Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<103104105106>
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
Hạ Vi
#2159 Posted : Saturday, June 4, 2016 9:32:32 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,342
Points: 16,912
Location: CỏThơm

Thanks: 4137 times
Was thanked: 10016 time(s) in 2482 post(s)
.




Sài Gòn chuyện đời của phố: Tủ sách Tuổi Hoa


Hoa Đỏ, Hoa Tím, Hoa Xanh, những từ giản dị, không phải nói về những loại hoa nào đó mà là về một tủ sách, khi vang lên luôn nhắc nhớ về kỷ niệm hồi mới lớn của cả một thế hệ sống ở miền Nam trước 1975.

Lớp độc giả miền Nam yêu thích tủ sách này, nay đã bước sang tuổi 50, 60 vẫn còn nhớ những cái tựa gợi cảm, mang đầy âm hưởng gây háo hức. Đó là Mật lệnh U đỏ, Chiếc lá thuộc bài, Khúc Nam Ai, Thiên Hương, Lữ quán giết người... và tên những tác giả Hoàng Đăng Cấp, Minh Quân, Bích Thủy, Kim Hài, Thùy An, Nguyễn Thái Hải... Khi tình cờ thấy lại được một cuốn sách cũ của tủ sách này, tất cả kỷ niệm đẹp đẽ như ùa về, cái thuở trong sáng đầy mơ ước hướng thiện.

Nhà xuất bản Tuổi Hoa với tủ sách Tuổi Hoa, chủ biên là ông Nguyễn Trường Sơn khai sinh, nuôi dưỡng và phát triển tủ sách này. Bước ban đầu, tủ sách này in vài quyển, “hình thức cố cho sạch sẽ, nội dung là để giải trí lành mạnh, các em tuổi 14 đến 16” (trả lời phỏng vấn của báo Bách Khoa).

Lúc đầu là sách của nhà văn Nguyễn Trường Sơn, cuốn Con tàu bí mật và sách của vài người bạn thân. Sau khi in được tám quyển đầu, tủ sách nhận được nhiều thư của các bậc phụ huynh khích lệ và được các độc giả nhỏ tuổi rất thích. Đến năm 1962, bán nguyệt san Tuổi Hoa được phép phát hành và sau đó Tủ sách Tuổi Hoa ra đời.

Tuy nhiên, lúc đầu tủ sách chỉ đủ sức cho ra rải rác một số quyển. Theo nhà văn Nguyễn Trường Sơn trả lời trên báo Bách Khoa, đến năm 1966 - 1967, được sự hỗ trợ và khuyến khích của nhà văn Minh Quân, tủ sách ra sách đều đặn hơn, trung bình mỗi tháng một cuốn. Lúc đầu, mỗi cuốn in 3.000 bản bán không hết, sau in tới 5.000 bản/cuốn và bán ngon lành. Giá bán từ 30 đồng, cao nhất là 60 đồng. Nhiều người lấy làm lạ vì số trang nhiều, in đẹp, bìa offsette tươi rói mà sao bán giá rẻ vậy. Tuy vậy, người hưởng lợi nhiều nhất là nhà phát hành hưởng chiết khấu tới 45%, không khác chi hiện nay.





Sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Hoa Đỏ là loại sách trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím đã xuất hiện tình cảm giữa nam nữ một cách trong sáng dành cho tuổi từ 16 đến 18. Biểu trưng của tủ sách là bông hoa tám cánh do họa sĩ Vi Vi vẽ. Nhà văn Nguyễn Trường Sơn tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, nên rất chú ý đến tính mỹ thuật của các ấn bản. Với “bút lực” của họa sĩ Vi Vi ngày càng phát triển, bìa các cuốn sách Tuổi Hoa ngày càng đẹp rực rỡ. Về nội dung, có sự hỗ trợ rất lớn của nhà văn Minh Quân từ việc quan trọng nhất là khai thác bản thảo, như giới thiệu nhà văn Nguyễn Hiến Lê viết cho tủ sách này (cuốn Bí mật dầu lửa) và mời một nhà phê bình kiếm hiệp viết truyện kiếm hiệp để “đả” loại kiếm hiệp hoang đường đang hoành hành lúc đó.

Lúc đầu, Tủ sách Tuổi Hoa có một số cuốn được viết theo dạng “phóng tác”, tức là dựa vào một cuốn tiểu thuyết nước ngoài và Việt hóa từ nhân vật cho đến bối cảnh trong truyện (Phải chăng đó là cách thức để hình thành những bản thảo khi đội ngũ viết cho tủ sách ban đầu hầu như không phải là nhà văn chuyên nghiệp?). Ví dụ như truyện Thiên Hương phỏng theo truyện Tombée du Ciel của Henry Winterfell, truyện Pho tượng rồng vàng phóng tác theo một truyện trinh thám của nước ngoài.





Nhà văn Kim Hài và nhà văn Thùy An (học chung một lớp tại Trường trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, sau đó cùng Khoa Địa chất, Đại học Khoa học Huế) cùng bắt đầu cộng tác với Tuổi Hoa cũng từ khâu “phóng tác” một tác phẩm của nước ngoài. Cuốn sách đầu tiên của hai chị ra đời mang tên Nắng lụa, ký tên Dạ Thanh, với bối cảnh xảy ra ở Huế. Nhuận bút cuốn đó trị giá ngang một lượng vàng. Sau đó, chị Kim Hài tiếp tục viết cuốn Khúc Nam Ai, lấy cảm hứng sau khi đọc một cuốn truyện dịch của chủ bút Nguyễn Trường Sơn đưa xem. Đó là lúc chị bắt đầu muốn viết những điều mình ấp ủ và trải nghiệm. Từ đó, ông Nguyễn Trường Sơn không đưa cho chị phóng tác bất cứ truyện dịch nào nữa mà chỉ nói “Kim Hài viết đi!”.

Nhà văn Thùy An trong năm 1970 viết cuốn truyện đầu tay là Vùng biển lặng (Tủ sách Hoa Xanh) và Hoa bâng khuâng (Hoa Tím). Từ đó, chị viết tất cả 9 cuốn sách cho tủ sách này cho đến năm 1975 như: Mây trên đỉnh núi, Hoa nắng (Hoa Xanh), Hoa bâng khuâng, Con đường lá me, Chân dung hạnh phúc, Như nắng xuân phai, Vườn cau nước dâng, Tiếng dương cầm. Nhà văn Kim Hài viết tổng cộng 7 cuốn cho tủ sách này, từ cuốn Khúc Nam Ai (1971), sau đó là Người dưng khác họ (Hoa Xanh), Cánh gió, Gợn sóng (Hoa Tím)...

Khoảng đầu thập niên 1970, nhờ các tác giả trẻ xuất hiện trong tủ sách và có sự đóng góp của một số nhà văn nổi tiếng, uy tín tủ sách ngày càng vững vàng. Tủ sách như một sân chơi tâm huyết cho những nhà văn, nhà giáo muốn dẫn dắt lứa độc giả nhỏ tuổi bước vào cuộc sống với lòng yêu thương dành cho cuộc sống, người thân, bạn bè và lớn hơn cả là tình yêu quê hương đang trong khói lửa chiến tranh.

Mùa hè 2015, nhà văn Nguyễn Trường Sơn, người anh cả sáng lập, điều hành và cũng là tác giả Tủ sách Tuổi Hoa đã từ trần tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 98 tuổi.




Tác giả Thùy An năm 17 tuổi (trái) và nhà văn Nguyễn Trường Sơn - Ảnh: T.L



Phạm Công Luận
(trích Sài Gòn, chuyện đời của phố tập 3)






1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
Hạ Vi
#2160 Posted : Saturday, June 4, 2016 9:40:17 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,342
Points: 16,912
Location: CỏThơm

Thanks: 4137 times
Was thanked: 10016 time(s) in 2482 post(s)


Mời đọc thêm và xem một số bìa xưa Tủ sách Tuổi Hoa:

http://www.rfviet.com/fo...1-B%C3%ACa-X%C6%B0a-%28













1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
Duy An
#2161 Posted : Sunday, June 19, 2016 4:08:40 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Những người có công với sách cũ Miền Nam


Chỉ tồn tại 20 năm, chế độ Miền Nam đã xây dựng được cả một nền văn học sáng giá. Cho đến ngày nay, 41 năm sau 30 tháng 4, nền văn học đó vẫn tồn tại đây đó cho dù Cộng Sản phát động cả một chiến dịch đốt sách quy mô, kéo dài nhiều năm. Tất nhiên nói tới một nền văn học ta không thể nào quên công những người đã xây dựng nên nó, trong đó có các nhà xuất bản. Sau đây chúng tôi xin trích đăng gởi đến quý vị và các bạn bài của Nguyễn Văn Lục.

NGUYỄN & BẠN HỮU


Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là do công sức của các nhà văn, nhà phê bình, giáo sư đến các học giả. Điều hiển nhiên là thế. Nhưng sức bật, sự tác động để phổ biến những văn hoá phẩm ấy là nhờ vào một số lớn nhà xuất bản có công với Văn Học. Họ là những nhà xuất bản như Trình Bày, Nam Sơn, Nguyễn Đình Vượng, Văn Hoá Á Châu, Diên Hồng, Xưa Nay, Khai Trí, Lá Bối, An Tiêm. Những nhà xuất bản này đã đóng góp vào việc xuất bản 200 triệu cuốn sách trong 20 năm. Con số thật không nhỏ.

Ông Khai Trí : Chẳng mấy ai biết tên thật của ông, thành ra thương hiệu nhà sách Khai Trí, 62 Lê Lợi được đồng hoá vào tên ông. Thật ra tên ông là Nguyễn Hùng Trương, với hai tay trắng làm nên sự nghiệp. Ông vừa là một doanh gia, vừa là người làm văn hóa. Ông biên soạn khoảng 15 cuốn sách như Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc, Chánh tả cho người miền Nam… và chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cùng với Nhật Tiến.




Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương


Sau 30 tháng 4. 1975, nhà sách Khai Trí là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá. Sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường. Tôi đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực, bất lực của một người tự xếp hàng vào người thua cuộc. Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu. Đứng ở đâu thì cũng cùng tâm cảnh đau xót đó thôi. Khi đã chứng kiến cảnh này rồi thì đừng bảo tôi có thể nghĩ hay cho những người mới đến. Họ không hiểu được điều đó vì quá hăng say trong men chiến thắng hay họ chưa bao giờ biết nghĩ tới người dân muốn gì, nghĩ gì. Tiếp theo đó là hai kho sách lớn cũng bị trưng thâu. Hằng vài trăm ngàn cuốn sách ra khỏi kho, rồi biến mất dạng.

Ông trắng tay sau bao nhiêu năm tốn công gây dựng.

Sau này, ông ở Mỹ về VN một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước. Ông đã mang về 2,000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá. Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75. Theo Nguyễn Thụy Long, phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng. Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả. Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội: Tội đã in trước 1975.

Trước 75 là xấu, vi phạm luật. Sau 75 là tốt.

Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu.

Trước khi ông mất, người ta đã không quên đặt tên ông cho một con phố nhỏ. Đúng như ông thày TQ nhận xét: Hôm qua nó giết mình, hôm sau nó mang vòng hoa đến phúng điếu.

Nhà Lá Bối
: nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ Mẫn, tên thật là Võ Thắng Tiết trông nom. Sau ông hoàn tục. Ông là người có lòng, để việc phụng sự văn học nghệ thuật lên trên tiền bạc. Từ Mẫn đã giúp các nhà văn có nơi xuất bản những đầu sách có giá trị và người đọc có cơ hội đọc những cuốn sách trang nhã, chăm sóc từng chút trong việc trình bày ấn loát và cả đến nội dung sách. Tất cả sách của Nhất Hạnh đều từ đây mà ra. Nếu không có Lá Bối, những Chiến tranh và Hòa Bình, Chiến Quốc Sách, Sử Ký Tư Mã Thiên, Kiếp Người của Sommerset Maugham, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay và Lối thoát cuối cùng của V. Georghiu sẽ nằm ở đâu? Nếu không có Lá Bối, nhiều sách chắc gì đã có cơ hội ra mắt bạn đọc. Nhất là bộ Chiến tranh và Hòa Bình của Léon Tolstoi. Sách in tốn vài ba triệu thời bấy giờ, bao giờ lấy lại vốn. Sau này, ở Hải ngoại, ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà xuất bản Văn Nghệ. Nếu cần một vinh danh gì cho 20 năm Văn học dịch nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên nhắc đến Võ Thắng Tiết không? Kẻ lót đường cho Văn học miền Nam

An Tiêm Thanh Tuệ.


Tôi chỉ xin trích dẫn ba bài viết lúc mà Thanh Tuệ nằm xuống để thấy được rằng nhà xuất bản An Tiêm với Thanh Tuệ có lòng với văn chương như thế nào.




An Tiêm Thanh Tuệ


– Thái Kim Lan về Thanh Tuệ:

Hình như dưới tay anh tác phẩm được in nào cũng mang một chút lòng trân trọng của anh như thế đối với tác giả và độc giả, một nét cười bao dung mời gọi, vừa cảm khái liên tài vừa khuyến khích thúc gjục, một nhịp nối uyển chuyển tài hoa giữa giãi bày tâm sự và tìm kiếm tri âm trong chữ nghĩa và tri thức, giữa người và người…

An Tiêm đã khai phá, mở cửa khu vườn văn học của các nghệ sĩ trẻ miền Nam trong khung cảnh sôi động của thập niên 60…

– Tiếc Văn Chương, thương chữ nghĩa, Trần Thị Lai Hồng.

Biết là vô thường, nhưng vẫn không khỏi tiếc thương. Tôi tiếc thương người An Tiêm Thanh Tuệ hiền hòa đã đành, mà nỗi tiếc thương Văn Chương chữ nghĩa còn trĩu quá nặng.

Thôi từ nay, còn ai khổ công lặn lội tìm tòi đãi lọc để phổ biến văn chương như đã từng với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn. Thôi từ nay còn ai trân quý nâng niu bảo trọng chữ nghĩa như đã từng với Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Mười Hai con Mắt.. Đêm Nguyệt Động, Cái Chuồng Khỉ và còn nhiều, rất nhiều công lao với văn học đã, đang và chưa thực hiện được.

– Với nhà văn Lê Thị Huệ:

Rồi bỗng nhiên nghe tin Ông chết. Đặng Ngọc Loan hôm trước rủ đi uống càphê với Ông một lần, gọi điện thoại nói với tôi: Tin gì kỳ cục. Sao người vậy mà chết nghe kỳ cục quá.




