Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<102103104105106>
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
Hạ Vi
#2137 Posted : Monday, February 1, 2016 12:26:55 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)



Vẻ đẹp giản dị của bìa báo Tết Sài Gòn xưa


Qua nét cọ của các họa sĩ, bìa báo xuân Sài Gòn thập niên 1950 luôn có hình ảnh người đẹp mặc áo dài, thướt tha du xuân, vãn cảnh với mai đào rực rỡ.




Trong quyển "Sài Gòn - Chuyện đời của phố" (phần hai, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ -SGN) vừa ra mắt, tác giả Phạm Công Luận dành một phần để nói về tranh bìa báo xuân thập niên 1950. Anh phỏng vấn ông Lê Minh - họa sĩ nổi tiếng một thời chuyên vẽ bìa sách truyện chưởng Kim Dung và tranh các loại. Theo ông Lê Minh, thập niên 1950 là thời hoàng kim của giới họa sĩ vẽ tranh bìa báo xuân ở Sài Gòn. Thời này, xu hướng dùng ảnh bìa báo Tết chưa có nên các họa sĩ như Lê Trung, Thái Văn Ngôn, Duy Liêm có nhiều đất để sáng tạo.




"Mỗi năm nhận khoảng 5 - 6 bìa là có tiền ăn cái Tết huy hoàng rồi", họa sĩ Lê Minh nhớ lại.



Khoảng một tháng trước Tết, các báo thời đó như: Sân Khấu Mới, Tia Sáng, Phụ Nữ Ngày Mai... bắt đầu đặt họa sĩ vẽ bìa xuân.




Các chủ báo không yêu cầu gì cụ thể... Tuy nhiên, bìa báo xuân phải có hình ảnh một cô gái xinh đẹp, có cành hoa mai, có cảnh đi lễ chùa, đi chợ hoa, cho bồ câu ăn, lư nhang trầm...



Tranh không rõ tác giả trên bìa báo Việt Thanh - Xuân Tân Mão 1951.



Tranh trên báo xuân Giáp Ngọ 1954 của báo Thần Chung. Bức tranh toát lên nét hồn hậu của làng quê miền Tây.




"Khi xem các tờ báo xuân gần 60 năm trước, tôi thật sự thấy đó là những bức tranh đẹp, gợi cảm. Đó là dạng mỹ thuật dành cho đại chúng, dễ thưởng thức và đã tạo nên một thị hiếu thẩm mỹ tích cực dành cho những người bình thường không mấy khi tiếp cận những gallery sang trọng hay các phòng khách xa hoa. Trong ký ức của người Sài Gòn lục tỉnh hay ở các tỉnh xa, đó là những hình ảnh khó phai, đầy cảm xúc khi nhìn lại" (Phạm Công Luận).




Tranh của họa sĩ Thái Văn Ngôn trên bìa báo Văn Nghệ - xuân 1953. Ông nằm trong nhóm họa sĩ vẽ nhiều tranh cho bìa báo xuân thời kỳ này.




Các hình ảnh bìa báo xuân Sài Gòn xưa trong sách sử dụng tư liệu của L.M. Nguyễn Hữu Triết và T.G.


tác giả Thất Sơn (trích sách Sài Gòn – chuyện đời của phố, Phạm Công Luận)






3 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/6/2016(UTC), Duy An on 2/7/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Hạ Vi
#2138 Posted : Monday, February 1, 2016 12:31:48 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)


Sài Gòn Xưa Đón Tết Canh Dần, 1950










Chợ Hoa Nguyễn Huệ Sài Gòn , Xuân Kỷ Dậu 1969









2 users thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 2/6/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2139 Posted : Saturday, February 6, 2016 12:47:45 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Ngày xưa làm báo Tết



Mỗi năm hoa đào nở lại thấy ông đồ già




Hằng năm cứ đến ngày giáp Tết Âm Lịch, mọi người đều thấy các cửa hàng bán báo rực rỡ hẳn lên bởi hình bìa của những tờ báo xuân. Đủ thứ màu sắc của những tờ báo khổ lớn treo toòng teng trên những chiếc dây trước sạp báo phay phất phới, không khác gì những cái lồng đèn Trung Thu. Những tờ báo khổ nhỏ, hầu hết là những tờ tuần báo hoặc đặc san nằm dưới kệ hàng cũng được tô điểm sặc sỡ báo hiệu mùa xuân đang về. Mùa xuân dường như bắt đầu từ đấy. Và mỗi nhà thường mua một tờ báo Xuân, đôi khi đợi Tết trưng ra trong phòng khách cho vui cửa vui nhà. Điều đó không hẳn là một tục lệ mà chỉ là thói quen, một thứ thói quen đáng yêu của hầu hết người Việt chúng ta dù bất cứ ở đâu. Nó cũng như cái hình ảnh của nhà thơ Vũ Đình Liên:

“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua”


Hình ảnh ông đồ già có thể mất dần theo năm tháng, nhưng những tờ báo thì vẫn còn y nguyên từ thời xa xưa cho tới thời nay, chắc chắn nó sẽ còn mãi mãi, cho dù nhiều bạn lo xa rằng báo in có thể “chết dần” bởi thời đại internet. Nhưng internet không thể bày ra bàn, không thể trang trí cho phòng khách của ngôi nhà, không thể mang linh hồn của mùa xuân đến từng người đọc, không thể mang hương vị ấm cúng cho cả gia đình bạn và cũng không thể mang cả mùa xuân tô điểm cho phố phường của bạn. Hình bìa những tờ báo thường bao giờ cũng có những người đẹp, những giai nhân đủ loại từ ca sĩ đến tài tử màn ảnh, từ cô gái nông thôn đến thành thị uốn lượn đủ kiểu trên sạp báo còn hơn là một cuộc thi sắc đẹp. Bạn không thích thú sao? Ngắm free mà. Và chỉ có năm hết Tết đến mới có cái cảnh ấy.

Tất cả những thứ đó khiến tôi nhớ đến cái không khí làm báo Tết thời xa xưa. Hồi đó bạn làm được một tờ báo ra hằng ngày hay hằng tuần đã khó khăn lắm rồi chứ chưa nói đến làm báo Tết. Ngày nay làm báo chỉ cần đánh máy cho lên máy in, nó chạy rèn rẹt ra luôn ba bốn năm màu và hàng chục ngàn số trong một vài giờ, được đóng sẵn sàng đưa ra thị trường. Ngày xưa thì khác….


Một quầy bán báo xuân ngày xưa

Cái thời đại typo
Vâng, phải nói chính xác đó là thời đại mời ra lò của những tờ báo, thời đại in typo. Trước hết là những con chữ được đúc bằng kẽm hay bằng chì, từng chữ một, mỗi chữ xếp vào một cái bát hay một ngăn dưới tay người thợ, gọi là thợ sắp chữ. Phải sắp từng chữ một và chữ in nghiêng phải được tác giả viết bài hay anh Tổng thư ký tòa soạn phải gạch dưới bản thảo đánh máy hay viết tay hàng chữ “ital” chữ viết tắt của italic. Đấy chỉ là một thí dụ. Còn có hàng chục ký hiệu như thế nữa dành cho hàng chữ in đậm, sửa dấu sắc huyền hỏi ngã, thêm chữ vào dòng, bớt chữ đi. Anh thợ “cả” được gọi là chef typo chịu trách nhiệm chung cho trang báo đó, phải xem lại từng trang.

Còn muốn đưa một tấm hình vào trang báo, phải làm bản kẽm. Tôi nhớ hồi đó ở Sài Gòn có Cliché Dàu là nơi cung cấp những bản kẽm cho các nhà in và các báo. Khuôn khổ bức hình ra sao để nó nằm gọn lỏn trong trang báo phải được tính toán trước hết. Đến lúc thợ lên khuôn mới đưa vào bài báo được.

Trước khi in, thợ nhà in phải làm một bản vỗ, tức là lấy tờ giấy thấm nước như loại giấy bản, đặt lên khuôn trang có dính chút mực, vỗ nhẹ để mực thấm vào giấy, chúng tôi gọi là morasse, người làm việc sửa morasse được gọi là “thầy cò”. Thường morasse phải sửa đến lần thứ hai thứ ba, lần cuối cùng do anh Tổng Thư Ký tòa soạn sửa và ký vào tờ dernière morasse đó chịu trách nhiệm nếu có sai sót.
Sau thời kỳ in typo là thời kỳ “vàng son” của kỹ thuật in offset. Cả trang báo 4 màu chỉ cần đưa lên máy in một lần. Nhưng nói về thời kỳ này nữa thì quá dài dòng. Xin trở với thời đại báo in typo.

Tôi suýt bị tù vì mất chữ T.

Nói sơ qua như thế để bạn có thể hình dung ra phần đầu của công việc làm báo, đấy là báo thường chưa nói đến số Tết còn “ly kỳ rùng rợn” hơn. Đúng là một công việc bỏ ăn bỏ ngủ chứ không đùa. Tôi đã từng làm ở tòa soạn báo, làm từ anh viết bài đến anh “thầy cò” rồi nhảy lên làm Trưởng ban biên tập và làm Chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng Hòa của Quân Đội VNCH. Hồi đó báo ra bán nguyệt san, mỗi kỳ 200.000 số. Một con số xuất bản lớn nhất vào thời đó. Báo được Bộ Quốc Phòng tài trợ và gọi đấu thầu, nhà in tư nhân đảm trách việc in ấn. Tôi là người chịu trách nhiệm sửa và ký tên vào bản dernière morrase tức là bản vỗ cuối cùng. Sau này làm thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ ra hằng tuần nữa càng vất vả hơn. Tòa soạn chỉ vỏn vẹn có chừng chục người .

Năm nào báo Chiến Sĩ Cộng Hòa cũng ra báo Xuân như thường lệ. Năm đó, có lẽ là vào năm 1960 khi đó Đại Tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng QĐVNCH (đến năm 1963 mới được vinh thăng Thống Tướng, vị Thống Tướng duy nhất của VN). Mỗi năm thường có một Thư chúc tết của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng được đăng trên báo Xuân CSCH.
Khi báo ra chúng tôi đưa lên trình văn phòng Đại Tướng. Không hiểu tại sao cuối thư đó lại ký tên Đại Tướng Lê Văn Ỵ.Thì ra tên của ngài bỗng mất biến đi chữ T.

Ông Đại Tá Hoàng Ngọc Tiêu, tức thi sĩ Cao Tiêu, làm chánh văn phòng Đại Tướng gọi điện thoại cho tôi nói ngay: “Phen này ông đi tù là cái chắc”, tôi tưởng ông nói giỡn chơi, nhưng ông nghiêm giọng nói: “Anh cứ xem lại Thư chúc Tết của Đại Tướng đi là biết ngay, tôi không nói nhiều”.

Tôi mở tờ báo ra xem, quả nhiên là chữ Tỵ mất biến chữ T ở trước, thành ra là Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Tôi choáng người, cầm chắc đi tù rồi còn gì. Tôi gọi nhà in, đòi xem bản vỗ cuối cùng. May quá, bản vỗ cuối cùng còn nguyên chữ T. Đây là một lý do “giảm khinh” cho một phần lớn tội của tôi. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính khi tờ báo đưa lên trình và gửi đi khắp các đơn vị trong toàn quốc. Tôi đã không kiểm soát lại.

Về phía nhà in, điều tra cũng chẳng ra, bởi khi bản vỗ đưa lên máy in vẫn còn nguyên, nhưng vì là thợ xếp từng chữ nên khi bê lên bê xuống có thể nó rơi mất chữ T. Rơi ở đâu, khi nào hay có kẻ phá hoại không ai biết. Mà làm sao kết tội là phá hoại khi không có bằng cớ chắc chắn, luật pháp là luật pháp thời đó rất nghiêm minh. Tôi đã chuẩn bị sẵn tư tưởng để từ giã quân ngũ hay ít ra cũng bị “hạ tầng công tác” đi đến một đơn vị khác, rất có thể là binh nhì vì cái tội quá nặng “bôi bẩn thanh danh Đại Tướng”.

Nhưng ông Cao Tiêu chánh văn phòng Đại Tướng lại gọi điện thoại ngay cho tôi nói là chưa kịp trình Đại Tướng vì sáng đó ông bận đi dự lễ. Ông Cao Tiêu cũng là bạn tôi nên ông đã hủy ngay tờ báo, ông nói tôi phải lấy chữ Tỵ khác đóng lên trên chữ Ỵ để ông mang vào trình.

Tôi cấp tốc làm ngay. Nhưng làm một tờ thì dễ, còn 200 ngàn số đưa đến các đơn vị cũng phải làm như vậy. Thế là cả cánh thợ nhà in tư nhân và toàn phòng báo chí của chúng tôi phải cùng làm suốt một đêm một ngày mới xong. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Và cũng từ đó tôi có thêm khinh nghiệm “xương máu” về nghề làm báo cũng như sau đó sang làm ở Đài Phát Thanh Quân Đội. Tôi cẩn thận từng chữ, từng câu trong các bản tin.


Một tờ bìa báo Xuân

Lại chuyện ở Đài Phát thanh
Tôi nhớ hồi đó nhiều đoàn thể, nhiều giáo phái có tiếng nói trên các đài phát thanh Sài Gòn cũng như Đài Phát thanh Quân đội. Một lần vào khoảng năm 1970 hay 71, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi dự một cái lễ ở Long Xuyên do Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức. Sau đó tổ chức này có một bản tin gửi cho các báo trong nước. Đài Phát thanh Quân đội cũng nhận được bản tin này. Bản tin chia làm ba hay bốn phần gì đó, cả mấy phần trên đều là những lời lẽ ủng hộ chính phủ, đoạn cuối cùng có đề nghị chính phủ phát súng cho giáo phái để tự giữ gìn an ninh tổ quốc.
Tôi suy nghĩ mãi mới bỏ đoạn cuối cùng này. Bởi nếu phát súng cho một tổ chức khác chẳng khác nào một quốc gia có hai quân đội nên tôi sửa lại chỉ tóm tắt nội dung chứ không cho đọc nguyên văn, cuối cùng chỉ loan tin là những đề nghị khác sẽ được Tổng Thống và Chính Phủ cứu xét cẩn trọng.

Quả nhiên bí thư của Tổng Thống lúc đó là ông Hoàng Đức Nhã, được gọi là “ông trùm truyền thông” thời đó điện thoại cho tôi hỏi “Anh có cho đọc nguyên văn bản tin của Phật Giáo Hòa Hảo không?”. Tôi thẳng thắn trả lời: “Không, tôi chỉ tóm tắt nội dung chính còn đề nghị phát súng tôi không loan bởi vì…”. Ông Hoàng Đức Nhã ngắt lời tôi ngay: “Đúng rồi, anh làm vậy là đúng lắm”. Từ đó ông Nhã nhìn tôi bằng con mắt khác. Đúng là môt câu hỏi “mẹo” rất khôn khéo của ông “trùm truyền thông”.

Đi làm phóng sự Tết

Phòng báo chí của chúng tôi có cái lệ là phải đi làm phóng sự Tết ở các đơn vị từ miền Nam đến miền Trung và Cao Nguyên. Tòa soạn quá ít người nên chính tôi cũng phải làm phóng viên. Anh em đi hết, chẳng lẽ trưởng phòng ngồi nhà nên dù mới cưới vợ cũng phải bò đi làm phóng sự Tết. Tôi nhớ năm đó, vào ngày 28 Tết có trận đá bóng giữa đội của Tổng Tham Mưu VN với một đội của Peru. Thế mà tôi phải rong ruổi ra miền Trung làm phóng sự. Tôi là dân mê đá bóng từ nhỏ nên mang theo cái radio transistor, đi trên xe lửa nghe anh Huyền Vũ tường thuật trận đấu cho đã ghiền.

Giao thừa trên đỉnh đèo Hải Vân
Ra đến Đà Nẵng tôi vào chào Trung Tướng Đỗ Cao Trí là Tư Lệnh Phó Quân Khu 2, tôi còn một mục đích khác là lôi Thanh Nam mới bị tái ngũ học ở trường Huấn luyện ra cùng đi. Tướng Trí ra lệnh cho Thanh Nam ra đi cùng tôi ngay hôm đó. Chúng tôi đi qua đèo Hải Vân vào buổi chiều sắp tàn. Nhìn thấy một tiền đồn đóng tuốt trên ngọn núi Hải Vân nằm lẫn trong mây. Tôi thấy sinh hoạt ở đơn vị nằm cao tít tắp chín từng mây này chắc là đặc biệt nên tôi cho xe Jeep theo đường mòn leo lên đỉnh đèo. Anh lính gác ở đồn canh cho tôi biết đây là một trung đội Địa Phương Quân trấn giữ mỏm núi. Phía sau còn hai trung đội khác.Tôi và Thanh Nam quyết định ăn Giao thừa cùng anh em trong đơn vị này. Một buổi tối khác hẳn mọi buổi tối, chúng tôi nằm giữa những đám mây mỏng không nhìn thấy lưng đèo. Giao thừa thật thú vị với những màn lửa trại và thi hát, thi nói chuyện vui. Có một anh tân binh nói chuyện tình yêu của chính mình rất láu cá. Anh em chất vấn tại sao mày lấy được vợ giàu và đẹp thế? Anh ta kể rằng bị gia đình nhà vợ phản đối, hai đứa bàn nhau “ăn cơm trước kẻng”. Em bị con vợ em nó tát cho một cái nên thân, tưởng em lợi dụng nó. Em nói chúng mình chỉ giả vờ thế thôi mà. Em cứ giả vờ thú nhận với mẹ em là có bầu rồi. Con vợ em nó đồng ý. Thế là nhà nó bắt em phải làm đám cưới ngay. Cưới xong vài tháng thì em vào địa phương quân rồi lên đây. Thanh Nam khoái chí bèn tặng ngay cái khăn quàng mà cô bồ là ca sĩ trẻ đẹp vừa gửi tôi mang ra tặng chàng làm quà Tết. Trong đời tôi sẽ không bao giờ có được một đêm giao thừa như thế nữa.

Nhưng làm báo ngoài thì sướng
Hồi đó tôi thường viết khá nhiều feuilleton cho các báo. Mỗi dịp xuân về, chẳng cần biết các ông ở tòa soạn bận rộn ra sao, chúng tôi chỉ việc gửi bài rồi ung dung chờ lãnh tiền lương tháng 13 và dự tiệc tất niên của chủ báo. Có lẽ làm với báo Truyện Phim của ông Nguyễn Ngọc Linh vào khoảng những năm 58- 60 là khoái hơn cả. Tờ báo lớn đầu tiên về điện ảnh quốc tế và VN do anh em ông Linh sáng lập ở đường Ký Con. Cái tòa soạn bé tẹo nhưng rất… Ăng Lê. Chủ nhiệm ngồi một mình trong phòng kính. Bên ngoài là bàn giấy của Tổng Thư Ký tòa soạn, hồi đó là ông Quốc Phong nên chúng tôi gọi là “ông Tổng Cóc”, cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xíu cùa biên tập viên Gia Tuấn đeo kính trắng, gọi là “Gia Tuấn Sì Cốp”.

Tờ báo được hầu hết các bạn trẻ, học sinh, sinh viên đón đọc hằng tuần. Tất nhiên năm nào cũng có báo xuân và đặc biệt khán giả mua báo được tặng một cuốn lịch thật đẹp của hãng Paramount Pictures, in màu trên giấy couché trắng nõn với 12 tấm hình tài tử thượng thặng quốc tế như Marilyn Monroe, Ava Gardner, Audrey Hepbur, Grace Kelly… cũng nõn nà chết người. Riêng anh em cộng tác, cuối năm còn được tặng một tập báo đủ 12 tháng đóng gáy da mạ chữ vàng cẩn thận. Sau đó lại là một chầu ăn uống nhảy nhót tưng bừng tại một nhà hàng lớn, tăng 2 có thể đi có thể không tùy thích. Tôi chưa bao giờ quên được những kỷ niệm đó.

Nhật báo Chính Luận và ông chủ nhiệm đáng yêu của tôi
Đó là phía tuần báo còn phía nhật báo có tờ báo lớn là Chính Luận, do bác sĩ Đặng Văn Sung làm chủ nhiệm. Cuối năm cũng có chầu tất niên tưng bừng nhưng ông chủ nhiệm đứng đắn nên không cho anh em “múa tay múa chân” ở vũ trường. Ông tổ chức đánh phé ở nhà ông thủ quỹ Lê Tâm Việt.

