Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

106 Pages«<101102103104105>»
SÀI GÒN, lịch sử, văn hoá, và kỷ niệm
CỏThơm
#2117 Posted : Sunday, November 1, 2015 5:11:07 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)



Thanh Lan - tiếng hát xôn xao mộng tình đầu


Ca sĩ Thanh Lan tên thật là Phạm Thái Thanh Lan; Phạm là họ cha, Thái là họ mẹ. Sinh tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, rồi ra Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn sau tháng 7 năm 1954.



Ca sĩ Thanh Lan của ngày xưa.


Lúc 9 tuổi được cho đi học đàn dương cầm với các bà sơ rồi học với bà vợ nhạc sĩ Thẩm Oánh rồi nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi.

Hồi nhỏ thích nghe nhạc ngoại quốc, đã thích Connie Francis, Johnny Mathis và thích xem phim ảnh .

Vào ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức lúc 12 tuổi và lần đầu được hát đơn ca trên đài phát thanh Sài Gòn bản Vui Đời Nghệ Sĩ ( Văn Phụng ), đó là kỷ niệm đầu đời của tiếng hát Thanh Lan.

Học trường Pháp Saint Paul rồi vào trường Marie Curie. Năm Đệ Tam, Thanh Lan tham gia vào dòng sinh hoạt ca nhạc với đoàn Sinh Viên Học Sinh Nguồn Sống đi trình diễn ở các trường đại học, các quân trường qua các bản dân ca như Ngồi Tựa Song Đào, hát Trống Quân, các bản hợp ca như Trường Ca Con Đường Cái Quan, Hội Trùng Dương…

Yêu ca hát nhưng Thanh Lan vẫn đeo đuổi việc học và tốt nghiệp đại học Văn Khoa Sài Gòn ban Văn Chương Anh năm 1974.

Nhờ sinh hoạt trong ban Nguồn Sống mà Thanh Lan được nhiều nhạc sĩ trên đài phát thanh và truyền hình Sài Gòn thuở đó biết tới và mời cộng tác. Và từ đó Thanh Lan dần dần nổi tiếng trong giới ca nhạc.

Bài hát xuất hiện đầu tiên trên đài truyền hình Sài Gòn năm 1967 lúc còn màu đen trắng là bản Chiều Tưởng Nhớ của nhạc sĩ Lan Đài “ Chiều đi lặng lẽ, thương nhớ muôn bề, khi người yêu xa vắng, nhạc thu chưa thấy về”.

Kế tiếp Thanh Lan cộng tác với Đêm Vô Tuyến của Lê Hoàng Hoa và bản nhạc ngoại quốc đầu tiên chị hát bằng tiếng Pháp là Quand Le Soleil Etait La (Cuando Calienta El Sol), sau này được dịch lời Việt là ( Yêu Em Bằng Cả Trái Tim).

Ngoài ra, Thanh Lan hát tại các Đại hội Nhạc Trẻ cùng ban nhạc Dreamers của các con nhạc sĩ Phạm Duy.

Năm 1969, Thanh Lan có mặt trong phái đoàn văn nghệ của Việt Nam Cộng Hòa đi trình diễn Âu Châu cho các du học sinh Việt Nam. Trở về nước nhạc sĩ Y Vân mời chị hát thu băng cho trung tâm của ông là Mây Hồng, bắt đầu cho sự nghiệp thu âm của mình như là một ca sĩ chuyên nghiệp.

Năm 1970, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương giám đốc Trung tâm Tú Quỳnh thực hiện một cuốn băng tiếng hát Thanh Lan- Hát Cho Tình Yêu và Tuổi Trẻ. Đây là một vinh dự vì lần đầu Thanh Lan được mời hát nguyên một cuốn chỉ riêng tiếng hát một ca sĩ. Trong cuốn băng này có những ca khúc Việt Nam nổi tiếng và một vài bản nhạc ngoại quốc như Love Story, One Day…

Sau đó nhạc sĩ Ngọc Chánh của Trung tâm ShotGuns thực hiện cho Thanh Lan cuốn Nhạc Trẻ 6 cũng chỉ một tiếng hát của cô toàn nhạc Pháp.

Rồi nhạc sĩ Anh Việt Thu thực hiện cuốn Thanh Lan - Tiếng Hát Xôn Xao Mộng Tình Đầu với 18 bản tình ca.

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng thực hiện cho Thanh Lan một cuốn riêng gồm những nhạc phẩm của ông vào cuối năm 1974; nhưng vì vào thời điểm chiến tranh cao độ cho nên cuốn băng này ít người biết đến.

Là ca sĩ nhưng Thanh Lan chỉ trình diễn trên đài phát thanh, đài truyền hình, các nơi công cộng và thu băng mà không hát ở vũ trường. Được hỏi lý do tại sao thì cô trả lời là không thích.

Dấu ấn đi cùng tiếng hát Thanh Lan là bản Gọi Người Yêu Dấu của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm chép tay tặng và chị là người thu băng đầu tiên bản này trong băng nhạc Shotguns và đưa bản nhạc nổi tiếng.

Bản Giọt Nước Mắt Ngà (Ngô Thụy Miên), Thanh Lan thu băng cuối năm 1974 trong cuốn Tình Khúc Ngô Thụy Miên 1 và được ưa thích.

Về nhạc ngoại quốc thì hai bản Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danser) và Đêm Tân Hôn (Oui Devant Dieu) là hai nhạc phẩm đã làm cho Thanh Lan nổi tiếng một thời Sài Gòn trước năm 1975.

Báo chí Sài Gòn thời đó cũng đã hết lời ca tụng Thanh Lan khi hát bản Đố Ai, Con Đường Tình Ta Đi (Phạm Duy), Chân Trời Tím (Trần Thiện Thanh). Riêng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng đã mời chị hát bản Dấu Giày In Trên Cát, Ô Kìa Đời Bỗng Dưng Vui, Tạ Tình trên đài truyền hình và tiếng hát Thanh Lan đã giúp cho mấy bài hát này bán rất chạy vào thời đó.

Năm 1973, Thanh Lan qua Nhật dự thi liên hoan ca nhạc và hát bản Tuổi Biết Buồn của Ngọc Chánh và Phạm Duy và được vào chung kết. Sau đó chị được một hãng đĩa Nhật mời thu băng 2 ca khúc Đừng Phá Vỡ Ân Tình (Nhạc Nhật) và Tuổi Mộng Mơ (Phạm Duy) bằng tiếng Nhật.

Báo chí Sài Gòn đặt cho Thanh Lan là “ca sĩ tháp ngà” và báo Trắng Đen cuối năm 1974 tặng cô Giải Kim Khánh với danh hiệu “Nữ tài tử đẹp nhất Sài Gòn”. Cô cũng có mỹ danh là “ người tình của những người lính trận”.

Ngoài ca hát, Thanh Lan có đóng kịch cùng với ban kịch Linh Sơn diễn chung với Vũ Huyến, ban kịch Vũ Đức Duy đóng chung với Lê Tuấn. Hồi còn bé cô đã diễn vai một em bé trong ban kịch của Kiều Hạnh trên đài phát thanh Sài Gòn.

Thanh Lan bước vào điện ảnh với phim Tiếng Hát Học Trò đạo diễn Thái Thúc Nha năm 1970, phim Gánh Hoàng Hoa, Xin Đừng Bỏ Em ( đạo diễn Lê Mộng Hoàng), phim Lệ Đá ( đạo diễn Võ Doãn Châu), Phim Yêu, Ngọc Lan ( đạo diễn Đỗ Tiến Đức). Phim cuối cùng chị đóng tên là #10 Blues- Goodbye Saigon do một đạo diễn Nhật quay đầu năm 1975, mà mãi đến năm 2013 mới phát hành và có mời Thanh Lan sang dự liên hoan phim các nước Á Châu tại Kukuoka, nước Nhật.

Một kỷ niệm đáng nhớ mà cô chia sẻ đó là lúc đóng vai bị thương máu me đầy mình nằm trên đất, khóc nức nở. Đoạn phim đã quay xong nhưng có một em bé trong số khán giả hiếu kỳ đứng bên ngoài xem vẫn còn khóc, có lẽ là em bị thu hút bởi cái vai diễn sống động này, và Thanh Lan phải tới vỗ về cho em hết xúc động. Hình ảnh em bé đó lởn vởn tâm tư và đến hôm nay cô vẫn thắc mắc là số phận em bé giờ ra sao.

Sau khi Sài Gòn thất thủ vào cuối tháng 4 năm 1975 thì Thanh Lan đã có một thời gian đi hát cho các đoàn ca nhạc của Tùng Lâm, Duy Ngọc ở các tỉnh miền Nam. Đa số ca khúc cô hát là dân ca vì đã từng diễn thời sinh viên.

Có một lần theo đoàn Kim Cương ra Hà Nội vào năm 1977, khán giả phải mua vé chợ đen để nghe ca nhạc sĩ Sài Gòn trình diễn, họ chen lấn làm sập cánh cửa rạp hát.

Thanh Lan hát nhạc Pháp được những ngưởi trí thức lớn tuổi đã từng hấp thụ nền văn hóa Pháp tại miền Bắc yêu thích. Họ bảo rằng trước năm 1975, họ đã từng nghe lén Thanh Lan hát qua Radio.

Một đêm cô hát bản Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong thì có một bà cụ tóc bạc phơ bước lên sân khấu ôm chị và khóc nức nở. Có lẽ bài hát này là kỷ niệm của bà cụ thời thanh xuân và sau mấy chục năm mới được xem và nghe lại cho nên cảm động.

Thanh Lan là ca sĩ vượt biên mấy lần và bị bắt vào tù rất cực khổ. Có những đêm nằm trong trại tù, nền đất, mưa ướt cả người, lạnh và đói. Cô bị cấm hát vì tội vượt biên trong một thời gian dài.

Cuối thập niên 80, một số khán giả ái mộ Thanh Lan từ Mỹ về Việt Nam và thực hiện cho cô một cuốn băng hình tên là Vườn Hồng Kỹ Nữ, có số bán kỷ lục thời đó.

Cuối năm 1993, Thanh Lan được mời sang Hoa Kỳ dự buổi ra mắt phim Tình Người của đạo diễn Lê Tuấn và ở lại bằng cách xin tị nạn chính trị.

Thu hình cho nhiều trung tâm băng nhạc ở hải ngoại, thu âm và có thực hiện một cuốn Video cho riêng mình tên là Trong Nắng Trong Gió năm 1999 khá thành công. Bài hát mới đầu tiên ở hải ngoại là bản Yêu Thầm của nhạc sĩ Lam Phương.

Sau đó, Thanh Lan tiếp tục đóng kịch trong các vở Lôi Vũ, Thành Cát Tư Hãn với các ban kịch tại Quận Cam.

Ngoài ca hát, đóng phim, đóng kịch, Thanh Lan còn làm thơ và sáng tác ca khúc. Cô đã xuất bản một tập thơ và phát hành một cuốn băng Tình khúc Thanh Lan.

Nhìn lại quãng đời nghệ thuật, Thanh Lan cảm nhận rằng thời trước năm 1975 thì hồn nhiên và thành đạt, nhưng thời Cộng Sản thì đau khổ cũng nhiều. Cô đã bị bắt vì tội vượt biển và vào tù mấy lần. Có những đêm nằm trên nền đất, mưa ướt và lạnh và đói rất cực khổ. Những thăng trầm đó cho Thanh Lan kinh nghiệm sống phong phú và những cảm xúc để diễn đạt những vai tuồng hay và những bài hát đầy xúc cảm sau này.


Trần Chí Phúc / SBTN

T5, 07/23/2015




1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 11/11/2015(UTC)
CỏThơm
#2118 Posted : Sunday, November 1, 2015 5:12:55 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)





























Photos - sưu tầm








CỏThơm
#2119 Posted : Friday, November 6, 2015 2:31:08 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)







Đừng trở lại


Anh ra đi Sài Gòn xưa đã chết
Cây me già cô độc đứng nghe mưa
Ðừng trở lại chẳng còn gì nữa hết
Em đã tàn hương sắc của năm xưa

Anh ra đi phố phường xưa đổi khác
Ngọn đèn xanh le lói bóng ga chiều
Những kỷ niệm vàng hoe trên mái tóc
Tóc em buồn từng sợi rối đêm khuya

Anh ra đi cửa lòng em đã đóng
Với đau thương chồng chất thuở xuân thì
Ðừng trở lại chẳng còn ai mong ngóng
Xuân đã tàn từ độ én bay đi

Anh ra đi em một mình lầm lũi
Con đường câm trong những tối không đèn
Ðừng trở lại em quen rồi cực khổ
Anh cũng quen rồi cuộc sống ấm êm

Anh ra đi mùa đông buồn ghê lắm
Mùa mưa dài thăm thẳm ở nơi đây
Ðừng trở lại chẳng cần ai đưa đón
Ðể em ngồi nghe lá khóc trên cây

Anh ra đi mẹ bao lần đã nhắc
Ðứa con yêu lưu lạc ở phương nào
Anh có đọc nỗi buồn sâu trong mắt
Mắt mẹ già năm tháng đã hư hao

Anh ra đi đàn em thơ đã lớn
Nhìn hình anh ngơ ngác hỏi là ai
Bầy chim nhỏ giữa trời đầy giông tố
Chim đầu đàn vẫn biệt dưới chân mây

Anh ra đi quê hương nghèo hơn trước
Những lầm than vẫn nối tiếp nhau về
Bài thơ cũ mơ làm người yêu nước
Ðến bây giờ anh còn nhớ hay quên



Trần Trung Đạo




phamlang
#2120 Posted : Wednesday, November 11, 2015 4:58:41 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Trà nước Sài Gòn xưa và nay




Du nhập vào phương Nam, thứ thức uống khoác lên tên gọi cả một miền văn hóa là trà, bỗng trở nên bình dị, gần gũi, thân quen hơn bao giờ hết. Gọi tô phở, cũng uống kèm với trà; nhậu ly rượu, cũng “chữa lửa” bằng trà. Cái sự len lỏi, xâm nhập của trà vào mọi ngóc ngách của đời sống riêng ở phần “ẩm” đã hình thành một phong vị thưởng trà độc đáo, mang đặc trưng rất riêng nơi nắng gió phương Nam.

Gốc tổ ngành trà Việt cùng các vùng trà danh tiếng, gắn với phong tục uống trà lâu đời, hẳn ở phía Bắc. Riêng với miền Nam, việc du nhập của trà vào đời sống thị dân để dần phát triển thành một cái thú, lại ít nhiều gắn với gốc tích của những người Hoa trong nhóm Ngũ Bang đến vùng Sài Gòn – Chợ Lớn xưa từ hơn 3 thế kỷ trước.

Trong khái niệm “ăn Tàu – ở Tây” ở Sài Gòn xưa, người Hoa nổi tiếng với phong vị ẩm thực mang theo từ cố quốc, bao gồm: chiên xào của người Quảng Đông, tẩm ướp cay nồng của người Hẹ, dân dã của người Tiều, thanh đạm của người Phước Kiến, đến món ngon đặc hữu cơm gà của người Hải Nam… tất cả phần “thực” tuy mang nét đặc trưng riêng khác nhau ấy nhưng có chung phần “ẩm” là trà, phổ biến nhất là trà Phổ Nhĩ (còn gọi là Vũ Lũy) – một loại trà đặc hữu có xuất xứ từ vùng Phổ Nhĩ của Vân Nam trên con đường Trà Mã Cổ Đạo huyền thoại.

Xét về ngoại hình và phong vị, trà Phổ Nhĩ rất giống với trà mạn của người miền cao vùng Đông Bắc – Tây Bắc của đất Việt. Loại trà làm nên Phổ Nhĩ là giống trà cổ thụ, khi thu hái được cho lên men, đóng thành bánh, để càng lâu vị trà càng ngon, rất phù hợp cho việc vận chuyển năm này qua năm khác theo các đoàn Mã Bang trên con đường Trà Mã Cổ Đạo từ vùng Phổ Nhĩ ra với thế giới. Còn trà mạn, hay còn gọi là “mạn hảo”, cũng là giống trà cổ thụ núi cao, sau khi thu hái được bỏ vào ống tre (ống bương) để gác bếp cho trà tự lên men, đóng cục lại, khi uống chẻ ra hãm với nước sôi rồi dùng.

Trong các tiệm ăn, vị trà Phổ Nhĩ với mùi men mốc khiến các món ăn dầu mỡ mau tiêu, khẩu vị không bị ngán nên được quen dùng. Sau phát triển rộng ra tiệm nước (quán trà) chủ yếu trong vùng Sài Gòn – Chợ Lớn xưa để phục vụ giới thợ thuyền, lao động thủ công, kể cả giới tài chính làm cho chủ Tây… Qua thời gian, thú uống trà ngày càng phổ biến, ngoài trà Phổ Nhĩ, người Hoa cũng bắt đầu dùng nguyên liệu địa phương để chế biến các thương hiệu trà riêng, quen thuộc nhất là hiệu trà Tổ Kiến (Nghi Bồi Nham) ở đối diện Bưu điện Chợ Lớn, ngay đường Hải Thượng Lãn Ông.

Mỗi sáng, khách đi đôi ba người vào tiệm nước, gọi một ấm trà Phổ Nhĩ của tiệm, sành điệu hơn thì mang trà riêng của mình theo, với những loại hàng nhập thượng hạng như Long Tĩnh, Thiết Quan Âm, Đại Hồng Bào, Trúc Diệp Thanh… các tay “phổ ki” (phục vụ) sẽ mang ra một bộ trà cụ gồm khay, ấm, chén và châm nước sôi cho khách tự pha trà uống. Nếu vào vai người… lịch sự, dân nhẩm trà sẽ uống theo thuyết “Tam Bào” – tức “trà ba nước” của nhà ngôn ngữ học Lin Yu Tang (Lâm Ngữ Đường) người Long Khê, Phước Kiến, rằng nước thứ nhất như ấu nhi độ lên mười, nước hai (ngon nhất) như thiếu nữ tuổi trăng rằm, nước ba thì đã là thiếu phụ.

Từ thuyết uống trà này mà Sài Gòn – Chợ Lớn có thêm loại trà độc đáo khác, ấy là Bạch Đầu Trà. Trong tiệm nước, hễ thấy nắp ấm trà ngửa lên bàn, “phổ ki” hiểu ngay ấm trà đã hết nước và đến châm thêm cho khách. Nhiều nhóm đông người, gọi một ấm trà, ngồi lỳ để “phổ ki” châm đến ấm thứ tư thứ năm, trà rót màu nước đã ngả trắng, “phổ ki” sẽ ghé tai xổ giọng Quảng Đông đuổi khéo: Xến xáng! Pạt thầu xà a! (Tiên sinh ơi, trà bạc đầu rồi), ý nói trà đã ra hết, giải tán đi để bổn tiệm còn dành chỗ bán cho người khác vào. “Thương hiệu” Bạch Đầu Trà ra đời từ đấy.

