Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages<1234>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
thunder  
#21 Posted : Sunday, March 27, 2011 8:19:03 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Tiếng cười trong ca dao


Bên cạnh mảng ca dao trữ tình, ca dao hài hước cũng phản chiếu một khía cạnh khác trong tâm hồn của người bình dân ngày xưa, chứa đựng tinh thần lạc quan, sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng của nhân dân. Không những thế, tiếng cười trong ca dao cũng chính là những uất ức bất bình , những thái độ ứng xử , điều chỉnh hành vi , hướng tới một cuộc sống tốt đẹp công bằng hơn.

Ca dao hài hước chứa đựng cái nhìn, thái độ, tình cảm của người bình dân trước các hiện tượng đời sống, mối quan hệ tình cảm giữa người với người. Không những thế tiếng cười còn là vũ khí tinh thần giúp họ vượt lên bao khó khăn của đời sống. Tiếng cười trong ca dao phong phú nhiều cung bậc, có khi là tiếng cười trào lộng dí dỏm, có khi là tiếng cười chua chát trước sự thật đáng cười đáng chán, cũng có khi là tiếng cười phản kháng trước thực trạng xã hội còn nhiều bất công ngang trái.

Từ thực tại còn nhiều vất vả cay cực, người bình dân đến với nhau trong tiếng đùa vui, mượn tiếng cười ngỏ bày tâm tình một cách ý vị:

Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn…

Chàng trai ngỏ lòng với cô gái bằng lối nói khoa trương để cho thấy ngay rằng anh đang đùa. Nhưng liệu có phải hoàn toàn là một lời nói đùa không? Có thể hình dung ra hoàn cảnh của đôi nam nữ yêu nhau qua bài ca dao : họ sống nghèo khổ nhưng vô cùng lạc quan. Lời đối đáp có chút tinh nghịch nhưng cũng thoáng chút ngậm ngùi cho phận nghèo. Ngôn ngữ phóng đại khoa trương khỏa lấp đi một sự thật mà người đời quen gọi là “nói khoác” thực ra đã mang một ý vị chua chát đả phá vào những hủ tục ngăn cách con người tìm đến với nhau. Chàng trai đã có những lễ vật dẫn cưới thật sang trọng: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò… nhưng cuối cùng lại là con chuột béo thật ấn tượng. Lí giải thật hợp tình hợp lẽ : con voi to đùng kia là hàng quốc cấm – phép nước luật vua không cho phép, dẫn trâu dẫn bò thì lo họ hàng nhà gái máu hàn, rút gân – chứng tỏ chàng trai là người “chu đáo” với đàng gái biết bao! Sợ cho nhà gái hay là một lời đay nghiến, mỉa mai những người đã nghĩ ra chuyện thách cưới ác nghiệt khiến cho đôi lứa phải chịu cảnh dở khóc dở cười. Con chuột béo là một thái độ đáp lại bằng cách giễu cợt cay chua. Nhưng lời đáp lại của cô gái dù đùa vui mà lại ẩn chứa một nỗi lòng đáng quí :

Chàng dẫn thế em lấy làm sang
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang…

Ngầm chứa trong lời đáp là sự động viên chàng trai vững tâm để đi đến hạnh phúc. Vẫn là thách cưới nhưng chàng trai hoàn toàn có thể đáp ứng được bằng chính sức lao động của mình. Cái tinh tế trong lời cô gái vừa là phản ứng trước việc thách cưới phá ngang , vừa là mong mỏi chàng trai là người cần cù siêng năng xứng đáng với tấm tình của cô. Không những thế, cô còn đem tới lời nhắn nhủ về sự cần kiệm: củ to mời làng, củ nhỏ mời họ, và không bỏ sót củ mẻ, củ rím, củ hà. Lời đáp khéo léo ấy đem lại niềm hy vọng và lạc quan về hạnh phúc.
Ca dao hài hước còn mang theo những suy ngẫm về thực trạng xã hội phong kiến vốn dành ưu ái đặc quyền cho nam giới. Vẫn là mô típ làm trai cho đáng nên trai nhưng không phải là lời ca ngợi vào khả năng “vá trời lấp bể” mà chỉ là :

Làm trai cho đáng sức trai
Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng

Từ bản chất của những người yêu lao động, người bình dân phê phán và chế giễu những kẻ lười biếng mà huênh hoang. Ý nghĩahài hước toát ra từ hình ảnh đối nghịch : sức dài vai rộng mà lại khom lưng chống gối chỉ để gánh hai hạt vừng. Động tác kia chẳng khác nào mô phỏng hình ảnh các vị chức sắc quan lại chỉ giỏi khom lưng luồn cúi, chống gối quì lụy để tiến thân. Người bình dân chế giễu những kẻ vô tích sự ấy, mang tiếng là gánh vác sơn hà nhưng thực tế chẳng khác nào những bọn vô công rỗi nghề ăn bám người khác. Thật bất hạnh cho những ai vớ phải một ông chồng như thế! Ca dao cũng sẵn những lời ta thán của những người phụ nữ :

Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo

Trong quan hệ gia đình, có lẽ phải gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ thì người vợ mới có chuyện so sánh chồng mình với chồng người. Hình ảnh anh chồng thật thảm hại trong tương quan đi ngược về xuôi với sờ đuôi con mèo. Bất cứ người phụ nữ nào cũng mong muốn chồng mình giỏi giang cáng đáng việc quốc gia đại sự hay chí ít cũng là trụ cột gia đình. Còn anh chồng trong bài ca dao này cứ quẩn quanh xó bếp, nhu nhược hèn kém. Nhưng lời than thở giận hờn ấy không thay đổi được số phận. Than thở thế thôi, dẫu gì cũng vẫn là chồng em , vẫn là nghĩa tình duyên nợ với nhau. Đàng sau lời ca dao ấy là nỗi lòng trĩu nặng, phản chiếu một mong mỏi chồng mình cũng được bằng anh bằng em, để người vợ có thể mở mày mở mặt.

Trong ca dao không chỉ có tiếng cười chế giễu mà còn bao tiếng cười đầm ấm tình thương yêu gắn bó với nhau. Người bình dân biết cười đời và cũng biết cách cường điệu phóng đại những tật xấu của mình để tự cười mình. Không phải là tiếng cười thiên lệch dành cho nam giới mà cả giới nữ cũng có nhiều cái đáng cười. Điểm đặc biệt là tất cả những sự lệch chuẩn ấy đã thành cái đáng yêu trong một gia đình hạnh phúc:

Lỗ mũi em mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Đêm nằm thì ngáy o o…
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!

Chắc không người phụ nữ nào lại tự lôi ra tất cả những “thói hư tật xấu” của mình đầy đủ đến thế với một cách nói phóng đại tô đậm những cái ngược hoàn toàn với chuẩn mực “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” phong kiến. Không hề gò mình ép khuôn vào một cách sống giả tạo gò bó, điều mong muốn của người bình dân là có một gia đình hạnh phúc, một sự thông cảm chia sẻ trong đời sống vợ chồng. Điệp khúc chồng yêu chồng bảo… không hề che giấu niềm tự hào có một người chồng tuyệt vời. Có lẽ các triết lí của các học giả đáng kính cũng rút tỉa ra từ thực tại cuộc sống phong phú đáng yêu này mà thôi: “Vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng thiếu nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ tình si” (Kant). Người chồng yêu vợ như thế quả là hiếm có trong một xã hội vốn khắt khe với những chuẩn mực nặng nề, những qui tắc cứng nhắc . Không những thế, đó chính là sự điều chỉnh hành vi của người bình dân bởi lẽ không người phụ nữ nào lại muốn giữ những nét xấu trong mắt chồng. Cười vui là thế nhưng cũng có ý nghĩa cảnh tỉnh nhẹ nhàng cho việc giữ gìn hạnh phúc. Bởi lẽ chồng yêu thì hạnh phúc nhưng chồng ghét thì là tai họa, là tan vỡ.

Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đã chứa đựng nghệ thuật sống của người bình dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời. Tiếng cười ấy là sức sống tâm hồn khoẻ khoắn của những con người luôn ý thức giá trị bản thân, luôn mong muốn cuộc sống tốt đẹp công bằng.

Được đăng bởi Trần Hà Nam

thunder  
#22 Posted : Sunday, March 27, 2011 11:24:19 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Ca Dao và Lịch Sử


Ca dao, tục ngữ là tiếng nói của dân gian Việt, trải qua nhiều thời đại, từ thời xưa và đến cả thời nay. Ca dao, tục ngữ phản ảnh tâm tư, tình cảm của người dân trong sinh hoạt hằng ngày, không chỉ ở nơi đồng nội mà còn ở thành thị, kinh đô. Tuy là ngôn ngữ dân gian, nhưng ca dao, tục ngữ không phải là tiếng nói bình thường mà là ngôn ngữ có vần điệu, ngắn gọn và vì ngắn gọn, có vần điệu nên dễ phổ biến rộng rãi trong quần chúng.

Từ trước, người ta thường có quan niệm rằng ca dao, tục ngữ là văn chương bình dân, phát xuất từ nông thôn, thật sự ca dao tục ngữ là tiếng nói của nhiều tầng lớp dân chúng, và có lẽ phần lớn tác giả là những kẻ sĩ, cư ngụ ở khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.

Ca dao, tục ngữ là loại văn chương truyền khẩu, biểu hiện nhiều mặt sinh hoạt của quần chúng Việt Nam, nhất là về mặt tình cảm, nên trong ca dao rất phong phú khúc hát trữ tình. Ngoài ra, đặc biệt ca dao, tục ngữ còn biểu lộ những nhận định của dân chúng đối với những hành vi tốt, xấu của con người trong xã hội khi giao tiếp với nhau, hay bình luận, phê phán giới lãnh đạo trong chính quyền hiện tại, hoặc trong quá khứ, tức là những nhân vật lịch sử và các biến cố liên quan đến vận mệnh dân tộc và đất nước.

Trường hợp này, ca dao, tục ngữ có thể xem là một hình thức ngôn luận của quần chúng ở thời đại xưa, khi xã hội chưa phát triển, chưa có điều kiện phổ biến dư luận của người dân như là báo chí hoặc các hình thức thông tin trong thời đại mới, mặc dù từ trước đã có thư tịch nhưng chỉ là để chuyển tải văn chương, sử liệu, mô phạm (thánh mô hiền phạm) v...v... Bài viết này chỉ đề cập đến phần ca dao, tục ngữ có liên hệ với các vấn đề lịch sử Việt Nam.

Nho giáo từ Trung Quốc truyền sang đất Việt, qua giới nho sĩ, từ trước thường có quan niệm trọng nam khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Nhưng đối với người dân Việt thì không có quan niệm kỳ thị đó, nhất là đối với hạng anh thư nữ kiệt.

Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng

Rõ ràng câu ca dao này đã ca ngợi công đức chống ngoại xâm của Triệu Nữ Vương (tức là Triệu Thị Trinh - mà sử Tàu miệt thị gọi là Triệu ...u : Bà vú Triệu). Sau cuộc nổi dậy chống Tô Ðịnh của Hai Bà Trưng bị thất bại, Bà Triệu noi gương anh dũng đó đã phất cờ khởi nghĩa chống quân Ðông Ngô. Khi Bà đánh giặc, mặc áo giáp vàng cỡi voi xông vào quân địch như vào chỗ không người, xưng danh hiệu là Nhụy Kiều tướng quân. Sau một thời gian dài bị lệ thuộc Trung Hoa, Việt Nam giành được độc lập và Ngô Quyền thiết lập một vương triều tự chủ, sau hơn 10 thế kỷ chịu nhục của người dân dưới ách đô hộ. Nhưng cuối đời nhà Ngô, vì thế lực suy yếu, nên đã có 12 sứ quân nổi dậy, đánh lẫn nhau, làm cho dân tình khổ sở. Các sứ quân đó, trong hơn 20 năm, vẫn xưng hùng xưng bá, không ai chịu phục ai. Kết cuộc, họ phải khuất phục dưới tay Vạn Thắng Vương Ðinh Bộ Lĩnh, tức Ðinh Tiên Hoàng sáng lập ra vương triều nhà Ðinh. Phán xét sự tranh giành quyền lực của các sứ quân và cuộc chiến thắng của Ðinh Bộ Lĩnh, dân gian đã tóm gọn trong câu ca dao:

Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Thật vậy, ở đời muôn sự của chung, nhưng của chung đó không phải là ai cũng có thể chiếm hữu dễ dàng. Phải có tài năng hay mưu lược quyền biến.

Ngôi vua cuối cùng của nhà Lý thuộc về Lý Chiêu Hoàng, tức là Chiêu Thánh công chúa, con vua Lý Huệ Tôn, mới lên 7 tuổị Quyền hành lúc đó ở trong tay Trần Thủ Ðộ. Và Thủ Ðộ đã làm chủ hôn cho cháu là Trần Cảnh lấy Chiêu Hoàng, để chuyển vương quyền qua nhà Trần. Quần chúng có lòng lưu luyến nhà Lý đã tỏ lòng công phẫn và mỉa mai trong câu ca truyền khẩu:

Trống chùa ai đánh thì thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

Dưới đời vua Trần Anh Tông, vì lý do chính trị, đã gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô, Lý (tức Ðịa Lý và Bố Chính), sau đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu. Người Việt vẫn có tinh thần kỳ thị chủng tộc, cho người Chiêm là giống man di, lên tiếng phản đối việc làm này của triều đình nhà Trần

Tiếc thay cây quế giữa rừng
Ðể cho thằng Mán thằng Mường nó leo

Quần chúng còn tiếc thương cho thân phận một vị công chúa, lá ngọc cành vàng, phải lấy chồng man rợ ở phương xa, qua ca khúc Nam Bình, vẫn lưu truyền ở cố đô Huế: "Nước non ngàn dặm ra đi".

Về sau, Chế Mân chết, vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chiêm tìm cách đưa Huyền Trân về nước để khỏi bị hỏa thiêu theo chồng (theo tục lệ Chiêm). Dư luận quần chúng có vẻ khắc nghiệt khi nghi ngờ về tình cảm của Trần Khắc Chung đối với công chúa Huyền Trân trên chặng đường thủy dài ngày đưa công chúa về nước. Người ta xót xa thân phận Huyền Trân, một lần nữa, qua tay Trần Khắc Chung.

Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Ðem vò nước đục lại vần lửa rơm

Nhưng đó chỉ là chuyện đồn đại trong dân gian, không có bằng chứng gì xác thực.

Khi Lê Lợi dấy binh chống Minh, khởi đầu ở vùng Thanh Hóa, sau chiếm lĩnh Nghệ An để mở rộng khu vực chiến đấu, nhân dân đã phấn khởi ca ngợi vùng đất tự do ấy và cổ võ cuộc di dân vào vùng này:

Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô

Các biến cố lịch sử ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân chúng, nhất là loạn lạc. Chiến tranh gây cảnh điêu tàn, chết chóc, nhà tan cửa nát. Nhân dân chỉ biết kêu trời, bày tỏ nỗi oán thán:

Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Em về nuôi cái cùng con
Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Ấy là thảm cảnh của người dân phải thi hành nghĩa vụ tòng quân dưới thời Nam Bắc Triều, xảy ra cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc. Cao Bằng là căn cứ địa trọng yếu của nhà Mạc. Người lính trong câu ca dao trên thuộc hàng ngũ quân Trịnh, được lệnh lên đường đánh quân Mạc, vỗ về vợ con trong buổi chia ly. Từ khi Trịnh Tùng diệt được nhà Mạc, dù với danh nghĩa phù Lê, nhưng tập trung mọi quyền hành vào tay mình rồi xưng Chúa, vua Lê chỉ còn giữ hư vị.

Trong lúc họ Trịnh xưng chúa ở miền Bắc, thì Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa từ trước, gây dần thế lực, đến lúc vững mạnh cũng xưng chúa ở miền Nam. Rồi đôi bên gây nên cuộc Nam Bắc phân tranh, kéo dài đến non nửa thế kỷ. Họ đánh nhau liên miên, xây thành đắp lũy kiên cố, hiểm trở để phòng chống nhau, nên có câu tục ngữ:

Hiểm nhất lũy Thầy
Thứ nhì đồng lầy Võ Xá

Lũy Thầy tức là lũy Trường Dục, do Ðào Duy Từ chỉ huy xây cất. Nhờ lũy này, quân Nguyễn mới chống cự được lâu dài với quân Trịnh, phải lặn lội đường xa, vất vả nên ở thế bất lợi trong việc tiến quân đánh Nguyễn. Cuộc nội chiến Nam Bắc giữa hai nhà Trịnh - Nguyễn kéo dài, nhưng hai phe cũng liên tục kế truyền nghiệp Chúa. Và cũng vì chiến tranh quá lâu dài nên sau cuộc ngưng chiến, với sông Gianh làm giới hạn hai miền Nam Bắc, họ Trịnh tổ chức một xã hội gần như thanh bình ở Bắc. Các vua chúa cũng như quần thần có mức sống xa xỉ, trụy lạc. Theo tập "Vũ Trung Tùy Bút" của Phạm Ðình Hổ, đời chúa Trịnh thứ 12 là Trịnh Sâm thường tổ chức nhiều cuộc vui chơi ở ly cung trên Tây Hồ, sai người xây cất luôn mãi. Mỗi lần vui chơi thì lại có binh lính hầu quanh hồ, các nội thần thì giả làm đàn bà và dân thì bày bán hàng hóa như ở chợ để vua quan mua sắm.

Cũng dưới triều Trịnh Sâm, phế bỏ con cả là Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử (con của sủng phi Ðặng Thị Huệ, thường gọi là Bà Chúa Chè), giao cho Huy Quận Công Hoàng Ðình Bảo làm phụ chính. Khi Trịnh Sâm mất, đảng Trịnh Khải mưu với quân tam phủ nổi loạn, giết Quận Huy và được tam quân (thường gọi là loạn kiêu binh - hạng lính được ưu đãi, tuyển mộ ở Thanh Nghệ = Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần) lập lên làm Chúa, tức là Ðoan Nam Vương. Khi Trịnh Sâm còn sống, ham vui thú ăn chơi, nên mọi quyền hành ở tay Quận Huy. Ông này tự do ra vào cung cấm và có mối liên hệ bất chính với Tuyên phi Ðặng Thị Huê Việc này không tránh khỏi búa rìu của dư luận quần chúng:

Ba quân có mắt như mờ
Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung

Khi viết tập "Vũ Trung Tùy Bút", về việc chúa Trịnh ham mê hưởng lạc, bày cảnh vui chơi làm khổ dân với nhiều sai dịch, Phạm Ðình Hổ đã cho là có sự bất tường. Cho nên hết đời Trịnh Sâm, các con ông là Trịnh Khải và Trịnh Cán vì tranh quyền đã gây rối loạn ở kinh thành. Trịnh Cán (con Tuyên phi Ðặng Thị Huệ) mới được lập lên, với sự hỗ trợ của Quận Huy, chưa được hai tháng, thì bị anh là Trịnh Khải trừ diệt. Và các chúa Trịnh từ đó về sau cũng vì lý do nữ họa mà mất nghiệp:

Sự này chỉ tại Bà Chè
Cho Chúa mất nước cho Nghè làng xiêu

Về chuyện hai anh em họ Trịnh tương tàn, dân gian đã cố lời bàn tán:

Ðục cùn thì giữ lấy tông
Ðục long cán gãy còn mong nỗi gì

"Tông" ám chỉ tước hiệu của Trịnh Cán (Tông Ðô Vương). "Ðục long cán gãy" là nghiệp chúa của Trịnh Cán không tồn tại bao lâu.

Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 19, suốt 200 năm là một chuỗi biến cố đẫm máu. Hết cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, đến cuộc tương tranh Nguyễn - Tây Sơn. Từ lúc anh em Tây Sơn khởi nghĩa, chủ yếu là vua Quang Trung, lập nên một triều đại huy hoàng với nhiều võ công oanh liệt, nhưng khá ngắn ngủi:

Ðầu cha lấy làm đuôi con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Tương truyền đây là một câu sấm ứng vào việc triều Tây Sơn mất nghiệp sau 14 năm. Ðầu chữ Quang (- Quang Trung) lấy làm đuôi chữ Cảnh ( - Cảnh Thịnh).

Một câu ca dao khác, cũng cùng ý nghĩa:

Cha nhỏ đầu con nhỏ chân
Ðến năm Nhâm Tuất (1802) thì thân chẳng còn

Chữ "tiểu" ở trên đầu chữ Quang, ở chân chữ Cảnh. Trong xã hội Việt Nam ngày trước, có hạng sĩ phu, ở lẫn trong dân chúng, thường nhận định về các hoạt động của giới cầm quyền đương thời và đề xuất những câu sấm để tuyên truyền cho một phe phái nào đó. Câu sấm được truyền trong dân gian bằng cách dạy cho trẻ con hát khi nô đùa ở các nơi công cộng. Chẳng hạn câu sấm sau đây, dưới hình thức ca dao, được truyền là của các cựu thần nhà Mạc tổ chức chống Trịnh làm ra để liên lạc với các đồng chí tìm đến cơ sở ở mạn Bắc:

Ai lên Phố Cát Ðại Ðồng
Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?
Có chồng năm ngoái năm xưa
Năm nay chồng bỏ như chưa có chồng

Dù chiến tranh xảy ra giữa hai miền Nam Bắc hết sức khốc liệt, nhưng hai họ Trịnh Nguyễn vẫn thực hiện những công cuộc phúc lợi ở vùng họ cai trị.

Ở Nam, các chúa Nguyễn nhiều đời trấn thủ, mưu cầu an cư lạc nghiệp cho dân chúng. Dưới đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, đường đi qua vùng Hồ Xá - Quảng Trị (tức truông nhà Hồ) thường có bọn cướp ẩn núp, cướp bóc kẻ qua đường. Năm 1722, Chúa sai ông Nguyễn Khoa Ðăng, làm Nội Tán, đi đánh dẹp bọn cướp đó. Người dân ca tụng việc ấy, qua câu ca dao quen thuộc:

Nhớ em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm

Phá Tam Giang ở huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, nơi có 3 sông lớn của Huế (sông Ô Lâu, sông Bồ,sông Hương) chảy về rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Phá này nhiều sóng lớn, thuyền bè qua lại khó khăn, về sau cạn đi.

Sau một thời gian dài, suốt 25 năm, đấu tranh gian khổ, Chúa Nguyễn Ánh đã có thế vững mạnh, tiến quân ra Trung để chiến thắng Tây Sơn. Nhân dân miền Nam vốn có cảm tình với nhà Nguyễn đã truyền câu hát:

Lạy trời cho chóng gió nồm
Ðể cho Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra

Khi Chúa Nguyễn còn ở trong Nam, tổ chức cuộc Nam tiến vào đất Gia Ðịnh, khẩn hoang lập ấp. Dân chúng đồng lòng cổ võ:

Nhà Bè nước chảy rẽ hai
Ai về Gia Ðịnh Ðồng Nai thì về

Vua Gia Long thống nhất sơn hà, lập nên triều Nguyễn, truyền được 13 đời vuạ Kế tục sự nghiệp mở nước của Thế Tổ Gia Long, vua Minh Mạng đã có công dẹp các vụ nổi loạn ở Bắc và Nam, cũng như chống cự ngoại xâm (Xiêm), chiếm Chân Lạp, bảo hộ Ai Lao.

Về nội trị, vua chấn chỉnh luật pháp, chế độ, làm thành một nước có kỷ cương, văn hiến. Trong việc bảo vệ phong tục, vua đã chạm đến tinh thần bảo thủ của người dân miền Bắc, tức là cấm đàn bà mặc váy:

Tháng sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì phải lột quần chồng sao đang?

Dưới triều vua Tự Ðức, nhiều biến cố trọng đại đã xảy rạ Từ những vụ nổi loạn ở miền Bắc, chủ trương phù Lê, như giặc Châu Chấu (có Cao Bá Quát làm quốc sư), Cai Tổng Vàng ở Bắc Ninh, giặc Khách ở Cao Bằng. Ở triều đình, có người anh vua Tự Ðức là Hồng Bảo, âm mưu đoạt ngôi nhưng thất bạị Năm 1886, nhân dịp vua Tự Ðức cho xây Khiêm Lăng ở Vạn Niên (Huế), ba anh em họ Ðoàn (Ðoàn Trưng, Ðoàn Trực, Ðoàn AÙi) khai thác nỗi oán hận của người dân phải đi làm phu gian lao vất vả, nổi dậy chống triều đình. Họ khích động dân bằng câu ca dao:

Vạn niên là Vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Trong cuộc khởi nghĩa nầy, họ Ðoàn tôn Ðinh Ðạo (con của Hồng Bảo - cải họ Ðinh, sau khi Hồng Bảo bị tội, tự thắt cổ chết) làm minh chụ Vụ này cũng không thành công. Ngoài các vụ nổi loạn, triều vua Tự Ðức còn phải đối phó với cuộc xâm lăng của người Pháp.

Tự Ðức là ông vua có tinh thần bảo thủ, từ khước đề nghị canh tân của các sĩ phu, nhất là Nguyễn Trường Tộ, nên vận nước có chiều suy vong. Vua Tự Ðức chỉ là một nho sĩ thuần túy, có tiếng hay chữ nhất triều Nguyễn, ưa thích thi văn, ngâm vịnh. Dưới triều vua, có ông Lê Ngô Cát là một danh sĩ, đã soạn một bộ sử bằng văn vần là "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca". Soạn xong, ông dâng lên vua Tự Ðức ngự lãm. Vua xem rồi ban thưởng cho ông Cát:

Vua khen thằng Cát nó tài
Ban một cái khố với hai đồng tiền

Việc ban thưởng này, có lẽ do chuyện bàn tán giữa các đồng liêu với ông Cát ở triều đình, nhưng lại lọt ra ngoài, nên dân gian đã có lời phẩm bình mỉa mai trên, cho rằng vua Tự Ðức không quí trọng văn tài của người khác.

Sau khi vua Tự Ðức mất, quyền hành ở triều đình Huế thuộc về hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Hai ông này trong bốn tháng đã phế và lập 3 vua: Dục Ðức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc. Cho nên thời đó, trong dân gian có câu, giữa lúc có sự tranh chấp gi"a Pháp và Việt:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT
Tứ nguyệt tam vương triệu bất TƯỜNG

Nghĩa là: Một sông hai nước (Việt - Pháp) không thể thương thuyết, bốn tháng ba vua điềm chẳng lành. (cuối 2 câu có tên hai ông Thuyết và Tường).

Thời gian triều đình Huế khởi xướng công cuộc chống Pháp với các đại thần và các tướng lãnh, dù có tâm huyết nhưng thiếu kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh, nên dân chúng đã có lời bình phẩm có phần khắc nghiệt:

Nước Nam có bốn anh hùng
Tường gian Viêm dối Khiêm khùng Thuyết ngu

Tường là Nguyễn Văn Tường, trước sát cánh với Tôn Thất Thuyết chống Pháp, sau ra hàng. Viêm là Hoàng Kế Viêm, trước cũng chống Pháp, sau được vua Ðồng Khánh phục chức và sai đi dụ hàng vua Hàm Nghị Khiêm là Ông Ích Khiêm, một vị quan thời Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, vì tính khẳng khái, không luồn cúi cấp trên, làm phật ý hai ông Tường, Thuyết nên bị giam vào ngục. Dân gian nói ông Khiêm "khùng vì có tính khí khác thường, ngang bướng, không chịu khuất phục cường quyền. Và "Thuyết ngu", ngụ ý cho rằng ông Thuyết là một kẻ "hữu dũng vô mưu". Dù sao, dư luận quần chúng cũng chê hai kẻ gian dối và khen hai người trung can, nghĩa khí.

Thời Pháp xâm lược nước ta, người dân không khỏi buồn lòng nhìn thế sự rối reng:

Ðêm đêm chớp bể mưa nguồn
Hỏi người quân tử có buồn chăng ai?