Tôi nhớ năm đó vừa lãnh lương xong, về chơi phé với anh em trong tòa soạn. Chẳng may thua nhẵn túi. Tôi đứng dậy ra về thì ông chủ nhiệm hất đầu cho anh thủ quỹ Lê Tâm Việt ra lệnh “Phát cho cậu ấy lương tháng 13 đi”. Lê Tâm Việt nói em phát rồi. Ông BS Sung cười hiền lành “Nó thua hết rồi, lấy gì cho nó ăn Tết, phát cho cậu ấy ngay đi”. Thế là tôi lãnh thêm 1 tháng lương nữa rồi ra về, hồi đó tháng lương viết feuilleton cho báo Chính Luận tôi nhớ mang máng là 12.000 VNĐ. Bằng ấy là một khoản tiền khá lớn rồi lại có “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh ở nhà”. Thật thú vị cho một năm mệt nhoài người vì viết, nhưng hồi đó viết là viết chứ không phải lách như bây giờ.

Bạn đã thấy công việc của dân làm báo hay nói chung làm truyền thông xã hội không hề dễ dàng chút nào. Nhưng tôi vẫn nhớ, vẫn chưa bao giờ từ bỏ được cái “nghiệp” của tôi. Tính ra bây giờ là hơn 60 năm rồi, cuộc đời tôi vẫn chẳng làm được nghề ngỗng gì ngoài viết và viết. Tết cũng chẳng bao giờ được nghỉ vì “báo bà nghỉ thì báo ông ra” cho nên cứ phải có đủ bài cho báo. Năm nay cũng vậy thôi. Nhưng đã trở thành thói quen, tôi chưa bao giờ ân hận vì cái nghề này.

Đấy cái nghề làm báo nó long đong như thế, nhưng các bạn trẻ vào nghề rồi khó lòng dứt áo ra đi cho đành. Nó có ma lực quyến rũ đấy các bạn ạ.

Văn Quang
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
3 users thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 2/7/2016(UTC), Hạ Vi on 2/15/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2140 Posted : Sunday, February 7, 2016 4:03:17 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Trọn Vị Mứt Tết Miền Nam



Thiên nhiên ưu đãi cho miền Nam cảnh sắc trù phú, hoa thơm trái ngọt quanh năm. Các loại mứt cửa người miền Nam vì thế cũng đa dạng, nhiều màu sắc.

Tiết lành lạnh ngày đầu xuân khiến người miền Bắc chuộng các loại mứt khô thì người miền Nam còn có thêm những món mứt dẻo. Tùy địa phương mà trong nhà ngày Tết, không thể thiếu món mứt dừa, mứt gừng, mứt chuối, mứt me hay mứt khóm (mứt dứa)… được các bà nội trợ khéo tay chế biến.



Mứt dừa

Đối với người miền Nam, mứt dừa hẳn phải là loại mứt quen thuộc nhất bởi xứ dừa phương Nam trù phú tự nhiên. Nhưng mứt dừa ngon nhất thiết phải được làm từ loại dừa trồng tại nơi cù lao màu mỡ Bến Tre mới cho chất lượng không đâu sánh được. Mứt được làm từ cơm dừa cứng, được bào mỏng, rửa sạch và để ráo nước, ướp đường độ một đến hai giờ rồi đảo liên tục trên chảo, khi nào thấy khô mới mang xuống. Ngoài vị dừa cơ bản vốn đã béo bùi, người ta còn cho thêm sầu riêng để mứt có thêm hương nồng nàn, riêng có của món mứt dừa phương Nam.

Ngày nay, người ta nghĩ là nhiều cách nhiệm mùa cho mứt, khiến mứt dừa không chỉ có màu trắng của dừa, màu vàng của sầu riêng mà còn có thể mang màu xanh biếc của lá dứa, tim tím lá cẩm, đỏ au màu gấc ra chừng đẹp mắt lắm.




Mứt gừng


Cứ tầm sau hai ba tháng chạp, chợ Tết miền Nam lại nhộn nhịp các bà, các cô mua gừng về chuẩn bị làm mứt. Mứt gừng miền Nam ưa loại mứt dẻo, không quá cay, chẳng quá ngọt, chỉ vừa đủ là, gai vị giấc rung lên vị tê tê thích thú.

Mứt gừng thơm bởi củ gừng ta củ nhỏ vốn có vị nồng và dai hơn các loại gừng khác. Sau khi xắt nhuyễn, người ta ngâm gừng vào nước phèn để màu mứt trong hơn. Ngâm xong, lại đem gừng đi phơi nắng độ một ngày rối mới sên. Bắc chảo lên bếp, cho đường vào rồi vắt chanh để mứt không bị lại đường. Khi đường chảy tan ra mới bỏ gừng vào xào. Để biết mứt đã vừa chín tới, người xào mứt dùng ngón tay chạm vào chất sền sệt trong chảo, sau đó dùng hai ngón tay kéo dài ra, nếu thấy có dạng sợi chỉ là biết mứt đã chín. Đậu phộng rang chín, bỏ vỏ, giã sơ rồi rắc lên trung hòa bớt vị ngọt của mứt, làm tăng thêm vị béo bùi hấp dẫn.




Mứt me


Cũng là mứt nhưng mứt me không những giữ được vị chua dìu dịu của trái me, mà còn ngọt ngào thoảng thơm khiến món mứt cũng trở nên thân thiết với Tết của người miền Nam. Mứt me làm từ trái me to nhưng còn xanh, mắt thẳng, cơm dày để cho nhiều thịt làm mứt. Làm mứt me cầu kỳ hơn các loại mứt khác. Me hái trên cây xuống hay mua về cắt bớt cuống, chỉ chừa lại cỡ đốt tay. Me bỏ vỏ, ngâm kỹ cho bớt chua, sau đó lại tách hạt thật khéo cho me không bị nát. Khi nào nếm bớt chua, vớt me vảy ráo nước, tiến hành rim.

Thông thường, cứ 3 kg me tươi bóc vỏ phải dùng đến 1,5 kg đường cát. Kiên nhẫn rim me cho tới khi me có màu vàng trong, bóng mướt, bọc trong giấy kính bảo quản quản dài lâu. Thời gian từ lúc bắt đầu lượm me tới khi có mứt thành phẩm mất cả tuần dài nên mứt me được xếp vào hạng đồ quý, không quá cao sang nhưng thể hiện tấm thân tình sâu sắc của gia chủ với khách tới chơi nhà những ngày đầu năm.




Mứt mãng cầu


Cũng mang vị chua ngọt dễ chịu như mứt me, nhưng có cách chế biến giản đơn hơn một chút là mứt mãng cầu. Người miền Nam tuy khiêm nhường, giản dị nhưng trong ẩm thực cũng tinh tế vô cùng. Để làm mứt mãng cầu ngon trước hết phải chọn được giống mãng cầu chất lượng. Mãng cầu miền Nam ngon nhất là mãng cầu xiêm miền Tây, cho trái ngọt, vị thanh, cơm dày, làm mứt có độ dai vừa phải.


Mứt mãng cầu dai dai, dẻo dẻo cũng gói trong giấy bóng kính đẹp mắt, vị chua ngọt đan xen đã ngon miệng lại chẳng ngấy. Trẻ nhỏ tới chơi nhà đã ăn một chiếc, lại muốn nhón thêm đôi ba chiếc cầm đi đường ăn chơi. Người lớn thấy vậy lại được cùng nhau cười xòa trong không khí đầm ấm của những ngày đầu xuân.




Mứt thơm


Mứt thơm (dứa, hay mứt khóm) làm từ trái thơm vừa qua độ xanh nhưng không được quá chín. Trái khóm gọt võ rửa sạch, cắt làm bốn và bỏ cùi đi rồi tiếp tục thái thành lát mỏng có hình tam giác. Tương tự như sên mứt gừng, khóm được cho vào chảo khi đường đã nóng chảy. Thông thường, để nhận biết lúc mứt vừa ăn, người sên mứt vít một ít mứt cho vào ly nước, nếu thấy mứt sánh lại trong nước là thành công.

Mứt thơm cũng có loại mứt dẻo, mứt khô, loại nào cũng vàng ươm hấp dẫn, lại có mùi hương đặc trưng ngào ngạt khiến ai cũng muốn mê mẩn.




Mứt sen



Mứt sen không chỉ quen thuộc với tết cổ truyền của người miền Bắc mà còn là món mứt quá đỗi gẫn gũi với người miền Nam. Những cánh đồng sen bát ngát miệt vườn sông nước cho loại mứt bình dị mà không kém phần cao sang. Hạt sen thuộc giống quà quý giá đắt tiền nên nhà nào cũng muốn có trong nhà chút mứt sen để bày tỏ tấm chân thành với khách tới thăm hỏi ngày xuân mới.


Để làm mứt sen cần chọn loại hạt to, căng đều đem sấy khô rồi ngâm nước vài giờ cho nở ra. Sau đó trần hạt sen qua nước sôi để hạt sen có độ mềm vừa phải khoảng hai lần rồi ngâm nước lạnh cho hạt dai lại một chút. Quá trình làm mứt sau đó mới bắt đầu. Đường để làm mứt hạt sen phải là đường cát trắng phau, sên chậm mà kỹ. Lửa nhỏ vừa phải cho đường thấm dần đều vào hạt sen, lại phải đảo đều tay và cẩn trọng để hạt sen không bị bung nát. Để có món mứt hạt sen ngon, thông thường người làm mứt còn rắc thêm vào nước hoa bưởi để hạt sen thơm và thanh hơn.

Theo T.H / Depplus
2 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/15/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2141 Posted : Saturday, February 13, 2016 12:28:35 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Tết, cho những ai còn mẹ


Tuấn Khanh's blog




Những ngày cuối năm, khi đang ngang con đường đó, tôi vẫn thấy chiếc xe đẩy, đựng lỉnh kỉnh những những món đồ vá – sửa xe của chị, người đàn bà mà tôi có dịp trò chuyện trong một lần xe cán đinh, vô tình ghé lại.

Sài Gòn, trung tâm thành phố những ngày thường, cái góc nhỏ của chị vốn đã bé mọn, vào những ngày vắng vẻ của ai về nhà nấy đón năm mới, cái góc nhỏ ấy lại càng lẻ loi hơn. Chị Đa, tên của người đàn bà làm nghề vá – sửa xe ấy, nhiều năm đã không còn về quê nữa. Chị chọn đón Tết trong căn phòng trọ thuê ở tận quận Tân Phú, xa nơi chị làm việc đến gần 15 cây số đường đi, mỗi ngày.

Một trưa nắng đến điên người, xe lại bị xì bánh, tôi đẩy xe đến góc đường đó và được chị mời chào vá xe. Ngồi nhìn đôi bàn tay thoăn thoắt của người đàn bà giấu mình vào khẩu trang, nón trùm và áo khoác dày cộm để chống lại cái nắng Sài Gòn, có lẽ ai cũng không khỏi ngạc nhiên vì sao công việc rất ‘đàn ông’ ấy, lại được một phụ nữ đảm đương một cách hoàn hảo như vậy. Trò chuyện mới biết chị Đa đi từ Thanh Hoá vào Nam lập nghiệp từ lúc còn trẻ. Cuộc sống nghèo khổ khiến người chồng bỏ đi lúc chị đang có 2 con nhỏ. Thế là chị thay vào công việc của người chồng để nuôi con. Hơn 15 năm sống ở nhà trọ, vá xe trên vỉa hè, chị chọn vùng đất này là nơi để sông sót và hy vọng.

Hai đứa con của em giờ vào đại học cả rồi anh ạ”, chị Đa nói. Trong những huyền thoại về sinh tồn, có lẽ những câu chuyện về những bà mẹ vô danh như chị Đa đã lặng lẽ dựng nên những cuộc đời khác, đầy hy vọng cho con cái mình, từ những giọt mồ hôi cần lao và kiên nhẫn, là điều bình thường và kỳ diệu nhất. Nhưng ít có sách vở nào nói về họ.

Chị Đa kể rằng chị nhịn không về quê – vì quá đắt đỏ – suốt 15 năm để dành dụm cho hai đứa con đủ tiền ăn học. 15 cái Tết trong đời mình chị đón giao thừa cùng hai đứa con trong phòng trọ với những câu chuyện về miền quê chôn nhau cắt rốn của mình. 15 cái Tết nhìn con cái lớn dần và chào mẹ để bước ra đi chơi với bè bạn, chị lại ngồi một mình, ăn những bữa cơm ngày Tết một mình.

Không ai dạy cho chị Đa làm mẹ. Cũng như không ai dạy cho hàng triệu người phụ nữ Việt Nam làm mẹ. Ngôi trường bí ẩn nào đó của thiên nhiên đã ban tặng cho những người mẹ bài học về tình yêu thương bao la, sự chắt chiu qua khốn khó và dựng nên từng thế hệ. Chị Đa làm tôi nhớ mẹ mình lắm. Nhớ những những ngày Tết mà khi còn mẹ, chốc chốc tôi cứ muốn quay về nhà để xem mẹ ra sao.

Sài Gòn hay Hà Nội, những ngày chuẩn bị đón giao thừa, hàng hàng lớp lớp người khăn gói lên đường về nhà, về quê. Chắc rất nhiều người trong đó, thật ra là về với mẹ. Cái Tết ở Việt Nam nhiều năm nay, mỗi lúc một thiếu đi nhiều phong tục. Tết chỉ còn là một ngày nghỉ dài hơi. Tết có thể là cuộc chạy trốn ngày thường đô thị để tìm về sự giản dị của cha, của mẹ.

Nhưng không phải người mẹ cũng được niềm vui như vậy. Đôi vợ chồng bạn quen với tôi, từ khi làm ăn khấm khá, vài năm trước đã tham gia trào lưu mới của xã hội, là xách vali đi đón Tết ở nước ngoài. Ngày mùng một, họ gọi điện thoại về a lô chúc Tết mẹ. Bà mẹ già cười trong điện thoại mà mắt buồn buồn. Tôi nghĩ đến những đứa con của chị Đa. Chị cũng thúc mấy đứa nhỏ đi chơi để hội nhập đời sống của chúng – năm chỉ có một lần. Nhưng bữa ăn một mình, chắc rồi chị cũng buồn hiu.

Những năm mẹ tôi còn sống, sức yếu rồi nhưng bà cứ lụm cụm, lén ra sân ra tuốt lá mai, vì sợ tôi thấy rồi ngăn. Bà cứ làm những chuyện mà tôi cứ nghĩ là chỉ làm mệt người, do chỉ là thói quen ngày Tết như gọi người đi đánh bóng lại bộ lư đồng, mua ít hoa, nhắc mặc đồ mới. Ấy vậy mà khi mẹ không còn, thiếu những điều tưởng chừng như vặt vãnh ấy, Tết đi đến mọi nơi nhưng không còn ghé vào nhà tôi nữa. Mẹ như một mùa xuân bí mật mà thượng đế đã ban tặng cho mỗi gia đình, mà khi không còn, sự cô quạnh và tiếc nuối sẽ đeo đẳng đến tận cuối đời, nhắc lại trong từng giấc mơ khắc khoải.

Chắc những đứa con của chị Đa còn chưa biết đủ về món quà mà thượng đế ban tặng cho chúng. Hay đôi vợ chồng bạn tôi vẫn chưa tìm thấy được cái Tết thật sự với mẹ mình. Tôi nhìn thấy nhiều cái Tết mà bạn bè mình kể nôn nao được về với Cha, Mẹ… dù đó là nơi vẫn còn thiếu con đường nhựa, chưa có những cây cầu đủ cho chiếc xe đạp chạy qua. Đó là những chuyện kể ấm áp lòng người, mà chỉ nói với nhau thôi, cũng đã nghe xôn xao như Tết đến.

Anh bạn nhà văn của tôi đã hơn 50 tuổi, không cần Tết đến, mỗi khi nhớ mẹ là anh leo lên chiếc xe 3 bánh dành cho người khuyết tật của mình, đi cả trăm cây số để về nhà, đôi khi chỉ đề rờ vào mẹ mình, leo lên võng nhìn mẹ qua lại. Một người bạn khác của tôi, sống bằng nghề ca sĩ và hoạt náo, có đêm gần Tết bỗng gọi điện thoại để tâm sự vì không còn biết nói với ai, rằng anh ta nhớ mẹ quá, rồi khóc rưng rức trong điện thoại. Khi còn mẹ, Tết cho mỗi người cảm giác là trẻ con, bất luận bao nhiêu tuổi. Khi mất mẹ rồi, Tết là cảm giác phải làm một người lớn một mình, mới héo hắt làm sao.

Năm nay, tôi không thấy đôi vợ chồng người bạn quen chuẩn bị vali để đón xuân ở nơi khác nữa. “Mẹ yếu rồi, nên năm nay ở nhà thôi”, người chồng nói như vậy. Tự nhiên lòng tôi mừng như trẻ nhỏ. Vậy là bà cụ được một năm mới bên con cháu đề huề. Dẫu muộn, nhưng rồi xuân đã thật sự ghé đến ngôi nhà đó. Tôi cũng ước hai đứa con chị Đa sẽ ở nhà, ăn bữa cơm với mẹ nhiều hơn. Rồi sẽ có lúc chúng bừng tỉnh và hiểu rằng không có tượng đài nào vĩ đại hơn người mẹ với đôi tay chai sần ấy, cho chúng được ôm chầm lấy từng ngày. Thế gian này, nếu ai cũng thương và nhớ đến mẹ mình, thì đó là lúc cõi hiền lương phủ sáng mặt người.

Không còn mẹ, chẳng còn ai nhắc chuyện đi tuốt lá mai hay đem bộ lư đồng đi đánh bóng. Tết ghé qua ngôi chùa nhỏ, nhìn những phần thạch táng cao như núi, trong đó có mẹ, sao mà mọi thứ nguy nga và nhạt nhẽo đến vậy. Khói hương chỉ nhắc Tết và những ngày tháng đẹp nhất đã đi qua. Người đàn ông đứng gần đó, cứ rì rầm nói chuyện với người đã khuất như một điều kỳ lạ và dịu dàng. Tết không có quá khứ, không có kỷ niệm về Cha, về Mẹ, chắc chỉ là những mùa thụ hưởng của bản năng, vô vị.

Mồng một Tết. Hãy nhớ đốt một nén hương trầm với lòng kính nguyện. Với những ai còn mẹ, hãy mỉm cười hạnh phúc vì đó chính là mùa xuân đẹp nhất ghé qua đời mình mà chúng ta cần níu giữ.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 2/15/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Hạ Vi
#2142 Posted : Monday, February 15, 2016 1:15:07 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)







































sưu tầm






Duy An
#2143 Posted : Sunday, February 21, 2016 2:28:40 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)



Sài Gòn lại bâng khuâng nhớ!



Song Chi


Trong cảm nhận của tôi và có lẽ cũng của nhiều người khác, từ trước Giáng Sinh cho tới Tết là khoảng thời gian mà thời tiết Sài Gòn đẹp nhất trong năm. Trời dịu mát, có năm còn hơi có chút không khí se lạnh cho chị em diện những chiếc áo len, áo khoác mỏng làm điệu khi ra đường. Nắng cũng dịu, có một màu vàng rất bâng khuâng. Và tâm trạng con người trong những ngày này cũng nửa bâng khuâng, xao động mơ hồ vì một năm lại sắp qua đi, nửa nôn nao chờ năm mới đến…

Trong những ngày này có lẽ chỉ có giới doanh nhân, công nhân viên chức, ngành y…là vẫn bận bịu bù đầu không mấy để ý đến thời gian, còn đám làm báo, làm văn nghệ, giới nghệ sĩ dường như ai cũng có chút lười biếng, trễ nải, xao xuyến…Với tôi, đây là khoảng thời gian tôi thường hay ngồi quán café với bạn bè, chuyện gẫu, nhìn thời gian đi qua theo những dòng xe cộ ngược xuôi trên đường phố, theo những tia nắng từ lúc rực rỡ lọt qua những hàng cây, trên mái ngói của một ngôi nhà cổ bên đường cho đến lúc nắng đổi chiều, đổi màu, nhạt dần trên những bức tường cũ rồi biến mất, và một ngày nữa đã qua…

Cứ vào khoảng thời gian này, tôi lại hay nhớ Sài Gòn.

Nhớ Sài Gòn trước hết là nhớ cái thời tiết thất thường nắng đó mưa đó, nắng thì đổ lửa mà mưa thì ngập lụt phố thành sông, cực hết biết. Là nhớ những con đường gắn bó thân quen qua từng thời kỳ, tuổi đi học, tuổi biết yêu, lúc đi làm…Một trong những thói quen của tôi là buổi chiều chiều khi không có việc gì làm, tôi thường chạy xe lang thang qua những con phố, vòng lên khu trung tâm, có khi ghé vào một hiệu sách mua mấy quyển sách mới, rồi lại chạy lang thang, ngắm nhìn phố xá, dõi theo từng thay đổi của thành phố. Một thời Sài Gòn nổi tiếng bởi những con đường rợp bóng cây, nhất là rợp bóng lá me xanh đã từng đi vào những bài thơ, bài hát: “Trả lại em yêu khung trời đại học. Con đường Duy Tân cây dài bóng mát” (Ca khúc“Trả lại em yêu”, Phạm Duy), hoặc “Nhớ đèn đường từng đêm thao thức, Sáng che em vòm lá me xanh” (Ca khúc “Em còn nhớ hay em đã quên”, Trịnh Công Sơn)…Vào mùa lá rụng, con đường li ti lá vàng như trải hoa vàng cho phố xá.

