Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages<1234>»
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
phamlang
#22 Posted : Friday, April 1, 2011 1:39:48 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

WARNING/NOTICE: ALL PHOTOS IN THIS PAGE ARE REMOVED DUE TO IMAGES COPYRIGHT

9/7/2016
ADMIN FORUM






Mến tặng topic SÀI GÒN một bài viết của một người bạn - cùng trang lứa với tôi.
Chúc Hạ Vi, Thunder, Coffee bean, Ngoc N Hao cùng các bạn được luôn vui, post nhiều bài có giá trị, và hình ảnh đẹp trong forum.

Chú Phạm Văn Lang


Sài Gòn, những ngày cuối tháng tư 1975

Nguyễn Mạnh Trinh


Tháng tư năm 1975 có lẽ là một thời điểm không thể nào quên của dân tộc chúng ta. Ở ngày tàn của cuộc chiến , là của chia ly và mất mát. Bao nhiêu người đã nằm xuống sau một cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm.Tưởng đã hòa bình, đã hết những bi thảm nào ngờ bắt đầu từ lúc ấy lại kế tiếp hết những bi thương này qua những bi thảm khác…

Với ngày lịch sử ấy , từ nhạc đến thơ , từ tiểu thuyết đến hồi ký, đã có biết bao nhiêu tác phẩm ghi nhận lại những bi thảm nhưng hào hùng, những mất mát đau xót không thể nào quên được trong tâm khảm những người Việt Nam. Hôm nay, trong cái hồi tưởng để nhớ về những ngày đã qua ấy, chúng tôi nhắc lại những tác phẩm đánh dấu một thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam , phản ánh tâm tư thời đại và những nỗi niềm của những người bị quay cuồng trong con lốc thời thế..

Là một người lớn lên và trưởng thành trong xã hôi miền Nam thì thế hệ chúng tôi có nhiều cái chung lắm. Cùng đi học, cùng đi lính, cùng vào tù, cùng vượt biển hay đi định cư theo diện HO, cùng lưu lạc ở hải ngoại và cùng chung những nỗi niềm, những tâm sự về ngày đổi đời bi đát của đất nước này. Với những cái chung của nhiều người ấy đã thành một phận đời dù có những nét tư riêng nhưng cũng phản ánh phần nào được xã hôi mà chúng tôi đã sống, đã buồn, đã vui, đã hy vọng và thất vọng theo mệnh nước nổi trôi…

Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều về đề tài này. Đã là nghệ sĩ, thì làm sao tránh được cái nhạy cảm với thời thế, huống chi biến cố ấy đã ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống. Viết văn, làm thơ, đặt nhạc về những ngày tháng ấy là một xu hướng biểu lộ chân thực nhất mà cảm xúc cũng như kỷ niệm riêng của mỗi người đã ảnh hưởng làm cho văn chương sinh động hơn và có hơi thở của cuộc sống thực hơn. Tôi thấy mình cũng có những xu hướng ấy và hơn nữa nó là một động lực để tôi đến với nghiệp cầm bút.

Trước 1975, tôi chỉ là một người lính yêu sách vở và đam mê văn chương. Sau năm 1975, khi trải qua nhiều cảnh huống và tâm tình không thể nào quên của cuộc đời mình, tôi chập chững đi vào công việc cầm bút cho đến ngày hôm nay. Có thể đó là một sự tình cờ , nhưng có khi trong thâm tâm tôi đó là một sự trả nợ cho những người mà mình phải mang ơn họ trong cuộc sống. Có thể họ là bạn cùng trang lứa cùng đồng ngũ với tôi , hay những người đã mất trong một cuộc chiến. Vì thế , nếu nói một cách bóng bẩy văn hoa thì viết là một cách thế sống để sòng phẳng với mình và với cuộc đời..

Thật ra có rất nhiều tác phẩm văn chương và âm nhạc viết về ngày cuối tháng tư đau đớn của lịch sử Việt Nam. Đáng kể như tập hồi ký “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy viết về những ngày tan hàng ở Quảng Trị và Huế , như tác phẩm “ Ngày N+” của Hoàng Khởi Phong viết về cuộc di tản từ Pleiku đến Tuy Hòa , hay như những ký sự của ký giả Nguyễn Tú, của nhà văn Nguyên Vũ hay những đoản thiên của nhà văn Hải Quân Phan Lạc Tiếp, của nhà văn Không Quân Đào Vũ Anh Hùng, viết về những cuộc di tản bằng chiến hạm hoặc phi cơ ra biển Đông…

Về thi ca, thì cũng có rất nhiều thi sĩ và nhiều bài thơ viết về những ngày tháng tư buồn thảm như thơ Cao Tần, Thanh Nam, Tô Thùy Yên... Những bài thơ rất ngậm ngùi đầy tiếc nuối của những người đã trắng tay trong một cuộc đổi dời của lịch sử.

Nhưng với tôi, thì gây cảm xúc nhất lại là những bản nhạc .Những bản nhạc nhắc lại Sài Gòn, nói đến những cuộc chia ly, tả về những tiếc thương cho một thành phố bị xóa tên và nằm trong tay quân thù, Như bản nhạc “ Sài Gòn niềm nhớ không tên” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Bản nhạc ấy đã gây thật nhiều cảm xúc cho tôi vì tôi nghe bản nhạc ấy lần đầu tiên ở trại tù Long Khánh do một người bạn đồng tù hát. Nhạc đệm chỉ là một cây đàn guitare tự chế bằng tôn nhôm và gỗ săn nhặt được và giây đàn được làm bằng những sơi dây điện thoại tước ra từng sợi nhỏ tạo thành. Cũng như ca sĩ là người chung cảnh ngộ hát bằng cả tấm lòng và giọng hát thầm thì như của một người đang làm một công việc mạo hiểm, hát để cho vơi tâm sự mặc kệ mọi sự cấm đoán đe dọa của hệ thống quản giáo cai tù đầy dẫy ăng ten báo cáo. Tôi cũng chẳng hiểu làm sao mà những bản nhạc như thế lại được hát và phổ biến ở trong tù như vậy. Chúng tôi xung quanh ngồi nghe như uống từng nốt nhạc, như chắt từng câu ca. Sài Gòn xa rồi, bây giờ ở ngoài vòng rào kẽm gai mịt mùng. Sài Gòn, vẫn còn gần gũi những ngày mà thành phố thảng thốt lọt vào tay giặc thù, những anh hồn liệt sĩ còn phảng phất đâu đây từ những ngày bi thảm mà chúng tôi bị buông súng một cách tức tưởi…

Lời nhạc lôi kéo chúng tôi; ngôn ngữ hiền từ tha thiết không kêu gọi máu lửa nhưng sao lại lôi cuốn chúng tôi dường ấy: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên- như dòng sông nước quẩn quanh buồn-như người đi cách mặt xa lòng- ta hỏi thầm em có nhớ không… Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao-trong niềm vui tiếng hỏi câu chào- sáng đời tươi thắm vạn sắc màu- còn gì đâu..”

Lúc ấy, chúng tôi chưa biết bản nhạc ấy là của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Tên nhạc sĩ tác giả là cả một huyền thoại đối với chúng tôi lúc đó. Có người bảo đó là của nhạc sĩ P. hát bản nhạc ấy ở hải ngoại rồi cảm xúc đến nỗi bị ngất xỉu ngay trên sân khấu. Có người bảo đó là một bản nhạc của một nhạc sĩ đang bị giam ở khám Chí Hòa truyền ra ngoaiø và phổ biến. Đến mãi về sau , khi đã qua Mỹ định cư tôi mới biết tác gỉa là người chủ trương Chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn và là thi sĩ, văn sĩ nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam…

Chương trình Nhạc Chủ Đề do nhà văn Nguyễn Đình Toàn thực hiện trên đài phát thanh Sài Gòn vào buổi tối ngày thứ năm hàng tuần với mục đích giới thiệu với thính giả những bản nhạc được lựa chọn và được viết với lời giới thiệu và giọng đọc rất đặc biệt của người chủ trương. Theo như ý kiến của nhiều người, những lời giới thiệu nhạc hay nhất trong lịch sử âm nhạc có lẽ là bài viết và giọng đọc của nhà văn Mai Thảo và Nguyễn Đình Toàn. Những bài viết ấy đã mở ra những khung trời lãng mạn mà người nghe có cảm giác như đã quên đi hiện tại để bồng bềnh trong mênh mang của chữ nghĩa và âm nhạc…

Chương trình Nhạc chủ đề ấy có những lời mở đầu như những cánh ta mở khung cửa mơ mộng , để ở đó tình yêu trở nên mơ màng hơn , có chuốt lọc nhưng lạ có những cảm giác nhẹ nhàng như tơ làm mềm lòng những tuổi thanh xuân đang hăm hở vào đời với sự tinh khôi trong sáng của những bình minh hứa hẹn những giọt nắng thủy tinh ngời tin yêu nồng biếc.
Ai đã nghe qua những lời mở thế này mà không rung động ?Nhất là những chàng tuổi trẻ ngày xưa nay đã thành những ông già lão nhìn lại quá khứ ngày nào đã rất xa , thật xa mà sao lại còn rưng rưng nỗi niềm chia sẻ:

“Tình ca- những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người- bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương , một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau.. Tất cả mùa màng , thời tiết, ho alá , cỏ cây, của cái vùng đất thần tiên đó , kết hợp lại, làm nên hạnh phúc,làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”

Hay như một lời ngỏ khác, thầm thì, kêu gọi những bước trở về, đi ngược lại vòng quay vô tình của thời gian:
“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ,tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố…Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ…Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hia thành phố…”

Tôi thời còn là sinh viên đã rất mê chương trình này. Có thể nói , đó là một phần khá đẹp của cuộc sống tôi. Bây giờ , nghe lại CD của Nhạc Chủ Đề cũ, tôi lại bồi hồi và một phần đời đã qua như hồi sinh lại.

Sau này, ở xứ Mỹ này, tôi có hỏi ông về trường hợp sáng tác bản nhạc này như thế nào thì ông chỉ nói qua với sự rất hờ hững coi như đó chỉ là một trong những gần trăm bản nhạc ông đã sáng tác. Và ngay cả khi tôi hỏi về cách ông thực hiện hàng trăm chương trình nhạc làm say mê cả một thế hệ trẻ trong thời kỳ ấy hoặc hỏi về mấy trăm bài thơ và mấy chục tác phẩm vừa tiểu thuyết vừa tùy bút nổi danh một thời thì cũng với vẻ hờ hững ấy , ông cũng trả lời với vẻ thản nhiên của một người đã trải qua nhiều thay đổi và hiểu được rằng có những điều không cần biện giải của cái tự nhiên đã có.

Cũng như, khi tôi hỏi về những khó khăn của cuộc sống hiện nay, ông cũng trả lời chẳng có gì cưc nhọc dù rằng tôi hiểu được đó là một sự thản nhiên chấp nhận của một người đã trải qua nhiều mệt mỏi của cuộc đời.

Đó là những ca khúc mà ông gọi là viết trong những thời gian tăm tối nhất của lịch sử và của chính cuộc sống ông .Nhưng đó lại là những lời kêu gọi yêu thương mong con người trở về với tình tự dân tộc. Có những bài hát trong tuyển tập nhạc “Hiên cúc vàng”, “ Tôi muốn nói với em “ và Mưa trên cây hoàng lan” đã chứng tỏ điều ấy. Chất nhân bản đã làm thành những ca từ đẹp và có sức thuyết phục mạnh với thính giả và cũng chuyên chở một cách thâm trầm những thông điệp gửi cho người cho đời những ước vọng và tâm sự.