Nhất là cảnh quốc phá gia vong với một triều đại suy tàn:

Một nhà sinh đặng ba vua
Vua còn (Ðồng Khánh) vua mất (Kiến Phúc) vua thua chạy dài (Hàm Nghi)

Tuy thua chạy dài, nhưng vua Hàm Nghi với sự phù trợ của Tôn Thất Thuyết và các trung thần, nghĩa sĩ đã phát hịch kêu gọi nhân dân hưởng ứng chống Pháp, khởi xướng phong trào Cần Vương ở khắp nơị Tình trạng trong nước Việt lúc bấy giờ đã phân hóa làm hai:

Gẫm xem thế sự thêm rầu
Ở giữa Ðồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi

Ở giữa, tức là kinh đô Huế, hai đầu là Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi, nơi phát triển phong trào Cần Vương.

Tinh thần ái quốc của người Việt vẫn liên tục sôi nổị Dù công cuộc chống Pháp của vua Hàm Nghi bị thất bại, nhưng đến đời vua Thành Thái, âm mưu chống Pháp vẫn âm thầm trong trí vị vua đã từng giả điên giả cuồng để tránh mắt dò xét của người Pháp.Dân gian phát hiện một hành động của vị vua yêu nước này, mà người ta tưởng lầm là hành vi bất chính, khi vua vốn mang tiếng điên khùng:

Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

Tương truyền vua Thành Thái có tổ chức một đội nữ binh ở ngoại thành, một địa điểm bí mật ở vùng Kim Long và giao cho một vị tướng phụ trách huấn luyện để chờ dịp khởi nghĩa. Nhiều đêm vua xuất cung vi hành để đến xem xét kết quả của việc huấn luyện đó.

Vua Duy Tân lên làm vua lúc mới 8 tuổi, nhưng lớn lên có chí khí và có lòng yêu nước mãnh liệt. Cũng như vua Thành Thái, vua Duy Tân có ý chống Pháp. Vua thường ra ngoài cung điện để xem xét dân tình và tìm cách liên lạc với các nhân sĩ. Ði dạo chơi trên bãi biển, tay vấy cát, người hầu lấy nước cho vua rửa. Vua nói: "Tay nhớp (bẩn) lấy nước rửa, thế nước nhớp lấy gì mà rửa?".

Phong trào Văn Thân bí mật liên lạc với vua để tìm phương cứu quốc. Năm 1915, đảng Việt Nam Quang Phục cử Trần Cao Vân và Thái Phiên hợp tác với vua mưu đồ khởi sư Họ hẹn gặp nhau trên bờ sông Ngự Hà, giả làm người đi câu để tránh tai mắt địch. Rồi mưu đồ phục quốc của vua Duy Tân cũng bị thất bại và vua phải đi đàỵ Người dân Huế thương tiếc vua cùng các nghĩa sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên đã hiến thân vì nước:

Chiều chiều ông Ngự ra câu
Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

Và trên dòng Hương Giang, nhiều năm sau, trên các chuyến đò dọc, người ta còn nghe mấy câu hò trầm thống, bi đát, đầy tâm sự của kẻ mang hoài bão cứu nước không thành:

Trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai mong
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non

Như trên đã nói, ca dao là phản ảnh một phần nào dư luận của quần chúng Việt Nam đối với các hiện tượng trong xã hội ở thời kỳ các phương tiện truyền thông bằng văn tự chưa phát triển.

Với người dân, các hành vi của giới cầm quyền, cũng như hành động của các nhân vật trong nước, đều phải chịu sự bình phẩm, phán xét của công luận. Những hành vi có đạo đức, thiện tâm được khen ngợi, ca tụng, trái lại xấu xa, đê tiện đều bị chê bai, nguyền rủa.

Trăm năm bia đá cũng mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Ca dao, nhất là loại ca dao có liên quan đến lịch sử Việt Nam là tấm bia miệng để đời cho người ta ghi nhớ, là tấm gương cho nhiều thế hệ soi chung và bản thân những câu ca dao đó cũng là những phán xét của lịch sử.

Phương Nghi
xuan hoang  
#23 Posted : Monday, March 28, 2011 1:15:55 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Trẫm nhớ Em

Bùi Giáng


UserPostedImage


Trẫm nhớ em như
Nhớ một người
Rất gần mà cũng
Rất xa xôi
Vì sao? Quả thật
Trẫm không biết
Giải thích thế nào
Cho rõ ra
Chỉ biết rằng em
Đẹp quá chừng
Khiến linh hồn Trẫm
Nhớ mông lung
Nhớ xa vắng quá
Như người lạ
Nhớ một người xa lạ quá chừng.

Edited by user Friday, April 15, 2011 7:28:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#24 Posted : Tuesday, March 29, 2011 2:25:29 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Triết lý dân tộc Việt Nam qua tục ngữ


Võ Thu Tịnh

Về ý nghĩa của tục ngữ, trong Việt-Nam văn-học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã nhận xét: " Các câu tục ngữ là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một trí thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời ... ". (1) Phạm Thế Ngũ, trongViệt Nam Văn học sử giản ước tân biên đã ghi: "Tục ngữ là kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết của người xưa về vũ trụ cũng như về nhân sinh.... Có thể nói đó là một quyển sách khôn mở ngỏ và lưu truyền trong giới bình dân từ xưa đến nay" (2)
Tóm lại, theo các nhà biên khảo nầy thì các câu tục ngữ là một "quyển sách khôn, một kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh" giúp cho dân gian ta "có được một tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời".

Trong các tục ngữ của chúng tôi đã sưu tập, ngoài những câu nói về "mưu sinh" và "tâm lý người đời" ra (như canh nông, thời tiết, nghề nghiệp, phong tục, luân lý, lý sự đương nhiên..., mà ở văn chương truyền khẩu nước nào cũng có), thì phần nhiều là những câu về "cái biết", về "cái khôn" của người đời, rồi đến những câu về "vũ trụ" (như đạo Trời, vận mệnh con người, Phật, tu hành, phúc đức...), về "nhân sinh" (như trung với vua, quan lại tham nhũng, các kinh nghiệm ứng xử khôn ngoan giữa xã hội với nhau). Chúng tôi nghĩ rằng đây là cẩm nang, là bản chúc thư của tiền nhân, truyền lại cho con cháu cả một "triết lý dân tộc" xây dựng trên cái "biết" và cái "khôn", để cư xử cho đúng "đạo làm người", theo "Lẽ Trời và Tình người".

Tuy tiền nhân không nói rõ ra, nhưng con cháu chúng ta phải hiểu rằng dụng ý của các Ngài không ngoài mục đích tối thượng là chỉ đường cho chúng ta "tranh đấu bảo tồn nòi giống, đất nước, chống xâm lăng cho khỏi bị đồng hóa, diệt chủng". Các nhà Nho, các thành phần sang giàu, các thị dân có những sách vở của Nho giáo để căn cứ vào đấy mà ứng xử với nhau. Còn dân gian nông thôn không có chữ, nên trong sự giao thiệp, ứng xử thường ngày, chỉ căn cứ vào các câu tục ngữ, là kho tàng hiểu biết, khôn ngoan, kinh nghiệm mà tiền nhân đã truyền miệng lại cho chúng ta .

Tục ngữ nước ta rất nhiều, không có một trường hợp nào mà dân gian không có thể dùng một vài câu tục ngữ để minh chứng cho thái độ, hành vi của mình. Ở bài "Parémiologie viêtnamienne et comparée" ("Tục-ngữ- học Việt Nam và đối chiếu"), học giả Thái Văn Kiểm có kể lại câu chuyện về công dụng của tục ngữ trong một việc tranh chấp giữa dân gian với nhau, tóm lược như sau: " Trước đây có một lái buôn bán cho người Việt Thượng một cái áo bằng vải bông giá 50 đồng, trả được 30, còn thiếu 20 đồng, thì người Thượng bỏ lên núi không thấy quay lại thanh toán. Sau một thời gian khá lâu, người lái buôn gặp lại người Thượng xuống đi chợ, liền túm lấy dẫn đến viên cai trị người Pháp để kiện. Người Thượng nói áo mua, vải không tốt, không xứng 50 đồng, nay y chịu trả thêm 10 đồng nữa mà thôi . Còn người lái buôn nhất định đòi cho được 20. Viên cai trị Pháp xét việc cũng không có gì rắc rối, mà y lại nói tiếng Việt và tiếng Thượng thông thạo, thấy không cần gọi viên chức Việt đến giúp. Không ngờ suốt cả buổi mai y giải thích luật lệ, khuyên dụ đủ mọi cách, mà cả hai bên nguyên bị vẫn không ai chịu nghe theọ Cùng lắm, y cho gọi viên chức Việt đến. Viên chức Việt chỉ nói qua nói lại có mấy phút mà người lái buôn bằng lòng nhận 10 đồng. Viên cai trị Pháp lấy làm lạ, hỏi, thì viên chức Việt kể lại là đã dùng các câu thành ngữ, tục ngữ để nói với người lái buôn rằng: "Anh cho người Thượng mắc chịu như vậy cũng như "thả trâu vô rú", nay được người Thượng bằng lòng trả thêm 10 đồng, là như "của đổ mà hốt lại" thôi . Xưa nay anh có thấy ai hốt của rơi lại cho đủ không? Ông bà ta thường nói: "gạo đổ lượm chẳng đầy thúng". Bây giờ họ bằng lòng trả 10 đồng là được rồi, chớ bày chuyện kiện cáo vì tục ngữ ta có câu: "được kiện mười bốn quan năm, thua kiện mười lăm quan chẳn ". Khôn dại, hơn thiệt thế nào, là một thương gia, anh hẳn thấy rõ." Người lái buôn cho là phải, nên nghe theo" (3)

1- Khôn dại trong thi ca


Vấn đề "khôn dại" rất quan trọng trong việc xử thế, cho nên trong văn thơ của các bậc thức giả xưa nay, vẫn thường thấy được nói đến. Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi, trong Quốc-âm thi tập, đã nêu lên vấn đề "khôn dại" nầy: "Chẳng khôn chẳng dại, chỉ ương ương, "Chẳng dại người hòa (tất cả) lại chẳng thương" đại ý nói rằng nếu ta chẳng chịu nhận là dại thì tất cả mọi người chẳng ai thương mình... đến thế kỉ thứ XVI, trong Bạch-Vân am quốc ngữ thi tập, Trạng Trình cũng phân biệt hai chữ "khôn dại" như sau: "Khôn thì người dái (sợ, nể), dại thì thương, "Nhắn bảo bao nhiêu người ở thế, "Chẳng khôn đành dở, chớ ương ương" Nghĩa là: Khôn thì thật khôn cho người ta sợ, dại thì rõ ràng dại đi cho người ta thương, nếu không khôn được thì đành chịu dại, chớ không nên ương ngạnh.

Vào cuối thế kỉ thứ XIX, khi người Pháp bắt đầu đặt quyền thống trị ở nước ta, Nguyễn Khuyến cáo bệnh từ quan, làm ra vẻ ngây ngô để khỏi bị ép ra làm việc lạị Ở Nam định thời bấy giờ, có một người đàn bà tên là Mẹ Mốc, chồng đi mất tích (có thuyết cho là theo kháng chiến), bà giả điên giả cuồng và hủy hoại nhan sắc để khỏi bị chọc ghẹọ Nguyễn Khuyến thấy tâm sự của bà giống với tâm sự của mình, nên cảm tác ra một bài hát nói, có câu kết như sau: "Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ, "đắp tai, ngảnh mặt làm ngơ, "Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây"Khôn kia dễ bán dại nầy..." (4)

Rồi đến đầu thế kỉ thứ XX, Trần Thế Xương cũng than lên: "Thiên hạ đua nhau nói dại khôn, "Biết ai là dại, biết ai khôn? "Khôn nghề cờ bạc là khôn dại, "Dại chốn văn chương, ấy dại khôn..." Vấn đề "khôn, dại" nầy, từ thời xa xưa, ở Trung Hoa, Khổng Tử (551- 479 t.T.L.) cũng đã nêu ra để giảng dạy cho các môn đệ, rằng: "Ninh Võ Tử, khi trong nước có đạo lý thì ông ta tỏ ra có tài trí (để ra làm việc), nhưng gặp khi chính quyền vô đạo, thì ông làm như ngu dại (để khỏi bị ép ra cọng tác, tiếp tay với quân cường bạo sát hại nhân dân). Cái khôn của ông nhiều người làm được, đến như cái ngu của ông thì không mấy ai bì kịp." (5)

2- Khôn dại trong tục ngữ


Trong các câu tục ngữ của ta, dân gian đã nói nhiều về "khôn" dại", và đặc biệt, cũng có một câu giống như các câu thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa thấy trên đây: "Khôn cho người dái (nể, sợ), dại cho người thương "Dở dở ương ương, tổ cho người ta ghét" Nhưng vì sao dân ta cho rằng cần phải phân biệt dứt khoát "khôn", "dại" như thế? Nguyên là trải qua bao thế kỉ, dân tộc Việt thường xuyên phải chọn lựa giữa hai con đường: đầu hàng, cộng tác với địch, hay kháng chiến chống lại với ngoại xâm và bạo quyền tàn ác. Con đường nào là khôn? Con đường nào là dại.

Nhưng khôn hay dại, thường bị các thành kiến chủ quan thiên lệch của người đời chi phốị Lắm khi, điều mà ta cho là khôn, thì người khác lại cho là dại, hay ngược lại, như trong cổ tích "Trâu rừng với trâu nhà ": "Trâu rừng chê trâu nhà là dại, vì để cho chủ bắt làm việc cực nhọc, rồi cuối cùng cũng bị chủ làm thịt, và cho mình là khôn vì đã chọn cuộc sống tự do, không bị cưỡng bách lao lực. Còn trâu nhà thì chê lại trâu rừng là dại, vì ở rừng bị đói khát, nhất định có ngày sẽ bị beo cọp ăn thịt, và cho mình là khôn vì thường ngày có cỏ để ăn, có nhà để ở, khỏi bị dãi dầu mưa nắng, khỏi bị thú dữ sát hại. Bên nào cũng tự cho mình là khôn hơn bên kia, và cảnh cáo lẫn nhau: "Khôn thì sống, mống (dại) thì chết". (Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, tập 2, tóm lược truyện số 28).

Trong suốt bao nhiêu thế kỉ bị ngoại thuộc hay hay bị kềm hãm dưới các chế độ bạo ngược, cái "khôn thật", "khôn giả", và cái "dại thật", "dại giả" thường bị lẫn lộn với nhaụ Tuy vậy, dân gian không phải là không phân biệt được, song không dám nói rõ ra, mà trái lại, thường còn làm như dại khờ không biết đến. Cũng như Nguyễn Khuyến, dân gian đã có câu kín đáo tự hào rằng: "Rù đầu, giả dại, làm ngây, "Khôn kia dễ bán dại nầy mà ăn !"

Sau đây, chúng tôi xin mượn lời của Lê Văn Siêu, tác giả Văn minh Việt Nam, để giải thích thêm về vấn đề nầy: "Làm thế nào khác hơn được? khi một dân tộc bị sống trong hoàn cảnh đe dọa diệt tộc thường xuyên, bởi một kẻ mạnh gấp trăm ngàn lần mình, ở ngay bên nách mình, nếu chẳng nghĩ tha thiết đến sự sống còn, đến con cái nối nghiệp, thì chỉ sơ sẩy để đầu óc viễn vông một chút thôi, cũng đủ mất tích vào trong bản đồ của địch thủ.

Cho nên Trạng Trình, một vị hiền triết được dân chúng kính trọng là có tài tiên tri, đã chỉ dạy có một điều rất gọn: "Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống". Biết tương quan lực lượng giữa mình và người, biết tâm lý khát vọng giữa mình và người, biết dằn lòng chờ cơ hội thuận tiện để thực hiện ý định, biết giả dối để che đậy bí mật hành động cho khỏi hại, biết cương quyết tiến lui, biết cứng mềm tùy lúc, biết thích ứng hoàn cảnh để sống còn, biết lẩn tránh mũi dùi của địch... toàn là những cái biết rất thực tế, có thể kiểm điểm lại qua mọi sự kiện lịch sử, và có thể thấy rất rõ ràng là chính nhờ cái biết ấy mà nước Việt Nam chúng ta còn được tới ngày nay". (6)

"Khôn cũng chết " như Trạng Trình nói, đó là cái "khôn giả"; và "dại cũng chết " như Trạng Trình nói, đó là cái "dại thật". Chỉ ai biết phân biệt được "khôn thật" với "khôn giả", "dại thật" với "dại giả", thì mới có thể sống được mà thôị Cũng như Trạng Trình, tục ngữ đã kết thúc rằng: "Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống"

Xem như thế, "biết" là điều kiện chính yếu để biện biệt cái "khôn" với cái "dại", giúp cho chúng ta có thể thực hiện được "đạo làm người", giúp cho dân và nước Việt Nam chúng ta khỏi bị diệt vong.

Cho nên tưởng trước hết, chúng ta nên tìm hiểu qua các câu tục ngữ : "Biết là thế nào?" và "Khôn là thế nào?"

A) "Biết " là thế nào?

1- Biết là suy xét cho đúng phép: suy chín, xét xa, biết rõ gốc ngọn, vắn dài, đắn đo nặng nhẹ, nông sâu: "Làm người suy chín, xét xa, "Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài" ..."Làm người phải đắn, phải đo, " Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâụ" Biết suy nghĩ rất quan trọng, cho nên dân gian thường nhắc đi nhắc lại cho chúng ta ghi nhớ rằng: "Làm người mà chẳng biết suy, "đến khi nghĩ lại, còn gì là thân."

2- Biết còn là suy đoán phân biệt để nhận diện đúng sự vật. Suy đoán là sở trường của những câu đố. Câu đố - Câu đố có hình thức một câu gọn ngắn có vần hay không có vần, có bản văn nhất định, nhưng câu đố cũng có hình thức một chuyện kể ngắn, không có lời văn nhất định.

Tuy vậy vì nội dung hoàn toàn thuộc về trí tuệ, suy luận, nên chúng tôi vẫn xem câu đố như là một loại tục ngữ. Câu đố thường dùng để mua vui, giải trí sau nhữg giờ làm việc mệt nhọc, nhưng câu đố cũng góp phần không nhỏ với tục ngữ để luyện tập, một cách linh động, tinh thần và lề lối suy đoán, biện biệt cho dân gian.

Ở đây chúng tôi không thể đi sâu vào việc nghiên cứu toàn thể các câu đố, mà chỉ dẫn ra một số câu đố liên hệ hơn cả với cách suy đoán biện biệt, bổ túc thêm về cái "biết" trong các câu tục ngữ mà thôi. Chúng tôi chú trọng nhiều đến các câu đố gọi là đố mẹo, nghĩa là dùng những cách kín đáo, khéo léo để "gài bẩy", làm cho người nghe hoặc không thấy được, hoặc hiểu sai lệch chủ đề, nên không biết đâu mà suy đoán giải đáp.

a) Về loại câu đố mẹo nầy, trước hết, có những câu đố "vừa dố vừa giảng" rất dung dị, song người nghe qua tưởng lầm là vấn đề khó khăn, rắc rối, nên suy nghĩ xa xôi, đi tìm lời giải ở ngoài lời đố, không ngờ lời giảng lại nằm sờ sờ trong câu đố rồi: "Con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt, rõ ràng con cua " "Tổ kiến, kiển tố, vừa đố vừa giảng" đố: Là những con gì, vật gì? Giải: Là con cua và tổ kiến (có ghi rõ trong các lời đố). Người Pháp cũng có một câu đố mẹo như thế: "Quelle est la couleur du cheval blanc d'Henri IV?" (Màu lông con ngựa trắng của Henri IV là màu gì?). Giải: Màu trắng (có ghi rõ trong lời đố).

b) Có các câu đố mẹo khác, trong lời đố cố tình làm lẫn lộn các ý niệm "đồng thời" với "lần lượt", "trọng lượng" với "khối lượng" khiến cho người nghe nào sơ ý, hấp tấp sẽ giải đáp sai: "Luộc 1 cái trứng 4 phút là chín, vậy muốn luộc chín 8 cái trứng phải tốn bao nhiêu phút?" "Một tạ sắt với một tạ gòn, tạ nào nặng hơn tạ nào?" Giải: Luộc chín 8 quả trứng cũng 4 phút thôi (bỏ 8 trứng chung vào một nồi mà luộc đồng thời với nhau). Một tạ sắt và một tạ gòn, không tạ nào nặng hơn tạ nàọ (Vì tạ là 100 cân, thì tạ sắt cũng nặng 100 cân, tạ gòn cũng nặng 100 cân như nhau).

c) Có câu đố mẹo cố tình làm cho lẫn lộn các ý nghĩa (đồng âm dị nghĩa) để đánh lạc hướng người nghe: "Trục trục như con chó thui, "Chín mắt, chín mũi, chín đầu, chín đuôị" đố là con vật gỉ Giải: Con chó thui (Vừa đố vừa giảng; chữ "chín" ở câu nầy không phải là số 9, mà nghĩa là "thui chín", trái nghĩa với "sống")

d) Cũng có câu đố mẹo đã cố tình sắp đặt sẵn một câu giải đáp khôi hài nghe qua cũng hợp lý, mà thật ra thì "lãng nhách" (trả lời không đâu vào đâu cả) và ngộ nghĩnh, để "chọc quê" người giải câu đố: "Vì sao khi hành nghề, mọi tên ăn cắp, móc túi phải nhìn trước rồi nhìn sau? " Giải: Vì hắn không thể nhìn trước và nhìn sau cùng một lượt.

đ) đặc biệt có câu đố mà có thể có nhiều lời giải đúng, như: "Con gì đứng thì thấp, ngồi thì caỏ " Trong sách, thấy ghi lời giải đáp là: "Con chó". Nhưng thật ra, lời giải có thể là "con mèo" vì mèo cũng "đứng thì thấp, ngồi thì cao", như con chó. Mà con beo, con cọp cũng vậy.

Về "đố toán số" cũng có trường hợp một câu đố mà có thể có vô số lời giải đúng. Chẳng hạn như: "Ba người mua trứng. Người thứ nhất mua nửa giỏ và nửa quả, người thứ hai cũng thế (mua nửa só trứng còn lại trong giỏ và nửa quả). Người thứ ba mua số trứng còn lạị Hỏi số trứng là bao nhiêu " Trong sách chỉ thấy ghi có mỗi một lời giải như sau: Số trứng trong giỏ là 7, rồi giảng thêm: Người thứ nhất: Ba quả rưỡi + nửa quả = 4 quả Người thứ hai : (còn lại: 7 - 4 = 3. Phân nửa của 3 = 1 quả rưởi) một quả rưỡi + nửa quả = 2 quả. Người thứ ba: (7 - 4 - 2) = 1 quả. Nhưng thật ra có vô số lời giải đúng khác nữa, như số trứng trong giỏ là 11, 15, 19, 23, 27... chẳng hạn. Số trứng là 11: thì người thứ nhất 6, thứ hai 3, thứ ba 2 quả. Số trứng là 15: thì - 8, - 4, - 3 quả- Số trứng là 19: thì - 10, - 5, - 4 quả. Số trứng là 23: thì - 12, - 6 , - 5 quả. Số trứng là 27: thì - 14, - 7, - 6 quả... Cái mẹo trong câu đố nầy là đưa ra việc mua thêm "nửa quả" trứng. đó là điều trên thực tế không thể làm được.

Điều nầy làm cho người giải câu đố bị hoang mang. Cho nên trước tiên, phải tìm hiểu vì sao lại có việc mua thêm "nửa quả", thì mới tiếp tục suy đoán được. Là vì số trứng trong giỏ là một số lẻ, nếu chia thành hai phần đều nhau (nửa giỏ) thì, trên lý thuyết kế toán, trong mỗi phần sẽ có "nửa quả". Cho tiện việc mua bán, người mua, ngoài phần nửa giỏ trứng ra, lại mua thêm "nửa quả" nữa, cho có được trọn y một quả. Như vậy, số trứng trong giỏ phải là một số lẻ. Từ điều kiện tiên quyết nầy, người giải câu đố mò mẫm với những con số lẻ, từ số nhỏ đến số lớn, từ 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15, 17, 19, 21, 23, 25 đến 27 chẳng hạn ..., thì thấy các con số đáp ứng với các tiêu chuẩn trong câu đố, là 7,11, 15, 19, 23, 27. Và nhận thấy thêm rằng: lấy số 7 mà cọng với 4, hay cọng với các bội số của 4 (cho đến vô tận), thì chúng ta sẽ có rất có vô số lời giải đúng.

Cái hay của câu đố nầy là ở chỗ giúp cho ta hiểu được rằng:

1- Cần đối chiếu với thực tế mà kiểm soát sự việc mới có thể suy đoán hữu hiệụ

2- Thường không phải chỉ có một lời giải (của mình) là đúng mà thôi, cũng có nhiều lời giải khác đúng nữạ Phải có sự "truyền thông" với nhau giữa những thành phần nhân loại.
e) để kết thúc phần nầy, chúng tôi xin dẫn ra một vài câu "đố tục, giảng thanh", chẳng hạn như: "Bộ tịch quan anh xấu lạ lùng "Khom lưng, uốn gối, cả đời cong "Lưỡi to mà sức ăn ra khoét, "Cái kiếp theo đuôi có thẹn không?" Câu đố nghe qua, thì thấy rõ ràng là một thóa mạ" một ông quan "có hành động xấu xa lạ lùng, bên trên thì cả đời khom lưng, uốn gối nịnh bợ, phía dưới thì ra sức hà hiếp, đục khoét dân đen, thử hỏi cái kiếp nô lệ theo đuôi ấy, tự mình có thấy hổ thẹn không?" Lời chê bai, hạch tội có phần tục tằn, sống sượng, nhưng khi giảng giải khác đi, thì nghe thanh nhã: Câu nầy tả cái càỵ "Cái cày hình dáng không đẹp, cán uốn cong, lưỡi cày to, bao giờ cũng phải theo đuôi con trâu để cày". Rồi dân gian, nhân cách hóa cái cày, mà lên tiếng hỏi rằng: "Sống cuộc đời theo đuôi con trâu như vậy, "quan anh" có thẹn không?" (Chữ "quan" trong "quan anh", chỉ "người có địa vị không phải đi phu, tạp dịch trong làng, dưới thời Pháp thuộc" (theo Từ điển tiếng Việt, Nguyễn Lân, 1991).

Kinh nghiệm: Một chuyện mới nghe qua cho là chướng tai, biết đâu nếu đứng vào một lập trường nào khác mà nhìn, thì không phải vậy.
Dân gian biết dùng lối vừa đùa cợt giải trí, vừa đào luyện cho nhau về suy đoán và cân nhắc trong nhận định, một cách không kém phần sâu sắc.

B) Khôn là thế nào?


Khi đã "biết" suy xét, nhận định, suy đoán, thì có thể phân biệt được "khôn" với "dại", để hành động cho khỏi sai lầm:

1- Khôn không phải là làm khôn, (tiếng Việt, có chữ "làm khôn" nghĩa là tỏ ra mình khôn ngoan hơn người và can thiệp, xía vào việc của người khác), như thế chỉ có hại cho mình. "Khôn vừa chứ, khôn lắm lại chết non." Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi đã có câu thơ đại ý như thế: "Hễ kẻ làm khôn thì phải khó." Và Trạng Trình cũng khuyên đừng "tranh khôn" mà có hại: "Tranh khôn ắt có bề lo lắng." Mà trái lại, tục ngữ bảo ta phải biết cư xử cho nhún nhường, khiêm tốn: "Ai nhất thì tôi thứ nhì, "Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba"

2- Mà khôn là thận trọng biết giữ gìn lời ăn tiếng nói. Chỉ vì thiếu tinh thần cảnh giác, không thận trọng, nên người ta thường thốt ra những câu hớ hênh, vô ý thức, gây ra bao nhiêu tai họa cho bản thân và cho công cuộc đấu tranh của toàn dân: " Vạ ở miệng ra, bệnh qua miệng vào." ..." Thứ nhất là tội miệng mà..." Cho nên: "Khôn thì ngậm miệng, khoẻ thì cắp tay" ..."Người khôn đón trước rào sau, "để cho người dại biết đâu mà dò." ..."Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời. "Sông sâu, sào ngắn khôn dò, "Người khôn ít nói, khôn đo tấc lòng."... ..."Người khôn nói mánh, người dại đánh đòn."