Một vài tác phẩm trước 1975


Nguyễn Văn Lục

Nguồn: Chữ Nghĩa Làng Văn. Phí Ngọc Hùng
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
Duy An
#2162 Posted : Sunday, June 26, 2016 4:30:23 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Xích lô một thủa



Trang Nguyên

Tình cờ tôi nghe giai điệu trẻ trung trong bài hát “Xích lô” của nhạc sĩ Võ Thiện Thanh: “Xích lô ai không hay ước mơ / cứ vui đùa nhé cứ mơ lặng lẽ cứ lom khom đi về… La la lá la…” Lời bài hát làm tôi nhớ đến một bài báo của ký giả Charles Sidilaire đăng trên tạp chí Đông Dương số tháng 4/1952 về nghề phu xích lô từ xa xưa. Tác giả ghi nhận rằng, dường như người phu xích lô không có một ước mơ lớn trong cuộc đời, chỉ mong kiếm sống hằng ngày với đôi chân gồng cơ bắp trên đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn.




Xích lô trên đường phố Sài Gòn năm 1961 – Nguồn: LIFE


Ðối với nhiều người trong đó có tôi, xích lô là phương tiện di chuyển quen thuộc. Vào những năm sáu mươi, nhiều tỉnh thành đã xuất hiện loại xe thô sơ này nhưng Sài Gòn vẫn là nơi để lại nhiều ấn tượng. Bởi Sài Gòn-Chợ Lớn trở thành nơi đầu tiên du nhập phương tiện xích lô thay cho hình ảnh người phu kéo xe lam lũ trước đó nhiều chục năm bằng một hình thức ít nhọc nhằn hơn. Theo bài báo “A look at the Pedi-Cab (Cyclo-Pousse) – King of Saigon streets”, Charles Sidilaire cho biết, Cyclo hay đơn giản là “Clo” là tiếng gọi phu xe quen thuộc của người Sài Gòn thuở xưa cách nay gần tám mươi năm.




Xích lô đầu năm 1940 có hình dáng thấp và đường nét khác xe xích lô sau này -Nguồn: Southeast Asian Indochina


Ðó là thời chiến tranh Ðông Dương, sau khi Nhật rút quân về nước và quân đội Anh nhảy vào giúp người Pháp trở lại Việt Nam, cho đến năm 1952 thì dân số Sài Gòn-Chợ Lớn tăng vọt do tác động cuộc di dân từ nông thôn lên thành thị, lên đến một triệu bảy trăm ngàn người. Chính giai đoạn này là thời kỳ vàng son của nghề phu xe xích lô đạp. Và tiếp đến xích lô máy cũng bắt đầu xuất hiện khi dân số đô thành tiếp tục trên đà gia tăng trong cuộc di cư sau năm 1954 của hàng trăm ngàn người từ Bắc vào Nam.

Nhưng hãy từ từ chuyện xích lô máy để tôi tiếp tục chuyện xích lô đạp theo dòng sự kiện, mặc dầu xích lô gắn máy xuất hiện chỉ sau khi xích lô đạp chạy đầy Sài Gòn-Chợ Lớn chừng mười năm, tức là đầu thập niên bốn mươi. Thời gian trước đó, người Hà Thành và Sài Thành vẫn sử dụng xe kéo tay, khiến hai nhà văn Nguyễn Công Hoan viết cuốn “Ngựa người người ngựa” và Tam Lang Vũ Ðình Chí viết thiên phóng sự “Tôi kéo xe” để nói lên sự cùng cực của dân đen kiếm sống dưới thời thuộc địa.




Xích lô máy đầu thập niên 50 có vè hai bên nhỏ – Nguồn: Southeast Asian Indochina


Xích lô đạp thay thế xe kéo, thịnh hành và phát triển mạnh nhất ở Sài Gòn. Ðầu thập niên năm mươi, đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn có chừng 6,500 chiếc xích lô. Thời đó, phu xích lô phải có giấy phép lái xe do Sở cảnh sát cấp mới được phép hoạt động. Nhưng thực tế không phải ai cũng đi xin giấy phép trong khi số phu xe xích lô lên đến gần mười hai ngàn người. Một số người phải thuê xe xích lô đạp kiếm sống vì nghề này cực nhọc nhưng mỗi ngày trừ chi phí thuê xe chừng 20 đồng Ðông Dương ra thì có thể kiếm 30 – 40 đồng để nuôi sống được gia đình. Do đó, ở Sài Gòn-Chợ Lớn xuất hiện nhiều nhà giàu đầu tư cho phu thuê xe hai ca sáng chiều. Tuy vậy, theo ký giả Charles Sidilaire thì hầu hết giới phu xe vẫn nghèo và là giai cấp thấp trong xã hội. Không ít phu xe kiếm được đồng nào thì đem đi cờ bạc tại Ðại Thế Giới và sòng bạc Kim Chung để tìm vận may đổi đời.

Nhà cho thuê xe phải là người khá giả, giàu có. Có nhà đầu tư vài chiếc, hay quy mô hơn vài chục chiếc, vài trăm chiếc, kiếm vài trăm đến vài ngàn đồng bạc Ðông Dương bỏ túi mỗi ngày là chuyện dễ dàng. Vào thời Bảy Viễn làm thủ lĩnh Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn, ngoài việc thầu sòng bạc Ðại Thế Giới, ông còn làm chủ chừng 30 chiếc xích lô cho thuê. Ðến năm 1955, ông bị Thủ tướng Ngô Ðình Diệm dẹp tan vì chống đối chính phủ và sau đó lưu vong sang Pháp.




Hình ảnh xe Triporteur hiệu Peugeot năm 1950 tại Pháp trước khi chế tác lại làm xe xích lô máy Nguồn: hinhanhvietnam.com


Việc ký giả Charles Sidilaire nhắc đến ông trùm sòng bạc Bảy Viễn, là một nhà đầu tư cho thuê xe xích lô với số đầu xe ít ỏi cũng chỉ để thấy làm nghề cho thuê xe là công việc tay trái kiếm tiền một cách dễ dàng của người Sài Gòn giàu có. Mặt khác đó là cách viết đẩy đưa dẫn dắt trước đó gần mười năm, một nhà đầu tư công nghiệp người Pháp tên Pierre Coupeaus, người đầu tiên thành lập hãng Pedi-Cab ở Phnom-Penh vào cuối thập niên 30 và khoảng cuối thập niên 40, ông thành lập hãng Pedi-Cab ở số 6 đường Marne Wharf (Bến Vân Ðồn ngày nay). Chính tại đây, làm ra những chiếc xe xích lô đạp với phụ tùng sên líp nhập từ Pháp quốc; và đầu thập niên 50, nơi đây cũng là đầu mối nhập cảng cả ngàn chiếc xích lô máy cùng với xe taxi Renault chạy khắp Sài Gòn-Chợ Lớn. Theo bài báo, thời điểm 1952, Sài Gòn có đến 1,800 chiếc xích lô máy. Một cạnh tranh thương trường trong ngành giao thông bùng phát vì chiếc xe không còn dùng sức cơ bắp đôi chân, lại chạy nhanh, giá cả bình dân so với xe taxi chỉ dành cho giới thượng lưu đương thời.

Nói về chuyện cạnh tranh giữa xích lô đạp và xích lô máy, thằng bạn thân của tôi rất rành. Ba của hắn chạy xích lô máy vào thuở chúng tôi còn chưa ra đời. Vào những năm cuối thập niên 50, giá một chiếc xe xích lô máy khoảng tám cây vàng. Một số tiền không nhỏ nhưng một cuốc xe xích lô máy từ Sài Gòn vô Chợ Lớn chỉ mắc gấp đôi xích lô đạp. Vừa nhanh, chở nhiều khách, có khi cả gia đình bốn năm người chất lên xích lô máy đi Lăng Ông Bà Chiểu thì còn gì tiện lợi hơn. Vì thế, khách đi xích lô máy rất nhiều, có khi khách kêu không kịp ăn uống.




Xích lô máy giữa năm 1955 có vè to bản hơn chạy trên đường Trần Hưng Đạo có xe điện Sài Gòn-Chợ Lớn – Nguồn: Southeast Asian Indochina


Bạn kể, nghe đâu xích lô máy của Ba bạn là loại xe được chế tác lại từ kiểu xe nguyên thủy mới nhất của xe Triporteur Peugeot hai thì chạy bằng xăng pha nhớt, sản xuất tại Pháp. Loại xe này nguyên là xe chở hàng hóa nông sản từ các vùng nông thôn đến các chợ hoặc siêu thị bên Pháp. Hình dáng của nó gần giống xe ba gác máy chở hàng. Dàn phía sau là của xe Triporteur, còn dàn phía trước rập khuôn xích lô đạp nên gọi là xích lô máy. Công việc chạy xích lô máy khấm khá, cho đến khi ông gom góp đủ tiền mua chiếc taxi chở khách nước ngoài ở khu vực gần phi trường Tân Sơn Nhất vào giữa thập niên sáu mươi. Và chính trong thời gian này, xe Lam (Lambro) du nhập vào Sài Gòn, một cuộc cạnh tranh khác mà chủ yếu với loại xe xích lô máy. Xe Lam chở nhiều khách, rẻ tiền và nhiều hàng hóa trên mui khiến cho nghề xích lô máy dần sa sút và biến mất sau năm 1975 do khan hiếm xăng dầu.

Tôi nhớ vào năm 1979, sau khi hồi phục từ ca mổ ruột thừa tại bệnh viện Nguyễn Trải, tôi đã đón xích lô máy về nhà. Xích lô máy lúc ấy không còn nhiều như thời trước và mãi cho đến năm 1985 mới có lệnh cấm xích lô máy hoạt động, khiến một số chủ bán xe, số khác chế tạo lại thành xe ba gác máy chở hàng ở các chợ đầu mối vùng ngoại thành rồi tuyệt tích “giang hồ” từ đó.




Phương tiện vận chuyển xe lam xuất hiện giữa thập niên 1960 làm cuộc cạnh tranh xe xích lô máy tàn lụi – Nguồn: hinhảnhvietnam.com


Thế nhưng, tôi vẫn nghe nhiều người nhớ tiếc xích lô máy hơn xích lô đạp, và xích lô đạp đang biến mất dần với những lệnh cấm hoạt động trên nhiều tuyến đường trong nội thành. Nghe nói, hiện nay còn chưa tới ba trăm chiếc xích lô, mà đa phần phu xe là người từ các vùng quê khác vào Sài Gòn mưu sinh, đạp xe ở các khu vực ngoại thành.

2 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 6/27/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
Hạ Vi
#2163 Posted : Monday, June 27, 2016 2:39:01 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,342
Points: 16,912
Location: CỏThơm

Thanks: 4137 times
Was thanked: 10016 time(s) in 2482 post(s)
l





Gửi Em
_______________________________________________________________________________________


Cho tôi gửi vào hồn em chút nắng
Để môi em cười đầm ấm thương yêu
Đàlạt mây bay sương xuống rất nhiều
Em không thấy cả một chiều nắng đổ

Cho tôi gửi vào tay em trang vở
Mà ngại ngùng tôi viết từ hôm qua
Buổi sáng mùa thu em thoáng trước nhà
Tôi ngơ ngác thấy tim tôi xao xuyến

Cho tôi gửi vào lòng em câu chuyện
Tan học về có ai đứng chờ em
Bối rối nhiều khi nhìn thấy chân chim
Lời muốn ngỏ mà… lặng im… thèn thẹn

Cho tôi gửi chút thương yêu len lén
Rất dịu dàng thả nhẹ xuống hồn em
Để nắng vàng, em bước, nắng vàng thêm
Trên lối ấy đá chợt mềm bỡ ngỡ

Cho tôi gửi đóa hồng trong tim nở
Hé nụ cười mà tôi ngỡ chiêm bao
Em thoáng qua trong một sáng thu nào
Em không biết em đi vào nhung nhớ…



(Tuổi Ngọc số 11 ngày 5-8-1971)

Trầm Du






1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
Duy An
#2164 Posted : Friday, July 1, 2016 4:09:24 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Mùi hương xoài


Tim Nguyễn


Tháng 6 là mùa xoài ở Sài Gòn. Nhớ năm nào bạn cho biết: Nhiều nhất là xoài cát Hòa Lộc. Bán theo ký thay vì theo chục 12 trái, 14 trái như hồi xưa. Xoài cát Hòa Lộc trung bình từ 15.000 đồng- 20.000 đồng/ký. Xoài bán trong các sạp trái cây, dọc theo đường phố, trên những chiếc xe đẩy. Những trái xoài vàng lườm, cầm lên thấy mát tay, áp vào má càng dễ chịu, đưa lên mũi hít -ôi chao, mùi thơm nhẹ thoảng nhưng ngất ngây…

Cũng bạn viết từ Sài Gòn: Mới mua mấy trái xoài về cúng Phật, không biết làm sao gửi cho người ở xa…

Nguyễn cũng là người mê xoài. Hắn cảm nhận được mùi hương của loài trái cây nhiệt đới này từ hồi còn bé như con cún. Thuở ấy, nhà Nguyễn ở tận bên xứ Lào, một thị trấn nhỏ cạnh con sông rừng nước chảy xiết. Ở đó, Nguyễn không học hành gì bao nhiêu, suốt ngày rong chơi với cái đầu húi cua.

Lội sông, trèo me, hái khế, bắt ve, chơi bông vụ, lang thang hết vườn này qua vườn nọ. Có khi vào cả vườn chùa. Mùa hoa xoài rụng thơm ngát tuổi thơ. Cho tới bây giờ Nguyễn còn hình dung ra mặt đất đầy bông xoài lấm tấm vàng lẫn với nước đái ve, mùi hương ngái nồng say lan khắp khu vườn.

Mùa xoài chín là mê ly nhất. Những trái xoài vàng ửng trên cây, đong đưa đong đưa dưới cái cuống màu xanh mỏng manh, gặp cơn gió lớn rụng xuống mặt đất. Nguyễn và lũ bạn cứ thế lượm và cạp, ngon ơi là ngon, ngọt sao là ngọt.




nguồn hoinongdan.cantho.gov.vn


Có đêm, nằm trong nhà nghe tiếng xoài rụng đánh rầm một cái trên mái tôn, vội vàng lao ra nhặt, đem vào để ở đầu giường. Trong giấc ngủ thoảng mùi hương xoài. Những hôm trời không gió, đứng dưới gốc nhìn lên những trái xoài đong đưa mà phát thèm. Cây xoài lớn và cao, Nguyễn không trèo nổi. Mấy thằng bạn tài lanh mách nước: lấy dao đục một lỗ vào thân cây xoài rồi nhét vào một bụm muối. Xong, cứ đứng dưới gốc huýt sáo, một lát gió nổi lên, xoài rụng ăn không hết. Mà quả thật có lúc gió nổi lên thật, nhưng thường thì huýt sáo đến chu mỏ, mỏi miệng mà trời vẫn lặng im.

