy nhất là những tường rào gắn bánh xe, không chỉ là vật trang trí, tạo điểm nhấn, bánh xe thổ mộ còn tạo phong cách đặc biệt cho tường rào, giúp tường rào vừa đẹp vừa thông thoáng. Nhưng đó là những bánh xe thổ mộ còn nguyên vẹn, còn những bánh xe sứt, gãy lại có cuộc sống" khác, được tái sinh thành những vật dụng có ích, tiếp tục phục vụ con người.

Trong ký ức của những thế hệ cha anh xe thổ mộ là hình ảnh thân quen của những ngày đi học, của những ngày ra chợ và với nhiều người nó là cả một phần đời với những buồn vui của quá khứ.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 4/20/2011(UTC)
Hạ Vi
#52 Posted : Wednesday, April 20, 2011 4:34:41 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)



SÀI GÒN CÒN ĐÂY NIỀM NHỚ


Sàigòn ơi!

Đã hết rồi ngày tháng đam mê

Nhớ đường xưa, lối cũ đi về

Nhớ từng viên đá cuội bên hè

Tiếng vọng buồn con phố về khuya…



Sàigòn ơi!

Đã hết rồi ngày tháng bên nhau

Ai chờ ai cuối nẻo, giang đầu

Tuổi còn xanh tóc đã bạc màu

Thôi còn gì để nhớ thương nhau!



Sàigòn ơi!

Nhớ những ngày chinh chiến biệt ly

Đêm nằm nghe súng nổ vọng về

Mắt hỏa châu sáng một góc trời

Những ngày buồn rồi cũng qua đi…


Sàigòn ơi!

Xa nhau rồi em có buồn không?

Em chừ đây chắc nhạt môi hồng

Trách người đi để lạnh hương nguyền

Ta ngậm ngùi hai tiếng thủy chung!


Sàigòn ơi!

Mưa bên trời lạnh giá thân em

Phố mộng xưa tắt liệm hoa đèn

Những người yêu đã lạc bước tìm

Em Sàigòn giờ đã thay tên!





Sàigòn ơi!

Đêm mịt mùng buốt giá đôi vai

Mắt lệ rơi cuối nẻo lưu đày

Bia mộ kia cho một kiếp người

Thôi còn gì nuối tiếc tương lai!



HOÀNG NGỌC ẨN


Hạ Vi
#53 Posted : Thursday, April 21, 2011 1:43:43 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)





Em Sài Gòn

Em Sài Gòn có những chiều gặp gỡ
Đạp xe về đường râm mát hàng cây,
Mắt nai tơ cho xao xuyến lòng này,
Rồi mỗi bữa anh ra đây đứng đợi.

Giờ tan trường em từ xa bối rối,
Thoáng thấy anh vội vã bước đi nhanh,
Đường quanh co em yêu hỡi sao đành,
Đi mất biệt cho tình anh lạc lối


Nguyên Thảo






Hạ Vi
#54 Posted : Friday, April 22, 2011 5:36:48 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)
Việt Nam một thời để nhớ,

Những chiếc scooter qua các thời đại ở Sài Gòn


Nguyên Huy



Nếu lấy mốc thời gian là 1954 thì những chiếc xe gắn máy (Scooter) có mặt ở Saigon Việt Nam đã trải qua nhiều thời đại.

Trước hết là thời của "Mobylette vàng" và Velo Solex. Cả hai loại này đều có hình dáng như chiếc xe đạp đầm nhưng lớn hơn và có gắn bộ máy vận hành chạy bằng xăng pha nhớt. Tốc độ của Mobylette có thể lên tới trên 60 km/giờ nếu còn mới. Nó cũng có thể chuyển sang đạp bằng đôi chân khi bất ngờ hết xăng dọc đường. Cái tiện nghi của nó ngoài tốc độ nhanh hơn xe đạp, ngồi thảnh thơi mà rú máy lớn nhỏ cho xe chạy nhanh hay chậm, còn phải kể đến hai "phuộc" trước là hai ống nhún. Thời oanh liệt của xe gắn máy Mobylette là thời Tây (thực dân Pháp).


Khi nền Ðệ I Cộng Hòa thành lập, chính phủ Ngô Ðình Diệm trong tư thế chính phủ của một quốc gia độc lập nên đã thoát dần sự độc quyền thương mại với Pháp. Vào đầu những năm 1955, 1956, xe gắn máy Mobylette đã phải nhường chỗ cho các loại xe khác của Ðức như Goebel, Puch, Sach mặc dù xe Mobylette cũng đã đổi kiểu khá nhiều.