Những con đường Sài Gòn bây giờ phần lớn không có cây. Và nhiều con đường với hàng cây cổ thụ rợp bóng mát đã bị chặt trụi cho nắng nóng càng thêm đổ lửa xuống mặt đường, cháy bỏng làn da.

Nhớ đường nhớ phố và nhớ những con hẻm. Những con hẻm là một trong những nét rất đặc trưng của Sài Gòn. Một lần tôi đã từng viết trong bài “Sài Gòn hẻm”:

“Có thể nói không ngoa rằng ai sống ở Sài Gòn mà chưa/không từng có thời gian sống trong những con hẻm, thì coi như vẫn chưa hiểu được đầy đủ chân dung đa diện của Sài Gòn, tính cách của con người Sài Gòn.

Sài Gòn có đến hàng ngàn hàng vạn con hẻm. Có những con hẻm rộng rãi, ngay ngắn, xe hơi xe tải đều đi lọt. Nhưng cũng có những con hẻm hẹp đến nỗi không đủ chỗ cho hai người đi bộ cùng bước. Có những con hẻm dài hun hút, có những con hẻm ngoằn ngoèo vào đến bên trong lại rẽ trái rẽ phải, đoạn phình ra đoạn teo tóp lại, như lạc vào mê cung. Có những con hẻm xuyên từ hẻm này sang hẻm khác, từ đường này qua đường khác và có những con hẻm cụt, chỉ có một đường ra duy nhất.

Những con hẻm có một đời sống riêng, khác với đời sống, nhịp sống bên ngoài đường lớn, ngoài phố thị…”

Nhớ Sài Gòn là nhớ những ngôi chợ. Ở nước mình thì thành phố nào, vùng nào mà chả có chợ. Nhưng phải đi xa, sống ở một thành phố châu Âu không có chợ, chỉ có siêu thị như tôi đang sống, mới thấy nhớ chợ. Siêu thị dù sạch sẽ, sang trọng, văn minh nhưng cái nào cũng giống giống cái nào, và chỉ có thực phẩm đông lạnh, hoặc đóng gói, đóng hộp, không thể có những con tôm nhảy kêu tanh tách, những con cá còn đang thở, giãy trên mâm, những con gà con vịt còn sống nguyên…Không thể mỗi gian hàng bày biện mỗi khác, kể cả mỗi cái chợ mỗi khác nhau, từ kiến trúc bên ngoài cho đến cách bố trí, mặt mạnh, những đặc trưng riêng về hàng hóa…

Cũng trong một bài viết khác, “Lan man giữa siêu thị và chợ”, tôi đã viết:

“…Như ở Sài Gòn chẳng hạn, bao nhiêu là chợ, từ chợ Nguyễn Văn Trỗi, chợ Phú Nhuận, chợ Tân Ðịnh, chợ Bến Thành, chợ Bàn Cờ, chợ Vườn Chuối, chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Dân Sinh, chợ Cô Giang, chợ Nancy, chợ Xóm Chiếu, chợ Thái Bình, chợ Hòa Bình, chợ Xã Tây, chợ Phú Lâm, chợ Minh Phụng, chợ Bình Tiên, chợ Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn hay chợ Bình Tây, chợ Bà Hoa, chợ An Ðông, chợ Văn Thánh, chợ Bà Chiểu, chợ Thanh Ða, chợ Thị Nghè, chợ Gò Vấp, chợ Tân Bình, chợ Phạm Văn Hai, chợ Bàu Cát, chợ Thủ Ðức, chợ Linh Xuân, chợ An Lạc, chợ Bình Chánh v.v…

Lại có nhiều loại chợ chuyên về một vài mặt hàng hóa. Như chợ vải Soái Kình Lâm, chợ Kim Biên chuyên bán các loại hóa chất công nghiệp, hóa chất thực phẩm, chợ Bình Ðiền, quận 8 là chợ đầu mối chuyên kinh doanh và cung cấp các mặt hàng nông sản, chợ An Ðông mạnh về áo quần, đồ lót…

Chợ hoa Hồ Thị Kỷ, quận 10 là chợ hoa đầu mối lớn nhất thành phố. Hoa ở chợ có xuất xứ chủ yếu từ Ðà Lạt và các tỉnh miền Tây. Chợ Vật liệu xây dựng ở Trịnh Hoài Ðức, Phường 13, Quận 5. Chợ Thủy hải sản chuyên doanh hàng cá khô, mực khô, tôm khô, ở Trần Văn Kiểu, Phường 10, Quận 5. Chợ bán hàng điện tử, băng đĩa, DVD ca nhạc, phim...ở đường Huỳnh Thúc Kháng, quận 1...

Chưa kể, có những loại chợ độc đáo như chợ bán đồ cũ toàn hàng “độc” từ đồng hồ, mắt kính cổ, dây đeo thắt lưng, giỏ xách, bật lửa, tẩu thuốc lá cổ, chén uống rượu, cái máy may xưa, máy chiếu phim cho đến những chiếc xe gắn máy được sản xuất cách đây dăm bảy thập niên trở lên…nằm trong con hẻm cạnh cầu Băng Ky (đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh).

Chợ sâu bọ-chỉ là một góc nhỏ sát bên Plaza Thuận Kiều, nơi trao đổi, mua bán các sâu bọ, côn trùng, động vật nhỏ, kể cả chim chóc. Ngoài khu chợ chim ở đây, còn có chợ chim Lê Hồng Phong (quận 10) hay chợ chim Trường Chinh (quận Tân Bình) với đủ loại chim quý, đủ màu sắc. Chợ cá cảnh nổi tiếng ở ngã tư Lý Chính Thắng, Nguyễn Thông, quận 3. Chợ chó mèo ở Lê Hồng Phong, quận 10 v.v…Có thể kể cả ngày cũng không hết.

Chưa kể sự khác nhau về quy mô từ to lớn như các chợ đầu mối cho tới chợ cóc, chợ xổm…ở một khu cư dân hay một con hẻm nào đó…”

Chợ là cái hồn của một thành phố và cả của một dân tộc. Qua những khu chợ, du khách không chỉ hiểu thêm về thực phẩm, đặc sản…mà cả lối sống, văn hóa của người dân nơi đó. Chính vì vậy, mỗi khi đi du lịch đến một thành phố nào đó, tôi vẫn hay bỏ thời gian dạo qua những khu chợ. Với tôi, cư dân ở nơi nào vẫn còn giữ được chợ và văn hóa chợ là một, có được ẩm thực đường phố là hai, là niềm hạnh phúc cho họ và cho cả du khách.

Nhớ Sài Gòn, là nhớ quán café. Sài Gòn có vô số quán café, quán bar, quán trà đẹp, mỗi quán mỗi cung cách trang trí khác nhau. Có quán nằm dưới tầng hầm, trang trí như một quán rượu kiểu Mexico, chơi nhạc sống sôi động. Có quán nằm trong một khách sạn sang trọng, hàng đêm có nghệ sĩ chơi piano, violon trình tấu những hòa khúc nhẹ nhàng không lời. Có quán hoài cổ, chọn một ngôi biệt thự kiến trúc Pháp xưa, rồi trang trí như trong những bộ phim Pháp thời Ðông dương; hoặc một ngôi nhà mái ngói, cột, rường gỗ với những bức hoành phi, những bức thi pháp nét chữ rồng bay phượng múa. Có quán cũng chuộng cổ nhưng theo lối khác, chưng bày đủ mọi thứ vật dụng từ cái đĩa hát, cái ống nhòm, cái máy đánh chữ…thời xưa, nhạc thì hoặc Trịnh Công Sơn hoặc những ca khúc Anh, Pháp thập niên 40, 50, 60 cho tới 90. Có quán trang trí theo kiểu trà thất của Nhật Bản, khách ngồi xếp bằng trên chiếu, chờ những cô tiếp viên mặc kimono giả Nhật chậm rãi tiếp trà theo đúng phong cách trà đạo. Có quán chuộng thiên nhiên, diện tích nhà vườn rộng mênh mông, khách ngồi giữa bao nhiêu cây cảnh, hòn non bộ, suối giả…Có quán nằm ngay trong khu Tao Ðàn, lợi dụng cây cối và cả tiếng chim của hội chơi chim hay mang đến vào mỗi buổi sáng. Có quán thiết kế hiện đại, nằm trên lầu cao một tòa building lớn với cái view bao quát cả khu trung tâm thành phố. Có quán ngồi ngay giữa ngoài trời. Có quán lại vào sâu trong con hẻm…Bao nhiêu quán là bấy nhiêu phong cách. Cứ một thời gian giới văn nghệ lại đồn đãi nhau về một quán mới mở, rất hay nào đó.

Ngồi quán café là một thói quen của người Việt ở các thành phố lớn nhỏ. Nói cho cùng ở những thành phố của xứ mình, không ngồi quán thì biết đi đâu? Bạn bè chuyện gẫu kéo nhau ra quán café, quán nhậu. Tình nhân rủ nhau ra quán rủ rỉ lời yêu đương. Rồi bàn bạc, ký kết hợp đồng làm ăn nhiều khi cũng ở ngoài quán. Giới văn nghệ không ít người viết báo, viết truyện và cả viết kịch bản, hẹn diễn viên…cũng ngoài quán. Nhiều khi nhà cửa bề bộn chật hẹp, ra quán vừa có không gian đẹp, trời nóng lại có máy lạnh trốn nắng, nên thế là cứ làm việc luôn ngoài quán.

Với nhiều người trong đó có tôi, có khá nhiều kỷ niệm gắn bó với những cái quán café khác nhau. Mỗi một giai đoạn trong cuộc đời lại hay ngồi ở một cái quán nào đó. Nhiều khi chẳng phải vì cái quán này đẹp hơn, thức uống ngon hơn quán khác, nhưng ngồi vì thói quen, vì kỷ niệm. Có những người còn cực đoan đến nỗi chỉ ngồi một quán trong nhiều năm, và ngồi đúng một chỗ.

Nên nhớ Sài Gòn là nhớ những quán café. Là nhớ những quán ăn ngon, những món ăn ngon. Có nhiều khi món ngon nhớ cồn cào lúc đi xa lại là những món ăn vặt rất tầm thường. Như một người bạn quen, cũng trong giới văn nghệ sĩ, hồi chị lấy chồng đi Mỹ tôi vẫn còn ở VN, lần nào về chị cũng rủ tôi hoặc ra góc đường Lê Thị Hồng Gấm-Nguyễn Ðình Chiểu tức Pasteur-Phan Ðình Phùng cũ, ăn món khoái khẩu của chị là hột vịt lộn hoặc hàu sống chấm mù tạt cay xé lưỡi; hoặc ra khu phố Tây ăn các món hải sản-ốc bươu luộc, ốc mỡ xào me, sò huyết nướng hành mỡ…Có khi chỉ là món bò bía, món bắp xào bình dân tại hồ Con Rùa, hay món gỏi đu đủ khô bò ở công viên Lê Văn Tám… Cho tới những món ăn ngon trong các nhà hàng sang trọng, những ly cocktail pha chế cầu kỳ, có những cái tên gọi rất khêu gợi trong một quán bar ở khu trung tâm…

Và bao giờ khi nhớ những cái quán cũng là nhớ những khuôn mặt bạn bè, tình nhân một thời. Năm tháng qua đi, khi nhớ về nhau chỉ còn nhớ những điều đẹp đẽ, ngọt ngào. Những nỗi buồn, cả những thất bại, cay đắng trong cuộc sống nếu có, bộ nhớ đã tự động loại bỏ, cho lòng nhẹ nhàng. Và do đó khi nhớ về Sài Gòn, nhớ về Việt Nam, tôi chỉ còn cất giữ những cảm giác hạnh phúc, càng để lâu càng đậm đà, như rượu càng lâu năm càng ngon, như những bài hát, những quyển sách, bộ phim… càng cũ càng có giá trị, một giá trị đã được thử thách theo thời gian, bởi những gì không có giá trị thì đã bị loại trừ rồi…

Chợt nhớ một câu hát trong bài “Em còn nhớ hay em đã quên” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

“Em còn nhớ hay em đã quên?
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng…



“Em ra đi nơi này vẫn thế
Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ”…


Sài Gòn vẫn thế. Cuộc đời vẫn thế. Chỉ có ta đã đi xa, đã qua một khoảng đời khác.

Cứ vào những ngày trước Tết, tôi lại nhớ Sài Gòn…
2 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/22/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
CỏThơm
#2145 Posted : Monday, February 22, 2016 1:26:01 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)






Tháng….Giêng mưa


Tháng Giêng mưa . Tháng Giêng mưa!
Ô hay , mùa lại đổ thừa cho mây
Chuồn chuồn bay rối vạt ngày
Chiều rưng rức nắng , chạm tay nỗi buồn

Em về áo tím , tím suông
Thương con sóng nhỏ vấn vương mạn thuyền!
Câu hò gãy vụn vần duyên
Nụ cười rơi lạc tận miền nhớ nhung!

Em về phím lệch tơ chùng
Đàn không ru nổi cung Xuân lỡ thì
Gío không mang nổi sầu bi,
Đêm không chở nổi giấc si dại tình!

Em về. Tôi ở một mình.
Tháng Giêng bịn rịn , nghe hình đổ mưa!



SUADX





1 user thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2146 Posted : Friday, February 26, 2016 7:16:02 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
February 12, 2016

MỐI TÌNH ĐẦU

Bùi Bảo Trúc


Nếu trở lại được Sài Gòn (mà chắc tôi sẽ không bao giờ làm được) tôi sẽ đăng trên báo mẩu nhắn tin nhắn như thế này:

"Tìm chiếc mobylette mới đi được có hơn một năm, mất tại sân trường Chu Văn An năm 1962. Sẵn sàng chuộc lại bất cứ tình trạng nào. Cam đoan không làm khó dễ. Xin liên lạc tại địa chỉ sau đây..."



Đăng thì đăng vậy chứ hy vọng tìm lại nó chắc không có được bao nhiêu. Tính từ đó đến nay là đã 54 năm. Bình thường chiều dài thời gian ấy nhất định là dài hơn đời sống của một chiếc xe mobylette. Trong tình trạng lý tưởng nó cũng không thể sống lâu được như thế, huống chi đã bao nhiêu chuyện vật đổi sao dời thì làm thế nào còn nó được nữa. Tôi có nó từ mùa hè năm đệ tam, sau khi đỗ (vớt) trung học phổ thông vì quá dốt toán (từng oanh liệt rớt hai lần vì bị zéro điểm toán). Khi bảng vàng (?) ghi tên rõ ràng ở nha khảo thí, tôi được ông bố dẫn đi mua nó ở đường Minh Mạng như một phần thưởng vì đã có được cái bằng mà sau đó tôi cũng chẳng buồn mang về nhà.

Tôi nhớ được ông bố tôi dẫn đi mua nó ở một tiệm bán xe nằm trên đường Minh Mạng. Thời ấy mua xong là có thể chạy liền, chẳng cần đăng bộ hay phải thi bằng lái gì hết. Xe cũng không cần bảng số, cứ tự do phơi phới lôi ra chạy "rodage" cho máy...quen. Mỗi tuần được phát 5 đồng đổ xăng để đi học (thì ít). Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Đi chơi nhiều, hết xăng thì vặn một cái nút gần pédale trái là... đạp như xe đạp để đến trường. Trò này cũng được lôi ra dùng để tiết kiệm xăng phòng khi cần đến để đi chơi.

Có nó được hai ngày thì người bạn ngồi cạnh mang tới tận nhà kìm búa lắp vào cái porte bagage một cái yên bọc trên cái yên simili cũ. Hỏi chàng sao lại tử tế như thế thì chàng đáp một cách rất ngon lành rằng để chở chàng... đi chơi cho êm. Sau đó, mỗi ngày đi học, chàng đều gửi xe đạp của chàng ở gần nhà tôi để ngồi trên cái yên simili chàng tặng (?) tôi, và chúng tôi đi học.

Trong ba tháng hè kế tiếp, tôi dùng nó để đi học tiếng Anh với Frances Nolting, con của đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Thời ấy Sài Gòn còn an ninh lắm. Nhà nàng ở trên đường Hiền Vương, ra vào dễ dàng, cho tới khi ông Nolting bị ám sát hụt thì chuyện học tiếng Anh của tôi với Frances mới chấm dứt. Cái mobylette ấy cũng vài ba lần chở cô Mỹ ấy trên yên sau chứ bộ. Hơn nửa thế kỷ rồi không biết bà già Frances có còn nhớ cái lưng của người trai đất Việt ngày ấy không. Và cái yên simili chắc cũng đã quên mấy cái váy đầm của con gái cụ sứ rồi.

Trở lại trường, phần thưởng cho cái bằng trung học phổ thông đã cho hai chàng tuổi trẻ những buổi trốn học huy hoàng nhất. Trò trốn học bắt đầu từ năm đệ tứ, qua đến năm đệ nhị thì những tên học trò học dốt nhất cũng trốn học thành... thần. Những giờ toán, lý hóa gần như thầy trò không bao giờ biết mặt nhau. Hai người trai thế hệ (?) có mặt trong thư viện, bên xe bò khô, bò bía, tiệm sách Khai Trí, Phúc Thành, Việt Bằng, Xuân Thu, hay bên kia cổng mấy trường nữ trung học nhiều hơn.

Nhớ mấy câu của Đinh Hùng:

Ôi khoái lạc những giờ trốn học
Những bình minh xuân đẹp, những chiều thu
Bao cảnh nước mây đằm thắm hẹn hò
Khi biếng gặp nhớ nhung pha mầu áo..
.

Năm học đệ nhị qua đi một cách dễ dàng. Cái mobylette đưa chúng tôi đi nhiều nơi khác kỳ thú nữa. Các rạp chiếu bóng thường trực Vĩnh Lợi, Nguyễn Huệ, Casino Đa Kao... Những lúc trong một ngôi chùa ở Thủ Đức, những chiều ngồi trên bến sông Sài Gòn nhìn qua Thủ Thiêm:

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Trời không xanh, không tím, không hồng
Những ống khói tầu mệt lả... (Thanh Tâm Tuyền)


Từ chỗ chúng tôi ngồi nhìn ra sông Sài Gòn là những chiến hạm của hải quân, mùi dầu, mùi nắng chiều, những cây dừa nước quằn quại bên kia sông. Chúng tôi không biết phải làm gì trong những ngày trước mặt. Hai câu thơ không biết của ai cứ trở đi trở lại mãi trong đầu:

Tôi chẳng chờ ai, chẳng đợi ai
Buồn hoang phong kín tuổi đôi mươi...


Hai câu cũng chẳng hay ho gì, nghe hơi rẻ tiền là đằng khác. Sau mùa hè, chúng tôi trở lại với năm cuối của trung học. Cái mobylette vẫn tiếp tục là phương tiện trốn học của chúng tôi.

...Hỡi thành đô với linh hồn bách thảo
Còn nhớ ta chăng, tuổi trẻ tóc bay
Làm học trò nhưng không sách cầm tay
Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ... (Đinh Hùng)


Thỉnh thoảng những tiếng đông của chiến tranh đã bắt đầu vọng về. Kỳ thi tú tài I đã khiến một vài người bạn trong lớp rời khỏi trường. Chúng tôi trở lại trường cho năm cuối của trung học. Đang vui với cái tú... đơn vừa cầm trong tay được hai ba tháng thì nó bỏ tôi. Tôi cẩn thận khóa nó bằng hai cái khóa vậy mà sau khi học được hai giờ đầu định trốn đi ngồi cà phê Brodard thì không thấy nó. Nghĩ một người bạn nào nghịch phá dời nó đi chỗ khác, tôi đi kiếm nó ở khắp khu nhà xe cũng không thấy. Thôi cũng như ông Tú Xương bị mất ô ở nhà cô đầu vậy:

...Sợ rồi rầy gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình...


Thế là lại trở về với chiếc xe đạp vậy. Cho đến sau kỳ thi tú tài 2 và sau đó tôi rời Việt Nam đi du học.

Thỉnh thoảng tôi cũng nghĩ tới nó. Không biết nó trôi giạt về đâu. Nó "sống" như thế nào. Nó bị / được bán cho ai. Chủ mới của nó đối xử với nó ra sao. Nó có được một đời sống tử tế không. Cái yên sau có được đỡ lấy một sự dịu dàng thân mến không. Hay nó trải qua những ngày tháng nhọc nhằn của một kiếp xe lôi...