Những ngày thơ ấu dại khờ rồi trôi qua. Ở Huế ít thấy có cây xoài. Phải đến khi vào tới xứ xoài Bồng Sơn và Sài Gòn thì mới được ăn xoài đã chỉ. Thích nhất là xoài Cát, xoài Thanh Ca. Thơm, ngọt và thanh. Kẻ này nghe hiền nội kể những năm sau 75 -khi Nguyễn còn ở trong những trại tù miền Bắc- nàng thỉnh thoảng dẫn hai chú bé về quê bạn ở Cao Lãnh ăn xoài thôi ngon hết biết. Ở Sài Gòn được ăn xoài nhưng ít được hít thở mùi hương hoa xoài rụng. Chỉ đôi khi đạp xe về Gò Vấp vào tận Cầu Hang thăm bạn thơ TTY hay đi thăm chùa Già Lam thì mới được gặp lại “mùi hương buổi ấu thời”. Mùi hương xoài ấy mê ly lắm chứ. Thế nhưng ít thấy nhà thơ nhà văn Việt Nam nào nói tới mùa xoài và những kỷ niệm đã có dưới gốc cây xoài. Chỉ có trong thơ Tagore là hầu như lúc nào cũng có bóng những vườn xoài tỏa xuống với mùi hương thoang thoảng. Ôi, sở dĩ Nguyễn tôi hôm nay say sưa nói về mùi hương xoài là vì vừa mới đọc được một đoạn văn của Nguyệt Hạ trên báo của Mặc Bích viết về mùa xoài ở Sài Gòn. Xin trích một đoạn gởi đến các bạn nhé:

“Ði chơi vườn Miền Tây mùa hè chỉ xoài là nhiều. Bảo đảm ngọt đủ cỡ: ngọt đậm thì xoài Cát chu, ngọt hơi chua là cát Hòa Lộc (còn gọi là cát trắng), ngọt sắc mà thơm tới bến là cát đen. Cát chu hơi nhỏ trái dù hột lép, hai má no tròn. Cát trắng và cát đen thì gần cả ký một trái. Thèm mấy cũng chơi một trái là buông… dao. No ứ hự. Xoài gòn, xoài cóc, xoài nghệ, xoài thơm… không bõ dính răng, kẹt lắm mới “gì” một vài trái.

“Không đi Miền Tây, ngồi nhà Sài Gòn mà muốn ăn xoài cũng không khó. Tháng Tư, Tháng Năm, xoài về Sài Gòn nhiều hơn rau cỏ. Người ta đổ đống, cân ký thay vì bán chục như xưa. Trái xoài không bị giú khí đá. Vỏ hườm hườm. Cứ mua về, hai hôm đã ăn được. Vợ chồng con cái cơm nước xong, mỗi người một con dao nhỏ, lôi xoài ra hành quyết riêng.

Nhìn người ăn xoài cũng biết được tính cách đấy. Tao chỉ mày (thư này Nguyệt Hạ viết cho bạn thân -Ng.) ba chiêu coi tướng… ăn xoài của dân miền Nam. Mày nghiệm xem có đúng không nhé. Người lý tưởng là người gọt vỏ tử tế, đường dao đi thẳng gọn, miếng vỏ mỏng vừa. Gọt xong lùa dao vào hai má xoài, gần sát hột, tách ra hai miếng má, xong trở dao qua làm luôn hai miếng cạnh. Người rốp rẻng, dứt vạt, hơi rộng tay trong chi xài, cư xử có phần thô thiển nóng nảy nhưng ruột ngựa là người cầm trái xoài lên không gọt mà cắt luôn hai miếng má. Lấy dao rạch ngang dọc thịt xoài, rồi lộn ngược ra, kề vô miệng… cạp. Hết hai miếng má, cạp sơ sịa cái hột còn lại. Miệng dính xoài tèm lem, cười hề hề, buông gọn một tiếng Ngon! Người keo nặng kẹo là người gọt vỏ thực mỏng, lạng thực sát, gặm đến nỗi cái hột xoài trắng toát, trụi cả xơ!”

Các bạn nghe Nguyệt Hạ tả ăn xoài có phê không, và thấy đúng không. Riêng kẻ này xin thú thực, cách đây dăm bảy năm thì ăn xoài theo lối 2, tới bây giờ ăn theo lối 1. Như vậy, suy theo Nguyệt Hạ, “tính cách” của kẻ này có thay đổi, nghĩa là ngày xưa thì ẩu tả, phóng đãng, giờ theo tuổi tác mà nghiêm túc hơn chăng. Ðể hỏi lại vợ mình xem sao.

Qua nước Mỹ, tưởng rằng không còn được dịp thưởng thức trái cây nhiệt đới này nữa. Ai ngờ! Thì ra ở Mỹ cũng có xoài vậy. Tất nhiên là thứ xoài bán ở các chợ. Xoài Mễ, xoài Florida. Xoài Mễ thì kẻ này ít thích vì cái mùi của nó không hợp với cái mũi bảo thủ của mình. Còn xoài Florida? Ô, gọi là xoài Thanh Ca (?) đựng trong những thùng giấy, mỗi thùng từ 12 trái trở lên tùy lớn nhỏ, mang nhãn hiệu Marathon. Xoài này ăn cũng mê lắm chứ, phải không bạn? Và ai ơi còn nhớ trái xoài thơm buổi ấy đã cùng nhau ăn chung từng miếng, chung cả cái hột xoài, trong ngôi nhà đầy bóng nắng. Ôi, mùi vị xoài ngát thơm môi miệng, hỏi làm sao quên!

1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
Tuấn Phạm
#2165 Posted : Sunday, July 3, 2016 3:54:56 AM(UTC)
Tuấn Phạm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 8/26/2014(UTC)
Posts: 137
Points: 443
Location: Nam Định

Thanks: 94 times
Was thanked: 126 time(s) in 55 post(s)
TIẾNG NHẠC TÂM TÌNH VỚI ANH NGỌC trước 75 - Phần 1
(Lời bình được viết bởi nhà văn Mai Thảo)


1. Đêm Xuân (Phạm Duy) - Thái Thanh và toàn ban Tiếng Nhạc Tâm Tình
2. Mến Thương (Vũ Nhân) - Ngọc Long
3. Phố Buồn (Phạm Duy) - Thái Thanh
4. Bến Cũ (Anh Việt)- Anh Ngọc & Mai Hương
5. Nhớ Trăng Huyền Xưa (Nguyễn Văn Quỳ) - Kim Tước
6. Bến Xuân (Văn Cao & Phạm Duy) - Anh Ngọc
7. Hương Thanh Bình (Tạ Tấn) - Thái Thanh
8. Đồn Vắng Chiều Xuân (Trần Thiện Thanh)- Ngọc Long
9. Bóng Ngày Qua (Hoàng Giác) - Kim Tước
10. Bên Cầu Biên Giới (Phạm Duy) - Anh Ngọc
11. Buồn Tàn Thu (Văn Cao) - Thái Thanh
12. Tình Trăng (Hoàng Trọng) - Mai Hương
13. Thu Quyến Rũ (Đoàn Chuẩn) - Ngọc Long
14. Thu Ly Hương (Đan Thọ & Nhật Bằng) - Mộc Lan
15. Khúc Nhạc Tương Tư (Ngọc Bích) - Ngọc Long


3 users thanked Tuấn Phạm for this useful post.
Hạ Vi on 7/12/2016(UTC), phamlang on 9/6/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2166 Posted : Sunday, July 24, 2016 12:22:42 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Người giúp Tổng đốc Phương thành đệ nhị phú hộ Sài Gòn xưa




Trong tứ đại phú hộ Sài Gòn xưa, Đỗ Hữu Phương (1841-1914) chỉ xếp hàng thứ 2 sau Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt. Nhưng về danh tiếng, lời đồn đoán và cả vai vế trong xã hội, khắp Nam Kỳ lục tỉnh không ai sánh bằng ông. Từ một quan nhỏ dần tiến thân lên Tổng đốc, người này sử dụng khéo léo “quyền lực” trong tay đứng ra móc nối giới thương gia Hoa kiều và quan chức Pháp làm ăn, thu cả “núi tiền” cho bản thân.

Đỗ Hữu Phương xuất thân trong gia đình có cha là bá hộ Khiêm. Trước khi Pháp chiếm đóng Nam kỳ, gia đình ông cai quản một vùng rộng lớn phía Bắc Sài Gòn mà nhiều nhất là khu vực Bà Điểm ngày nay. Đất trồng lúa, vườn cây ăn trái ngút ngàn. Tại khu vực quận 5 bây giờ, gia đình sở hữu hàng trăm căn nhà mặt tiền để cho thuê kinh doanh, sinh sống.

Đương thời, Đỗ Hữu Phương là một thanh niên có tầm hiểu biết, giỏi ngoại ngữ. Tuy con bá hộ “giàu nứt đổ vách” nhưng không như các công tử khác chỉ biết tiêu tiền, đe nẹt người khác, Phương nhờ người giới thiệu và được giới cầm quyền Pháp giao cho chức quan nhỏ rồi tiến chức từ đó. Theo từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Đỗ Hữu Phương được Pháp thưởng Tam đẳng bội tinh, triều đình Huế phong hàm Tổng đốc.

Ông nhiều lần sang Pháp rồi nằm trong nhóm đại diện người Đông Dương tham gia hội chợ. Tiếp xúc nhiều với người Pháp, Tổng đốc Phương có cách sống, suy nghĩ và mau chóng coi văn hóa Pháp như nét riêng của mình. Ông lúc nào cũng mặt đồ tây, gọn gàng, lịch thiệp, tiếp khách, trò chuyện tại các tụ điểm sang trọng. Điều này khác so với những phú hộ vốn khăn đóng, áo dài thời bấy giờ. Người Pháp và bạn bè nhận xét ông “Tây hơn cả người Tây”.

Khôn khéo tột độ, kiếm tiền giỏi nhưng người giúp Tổng đốc Phương vươn lên vị thế giàu nhất nhì Sài Gòn là nhờ vào vợ. Bà họ Trần, con một quan lại lớn trong triều đình nhà Nguyễn. Bố vợ trước làm quan xứ Quảng Nam nhưng sau này đã chuyển vào Nam Kỳ làm tri phủ. Sau khi cưới, vợ chồng ông Phương sinh sống trong một căn nhà lớn nhất nhì Sài Gòn khi đó.

Vợ Tổng đốc sống trong nhung lụa, giàu sang nhưng không vì thế mà đàn đúm như những quý bà trong giới thượng lưu. Chồng lo ngoại giao, thu vén bên ngoài, mọi chuyện còn lại người vợ cáng đáng hết. Bà nổi tiếng đảm đang, tháo vát ở đất Sài Gòn xưa.

Gia đình có hơn 2.200 hecta đất, đến mùa vụ, người đàn bà họ Trần này lo mọi việc từ tính toán thu chi rồi sắp xếp nhân công. Với hệ thống mua bán kinh doanh lên đến hàng nghìn cơ sở, bà lo việc kết nối các tiểu thương, xây dựng hệ thống buôn bán riêng biệt. Thời đó, gia đình ông Phương còn chi phối được một phần giao dịch thông thương tại các bến cảng Sài Gòn.

Ruộng đất nhiều làm không xuể, phải cho các tá điền mướn. Đến mùa thu hoạch, phu nhân Tổng đốc phải đốc thúc việc nộp tô, thuế.

Học giả Vương Hồng Sển khi viết về Đỗ Hữu Phương trong cuốn Sài Gòn năm xưa đa phần chê bai việc theo Pháp đánh nghĩa quân nhưng đối với người đàn bà họ Trần này ông hạ bút ra chiều cung kính. “Sự nghiệp của ông Phương trở nên đồ sộ nhất nhì trong xứ, phần lớn do tay phu nhân Trần thị gây dựng. Bà giỏi tài đảm đang nội trợ, một tay quán xuyến trong ngoài làm của đẻ thêm ra mãi, lại được trường thọ, mất sau chồng…”.

Về độ giàu có của vợ chồng phú hộ Phương, điển tích kể rằng họ có riêng một đội đếm tiền được sắp xếp bí mật trong căn phòng phía sau nhà. Khi đến mùa vụ hoặc dịp thu tiền của thương lái, tiểu thương, những người này ăn ngủ tại chỗ để đếm tiền. Số tiền được họ bó buộc chặt rồi cất vào căn phòng kín kiên cố và khóa nhiều lớp. Chùm chìa khóa của căn phòng chỉ có vợ ông Phương được giữ và nó gần như là vật bất ly thân đối với bà, thậm chí lúc đi ngủ cũng nắm chặt trong tay…

Chính bà vợ của Tổng đốc Phương đã bỏ tiền ra xây trường Collège de Jeunes files Indigènes, tức trường Áo tím (Gia Long) trên đường Phan Thanh Giản.

Năm 1914, Đỗ Hữu Phương mất, học giả Vương Hồng Sển viết rằng đám tang của vị Tổng đốc được tổ chức rất trọng thể. “Thi hài của Đỗ Hữu Phương được tại thế nửa tháng mới chôn. Hàng ngày có hàng trăm khách viếng. Tang gia cho mổ trâu, bò, heo liên miên cúng và đãi khách”, sách Sài Gòn năm xưa nêu.

Vợ chồng ông Phương có 6 người con nhưng nổi tiếng nhất là 2 con trai phục vụ trong binh đoàn lính Lê dương của Pháp. Trong đó, Đỗ Hữu Vị nổi tiếng hơn cả khi có nhiều tài liệu cho rằng ông này là phi công đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á. Đỗ Hữu Vị khi phục vụ quân đội Pháp mang quân hàm đại úy, tham gia thế chiến thứ nhất và tử trận tại Bắc Phi năm 1916 (hai năm sau ngày Phương Tổng đốc mất).

Sau này, một con đường gần nơi Đỗ Hữu Vị tử trận mang tên ông, người này cũng được chính quyền thuộc địa Pháp cho in trong con tem lưu hành ở Đông Dương. Đỗ Hữu Vị từng có câu nói nổi tiếng “Tôi mang hai quốc tịch Pháp và Việt nên mọi nỗ lực của tôi đều gấp đôi người khác”.

Anh trai Vị là Đỗ Hữu Chấn cũng phục vụ trong quân đội Pháp, lên đến hàm đại tá. Tuy nhiên, người anh này thường giấu mình, ít thông tin hơn ông em. Ông Chấn cũng là người mang hài cốt Đỗ Hữu Vị từ Bắc Phi về Việt Nam chôn cất.