Mobylette



Xe gắn máy của Ðức như Sach hay Puch khác với Mobylette của Pháp là có nhiều tiện nghi hơn như có còi điện, có ống nhún trước và sau và ở vận tốc có hai ba nấc gọi là số cho xe thay đổi để chạy nhanh hay chậm, lên dốc xuống dốc hay khi chở nặng. Dù chỉ với 50 phân khối lý thuyết (thực tế là 49cc) như Mobylette nhưng xe của Ðức chạy mạnh hơn nhiều. Tất cả những loại xe gắn máy này giá thường chỉ gấp ba chiếc xe đạp tốt hiệu Peugoet, Alcyon hay Dura nên giới trẻ thuộc các gia đình trung lưu đều có thể có được.


Phong trào của tuổi trẻ lúc này ở Saigon là mở thông ống phun khói của xe bằng cách tháo bỏ ống hãm thanh để cho xe chạy nhanh hơn khiến thành phố thêm náo động.


Cũng trong thời gian này, một loại xe gắn máy của Ý cũng được tuổi trẻ mê thích nhưng không có mấy ai có được vì giá cao hơn các loại xe gắn máy nhỏ nhiều. Ðó là chiếc Vespa của Ý, và sau đó là của Pháp cũng y trang vì Pháp mua lại được bản quyền sản xuất. Xe Vespa của Pháp giá rẻ hơn nhưng máy móc không tốt bằng của Ý. Ðể phân biệt Vespa Pháp hay Vespa Ý, "dân chơi" thường nhìn trước hết là mầu sắc sau đến là hàng chữ trên bửng xe trước. Vespa Ý thường chỉ có một mầu xam xám và có chữ Piaggio, còn Vespa Pháp thường có mầu vàng sậm và có chữ A.C.M.A.






Vespa



Bạn trẻ hải ngoại ngày nay có thể không biết đến chiếc Scooter Vespa nhưng 50 năm trước đây Vespa đã là nỗi mơ ước thường hằng của tuổi trẻ. Nó là chiếc xe hai bánh gắn máy của Ý ra đời sau các thế hệ Motobecane, Terro của Pháp, Harley của Anh hay BMW của Ðức trong các thập niên 30 và 40. Vespa ngay từ chiếc xe đầu tiên xuất hiện ở Ý nó đã nhanh chóng được dân Âu Châu đón nhận nồng nhiệt. Bởi, Vespa gọn nhẹ hơn xe "bình bịch" (danh từ gọi xe gắn máy ở miền Bắc), kiểu dáng lại có vẻ tình tứ lả lướt thích hợp với tuổi trẻ. Cái quyến rũ nhất là hai bánh xe đã thu nhỏ lại, chỉ bằng hơn 1/3 các loại xe gắn máy thuộc các thế hệ trước. Về hình dáng thì được thu gọn trong một "body" khá kín đáo. Cả bộ phận máy móc vận hành được giấu dưới ghế ngồi hơi xiên về bên phải. Ba số vận hành được điều khiển bằng tay trên cần lái rất tiện dụng thay vì là cái cần số bên hông của các loại xe gắn máy trước đó. Nó còn có cả bánh "sơ cua" để chạy đường dài như đi "Ô Cấp". Nói tóm lại Vespa là sự đột phá, là cuộc cách mạng của loại Scouter.


Riêng ở Việt Nam thì ngay từ những năm đầu thập niên 1950 ở Hà Nội đã thấy xuất hiện một hai chiếc do người Việt làm chủ. Người viết bài còn nhớ ông Vĩnh, quản đốc garage Avia có một chiếc được mọi người chú ý trầm trồ hơn cả người có xe hơi.


Ðến khi vào Saigon sau khi đất nước bị chia cắt, người viết thấy dân Saigon giầu hơn dân Hà Nội nhiều vì số người đi xe Vespa đông hơn hẳn. Nhưng vẫn còn là của hiếm, chỉ có dân công chức trung lưu trở lên mới đủ tiền mua nổi. Giá một chiếc Vespa của Ý vào thời đó khoảng 17, 18 ngàn trong khi một tô phở khoảng 5 đồng. Lúc đó thì cũng chưa có hệ thống bán trả góp nên ai mua là phải "pay off" ngay. Có chiếc Vespa trong nhà là như có "của để" nên chủ của nó thường may áo chùm cho xe khi để xe nơi sân trước nhà hay trong phòng khách.


Vào những năm 1958, 1960, Vespa ở Việt Nam có một đối thủ, đó là chiếc Lambretta. Nghe nói hãng nhập cảng độc quyền Lambretta trên đường Trần Hưng Ðạo Saigon là của bà Ngô Ðình Nhu nên hãng có bán chịu một phần cho công chức. Nhưng Lambretta cũng không lấn át được với Vespa vì kiểu dáng vẫn không độc đáo bằng Vespa.