Những lòi nhạc như “Tôi đã bám lấy đất nước tôi.bằng sức người vô hạn. Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom.Tim mang nghìn dấu đạn.Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi.Để mong ở lại đây.Nhưng đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá. Người bám vào lửa đã đốt cháy tay. Lửa hờn căm, lửa hiểm thâm, lửa khốn cùng cay đắng. Người lừa nhau trời đất còn bưng mặt thảm thương. Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ?người giết người không kịp mở mắt trông.Ba mươi năm mạng người như rác cỏ.giây hòa bình còn thắt cổ người tin…” trong bản nhạc ”Tôi cố bám lấy đất nước tôi” có phải là những lời chân thành dù trong cơn tuyệt vọng nhưng vẫn còn cố gắng bám víu vào cuộc sống một ý nghĩ nào tích cực nhất.?
Những lời ca viết cho thành phố Sài Gòn trong thời thế ấy bỗng dưng trở thành những lời kêu gọi của một dân tộc đã chịu quá nhiều đau khổ. Hết rồi những cơn mưa chiều cũ, mất rồi những buổi sáng rực rỡ xưa. Lời ca, ý nhạc lôi kéo chúng ta trở về con hẻm nào của những hẹn hò , của nụ hôn môi tuyệt vời , của hương tóc thề e ấp phả trong tà áo lụa xôn xao. Cái cảm giác ngày nào như sống lại, làm gai gai trong da thịt nỗi ngây ngất thuở nào. Nghe đâu đây như bước chân nào trở về đồng vọng….

Bản nhạc ấy là “ Sài Gòn ơi vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc. Lại cũng là tiếng gọi bi thiết nhưng tràn đầy thương yêu về thành phố mà có người nói rằng đó là chỗ để người ta yêu nhau. Nhạc Nam Lộc gợi cho tôi những nỗi niềm của một người mong nhớ với tâm trạng dằn vặt. Những lời ca thất thanh của một người mất quê hương:

“Sài Gòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời. Sài Gòn ơi thôi đã hết thời gian tuyệt vời. Giờ còn đây những kỷ niệm sống trong tôi. Những nụ cười ngắt trên môi. Những giọt lệ ôi sầu đắng.Sài Gòn ơi nắng có còn vương trên đường.đường ngày xưa mưa có ướt ngập lối đường về. Rồi mùa thu lá còn đổ xuống công viên. Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng. Hay đã khóc thương cho người yêu…” Hình như, tôi thấy tôi đã kêu thất thanh như thế trong cuộc đời tôi..

Không phải tôi nói văn hoa đâu mà tôi đã nhiều lần kêu “ thất thanh “như thế! Như một lần trong ngày 30 tháng tư năm 1975 khi tôi từ Cần Thơ trở về lại nhà ở Sài Gòn!


Trước ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi chỉ đi học và đi lính, nhưng sau ngày ấy thì tôi đi tù vì không di tản được. Mặc dù tôi ở trong Không quân và ngày ấy đang làm việc ở phi trường Tân Sơn Nhứt.

Đơn vị của tôi là Đoàn phi đạo F5 thuộc Sư Đoàn 3 Không quân ở phi trường Biên Hòa sau ngày 20 tháng tư năm 1975 thì một phần lớn phi cơ di chuyển về phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày 30 tháng 3 đáng lẽ tôi phải biệt phái ra Đà nẵng để làm biệt đội trưởng kỹ thuật để bàn giao phi đạo cho Sư Đoàn I Không Quân nhưng Đà Nẵng đã thất thủ. Trước ngày đó chúng tôi đã chở từ Biên hòa ra Đà nẵng rất nhiều quân dụng và cơ phận thay thế của phi cơ trị giá cả chục triêu đô la và lúc đó kể như thiệt hại hết. Một số nhân viên biệt phái thoát về kể lại cảnh tượng ở Đà nẵng khiến người nghe phải rùng mình. Chiếc Boeing 727 thuê bao của Trung Hoa Quốc Gia cất cánh mà cửa chân đáp không đóng được vì một số hành khách đã ôm vào chân đáp nên phi cơ phải bay từ từ về Sài Gòn trong khi những người bám vào chân đáp bị rụng rớt vì không chịu nổi áp lực của không khí chỉ còn vài người buộc mình vào phi cơ mới không rớt dù khi máy bay đáp xuống đã bất tỉnh. Ở trên phi đạo Đà Nẵng là cả một rừng người và tình trạng lụn xộn khiến tất cả các phi cơ vận tải không thể đáp xuống để bốc người không vận về Sài Gòn. Chính ở Sư Đoàn 3 KQ cũng dự trù dùng phi cơ AD5 để bốc các chuyên viên kỹ thuật biệt phái về nhưng không thực hiện được…

Rồi sau đó các căn cứ Pleiku, Phù Cát, Nha Trang, di tản rồi căn cứ Phan Rang thất thủ.

Ỏ Tân Sơn Nhứt những ngày cuối tháng tư tình trạng khá hỗn loạn vì các sư đoàn KQ di tản về. Từ bãi đậu phi cơ vãng lai vào đến phi đạo bên trong phi cơ đậu thành hàng đông nghẹt. Trực thăng, A37, phi cơ quan sát xếp ken vào nhau thành ra vấn đề an toàn khá phức tạp. Ở khu huấn luyện sư đoàn đầy nghẹt những quân nhân về trình diện từ các đơn vị đã bị tan hàng.mọi người đều linh cảm rằng một cơn địa chấn dữ dằn sẽ tới

Gia đình tôi thì đã ra đi nên tôi làm việc và ở luôn trong phi trường. Hàng đêm, chúng tôi lái xe ra bãi đậu phi cơ xem những chuyến bay chở người di tản.Nếu quyết định ra đi lúc đó thì khá dễ dàng, chỉ cần thay quân phục và mặc đồ dân sự là có thể leo lên phi cơ một cách dễ dàng. Nhưng tôi vẫn nghĩ không thể nào thua trận mau chóng như vậy được và nghĩ rằng đi lúc đó là quá sớm. Đến đêm 27 tháng tư, căn cứ Biên Hòa di tản về Tân Sơn Nhứt. Và lúc đó quả thực tôi bị chấn động và hiểu rằng ngày cuối đã tới. Suốt đêm phi cơ bay đầy trời và chúng tôi đã phụ giúp để trang bị rocket và đạn cho phi cơ trực thăng gunship bay yểm trợ trên các mặt trận ven thành phố.

Chiều ngày 28 , lúc Tổng Thống trần Văn Hương bàn giao cho tướng Dương Văn Minh ở Dinh Độc Lập thì năm phi cơ A37 oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhứt do tên phản tặc Nguyễn Thành Trung dẫn về khi các phi tuần nghênh cản phòng không F5E chấm dứt túc trực. Lúc ấy, tôi đang tập họp biệt đội trong hangar thì xảy ra biến cố ấy. Và sau đó đến bốn giờ sáng thì các đợt pháo kích ác liệt của Cộng quân vào phi trường. Trong phi trường khói lửa tùm lum, một hỏa tiễn 122 ly rớt trúng phân đội nữ quân nhân. Lúc sáng sớm, tôi lái xe qua khu vực ấy còn thấy những mảnh quần áo và cả da thịt vương vãi trên những tàng cây. Buổi sáng , tôi leo lên F5 rồi không đi. Kết quả là chiếc phi cơ ấy bị rớt ở phi trường Utapao ở Thái lan hy sinh tất cả những người trên phi cơ. Rồi tôi lên trực thăng xuống Cần Thơ và bị kẹt lại đến chiều 30 thì xuống Rạch Giá kiếm đường vượt biển nhưng cũng không xong và ngày 1 tháng 5 thì phải trở lại Sài Gòn…


Trên đường từ Cần Thơ trở về tôi đã nhìn thấy ở dọc đường quốc lộ số 4 những cảnh tượng mà tôi không thể nào quên. Hai bên đường những chiếc xe tăng và những chiếc trực thăng nằm chỏng chơ và quần áo trận, nón sắt, dây ba chạc, giày lính ,.. vứt lộn xộn tạo ra một khung cảnh điêu tàn của một trận chiến về chiều. Đi từng đoạn rồi cũng về tới Sài Gòn về nhà để thấy căn nhà mình ở bị niêm phong. Tôi vô nhà đại và mang vài vật dụng đi ra và đau lòng biết bao nhiêu khi nhìn thấy vật dụng hàng ngày của mẹ tôi và các anh em tôi trong một căn nhà mà tôi bị đuổi ra vì cả gia đình đã di tản. Tôi muốn khóc khi nhìn thấy ô trầu của mẹ, khi nhìn thấy đôi dép mẹ đi, cái áo ấm mẹ mặc. Vật thì còn nhưng người đã đi xa, biết đến bao giờ mới gặp lại…Và không biết ở phương xa, có còn trầu cau để cho mẹ ăn không? Buồn thật phải không?. Quốc phá thì gia vong. Người xưa đã nói thì chẳng sai chạy được…
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 4/1/2011(UTC)
thunder
#24 Posted : Friday, April 1, 2011 3:06:57 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
VẾT THƯƠNG VONG QUỐC

Quê người, chiều tháng Hạ
Ve hát khúc ca buồn
Gợi nỗi lòng đau thương
Và hồn ta đẫm lệ

Ta có nhiều chuyện kể
Chuyện của ta rất buồn
Ta, kẻ mất quê hương
Đang sống đời lưu lạc

Quê ta giờ tan nát
Dân ta giờ lầm than
Bàn tay ai bạo tàn
Cướp đi đời hạnh phúc!

Người hiền lương tù ngục
Kẻ ác độc ngai vàng
Thực hiện mọi dã man
Của những đời bạo chúa

Xã hội thì mục rữa
Bao nhiêu chuyện động trời
Chỉ thấy ở những nơi
Là thiên đường Cộng Sản

Người mẹ chờ nhụy mãn
Để bán đứa con mình
Người con gái băng trinh
Bán đi điều trân quý

Thiếu niên thì hoang phí
Sống đời sống thiêu thân
Băng hoại đến vô ngần
Ngay từ ngành giáo dục!

Mọi ban ngành, mọi chức
Hối lộ, việc đầu tiên
Nếu lỡ chẳng được yên
Thì giết dê tế lễ!

Chuyện ta buồn là thế
Nói ba năm chẳng cùng
Mùa Xuân như mùa Đông
Ta đau lòng, xót dạ

Quê người, chiều tháng Hạ
Nỉ non tiếng ve sầu
Động cõi lòng ta đau
Vết thương đời vong quốc !

Ngô Minh Hằng

thunder
#23 Posted : Friday, April 1, 2011 7:16:15 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Nguyệt cầm

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt sương tàn như lệ ngân

Mây vắng trời trong, đêm thủy tinh
Linh lung bóng sáng bóng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh

Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăm nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Bốn bề ánh nhạc, biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề...
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

XUÂN DIỆU
1 user thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 4/3/2011(UTC)
phamlang
#26 Posted : Saturday, April 2, 2011 2:01:12 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Chuyến bay cuối cùng của hãng hàng không PAN AM

Phương Anh, phóng viên đài RFA

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc, kỳ này Phương Anh xin dành để gửi đến quí vị câu chuyện về chuyến bay cuối cùng của một hãng hàng không Hoa Kỳ vào đúng ngày 24 tháng 4 năm 1975.