Sơn Hòa

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 9/16/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
Duy An
#2167 Posted : Saturday, July 30, 2016 11:15:14 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Hoài niệm xe đò


Trang Nguyên

Xe không chạy trên sông sao gọi xe đò? Có lần tôi hỏi nhà văn Sơn Nam khi gặp ông ở quán cà phê vỉa hè trước Nhà Văn hóa quận Gò Vấp cách nay hai mươi năm. Trong chiếc áo sơ mi cụt tay, khuôn mặt ốm nhăn nheo màu bánh ít, mắt đăm chiêu sau cặp kiếng dày, ông thủng thỉnh trả lời theo kiến giải của mình. Đồng bằng Nam bộ sông nước chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến khách phải chuyển tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện.




Xe đò lỡ Sài Gòn – Hốc Môn năm 1969 – Nguồn: Saigonoldphoto


Nghe vậy thôi, sau này tôi tìm hiểu thêm chút ít, biết rằng người Bắc gọi xe đò là xe khách hoặc xe ca, còn người Trung lại gọi xe đò giống như người Nam. Một số người giải thích vì hầu hết các chủ nhà xe đi miền Trung là người Sài Gòn nên “xe đò” trở thành phương ngữ chung cho tiện. Và rồi câu chuyện sôi nổi hơn khi nhà văn nhắc tới kỷ niệm thời học sinh trung học từng đi xe đò từ Rạch Giá về Cần Thơ mà ông có nhắc lại trong tập “Hồi ký Sơn Nam”: “…Tiền xe từ Rạch Giá đến Cần Thơ là một đồng hai (120km) nhưng nhỏ tuổi như tôi chỉ tốn có 6 cắc. Tôi lên xe ngồi để người phụ xế sắp đặt chỗ ngồi cho gọn, khép nép, chung quanh xe là nhiều người rao hàng để hành khách ăn buổi sáng vì buổi trưa mới đến bến Cần Thơ. Tôi còn nhỏ, ba tôi cho riêng tôi 2 cắc, rất tủi thân vì trong khi ấy gia đình khá giả dám trả 1 đồng hai (hai chỗ dành cho trẻ con rộng rãi hơn) lại dành cho con một cái bánh bao to để ăn dọc đường. Xe khách bóp kèn inh ỏi, chạy vòng quanh để tìm kiếm khách…”.




Xe đò dài Thuận Hiệp đi Sài Gòn – Cà Mau – Ảnh: Douglas Pike


Nhưng điều thú vị nhất là ông kể hồi thời kỳ đầu xe đò do người Pháp làm chủ toàn là loại xe nhỏ chở khách chừng hơn hai mươi người. Nhưng chỉ một thập niên sau, người Việt mình giàu có tham gia mở công ty lập hãng, nhập cảng máy, khung gầm từ châu Âu châu Mỹ, đóng thùng thành xe đò loại lớn chở hơn năm chục hành khách, cạnh tranh ác liệt trong giai đoạn đường bộ được mở rộng và phát triển ở các tỉnh miền Tây và Ðông Nam Bộ. Giao thông kết nối khắp nơi, nhu cầu đi lại của người dân càng nhiều, tạo thành thời vàng son của xe đò. Chiến tranh Ðông Dương nổ ra, Nhật vào chiếm miền Nam, xăng dầu khan hiếm, bị giám sát chặt chẽ, ngành xe đò suy giảm, một số hãng xe hoạt động cầm chừng và phải thay đổi nhiên liệu cho xe hoạt động. Sơn Nam kể: “Xe ô tô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi “Autogène”, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn”.




Xe đò Sài Gòn đến Vĩnh Long năm 1970 đường sá còn trải đá – Ảnh: Frank Effenberger


Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe. Thường thì người ta chỉ cải tiến xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50. Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe. Xe đò hỏa tiễn chạy những đường ngắn như Sài Gòn – Long Khánh, Chợ Lớn – Cần Giuộc – Gò Công, Sài Gòn – Long An, còn xe đò dài vẫn chạy bằng xăng dầu, nhưng không còn nhiều như trước. Trên mui phía đầu xe thường có thùng phuy nước dùng để làm nguội máy, kế tiếp là nơi chở hàng hóa, xe gắn máy, xe đạp cho khách buôn chuyến và khách đi tỉnh xa.




Xe đò Sài Gòn – Tây Ninh năm 1965 – Ảnh: John Hansen


Tôi còn nhớ mãi lần đầu được đi xe lô về quê bên ngoại ở Càn Long, Trà Vinh. Năm đó tôi chín tuổi, đi cùng với người anh bà con. Xe lô có bãi xe ở Bến Bạch Ðằng và Bến Chương Dương. Bãi xe lô hay nhiều bãi bến xe đò khác khắp nơi trong thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn đều nằm hai dãy dọc theo đường phố. Phòng vé là một cái quầy hay cái bàn gắn tấm biển to đề tên từng hãng xe, chạy lộ trình nào. Riêng xe lô không cần bán vé, khách đến bãi xe còn chỗ trống cứ lên, đủ người thì bác tài chạy. Loại xe này gọi đúng tên là “Location”, sơn màu đen, kiểu xe ô tô chở chừng bảy tám người nhưng bác tài cố nhét thêm hành khách. Xe lô chạy nhanh hơn xe đò vì không bắt khách dọc đường, không lên xuống hàng hóa cồng kềnh, lại có khi qua cầu tạm không cần bắt hành khách xuống cuốc bộ. Ðể gió lùa vào cho hỉ hả đám hành khách ngồi chật cứng như nêm, lại thêm giỏ xách túi bị, va li lỉnh kỉnh, bác tài mở cửa sau bung lên cột chặt lại, người ngồi phía sau ngó ra phố phường. Xe chạy ra khỏi Phú Lâm, nhìn cảnh đồng lúa xanh tươi hai bên đường, lòng cảm thấy phơi phới mặc dầu lâu lâu tôi phải nhấc mông trở cẳng vì bị ngồi bó gối.




Xe đò nhỏ chạy bằng than sau năm 1975 – Nguồn: Anhxuavn


Nói là đi xe lô thì hành khách không cần xuống bộ qua cầu tạm, chứ lần đó tôi vẫn phải xuống cuốc bộ như bao chuyến xe đò khác. Tôi mới ca cẩm, xe lô cái nỗi gì, có mà “lô ca chân” theo lời hát của một tuồng cải lương trên truyền hình. Sau năm 1968, cuộc chiến ngày càng ác liệt, cầu đường nhiều nơi bị “mấy ổng” gài mìn phá hủy, có nơi phải dựng cầu tạm, đầu cầu có đặt trạm kiểm soát của quân cảnh hay cảnh sát. Ðường về Trà Vinh chỉ hơn 160 cây số mà qua mấy chục cây cầu, lại phải chờ phà Mỹ Thuận. Ði xe lô cho được nhanh mà về đến nơi phải mất năm sáu tiếng đồng hồ, huống hồ chi hành khách đi miệt Hậu Giang, Cà Mau xuống ở bến xe còn phải đón đò về nhà ở vùng U Minh, Miệt Thứ mất cả ngày đường. Chỉ có xe thư tức là xe đò làm nhiệm vụ giao nhận thư từ bưu phẩm chuyển cho bưu điện tỉnh mới được ưu tiên, không phải lụy phà hay bị cảnh sát xét hỏi. Bây giờ xe đò tiến bộ hơn nhiều, xe có máy lạnh, ghế nằm thoải mái cho khách đường xa, duy chỉ không có phòng vệ sinh trong xe, lại còn tặng thêm nước uống, khăn ướt lau mặt. Xe chạy nhanh nhờ có cầu qua hai con sông Tiền và sông Hậu, tôi ngồi xe Mai Linh chạy một lèo về tới chợ Cà Mau chỉ mất sáu tiếng đồng hồ. Nếu không kể đến loại xe dù bắt khách dọc đường, thì xe đò là phương tiện đi đường xa tương đối rẻ tiền.




Bến xe đò Petrus Ký năm 1950 – Nguồn: AnhxuaVN


Trước năm 1975, Xa cảng miền Tây là bến tập trung các xe đò về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó lại có bến xe Chợ Lớn đi về Cần Giuộc, Gò Công, Lý Nhơn, về sau bến xe này gộp lại với Xa cảng miền Tây mở rộng thành Bến xe miền Tây nằm trên đường Kinh Dương Vương quận Bình Tân. Còn bến Miền Ðông dành cho xe đi các tỉnh miền Trung và phía Bắc trên đường Petrus Ký trước kia thì gộp lại với hai bến xe nhỏ là Nguyễn Cư Trinh đi lộ trình cao nguyên và Nguyễn Thái Học đi Long Hải – Vũng Tàu – Phan Thiết, rồi sau đó vài năm chuyển về bến xe Văn Thánh, và cuối cùng yên vị tại Bến xe miền Ðông trên đường Ðinh Bộ Lĩnh hiện nay. Nhưng nghe đâu hai bến xe này sẽ phải dời ra xã Tân Túc huyện Bình Chánh và Suối Tiên Q. 9 để có diện tích rộng hơn, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng. Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến Bến xe An Sương, bến này đúng ra có xe đi Tây Ninh – Bình Phước – Bù Ðăng, Bù Ðốp vùng Tây Trường Sơn, nhưng cũng có xe đi vài tỉnh thành của cả ba miền, do hai bến xe miền Ðông và miền Tây nhỏ hẹp.



Bến xe đò trên đường Nguyễn Cư Trinh trước 1975- Nguồn: Anhxuavn

Ai cũng có kỷ niệm lần đầu đi xe đò. Mỗi chuyến xe chuyên chở nỗi niềm hoài niệm. Có người nhớ chuyện tiền vé như nhà văn Sơn Nam. Có người lòng phơi phới nhìn thấy phong cảnh đồng lúa xanh tươi chạy dài bên quốc lộ như tôi. Cũng có người nhớ mùi mồ hôi, mùi xăng dầu giữa nắng gió miền Trung. Nhớ bến bãi ồn ào í ới ngày xưa. Và cũng có người tuổi đời chồng chất, nhớ cảnh xuống xe qua cầu xe lửa Bến Lức, Tân An thuở xa lắc xa lơ.

2 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 9/16/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
Duy An
#2168 Posted : Tuesday, August 30, 2016 2:44:55 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)

Nhớ ga xe lửa Sài Gòn


Trang Nguyên


Hình ảnh nhà ga xe lửa Sài Gòn xưa, mà ngày nay là khuôn viên khách sạn New World, luôn sống trong trí nhớ của tôi. Đó là khoảng thời gian tôi tám tuổi, Ba dẫn tôi đi “du lịch” một vòng thành phố. Khởi hành từ chợ Hòa Hưng bằng xe thổ mộ đến Vườn Tao Đàn, rồi cuốc bộ ra chợ Bến Thành, băng qua cầu vượt ngang Bùng binh Quách Thị Trang đến Ga xe lửa Sài Gòn. Cuối cùng tản bộ ra bến Bạch Đằng hóng mát, đứng xem con phà Thủ Thiêm. Từ đó, lại đi xe xích lô máy về nhà. Với một đứa nhỏ, lần đầu tiên trong đời có dịp đi chơi Sài Gòn thì chuyến đi thật là thú vị.



Ga xe lửa Sài Gòn giữa thập niên 60 của thế kỷ trước nhìn từ trên cao – Nguồn: Anhxuasaigon


Nhưng điều thú vị nhất là lần đầu tiên thấy được đoàn xe lửa thật. Máy bay trên trời thì tôi đã biết, còn xe lửa thì chỉ nhìn thấy trong phim, nên khi tận mắt nhìn đoàn xe dài ngoằng nằm trên sân ga, lòng tôi thật háo hức. Ga xe lửa Sài Gòn thời đó không nhộn nhịp hành khách đi tàu cho lắm. Có bến xe lô nằm dọc theo vách tường gạch tô xi măng trên đường Lê Lai kéo dài đến Ngã Sáu Phù Ðổng. Tôi còn bé, đứng trong nhà ga bán vé, nhón chân nhìn qua cửa sổ thông thoáng thấy một đầu máy xe lửa từ phía bên kia sân ga chạy đến, ráp nối vào đoàn tàu thân gỗ sơn màu xanh đậm, chuẩn bị khởi hành cho tuyến Sài Gòn – Tuy Hòa. Hành khách tay xách nách mang hành lý lỉnh kỉnh bước vào sân ga. Nhưng rồi chuyến tàu không chuyển bánh, loa phóng thanh thông báo: “Ðoạn đường Ninh Hòa bị mìn, tàu chỉ đến Nha Trang, hành khách nào đi Tuy Hòa xin trở lại phòng trả vé.” Hành khách nhốn nháo, kẻ đứng chờ, người thất vọng về quê không được, đành lủi thủi quay về.



Sân ga xe lửa Sài Gòn và nhà bán vé trước 1975 – Nguồn: Panorama


Ba tôi không nói gì về tình huống bấy giờ, về chiến tranh đang diễn ra mà chỉ giải thích xe lửa ngày nay chạy bằng dầu diesel, chứ không còn chạy bằng củi than đốt như ngày xưa nữa nên không còn nghe tiếng xình xịch. Và tôi cũng chẳng để tâm đến những tiếng thở than của số hành khách hụt chuyến về quê, trong đầu tôi chỉ tồn tại hình ảnh của đoàn tàu xe lửa. Ðầu tàu xe lửa thật lạ lẫm, không giống xe lửa trong phim cao bồi Montana mỗi tuần tôi đều xem trên truyền hình. Ðoàn tàu trong phim trông oai phong hơn nhiều với cái đầu máy thon tròn nhả từng cụm khói trắng mỗi khi kéo còi từng hồi. Và hình dáng đầu máy cổ xưa ấy, tôi đã có dịp bắt gặp nằm trên đường ray không còn hoạt động vào thuở tôi lên học đệ thất. Thường thì tôi đi bộ từ nhà đến trường theo đường Lê Văn Duyệt. Nhưng quen với mấy thằng bạn cùng lớp sống trong con hẻm ra ga Hòa Hưng gần rạp hát Thanh Vân nên tụi nó chỉ cho tôi đi con đường tắt dọc theo đường xe lửa băng qua mấy con hẻm nhỏ thông ra đường Nguyễn Thông đến trường nhanh hơn.