Lambretta


Cho đến cuối năm 1968 thì Vespa, Lambretta và nhất là các loại gắn máy Pháp Ðức đã đành phải "chào thua" các loại gắn máy của Nhật.




Honda S50




Ðầu tiên là loại Honda có hai kiểu dáng cho nam nữ. Nam thì có SS50, S50 và nữ thì có Honda Dame C50... Còn nhớ chuyến hàng nhập cảng đầu tiên là do Tổng Cục Tiếp Tế, Bộ Kinh Tế của nội các Nguyễn Cao Kỳ ào ạt nhập xe gắn máy Honda về bán trả góp cho công chức và quân nhân vào năm 1968. Ðầu tiên thì gắn máy Honda cũng chưa làm cho giới tiêu thụ ở Saigon lưu ý. Ai cũng chê "xe gì mà làm bằng mủ". Chả là xe Honda có vè xe và bửng xe làm bằng mủ cứng cho xe được nhẹ hơn nên dù máy cũng chỉ 49cc mà tốc độ lên tới 70, 80 km/giờ. Chỉ sau ít tháng, xe gắn máy Honda đã trở thành món hàng được giới tiêu thụ săn đón mua đi bán lại với giá cả cứ tăng vùn vụt. Chả là người sử dụng đã thấy loại Honda tiện nghi hơn các loại gắn máy trước nhiều. Tiếng máy nổ thì rất êm vì máy được chế loại 4 thì với ống nhún trước và sau rất mềm và khỏe.


Thêm vào đó là loại còi điện chạy bằng bình ắc quy nhỏ nên kêu rất vang. Thêm nữa là hai cặp đèn hiệu (signal) trước và sau với hai kính chiếu hậu hai bên tay lái.


Khi vận hành lại có ba số ( loại C50) hay 4, 5 số thay đổi (loại SS50) mà xe C50 lại bán tự động (semi automatic) nữa nên rất dễ cho các bà các cô sử dụng. Ngồi trên chiếc Honda nhỏ bé nhưng người sử dụng lại dễ có cảm tưởng như đang sử dụng xe hơi.



Honda C50



Chỉ một năm sau các loại gắn máy của Nhật đã tràn ngập thành phố không chỉ có Honda mà còn Suzuki, Yamaha, Bridgeston, Kawasaki nữa.


Bây giờ thì phong trào chơi xe gắn máy trong tuổi trẻ Saigon không chỉ là tháo bỏ ống hãm thanh mà còn "xoáy xy lanh" cho lòng phân khối của xe lớn hơn để đua nhau trên xa lộ (lúc này chính phủ không cho nhập cảng loại xe gắn máy trên 50 phân khối vì chủ trương tiết kiệm). Từ đó mới có danh từ "anh hùng xa lộ" để chỉ những tay đua bặm trợn, liều lĩnh phóng xe xả hết tay ga luồn lách qua các hàng xe đang chạy, kể cả chui qua những chiếc xe "be" đang kéo những cây gỗ dài thượt. Nhiều anh hùng còn "biểu diễn" trên chiếc Honda của mình nữa như đứng thẳng trên yên xe đang chạy với tốc độ cao hay nằm dọc trên chiếc xe mà tay ga đã được căng hết mức và ghim chặt. Người Saigon mỗi khi thấy những anh hùng xa lộ này thường kinh hoàng tránh xa vì tai nạn thê thảm bất cứ lúc nào cũng có thể xẩy ra đưoc.




Suzuki



Yamaha



Kawasaki


Ðến ngày miền Nam bị Cộng Sản "giải phóng" thì xe Honda và xe gắn máy các loại của Nhật đã được dân miền Bắc vào "chiếu cố" tận tình cùng với các vật dụng khác mang về Bắc, vừa tịch thu vừa mua lại với giá rẻ mạt vì không còn xăng chạy "vô tư" như trước (miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng).