Còn người mở được hai cái khóa lấy nó đi thì ông ta còn lấy đi niềm vui, lẽ sống của bao nhiêu người nữa. Chắc ông cũng không cách nào nhớ nổi cái mobylette của tôi. Tôi không giận ông nữa. Mong ông qua cơn túng thiếu chứ không dính vào những chuyện khác.

Tôi mất cái xe thì cũng mất vào tay của một người Việt chứ có đi đâu như một người đã nói trong một truyện cổ tôi đọc đã lâu vậy.

Chuộc được nó tôi cũng chẳng biết sẽ làm gì với nó cả. Cũng hệt như tìm lại được mối tình đầu ấy mà. Nhiều lắm là nhìn nhau mà... lệ ứa là cùng. Có nói cũng không cùng mà thôi...

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
CỏThơm on 2/28/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
CỏThơm
#2147 Posted : Sunday, February 28, 2016 1:30:12 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)






Vàng thơm cả tháng giêng


Lũ én bay qua mùa thơ lục bát
Gọi nhau về tháng chạp hạt thóc chín quê hương
Đất bình nguyên ngang dọc những dòng sông
Mùa nước mặn phèn vàng chân con gái.

Vàng thơm cả tháng giêng dạm hỏi
Những cây cầu lắc lẻo trăm năm
Ngoài vàm sông đợi lúc trăng rằm
Con nước lớn chảy tràn lan như biển.

Sáng sớm qua sông hái bông điên điển
Áo sẽ thơm mùi cỏ dại hoa đồng
Khi đêm về lòng nhớ mênh mông
Tâm xanh biếc cả khung trời cao rộng.

Ta vẫn đợi những mùa gió lộng
Thả cánh diều cho lướt thướt tung bay
Lòng sẽ hiền như nhánh cỏ may
Nghe thơm thảo những mùa xuân thơ ấu.



Lý Thừa Nghiệp





1 user thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2148 Posted : Friday, March 11, 2016 3:00:43 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)


Còn đâu một thời xích lô máy Sàigòn


Trần Tiến Dũng/NV


Một hôm, người bạn trẻ tuổi của chúng tôi, hỏi: “Ông này, cái xe gì mà lôi thôi thế này, phải xe công nông kiểu Sài Gòn không hả ông?” Chúng tôi không ngạc nhiên bởi anh là dân Hà Nội mới vào dạo một vòng Chợ Lớn. Còn chiếc xe anh vừa hỏi đúng là không còn ra hình thù một loại phương tiện giao thông nữa, chiếc xe đang đậu ở một góc đường trước cổng chợ Kim Biên trông giống cái giường sắt di động hơn là giống chiếc xe.

Ðể cà kê với anh bạn Bắc mới, chúng tôi nói: “À, anh biết cựu Tổng Thống Mỹ George W. Bush không. Tiếc là trước năm 1975 ông này đi lính Mỹ lái máy bay, chớ nếu ổng đi lính bộ binh thì chắc có khi ổng cũng đã đặt đít lên chiếc xích lô máy này để dạo chơi Sài Gòn – Chợ Lớn. Xe này được gọi là xe xích lô máy. Cả miền Nam Việt Nam trước đây tỉnh thành nào cũng có xe xích lô đạp nhưng đặc biệt Sài Gòn có thêm xe xích lô máy.”




Nhớ xích lô máy

Một người bạn khác nay đã ở tuổi trung niên kể: “Tôi nhớ lúc nhỏ từ Chợ Lớn đi Sài Gòn, mỗi lần đi không ham Taxi, không ham xe bus… mà chỉ đòi cha mẹ ngoắc tay kêu xích lô máy. Gia đình đông bốn năm người, con nít thì ngồi dưới sàn xe, người lớn ngồi trên nệm như ghế salon, xe chạy ù ù, qua mặt xe khác vù vù, cả nhà đưa mặt ra hứng gió, tai nghe máy mô tô, tiếng pô xe nổ phình – phịch – bình – bình oai phong hết sẩy.”

Một người bạn già khác lại nói: “Tài tình nhất là cảnh xe xích lô máy đút đít xe phía trước. Má ơi, cứ tưởng là cái cản xe thế nào cũng đụng vào xe hơi, xe gắn máy, nhưng hổng sao hết bởi dân lái xích lô máy thiện nghệ vô cùng.”

Một người lớn tuổi hơn kể. “Trước năm 1975, người Mỹ cả dân sự lẫn quân sự đều thích đi xe xích lô máy, một phần vì lạ, phần nữa là ngồi xe xích lô máy có chút mạo hiểm. Tôi nhớ hoài cái cảnh mấy ông Mỹ hứng thú la hét khi xe xích lô máy chạy nhanh chồm tới thiếu điều muốn đụng đít xe hàng.”

Ở góc độ ký ức đô thị hẳn nhiều người không bao giờ quên hình ảnh xe xích lô máy.





Trong dòng thời gian một ngày của Sài Gòn trước đây, tiếng xe xích lô máy thức giấc sớm nhất. Từ các ngả đường của đô thị, xích lô máy chở những người bạn hàng tỏa đi khắp các chợ với đủ loại thực phẩm, hàng hóa hoặc chở khách tỉnh lên Sài Gòn tấp vào tiệm nước làm ly cà phê xây – chừng, cái bánh bao, tô hủ tíu. Cảnh phố khuya thanh vắng tiếng xe xích lô máy vang lên. Một bà bầu nào đó, một đứa trẻ hoặc người già trở bệnh, một kỹ nữ hay một người lính VNCH nào đó say mèm đang trên đường với xe xích lô máy. Tiếng xe xích lô máy nổ như tiếng ồn ồn của một người đàn ông thân thiện. Người ta nhớ rằng thời đó, mỗi góc chúng cư, mỗi ngõ hẻm, bệnh viện, bến xe đều có những bác ba, chú tư, anh hai xích lô máy túc trực; người ta cũng không quên rằng những bác tài xích lô máy đáng được tôn trọng như một biểu tượng về sự an toàn và sự kịp thời trong những tình huống cần kíp của người Sài Gòn.

Theo tìm hiểu thì xích lô máy xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1940-1950. Xe do hãng xe Peugeot của Pháp chế tạo. Chiếc xích lô máy ngày xưa với nhiều màu sơn sặc sỡ, xe có thể chở với trọng lượng vài trăm ký lô là bình thường. Người chạy xe xích lô máy thời đó rất cao bồi và tất nhiên được trọng nể hơn người chạy xe xích lô đạp, bởi vì sở hữu được một chiếc xe xích lô máy khoảng gần chục lượng vàng là coi như có một gia tài khấm khá. Thành ra bác tài chạy xe xích lô máy đội nón nỉ, nón cối, đeo kính mát, trông lúc nào cũng phong độ. Ngày xưa xe xích lô máy có bến riêng hẳn hoi. Người người còn nhớ ở cầu Hậu Giang, ở khu Bà Chiểu… có những hãng chuyên cho thuê xe xích lô máy.





Ngày nay với chủ trương cấm lưu thông xe cũ nhằm tạo điều kiện để đưa một loại xấu xí nhất thế giới là xe ba-gác Trung Quốc vào chiếm lĩnh thị trường, thì xe xích lô máy coi như đã chết hẳn. Lúc chúng tôi phát hiện mấy chiếc xe xích lô máy tan nát còn đậu chở hàng ở bến chợ Kim Biên, thiệt tình mà nói trong lòng thấy ngậm ngùi quá. Chúng tôi nhớ đến một người bạn thi sĩ nghèo, ông này tâm sự. “Tôi ngày nào cũng mua vé số, cầu cho trúng, chỉ cần trúng đủ mua một chiếc xe xích lô máy còn zin là được. Cha ơi! Chiều chiều cuối tuần mình chạy xích lô máy chở bạn bè làm vài vòng Sài Gòn để thiên hạ ngày nay biết dân Sài Gòn xưa bảnh như thế nào, sướng phải biết!”

Tất nhiên, nhiều người chia sẻ cái sự sướng với anh thi sĩ về chiếc xe đặc biệt – đặc trưng của một thời Sài Gòn hoa lệ này. Trước những giá trị sống của dân tộc và đất nước bị đảo lộn bị đánh tráo dưới chế độ hiện nay; thôi thì níu kéo làm cuộc mưu sinh và vẻ đẹp trên đường phố của xe xích lô máy.

Nhưng đã là người Sài Gòn thì sao không nhớ xe xích lô máy cho được, sao không nghe tiếng xe xích lô máy vang lên trong ký ức thao thức mỗi đêm.

2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 3/26/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2149 Posted : Wednesday, March 23, 2016 4:06:19 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Một bài viết cho báo thiếu nhi



Wednesday, March 23, 2016 3:37:21 PM
Viên Linh

1-Duyên Anh và Tuổi Ngọc.

Tại Sài Gòn trước 1975 có rất nhiều báo thiếu nhi, một vài tờ phát hành rộng rãi và lâu dài phần đông do các nhà văn có tên tuổi phụ trách việc biên tập, như Duyên Anh, Nhật Tiến,... Trong một dịp nói chuyện với các thính giả, độc giả cuối năm 2015, người viết bài này đã thổ lộ là trong văn nghiệp của mình, vốn là người “không có thời niên thiếu trong văn chương,” đại ý là như thế. Trước sau chỉ còn tìm thấy... hai bài, mà bài thứ hai chỉ mới được một độc giả gửi cho qua Internet cách đây vài ba tháng! Đó là bài “Một ấu thời hà khắc.” Trang báo độc giả gửi cho có mục “Ngày xưa còn bé,” và đoạn số 2 bài này xuất hiện trong mục ấy.




Một tờ báo thiếu nhi ở Sài Gòn năm 1972: Mây Hồng, không rõ tên chủ nhiệm chủ bút. (Hình: Viên Linh cung cấp)


Nhìn trang bài, chỉ có một trang, tác giả đoán xem tên tờ báo này là gì, mà không đoán ra, song nghĩ là báo của Duyên Anh, vì mang máng nhớ bài viết sở dĩ có là vì Duyên Anh xin, và do không có nhuận bút, nên bài chỉ dài có một trang. Mang máng nhớ tên báo của Duyên Anh là Tuổi Ngọc. Nhớ như thế là bởi vì khoảng giữa thập niên '60, có lẽ là năm 1965, hai ông tướng đảo chánh Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính xuất bản nhật báo Công Luận, Duyên Anh coi trang trong, có mời tôi viết một truyện dài từng kỳ, Cuối Cùng Em Đã Đến, kéo dài mãi cho đến khi Nguyễn Thị Hoàng in thành sách, dày tới ngót 600 trang. Trong thời gian ấy Duyên Anh thường rủ tôi đi hớt tóc tại một tiệm rất thời trang trên đường Gia Long, và vô số chuyện thời sự văn nghệ chính trường đã được trao đổi. Sau tôi cũng giữ thêm một mục tạp luận trên báo Công Luận, lấy tên là Nhận Đường, mà một hôm Mai Thảo hứa đưa bài, phút chót không viết nổi, tôi phải viết thay, vẫn đề tên Mai Thảo như đã quảng cáo từ trước. Những bài viết trên báo hàng ngày thường là bỏ mất, không ai có thì giờ thu cắt lại, có làm, mà làm cho có mà thôi. Bài “Một ấu thời hà khắc” viết cho báo của Duyên Anh, nửa thế kỷ thấy lại, tôi cứ trầm ngâm, không biết nghĩ sao, vì tâm tình nửa thế kỷ trước không thể nào là suy nghĩ bây giờ, nhưng vẫn là mình!

2-Một Ấu Thời Hà Khắc.

“Tôi phải nhiều can đảm lắm mới dám thú nhận rằng mãi đến năm tám tuổi tôi mới bắt đầu học ABC. Lúc tôi cắp sách đến trường làng, bọn trong lớp tỉnh khô, vì có đứa còn to đầu hơn tôi nữa. Nhưng ba năm sau khi đặt chân lên Hà Nội, bước vào trường tiểu học Đồng Nhân trong khu đền thờ Hai Bà, cái sự bẽ bàng mới đến với tôi, đến trong một đường thẳng sỗ sàng, diễu cợt. Là đứa học trò lớn tuổi nhất, lù lù trên hàng ghế cuối lớp, ngơ ngẩn và lẻ loi, lúng túng, quờ quạng trước một mặt bàn thấp, nhỏ. Nhưng cũng may, nỗi bất hạnh và sự trễ tràng ấy đã khiến tôi học hành khá chăm chỉ, và tập cho tôi được tính nhẫn nhục lạ lùng. Trong những vụ xích mích xảy ra, trong những cuộc đánh nhau không tránh khỏi, tôi luôn luôn bị coi là đứa nhút nhát, ngừng tay khi còn có thể đấm vài quả nữa vào mặt, vào bụng đối thủ cũng là do tính nhịn nhục này. Tôi biết là mình to xác, nếu đánh thẳng tay thì chúng càng ghét bỏ, trêu chọc mình, cho nên tôi cứ lùi, cứ lùi, và chỉ đỡ gạt, để cuối cùng bị coi là to xác mà non gan trong lớp. Một cái khác đỡ đòn cho tôi, giúp tôi cứu vãn chút danh dự trước bạn học, là cái vốn hiểu biết về các chữ khó. Cái này không có gì lạ: Tôi đã được dạy chữ Nho bốn năm trước khi học chữ “ngoại bang.” Ông Nội tôi, cụ Tú tài Hán học Nguyễn Hữu Khắc là người trong cả huyện năm ấy thi đỗ trong khoa thi áp chót của trường Nam Định vào năm 1915. Cụ đã khai tâm tôi bằng Tam Tự Kinh (Kinh ba chữ), “Nhân chi sơ Tính bản thiện Tính tương cận Tập tương viễn Cầu bất giáo Tính nải thiên Giáo chỉ đạo Quí dĩ chuyên...” (Người ban đầu Tính vốn lành Nết vốn gần Tục làm xa Nếu mất dạy Tính bèn đổi Dạy lấy đạo Quí chuyên cần...). Đó là những chữ đầu tiên tôi phải tập đọc, đọc thật to, tập viết, viết cho ngang bằng xổ ngay, và học thuộc lòng vào khoảng từ khoảng giữa bốn tuổi đến sáu tuổi. Học thuộc Tam Thiên Tự (Ba nghìn chữ) cũng thật là vui. “Thiên trời Địa đất Cử cất Tồn còn Tử con Tôn cháu Lục sáu Tam ba Gia nhà Quốc nước Tiền trước Hậu sau Ngưu trâu Mã ngựa Cự cựa Nha răng Vô chăng Hữu có Khuyển chó Dương dê Quy về Tẩu chạy v.v...”

Nếu Thầy tôi không mất sớm có lẽ tôi không phải đâm đầu vào con đường Nho mạt ấy mà học ra rả suốt ngày trên một tấm phản cứng như đá, làm mỏi nhừ một tấm lưng rất tốn vải. Tôi đã không trở thành một Anh Khóa giữa thế kỷ XX là nhờ một ông chú tôi sau khi đi Hà Nội về đã trở thành một ông Nguyễn Trường Tộ nho nhỏ, bắt tôi bỏ bút lông gạt bỏ nghiên mực tàu xé giấy bồi, sau khi cãi nhau với ông tôi một trận kịch liệt. Thế là tôi sáu bảy tuổi không còn phải phết cậy (cậy: keo của một thứ cây) vào giấy mà làm bìa sách, còng lưng đóng và khâu tập và mài mực hay gân cổ thổi bếp than hồng đun nước pha trà khi ông Nội có khách nữa. Tôi được học “Quốc ngữ là chữ nước ta, Con cái nhà đều phải học,” mặc dù ông Nội tôi gọi nó là “chữ của quân bán nước.”

Điều thứ hai mà thời ấu thơ tôi phải khuất phục, cũng vẫn do ông tôi, là sự sửa sang sắc đẹp. Ít nhất cũng có vài lần tôi bị cụ chửi mắng tàn tệ liên miên dai dẳng chỉ vì đã “bị bắt quả tang” đang đứng trước gương. Con trai mà soi gương là đồ vứt đi, đồ vô tích sự, hay là một chữ gì đó còn tệ hơn thế nữa. Tắm xong, thường là nhảy xuống cái ao trước sân, tóc phải vuốt ngược về phía sau, gần như không cần đến lược nữa. Cô tôi, một phụ nữ muộn chồng sống gần cha, nghiện thuốc lào vì suốt ngày quanh quẩn bên ông tôi - có lần đã chải cho tôi một đường ngôi lệch trên đầu - và sau đó hai cô cháu tôi mất vui suốt mấy ngày vì sự canh tân này, vì tiếng chửi rủa đay nghiến cực kỳ hà khắc và tàn nhẫn của một lão ông lỡ thời. Cho đến khi học đệ lục Chu Văn An Hà Nội, tôi vẫn có một cái đầu mái tranh, mớ tóc rủ trước trán cắt vạt đi như góc một tờ giấy. Tuy thế khi ở với chú tôi sau đó ở Hà Nội, mái tóc tôi được săn sóc kỹ càng, láng bóng và dài mượt, có thể vắt lại phía sau được, giống như nhiều chàng hồi ấy, tối ngày thấy hình ảnh tài tử Robert Taylor và cô đào Elizabeth Tayor vẽ lớn trên phông vải trước các rạp xi nê như Ciro's hay cái rạp gì đó ở Chợ Hôm, hình như Đại Nam.

Tôi nhớ mỗi khi đàn chó vừa sủa vang vừa chạy xô ra cổng, cùng với mấy con ngan, con ngỗng giữ nhà, là y như đàn bà con gái trong nhà, mẹ tôi, thím tôi, cô tôi vội vã lẩn vào sau cánh cửa. Nhà có khách, khách đàn ông. Suốt thời gian có khách chỉ có cô tôi - chưa chồng - được xuất hiện đâu đó, thấp thoáng. Những phụ nữ khác nếu có việc gì cần làm, đều phải đi phía xa xa, đi vòng dưới sân phía trước hay vòng quanh nhà phía sau - ngôi nhà năm gian - thêm một nhà ngang. Phụ nữ muốn đi từ đầu nhà tới đầu kia, dù là những lúc thường, cũng không bao giờ được đi trên thềm gạch. Phải xuống sân, đi ra mé sân, rồi mới băng ngang nếu không muốn đi phía sau. Những lúc ấy tôi thấy mình đi tới ngang nhiên, nghĩ cũng oai oai. Phải cho tới khi ra đời, tôi mới quên dần đi một ấu thời hà khắc.

1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2150 Posted : Saturday, March 26, 2016 3:42:36 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)

Bé Ký và tác phẩm

Bé Ký: phong cách hội họa dân gian miền Nam


Trong hồi ức của người Sài Gòn lớn tuổi chắc vẫn còn nhớ hình ảnh một cô gái trẻ với mái tóc dài kẹp sau lưng, tay cô cắp tập giấy “croquis” trắng tinh kèm theo những bức tranh đã vẽ. Cô thường lang thang trên những con đường mang tên Tây như Catinat (Đồng Khởi), Charner (Nguyễn Huệ)… Một công đôi việc, cô vừa vẽ và vừa bán tranh cho khách qua lại…

Đặc biệt, trong số khách hàng mua tranh còn có những người ngoại quốc. Họ có mặt tại Sài Gòn và muốn giữ lại những hình ảnh của “Hòn ngọc Viễn đông” để đem về nước làm kỷ niệm. Hóa ra tranh của cô là một “đại sứ lưu động” tỏa ra thế giới để giới thiệu những hoạt cảnh của một đất nước khi đó hãy còn là một “ẩn số” đối với người Phương Tây.
Tranh của cô thuộc loại “carricature” hay còn có tên “sketching”. Nói khác đi chỉ là những bức ký họa, tốc họa, hoạt họa hay phác họa… mô tả những cảnh “đời thường” diễn biến trong cuộc sống… Chỉ qua vài nét bút giản dị, cô bé vẽ từ con chim, con cá, con trâu, con ngựa, con gà…cho đến những hình ảnh mẹ con, trẻ thơ, gồng gánh, chợ búa…
Cô gái đó là Bé Ký. Danh hiệu “Nữ nghệ sĩ trẻ tuổi của đô thành” được dành cho Bé Ký thời cuối thập niên 50 sau đợt di cư của người miền Bắc vào Nam năm 1954. Bé Ký sinh ra tại Hải Dương (năm 1938) với một cái tên thật mộc mạc: Nguyễn Thị Bé.

Vốn mồ côi từ thuở tấm bé, cô được họa sĩ Trần Đắc nhận làm con nuôi đồng thời là học trò tại Hải Phòng rồi theo gia đình cha nuôi cùng di cư vào Nam. Họa sĩ Trần Đắc đã mang kinh nghiệm của mình, dạy cho Bé Ký phương pháp vẽ bằng chì than rồi đi dần qua màu sắc trên lụa.