30 năm trước, vào lúc Sàigòn đang chìm đắm trong cảnh ngộp thở và căng thẳng, không khí trở nên vô cùng hỗn độn. AFP PHOTO

Những âm thanh hỗn độn mà qúi vị vừa nghe đó là tiếng trong chuyến bay cuối cùng của hàng không PAN AM vào thời điểm tháng 4 năm 1975 trong cuốn phim tài liệu Last Flight Out do hãng truyền hình NBC thực hiện vào năm 1989.

Cuốn phim thuật lại câu chuyện có thật, đã xảy ra vào thời điểm trước ngày Sàigòn sụp đổ. Chiếc máy bay 747 mang số N653PA chở 463 hành khách trong đó có đến 75 % là nhân viên người Việt Nam của hãng hàng không PAN AM cùng với gia đình của họ đã cất cánh khoảng gần 4 giờ chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 tại phi trường Tân Sơn Nhất trong những giờ phút hồi hộp, ngộp thở và đầy lo sợ của người dân Sàigòn lúc bấy giờ.

Ông Allan Topping,Đó là chuyến máy bay cuối cùng của hãng hàng không Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam cho đến giờ phút cuối cùng.

30 năm trước, vào lúc Sàigòn đang chìm đắm trong cảnh ngộp thở và căng thẳng, không khí trở nên vô cùng hỗn độn. Lúc ấy, tại phi trường Tân Sơn Nhất, ông Allan Topping, giám đốc của hãng hàng không PAN AM đang phải đứng trước một tình thế vô cùng nan giản, vì lúc bấy giờ, Pan Am phải bận rộn với những chuyến phi vụ đưa nhân viên và thường dân Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam.

Cũng vào thời gian trước đó không lâu, chiếc máy bay C-5 A trong chuyến phi vụ thuộc chương trình Không Vận Di tản Trẻ mồ côi bị rớt với hơn 200 người tử nạn, trong số đó có 142 trẻ em. Thế là Pan Am đã lãnh trách nhiệm tiếp tục cung cấp phi vụ đưa các trẻ em mồ côi này sang Mỹ.

Khi chiếc máy bay chở các em mồ côi bị rớt, tin tức loan tải làm chấn động toàn thế giới. Làm sao để đưa các trẻ mồ côi còn sót lại ra khỏi Sài gòn một cách nhanh chóng? Mọi người hầu như đã tuyệt vọng.

Ngay lúc bấy giờ, một vị hảo tâm tại tiểu bang Connecticut đã đứng ra nhận lãnh. Ông Robert Macauley bàn với vợ, đem cầm căn nhà của mình với số tiền 251 ngàn Mỹ kim để thuê riêng một chiếc máy bay Pan Am chở các em cùng với 62 người sống sót sang Mỹ.

Thế còn những nhân viên người Việt đang làm cho PAN AM đang cùng Allan Topping ngày đêm liên tục bám trụ tại phi trường Tân Sơn Nhất trong những giờ phút căng thẳng nhất thì sao? Allan Topping biết chắc Pan Am không thể quyết định cho số phận của họ.

Trong thời gian này, các công ty lớn của Hoa Kỳ như IBM, Bank of America, Citibank…đều đã di tản hết nhân viên và ngưng họat động. Với tư cách là giám đốc của hãng hàng không PAN AM tại Việt nam lúc ấy , ông không thể nhẫn tâm bỏ rơi tất cả nhân viên của mình.

30 năm trước, khi tôi là giám đốc cho hãng hàng không Pan Am ở Việt Nam…Tôi đã chứng kiến cảnh chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã không còn sự hỗ trợ nào khác và quân miền Bắc thì cứ từ từ tiến vào miền Nam Việt Nam, không còn ai có thể cản trở họ được…Và đã dẫn đến biến cố tháng 4 năm 1975.

Không khí căng thẳng...

Đứng trước tình cảnh hỗn loạn lúc bấy giờ, Allan Topping không biết phải quyết định như thế nào. Số phận của họ nằm trong tay ông. Và chuyện gì đã xảy ra?

Hôm nay, 30 năm sau từ thành phố Miami, tiểu bang Florida, ông Allan Topping thuật lại:

"30 năm trước, khi tôi là giám đốc cho hãng hàng không Pan Am ở Việt Nam…Tôi đã chứng kiến cảnh chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã không còn sự hỗ trợ nào khác và quân miền Bắc thì cứ từ từ tiến vào miền Nam Việt Nam, không còn ai có thể cản trở họ được…Và đã dẫn đến biến cố tháng 4 năm 1975.

Lúc đó, mọi người ai cũng muốn di tản cả. Và tôi đã phải cố gắng tranh đấu cho các nhân viên của tôi cũng được đi.. Thời gian đó, thật là khó khăn, vì chỉ còn mỗi mình hãng Pan Am họat động. Chúng tôi thật vất vả vì phải lo chuyên chở các trẻ mồ côi trong chương trình Không Vận Di Tản Trẻ Em Mồ Côi.

Tôi không biết làm sao cho các nhân viên của tôi di tản vì cứ chờ đợi cấp trên quyết định. Khi tôi biết được rằng các trẻ em mồ côi được một cơ quan nào đó tại Hoa Kỳ bảo trợ thì sẽ được đến Mỹ, tôi cũng bắt chước làm như thế.

Tôi làm giấy tờ xin với Pan Am ở Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ hết cho họ và thân nhân của họ. Cuối cùng, cấp trên tôi đồng ý nhưng tôi phải tự lo liệu mọi việc và phải tuyệt đối giữ bí mật, không được phép tiết lộ với ai.

Thời gian này thật là khó khăn cho tôi vì các nhân viên của tôi hầu như đều trách cứ tôi không lo cho họ. Hàng ngày, họ vẫn đến làm việc bình thường để lo di tản cho những người khác, trong khi chính bản thân họ thì không hề được nhắc đến.

Tôi chỉ biết nói với họ câu “ đừng lo lắng” vậy thôi! Ngoài ra, không được phép nói gì thêm. Có những nhân viên của tôi đã âm thầm rời khỏi Pan Am và tìm cách móc nối với tòa Đại sứ Mỹ hay bằng cách nào đó ra đi bằng tàu Hải quân…

Trong suốt tuần lễ thứ hai của tháng tư, tôi rất buồn và đau lòng khi bắt gặp những ánh mắt không còn thiện cảm của nhân viên tôi đối với tôi. Tuy họ vẫn siêng năng làm việc, nhưng không khí nặng nề bao trùm… Tôi vẫn phải âm thầm lên kế hoạch một mình. Tôi ra lệnh lấy danh sách và thân nhân của tất cả nhân viên tôi.

Tôi còn nhớ là lúc bấy giờ, Sài gòn căng thẳng và nguy hiểm lắm. Tôi phải hứa với cấp trên là bảo đảm tính mạng cho họ. Tôi còn được cấp trên báo cho biết trước là có thể chuyến bay cuối cùng này sẽ bị quân Cộng Sản bắn khi cất cánh. Lúc bấy giờ, tôi không chú ý lời cảnh báo đó cho lắm, mà chỉ chú tâm làm sao đưa nhân viên của tôi và thân nhân của họ rời khỏi Sài gòn bằng mọi cách mà thôi.

Danh sách chỉ có 62 người nhưng thân nhân của họ lên đến 700 người, nào là ông bà cô chú bác, họ hàng đôi bên… Cấp trên tôi chỉ cho chiếc Boeing 747 và nó chỉ có sức chứa được có 375 người mà thôi. Tôi đã phải lọc lại danh sách của họ và chỉ còn có 350 người.

Tôi còn nhớ là lúc bấy giờ, Sài gòn căng thẳng và nguy hiểm lắm. Tôi phải hứa với cấp trên là bảo đảm tính mạng cho họ. Tôi còn được cấp trên báo cho biết trước là có thể chuyến bay cuối cùng này sẽ bị quân Cộng Sản bắn khi cất cánh. Lúc bấy giờ, tôi không chú ý lời cảnh báo đó cho lắm, mà chỉ chú tâm làm sao đưa nhân viên của tôi và thân nhân của họ rời khỏi Sài gòn bằng mọi cách mà thôi.

Cuối cùng, tôi chỉ thông báo cho họ biết trước khi khởi hành một ngày mà thôi, tức ngày 24 tháng 4, vào lúc 4 giờ chiều, chiếc máy bay Pan Am cuối cùng đã cất cánh đem theo 463 hàng khách trong đó có đến 75% là người Việt nam. Và đây là chuyến máy bay cuối cùng của hãng hàng không Mỹ trong thời điểm Sàigòn sụp đổ."

Những kỷ niệm khó quên

Phương Anh: Thưa ông, 30 năm đã qua, nhưng ông còn nhớ được kỷ niệm gì về chuyến bay đó không?

Allan Topping: Ồ, nhớ chứ, trên chuyến máy bay đó, gồm tất cả 463 hàng khách, mà thực tế chỉ cho phép 375 người mà thôi. Có một điều tôi xin nói thêm là trên chuyến máy bay đó, cũng có những người là quân đội của VNCH, lúc bấy giờ, họ đã cởi bỏ binh phục và trèo lên máy bay với chúng tôi, tôi cũng cho họ lên luôn bởi vì tôi nghĩ, họ cũng như những nhân viên của chúng tôi, không ai muốn ở lại để gặp quân Cộng Sản cả.

Và vì thế, máy bay càng chật chội và qua tải hơn nữa. Tất cả mọi người đều phải ngồi chen nhau chật chội khắp mọi nơi, kể cả phòng vệ sinh. Không khí trên máy bay rất là căng thẳng. Không ai nói với ai câu gì, tất cả đều mang vẻ mặt rất buồn bã, hoang mang và lo sợ.

Đó là một kỷ niệm thật buồn mà tôi không bao giờ quên. Tôi thì rất hồi hộp và thật là sợ quá vì lúc đó, tôi nhìn rất rõ, ở bên dưới, quân đội miền Bắc vẫn đang tiếp tục bắn hỏa tiển lên chiếc máy bay của chúng tôi. Tôi chợt nghĩ đến cái chết và sinh mạng của 463 người trên chiếc máy bay này.

Nếu họ bắn trúng thì ngày mai, cả thế giới sẽ biết đến tin đó, nhưng quả là một điều kỳ diệu vì chuyện đó đã không xảy ra…

Thật sự ra cái đó coi như mình đi trước ngày 30 tháng 4, thành thử ra cái đó cũng như mình đi một cách không bình thường, mình thoát ra khỏi Việt Nam trong cái lúc hỗn loạn, cho nên rất là lo sợ..rất là hoang mang vì đi như vậy thì mình không biết là tương lai của mình sẽ như thế nào…sợ đủ thứ hết, mình bỏ tất cả mình đi rồi...

Những cựu nhân viên của hãng PAN AM

Thưa quí vị và các bạn, sau chuyến phi vụ cuối cùng ấy, tuy hãng hàng không PANAM đã khai tử, nhưng kể từ sau năm 1975, cứ 5 năm một lần, dù ở phương trời nào đi chăng nữa, những cựu nhân viên này lại tề tựu cùng nhau, để nhắc lại kỷ niệm năm xưa, để cùng nhau ôn lại những giây phút căng thẳng và hồi hộp nhất trong cuộc đời của mình.