Bên trong sân ga xe lửa Sài Gòn những năm ba mươi thế kỷ trước với tình trạng không thay đổi nhiều so với trước 1975 – Nguồn: Anhxuasaigon



Nói là đường xe lửa nhưng đó chính là khu vực ga Hòa Hưng. Một khoảng đất rất lớn chạy dài từ depot Cống Bà Xếp đến cuối đường Nguyễn Thông, bề ngang lúc to lúc nhỏ, có chỗ rộng đến năm sáu chục mét, có nhiều đường ray phụ và chỗ bẻ ghi để đầu máy đổi đường kết nối kéo những toa tàu nhập vào đường chính. Chính khu vực đường xe lửa này để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khoảng thời gian đầu cấp hai. Ðó là nơi của bọn học trò chúng tôi trong ngày học Thứ Sáu cuối tuần trống tiết được về sớm. Chúng tôi thường đi rảo theo đường ray, nhổ cỏ gà đá độ kẹo chewing-gum trên giàn dây thun căng ra giữa hai cây đinh cắm ngay trên nền đất. Có khi nổi hứng chơi trò cao bồi ngay trong những toa goòng xe cũ kỹ, nhảy lên chiếm lĩnh đầu máy hơi nước, miệng bắn súng ì xèo. Nhưng rồi cũng chỉ vài lần thì chúng tôi từ bỏ nơi đây vì chuyện “giang hồ” trẻ con giống như những nhân vật trong truyện “Dzũng Ðakao” của nhà văn Duyên Anh mà tôi đã đọc từ hồi học lớp năm.




Đường ray xe lửa khổ nhỏ 1m do Pháp xây dựng dùng chung xe lửa và xe điện trên đường Hàm Nghi quẹo ra Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu)
ra cảng Sài Gòn đến năm 1990 mới bị tháo dỡ – Nguồn: Anhxuasaigon



Chúng tôi chẳng biết “địa bàn” là của ai. Ðó chỉ là một bãi toa goòng cũ nát, bên trong còn một ít băng ghế gỗ đâu lưng vào nhau. Lần đó chúng tôi chưa kịp bày trò thì bị một nhóm khác năm sáu đứa chừng bằng hoặc lớn hơn chúng tôi một hai tuổi, mặt mày trông bặm trợn “bao vây”. “Tụi bây ở đâu tới đây, quậy phá địa bàn tụi tao?” Mấy thằng tui im re. Một thằng trong nhóm chúng tôi gân cổ lên tiếng: “Dạ, tụi em là học sinh đi học về chơi đùa một chút, chứ đâu có quậy phá gì đâu, đại ca.” “Im miệng! Ai là đại ca của tụi bây.” “Tụi em đâu có ai làm đại ca, tất cả đều là bạn học.” “Thằng ngu! Ý tao nói tao không phải là đại ca của tụi bây, đừng có bắt quàng làm họ. Cấm tụi bây lảng vảng khu vực này. Chỗ này là của tụi tao, dân chơi hẻm số Hai, nghe rõ không?” Thằng bạn cãi lý: “Từ nào giờ em nghe nói dân chơi Cầu Ba Cẳng, chứ đâu nghe nói dân chơi hẻm số Hai đâu đại ca.” “Hẻm số Hai là hẻm số Hai. Con hẻm nhỏ đối diện với cái cổng Biệt Khu Thủ Ðô đó, biết chưa?” Thằng bạn lí nhí trong miệng: “Dạ… dạ, biết rồi. Thôi tụi em về, không đến đây chơi nữa.” “Ðứng lại, dễ tha như vậy sao. Tụi bây đâu, tịch thu ‘vũ khí’ của tụi nó cho tao.” Một thằng trong nhóm tụi tui buột miệng: “À đù…, tụi em đâu có vũ khí gì đâu.” “Mày nói gì? Nói lại coi. Không có đù đưa cù cưa gì hết. Tụi bây lục cặp tụi nó, tịch thu bút máy cho tao.”




Depot xe lửa Cống Bà Xếp gần Ga Hòa Hưng nơi sửa chữa bảo trì đầu máy và toa xe lửa trong thập niên 50 – Nguồn: Panorama


Chúng tôi mất hết bút viết. Có thằng mất cây Parker đắt tiền, còn tôi mất toi cây Pilot mới mua. Men theo đường tàu về xóm ga Hòa Hưng, thằng bạn bây giờ mới nổ văng miểng: “Nó mà lạng quạng xuống Cống Bà Xếp thì tao kêu mấy thằng bạn ở đó cho nó một trận.” “Thôi đi tám. Mày chỉ dám “bạc co” tay đôi ‘miệng’ với nó thôi chứ làm được gì!” Nói xẵng bực mình ngoài miệng, chứ trong lòng tôi không bực dọc tụi du côn ăn hiếp mà lại lo lắng không biết nói sao với Má tôi để xin tiền mua cây bút mới.

Rồi cũng từ thời gian này, chiến tranh ngày càng lan rộng. Mấy năm sau đường xe lửa miền Trung thu hẹp dần cho đến khi chỉ còn hoạt động tuyến Sài Gòn – Biên Hòa – Long Khánh, rồi chấm dứt luôn trong một thời gian ngắn sau năm 1975. Tôi không còn sang hẻm ga Hòa Hưng vui chơi cùng bạn bè đi dọc theo những thanh tà vẹt dựng thành tường rào nhà ga, vạch cỏ để bắt dế than dế lửa cho những trận đá dế say sưa. Bọn học sinh chúng tôi mỗi người một ngả, tôi lên cấp ba học trường ở trung tâm Sài Gòn phải đi bằng xe đạp. Những ngày tháng đó lòng lúc nào cũng hoang mang không biết tương lai rồi sẽ ra sao!


Tôi nhớ khi ấy, xe lửa không còn hoạt động ở ga xe lửa Sài Gòn mà di chuyển về ga Hòa Hưng. Tuy vậy, vẫn những đoàn tàu năm sáu toa xe goòng vẫn còn hoạt động ngay trung tâm thành phố, qua lại trên đường ray cũ, không chỉ từ ga Sài Gòn mà còn chạy ra đến cảng Sài Gòn theo đường ray chạy giữa đại lộ Hàm Nghi, quẹo qua Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu sau này) rồi chạy ra Cảng Sài Gòn. Nghe người ta nói là xe lửa ra cảng nhận bo bo do Liên Xô viện trợ bổ sung, đây là thời kỳ ăn độn của dân Sài Gòn. Tôi còn nhớ mỗi ngày đi học về, vẫn thường bị kẹt xe khi đoàn xe lửa chạy cắt ngang qua các con đường trong trung tâm thành phố trên đường Cách Mạng Tháng Tám, tức Lê Văn Duyệt cũ. Ðến năm 1978, ga Sài Gòn dời tạm về ga Bình Triệu để sửa chữa lại ga Hòa Hưng nhỏ bé thành ga hành khách rộng lớn, lấy theo tên cũ là ga Sài Gòn. Như vậy, nhà ga Sài Gòn do Pháp xây dựng đầu tiên ở khu vực Chợ Cũ, sau hơn trăm năm phải đổi chỗ ba lần.

Việc thay đổi vị trí từ ga Sài Gòn về ga Hòa Hưng vào thời gian đó xem ra hợp lý vì dân số thành phố chưa gia tăng. Hơn nữa có depot Cống Bà Xếp xây dựng từ những năm 50, diện tích rộng rãi, đầy đủ cơ xưởng sửa chữa, tu bổ đường sắt. Ga Sài Gòn được khánh thành năm 1983, những con hẻm thông với đường Nguyễn Thông khi xưa biến mất, nối liền con đường nhỏ trở thành đường lớn thông ra Cống Bà Xếp. Ðầu máy xe lửa cổ xưa cũng không biết bị dời đi đâu. Bên ngoài không xa sân ga là chợ trời mua bán đồ sứ, chén kiểu nhập từ Trung Quốc làm khu vực ga Sài Gòn càng nhộn nhịp hơn.

Riêng tôi chẳng cần phải phân biệt ga Sài Gòn hay ga Hòa Hưng làm gì vì Hòa Hưng cũng là Sài Gòn mà thôi. Hơn nữa cả hai nhà ga là nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Nhưng chắc những người tuổi từ 60 trở về trước, ít nhiều trong lòng hẳn còn vương vấn nỗi niềm với những đoàn tàu trên sân ga Sài Gòn. Từ sân ga trăm tuổi nằm giữa trung tâm Sài Gòn hoa lệ một thời có đường xe lửa đi Mỹ Tho, các tỉnh miền Trung và Ðà Lạt, trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm vẫn để lại dấu ấn khó phôi pha trong miền ký ức.
2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 9/6/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2169 Posted : Tuesday, September 6, 2016 5:46:10 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Sài Gòn chuyện đời của phố Nhà hàng Việt cao cấp đầu tiên




Nha Du Lịch thuộc chính phủ VNCH đã lập ra một nhà hàng sang trọng có cái tên giản dị là Hàng cơm Việt Nam, khánh thành vào ngày 9/10/1957.





Một nhà hàng sang trọng chuyên về món ăn Việt là điều bình thường hiện nay. Ở đó, khách nước ngoài, người sành ăn có thể thưởng thức phong cách ẩm thực thuần Việt, từ thức ăn đến đồ uống, cảm nhận vẻ khác biệt, độc đáo trong cách ăn uống của một dân tộc, thấy được những dấu ấn của khí hậu, hệ thực vật, nền nông nghiệp trong bữa cơm hằng ngày của người Việt.

Nhiều quốc gia có chiến lược quảng bá nền ẩm thực độc đáo như Pháp, Ý, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ… Ẩm thực truyền thống chính là nét văn hóa riêng đáng tự hào, tạo sự thông cảm giữa các dân tộc và tạo sự thu hút trong công nghiệp du lịch.

Trở lại cuộc sống của Sài Gòn những năm cuối thập niên 1950. Sau khi người Pháp rút về, cuộc sống tự chủ đã xuất hiện thay cho chế độ thuộc địa. Trong ngành ẩm thực, hệ thống nhà hàng hạng sang nấu ăn theo kiểu Pháp sót lại sau 1954 vẫn chiếm lĩnh khu vực trung tâm Sài Gòn, khu Tân Định – Đa Kao. Trong Chợ Lớn, nơi buôn bán sầm uất, có các nhà hàng theo phong cách ẩm thực Tàu, nhất là Quảng Đông, Triều Châu. Nấu ăn theo kiểu Việt hầu hết là ở các quán bình dân, rất đa dạng món ăn từ cơm tấm giò chả, nem chua chả rán, gà xé phay, mắm nêm, mắm Huế.

Đồng bào di cư từ miền Bắc, người miền Trung di dân vào Nam góp thêm nhiều món ăn hấp dẫn vào thực đơn món Việt ở Sài Gòn. Tuy nhiên, có thể nói lúc đó ở thành phố này chưa có một nơi tương xứng để đón du khách với món thuần Việt, đủ tiện nghi, có phong cách phục vụ bưng dọn như các nhà hàng Âu – Mỹ. Kế hoạch phát triển du lịch miền Nam lúc đó đã chuyển động, các khiếm khuyết bắt đầu lộ dần và vấn đề này đã được đặt ra.

Và nhà hàng sang trọng Hàng cơm Việt Nam ra đời vì mục đích đó. Người quản lý là ông Bửu Hoàng, một người thuộc hoàng tộc triều đình Huế, nơi có phong cách ẩm thực Việt đáng tự hào. Chủ trương của nhà hàng cũng giản dị như cái tên nhà hàng: “giới thiệu du khách những món ăn thuần túy của VN”. Nhà hàng đặt tại số 40 Nguyễn Huệ, Quận 1.

Việc trang trí nhà hàng được chú trọng để tạo đẳng cấp. Màu đỏ là tông chính xuất hiện trên các khung cửa sổ, trần nhà. Phòng lắp máy điều hòa, ghế ngồi bằng da, rải rác là các chậu hoa vạn niên trang trí tạo vẻ tươi mát. Về thức ăn, ba đầu bếp tập trung chế biến các món Trung và Nam trong thời gian đầu và ông Bửu Hoàng có ý định tiếp tục tìm một đầu bếp món Bắc thật giỏi để hoàn thiện thực đơn Việt của nhà hàng. Tuy chưa hoàn hảo theo ý muốn, thực đơn của nhà hàng thật phong phú với hơn 50 món khác nhau. Từ nem chua Huế, chả lụa, chả chiên, chả quế, bì, nem cuốn, bánh hỏi chả giò, gỏi gà, tôm sứa, chạo tôm, tôm nướng Rạch Miễu, lươn, ếch, canh chua, miến gà…

Thực khách đến gọi món, đầu bếp làm ngay. Các món ở đây được đánh giá cao như: gỏi gà Huế có nước dùng nấu với dứa và hoa chuối xắt nhỏ, cao lầu, tôm nướng Rạch Miễu dùng tôm to bóc vỏ, bao một lớp lá mỡ trắng rồi mới nướng, món canh chua nấu với cá chẽm, măng, me, cọng bạc hà được nhiều du khách ưa thích thay cho món súp. Món “giò quốc tế” là món cá nấu như kiểu thịt đông, bỏ vào máy ướp lạnh, cắt thành khúc tròn như mặt đồng hồ trên dĩa, tô điểm thêm hai lá hành thành cây kim đồng hồ…

Không chỉ chú trọng đến món ăn thuần Việt, Hàng cơm Việt Nam còn đưa vào thực đơn thức uống cũng thuần Việt nốt, đó là rượu… ba xi đế, rượu đậu nành, rượu đào, Tôn Thọ tửu sản xuất trong nước bên cạnh rượu Tây.

Bên cạnh đó, trang phục của nhân viên phục vụ được trang bị đúng đẳng cấp nhà hàng hạng sang: nhân viên tiếp khách (lúc đó gọi là chiêu đãi viên) bận đồng phục trang trọng, cổ thắt nơ. Đầu bếp có trang phục riêng, đội mũ chuyên dùng.

Thời điểm đó có một hội nghị quốc tế phát triển kinh tế và xã hội khu vực châu Á tổ chức tại Sài Gòn. Các vị khách quốc tế, đại diện 21 quốc gia dự hội nghị đã trở thành những khách ngoại quốc đầu tiên thưởng thức món ăn Việt trong thực đơn cao cấp này tại nhà hàng Hàng cơm Việt Nam.

Tự hào và tìm cách khẳng định giá trị của ẩm thực Việt bằng cách tạo lập nhà hàng này là một cố gắng rất đáng trân trọng của những người có trách nhiệm, gần 60 năm trước ở Sài Gòn.

Phạm Công Luận

(trích Sài Gòn, chuyện đời của phố)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 9/16/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
Hạ Vi
#2170 Posted : Friday, September 16, 2016 12:47:50 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,342
Points: 16,912
Location: CỏThơm

Thanks: 4137 times
Was thanked: 10016 time(s) in 2482 post(s)
.