Càng về sau, cùng với sự du nhập của lưu dân tụ về Sài Gòn – Gia Định, thú uống trà lan rộng ra chốn thị thành, có thêm một loại trà được dân gian quen gọi là “trà Huế” phục vụ giới bình dân. Tiệm trà đơn giản khi chỉ là cái chõng tre, cái om đất nấu trà đang tỏa khói trên bếp lửa, cái lu nước lạnh và vài thứ bánh kẹo lặt vặt, khách sẽ được phục vụ một tô trà gồm phần nước lạnh, chế trà nóng tiếp lên cho tô trà sủi bọt tỏa khói thơm phức, làm một tợp ngưu ẩm sẽ đập tan ngay cơn khát, sung sướng, sảng khoái tức thì.

Khi đời sống thị dân ngày một khấm khá, thì các chủng loại trà, quán trà và cách thức uống trà ở Sài Gòn ngày càng được bổ sung, cải biến, giản đơn cũng có mà cầu kỳ cũng thừa. Từ ly trà đá vỉa hè, đến bữa tiệc trà ở khắp các trà quán bày trí sang trọng, người phục vụ trà khệ nệ với đủ màn trình diễn tuyệt kỹ, đến những người yêu trà lọ mọ trong việc chọn lựa, sưu tầm trà cụ, công phu tuyển chọn đặt mua các giống trà từ trong đến ngoài nước để thỏa mãn thú thưởng trà. Dù rằng, trà chỉ là thức uống giải khát, nhưng cách thức thưởng trà mỗi tầng lớp, mỗi tính cách, lại có thêm những kiểu uống trà cho riêng mình, muôn hình vạn trạng.

Dài dòng về thú uống trà ở đất Sài Gòn xưa – nay, xin mượn câu nói đã trở thành Công án thiền học trong tích truyện Thiền sư Triệu Châu (778 – 879) để tóm gọn lại, ấy là: Nhẩm Trà Khứ (Uống Trà Đi!). Bởi ở cái xứ này, dẫu nóng lạnh, buồn vui, mưa nắng, uống trà sớm tối có vẻ như chẳng lúc nào là không phù hợp… thôi thì: “Uống trà đi!”… Ừ! Uống trà đi!

Nguyễn Đình

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 11/19/2015(UTC)
phamlang
#2121 Posted : Sunday, November 15, 2015 1:14:27 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Sài Gòn chuyện đời của phố: Người Sài Gòn đi và làm du lịch



Khách đi du lịch cách đây hơn 40 năm


Hồi nhỏ, đến nhà đứa bạn con một bác hàng xóm làm nghề thầu khoán, tôi xem được bức ảnh ông chụp bên cạnh tháp Eiffel bên Pháp. Bác kể: “Tôi chụp khi đi du lịch Paris”.

Ngày nay, du lịch là một chuyện bình thường. Nhưng cách nay hơn bốn mươi năm, chuyện đó nghe thật lạ tai với một thằng nhóc. Về kể cho má tôi nghe, bà bảo: “Thời buổi này ai mà đi du lịch cho nổi trừ nhà giàu có như ông thầu. Ba của con có đi du lịch ở Đà Nẵng, nhưng từ chục năm trước rồi, bây giờ đi đâu cũng sợ súng bom!”. Rồi bà chỉ một cái bình nhựa có dây đeo, cho biết cái bình đó dùng đựng nước uống mang theo để ba tôi đeo trên vai khi lên đường. Má tôi kể một bà bác là nhà giáo về hưu có đi được vài nơi, du lịch hẳn hoi với hướng dẫn viên, ra tới Huế, sang Hồng Kông, Nhật Bổn và đó là niềm tự hào cả dòng họ. Nhưng đó là chuyện đầu những năm 1960.

Thú đi du lịch của người Sài Gòn hầu như tôi chỉ biết có vậy. Bạn bè tụ họp trong các chuyến đi chơi, bảo nhau hồi trước 1975 nhà nào ham đi chơi cũng quanh quẩn ra Vũng Tàu, sáng đi chiều về. Sang lắm thì lên Đà Lạt, ra Nha Trang là hết. Sài Gòn thời chiến tranh, dân chúng sống càng lúc càng khó khăn, vùng nào cũng có đánh nhau nên ít ai dám đi đâu.

Có lẽ ngành du lịch thực sự ở miền Nam trước 1975 vẫn còn phôi thai, non trẻ cho dù đã có những cuộc tổ chức đi chơi xa cho dân chúng, có chương trình hẳn hoi. Đọc cuốn Hơn nửa đời hư, đầu thập niên 1960 ông Vương Hồng Sển đón cha từ Sóc Trăng lên Sài Gòn đi thăm đền Angkor và người tổ chức chỉ là một người quen, thuê xe, đưa đón, thuê nhà trọ và ăn một chút tiền dôi ra từ các cá nhân đóng góp. Rải rác có các công ty du lịch hình thành đưa khách đi chơi nhưng danh sách điểm đến thật nghèo nàn: du lịch trong nước chỉ tổ chức đi Đà Lạt, Bảo Lộc, Vũng Tàu, Nha Trang… Ra nước ngoài có Angkor, Nhật Bổn, Hồng Kông…

Trước thời gian đó một chút, năm 1959, có một công ty du lịch hình thành và có thể coi là công ty đầu tiên chuyên làm du lịch của người Việt. Chủ đầu tư là ông Nguyễn Văn Liêm, chủ Hãng phim Hoàn Kiếm chuyên nhập phim Nhật và cũng là chủ nhân hai điểm lui tới nổi tiếng của giới văn nghệ sĩ là quán La Pagode, thường gọi là quán Cái Chùa và nhà hàng Tự Do ở trung tâm Sài Gòn. Công ty lấy tên là Saigon Service Center (S.S.C). Lúc đó đô thành Sài Gòn sau khi ký Hiệp định Geneva vài năm đang còn ổn định, chiến tranh chưa lan rộng, ông Nguyễn Văn Liêm có tầm nhìn xa, nghĩ là tình hình sẽ thay đổi, người Mỹ và người nước ngoài vào miền Nam nhiều hơn để làm ăn nên muốn đi đầu trong việc cung ứng các dịch vụ du lịch cho người nước ngoài và cả người Việt Nam khá giả.

Ngay sau khi thành lập, ban điều hành vạch ra một kế hoạch phát triển khá hấp dẫn. Trước hết, công ty tổ chức các cuộc du ngoạn mỗi ngày đi vòng quanh thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, thăm các thắng cảnh, di tích, viện bảo tàng dành cho khách đến Sài Gòn du lịch. Phương tiện là đội xe mười chiếc sơn trắng của Ý hiệu TRI-LAMBRETTA do Hãng Lambretta tại Sài Gòn nhập cảng về. Đây là loại xe chạy máy hai thì, ba bánh, mái vải, có lối đi lên ở giữa, thông thoáng để có thể quan sát cảnh vật. Hình dáng xe này khá giống loại xe điện dùng để chạy trong các công viên, nhưng chỉ có ba bánh. Bên hông xe có kẻ dòng chữ “Sai Gon sight seeing”. Giá xe mỗi chiếc lúc đó chỉ khoảng 35.000 – 45.000 đồng, dễ đầu tư vì vốn nhẹ.

Đã có dịch vụ đưa khách đi chơi quanh thành phố rồi, ban giám đốc tính chuyện xa hơn với các kế hoạch lớn hơn. Trước hết, công ty liên kết với dịch vụ Club Nautique tại khu Thanh Đa. Đây là loại hình giải trí câu lạc bộ dưới nước có từ thời Pháp thuộc, thường xuyên tổ chức chơi trượt nước, dạo chơi trên sông bằng canoe. Câu lạc bộ này còn có ba nhà hàng phục vụ khách. Công ty đưa khách đến, thuê canoe đi trên sông Sài Gòn ngắm cảnh, lướt sóng ra tới Nhà Bè ăn cá, đến Lái Thiêu ăn trái cây, xem làm đồ gốm…

Do mới mở nên khách mua dịch vụ lai rai, không ồ ạt. Lúc đó, công ty còn nghĩ đến một kế hoạch táo bạo hơn. Cố vấn phụ trách giao tế là ông Đoàn Châu Mậu gửi một lá thư bằng tiếng Anh cho ông Hugh Hefner, chủ tạp chí Playboy chuyên dành cho đàn ông nổi tiếng của Mỹ. Thư đề nghị công ty ông Hefner liên doanh với S.S.C vào dự án xây dựng một Sandy club – khu du lịch có bãi tắm riêng dành cho người nước ngoài tại đảo Thổ Chu, Tây Nam nước Việt. Một thời gian sau, có một người Mỹ tên là Clinton, đại diện ông Hugh Hefner tìm đến Văn phòng Chính phủ VNCH tìm hiểu điều kiện đầu tư. Tin đến tai Tổng thống Ngô Đình Diệm, vốn là một người Công giáo gốc phong kiến. Ông nổi trận lôi đình, đòi bắt bỏ tù ai dám thảo thư mời chủ báo Playboy mở loại công ty du lịch như vậy. Ông Kha Thùy Châu nhớ lại: may là bức thư chỉ đứng tên công ty, không có chữ ký cụ thể của ai, nên thoát nạn!

Đến năm 1970, tuy còn khó khăn vì chiến tranh, ngành du lịch vẫn được nhìn nhận là có mãi lực phát triển dần. Theo ông Lê Thái Khương trong cuốn Du lịch, kỹ nghệ đệ tam đẳng tại Việt Nam, năm 1966 số chi tiêu của người nước ngoài ở Việt Nam là 29 tỉ đồng thời đó. Đến 1967 là 47 tỉ và ước tính năm 1968 là 50 tỉ đồng.

Phạm Công Luận
(Sài Gòn- Chuyện đời của phố)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 11/19/2015(UTC)
Hạ Vi
#2122 Posted : Thursday, November 19, 2015 9:33:01 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,330
Points: 16,876
Location: CỏThơm

Thanks: 4124 times
Was thanked: 9960 time(s) in 2467 post(s)





Sài Gòn Không Có Mùa Thu


Sài Gòn mùa thu sao chưa vàng lá
Để mây bay giăng kín áo một người
Ở nơi đây thu chẳng đến bao giờ
Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa nắng

Em đừng trách Sài Gòn thường thiếu vắng
Hương cà phê quán nhỏ lúc mùa sang
Góc phố chiều hoa cúc nở dịu dàng
Thu giận hờn ai mà thu đi biền biệt

Em đừng trách khi anh buồn da diết
Thèm môi hôn thơm phức chiếc que kem
Cái mát lạnh chạy xuống thấu tận tim
Thời mới lớn- ve sầu -chùm phượng đỏ

Thương con đường chật mùi thơm hoa cỏ
Cánh chuồn kim-con bướm-tuổi học trò
Thương vô cùng.Ôi ! Nhịp guốc nhẹ khua
Hồn mơ mộng anh hóa thành sương khói

Em hẳn biết Sài Gòn mình khi đó
Luôn tự hào là Hòn Ngọc Viễn Đông
Đẹp chao ôi ! Dù thiếu lá thu vàng
Lẫn chút xíu gió heo may lành lạnh

Em đừng trách Sài Gòn mưa lâu tạnh
Bong bóng bên hè vỡ buốt lòng anh
Thiếu nắng mai hồng thiếu khoảng trời xanh
Mang hy vọng tuổi mười ba xa ngái

Em còn nhớ thuở chúng mình vụng dại
Mơ cánh buồm hạnh phúc cuối chân mây
Nhưng hỡi ơi ! Sau mấy chục năm dài
Cát bụi thời gian xóa nhòa ký ức

Em ạ ! Lỡ mai này anh nhắm mắt
Cứ coi như thu rụng lá khô vàng
Đau lòng chi em nhé ! Chuyện ly tan
Hãy chôn chặt dưới nấm mồ quá khứ



Linh Phương






CỏThơm
#2123 Posted : Thursday, November 26, 2015 5:38:38 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 162
Points: 516
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 127 times
Was thanked: 93 time(s) in 68 post(s)








Áo dài quê hương
Anh Bằng
click >> Vũ Khanh


Em qua xóm đỏ, vàng từng góc thu
Gót giày nho nhỏ dạ sầu lủ lủ
Vỏ nâu cổ thụ, ngồi lâu ngù ngủ
Áo tà trắng bay, em còn sớm mai

Vào đây tiểu thư, ngồi trong lớp học
Đấp đôi tay ngà trên bâu áo bạch
Mang ngoài nắng vào, tà dài mấy nhịp
Qua cầu gió bay, qua cầu gió bay (2)







Em mang guốc vàng, thoáng nhìn trắng xanh
Ngang qua phía anh ơ ơ ơi tình
Cuối tuần đi phố em mang giày hồng
Cọng rau trắng nỏn ơ ơ ơi xinh

Chân em ngón đẹp sạch như sách anh
Nhưng mà ngón tay ơ ơ ơi tình
Cội cây nuộn nà tưởng rằng hoa Huệ
Nhưng mà tiểu thư ơ ơi ơi xinh







Bằng ngủ như hoa bằng da như nước
Cuộc đời phía trước trơ từng nhánh khô
Nhưng mà mùa hạ đồng loại nô đùa
Phía ngoài biển xa, phía ngoài bãi xa (2)

Em mang áo dài đi hài xám tro
Anh nhìn ngẩn ngơ ơ ơ ơi tình
Anh nhìn ngón chân như là hoa hậu
Như là quê hương ơ ơ ơi thương !










Duy An
#2124 Posted : Friday, December 4, 2015 9:36:58 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)



Một thoáng hương xưa


Phạm Khắc Trung

Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng ngoại ô Saigon. Xóm tôi ở gần chợ, gần trường học, và gần cơ sở hành chánh xã. Nhưng chỉ cần bước sâu vào trong độ nửa cây số, xóm trong là khu vườn tược ruộng nương. Thủa đó phương tiện truyền thông rất hiếm hoi, phương tiện lưu thông còn hạn hẹp, nên giữa thành thị và ven đô, dẫu chỉ cách nhau vài chục cây số, nhưng lối suy tư và cuộc sống của họ cách biệt thật xa.

Tôi chăm học từ nhỏ, nguyên bậc tiểu học, không có tháng nào tôi bị lọt khỏi hạng ba, đứng hạng nhì tôi đã thấy buồn rồi, vậy mà thi Đệ Thất tôi rớt cái đụp! Ba tôi chưng hửng không chuẩn bị cho tình huống bất ngờ, lúc đầu ông muốn tôi học lại lớp Nhất để thi Đệ Thất năm sau, nên không ghi danh cho tôi học trường tư (khai giảng trước trường công 2 tháng), sau nghe thiên hạ bàn tán, học trễ đến tuổi phải đi quân dịch, ông liền xin cho tôi vô học trường bán công do quân đội tổ chức, lúc đó tôi chỉ ước ao, lớn lên được lên Saigon học… Đến năm học lớp Đệ Ngũ, tôi nằng nặc đòi cha mẹ cho lên học trên Saigon, và năm sau, tôi đã dò dẫm ghi tên vào trường Hưng Đạo học buổi chiều lớp Đệ Tứ A14.

Trải qua vài tuần chưa rành đường đi học, tôi vẫn bám đuôi xe đò Hóc Môn – Saigon, thẳng đường Lê Văn Duyệt, lên tận bến xe ở Ngã Sáu Saigon, quẹo bùng binh vào đường Võ Tánh, đến rạp Khải Hoàn lại theo cái bùng binh vô đường Cống Quỳnh, khu đệ nhất cấp nằm đối diện với rạp hát Thăng Long. Ra về tôi cũng theo tuyến đường đó, nghĩa là tôi đi đánh vòng, vừa xa vừa tốn kém cả thì giờ lẫn tiền bạc. Quê một cục!

Ngu ngơ đến thế mà lúc tan học, tôi vừa dắt xe ra đến ngoài cổng trường, một thiếu niên hùng hổ nhào tới đấm vào mặt tôi. Rất may là anh ta đến từ phía đối diện với chiếc xe tôi đang dắt, và do phản ứng tự nhiên, tôi xô chiếc xe ngả về phía anh ta, khiến anh ta phải lách qua tránh, thành thử cú đấm chỉ sớt ngang mặt. Rồi nhờ thiên hạ la toáng lên, anh ta nghĩ không chắc đánh được tôi nên hồi đầu lủi mất.

Hôm sau khớp tôi định bỏ học, nghĩ tự ái đã cãi lời cha mẹ, nhất quyết đòi lên học trên Saigon cho được, giờ chưa hết tháng đã bỏ học thì quá quê! Tôi gồng mình lủi đại vô lớp ngồi, nhưng đánh lô tô trong bụng, mong sự việc đừng tái diễn. Tôi ngồi ngay cửa sau lớp ở tầng trệt, mắt đăm đăm ngó chừng học sinh ngoài cổng bước vào, chợt nhận ra anh chàng hôm qua đi chung với bốn năm người khác, đang cười nói ồn ào chỉ trỏ lung tung, rồi nhắm hướng tôi ngồi xồng xộc đi tới. Đã tới nước liều, tôi rút ống khóa xe thủ sẵn trong cặp ra đứng lên bàn thủ thế. Thấy tôi hung dữ, nhóm anh lùi lại, rồi anh xua tay cười bảo tôi rằng, “Tôi tới xin lỗi bạn, hôm qua đánh lầm người!” Tôi chửi thầm, “Bố khỉ!”

Năm đó tôi may mắn gặp người thày dạy Toán thật hết lòng, Giáo Sư Nguyễn Tá là một ân sư lớn trong đời tôi. Số là thế này, thày Tá thắc mắc tại sao những điều thày giảng thì tôi hiểu ngay, nhớ lẹ, trong khi những nguyên tắc cơ bản ở lớp dưới lại không biết gì? Tôi trình bầy cho thày biết, rằng trường tôi từng học ở ngoại ô thiếu thốn trăm bề, trường không đủ tiền nên thường mướn sinh viên địa phương dạy giờ cho đỡ tốn, phần lương ít nên khi kiếm được việc khác người ta bỏ dạy, phần bị động viên nên lớp không có giáo sư, mỗi năm đổi giáo sư bốn năm lần, thời gian chờ có thày khác nhiều hơn giờ học, cho nên tôi chỉ được học khoảng nửa chương trình ấn định mỗi năm, năm Đệ Lục còn nghỉ học cả nửa năm vì lý do an ninh do biến cố Tết Mậu Thân để lại. Thày bảo tôi mỗi lần có giờ thày (2 giờ chót), tôi ở lại khoảng một-hai tiếng thày kèm lấy căn bản lại. Mấy tuần sau thày khoe với những giáo sư khác, rằng tôi là học trò ưng ý của thày! Môn Toán Lý Hóa bấy giờ tôi đã có hạng.