Và vào ngày 22 và 23 tháng 4 vừa qua, tại khách sạn Marriotte, vùng Arlington, Virginia, Hoa Kỳ, cuộc hội ngộ sau 30 năm đã diễn ra với hơn 300 người tham dự… Từ khắp mọi nơi trên toàn nước Mỹ, những cựu nhân viên PAN AM cùng gia đình, nhất là những người có mặt trên chuyến bay lịch sử ấy, lại gặp lại nhau để vinh danh Allan Toping.

Ông Nguyễn Văn Thành, hiện cư ngụ ở vùng Falls Church, Virginia, kể lại chuyện năm xưa:

"Lúc đó thật sự ra rất là buồn vì mình vừa lo và vừa buồn, vì mình đi thì mình lo là sẽ không còn cơ hội để trở về…

Thật sự ra cái đó coi như mình đi trước ngày 30 tháng 4, thành thử ra cái đó cũng như mình đi một cách không bình thường, mình thoát ra khỏi Việt Nam trong cái lúc hỗn loạn, cho nên rất là lo sợ..rất là hoang mang vì đi như vậy thì mình không biết là tương lai của mình sẽ như thế nào…sợ đủ thứ hết, mình bỏ tất cả mình đi rồi...

Bây giờ nhìn lại thì mới thấy nhờ PANAM như vậy thì mới thấy đây là một cái hồng ân"

Ông Nguyễn Trực, hiện cư ngụ tại Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ, cũng có mặt trong buổi hội ngộ này cho biết:

"Trước đó một ngày, ông giám đốc của PANAM là Alllan Topping có cho chúng tôi biết là ngày thứ năm, 24 tháng 4 năm 1975 sẽ là chuyến bay chót của PANAM và ông ta có nói rằng ông ta sẽ đưa tất cả nhân viên đi, nếu người nào muốn đi, nếu người nào không muốn đi, thì hãng sẽ bồi thường tiền lương, vacation, overtime các cái…thì tôi thấy hoàn cảnh nó vậy thì tôi mới quyết định đi trên chuyến bay đó.

Bạn nghĩ gì về chuyến bay lịch sử ấy? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Đây là lần thứ hai tôi di cư, lần đầu tiên năm 1954, tôi đã di cư ở Ninh Bình vô Nam, kỳ này nữa, cũng là một chuyến đi di cư, nhưng từ Việt Nam qua một nước khác. Khi mà lên phi cơ ngồi rồi thật là cảm ơn ông Allan Topping và các nhân viên của PANAM đã lo liệu cho chúng tôi đi được..

Trên chuyến bay rất là đông người, chúng tôi ngồi chung với nhau, không cột dây an toàn nữa, thay vì hàng ghế ngồi 3 người, chúng tôi cho ngồi 5, 6 người… Khi máy bay cất cánh rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, tôi rất lấy làm buồn, mình đi được rồi, nhưng không biết tương lai mình như thế nào..."

Ông Nguyễn Khoa, hiện cư ngụ tại thành phố Houston, bang Texas, cho biết cảm nghĩ của mình trong cuộc hội ngộ lần này:

"Tôi rất sung sướng và rất là cảm động khi gặp lại ông Topping cùng tất cả bạn bè ở đây. Ông ấy nhận ra tôi ngay, tối hôm qua, tôi gặp ông ấy bắt tay chào hỏi ông ấy hỏi thăm tôi bây giờ làm gì…30 năm sau, có thể nói là tôi rất sung sướng được sang bên Mỹ này. Tuy không còn làm cho hãng máy bay nữa nhưng tôi vẫn còn nhớ PANAM nhiều. Nhờ PANAM mà tôi mới có ngày nay, con cái tôi đã thành tài…" Thưa quí vị và các bạn, tuy đã đưa được tất cả nhân viên của mình di tản an toàn, thế nhưng, một trong số nhân viên rất tận tụy và làm việc với Allan Topping đến giây phút cuối cùng lại không có mặt trong chuyến bay đó.

Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng khi nhân viên này quyết định ở lại mặc dù tên ông cùng gia đình ưu tiên trong danh sách. Cả Allan Toping và nhân viên này đều rất buồn khổ nhưng không biết làm sao hơn.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
thunder
#27 Posted : Saturday, April 2, 2011 5:53:22 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
THÁNG TƯ ĐEN

(Một nén hương kính dâng Tổ Quốc VN. và tưởng niệm những người chết cho quê hương, vì quê hương và vì sự xâm lăng tàn khốc của CS trong Tháng Tư Đen 1975)

Ngày Ba Mươi Tháng Tư xưa
Lệnh hàng: vết chém ai đưa qua hồn
Lòng đau với Tháng Tư buồn
Súng rơi cùng suối lệ tuôn nghẹn ngào...
Ngày Ba Mươi Tháng Tư nào
Ai đem dân tộc xô vào lầm than
Xác người ai bón rừng hoang
Biển xanh pha máu Việt Nam đỏ hồng!
Ai làm cách núi ngăn sông
Cha con chia biệt, vợ chồng ly tan?
Ai làm tan nát Việt Nam
Hòa bình sao lại vô vàn đớn đau ?
Tháng Tư đen. Tháng Tư sầu
Một trăm cái trứng đào sâu oán thù
Giết nhau bằng những mưu mô
Giết nhau bằng súng Liên sô, đạn Tàu
Giết nhau không nhận ra nhau
Giết nhau chẳng chút lòng đau. Lạ lùng!
Giết nhau, vỗ ngực: Anh Hùng
Ngàn trang uế sử trùng trùng máu tươi
Tháng Tư đen. Tháng Tư ơi!
Việt nam ai xót xa người Việt nam???

Ngô Minh Hằng

Hạ Vi
#28 Posted : Sunday, April 3, 2011 7:57:29 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
Thân chào Chú PhamLang,

Rất vui và trong sự ngạc nhiên khi đọc nhiều posts của Chú trong những topics in The Beauty forum ...Cảm ơn Chú rất rất nhiều đã ghé thăm forum, viết reply thăm chúc Hạ Vi, Anh Thunder, anh Coffeebean, Ngoc Hao, cùng các bạn. Với những bài Chú posted rất hay và giá trị.

Hạ Vi chúc Chú PhamLang được an vui , mong Chú ghé forum thường xuyên nha...


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 4/6/2011(UTC)
Hạ Vi
#29 Posted : Sunday, April 3, 2011 7:59:36 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
Anh Thunder thân mến ơi,

Vi muội cám ơn Anh Thunder đã posted nhiều bài trong 2 topics của Hạ Vi .
Merci anh nhiều lắm , Vi chúc anh một ngày Chủ nhật đẹp trời thật vui khoẻ nha.


havi
#32 Posted : Sunday, April 3, 2011 1:47:31 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Points: 123
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
[center]

“SÀI GÒN ĐẸP LẮM”

Sáng tác: Y Vân

Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai,
Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay
Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này
Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau
Người ra thăm bến câu chào nói lao xao
Phố xa thênh thang đón chân tôi đến chung vui
Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Lá la la lá la
Lá la la lá la

Tiếng cười cùng gió chan hòa niềm vui say sưa.

Lá la la lá la
Lá la la lá la

Ôi đời đẹp quá, tràn bao ý thơ.
Một tình yêu mến ghi lời hát câu ca
Để lòng thương nhớ bao ngày vắng nơi xa.
Sống mãi trong tôi bóng hôm nay sẽ không phai
Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!



Vài nét về Nhạc sĩ Y Vân


Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư – nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công. Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các – nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh “Trương Chi” si tình khốn khổ, còn nàng lại là một “Mỵ Nương” danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Đò nghèo, Ảo ảnh, Nhạt nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích.


không chỉ có vậy, sáng tác của Y Vân còn rất đa dạng : vui tươi, sôi động với Sài Gòn đẹp lắm, lung linh, sang trọng với Tiếng trống cao nguyên, Những bước chân âm thầm (thơ Kim Tuấn) và nhất là ca khúc Lòng mẹ êm ái đầy xúc cảm…
Tác giả biết rất nhiều về anh em nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ, nhưng có bài viết của Nguyễn Linh Giang mang thật nhiều ý nghĩa về người nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Người em sầu mộng” phổ thơ của Lưu Trọng Lư.

Y Vân là một trong số ít những nhạc sĩ Việt Nam sống hoàn toàn bằng âm nhạc. Ngoài việc sáng tác và làm việc cho các đài phat thanh và truyền hình, ông còn đánh đàn contrebass và guitar tại các phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn và các Club Mỹ. Là một nghệ sĩ, ông ít có đầu óc thương mại, thường bán đứt bản quyền các bài hát ăn khách. Trong một thời gian ông và vợ có thực hiện một số băng nhạc lấy tên Trung Tâm Mây Hồng nhưng cũng không kéo dài lâu.

Sau 1975, Y Vân trở nên nghèo túng như tất cả những người Sài Gòn lúc gạo châu củi quế. Và nhiều bài hát của các nhạc sĩ chưa được cho phép trình diễn, nên ông không hành nghề được phải sống bằng tiền dành dụm. Đến những năm 80, hoạt động âm nhạc mới trở lại, nhưng lúc này ông ít sáng tác mà chỉ làm nhạc phim và viết hòa âm cho các ca sĩ.
Nhạc sĩ Y Vân mất ngày 28/11/1992, sau một cơn mệt tim nặng.



NGUYỄN VIỆT

Hạ Vi
#33 Posted : Sunday, April 3, 2011 4:31:12 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
ANH NHỚ SÀI GÒN,THÁNG TƯ

Đào Như
Chicago April/2004



Những ngày như thế này

Tháng Tư

Mùa đông

Chicago

Không có mặt trời mọc

Không có mặt trời lặn

Không có trăng và sao

Ngày và đêm một màu trắng xóa phẳng lì

Sáng nay thức giấc một minh`,

Anh nhớ em !

Anh nhớ những câu thơ chúng mình viết cho nhau thời còn trẻ

những câu thơ không có

mùa đông tuyềt lạnh

Những câu thơ nóng

những cái hôn nóng nắng Saigòn

Chúng mình nhìn nhau cuồn cuộn ánh sáng

Saigòn

Không có buổi sáng không có em

Không có ngày không có mặt trời

Không có đêm không có trăng sao

Chicago

Mùa đông

Sáng nay thức giấc một mình,

Anh nhớ em !!

Anh nhớ Saigòn tháng Tư

những ngày chúng mình yêu nhau thời còn trẻ
.





thunder
#30 Posted : Sunday, April 3, 2011 5:32:06 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Originally Posted by: Ha Vi Go to Quoted Post
Anh Thunder thân mến ơi,

Vi muội cám ơn Anh Thunder đã posted nhiều bài trong 2 topics của Hạ Vi .
Merci anh nhiều lắm , Vi chúc anh một ngày Chủ nhật đẹp trời thật vui khoẻ nha.