Ký ức phố


Bỗng rất đỏ một mùa hoa
Bỗng rất trắng rác trên đường phố
Bỗng rất nhiều màu rác bay trên đường phố
Bỗng rất khác. Âm thanh vang trên đường phố
Rất ồn. Và rất lặng.
Nghìn mảnh vỡ trong mưa

Phố thảng thốt
Phố tới lui. Sấp Ngửa
Phố vẫy tay. Đưa. Đón
Người đến, phố-là
Người đi, phố-lạ

Phố hội họp
Phố đàn ca
Phố hớn hở ngày cửa mở
Phố len lén đêm cài then
Phố tung hê nụ cười
Phố che nhau nước mắt
Phố rộng chân người tới
Phố co cụm nắm bàn tay
Phố bay mắt nắng hồng
Phố vùi lòng lụa bạch
Phố ngửng đầu lên. Phố tung hô
Phố cúi mặt đằm. Phố cười lệ

Ôi lòng phố ơi
Phố hát phố hỏng
Phố cờ phố xí
Phố mang người đi
Dặm lòng thương hải
Ôi tình phố ơi
Phố ngùi phố ngậm
Phố tang phố thương
Một lòng nhau luống…



Nguyễn Thị Khánh Minh

4.2013





1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 10/15/2016(UTC)
Tuấn Phạm
#2171 Posted : Thursday, September 22, 2016 8:51:57 PM(UTC)
Tuấn Phạm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 8/26/2014(UTC)
Posts: 137
Points: 443
Location: Nam Định

Thanks: 94 times
Was thanked: 126 time(s) in 55 post(s)
SÀI GÒN ơi!
Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi
tay cầm tay nói nhỏ câu gì
Những quầy hoa quán nhạc đêm về
Còn rộn ràng GIỌNG HÁT THÁI THANH


Em mới kiếm được băng nhạc TIẾNG HÁT VÀNG THÁI THANH ...
Nếu ai yêu quý cô thì cùng thưởng thức với em nhé!!!!


3 users thanked Tuấn Phạm for this useful post.
Hạ Vi on 9/23/2016(UTC), phamlang on 10/15/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
Duy An
#2172 Posted : Tuesday, October 11, 2016 1:32:59 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)


Song Chi

Ngày mai 12.10.2016 thương xá Tax chính thức bị đập bỏ, thêm một mảnh "linh hồn" nữa của Sài Gòn cũ vĩnh viễn ra đi, nối tiếp danh sách dài những địa điểm như cafe Givral, Brodard, La Pagode, thương xá Eden, hàng cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng tức Cường Để cũ, vòng xoay đài phun nước cùng hàng liễu rủ bóng ở giao lộ Nguyễn Huệ-Lê Lợi, trục đồng hồ trên đường Nguyễn Huệ, toàn bộ hàng cây cổ thụ ở công viên Lam Sơn phía trước Nhà hát thành phố có tuổi đời hàng chục năm, công viên Chi Lăng, những cây cầu cổ, những con đường đầy cây cổ thụ như Lê Đại Hành, ngay cả Thảo Cầm Viên Sài Gòn có thông tin cho biết cũng chưa chắc đã yên thân...

Có lần tôi đã viết trong bài blog đăng trên RFA "Sài Gòn-hồn xưa phai nhạt":

"...Giá trị của một thành phố không chỉ ở những công trình kiến trúc mới. Bởi vì một thành phố không chỉ được xây dựng nên trong một sớm một chiều. Mỗi thành phố có lịch sử, có đời sống, có linh hồn riêng của nó. Linh hồn của một thành phố nhiều khi nằm trong từng viên gạch cũ, từng hàng cây cổ thụ, một quán café xưa…Ở đó những dấu ấn lịch sử, những dấu vết thời gian đi qua còn in lại. Và người ta gắn bó với một thành phố lắm khi chỉ từ những thứ nhỏ nhặt như thế.

Phải biết trân trọng gia tài khiêm nhường của cha ông để lại nếu không muốn các thế hệ sinh sau đẻ muộn trở nên thờ ơ với lịch sử, với quá khứ, tuy giàu có tiền bạc nhưng nghèo nàn về tâm hồn, trống rỗng về ký ức."

Mời mọi người xem lại hình ảnh cũ nhân kỷ niệm 136 năm thương xá Tax qua video clip trên báo VNExpress, giờ đây chỉ còn là kỷ niệm:


http://video.vnexpress.n...t-viet-nam-3482109.html


2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 10/15/2016(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2173 Posted : Saturday, October 15, 2016 12:24:31 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)

Từ Biệt Thương Xá Tax

Cô Tư Sài Gòn






Tuổi của Thương Xá Tax xưa cổ hơn tất cả những người đang còn sống hiện nay. Chính xác, Thương Xá Tax đã hơn 130 tuổi.

Và Thương Xá Tax có nhiều kỷ niệm với dân Sài Gòn. Một thời bạn sinh ra, nhiều phần là được ba mẹ ẵm ra phố chơ, bước vào Thương Xá Tax, cho chạy lăng quăng dọc theo các hành lang thương xá.





Rồi tới thời đi học, những cặp tình nhân hẹn nhau nơi đây. Một lý do dễ hiểu: trời nắng gay gắt, bước vào Thương xá Tax là toàn thân mát rượi, dịu lòng ngày.

Hình ảnh Thương Xá Tax cũng vào văn học sử quê nhà rồi.




Nhà thơ Tô Thùy Yên có bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang”... bài rất dài và xúc động, về hình ảnh cuộc nội chiến VN. Trong đó, có hình ảnh thương xá Tax, gợi nhớ trong bối cảnh Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, trích:

...Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Những tủ kính tối om
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
(Sài Gòn nới rộng giờ giới nghiêm
Sài Gòn không còn buổi tối nữa)
Giờ này có thể trời đang nắng
Em rời thư viện đi rong chơi...






Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã phổ thơ, ghi lại hình ảnh tuyệt vời khi chàng chiến binh nhớ về tình nhân một thời dẫn nhau đi dạo thương xá:

“… Giờ này thương xá sắp đóng cửa,
người lao công quét dọn hành lang,
giờ này thành phố chợt bừng lên để rồi ta nghỉ sớm.
Ôi Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghiêm, ơi Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghiêm,
ôi em ơi Sài gòn không buổi tối…”





Bây giờ, Thương Xá Tax đang bị đập phá.

Báo Người Lao Động kể rằng vào ngày 12-10, các đơn vị thi công đã bắt đầu tháo dỡ Thương xá Tax (quận 1, TP SG) để chuẩn bị xây tòa nhà mới tên gọi Satra Tax Plaza, cao 40 tầng. Tòa nhà sẽ được khởi công vào quý I/2017 và dự kiến hoàn thành vào năm 2020, cùng thời điểm tuyến metro số 1 của TP được đưa vào sử dụng.

Bản tin NLĐ ghi rằng Satra Tax Plaza là tòa nhà có lối vào kết nối với nhà ga của tuyến metro số 1; 2 tầng hầm dành cho trung tâm thương mại, siêu thị, dịch vụ, giải trí; 4 tầng hầm làm bãi đậu xe và có sân bay trực thăng. Theo Phó Tổng Giám đốc Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) Đoàn Hoài Minh, các giải pháp kiến trúc gần như giữ lại nhiều hình ảnh Thương xá Tax trước đây. Tất cả gạch mosaic ở các sảnh vào sẽ được gắn trở lại đúng vị trí cũ nhằm giữ nguyên vẹn hình ảnh trung tâm thương mại 130 năm tuổi này trong ký ức của người dân TP SG.

Cùng ngày, TP cũng bắt đầu di dời, đốn hạ, bứng dưỡng 51 cây xanh trong khu vực 1 gồm Công viên 23-9 và đường Phạm Ngũ Lão. Dự kiến tháng 5-2017 sẽ đốn hạ, bứng dưỡng 24 cây trong khu vực 2 gồm đường Lê Lợi và đường Hàm Nghi để kịp bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công tuyến đường sắt đô thị số 1 Bến Thành - Suối Tiên (metro số 1).


Cũng nên nhắc rằng, Tự điển Bách khoa Mở ghi rằng, trích:

“Công trình kiến trúc nguyên thủy được xây từ năm 1880 thời Pháp thuộc ở trung tâm Sài Gòn tại góc đại lộ Charner và đại lộ Bonnard, gần tòa thị chính (hôtel de ville). Năm 1914 công ty Société Coloniale des Grands Magasins mở Grands Magasins Charner de Saigon (viết tắt là SGMC) đến năm 1924 thì khu nhà này được tái thiết và khuếch trương theo phong cách Art Deco đón tiếp khách hàng thượng lưu của đô thị lớn nhất Liên bang Đông Dương. Ngày 27 Tháng 11, 1924 khi tiệm bách hóa khai trương là một sự kiện nhộn nhịp đáng ghi nhớ của Sài Gòn được báo chí loan tin rộng rãi.





Tháng 10 năm 1925 tiệm bách hóa gắn thêm một hệ thống còi điện để kêu lên mỗi khi có tin mới từ chính quốc báo sang. Năm 1942 xây thêm lầu bốn, đập bỏ tháp đồng hồ và thay vào đó là bảng gắn dòng chữ GMC.





Sang thời Việt Nam Cộng hòa, Đại lộ Bonnard thay tên là đại lộ Lê Lợi và Đại lộ Charner biến thành đại lộ Nguyễn Huệ còn Grands Magasins Charner mãi tới năm 1960 mới chính thức sang tên là Thương xá TAX, với địa chỉ 135 đại lộ Nguyễn Huệ. Thập niên 1960, Tổng giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục ủy quyền cho Viện Đại học Đà Lạt mua lại Thương xá này, từ đó trở thành bất động sản của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Sau Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963, chính quyền mới tịch thu thương xá này vì cho rằng nó liên quan đến Dòng họ Ngô. Khu thương xá từ đó không còn thuộc một công ty mà do thương nhân mướn lại làm nơi buôn bán.

Sau năm 1975 với chính sách tập trung kinh tế, cấm tiểu thương, Thương xá TAX bị giải thể. Tòa nhà được giao về cho Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, không còn là địa điểm kinh doanh sầm uất, mặt bằng thỉnh thoảng được tận dụng làm không gian trưng bày các mặt hàng, máy móc công nghiệp do các đơn vị quốc doanh của thành phố sản xuất.





Đến năm 1978, trong bối cảnh thời bao cấp, Thương xá TAX trở thành một công ty quốc doanh mang tên "Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố", người bán hàng được gọi là mậu dịch viên, có thắt khăn quàng đỏ như thiếu nhi để bán mặt hàng chính là đồ chơi cho trẻ em. Đến năm 1981, khu nhà này đổi tên thành "Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố" do Sở Thương Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu. Từ năm 1997, tòa nhà đổi tên thành "Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn" do Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA) quản lý.

Năm 1998 tên TAX được phục hồi nhưng vào năm 2014 thì có lệnh giải tán Thương xá TAX với kế hoạch phá tòa nhà này đi để xây một cao ốc 40 tầng ở địa điểm trung tâm này. Ngày 12 tháng 10, 2016, quá trình đập bỏ khu Thương xá được bắt đầu tiến hành.”(ngưng trích)

Biết bao nhiêu là nước chảy qua cầu, bạn nhỉ...




Trân trọng từ biệt Thương Xá Tax, một thời của quá nhiều kỷ niệm.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC), Duy An on 7/23/2017(UTC)
Duy An
#2174 Posted : Friday, December 16, 2016 5:29:38 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,218
Points: 3,746

Thanks: 206 times
Was thanked: 678 time(s) in 492 post(s)
Phòng trà Sài Gòn xưa


Tim Nguyễn


Nguyễn đã viết một bài tản mạn có tựa đề ‘Thanh Xuân Hát Trên Đồi Cỏ Tía’ đăng ở Trẻ Giai Phẩm Xuân Đinh Dậu. Bài viết nói về thời trẻ ở Đà Lạt với Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Thanh Sâm, Lê Uyên Phương… Hôm nay tiếp tục vẫn là chuyện thanh xuân hát trên đồi cỏ tía.

Những bạn ở lứa tuổi cổ lai hy hiện có mặt ở đây bây giờ chắc chưa quên tiếng hát của Thanh Thúy trong ca khúc Tình Ðời của Minh Kỳ: Khi biết em mang kiếp cầm ca/Ðêm đêm phòng trà/Dâng tiếng hát cho người người/Bỏ tiền mua vui/Hỏi rằng anh ơi/Còn yêu em nữa không…

Ðó là thời phòng trà nở rộ ở Sài Gòn sau khi chính quyền Ngô Ðình Diệm ra lệnh đóng cửa các vũ trường. Phòng trà Anh Vũ của Kiến trúc sư Võ Ðức Diên là một trong những phòng trà đầu tiên lúc bấy giờ. Nó xuất thân từ một quán ăn sinh viên. Phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ nổi tiếng được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Lệ Thanh, Duy Trác, Cao Thái…

Nhà báo Lê Văn Nghĩa viết trên tờ Thanh Niên Online cho biết như trên. Nhà báo này còn viết thêm: Một phòng trà khác theo phong cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp chiếu bóng Việt Long, đường Cao Thắng với tên phòng trà Ðức Quỳnh do Ðức Quỳnh đệm piano với những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung… Vào tháng 5.1959, phòng trà ca nhạc Văn Cảnh đường Calmete có quảng cáo “Ban hợp ca Thăng Long cùng với 8 nữ ca sĩ thanh sắc song toàn, giá tiền thật bình dân 15 đồng trà, cà phê”…



Phòng trà Anh Vũ của Kiến trúc sư Võ Đức Diên



Với sự có mặt của đông đảo nhạc sĩ, ca sĩ Miền Bắc di cư vào Sài Gòn, phong trào ca nhạc của Miền Nam nở rộ với nhiều sắc thái và âm vang. Người dân được dịp thưởng thức giọng ca của các ca sĩ trên đài phát thanh, ở các phòng trà, đại nhạc hội. Và việc tới phòng trà nghe nhạc là một nét văn hóa của Sài Gòn khi đó. Một nhà báo đã viết: “Ngày là thời gian thành phố làm việc, đêm mới là thành phố sống. Một trong các mảnh sống của đêm Sài Gòn là những tiếng ca hằng đêm réo rắt trên khắp các hí trường phòng trà ca nhạc”.