Ông cha chúng ta có cách nói gần, nói xa, rào trước đón sau, để khỏi mất lòng người nghe và nhất là để không ai có thể bắt bẻ, hay buộc tội mình được. đó gọi là "nói mánh". (Trong đại Nam quốc âm tự điển, 1896, Huỳnh Tịnh Của định nghĩa chữ "mánh" là "ý tứ, tình ý, màng dò" và "nói mánh" là "nói ý tứ, xa gần, nói ướm thử" để người nghe suy nghĩ mà hiểu lấy).

3- Khôn không phải là quỉ quyệt để làm thiệt hại người khác: "đã khôn lại ngoan, "đã đi làm đĩ lại toan cáo làng." Nếu khôn mà quỉ quyệt, thì trước sau gì cũng: "Khôn ngoan quỉ quyệt chết lao, chết tù..." "Càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều."

Ở tiếng Việt, từ "ngoan" vốn có hai nghĩa trái ngược nhau: "ngoan" là khôn, nhơn lành, (như ngoan đạo, đứa bé ngoan), mà "ngoan" cũng có nghĩa là khó trị, quỉ quái (như ngoan cố, gian ngoan), (đại Nam quốc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của, Saigon, 1896). Trong mấy câu trên đây, từ "ngoan" được hiểu theo nghĩa thứ hai, tức là "gian tham, quỉ quyệt".

4- Mà khôn là thật thà ngay thẳng, vì cuối cùng cái khôn ngay thật bao giờ cũng hơn cái khôn gian trá: "Khôn ngoan chẳng đọ thật thà, "Lường thưng, tráo đấu chẳng qua đong đầy" (đấu: thùng bằng gỗ để đong lúa, gạo; thưng: 1/10 đấu). Tức là: Khôn ngoan không bằng thật thà, ngay thẳng; có gian lận, tráo đổi cũng không bằng làm ăn đứng đắn, lương thiện: đong đầy, cân đúng.

Chưa kể, "khôn" mà làm điều gian ngoan, bất nhân, thất đức, chết đi sẽ bị xuống địa ngục; còn ở đời nầy dại mà hiền lành, chết đi sẽ được lên thiên đàng: "Khôn thế gian, làm quan địa ngục, "Dại thế gian , làm quan thiên đàng"

5- Khôn không dùng để hại dân, bán nước: không phải là đem cái khôn ra chống lại với đồng bào, phản lại quyền lợi chung: "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, "Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau."... ..."Chim không đánh chim cùng một tổ "Trâu một chuồng, đâu có húc nhau "Cùng chung một giọt máu đào, "Nỡ nào hại nước, nỡ nào hại dân." Và "Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chửa có khôn, "Núi Tam Sơn chẳng đậu, lại đi đậu cồn cỏ may !" Dân gian ở vùng của chúng tôi cũng có một câu nữa tương tự như thế: "Chim kia dại lắm không khôn, "Núi Lam Sơn không đậu, lại đậu cồn cỏ maỵ" Lam Sơn là nơi ngày xưa Lê Lợi khởi nghĩa, ở đây "Lam Sơn" dùng để tượng trưng cho "kháng chiến". Câu nầy đại ý nói: Thương hại cho những kẻ dại dột không biết theo kháng chiến cứu nước, mà lại đi theo phường Việt gian (đậu cồn cỏ may là một thứ cỏ, mỗi lần ta ngang qua, thì bị những hạt nhỏ của cỏ móc vào quần, rất dơ bẩn, phải mất thì giờ mới gỡ hết được).

Và cũng có câu: "Gáo đồng múc nước giếng tây, "Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta" . "Giếng tây" là "giếng ở phía tây" mà cũng có thể hiểu là "người Tây"; "múc nước giếng Tây" có thể hiểu là "đem nước dâng cho Tây". Đại ý câu nầy là: Cộng tác với Tây, mà tự cho là mình khôn, nhưng có khôn cho lắm, cũng chỉ là đem thân ra làm nô lệ cho ngoại nhân mà thôi!

6- Mà khôn dùng để giữ vững lập trường, đừng để cho đối phương lung lạc, mua chuộc, dụ dỗ đưa vào con đường bán nước, phản dân: "Người đời phải xét thiệt hơn, "đừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà saị"... "đây ta như cây giữa rừng, "Ai lay không chuyển, ai rung không dời"

7- Khôn mà ý thức được giới hạn của cái khôn. Chính tục ngữ đã vạch ra cho ta thấy rõ
những hoàn cảnh khách quan và chủ quan đã hạn chế cái khôn của người đời:

a) Hoàn cảnh khách quan đã hạn chế cái "khôn", như: tiền bạc, lẽ phải, may mắn, thiên thời, địa lợị.. : "Cái khó, bó cái khôn." ..."Khôn như tiên, không tiền cũng dạị"... ..."Khôn chẳng qua lẽ, khoẻ chẳng qua lờị"... ..."May hơn khôn."... ..."Chẻ vỏ (biết nhiều) vẫn thua vận đỏ."... ..."Người đời ai có dại chi, "Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông." ..."Khôn ngoan ở đất nhà bay, "Dù che, ngựa cưỡi, đến đây phải luồn."

b) Hoàn cảnh chủ quan đã hạn chế cái "khôn", như: dục tình, nhẹ dạ, bản tính trời sinh, già nua lú lẫn... "Miệng khôn, trôn dại" ..."Khôn ba năm, dại một giờ " ..."Khôn từ trong trứng khôn ra, "Dại dẫu đến già cũng dại" ..."Trẻ khôn qua, già lú lại"

Tổng kết Qua tục ngữ, chúng ta thấy được đường lối nghìn năm của ông cha chúng ta, là trường kỳ tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc, của quốc gia, mà triết lý căn bản là: "biết thì sống", biết "phân biệt dại và khôn" để bản thân, nòi giống khỏi bị diệt vong, một triết lý xây dựng trên tình người , trên sự làm lành, đùm bọc, giúp đỡ, cứu vớt lẫn nhau, một lề lối ứng xử chừng mực vừa phải, biết thận trọng, ẩn nhẫn, chịu đựng để thích nghi hóa với mọi hoàn cảnh để sống, để tồn tại, để chờ thời, chờ cơ hội thuận lợi mà vùng lên. Nguyễn Thùy, trong Tinh thần Việt Nam, cho rằng: "Có như thế, dân tộc ta mới tồn tại, mới bảo vệ được tinh thần của mình, mới tiếp thu được mọi thứ của người để có thể thể hiện được một hội nhập tròn đầy cái lý dịch hóa của vũ trụ vạn vật và của con người vào thời kỳ cuối của kỉ nguyên. Cái tính "chấp nhận để từ khước", "hòa mà không đồng", "tỏ ra thua thiệt để không đầu hàng", "chịu thiệt thòi để không mất tất cả", nếu có đưa dân tộc đến chỗ phải gánh chịu nhiều trầm luân, nhưng chính là một cuộc "chạy trốn về đằng trước" rất tế nhị của dân tộc ta để sửa soạn cho một bước đi tốt đẹp vào hồi chung cục. Chịu đựng tất cả để khỏi bị tiêu diệt."

Tóm lại, dân tộc Việt Nam quả đã có một triết lý riêng của mình, triết lý mà ông cha chúng ta dụng ý trối gửi lại qua các câu tục ngữ. Bổn phận con cháu chúng ta là khám phá cho thấy được triết lý ấy, để hành động cho đúng, hầu tiếp tục đấu tranh bảo tồn nòi giống và quê hương. Và danh từ "triết lý" trong đầu đề "Triết lý dân tộc Việt Nam" mà chúng tôi dùng trên đây, tưởng không phải là lạm xưng!?


(1)- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, q. I, Paris, SudAsie, 1986, Tục ngữ, tr. 6,7.
(2)- Phạm Thế Ngũ, Việt-Nam văn-học sử giản ước tân biên, q. I, đại Nam tái bản, Glendale,CẠ, năm ?, tr. 22, 23.
(3)- Thái Văn Kiểm, Parémiologie việtnamienne comparée , in Présence Indochinoise, Paris, No1 - Avril 1979, pp. 81 - 117.
(4)- Nguyễn Khuyến - Mẹ Mốc: So danh giá ai bằng Mẹ Mốc, Ngoài hình hài gấm vóc cũng thêm rạ Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa, Làm thế để cho qua mắt tục. Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc, Tâm trung thường thủ tự kiêm kim.(a) Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm, Giữ son sắt êm đềm một tiết. Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết; Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhợ đắp tai ngảnh mặt làm ngơ, Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thâỵ Khôn kia dễ bán dại nầy ! (a)- Kiêm kim = vàng ròng
(5)- Luận Ngữ, bản dịch của đoàn Trung Còn, Paris, SudAsie, năm ?, chương Công Dả Tràng, tiết 20, trang 76: "Tử viết: Ninh Võ Tử, bang hữu đạo tắc trí, bang vô đạo tắc ngụ Kỳ trí khả cập giã, kỳ ngu bất khả cập giã"
(6)- Lê Văn Siêu, Văn minh Việt Nam, Saigon, Nam Chi tùng thư, 1964, tái bản Glendale CA, Đại Nam, năm ?, tr. 92, 93.
(7)- Nguyễn Thùy và Trần Minh Xuân, Tinh thần Việt Nam, San José CA, Mékong Tỵ nạn, 1992, tr.195-196.
(7) Tinh thần kết hợp cái "khôn" và cái "biết" trong tục ngữ, đã chi phối mọi xử sự, thông truyền giữa dân gian nước tạ Tinh thần ấy cũng phần nào giống với quan niệm kết hợp "khôn" và "biết" trong triết học hiện đại Tây phương. Một giáo sư Pháp, Didier Julia, cũng xác nhận rằng: "Cái "khôn", theo nghĩa xưa, là cái "biết" bằng trực giác về những qui luật của vũ trụ, và theo định nghĩa hiện đại, là cái "biết" về những vấn đề của những người khác. Nói một cách thông thường hơn, cái "khôn" là một khái niệm luân lý chỉ sự "thăng bằng" của phẩm cách con người : sự "tiết độ" (theo Platon), hay sự "chừng mực" của mọi ham muốn. Theo nghĩa ấy, cái "khôn" trái lại với sự "say mê", cũng như trái lại với cái "dại". Cái "khôn" có khuynh hướng hóa đồng với sự "thận trọng".
(8) Từ điển về Triết-học Pháp cũng đã định nghĩa: "La sagesse est le but de la philosophie", nghĩa là "cái khôn là cứu cánh của triết học". (8)
xuan hoang  
#25 Posted : Wednesday, March 30, 2011 7:14:46 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
UserPostedImage


Xuân Tha Hương

Phạm Đình Chương


Ngày xưa xuân thắm quê tôi
Bao nhánh hoa đời đẹp tươi
Mẹ tôi sai uốn cây cành
Vun xới hoa mùa xinh xinh
Thời gian nay quá xa xăm
Tôi đã xa nhà đầm ấm
Sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm

Hoa xưa dần qua biết bao kỳ đâm bông
Riêng ai buồn thương hắt hiu còn trông mong
Và xuân thay áo mấy mùa đợi chờ
Mắt huyên lệ rưng rưng, sầu héo đến bao giờ

Chiều nay lê bước phiêu du
Thầm nhớ xuân về làng cũ
Tình quê chan chứa trong lòng
Chua xót thay sầu tư hương
Đường đi xa lắc lê thê
Thèm khát khao ngày về quê
Để sống vui quê mẹ lúc xuân về

ĐK:
Xuân tới, muôn cánh hoa đào bay khắp nơi
Hương khói lan dưới mưa nhẹ rơi phơi phới
Chiều dâng, sầu lâng, trên đường về mịt mùng
Mây Tần ơi cho nhắn bao niềm thương.


Năm mươi năm trước đây, Phạm Ðình Chương đã viết cho chúng ta Xuân Tha Hương, với trái tim còn đầy ắp hình ảnh của miền Bắc thân yêu đã bị chia cắt từ Hiệp Ðịnh Genève 54.

Theo lời tác giả, bài Xuân Tha Hương được dùng trong một phim loại “ đen ” là “ The Quiet American ” do đạo diễn Joseph Mankiewicz dựng từ truyện cùng tên của Graham Greene vào năm 1958. Truyện này được quay lại thành phim lần thứ hai vào năm 2002, nhưng Xuân Tha Hương không còn và miền Nam cũ nay cũng đã mất.

Cả một khung cảnh xa xưa nay được nhìn lại, với con mắt mới, nhãn quan và thính giác mới.

Trong các ca khúc về Xuân của Phạm Ðình Chương, đây là bài có nhạc thuật cao nhất. Nói như nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, một bạn thân của ông, nhạc Phạm Ðình Chương quả là “ cao mà không xa ”. Riêng với Xuân Tha Hương thì lại rất gần vì từ nửa thế kỷ nay, chúng ta đã có biết bao Mùa Xuân xa nhà rồi. Xa nhà vì chiến tranh và sau chiến tranh còn xa nhà hơn nữa.

Nếu Ly Rượu Mừng là ca khúc ai cũng nhớ, cũng yêu thích và hò hát rất vui trong ngày Tết vì dễ hát dễ nhớ, thì Xuân Tha Hương là khúc nhạc Xuân để hát một mình, trong nỗi ngậm ngùi.

Phạm Ðình Chương viết bài này khi mới 27 tuổi.

Chúng ta hãy so sánh với các sáng tác của lớp tuổi 30 thời nay mới thấy một khoảng cách rất xa. Ông viết với kỹ thuật già dặn của một Dương Thiệu Tước hay Vũ Thành trong loại ca khúc nghệ thuật.

Sau bốn câu của đoạn đầu...

Ngày xưa Xuân thắm quê tôi...
Sống bao Xuân lạnh lẽo âm thầm


Phạm Ðình Chương chuyển qua đoạn hai

Hoa xưa dần qua biết bao kỳ đơm bông...
Mắt huyên lệ rưng rưng sầu héo đến bao giờ


trước khi trở lại giai điệu ban đầu

Chiều nay lê bước phiêu du...
Ðể sống vui quê mẹ lúc Xuân về.


Rất nhiều ca khúc thật hay đã có kể kết thúc như vậy, tròn trịa tràn đầy, vuông vức có thủy có chung, một ca khúc có “ carrure ”. Khác hẳn những bài mà người ta có thể ngừng đâu cũng được như loại truyện tình không đoạn kết, trong đó có Buồn Tàn Thu của Văn Cao.

Nhưng Phạm Ðình Chương không dừng tại khuôn khổ ấy

Ông viết một chuyển đoạn trên nhịp luân vũ còn dìu dặt hơn, như trong một giấc mơ, nhờ rất nhiều vần trắc:

Xuân tới muôn cánh hoa nở bay khắp nơi
Hương khói lan dưới mưa nhẹ rơi phơi phới
Chiều dâng, sầu lắng, trên đường về mịt mùng
Mây Tần ơi cho nhắn bao niềm thương.


Sau đoản khúc có thể là điệp khúc ấy, người ta mới trở lại hai đoạn chính ở ban đầu.

Hai đoạn chính này là để tả tình, tả nỗi nhớ gia đình trong buổi Xuân về. Ðoạn sau cùng mới là tả cảnh, mà là cảnh Xuân miền Bắc, mưa phùn rơi trên hoa đào phơi phới.

Cảnh Xuân ấy mịt mùng tan loãng trong áng “ mây Tần ”, một biểu tượng của nỗi nhớ nhà mà mọi người cùng thế hệ với tác giả đều biết. Cũng vậy, thời ấy, người ta hiểu ý tác giả ở câu “ mắt huyên ” là mắt của mẹ hiền. Sau này, ông dễ dãi chấp nhận “ mắt hoen lệ rưng rưng sầu héo đến bao giờ ” vì âm “ trầm bình thanh ” của chữ đó. Nhưng, thời nay, nhiều người vẫn nghe ra là “ mắt huyền ”. Hình ảnh mẹ già của Xuân xưa đã nhòa trong đôi mắt huyền mơ của tình yêu đôi lứa! Xưa và nay có khác xa.

Viết từ năm 1956, Xuân Tha Hương vì vậy đã báo hiệu cho những bản tình ca tuyệt vời mà Phạm Ðình Chương sáng tác sau này từ ý thơ Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Du Tử Lê, Hoàng Anh Tuấn hay Nguyên Sa, Ðinh Hùng... Ông là người viết “ những bản tình ca không có hạnh phúc ” hay nhất, từ một thành phố đổ nát về chiến tranh mà vẫn nức nở về tình yêu.

Nhạc thuật cao và sang nhưng không xa không khó của Phạm Ðình Chương khiến những bài thơ tình hay nhất đã trở thành phổ biến trong dân gian và còn mãi với chúng ta cùng hình ảnh của Sài Gòn nay đã mất tên. Ðặc biệt hơn cả, Phạm Ðình Chương viết các tình khúc ấy khi còn ở nhà, trước khi vượt biên ra ngoài. Ngay tại Sài Gòn, dù chưa đi ngoại quốc, chưa hề đặt chân lên nước Pháp, ông đã viết những tình khúc tân kỳ nhất. Lê Trọng Nguyễn yêu ông và quý trọng ông cũng vì lòng cảm phục ấy giữa những người đồng điệu.

Quả thật là đã một thời Sài Gòn có phong cách nghệ thuật rất mới chính là nhờ những bài như Dạ “ Tâm ” Khúc, Bài Ngợi Ca Tình Yêu hay Nửa Hồn Thương Ðau của Phạm Ðình Chương.

Khi viết Xuân Tha Hương, ông có thể nhớ về Hà Nội hay quê mẹ ở Sơn Tây. Ngày nay, khi hát Xuân Tha Hương, chúng ta lại nhớ đến Sài Gòn.

Và tìm nghe nhạc Xuân ở trong nước thì lại thấy hương sắc của ngoại ô Hương Cảng.


Xuân tha hương - Trần Thái Hoà

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=iE0wr-_U3k

Quỳnh Giao - Tuesday, January 24, 2006

Edited by user Wednesday, April 13, 2011 6:44:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#26 Posted : Thursday, March 31, 2011 3:14:34 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Sử Nhạc


Dòng máu Việt cuộn trào Hồn Nước Việt, kiêu dũng ngàn xưa, bất diệt ngàn sau. Mỗi chúng ta bất luận sống nơi đâu, đều khao khát dưỡng nuôi hồn đất Mẹ. Đều khao khát một Việt Nam hưng thịnh, không chủ nghĩa phù du, không đảng phái vô lương. Tâm Thơ, Ngô, Nguyễn, Trần, bút mộc mạc đề "Sử Nhạc", hồn hiển linh sông núi Việt chí tình . ...

Tâm thành khơi sóng sử ca
Ghi ơn Tiên Tổ nước nhà thuở xưa
Khấn lời thô thiển xin thưa
Ngưỡng mong chư vị nhủ thương dắt dìu
Việt Nam thời khắc lửa thiêu
Bắc phương xâm lấn gây điều lầm than
Lòng dân cuồn cuộn sóng tràn
Chỉ mong trấn giữ giang san giống nòi
Nay thần dân thuận ý trời
Tấu lên khúc nhạc muôn đời liệt oanh
Sử ca vang tận mây xanh
Khuếch trương dũng khí ngàn năm Tiên Rồng
Xua đi mây xám bất công
Đập tan đảng phái viễn vông độc tài
Diệt quân bán nước tay sai
Quét cho sạch bóng lang sài bắc phương
Khơi lòng tuổi trẻ quật cường
Nung giòng máu đỏ Lạc Hồng năm châu
Một lòng bảo nước gìn non
Giữ gìn cương thổ thi công với đời
Báo ân Thánh Tổ bao thời
Anh hùng dân tộc sáng ngời thanh danh
Cháu con khấn nguyện thâu canh
Sử ca Ngô Nguyễn Trần dâng tấm lòng

Ngô Nguyễn Trần, Tâm Thơ



Nguyễn Thái Học (Ngô Nguyễn Trần - Tâm Thơ)

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=CwmKCvzPdv

Edited by user Thursday, March 31, 2011 6:43:06 PM(UTC)  | Reason: right subject

thunder  
#27 Posted : Thursday, March 31, 2011 6:40:27 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Huyền Trân Công Chúa


“…Quê tôi gần thành Đồ Bàn. Cái kinh đô đã từng in dấu chân của Huyền Trân qua bao cuộc biển dâu giờ chỉ còn lại một bờ thành cũ bằng đất và tháp Cánh Tiên. Ngọn tháp đẹp nhất trong các ngọn tháp của xứ Chămpa, vẫn đứng sừng sững cùng với thời gian. Phải chăng vì có bóng dáng của Huyền Trân nên nó vẫn sáng long lanh như một khối ngọc khổng lồ. Ngọn tháp đẹp đến nỗi dù ở xa tận xứ Trầm Hương này, tôi vẫn thấy nó chiếu sáng từng đêm. Đó là cái Đẹp đã cứu rỗi cả một Dân tộc…(Khuất Đẩu).


UserPostedImage


Thật ra, Huyền Trân (玄珍), sinh năm 1287, con vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông. Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành (Champa) là Chế Mân (tiếng Phạn: Jaya Sinhavarman III) để đổi lấy hai châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay).

Vào năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, trở thành Thái thượng Hoàng, lên tu ở núi Yên Tử, lập nên trường phái Thiền Trúc Lâm, nhường ngôi cho Trần Anh Tông. Năm 1301, Thái thượng Hoàng nhận lời mời, du ngoạn Chiêm Thành, được vua Chiêm là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương). Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành (vì thâm ý muốn mở mang bờ cõi về phía Nam và tránh cảnh chinh chiến cho Dân)..

Năm 1306, Chế Mân cử sứ giả Chế Bố Đài sang cầu hôn, dùng hai châu Ô, Rý làm sính lễ. Vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm Hoàng hậu Paramecvari . Một năm sau đó, khi Hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết Hoàng hậu phải lên giàn hỏa để Tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung và An Phủ Sứ Đặng Vân…vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân.

Sang đến nơi, Trần Khắc Chung nói với thế tử Chiêm Thành: “Bản triều sở dĩ kết hiếu với Vương quốc vì vua trước là Hoàn Vương, người ở Tượng Lâm, thành Điển Xung, là đất Việt Thường: hai bên cõi đất liền nhau thì nên yên phận, để cùng hưởng hạnh phúc thái bình cho nên gả Công chúa cho Quốc vương. Gả như thế vì thương dân, chứ không phải mượn danh má phấn để giữ trường thành đâu! Nay hai nước đã kết hiếu thì nên tập lấy phong tục tốt. Quốc vương đây mất, nếu đem Công chúa tuẫn táng thì việc tu trai không người chủ trương. Chi bằng theo lệ tục bản quốc, trước hãy ra bãi bể để Chiêu hồn ở trên Trời, đón linh hồn cùng về rồi mới hỏa đàn sau”.

Người Chiêm Thành nghe theo lời giải bày của Trần Khắc Chung, để công chúa Huyền Trân xuống thuyền ra giữa bể làm lễ Chiêu Hồn cho Chế Mân. Trần Khắc Chung đã bố trí sẵn sàng, đợi thuyền chở Công chúa ra xa, lập tức xông tới cướp Công chúa qua thuyền mình, dong buồm ra khơi nhắm thẳng về phương Bắc, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm.

Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), Huyền Trân về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, Công chúa Xuất gia ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm 1309, dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng.

Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã qui y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự

Bà mất năm Canh Thìn (1340) Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là “Thần Mẫu” và lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Ngày Bà mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ Hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.

Các Triều đại sau đều sắc phong bà là thần hộ quốc. Vua triều Nguyễn ban chiếu đền ơn Công chúa “trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần” .

Tuy nhiên, một số người đời sau cho rằng câu chuyện này có phần thêu dệt.. nhưng dù sao tuy là phận Nữ nhi, dám hy sinh cả tình riêng và cuộc sống vàng son nhung lụa, dấn bước ngàn trùng, để mưu cầu lợi ích cho Đất nước và muôn Dân, thật đáng được biết ơn và tôn vinh muôn đời.

Người Đời sau khen chê cũng nhiều (tùy theo cách nhìn):

* Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư trách chuyện này:

Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Nguyên Đế thì vì Hô Hàn sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu

* Theo nhà sử học Phạm Văn Sơn trong Việt sử Toàn thư :

Duy việc Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, dù muốn sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng.
Còn người Việt đã thắng một canh bạc không lương thiện lắm lại còn ra bộ não nùng xót xa … .

* Theo Hoàng Cao Khải

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi… !

Câu chuyện về Huyền Trân đã trở thành một đề tài trong Văn học Nghệ thuật:

Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chăm là dân tộc thấp kém nên đã có câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

Tương truyền là bài “Nước non ngàn dặm” theo điệu Nam Bình, có người cho rằng chính Công chúa đã soạn ra trong lúc đi đường sang Chiêm quốc:

Nước non ngàn dặm ra đi…
Mối tình chi!
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô, Ly.
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì.
Số lao đao hay là nợ duyên gì?…

Một số tác phẩm có nói đến Huyền Trân trong Âm Nhạc:

* Trường ca Con đường Cái Quan của Phạm Duy

Năm tê trong lúc sang Xuân
Tôi theo Công chúa Huyền Trân tôi lên đường
Đường máu xương đã lắm oán thương
Đổi sắc hương lấy cõi giang san
Tôi đi theo bước ái tình
Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no
Đèo núi cao nghe gió vi vu
Thổi phấn son bay tới kinh đô….

* Tiễn biệt Huyền Trân của Phạm Duy phổ thơ Đào Tiến Luyện
* Huyền Trân Công chúa của nhạc sĩ Nguyễn Hiền
* Nhớ của nhạc sĩ Châu Kỳ
* Tình sử Huyền Trân của Nam Lộc
* Sương gió Chiêm Thanh – Cổ nhạc

Tình Thân,
Kính.
NNS

Edited by user Friday, April 1, 2011 6:38:32 PM(UTC)  | Reason: font size change

thunder  
#28 Posted : Saturday, April 2, 2011 4:16:55 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Nói về thơ, Nguyên Sa…

UserPostedImage


Ngày cuối tuần, là ngày Thanh minh. Nhớ lại câu Kiều “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh..” để nhớ bổn phận của một người con, của một người cầm bút nhớ lại những người đã ra đi . Nghĩa trang Peek Family ở cuối đường Bolsa , nơi an nghỉ của mẹ tôi, của thầy Nguyên Sa, thầy Nguyễn Khắc Hoạch, thầy Vũ Văn Tiên, anh Mai Thảo, anh Long Ân, Nguyễn Tất Nhiên, và người anh vợ tôi vừa ra đi cách nay vài ngày, ở những ngôi mộ mà ngày hôm nay tôi đến cắm những nén nhang tưởng nhớ. Con đường Bolsa , con đường đặc biệt của người tị nạn Việt Nam, nơi mở đầu một cuộc sống với phố xá ồn ào , cửa hàng tấp nập và chấm dứt đời tị nạn với những ngôi mộ thinh lặng chỉ có cây cỏ và những chú chim dạn dĩ. Trời hôm nay nắng đẹp trải mầu đỏ hồng trong những thảm cỏ xanh rờn. Cuối mùa xuân đầu mùa hè, tầng mây cao vút, thấy trời và đất thật gần nhau và người chết và người sống dường như có những rung động sâu xa từ tâm thức. Đến từng ngôi mộ, nhìn lại di ảnh những người đã khuất , tự nhiên tôi thấy lòng bồi hồi . Chỉ mấy năm qua thôi, mà trải qua tưởng như lâu lắm. Những câu thơ trên bia mộ thi sĩ Nguyên Sa, Mai Thảo, Long Ân, Nguyễn Tất Nhiên, hay những câu đối trên bia mộ giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, Vũ Văn Tiên, như những nhắc nhở để nhớ về, để tưởng vọng…

Tôi nhìn di ảnh thầy Nguyên Sa, thấy cái nón kết quen thuộc , thấy nụ cười hiền hòa bao dung khi bị lũ học trò cũ chúng tôi chọc phá. Mới đây mà đã mười năm. Tôi nhớ lại lúc làm tủ sách Tác Giả Tác Phẩm với thầy. Tôi nhớ tới nhà in nhỏ ở đường Grand, tới những quyển sách vừa đóng xong còn thơm mùi mực. Tôi nhớ lúc thầy gần mất, đang thực hiện tờ Thời Nay mà thầy bảo tôi làm chủ bút. Tôi ngại ngùng, từ chối không được nên cứ ậm ờ không dứt khoát khiến thầy nổi nóng có lúc la mắng vì thấy công việc không tiến triển lắm. Có lúc thầy nói tha thiết “Thầy già rồi, lúc này là lúc các em làm việc..” . Nghĩ lại , tôi thấy mình như có lỗi. Bây giờ, cả tờ báo Thời Nay với art work còn đây, nhưng tờ báo vì người chủ chốt đã ra đi nên không thành hình được…

Tôi nhớ lại những lần thầy trò nói chuyện với nhau cả giờ.