Thunder cũng gửi đến Hạ Vi muội lời thân chúc một tuần lễ mới nhiều an vui nghe.
thunder
#34 Posted : Sunday, April 3, 2011 5:36:18 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)
Đêm nhớ về Sài Gòn

Sáng tác : Trầm Tử Thiêng
Trình bày : Quang Dũng

http://mp3.zing.vn/bai-h...uang-Dung/ZWZ97F7O.html

Đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi
Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi
Đường im nghe quá khứ trong sấu
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau
Tình lẻ loi canh thâu

Đêm nhớ về Sài Gòn
Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa
Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa
Ai sầu trong quán úa
Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song
Mắt người tình một trời mênh mông.
Gợi bao nhiêu cho cùng..

Yêu me một khối tình quê
Yêu em từng bước tình si
Đêm đêm mộng thấy đường đi đường về

Ta như cậu bé mồ côi
Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi
Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn

Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
Cho lòng thêm chút ấm
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau

Tình chia trong đêm sầu..
thunder
#31 Posted : Sunday, April 3, 2011 6:18:57 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Gọi tên là biết Sài Gòn

Ngày 1-2-1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 - 1876) của nhà cầm quyền Pháp tiến hành đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn thành phố Sài Gòn vốn trước đó chỉ được đánh số thứ tự.

Trải qua 311 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn - Saigon hiện có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu đã rối như canh hẹ bởi chuyện đường trùng tên, thiếu tên đặt cho đường. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có một điểm trọng yếu là chúng ta không mặn mà với những tên gọi gắn liền với lịch sử, văn hóa của vùng đất mình đang sinh sống.

Đường xưa lối cũ

Đường Mã Lộ nằm trên địa bàn phường Tân Định, Q.1, dài chừng 120m, lộ giới 14m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Đường này ngắn nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định, năm 1928. Thời Pháp thuộc, đường này mang tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Mã Lộ và được dùng cho đến ngày nay.

Con đường này nằm phía sau chợ Tân Định. Ngày xưa chưa có các loại xe lam, xích lô, ba gác thì phương tiện đi lại chủ yếu để người ta đi lại và chuyên chở hàng hóa là xe ngựa. Những chiếc xe thổ mộ lóc cóc từ các vùng ngoại ô: Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Tân Bình… chở người và hàng về chợ bán mua. Sau khi đổ hàng, xuống khách, các xà ích cho xe ngựa tập trung ở một đoạn đường sau chợ cho ngựa nghỉ chân, ăn cỏ, uống nước, người tranh thủ chợp mắt hay túm năm tụm ba trò chuyện, chờ chợ tan lại đón hàng và người về. Lâu dần, đoạn đường này được gọi bằng cái tên thân thuộc: Mã Lộ (đường của ngựa).

Ở Q.3 có một con đường mà khi gọi tên ta đã nghe giăng mắc ô thửa, đó là đường Bàn Cờ, chạy từ đường Nguyễn Đình Chiểu đến đường Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn phường 2 và 3, dài khoảng 460m. Lịch sử tên gọi đường này cũng rất độc đáo. Năm 1910, dưới thời Pháp thuộc, TP Sài Gòn được mở rộng về phía tây. Khu đất phía trong đường Nguyễn Thiện Thuật được quy hoạch, xẻ ngang, vạch dọc như bàn cờ để phân cho dân chúng xây nhà. Thấy đường sá ở đây cắt ô như bàn cờ tướng, người ta liền gọi là khu Bàn Cờ. Con đường chính băng qua khu này mặc nhiên được gọi là đường Bàn Cờ. Theo truyền văn thì khi mới làm tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho đặt ga đầu ở khu này. Đầu máy về tới đây, muốn quay lại để đi xuống Mỹ Tho, phải trướn lên một cái mâm hình tròn, quay trên một trục vững chắc để công nhân đẩy xoay đầu lại. Cái mâm ấy gọi là bàn cờ. Đường chạy qua khu có cái mâm ấy được gọi là đường Bàn Cờ.

Ở Q.4 có một đường mang tên nghề gắn liền với giấc ngủ của con người từ xưa đến nay: đường Xóm Chiếu. Con đường thuộc địa phận phường 15 và 16, dài 905m này mang tên một địa danh của đất Gia Định xưa, có từ đời vua Minh Mạng (1884). Chả là, từ thời Gia Long, vùng này chỉ có thôn Khánh Hội và Bình Ý nằm gần kinh Bến Nghé và sông Sài Gòn. Phía trong toàn bưng sình, mọc đầy cây bàng (thảo câu) và lác. Tận dụng nguồn nguyên liệu này, dân chúng quy tụ thành một xóm làm nghề dệt chiếu và lập chợ để bán. Từ đó, tên Xóm Chiếu ra đời.

Cũng thuộc ngạch đường mang tên nghề nghiệp của người dân sở tại, ở Q.5 có đường Xóm Cải (thuộc địa bàn phường 11, dài 125m, chạy từ đường Nguyễn Trãi đến đường Mạc Thiên Tích; Xóm Cải là địa danh của đất Chợ Lớn xưa kia, là nơi cư ngụ của những người chuyên nghề trồng rau cải để bán), Xóm Chỉ (thuộc địa bàn phường 10, từ đường Phan Phù Tiên đến đường Tản Đà, dài khoảng 118m; Xóm Chỉ là địa danh của đất Chợ Lớn (cũ), xưa kia, dân vùng này chuyên làm nghề kéo chỉ), Xóm Vôi (địa danh cũ của đất Gia Định, nơi có người dân lập thành xóm chuyên chở đá xanh từ vùng Hà Tiên lên để nung vôi bán cho người ta xây dựng, ăn trầu), Q.6 có đường Lò Gốm, quận Tân Bình có đường Vườn Lài (dân sở tại trồng cây hoa lài (nhài) để ướp trà, Q.9 có đường Lò Lu, huyện Củ Chi có đường Xóm Thuốc (thuốc lá để hút)...

Ai có tâm hồn ăn uống, nhắc đến tên đường Vườn Thơm, thuộc xã Lê Minh Xuân và Bình Lợi, huyện Bình Chánh, chắc phải tứa nước miếng. Quả vậy, dưới thời Pháp thuộc, đây là một đồn điền bạt ngàn thơm (dứa).

Ở tỉnh Chợ Lớn cũ có một vùng kênh rạch chằng chịt, ghe thuyền đi lại tấp nập. Dân trong vùng trồng rất nhiều cây sao để lấy gỗ đóng ghe, thuyền. Hằng năm, từ tháng 12 đến tháng 4, là mùa cây sao ra bông, đậu quả, không biết cơ man nào mà kể. Mỗi cơn gió thoảng qua, bứt bông sao khỏi cành thổi bay lơ lửng trên không trung một hồi rồi mới rơi xuống rải đầy mặt đất, mặt nước, trông đẹp như tiên cảnh. Thế là người dân lấy tên Bông Sao để gọi con đường chạy qua vùng. Nay đường này thuộc P.4, Q.8.

Chỉ về sự ấm no thì ở P.15, Q.8 có đường Mễ Cốc, dài 2.350m, lộ giới 20m. Mễ Cốc nguyên là một kho lúa, sau thành địa danh. Nghe tên đường, ta đã gợi nhớ đến vùng đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa của miền Nam. Từ ngày một số người Hoa không phục nhà Thanh, qua đây xin chúa Nguyễn cho lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn, lúa được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Rồi từ ngày người Pháp lập cảng Sài Gòn thì vùng này mỗi ngày có hàng trăm ghe, thuyền từ các tỉnh miền Tây đổ về Chợ Lớn, lúa được bốc lên các kho, vựa trên bến để rồi chuyển đến các nhà máy xay xát. Thế là bến mang tên Mễ Cốc (bến lúa gạo).

Để gợi nhớ thưở đất rộng người thưa, ta hãy về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi tản bộ trên đường Mít Nài dài 1.500m. Mít nài là giống mít mọc hoang dại ở ven rừng, có trái na ná mít vườn nhưng không ăn được, gỗ chỉ dùng làm củi. Xã Phước Thạnh trước đây cả thế kỷ chỉ là rừng, mít nài mọc hoang vô kể. Cũng trên địa bàn huyện Củ Chi, có những tên đường mà khi gọi lên ta đã thấy thiên nhiên gần gụi: Cây Bài (xã Phước Vĩnh An), Cây Điệp (xã Nhuận Đức), Cây Gõ (xã An Phú), Cây Trắc (xã Phú Hòa Đông), Cây Trôm (xã Phước Hiệp, Thái Mỹ).

Ai yêu chim muông, mời về xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh đi trên con đường dài khoảng 6.000m thỏa thê nghe tiếng le le lội nước và ngắm cánh cò bay lả bay la. Đường tên là Láng Le - Bàu Cò mà! Đây là địa danh cũ của tỉnh Gia Định chỉ một vùng đất sũng nước, nơi cư ngụ của cơ man nào là le le và cò. Đường Hố Bò ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi thì nhắc ta rằng thời xa xưa, vùng này sâu trũng, cây cối rậm rạp, là nơi nương náu của rất nhiều loài bò rừng.

Để trí tưởng tượng bay xa hơn nữa, mời bạn đến đường Gò Cẩm Đệm ở P.10, quận Tân Bình. Sở dĩ con đường dài 840m, lộ giới 12m này mang tên vậy là do nơi đây xưa kia là một gò đất cao, rộng 3 dặm, nằm phía sau Giác Lâm cổ tự, thuộc địa phận xã Phú Thọ Hòa, huyện Bình Dương. Khi xưa trên gò, cỏ thơm mọc dày như trải đệm, cây cao bóng mát tỏa như lọng che nên dân chúng gọi tên là gò Cẩm Đệm rồi thành địa danh, từ ngày 13-7-1899 thì là tên đường.

Đất Sài Gòn - Gia Định rộng lớn, người hào sảng mà tâm hồn mơ mộng nên cũng luôn là đất văn chương thi phú. Điều ấy ghi dấu ở tên đường Bình Dương Thi Xã, P.5, Q.1 mang tên một hội thơ nổi tiếng và bề thế nhất tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định hồi đầu thế kỷ XIX. Nổi danh nhất của thi xã này là 3 danh sĩ: Trịnh Hoài Đức (chủ hội), Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh mà đương thời gọi là Gia Định tam gia…

Quyến rũ chừng… 10%

Tôi ngồi tỉ mẩn đếm đếm tính tính theo các tài liệu về tên đường ở Saigon, quỹ tên đường của Hội đồng đặt mới, sửa đổi tên đường, công viên, quảng trường và công trình công cộng Saigon thì thấy một con số đáng báo động, những tên đường độc đáo, thân thuộc, gọi là biết ngay Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như kể trên chỉ chiếm chừng 10%.

Trong khi đó, xưa nay, chúng ta quá say sưa với những tên nhân vật lịch sử. Tất nhiên, việc tôn vinh công đức của tiền nhân là điều cần thiết, nhưng cũng đừng hồn nhiên nghĩ rằng cứ đặt tên một con đường, xây dựng một tượng đài thì chắc chắn sẽ làm được việc giáo dục truyền thống.

Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, Alain Thomas - bạn tôi - từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh đến một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở thành phố. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy và nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Alain bảo đó mới là điều thu hút anh ấy “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.

Trở lại chuyện tên đường cũng vậy. Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.