Thời thế đổi thay nhưng xe gắn máy Honda vẫn không thay đổi mà trái lại còn gia tăng thị hiếu người dân Việt nhất là người dân miền Bắc. Nhu cầu khao khát trước đây của người dân miền Bắc là ba "Ðê" tức Ðạp (xe đạp), Ðồng (đồng hồ) và Ðài (radio nhỏ bán dẫn transitor) thì nay là chiếc Honda từ miền Nam mang ra. Từ đây mở ra một phong trào "xe nghĩa địa" của Nhật do các chàng thủy thủ viễn dương mang về. Món hàng "xe nghĩa địa" được nhập vào nước bán chính thức để đáp ứng sự khao khát "đồ tư bản" đã vượt khỏi tầm tay "bóp hầu bóp cổ" dân chúng của nhà nước Cộng Sản vì gi= ới tiêu thụ loại xe gắn máy Nhật lại chính là lớp cán bộ bực trung mà nhà nước không thể nào cản nổi. Bao nhiêu của chìm của nổi của dân miền Bắc trong mấy chục năm dưới sự hà khắc, cấm cản của nhà nước thì nay được lớp cán bộ trung cấp đem ra để mua bán theo sự bùng nổ nhu cầu của người dân Việt ở cả hai miền Nam Bắc. Xe "nghĩa địa" của Nhật qua những chuyến đổi chác hàng hải sản đánh bắt được trên biển của các hợp tác xã ngư nghiệp đã tràn vào đất nước Việt Nam giải quyết cho phần lớn kỹ nghệ phế thải của Nhật. Ðến khi nhà nước Cộng Sản phải "hé cửa đổi mới" thì xe Honda Nhật đã là "chủ quản" phương tiện của người dân Việt đến độ Trung Cộng cũng gia nhập mà chế tạo ào ạt loại xe gắn máy giống như Honda nhưng phẩm chất thì kém rất xa để nhập vào Việt Nam.


Cho đến nay thì xe gắn máy Nhật đã là một nỗi lo không giải quyết nổi cho sự giao thông ở trong nước vì sự tiện ích của nó cho sự di chuyển làm ăn của người dân Việt không ai có thể chối cãi nổi.





Hình ảnh thân yêu lãng mạn qua xe gắn máy ở Saigon trước năm 1975.









Ðó là hình ảnh của tuổi trẻ.



Vào những năm cuối thập niên 50 sang đầu thập niên 60, hình ảnh những nữ sinh ngồi trên chiếc xe gắn máy Solex đen bóng có lẽ vẫn còn là những hình ảnh không thể nào quên được của một thế hệ thanh niên thời đó. Nó vừa là sự sang cả vì nữ sinh có xe solex đi thường thuộc con nhà khá giả. Nó cũng là sự duyên dáng phô trương kín đáo của người phụ nữ Việt Nam với chiếc áo dài mà vạt sau được gài trên yên xe không che kín được toàn vẹn. Nó còn là sự gợi cảm khi hai chân cô nữ sinh khép nép đặt trên bậc chính giữa thân xe. Ngoài giới nữ sinh trung học, hình như các giới nữ khác ít dùng đến loại xe gắn máy này. Có điều lạ là cùng xe gắn máy, nhưng nhìn một cô gái ngồi trên chiếc Mobylette thấy rõ sự khác biệt với cô gái ngồi trên chiếc Solex. Hình như có đôi nét thanh tao duyên dáng ở Solex mà ở Mobylette thì không. Do đó mà Saigon thời ấy nữ sinh ít đi xe Mobylette chăng.




VeloSolex







Cũng có lẽ xã hội Việt Nam lúc ấy còn chưa chấp nhận những mạnh bạo, ngổ ngáo nơi nữ giới cho nên người con gái vẫn còn được nhìn với sự dịu dàng, duyên dáng, e thẹn. Mà những tính chất này thì loại xe gắn máy, trừ Solex, lại không tạo ra được cho người sử dụng.


Nhưng ở một thế ngồi khác trên chiếc Vespa thì người phụ nữ Việt Nam đã là một hình ảnh tuyệt vời cho đường phố Saigon . Hãy nhớ lại đi những dáng ngồi ấy. Chiếc Vespa có hai yên xe, một cho người lái và một cho người ngồi sau. Hai yên xe đó rất sát nhau nên người ngồi sau gần như kề vào người ngồi trước một cách tự nhiên không cần phải giấu giếm. Cái thế ngồi của các cô gái Saigon trên chiếc Vespa hầu hết là hai chân để một bên. Không có một trường hợp nào ngồi hai chân hai bên như sau này. Chính cái thế ngồi hai chân một bên ấy đã đẩy thân hình cô gái nép sát người lái. Còn gì thân yêu, trìu mến cho bằng khi đôi trai gái trên xe là một cặp tình nhân. Cặp tình nhân ấy có thể là mới quen nhau nên cô gái còn e dè ngượng ngập. Vì thế nên dáng ngồi có cách xa người nam đôi chút. Nhưng để cho được vững thì bàn tay mặt của cô gái đã tì lên phía sau yên người lái để cho cánh tay được thẳng mà chống đỡ cho cả thân hình. Hai chân cô thường vắt chéo lên nhau tạo cho cô cái dáng khép nép duyên dáng đáng yêu biết mấy trong những vạt áo dài nhấp nhô theo gió.