Lên Đệ Tam tôi đã thành người khác, không ngu ngơ nhút nhát như thủa mới lên Saigon. Tôi đã biết kết bạn, rủ rê nhau làm công tác xã hội. Buổi đầu ra quân, chúng tôi phụ Sở Vệ Sinh dọn dẹp đám cháy ở khu Bùi Viện trước trường. Mỗi trưa tan học xong, chúng tôi ăn vội ổ bánh mì dằn bụng, rồi bắt tay dọn dẹp cho tới quá chiều, ròng rã suốt hai tuần lễ mới xong.

Hôm cuối cùng, tôi đang loay hoay quay mặt vào trong quét gôm rác vụn ở một góc kẹt, tai tôi nghe tiếng xí xa xí xô của đám người lạ, tôi chột dạ với cảm giác như đang bị bao vây, cầm chắc cán chổi trên tay, tôi quơ chân quay 180 độ đâu lưng vào góc thủ, ánh mắt tôi quét ngang, chạm ngay ánh mắt người đã đánh lầm tôi khi trước. Nhận ra tôi anh ta hơi sửng sốt, khựng mất vài giây anh mới lúng túng hỏi bâng quơ, “Bộ anh làm cho Sở Vệ Sinh ư?” Chưa biết mục đích của đám thiếu niên nên tôi đáp nhát gừng, “Tôi chỉ làm thiện nguyện!” Anh tỏ vẻ bẽ bàng, ngập ngừng thốt, “Chúng tôi là dân khu vực này lại không dọn giúp, để anh ở nơi khác đến dọn dẹp giùm…, coi như chúng tôi thiếu anh một món nợ!” Rồi anh dơ tay giới thiệu tên mình cùng những người bạn. Tôi vui vẻ bắt tay từng người, nhưng chỉ nhớ được tên anh là Lụa, và hai người khác, một tên Đạt, một tên Sơn.

Sự đời kể đến ngộ! Cuối năm học tôi gặp chuyện không hay nên ghi danh qua trường Thăng Long học lớp Đệ Nhị, vô tình lại gặp mặt đủ Lụa, Sơn, Đạt. Tại đây tôi cũng được Đặng Kim Lân, một người bạn của bạn tôi, giới thiệu Trần Bảo Dân vào nhóm. Dân mới học xong lớp Đệ Tứ ở trường Pétrus Ký, vì trễ tuổi nên Dân mua chứng chỉ Đệ Tam và ghi danh học nhẩy lớp Đệ Nhị ở trường Thăng Long.

Do duyên cớ nào thì tôi không biết, Dân và Lụa có chuyện xích mích, hai bên hẹn thanh toán nhau lúc 2 giờ tại công viên trước trường. Lụa kéo đồng đảng ở khu Bùi Viện sang (một trong những băng đảng du đãng nổi tiếng ở Saigon), Dân quy tụ bạn bè cũ mới ở hai trường Thăng Long và Pétrus Ký đến. Lúc đó tôi chưa thân với Dân, Dân biết tôi quen Lụa nên dặn bạn bè đừng cho tôi biết, cũng nhờ miệng Tín bép xép mà tôi đoán được nguồn tin.

Hai bên đang dàn quân thì tôi đến, hầu hết người hai bên đều biết tôi nên rất ngỡ ngàng. Tôi chen vào giữa Dân và Lụa nói, “Hai đứa mày đều là bạn của tao, tao không muốn thấy tụi bay đánh nhau bể đầu sứt trán”. Thấy hai bên đều căng, quyết giải quyết bất bình bằng vũ lực, tôi nổi khùng đề nghị, “Phải đánh nhau thì tao đánh tay đôi với thằng Lụa trước rồi sẽ đánh với thằng Dân sau. Được thua không cần biết, miễn đánh nhau xong tụi bay giảng hòa nhau!” Lụa khinh thường bảo, “Mày không đánh lại tao đâu!” Ai nhìn vào chẳng biết, Lụa to, đen, chắc và khỏe như con gấu, còn tôi chỉ được tính liều, “Đánh tay đôi tao không ngán thằng nào, mày đấm tao ba đấm, chẳng lẽ tao không quơ trúng lại mày một thoi?” Lụa đâu lạ gì tính nết tôi nên cười bảo, “Nhưng tao còn thiếu mày một món nợ, mày có đánh tao cũng không đánh trả”. Được thể, tôi quay qua Dân tố, “Vậy tới phiên tao với mày?” Dân lắc đầu, “Tao với mày thù oán gì mà đánh?” Tôi thừa thắng tấn công, “Thế thì tao yêu cầu hai đứa mày hòa!” Lụa nhìn tôi một hồi rồi chậm rãi đưa tay ra cho Dân bắt, ván bài phé này tôi thắng ngon ơ! Từ đấy hai đứa kết thân và Dân nể tôi lắm, một thời gian sau Dân rủ tôi kết nghĩa vườn đào.

Trên giấy tờ tôi sinh đầu Xuân 55, Dân sinh giữa năm 54, nhưng Dân viện dẫn mọi lý do tôn tôi làm anh cả. Tôi đòi căn cứ trên tuổi tác nên Dân thú thật, “Trên nguyên tắc ba tao tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève. Khi đẻ tao ra má tao khai cha vô danh, còn tăng tao thêm một tuổi để tránh người đời nghi kỵ, chứ thật sự tao đẻ năm 55”. Hễ Dân kể thì tôi nghe, chứ chơi với nhau bao năm, tôi không hề thắc mắc tình cảnh gia đình nhà Dân.

Một lần tôi theo Dân về Bến Lức thăm má Dân. Khuya đang ngủ ở gian trong, tai nghe nhiều tiếng động lạ, rồi có người lạ vô nhà. Tôi độ rằng mấy ông nằm vùng tới viếng, nghĩ đời mình “đứt chến” từ đây, nên hoang mang ngồi nhổm dậy. Dân nắm tay tôi ghì lại, miệng thì thào, “Nằm yên đi, không sao đâu!” Sáng hôm sau ngủ dậy, cả Dân lẫn má Dân đều không nói gì đến chuyện hồi khuya, nên tôi cũng làm thinh không nhắc tới.

Hè 72 có lệnh đôn quân, Dân bị động viên chờ đi Thủ Đức. Dân nói với tôi, “Tao không thể cầm súng bắn lại cha mình. Tao sẽ lên Thánh Thất Cao Đài tu làm Lục Sự!” Từ đó, tháng tháng tôi chở Hạ Phượng, bạn gái của Dân xuống Tây Ninh thăm Dân. Phượng yêu Dân bằng tấm chân tình, thấy tình cảnh hai người mà lòng tôi se thắt.

Một hôm gần cuối năm 74, lúc trời chập choạng tối, tôi đi học về một đỗi thì Dân ghé vào nhà, Dân ngủ lại chơi với tôi qua đêm để hôm sau về Bến Lức chờ đón vô bưng với cha. Tôi mượn bà chị 5 ngàn dúi vào tay Dân, rồi ngước nhìn đôi dòng lệ lăn tăn trên má, chảy vào kẽ miệng Dân đang run run bặm chặt. Hai đứa nhìn nhau không nói lời từ biệt, Dân bước lên xe đò, tôi quay về bãi giữ xe, hai đứa cùng rời xa cảng miền Tây.

Mãi tới cuối tháng 5/75 Dân mới xuất hiện. Hôm ấy tôi ở trên trường, Dân ghé nhà biếu mẹ tôi hai ký đường, nửa ký bột ngọt, và một cây thuốc lá Tam Đảo gửi tặng tôi. Rồi hơn một tháng sau Dân mới ghé gặp tôi, tôi chở Dân đi thăm những người bạn cũ, ôn lại kỷ niệm xưa. Có một điều đặc biệt, không biết có phải do linh tính hay không, mà tuyệt đối chúng tôi không đả động đến lập trường, vấn đề chính trị… Dân chỉ khoe đã đổi họ Lê và nhắn, má Dân mời tôi xuống Long An chơi thăm bà. Tin tôi nghe từ người bạn khác, rằng ba Dân mang quân hàm Đại Tá, má Dân làm Chủ Tịch Sở Thương Nghiệp Long An. Một lần gặp rồi thôi Dân bặt tăm không tin tức, nghe đâu chuyện tình giữa Dân và Phượng cũng gẫy gánh dọc đường. Dẫu biết rằng Phượng sẽ thành công, bởi Phượng khéo léo và có lòng, nhưng tới nay tôi vẫn thao thức trong lòng, canh cánh mong biết tin từ Phượng.

Cho tới Tết 77, tôi nhận được thiệp chúc Tết của Dân từ Hà Nội gửi về, Dân khoe đang theo học Đại Học Công An, khiến tôi hoang mang trong dạ. Lúc này tôi đã đi làm, đang phụ trách phòng Tài Vụ cho nhà máy xay Bình Tây (hãng rượu Bình Tây cũ), nên có quen một số cán bộ Trung cấp từ ngoài Bắc vào. Tôi vờ khoe tấm thiệp của Dân với những người này, mong ý kiến dư luận để rộng đường suy xét. Anh Chuyên, kỹ sư cơ khí rất quý tôi, đọc xong tấm thiệp anh cười khề khà bảo, “Lý lịch phải sạch lắm mới được vào Đại Học Công An. Anh nói chú đừng buồn, thân nhân anh, ai đi công an anh lánh hết!”

Năm 1991, đứa em gái kế tôi vượt biên thoát kể, “Những năm đầu 80 em khổ như trâu, mướn phòng ở lậu trên đường Trương Minh Ký. Ngày ngày em ôm thùng thuốc lá bán lẻ lê la kiếm sống qua ngày, chốc chốc lại bị công an đuổi bắt. Mấy lần em gặp anh Dân, lúc đó đang đeo lon Thiếu Úy hay Trung Úy công an trong khu vực…” Tôi hỏi, “Thế nó có nhận ra em không?” Em tôi nhanh nhẩu đáp, “Nhận ra chứ! Thấy em anh ấy hơi sững sờ. Không biết anh ấy sợ em nhận bà con, hay cố tình ngó lơ cho em chạy thoát?” Tôi lại hỏi, “Từ lúc anh đi Dân có ghé nhà mình?” Em trả lời, “Em cũng không ở nhà nên không biết, nhưng cũng không nghe nhà nói, chỉ nghe nói anh Thành có xuống thăm nhà mấy lần!” Rồi em tôi thổn thức, “Anh Thành tử tế lắm anh ơi! Một hôm ảnh chạy xe ngang, lướt thấy em ngồi bán thuốc bên lề đường trông quen, ảnh sinh nghi quảy xe lại hỏi, ‘Phải Báu không?’ Em nói ‘Dạ! Chào anh Thành!’ Mắt anh ấy mọng đỏ lên nói, ‘Không ngờ em khổ sở thế này!’ Rồi ảnh ghi địa chỉ chị Oanh, nói ảnh có việc gấp phải đi, bảo em tìm đến địa chỉ chị Oanh sẽ giúp đỡ. Em không tới nhờ nhưng vẫn trọng ơn ảnh đã có lòng tử tế!” Rồi em hỏi tôi, “Anh có biết anh Thành với chị Oanh bây giờ ở đâu không?”

Tôi bồi hồi nhớ lại kỷ niệm xưa. Thành và tôi chơi thân với nhau từ lúc học Đệ Tam, hai đứa gắn bó chia sẻ mọi điều, từ chuyện học hành cho chí vui chơi, văn chương, công tác xã hội… Tôi từng xem gia đình Thành như mái ấm thứ hai, tưởng quá hiểu nhau mới nói thẳng thành ra nông nỗi. Tôi đem chuyện “Nồi cơm Nhan Hồi” kể cho em nghe rồi bảo, “Thành là người bạn tốt! Lúc đến Thái Lan Thành có liên lạc với anh. Thời gian đó anh đang khốn cùng. Đọc thư Thành, anh động lòng vì một chuyện nhỏ anh từng giận Thành khi trước, anh viết thư nói thẳng những điều anh nghĩ. Thành hiểu lầm giận nên không liên lạc với anh từ khi đến Úc định cư”. Tôi thở dài nói tiếp, “Đến Khổng Tử nhìn chuyện trước mắt còn hiểu lầm, thì thư từ qua lại làm sao tránh được?” Báu trầm ngâm hỏi, “Sao anh không đính chính?” Tôi cười, “Chuyện ‘Nồi cơm Nhan Hồi’ mới kể, mày vẫn chưa rút tỉa được bài học gì sao còn hỏi ấm ớ hội tề?” Báu ngơ ngác trố mắt hỏi, “Rút tỉa điều gì cơ?” Tôi buông gọn, “Đừng ăn cơm hớt!” Báu đập vai tôi cười hắc hắc, nước mắt dàn dụa như đang khóc, cô biết tôi muốn kết thúc câu chuyện.

Duy An
#2125 Posted : Thursday, December 17, 2015 1:58:19 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Mơ về những gánh hàng rong...


Nguyễn Sài Gòn/Người Việt


SÀI GÒN (NV) - “Trong muôn nghìn nỗi nhớ về quê nhà thì có một kỷ niệm mà em không thể nguôi ngoai được là những gánh hàng rong của một thời đã mất. Người ta có thể lãng quên tất cả cho đời sống tất bật cơm áo tiền bạc nơi xứ người nhưng với những gánh hàng rong xốn xang trên những vỉa hè trước cổng trường ngày xưa thì không bao giờ phai nhạt...”




Khu vực nào của Sài Gòn hiện nay cũng hiện diện những gánh hàng rong. (Hình: Nguyễn Sài Gòn/Người Việt)

Ðó là những lời nhắn trên email của cô bạn thân đã rời xa quê hương trên 30 năm với những dặn dò cho tôi phải ghi nhớ rằng ngày mà cô ấy trở về Sài Gòn thì việc đầu tiên mà tôi phải làm ngay là “dẫn cô ấy đi ăn hàng rong trên phố chợ vì nói thiệt cô ấy nhớ không khí đó quá chừng.”

Không biết bao giờ thì cô ấy sẽ về nhưng chắc một việc là tôi phải cần tìm biết ngay trong thành phố này có còn những gánh hàng rong hay không và nếu còn thì cái hương vị của ngày xưa đó bây giờ lang thang ở nơi đâu - và quan trong hơn ở khu vực nào của Sài Gòn hiện nay vẫn đang hiện diện những gánh hàng rong đó...

Như một quán tính tự nhiên - nơi mà tôi cần phải tìm tới để thám thính ngay là khu vực nhà thờ Ðức Bà trước Bưu Ðiện thành phố và Dinh Ðộc Lập xưa - nơi có công viên cây xanh lừng danh và đương nhiên ở đây vẫn còn nguyên xi những gánh hàng rong đang đi lững thững hoặc đang bày biện quang gánh với đủ thứ hồn trái cây của ngày xưa đang tìm về nơi chốn cũ.

Những gánh hàng rong này có một hình ảnh đặc trưng không bao giờ thay đổi đó là đòn gánh kĩu kịt với thúng mủng nón lá cùng với những thức ăn không “đụng hàng” như cóc, ổi, xoài, sơri, chuối dừa, bánh tráng trộn, bánh kẹo đủ thứ như một cửa hàng tạp hóa bé xíu - với những cách chế biến đơn sơ từ nguyên chất không pha tạp hóa chất vì nó chỉ có duy nhất một thứ gia vị nước chấm đó là nước mắm và muối ớt...




Gánh hàng rong mộc mạc mà thoạt nhìn tưởng như vặt vãnh đó nhưng đổi lại đã nuôi nấng bao nhiêu con người. (Hình: Nguyễn Sài Gòn/Người Việt)


Những món ăn mà cô bạn đã “order” và tôi là người phải đáp ứng theo đơn đặt hàng đó, một nhiệm vụ khả thi mà tôi có thể làm được ở ngay trên đất nước này ở bất cứ nơi đâu - không riêng gì ở Sài Gòn - vì thiệt tình mà nói kinh tế ở xứ sở này có đi lên với tỉ lệ “nợ công” cao như thế nào thì những gánh hàng rong vẫn đi xuống như thế đó.

Nghĩa là những người nông dân lam lũ nghèo khó với những gánh hàng rong nhập cư nơi phố phường cao sang kia vẫn là nguồn cung cấp kỷ niệm người mang vác nợ nần trong tương lai cho những thị dân đang bị bê tông hóa tâm hồn từng ngày trên những nỗi buồn ăn uống.

Một cô gái với áo bà ba nón lá nhàn tản như quên đi âu lo phiền muộn, không biết cô ấy bán được bao nhiêu nhưng khi tôi hỏi về cuộc sống và câu trả lời chỉ là một nụ cười buồn trong nắng “Ngày nào nắng ráo thì còn bán được nhưng mưa xuống thì buồn hiu vì không ai ăn, bán mấy thứ ăn chơi cho vui này có ngày vui ngày buồn anh ơi...”

Chỉ với những gánh hàng rong mộc mạc mà thoạt nhìn tưởng như vặt vãnh đó nhưng đổi lại đã nuôi nấng bao nhiêu con người đang mưu sinh.

Người đàn bà nhìn như khổ hạnh kia nói như tâm sự rằng với gánh hàng rong chị ấy đã nuôi sống cả gia đình ở ngoài quê riêng phần chị thì ngày chỉ có gốc cây công viên vỉa hè và đêm về chỉ thuê một chiếc chiếu ngủ quăng quật đâu đó là cũng đủ qua ngày.

Với những kẻ tha hương như cô bạn tôi thì cũng có không ít những người cũng đã từng được những đôi vai trĩu nặng lo âu này nuôi sống lớn lên. Vì thế, rất nhiều người từng trải qua thời tuổi trẻ không bao giờ có thể lãng quên những gánh hàng rong, kỷ niệm một thời của những tháng ngày hàn vi đau khổ trên đất nước này để mơ mộng về một phương trời xa nào đó mà mình đang thụ hưởng...

phamlang
#2126 Posted : Friday, December 25, 2015 8:00:24 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Sài Gòn, những mùa Giáng Sinh xưa

Từ Uyên




Giáng Sinh thời thanh bình

Không biết khởi đi từ năm nào nhưng chắc chắn là vào thời đệ I Cộng Hòa, mùa Giáng Sinh đến với người dân Sài Gòn đã trở nên tưng bừng như một lễ hội lớn.