Bé Ký mê vẽ từ thuở còn lên 4, lên 5. Cô bé bước vào hội họa một cách tự nhiên theo năng khiếu, không hề qua một trường lớp nào. Khởi đầu bằng những nét vẽ nguệch ngoạc và cho đến khi thành danh cũng chỉ bằng những nét đơn sơ, không cầu kỳ. Nhà phê bình văn học – nghệ thuật Thụy Khê nhận xét:

“… Các họa sĩ thường bắt đầu từ dessin rồi dựa vào dessin mới phóng ra các màu sắc khác nhau. Bé Ký dừng lại ở dessin. Dường như bà đã tìm thấy vùng đất Thánh và dứt khoát ở lại thiên đường nguồn cội của mình. Bà không lớn nữa. Có thể nói Bé Ký – như cái tên lựa chọn có ý tiền định của bà – đã lấy tuổi thơ làm quê hương, dừng lại ở thời điểm hàn vi, ngây thơ (naif) trong hội họa và trong đời. Bé Ký là hiện tượng không già, rất độc đáo trong hội họa Việt…” (Bé Ký, Nỗi Hoài Nhớ Niềm Vui Đã Khuất)

Hình ảnh 5 đứa trẻ ngồi xem đá gà hình như gợi lại cho người xem một hoạt cảnh, tuy chỉ mang những nét chấm phá đơn giản nhưng lại gợi trong ký ức của người thưởng ngoạn cất dấu từ thời thơ ấu.
Tranh trong kho tàng tranh dân gian cũng có con gà nhưng gà của Bé Ký sống động trong một cuộc thư hùng, lông dựng đứng. Bức tranh có cái “hồn” của những đứa trẻ chăm chú ngồi xem và cái “thần” của hai con vật trong một cuộc “giác đấu” một mất một còn.
Ở bức tranh ông cháu che dù người ta thấy sự khăng khít của một già, một trẻ. Cũng bằng những nét “carricature” đơn giản nhưng lại toát lên một cảnh tượng xa xưa đã từng nằm sâu trong ký ức người xem. Ông mặc áo dài, tay cầm dù… dắt cháu đầu để chỏm. Cả hai hình như trên đường đi xem hội ngoài đình làng.
Có lẽ hình ảnh này cũng đã nằm sẵn trong ký ức của người họa sĩ và có lẽ Bé Ký vẽ rất nhanh cho kịp bước chân của hai ông cháu. “Sketching” là như vậy. Chỉ cần vài nét chấm phá để “tốc họa” nhưng hình ảnh đó – tựa như “snap shot” thời nay – đã ghi lại những khoảnh khắc sinh động.

Vốn là phụ nữ nên Bé Ký vẽ rất nhiều tranh về mẹ và con. Trong bức “Đi chợ mua bông sen” người thưởng ngoạn có thể tưởng tượng hai mẹ con trên đường từ phiên chợ quê về nhà. Nét mặt người mẹ hớn hở vì bán hết hàng, bà mua 3 bông sen về cúng Phật tạ ơn. Cô con gái cười tươi như hoa với 3 bông sen đặt trên vai như chia sẻ niềm vui được đi chợ với mẹ.

Người ngoại quốc rất thích hình ảnh đặc thù Việt Nam này. Có áo dài thướt tha, có đôi quang gánh truyền thống, có chiếc khăn che đầu theo kiểu phụ nữ miền Nam và nhất là có cả chiếc nón lá rất… Việt Nam. Thời bây giờ có người sẽ nói Bé Ký là “Đại sứ Du lịch” của Việt Nam!

Hàng loạt những bức ký họa về mẹ và con đã được Bé Ký khai thác, có thể nói đây là chủ đề nổi bật nhất của người họa sĩ vốn là một đứa trẻ mồ côi. Bao ấp ủ thầm kín, bao nỗi niềm sâu lắng, bao khát khao cháy bỏng được người vẽ thể hiện một cách nồng nàn trên tranh.

Đó là một hiện tượng rất hiếm trong hội họa. “Mẹ con”, “Mẹ chải tóc cho con” là những bức điển hình cho bộ sưu tập có chủ đề “Mẹ & Con” của Bé Ký.

Bức tranh “Giã biệt” khiến người xem liên tưởng đến cuộc di cư vĩ đại của hơn 1 triệu người miền Bắc vào Nam năm 1954. Người mẹ với khuôn mặt khắc khoải nhìn lại phía sau… trên tay bồng đứa con cùng nhìn về một hướng với vẻ mặt ngây thơ vô tội. Có sống trong cảnh cất bước rời xa quê hương này mới hiểu được tâm trạng của người họa sĩ…
Chuyển sang giai đoạn tranh màu ta vẫn thấy chủ đề “Mẹ và Con” vẫn được Bé Ký khai thác, khai thác một cách triệt để. Thường là tranh lụa hay sơn mài được vẽ theo một phong cách riêng. Mới thoạt nhìn tựa như tranh dân gian ngày xưa nhưng lại pha trộn những đường nét trừu tượng của thời hiện đại.

Năm 1957 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời làm nghệ thuật của Bé Ký. Chị đã có cuộc triển lãm đầu tiên tại Pháp văn Đồng minh hội (Alliance Francaise, Sài Gòn). Cuộc triển lãm do ông René de Berval, phê bình gia mỹ thuật cho tạp chí France d’Asie và Journal d’Extrême Orient bảo trợ. Cuộc triển lãm rất thành công về tài chánh, nhưng quan trọng hơn cả là sự khẳng định tài năng của Bé Ký, “Nữ Họa sĩ của Vỉa hè Đô Thành”.
Phải thắng thắn nhìn nhận, sự thành danh nhanh chóng của họa sĩ Bé Ký phần lớn nhờ vào những người sưu tập hội họa Âu châu, bên cạnh đó là những bài viết giới thiệu, phê bình của nhiều tạp chí ngoại quốc như Le Journal d’Extrême Orient, The Yomiuri Shimbun, The Manila Times, Asiaweek, The Orange County Register và Los Angeles Times.
Từ năm 1957 đến năm 1975, Bé Ký đã mở 18 cuộc triển lãm tranh, trong đó có 16 lần tại Sài Gòn, 1 lần tại Pháp và 1 lần tại Nhật Bản. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ chị cũng đã có 8 lần triển lãm để khẳng định tên tuổi của người họa sĩ dân gian điển hình của miền Nam Việt Nam.

Về mặt tình cảm, một bước ngoặt không kém phần quan trọng đã đến với Bé Ký vào năm 1965: “người họa sĩ đường phố” gặp người họa sĩ “tha hương” tại Sài Gòn. Nhà văn Luân Hoán dùng cụm từ “song kiếm hợp bích trong hội họa” để mô tả sự kết hợp của hai họa sĩ Bé Ký và Hồ Thành Đức.

Hồi đó truyện chưởng của Kim Dung đang thịnh hành tại miền Nam. Trong “Thiên Long Bát Bộ” có hai nhân vật chính là Dương Quá và Tiểu Long Nữ, họ đã luyện thành công bộ “song kiếm hợp bích” trong một ngôi cổ mộ.
Ở lãnh vực hội họa, Bé Ký và Hồ Thành Đức là một cặp họa sĩ luôn hỗ trợ nhau trong nghệ thuật. Điều đáng nói là cả hai đi theo trường phái hội họa riêng khiến họ hoàn toàn độc lập khi thực hiện tác phẩm. Theo lời kể của Luân Hoán, hai họa sĩ đến với nhau trong một bất ngờ của định mệnh:

“… Chợt anh thấy từ cửa phòng tranh xuất hiện một cô gái tóc kẹp, thả dài xuống lưng. Anh bất ngờ giật mình, nhưng làm tỉnh được ngay. Cô gái đã dừng trước họa phẩm thứ nhất, im lặng ngắm… Cô gái quả thật không có nhan sắc của một giai nhân. Nhưng sự dịu dàng từ tốn đã là một sắc đẹp, gợi mở trong Hồ Thành Đức những thao thức rất lạ lùng…
– Chào ông, phòng tranh có vẻ vắng quá.
Đức chợt tìm thấy ngay cái mau miệng lém lỉnh của mình:
– Không đâu thưa cô, có lẽ giờ này chưa được thuận tiện.
Anh cười dù cỏ vẻ hơi phật lòng. Cô gái không mỉm cười trả lễ, nhưng không lạnh lùng, cô nhìn quanh phòng tranh. Đức cũng đưa mắt theo chiều quan sát của người khách… thì bất ngờ nghe tiếng hỏi:
– Anh có biết tôi là ai không?
Chừng nửa giây ngập ngừng, Đức đáp chững chạc, tự nhiên:
– Thưa rất làm tiếc, xin lỗi cô là ai?
Không lưỡng lự, cô gái, giới thiệu mình:
– Tôi là Bé Ký.
– A, thế ra cô là những họa sĩ của hè phố.
Lẽ ra Đức phải có cái nụ cười tinh nghịch, châm chọc như thói quen. Nhưng không hiểu sao, lòng anh thấy yên ả, bình thản và có cái gì như ấm áp đang vây bọc lấy anh.
– Hôm nay cô không ra Lê Lợi, Catinat…?
– Không, mấy hôm nay tôi không ở Sài Gòn. Tôi vừa từ Buôn Mê Thuộc về đây, cốt yếu xem phòng tranh của anh…”

Rõ ràng là miền Nam cũng có loại tranh dân gian bên cạnh những phong cách dân gian của miền Bắc và miền Trung. Tranh của Bé Ký được xếp vào loại “dân gian” của Sài Gòn xưa, thời VNCH. Để chấm dứt bài viết này, xin mượn lời nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy: “… Bút pháp của Bé Ký thuộc về đại chúng, đó là một thứ nghệ thuật của quần chúng. Như vậy, chẳng có gì đáng tiếc khi nghệ thuật của Bé Ký chỉ ngừng ngang mức dân gian mà không đi xa hơn nữa.




Nếu chúng ta đã có những nguồn tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, tranh đỏ Kim Hoàng, tranh làng Sình ở Huế, thì chúng ta còn có thêm một nguồn tranh dân gian quý giá không kém chính là thế giới tranh Bé Ký. Dĩ nhiên, tranh Bé Ký cao và thơ mộng hơn nhiều vì nó là hơi thở thuần nhất của một nghệ sĩ chân thành và tài hoa, độc đáo và sáng tạo. Một giòng tranh dân gian của đại chúng như tranh Đông Hồ, thì hoàn toàn ngược lại, xoá hẳn cá tính vì được hình thành bằng nhiều thế hệ qua thời gian và lịch sử”.


Nguyễn Ngọc Chính
(Hồi ức một đời người)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2151 Posted : Wednesday, April 6, 2016 2:59:42 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Lê Hựu Hà: Tin yêu giữa thảm kịch



Du Tử Lê

Tới bây giờ, người ta vẫn không thể giải thích, tại sao có nhiều tài năng xuất sắc ở nhiều lãnh vực, nhất là lãnh vực sáng tạo, lại chết khi còn rất trẻ? Ðôi khi, bao nhiêu năm sau, cái chết của họ còn được dư luận đề cập tới vì tính bi thảm của nó! Trong khi tư chất của họ, vốn là những người có một sức sống mãnh liệt, sung mãn! Cụ thể như trường hợp của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Ông có khá nhiều những ca khúc một thời, từng gây nên những trận bão yêu thích, không chỉ trong giới trẻ mà, luôn cả những người lớn tuổi, thuộc mọi thành phần.




Nhạc sĩ Lê Hựu Hà. (trandangchi.blogspot.com)


Ngay bây giờ, sau gần 50 năm, những ca khúc của Lê Hựu Hà, sáng tác vào đầu thập niên 1970's, vẫn còn được các nhạc sĩ nhắc tới, và chúng vẫn còn giữ một vị trí ưu ái, trong ký ức người thưởng ngoạn.

Sau gần nửa thế kỷ, hôm nay, ở hải ngoại, một số trung tâm ban nhạc lớn, cũng vẫn còn được thu băng của họ Lê, để đáp ứng nhu cầu người tiêu thụ.

Những ca khúc nổi tiếng, trong sáng của họ Lê, hiện ra như những bình minh mới giữa mưa dầm gió buốt, đầy những tình yêu đổ vỡ, chia lìa và, nước mắt than oán của dòng tân nhạc Việt, trước tháng 4, 1975.

Thí dụ với ca khúc “Hãy yêu như chưa yêu lần nào,” ở phần ca từ họ Lê viết:

“Hỡi anh yêu xin anh đừng buồn
Có đôi khi em hay giận hờn
Ðể cho anh quên đi ngày dài
Với bao đêm suy tư miệt mài.

“Mắt môi đây xin anh đừng chờ
Chiếc hôn kia mong anh từng giờ
Ngón tay kia xin chớ hững hờ
Dắt em đi về trong đợi chờ.

(...)

“Hãy cho em môi hôn nồng nàn
Lỡ mai sau duyên ta muộn màng
Sẽ không ai cho ta vội vàng
Mới yêu đây nay sao phũ phàng

“Hãy yêu như chưa yêu lần nào
Hãy cho nhau môi hôn ngọt ngào
Hãy đưa em về nơi cuối trời
Giấc mơ yêu cùng anh trọn đời.”
(Nguồn Wikipedia-Mở)


Hoặc như nội dung của một ca khúc nổi tiếng khác, Lê Hựu Hà đã mang được vào trong cõi-giới âm nhạc của ông, những cảm nhận thực tế xã hội, đời thường như:

“Cười lên đi em ơi
Dù nước mắt rớt trên vành môi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn tha nhân ta buông tiếng cười
Ta không cần cuộc đời
Toàn những chê bai và ganh ghét
Ta không cần cuộc đời
Toàn những khoe khoang và thấp hèn

“Cười lên đi em ơi
Cười để giấu những dòng lệ rơi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn đổi thay ta vang tiếng cười
Ta không thèm làm người
Thà làm chim trên rừng hoang vắng
Ta không thèm làm người
Thà làm mây bay khắp phương trời...” (1)


Với những câu như: “Ta không cần cuộc đời/ Toàn những chê bai và ganh ghét

Ta không cần cuộc đời/ Toàn những khoe khoang và thấp hèn,” trước và sau Lê Hựu Hà, chúng ta không hề thấy trong ca từ của hầu hết các nhạc sĩ nổi tiếng. Tuy nhiên, không phải vì vạch trần những “thói đời” như vậy mà tác giả sinh lòng oán than, thù ghét. Trái lại, ông còn nhắc nhở người yêu của ông hãy cứ “cười lên đi em ơi”... Dù cho tiếng cười đó, chỉ để che giấu “...nước mắt rớt trên vành môi.” Và hãy mở rộng tấm lòng rộng thương yêu bằng cách “...ngước mặt nhìn đời”; và,“nhìn tha nhân ta buông tiếng cười...”

Ðể giải thích cho tinh thần yêu người, yêu đời của mình, qua ca khúc “Nắng vàng, biển xanh và anh,” Lê Hựu Hà viết:

“Nắng lên rồi đêm vội đi ngày đang tới
Ðất với trời bắt tay nói câu chào nhau
Gió tung tăng đùa vui bay làn tóc rối
Cả thiên nhiên cũng hân hoan đón mặt trời

“Biển trong xanh nhẹ hôn bờ cát trắng
Sóng lao xao mơn man vuốt ve bàn chân
Khẽ trao nhau nụ hôn thật êm ái
Khép đôi mi để chiếc hôn ngắn được dài

“Có anh rất hiền, có em yếu mềm
Cho đôi ta nghe trái tim mình
Dịu dàng lên tiếng
Men tình ngây ngất, hương tình lâng lâng
Còn chờ đợi chi anh ơi hãy ôm em vào lòng

Trái tim nồng sẽ không quay lưng lại
Dẫu cho bao thăng trầm đổi thay...” (2)


Ngoài những câu như thơ, rất mới: “Ðất với trời bắt tay nói câu chào nhau” hoặc “Khép đôi mi để chiếc hôn ngắn được dài” thì “Trái tim nồng sẽ không quay lưng lại/ Dẫu cho bao thăng trầm đổi thay...” - - Ðã tựa như một xác quyết, khẳng định cho tâm-thái hay, bản chất nhân ái của họ Lê trước mọi “khoe khoang và thấp hèn” của con người trong đời thường!!!

Nhưng, Lê Hựu Hà không chỉ có những đóng góp cá nhân, bằng vào tài năng của riêng mình. Ông còn là người mở rộng sân chơi, cho những bằng hữu đồng trang lứa với ông, một thời nữa.

Theo tiểu sử được Tự Ðiển Bách Khoa Toàn Thư-Mở thì, ngay từ năm 1965, khi mới bước vào con đường âm nhạc, Lê Hựu Hà đã đứng ra thành lập ban nhạc Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1965 với ban nhạc Hải Âu nhân Ðại Hội Nhạc Trẻ của Trường Trung Học Lasan Tabert. Chính từ ban nhạc này là bệ phóng của tiếng hát Thanh Lan, nổi tiếng, sau này.

Nhưng, phải đợi tới đầu thập niên 1970, khi ban nhạc Hải Âu không còn nữa, thì cũng họ Lê phối hợp với Nguyễn Trung Cang, Elvis Phương, thành lập ban nhạc Phượng Hoàng. Chính tại sân chơi Phượng Hoàng này, nhiều tài năng nhạc trẻ, đã cất cánh bay cao trong vòm trời âm nhạc Việt.

Nhắc tới ban nhạc Phượng Hoàng, mười hai năm sau cái chết của Lê Hựu Hà (2005), một người bạn thân của mình, nhạc sĩ Tuấn Khanh, trong một bài viết, phổ biến trên Tuấn Khanh' Blog, ghi lại nhận định của cố nhạc sĩ Phạm Duy về ban nhạc Phượng Hoàng, như sau:

“...Nhạc sĩ Phạm Duy, lúc sinh thời không phải là người dễ tính, cũng đã phải thốt lên rằng âm nhạc của Phượng Hoàng đầy chất tâm hoặc (psychedelic culture) và phản ánh một tâm thức của thế hệ trẻ không lối thoát trong một xã hội chiến tranh, bất an không hồi kết...” (3)

(Kỳ sau tiếp)

Chú thích:
(1), (2), (3): Nđd.
1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2152 Posted : Thursday, April 14, 2016 4:20:57 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Lê Hựu Hà, bi kịch cuối cùng của một tài năng âm nhạc!



Du Tử Lê

(Tiếp theo kỳ trước)

Nếu sự nghiệp âm nhạc của Lê Hựu Hà ngày một thăng hoa thì, đời sống hàng ngày của ông, theo mô tả của nhiều người, lại là con đường ngược chiều đầy khó khăn, nếu không muốn nói là u ám! Dù cho ngoài việc viết ca khúc, ông cũng làm nhiều công việc khác, như đặt lời Việt cho hàng trăm ca khúc ngoại quốc (trong số đó, có khá nhiều bài nổi tiếng) hoặc, làm nhạc quảng cáo cho những công ty ngoại quốc, đặt hàng ông. Nhưng thực tế phũ phàng là các bầu show đã lần lượt quay lưng lại với họ Lê!




Nhạc sĩ Lê Hựu Hà (đầu tiên bên trái) và ban nhạc Phượng Hoàng. (Hình: chimviet.Free.fr.)



Tuy nhiên, cái chết của ông, mới thực sự là đỉnh ngọn u ám, bi kịch của tài hoa này.

Trong một bài viết trên báo NLÐ, số đề ngày 12 tháng 5, 2003, hai tác giả HT-TN ghi lại những chi tiết đầu tiên về cái cái chết của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, như sau:

“Khoảng 8 giờ sáng qua (11 tháng 5), công an quận 1 nhận được tin báo có dấu hiệu khả nghi ở nhà 89 đường Hồ Hảo Hớn, P. Cô Giang, Q.1, TPHCM, mấy hôm nay không thấy chủ nhân ra vào. Công an đã đến xem xét và phát hiện ông Lê Hựu Hà, nhạc sĩ, sinh năm 1946, nằm chết trong phòng, xác đã bắt đầu phân hủy. Trong nhà đèn vẫn sáng, tivi vẫn mở, quạt máy vẫn hoạt động, ngoài sân có chiếc xe Honda.

“Những người dân ở gần nhà ông Hà cho biết: Ông Hà có hai đời vợ. Người vợ thứ nhất cùng các con đã định cư ở Mỹ; người vợ thứ hai là ca sĩ Nhã Phương. Cách đây không lâu, ông Hà tâm sự với nhiều người hàng xóm rằng mình đang ly dị vợ và chỉ một mình ông ở căn nhà này.