Nếu mà đã thân nhau rồi thì cô gái có thể tựa hẳn vào người lái, tì hẳn cái cằm của cô lên vai trái của người lái để mà thì thầm trò chuyện với nhau trên những con đường cây dài bóng mát. Ở những đôi tình nhân này thì bàn tay và cánh tay phải của cô lại tì trên đùi phải của người yêu, để mỗi khi bất như ý cô lại véo lên đùi người yêu mà trừng phạt...


Những chiếc Vespa hay cả Lambretta như thế, từng cặp từng cặp rong ruổi trên các con đường lớn nhỏ của Saigon vào những chiều Thứ Bẩy sau bẩy ngày đợi mong, đã vẽ nên một Saigon đáng yêu quá thể. Khi ấy thì dân số Saigon mới chỉ ngoài ba triệu và số xe gắn máy, Vespa cũng mới chỉ trên 700 ngàn chiếc nên đường phố còn thênh thang. Họ có thể chạy vòng vòng hết Bô Na (Lê Lợi) ra Catinat (Tự Do) quành ra bờ sông mà ghé vào Point des Blagueurs (nhà hàng Cột cờ Thủ Ngữ) để "uống ly chanh đường cho thấy môi em ngọt" hay ghé quán kem Hà Nội, Mai Hương để nhìn trai gái tấp nập đi lên đi xuống dọc theo con phố Bô Na. Lúc ấy tuổi trẻ có danh từ gọi là "đi bát phố Bô Na".


Hay thong dong hơn thì "cưỡi ếch bà" hai đứa chạy ra xa lộ Saigon Biên Hòa để qua cầu bến Tân Cảng rồi quẹo vào những con đường đất của khu Cát Lái mà trông trăng hưởng gió đồng quê. Bảo đảm là chưa thể nào tìm ra được quán cà phê có võng nằm hay ghế dựa như sau ngày "giải phóng" để cả hai đứa còn giữ được băng trinh cho mối tình lung linh mầu ly loạn.


Saigon như thế, đã qua để chúng ta có một thời để nhớ.


Hạ Vi
#55 Posted : Sunday, April 24, 2011 10:32:07 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)



Tiễn em nơi phi trường


Paulo
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=2GOwhYadba

Nhạc Sĩ : Ngoại Quốc ~ lời: Phạm Duy

(Adieu Jolie Candy)

Từ nay cách xa nghìn trùng
Người em bé bỏng
Anh tiễn em ra mãi tới nơi phi trường.

Tầu bay cánh vươn mịt mùng
Đường bay não nùng
Hỡi em, vào khung trời mênh mông !

Ôi cơn gió buồn !
Phi cơ sẽ đưa em đi muôn trùng.
Chờ em viết thư tình về
Anh đã ước thề
Nhưng biết đâu em sẽ nhớ tới bạn hè ?

Còn anh khó quên mùa hè
Gặp em, tóc thề
Anh đã yêu người em tuổi say mê.
Ôi đã hết rồi !
Phi cơ đã đưa em đi xa vời.
Từ nay cách xa nghìn trùng !
. . . . . .
Từ nay cách xa nghìn trùng !
Tình yêu sẽ mờ, ôi sẽ phai,
Trong bóng tối trên đường dài.

Từ nay nhớ nhung còn dài.
Còn vương xuống đời
Như bóng mây còn bay mãi trong khung trời.

CODA
Adieu ! Xa em !
Adieu ! Xa em !






thunder
#56 Posted : Sunday, April 24, 2011 2:06:46 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)



Chỉ Có Em

Sáng tác : Lam Phương
Trình bày : Duy Quang

http://www.youtube.com/w...YSM&feature=related

Chieu thu mua bay bay
Duong khuya vang khong nguoi
Diu em trong con me dai tam toi
Lam sao cho anh di vao nang am ban mai
De giac mo dep mai trong tuong lai

Ban tay anh xanh xao vi con loc ban ngay
Bo moi yeu nhu khong con hoi am
Lam sao cho anh di vao tho au xa xua
Chi co em long vui sau con mua

Ngay anh gap doi mat long lanh
Lan dau anh lac vao ho me say
Duong nhu ta quen nhau tu muon kiep
Vua gap lai ta da so tinh cao bay

Tu khi anh yeu em la anh biet doi cho
Cho cho mau qua dem dai tam toi
Minh yeu nhau di thoi dung lo phut chia tay
Chi co em nghin sao nhu dem nay.