Thi sĩ Nguyên Sa mà nói chuyện về thơ với một kẻ yêu thi ca như tôi không thích thú nào bằng.

Tôi có lúc như trong mơ khi hoang mang tự hỏi. Thi sĩ Nguyên Sa nói chuyện về thơ ? Hồi nào? Dường như thi sĩ đã đi vào miền vĩnh hằng ngày 18 tháng tư năm 1998 rồi mà! Thì, làm sao hôm nay, bây giờ có thể nói chuyện với chúng ta về thơ được? Thế mà, với tôi, giở lại những trang hồi ký, như đang tiếp tục câu chuyện về thi ca, về những bài thơ mà có người phê bình là những “châu báu bắt được của trời”.

Nguyên Sa một đời làm thơ và sống chết với thơ. Khi ông đang nằm trên giường bệnh , dù đang thập tử nhất sinh ông vẫn lo lắng để chuẩn bị cho in tập thơ “ Thơ Nguyên Sa tập 4 “. Thơ với ông là một vũ trụ mênh mông mà cuộc sống vẫn còn dù thân xác có bị hủy hoai theo luật thiên nhiên.

Thơ Nguyên Sa không phải chỉ thuần túy thi ca mà còn chất chứa cuộc sống thực tế và cả những ước mơ nữa . Như , câu phê bình của tổng thống Ngô ĐÌnh Diệm về một giáo sư trẻ Trần Bích Lan mà bác sĩ Trần Kim Tuyến đã kể lại: “ông cụ bảo cậu lãng mạn“. Có phải tâm tính lãng mạn là luôn luôn nuôi dưỡng những giấc mơ?. Quả thực , trong suy nghĩ biểu hiện bằng ngôn ngữ thi ca, Nguyên Sa là một người làm thơ lãng mạn.

Đọc những trang hồi ký, nghe thi sĩ nhắc lại những bài thơ và những trường hợp đã có cảm hứng để viết, mới thấy câu nhận định trên là chính xác. Những bài thơ, dù viết ở đâu, từ lúc đất nước thanh bình đến khi trời làm tao loạn, hay lúc lưu lav xứ người, thơ vẫn là những biểu tượng của một cuộc sống tràn đầy ước mơ.

Giữa con người thực dụng và con người viễn mơ, có lẽ triết lý đã điều hòa cả hai để có một chân dung thi sĩ. Triết học không lấn áp thi ca mà trái lại làm cho ngôn ngữ thơ có sắc thái riêng.

Thi sĩ viết: “Tôi cũng nhớ, ngay lúc đó, khi đọc bài văn nói về văn chương viễn mơ của Mai Thảo, một năm trước, tôi thấy văn chương viễn mơ không phải là mục tiêu mà tôi nhắm tới, văn chương viễn mơ không phải là tôi. Tôi mơ hồ cảm thấy làm thơ mà cứ phải dấn thân triền miên thì.. mệt quá! Nhưng tôi cũng không muốn sống, trong cuộc đời cũng như trong tác phẩm, cắt lìa khỏi, một cách thường hằng, mọi đam mê của đời sống. Tôi mơ hồ cảm thấy những lý luận thuần lý, những triết học nhất quán , những lô gic chặt chẽ và thơ có một khoảng cách. Dường như, càng xa lý thuyết thơ càng nhiều thơ, càng cột chặt hồn mình vào lô gíc, thơ càng ít thơ hơn. Tôi đọ , tôi đọc. Tôi sửa lại một chữ, rồi một chữ khác Tôi mơ hồ cảm thấy tôi không muốn trở thành một nhà thơ dấn thân . Tôi cũng mơ hồ cảm thấy tôi không phải là một đệ tử trung thành của nghệ thuật vị nghệ thuật. Tôi là người làm thơ tình mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi.”

Có những bài thơ viết về Paris, như một kỷ niệm trong đời. Thành phố, nhắc đến những người bạn và những cuộc giã từ , Ra đi nhưng để tấm lòng mình ở lại. Những dòng hồi ký không những là nhớ lại mà còn làm sống lại những ngày tháng ấy. Một đoạn đời hóa sinh vào thơ, mơ mộng và diễm ảo. Thơ. Là dấu ấn cho lãng mạn dâng cao:

“ .. Tôi thấy tôi và những tôi cầm tay bạn bè bịn rịn , tôi thấy tôi và những tôi từ trên thang cao của máy bay vẫy tay lần cuối , tôi thấy ngọn đèn đêm của Eiffel quét những đường sáng dài vẫy tay. Những Tiễn Biệt, những Paris Có Gì Lạ Không Em, từ bóng đêm của vô thức và sương mù dắt tay sông Seine đi tới.

Paris có gì lạ không em
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em
Mai anh về giữa bến sông seine
Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em
Em có còn đứng ở bên bờ sông
Làm ơn che khuất nửa vầng trăng
Anh về có nương theo dòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng..

Những điệp khúc” Paris có gì lạ không em” đặt ra những câu hỏi để dẫn về những nơi chốn mới đây gần gũi mà bây giờ xa biệt. Hoa lá để nhớ đến cánh chim, dòng sông mù sương trắng nhớ đến áo em huyền ảo cũng như vầng trăng in dưới dòng nước nhắc nhở đến mường tượng em trong bóng trăng. Thiên nhiên là của kỷ niệm nhắc nhở , mỗi mỗi khi nhớ là tìm lại được những hình ảnh mới của Em , của người tình của một thành phố như đã thành cổ tích…

Một bài thơ khác, của một thành phố khác, của đất nước Việt Nam, mà bây giờ lại xa cách trong cảm giác lãng đãng của nhửng câu thơ bềnh bồng. Sài Gòn, thành phố mà trong bộ nhớ nhiều người đầy ắp những kỷ niệm. Có khi là của lúc xôn xao thời mới lớn, có khi là của những ngày chiến tranh , của những ngày phép của người lính trẻ , của một thời của một đời người. Nguyên Sa làm bài thơ “Tám phố Sài Gòn” trong cái khí hậu văn học của một thời nhiều sôi động. Thi sĩ đã viết về một trường hợp sáng tác:

“.. Nguyễn Đình Vượng nói tôi muốn Nguyên Sa cho Văn một bài thơ, tôi hỏi thơ hay văn xuôi, anh Vượng nói rõ thơ, tôi ngập ngừng rồi nêu lên câu hỏi:

- Thơ Xuân?

Nguyễn Đình Vượng gật đầu vững chắc:

- Thơ Xuân.

Anh chỉ khẳng định chính xác như thế trong một giây ngắn, anh mau chóng đưa ra chọn lựa thoải mái hơn:

- Thơ Xuân .. Hay thơ gì cũng được.

Tôi vui vẻ nhận lời, mấy hôm sau tôi mang tới tòa soạn Văn bài “Tám phố Sài gòn”..”
Tám Phố Sài Gòn , là những câu thơ của bồi hồi về một thánh địa tình yêu , của những xúc cảm thoáng qua , của những hình ảnh đẹp khó quên trong bộ nhớ . Tôi yêu Sài Gòn nên yêu những câu thơ mang đến cho tôi một thời gian , không gian “ thiêng liêng “ , của cả một thời thơ ấu và trưởng thành riêng tôi. Và , rất lạ lùng , nhiều người đọc thơ cũng cùng chung những xúc cảm những suy nghĩ như thế. Thơ của một người nhưng hình như là của riêng nhiều người. Khi nhắc lại, là một trùng trùng đại dương xao động . Sài Gòn . Vẫn còn, nhưng như đã mất. Trong tôi..

Đọc những bài thơ như Tám Phố Sài gòn, như Áo Lụa Hà Đông, trong khi lái xe, lúc ở sở làm hay mơ mộng một mình trong phòng đọc sách ở nhà nhìn ra biển và bầu trời, lúc nào cũng như lúc nào , thấy mình sống lại những phận đời , hồi sinh lại những nỗi nhớ trong cái xúc cảm mơ hồ của một người đi phiêu du ở một chốn nào mà suy nghĩ mãi ngân vang như những sợi đàn căng rưng rưng những âm vận trùng trùng nhung nhớ .
Viết về thơ của mình , thi sĩ Nguyên Sa tâm sự :

“..Tôi không muốn đi, tôi muốn ở lại, tôi gọi trở về quê hương là đi, tôi gọi tới Paris là về. Tình yêu của tôi ở đó, phần đời có trọng lượng của toàn thể của tôi ở đó. Cảm xúc lớn lao, gioa động cực mạnh mang lại hàng loạt những bài thơ về biệt ly.Paris có gì lạ không em, Tiễn biệt , Paris.Tôi khởi sự thơ với chủ đề ly biệt. Tôi bắt đầu cùng lúc những bài tình ái và những bài biệt ly. Cũng có thể nói được như thế. Thơ chủ đề biệt ly và thơ chủ đề tình yêu đến gần như trong cùng một thời gian. Xen kẽ . Hỗ trợ . Trong thơ tình có khắc khoải chia xa. Trong Tiễn biệt, Paris có gì lạ không em, Paris có gục đầu trên vai nhau. Nga đầy ắp Paris là bài thơ tình đầu tiên, sau đó là Tuổi Mười Ba , của thời kỳ Paris gục đầu trên vai nhau. Paris tiễn nhau ở gare De Lyon, ở phi trường Orly, Aùo Lụa hà Đông, Tháng Sáu trời Mưa, Cần Thiết của Sài Gòn 1956 và những năm kế tiếp, Nga 1955, Tiễn biệt đầu tiên. 1953, hai bài Paris 54 và 55. Thơ tình của những ngày tháng hôn nhân đến trước thơ tình của tuổi học trò. Aùo Lụa Hà Đông, Tuổi Mười Ba, Tháng Sáu Trời Mưa trình làng ở Sáng Tạo , khi đã trở về Việt Nam , làm khoảng thời gian 56-57. Nga in trên tờ thiệp báo hỷ , bài thơ tương đối dài làm cho người bạn ấn loát in tặng phải chọn lựa tờ giấy lớn hơn thiệp báo hỷ rồi gấp lại làm ba. Tờ thiệp báo hỷ của tôi in trên khổ giấy năm rưỡi tám rưỡi , giấy bảy chục gam , loại láng, in chữ nghiêng, tới chữ O của “ môi em tròn như chữ O” câu thơ in nghiêng, anh bạn ấn công chỉ cho tôi thấy chữ O anh đã chọn kiệu chữ thẳng , rất tượng hình thơ …”

Nguyên Sa còn làm thơ về những ngày ở lính và chiến tranh ở đây đã được nhìn ngắm với con mắt của người trong cuộc. Một cuộc chơi tàn bạo được bày ra với tất cả những sự phi lý của nó. Những người tham dự , dù tình nguyện hay bắt buộc , cũng bị lôi đi trong con lốc mịt mờ của thời thế. Đọc bài thơ Sân bắn , để thấy được tâm tư của một người trong cuộc. Một cách tình cờ , bài thơ được viết ra trong một khung cảnh yên bình của Sài Gòn buổi chiều nhưng lại là những cảm giác từ quân trường , nơi sân bắn có hình nhân phơ phất , có tiếng kêu “ Bia lên” để làm đích đến cho những viên đạn vô tình :
“.. Tôi không có ý định làm bài lục bát đó, tự nó tới , bật ra. Tôi dừng xe lại ở Bưu Điện Sài Gòn , hí hoáy ghi lại Sân Bắn. Con trai tôi từ trong trường Taberd đi ra , trèo lên băng sau của chiếc Wolkswagen, chờ tôi lái đi. Tôi chép cũng vừa xong. SânBắn được đăng trên một tạp chí ở Sài Gòn trong thời điểm đó, được in trong Thơ Nguyên Sa tập Hai, hai mươi năm sau, năm 1988 ở Quận Cam.

Sân Bắn

Bia lên ta thấy thân người
Thấy ta thấy địch, thấy đời lãng du
Thấy tay dư, thấy chân thừa
Thấy tai nghễnh ngãng, mắt mù óc không..
Một đời phơ phất hình nhân
Thấy còn thấy hết, sau cùng thấy đau
Bia lên thấy mẹ u sầu
Giấy bồi tơi tả cúi đầu trong ta
Trời cao ngó xuống thịt da
Bia lên trông cũng vật vờ cỏ xanh
Bia lên tìm chỗ ta nằm
Non cao duỗi cẳng em còn thấy đâu
Hầm bia buồn đến mộ sâu
Nghìn cây nến thắp trên đầu đạn bay.

Và nhà thơ đã viết vê những suy nghĩ và cảm xúc của mình để bật lên thành thơ.:
“Khi Sân Bắn , thơ, đến với tôi, bia cũng tới, đầu tiên., không có chân tay, cảm xúc của thơ mang cho Sân bắn thơ thêm hình ảnh của ta, của địch , thân phận con người, sự vong thân của bản ngã..

“Bầu trời của Sân bắn có bia lên, có thân người, có ta, có địch, có tay chân thừa thãi, có tác dụng của xạ trường đến nơi thính giác và cả trí tuệ. Óc tai, hình nhân, giấy bồi, hầm bia, đạn đầu lửa bay trong những buổi thực tập tác xạ ban đêm. Tôi biết kỹ thuật thi nhân từ trước khi thực hiện Sân Bắn, từ lâu. Cũng như nhiều người làm thơ, tôi có một thời kỳ lục bát buổi đầu đời. Thi nhân vừa dẫn bài thơ vô, vừa dẫn từ câu này qua câu kia từ đoạn này sang đoạn khác. Luận lý của suy luận là do đó, là cho nên, là vậy thì. Có thể là tất cả những từ đó và những từ tương tự khác cùng loại.

Tất cả mọi người đều phải chết
Socrate là người
Socrate phải chết

Chân lý của kết luận chứa ẩn trong những đại tiền đề. Chân lý của tiền đề , bằng những do đó, là vậy thì, là cho nên , đi tới kết luận . Nói rõ ra cũng tốt, không nói tới cũng tốt. Từ ngữ hiện hay ẩn đưa tới kết luận là đưa tới chân lý tất yếu đã nằm trong những tiền đề. Thi nhân của thơ đưa tới những kết luận khác biệt, không tiên liệu trước được, nhảy qua trùng điệp những đồi núi , những bình nguyên rơi xuống một miền đất của riêng. Bia lên mở ra thân người, mở ra thế giới mà khoảng cách giữa ta và địch bị tiêu hủy bởi cái chết, mở ra sự thừa thãi của tay chân, sự bất lực của giác quan và trí tuệ. Trong Sân Bắn, hti nhân hơn một nửa làm nhiệm vụ của liên tự, nó cho phép nói nhiều với ít chữ hơn.
Bầu trời của thơ không phải là bầu trời của sân bắn xạ trường. Bầu trời Sân Bắn thơ có những đám mây của nó, có vài phần vật liệu từ hơi nước bay lên, nhưng lại có nhiều phần mây có màu sắc bay tới từ thế giới nội tâm, có những đám mây màu sắc tình cảm, đám mây màu sắc suy tư, đám mây màu ngậm ngùi thân phận.

Chủ nghĩa tả chân và những anh em của nó, như tả chân xã hội, khó lòng mang lại bầu trời thơ, vì không gian của nó hạn hẹp, chỉ có mây của nước bốc hơi, không có chỗ nào cho những đám mây tuyệt vời kia.”

Thơ, với thi sĩ, không phải là một trò chơi nữa, mà trở thành một cách thế sống, của da thịt xương tủy hiện hữu tháng ngày. Những câu hỏi bật ra từ quá khứ. Từ tuổi nhỏ đã phải chịu những tháng ngày tù ngục đọa dầy của Cộng sản, rồi thoát được, đi du học, rồi trở về nước , dậy học và rồi lại lưu lạc xứ người trong những tháng năm còn lại. Bao nhiêu là dấu ấn đã in đậm trên những trang thơ. Những dấu ấn của thời thế. Những dấu ấn của tình yêu. Thành ngôn ngữ, thành hình ảnh, thành vần điệu để như những tần số cùng âm hưởng giao thoa với tất cả những chất chứa của thời đại, của cả một thế hệ cứ mải miết hoài trong vòng cuồng loạn của dông tố chiến tranh.

Với Nguyên Sa, chiến tranh là một thực tế của đất nước.Và thơ của ông phần nào biểu lộ cái thực tế ấy. Những bài thơ như Cầu Siêu Cho Nguyễn Quan Đại Chết Ở Khe Sanh, Thằng Sỹ Chết, Thơ Cho Bạn Ở Trong Tù Trong Tù, Cắt Tóc Ăn Tết,… Có chút bi phẫn, có chút suy tưởng nhưng hình như là biểu lộ chân thực tình cảm của một người sống trong thời đại đầy nhiễu nhương, nhiều biến cố.

Trong “Thư cho bạn ở tù” , những câu lục bát chân thành về nỗi đau thời thế :

Bây giờ mày ở trong tù
Đêm nằm muỗi cắn nhớ nhà không con
Chúng nó nói chuyện văn chương
Tao nghe nóng mặt cởi quần nhìn sông…
… Tao đi lính được bốn năm
mày nghe chuyện lính tưởng rằng tao gân
tưởng tao trấn thủ lưu đồn
một tay cờ kiếm anh hùng chí cao
bốn năm thi sĩ nằm khoèo
rượu say thơ cũng mệt nhoài tứ chi
quanh tao vẫn một lũ hề
những thằng mang điếu vác cờ chạy quanh..”

Thi sĩ đã viết vế một bài thơ khác, viết về mùa xuân, nhan đề cũng xuân nhưng không có nét xuân hồng nào ở trong: Cắt Tóc Ăn Tết

Cắt cho ta hãy cắt cho ta
Cắt cho ta sợi dài
Cắt cho ta sợi ngắn
Cắt cái sợi nói dối
Sợi ăn cắp trên đầu
Sợi vu oan dưới gáy
Sợi bè phái đâm ngang
Sợi ghen tuông đứng dọc
Sợi xích chiến xa, sợi giây thòng lọng
Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt
Sợi nấp trong hầm
Sợi ngồi trong hố
Sợi đau xót như giây dù chẳng mở
Sợi treo cổ tình yêu, sợi trói tay hy vọng..”

Nhưng, những bài thơ sống mãi của Nguyên Sa vẫn là thơ tình yêu. Những bài thơ như Áo Lụa Hà Đông, như Tuổi Mười Ba , như Tám Phố Sài Gòn , như Paris Có Gì lạ Không Em,…đã vượt qua không gian , thời gian để sống mãi . Thậm chí , nó còn vượt qua những chiến tuyến , qua những định kiến chính trị để thành một gia sản quý báu của văn chương dân tộc Việt Nam. Thế mà , khi viết hồi ký , ông lại ít đề cập tới . Không hiểu có phải là phản ảnh tâm lý mà ông đã nói trong cuộc phỏng vấn trước tám năm ngày ông từ trần:

“Đề tài tình yêu thường thay đổi theo thời gian trước năm 1963, tình yêu đó thuần túy những cảm xúc, những đam mê. Đó là niềm đam mê, lúc tin tưởng mạnh mẽ, lúc rụt rè thắc mắc, lúc muốn ngỏ lời, lúc không dám ngỏ. Nhưng về sau lúc người ta 50, 60 tuổi, đam mê tình ái không còn nữa , như xao xuyến về một at áo trong sân trường, như bồi hồi vì một mái tóc xõa ngang vai, không có nữa. Thời gian xóa bỏ nhiều thứ. Tình yêu có bóng dang của sự buồn phiền xót xa vì thời gian trôi qua. Và ngậm ngùi nhận ra rằng việc chấm dứt cho tất cả mọi sự sẽ phải tới. Khi nào suy nghĩ ấy xen lẫn trong đời sống trong tình yêu trong thơ, tất cả sẽ chán chường. Võ sĩ lên đài mà không nghĩ đến chiến thắng đến tiền thưởng mà chỉ nghĩ đến cái chết gần tới thì chắc chắn quả đấm của võ sĩ ấy phải khác với một võ sĩ chỉ nghĩ đến cách thế để cho đối thủ quỵ ngã. Đối với tôi tâm sự về tình yêu lúc 50 tuổi trở lên như võ sĩ lên đài thay vì chiến đấu mãnh liệt say mê thì lại đưa quả đấm giơ lên rồi bỏ xuống.Tư tưởng cái chết ám ảnh mạnh mẽ tình yêu..”
Dù rằng thi sĩ đã hiểu :

Cuộc đời dẫu có phù vân
Ở trong mây nổi có phần thiên thu

Nhưng những câu thơ đã để lại cho đời sau là những câu hỏi để mở cửa bước vào cõi thơ, như Cần Thiết: “Không có anh lấy ai đưa em đi học về/ lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học/ ai lau mắt cho em ngồi khóc / ai đưa em đi chơi trong chiều mưa?/..”; như “ Paris có gì lạ không em?/mai anh về mắt vẫn lánh đen/vẫn hỏi lòng mình là hương cốm?chả biết tay ai làm lá sen??..”; ‘ em ở đâu ?, hỡi mùa thu tóc ngắn/giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông/anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/ giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng/…”. Ơi, những câu hỏi để thành những câu thơ bất tử của văn chương Việt Nam thế kỷ 20… Và tôi cũng như nghe thấy câu hỏi, được khắc lên trên bia mộ của một thi sĩ lớn:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau?
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?

Vâng, biết đâu! Phải biết đâu chuyện ba trăm năm sau khi tấc lòng thi sĩ vẫn còn mãi mãi qua thăm thẳm thời gian những kiếp người?

Nguyễn Mạnh Trinh
thunder  
#29 Posted : Sunday, April 3, 2011 5:13:54 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Những đóa thơ cho phố núi Pleiku - Nguyễn Mạnh Trinh

UserPostedImage


Pleiku, nhắc đến nó để nhớ lại một thời lửa đạn. Và, nếu có người sưu tập thành một tuyển tập có chủ đề về nơi chốn ấy, chắc sẽ có một quyển sách cả ngàn trang mới mong đầy đủ hết thơ văn của những người hoài vương vấn với mưa sình nắng bụi cao nguyên.

Mấy ngày hôm nay, buổi sáng nào cũng mù mịt sương. Mùa Thu ở đây như gợi lại một nỗi niềm nào. Lái xe trên đường, trong cái mù mịt của đất trời thấy mình như sống lại một thuở nào, ở không gian thời gian nào tuy thật xa nhưng trong giây phút hiện tại lại thật gần gũi. Cái tâm trạng bềnh bồng, của tiềm thức chơi vơi trong buổi sáng hôm nay như dẫn từng bước chân trở về, thuở xa xưa, ngày vừa trên hai mươi tuổi.

Lớn lên ở Sài Gòn, cả một thơ ấu nghịch phá, cả một khung trời mơ mộng. Những ngã tư, những con hẻm, những cổng trường, những mầu hoa Mùa Hạ, những xao xác lạnh cuối năm, tất cả đã thành kỷ niệm. Của một thành phố mà tưởng như chứa cả một phần đời sống của mình. Rồi tuổi đôi mươi, rời khỏi ghế giảng đường vào lính. Thì một thành phố, tuy heo hút sơn cùng thủy tận, nhưng lại chan chứa những kỷ niệm của những chàng lính trẻ, ngông nghênh vào đời tưởng như nắm cả vũ trụ trong tay. Sống ở đó, để thấy nhớ sài Gòn. Nhưng khi đổi về Biên Hòa gần Sài Gòn thì lại nhớ lại thời gian đã qua. Không nuối tiếc nhưng đầy bâng khuâng, và cái không gian se lạnh, cái đêm khuya mưa dầm, cái buổi sáng mù mịt, tất cả trộn lẫn để thành một phong vị khó tả.

Năm tôi lên phố vừa qua cái tuổi đôi mươi. Hai mươi tuổi, tâm hồn lúc ấy trắng bong, tràn đầy mơ với mộng. Chưa có kinh nghiệm trường đời nên thường phản ứng trước những chướng tai gai mắt và theo suy nghĩ của nhiều vị chỉ huy, tôi là một đứa ba gai cần phải hành hạ để cho vào khuôn phép. Ở đâu cũng xa nhà nên tôi tình nguyện đi biệt đội Pleiku mút mùa lệ thủy và khi ở đây lập không đoàn thì cũng là một trong những người khai sơn phá thạch của đơn vị.

Pleiku là thành phố của lính , lại mang nhiều nét thơ mộng nhất trong đời những
người lính xa nhà

Thời gian ở thành phố biên trấn này chỉ hơn hai năm mà sao tràn đầy kỷ niệm. Có những lúc, cơm sấy đồ hộp ngày này qua tháng khác mà vẫn vui. Lãnh lương xong, chỉ một vài ngày là sạch nhẵn, thế mà tối nào cũng lang thang ở phố đến nửa đêm mới mò về phi trường. Ở đây, biết bao nhiêu đứa bạn, buổi sáng còn đùa giỡn chọc ghẹo nhau mà vài tiếng đống hồ sau thân xác đã thành sương khói cho những phi vụ không về. Ở đây, có sáng mù sương, thấy đời mệt mỏi như chiếc xe dodge già nua ì ạch leo đầu dốc. Dù rằng tôi lúc ấy chỉ vừa hơn hai mươi tuổi. Ngày lên Pleiku, có một bài thơ tôi đã làm như tiên đoán được cái không gian của biên tái, của những câu thơ như Lương Châu Từ của Vương Han thời Thịnh Ðường xa xưa. Pleiku có khác nào Lương Châu, cũng là quan ải để trấn giữ biên cương. Ngày xưa thì ngăn giặc Hồ, giặc Mông. Ngày nay, thì canh chừng ba biên giới, với những trận đánh ác liệt mùa khô hàng năm tiếp diễn… Bài thơ ấy, làm vào một đêm trước khi sáng mai lên trực thăng vào phố núi.

“Ừ mai tao lên Pleiku
Ðêm căm hơi đá ngày mù núi xanh
Uống say quên mộng quẩn quanh
Về nơi gió cát cũng đành cuộc chơi
Ừ mai cánh vỗ ngang trời
Ngóng thiên thu một cõi đời tịnh yên
Máu xương mãi chuyện ưu phiền
Còn đâu tiếng gọi cho em miệt mài
Ừ mai súng khoác lên vai
Ngẩn ngơ phố núi những ngày đao binh
Chắc đâu rượu uống một mình
Trong thân phiêu bạc nhục vinh nửa vời
Ừ mai thương bóng trăng trôi
Chim quên vẫy mỏi cuối trời chiến tranh
Uống đi mai hát quân hành
Nghe trong hơi bốc long lanh mắt người…”

Tuổi trẻ, ngây thơ và bốc đồng. Tưởng rằng, mình như một hiệp sĩ thời xưa đi vào nơi gió cát. Thơ cũng nghênh ngang kiểu “túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Tuổi trẻ, ơi những giấc mơ của ngày chân không chấm đất cật chẳng đến giời. Có phải là giấc mơ chung của những người lính trẻ chúng tôi.
Pleiku, một thành phố nhỏ heo hút ở cao nguyên, nhờ thơ và nhạc, đã thành một nơi chốn đầy thơ mộng. Thành phố ấy, có những tương phản kỳ lạ. Chiến tranh đã làm phố núi ấy có một bộ mặt, khi thì lãng mạn thơ mộng với những tà áo dài nữ sinh đi học buổi sớm mai nhưng cũng có lúc đầy nhục dục xác thịt. Con đường từ phố đến camp Holloway đầy những quán rượu và những cô gái phấn son lòe loẹt. Và, thành phố cũng đầy những sắc lính. Những người từ mặt trận trở về, đốt tiền mua vội một đêm vui rồi sáng mai trở lại miền gió cát. Những người lính đồn trú ở đây, ráng làm quen với cuộc sống ở vùng nắng bụi mưa sình, trong một giây phút nào, cũng nao nao vì những tà áo trắng buổi sáng trong sương mù Pleiku, tìm thấy một chút thơ mộng trong đời để làm kỷ niệm Pleiku, những cuộc tình có thực đầy dông bão của những người lính và những cô gái giang hồ. Nhưng Pleiku cũng có những êm ái thánh thiện của tình học trò áo trắng và người lính dạn dầy trong khói lửa. Pleiku có con đường đầy quán rượu cho lính G.I. viễn chinh nhưng cũng có con đường có hai hàng cây cao vút rợp bóng lá và những tà áo học trò tung bay theo nắng.