Chẳng hạn, ở Sài Gòn, 146 năm trước, me là cây đầu tiên được người Pháp mang trồng ở hai bên đường. Hầu hết các con đường trên địa bàn thành phố đều có bóng me; me đã là nhạc, là thơ, là hơi thở của người dân xứ này! Đến Sài Gòn mà được tản bộ trên con đường mang tên Lá Me Bay và giơ tay bắt những lá me chao trong gió, nếm vị giôn giốt của trái me thì thật là ấn tượng đặc biệt. Ai biết ở Saigon, từ giữa tháng 5, trái dầu rái bứt khỏi cành, tạo thành những chiếc chong chóng xoay tít khắp phố phường để mơ về một con đường mang tên Dầu Rái?

Cũng vậy, nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương như: đường Hoa Ban ở Điện Biên, phố Hoàng Lan ở Hà Nội, đường Phượng Bay (từ cảm hứng trong những chiều đi trên đường này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết “Đường phượng bay mù không lối vào” (Mưa hồng) ở Huế… là một nét thi vị và luyến nhớ cho cả dân địa phương và du khách. Đồng cảm với chúng tôi về vấn đề này, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu - Phó tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Saigon chia sẻ: “Theo tôi, nên lưu giữ những địa danh dân gian để đặt tên đường phố hay tên đơn vị hành chính mới trong quá trình đô thị hóa. Dân gian hay đặt tên cho một khu vực nào đó theo đặc điểm về tự nhiên hay truyền thuyết của khu vực ấy, hoặc cũng hay gọi một cách không chính thức nhưng lại dễ nhớ, dễ tìm. Vì vậy, tên các loài cây, hoa - nếu là đặc điểm, đặc trưng của một khu vực, một con đường, một ngõ hẻm... rất nên dùng để đặt tên cho khu vực, đường, hẻm ấy. Nó sẽ làm cho người dân trân trọng và gìn giữ các loài cây, hoa đó, góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên nét đẹp văn hóa đa dạng của TP. Những giá trị văn hóa vật thể như thế qua thời gian sẽ lắng đọng, trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của từng địa phương”.

Cũng theo bà, trong các khu đô thị mới hiện nay, cần khuyến khích người dân trồng các loại cây, hoa làm đẹp, mang lại bóng mát cũng như mảng xanh cho thành phố. Và cũng rất hay nếu như đặt tên đường, khu phố mới theo tên các loài thực vật đó.

... Biết đâu chừng, một ngày, giữa Sài Gòn ồn ã, kẻ lãng đãng là tôi lại được tủm tỉm nhắn nhe lũ bạn rằng: «Nhà tôi ở hẻm Cây Điệp, đường Chiêu Liêu. Sáng sáng, sau khi tản bộ trên đường Nhạc Ngựa, tôi đến đường Đủng Đỉnh uống cà phê rồi về làm việc ở đường Long Não»...

Box:

- Năm 2008, Hội đồng thị trấn Dartford, London, Anh đã phê chuẩn đặt tên 13 đường phố trong một khu dân cư mới xây dựng lấy cảm hứng từ tên các ca khúc của ban nhạc Rolling Stones như: Sympathy Street (cảm hứng từ ca khúc Sympathy for the devil), Cloud Close (từ ca khúc Get off of my cloud), Rainbow Close (She’s a rainbow), Babylon Close (Bridges to babylon), Dandelion Row (Dandelion), Ruby Tuesday Drive (Ruby Tuesday)...

- Nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương.

- Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.[/color]

Hàn Mai Tự
1 user thanked thunder for this useful post.
mike86 on 2/9/2013(UTC)
Hạ Vi
#35 Posted : Monday, April 4, 2011 5:23:21 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)


MỘT MAI KHI TRỞ LẠI


NGÔ VĂN QUY


Một mai anh về qua đường Duy Tân,
Phố cũ hè xưa lá vẫn rụng đầy
Người thân nhiều kẻ không còn nữa
Đời cũng trôi theo những đoạn trường


Một mai anh về qua trường Gia Long
Thấy nón vành nghiêng nhớ dáng em hiền
Bờ vai mòn mõi theo ngày tháng
Tình cũng tan theo những muộn phiền


Mai đây anh về qua đường Tú Xương
Quán vắng mưa khuya bước ai trên đường
Thương yêu ngày cũ tìm đâu thấy
Dấu vết tình xưa đã vàng phai


Một mai anh về qua trường Trưng Vương
Thoáng ngỡ ngàn, vây kín tâm hồn
Mình anh sầu tủi âm thầm đứng
Lòng xót xa thương những cuộc tình





havi
#36 Posted : Tuesday, April 5, 2011 6:18:09 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Points: 123
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)
[center]MỜI CÁC BẠN nghe nhạc & xem hình ảnh đen trắng

SAI`GÒN 1961

2 users thanked havi for this useful post.
Thanh Phong on 4/5/2011(UTC), phamlang on 4/6/2011(UTC)
thunder
#37 Posted : Wednesday, April 6, 2011 8:36:59 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)


Một Chuyến Bay Đêm

Sáng tác : Song Ngọc
Trình bày : Thanh Thúy

http://www.youtube.com/watch?v=CxJcoGF67KA

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
Người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió...
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ.

Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều
Để níu áo hằng nga, ngồi bên dẫy ngân hà.
Giờ sống giữa lưng trời,
Đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi...

Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo
Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu,
Chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào
Lâu lắm chẳng gặp nhau.
Bạn bè dù cách xa nào khuây,
Tình nàng chưa nói nhưng mà say.
Giai nhân hỡi khóe mắt em u hoài
Theo tìm trong chuyến bay.

Có người hỏi phi công ước mơ gì?
Người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ ước chi?
Ước rằng từ khi tung nhịp cánh,
Tình ta yêu thương là gió... nhân tình của mây.
Ở đời ai hiểu ai , từng bay trắng đêm dài,
Thì thức giữa đại dương,
Dù yên giấc ven rừng,
Bạn có biết chuyện này
Tôi ghi lúc vũ trụ còn ngủ say.
Hạ Vi
#38 Posted : Friday, April 8, 2011 11:05:08 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
Originally Posted by: thunder Go to Quoted Post

Nguyệt cầm

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt sương tàn như lệ ngân

Mây vắng trời trong, đêm thủy tinh
Linh lung bóng sáng bóng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh

Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăm nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Bốn bề ánh nhạc, biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề...
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê

XUÂN DIỆU



Phân tích bài Nguyệt Cầm
~ của Xuân Diệu ~


Thụy Khuê



A


Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

B

Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Ðã chết đêm rằm theo nước xanh.

C
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...

D

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

Xuân Diệu



Bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu, ảnh hưởng Tỳ Bà Hành, hòa hợp với thuyết giao ứng (correspondance) của Baudelaire, là một bài thơ mới, âm hưởng cổ điển và lãng mạn.

Xuân Diệu nghe đàn trên sông Hương, trạnh nhớ hận tình Trương Chi - Mỵ Nương mà làm nên Nguyệt Cầm. Cảm xúc lời thơ, Cung Tiến sáng tác Nguyệt Cầm, tình khúc lãng mạn giá trị, mang những cung bậc Tây phương.

Bài thơ Nguyệt Cầm thể hiện sự giao cảm giữa hương sắc và thanh âm, giữa đất trời và cỏ cây, giữa vũ trụ và con người, giữa trần gian và âm cảnh. Nói như Baudelaire: Bởi thơ và qua thơ, bởi nhạc và qua nhạc mà tâm hồn thoảng thấy những ánh hào quang ẩn sau cõi chết. Người thi sĩ bằng trực giác mẫn cảm nắm bắt giây phút hội ngộ thiêng liêng giữa thực tại và siêu hình, giữa nội tâm và ngoại giới để đạt tới thăng hoa trong tác phẩm nghệ thuật.
Chúng ta tìm thấy cấu trúc nội dung trên đây qua sự phân tích cấu trúc hình thức.

Bài Nguyệt Cầm mang những tính chất cơ bản của thi ca. Nguyên lý song song xuất hiện liên tục dưới nhiều dạng:

- Về mặt hình thức, thơ 7 chữ, 4 câu, 4 khổ. Trong 112 chữ, có 5 trăng, 2 nguyệt, 4 đàn, 3 lạnh, 3 nhạc, 2 nước v. v.... Ðặc biệt, khổ một (A) có tới 4 trăng, 1 nguyệt, 3 đàn, và trăng là nguyệt, nguyệt là đàn: cả ba đều có thể chung một nghĩa. Toàn bài gồm ít nhất 9 nhóm từ song song tương đồng ngữ nghĩa:


thủy tinh pha lê - trong
lặng - vắng -
buồn - hận - sầu
ghê - rợn
hỡi - ôi - trời ơi
tàn - chết - nhập - hồn
thương - nhớ
lung linh - long lanh
lệ - giọt - sương


- Về mặt nội dung, khổ một (A) song song với khổ ba (C): bầy ra sự đối diện (hay nội cảnh) giữa trăng và đàn. Khổ hai (B) song song với khổ bốn (D): dàn phần ngoại cảnh (thiên nhiên, trời đất), và tâm cảnh người nghe hoặc người ngắm nguyệt cầm.


Trước hết, nguyệt cầm là gì? Ngay tựa đề đã vô cùng hàm súc. Nguyệt Cầm. Nguyệt và cầm: hai yếu tố tương đồng ngữ nghĩa, trùng phùng hình ảnh. Từ vừa đơn, vừa ghép, tuy hai mà có thể trở thành một, hoặc biến hoá đến vô cùng: Trăng là nguyệt, là đàn (đàn hình tròn như trăng), mà còn có thể là người kỹ nữ, là thi sĩ, là anh, là em, là tôi, là ta, ....

Trên bình diện phân tích hình vị thì như thế. Nhưng nếu xét nguyệt cầm trên bình diện cấu trúc thi ca, sự đối xứng và tương đồng ngữ nghĩa giữa nguyệt và cầm có thể mở ra những giải thích sau đây:

1. Nếu nhìn nguyệt cầm như một cấu trúc tỉnh lược chủ từ và hư từ, thì Nguyệt cầm là đàn trăng: đàn trăng mở ra ít nhất ba bối cảnh:

- (đánh) đàn (dưới) trăng
- (nghe) đàn (dưới) trăng
- đàn (ngắm) trăng

Nguyệt cầm còn là trăng đàn: trăng đàn mở ra ba cảnh khác:

- trăng (đánh) đàn
- trăng (nghe) đàn
- trăng ( ngắm) đàn

2. Nếu nhìn nguyệt cầm dưới dạng cấu trúc ẩn dụ, thì Nguyệt có thể là em: Nguyệt cầm = em đàn. Nguyệt cũng có thể là anh, và đàn là em:

- Anh (nghe) đàn
- Anh (nghe) em (đàn)
- Anh (ngắm) đàn
- Anh (ngắm) em (đàn)

Tóm lại mười một bối cảnh trên đây có thể hàm ngụ trong hai chữ nguyệt cầm.

Bước vào bài thơ, câu đầu:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh


Hai chữ dây cung mập mờ ý nghĩa, làm môi giới cho tình và ý. Dây vừa là dây đàn mà cũng là dây tơ. Cung vừa là cung Hằng, vừa là cung tơ. Câu thơ đưa ra nhiều hình ảnh chập trùng: Trăng nhập vào trăng? Trăng nhập vào dây đàn? Trăng nhập vào cung tơ? Mà trăng là ai? Nếu trăng là anh: Anh nhập vào cung trăng? Anh nhập vào cung đàn? Hay anh nhập vào em? Nguyệt còn đồng âm với huyệt. "Trăng - nguyệt" -ẩn dụ cổ điển- nhờ sự táo bạo và mãnh lực của chữ nhập, vướng mắc vào dây, vương tơ (ngầm). Trăng đắm trong ẩm ướt của vùng nguyệt lạnh, gợi lên hình ảnh nồng nàn đầy nhục cảm mà cũng vô cùng dịu dàng, tế nhị, thanh khiết, mà cũng có thể là cõi chết, nơi hội ngộ của những âm hồn.