Noel Sài Gòn 1966. (Hình: skyscrapercity.com)


Khi dọc vỉa hè con đường Lê Lợi (lúc ấy nhiều người còn gọi là Bonard) những Thiệp Chúc Mừng Giáng Sinh và Năm Mới Dương Lịch được bày bán tràn lan trên những mảnh ni lông rộng bằng cái chiếu, thì khách bộ hành ai nấy đều thấy len lén một niềm vui nó cứ lớn lên dần, cho dù là “người ngoại đạo.” Giáng Sinh lại đến rồi! Một mùa hội vui cho tuổi trẻ!

Người ta nghĩ đến những “Bal Famille” của nữ Trung Học Marie Curie, của Ðại Học Dược Khoa và của hàng chục nơi con em của những gia đình cao sang quyền quí tổ chức. Những lời hẹn hò quấn quít của tuổi trẻ. Tuổi trẻ khi ấy còn nặng tính e ấp của nề nếp sống “phong gấm rủ là” chưa có được tự do thoải mái như bây giờ. Nhưng dịp Noel thì các gia đình lại tương đối buông thả cho con em được hưởng những thú vui của tuổi trẻ nhân ngày lễ tôn giáo nhưng đã trở thành ngày hội vui của nhân loại. Con gái có thể được phép gia đình cho đi chơi đến khuya. Con trai được quyền bạo dạn mời các bạn gái cùng lớp, cùng trường mà ngày thường chỉ dám nhìn trộm, không dám bắt chuyện.

Vào thời gian ấy, những năm cuối thập niên 50 có thể được coi như thời thanh bình, chiến tranh chưa ló mặt. Chính quyền đệ I Cộng Hòa đã thực hiện được nhiều cải cách cho cuộc sống của người dân sau gần 10 chiến tranh Việt-Pháp. Giáo dục được phát triển, kinh tế kể như vững vàng, chính trị tương đối ổn định cho dù đâu đó có manh nha những chống đối về chuyện “Gia Ðình Trị.” Nhưng tuổi trẻ không cần biết tới mà chỉ muốn làm quen với cuộc sống buông thả đang du nhập về từ Tây phương qua các du học sinh từ Paris về. Trên cửa miệng của giới trẻ nhất là nam giới đã thấy xuất hiện những danh từ “Lolita,” một nhân vật nữ có cuộc sống tình cảm tự do thoải mái trong một cuốn tiểu thuyết bên trời Âu đã trở thành nếp sống mới của tuổi trẻ. Cùng với phong trào “Hiện Sinh” với Jean Paul Sartre, Albert Calmus... do các nhà văn nhà thơ trong tạp chí Sáng Tạo dẫn dắt phổ biến. Tạp chí Sáng Tạo khi ấy là một tờ báo được tuổi trẻ coi như hình thức của trí thức, hiểu biết.

Ðó có thể coi như những yếu tố khiến cho tuổi trẻ trong giới sinh viên học sinh đệ II cấp hình thành nên cái không khí Giáng Sinh của Sài Gòn vào thời đệ I cộng Hòa, thời thanh bình.


Giáng Sinh của những mùa ly loạn


Tháng 11 năm 1963, chế độ đệ I Cộng Hòa bị lật đổ, cuối năm đó Giáng Sinh đã đến trong niềm hy vọng vào một tương lai tự do cho đất nước và dân tộc. Tuổi trẻ như bừng phát niềm vui sau những tháng ngày cùng nhau xuống đường tranh đấu. Ðêm Giáng Sinh, 24 tháng 12 năm 1963, tuổi trẻ đã không hẹn mà cùng nhau “xuống đường” hân hoan đón mừng một Mùa Giáng Sinh trong thể chế mới, tin rằng đã tự do hơn, dân chủ hơn. Nhưng sau Giáng Sinh cũng là lúc bóng đen chiến tranh bắt đầu kéo đến bầu trời Tự Do của miền Nam với những trận chiến lớn mà cộng sản thừa cơ hội hỗn loạn chính trị của miền Nam đã gia tăng hoạt động. Những đợt động viên từng phần rồi bán phần và đến năm 1968 thì toàn phần Tổng Ðộng Viên. Tuổi trẻ nam giới không mấy người thoát khỏi việc phải vào quân ngũ. Tuổi trẻ nữ giới không mấy người tránh khỏi cảnh “anh tiền tuyến, em hậu phương” vào những mùa Giáng Sinh trải rộng khắp thôn quê thành thị. Ðể, từ đó một dòng nhạc giá trị được phát sinh thường được gọi là “nhạc Giáng Sinh” mô tả nỗi buồn chiến tranh, những chia ly đẫm lệ, những nhớ thương da diết về những mùa Noel cũ, chúng ta cùng đi “xem lễ” nửa đêm, cùng bên nhau quì xin trong giáo đường, hẹn hò một mùa Giáng Sinh hạnh phúc bên nhau mãi mãi. Dòng nhạc Giáng Sinh cứ nở ra mãi với những tiết điệu, âm thanh, lời nhạc của hầu hết các nhạc sĩ và được các ca sĩ thời thượng Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Carol Kim, Thanh Lan... gửi đến da diết trong suốt những mùa Giáng Sinh hàng năm. Cho đến tận bây giờ, 37 năm sau, từ trong nước ra đến hải ngoại, nhạc Giáng Sinh của thời chinh chiến, phân ly vẫn là những dòng nhạc óng ả được mọi người yêu thích. Nó đã vượt thời gian.

Giáng Sinh trong thời Xã Hội Chủ Nghĩa

30 tháng 4 năm 1975, một cuộc đổi đời tàn khốc cho dân Sài Gòn khi cộng sản áp đặt được chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa lên toàn cõi Việt Nam. Giáng Sinh năm 1975 như một đêm thảm sầu cho những người Sài Gòn còn ở lại. Tuổi trẻ không dám tụ tập vì sợ bị công an khu vực bắt vì tội hội họp bất hợp pháp, chỉ còn liều đạp xe dong dong khắp phố phường để khóc thầm nhớ da diết đến những Giáng Sinh xưa.

Gần 10 Giáng Sinh âm thầm trôi qua với người dân Sài Gòn thì bỗng năm 1985, cộng sản sợ hãi trước sự sụp đổ của hệ thống cộng sản từ các nước Ðông Âu đến cái nôi Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô nên đành phải hé bức màn tre, thập thò hướng ra thế giới. Giáng Sinh năm đó tuổi trẻ Sài Gòn như một cái lò xo bị nén lâu ngày đã bùng ra như một sức bật khủng khiếp. Phố phường Sài Gòn đêm Giáng Sinh năm ấy như những cơn lũ tuổi trẻ. Họ rong chơi khắp phố phường, quanh các khu vực có giáo đường nhất là khu Vương Cung Thánh Ðường và khu giáo đường Tân Ðịnh. Họ không đi “xem lễ” nửa đêm, cầu Chúa thấu cho lòng con là người ngoại đạo trót yêu phải người có đạo mà trong lòng họ cũng thầm cầu Chúa, Chúa ở nơi nào hãy nhìn đến đất nước VN sớm được trở lại cảnh thanh bình để dưới thế Việt Nam được bình yên mãi mãi.

Liên tiếp trong nhiều năm sau, khí thế tuổi trẻ trong mùa Giáng Sinh đã làm cho nhà nước cộng sản VN phải qui phục đành nương theo đó mà “hủ hóa” những niềm vui thanh khiết của tuổi trẻ thành những cuộc vui sa đọa như lời của Chủ tịch nhà nước CSVN Trương Tấn Sang có ý đổ tội cho Nguyễn Tấn Dũng, đã viết trên báo Quân Ðội Nhân Dân nhân ngày kỷ niệm thành lập Quân Ðội Nhân Dân rằng “tệ nạn xã hội có dịp bùng phát, lối sống ích kỷ, suy đồi, vô cảm, vô trách nhiệm hiện diện trong nhiều lãnh vực của cuộc sống...”

Ba mươi bẩy năm xa xứ, những người Việt chối bỏ chế độ cộng sản, nay đang có mặt khắp nơi trên thế giới, cứ mỗi mùa Giáng Sinh về lại không khỏi chạnh nhớ đến những Giáng Sinh xưa trên mảnh đất Sài Gòn thân yêu mà nhẩm lại những bài nhạc Giáng Sinh xưa đã đi vào bất tử, nhưng có chút thay đổi lời hát rằng, “Con quì lậy Chúa trên trời, xin dân nước Việt được thời bình yên” thay vì lời nhạc xưa là “Con quì lậy Chúa trên trời, sao cho con lấy được người con yêu.”
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2127 Posted : Sunday, January 3, 2016 8:59:45 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Quốc Dũng, một trong ‘Tam Kiệt Nhạc Trẻ VN’


Wednesday, December 30, 2015 6:40:22 PM
Du Tử Lê

Ðầu thập niên 1970, nền tân nhạc miền Nam đã ghi nhận được sự xuất hiện sung mãn của một luồng gió mới. Ðó là sự bùng nổ của phong trào nhạc được gọi là “Nhạc Trẻ.”

Phong trào nhạc trẻ du nhập từ Tây Phương bởi một số ca, nhạc sĩ trẻ. Họ chủ trương “thay máu” cho dòng tân nhạc miền Nam, ở giai đoạn vẫn còn nhiều dấu ấn của dòng nhạc lãng mạn thời tiền chiến.




Nhạc sĩ Quốc Dũng. (Hình: Sóng Nhạc)



Những người trẻ muốn phổ cập phong trào nhạc trẻ thế giới kể trên, không chỉ có những bài giới thiệu các nét đặc thù của phong trào nhạc trẻ tây phương, từ phong cách trình diễn tới nhạc cụ, giai điệu, nội dung ca khúc - - Mà, họ còn sáng tác những ca khúc trẻ thực sự với nội dung ra khỏi khuôn nếp “kinh điển” cũ.

Giá trị sáng tạo của họ ở chỗ họ đã cho nền tân nhạc Việt Nam, một linh hồn, một máu, thịt khác. Tôi muốn gọi đó là một “cuộc cách mạng... không màu” - - Làm thành một nhân dáng và, phong cách tân nhạc Việt Nam mới.

Tiêu biểu cho nỗ lực đổi mới này, nổi bật nhất là các ca, nhạc sĩ Quốc Dũng, Lê Hựu Hà và, Nguyễn Trung Cang.

Họ được giới trẻ thời đó, xưng tụng là “Tam kiệt Nhạc Trẻ VN.”

Tuy có chung mẫu số “nhạc trẻ” rộn rã, vui tươi,... nhưng khởi đi từ tài năng riêng, mỗi người đã đánh ra một đường gươm huê dạng mang dấu ấn của riêng họ.

Nếu Quốc Dũng có ca khúc “Mai” với ca từ như:

“Mai
Anh đã quen em một ngày
Anh đã yêu em một ngày
Một tình yêu quá không may

“Mai
Anh nhớ môi em mỉm cười
Anh nhớ môi em ngọt lời
Dù lời yêu thương chưa nói...”

Hay:

“Một sớm tan chuông tà áo trắng ngập đường
Mình anh chơ vơ chờ em trước cổng trường
Rồi bóng em ra qua giây phút muộn màng
Nắm tay anh em cười khẽ nói

“Trọn sáng hôm nay giờ triết lý thật buồn
Giờ anh đưa em đi tìm giây phút lạ thường
Mình có bao lâu rồi sẽ hết một ngày
Hãy trao nhau trọn tình đắm say...”
(Trích “Bên nhau ngày vui”)

Thì, Nguyễn Trung Cang có “Thương nhau ngày mưa”:

“... Như mưa ngày nào thấm ướt vai em
Như mưa ngày nào khuất lấp sao đêm
Thương em ngày nào khóc ướt môi mềm
Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu
Cho nhau trọn tình dẫu có điêu linh
Xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau...”
(Trích “Bên nhau ngày mưa”)

Hay:

“Này đây bước chân xin tìm đến người
Này đây cánh tay xin chào đón người
Này đây cỏ cây xanh gợn ý tình
Này đây gió mây nghe hồn tái sinh

“Này đây cánh hoa xin dâng đến người
Ðời như nở hoa trong vạn tiếng cười
Ầm vang suối reo như dậy núi rừng
Bầy chim hót ca theo từng bước chân...”
(Trích “Bước tình nồng,” còn có tên “Xin một bóng mát bên đường” #2)


Và, Lê Hựu Hà cũng có những ca khúc đến nay vẫn còn được nhiều người yêu thích như ca khúc “Tôi muốn”:

“Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên
Tôi muốn sống như loài hoa hiền
Tôi muốn làm một thứ cỏ cây
Vui trong gió và không ưu phiền
Tôi muốn mọi người biết thương nhau
Không oán ghét không gây hận sầu
Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau
Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu...”


Hoặc:

“Hỡi anh yêu xin anh đừng buồn
Có đôi khi em hay giận hờn
Ðể cho anh quên đi ngày dài
Với bao đêm suy tư miệt mài.
Mắt môi đây xin anh đừng chờ
Chiếc hôn kia mong anh từng giờ
Ngón tay kia xin chớ hững hờ
Dắt em đi về trong đợi chờ...”


Những dòng nhạc với những ca từ đó, giống như những dòng suối trong lành, xanh, mát giữa nứt nẻ “hạn hán” niềm tin, nhưng lại dư thừa đau thương, tuyệt vọng của 20 năm tân nhạc miền Nam. Ðấy cũng là những tia mặt trời, không chỉ sưởi ấm những bơ vơ, lạc lõng của tuổi trẻ miền Nam thời điểm đó, mà, nó còn mang tính hướng dẫn, chỉ đường hoặc, kiến tạo xác tín yêu thương cho giới trẻ và, luôn cả những người vốn bi quan về dòng tân nhạc đẫm ướt bi lụy, nhầu nát chia ly, hoang mang, không lối thoát.

Trong số “tam kiệt nhạc trẻ,” hôm nay nhìn lại, người ta thấy sự nghiệp của nhạc sĩ Quốc Dũng, ít, nhiều có bề dầy lớn hơn hai bạn đồng hành với ông.

(Kỳ sau tiếp)
Duy An
#2128 Posted : Saturday, January 16, 2016 11:59:55 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Quốc Dũng, và hành trình trẻ hóa nhạc Việt


Friday, January 8, 2016 2:34:13 PM
Du Tử Lê

(Tiếp theo kỳ trước)

Trong cột mục “Tiểu sử và sự nghiệp” của nhạc sĩ Quốc Dũng, trang mạng Wikipedia-Mở, ghi nhận như sau:

“Quốc Dũng sinh năm 1951 tại Thái Lan. Năm 1954, khi Quốc Dũng 3 tuổi, gia đình ông hồi hương trở về Việt Nam. Năm 10 tuổi, Quốc Dũng vào học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn và năm 16 tuổi, ông tốt nghiệp thủ khoa môn nhạc pháp Tây phương. Sau khi đỗ tú tài 2, Quốc Dũng vào học tại Viện Đại Học Vạn Hạnh.




Nhạc sĩ Quốc Dũng. (Hình: Tác giả cung cấp)



“Đam mê âm nhạc từ nhỏ, 15 tuổi Quốc Dũng đã trình diễn mandolin trên truyền hình trong dàn nhạc đại hòa tấu. Bản nhạc đầu tiên của Quốc Dũng được ông viết khi mới 11 tuổi. Nhưng đó chỉ là một nhạc phẩm không lời. Phải đến năm 17 tuổi ông mới hoàn chỉnh bản nhạc đó thành ca khúc đầu tay Em đã thấy mùa Xuân chưa. Sau đó ông viết nhiều ca khúc nổi tiếng khác như Mai, Đường xưa, Cơn gió thoảng, Chuyện ba người, Còn mãi nơi đây, Điệp khúc mùa Xuân, Thoát ly, Hoang vắng...

“Vào những năm đầu thập niên 1970, khi phong trào nhạc trẻ phổ biến ở miền Nam Việt Nam, Quốc Dũng cùng Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà là những nhạc sĩ đầu tiên Việt hóa nhạc trẻ, bắt đầu soạn các ca khúc nhạc trẻ bằng tiếng Việt. Khi đó ông cùng với Thanh Mai tạo thành một đôi song ca nổi tiếng. Với khả năng sáng tác, biểu diễn và sử dụng mandolin, guitar, piano, trống, bass, keyboard, organ, Quốc Dũng là một trong những gương mặt tiêu biểu của nhạc trẻ thời đó.

“Sau 1975, Quốc Dũng tiếp tục ở lại Việt Nam và hoạt động âm nhạc. Vợ của ông là ca sĩ Bảo Yến. Năm 2005, trung tâm nhạc Thúy Nga đã thực hiện DVD Đường xưa, giới thiệu dòng nhạc của ba nhạc sĩ Quốc Dũng, Châu Kỳ và Tùng Giang.

“Ngoài vai trò nhạc sĩ, Quốc Dũng còn là diễn viên, từng đóng vai nam chính trong bộ phim ‘Trường tôi’ của đạo diễn Lê Dân.”

Tôi nghĩ không phải tình cờ, chẳng có lý do mà trung tâm Thúy Nga đã chọn tựa đề ca khúc “Đường xưa” của Quốc Dũng, làm nhan đề chung cho bộ video của họ. Khi mà hai nhạc sĩ Châu Kỳ và Tùng Giang, mỗi người đều có hơn một ca khúc nổi tiếng.

Dưới đây là trọn vẹn phần ca từ “Đường xưa” của Quốc Dũng:

“Bước trên đường về em thương nhớ anh âm thầm
Nhớ bao hẹn thề xưa êm ấm
Những trưa hè tình dâng lên đắm say vô bờ
Em nói bằng tiếng thơ mong chờ

Tiếng yêu ngày nào cho em nhớ anh tơi bời
Với bao ngọt ngào ta vun xới
Đã không còn đường xưa thơm nắng môi em hồng
Tan nát rồi giấc mơ hương nồng

Rồi ta sẽ bước chới với khi người khuất xa chân trời
Sẽ hấp hối trong đêm mù khơi
Sẽ thấy bóng tối vây từng nỗi đau xanh ngời
Xa vắng rồi những khi bên người

Với bao muộn phiền em trông ngóng anh bao miền
Hỡi anh ngọt ngào sao hoang vắng
Xót xa này từng đêm thao thức em đong đầy
Đêm vẫn là những đêm hao gầy

Bước trên đường đời em mơ thấy anh tươi cười
Với bao hẹn hò tan trong gió
Những ân tình đời chưa cho sớm mai yên bình
Ta vẫn còn đứng đây riêng mình

Rồi anh sẽ thấy thấp thoáng bao lần tóc em bay dài
Thấy bóng dáng yêu thương ngày mai
Với những tiếng hát yêu người thiết tha mơ màng
Ta gói trọn giấc mơ phai tàn.”