Hạ Vi
#57 Posted : Monday, April 25, 2011 12:25:48 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)




Như Thủy
http://music.hatnang.com/node/2635


Một Đời Yêu Anh

Tác giả: Trần Thiện Thanh


Em sẽ yêu anh trọn một đời !
Yêu như ngày đầu đôi ta chung lối
Gom mây chiều em may áo mới
Tô nắng hồng thay phấn thay son
Ngắm sao trời em nhớ anh thôi


Em hứa yêu anh trọn một đời
Dẫu cách xa nghìn đêm sương giăng trắng
Như chim trời anh đi xa vắng
Em muốn thành sao sáng yêu đương
Xuyen lá rừng khép nép vai anh


Em sẽ yêu anh suốt một đời
em hứa yêu anh suốt cả đời
xa xôi đêm nào xuôi quân dừng chân
khi trăng rơi bên lều
anh chợt thấy nhớ em không ?







xin chỉ em mỗi một điều
Yêu anh như trời xanh yêu mây trắng
Nên cho dù đôi khi bối rối
Xin chớ nhạt câu hứa lên môi
Anh nhé, mình thương mãi nhau thôi !


Em chết trong anh suốt một đời
Nên ngất ngư câu hát nửa vời
Anh ơi đêm rồi không gian lặng câm
Em say trên dương cầm
Mơ hồ tiếng hát Trương Chi


Anh hởi khi em giận chuyện gì !
Nhân gian xa vời sao băng tăm tối
Sông ân tình sao đi chưa tới
Em trách mình em trách em thôi
Cay đắng nào lên cháy trên môi


Anh biết không anh chỉ một lời
Anh biết không anh chỉ một lời
Anh giết em khi mới ... nửa đời...






thunder
#58 Posted : Monday, April 25, 2011 2:17:52 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Nhớ về trường Trưng Vương năm xưa





Trường nữ trung học Trưng Vương Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ban giám đốc gồm có: bà hiệu trưởng Tăng Xuân An, bà Nguyễn Thị Phú – giám học và bà Nguyệt Minh – tổng giám thị, cùng một số giáo sư và học sinh trường Trưng Vương. Năm học đầu tiên trường tạm trú (học nhờ) trường nữ trung học Gia Long. Trường Gia Long học buổi sáng, trường Trưng Vương học buổi chiều. Lớp tôi học trên lầu hai, dãy nhà đối diện với chùa Xá Lợi. Mỗi khi vào lớp, tôi mở hộc bàn tìm bức thư giao lưu của người bạn học buổi sáng. Ðại khái thư hỏi thăm người bạn ngồi cùng bàn học trái buổi tên tuổi? Sở thích? Chuyện học hành. Thỉnh thoảng vào giờ chơi các bạn đến xem mặt cô bạn “Bắc Kỳ nho nhỏ”. Các bạn nữ sinh Gia Long rất chân chất hay mặc áo bà ba trắng, quần rộng, đi guốc mộc. Chúng tôi kết bạn với nhau.

Năm 1957, trường Trưng Vương dời về số 3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên trước đó là bệnh viện của người Pháp. Trường tọa lạc khu yên tĩnh, vắng vẻ. Ðối diện với cổng trường là Sở Thú, cây cối um tùm. Phía bên trái giáp Nha Khảo Thí, cách sân Nha Khảo Thí là trường nam sinh Võ Trường Toản. Ranh giới bằng hàng rào, nên hai trường nhìn sang nhau rất rõ. Bên phải giáp tu viện Nữ Phao Lô. Có thể nói đó là khu lý tưởng cho ngôi trường. Nhưng mà: “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Bên ngoài dáng vẻ nhu mì, dịu dàng các cô nữ sinh Hà Thành, bên trong sôi động nghịch ngợm.

Vào những buổi chiều mưa, trời âm u lạnh lẽo. Nữ sinh yếu bóng vía sợ ma lắm. Ðã nhát còn hay tò mò. Những khi có giờ trống hay tranh thủ giờ ra chơi, rủ nhau xuống nhà để xe chơi cầu cơ, gọi hồn. Ðặt ngón tay trỏ trên miếng gỗ hình trái tim, miếng gỗ chạy lên chạy xuống đầu cơ dừng ở bảng chữ cái ghép các chữ thành câu. Họ hỏi hồn cơ đủ chuyện, hỏi về người nào đó, cho biết đề thi, tên bài thi.v.v… Nhưng luôn luôn bị trệch tủ không trúng. Thỉnh thoảng, cô Tổng Giám Thị đi kiểm tra các lớp, xem học sinh có đeo phù hiệu, có ở lại lớp giờ chơi không? Cô đi thong thả, nét mặt nghiêm nghị. Cô đi đến đâu, các nữ sinh chạy rần rần như ma đuổi. Có người đi chân đất mà chạy.