Thời ấy, có rất nhiều giọng ca nữ nổi tiếng nhưng giọng ca Thanh Thúy đã khiến nhiều văn nghệ sĩ yêu mê. Trịnh Công Sơn với tác phẩm đầu tay Ướt mi, Tôn Thất Lập với Tiếng hát về khuya, Nguyễn Long với bộ phim Thúy Ðã Ði Rồi đều ẩn hiện hình bóng nữ ca sĩ này. Ðúng vậy, trí óc chúng ta còn nghe vang vọng lời thơ của Hoàng Trúc Ly ca tụng Thanh Thúy: Từ em tiếng hát lên trời. Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh… Và Trịnh Công Sơn với Ngoài hiên mưa rơi rơi, Lòng ai như chơi vơi Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Ðừng khóc trong đêm mưa, Ðừng than trong câu ca… Những ngày quây quần ở Ðà Lạt Nguyễn cũng được nghe Sơn hát Ðêm đêm, tiếng ca hao gầy đậu xuống môi em, Chút hơi sau cùng giải thoát nhân gian Ðêm đêm, vó câu anh về ngột tiếng ca xưa / Những thung lũng buồn ngủ suốt trong mưa Vườn khoai bông lúa… Cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, nhũng câu ca của Tôn Thất Lập vẫn còn trong tâm trí Nguyễn.

Với Nguyễn, những quán cà phê và phòng trà ca nhạc thời ấy là rất đỗi thân thương. Ðó là thời mới ở Huế vào Sài Gòn, ghi tên học Luật và Văn Khoa, thấy cái gì cũng lạ và đầy quyến rũ. Trọ học ở nhà ông chú ở xóm Nguyễn Ngọc Sương Phú Nhuận, lúc đầu thì đi xe buýt, sau tậu được chiếc xe đạp ngày đêm rong ruổi khắp Sài Gòn. Quán cơm và phòng trà Anh Vũ là nơi Nguyễn thường lui tới, ăn cơm nghèo và nghe ca sĩ hát. Khởi từ nơi đó, bắt đầu mê giọng ca Bạch Yến và Lệ Thanh, đặc biệt tiếng hát Cao Thái mở ra một chân trời lạ ngập tràn ánh nắng: Mexico Mexixo… Sous ton soleil qui chante / Le temps paraît trop court / Pour goûter un bonheur de chaque jour. Mexico, Mexico… Tes femmes sont ardentes / Et tu seras toujours / Le Paradis des cœurs / Et de l’Amour… Mexico ơi Mexico / Dưới ánh mặt trời ca hát của Mexico / Thời gian dường như quá ngắn / Ðể nếm niềm vui và hạnh phúc mỗi ngày / Mexico ôi Mexico / Với những người đàn bà nóng bỏng / Và Mexico mãi mãi là thiên đường của trái tim / Và của tình yêu.

Cũng thời đó đêm đêm Nguyễn thường được Hồ Ðăng Tín dùng chiếc velo solex chở tới phòng trà Ðức Quỳnh nghe Thanh Thúy hát. Chẳng là bạn ta mê Thanh Thúy (nhưng không thấy làm bài nhạc nào cho nàng?). Thanh Thúy hát, tóc xõa dưới ánh đèn, dáng nghiêng, gầy như liễu… Ôi làm sao quên! Sau này đi dạy ở Mỹ Tho, cuối tuần về lại đi nghe hát phòng trà. Bây giờ là tiếng hát Bạch Yến ở Tự Do, bài Lời Buồn Thánh của Trịnh Công Sơn. Còn nhớ tới khúc cuối bài hát, lúc tới chỗ “Chiều chủ nhật buồn/ Lặng nghe gió đi về / Chiều chủ nhật buồn…” nàng gục đầu xuống, dáng thật não nùng.

Phòng trà Sài Gòn. Ôi, thanh xuân của tôi ở đó. Ðời tôi, đời em bềnh bồng trôi dạt. Một lần chia tay là mất hết. Thôi vĩnh biệt thanh xuân, vĩnh biệt phòng trà và những giọng hát, bóng dáng một thời. Dẫu sao vẫn còn cái gì đó, như một mùi hương. Cho nên khi đi qua chiến tranh, qua ngục tù và sông dài biển rộng với những sân ga bến cảng và những cây cầu mình còn nghe vọng lại những tiếng hát và hương thầm ngày xưa.
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2175 Posted : Sunday, January 15, 2017 11:43:21 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Báo xuân Sài Gòn xưa


Cái thú đọc báo xuân của người Sài Gòn từ xưa đã trở thành nét văn hóa, nhắc nhở về khát vọng tươi đẹp, những giá trị nhân văn mà đến giờ vẫn còn...

Cái thú đọc Báo xuân của người Sài Gòn từ xưa đã trở thành nét văn hóa, nhắc nhở về khát vọng tươi đẹp, những giá trị nhân văn mà đến giờ vẫn còn nguyên giá trị.

Lâu nay, nhiều người vẫn cho rằng tờ báo đầu tiên trong nam làm báo xuân là Phụ nữ tân văn vào năm 1930. Nhưng trên thực tế, hai năm trước đó, năm 1928, tờ Đông Pháp thời báo đã làm báo xuân. Trong số báo này có in nhiều bài viết về xuân, về tết như bài Chơi xuân của Tản Đà: “Người ta sanh ra ở đời, nếu chẳng chơi thì cũng thiệt, mỗi năm một lần xuân, nếu bỏ qua thì cũng hoài. Vậy chơi xuân cũng là phải, song mà cách chơi thế nào cho lịch sự…”.

Tài liệu ghi chép rành rành nhưng đến nay mọi người vẫn chọn tờ Phụ nữ tân văn, có lẽ vì tờ báo này tràn đầy nét xuân đậm đà hơn so với các ấn phẩm khác. Thật vậy, tờ báo xuân 1930 của Phụ nữ tân văn thật ấn tượng khi ngoài bìa in chữ xuân thật lớn và trình bày bài thơ: “ Vui xuân vui khắp xa gần/Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng/Đốt hương nguyện với xuân hoàng/Sao cho nước cũ ngày càng thêm xuân?/Xuân tới xuân đi xuân chẳng ở/Có yêu xuân, xin chớ phụ ngày xuân…”.




Bìa tờ tin sớm số xuân 1971 ẢNH: L.M.Q

Duy trì báo xuân

Vì sao làng báo Sài Gòn đã giữ gìn, phát huy được nét đẹp làm báo xuân? Có lần tôi hỏi nhà văn Sơn Nam, vốn một đời chỉ sống bằng nghề cầm bút, ngần ngừ một lát ông quả quyết, đại khái, ấn phẩm báo xuân ở trong nam tồn tại mãi chính là từ tấm lòng chịu chơi, tính cách hào phóng của dân Sài Gòn.

Cuối năm, sau khi quyết toán xong sổ sách, lời lỗ trong một năm, các vị chủ báo nghĩ rằng mình đã “kiếm cơm” quanh năm thì “năm hết tết đến” cũng phải chia ngọt xẻ bùi cùng cộng sự. Đó là tạo điều kiện cho họ có thể kiếm tiền xúng xính tiêu tết. Các chủ báo cho giấy, tiền công in ấn để các ký giả, công nhân, tạp dịch… trong tòa soạn chủ động thực hiện một ấn phẩm đặc biệt.

Ấn phẩm này có trang in nhiều hơn, dày hơn, hình thức đẹp hơn, tất nhiên giá bán cao hơn thường lệ và muốn bán được thì phải đầu tư chất lượng bài vở. Họ phát hành ấn phẩm đó rồi cùng chia nhau hưởng lợi. Nói cách khác, đây là cách thưởng “lương tháng 13” của chủ báo dành cho những người cộng sự đắc lực của mình trong suốt một năm cộng tác gắn bó.



Bìa tờ Sân khấu truyền hình xuân Nhâm Tý 1972


Lật những trang báo xuân ngày trước

Tờ Tiếng Việt xuân 1971 in hình bìa là ca sĩ Phương Hồng Quế. Ngay trang đầu là dòng chữ “Cung chúc tân xuân” với hình ảnh thiếu nữ đội nón lá tung tăng bên ngàn hoa sắc thắm. Do năm Hợi nên không thể thiếu “Năm heo nói chuyện lợn”, âu cũng là nét chung của báo xuân thuở ấy, tức năm con gì thì bàn về con ấy ở góc độ lịch sử, văn hóa. Và thêm một “đặc sản” không thể thiếu là Sớ Táo quân, năm nào cũng có. Một hình thức sử dụng thể loại vần vè tóm tắt tình hình, chính trị, xã hội, văn hóa trong năm qua.

Tờ Tin sớm số xuân 1971 chọn bìa là tranh vẽ những chú ủn ngộ nghĩnh. Có nhiều cây bút nổi tiếng cộng tác như Bình Nguyên Lộc, Ái Lan, Thiếu Sơn… Trích lại đôi câu “Quẻ đầu năm” cà rỡn thân tình về nghệ sĩ thuở ấy. Chẳng hạn: “Bạch Tuyết: Mua nhà Thủ Đức, khỏe thân ghê/Gánh cũ vừa đi lại trở về/Danh vọng lên như diều gặp gió/Ông chồng còn được đóng xi nê”… Nay, đọc lại cũng vui vui.

Tờ Tin Sáng xuân 1971 ngoài bìa là bàn tay thả cánh chim bồ câu khát vọng hòa bình, có sự cộng tác Lý Chánh Trung, Sơn Nam, Kiên Giang, Hồ Mộng Thu, Cung Văn… Thú vị nhất là 2 trang biếm họa, hài hước Một năm chó đã qua do họa sĩ Diệp Đình vẽ theo dòng tin nổi cộm nhất trong năm qua. Tất nhiên không thể thiếu Tin vịt nghe qua rồi bỏ của cây bút phiếm hàng đầu thuở đó là Tư Trời Biển, theo tôi biết, bút danh này do nhiều người cùng ký.




Bìa tờ Minh tinh xuân 1973


Tờ Thách đố , ca sĩ Thanh Tuyền và Thảo Ly được chọn cho bìa ấn phẩm xuân 1971.

Ngoài các bài xuân từ thể loại thơ, truyện ngắn, bút ký… là loạt bài về nghệ sĩ. Theo nhận định của báo này, trong năm 1970 tại miền Nam có “4 ban thoại kịch ăn khách nhất” là Ban Kim Cương, Ban Thẩm Thúy Hằng, Ban Sống Túy Hồng, Ban Dân Nam. Và họ cũng bình chọn “Diễn viên nổi bật nhứt trong năm”: Ngọc Đức, Khả Năng, Thanh Tú, Diễm Kiều, Tú Trinh, Kiều Phượng Loan; và các phòng trà nổi đình nổi đám…

Tờ Sân khấu truyền hình số xuân năm 1972 là số báo khá độc đáo vì quy tụ các tên tuổi nổi tiếng trong nghệ sĩ. Năm qua, họ đã làm được gì, kế hoạch năm tới ra làm sao. Và đặc biệt là 4 trang in khổ lớn “Hợp soạn của 2 chiêm tinh gia nổi danh Huỳnh Liên - Minh Nguyệt”. Hai ông này cùng xem “Tử vi trọn năm” và “Cho số hên trọn năm để mua số kiến thiết!”. Có thể nói, chiêm tinh gia Huỳnh Liên “hot” nhất thời ấy, không một nhà báo chuyên nghiệp nào có thể “địch lại” mức độ xuất hiện dày đặc của ông trên các báo xuân thuở ấy.




Báo xuân Sài Gòn xưa


Tờ Minh tinh số xuân 1973, ngoài bìa là hình nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng. Ngay trang trong là hình ba thiếu nữ với trang phục bắc - trung - nam. Thú thật, nay đọc lại số báo này đôi lúc tôi tủm tỉm cười vì có nhiều hình ảnh “độc” về nghệ sĩ và cách viết dí dỏm của các ký giả, nhà văn như Hề Ốm, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hoàng Hương Trang, Phi Sơn... qua các bài như Nghệ sĩ đón tết, Xông đất làng văn nghệ văn gừng…


Ngược lên trước nữa, tờ Ngày mới số xuân 1959 đã “phá cách” là tranh vẽ in một màu cho tươi tắn, bắt mắt. Và quà tặng bạn đọc là “Tử vi năm Kỷ Hợi”. Dù còn có khá nhiều tờ báo xuân khác đã sưu tập được nhưng do khuôn khổ bài báo, tôi tạm dừng và chọn lấy Lời nói đầu trong tờ Phụ nữ diễn đàn xuân 1963 như một lời chúc xuân: “Tin tưởng để phấn khởi. Hy vọng để nỗ lực. Góp sức để thành công. Đó là lý lẽ của mùa xuân tin tưởng vậy”.

Báo xuân VN có tự bao giờ ?

Vinh dự này dành cho tờ Nam phong tạp chí xuất bản trong thời gian 1917 - 1934 tại Hà Nội do nhà văn hóa Phạm Quỳnh chủ bút, ra hằng tháng. Tờ báo này có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức VN những năm đầu thế kỷ 20. Năm 1918, Nam phong tạp chí đã ra thêm một số xuân in toàn thơ văn có giá trị, nhưng không đánh theo số thứ tự, ngoài bìa chỉ ghi “Số Tết 1918”. Đó là tờ báo xuân đầu tiên của làng báo VN.

Lê Minh Quốc
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 1/15/2017(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2176 Posted : Sunday, February 19, 2017 11:47:14 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Thú Ăn Bánh Mì Không Của Người Sài Gòn


Một trong những hình ảnh về nếp sống thị dân, được người Sài Gòn lưu giữ trong ký ức sâu đậm là hình ảnh cái bội cần xé đựng bánh mì nóng, cột ở yên sau chiếc xe đạp của người bán rong khắp các phố, khắp các hẻm, suốt bốn mùa bất kể chuyện nắng sớm mưa chiều.



Làm sao quên được mỗi lần người bán mở cái miếng bao bố ra, hương thơm bánh mì kích thích sự thèm ăn, kích thích cảm giác yêu quí đời sống đô thị yên bình… – Ảnh: Giang Vũ


Nói về cái bội cần xé làm bằng tre, phủ một lớp bao bố giữ hơi nóng của bánh mì mới ra lò là nói về phương thức bán lẻ bánh mì mang bản sắc Sài Gòn đậm nhất.

Khắp các bến xe, bến ghe, ga tàu lúc nào cũng đông người bán dạo bánh mì là một đặc trưng của người Sài Gòn. Ngày trước, ai đi Sài Gòn hoặc từ Sài Gòn về quê mà quên mua vài ổ bánh mì làm quà thì trong bụng không yên.