“Chiều cùng ngày, Cơ quan giám định pháp y công an TPHCM đã có kết quả điều tra. Sau khi giải phẫu tử thi, các bác sĩ khẳng định nhạc sĩ Lê Hựu Hà chết vào chiều 9 tháng 5 (Thứ Sáu). Theo ca sĩ Nhã Phương, nhạc sĩ Lê Hựu Hà bị bệnh huyết áp đã hai năm nay. Do cả hai đã ly thân cách đây bốn tháng nên đời sống của anh khép kín với thế giới bên ngoài...”

Những chi tiết liên quan tới cái chết của tác giả ca khúc “Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào,” như xác đã bắt đầu phân hủy hoặc, họ Lê chết từ nhiều ngày trước đó, đã khiến dư luận xôn xao, xúc động...

Người được dư luận nhắc tới nhiều nhất là nữ ca sĩ nổi tiếng, Nhã Phương, vì cô là người bạn đời sau cùng (trong số 4 người vợ) của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Dù hai người đã ly thân từ bốn tháng trước đó và, họ Lê sống khép kín trong căn nhà cũ của họ.

Chi tiết hơn, tác giả Hương Giang trong một bài viết trên báo Người Ðưa Tin, ghi rằng:

“...Người nhạc sĩ từng được coi là đã mang một dòng nhạc mới và tươi trẻ đến cho tân nhạc Việt Nam đã được phát giác qua đời vào ngày 11 tháng 5, 2003 khi mới 53 tuổi do tai biến mạch máu não. Theo biên bản khám nghiệm, Lê Hựu Hà qua đời từ ngày 5 nhưng phải đến ngày 11 mới được phát hiện trong tư thế nằm ngửa dưới sàn nhà, ngay cạnh giường ngủ, trong khi đồ đạc vẫn còn ngổn ngang trong phòng và ti vi vẫn còn đang bật... Tiền sử bệnh tai biến đã khiến một con người tài hoa ra đi khi tuổi vẫn còn trẻ và đặc biệt là ra đi trong sự hoài nghi, luyến tiếc của hàng triệu những người 'muôn năm cũ.'”

Tôi nghĩ, do áp lực của dư luận, cuối cùng, bảy năm sau, ca sĩ Nhã Phương đã phải lên tiếng và, sự bộc bạch của cô về cuộc hôn nhân giữa hai người, được báo Theo Mốt và Cuộc Sống, số đề ngày 19 tháng 10 năm 2010 ghi thuật đại ý:

-Cái chết của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, đối với Nhã Phương là một biến cố quá to lớn. Cô phải cố gắng kiềm chế đau khổ của mình, để đem sự bình thường trở lại cho hai con của cô, một 15 tuổi và, một 9 tuổi!

-Nhã Phương cũng cho biết, cô phải nén đau thương tiếp tục đi hát bất cứ nơi nào, khi được mời để có tiền nuôi con. Trong bài viết kể trên, Nhã Phương tâm sự:

“...Khi sống với anh Hà, đôi khi nghĩ lại, tôi thấy mình đã làm việc quá sức. Có những lúc ốm đau, tôi chẳng được nghỉ ngơi, cứ lao vào đi hát và kiếm tiền trả tiền nhà, trang trải cuộc sống. Tôi làm việc như một cái máy, tất tả chạy từ miền Trung ra Hà Nội rồi lại xuống tận Rạch Giá, Cà Mau,... Có lúc rất mệt, người không còn chút sức lực, tôi cũng không được nghỉ ngơi. Anh Hà cứ nói: ‘Thôi em ráng hát nhé, hát để có tiền trả tiền nhà.’ Thế là những lúc bệnh, tôi vẫn đi hát.

“Có một điều sai lầm với nhiều người làm nghệ thuật, trong đó có cả anh Hà là cứ sống trong mơ tưởng hão huyền. Họ cứ ngỡ mình là nhân vật gì đó quan trọng lắm, nổi tiếng lắm, tên tuổi lắm... Thật hoang tưởng!”

Dù vậy, Nhã Phương vẫn không quên nhận chân sự thật:

“Anh Hà mất đi, tôi xót xa hiểu được đời này là vô thường. Không khí gia đình lúc ấy tang tóc, buồn bã bao trùm. Tôi phải luôn dỗ dành, trấn an các con, tạo cho chúng niềm vui trong từng ngày, từng ngày...”

Nói về nguyên do sâu xa đưa sự kết thúc của cuộc hôn nhân đã kéo dài tới 23 năm với cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà, ca sĩ Nhã Phương cho biết:

“Tôi đến với anh Hà và chấp nhận cuộc sống đơn giản, an phận, vượt qua mọi gian nan trong cuộc sống. Danh tiếng hay tiền bạc, giàu có, tôi không màng đến, chỉ muốn sống vui và hạnh phúc bên chồng. Quan điểm cổ hủ ngày xưa chồng chúa vợ tôi cứ ăn sâu trong tâm thức mọi người thời đó. Người đàn ông đối xử với vợ thiếu tôn trọng, gần như áp bức vậy. Và cũng chính điều này đã đánh mất đi hạnh phúc tốt đẹp của nhiều cặp vợ chồng.

“Nhưng phải nhìn nhận rằng, sống với anh Hà thật thú vị. Anh ấy như một người thầy, một người anh dạy dỗ cho tôi biết bao điều. Trong những bài hát, lời văn ý nhạc anh Hà viết, đối với tôi là cả sự khâm phục. Anh ấy đã hỗ trợ rất nhiều trong nghề nghiệp của tôi, nhưng giá như anh Hà đừng yêu tôi nhiều quá, như vậy sẽ tốt hơn...”

Nhìn lại cuộc tình và hôn nhân của mình với tác giả “Hãy Ngước Mặt Nhìn Ðời,” Nhã Phương xác nhận, thực ra, cô yêu nhạc sĩ Lê Hựu Hà ở một con người khác; không phải con người “chồng chúa vợ tôi.” Cô nói:

“Ở ngoài, anh ấy thật dễ thương, hiền hòa, cởi mở. Nhưng về nhà lại là một người cứng rắn, bảo thủ và hay nóng giận vô cớ. Cứ mỗi lần nóng giận, anh Hà thường quát nạt, lớn tiếng, làm tôi cảm thấy sợ hãi và buồn chán. Lúc ấy, tôi chỉ muốn chia tay mà thôi. Nhưng cuộc sống cứ ràng buộc hết điều này đến điều khác, anh Hà lúc quát nạt, lúc đầy yêu thương, cứ như vậy, tôi đã kéo dài cuộc hôn nhân của mình như mong chờ một sự thay đổi từ phía chồng cũ.” (Nđd)

Bốn năm, sau khi nhạc sĩ Lê Hựu Hà từ trần, ca sĩ Nhã Phương mới đi bước nữa với David, một khán giả người Mỹ, ái mộ cô từ những ngày cô còn hát ở các bar, phòng trà như Yesterday, Feeling Rex, Lido... Cô và hai con, hiện sống tại Hoa Kỳ.

Cuộc hôn nhân thứ hai của Nhã Phương đã là dấu chấm hết chuyện tình đẹp, dẫn tới hôn nhân - - Nhưng, tiếc thay, kết cuộc lại là một bi kịch cho cả hai tài hoa âm nhạc Việt: Nhã Phương-Lê Hựu Hà!

(Còn tiếp 1 kỳ)

1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2153 Posted : Thursday, April 28, 2016 9:45:23 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Giải mã cái chết đã phân hủy của Lê Hựu Hà


Du Tử Lê

(Tiếp theo và hết)

Mặc dù tài năng sáng chói, được dư luận, những người cùng giới ghi nhận là một trong “tam kiệt nhạc trẻ Việt” nhưng, những năm tháng cuối đời của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, lại là một cuối đời chát, đắng phũ phàng tới mức không ai có thể tưởng tượng được! Tôi muốn nói tới sự quay lưng thẳng thừng, tàn nhẫn của bằng hữu họ Lê - - Gồm cả những người từng được ông nâng đỡ, hướng dẫn bước đầu, trên lộ trình âm nhạc - Mà, nhiều người sau đó, nổi tiếng và trở thành những bầu show quan trọng.




(Hình: trandangchi.blogspot.com)



Sự quay lưng tàn nhẫn, khó hiểu này, đã khiến người vợ sau cùng của ông, ca sĩ Nhã Phương, phải thốt lên trong một cuộc phỏng vấn dành cho 1 nhà báo ở Saigon, 10 năm sau... Ðại ý:

“Có bầu show đã nói thẳng với Nhã Phương rằng, tôi mời chị, nhưng không mời anh Lê Hựu Hà...”

Nhã Phương tâm sự:

“Tôi có cảm tưởng họ muốn làm nhục anh ấy vậy!”

Dù đã có rất nhiều bút mực không ngừng đổ ra hơn mười năm qua, nhưng không một bài báo, một cuộc điều tra nào, mang đến cho người đọc một chút ánh sáng soi rọi đủ vào cái chết thê thảm của tài hoa Lê Hựu Hà!!!

Tôi nghĩ, phải đợi 12 năm sau, nhân kỷ niệm ngày mất sau 12 năm của bạn mình là nhạc sĩ Lê Hựu Hà, nhạc sĩ Tuấn Khanh, trong Tuankhanh blog mới trả lời cho linh hồn họ Lê, cho Nhã Phương, người bạn đời sau cùng của họ Lê và, nhất là cho hàng triệu người hâm mộ tài hoa tác giả “Hãy yêu nhau như chưa yêu lần nào.” Tôi hy vọng nỗ lực giải mã của Tuấn Khanh, sẽ giúp cho linh hồn họ Lê được siêu thoát về cõi vĩnh hằng.

Phần giải mã của nhạc sĩ Tuấn Khanh, dành cho Lê Hựu Hà, từ khởi đầu sự nghiệp tới ngày âm thầm “đi xa,” có thể tóm tắt như sau:

-Rất khó biết là nhạc sĩ Lê Hựu Hà qua đời vào lúc nào. Theo báo cáo pháp y, người ta chỉ tìm thấy ông vào ngày 11 tháng 5, 2003, nhưng dự đoán thời gian qua đời có thể từ 5 ngày trước. Lê Hựu Hà là một người cô đơn. Và những ngày cuối đời của ông lại càng cô đơn hơn khi đi về chỉ một mình, đóng cửa lặng lẽ đọc sách, nghe nhạc, mở ti vi cho có tiếng người chung quanh mình. Chính vì ti vi vẫn mở suốt nhiều ngày liền, nên chung quanh hàng xóm không ai ngờ rằng ông đã qua đời. Chỉ đến khi vài người bạn đến tìm, gọi chuông không được thì sau đó mọi người mới phát hiện rằng ông đã đi rất xa rồi.

-Câu hỏi đó thật khó trả lời. Phượng Hoàng sinh ra từ lửa và hóa kiếp trong lửa, tuần hoàn vô lượng. Nhưng để nhận biết là điều bất khả. Thật khó hình dung nền nhạc trẻ Việt Nam thập niên 60-70 nếu không Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Elvis Phương,... thì hôm nay sẽ là gì? Ban nhạc Phượng Hoàng của Lê Hựu Hà thành lập năm 1963, với chủ trương dứt khoát của Lê Hựu Hà là “người Việt phải chơi nhạc Việt,” nhằm tạo một khuynh hướng khác biệt với hàng loạt các nhóm nhạc trẻ lúc đó, phần lớn đang cover lại các bài hát ngoại quốc, và lấy tên tiếng nước ngoài như The Enterprise, CBC, The Dreammers, Les Vampires,... nhạc trẻ thuần Việt được coi như khai sinh từ đó. Nếu lịch sử âm nhạc Anh Quốc có cột mốc vĩ đại từ cuộc nói chuyện vô tình trên tàu điện giữa Paul McCartney và John Lennon, thì ở Việt Nam cũng có chương lịch sử âm nhạc kỳ thú từ sự kết nối giữa Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang.

-Trong các nhạc phẩm của Lê Hựu Hà, là niềm yêu tha nhân dù khổ đau vẫn phải gìn giữ như một định mệnh “Hãy cứ yêu thương người - dù người không yêu ta.” Từ cảm giác đó, Lê Hựu Hà bước theo lộ trình nhận thức thế giới không khác gì John Lennon từ việc viết về tình yêu cho đến hát về người nghèo khó, về một cuộc sống đầy súng đạn và hận thù. Hãy Nhìn Xuống Chân hay Lời Người Ðiên... là một dòng phát triển rất đặc biệt của nhạc sĩ Lê Hựu Hà bên cạnh những bài tình ca nhạc trẻ độc đáo của ông. Chỉ tiếc là sau 1975, chế độ kiểm duyệt của nhà nước Cộng Sản đã bóp chết không ít niềm cảm hứng và sự phát triển của nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Lê Hựu Hà.

-Có một điều không may cho nhạc sĩ Lê Hựu Hà là sau 1975, có một trung tâm sản xuất băng nhạc chống Cộng lấy tên Phượng Hoàng, cho ra chương trình và gửi vào trong nước. Trong thời buổi còn chưa đủ sức phân biệt được trắng đen, công an đã coi nhạc sĩ Lê Hựu Hà như là một trong những thành phần sản xuất chương trình đó. Ðã vậy, có lúc ông còn bị Sở VHTT Cộng Sản những ngày đầu kiểm soát miền Nam nhầm lẫn tên ban nhạc của Lê Hựu Hà và hệ thống tình báo Phượng Hoàng của VNCH.

-Hai điều đó hoàn toàn không liên quan. Ủy Ban Tình Báo Phượng Hoàng, vốn là tên gọi khác của Intelligence and Operations Coordinating Centre, do giám đốc CIA thời đó là William Colby dựng nên, hoạt động từ 1967 và chấm dứt vào 1973. Vốn đã bất đắc chí vì thời cuộc, việc bị truy vấn bởi công an mật vụ liên tục trong thời gian đó đã khiến nhạc sĩ Lê Hựu Hà trở nên trầm uất, và luôn lo sợ. Thậm chí, khi đi đường, nghe tiếng còi của cảnh sát giao thông cũng làm ông kinh hoảng, dừng xe, dù đó không phải là chuyện của ông. Ðã vậy, sau năm 1968, bị gọi nhập ngũ, nhạc sĩ Lê Hựu Hà đến học tại trường Bộ Binh Thủ Ðức, rồi làm việc ở Cục Quân Nhu, và dù không cầm súng bắn phát nào, nhưng do mang lý lịch là “ngụy quân” nên sự nghiệp của ông không bao giờ có thể nối tiếp trọn vẹn được nữa.

-Những khó khăn từ vật chất cho đến đời sống tinh thần vẫn đeo đuổi đến tận ngày nhạc sĩ Lê Hựu Hà qua đời, dù tài năng của ông vẫn chinh phục mọi giới. Những tác phẩm mới sáng tác sau 1975 như Vào Hạ, Ngỡ Ðâu Tình Ðã Quên Mình, Vị Ngọt Ðôi Môi,... luôn gây nên những cơn sốt trong thính giả. Nhưng cũng ít ai biết rằng các bài hát như Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào là bài hát viết cho phim Vết Chân Hoang (chuyển thể từ tiểu thuyết Tuổi Choai Choai của Trường Kỳ), được sửa lời và chút ít giai điệu. Bài Lời Trái Tim Muốn Nói cũng là một ca khúc viết lại một văn bản cũ, trong đó ông lặng lẽ để vào chút tâm tư của mình, qua những câu chữ như “những tháng năm không có ngày vui.”

-Năm 1999, khi đang là thành viên trong ban nhạc Phiêu Bồng của nhạc sĩ, tôi cầm lấy những bài hát của ông và đi đến nhiều hãng băng đĩa, đề nghị làm album tác giả, nhưng mọi nơi đều lắc đầu, nói khéo. Chân thật nhất là một biên tập viên của xí nghiệp băng đĩa nhạc Sài Gòn Audio, hãng phim Bông Sen, đã nói thẳng thừng “Lê Hựu Hà là một người nhân thân có vấn đề.” Sau này, khi nhạc sĩ Lê Hựu Hà căn vặn hỏi mãi, tôi đành phải kể lại. Ông mỉm cười nhã nhặn và buồn. Sau đó, ngay khi tập bài cho các buổi diễn, tôi đề nghị chơi lại những bài hát nhẹ nhàng, không bị soi mói về quan điểm chính trị như Tôi Muốn, Yêu Em,... ông chỉ lắc đầu, cười nhẹ. Khó biết được đằng sau cặp kính của người nhạc sĩ hết sức uyên bác đó là những suy nghĩ gì về cuộc sống khốn khó này.

-Giờ đây khi tìm kiếm trên Internet, thấy những tấm ảnh sau 1975 của ông, lòng tôi chợt chùng lại. Ðể mừng một ngày sinh nhật của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, tôi “dỗ” ông cho chụp vài tấm ảnh, tự mình design bìa CD cho ông, gom những bài hát làm thành một đĩa master rồi đi tìm Tuấn - biệt danh là Tuấn Chó (do có logo thương hiệu bầy chó đốm), một trong những ông trùm sản xuất CD lậu thời đó ở Sài Gòn, nhờ chép ra phát hành giùm. Thật buồn cười và mỉa mai, khi người nhạc sĩ cầm lấy những bài hát của mình được lén lút phát hành bất hợp pháp ngay trong đất nước của mình, và cười như một hạnh phúc...

-Tài sản lớn nhất, và có lẽ vĩ đại nhất đất nước, là bộ sưu tập đĩa nhựa âm nhạc của ông. Tất cả những đĩa quý nhất của thế giới, những ấn bản hạn chế của Rolling Stones, Beatles,... ông đều có đủ và luôn làm bạn bè kinh ngạc ngưỡng mộ. Thế nhưng một ngày mùa Hè cách mạng, các nhân viên Sở Văn Hóa Thông Tin đã ập đến lục soát và tịch thu, theo “tố giác của quần chúng nhân dân.” Nhìn từng chiếc xe ba gác chồng chất các bản đĩa mà ông nâng niu, chở ra đi, là một trong những điều suy sụp lớn của đời ông. Nhạc sĩ Bảo Chấn kể rằng đời ông chưa bao giờ hoảng sợ bằng nhìn thấy hình ảnh nhạc sĩ Lê Hựu Hà ngồi gọi rượu đế ra uống một mình, trầm ngâm và khóc. Ðó là lần uống rượu duy nhất trong đời của người nhạc sĩ chơi rock, Phật tử và không biết thuốc lá, rượu bia... (Nđd)

...

Tôi tin tưởng rằng, bài viết “kỷ niệm 12 năm ngày mất Lê Hựu Hà” của nhạc sĩ Tuấn Khanh, chí ít, cũng sẽ giúp cho linh hồn họ Lê siêu thoát về miền vĩnh hằng. Vì, ai rồi cũng chết, chế độ, chủ nghĩa nào, rồi cũng sẽ qua đi, chỉ những tài hoa, gấm vóc mọi tài năng ở tất cả các lãnh vực của dân tộc là, còn lại.

(Tháng Tư 2016)
2 users thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 5/11/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2155 Posted : Tuesday, May 3, 2016 9:43:29 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Tháng Tư hãy khóc cho Sài Gòn


Tim Nguyễn


A Sài Gòn mãi mãi là nỗi nhớ trong tôi. Càng xa càng nhớ. Ở thành phố miền đồng cỏ này, mỗi khi trời trở gió hay sấm chớp nổi lên, lòng lại nhớ về Sài Gòn

Givral đường Tự Do


Đêm nay

anh nghe tiếng sấm

từ xa dội về

chuyến xe lửa. chở anh tới ga sài gòn. cách đây ngoài năm mươi năm. đã rời bến chưa. mà sao anh còn nghe còi hụ

và căn nhà ở con hẻm xóm nguyễn ngọc sương. phú nhuận. nơi anh trọ học đầu tiên. còn không

còn không. chiếc xe phở. với đốm lửa khuya đầu ngõ


Lần đầu tiên tôi đến Sài Gòn là vào năm 1957. Mới đó mà nửa thế kỷ đã trôi qua. Ngày ấy tóc mình còn xanh, vừa mới đỗ Tú Tài, cùng với hai bạn là Phan Ngọc Lâm (hiện là luật sư ở Seattle) và Phan Thanh Thư (chủ nhà in ở Maryland) leo lên xe lửa xuôi Nam. Hồi đó ở Huế chưa có Ðại học nên cả bọn phải vào Sài Gòn. Chuyến đi dài tới mươi ngày, ghé Bồng Sơn Quy Nhơn, Quảng Ngãi rồi Nha Trang – mỗi nơi ở lại đôi ba ngày. Vào tới Sài Gòn, không tên nào biết đường sá cả. Xuống xe lửa ở Ga trên đường Lê Lai gần Bùng Binh, hỏi thăm tìm tới tiệm sách bên kia chợ Bến Thành mua một tấm bản đồ Sài Gòn. Ôi, thật là dễ dàng – cứ theo bản đồ mà đi. Thì ra, nhà anh chị của Phan Thanh Thư ở ngay phía bên kia, gần sát Tour d’Ivoire, đầu đường Phạm Ngũ Lão – Trần Hưng Ðạo. Cả bọn kéo lên đó uống nước, nghỉ ngơi. Một lát sau, Phan Thanh Tâm, em của Thư đưa mình về nhà chú thím Lữ ở xóm Nguyễn Ngọc Sương ngay ngã tư Phú Nhuận. Còn Phan Ngọc Lâm thuê taxi về Cư Xá Công Binh, nhà của người bà con xa.