Ðến giờ học môn Quốc Văn, giờ hấp dẫn nhất đối với học sinh thích văn chương. Năm đệ tứ, (lớp 9) cô Tuyết Lan giảng truyện Kiều thật tuyệt vời. Giọng cô nhẹ nhàng, phong cách khoan thai, gương mặt đẹp dịu dàng, cô minh họa chân dung Thúy Kiều qua nghệ thuật tả người của thi hào Nguyễn Du:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc, lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”.

Cô còn liên hệ những người đẹp “khuynh quốc, khuynh thành” trong lịch sử Trung Quốc. Chúng tôi cứ say sưa thả hồn vào thế giới xa xưa. Năm đệ tam (lớp 10) chúng tôi học Văn cô Nại phụ trách, cô Nại có nét đẹp buồn diệu vợi, cô lại giảng “Cung Oán Ngâm Khúc” sao mà buồn thế, xót xa thế:

“Trải vách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà sao phận bạc nằm trong má đào”.

Còn nhiều kỷ niệm về các thầy cô dạy ở Trưng Vương đã là dấu ấn trong tâm trí thời cắp sách không phai mờ.

Giờ tan học nhiều cây si đứng dọc hai bên đường, xe đạp có, vespa có, thỉnh thoảng có xe jeep hoặc xe hơi – ngoại trừ xe của phụ huynh đi đón con em. Có chàng đứng ngắm các nữ sinh ôm cặp sách, nón lá nghiêng che, tà áo lượn bay theo gió:

“Em tan trường về, trời mưa nho nhỏ
Em tan trường về, ôm nghiêng tập vở”
… Em tan trường về, anh theo Ngọ về”
(Ngày xưa Hoàng Thị – Phạm Duy)

Có chàng lặng lẽ theo nàng về để rồi tâm hồn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ.
Vào dịp lễ kỷ niệm hai bà Trưng, trường Trưng Vương rộn rã “ngày hội Trưng Vương”, thành phần nòng cốt trong buổi lễ cử hành ở khuôn viên trước Tòa Ðô Chính Sài Gòn. Hai nữ sinh được chọn tái hiện hình ảnh hai vị nữ anh hùng oai phong cưỡi voi xung trận. Một số nữ sinh vai nữ binh đứng dọc hai hàng, vai khoác gươm đao. Các nữ sinh đệ tam đồng ca bài truyền thống “Trưng Nữ Vương” vang cả khung trời, lời ca hào hùng.

“Trưng Nữ Vương lau phấn son mưu thù nhà
Mài gươm vang khúc toàn thắng hùng ca
Thu về giang san cho lừng uy gái Nam
Bầu trời Á sáng ngời ánh quang.”

Buổi chiều ngày lễ có đồng diễn thể dục. Các nữ sinh đệ ngũ biểu diễn đồng phục quần soọc xanh đậm, áo sơ mi trắng, chạy theo đội hình chữ TV cùng một số bộ môn thể thao khác tại sân vận động Hoa Lư hoặc sân Phan Ðình Phùng.

Thế rồi, thời cuộc thay đổi, tất cả đổi thay. Cộng sản tràn vào miền Nam chiếm Sài Gòn. Trường Trưng Vương lần nữa lại ra đi. Ban giám đốc, các giáo sư, học sinh di tản ra hải ngoại. Một số kẹt ở lại. Dấu tích “trường nữ trung học Trưng Vương” không còn nữa. Cổng trường đã bị phá, xây lại thay vào bảng hiệu “Trường Phổ Thông Trưng Vương” trường cấp III học chung cả nam nữ.
Ôi trường nữ trung học Trưng Vương vang bóng một thời.

Dạ Hoài

Hungholland
#59 Posted : Monday, April 25, 2011 3:40:02 PM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481
Points: 4,652

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)

Thơ tình cuối mùa thu


Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má

Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây
Đã bao mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ.

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.


Xuân Quỳnh
Hạ Vi
#60 Posted : Tuesday, April 26, 2011 6:14:58 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,328
Points: 16,870
Location: CỏThơm

Thanks: 4118 times
Was thanked: 9957 time(s) in 2465 post(s)
Halo @ hungholland,

woa, rất ngạc nhiên khi đọc thấy hungholland bước qua trang The Beauty forum, và xì top ở topic Sài Gòn của Hạ Vi, post bài thơ và có hình mùa Thu nữa~~~~. Đẹp lắm.

Merci nghen và chờ đón thêm những bài, post khác của Hưng trong The Beauty forum ..


Hungholland
#61 Posted : Tuesday, April 26, 2011 8:47:52 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481
Points: 4,652

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Originally Posted by: Ha Vi Go to Quoted Post
Halo @ hungholland,

woa, rất ngạc nhiên khi đọc thấy hungholland bước qua trang The Beauty forum, và xì top ở topic Sài Gòn của Hạ Vi, post bài thơ và có hình mùa Thu nữa~~~~. Đẹp lắm.