(Nguồn: Wikipedia - Mở)

Tuy “Đường xưa” cũng diễn tả một cuộc tình có kết thúc không yên vui; nhưng người nghe vẫn không phải “đối mặt” với những những kết án, những than than oán não nề như:

“Này em hỡi / Con đường em đi đó / Con đường em theo đó / Đúng hay sao em? / Xa nhau rồi / Thiên đường thôi lỡ / Cho thần tiên chấp cánh / Xót đau người tình si ...” (Trích “Bài không tên cuối cùng”) (Nguồn: Wikipedia-Mở)

Hoặc Đỗ Lễ với “Sang Ngang”:

“Nếu biết rằng... tình là giây oan / Nếu biết rằng... hợp rồi sẽ tan / Nếu biết rằng... yêu là đau khổ / Thà dương gian... đừng có chúng mình...” (Nguồn đd.)

Mà, trong “Đường xưa” người nghe vẫn gặp được những hình ảnh mới ở cuối đường chia tay, như: “Bước trên đường đời em mơ thấy anh tươi cười...” Hay: “Rồi anh sẽ thấy thấp thoáng bao lần tóc em bay dài / Thấy bóng dáng yêu thương ngày mai...”

Chủ tâm đổi mới “khi hậu” âm u, ảm đạm của Quốc Dũng không chỉ thể hiện qua giai điệu mà, nó còn lấp lánh những lời nói bình thường (rất chân thật); nhưng qua tài hoa âm nhạc Quốc Dũng, chúng lại như được mặc một chiếc áo mới. Chiếc áo của ngôn ngữ không bác học, mỹ miều nhưng vẫn có ma lực quyến rũ, rụng động lòng người:

“Mai
Anh đã yêu em thật rồi
Anh đã yêu em thật nhiều
Một tình yêu quá cô liêu

“Mai
Em đã cho anh hẹn hò
Nhưng đã cho anh đợi chờ
Để rồi không đến bao giờ

“Chiều về nhạt nhòa trên khu phố mưa bay
Lòng buồn thêm xót xa niềm cay
Lời hẹn hò đầu tiên em đã quên đi
Con đường rộng vắng như biệt ly

“Mai
Anh đã xa em thật rồi
Anh đã xa em trọn đời
Dù lòng thương nhớ không nguôi...”
(Nđd.)


Ở một ca khúc khác, ca khúc “Bên nhau ngày vui,” rất được giới thưởng ngoạn ưa thích; Quốc Dũng vẫn chung thủy với chủ tâm dùng lời giản dị, ngôn ngữ đời thường, để trực tiếp đến thẳng trái tim người nghe. Ông không đi tìm những danh từ, chữ nghĩa mỹ từ. Ông không cho ca khúc của mình những sáo ngữ, xa rời đời thường... ông viết:

“Một sớm tan chuông tà áo trắng ngập đường
Mình anh chơ vơ chờ em trước cổng trường
Rồi bóng em ra qua giây phút muộn màng
Nắm tay anh em cười khẽ nói

“Trọn sáng hôm nay giờ triết lý thật buồn
Giờ anh đưa em đi tìm giây phút lạ thường
Mình có bao lâu rồi sẽ hết một ngày
Hãy trao nhau trọn tình đắm say

“Là là la lá la hãy sánh bước với nhau kề vai nhau
Nhạc bừng reo khắp nơi, ta dìu nhau theo tiếng nhạc vui

“Mình sống bên nhau và quên hết hận sầu
Thì không gian kia là khói thuốc nhiệm màu
Để mãi đưa ta trôi xa bến đợi chờ
Kết hai tâm hồn toàn ước mơ.”
(Nđd.)


Với tôi, “Bên nhau ngày vui” là một trong số những ca khúc trở thành niềm mơ ước, khát khao được có, được sống giống như hình ảnh hai người trẻ yêu nhau trong ca khúc, của giới trẻ miền Nam, thời điểm trước tháng 4, 1975.

Vẫn với tôi, ca khúc ấy, cũng dạy sóng hồi tưởng lãng mạn, xao xuyến nơi những người đã rời xa tuổi trẻ. Nhưng quá khứ, họ cũng có một thời xôn xao, náo nức như vậy.

Duy An
#2129 Posted : Sunday, January 17, 2016 12:52:21 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)
Làng mai Thủ Đức - sắc vàng đón Xuân sang


Đăng Trần (afamily.vn)

Nếu như người dân miền Bắc thích cành Đào Nhật Tân, Đào phai trong nhà ngày Tết thì đối với người miền Nam những bông Mai vàng lại không thể thiếu mỗi dịp Xuân sang.

Cành Mai với dáng đứng mạnh mẽ, những bông hoa vàng ươm trong cái nắng mùa Xuân làm cho không khí đầu năm thêm sức sống, tươi vui.








Ở Sài Gòn nói đến Mai, người ta nghĩ ngay tới làng Mai Thủ Đức- vùng trồng mai có tiếng lâu đời ở đây. Những ngày này, ghé qua lang Mai ta có thể thấy được cái không khí náo nức chuẩn bị và màu sắc Xuân đang tới rất gần trên mỗi ngôi nhà, mỗi con hẻm ở đây.

Người trồng Mai chuẩn bị những cây tốt nhất, chăm bón cho cây ra hoa thật nhiều và đúng Tết. Người chơi Mai thì tranh thủ ghé vườn để ngắm nhìn và chọn cho mình cây Mai ưng ý về chưng những ngày Tết cho không khí thêm màu sắc Xuân.





Theo những người trồng Mai lâu năm ở đây cho biết, nghề trồng Mai đã có từ bao đời nay. Ngày trước làng Mai có một thời phát triển mạnh nổi tiếng khắp cả nước nhưng rồi một thời gian kinh tế khó khăn người chơi Mai cũng ít những vườn Mai bị thay thế làm đất trồng mía, trồng cây ăn trái.






Mấy năm gần đây, làng Mai được vực dậy và phát triển lại, tuy không được như trước nhưng càng ngày càng có nhiều người biết tới.

Mai Thủ Đức bây giờ, không chỉ phục vụ cho nhu cầu của Sài Gòn và các tỉnh lân cận mà còn vươn ra các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng...

Cái nghề trồng Mai cũng nhiều gian nan, tuy Mai có giá cao nhưng để có những cây Mai đẹp và nở hoa đúng ngày Tết mỗi người lại có một bí quyết riêng. Chú Sáu Thông- chủ một vườn Mai cho biết: “ Trồng Mai ai cũng trồng như nhau nhưng cái quan trọng là bí quyết chăm Mai những ngày cuối thì không ai giống ai. Cũng như học võ phải có miếng cuối để giữ nghề”.



Mỗi cây Mai, phải mất từ 2 tới 3 năm mới có thể bán được. Những cây Mai quý phải tốn nhiều thời gian hơn có khi cả vài chục năm. Vì thế nên người trồng Mai chăm cây rất kỹ. Để có những cây Mai đẹp, hoa vàng đầy cành là cả một quá trình thức khuya dậy sớm. Tưới nước, cắt cành, bắt sâu, tạo dáng cho cây là việc làm thuờng xuyên của những người trồng Mai ở đây.

Vào làng Mai, nhiều nhà trồng mai nhiều và đẹp nhưng nói tới những cây Mai độc và quý thì ai cũng phải khâm phục vườn mai Ông Cát. Không hẳn là vườn Mai lớn nhất làng Mai, nhưng vườn mai của ông lại có những cây Mai có giá trị cả về kinh tế lẫn nghệ thuật mà không phải vườn Mai nào cũng có.







Ngoài những cây mai để bán vào mỗi dịp tết, ở nhà ông còn chưng nhưng chậu Mai rất đẹp. Có những cây được trả giá tới vài ba trăm triệu đồng nhưng gia đình không bán, phần vì cái thú chơi Mai, phần vì đó là những cây Mai có nhiều kỷ niệm với gia đình ông.

Vợ ông chia sẻ, gia đình giữ nghề trồng Mai bao đời nay, những cây mai đó gắn liền với gia đình từ những lúc khó khăn tới bây giờ lang Mai phát triển lại. Nhiều người hỏi được giá sao không bán nhưng yêu cây lại muốn giữ lại để chưng vào mỗi Tết như giữ lại những hình ảnh của cả nhà bao năm qua.









Tuy chưa thực sự vào Tết nhưng những đóa Mai vàng nở sớm, những búp Mai chi chít trên cành làm cho ta cảm nhận được một cái Tết nữa đang đến rất gần và không khí mùa Xuân đang theo những nhành Mai ghé qua mỗi nhà. Người trồng Mai lại chuẩn bị cho những bí quyết của mình để góp cho một cái Tết mới những cây Mai thắm sắc hoa vàng rực rỡ.
Duy An
#2130 Posted : Tuesday, January 19, 2016 1:50:46 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)



Bánh tét Sài Gòn



Duy Thức


Bắt đầu từ chiều cho đến tối mịt, người phụ nữ bán bánh tét dạo đó đi ngang qua khu vực này. Nhìn thấy chị ta đội nón lá, khoác một chiếc áo bà ba dài tay ngoải chiếc áo bà ba bên trong thì chắc đi rong từ lúc trời còn nắng.

Mặc dầu chưa phải là già nua lắm nhưng dáng mập mạp của người người phụ nữ trung niên đó chậm chạp có vẻ mệt mỏi. Chắc tới con hẻm này cũng gần cuối buổi bán và chị ta đã phải đạp xe mấy tiếng đồng hồ rồi

Chiếc xe đạp đó cũ kỹ, những đòn bánh vắt lơ lửng dọc theo hai bên tay cầm xe và thêm bánh đựng trong một chiếc giỏ nhựa cũ đen ngòm và trầy xướt móc sát bên hầu như đã được dùng từ nhiều năm rồi. Trong giỏ xe lại đặt một ca nước lớn. Trời nóng quá và không muốn tốn tiền mua nước uống nên các người bán hàng rong đều phải mang theo bình nước bên mình.

Các hàng bán dạo khác nào thùng nào giỏ chất đầy hàng hóa. Chiếc xe đạp này nhìn vào hàng chẳng bao nhiêu, chiếc ca nước lớn lại án trước giỏ, đống bánh lèo tèo nhìn chẳng mấy bắt mắt.

Bánh tét cũng như bánh chưng, là loại bánh không thể thiếu vào dịp tết âm lịch của người Việt Nam. Thế nhưng vào ngày thường, bánh tét ngày càng ít người ăn. Trước kia, bánh hay bán vào buổi sáng như một loại điểm tâm. Bây giờ, đây chỉ là thứ quà ăn chơi, cũng không được bữa chính khi lỡ. Vì thế vào các ngôi chợ nho nhỏ, có khi chẳng nhìn thấy bánh tét đâu, vốn trước kia là loại bánh quen thuộc mà vào bất cứ chợ búa nào cũng có ít nhất một hàng bán.

Có lẽ chính vì thế mà đòn bánh ở đây, giờ chỉ to bằng cườm tay và dài chưa tới gang. Nếu bóc hết lá thì phần bánh còn lại chẳng bao nhiêu.

Người mua bánh lẻ tẻ. Thường thì người ta mua bánh ăn liền chứ không để dành sáng mai điểm tâm như thói quen hồi đó. Vì thế chị ta rút chiếc kéo trong giỏ ra cắt dây, lột cắt nửa lá lộ phần bánh nếp ngon lành, để lại một nửa lá lót tay cầm giống như cầm trái chuối bóc vỏ một nửa cầm ăn vậy.

Thông thường hàng bánh tét bao giờ cũng bán kèm bánh ú, bánh ít nhiều loại đi cùng với nhau cho khách hàng dễ lựa chọn nhưng chiếc xe rong này chỉ bán mỗi bánh tét.

Chị ta đáp gọn lỏn:
-Trước kia tôi bán ba bốn loại bánh tét. Nay chỉ còn có hai loại. Một loại nhân chuối chín và thứ kia nhân thịt mỡ.
Thật ra ngày trước bán đắt hàng hơn bây giờ. Đồng thời càng có nhiều loại bánh càng nhiều người mua. Dễ bán nhất là ở các tiệm nước buổi chiều, công nhân làm việc ở công trường hoặc cổng trường, hay cả học sinh thường mua ngồi ăn và uống nước tại chỗ. Giờ ít người mua nên cũng không dám gói nhiều bánh và nhiều loại nữa.

Chắc là đi mãi đã mỏi nên chị bán hàng đứng truyện trò một lúc nghỉ chân. Khi được hỏi về cách làm bánh. Chị trả lời:
– Bánh làm tất nhiên từ nếp thơm chỉ khác nhau ở nhân nhiều hơn. Có nhiều cách chế biến. Mặc dù bánh tét cũng có nhiều cải biên: bánh tét lá cẩm, nhân trứng muối… Vùng Vĩnh Long lại chế ra loại bánh vừa nhân mặn vừa nhân ngọt. Riêng bánh tét ở thành phố dù lễ Tết hay ngày thường, đều chuộng loại truyền thống.

Chị ta đậu xe lại và lấy ra năm đòn bánh trao cho tôi.
-Lúc trước mỗi đòn bánh tét chỉ một ngàn đồng và to hơn. Giờ thì bánh nhỏ hơn nhưng lại tăng giá lên năm ngàn.

Tôi hỏi chị
– Thế bánh này chị lấy ở đâu?

Chị ta mỉm cười:
– Các thứ nếp, đậu và lá đều vào mua sỉ ở chợ Bình Tây. Bánh tét bà ngoại chỉ má tôi gói, má tôi hướng dẫn lại con gái. Các bà già xưa đều bày vẽ con gái làm các thứ bánh trái. Tôi lấy chồng nghèo, không có vốn cũng chẳng biết xoay xở buôn bán. Vì thế món bánh tét ngày Tết, sau này gói ngày thường thành món hàng mang bán vậy.

Chị kể lể tiếp:
– Thoạt tiên việc bán bánh thuận lợi, bánh bán đắt hàng lắm. Tôi nấu bánh tét và bành ít bỏ mối cho vài chợ. Cả nhà: chồng, con trai và con gái đều phụ. Chồng tôi mạnh tay chuyên gói bánh và chạy xe đi giao hàng. Các con vút nếp, đãi đậu. Tôi chuyên canh lửa và cũng có một sạp bánh ở chợ xép gần nhà.
Mặc dù bây giờ bếp điện, bếp ga phổ biến ở gia đình nhưng giá thành đắt. Vì thế hàng mấy chục năm nay, chị vẫn trung thành với việc nấu củi, không dùng ngay cả than tổ ong đang rất thông dụng ở các bếp ăn. Xưa, khi trong thành phố vẫn còn các “chành” củi. chị mua mỗi lần cả một, hai thước củi gộc để dùng từ từ. Giờ không còn các chành củi ấy nữa, phải nhờ mối quen mua củi tạp, thường là cây mé nhánh trên đường, nấu bánh rẻ hơn các nhiên liệu khác nhiều lắm.

Cứ bắt đầu buổi sáng, chị cặm cụi gói bánh, nấu bánh. Trưa xế, vớt nồi bánh nóng hổi ra vắt lên xe đạp đi bán rong. Tùy theo ngày. Có hôm ế, chị cứ dắt chiếc xe len lỏi vào hẻm ngang ngõ dọc đến tối mịt mới về. Hôm kia may mắn đi ngang qua căn nhà đang xây, chủ thầu kêu vào mua một lúc mười mấy đòn bánh cho công nhân ăn nên trời xâm xẩm đã về sớm.

Chị ta nhấc các đòn bánh, dàn ra trước tay xe trông cho có vẻ nhiều nhặn. Năm tháng trôi qua. Chồng đã mất, các con cũng lớn, có công ăn việc làm cả nhưng chị vẫn cần mẫn hàng ngày đi bán bánh, ngày nắng như buổi mưa không bỏ ngày nào. Chị bảo:

– Các con tôi kêu nghỉ bán cho đỡ cực nhưng công việc làm bao nhiêu năm đã quen, nếu ở nhà thì buồn lắm. Với lại đám con cũng chỉ là công nhân, lương lậu chẳng bao nhiêu.. Tôi tự gói bánh đi bán khỏi phải nhờ cậy đến con cái còn gia đình riêng của chúng. Chừng nào già cả bệnh hoạn không đi nổi mới nghỉ. Với lại bánh gói ít hơn trước kia, tôi có thể làm một mình không cần ai phụ. Đôi khi cũng có mấy bà hàng xóm rảnh rỗi qua chơi phụ lau lá, cột dây.
Các loại bánh cổ truyền như bánh tét, bánh ú… bán ở thành phố hiện giờ phần lớn do các lò ở Hóc Môn, Gò Vấp cung cấp giá sỉ. Số người tự gói, tự bán lẻ như chị bán bánh này không nhiều lắm.

Chị ta mỉm cười khoe:
– Ngày thường bán lai rai. Thế nhưng ngày lễ lạt thì người quen chung quanh lại nhờ tôi gói đặc biệt để ăn hay mang biếu. Nếp, đậu… đều chọn lựa kỹ nên ăn bánh của tôi khác hẳn hàng ngoài chợ.

Nguyên liệu làm bánh tét không phải khó kiếm và cũng không mắc lắm nên thật ra hàng chợ và hàng đặt cũng không chênh nhau mấy. Thị trường cạnh tranh khốc liệt nên để lôi cuốn khách, bánh tét có nhiều cải biên: bánh tét chữ, bánh nhân đậu đò, đậu đen, hải sản… và các lò lớn sản xuất hàng loạt khiến cho các hàng bánh riêng lẻ với lối làm bánh đơn giản cổ truyền thế này ngày càng khó sống.

May mắn cho chị đôi khi ở ven đô, ngoại thành có đám giỗ xưa, vài người vẫn có thói quen bày bánh tét, bánh ít… Thay vì trái cây, người ta có thể “đi” ít bánh tét và sau khi bữa giỗ kết thúc, nhà chủ trao khách một, hai đòn bánh cầm về cho vui chứ trong thành phố thì không có tục này.

Tôi hỏi :
– Sao chị không nấu thêm bánh tét lá cẩm, lá dứa… để đổi khẩu vị. Có khi vì thế lại nhiều người chuộng hơn?