Hồi ấy, những ngày đầu tiên tới Sài Gòn thấy cái gì cũng lạ, cũng đẹp, cũng ngon. Phố xá to lớn, sầm uất, người đông đúc, thân tình, cởi mở. Mê từ ly nước mía Viễn Ðông, kem Mai Hương, tô phở ở hẻm Pasteur, tiệm sách Khai Trí, con đường Catinat, cà phê La Pagode… Nhiều lắm… Sáng nắng, chiều mưa, khuya tiếng nhạc từ các phòng trà.

Những ngày ấy còn trẻ nên tha hồ rong chơi. Ngoài thời gian ngồi lớp lấy cours ở trường Luật, trưa cùng bạn đi ăn cơm ở quán Anh Vũ, chiều tối za zu ta bà tám hướng. Cà phê và phòng trà là những địa điểm thân quen. Nơi Nguyễn ở trọ gần nhà bạn Hồ Ðăng Tín nên bạn thường chở đi trên chiếc vélo solex tới phòng trà Ðức Quỳnh ở gần rạp Cao Thắng xem và nghe Thanh Thúy hát. Nguyễn không mê Thanh Thúy nhưng thích nghe hát nên rồi cũng trở thành fan của người đẹp.

Ngoài phòng trà Ðức Quỳnh, có dạo Nguyễn và Hồ Ðăng Tín có thêm Phan Thanh Thư nữa mỗi tối thường tới uống cà phê ở Café Ánh gần rạp Cao Ðồng Hưng cạnh chợ Thái Bình. Ở đây, vừa uống cà phê Nguyễn thường ngồi kể chuyện cổ tích cho chị em Ánh nghe. Khi Café Ánh đóng cửa, cô em là Hồng mở riêng một quán trước viện Pasteur khiến nhiều chàng sinh viên Vạn Hạnh ngày đêm tấp nập lui tới.

Còn nhớ, có lần khi viết về cà phê Sài Gòn đăng trên báo của Mặc Bích ở Houston, Nguyệt Hạ từng ghi nhận: Ngồi nhìn ra cửa kính, đối mặt với công viên có hai hàng cây dầu rái cao vút, hay chếch sang nhà hát thành phố, tới khách sạn Caravelle, Continental… thì kiểu ngồi nhàn hạ của khách hôm nay cũng gợi nhớ một thời dĩ vãng, thời những nhà văn nhà thơ nổi tiếng từng ngồi như vậy, uống bia (hay cà phê), bàn chuyện chính trị, thời sự, văn học. Huy Tưởng – nhà thơ cũ – bảo “Cái ông Graham Greene viết cuốn Người Mỹ Trầm Lặng từng ngồi đây đây, các bạn anh kẻ sống người chết từng ngồi đây. Những Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trịnh Công Sơn… nhớ không xuể!”

Vậy mà bỗng chốc Sài Gòn đổi chủ. Rạng đông… Một rạng đông có mặt trời mọc nhưng mặt trời bị cắt cổ (soleil, cou coupé – Apollinaire). Người người kéo nhau ra đường, lang thang lếch thếch, gốc cây vỉa hè trở thành điểm tụ họp. Ai cũng xe đạp và túi xách. Em, cô ca sỹ tài sắc một thời và chàng vội vàng đi mua ngay chiếc xe đạp để gọi là từ “đài trang bước xuống bụi đường”.Còn đám chủ mới thì “y trang xúng xính / súng trên vai giọng hét phàm phu” (TTYên) Và rồi đuổi người chết ra khỏi nghĩa trang, bắt người sống đi cải tạo, cướp nhà, đổi tiền, lùa đi kinh tế mới, đánh tư sản mại bản… Ôi chao, làm sao sống nổi. Phải đi thôi và nhiều người đã bỏ đi… Cái cột đèn kia cũng sẽ đi nếu nó có chân. Từ mình chia tay với Sài Gòn, mới đó mà đã ngoài hai mươi năm. Còn nếu tính từ dép râu nón cối vào thì đã trên bốn mươi năm. Bốn mươi năm, ôi lịch sử đã làm một cuộc phân ly lớn với hàng triệu người ly hương, trôi dạt nơi quê người. Vết thương bao giờ mới lành?

Tháng Tư. Nhớ về Sài Gòn. Nhưng Sài Gòn bây giờ đâu còn như thời của anh và em. Phan Thị Như Ngọc khi đi qua những con đường của thành phố Sài Gòn đã viết cho người yêu. “H. ơi! Với riêng em, cái khác của Sài Gòn hôm nay đơn giản chỉ là sự thay đổi của vài con đường, vài hàng cây từng in bóng anh thôi. Em kể cho mưa nghe. Rằng con đường ngày xưa anh đạp xe qua, quán xá nhỏ gầy, gió heo heo luồn về tháng bảy tháng tám này… Rằng những hàng cây mà anh từng ví như rèm mi xanh, khép lại phố phường lúng liếng tà huy… Con đường ấy, hàng cây ấy nay đã không còn.”

Như thế đó. Phố xá không còn như xưa nữa. Nhiều con đường đổi tên, bây giờ mang những cái tên hoàn toàn xa lạ đối với dân Sài Gòn. Không còn nhà hàng Kim Sơn, tiệm sách Khai Trí, Xuân Thu. Quán Chùa, Givral biến mất. Thương xá Tax, Eden đã bị đập phá. Thành phố bây giờ xe cộ hỗn loạn, cướp giật giết người ngay giữa ban ngày. Những hàng cây ngày xưa từng in bóng anh và em đã bị đốn hạ. Em ơi, mai này anh và em có dịp trở lại thành phố ấy và đi trên con đường Duy Tân ngày xưa tìm đâu thấy những cánh dầu màu nâu bay bay xoay tròn trong gió để rồi rớt trên vai áo em. Những bông dầu khô ngày ấy đã chết tuyệt tích tự bao giờ. Cũng như cuộc sống yên vui của người dân Sài Gòn đã biến mất.

Vậy thì Tháng Tư về, hãy khóc cho Sài Gòn, cho Việt Nam.


Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
2 users thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 5/11/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
CỏThơm
#2156 Posted : Wednesday, May 11, 2016 4:28:15 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)






Ở một nơi có tiếng ve sầu


Khi tôi vừa thi tú tài bán phần xong, chú Oanh đến nhà hỏi có ai muốn về Sài Gòn chơi thì chú cho quá giang. Tôi rủ hai cô bạn học cùng đi cho vui. Dẫu sao có bạn đồng hành tôi cảm thấy yên lòng hơn, vì đây là lần đầu tiên đến thăm thủ đô và cũng là lần đầu được phép đi chơi xa một mình. Sáng sớm hôm sau mấy đứa con gái ngồi trên những kiện hàng chất cao nghều nghệu trong khoang xe vận tải. Suốt cuộc hành trình chúng tôi mãi huyên thuyên trò chuyện mà quên cả đường dài.

Cô bạn thân thiết nhất ở lại Sài Gòn luôn với mẹ. Chặng đường về lẻ bạn, trong lòng tôi thoảng một nỗi buồn. Tư lự ngắm nhìn những đám mây trắng trôi lãng đãng trong bầu trời mùa hạ, tôi thầm nghĩ đến niên học tới sẽ phải đương đầu với môn Triết học—con quái vật khổng lồ đang nhe hàm răng lởm chởm chực nuốt chửng những kẻ lơ mơ rắp ranh mạo hiểm vào hang động thần bí của nghìn năm cổ tích.

Biết thân phận mình, vừa về tới nhà là tôi lo đến trường tư thục Việt Anh ghi danh ngay cho kịp học khoá hè. Lớp Triết học mỗi ngày từ sáng tới chiều. Thầy Đào Thái Nguyên kiêm cả ba môn Tâm Lý Học, Luận Lý Học và Đạo Đức Học. Ngày khai giảng, với nét mặt nghiêm nghị, thầy bảo, “Ban C môn Triết hệ số 5. Các anh các chị liệu hồn đó!”

Lớp học trên dưới vỏn vẹn chừng mười mấy người. Các anh nam sinh nhường dãy bàn phía trước cho các bạn nữ, riết rồi thành thông lệ, ai nấy có chỗ ngồi cố định của riêng mình. Tôi ngồi giữa hai người bạn mới quen: Trần thị Bạch Cúc bên trái và Hồ thị Tường Vi bên phải.

Tường Vi với tôi dễ thân với nhau có lẽ một phần vì hai đứa ngẫu nhiên đã từng là bạn của Hoàng Thị Mỹ Ngọc. Tường Vi và Mỹ Ngọc là đôi bạn thân và là dân Sài Gòn. Niên khóa vừa qua Mỹ Ngọc lên Đà Lạt trọ học ở gần nhà và chơi khá thân với tôi. Nay Tường Vi và tôi gặp nhau trong lớp hè.

Trong đám nữ sinh đếm trên đầu ngón tay ấy, Tường Vi nổi bật với nét đẹp kiêu sa, dáng mảnh mai, mái tóc demi-garçon và đôi môi cong dường như lúc nào cũng đang phụng phịu dỗi hờn với ai. Đi học cô thường mặc áo dài trắng, khoác áo len mầu tím và đeo kính mát to bản đúng mốt đương thời, và đặc biệt dáng đi nhún nhảy trong mỗi bước chân. Tường Vi hơi có vẻ ương ngạnh điệu đàng thì Bạch Cúc hiền lành như bụt, tánh tình nhu mì, giọng nói ríu rít, và viết chữ rất đẹp (cô là chị đôi con dì của ca sĩ Hoàng Oanh). Dáng dấp nhỏ nhắn như chim sẻ, chân đi khập khiễng nên Bạch Cúc có thói quen níu cánh tay bạn khi đi bên cạnh. Giờ ra chơi ba chúng tôi thường tản bộ trong sân trường, thảng hoặc rủ nhau ra thăm mấy gánh hàng rong ngoài cổng trường. Tường Vi hào sảng có khi mua quà vặt chiêu đãi mấy bạn khác nữa.

Buổi trưa thầy đứng trên bục giảng, giọng thầy thao thao liên tu bất tận như hòa nhịp với tiếng ve sầu râm ran ngoài kia. Bỗng dưng có tiếng ngáp dài đâu đây, rồi lây lan kết thành một chuỗi thở dài miên man ai oán. Thực vậy sao? Khoái lạc và đau khổ chỉ là hai trạng thái của một bản thể? Khúc nhạc hòa tấu ve sầu cứ rền rĩ âm vang. Hai mi mắt tôi chĩu nặng, thôi đành chào thua cơn buồn ngủ đang choáng ngợp ùa đến vây quanh.

Trong lớp tôi tỉnh táo nhất khi thầy phát trả bài thi. Bài luận của tôi thường chằng chịt những đường gạch đỏ ngang dọc của thầy—kiểu lý luận vừa ngây ngô vừa dổm của tôi thường bị thầy phê ấu trĩ thì chẳng có gì gọi là quá đáng.

Sáng nọ vào lớp nghe có tiếng thì thào của lũ con trai phía sau. Tường Vi ghé tai tôi nói nhỏ, “Tụi nó đang xầm xì về tao đó. Đợi chút nữa tao kể cho nghe.”

Đến giờ ra chơi ba cái đầu chụm lại. Tường Vi dõng dạc tuyên bố, “Tao mới đi chơi với thầy Nguyên chiều hôm qua!” Bạch Cúc và tôi sững sờ nín thở trố mắt nhìn, “Thiệt hông? Sao mầy bạo gan quá vậy?” ”Thì để thủng thẳng tao kể cho nghe. Có gì đâu, bữa trước thầy trả bài luận, thầy viết mấy chữ hẹn hò với tao. Bữa qua Chủ Nhật thầy dẫn tao đi ciné ở rạp Ngọc Lan xong rồi thầy dẫn tao đi dạo loanh quanh bờ hồ. Dọc đường gặp mấy đứa con trai trong lớp, quê ghê mầy ơi!”

Trời! Chuyện kinh thiên động địa vậy mà nó phớt tỉnh làm như đang kể truyện đời xưa. Con nhỏ gan cùng mình thiệt!

Từ đó về sau vào lớp tôi không dám ngước nhìn thầy nữa. Nét đạo mạo trầm ngâm thường ngày của thầy dường như đang phôi phai. Tiếng thầy giảng vẫn một giọng đều đều, tiếng ve sầu vẫn nỉ non ngoài cửa lớp, nhưng âm thanh giờ đây nhuốm chút gì vụn vỡ tang thương.

Rất hiếm khi thầy kể chuyện tầm phào trong lớp. Có lần thầy nhắc đến tác phẩm “Một Chủ Nhật Khác” của Thanh Tâm Tuyền (thầy và nhà văn là bạn đồng nghiệp ở Trường Võ Bị). Ngày cuối khoá học thầy đọc thơ Đoàn Phú Tứ cho cả lớp nghe. Phải chăng thầy muốn gởi gấm một nỗi niềm?


Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh

Mùa hè qua nhanh. Chẳng mấy chốc mùa tựu trường đã lừng lững tới. Bạch Cúc rủ tôi xin vào học trường nữ công lập Bùi thị Xuân. Niên học kế tiếp thỉnh thoảng tôi đi học về gặp Tường Vi ở dọc đường, hai đứa dừng lại chuyện vãn dăm ba câu rồi chia tay.

Mấy chục năm sau tôi gặp lại Tường Vi ở nhà Mỹ Ngọc ở hải ngoại. Người đẹp năm xưa trông vẫn duyên dáng như thuở nào, tuy dung mạo giờ đây thoáng nét sầu muộn u uẩn. Trưa hôm đó chúng tôi ngồi bên nhau khơi lại chuyện cũ. Tường Vi kể lúc mới qua tình cờ gặp thầy Nguyên khi đến văn phòng sở di trú làm giấy tờ. Thầy trò nhận ra nhau nhưng không ai nói gì. “Sao kỳ vậy?” ”Tao đi cùng với ông xã dắt theo bầy con đùm đề, còn biết nói gì đây?”

Ít lâu sau tôi nhận được tin Tường Vi đã qua đời sau cuộc giải phẫu bướu não. Mỹ Ngọc kể, “Sắp Tết, nó thèm ăn mứt hạt sen. Trưa đó vào bệnh viện thăm nó tao dấu trong bọc một hộp mứt. Nó than nhức đầu kinh khủng suốt đêm không ngủ được và mấy bữa liền không thiết ăn uống gì. Tao dỗ nó ráng húp vài muỗng súp rồi tao đút cho nó mấy hạt mứt sen. Nó còn thòm thèm đòi ăn nữa nhưng tao sợ lỡ có chuyện gì, tao nói thôi để dành lần sau vậy. Nó hứa bữa nào lành bệnh về nhà sẽ nấu canh mướp hương mồng tơi rau đay với riêu cua cho tao ăn.” Sáng hôm sau Mỹ Ngọc trở lại thăm thì nghe tin bạn mình vừa mới mất hồi đêm.

Mỗi khi nghe Hoàng Oanh hát bài Những Ngày Thơ Mộng, tôi lại mường tượng dáng dấp mảnh khảnh của Tường Vi thơ thẩn trong sân trường. Ngày ấy bạn tôi thường nghêu ngao hát…


Tìm đâu những ngày thơ ấu qua
Tìm đâu những ngày xinh như mộng
Tìm đâu những ngày thơ
Tìm đâu những chiều mơ
Tìm đâu, biết tìm đâu, đâu giờ?


Người đẹp năm xưa biết tìm đâu bây giờ?



Yên Nhiên




2 users thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC), Duy An on 6/19/2016(UTC)
Duy An
#2158 Posted : Saturday, May 14, 2016 11:32:33 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Chợ đời 1975


Nguyễn Thị Thanh Dương

Chị Bông ngồi trước cửa hàng bán cà phê nước giải khát của nhà mình, cái bàn bày vài chai bia, chai nước ngọt, hũ chanh muối và vài món ăn vặt kèm cho người uống bia là chùm nem chua, là hũ đậu phộng rang. Bên cạnh bàn là một tủ thuốc lá.

Thời buổi bao cấp sau 1975 hàng quán quốc doanh hay tư nhân đều lèo tèo xơ xác như nhau. Nhất là hàng quốc doanh món nào có giá thì nhân viên cửa hàng và con buôn vơ vét trước, còn những mặt hàng hoặc xấu kém “chất lượng” hoặc đắt hơn giá ngoài chợ đen thì vẫn nằm chình ình trong cửa hàng ngày nọ tháng kia như hàng… triển lãm.

Những chai bia, nước ngọt được sản xuất từ những hẻm nhỏ vô danh nào đó của quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp.

Người ta đồn rằng bia này được làm từ lên men trái cây, có tin độc địa hơn là làm từ lên men vỏ trái dứa, trái thơm vứt ê hề ngoài đường ngoài chợ.

Chẳng ai biết thực hư ra sao nhưng nhìn các loại bia lên men mang nhãn hiệu đàng hoàng nào Hải Âu, Lúa Vàng, Hướng Dương, Trường Sơn vv… vẫn đẹp mắt, rót bia ra ly vẫn sủi bọt với màu vàng óng ánh, uống vào có mùi bia và say xỉn như bất cứ loại bia chính hiệu nào.

Lại nghe đồn một nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975 cũng sản xuất loại bia trái cây lên men này ở quận Phú Nhuận. Nếu đúng như thế thì ông viết nhạc hay mà làm bia cũng tài, chị Bông bán bia của ông với lòng ngưỡng mộ cả hai thứ, nhạc và bia.



Thắm Nguyễn


Còn những chai nước ngọt cũng đủ màu đủ mùi vị cam vàng, bạc hà, nước chanh và không cần nhãn hiệu vẫn đắt hàng vì nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Nhà nước đã sử dụng lại hãng B.G. I trước kia thành nhà máy quốc doanh sản xuất nước ngọt nhưng không là bao, lại nắm quyền quản lý, chỉ thỉnh thoảng bán giới hạn theo tiêu chuẩn đầu người trong cửa hàng bách hóa, người mua phải mang cái ca nhựa hay bất cứ thứ gì có thể đựng được, cô nhân viên bán hàng sẽ khui chai nước ngọt tại chỗ đổ ra ca nhựa cho người mua để họ giữ chai không lại.

Uống được chai nước ngọt phải vất vả tủi hờn thế mà tháng có tháng không thì chẳng thấm thía vào đâu cho nên cả người bán lẫn người mua đều vui vẻ với bia nước ngọt ngoài luồng do tư nhân sản xuất.

Thỉnh thoảng báo chí đăng tin có ông uống bia trái cây lên men quá nhiều lăn đùng ra ói mửa ngất ngư, nhưng ai sao kệ ai, người ta vẫn cứ uống, và còn dí dỏm gọi bia lên men là “Bia lên cơn”.

Bia lên men chị Bông lấy về vẫn được khách hàng ưu ái gọi mua mỗi khi đến quán.

Ngoài những loại bia rẻ tiền ấy quán chị Bông có bán bia 33 nhưng khách hàng của loại bia đắt tiền này không là bao.

Khách hàng là những công nhân nhà máy Z751, X28, Z755 và cư dân quanh khu vực này. Những nhà máy hãng xưởng mang tên những con số và chữ nghe như mật mã, ký hiệu của điệp viên tình báo là tên mới của những xưởng quân cụ, xưởng quân nhu và truyền tin cũ trước 1975.

Bà Tư Cam từ xóm trong bưng mâm bánh bông lan le te đi tới quán chị Bông ghé vào mời chào như thường ngày:

– Cô Bông, hai mẹ con mở hàng giùm tui hai miếng bông lan đi.

Thường thì thằng cu Bi con út chị Bông hay luẩn quẩn ở đây, chị Bông mua bánh bông lan hai mẹ con ăn, hôm nay nó ở nhà trong không ra cửa hàng chơi với mẹ.

Bà Tư Cam đon đả:

– Cô Bông mở hàng là tui bán lẹ lắm. Mua hai miếng nha cô Bông?

– Thằng cu Bi không có đây, bác bán cho tôi một miếng thôi.