Người làm thơ, có lúc cũng cảm khái vì cái không gian, thời gian của thành phố ấy. Mưa cũng là cái mưa đặc biệt, mỗi mỗi hạt mưa như chứa đựng cả những nỗi niềm của tất cả những địa phương xa lạ thu góp về. Nắng cũng là cái nắng không phải của một nơi chốn nào khác, nó mang đến cái hanh hao khó chịu nhưng cũng trong màu nắng ấy lấp lánh những tình cảm thầm thì khó tả. Lạnh cũng chẳng phải là cái lạnh lẽo bình thường mà hình như cỏ cây, đường phố, núi non, ở đây cũng se mình và chia sẻ chung vui buồn với con người. Trong giây phút hiếm có trong đời, cảm xúc đã làm ngôn ngữ tăng thêm lôi cuốn và tạo nhiều ấn tượng. Nguyễn Bắc Sơn, một chứng nhân của cuộc chiến, làm thơ như một cách thế sống, đã coi công việc viết như một phần của đời người. Sống ở Plei ku và viết những bài thơ để gửi Plei ku. Thơ ông, có chút cảm khái ngậm ngùi của thời tao loạn nhưng cũng có những xúc động bềnh bồng của tâm tư lãng mạn hay đùa cợt với cuộc đời. Thơ, phảng phất vóc dáng một chàng cuồng sĩ.

Ðọc bài thơ “Hoa Quì Vàng Lạnh Pleiku”, tự nhiên tôi như người trở về thời gian ấy, không gian ấy. Trở về những ngày tuổi trẻ, của những giây phút bốc đồng coi mọi việc như cuộc đùa chơi. Cái lạnh, chưa hẳn là lạnh lẽo Mùa Ðông, mà còn chứa đựng một chút nồng ấm nào đó của Mùa Hạ. Lạnh ở bên ngoài nhưng rần rần nóng hồi ở tim óc bên trong. Sương mù ban đêm trên đỉnh cao nhìn về phố buồn, tâm thức cũng ào ạt như sóng theo tầm nhìn vời vợi.

“Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó”.

Tôi cũng đã sống ở Pleiku gần ba năm. Thời gian ấy trong hơn tổng số bẩy năm ở lính của tôi chắc là đáng kể và đầy chật những điều đáng nhớ. Ngày đầu tiên khi từ Nha Trang xuống phi trường Cù Hanh là một ngày mưa u ám. Mưa sủi bọt trên mặt nhựa phi đạo và bầu trời nặng nề u ám mầu mây đen. Gió ào ạt lồng lộng ngoài kia khiến cho tôi thấy mình quá nhỏ nhoi trong cái buồn mênh mang của đất trời. Lúc ấy, tôi thấy những câu thơ vẩn vơ trong óc của Kim Tuấn, Du Tử Lê, Vũ Hữu Ðịnh, Nguyễn Bắc Sơn. Thơ tự nhiên thành một phần của một ngày, một tháng, một năm, của riêng tôi. Thơ để quên đi hiện tại. Những giọt mưa quất vào mặt, buốt rát. Những ngọn gió thốc vào ngực. Nặng tê.

Ðọc bài thơ dài của Nguyễn Bắc Sơn tôi chỉ thấy có hai câu nói về mầu hoa quì vàng. Thế mà cái mầu sắc hoa man dã ấy chỉ một nét thoáng qua nhưng lại gợi nhiều dư âm. Mầu vàng, có khi là mầu vàng lạnh, nhưng có khi là mầu nóng chói chang của nắng.

“Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh.
Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao.”

Hoa quì vàng, một loài hoa nhỏ, cây từa tựa giống như hoa cúc, tôi đã nhìn thấy miên man mầu vàng khi trên phi cơ nhìn xuống. Mầu vàng, mênh mang trên những ngọn dồi loang lổ mầu xám của đá và mầu đỏ của đất. Hoa quì, lẻ loi một cánh trên tay thú thực cũng chẳng hấp dẫn lắm nhưng nếu bạt ngàn dưới cánh phi cơ, rào rạt trong nắng trong gió sẽ trở thành một ấn tượng khó quên cho cảm xúc. Ơi hoa quì, mầu vàng không phải kiêu sa như mầu hoàng cúc của áo tôn nữ mà có sự gần gũi với tà áo vàng của dân dã, của thiên nhiên. Hèn chi, cũng có nhiều nhà thơ vấn vương với hoa quì vàng, như Nguyễn Xuân Thiệp, như Kim Tuấn.

Người thơ kể chuyện của mình, một câu chuyện có lẽ rất quen tai của những người lính thú. Cũng đi xuống, đi lên, cũng loay hoay bồn chồn như những chàng gà trống…

“Ðời lang bạt của một người lính thú
Sáng hôm qua tôi là người thiếp ngủ
Ði một mình lên xuống phố mù sương
Phố núi kia ơi, phố có con đường
Lên xuống dốc tìm không ra bạn hữu
Không có bạn tôi làm sao uống rượu
Tôi làm sao sống nổi một ngày đây
Phố núi kia ơi, kẻ lạ đông đầy
Nhìn gã lính không khác gì gã lính”.

Không có bạn tôi làm sao uống rượu. Tôi làm sao sống nổi một ngày đây. Nghe như một câu nói thường ngày, không có chất thơ mà sao nghe tràn đầy thi tứ. Chắc lúc ấy, sự cảm khái của người thơ đã lên cao độ, và, nỗi lạnh lùng thiên cổ như bám vào da vào thịt. Có nỗi nhớ mong, có niềm tiếc nuối. Người em, bây giờ lưu lạc ở đâu?

“…Tôi vận rủi làm một người lãng đãng
Ngó mông hoài khuất bóng của người em
Sáng hôm nay đời sống thật bình yên
Sao phố lại đuổi đi người yểu điệu
Vườn đá tảng bàn chân em huyền diệu
In gót hồng lên lớp bụi đời tôi
Là từ khi tôi hạnh phúc rong chơi
Và quên lãng con thú mù phẫn nộ
Ôi phố núi đêm nay là cổ mộ
Một hàng đèn sáng lạnh cõi bi hoang”.

Bài thơ thứ hai tôi đọc để nhớ Pleiku là của Nguyễn Xuân Thiệp, bài “Pleiku, Tháng Ba 1974”. Ba mươi năm trôi qua, nhưng ngày tháng đó vẫn còn sinh động. Thơ, không ghi chép lại nhật ký ngày tháng mà sao đầy dấu viết của một quãng đời. Ngày ấy, lửa cháy đỏ. Ngày ấy.

Người thi sĩ kể chuyện một mình. Ðâu cần ai hiểu, chỉ để nỗi niềm loang vào sương đêm thành nỗi nhớ mịt mùng.

“Cầm bút viết, Tháng Ba rực cháy
Hàng dầu cao trong bình minh
Cơn sốt của trái chín và cánh đồng
Trận gió hung trưa ngày ấy
Cầm bút viết, đồi hoa quỳ vàng
Tháng Ba xuống khu rừng. Bóng quạ
Rung những nhánh cây màu tàn lửa
Tiếng thét hư không
Chiều rượt qua ngàn”

Những hình ảnh đan vào nhau với những liên tưởng tiếp nối. Ảnh tượng có khi như không liên quan nhau, chỉ là những nét phác sơ lược nhưng lại làm nổi bật được một không gian đầy biến động. Ðồi hoa quỳ vàng, khu rừng, bóng quạ, nhánh cây màu tàn lửa, tất cả như chìm đắm trong nỗi bàng hoàng của thế thời. Cơn bão lửa dậy lên từ hoang vu:

“Tháng Ba, chân trời chớp tía
Những chuyến xe lên đường, cơn mưa chợt đến
Rào qua mái nhà, bàng hoàng. mưa ngưng bặt
Ðêm. Những căn nhà gỗ sáng đèn.
Tháng Ba. Trên đồi vông nở
Tôi trở về thị trấn Tháng Ba
Những sợi dây trời cắt đau trí nhớ
Cườm tay em nhỏ máu hè xưa”.

Xa rồi những ngày thơ mộng. Gần lắm rồi những nỗi kinh hoàng. Cái linh cảm của một cuộc địa chấn là cái linh cảm chung của những người như những con chuột đang cuống cuồng trong rọ. Thị trấn sẽ thành biển lửa, nay mai. Sẽ đầy những cuộc chia ly đầy nước mát. Thảm họa sụp xuống, như cơn hồng thủy đến.

“…Vò nát chiếc khăn. và đừng khóc
Chiều nay. Chớp bể mưa nguồn
Chia tay nhau. Sương phụ
Người đi râu bám bụi đường
Tháng Ba. Em. Những căn nhà gỗ
Ánh đèn khuya. Vệt máu hè xưa
Ðừng tiếc chiếc khăn tay ngày ấy
Sẽ bay trong lửa hoàng hôn
Tháng Ba. Cơn giông rền mặt đất.”

Ðọc xong hai bài thơ, tôi như người hụt hơi. Ðời sống, như một hơi khói nhẹ, loãng bay vào hư không. Tự nhiên, thấy lòng mình chùng xuống những kỷ niệm. Những bài thơ. Thuở đã xa. Ngày còn trẻ. Và hoa quì vàng, cái màu vàng loang sắc nắng của buổi nào, bây giờ có còn vương trên núi đồi không? Cái sắc màu hỏa hoàng trong những buổi chiều nhạt nắng ấy sao nhức nhối ký ức. Thị trấn ấy, như câu thơ Vũ Hữu Ðịnh:

“Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Ði dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm Mùa Ðông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong”.

Có khi em Pleiku chỉ là tưởng tượng. Thi sĩ đã làm thành một nhân dáng nữ tuyệt vời để tô điểm cho phố núi ấm áp hơn trong cái lạnh se se Tây Nguyên. Thơ như tháp cánh vút lên, để những hàng cây dầu hai bên con đường học trò vươn lên mầu lá xanh hiền. Thành phố có em, là thành phố mà tình yêu đã làm một thứ trang sức cho đời lính thú biên trấn xa xôi. May mà còn có niềm vui.

Thơ về Pleiku thì nhiều, nhiều lắm. Kim Tuấn, Diên Nghị, Du Tử Lê, Võ Ý, Lê Bá Ðịnh, Lâm Hảo Dũng… đã trải lòng mình lên thành những rung động thật với nơi chốn mà mình đã qua hoặc gắn bó. Pleiku, nhắc đến nó để nhớ lại một thời lửa đạn. Và, nếu có người sưu tập thành một tuyển tập có chủ đề về nơi chốn ấy, chắc sẽ có một quyển sách cả ngàn trang mới mong đầy đủ hết thơ văn của những người hoài vương vấn với mưa sình nắng bụi cao nguyên.

Nguyễn Mạnh Trinh

havi  
#30 Posted : Sunday, April 3, 2011 9:50:09 AM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)



Nhạc Tiền Chiến - Lời Thuật của Lê Thương


UserPostedImage



LỜI NÓI ĐẦU: Mấy năm nay nhiều thính giả tìm nghe lại những bài tiền chiến, những bài tân nhạc từ khởi đầu phong trào cho đến thời bắt đầu tranh thủ độc lập.


Thính giả đứng tuổi thường thích nhạc tiền chiến vì những kỷ niệm tuổi trẻ của mình, nhất là kỷ niệm tình ái, vẫn phảng phất tiếng ca điệu nhạc "thời đó" mà mình đã ưa thích. Nghe lại những bài hát xưa là một thích thú như lật được lại trang tình sử của cái thời không bao giờ trở lại.

Thính giả trẻ tuổi có thể thích nghe nhạc tiền chiến vì nhiều lẽ trong đó có khoái cảm của người khám phá; họ như tìm được loại nhạc lạc loài điềm tĩnh hơn đời kích động này và có thể gân cốt họ nhẹ phần miên man khích thích?

Đúng hay không vẫn tùy nhân tâm. Nhưng muốn hiểu sơ qua thời phát hiện của nền Tân nhạc gọi là tiền chiến, có lẽ là lúc ta nên tĩnh tâm nhìn lại một dĩ vãng rất gần với chúng ta mà nhiều cõi lòng đã tưởng chẳng có gì hay là "mất hút" để xét lại cái công trình chung của giới Tân nhạc chúng ta, già như trẻ, đang phải xây dựng, tô điểm cho tòa nhà âm nhạc, không những cho lợi tư riêng mình mà cho cả người lân cận và đàn em.

Mà trong công việc xây dựng này, những người thời tiền chiến đã khổ công ra sao. Họ đã dò dẫm đường đi gặp bao trởi ngại "đợi chờ mai hậu" để ngày nay được "mai hậu" gọi về cho nghe đôi niềm tâm sự: thời... tiền chiến.

Nói đến thời mới cách đây 30 năm, trong lúc đất nước còn qua phân, nhân tâm còn rời rạc và tác giả như tác phẩm còn tản mác, kể cũng khó mà tìm ra những tài liệu đích xác, nhất là về năm tháng xuất hiện.

Song một số tài liệu sống là các nhân chứng có mặt tại miền Nam, trong số bài báo rãi rác, và những hiểu biết về bản thân có giúp độc giả biết khái quát về thời tiền chiến qua những chủ điểm tạm xếp như sau:

1 -- Mấy năm đầu Tân Nhạc (1938 - 1940)
2 -- Thời thanh niên lịch sử (nhóm Đồng Vọng và Tổng Hội Sinh Viên (1941 - 1944)
3 -- Thời đầu tranh thủ độc lập (1945 - 1946)

I. Ảnh hưởng của những bài hát ta điệu tây

Chưa tiện bàn đến những nguyên nhân tạo nên tinh thần đổi mới trong xã hội Việt - Nam trước Thế giới đại chiến thứ nhất và hậu quả đầu tiên trong lãng vực ca nghệ là sự phát động kịch trường cải lương, và những bước thăng trầm của giới này, chúng tôi nói ngay đến ảnh hưởng của những "bài hát ta điệu tây" do các nghệ sĩ tiền phong Tư Chơi (Huỳnh Hữu Trung) và Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) đề xướng trên các gánh Trần Đắt và Phước Cương, từ khoảng 1933-1934. (Phong trào này sẽ bàn riêng)

Năm đó là năm 1937, năm bành trướng nhất của những bài hát nói trên. Tại đài phát thanh Radio Saigon như tại Hà Nội, Huế, đâu đâu cũng thấy ca hát theo giọng Tino Rossi, từ các rạp hát tiệm khiêu vũ, quán rượu, đến thư phòng, gác trọ. Nhiều hãng dĩa như Béka, đã bắt đầu ném ra thị trường những bài hát ấy do các cô Ái Liên và Kim Thoa ca.

Việc truyền bá những bài Tây hoặc những bài Ta hoặc điệu Tây đã gây ảnh hưởng nên chú trọng: Một là những bài này dần dần đã đổi thị hiếu của công chúng làm cho họ càng ưa chuộng mới lạ mà muốn quên lãng những cái gì không thay đổi trong nhạc cổ truyền.

Hai là với cái hào hứng mới nhập cảng trong tinh thần thanh niên, người ta thấy một sự tiêu thụ to tát, những tác phẩm và sự thay đổi luôn hồi trong sở thích, làm cho những bài đàn truyền-bá chẳng bao lâu đã lâm vào "cõi già" mà cần phải được thay thế. Tóm tắt, nghệ sĩ Việt Nam bị đặt trước một vấn đề phải giải quyết. Trước bổn phận phải ngăn cản sự phách những giá trị nghệ thuật của dân tộc do những cung điệu ngoại lai đang gây nên, và phải thỏa mãn những nhu cầu ồ ạt đang bột phát tứ tung, họ phải vạch một đường mới cho nhạc nghệ là sáng tác.

Giữa lúc này vài nhạc sĩ Việt-Nam đã bắt đầu truyền bá những bài hát mới đầu tiên như Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước, Trần Quang Ngọc tại Hà Nội, Lê Thương tại Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên tại Saigon trong miền Thị Nghè, và trên đài Radio Saigon, Nguyễn Xuân Khoát và Phạm Đăng Hinh với nhóm học sinh theo học đàn, v.v...


II. Tân-Nhạc xuất hiện - 1938

Năm xuất hiện chánh thức của phong trào Âm Nhạc Mới là tháng 3 năm 1938, khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Saigon ra hô hào tại đất Bắc.Ông Tuyên được thống đốc Nam Kỳ thời đó là Rivoal trợ cấp để đi diễn thuyết về âm nhạc cải cách tại Bắc Hà.

Tới Hà Nội vào tháng 3, ông có nói chuyện tại hội Trí Tri. Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự. Một phần thất bại buối đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu. Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc đó như đã cho việc hô hào của ông là thừa, vì bài hát cải cách đã có sẵn tại đó. Tại hội Tri Tri Hải Phòng, ông đã may mắn hơn. Tuy số khán giả chỉ độ 20 mặt, nhưng ông đã có người thông cảm. Chính vào buổi nói chuyện này, cử tọa đã yêu cầu chúng tôi lên trình bày cho diễn giả nghe một bản nhạc mới của miền Bắc. Câu chuyện trở nên lý thú, khi ông Tuyên đã gặp một người đồng hành và một tri âm.

Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ Học Hoài Đức, ông Tuyên còn trình bày nhạc mới tại rạp chớp bóng Palace một lần nữa. Lần này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài "Bông Cúc Vàng".

Đến đây báo Ngày Nay, một cơ quan ngôn luận rất được đọc thời bấy giờ, mới nhóm khởi việc hô hào và đăng tải những "tác phẩm đầu" của nền nhạc mới. Những bài như "Bông Cúc Vàng", "Kiếp Hoa" của Nguyễn Văn Tuyên, "Bình Minh" của Nguyễn Xuân Khoát (thơ Thế Lữ), "Bản Đàn Xuân" của Lê Thương, "Khúc Yêu Đương" của Thẩm Oánh, "Đám Mây Hàng" của Phạm Đăng Hinh, "Đường Trường" của Trần Quang Ngọc, v.v... mới lần lượt được in trên mặt báo vào tháng 9 năm đó.

Một cái dây bứt động cả rừng, người ta mới thấy những người yêu nhạc đăng và xuất bản những bài hát mới để dùng vào khiêu vũ hay để hòa nhạc vui vẻ.Từ đầu 1939, một số bài nhạc của vài nhóm đã thấy treo bán tại các hiệu sách.


III. Những nhóm tân nhạc và bài ca xuất bản

Trong việc nhóm khởi phong trào Tân Nhạc, một điều hiển nhiên là rải rác khắp nơi, có những nhóm người lo sáng tác. Việc làm âm thầm của từng nhóm không có dịp phô bày công khai, nhưng phải nói là từ khi đĩa hát và phim nói (1934) và cả những bài nhạc Âu Mỹ được bán trên thị trường thì việc sáng tác được thúc đẩy mạnh mẽ hơn.

Chỉ cần có người khởi xướng một việc gì hữu lý là các người khác bộc lộ ý định nuôi dưỡng từ lâu bằng cách noi theo và đôi khi vượt cao hơn cả người đi trước. Đó là cơ hội xuất phát của các nhóm Tân Nhạc và việc xuất bản bài ca. Thời gian đích xác và việc làm trước sau của các nhóm khó lòng quả quyết, song ta có thể qui vào năm 1930-40 là thời kỳ phát hiện công khai của đa số các nhóm.
- Nhóm Myosotis:nhóm này gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Trần Dư, Phạm Văn Nhường v.v... hoạt động từ vài năm trước trong vài "sa-lông" và đôi khi tại rạp chiếu bóng vào dịp làm nghĩa.

Việc thực hiện đáng kể của nhóm vào khoảng cuối 38 là việc xuất bản. Những bài như "Đôi oanh vàng", "Hoa tàn", "Phút Vui Xưa" đã bắt đầu truyền bá từ cuối năm 1937 đồng thời với những bài: "Joie d'aimer", "Souvenance", "Ton doux sourire" (nhạc không lời cho hạ-uy-cầm) của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Nhóm này với ban đàn Myosotis là lợi khí, đã ra đời từ ít lâu và thường hòa nhạc tại các tư gia để trau dồi nghệ thuật.

Nhóm Myosostis có hai chủ trương: Thẩm Oánh chủ trương "Theo đạo Trung dung" và tạm gọi những bản đàn hồi đó là những bản đàn cải cách Âm Nhạc của những bản đàn cải cách phải theo ý nhạc nhạc Việt Nam và phải có cảm tưởng thuần túy Á Đông (T-O -- Việt nhạc số 5 ngày 16-10-1948). Còn Dương Thiệu Tước thì chủ trương soạn theo âm điệu Tây Phương, ông nghĩ rằng "Nếu đã có nhà văn Việt Nam cũng rất có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây phương (T-O -- 1 bid).

Theo phương hướng này hai nhà soạn nhạc ấy đã cho xuất bản trước nhất mấy bài kể trên.Đại để những bài kể trên bài về sau: Hồ xưa, Xuân về, Tiếng khóc trong phòng the của Thẩm Oánh. Tâm hồn anh tìm em, Một ngày mà thôi của Dương Thiệu Tước, chịu ảnh hưởng khiêu vũ Tây phương nhiều.

- Nhóm TRICÉA: gồm mấy nhạc sĩ Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn cũng đem ấn loát mấy bản nhạc vào 1939 như Khúc Ca Ban Chiều, Trên Thuyền Hoa của Văn Chung. Biệt Ly, Sao Hoa Chóng Tàn, Tiếng Hát Đêm Thu của Dzoãn Mẫn và Bẽ Bàng, Vườn Xuân của Lê Yên.

Nhóm này thì như nhạc sĩ Thẩm Oánh đã nói: (Việt Nhạc số 5) "chủ trương đi sát quần chúng" hơn. Luồng nhạc của Văn Chung chịu nhạc hưởng Trung Hoa nên đã có vẻ Á Đông từ buổi đầu. Tuy vậy Lê Yên và Dzoãn Mẫn vẫn thiên về bay bướm nhịp tiết nên gợi nhiều âm hưởng nước ngoài. Triệu tập được 7 người, xuất bản hoặc truyền bá được mấy bản như Đóa Hồng Nhung, Hồ Xuân và Thiếu Nữ của Văn Chung. Một Hình Bóng, Một Buổi Chiều Mơ của Dzoãn Mẫn. Một Ngày Vui của Lê Yên, nhóm ấy đã vội tan rã.

- Nhóm PHẠM ĐĂNG HINH ra đời sau Tricéa. Nhóm này do nhạc sĩ Phạm Đăng Hinh đứng đầu gồm các nhạc sinh theo học ông về vĩ cầm và đại vĩ cầm. Chuyên đàn những bản nhạc do ông soạn, nhóm này ra mắt có một lần tại rạp Majestic Hà Nội (V.N. số 5). Rồi tiếc thay ban đàn điêu luyện ấy 15, 16 cây đàn vĩ cầm hòa hiệp mô tả thanh âm có nhiều quy pháp cũng sóm ngừng hoạt động. Nhạc sĩ Phạm Đăng Hinh, người đã từng du học Hồng Kông vội lưu lạc để lại mấy tên bài đơn lẻ: Đám Mây Hàng sau đổi là Cám Dỗ trong phim Việt Nam Trận Phong Ba quay tại Hương Cảng năm 1940.

Tại Hải Phòng, kẻ viết bài hồi đó còn đang dạy tại trường trung học Lê Lợi và có diễm phúc là đếm được thường xuyên tại lớp sự khi có mặt hí hởn của một nhóm "híp - pi tiền chiến" ưa ca hát thấu trời và thích du ngoại, là các "bạn trẻ": Canh Thân, Hoàng Quí, Phạm Ngữ, Hoàng Phú, Văn Trang (hiện giờ là thương gia Saigon), Nàng Cúc Phương, Nàng Thư Nhàn, v.v... Ngoài những cuốc xe đạp đi Uông Bí, Núi Voi,..., nhóm nhạc sĩ trẻ ấy sáng tác Tân Nhạc.

Họ đã giúp chúng tôi xuất hiện lần đầu trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hải Phòng với bài Tân nhạc vào lúc thi sĩ Thế Lữ ra hoạt động cho Hội Ánh Sáng tại đất Cảng, hè năm 1939.

Những bài Tiếng Đàn Đêm Khuya, Một Ngày Xanh, Trên Sông Dương Tử, Thu Trên Đảo Kinh Châu... được giới thiệu với khản giả. Cuối năm này, nhóm kịch Thế Lữ còn đem nhạc mới Lê Thương về Hà Nội, Vĩnh Yên cùng vở kịch Ông Ký Cóp của Vi Huyền Đắc gặt hái nhiều kết quả khả quan. Nhóm nhạc sĩ trẻ nói trên, phần đông là tráng sinh hướng đạo nên có đà soạn nhạc đàn ca. Tinh thần Đồng Vọng liền dội lên trong loạt xuất bản tươi mát là nhạc thanh niên, thiếu sinh và cả mỹ thuật.

Phạm Ngữ cho xuất bản bài Nhớ Quê Hương (1939-1940) và Hoàng Quí chuẩn bị tiến cử một loạt ca khúc trẻ mà hởi đầu là ca khúc Chùa Hương lâng lâng hồn chiêu mộ. Tại Nam Định, một tỉnh văn nghệ hữu hạng, nhạc sĩ Đặng Thế Phong sau đó cũng đề cử mấy bản nhạc mới của anh như Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến (nhân dịp vở kịch Cái Vạ của nhóm Vũ Trọng Can lưu diễn tại Nam Định và sau đó tại rạp Olympia Hà Nội)

Luồng nhạc Đặng Thế Phong đựng một mê luyến mênh mông như tiên kiến cho cuộc đời đoản mệnh.

IV. 1939 - Cuộc diện đổi thay

Phong trào Nhạc mới phát khởi được hơn một năm thì xảy cuộc Âu-chiến. Như một tiếng sấm động trời, tiếng súng của chiến tranh đã đánh vỡ tan không khí truy hoan của nhân loại. Tin chiến trường tàn phá rầm rộ báo hiệu một cuộc tơi bời tràn tới. Đó đây trong cảnh động binh rải rác, người ta lặng lẽ chuẩn bị sống giờ thảm khốc sắp diễn và tinh thần trở về thực tế.

Pháp đã quy hàng và lo đường trỗi dậy. Phong trào Phục-Hưng do thống chế Petain bên đề xướng đã lan sang đất Việt. Phong trào này nẩy nở trong đau khổ của chiến bại, dự bị cuộc tái sinh cho dân tộc Pháp.Người ta liền nghĩ đến thanh niên, những "rường cột của nước nhà" trong việc xây dựng lại.Nhiều nghị định đã quyết đổi mới cuộc sinh hoạt: đả đảo mơ mộng, đào tạo cho thanh thiếu niên một tinh thần mạnh mẽ với một thân thể cường tráng để dựng lại giang sơn nghiêng ngửa. Báo chí sách vở bị kiểm duyệt. Các vũ trường bị đóng cửa. Những cuộc chợ phiên (kermesses) không còn là nơi đùa cợt của trai gái nữa, hoặc bị bớt đi nhiều. Tin rằng những chiến công oanh liệt của các vị anh hùng được đem ra cho dân chúng sùng bái có thể kích thích đám thanh niên Việt vùng lên trên đường phụng sự "mẫu quốc", người ta chuyển hướng văn nghệ về lịch sử.