Chuyển sang câu hai:

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần


Tính cách đối xứng giữa trăng thương và thương trăng, trăng nhớ và nhớ trăng, tạo nên sức tương ái nhớ thương - thương nhớ giữa đôi bên. Sự kết hợp với chữ hỡi - là tiếng gọi xa, gọi mà không chắc người nghe có nghe tiếng mình không (Trời hỡi! làm sao cho khỏi đói. -Hàn Mạc Tử) - tạo nên khoảng cách muôn trùng giữa hai đối tượng: trăng và đàn.

Nếu "Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh" mở ra bối cảnh gần gụi da diết "Trăng nhập đàn" thì "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần" dẫn đến niềm nhớ thương đòi đoạn, và sự phân chia nghìn trùng xa cách giữa đôi bên. Vì thế hai câu thơ trên trở thành cặp phạm trù song song đối đẳng. Tiếp đến: "Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm" và "Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân" có sự chuyển đề: đàn đang từ vị trí khách thể ở hai câu thơ đầu:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần


bỗng chuyển sang vị trí chủ thể ở câu 3, câu 4:

Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân (1)


Nhận xét thứ nhì: Tuy "Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm" vẫn giữ nguyên cấu trúc hình thức như "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần", nhưng ở đây tĩnh từ buồn và lặng đã thay thế động từ, biến trạng thái tĩnh thành động, khiến cho mệnh đề đàn buồn trở nên đa nghĩa: tiếng đàn buồn? người đánh đàn buồn? hay đàn đang gẩy khúc nhạc buồn?... và đàn lặng cũng mang những ngụ ý: tiếng đàn lặng đi? người kỹ nữ ngưng đàn? hay khúc nhạc bỗng dưng im bặt? ... cho thấy cách tạo hình ở "Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm" khácvới cách tạo hình của "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần". Câu thơ kế tiếp "Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân" tiếp tục mô tả tiếng đàn và tâm cảm người gẩy đàn. Chữ tàn gieo vào giữa câu thơ như nỗi trớ trêu của định mệnh. Tàn: Tàn cung? Tàn canh? Tàn phai? mà cũng có thể là tàn nhẫn, rơi vào chính giữa câu thơ, chia loan, rẽ thúy, tạo nên những tác dụng:

- Phân chia câu thơ làm hai vế so sánh: Mỗi giọt rơi = như lệ ngân.
- Chia rẽ chủ ngữ "giọt lệ" ra làm hai nhân cách khác, hai hình ảnh khác: giọt rơi, lệ ngân.
- Hai hình ảnh này và dư âm này tác động một lần nữa xuống nỗi đau thương ly cách giữa trăng và đàn.
- Tàn còn có nghĩa tàn cung là bặt tiếng đàn, là tàn tạ như tiếng đàn rơi xuống, tan đi, vỡ ra ... như khối hận tình mang xuống tuyền đài chưa tan...
- Và tàn còn có thể là tàn phai, như nhan sắc người kỹ nữ trong khoảnh khắc tàn canh, rỏ mỗi tiếng đàn như ngân một giọt lệ.


Toàn bộ bốn câu thơ có cấu trúc song song, đối đẳng, nhà thơ tận dụng sự đối xứng giữa những cặp phạm trù (trăng - đèn), (gần - xa), (ngoại cảnh - tâm cảnh), dùng những ngụ ý, hàm ngôn tạo mối tương quan giữa những điều nói và những điều không nói, giữa thực và hư, giữa tĩnh và động, để mở ra đến vô cùng, sự gần gụi và xa cách giữa trăng và đàn.


Sang tiết đoạn B, tác giả đổi thay phong cách:


B

Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Ðã chết đêm rằm theo nước xanh.


B mang cấu trúc văn xuôi, với những mệnh đề tiếp cận có tính cách giải thích, bổ nghĩa cho nhau (vì... đã...). Sự bắc cầu trực tiếp bằng một mệnh đề xé hai (enjambement avec rejet mà Xuân Diệu (2) mượn trong thơ Pháp) liên kết chặt chẽ câu thơ trên với câu thơ dưới, kết hợp bốn câu thành một phát ngôn có trình tự nhất định:

"Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh lung linh bóng sáng bỗng rung mình vì nghe nương tử trong câu hát đã chết đêm rằm theo nước xanh"

Tuy nhiên, câu trên vẫn là thơ vì những mệnh đề tuy liên tục và có trình tự trong ý, nhưng thiếu chủ ngữ và vị ngữ nên không "thành văn": Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh là ba hình ảnh độc lập, dị biệt nhưng song song về nghĩa: Mây vắng = trời trong = đêm thủy tinh.

Nhịp cầu thứ nhất liên kết đêm thủy tinh với lung linh bóng sáng, bật ra hai khả năng diễn nghĩa:

- hoặc là có hai cảnh tượng song song: Ðêm thủy tinh lung linh và bóng sáng bỗng rung mình.
- hoặc là cả cái "đêm thủy tinh lung linh bóng sáng" đó bỗng rung mình.

Giải thích thứ hai này ngụ ngầm ý nghĩa: Mây vắng và trời trong cũng rung mình như đêm thủy tinh vì ba yếu tố trên cùng một chức năng ngữ nghĩa và cấu trúc trong câu.
Tại sao rung mình? Vì tất cả đều nghe nương tử trong câu hát. Ðến đây sự bắc cầu trở nên huyền nhiệm: Ðộng từ "đã chết" bơ vơ, buông lỏng, không có chủ ngữ. Ai đã chết? Nương tử đã chết? Câu hát đã chết? hay là tất cả những nhân vật: mây, trời, đêm thủy tinh, bóng sáng kia, vì nghe nương tử hát mà cùng tự tử trong đêm rằm dưới nước xanh, như huyền thoại Lý Bạch ôm trăng nhẩy xuống dòng Dương Tử?

Tiết đoạn B kết hợp hài hòa khái niệm thẩm mỹ giữa Ðông -Tây, trong cấu trúc hình thức và nội dung thi ca.


Tiết đoạn C trở lại cuộc tương kiến giữa Ðàn và Trăng:


C

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...


Âm hưởng và giai điệu trong tiết đoạn này ngẫu hứng từ tiếng đàn của người kỹ nữ trong Tỳ Bà Hành, nhất là "Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ..." và "Long lanh tiếng sỏi vang vang hận":

Nước tuôn róc rách, chẩy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt

Uyết tuyền lưu thủy hạ thán
Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt


và chính dư âm tiếng đàn đã làm cho thiên nhiên âm nhạc và con người tương tư nhau: Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người làm cho hiện tại luyến lưu dĩ vãng, làm cho sự cách biệt giữa không gian và thời gian, nghệ thuật và tình người ngắn lại, nhưng cũng lại trải ra biền biệt đến vô cùng, và mở đường cho bốn câu thơ cuối:


D

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.



Tiết đoạn D, song song với tiết đoạn B, trở lại quang cảnh vũ trụ và tâm cảnh người nghe đàn, ngắm trăng: Câu 1 mở ẩn dụ thành ấn tượng so sánh:

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,


Thi sĩ giao hòa âm nhạc với ánh trăng thành một biển sáng có âm thanh pha lê.

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.


Lần đầu tiên, nhân xưng tôi xuất hiện trong thơ. Sự hiện diện của thi sĩ, đơn côi tuyệt đỉnh. Ẩn dụ "chiếc đảo hồn tôi" và tâm cảm "rợn bốn bề" phù trợ nỗi hoang lạnh cho hai đoản ngữ "chiếc đảo" và "hồn tôi", kèm thêm bốn hình vị độc lập chiếc - đảo - hồn - rợn đều mang ẩn nghĩa đơn chiếc, hoang vắng, âm hồn, ghê rợn, ... nói lên sự lạc lõng gây gây của thi nhân trong cõi trần âm u hoang lạnh. Niềm tâm sự ấy đắm trong khung cảnh:

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở


Tình huống "Sương bạc làm thinh, khuya nín thở" trên đây nối tiếp với "Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề", như để giới thiệu thiên nhiên "Sương bạc" với không và thời gian "khuya", những nhân tố mới này cùng "làm thinh" và "nín thở" để:

[center]Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê



Thi sĩ đã đem nội tâm của con người hòa cùng âm nhạc, ném vào vũ trụ hành tinh. Còn lại một mình đối diện với cõi chết, âm u, hoang lạnh. Bềnh bồng ngoài thực tại, trong vị trí giao tiếp giữa không gian và vũ trụ. Lưỡng lự, nửa thăng thiên về một hành tinh lý tưởng, nửa hạ huyệt về cõi độc dược, Ác Hoa. Sự đối chất giữa Lý tưởng (Idéal) và Nỗi sầu (Spleen, Ennui) trong Baudelaire, không chỉ truyền sang Xuân Diệu, thấm vào Huy Cận, mà còn thông suốt cả một thế hệ thi nhân, biến thành nỗi sầu nhân thế, tận diệt thế nhân trong cảm giác nghẹt thở, bất lực, hoang mang, muôn đời buồn bã.



Chú thích


(1) Tỳ Bà Hành:

Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết

Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ
Biệt hữu u sầu ám hận sinh Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ
hử thời vô thanh thắng hữu thanh Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay

(2) Theo lời Xuân Diệu kể trong Confession d'un poète, thì Huy Cận là người đầu tiên sử dụng enjambement avec rejet:

Thức dậy nắng vàng ngang mái nhạt
Buồn gieo theo bóng lá đung đưa
Bên thềm - Ai nấn lòng tôi rộng
Cho trải mênh mông buồn xế trưa.

Thực ra, trong Kinh Thi, người xưa "tình cờ" cũng đã "bắc cầu":

Khiêu hề thoát hề
Tại thành khuyết hề.

dịch:

Em nhẹ nhàng nhẩy lên
Lầu trên thành.



và Thế Lữ là người đầu tiên sử dụng bắc cầu như một kỹ thuật du nhập từ phương Tây, trong thơ mới:

Trời cao xanh ngắt - ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai
Như khua động nỗi nhớ nhung thương tiếc
Trong lòng người đứng bên hồ.




.


thunder
#39 Posted : Friday, April 8, 2011 10:13:17 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099
Points: 12,494

Thanks: 1924 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)

Anh Đến Giữa Đời Em

Anh đến giữa đời em
Như cơn mưa rào đầu, bất chợt
Như là ngẫu nhiên, như là hẹn trước
Như bao nhiêu cái có thể trong đời

Khi nửa - đời - mình còn thiếu vắng trong tôi
Bao khao khát, bao kiếm tìm mải miết
Một trí tuệ thông minh, một trái tim cuồng nhiệt
Một mẫu hình lý tưởng khắt khe

Hồn lang thang phiêu lãng cuối trời xa
Mắt mơ màng những nên thơ, huyền thoại
Gửi khắp đó đây: một chút dỗi, một chút hờn,
một chút buồn, chút nhớ
Bóng hình ai trong ảo giác đơn cô

Anh đến giữa đời em, như trận gió
không ngờ
Làm đảo lộn những gì em vốn có
Bao triết lý thơ ngây nhuốm màu sách vở
Bao ước vọng cao xa em mê mải kiếm tìm

Nửa cuộc đời em đang ở trong anh
Khi em nhận ra mình, mọi triết lý bỗng trở thành xa lạ
Anh - một mình chan hòa trong tất cả
Nỗi buồn, niềm vui, khát vọng ước mơ

Với em, anh là cả nguồn thơ
Bình dị sáng trong giữa cuộc đời rất thực
Không ồn ào, chẳng nhiều thề ước
Anh đã là tất cả của yêu tin
Anh đã là cái - nửa - của riêng em!