Thế là chị Bông mua một miếng bánh cho bà hàng xóm vừa lòng. Bà Tư Cam đã xoay đủ nghề sau 1975. Nhà nghèo khổ, con đông, ít vốn, nghề của bà chỉ là gánh hàng rong, ban đầu là gánh bánh canh, vốn teo lại không đủ tiền mua giò heo bà bán bún riêu cua cho nhẹ vốn, sau cụt vốn chỉ còn mâm bánh bông lan mà nghe nói tiền đường tiền bột làm bánh bà còn mua thiếu chị chạp phô trên chợ.

Bà Tư Cam làm ra bánh bông lan đẹp tài tình. Chị Bông đã có lần ngồi chầu chực xem bà làm bánh bông lan để bắt chước. Bà đập trứng vịt ra cái thố đất và dùng cái lò so đánh trứng khá lớn nên đánh một hồi là trứng nổi xốp lên. Sau khi trộn đường bột, bột nổi bột thơm vani bà nướng bánh bằng nồi gang, để than dưới nồi và trên nắp nồi, khi bánh chín tỏa ra mùi thơm phức, ổ bánh màu vàng nở phồng, bà Cam để nguội cắt ra từng miếng để bán lẻ.

Bà Tư Cam đưa miếng bánh cho chị Bông và hỏi một câu muôn thuở:

– Thằng nhỏ đi thăm bố nó lần nào chưa?

Bà Cam chắc là muốn hỏi chuyện cho đẹp lòng chị Bông để trả công ngày nào chị cũng mua mở hàng cho bà đắt hàng. Bà nhà quê thật thà chân chất, vụng về không biết nói câu gì khác hoặc trong thâm tâm bà luôn áy náy thương cảm cho cảnh người chồng người cha đi tù cải tạo nên bà đã hỏi câu này mấy lần mà hôm nay lại hỏi. Ý bà muốn nói thằng Bi, chị Bông đã sinh nó tháng 8 năm 1975 khi chồng đang đi tù cải tạo.

– Cháu còn bé đi đường xa sợ mệt, chắc sang năm tôi cho cháu đi thăm bố bác Tư ạ!

Bà lại than một câu mà chị Bông cũng đã nghe mấy lần:

– Thiệt là tội, con mấy tuổi mà cha con chưa biết mặt nhau.

Bà Tư Cam lại bưng mâm bánh bông lan đi te te về phía cổng nhà máy, chỉ vài tiếng là sạch mâm bánh, bà lại về nhà lấy tiếp ổ bánh khác ra bán kiếm thêm đồng lời phụ với lương công nhân ít ỏi của ông Tư Cam.

Quán không có khách, chị Bông vừa ăn bánh vừa nghĩ lời bà Tư Cam vô tình còn vương lại trong lòng chị làm chị chạnh lòng suy nghĩ thêm…

Những gia đình có chồng con, em đi “học tập cải tạo” mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi người phải kiếm sống theo hoàn cảnh của mình.

Bà chị họ tên Xu than thở và so sánh với chị Bông; may mà chị Bông có nhà mặt tiền còn có chỗ bán hàng kiếm đồng ra đồng vào chứ nhà chị Xu trong xóm chẳng biết làm ăn gì, trước kia chị là công chức sau 1975 bị thôi việc vì chồng là sĩ quan “ngụy”

Suy nghĩ đủ kiểu, chị Xu nghĩ ra “nghề” cầm đồ ngay tại nhà, chẳng cần mặt tiền mặt bằng gì cả.

Chị Xu đã mạnh dạn bán mấy lạng vàng làm vốn, không ngờ khách càng ngày càng đông, ban đầu là hàng xóm gần rồi tới hàng xóm xa, chị Xu phải bán thêm mấy lạng vàng nữa mà cũng không xuể, chị nói đám người nghèo đông như muỗi rừng và dai như đỉa đói, có món mình không muốn cầm thế mà họ cứ ngồi lì, năn nỉ ỉ ôi cho tới khi mình phải cảm động và chịu thua.

Nhà chị chứa nào là xe đạp, radio, ti vi và cả quần áo cũ nữa, dù món quần áo cũ đem cầm chẳng được là bao.

Quá hạn 6 tháng, sau chục lần chị Xu nhắn gọi chủ đến chuộc quần áo về vẫn bặt vô âm tín vì tiền vốn và tiền lời đã cao gấp mấy lần trị giá món đồ; thế là chị Xu tự tin thu gom mớ quần áo cũ của người dưng đem ra chợ trời Tân Bình bán hết cho rộng tủ và lấy lại đồng nào hay đồng ấy. Thì một hôm có một cô gái đến đòi chuộc lại bộ quần áo, cô nói đó là bộ quần áo ân tình của người yêu cô tặng khi xưa; quá nghèo, quá túng quẩn cô mới tạm cầm cố nó, khi biết chị Xu đã bán đi, cô ta khóc lóc ăn vạ như Chí Phèo làm chị Xu phải móc túi đền tiền cho cô theo giá cô đòi hỏi. Cầm tiền trong tay cô gái đã hớn hở sáng mắt lên, giá mà chiếc áo ân tình có tìm thấy cũng không làm cô sung sướng và cảm động đến thế.

Và có lần một bà mang cái dây chuyền đến cầm, chị Xu đã từ chối vì không muốn cầm vàng bạc, chị nào biết cách thử vàng, sợ cầm vàng giả, thế mà bà kia năn nỉ cách nào chị Xu lại mủi lòng đồng ý. Chỉ một tháng sau không thấy bà ta đến chuộc hay trả tiền lời chị Xu liền mang sợi dây chuyền ra tiệm vàng nhờ thợ xem giùm mới biết là vàng giả.

Biết nhà cửa tên tuổi bà lừa đảo, có giấy tờ biên nhận người cầm đồ ký tên đầy đủ mà chị Xu không dám thưa kiện ra phường xã vì bà ta đã ngang ngược đe dọa thách đố chị Xu có giỏi thưa tôi thì chị vô tù trước vì chị là vợ sĩ quan ngụy, là “tư sản mại bản” có tiền ngồi mát ăn bát vàng, cho vay lời cắt cổ bóc lột người nghèo khổ…như tôi.

Người càng nghèo, càng bần cố nông thì tờ lý lịch càng sáng sủa đẹp đẽ. Bà này đang tận dụng cái lý lịch nghèo “vẻ vang” của mình để quỵt tiền chị Xu. Thế là chị Xu chán nản dẹp “nghề” cầm đồ luôn. Tổng kết lại vừa bị lừa, bị mất và vì đồng tiền mất giá so với giá vàng chị Xu mất toi mấy lạng vàng. Chị Xu xót xa tiền đã khóc và héo hon một thời gian.

Khi chị Xu đi thăm chồng trong trại cải tạo, nghe chuyện anh Xu đã an ủi chị:

– Xưa nay em có biết nghề này đâu, bị thất bại là phải rồi, tại hoàn cảnh chứ nào tại em, chúng ta đã mất nhiều thứ quý giá hơn tiền bạc, chỉ cầu mong chúng ta còn khỏe mạnh cho đến ngày đoàn tụ là anh vui rồi.

Chị Bông đang nghĩ ngợi lan man thương cho chị Xu thì thấy khách bước vào quán, là anh công an khu vực:

– Cho ly cà phê đen chị Bông.

– Có ngay đây anh Lu.

Chị Bông bưng ra một ly cà phê đen nóng và cái dĩa nhỏ có đựng điếu thuốc 555 với cái bật lửa gaz. Đây là món quen của anh Lu.

Tủ thuốc lá của chị Bông là “hai khung trời cách biệt”, tầng trên ưu tiên bày những gói thuốc ngoại, hình dáng bao bì đẹp đẽ sang trọng, 555, Dunhill, Kent là những mặt hàng phương tây từ Thái Lan sang Campuchia và con buôn Việt Nam lại buôn lậu từ Campuchia về Việt Nam.
Thuốc lá ngoại người ta mua lẻ từng điếu, gặp khách sang hay cần thuốc để xã giao người ta mới mua cả gói.

Tầng dưới thì khiêm nhường với những gói thuốc lá nội địa Hoa Mai, Đà Lạt, Vàm Cỏ, Lao Động xấu xí, và khá hơn một chút là thuốc lá “có cán” đầu lọc Du Lịch.

Trước khi có các mặt hàng thuốc lá ngoại phương tây thì thuốc lá Samit của Thái Lan đã đủ sang so với các loại thuốc nội địa Việt Nam. Người ta dùng thuốc Samit để xã giao nên có câu: “Samít nói ít hiểu nhiều”, ngược lại “Hoa Mai nói hoài không hiểu”.

Chị Bông cầu trời khấn Phật cho anh Lu uống cà phê và hút xong điếu thuốc ba số rồi rời khỏi quán cho rồi, anh ngồi rề rề, ai đó đi qua chào hỏi anh công an khu vực lại hào phóng lịch sự mời vào quán, lại thêm ly cà phê, thêm điếu thuốc ba số thì chị Bông buồn biết mấy vì lần nào dù chỉ một mình anh hay khi anh mời bạn thì khi đứng dậy rời quán anh Lu đều lịch sự nói:

– Chị Bông ghi sổ giùm tôi.

Và chẳng bao giờ anh Lu hỏi tới những món nợ mà anh đã bảo chị Bông ghi vào sổ cả. Lúc nào, với ai, anh công an khu vực cũng lịch sự tử tế thế, chị Bông cũng… lịch sự chẳng dám nhắc nhở, chẳng dám đòi.

Khi anh công an đi rồi thì bên kia đường trước cửa quán của chị có mấy chiếc xe GM đậu lại, những chiếc xe vướng đầy cát bụi đường xa. Chị Bông mừng rỡ, bộ đội từ xa về thế nào cũng có gạo…

Các bà hàng xóm đã tinh mắt không thua gì chị Bông, khi các anh bộ đội vừa ra khỏi xe, mặt mũi còn phờ phạc vì mệt thì các bà đã xúm lại hỏi:

– Có gạo không các chú bộ đội ơi?

– Mang gạo xuống xe cho chúng tôi xem nào!

Một anh bộ đội quát nhưng vẫn không quên chào hàng:

– Các chị xê ra cho chúng tôi thở cái đã, gạo nàng Hương chợ Đào từ Cần Thơ đây.

Vài anh bộ đội cổ quấn chiếc khăn mặt bước vào quán chị Bông:

– Chị cho chúng tôi rửa nhờ mặt mũi, bụi đường và nóng kinh quá!

Họ xuống nhà sau mở nước rửa ráy ào ào ầm ĩ xong lên nhà kêu bia và đĩa lạc rang vừa uống những ly bia lạnh vừa ngã giá các loại gạo với các bà.

Xóm cổng nhà máy đã quen thuộc với những chuyến xe bộ đội về đây công tác họ không bỏ lỡ thời cơ tranh thủ mua gạo từ miền tây về thành phố bán chợ đen kiếm lời và…tranh thủ rút cả xăng dầu trong xe ra bán chợ đen luôn.

Sau màn bán gạo thì tới màn bán xăng dầu, họ có những mối manh sẵn, các chị mua xăng lậu sẽ xách can xăng nặng 20 lít chạy te te nhanh như chớp kẻo công an thấy. Đúng là sức mạnh của đồng tiền.

Ấy thế mà họp tổ dân phố tới mục đi làm thủy lợi, bà nào, cô nào cũng than chân yếu tay mềm, ốm đau không làm được việc nặng.

Chị Bông mua được 30 ký gạo ngon, số gạo này chị sẽ để dành khi nào có “sự kiện” vui hay quan trọng sẽ nấu ăn. Thường ngày thì ăn gạo tổ, gạo mua theo sổ lương thực, để được biết thế nào là nhặt thóc, nhặt sạn, nhặt bông cỏ và được ăn cả bột mì, mì sợi, khoai lang, khoai mì cho biết mùi đời, mùi đời 1975.

Bán được hàng và mua được gạo chị Bông quên xót xa ly cà phê đen với điếu thuốc ba số đã biếu không anh công an khu vực lúc nãy.

o O o

Buổi chiều sau những giờ các nhà máy tan ca thì hàng quán chị Bông cũng chậm lại, là lúc chị Bông thảnh thơi mang sách truyện ra đọc.

Chị mua được từ chợ trời đồ cũ cuốn sách dịch của Stefan Zweig gồm vài truyện vừa, không ngắn để gọi là truyện ngắn, cũng không đủ dài để là truyện dài, xuất bản trước 1975.

Chị đã đọc dè chừng từng truyện một từ hôm qua đến giờ vì chị Bông muốn tìm lại những giây phút thú vị xưa với văn chương, muốn tận hưởng những cảm giác mộng mơ giữa cuộc sống đời thường nhiều lo toan và cay đắng.

Sau khi đọc truyện “24 giờ trong đời một người đàn bà” chị đang đọc đến truyện kế tiếp “Lá thư của người đàn bà không quen” là câu chuyện mà chị yêu thích đã lấy của chị nhiều giọt nước mắt khi lần đầu tiên đọc nó năm 17 tuổi. Đây là cuốn truyện hay và nổi tiếng chị Bông đã đọc từ trước 1975 nên chị Bông cảm thấy bồi hồi sung sướng như người ta gặp lại cố nhân sau những phong ba của cuộc đời.

Chị thảnh thơi nằm ra chiếc ghế mây đu đưa vừa đọc truyện vừa coi hàng. Bây giờ câu chuyện “Lá thư của người đàn bà không quen” lại làm lòng chị thổn thức lần nữa; chị mê mải đi theo câu chuyện, hết trang sách này lật đến trang sách khác. Giá mà lúc này có kẻ trộm đến bưng đi hũ đậu phộng rang, lấy đi chùm nem chua chắc chị Bông cũng không hay biết.

Đang ngậm ngùi rơi nước mắt vì những lời tình tha thiết đắm đuối của cô gái viết cho người đàn ông vô tình, người cô từng yêu thầm nhớ trộm mà anh ta không hề biết đến, thì một tiếng nói thô lỗ vang lên:

– Thịt heo, thịt heo đây…cô Bông ơi…

Chị Bông giật mình ra khỏi giấc mộng tình lãng mạn trở về thực tế. Chị ngỡ ngàng gấp sách lại và nhìn bà Chuông với thúng thịt vừa buông xuống mặt đất.

Bà Chuông vừa lấy chiếc nón lá vừa quạt mát và than thở:

– Hôm nay ế quá, đi rạc cả chân, mời mỏi cả miệng mà thịt vẫn còn.

Chị Bông tiếc rẻ cuốn truyện dở dang nên từ chối ngay:

– Thôi tôi không mua đâu, giờ này nhà đã nấu cơm chiều rồi.

Bà Chuông nhìn cuốn sách như nhìn ra sự việc, trách móc:

– Cô mải đọc truyện chứ gì, mọi lần cô có nói thế đâu mà đã vội vàng mở thúng ra xem hàng. Thịt mang đến tận nhà mời chào thế này là bán giá rẻ từ lỗ vốn ít đến nhiều đấy cô ạ!

Rồi bà Chuông xuống giọng nài nỉ:

– Tôi vừa bán cho bà Na bên cạnh nhà cô một ký thịt mông, còn một ký ba rọi cô lấy nốt tôi cám ơn, rang mặn ăn được mấy ngày.

Chị Bông biết thế nhưng mua một lúc cả ký thịt thì tốn tiền quá nên ngần ngại:

– Sao bác không mang thịt về rang mà ăn có hơn không, nhà bác đông con.

– Ối giời, nói như cô thì ba ngày là hết vốn buôn bán, cả nhà tôi đói nhăn răng, thà bán rẻ lấy lại tiền có lỗ một ít còn hơn ăn hết.

Chị Bông hiểu hoàn cảnh nhà bà Chuông lắm, người chồng trước kia làm việc trong ngân hàng, sau 1975 bị đuổi việc ra ngoài làm những nghề không tên để kiếm sống rồi tìm cách đi vượt biên mấy lần đều thất bại và mất tiền bạc. Lần vượt biên sau cùng thì bị bắt vào tù ở mãi Cà Mau.

Bà Chuông đi buôn bán thịt chợ đen, bà ra xa cảng miền Tây mua thịt heo về xóm bán, chắt chiu từng đồng vừa nuôi con vừa thỉnh thoảng đi thăm chồng.

Chị Bông thầm cám ơn xa cảng miền Tây và cám ơn các con buôn chợ đen đã mang gạo, thịt về thành phố không thôi người ta chết đói chết thèm vì thiếu thốn chúng.

Chị Bông cầm miếng thịt ba rọi lên ngắm nghía, cả ngày nay miếng thịt đã qua tay không biết bao nhiêu người, kẻ cầm lên người để xuống, bây giờ miếng thịt vẫn nằm lì ăn vạ ở đây. Sợ chị Bông chê, bà Chuông dụ dỗ:

– Cứ lấy thịt đi, tôi bán giá sỉ, giá lỗ vốn, vài hôm sau trả tiền cũng được. Thịt bán rẻ quá mà, thử ngày mai cô đi chợ liệu có chen lấn nổi với người ta để vào phản thịt mà mua vài ba lạng thịt tiêu chuẩn không chứ, chưa kể nó cân thiếu còn mắng khách hàng chan chát.

Chị Bông xuôi lòng:

– Vâng, bác gói thịt cho tôi.

Chị Bông trả tiền cho bà Chuông, chốc nữa chị dọn hàng về và làm món thịt ba rọi rang mặn. Hôm nay ngày gì mà chị Bông hên thế, vừa mua được gạo ngon lại mua được thịt rẻ, chị cao hứng, ngày mai sẽ “phung phí” cho cả nhà được một bữa bồi dưỡng, một bữa ăn ngon mà không cần có lý do, cơm gạo thơm với thịt ba rọi rang mặn.

Không biết chị Bông có duyên gì mà bà Tư Cam ngày nào cũng mời chị là người đầu tiên mua bánh bông lan mở hàng và bà Chuông thì vẫn chọn chị làm người khách cuối cùng, mời chị mua nốt chỗ thịt ế, bất kể là vài lạng hay một hai ký để kết thúc một ngày bán hàng mòn mỏi.

Bà Tư Cam là dân Nam kỳ, bà Chuông là Bắc kỳ 54, cả hai không hẹn hò mà cùng chung ý tưởng, cùng chọn chị Bông làm người khách hàng tín nhiệm của mình.

Chị Bông cất cuốn truyện của Stefan Zweig vào tủ để dành ngày mai thổn thức tiếp. Những miếng thịt ba rọi bây giờ bỗng lên ngôi làm chị thích thú hào hứng hơn cả thú văn chương. Chị dọn dẹp hàng quán để về nhà trong, một ngôi nhà yên tĩnh trong xóm. Nơi bán hàng là căn nhà mặt tiền của cha mẹ không cách xa nhà trong xóm của chị là bao, chị Bông đã bán hàng giải khát như từ trước 1975 cha mẹ chị cũng bán hàng giải khát nơi đây.

Một ngày chị Bông bán hàng đã qua đi, những chuyện lặt vặt thường ngày như hôm nay từ bà Tư Cam bán bánh, bà Chuông bán thịt heo, chị Xu cầm đồ hay chị Bông bán cửa hàng cà phê bia nước ngọt bình dân đến anh công an khu vực, anh bộ đội lái xe, những người của bên thua cuộc hay bên thắng cuộc đã là một xã hội nhỏ, một cảnh chợ đời 1975, sau những tháng, những năm đầu của miền Nam Việt Nam sụp đổ.


2 users thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC), Hạ Vi on 6/2/2016(UTC)
thunder
#2157 Posted : Monday, May 23, 2016 1:24:29 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,092
Points: 12,473

Thanks: 1863 times
Was thanked: 918 time(s) in 607 post(s)



Son Phấn Mùa Xuân


Em hãy để mùa xuân trong mắt
Chắc thế nào cũng được thấy anh
Chùm hoa nhỏ đùa quanh ngọn tóc
Đang thì thầm tiếng gọi tình nhân.

Cho nắng thơm tho mùa con gái
Mái ngói đỏ au son phấn em
Con đường ngắn dài theo chiếc bóng
Áo em đã trắng phố phường quen.

Tháng chạp bước theo anh vào Tết
Nôn nao như hò hẹn lần đầu
Em khép nép bên hiên mười sáu
Cánh cửa nào anh mở đời nhau?

Hoa rụng xuống pha mầu nhan sắc
Mùa xuân muôn thủa vẫn kiêu kỳ
Anh thèm được tan thành cụm nắng
Quấn em vào sát gã tình si.

Sài gòn của những ngày giáp Tết
Đám đông hối hả gọi nhau về
Anh đứng lại cho hương dài tóc
Chờ em mở cửa đón xuân thì…


Hư Vô

2 users thanked thunder for this useful post.
Hạ Vi on 6/2/2016(UTC), Duy An on 6/26/2016(UTC)
Users browsing this topic
Guest (8)
106 Pages«<102103104105106>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.