Nhưng hai dân tộc Việt Pháp tại hai chân trời, từng nếm mùi cay đắng của chiến bại đã mượn dịp biểu lộ trên dòng tư tưởng và nghệ thuật hai chí hướng khác nhau. Dân Việt sẽ tìm cơ hội vùng lên nhưng để xây dựng một Quốc gia độc lập.

Đó là mục tiêu xa gần của phong trào Thanh Niên lịch sử trong Tân Nhạc.


V. Thời "Thanh Niên Lịch Sử" trong Tân Nhạc


Để thúc đẩy những hoạt động thanh niên, người Pháp tổ chức phong trào cắm trại (campeurs). Những bài hát suy tôn thống chế như "Mrechal, nous voilà" cia Dambrine, bài hát kích thích thanh niên như Relèvement, Debout, belle jeunesse của Parmentier muốn hô hào thanh niên Việt quay nhìn vị thủ tướng già đã ôm cành "hòa bình vi quý", nhưng đoàn thiếu niên Việt lại thích nghe những điệu "Việt Nam bất diệt" của Hoàng Gia Lịnh, "Trên sông Bạch Đằng" của Hoàng Quý hay "Tiếng gọi sinh viên" của Lưu Hữu Phước hơn vì đó mới là tiếng gọi thân tình của giòng giống.

Trong các phong trào mà chánh quyền thời đó chủ trương hay khuyến khích hoặc cho phép phong trào thể thao huyến luyện thân thể cường tráng, phong trào hướng đạo đào luyện tinh thần thượng võ, hội Truyền Bá Quốc Ngữ cho ông Phan Thanh cầm đầu, hội Ánh Sáng do nhóm Tự lực văn đoàn chủ xướng, vấn đề ca nhạc vẫn là nồng cốt trong các dịp tuyên truyền, hội họp hoặc gây quỹ bằng buổi hát.

Âm nhạc hùng tráng, vui tươi đắc dụng hơn hết trong các hoạt động thường xuyên và cơ sở sẵn sàng nhất là các đoàn thể Hướng đạo.

Thế là phong trào tân nhạc lại được thêm đất dụng võ thuận tiện để tiến triển về mọi mặt.

- Bài nhạc Hướng đạo

Tại các nơi, họp trại ca nhạc vẫn được coi như chủ chốt. Từ đầu, những bản ca quốc tế về hướng đạo được phổ lời Việt như tập Đời Vui Sướng của ông Phạm văn Xung, trưởng đoàn Lê Lợi Hà Nội và tập Tiếng Chim Ca của Lưu Ngọc Văn và Đào Văn Thiết đã được xuất bản từ năm 1938 trở đi. Lác đác trong những tập trên cũng kèm theo vài cung điệu xứ sở được phổ lời Việt (như điệu Ngũ-điểm mai, Mãi tạp hóa... là những tiểu điệu Trung Hoa do ông Trần Phềnh nhập cảng vào sân khấu hát chèo cải lương thời đó).

Tất cả đều ngụ ý phụng sự chánh nghĩa dân tộc bằng các phương tiện sẵn có, nhưng phải đợi nhóm Đồng Vọng của Hoàng Quí ra đời ngay sau đó thì các bài hướng đạo, thanh thiếu nhi mới có tính cánh Việt Nam và dựng được cái sinh khí mạnh mẽ của trai đất Việt thời tranh đấu.

Từ năm 1940, súng đã nổ tại Lạng Sơn và thời cuộc Đông Nam Á đã bắt đầu khẩn trương. Nhật quân đang hăm họa trực tiếp Đông Dương. Những tin tức chiến tranh tại trời Âu chiếm hết chú ý của độc giả. Lác đác trên mặt báo, hàng sách, nhạc tình cảm vẫn xuận hiện: Con thuyền không bến của Đ. T. Phong trên tạp chí Bạn Gái, Xuân Yêu Đương (Xuân Ngày Nay 40), Bản đàn xuân (Xuân Ngày Nay 1941) của Lê Thương, Giọt mưa thu của Đ. T. Phong, Hồn xuân của Nguyễn Xuân Khoát (báo Ngày Nay), Trở lại cùng anh của Dzoãn Mẫn, Bóng ai qua thềm của Văn Chung v.v...

Nhưng đó chỉ là những cánh hoa rải rác mọc xa những luồng gió đang thổi mạnh luồng nước đang dâng lên luồng gió "đồng vọng" đem tươi mát tráng sinh, luồng nước dâng sóng nhạc của sinh viên.

- Đầu năm 1941 - Trẩy Hội Đền Hùng

Một trong những dịp náo nhiệt khơi mào cho phong khí hùng ca báo hiệu một chuyển hướng trong tinh thần sáng tác Tân nhạc là kỳ trẩy hội Đền Hùng vào mùa xuân Tân Tỵ (1941 vào 10-3 âm lịch) do tờ Việt Báo tổ chức.

Người ta còn nhớ hai đòan xe lửa chở hàng ngàn thanh niên nam nữ vào buổi sáng xuân êm ả, đi từ Hà Nội lên Phú Thọ để thăm mộ Hùng Vương.

Có lẽ từ ngày nội thuộc cho tới ngày đó, dân Việt mới có dịp nô nức tỏ lòng ngưỡng mộ vị Tổ ngàn xưa. Đặt chân lên phần mộ của tổ tiên, bao lòng đã nhiệt thành hướng về cội rễ, nhiễm lấy quốc hồn nguyên bản.

Bài Thanh Niên Ơi của Thẩm Oánh ngày hôm ấy đã đóng một vai tuồng chiêu lệnh và được hàng ngàn lồng ngực ca lên trong cảnh đồi hùng vỹ.


HOÀNG QUÝ VÀ NHÓM ĐỒNG VỌNG

Ngày trẩy hội đền Hùng cũng có đầy hướng đạo sinh nam nữ tham dự. Những con người hướng đạo như Hòang Qúi và đoàn trưởng, đòan sinh lại được thúc đẩy.Từ cuối năm 1943 đến tháng 2-1945, Hoàng Quí đã tập hợp sáu, bẩy chục bài ca nhẹ nhõm, tươi sáng, dùng để ca múa khi đốt lửa trại.

Hồn nhạc Đồng Vọng hướng về tuổi thiếu sinh, hướng đạo nên luôn nhẹ nhõm trong sáng. Trước sự đòi hỏi của “đời sống ngòai trời”, những đề tài của nhóm Đồng Vọng quả là thích hợp không những cho thời đó mà mà cả cho thời bây giờ và mai sau nên thiếu nhi khắp nước còn học và còn nhớ bài: Gọi Bạn Lên Đường (H.Quí), Vui Lên Đường (Văn Cao), Tiếng Chim Gọi Đàn (H.Quí), Trước Cảnh Cao Rộng (P.Ngữ), Dưới Bóng Thông Xanh, Chiều Xuân (H.Quí), Vui Xuân (L.H.Phước).

Xen vào những cung hát yêu đời, cũng có mấy tâm khúc hòai lịch sử ngày nay vẫn lan tràn khắp nước: Ngày Xưa (Hòang Phú), Bạn Đường (L.H.Phước), Hồn Nam Tướng (Lê Xưân Ái), Lời Vọng Ngày Xưa (H.Quí), Đi Hội Đền Hùng (L.H.Phước), Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn (H.Quí), Anh Em Bước Lên (L.H.Phứơc).

Ngoài L.H.Phước và Văn Cao sẽ đem lại một nhạc nghiệp thênh thang sắp tới, Hòang Quí phải mang một kiếp sống không dài để mệnh chung vào khỏang năm 1946. Nguyễn văn Nghiêm, Phan Ngữ ít thấy họat động, Lê Xuân Ái vẫn còn sáng tác ít nhiều về sau với những bài Huyền Trân Công Chúa, Thiên L‎ý Mã, Con Thuyền Trên Sông và nhất là bài Chinh Phụ Hoài Khúc đã mội thời gây sôi nổi trên làn sóng điện đài Pháp Á (1948) và được sân khấu cải lương ưu chuộng.

Hoàng Phú sau đổi tên là Tô Vũ, tác giả những nhạc khúc tâm tình nổi tiếng như: Tạ Từ, Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa…lúc nào cũng ưu mỹ, trầm tư khác với anh là Hòang Quí. Thế hệ Hoàng Quí còn đáng ghi ở nhiều nét mà ngày nay hầu như thiếu sót: Đó là sự quên mình cho đoàn thể, cho kẻ khác. Giữa lúc phải chăm lo học hành, Hoàng Quí phải chăm lo cho đàn sói con, cho đàn em trong nhà, cho bạn tráng sinh đồng đội và âm nhạc.


Với bận tâm hết mực ấy, điều đáng ca ngợi là anh lại càng sáng tác những khúc yêu đời. Xây dựng cho người nhiều hơn, cho lòng mình thật ít, tuy nhiên, nhạc ngữ của Hoàng Quí cũng đầy sáng họa: Đêm Trong Rừng, Hương Quê (1946), Sa Trường Tiến Hành Khúc, nhất là bài Cô Láng Giềng, một luồng nhạc cảm u uất, và bài Đêm Trăng Trên Vịnh Hạ Long và bài Tú Uyên làm khi hấp hối là những sáng tác anh còn để lại.

Với đà thanh niên lịch sử thời đó, ngòai nhóm Đồng Vọng tất nhiên, không nên bỏ quên nhiều tác giả rải rác cùng nuôi một quan niệm soạn nhạc nhằm vào trẻ thơ, thiếu nhi. Nhiều bài hát thiếu sinh khác đã được truyền bá, trong đó có Khúc Nhạc Xuân của Nguyễn Quí Thuận, thêm bài Trường Cũ, Tuội Xuân, bài Chiều Quê của Anh Hải (Quê nhà tôi, chiều khi nắng êm đềm…), Dặm Về của Lê Ngọc Hùynh (hiện giờ đang làm giáo sư tại Saigon và cũng là tác giả những bài Tiếng Thu với danh hiệu Nam Huân, Trên Đường Hưng Quốc, Yêu Đóa Hồng Nhung), Thằng Cuội, Hoa Thủy Tiên của L.T., Trên Đường Xa của Lê Như Khôi, Chèo Thuyền của Lê Hữu Mục (em của Lê Ngọc Huỳnh và hiện là giảng sư Đại Học), Giang Tay Bước của Thẩm Oánh, Quãng Đường Mai (1940) của Nguyễn Hữu Ba v..v…nhiều bài của Trần Quang Ngọc, một đòan trưởng hướng đạo mà tác phẩm đã đăng trong Ngày Nay từ 1958 v..v..



(còn tiếp)

Edited by moderator Tuesday, August 8, 2017 10:21:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified


UserPostedImage
xuan hoang  
#31 Posted : Sunday, April 3, 2011 3:45:15 PM(UTC)
xuan hoang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 702

Thanks: 376 times
Was thanked: 208 time(s) in 146 post(s)
Cô Lái Đò

Nguyễn Bính


UserPostedImage



Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô gái ở bến sông kia
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước
Trên bến cùng ai đã nặng thề

Nhưng rồi người khách tình quân ấy
Đi biệt không về với núi sông
Đã mấy lần sông trôi, trôi mãi
Mấy lần cô lái mỏi mòn trông



UserPostedImage



Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi ước với tình quân.

Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông



UserPostedImage


Edited by user Wednesday, April 13, 2011 6:53:58 PM(UTC)  | Reason: bị mất hình

UserPostedImage
thunder  
#32 Posted : Sunday, April 3, 2011 6:00:06 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
QUẦN ĐẢO THỔ CHÂU

UserPostedImage


Quần đảo Thổ Châu ở về phía tây nam đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan, khoảng 9.29 Bắc vĩ tuyến và 103.54 Đông kinh tuyến, gồm có khoảng mười đảo lớn nhỏ. Đảo lớn nhất cỡ hòn Sơn Rái (hòn Lại Sơn) trong vịnh Rạch Giá, đảo nhỏ nhất là một mô đá nhô lên khỏi mặt biển. Như rất nhiều quần đảo khác trên biển Đông và vịnh Thái Lan được đặt tên từ thời Pháp thuộc, Iles Poulo Obi (hòn Khoai), Iles Poulo Condore (Côn Sơn), Iles Poulo Dam (Nam Du)... quần đảo Thổ Châu có tên Tây là Iles Poulo Panjang.

Khoảng năm 1970, nhân dịp chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tổ chức cắm trại, du khảo và săn bắn dưới biển ở quần đảo Thổ Châu, chúng tôi đã có cơ hội viếng thăm đảo. Phái đoàn tham dự cuộc cắm trại gồm có sinh viên các phân khoa của đại học Saigon, đại học Cần Thơ, Hải học viện Nha Trang, Hải quân VNCH, nhóm thể dục và thể thao thẩm mỹ (kiến càng), nhóm săn bắn dưới biển... Ngoài mục đích cắm trại, du khảo và săn bắn dưới biển, chính phủ muốn nhân cơ hội nầy để một lần nữa xác định chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên phần lãnh hải xa xôi nầy, nơi mà trước đó không lâu kết quả từ một số công cuộc khảo sát địa lý vật bằng phương pháp từ tính và địa chấn cho hay đáy biển trong khu vực bao gồm các lớp đá trầm tích dầy nhiều ngàn thước có triển vọng chứa dầu hỏa.Phái đoàn đại học Cần Thơ tập trung ở bến Ninh Kiều trước cổng trại Yết Kiêu, bộ tư lệnh Hải quân vùng 4 Sông Ngòi để được hướng dẫn vào trại và xuống thẳng cầu tàu, nơi chiếc HQ 401 đã có mặt từ trước, chiếc nầy còn có tên bệnh viện hạm Hàn Giang với chữ thập đỏ thật lớn bên hông tàu.

Tàu tách bến lúc chiều đang chầm chập xuống, nước dâng đầy mặt Hậu Giang, gió thổi hây hây mát rượi, sóng gợn lao xao, vỗ lách tách vào mạn tàu. Trên sông, bệnh viện hạm Hàn Giang thật vững vàng, không chút lay động, chúng tôi có cảm tưởng đang ở trên mặt đất liền. Sau lúc bận rộn di chuyển hành lý xuống hầm tàu và ổn định vị trí, nhiều người trở lên boong tàu để tiếp tục thưởng ngoạn cảnh trường giang phong lộng với trùng điệp nhà cửa và vườn cây nối tiếp nhau chạy giật lùi hai bên bờ sông. Cho tới khi cảnh vật mờ dần theo sự thoi thóp của ánh mặt trời, qua màn đêm nhá nhem, chúng tôi còn thấy nhiều anh chị sinh viên tì tay trên những sợi dây thừng của thành tàu như tiếc nuối cảnh đẹp trên sông lần đầu tiên quan sát được từ trên một tàu biển. Sau gần ba ngày hải hành, tàu đến quần đảo Thổ Châu, bỏ neo ngoài xa, cho chúng tôi đổ bộ bằng thuyền nhỏ. Ngay khi vừa đổ bộ, mỗi phái đoàn tự căng lều ở vị trí ấn định gần bờ biển, đào hố vệ sinh, cử người đặc trách từng phần vụ một.Buổi chiều sau khi cơm nước, nhóm chúng tôi tản bộ dọc theo bờ biển nơi nắm trại. Đó là một bãi cát hình cánh cung rộng cỡ bãi Trước Vũng Tàu, cát và nước thật sạch, những đợt sóng nối tiếp tay chạy vào bờ mang theo những mảnh vỏ sò, vỏ ốc đã nhẵn bóng vì cọ xát, nhiều sợi rong nâu vương vãi đó đây. Chạy dọc bãi cát phía trên bờ nhiều đám cỏ chông sắc cạnh làm đau chân những người không mang giày dép, những đám rau muống biển lá tròn và rộng, hoa trắng tím hình kèn giống như hoa rau muống miệt đồng ruộng Hậu Giang, hai loại cỏ nầy có rễ ngâm dưới cát, luôn mọc mạnh, vươn lên, không bao giờ bị cát phủ lấp, có tác dụng ngăn chận sự di chuyển của cát biển lên bờ; xa hơn và tiếp cận với cỏ chông và rau muống biển là những bụi dứa gai, gõ biển... rồi rừng dừa sai trái nối tiếp với rừng thưa trên cao.

Hình ảnh đập mạnh nhất vào mắt chúng tôi là một con vích (rùa biển) lớn cỡ bằng cái nia bị cột dưới một gốc cây ven bờ. Đây là lần đầu tiên tôi thấy loại rùa lớn như vậy. Bốn đứa chúng tôi ngồi trên lưng, rùa vẫn bò tới bò lui tự nhiên, ghê thay cho sức mạnh của nó!Phía biển, một chiếc khinh tốc đinh (PCF) bỏ neo cạnh bệnh viện hàm Hàn Giang lúc nào chúng tôi không rõ, và từ ngoài xa thật xa, trên mặt biển phẳng lặng, một khối nước trắng xóa đang tiến nhanh vào đảo. Đó là một chiếc khinh tốc đinh khác, chiếc nầy giảm tốc độ và bỏ neo cạnh chiếc trước.

Buổi tối chúng tôi đến nhà một ngư phủ lão thành để tìm hiểu tình hình dân cư trên đảo. Tiếp chuyện với gia chủ, ngoài chúng tôi còn có ba chiến sĩ hải quân đem theo nước đá, cà phê.... làm quà và góp chuyện. Ngư phủ lớn tuổi nhất trong nhà cho biết những nét chính:

- Đảo Thổ Châu có khoảng hai mươi gia đình dân chúng sống bằng nghề đánh cá từ đời ông cha. Nghề chánh là lưới tôm cá và làm khô, nhất là vi cá mập, khô cá gộc, tôm khô và khô cá đường. Một năm đôi ba dân khô được chở vào Rạch Giá bán để đổi lấy xăng dầu, máy móc, ngũ cốc và các thứ cần dùng khác. Trường hợp cần thiết có thể đi chợ An Thới ở cực nam đảo Phú Quốc, gần đường hơn. Ngoài các gia đình ngư dân, trên đảo còn có một tiểu đội địa phương quân từ tiểu khu Kiên Giang đến trấn đóng. Cứ mỗi ba tháng, toán mới đến thay thế toán cũ trở về đất liền. Ngoài ra thỉnh thoảng có các tàu tuần của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa và tàu đánh cá Thái Lan, bỏ neo trong lòng đảo tránh gió bão hoặc mua bán đổi chác với ngư dân. Mỗi năm dân chúng trên đảo phải di chuyển hai lần từ bãi ngự (là bãi chúng tôi đang cắm trại) sang bãi Dông và ngược lại tùy theo gió mùa đông bắc hay tây nam để được đỉnh núi giữa đảo che gió, khổ nhất là những tháng giao mùa, nơi nào cũng bị gió không biết trốn tránh ở đâu.

Buổi nói chuyện xoay quanh nhiều vấn đề khác nhau, trong đó có chuyện con rùa biển to lớn chúng tôi vừa gặp lúc chiều. Lão ngư phủ giải thích:

- Con vích biên bắt được từ mấy hôm trước, dự định mai làm thịt đãi ông Trần Văn Ân và phái đoàn từ Saigon ra. Thịt nó coi vậy mà ngon lắm, cầu mấy chục người ăn chưa chắc đã hết.Cụ Trần Văn Ân lúc đó là cố vấn của tổng thống VNCH. Năm nay cụ đã 88 tuổi, đang sống ở Pháp, do tình cờ chúng tôi nối lại liên lạc với cụ, được cụ xác nhận và làm sáng tỏ thêm một số sự kiện ở đảo Thổ Châu năm xưa.Số là đêm ấy cụ Ân ngủ trong một chòi lá nhỏ gần nơi con vích bị cột, nghe tiếng nó thở, nghĩ đến ngày mai nó bị hy sinh, cụ ân chạnh lòng nhớ lại những ngày tù tội của mình ở Côn Đảo. Sáng sớm cụ mời chủ nhân con vích đến cho hay đêm qua nằm mơ thấy đã ăn thịt vích và xin được phóng sinh con vật. Chủ nhân con vích vui lòng chấp thuận lời yêu cầu Cụ ân nhờ người khắc chữ “sanh” trên mu con vích và cho tám người khiêng con vật đưa trả về biển. Thời gian sau nầy chúng tôi có đi thăm quần đảo Côn Sơn và quần đảo Hoàng Sa bốn mùa gió lộng, có gặp lại những con vích biển tương tự, có con còn lớn hơn nữa, thịt vích đỏ tươi như thịt bò, sớ to, ăn ngon, hiền, không có phong, không gây dị ứng. Cũng chung quanh câu chuyện về con vích biển tối hôm ấy, được biết chúng tôi là những thầy giáo, ngư ông đã hỏi khéo:

- Bọn ngư phủ chúng tôi tuy sống gần loài rùa biển nầy nhưng không biết nhiều về nó. Mấy thầy học cao, hiểu nhiều hơn, có thể nào cho chúng tôi nghe chút chuyện? Một đồng nghiệp của chúng tôi dạy động vật học, hiện còn ở Việt Nam, tối hôm đó đã đáp lễ ngư ông:

- Rùa thuộc nhóm bò sát, đại cương có thể chia làm hai loại : loại mu cứng như rùa, đồi mồi, cần được...; loại mu mềm như con vích nầy hoặc cua đinh. Môi trường sống thay đổi từ biển như vích, đồi mồi, tới nước lợ cửa sông như cần đước, rùa và nước ngọt hoàn toàn hoặc nước đồng đây hơi chua như rùa và cua đinh. Riêng rùa không thôi đã có nhiều thứ, nào rùa vàng, rùa quạ, tùy theo mu dưới màu vàng hay đen; rùa nấp thường e lệ khép yếm lại dấu kín cổ và đầu trong mu, mới nhìn giống như một cái hộp, rồi còn rùa hôi, rùa sen... Con vích còn gọi là ba ba hay rùa biển rất thường gặp trong khu vực nam Thái Bình Dương, tới mùa sanh nở từng bầy có nơi đến hàng ngàn con nửa đêm bò lên bãi cát đào lỗ đẻ trong vô đó, mỗi lô chừng 10 tới 12 trứng, khác với trứng gà, tròng trắng trứng rùa không đặc khi nấu chín, tròng đỏ lớn và rất béo vì có nhiều chất mỡ. Đẻ xong, vích mẹ đái cho ướt cát, nhún bốn chân lên cao, buông mình xuống như cái chày nện cát thật dè dặt, đang đêm vắng lặng, áp tai xuống mặt cát ta nghe như có ngàn tiếng chày ình ịch.Ngày tháng nở, vích mẹ đang đêm lại từng vào đón con ra biển. Bà vợ lão ngư phủ đột nhiên ngắt lời:

- Mèn ơi? Thầy hai nói đúng quá trời, nói như thấy chuyện xảy ra trước mắt vậy. Có một bữa sáng, tui dắt con chó Mực đi dọc theo bờ biển, con Mực hửi cát, sủa lên gâu gâu rồi lấy hai chân trước bươi cát lên, mấy chục chỗ như vậy, mỗi chỗ tui lượm được chừng chục trứng, ngộ là trứng sắp thiệt dè dặt, lấy ra khỏi lỗ rồi không thể nào sắp trở lại mà không dư 2, 3 trứng. Bữa đó tui lượm bộn bề à, đâu cả thúng giê trứng vích. Cậu con trai đặt câu hỏi:

- Người ta nói rùa cắn trời gầm không nhả là tại trứng rùa nở lúc trời gầm chuyển mưa nên rùa không sợ trời gầm phải không thầy? Anh bạn tôi đã giải thích thật khoa học:- Không phải vậy đâu anh. Thật ra là thính giác con rùa rất kém nên nó không mấy khi phản ứng với tiếng động. Nếu bị rùa cắn, cứ lấy cái gì đó thọt vô lỗ mũi nó, hô hấp bị ngưng trệ qua đường mũi, nó mở miệng tức thì. Bạn tôi còn nói nhiều chuyện nữa về con vích, chuyện rất hấp dẫn, rất tiếc là tôi không còn nhớ hết. Một đồng nghiệp khác dạy Văn cũng góp chuyện:

- Rùa là con vật khá quen thuộc với người Việt Nam. Ca dao có câu

“Chiều chiều én lượn trên trời,
rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây”.

Chuyện ngụ ngôn có kể cuộc chạy đua giữa thỏ và rùa. Rùa chậm nhưng kiên trì nên tới đích trước, thỏ chạy nhanh nhưng tự cao, chểnh mảng, ngủ quên giữa đường, chừng thức dậy thì đã muộn. Ngư ông khen nức nở:

- Chuyện thiệt ý nhị, mấy cháu của ông phải luôn lấy đó làm gương, kiên nhẫn và tự tin. Anh bạn Văn tiếp lời:

- Ông bà mình nói rùa có căn tu, đình nào trước bàn thờ sắc thần cũng có hai con hạc đứng trên lưng rùa, còn vô chùa cũng vậy, ta thấy rùa đội bia, người xưa bất bình vì lẽ hạc đứng trên lưng rùa nên có câu

“Qui hạc xưa nay ở một đình,
cớ sao con trọng lại con khinh”.

Rùa là con vật hữu hình duy nhất trong tứ linh: long, lân, qui, phượng. Sách Tàu có ghi “thần long kiến thủ bất kiến vi”, rồi lần xuất hiện ở núi Trường Bạch, phượng từng đàn gáy ở Kỳ Sơn nơi Khổng Minh sáu bận ra quân đánh Tào Tháo, nào ai đã thật sự thấy rõ rồng, phượng và kỳ lân ra sao hay tất cả chỉ là do tưởng tượng. Sử nước ta có chuyện Trọng Thủy, Mỹ Châu, thần Kim Quy hay thần rùa, nỏ thần hay mống rùa bắn ra hàng ngàn mũi tên có khả năng chận đứng sức tiến công của muôn vạn hùng binh...

Sử Tàu có ghi, xưa thiệt là xưa thần rùa xuất hiện trên sông Hoàng Hà, trên lưng có hình bát quái, càn khảm cấn chấn tốn ly khôn đoài, là bản đồ của vũ trụ. Hà Nội có hồ Hoàn Kiếm, Saigon có công trường con rùa trước cửa viện Đại Học Saigon... Một anh hải quân có lẽ là bợm nhậu cũng vui vẻ đóng góp:

- Ở miệt U Minh Cà Mau rùa nhiều lắm, mỗi khi dân chúng đốt rừng tràm làm ruộng làm rẫy hay cháy rừng do sấm sét, rùa bò ra đầy đàn đầy đống, hàng trăm hàng ngàn con. Miệt Chương Thiện cũng thiệt là nhiều rùa. Thịt rùa nhậu “bắt” lắm, chỉ cần một nhúm muối hay một nắm lá sả, rau ngổ, rau đắng... là có ngay một bữa nhậu ngon lành. Thịt rùa xé phay trộn với rau răm rồi đưa cay thì “đã” hơn thịt gà giò mấy bậc, gan rùa ăn bổ tì, dân nhậu “mết” món này lắm.