Chị ta lắc đầu :
– Thôi thôi. Làm thử kiểu này kiểu nọ không bán được thì tôi cụt vốn.
Trải bao ngày sống lang thang bụi bặm dường như chị quên cả bản thân mình. Bên cạnh nhà tôi là anh hàng xóm khoảng năm mươi nhưng dáng to ngang và gương mặt sáng rỡ. Anh ta vừa dắt xe ra khỏi nhà, xề ngay lại chỗ chị bán bánh tét đang vịn chiếc xe đạp định đẩy đi.

Anh nói:
– Chị lấy cho tôi hai xâu bánh Tét. Một xâu hai mươi bánh nhân chuối, xâu kia hai mươi bánh nhân mặn.
Chị bán bánh hỏi:
– Bữa nay nhà chú có giỗ hay tiệc gì sao?

Anh ta trả lời:
– Không, chiều nay thợ nghỉ xả hơi một buổi vì công trình xây cất cũng gần hoàn thành và cũng tới ngày trả lương công nhân. Tôi lấy ít bánh đãi công nhân lúc giải lao ăn chơi mà cũng rẻ.

Chị bán bánh tét bảo còn đủ số bánh mà anh ta muốn mua. Chị cũng không mừng hay ngạc nhiên vì khách mua nhiều bánh vì đôi khi may mắn từng gặp trường hợp như thế này. Thường người ta mua một vài bóc lá ăn liền. Nhưng cũng nhiều lần gặp nhà người ta có công có việc, chị bán hết cả thúng bánh. Tôi cũng thấy đỡ ái ngại với chị vì lúc này trời đang chuyển mưa chiều. Bánh ế tất chị phải vất vả đi lâu hơn, rao khản cả cổ mới bán được một hai đòn bánh.

Cái nghề bán bánh tét từ lúc trước 75 đến nay hằng mấy chục năm rồi, vẫn cứ chiếc xe đạp cũ kĩ đó mỗi ngày đeo trên mình nó cả trăm đòn bánh tét lủng củng bán tới khuya. Nếu không hết hàng thì mai lại bán sớm đón giờ điểm tâm.

Thường những buổi hoàng hôn sụp tối nhất là những ngày mưa gió, chiếc xe cọt kẹt rít lên vì sợi dây sên cũ và tiếng rao cuối ngày vọng từ xa ai ăn bánh tét không của chị bán hàng như một tiếng động của thời gian gần nửa thế kỷ qua.
Người bán bánh tét dạo cứ như thế mà sống càng già dặn, lặng lẽ thêm, giống như một món ăn cũ kỹ mà chị bán, như cây khô cằn cỗi giữa dòng đời ào ạt đẩy xô.

phamlang
#2131 Posted : Wednesday, January 20, 2016 1:06:43 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Chuyện Ông Lãnh và 5 người vợ nức tiếng Sài Gòn




Chợ Bà Chiểu năm 1968. Ảnh: Panoramio.


Chợ Bà Chiểu, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Quẹo, Bà Hom thân thuộc với người Sài Gòn được cho là tên của 5 người vợ vị tướng Lãnh Binh Thăng.

Chợ cầu Ông Lãnh (quận 1), Bà Hạt (quận 10), Bà Quẹo (quận Tân Bình), Bà Chiểu (Bình Thạnh), Bà Hom (Bình Tân) và Bà Điểm (huyện Hóc Môn)… là những địa danh nổi tiếng, có lịch sử hàng trăm năm gắn với nhiều thế hệ người Sài Gòn. Tuy ở những vị trí khác nhau, nhiều chợ đã đổi tên nhưng người bản địa ngày nay ai cũng rành rọt các địa danh này.

Học giả Trương Vĩnh Ký, một trong 18 nhà bác học thế giới thế kỷ 19 cho rằng, Ông Lãnh là vị lãnh binh tên Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866), võ tướng nhà Nguyễn thời vua Tự Đức. Ông thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu tiên của Nam Kỳ. Còn 5 người phụ nữ được đặt tên chợ ở Sài Gòn vốn là các bà vợ của ông. Những vị quan đa thê thời xưa thường áp dụng phương pháp kinh tế tự túc nên vị lãnh binh đã lập 5 chợ ở khu vực khác nhau, giao cho mỗi bà cai quản một cái. Việc này tránh các bà đụng mặt nhau, để chuyên tâm làm ăn.

Lãnh binh Thăng quê ở Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, từng tham gia các trận đánh ở đồn Cây Mai, đồn Thủ Thiêm và vùng phụ cận khi quân Pháp chiếm thành Gia Định. Ông nổi tiếng với chiến dịch Mù U gây tổn thất nặng cho địch. Về sau ông phối hợp với nghĩa quân Trương Định ở Gò Công tiếp tục chống Pháp.

Năm 1866, tướng Thăng tử trận ở Gò Công, được đưa về an táng tại quê nhà. Hiện, ông được thờ với vị Thành Hoàng và đức Trần Hưng Đạo ở đình Nhơn Hòa, đường Cô Giang (quận 1). Ngôi đình gần cây cầu và chợ mang tên ông. Ngoài ra, tên Lãnh Binh Thăng cũng được đặt cho một con đường tại quận 11.

Về cây cầu mang tên Ông Lãnh, nhà bác học Trương Vĩnh Ký khẳng định “chiếc cầu gỗ do ông Lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh Binh Thăng này, chớ không phải ai khác”. Cây cầu này đầu tiên bắc qua một con rạch nhỏ. Khi rạch bị lấp, cây cầu mới nối bến Chương Dương (quận 1) và Bến Vân Đồn (quận 4).

Năm 1874, một ngôi chợ được xây ở khu vực này, mang tên chợ Cầu Ông Lãnh. Nơi đây tàu ghe tấp nập từ miền Tây theo sông Sài Gòn vào kênh Tàu Hủ buôn bán. Chợ được chia làm 3 khu vực: bán trái cây, bán cá và bán tạp hóa.

Năm 1971, chợ bị hỏa hoạn lớn thiêu rụi hoàn toàn, sau đó dần phát triển lại. 28 năm sau, chợ lại bị cháy lớn, thiêu rụi hơn 200 căn nhà. Từ đó, tiểu thương chuyển sang buôn bán nơi khác, chợ Cầu Ông Lãnh dần biến mất. Ngày nay, chợ Cầu Ông Lãnh vẫn còn buôn bán nhưng quy mô rất nhỏ nằm trên đường Nguyễn Thái Học (quận 1).

Trong các chợ do vợ của ông Lãnh quản lý, Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ lâu đời ở Sài Gòn. Sơ khai là chợ xổm, năm 1942, chợ được xây lên với diện tích gần 8.500 m2, nằm ở trung tâm quận Bình Thạnh. Năm 1987, chợ được nâng cấp, sửa chữa. Đến nay, chợ có khoảng 800 hộ, kinh doanh khoảng 40 mặt hàng.

Cố nhà văn Sơn Nam cho rằng, Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên. Bà Chiểu là “nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên”.

Chợ nổi tiếng thứ hai đồng thời gắn với nhiều địa danh ở Sài Gòn là Bà Điểm. Chợ thuộc xã Bà Điểm huyện Hóc Môn, nơi có 18 thôn vườn trầu nổi tiếng. Theo Trương Vĩnh Ký, chợ Bà Điểm bán nhiều mặt hàng nhưng nổi tiếng nhất là trầu cau có độ ngon nức tiếng được trồng ngay tại vùng.

Chợ Bà Quẹo vốn là chợ đầu mối thu mua nông sản từ Củ Chi, Hóc Môn, Long An…

Tuy nhiên trong cuốn Sài Gòn năm xưa, học giả Vương Hồng Sển lại cho rằng nên thận trọng khi cho “Ông Lãnh” và “Bà Chiểu”, Bà Điểm”, “Bà Hom”, “Bà Hạt”, “Bà Quẹo” là vợ chồng.

Bởi theo ông, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Chiểu có thể là người đầu tiên buôn bán tại các chợ này, sau lấy tên đặt cho chợ. Giống như chợ Bà Hoa ở khu ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình), do người đàn bà tên Hoa đã hiến đất xây chợ và là người đầu tiên buôn bán nên người ta lấy tên bà đặt cho ngôi chợ.

Lý giải về Bà Hom, có sách chép rằng do Bàu Hom (bàu ngâm hom tre) nói chệch thành. Còn tên Bà Quẹo cũng đọc chệch từ Bờ Quẹo hoặc Bàu Quẹo vì khu này có một khúc quẹo rất rõ. Từ quẹo vốn cũng được đặt cho nhiều địa danh như Cống Quẹo ở xã Phạm Văn Hai (huyện Bình Chánh) hay lộ Quẹo tại huyện Cần Giờ.

Ở Sài Gòn, còn nhiều tên người được gắn cho địa danh như ở quận Bình Thạnh có cầu, chợ và kênh mang tên Thị Nghè. Người này vốn tên Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí viết rằng, “do có chồng là thư ký mỗ, nên người đương thời gọi là Thị Nghè. Do bà khai hoang đất ở, bắc cầu để tiện việc đi lại, nên dân gọi là kênh, cầu Thị Nghè”.

Ngoài ra, thành phố còn nhiều tên gọi mang tên ông, bà khác như Ông Tố, Ông Bổn, Bà Lài, Bà Tàng, Bà Chiêm…

Sơn Hòa
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 2/1/2016(UTC)
Duy An
#2132 Posted : Friday, January 22, 2016 6:09:09 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)



Những cánh chim dịu dàng, thơ mộng trong cõi giới âm nhạc Tuấn Khanh


Du Tử Lê


Tôi không biết trong quá khứ, đã có một nhà thơ nào, vì lòng yêu mến một ca khúc mà, lấy từng chữ trong ca khúc ấy, để mở đầu cho những câu thơ của mình? Năm 2005, điều đó, đã xẩy ra với nhà thơ khuyết danh, khi tác giả lấy từ chữ thứ nhất tới chữ cuối cùng của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” của Tuấn Khanh, làm thành một bài thơ dài trên 100 câu. Đọan mở đầu bài thơ mang tính “tử công phu” này của Nguyên Nghĩa như sau:

“Đêm thầm thì gió theo về muôn hướng / qua song trăng chấp chới một đường bay / chưa hẹn hò bến nhớ sẽ đan tay / mà chốn cũ đã vương đầy bóng vỡ / trời tim tím bởi nỗi lòng đang ngỏ / sao ngu ngơ do ý tại hòang hôn / vội chi mà dốc lạnh dấu mùa sang / sáng vùng thẫm nhỡ nhàng nơi viễn xứ.” (8 câu thơ này đi ra từ câu nhạc: Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng.)

Tôi không biết nguyên nhân sâu xa nào khiến tác giả bài thơ trên đã chọn ca từ của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng,” thay vì ca từ của những ca khúc khác? Nhưng hiển nhiên, nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của rất nhiều ca khúc mà sức sống vạm vỡ, bền lâu của chúng, còn mạnh mẽ, vang dội đến ngày hôm nay, như “Hoa soan bên thềm cũ,” “Một chiều đông,” “Nhạt nhòa,” hoặc “Dưới dàn hoa cũ” vân vân…đã nhận được vinh dự hiếm hoi này.

Tuấn Khanh /Trần Trọng Ngọc là một trong những nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ nhất sau biến cố chia đôi đất nước, 1954, ở miền Nam; đã để lại cho thời kỳ đầu của lịch sử tân nhạc Việt Nam, 20 năm miền Nam, những dòng nhạc lấp lánh hy vọng. Không chỉ ca từ mà, luôn cả âm điệu nhiều ca khúc của Tuấn Khanh cũng lấp lánh tin yêu, sáng lên từ những lãng mạn tình yêu đôi lứa. Sự kiện này, trái ngược với nội dung và, luôn cả âm điệu của những ca khúc được viết bởi thế hệ nhạc sĩ thứ hai, như Từ Công Phụng,Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên…

Không cần một chút cố gắng hay chú tâm nào, người ta vẫn dễ dàng nhận ra đa số những ca khúc viết bởi các nhạc sĩ kể trên, dường được xây dựng trên những tan vỡ, chia ly. Làm như phụ rẫy, tuyệt vọng là ngọn hải đăng dẫn đường cho những nhạc sĩ trẻ đó.

Không biết có phải, điều thứ 2 trong ba điều chính của bản hiệp định Geneva ký ngày 20 tháng 7 1954, quy định rằng, sau 2 năm tạm thời chia đôi Việt Nam, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được thực hiện, để thống nhất hai miền đất nước - - Nên sự bỏ nhà cửa, mồ mả ông cha để di cư vào miền Nam, chỉ là nhất thời? Và hy vọng thống nhất, đòan tụ của hơn một triệu người miền Bắc di cư vào Nam, cùng hàng trăm ngàn cán bộ CS miền Nam, tập kết ra Bắc, đã là ngọn lửa ấm áp ở mặt bên kia ly tán.

Nhưng sau hai năm, chính phủ miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu, đã từ chối thực thi điều khỏan này. Số người miền bắc di cư, cũng như những người có thân nhân tập kết, hiểu rằng, chia ly đã chính thức bước vào đời họ, như một định mệnh bất khả hóan chuyển. Và, cùng với sự sập xuống của bức màn sắt, sáng tác của những nhạc sĩ trẻ, cũng di lưu, đổi mạch?

Dù đến với cõi giới âm nhạc rất sớm, ngay khi chỉ mới 5, 6 tuổi, do sự hướng dẫn của người anh cả, với chiếc đàn violon, và, khi lên 10, Tuấn Khanh đã có thể xướng âm chính xác một ca khúc, nhưng ở những bước khởi đầu, ông vẫn gặp khá nhiều khó khăn.

Sinh trưởng trong một gia đình ảnh hưởng nặng nề truyền thống Nho phong, Tuấn Khanh kể:

“Gần như không buổi tập đàn của tôi mà không bị ông Ngọai chống đối gay gắt. Mỗi khi nghe được tiếng ‘o e’ từ cây violon của thằng bé, dù đang uống rượu, ông cũng dừng lại, chửi cho mấy câu…

“Nếu không có sự ủng hộ của bố tôi, thì nhiều phần tôi đã phải bỏ ngang từ bỏ đam mê của mình rồi!”

Tác giả ca khúc “Hoa soan bên thềm cũ” cho biết, thời thân sinh ông còn làm trưởng ty Bưu Điện ở Thanh Hóa, một hôm ông cụ dẫn cả nhà đi xem một cuốn phim tình cảm của Pháp, , với đọan kết thật bi thảm. Trở về, mọi người xúm lại, hào hứng bàn tán về nội dung cuốn phim, trừ Trần Trọng Ngọc.

Hồi lâu, thấy vắng mặt đứa con trai út, được ông thương yêu nhất; ông cụ vào phòng tìm. Thấy con đang úp mặt khóc trên gối. Những tưởng cậu bé bị các anh, chị mắng mỏ hay hiếp đáp - - Chừng vỡ nhẽ, ông cụ mới biết cậu con út của ông buồn vì quá cảm thương cho cái chết nhân vật nữ trong phim…

Qua sự kiện này, thân phụ của nhạc sĩ Tuấn Khanh tin rằng, người con trai út của ông, sẽ thành… “nghệ sĩ.” Tác giả “Chiếc lá cuối cùng” nhấn mạnh, “tiên tri” của ông cụ, với ông, không chỉ là một “giấy phép” mà, nó còn giúp ông thêm tự tin nơi năng khiếu âm nhạc của mình.

Năm 1949, Tuấn Khanh sáng tác ca khúc đầu tay: “Hai sắc hoa ti gôn” phổ từ thơ T.T. Kh. (2) Nhưng, ca khúc thứ nhất được phổ biến qua làn sóng điện là nhạc phẩm “Thăng Long thành hòai cổ,” phổ thơ Bà Huyện Thanh Quan, năm 1955. (3)

Tuy nhiên, trước khi được nhìn như một một nhạc sĩ có khả năng dìu dắt những người yêu nhạc nhiều thế hệ, tới những chân trời thơ mộng, thương yêu, hay chấp thêm đôi cánh lãng mạn cho những cuộc tình mơ ước, bay tới đỉnh trời ước hẹn, Tuấn Khanh đã được công nhận, như một ca sĩ, với nghệ danh Trần Ngọc. Ông là thủ khoa của cuộc thi hát, 1953, do đài phát thanh Hà Nội tổ chức.

Thuật lại diễn tiến cuộc thi, ca sĩ Trần Ngọc cho biết, cuộc thi có ba giai đọan:

Sơ kết, chọn 25 thí sinh. Bán kết chọn 8. Và chung kết chọn nhất, nhì, ba, từ 8 thí sinh đó.

Ở cả ba cuộc thi, tác giả “Dưới dàn hoa cũ” đều được chấm nhất. Thủ khoa.

Nhưng khi các thí sinh đậu đầu được mời ra sân khấu trình diễn trước khán giả, thì một “sự cố kỹ thuật ” đã xẩy ra; gây xáo trộn, bối rối cho ban tổ chức, thí sinh, và luôn cả khán giả nữa.

Số là để bày tỏ long biết ơn người đã giới thiệu vợ cho mình, nhạc sĩ Tu Mi đã vào phòng kỹ thuật, điều chỉnh hệ thống âm thanh cho Thanh Hằng (giải nhì cuộc thi,) hát xuông sẻ. Nhưng khi tới phiên Trần Ngọc trình diễn thì, ngay khi vừa cất tiếng, chưa kịp hát chưa hết câu “lờ lững đôi chim giang hồ bay…” mở đầu bài “Đôi chim giang hồ” của Ngọc Bích (4) thì, hệ thống âm thanh… trục trặc. Mỗi lần như thế, Trần Ngọc lại cảm thấy mồ hôi “vã ra như tắm!” Tới lần thứ ba, ông đành nhắm mắt hát tiếp, sau khi hệ thống âm thanh được… “chỉnh lại.”

Do đó, khi nhận phần thưởng, Trần Ngọc nín lặng lãnh giải nhì, trong khi Thanh Hằng được trao giải nhất!

Sau này, nhạc sĩ Thẩm Oánh, phó Giám đốc đài phát thanh Hà Nội, Chủ tịch ban tổ chức, đã chính thức xin lỗi Trần Ngọc; khi nhân viên kỹ thuật của phòng thâu hôm đó, thú nhận với nhạc sĩ Thẩm Óanh rằng, anh ta đã để cho nhạc sĩ Tu Mi phá hỏng hệ thống thu thanh lúc Trần Ngọc hát.

Những tưởng định mệnh sẽ không bao giờ mỉm cười với tác giả “Hoa soan bên thềm cũ” một lần nữa! Vì sau khi được trao giải khôi nguyên cuộc thi hát do đài phát thanh Hà Nội tổ chức thì biến cố chia đôi đất nước, xẩy tới!