Vậy đó, chỉ là bánh mì không mà người nghèo, người giàu ai cũng thích. Thích đến nỗi qua trạm kiểm soát công quyền cứ đưa vài ổ bánh mì ra là coi như được cảm tình. Với trẻ con ở quê thì khỏi nói, người lớn ở Sài Gòn cầm ổ bánh mì ngắt từng khúc, chia cho từng đứa thì coi như người lớn đó thiệt xứng danh dân Sài Gòn.

Ngay cả chuyện dâng cúng bàn thờ, chỉ cần lấy vài ổ bánh mì để lên cái dĩa, đốt nén nhang là coi như người Sài Gòn với bánh mì Sài Gòn đã tròn lễ nghĩa với hương linh ông bà. Còn chuyện mở đám thì từ đám giỗ, đám ma, đám cưới… khắp các đám ở miền Nam, món nào không có cũng du di cho qua, nhưng chắc chắn món bánh mì phải có và đương nhiên có bánh mì Sài Gòn thì sẽ “bảnh” hơn bánh mì của địa phương.

Làm sao quên được tiếng rao: Bánh mì nóng giòn đê! Bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn đê! Làm sao quên được mỗi lần người bán mở cái miếng bao bố ra, hương thơm bánh mì kích thích sự thèm ăn, kích thích cảm giác yêu quí đời sống đô thị yên bình…




Những cần xé bánh mì trong Chợ Cũ (đường Tôn Thất Đạm, Q1 ngày nay) – Ảnh: LIFE

Người Sài Gòn thời xưa, có thói quen như dân Tây, thích ăn bánh mì không. Ăn bánh mì không là ăn không kèm món gì khác. Không gì bằng cầm ổ bánh mì nóng thơm phức, gỡ từng lớp da bánh dòn rụm hoặc xé ruột bánh mềm mịn ra mà ăn để từ từ cảm nhận nguyên vẹn, chân phương hương vị ngon lành của ổ bánh mì.

Ngày nay đã dần mất cái thói quen ăn bánh mì không. Có nhiều lý do để giải thích, nhưng một trong những lý do đó là bánh mì ngày xưa nướng bằng lò củi còn bánh mì ngày nay nướng bằng lò điện. Chắc chắn bánh mì lò củi ngon hơn hẳn vì nó được nướng theo kiểu chánh gốc của ông Tây bà Đầm ở tận xứ Tây.

Vì sao nhiều người miền Nam lại ưa ăn bánh mì không? Không quá lời khi cho rằng người miền Nam do lưu truyền trong khẩu vị sự chân chất của người đi khai hoang mở cõi, nên món nào nguyên chất là ưng bụng khoái khẩu hơn là những món qua chế biến thêm thắt kiểu này kiểu nọ. Cứ món nướng là thích nên bánh mì nướng lò củi được thích nhất cũng là lẽ tự nhiên.

Chúng tôi có một ông chú, ông nói như vầy: “Ê, thứ bột, thứ bánh của Tây ăn mà mình thêm mắm muối thịt cá của người mình vô làm hư mất cái ngon rồi còn gì.”


Có thể ngày nay đa phần người ta hết ưng miệng món bánh mì không, bánh mì ngọt vì sợ các chứng bệnh do chuyện ăn thừa tinh bột, hảo ngọt. Phổ biến hiện nay là ăn bánh mì với đủ thức các loại chất đạm khác như trứng ốp la, pâté, thịt nguội, xíu mại, heo quay, cá hộp, cà ri… do nhu cầu thỏa mãn dinh dưỡng và nhịp sống nhanh của thời công nghiệp.

Một bộ phận nhỏ người Sài Gòn bây giờ vẫn còn thú ăn bánh mì không. Những chiếc xe đạp, xe gắn máy cà tàng chở cần xé bánh mì đằng sau thơm nức mùi bơ vẫn rong ruổi trên đường bán cho người lao động bình dân, người còn nhớ thương mùi bánh mới ra lò. Tiếng rao đa phần từ chiếc loa cũ giọng khàn khàn: Ai bánh mì nóng đê…

Vì sao nhiều người miền Nam lại ưa ăn bánh mì không? Không quá lời khi cho rằng người miền Nam do lưu truyền trong khẩu vị sự chân chất của người đi khai hoang mở cõi, nên món nào nguyên chất là ưng bụng khoái khẩu hơn là những món qua chế biến thêm thắt kiểu này kiểu nọ – Ảnh: Giang Vũ


Ai từng đứng xếp hàng chờ bánh mì nướng củi ra lò mới thấm được cái hạnh phúc làm người đô thị. Ánh lửa rực sáng từ miệng lò bánh, tiếng lửa nổ tí tách như tiếng pháo chuột, thợ nướng bánh gương mặt hồng ánh lửa, từng vỉ bánh chín vàng rực được lấy ra như ánh bình minh vừa nhú khỏi các nóc nhà.

Không hề quá đáng khi nói rằng, không gian quanh các lò bánh mì đã làm nên một Sài Gòn riêng, một cõi thơm ngào ngạt hương bánh chín.

Bánh mì của Việt Nam hiện nay là loại bánh mì cứng, được du nhập từ thời thực dân Tây. Trong các tỉnh thành, bánh mì được xứ Sài Gòn nướng là nhất. Đến tận ngày nay, hễ nói tới bánh mì là người ta kèm thêm hai chữ Sài Gòn mà đưa vô, lãng quên chuyện bánh mì của Tây.

Nhắc về cái thú ăn bánh mì không của người Sài Gòn là để nhằm tôn vinh một thứ bánh và một cách ăn có từ lúc người Việt nướng ổ bánh mì đầu tiên. Văn hóa và văn hóa ẩm thực là một tiến trình du nhập và tinh lọc. Bánh mì ngày nay trở thành món bánh phổ biến nhất của người Việt và được kiều bào đưa ra thế giới, hẳn nhiên, bánh mì Việt đã có căn cước Việt và danh tiếng món ngon Việt Nam.

Trần Tiến Dũng
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 3/8/2017(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
Hạ Vi
#2177 Posted : Wednesday, March 8, 2017 7:00:39 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,342
Points: 16,912
Location: CỏThơm

Thanks: 4137 times
Was thanked: 10016 time(s) in 2482 post(s)





Điệp khúc chiều tháng ba


Sài gòn chiều mưa thời xanh tóc
Vỉa hè cỏ mọc dấu chân em
Đường Duy Tân hay Trần Quý Cáp
Chỗ nào cũng thấy rất còn quen.

Em đã không về nơi ấy nữa
Phố xá chờ nhau lạnh bóng chiều
Áo phai chưa hết đời lãng tử
Mà hồn tôi đầy vết rong rêu.

Cà phê sóng sánh ngang đáy tách
Nguyễn Du buồn nhớ mắt Thuý Vân
Điệp khúc của ngày tình con gái
Còn khua vang nhịp guốc thật gần.

Của những lần Sài gòn mưa tới
Chiều xanh xao góc phố Brodard
Giọt cà phê chờ ai buông chậm
Cho buồn về kịp giữa tháng ba…



Hư Vô










2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 3/31/2017(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC)
phamlang
#2178 Posted : Friday, March 31, 2017 4:35:11 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1674 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)


SAIGON 1965 - Chợ Cũ, đường Hàm Nghi. Photo by Wilbur E. Garrett



Chợ cũ ở Sài Gòn


Chợ cũ Tôn Thất Đạm sẽ chấm dứt hoạt động trong năm 2017 nhưng ngôi chợ này vẫn luôn in rõ trong ký ức người Sài Gòn.

Tôi biết đến Chợ cũ từ một quán ăn vào năm 1969. Đó là quán ăn của người Hoa mang tên Chí Tài trên đường Võ Di Nguy (nay là Hồ Tùng Mậu). Sở dĩ tôi nhớ đời cái tên quán Chí Tài – không phải vì giống tên một danh hài đâu – mà vì hôm đó tôi cũng thấy thần tượng của mình là kịch sĩ kiêm diễn viên điện ảnh La Thoại Tân đang ngồi ăn trong quán cùng một người bạn. Lớn lên, tôi mới vỡ lẽ rằng đây là quán ăn được nhiều người nổi tiếng trong giới văn nghệ và quan quyền đến thưởng thức món cơm tay cầm còn được gọi là cơm thố. Chợ cũ của tôi chỉ là đường Võ Di Nguy có quán ăn Chí Tài này.




dãy tiệm thịt quay chợ Cũ nổi tiếng trước 1975 trên đường Hàm Nghi, hiện chỉ còn một tiệm (Thiên Nhiên – tiệm giữa, có mấy khách hàng phía trước) – Ảnh tư liệu


Khi lớn lên chút nữa, tôi biết Chợ cũ có thêm ngôi chợ ở đường Tôn Thất Đạm, từ đầu đường Hàm Nghi và đụng ngay góc đường Huỳnh Thúc Kháng. Đây là một ngôi chợ dành cho nhà khá giả, khác với chợ Bến Thành, có những mặt hàng chuyên biệt theo “gu” Pháp hay Mỹ – và nhiều nhất là Mỹ. Ngoài những gian hàng bán thịt bò, thịt heo, hải sản cao cấp, cũng có những gian hàng bán đồ Mỹ như xúc xích, đồ hộp, gạo sấy dành riêng cho lính Mỹ, những gói thuốc Salem, Pall Mall, LucKy… nho nhỏ chỉ có bốn điếu một hộp, những gói cà phê bột uống chua lét.

Ngôi chợ thành lập lúc nào cũng chẳng ai xác định được, chỉ biết là có từ lâu lắm. Một lão làng “đại ca” đã giải thích hồi xưa nơi đây là khu vực chợ của người Hoa. Khi Tổng thống Ngô Đình Diệm lên chấp chánh liền giải tán chợ này, di chuyển người Hoa vào Chợ Lớn thành lập Chợ Lớn Mới nên khu chợ Tôn Thất Đạm được gọi là Chợ cũ.

Đầu thế kỷ 17, khi người Việt đến lập nghiệp ở phương nam, chợ Bến Thành đầu tiên nằm ven kênh Chợ Vải là một trong vài bến ghe tàu của thành Gia Định, tụ tập hàng trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông thuyền buôn lớn nhỏ nối liền nhau. Theo tư liệu người xưa để lại thì sau khi Pháp chiếm Nam kỳ năm 1859, ngôi chợ này được xây dựng dãy nhà lồng, gọi là Marché de Saigon với năm gian cột gỗ, lợp mái lá nằm sâu trong kênh Chợ Vải, trên đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ) nằm giữa 4 con đường là: Nguyễn Huệ – Hải Triều – Hồ Tùng Mậu – Ngô Đức Kế.




Saigon 1967 – Chợ cũ – góc Hàm Nghi – Võ Di Nguy

Chợ Bến Thành đầu tiên bên kênh Chợ Vải đi vào lịch sử với tên Chợ cũ khi kênh Chợ Vải bị lấp trở thành đường Charner vào năm 1877. Khu Chợ cũ cũng bị phá đi để xây tòa nhà ngân khố mới thay thế tòa ngân khố cũ trên đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi) và tiếp đến chợ Bến Thành Mới “tân khai thị” vào tháng 3.1914. Những người Hoa dù không còn dựa vào kênh Chợ Vải nhưng đã buôn bán lâu năm nên vẫn quyết chí bám trụ, dời xuống phía dưới để mở một khu vực chợ của họ mang tên Chợ cũ. Không nhà lồng chợ, không bảng tên, chỉ buôn bán trên vỉa hè vậy mà Chợ cũ vẫn sống rất khỏe, hùng cứ cả hai con đường nhỏ Tôn Thất Đạm, Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu). Những người bán hàng tại đường Hàm Nghi gọi khu này là “chợ chạy” vì thường xuyên bị cảnh sát rượt chạy vô đường Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp, Huỳnh Thúc Kháng… do buôn bán trên vỉa hè, lòng đường như kiểu chợ trời.

Không chỉ là tên chợ

Sau này, người Sài Gòn thường gọi Chợ cũ không phải chỉ tên một ngôi chợ cụ thể mà là nói về một khu vực. Khu vực Chợ cũ. Chợ cũ có thể là chợ Tôn Thất Đạm nhưng người ta cũng hàm ý đó là một khu vực lớn bao gồm những con đường trong tứ giác Hàm Nghi, Nguyễn Huệ, Pasteur, Tôn Thất Thiệp. Thậm chí có khi còn “vượt biên” sang khu vực có quán hủ tíu cá Nam Lợi (gần đường Nguyễn Công Trứ).

Khu vực Chợ cũ rộng lớn này đã hình thành rất nhiều cái chợ mang tên “nhánh” như Chợ chim rồi Chợ chó trên lề đường Hàm Nghi phía sau lưng Trường Cao Thắng từ những năm 1950. Cũng có thời dọc đường Hàm Nghi là chợ bán đồ thờ cúng, đồ mã với liễn, hoành phi, tấm vãng… Người ta không quên khu vực Chợ cũ dọc đường Hàm Nghi sau ngày 30/4/1975, là một khu chợ trời tấp nập với hai sạp hàng đối mặt nhau, chỉ có một lối đi ở giữa… Khu vực Huỳnh Thúc Kháng đầy những mặt hàng mà nhiều khách hàng mua gửi về Trung hay Bắc như ti vi, tủ lạnh, máy thu băng, quạt máy… Riêng chợ Tôn Thất Đạm vào thời bao cấp cũng là nơi trao đổi hàng hóa phân phối đường, sữa, gạo và cung cấp những mặt hàng tươi sống thuộc loại cao cấp như thịt bò, tôm càng.

Cho đến nay, 50 năm từ khi hình thành, chợ Tôn Thất Đạm vừa được gọi là chợ nhà giàu hay chợ quê vì bán đủ thứ từ hàng cao cấp đến con tôm, con cá, cọng rau… đã phơi bày sự rệu rã bởi những mái tôn chằng chụp, những tấm bạt che kiểu dã chiến và theo một số hộ chung cư cho biết là không khí luôn bốc mùi hôi tanh của cá, tôm khi về chiều…

Dù chợ Tôn Thất Đạm có bị giải tỏa trắng vì quá xuống cấp, vì ngôi chợ này nằm trên lòng đường, giữa chợ lại có một trường tiểu học, giờ tan tầm tập trung rất đông người qua lại, gây mất trật tự đô thị cũng như nguy cơ về cháy nổ, thì tên Chợ cũ vẫn còn. Có những khu chợ được đặt tên mới nhưng người ta vẫn quen gọi tên chợ cũ…

Lê Văn Nghĩa

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
3 users thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 5/21/2017(UTC), thunder on 7/11/2017(UTC), CỏThơm on 8/3/2017(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
106 Pages«<103104105106>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.