Ở Cần Thơ có mấy quán nhậu làm món rùa rang hay rùa hấp nổi tiếng là ngon như quán Vĩnh Ký, Vĩnh Phát, Lan Xuân, Bảy Rùa...Người hỏi, người trả lời, câu chuyện cứ thế mà tiếp diễn đến gần 2 giờ sáng. Trong các ngày sau đó, chúng tôi mang ống thở mặt nạ, chân vịt và súng bắn cá, có người mang cả bình dưỡng khí, theo đoàn người săn bắn quanh đảo, có xuồng cấp cứu đi theo. Mỗi buổi chiều thợ săn và cá bắn được tập trung trước chòi Chúa Đảo để cân, sắp hạng và phát giải thưởng. Có người bắn được những con cá mú nặng đến 30, 40 kí lô, chiều dài gần bằng chiều cao một đứa bé chín, mười tuổi. Không ai gặp cá mập, tuy nhiên đến ngày thứ ba có một sinh viên săn cá tử nạn vì bị cá lớn lôi mà cắt dây không kịp để quấn vào san hô ngợp thở. Cuộc thi săn bắn dưới biển chấm dứt từ hôm đó dù còn rất nhiều người đi săn với tính cách cá nhân.Trong thời gian cắm trại ở đảo, ngoài việc săn bắn và thám sát khu vực đáy biển tiếp cận bãi Ngự, chúng tôi còn có cơ hội quan sát đất đá và cây cỏ trên đảo, săn bắn và khảo sát hải sinh vật ở bãi Dông, thăm hòn Nhạn và hòn Từ. Chúng tôi vượt núi, nói là núi nhưng không cao quá 100 thước, theo đường mòn, chặt phá dây mây và gai góc, lùm bụi để sang bờ biển bên kia đảo. Bãi Dông mùa ấy sóng gió tơi bời, lúc nước giựt bày ra vô số mỏm đá ngầm. Những chỗ nước yên tĩnh mặc dù tương đối vẩn đục, chúng tôi đã gặp vô số ốc xà cừ hình nón, ốc nầy giống y ốc đắng miệt vườn nhưng lớn bằng cái chén ăn cơm, người Nha Trang gọi là ốc đụn. Nhiều sinh viên bắt ốc lấy thịt ra, cạo sạch lớp rong rêu ngoài để lộ những kiến trúc có vân tuyệt đẹp, hoặc đem về phòng thí nghiệm ngâm trong acid thật loãng đôi ngày, vỏ vôi bị hòa tan chỉ còn lại toàn xà cừ óng ánh, đó chính là vật liệu dùng làm tranh sơn mài, liễn, tủ cẩn ốc xà cừ. Có mấy sinh viên Đại Học Cần Thơ viết về chuyện nầy đăng trên nội san phân khoa, dùng chữ Bãi Giông, dựa theo chữ Giông Tố, tự một tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Một thầy Việt văn sửa lại là Dông, thì ra ngay cả nhà văn Vũ Trọng Phụng cũng viết trật chính tả, nói chi đến sinh viên. Hòn Nhạn là nơi vô số chim biển tụ tập, nhất là về đêm. Nó giống như vườn cò Long Thanh (Sa Đéc) hay các sân chim miệt Cà Mau ngày trước. Điều khác là ở sân chim ta gặp đa số là cò, diệc, sến... còn ở đây là chim biển như nhạn, hải âu... Mùi nước đái quỉ (ammoniac) khai nồng do chim tiết ra, ngày nầy qua ngày khác luôn lảng vảng trong không khí.

Triển vọng khai thác phân chim ở hòn Nhạn để làm phân phosphate ammoniac (đạm và lân) bón ruộng không đáng kể so với trường hợp tương tự trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mùa nhạn đẻ, dân chúng trên đảo hay ra đây lượm trứng về dùng. Hòn Từ nhỏ hơn đảo chính một chút, cây cối rậm cạp, có rất nhiều khoai, loại giống như khoai mỡ trên đất liền, da sần sùi, đầy râu ria, thịt trắng đục, nhơn nhớt, củ lớn bằng bắp vế xấp, luộc chín ăn vẫn rất ngứa miệng.Sau chuyến đi, chúng tôi có ngồi lại viết một bài phúc trình về đất đá và sinh vật ở đảo Thổ Châu, một phần bài nầy đã được trích đăng trên nội san của Đại học Cần Thơ. Tôi không nhớ hết chi tiết vì đã lâu và rất nhiều lãnh vực chuyên môn khác mà tôi không mấy am tường.

Tuy nhiên tạm ghi lại ở đây những điều tổng quát, họa chăng có người biết nhiều hơn thì xin thêm vào cho được đầy đủ.Nhìn thấy từ trên mặt, quần đảo Thổ Châu cấu tạo bởi đá cát có nhiều chất sắt, hạt độ từ cực thô đến cực nhuyễn, với nhiều hướng trầm tích khác nhau như đã gặp ở An Thới (Cây dừa và Mũi Ông Đội) Phú Quốc, sự sắp lớp của đá cát còn tương đối nguyên vẹn chứng tỏ khu vực chưa chịu ảnh hưởng của những thời kỳ tạo sơn hay nguyên nhân địa động khác. Thú vật trên rừng có trăn và một loại khỉ mà người địa phương gọi là con cù lần, không thấy dấu hiệu của ác thú.Ốc biển có nhiều loại, nhiều cỡ, nhiều vẻ, nhiều màu. Nhóm hai mảnh có sò, hàu... đặc biệt là ốc tai tượng, loại dùng đựng nước thánh trong nhà thờ, có con bề ngang tới năm tấc, ở đại giới tuyến Úc châu, loại này lớn tới 1.2m. Dưới đáy biển vào những ngày nắng, ốc tai tượng mở rộng hai vỏ ra, nhuyễn mạc có rong cộng sinh màu sắc thật rực rỡ dùng ánh sáng để quang tổng hợp, nếu tưởng đó là một đám rong, ta đặt chân lên hải mảnh vỏ sò sẽ khép chặt lại giữ chặt chân ta. Trong những trường hợp đó chỉ có cách nhanh nhẹn dùng dao bén thọc vào miệng ốc, cắt bắp thịt (cơ) nối liền hai mảnh vỏ nếu không sẽ bị chết ngộp dưới đáy biển. Ốc này được Hoa kiều trong Chợ Lớn mua về lấy thịt chế tạo bào ngư (giả). Chúng tôi bắt ốc tai tượng đem lên bờ nấu cháo với dừa khô có sẵn trên đảo.

Sau này trên đường vượt biển tị nạn, thời gian ở đảo Poulo Tengah Mã Lai, tôi cũng đã lặn xuống biển bắt ốc tai tượng về nấu cháo với dừa khô. Nhóm một mảnh vỏ có ốc anh vũ, vòng xoắn lơi, thật nhiều gai; ốc bẹn giống một bàn tay khum hay dùng để dằn giấy hoặc mắc ở một đầu dây đờn độc huyền. Ốc xà cừ cũng thuộc nhóm một mảnh vỏ, gồm có loại hình nón đã nói ở bãi Dông, vòng xoắn nhặt; loại hình lưỡi liềm có chín lỗ (ốc cửu khổng, ốc bào ngư thiệt) lớn lắm chỉ bằng bàn tay. Rong có đại diện đủ loại, xanh lục, nâu và đỏ. Rồi còn cá biển đủ màu, đỉa biển đen thui, dài thoòng, gần như bất động, con nhum đầy gai tua tủa, san hô mềm lẫn cứng, và còn nhiều thứ khác nữa...Nói chung, cảnh trên bờ và nhất là dưới biển ở quần đảo Thổ Châu còn nguyên thủy, nguyên vẹn, chưa bị ảnh hưởng của con người so với những nơi khác như Nha Trang, Đại Lãnh, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hòn Tre, hòn Sơn Rái, An Thới...

Thế nên đã có hai giáo sư về môi sinh học (Ecology) thời đó nói rằng nếu có quyền chọn lựa giữa khai thác dầu trong khu vực, nghĩa là hủy diệt môi trường thiên nhiên và không khai thác dầu để bảo tồn thiên nhiên, họ sẽ chọn việc thứ hai.Trên đường về tàu ngược bắt cặp bến An Thới nơi có bộ Tư lệnh Hải quân vùng 4 Duyên Hải và căn cứ Hải quân Phú (ruốc để phái đoàn có dịp thăm viếng đảo nầy. Ở đây hầu hết mọi người đã mua các thổ sản như nước mắm nhĩ, khô cá thiều, tiêu xanh ngâm dấm... làm quà cho thân nhân, bè bạn. Nhiều người mua đồ trang sức, trang trí bằng đồi mồi và san hô làm vật lưu niệm.

Cũng ở An Thới, một số người xuống tàu đò về Rạch Giá, tiết kiệm hai ngày đường biển hoặc để tránh sóng gió như ở bận đi. Tối đó xuống tàu đò, sáng hôm sau đến Rạch Giá. Một năm sau chuyến du khảo quần đảo Thổ Châu, tôi được hồng thiệp mời dự lễ cưới của một chiến sĩ Hải quân và một sinh viên trường. Họ quen nhau lần ấy và người hùng đã theo tiếng gọi của giai nhân xin về phục vụ ở bộ Tư lệnh Hải quân vùng 5 sông ngoài tại Cần Thơ để được gần nàng. Hôn lễ thật tưng bừng, cô dâu chú rể thật xứng đôi vừa lứa.Hôm nay viết bài nầy tôi hồi tưởng lại những hoàng hôn trên vùng biển Thổ Châu, nhớ bãi Ngự với từng đợt sóng bạc đuổi nhau trườn mình trên cát. Nhớ bờ cát vàng ửng nắng đang từ từ lịm tắt, hàng dừa ven biển thật xanh, cao vút, đàng xa là núi Thổ Châu chỗ nâu chỗ lục tương ứng với màu của đá cát và rừng cây. Trên nền trời trong, đàn hải âu đang trải rộng đôi cánh trắng và xa hơn nữa trên mặt biển phẳng lặng, chiếc khinh tốc đinh của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa như một lưỡi sóng bạc tung mình lướt tới.Ôi quê hương Việt Nam! Nơi nào cũng đẹp. Nơi nào cũng là kỷ niệm.

Nguyễn Văn Ba

Hạ Vi  
#33 Posted : Sunday, April 3, 2011 6:39:29 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,556
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
(tiếp theo)

Nhạc Tiền Chiến - Lời Thuật của Lê Thương


UserPostedImage


LƯU HỮU PHƯỚC và TỔNG HỘI SINH VIÊN

Kể về sinh họat văn nghệ từ 1943 đến 1945 thì Tổng Hội Sinh Viên đã chế ngự phong trào tân nhạc và gây những ảnh hưởng sâu đâ5m chưa từng có. Nhóm khởi trong đám sinh viên Đại Học ở Hà Nội, trong đó sinh viên miền Nam tỏ ra nhiều khả năng văn nghệ. Tổng Hội Sinh Viên chú trọng đạc biệt đến việc dùng Tân nhạc trong cuộc đấu tranh, chính trị chống thế lực ngọai bang thời đó là Pháp-Nhật.

Từ ‎ định tổ chức Quán Trọ Thanh Niên (Auberges de la jeunesse) không thành, đến họat động diễn thuyết về lịch sử, lập trại thanh niên, hội đã gây tinh thần yêu nước mãnh liệt trong dân chúng, nhất là đám học sinh. Với một lập trường quốc gia cấp tiến và những đoàn viên trẻ tuổi hăng say, hội đã đem Lưu Hữu Phước lên một cao độ sáng tác quy mô, bền bĩ, soạn lời ca và nghiên cứu đề tài cho thành một quán quân vô địch trong một thời sôi độnglịch sử, những năm từ 1943 đến năm 1945.

Nhạc nghiệp Lưu Hưu Phước đi đôi với THSV và Phong trào Tân Nhạc đã ghi được những bước tiến mạnh dạn, về sinh khí trong nhiều lọai sáng tác:

Những trang sử oai hùng được lật lại trong những bài Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Hội Nghị Diên Hồng, Nam Tiến, Hát Giang Trường Hận…Thanh niên được kích động mạnh mẽ trong những bài Tiếng Gọi Thanh Niên (trước tiên là Tiếng Gọi Sinh Viên) đã được dùng làm bản Quốc Thiều cho chánh thể Quốc Gia Miền nam, Trung Đoàn Lam Sơn, Suối Lồ Ồ, Nhớ Đạo Anh Hùng, Lên Đàn, Gọi Đoàn…Thiếu sinh được thúc dục trong những bài Gieo Ánh Sáng, Thiếu Sinh Hành Khúc, Mừng Xuân, Đoàn Hùng, Bạn Đường…Thiếu nữ cũng đựoc ca tụng trong bài Việt nữ gọi Đòan Thiếu Nữ Việt Nam…

Nhiều cản trạng sầu niệm của tâm hồn qua thời binh lửa cũng được giãi bày như Kinh Cầu Nguyện, Hồn Tử Sỹ, sau những bài mô tả đoàn quân ma, Đói Lạnh, hoặc trước những giờ ngưỡng vọng được ca khúc Khải Hoàn. Qua lãnh vực thơ kịch, Lưu Hưu Phước đã phổ nhạc vào kịch thơ Tục Lụy của Khái Hưng, Thế Lữ và sáng tác tiểu ca kịch Con Thỏ Ngọc.

Nhiều khi anh cũng đem nhạc cảm chân thành, nhìn về điệu cổ truyền Việt Nam. Từ bản Ru Con, Thượng Lộ Tiểu Khúc đến Hương Giang Dạ Khúc, một tác phẩm Mỹ Thuật được xuất bản với nặc danh “Nhạc Sỹ Không Tên”. Phải chăng Lưu Hưu Phước cũng thành công cả trên phương diện “phong nhạc”?

Thời kỳ phong phú nhất về sáng tác của Lưu Hưu Phước là những năm từ 1942 đến 1945. Sau đó thời cuộc đã đưa anh đến những đoạn đường luân lạc mà thiếu sinh vẫn là nguồn cảm hứng và an ủi của anh trong việc sáng tác.

Đối với một “Lưu Hưu Phước tiền chiến” với những bài Thanh niên lịch sử nhiều thính giả và nhất là cựu sinh viên thời đó vẫn còn nuôi nhiều thiện cảm vì những kỷ niệm dạt dào tình thương dân tộc mà THSV đã gây nên bằng Tân Nhạc.

SINH HỌAT TÂN NHẠC TẠI MIỀN NAM
(1941-1945)


Đầu hè năm 1942, Nhật chiếm Hải Phòng và thời cuộc Đông Dương ngày càng gây cấn. Văn nghệ cũng theo đà chung mà đượm những âu lo. Tại đất Bắc, nhất là Hà Nội, kinh đô trí thức thời đó, Tân nhạc đang sinh hoạt mạnh. Nhưng tại Sàigòn, đất sinh sống của ca kịch Cải Lương với bản Vọng Cổ đã dứt khỏi nhịp 16 mà sang nhịp 32, như tại miền Trung, và riêng Huế, Đà Nẵng, Tân nhạc chỉ tiệm tiến, mặc dù phong trào khỏe và ban nhạc Bình Minh của Thanh Tịnh đã bắt đầu xuất hiện từ năm 1941.

Khi chúng tôi phiêu lưu đến đất Đồng Nai (và “mọc rễ” nơi đây đến giờ) và thử một cuộc vận động cho Tân nhạc thì có gặp hai người đã từng nân đở Tân nhạc là ông Nguyễn Văn Cổn, văn thi sỹ và cố nhạc sỹ Jean Tịnh, một cây vỹ cầm điêu luyện trong giới ca hát Cải lương. Cả hai đang làm việc tại Radio-Saigon, một cơ quan tư nhân đầu tiên phát thanh các “bài ta điệu tây” rồi đến bài Tân nhạc.

Hãng Radio-Saigon còn xuất bản một tạp chí cùng tên có đăng vài bài “âm nhạc cải cách” như Bông Cúc, nhạc Jean Tịnh, lời thơ Nguyễn văn Cổn (Radio-Saigon số 3 1-1-1943) rồi Thu Trên Đảo Kinh Châu (L.T.). Đi tìm hãng dĩa Béka và gặp ông Tôn, nhà Keller, thì buổi gặp gỡ, sau khi nghe mấy bài Tân nhạc, ông khen hay và kết luận bằng câu “đồ đó chưa xài”. Tại hãng Asia Phim Ảnh (ông Định) như Asia dĩa hát (thầy Mạnh quá cố) cũng không thấy kết quả nào, chúng tôi sang gõ cửa hội Bắc Việt tương tế (hồi đó là Bắc Kỳ Ái Hữu).

Một buổi diễn thuyết được hội tổ chức tại nhà hội (hiện giờ là đường Hiền Vương) trong đề tài Câu Chuyện Âm Nhạc Mới với sự góp mặt của ban nhạc Phi Luật Tân của Julio và sự trình diễn hạ Uy Cầm của hai nhạc sỹ Scawell và Nguyễn Thông (1-12-1941) nhưng chỉ đem một tiếng vang nhỏ. Quả thật lúc đó, Tân nhạc chưa gây được mảy may ảnh hưởng trong quần chúng miền Nam đang say mê Cải lương vào thời đại thịnh và trong rất nhiều gia đình quý‎‎ phái, nhạc Âu Tây là món tiêu khiển thường nhật nhưng âm nhạc mới là cái gì, họ chưa thèm lưu ‎ nếu không là khinh miệt.


Năm 1943, một năm trổi dậy của nhạc mới, tình thế bổng đổi hẳn.


Hội Nam Kỳ Đức Trí thể dục (SAMIPIC) mà hoạt động thường xuyên của tiểu ban mỹ thuật là âm nhạc, ca kịch mời bà Thái Thị Lang (được gọi hồi đó là bà Nguyễn Văn Tỵ) diễn tấu những nhạc khúc của bà về dương cầm như bài Lý Ngựa Ô, Bình Bán. Cố nhạc sĩ Võ Đức Thu trình bày dương cầm, một nhạc phẩm mới nhan đề Việt Nam tân âm điệu.

Tại vũ trường đã thấy truyền bá (và cả xuất bản) bài Tình Hận, nhạc Phạm Công Nhiêu và Antoine Đạm với lời Pháp hoa Việt (Ông Antoine Đạm đã từng tổ chức Minh tinh ca vũ đoàn lưu diễn khắp xứ) . Thời sôi động nhất năm 1943 là tuần lễ hoạt động của Tổng hội sinh viên tại Saigon với ca kịch Tục Lụy.


Trong một chương trình diễn xuất lộng lẫy chưa từng có cho Tân nhạc ca vũ kịch Tục Lụy với hàng chục ca khúc của Lưu Hữu Phước, hòa âm Lê Văn Kính, các nữ sinh trẻ đẹp (các cô Đào hát Lan, Đào hát Huệ, cô Thiều, cô Bình,...) bên những sinh viên tuấn tú của đất Đồng Nai, tổng hội sinh viên đã tạo nên một hứng sống không thể quên được cho khán giả Sài thành.

Trong buổi diễn còn giới thiệu những bài Ngày Xưa (Hoàng Phú), Một ra đi là không trở về của Lương Ngọc Châu v.v...

Sau kỳ hoạt động của tổng hội sinh viên tại Saigon, tờ tuần báo Thanh Niên nơi đây bắt đầu ủng hộ Tân nhạc.

Báo vui lòng dành chỗ cho một loạt bài nhận định về Phong trào nhạc mới của Lê Thương từ 25-3-43 đến 26-8-44.

Số Thanh Niên 40 ngày 30-9-44 còn đăng bản Tuyên ngôn về âm nhạc của 3 tác giả cùng ký tên: Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê, Nguyễn Tôn Hoàn. Bản tuyên ngông xét lại những ý thức nhạc thuật cũ mới Đông Tây và nêu một tinh thần phục vụ cho âm nhạc thời tranh đấu cho quốc gia dân tộc và tuyên dương phương pháp cấu nhạc của nhóm.

Cũng trong số báo này còn đăng các bài Hội Nghị Diên Hồng, Thượng lộ tiểu khúc, Gieo ánh sáng, Hờn sông Gianh, Xếp bút nghiêng, và tiểu ca kịch Con thỏ ngọc. Khắp nơi, nhạc sĩ Tân nhạc càng ngày càng đông, nhưng cô lập từng nhóm vì giao thông bế tắc.

Tại Huế, các nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, Văn Giảng, Lê Quang Nhạc hoạt động hòa nhạc. Sau bài Dưới bóng cờ (N.V. Thương) ra đời, Ngô Ganh đã truyền bá nhiều bài nhạc thiếu nhi mới sáng tác.

Tại Đà Nẵng, nhóm nhạc sĩ La Hối, Phan Huỳnh Điểu, Dương Minh Ninh cũng đang chuẩn bị cho những sáng tác năm sắp tới.

Nơi khác, nhạc sĩ dạy đàn hoặc truyền bá Tân nhạc càng đông. Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước cho xuất bản Cánh hoa đào, Hồ xưa, Cô lái đò (T.O.) Vầng trăng sáng, v.v...(D.T.T.) Lớp dạy nhạc của Thiện Tơ, Trần Đình Khuê, Dzoãn Mẫn, D.T. Tước (Hà Nội) Nguyễn Thông, Lê Ngát, Dzoãn Ân (Saigon) được mở đó đây.

Từ cuối 1943, nhóm Đức Quỳnh, Vũ Chấn, Dzoãn Ân, v.v... cũng toan cùng người bỏ vốn lập gánh hát Kim Thư dùng toàn Tân nhạc, nhưng không thành. Còn nhiều người khác nữa, Canh Thân, Phạm Ngữ (Hải Phòng) cũng truyền bá Tân nhạc.

Một số bản nhạc phổ về Chèo cổ của Nguyễn Xuân Khoát như Phụng mệnh quân vương, Quyết chí tu thân, Lơ thơ tơ liễu, Trấn thủ lưu đồn (42-44) Sau đó nhạc sĩ quay sang phổ nhạc một số câu đồng dao: Con cò, con mèo trèo cây cao, Con voi, Thằng bờm.

Một số bản nhạc phổ vào thơ cũng xuất hiện trên báo chí hoặc lan truyền trong giới người ưa nhạc, như những bài Màu thời gian của Nguyễn Xuân Khoát phổ vào bài thơ của Đoàn Phú Tứ (Xuân Thu nhã tập xuân Nhâm Ngọ 1942) Cô hái mơ của Văn Cao (thơ Nguyễn Bính) các bài Lời kỹ nữ (thơ Xuân Diệu) Bông hoa rừng (thơ Thế Lữ) Tiếng thùy dương (thơ Ngậm ngùi của Huy Cận) Lời vũ nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư) Tiếng hát thu (theo thơ của Lưu Trọng Lư) v.v... của Lê Thương, bài Tống biệt (thơ Tản Đà) của Võ Đức Thu v.v...

Nhạc tình cảm loại mỹ thuật dần chiếm phần quan trọng nhất trong xuất bản. Nhiều tác giả mới đã xuất hiện. Phần đông đều sáng tác tuy hứng sống và theo nhiều thể tài khác nhau, lúc thì hướng về chiến đấu hay thanh niên của trào lưu đang nổi bật, lúc thì quay về lòng mình, về tuổi trẻ vẫn cho lòng mình trống trải. Cũng trong giai đoạn 44-45, nhiều bài nhạc tôn giáo (giáo-nhạc) xuất hiện và được phổ biến. Bài A di đà Phật của Thẩm Oánh được giới thiệu nhân tuần lễ khánh thành chùa Quán sứ Hà Hội được trùng tu cuối năm 1942.

Tại Huế (theo nhạc sĩ Thẩm Oánh), ngành Phật-nhạc, một thời gian sau, phát triển điều hòa với các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (bài Sám hối...) và Văn Giảng đóng góp.

Bên ca khúc giáo đường Thiên chúa giáo thì sau một thời lâu dài truyền bá những bài vãn ca theo cung điệu la-tinh, thời sáng tác dồi dào có lẽ chỉ bắt đầu với Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh (Hà Nội) gồm những nhạc sĩ Hùng Lân, Tâm Bảo, Thiên Phụng, Hải Linh tích cực sáng tác hàng trăm bài tập hợp trong những tập Cung thánh những năm 1944-45.Đáng lưu ý hơn nữa là việc khởi công hoạt động của Hội khuyến nhạc Bắc Việt thành lập khoảng 1944 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Diệp làm hội trưởng. Hội được sự cộng tác của nhiều nhạc sư, nhạc sĩ hữu danh như ông Lưu Quang Duyệt, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiếu, v.v... và nhiều nhân viên đội quân nhạc vệ binh Hà Nội.

Nhờ có lực lượng hùng dũng, điêu luyện nên cuối năng 1945, hội KNBV đã ghi được công đầu bằng một cuộc đại hòa tấu long trọng vào kỳ đại hội âm nhạc năm đó. Bài hòa tấu Tươi Sáng (?) đã được hoan nghênh nhiệt liệt.

Một thành công khác của hội khuyến nhạc và việc tổ chức Cuộc thi sáng tác tân nhạc đầu tiên tại Việt Nam vào cuối 44 đầu 45. Nhiều bài nhạc được giải thưởng hoặc khuyến khích như hai hành khúc trầm hùng Việt Nam hùng tiến của Thẩm Oánh và Việt Nam minh châu trời đông của Hùng Lân cùng trùng giải đầu đồng hạn, và bài Trung thu đất Việt của Tống Ngọc Hạp. Bài này có phần phụ họa của ông Lưu Quang Duyệt cũng được giải thưởng.

VI. Cảnh đua nở Tân Nhạc các năm 1945-46


Khi tiếng súng bắt đầu nổ tại miền Nam (23-9-45) thì cuộc tản lạc còn kéo dài nhiều năm hay ít nữa một đôi năm cho những người trở về thành phố. Từ Phan Thiết trở vào tình trạng ấy là tình trạng chung.

Miền Bắc, từ Phan Thiết trở ra, tiếng súng chỉ nổ vào 1 năm sau (19-12-46). Thời gian ấy, tạm hưởng hòa bình trong nền độc lập tương đối, miền Bắc sinh hoạt văn nghệ mạnh và nhạc bản xuất hiện nhiều trong khi miền Nam đã im hơi lặng tiếng từ lâu.

Những cuộc giao thông hạn chế, từ cuối 1944 lập lại giữa các miền đem nhạc phẩm miền Bắc vào Nam thường là những bài hơi cũ, không đầy đủ. Đến hết năm 46 hay 47 khi tại miền Nam, tân nhạc bắt đầu sống dậy tại vài thành phố tạm ổn định thì đến phiên miền Bắc tản lạc, phải chờ đến 1948, mới có những cuộc hoạt động rải rác.

Tình trạng nói trên cắt nghĩa tại sao khó mà biết rõ những tác phẩm và tác giả Tân nhạc gọi là tiền chiến của thời xáo động từ 44 đến 46. Không nắm được tài liệu trong tay, cũng không biết được phần đông các nhạc sĩ miền Bắc xuất hiện từ sau 1941, 42, vì (như đã nói trên, chúng tôi đã vô Nam từ giữa năm 1941) những điều nói lên về nhạc phẩm tiền chiến vào những năm chót chưa hoàn toàn đích xác được.

Vậy chỉ xin kể tên bài và tên tác giả nào mà, sau khi biết và thâu thập tài liệu về họ, chúng tôi còn giữ được sau những mất mát đáng tiếc do thời cuộc gây nên.Đầu tiên phải kể Văn Cao, nhạc sĩ nổi bật từ 1945 với những tác phẩm Thiên Thai, Trương Chi, Buồn tàn thu, được ưa thích khắp nơi. Với tư cách chiến sĩ, Văn Cao sáng tác thật nhiều nhạc chiến đấu như nhạc mỹ thuật, ta chỉ cần nhắc tên ít bài như Tiến quân ca, Bắc Sơn, Chiến sĩ Việt Nam, Chiến sĩ hải quân, Chiến sĩ không quân, Thăng Long hành khúc.

Đỗ Nhuận, người chiến sĩ như Văn Cao, sáng tác cũng nhiều. Được mọi nơi truyền bá là các nhạc phẩm Nguyễn Trải Phi Khanh, Đoàn lữ nhạc, nhất là bài Nhớ chiến khu. Phạm Duy, người du ca tiên khởi từ năm 1943 "người reo nhạc buồn của Văn Cao khắp chốn" (lời tặng của Văn Cao) đầu năm 46 sáng tác Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu rồi Xuất quân (46). Nhưng nhạc nghiệp Phạm Duy còn dài hàng trăm bài mỹ thuật đủ loại về sau.

Từng lai vãng miền Nam và được nhiều quen biết tại Saigon, có các nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, tác giả Đêm Đông, Bướm hoa, Trên sông Hương, Leo núi Bạch Mã, giọng nhạc yêu kiều, tha thiết, Nguyễn Đình Phúc, tác giả Cô lái đò, Lời du tử... giọng nhạc vọng hoài tràn thi tưởng.

Miền Trung và riêng vùng Hội An, Đà Nẵng, một nhóm nhạc sĩ đồng thời xuất hiện, đem ra một phong khí nhạc đẹp sáng, gợn gió trùng dương như những bài Xuân và tuổi trẻ (La Hối) Mùa đông binh sĩ, Trầu cau (Phan Huỳnh Điểu) Trai đất Việt (Dương Minh Ninh) Trên sông Hương (Nguyễn Văn Thương và các bài nói trên). Sau đó ít lâu còn Ngọc Trai, tác giả Nhắn người chiến sĩ, Bến Hàn giang, Nhạc sĩ với giấc mơ.