Đứa con cưng của âm nhạc, tiếng hát ngọt ngào của làn song điện Tuấn Khanh / Trần Ngọc, tới những ngày cuối cùng của cuộc di cư 1954, mới được gia đình cho phép vào Nam.

Một thân một mình giữa Saigòn lạ lẫm, Tuấn Khanh / Trần Ngọc bắt đầu giai đọan mới của hành trình “nghệ sĩ” mà định mệnh đã vạch sẵn cho ông. Với tài năng được công nhận ngay từ khi còn rất trẻ qua cây vĩ cầm, với tiếng hát trời cho và, khả năng sáng tác ca khúc dịu dàng, thơ mộng có tố chất quyến rũ lớn, Tuấn Khanh trở thành nhân viên của đài phát thanh Saigòn. Ông cũng được mời chơi violon cho hầu hết những ban nhạc tên tuổi của đài.

Rớt bão cuộc chia ly Hà Nội còn đuổi buốt sau lưng, giữa vùng đất lạ lẫm, những sáng tác mang tên Tuấn Khanh ra đời. Như: “Hoa soan bên thềm cũ,” “Chiều biên khu,” Chiếc lá cuối cùng,” “Dưới dàn hoa cũ,” “Nỗi niềm,” “Mộng đêm xuân”…

Với tôi, đó là những hồi ức nóng hổi và, ước mơ vô thức của những khao khát trở lại. Quay về. Trên những khuôn nhạc mang tính lãng mãn thời đầu, tuổi trẻ.

Ông cho biết, nếu không tính ca khúc “Đò ngang” viết chung với nhạc sĩ Y Vân, thì “Hoa soan bên thềm cũ,” là sáng tác thứ nhất của ông, được mua và in thành nhạc lẻ, bởi nhà xuất bản An Phú, năm 1956.

Thời đó, việc “lancer” một ca khúc mới hòan tòan trông vào đài phát thanh. Tuấn Khanh có được cái may mắn hơn những nhạc sĩ khác ở chỗ, vừa là nhạc sĩ chơi violon cho hầu hết những ban nhạc, vừa là ca sĩ hát cho họ, nên “hoa soan bên thềm cũ’ của ông, đã…nở hoa rực rỡ trong các ban nhạc thuộc đài.

Sau khi “nở” giáp vòng, Tuấn Khanh mang tác phẩm của mình đi gặp nhà xuất bản An Phú với hy vọng tràn trề… Nhưng, An Phú đã từ chối với một giải thích lạnh lẽo, dứt khóat nhân danh thị trường:

“Chưa thấy ai hỏi cả! Mang về, ‘lancer’ nữa đi!”

“Làm sao có thể ‘lancer’ được nữa!?! Tác giả tâm sự, “khi tất cả các ban đã lần lượt chơi cho mình rồi! Thời đó, khi một sáng tác bị nhà xuất bản từ chối, thì, tác giả chỉ có nước cho nó vào sọt rác. Quên nó đi để lo viết bài khác thôi!”

Đinh ninh “Hoa soan bên thềm cũ” là đứa con tinh thần chết iểu, Tuấn Khanh cho ra đời “Chiều biên khu.”

Lần này, chẳng biết có phải vì chợt nhớ tới người trẻ tuổi đất Nam Định, chưa được hưởng nhận trọn vẹn nụ cười hàm tiếu hay không mà, khi ca khúc “Chiều biên khu” của Tuấn Khanh giới thiệu qua làn sóng điện mới được 2 lần thì, định mệnh đã gõ cửa (bằng bàn tay nhà xuất bản nhạc lẻ, An Phú.)

Với giọng lưỡi “con buôn,” An Phú bảo:

“Này Tuấn Khanh, hôm trước ông mang đến cho tôi bài ‘Hoa soan bên thềm cũ,’ tôi không mua. Nhưng giờ nghĩ lại, để cho vui vẻ cả hai bên, hôm nay, tôi ký với ông bài đó. Nhưng chỉ ký một năm thôi đấy nhé…” (5)

Vừa tiễn An Phú về, chưa kịp ngủ lại, có tiếng gõ cửa nữa; Tuấn Khanh nghĩ, có thể An Phú bỏ quên chìa khóa xe. Nhưng không phải An Phú mà là nhà Diên Hồng. Ông Diên Hồng vứt một đống giấy tờ lên giường ngủ cho Tuấn Khanh, vào đề ngay:

“Này Tuấn Khanh, ký cho tôi 3 năm bản ‘Hoa soan bên thềm cũ’ đi.”

Bây giờ nhớ lại, tác giả “Nhạt nhòa” kể, lúc đó, ông tóat mồ hôi. Chỉ vài phút trước, ký bản quyền bản nhạc ấy, 1 năm cho An Phú, không biết chữ ký đã khô mực chưa, tới lượt Diên Hồng! Diên Hồng 3 năm, đâu phải ít!

Nhưng muộn mất rồi!

Nghe Tuấn Khanh kể lại đầy đủ diễn tiến cuộc “thương thảo” với An Phú, nhà Diên Hồng ngạc nhiên hỏi, bộ ông thực sự không biết các phòng trà, khiêu vũ trường đang lên “cơn sốt ‘Hoa soan bên thềm cũ’ ” hay sao?

Tuấn Khanh nói, không. Hòan tòan không biết.

“Tôi không hề đến những nơi đó.”

Diên Hồng thất vọng, vớt vát:

“Thế có bài nào khác không?”

“Có ‘Chiều biên khu.’ ”

Diên Hồng đề nghị ký bản quyền 1 năm và, ký thêm 3 năm cho bài “Hoa soan bên thềm cũ,” tính từ ngày ca khúc ấy hết hợp đồng với nhà An Phú.

Kết quả cụ thể bất ngờ của 2 ca khúc được hai nhà xuất bản nhạc lẻ mua bản quyền cộng chung 5 năm, với nhạc sĩ Tuấn Khanh là một niềm vui lớn.

Niềm vui thường có bàn chân hân hoan đi kèm cùng đôi cánh hạnh phúc mới.

Niềm vui này đưa Tuấn Khanh tới một cửa hàng ở khu Passage Eden, nơi chuyên bán những món hàng xa xỉ nhập cảng. Tại đây, ông đã quyết định mua một con búp bê cao hơn thước, làm quà tặng người yêu. Người con gái được Tuấn Khanh chọn, để nhận món quà đặc biệt kia là Nguyễn Thị Phương Thư; người bạn đời của Tuấn Khanh sau này. Cô gái họ Nguyễn vốn thuộc dòng danh gia vọng tộc. Thuở đó, nàng đã được chở đi học bằng xe nhà. Nhưng, điều đáng nói hơn cả, theo tôi thì, Nguyễn Thị Phương Thư chính là nguồn cảm hứng của ca khúc “Hoa soan bên thềm cũ” cùng nhiều ca khúc khác của Tuấn Khanh.

Tôi vẫn nghĩ, đám đông (từ thế hệ này, qua thế hệ khác,) đã không song phẳng, không công bình khi hầu hết chỉ biết ơn tác giả, những người đem tới cho họ những món ăn tinh thần, những rung cảm thanh khiết, nuôi lớn tâm hồn họ mà, bẵng quên rằng, tất cả những tác phẩm có một giá trị nào đó, thường đi ra, bắt nguồn hay, được khích lệ từ một người “vắng mặt.”

Những tình khúc nổi tiếng khác của Tuấn Khanh, như “Chiếc lá cuối cùng,” “Một chiều đông,” “Dưới dàn hoa cũ,” “Một ngày chờ mong,” vân vân...cũng đi ra từ những người “vắng mặt” đó.

Ông nói:

“Bản nhạc nào tôi viết đúng với tâm sự của mình thường dễ đi vào lòng người hơn những bài thương vay khóc muớn. Tuy nhiên, cũng có những bài tôi viết từ cảm xúc trước một câu chuyện, một tâm sự của người khác. Và những bài này, cũng được thính giả đón nhận.”

Về định mệnh riêng từng ca khúc, Tuấn Khanh cho biết, tình khúc “Những chiều tan học,” ông sáng tác trước tháng 4-1975, cho một nữ sinh trường Trưng Vương. Nhân vật này, có một năm được trường chọn cưỡi voi, trong dịp Lễ Hai Bà Trưng.

Rất tiếc, ca khúc ấy không được đón nhận rộng rãi.

Đầu năm 1983, tỵ nạn tại Hoa Kỳ, Tuấn Khanh có tình khúc “Từ đó khôn nguôi,” được nhiều người yêu thích.

“Nhưng đó chính là bài ‘Những chiều tan học’ được tôi sửa đổi ít nhiều.”

Tuấn Khanh tiết lộ.

Tính tới tháng 4 năm 1975, nếu gồm luôn cả những sáng tác chưa được in thành nhạc lẻ thì, tổng số ca khúc của Tuấn Khanh đã lên con số trên dưới 100 bài. Con số này tương đối “khiêm tốn” đối với những nhạc sĩ chạy đua cùng thị hiếu. Nhưng với một người trân trọng, nâng niu âm nhạc, như Tuấn Khanh, là con số không nhỏ!

Nếu lãnh vực sáng tác ca khúc như một bản ngã thứ hai, cùng Tuấn Khanh đi suốt hành trình nhân thế thì, sự nghiệp ca hát của tác giả “Nỗi niềm” lại chấm dứt từ năm 1970. Tới nay, ở quê người, vẫn còn nhiều thính giả mong đợi Trần Ngọc / Tuấn Khanh hát lại, nhưng ông không thể. Ông thú nhận:

“Tôi không có khả năng nhớ ca từ. Ở trong phòng vi âm, cầm bản nhạc mà hát, tôi nghĩ khó ai có thể vững vàng hơn tôi. Nhưng lần nào bước ra sân khấu tôi cũng bị khớp! Chưa hát mà mình đã chuẩn bị ‘bịa’ lời cho những đọan mình sẽ quên, thì làm sao hay được?!”

Sau khi suy nghĩ, cân nhắc, cuối cùng tác giả “Nhạt nhòa” quyết định chỉ giữ lại cho mình, hai trong ba sở trường là sáng tác ca khúc và, chơi đàn violon.

Tôi nghĩ, quyết định chỉ giữ lại 2 trong 3 sở trường của nhạc sĩ Tuấn Khanh, với thời gian, hy sinh này ông đã được bù đắp. Ông không chỉ có nhiều thì giờ hơn dành cho ca khúc mà, những năm, tháng tỵ nạn tại Hoa Kỳ, ông cũng là một trong số ít các nhạc sĩ (thuộc thế hệ khởi nghiệp sau Hiệp định Geneva,) vẫn duy trì được sức sáng tác sung mãn cho sự nghiệp âm nhạc của mình. Kết quả cụ thể là gia tài tinh thần của ông đã gia tăng nhiều sau những sáng tác được yêu thích như “Hoa soan bên thềm cũ,” “Chiều biên khu,” “Quán nửa khuya,” (viết chung với Hòai Linh,) “Vườn đời,” “Hai kỷ niệm một chuyến đi” (viết chung với Hòai Linh”…

Kể từ đầu năm 1983 (năm Tuấn Khanh định cư tại Hoa Kỳ,) tới tháng 6 năm 2009 vừa qua, ông đã viết được gần 70 ca khúc.

Khởi đầu giai đọan tỵ nạn, Nhạc sĩ Tuấn Khanh đã thành công ngay, với 2 ca khúc phổ từ 2 bài kinh nhan đề “Kinh cầu nguyện lậy Cha” và, “Tôi tin.” Sự thành công này, đã dẫn đến việc ông được bầu làm Chủ tịch Hội thánh của Mục sư Nguyễn Trọng Nguyên, ở miền nam Cali.

Kế tiếp, những tình khúc khác của Tuấn Khanh cũng ra đời và được nhiều thính giả đón nhận như đón nhận những dòng sữa thương yêu, thầm thì kỷ niệm. Trong số những tình khúc này, ta có thể kể những bài tiêu biểu như “Nỗi niềm,” “Nhạt nhòa,” “Tháng chín dòng sông,” “Tại vắng anh” (viết theo thể điệu Blue,) vân vân…

Tuy cõi giới âm nhạc Tuấn Khanh là cõi giới dịu dàng, thơ mộng, nhưng mọi chân trời đều không giới hạn được đường bay của cánh chim khát khao mới. Thời gian không trói buộc được tài năng của người nhạc sĩ họ Trần. Ông vẫn băng băng đi tới những kiếm tìm tận cùng chân mây;chinh phục những đỉnh ngọn thách đố khác.

Tôi cho chỉ có khát khao đi với tài năng vừa kể của Tuấn Khanh, mới giải mã được hiện tượng, ở tuổi 70, trong vòng 1 năm thôi, ông đã thành công với 52 bài thiền ca - - Đa phần phổ từ thơ của Ni sư Chân Thiền, và một số thơ của nhiều nhà thơ khác.

Sự dài hơi hay nội lực sung mãn của Tuấn Khanh cũng giải mã cho những nhánh sông âm nhạc của ông. Điển hình, từ ca khúc đầu nguồn là “Chiếc lá cuối cùng,” theo dòng, ông có “Một chiều đông,” “Dưới dàn hoa cũ,” “Tại vắng anh,” “Tháng chín dòng sông” và “Nợ nhau một chút giận hờn.”

Cũng vậy, từ ca khúc đầu nguồn là “Hoa soan bên thềm cũ,” theo dòng, ông có “Vườn đời,” “Chiều biên khu,” “Đêm này nghỉ đỡ chân,” “Nỗi niềm,” “Nhịp đôi vai,” “Một sớm anh về,” và “Mộng đêm xuân.”

Được mô tả là một nhạc sĩ lãng mạn với khả năng lao tác tinh thần bền bỉ hiếm thấy, đem hương thơm đến các tâm hồn yêu nhạc nhiều thế hệ, có thể không nhiều người biết rằng, trong đời thường, nhạc sĩ Tuấn Khanh là một người rất nặng tình thần gia đình. Ông cũng chủ trương chống lại thói quen lạm dụng hai chữ “nghệ sĩ” để sống luông tuồng, thiếu đạo lý.

Về bút hiệu Tuấn Khanh ông cho biết, đó là hợp âm của hai tên gọi: “Tuấn” tên ông anh lớn - - Người khai tâm âm nhạc cho tác giả “Quán nửa khuya,” khi ông còn tấm bé. Và “Khanh” là tên một người con trai của ông anh lớn. Người cháu trai của tác giả “hai kỷ niệm một chuyến đi” ra đời trong lúc ông chuẩn bị chia tay gia đình, di cư vào miền Nam, năm 1955.

Về giới hạn nên có của hai chữ “nghệ sĩ,” Tuấn Khanh cho biết, ông không đồng ý quan điểm của một số nghệ sĩ cho rằng nhạc sĩ không…có tuổi.

Ông quan niệm chỉ trái tim của một nghệ sĩ hay, nhạc sĩ là không có tuổi. Còn bảo rằng nhạc sĩ là lọai người không có tuổi…già thì không đúng!

“Hiển nhiên ai rồi cũng sẽ phải già đi theo thời gian. Giữ gìn cách mấy thì tóc của ta sớm mụôn gì cũng bạc. Sức khỏe sẽ mỗi ngày một thêm yếu kém…”

Và ông kết luận:

“Đó là lý do từ hồi nào giờ, tôi rất phân minh trong mọi giao tiếp. Người lớn ra người lớn. Người bé ra người bé. Dù trong giới nghệ sĩ với nhau, tôi cũng không thể chấp nhận tình trạng ‘cá đối bằng đầu’. Ai cũng có thể ‘anh anh / em em’ như nhau được!”

Ông kể lại một câu chuyện mà sau đó, ông đã lắc đầu ngao ngán! Đó là câu chuyện ông tình cờ gặp một nhạc sĩ lớn tuổi hơn, nên ông gọi bằng “anh” xưng “em.” Bất đồ, trước khi chia tay, ông lại gặp một người con của ông nhạc sĩ ấy. Khi gặp ông, người con nhạc sĩ kia đã thản nhiên gọi ông bằng “anh,” và xưng “em” với ông, trong trạng thái vui mừng, được gặp gỡ!

Tôi không biết có phải vì Tuấn Khanh được nuôi dưỡng trong truyền thống đạo đức, lễ độ ngay từ cách xưng hô của gia đình hay không, nhưng rõ ràng, cho đến bây giờ, dù đã ngòai 70, mà, hai người chị lớn của ông tên Kim, và Liên còn ở Việt Nam, vẫn theo dõi sít sao mọi sinh họat nghệ thuật cũng như đời thường của ông. Cách nhau cả một đại dương, như ngày nào, hai bà vẫn không ngừng khuyến khích, góp ý với ông, trong tất cả mọi sinh họat, từ tinh thần, tới xã hội.

Đối với tôi, tình gia đình kia, là một hạnh phúc đáng kể, của nhạc sĩ Tuấn Khanh.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin trích đọan một bài viết của Hồ Huấn Cao, viết trong chương trình “Tác giả và tác phẩm” cho đài phát thanh VOA, phát thanh về Việt Nam hồi trung tuần tháng 10 năm 2000, như sau:

“Giải thích cho sự thành công của cõi nhạc Tuấn Khanh, những nhân vật có thẩm quyền về âm nhạc, cho rằng, Tuấn Khanh có trong tay chiếc chìa khóa mở được cánh cửa ngôi đền âm điệu; mà, những người viết nhạc quen gọi là ‘melody.’

“Mỗi ca khúc của ông mặc khóac một âm điệu khác nhau. Nhưng có chung một mẫu số. Mẫu số thiết tha. Mẫu số chân thật. Mẫu số đáp ứng rung động trái tim nhiều người.

“Sâu hơn nữa, có người còn thêm rằng, bên cạnh khả năng trời cho kia, Tuấn Khanh còn là một thi sĩ. Nơi bất cứ ca khúc nào của ông, thỉnh thỏang, người ta cũng bắt gặp những hình ảnh, những ngôn ngữ rất thi ca; rất trữ tình và, cũng rất bất ngờ.

“Thí dụ trong ca khúc ‘Nhạt nhòa,’ một trong những sáng tác Tuấn Khanh viết tại quê người, khi bắt gặp những câu như ‘lẻ bóng rưng rưng – tình nỡ quay lưng – trong chiều hấp hối,’ người nghe không khỏi bâng khuâng, xao động.

“Trong đời riêng, mỗi chúng ta, mấy ai không có ít nhất một lần, bỗng không, tức tưởi. Bật khóc một mình.

“Trong đời riêng, mỗi chúng ta, mấy ai không ít nhất một lần, cất tiếng hỏi, cớ sao ‘tình nỡ quay lưng’ (?)