Bùi Sim Sim
CỏThơm
#40 Posted : Sunday, April 10, 2011 6:20:01 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)


Cho Anh giữ lại một cành hoa tím
Để mang về pha mực viết tình thơ
Nhớ ngày xưa hoa tím rụng hững hờ
Nơi chốn cũ em còn gom thương nhớ



S/T net



Hạ Vi
#41 Posted : Sunday, April 10, 2011 8:08:18 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)

SAIGON RA ĐƯỜNG

DUYÊN ANH


Sàigòn ra đường không áo dài
Em sợ đang mùa gió chướng bay
Gió bay cuốn hút mùi hương cũ
Chỉ để riêng mình ta ngất ngây

Sàigòn ra đường không phấn son
Em sợ rừng sâu gỗ giận hờn
Chinh phu gió cát nghìn phương lạnh
Chinh phụ nào ham chuyện lược gương

Sàigòn ra đường không thích cười
Em sợ đèo cao lệ đá rơi
Nên đã mùa đông về tạm trú
Đã về sương tuyết phủ niềm vui


Sàigòn ra đường không líu lo
Em sợ âm vang động cõi hờ
Hãy nghe hơi thở còn xao xuyến
Trong đáy hồn nhau gọi ước mơ


Sàigòn ra đường không giống ai
Tóc mây lớp lớp khói u hoài
Mắt chim khuyên đã diều hâu hết
Cúi xuống nhìn lên vẫn ngậm ngùi .



Hạ Vi
#42 Posted : Monday, April 11, 2011 5:50:32 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)

Sàigòn Dĩ vãng




Sàigòn một thuở là Hòn ngọc Viễn đông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á, tới hôm nay, lại mang một cái tên khác lạ, chẳng đẹp đẽ chi, nếu không muốn nói là vô nghĩa. Bởi thế nên người ta vẫn gọi tên cũ chính danh là Sàigòn. Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Sàigòn trong trái tim người đang sống ở thành phố đó hay lưu lạc khắp năm châu thế giới.

Người Sàigòn không nhất thiết phải sinh ra tại đó, có bao nhiêu đời Ông Bà Cha mẹ từng lập nghiệp lâu năm bền vững. Một người, bất cứ ai, cũng có thể nhận chính mình là dân Sàigòn, dù chỉ ở đây một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Chỉ sống một ngày ở Sàigòn, nhưng yêu Sàigòn mãi mãi, và mang Sàigòn ở trong tim, như một phần của thân xác, linh hồn mình. Chỉ như vậy thôi, người ta có thể ngẩng cao đầu, tự hào vỗ ngực tuyên xưng, tôi chính là dân Sàgòn.

Tóm lại, Sàigòn là của tất cả mọi người suốt giải giang sơn, từ Bắc qua Trung tới Nam. Sàigòn như một hiền mẫu, dang vòng tay ôm thương yêu quảng đại tới con người tứ xứ, không phân biệt Bắc, Trung, Nam và ngay cả người ngoại quốc nữa

Một người Pháp sinh ra ở Paris, bỗng dưng một hôm tuyên bố, từ nay tôi không còn là một Parisien, cư dân ở Paris nữa. Tôi là người Sàigòn và sẽ ở lại đây cho tới cuối đời. Thế là dân Sàigòn bèn gọi chàng Tây là anh Hai, hoặc anh Tư gì đó. Tinh thần người Sàigòn là như vậy đó, thiệt là cởi mở và phóng khoáng.

Một nhạc sỹ sáng tác nhạc gửi: Sàigòn ơi! Ta hứa rằng ta sẽ trở về. Rồi chàng cũng đã trở về thật, sau hơn chục năm xa cách. Nhưng chàng khám phá ra mình thực sự mất Sàgòn trong thực tại. Thế nên, nếu có sự trở lại, thì chỉ còn một hành hương về Sàigòn trong quá khứ, với ngọc ngà dĩ vãng..

Hãy cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi. Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nữa thế kỷ trước. Sàigòn với các hộp đêm, sòng bài Đại Thế Giới, Chợ Lớn, một Las Vegas thu nhỏ. Tại đây có đủ loại sòng bài và cách chơi khác nhau, lại có chỗ giải trí như xe nhỏ chạy bằng điện húc nhau đùa rỡn, hiện nay Las Vegas vẫn còn trò chơi nầy. Khu văn nghệ khác như phòng trà vũ trường. Con đường Trần Hưng Đạo Galliéni, Đồng Khánh chạy dài từ Sàigòn tới Chợ Lớn dài vun vút dẫn khách tới sòng bài, lưu thông hàng ngàn chiếc xe hơi nối đuôi nhau, đèn pha sáng chói, chẳng khác gì đại lộ Champs Elyseé tại Paris.

Đường Richaud Phan Đình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nhân vật đã đi vào truyện Duyên Anh, qua bao chàng trai say đắm, tranh đua nàng, từ trí thức đến du đãng yên hùng. Cũng tại đường Phan Đình Phùng với quán phở Con Gà sống thiến cùng hai kiều nữ con chủ quán, nổi danh tài sắc. Yến Vỹ cùng chị , cả hai để mái tóc bồng rối như minh tinh Brigitte Bardot. Bao thực khách đến chẳng phải phở ngon, nhưng vì Yến Vỹ đẹp lại hát hay. Thì ra ngoài quán café, nhà hàng phở giai nhân cũng khiến một chàng Cử Văn Khoa phải vào nhà thương điên vì tình si. Phan Đình Phùng còn thêm café quán Luật Khoa và cơm gà Xing Xing, với những giai nhân lai Pháp, càng làm thêm Sàigòn có một chút Paris.


Sàigòn by night đã là những phòng trà ca nhạc và vũ trường khiến màn đêm Thành Đô trở nên lung linh ảo huyền, như một ngàn lẻ đêm huyền thoại. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây khởi đi cho nhiều danh ca sau nầy. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát tứ Anh Vũ, làm mê say bao tao nhân mặc khách. Người ta mê Thanh Thúy vì có lối trình diễn độc đáo bên giọng ca trầm buồn. Thanh Thúy vừa hát vừa đưa tay vuốt làn tóc buông rơi, sau đó gây chú ý là tự vuốt đôi chân ngọc tuổi dậy thì, có lúc nàng lại vuốt cây micro nữa, khiến các chàng trai sởn da gà vì sốt nóng lạnh. Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi. Thảm kịch cũng xảy ra cho phòng trà Kim Điệp Sàigòn, khi một chàng Tây lai bị giết, vì dám cặp kè với người đẹp Tuyết Không Quân. Tuyết là một giai nhân nổi tiếng sát phu qua hai đời chồng bị từ nạn trong chiến tranh. Phòng trà Kim Điệp sau vụ ấu đả vì ghen tuông, bị đóng cửa để trở thành Nhà sách.

Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành “Hầm Gió”, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Ca sỹ Thanh Lan thường có buổi trình diễn tại đây.


Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở Đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do.


Vũ trường, phòng trà Sàigòn còn ghi lại một thiên tình sử đẫm lệ, khi nữ ca sỹ Diệu Anh kiều diễm hát hay, đã tự tử vì … bị một nam ca sỹ bỏ rơi. Chàng trai bạc tình sau đó vì buồn và hối hận, đã bỏ hát vài năm. Đêm Sàigòn trà thất vũ trường còn ghi đậm cây si thường xuyên Mai Thảo và Hồng Dương, để viết thêm những tình sử lâm ly với hai nữ danh ca khác.


Đêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, vì lương tháng hai nữ danh ca nầy lên tới một triệu. Trong khi đó, lương một Đốc sự, Phó quận trưởng tới năm 1975 chỉ có 33 ngàn đồng một tháng.

Vũ trường thơ mộng nhất Sàigòn là Mỹ Phụng ngay tại bến Bạch Đằng. Thuở đó cuối thập niên 50 đầu 60, người ta thích đi Mỹ Phụng vì ban đêm có gió sông Sàigòn mát dịu lại thêm nữ danh ca Lệ Thanh. Nàng chuyên hát những tình khúc ướt át, trong điệu slow tắt đèn, mờ ảo như “Dang dở” “Nỗi Lòng”. Tiếng hát mê đắm Lệ Thanh đã thu hồn một Bác sỹ trở thành phu quân của nàng.

Đêm Sàigòn ngọc ngà dĩ vãng khiến người ta khó quên được vì những dạ vũ Bal Fami có khi kéo dài từ đêm suốt sáng. Ai có ngờ cô bé Mai đen 16 tuổi, thường đi với bé Phú, sau nầy lại trở thành ca sỹ Khánh Ly nổi danh cho tới nay. Phú mệnh danh là Phú chuột, trắng trẽo, mũm mĩm xinh như thỏ con, thường nhảy cùng Mai với đám bạn trai. Mai nhảy có khi bỏ cả giày cao gót giữa đêm vui đã gần rạng sáng.

Thuở ấy, người đi dạ vũ phải trầm trồ khen ngợi tài nhảy của Tony Khánh, thường nhảy cặp với vợ. Mỗi lần Khánh cùng phu nhân ra sàn nhảy, mọi người đều ngừng khiêu vũ để thưởng thức tài nghệ bậc sư biểu diễn. Sau đó là pháo tay nổ ròn như ngày Tết.


Hòn ngọc Viễn Đông Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đổi tên và Sàigòn ngọc nát châu chìm. Những cột đèn tuy không biết đi, nhưng đã chắp cánh bay xa, thành bao nhiêu Little Sàigòn rãi rác khắp hải ngoại. Và dân Sàigòn năm xưa, những chàng trai hào hoa phong nhã, bao giai nhân ca sỹ lừng danh, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già. Bởi vậy nói như Thi sỹ Thanh Tâm Tuyền ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ. Hỡi những Đêm Mầu Hồng, Queen Bee, Arc En Ciel, Mỹ Phụng, Tự Do… Những đêm vui thắp sáng kỷ niệm, những ngày xuân mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Thủ Đô Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi. Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau, khi hết Cộng sản.

Sàigòn đã ra đi và Sàigòn tung cánh chim viễn xứ, quy tụ quây quần tại Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Đức v.v… Ba triệu người Việt lưu vong là ba triệu trái tim nồng nàn vẫn yêu thương Việt Nam và thắp sáng mãi Sàigòn hòn ngọc viễn đông nay thắp sáng ở xứ người. Sàigòn đã ra đi và tương lai sẽ có lúc, Sàigòn trở lại, như một Châu về Hiệp phố. Sài gòn khi ấy sẽ rực sáng tin yêu của Tự Do, Dân Chủ và Phú Cường.



Tâm Triều


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 4/20/2011(UTC)
Users browsing this topic
Guest
106 Pages<1234>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.