Merci nghen và chờ đón thêm những bài, post khác của Hưng trong The Beauty forum ..


NO HAVE LIMBS,NO HAVE LIMBS(Do you understand what it means? LOL LOL). Và cám ơn Hại Vi đã có lời khen. Vi tuần trước bận rôn với trò chơi Trivia vui quá nên lúc đó không có pót bài lên được. Thỉnh thoảng có đọc bài của Vi. Nhiều khi cũng "ngứa nghề" lắm Laugh. Đừng nghĩ là Hưng thích CƯỜI ĐÙA thôi đâu. Mà Hưng cũng là người YÊU NGHỆ THUẬT,YÊU CÁI ĐẸP và lúc nào cũng hướng đến cái CHÂN - THIỆN - MỸ hết đó. Hưng sẽ cố gắng tham gia thường xuyên. Dể forum của TT Asia chúng ta càng ngày càng NHỘN NHỊP,VUI VẺ và ĐẦY MÀU SẮC. Boo hoo! Dancing Boo hoo!

À,tuần trước có đọc được bài của Hạ Vi post lên có nội dung nói về CẦN THƠ. Hưng rất thích thú. Vì Hưng dược sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất thân thương đó. Nhưng bài viết đó vẫn còn thiếu nhiều về Cần Thơ lắm. Hưng sẽ cố gắng tìm tòi và post nhiều bài nói về Cần Thơ nói riêng và Miền Tây nói chung.

Hẹn gặp lại và chúc 1 buổi tối vui vẻ,

HưngHolland

P/s: Hôm qua Hưng có gửi email (via forum) cho Hạ Vi. Nhưng không biết Hạ Vi có nhận được không?? Có gì thì cho Hưng biết nhé. Thanks,
Hungholland
#63 Posted : Tuesday, April 26, 2011 9:50:49 AM(UTC)
Hungholland

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,481
Points: 4,652

Thanks: 286 times
Was thanked: 561 time(s) in 322 post(s)
Thân chào các bạn,

Để tưởng niệm những ngày tháng Tư đen tối. Hưng xin mượn nơi này làm nơi chia sẽ những nỗi đau buồn và cũng xin 1 phút mặc niệm cho những người đã đánh đổi tính mạng của mình cho 2 chữ TỰ DO 36 năm trước.

THÁNG TƯ ƠI !

Con tôi đâu?
Em tôi đâu?
Người tình tôi đâu?
Tiếng hét vang
Giữa giông tố bảo bùng
Tìm người thân
Trong một chiều biển động

Thuyền chìm dần
Theo sóng to gió lộng
Mất hay còn
Ôi sâu thẵm đại dương
Quê hương người vượt biển
Là chiếc thuyền con
Đang chìm xuống dưới dòng
Không bến bờ
Giữa mù khơi nghiệt ngã

Một lần ra khơi
Một lần vượt biển
Để suốt đời
Không thể nào quên
Từ tháng tư ấy
Bao con Mẹ Việt Nam
Chết âm thầm
Không tên không mộ

Còn những gì
Trong một lần bỏ xứ
Tìm tự do
Trên biển cả bao la
Còn trái tim
Đang âm thầm lo sợ
Cướp biển đông
Và nước mắt nguyện cầu

Không quê hương
Là những người tị nạn
Vượt biển khơi
Không thấy được đất liền
ôi ngậm ngùi
ôi thê thãm tả tơi
Người chết đuối
Mẹ mất con vì thiếu nước

Đói đọa đày
Nghe đời như khô héo
Hình hài sưng bầm máu đổ
Vì hải tặc dã man
Sự sống
Như sợi chỉ mành
Ngụp lặn theo dòng
Uống cuồng phong biển mặn

Lại tưởng nhớ
Từng tháng tư về bất chợt
Một lần đi
Mang vết tích thương đau
Mẹ Việt Nam ơi !
Sao để con mẹ lầm than
Làm mồi cho cướp
Cho biển sâu sóng dữ

Ai chiến thắng
Ai lên ngôi thống trị
Tội em tôi
Bị cưỡng hiếp trên thuyền
Để nước mắt
Để tâm hồn uất nghẹn
ôm hận đời
Trong trắng tuổi ngây thơ

Tháng tư ơi
Đừng nhắc tim dấu tích
Vết thương tim
Rỉ máu chưa tàn phai
Hận cướp biển
Và hận đời vượt sóng
Chấp tay hồn nguyện cầu
Người dưới biển và tim tôi
Hãy ngủ bình yên


Ngô Thiên Tú
Users browsing this topic
Guest (7)
105 Pages<12345>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.