“Câu hỏi, theo tôi, dành cho tình yêu, chứ không phải người yêu.

“Câu hỏi dành cho sự tha thiết, lẽ sống chết của tâm hồn ta, của chính ta - - Chứ không phải câu hỏi dành cho kẻ phản bội.

“Câu hỏi và cách hỏi đó, là câu hỏi và cách hỏi rất thi sĩ, rất văn chương vậy.”

(July 31 09)

(1) Nhạc sĩ Tuấn Khanh / Trần Trọng Ngọc sinh năm 1933, tại Nam Định.

(2) Đến giờ, vẫn không ai biết được một cách chính xác T.T.Kh là ai, mặc dù bút mực đã đổ ra khá nhiều, chung quanh 4 bài thơ của tác giả này.

(3) Theo Bách khoa tòan thư mở Wikipedia, thì tác giả Bà Huyện Thanh Quan tên thật Nguyễn Thị Hinh, sinh năm 1805(?,) mất năm 1848(?,) là người làng Nghi Tàm, huyện Hòan Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội,) giỏi thơ văn thời Minh Mạng và Tự Đức... Tên Bà Huyện Thanh Quan, xuất phát từ sự kiện chồng bà từng giữ chức tri huyện Thanh Quan.

(4) Nhạc sĩ Ngọc Bích (1924-2001) còn nổi tiếng với những ca khúc như “Mộng chiều xuân,” “khúc nhạc tương tư,” Trở về bến mơ,” vân vân…

(5) Tác quyền 1 ca khúc in thành nhạc lẻ, thời đó là 1,500$ cho hợp đồng 1 năm. Trong khi lương công chức phù động là 2,100$/1 tháng.

phamlang
#2133 Posted : Saturday, January 23, 2016 1:52:53 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,510
Points: 4,746

Thanks: 1668 times
Was thanked: 996 time(s) in 644 post(s)
Tản mạn về những con đường Sài Gòn



Đường Hai Bà Trưng

Bài viết này của nhà văn Bình Nguyên Lộc đăng lần đầu trên báo Nhân Loại năm 1957, sau đó được in trong tập truyện “Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc”, xuất bản năm 1966. Đây là một tản văn thú vị về đường phố Sài Gòn ngày ấy…

Đi trên đại lộ Hai Bà Trưng tôi bỗng sực nhớ lại một điều rồi tủi thân cho bọn đàn ông của ta. Là hễ đàn ông được danh vọng thì đàn bà cũng thơm lây, nhưng khi đàn bà nổi danh thì tên tuổi đàn ông chìm sâu thêm.

Đành rằng ông Thi Sách chỉ có mỗi một cái công nhỏ đối với nước nhà là bị viên thái thú Tàu giết thôi, nhưng quên mất ông ấy cũng tội. Vậy nên tôi đã đi khắp Sàigòn để tìm xem có con phố nào là phố Thi Sách không? Có. Hoan hô quí vị đặt tên đường đã nhớ dai hơn nhân dân.

Nhưng mà tội quá, ông Thi Sách ở mãi bên kia nhà thương Đồn Đất, ở xóm ngoại nhân, không bao giờ có người Việt bước chân đến. Ông nầy đã chết vì tay ngoại nhân mà hương hồn ngày nay vẫn lẩn quẩn với ngoại nhân.

Ông Thi Sách và Hai Bà Trưng chạy song song với nhau cho tới mé nước, và không bao giờ gặp nhau cả, đó cũng là một điểm đáng buồn cho cặp vợ chồng ấy.

Ông Nguyễn Thái Học mà còn ngậm cười được vì đã gặp Cô Giang, Cô Bắc ở hai ngã ba chợ Cầu Muối, đằng nầy ông chồng Bà Trưng chỉ nghe văng vẳng tiếng bà đâu đó thôi.

Bà Sương Nguyệt Ánh cũng không bao giờ đi thăm cha được, vì bà ở xóm Bùi Chu còn cụ đồ lại qui điền mãi tận trên Tân Định.

Vị nữ anh hùng thứ nhì của ta, Bà Triệu, cũng bị ta quên mất vì bà cũng ở xóm ngoại nhân, trong Chợ Lớn. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đô thành đặt tên rất khéo, Công chúa Huyền Trân ở một căn phố buồn hiu, sau dinh Độc Lập, buồn như con đường thiên lý ngàn dặm băng rừng đưa công chúa từ Việt sang Chiêm.

Còn cái phố có nhiều tiệm mì, tiệm ăn và tửu lâu trong Chợ Lớn mà đặt tên là phố Tản Đà thì tuyệt diệu bởi vì Tản Đà không phải là thi sĩ mà thôi, lại còn là thực sĩ nữa.

Nếu đô thành có bất công chút ít, chẳng qua là vì quên đó thôi. Chẳng hạn như ông Phan Huy Chú được nêu danh trong Chợ Lớn mà ông Phan Huy Vịnh lại không.


Góc Hai Bà Trưng và Hiền Vương

Đô thành lại trọng văn nghệ lắm. Không có nhà văn, nhà thơ nào ngày xưa mà không được lấy tên đặt tên phố cả, khiến lũ văn nhân thi sĩ hậu sanh là ta đây cũng nức lòng muốn cố gắng để có thể được biệt đãi như thế về sau. Chỉ phiền văn nhân thi sĩ của thế hệ ta đông quá, mà đường phố chỉ có hạn thôi, dễ gì tìm được một chỗ “mần”.

Có một điều đáng chú ý là họ Nguyễn chiếm đa số trong các phố Sàigòn. Dân tộc ta họ Nguyễn cũng như dân tộc Pháp họ Dupont vậy mà!

Một người Pháp quen biết kể chuyện rằng, thuở Đức chiếm đóng nước Pháp, một ngày kia quân đội Đức bố ráp ở một ngoại ô nhỏ tại Ba Lê để bắt ông Dupont nào đó. Cuộc bố ráp thi hành xong thì chúng bắt được tất cả tám trăm mười bảy ông Dupont, vừa già, vừa trẻ, đó là chúng đã loại trừ những cậu Dupont oắt con ra rồi đó.

Một cựu thông ngôn nhà binh Pháp ở đây cũng kể rằng, một ngày kia Pháp ruồng bố ở làng nọ để bắt Nguyễn Thị Hai nào đó. Chỉ một làng ấy thôi, mà họ đã bắt đến bốn mươi tám Nguyễn Thị Hai chẳn chòi. Vậy thì họ Nguyễn chiếm đến 55 con phố ở Sàigòn – Chợ Lớn không phải là chuyện lạ. Đó là chưa kể những bà Sương Nguyệt Ánh v.v… cũng là họ Nguyễn mà không nêu họ ra. Bà Đoàn Thị Điểm cũng có người bảo thật ra là Nguyễn Thị Điểm, và biết đâu cô Giang, cô Bắc lại không là họ Nguyễn.

Họ Nguyễn được ưu đãi như thế, còn họ Tô không biết vì sao lại ra rìa. Năm kia trên Hòa Hưng có một con phố tên là Tô Hiến Thành. Năm nay không thấy tên phố đó nữa. Ngoại nhân có công với dân tộc cũng được nêu danh, cho công bằng. Nhưng không hiểu ông J.J. Rousseau có công trực tiếp gì với dân tộc ta. Còn ba ngoại nhân khác rất có công là Tích Quang, Nhâm Diên, và Sĩ Nhiếp lại vắng bóng.

Sàigòn có một con phố cong queo một cách rất ngộ nghĩnh, được đặt tên là phố Cống Quỳnh. Thật là khéo, vì cách lập luận và hành động của ông Cống Quỳnh cũng cong cong quèo quẹo như con phố kỳ dị ấy. Tiếc rằng Cống Quỳnh có lẽ chỉ là một nhân vật tưởng tượng thôi.

Sàigòn đặc biệt vì có phố không vỉa hè, thí dụ đoạn phố Đề Thám trước dãy nhà cũ đối diện với hông nhà thờ Tin Lành. Thật ra thì có một vỉa hè rộng độ tám tấc, nhưng đã lì xuống bằng với mặt đường, ô tô tha hồ leo lên và người đi bộ rất lắm khi phải nhảy vào nhà người ta để thoát chết.



Đường Phan Đình Phùng

Lại có vỉa hè mà người đi bộ không được sử dụng, thí dụ vỉa hè Cô Giang tại chợ Cầu Muối. Người đi bộ ở đoạn nầy hễ xuống đường thì bị xe cán, còn lên lề thì bị mấy chị bạn hàng đuổi, vì mấy chị mướn vỉa hè ấy có đóng tiền chỗ đàng hoàng. Thành ra qua đoạn đường đó y như là qua cầu đoạn trường, lên lề thì đoạn tâm, còn xuống thì đoạn cẳng.

Có lắm vỉa hè công khai dùng làm ga-ra, nói công khai vì xe để trên ấy nằm đó năm nầy qua năm khác mà không sao cả. Thế nên chỉ mướn một căn phố bé nhỏ thôi mà người ta có thể mở ga-ra to là nhờ vậy.

Nói đến vỉa hè không thể không chú ý đến những vỉa hè mức độ khác nhau, khách đang đi bỗng sụp chơn suýt ngã. Ấy, nhà bên nầy xây cao một tấc năm, nhà bên kia chỉ xây một tấc thôi mà. Vì mạnh ai nấy xây vỉa hè nên vỉa hè lại mang đủ màu sắc, có quãng xanh, quãng vàng, quãng xám, và lại kiến thiết bằng đủ cả vật liệu: gạch xi-măng, xi-măng trắng, gạch thẻ, gạch Tàu, nhựa, đá ong. Sợ nhứt là vỉa hè đá ong trên đường Thủ Khoa Huân. Đá ong lổm chổm khiến bộ hành không lọi chân cũng trặc cẳng. Nếu đô thành tự làm lấy vỉa hè rồi bắt người ta trả tiền thì tình trạng nầy đã không có.

Bình Nguyên Lộc
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Hạ Vi on 2/1/2016(UTC)
Duy An
#2134 Posted : Wednesday, January 27, 2016 6:11:05 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)



Kỷ niệm 3 năm ngày mất của nhạc sĩ Phạm Duy: những khúc xuân ca còn vang vọng


T4, 01/27/2016 - 16:47
Cung Mi / SBTN


Vào ngày 27/01/2013, nhạc sĩ Phạm Duy đã vĩnh viễn về nằm trong lòng đất mẹ Việt Nam, để lại cho đời khoảng 1,000 ca khúc. Mỗi độ xuân về, những người yêu nhạc vẫn nhớ về người nhạc sĩ tài hoa này.

Trong gia tài đồ sộ các ca khúc của Phạm Duy, những bài nhạc xuân không thật nhiều như tình ca, hay ca khúc viết về quê hương. Nhưng những xuân khúc của Phạm Duy cũng đã đặt dấu ấn thật sâu đậm trong lòng người yêu nhạc, trong những mùa xuân Miền Nam trước 1975.

Trong những chương trình truyền hình Tết của Miền Nam trước 1975, nhiều người còn nhớ ca khúc Hoa Xuân rất thường được nghe. Bài hát quen thuộc đến độ mỗi khi nghe Hoa Xuân, là người ta có cảm giác ngày Tết đang ở quanh quẩn đâu đây rồi. Hoa Xuân được sáng tác vào năm 1953, trong một loạt bài ca tụng thiên nhiên, mùa xuân của đất nước. Giai điệu dìu dặt, êm đềm, với những hình ảnh mùa xuân về với thiên nhiên thật đẹp:

Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn…

Mùa xuân về với thiên nhiên cũng tác động lên lòng người. Đất trời và người cùng đón xuân thật thanh bình trong ý nhạc của Phạm Duy:

…Có một chàng thi sĩ miền quê

Ngắt bông hoa biếu người xuân thì

Có một đàn em bé ngoài đê

Hát câu i tờ đón Xuân về…


Một bản nhạc xuân khác của Phạm Duy, có lẽ được nhiều người hát nhất, đó là bài Xuân Ca. Có thể là vì giai điệu của Xuân Ca viết theo dạng dân ca phát triển, rất dễ hát. Mà cũng có thể là vì lời bài hát chứa đựng một triết lý sâu sa của cuộc sống. Xuân Ca được viết vào năm 1961, trong giai đoạn Phạm Duy viết nhiều ca khúc có cái nhìn mang tính triết học về luật tử sinh của một kiếp người. Trong Xuân Ca, Phạm Duy cho rằng mùa xuân trong một đời người là miên viễn, bất tận. Mùa xuân đã có trong ông từ lúc cha mẹ mới lấy nhau, rồi ông trở thành một bào thai trong bụng mẹ, cất tiếng khóc chào đời, rồi lớn lên với biết bao nỗi vui buồn của tình đời. Phạm Duy yêu cuộc sống, cho nên mong rằng nếu mai này có chết đi, thì lại được tái sinh làm người, để tiếp tục sống trong những mùa xuân nhân loại:

Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về
Xuân âm u, lắt leo trong nguồn suối mơ
Bừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ.

Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi !...
…Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân

Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi !...


Còn một bản nhạc xuân rất đặc sắc của Phạm Duy, nhưng ít có người biết đến. Bản Mừng Xuân được viết đúng vào dịp mùa xuân năm 1974, một năm trước khi Miền Nam Việt Nam thấ thủ, cho nên chưa kịp phổ biến rộng thì đã chìm theo vận nước nổi trôi. Có thể tìm nghe lại ca khúc Mừng Xuân này trên youtube, trong album Xuân 1974 của Shotguns.

Cái hay độc đáo của Mừng Xuân là viết theo dạng lời chúc xuân cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội: chúc chiến sĩ, chúc thương gia, chúc nông dân... Cách viết này rất giống với ca khúc xuân bất tử Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cả hai đều viết ở nhịp valse. Trong khi Ly Rượu Mừng có nhịp nhanh, tưng bừng, thì Mừng Xuân có tiết điệu chậm hơn, khoan thai, trang trọng. Mừng Xuân có điểm hơn Ly Rượu Mừng ở chỗ, vì viết vào những năm tháng cuối cùng của Miền Nam, cho nên lời chúc xuân được “cập nhật” hơn là Ly Rượu Mừng, viết đã từ hơn 20 năm trước. Thí dụ, Mừng Xuân có chúc cho những dàn khoan, cho những khu công nghiệp của đất nước:

… Mừng xuân mới bằng tiếng máy soi, gIữa nơi biển khơi

…Nơi mỏ than, chúc những anh thợ ngoan với cánh tay đẩy lùi nước non

Xin mừng cho những tháp nơi biển xa mãi mãi phun dầu ra mịt mù…

Nhớ lại trong thời gian đó, Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu tìm thấy dầu ngoài Biển Đông. Trong dịp Tết, trong một chương trình hài trên TV, nghệ sĩ Phi Thoàn còn chúc mừng đất nước mình sắp giàu to. Nhưng rồi ông lại còn cảnh báo: nhưng mà phải coi chừng CSVN, không biết có để yên cho Miền Nam thịnh vượng, khai thác dầu hay không? Hóa ra, những lời tiên đoán của ông đều trở thành hiện thực!

Xin mời mọi người cùng thưởng thức những bản xuân ca bất tận của Phạm Duy trên Youtube:

https://www.youtube.com/watch?v=5F1ZSjX1fwU - Hoa Xuân - Thái Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=6txT76ycWeI - Xuân Ca - Duy Quang

https://www.youtube.com/watch?v=jS8U8xxyrEg - Shotguns Xuân 1974


2 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/1/2016(UTC), phamlang on 2/6/2016(UTC)
Duy An
#2135 Posted : Saturday, January 30, 2016 8:06:31 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)


MÙA XUÂN CHIẾN SĨ

Xuân lại về, ôi mùa xuân chiến sĩ
Nhớ làm sao mái ấm những chiều mưa
Lũy tre xanh, hàng liễu rũ đong đưa
Như điệp khúc ru hồn người ly khách

Xuân lại về, nhắc ta lời son sắt
Dẫu phiêu bồng đâu quên chữ bại vong
Thân ngục tù hờn căm cơn vọng động
Xót quê hương cho lệ ứa thiên thu

Bao giờ đây, ta trở về quê cũ
Bên mộ phần Cha Mẹ buổi đầu xuân
Nén hương thơm thêm cõi lòng uất nghẹn
Vì non sông chữ hiếu chẳng chu toàn

Bao giờ đây gặp người yêu áo trắng
Mắt rưng rưng lịm chết tiễn người đi
Em ngây thơ nào biết trước điều chi
Lần chia biệt là trọn đời đôi ngả

Tay trong tay ta nghẹn ngào từ giã
Ðời lưu vong luôn hướng vọng trời Nam
Ðể mỗi mùa én lượn báo xuân sang
Ðành gạt lệ xót xa niềm cố quốc

Bốn mươi năm tuyết sương pha mái tóc
Nửa cuộc đời chôn chặt nợ quê hương
Nửa đời sau ly xứ với đoạn trường
Ai hiểu thấu niềm đau người chiến sĩ ?

Xuân vẫn đến, xuân buồn bao thế kỷ
Ðã hết rồi mơ ước vuột tầm tay
Hy vọng tàn theo gió lững lờ bay
Xuân viễn xứ mang mang sầu chiến sĩ …

nguyễn phan ngọc an – xuân 2016

3 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/1/2016(UTC), phamlang on 2/6/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2136 Posted : Sunday, January 31, 2016 8:04:46 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,215
Points: 3,737

Thanks: 205 times
Was thanked: 648 time(s) in 472 post(s)


mấy trăm lần, mùa xuân

mùa xuân đã đến
quanh đây bao giờ
mà lòng thờ ơ
tim đau nỗi nhớ
hồn đầy dại mê
lạnh lùng tuyết rơi
ngậm ngùi sương rơi
quê hương xa vời
bao năm bao năm
ngục tù gông xiềng
tuồi trẻ đi hoang
tương lai hoang tàn
dân tôi bần cùng

đã mấy trăm lần, nhìn hoa cúc nở
đã mấy trăm lần, lòng vắng như đêm
đã mấy trăm lần, rượu say, nằm ngủ
tỉnh dậy lại buồn, uống nữa cho quên

đã mấy trăm lần, hứa lòng không khóc
đã mấy trăm lần, nước mắt cứ trôi
xuân đến xuân đi, đời còn mấy bước ?
ai khóc ai cười, nhìn cánh mai rơi

non nước xa vời, giòng lệ trong tôi

KheKinhKha

3 users thanked Duy An for this useful post.
Hạ Vi on 2/1/2016(UTC), phamlang on 2/6/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
Users browsing this topic
Guest (7)
106 Pages«<101102103104105>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.