Loại hành khúc chiến đấu thì thịnh hành hơn hết và được nhiều tác giả sáng tác suốt mấy năm liền. Dồn dập trong năm 45, 46, người ta còn nhớ những bài Việt Nam thống nhất (Đào sĩ Chu, hiện giờ là dược sĩ) Gò Đống Đa (Văn Cao) Giải phóng quân, Tuyên truyền xung phong (Phan Huỳnh Điểu) Độc lập muôn năm, Khóc cơ hàn (Nguyễn Văn Thương) Không làm nô lệ (Mộng Quỳnh) Hồn Việt Nam (Bùi Công Kỳ) Diệt phát xít (Nguyễn Đình Thi) Đoàn quân ma, Mai Pha (Lưu Hữu Phước) Việt Nam phục quốc (Thẩm Oánh) còn nhiều nữa, chưa tiện kể hết.

Loại nhạc mỹ thuật, hoặc thanh niên, nói chung những bài không ngụ ý gì hơn là miêu tả một ý sống, một cảm giác đối với cuộc đời, một cảnh sinh hoạt thông thường... thì rất nhiều.Những "bức họa âm thanh" ấy chỉ cốt đẹp về thể chất và gợi cho người nghe một cảm-sống. Có những tên bài đọc không đã gợi nhiều thi-tưởng:

Dạ khúc của Mỹ Ca (một cố nhạc sĩ khả ái cùng Sầm Giang - Định Tường) Bến xuân, Suối mơ của Văn Cao, Bóng ai qua thềm của Văn Chung, Tiếng Xưa, Đêm tàn bến ngự của Dương Thiệu Tước, Cây đàn bỏ quên, Chinh phụ ca của Phạm Duy, Giáo đường im bóng của Thiện Tơ, Mơ hoa của Hoàng Giác, Gấm vàng của Dương Minh Ninh, Cô lái đò, xa cách muôn trùng của Thẩm Oánh, Con thuyền xa bến của Lưu Bách Thụ, Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát, v.v..., còn hàng trăm bài tương tự mà danh sách muốn kê khai phải nhiều trương giấy.

Phần đông nhạc sĩ tiền chiến, dầu vẫn nuôi một thành tâm phụng sự và sẵn sàng lăn mình vào chiến cuộc như một chiến sĩ văn nghệ khi cần, nhưng tâm hồn họ vẫn không thể quên lãng phần rung cảm cá nhân đưa đến chỗ sáng hóa tự do là nhạc phẩm mỹ thuật. Nét chải chuốt trong nhạc phẩm loại này mang nhiều công phu tạo tác và dựng nhiều cá tính của tác giả nhất. Phải chăng ngày nay nhạc tiền chiến còn được nhiều người ưa thích cũng nhờ ở nét độc sáng nhận thấy ngay trong mỗi tác phẩm, nhất là mỹ thuật ít thấy trong đó sự toa rập vào một khuôn của đề tài, của nhịp điệu như sự đổ xô khai thác những đề mục "hái ra tiền" để rồi đổ xô sang một đề mục khác.

Một điểm dễ thương nữa của giới tiền chiến là hầu hết đều nếm mùi túng bần về tiền, đau xót về tình hay nạn tai ít nhiều vì bài nhạc mình làm ra theo lý tưởng. Không nghe nói đã có ai phản quốc trong họ hoặc đã trớ trêu bịp bợp như nhiều nhà chánh trị một thời và muôn thời. Hơi ngây thơ với cuộc sống, đầy cạm bẫy, khá dại dột với lòng nhạy cảm cả tin đời, họ dễ bị lôi cuốn vào những tai bay vạ gió cho được khổ để mà than thân bằng nhạc.

Họ cũng có những tị hiềm trẻ con, những giận dữ tức cười, vì chỗ chủ quan trên đường nghệ thuật. Mà họ phải chủ quan mới có vững tin về nghệ thuật. Thời tiền chiến, nhất là những năm còn xa chiến tranh, lúc đó đất nước còn đủ ba "kỳ", còn có chỗ cho họ phiêu lưu tìm hứng. Lúc đó chỉ có một đường yêu nước là nên độc lập cho quốc gia dân tộc.

Nhiều người đã chết trong thời binh lửa hoặc đang sống đó đây không bè bạn. Hát lên nhạc phẩm xanh mướt của tuổi thanh xuân, chắc sưởi ấm được tâm hồn họ ngoài xa cách...

Edited by user Tuesday, August 8, 2017 10:22:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#34 Posted : Sunday, April 3, 2011 8:46:54 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)
Hoàng Giác bên giấc Mơ Hoa


Nếu gặp gỡ mà tôi có được với bà quả phụ Huy Cận, là một gặp gỡ “Ngậm Ngùi”, vì sự ra đi vĩnh viễn của tác giả “Lửa Thiêng;” thì cuộc gặp gỡ tôi có được với tác giả những ca khúc đã trở thành bất tử, như “Mơ Hoa,” “Ngày Về,” “Quê Hương, “Khúc Hát Thương Binh”... lại là một gặp gỡ đầm ấm, hạnh phúc trong căn nhà nằm sâu trong một con ngõ, phố cổ, Hà Nội, Hàng Bạc.

UserPostedImage
Nhạc sĩ Hoàng Giác, giữa thế kỷ trước.

UserPostedImage
Bà Kim Châu, cựu hoa khôi Hà Thành, trong tấm hình chụp thời trẻ.


Tôi nghĩ, cảm nhận của tôi, tối thiểu cũng đã không sai, trước nụ cười, vẻ rạng rỡ, nét sang cả, phong cách khuê các không bị thời gian ác độc lấy đi khỏi gương mặt, giọng nói của bà Kim Châu. Người phụ nữ hoa khôi, nổi tiếng một thời của Hà Thành. Người bạn đời như một chiếc phao cưu mang nhạc sĩ Hoàng Giác trên dưới sáu mươi năm. Người đàn bà hương sắc một thời, đã mở rộng vòng tay đón tôi.

“Tung cánh chim tìm về tổ ấm/ Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm...”

Ðúng vậy! Ngay khi vừa đến trước ngôi nhà nhỏ bé của nhạc sĩ Hoàng Giác, dòng nhạc đầu tiên của ca khúc “Ngày Về” đã thánh thót tới run rẩy vang lên trong tôi...

Chỉ mấy ca từ đơn giản vậy thôi mà, tôi bỗng nhận ra, như một khám phá ngỡ ngàng về chính mình:

“Ô! hóa ra tôi đã lớn rồi ư? Tôi đã trưởng thành? Ðã đủ lông cánh để một mình bay nửa vòng trái đất. Thực hiện lấy cho mình một “ngày về”? Ngày về lại: “Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm...” Dù nơi chốn mang tên quê hương, mang tên “đằm thắm” kia, có với tôi, không được bao lâu. Nhưng đó vẫn là “tổ ấm” đầu tiên của tôi.

“Tổ ấm” lớn, nơi tôi trải qua một phần tuổi thơ của mình. Nơi tôi muốn trở lại tìm kiếm tình yêu thứ nhất. Cái tình yêu dành cho căn nhà nhỏ, ủ trong một khu cư xá, nơi tôi chào đời. Cái tình yêu dành cho những con đường tuổi thơ tôi đi qua. Ngôi trường tôi đã học. Sân chơi tôi đã sống với đôi mắt và trái tim mở lớn, lúc nào cùng háo hức tiếp thu thế giới lạ lẫm, quyến rũ muôn màu. Nơi tôi có những đứa bạn, tôi từng quấn quýt, yêu thương. Như yêu thương phần lấp lánh đáng yêu nhất của đời mình.

Tất cả những thứ tình yêu đó, đã như những cánh cửa đời sống cực lớn, mở rộng, dẫn đường đi tới hôm nay.

“Tung cánh chim tìm về tổ ấm...”

Chỉ mấy ca từ đơn giản vậy thôi, mà mỗi giây, âm vang một khuếch đại trong tôi, như những dòng thác ầm ầm đập dội bốn vách tường ký ức.

Ô! Hóa ra tôi không chỉ có một tổ ấm nhỏ bé là ngôi nhà ở gần một góc đường, thành phố Garden Grove, tiểu bang California, với bố mẹ và H.”

Hóa ra tôi không chỉ có một “tổ ấm” bao lần to lớn hơn, là quê hương, mà tôi còn có nhiều “tổ ấm” khác nữa? Một trong những “tổ ấm” khác nữa đó, chính là cái “tổ ấm” trong “Ngày Về” của nhạc sĩ Hoàng Giác. Một thứ “tổ ấm” rất riêng mà hóa chung, cho mọi người.

Thứ “tổ ấm” của tình yêu nguồn cội. Thứ “tổ ấm” của “nơi sống bao ngày giờ đằm thắm...” Và, giờ đây, giây phút này, tôi sắp được bước vào. Bước vào “tổ ấm” của “tổ ấm” Hoàng Giác.

Thời gian chia tay với “nơi sống bao ngày giờ đằm thắm” để xuất ngoại, tôi còn nhỏ lắm. Nhưng chẳng vì thế mà tôi không thấm thía, không muốn chảy nước mắt khi, “Nhớ phút chia ly ngại ngùng bước chân đi / luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh...”

Tôi nghĩ không biết có quá sai chăng, khi tin rằng bất cứ ai, một khi đã có tình yêu với đất nước, với nơi chôn nhau cắt rốn của mình, thì dù ở độ tuổi nào, tình yêu ấy cũng vẫn là một tình yêu thực, đến có thể sờ mó, cầm nắm được.

Sự khác nhau, nếu có, chỉ ở nhận thức của mỗi cá nhân, mỗi độ tuổi mà thôi.

Khi phải chia tay với “nơi sống bao ngày giờ đằm thắm,” ở tuổi còn rất thơ dại, tình yêu thực ấy, với tôi, rất thực!

Vào những giờ phút trước khi lìa bỏ căn nhà đã ở, tôi đăm đăm nhìn chiếc sân chung rộng thênh, chứng nhân của biết bao cảnh ngộ khóc cười! Nơi mỗi sáng, tôi chờ đợi tới nuối lòng, những gánh quà rong. Nơi tôi lăn những vành bánh xe đạp đầu tiên. Những cuối tuần, ngó mông lung đường cái, chờ bạn.

Ðó cũng là lúc tôi ngắm nhìn từng bốn bờ tường, nơi những cuốn lịch được gỡ xuống, treo lên, bao năm chỗ ấy. Nơi những khung hình không bảo vệ nổi sự xâm chiếm thầm lặng nhưng tàn nhẫn của thời gian. Khiến những tấm ảnh gia đình, người thân, còn mất vàng phai, nhòe ố. Nơi có chiếc ghế tôi quen ngồi. Chiếc bàn những bữa cơm. Chiếc quạt máy chóc ngóc góc nhà, khi chạy khi ngưng... nhìn tôi, hấp háy ngạc nhiên. Nơi tủ sách của mẹ, tôi từng tần ngần, thèm khát ngắm nghía bao lần, với câu hỏi:

“Bao giờ ta mới được tự do (dù phải bắc ghế) rút những cuốn sách muốn đọc, trong tầng tầng sách vở kia?...” Và tức chết đi được, mỗi khi nhờ anh Cu Quân lấy giùm, lại tốn mất một cây cà rem.

Khi phải chia tay với “nơi sống bao ngày giờ đằm thắm,” ở độ tuổi còn rất thơ dại, tình yêu thực ấy, với tôi, rất thực.

Vào những giờ phút cuối cùng trước khi lên xe ra phi trường, tôi nắm tay Diễm My. Nhìn sâu trong mắt bạn. Tôi hứa hẹn sẽ viết thư cho Diễm My. Tôi cam kết học xong, trưởng thành, tự lập rồi... tôi sẽ trở về kiếm My. Tôi nói với bạn bằng tất cả nỗi ngậm ngùi thơ dại, (như một thứ thề bồi trai gái) khiến cả hai cùng muốn chảy nước mắt.

“Nhớ phút chia ly ngại ngùng bước chân đi/ luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh...”

Tôi nghĩ không biết có quá sai chăng, khi tin rằng, chẳng cuộc đời nào không có ít nhất một lần, “ngại ngùng bước chân đi...” Chẳng cuộc đời nào, không có ít nhất một lần “luyến tiếc... ngày xanh!” Cũng như chẳng cuộc đời nào, không có ít nhất một lần “tha thiết mong tìm về bạn cũ...” Cũng hệt như tôi vẫn đinh ninh (sau nhiều lần òa khóc) rằng, đã là con người, dù cứng rắn mấy, ai chẳng đôi lần, nước mắt.

Giờ đây, tôi đã trở về. Tôi trở về, đứng tại đầu nguồn, nơi phát xuất cái “tổ ấm” nhắc nhở, khuyến khích, thôi thúc tôi phải “tung cánh chim tìm về tổ ấm...”

Tôi không biết có phải âm vang biển dội của “Ngày Về” hay sự sống lại với quá khứ “nhớ phút chia ly ngại ngùng bước chân đi” hoặc cụ thể hơn, lát nữa đây, tôi sẽ được chiêm ngưỡng cha đẻ của “Ngày Về,” (một trong vài ca khúc ươm mầm thương nhớ quê hương, trong tâm hồn tôi,) là tác nhân chính khiến tôi nôn nao, choáng váng?

Tôi nghĩ, có thể không riêng một yếu tố nào, mà tất cả... Tất cả “đất trời” của những điều vừa kể, đã tác thành cảm thức rưng rưng mỗi giây một thêm bồng bột trong tôi.

Và, tôi cũng không biết có phải vì tôi chăm chắm, hồi hộp nghĩ tới chuyện được diện kiến nhạc sĩ Hoàng Giác, nên phần nào tôi đã bất ngờ, ngỡ ngàng khi người đầu tiên tiếp tôi, lại là bà Hoàng Giác!

Tôi cũng không hiểu lý do gì, khiến tôi cứ chắc mẩm, người tôi gặp đầu tiên, sẽ là tác giả của những ca khúc như “Mơ Hoa,” “Ngày Về”... mà không phải bà Hoàng Giác!

Tôi cũng không biết phản ứng của tôi sẽ ra sao, thế nào, nếu tôi không nhận được vòng tay rộn rã tình thương của bà.

Nhưng giờ đây, mọi chuyện đã qua một cách suông sẻ.

Bà Kim Châu thương yêu cầm tay, dắt tôi bước vào cái khoảng không gian có phần khiêm tốn, thanh bạch, nhưng không kém phần đầm ấm của ông bà.

Bà reo vui giới thiệu tôi với nhạc sĩ Hoàng Giác. Bà nói với ông, về tôi, như thể tôi là đứa cháu được bà thương yêu nhất, lâu ngày mới gặp lại. Một đứa cháu nhỏ nhít bày đặt “tung cánh chim tìm về tổ ấm...”

Bà chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế cách nhạc sĩ Hoàng Giác một chiếc bàn nước nhỏ. Nụ cười đôn hậu, an bình của tác giả “Ngày Về” gửi sang tôi niềm hân hoan bồng bềnh. Nhưng giữa những chân tóc đã bạc của ông, tôi vẫn thấy lấp ló đâu đó, ít nhiều nhẫn nhịn, chịu đựng.

Tôi đặt bàn tay nhỏ bé, run rẩy của mình, lên bàn tay tài hoa của ông. Tôi nghe được những đợt hơi ấm (từ trái tim ông,) ân cần chuyền qua tôi. Không một khoảng cách. Tuy nhiên, nếu không có sự đon đả, cởi mở đầy tình thân của bà, chắc tôi sẽ không biết nên mở lời, nên nói với ông điều gì...

Bà Hoàng Giác!

Tôi chợt nhớ tới điều mẹ tôi thường nhắc nhở tôi:

“Chẳng phải khi không một người phụ nữ bỗng trở thành bà Văn Cao, bà Huy Cận...”

Tôi tiếc mẹ tôi không ở bên cạnh, lúc này, để tôi có dịp xác nhận:

“Ðúng đấy, mẹ ơi! Chẳng phải khi không mà bà Kim Châu trở thành bà Hoàng Giác, mẹ ạ.”

Tôi càng thấy tiếc hơn nữa, sự vắng mặt mẹ tôi, lúc bà Hoàng Giác mang cuốn album lưu giữ từng bản nhạc của Hoàng Giác, kèm theo ảnh chân dung những người con gái được coi là linh hồn hay nguồn gốc của những tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Giác.

Bà thân ái chỉ tôi thấy từng người. Kể vanh vách từng tên tuổi, thành tích “kẻ thù” của bà, bằng giọng ngân nga tự tin... Nhưng bà vẫn không che dấu được ít nhiều biếm nhẽ khi tôi chỉ bức hình người con gái rất đẹp, đi kèm bản nhạc “Mơ Hoa.” Tôi những tưởng đó là chân dung thời thiếu nữ của bà. Ðâu ngờ, bà lắc đầu, cười bao dung, buông gọn:

“Bà làm gì mà... tân thời được đến thế, con!...”

Tôi nhìn qua ông. Tác giả “Mơ Hoa” đã bước qua tuổi 80 nhưng nét phong nhã của một nghệ sĩ đất Thăng Long vẫn còn lưu luyến, thân ái chưa chia tay ông. Ông nhìn lại tôi, với nụ cười hóm hỉnh. Không một lời, ông chỉ gục gặc đầu, nửa như xác nhận, nửa như xấu hổ...

Sau câu chuyện của một thứ nữ... “Thập diện mai phục”(Mẹ tôi thường gọi như thế) từ quá khứ, bà Hoàng Giác quay về với những nơi chốn, những “ngày giờ đằm thắm...” Bắt đầu từ cuộc hôn nhân giữa bà và nhạc sĩ Hoàng Giác.

Nói về cuộc hôn nhân mà định mệnh (rất hiếm khi rộng lượng) đã gõ và mở lớn cánh cửa ước mơ thầm kín của mình, bà kể, trước ngày toàn quốc kháng chiến, năm 1945, theo ghi nhận của một số người cùng thời, thì bà được coi là hoa khôi đường Quán Thánh.

Sinh trưởng trong một gia đình nho phong nề nếp, sắc đẹp của bà Hoàng Giác không chỉ là đề tài trên môi của nhiều tài tử, giai nhân; bà còn là niềm mơ ước thầm kín của rất nhiều chàng trai Hà Thành.

Nhưng những người này đâu biết rằng, chỉ sau một vài lần theo cha mẹ tham dự mấy buổi trình diễn nhạc tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, trái tim thanh khiết của cô hoa khôi đường Quán Thánh đã thầm trao gửi cho tiếng hát, tiếng đàn của người nhạc sĩ trẻ tuổi mang tên Hoàng Giác.

Tôi nghĩ, điều nên nhấn mạnh ở đây là, không chỉ những người theo đuổi bà, mà ngay người nhạc sĩ trẻ tuổi mang tên Hoàng Giác, cũng không hề hay biết trái tim nàng Kim Châu đã ký thác cho ông, như một ước nguyền trăm năm, bất biến.

Bà kể, có thể khi ấy, tác giả “Ngày Về” vẫn chưa ra khỏi giấc mơ đầu đời, bất hạnh! Bà nói:

“Ông vẫn còn mụ người vì cái cô hàng xóm, đã lấy chồng, người khiến ông viết bài ‘Mơ Hoa’, con à!...”

Tới đây, không một chút ý hướng bênh vực nào hết, tôi trộm nghĩ, nếu không có giấc mơ bẽ bàng kia, liệu nền tân nhạc Việt Nam, giai đoạn mở đường, có thể có một Hoàng Giác, nhạc sĩ mà tài năng được thực chứng ngay tự ca khúc đầu tay “Mơ Hoa”? Một tác phẩm nằm trong dòng lãng mạn, nhưng không quá sướt mướt, bi lụy như đa số những ca khúc tiền chiến, mở đường:

“Tan giấc mơ hoa/ bóng người khuất xa/ đôi đường từ đây/ ai bước đi không hẹn ngày/ người tuy xa cách/ nhưng lòng ta khắc ghi/ bên đèn một bóng/ tháng ngày chờ mong...” (Trích ca khúc “Mơ Hoa”)

Tôi lại nghĩ, biết đâu, chính vì cái tâm sự “bên đèn một bóng/ tháng ngày chờ mong” của nhạc sĩ Hoàng Giác, đã chẳng khiến nàng Kim Châu “nhận ra” tính thủy chung một cách “thành khẩn” của tác giả... Nên chi, khi Hoàng Giác cất tiếng hát... ông đã vô tình làm thành một giấc “Mơ Hoa” khác, âm thầm thắp sáng trái tim thiếu nữ chớm biết tương tư của nàng Kim Châu?

Biết đâu, từ giấc “Mơ Hoa” với “bên đèn... một bóng...” của Hoàng Giác, “quan hệ” với một người con gái khác, lại chẳng trở thành một giấc “Mơ hoa... mới” với “bên đèn... đôi bóng” của người con gái hoa khôi đường Quán Thánh?

Tuy nhiên, tôi hằng nghĩ (hy vọng không sai lắm) rằng, mỗi con người, dù ở tuổi nào, đều có cho riêng mình, những giấc mơ... hoa. Và, giấc mơ... hoa đó, chỉ có thể thành sự thực, nếu định mệnh cay nghiệt chịu nhắm mắt, quay lưng, để thần may mắn mỉm cười với kẻ đó.

UserPostedImage
Orchid Lâm Quỳnh (trái) với nhạc sĩ Hoàng Giác và bà Kim Châu trong nhà hai ông bà.

Bà Hoàng Giác kể rất thành thật rằng, giống như thần may mắn đã mỉm cười với bà, với giấc “Mơ Hoa” thầm kín của bà, khi song thân tác giả “Ngày Về” nhờ người mai mối bà, cho con trai của họ.

Lúc đó, nhạc sĩ Hoàng Giác của chúng ta, đã 28 tuổi nhưng vẫn còn “bên đèn một bóng”...

“Con có biết rằng, đàn ông con trai thời đó, 28 tuổi mà vẫn chưa có vợ thì kể như là... trai già rồi đấy...” Bà Hoàng Giác dí dỏm, âu yếm nhìn chồng sau câu nói.

Trở lại với “tình sử” của mình, bà Hoàng Giác tiết lộ, trong gặp gỡ đầu tiên kia, chỉ riêng bà biết, định mệnh đã nghe được lời khẩn nguyện tha thiết của bà. Trong khi tác giả “Mơ Hoa” lại tự hỏi, ông ngủ mơ chăng(?),khi nàng Kim Châu nhận lời cầu hôn của ông? Tới giờ chót, ông vẫn còn hồi hộp, lo lắng...

Bà Hoàng Giác nói, sở dĩ có chuyện nhạc sĩ Hoàng Giác “hồi hộp, lo lắng” vì ngay khi có tin “Hoàng Giác cầu hôn Kim Châu” dư luận Hà Nội đã xôn xao, bàn tán...

Rất nhiều người bằng nhiều hình thức khác nhau, lên tiếng cảnh cáo, can ngăn bố mẹ bà không nên gả con gái cho một anh chàng nhạc sĩ “nghèo rớt mồng tơi!” Nhưng bà quyết liệt cho thấy, nếu không phải là nhạc sĩ Hoàng Giác thì bà sẽ không lấy bất cứ một người đàn ông nào khác, dù giàu có, hoặc địa vị tới đâu.

Ðể kết luận chuyện tình đẹp của mình, bà bảo:

“Lúc đám cưới diễn ra, bà vừa đúng 19 tuổi con à!”

Nghe tới đây, tự dưng hình ảnh bà Huy Cận buổi chiều, bên cửa sổ, trong căn phòng khách sạn nơi tôi ở tạm, bỗng trỗi bật. Tôi thấy gờn gợn như nghe được tiếng ho lục khục của định mệnh trớ trêu, an bài.

Và, cũng thật may mắn cho tôi, khi sau đó, bà Hoàng Giác quay lại khúc phim gia đình ly tán!

Ðó là thời gian toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Hà Nội sơ tán. Nhạc sĩ Hoàng Giác tham gia đoàn Tuyên Truyền Xung Phong. Trong lần được phép về thăm vợ con khi đó đã tản cư tới Phúc Yên, để đánh dấu ngày gặp lại, Hoàng Giác viết “Ngày Về.” Một “Ngày Về” ngợi ca tình yêu. Một “Ngày Về” đơm hoa cho quá khứ đã tan nát... Một “Ngày Về” mà, “tổ ấm” đôi lứa, cũng là tổ quốc - người yêu trong ca khúc, cũng là quê hương... Lời 1 khởi đầu với:

“Tung cánh chim tìm về tổ ấm/Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm/Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi/Luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh/Tha thiết mong tìm về bạn cũ/Nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió/Vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây/Mờ khuất xa xôi nghìn phương...”

Nhưng, phải chăng sự liên tưởng từ một tiểu gia đình, thành tổ quốc, lớn rộng?- Từ một người vợ thương yêu, nhỏ bé, tội nghiệp... tới một quê hương đau thương, chìm trong binh lửa... được chuyển tải tới đám đông bằng giai điệu cực kỳ thiết tha; khiến những người dễ mủi lòng, có thể chảy nước mắt...

Bà Hoàng Giác còn kể cho tôi nghe cái tai nạn bất ngờ mà ca khúc “Ngày Về” mang lại! Ðúng hơn, đó là cơn bão khủng khiếp đã úp chụp xuống gia đình bà.

Bà nói, vào khoảng giữa thập niên 1960, khi miền Nam Việt Nam, dùng ca khúc “Ngày Về” của nhạc sĩ Hoàng Giác, làm nhạc hiệu cho chương trình phát thanh Chiêu Hồi!

Riêng tôi khi được sinh ra thì, miền Nam Việt Nam đã mất. Tôi không có một chút ý niệm, dù mơ hồ nào về thời thế, chính trị của đất nước trước năm 1975. Luôn cả những sáng tác thuộc lãnh vực Văn học và nghệ thuật, thời gian còn ở Việt Nam, tôi cũng không hay biết, không tiếp cận... mãi cho tới khi tôi được theo mẹ qua Canada.

Tôi muốn nói, trong ghi nhận non nớt của tôi, trước sau “Ngày Về” vẫn là một tình khúc cảm động. Ca khúc ngợi ca một tình yêu dù vẫn còn, hay đã vĩnh viễn biến mất. Vẫn trong ghi nhận non nớt của tôi thì, “Ngày Về” của Hoàng Giác là ngày về với tình yêu dành cho Kim Châu - Dành cho những người thân yêu và, quá khứ “đầm ấm” một thời thanh bình của ông.

“Ngày Về” của tôi sau mười mấy năm, cũng tương tự như “Ngày Về” của nhạc sĩ Hoàng Giác, cách nay trên nửa thế kỷ. Cũng là “Tha thiết mong tìm về bạn cũ...” Cũng bùi ngùi khi phải đối diện với “nhưng... cánh chim mịt mùng bạt gió...”

Ðó là tôi chưa kể, lúc cất tiếng hát một ca khúc của mình, tác giả đã bước qua tuổi 80. Tác phẩm đã có trên nửa thế kỷ tuổi đời. Sự hiện diện của linh hồn “Ngày Về,” bà Kim Châu. Hà Nội, một buổi trưa Mùa Hè. Và mấy chục năm trước, thảm họa trên trời giáng xuống cả gia đình nhạc sĩ Hoàng Giác, khiến tôi càng thêm bàng hoàng, xốn xang, chua xót.

Tai họa đã biến bà Hoàng Giác đã từ vai trò một người vợ yếu đuối, thành người lo toan chuyện cơm áo, chạy vạy nuôi cả gia đình!

Bà kể, trong suốt thời gian đằng đẵng ấy, đã có không biết bao thức trắng, cúi xuống chiếc máy may cũ kỹ, cầm lên những que đan sờn tróc... để may vá, đan thuê cho người... Thời gian ấy, để cứu sống chồng con, bà cũng không từ bất cứ công việc gì, kể cả những việc chỉ đem lại cho bà một lợi tức bèo bọt, như phết hồ dán bao nylon...

Kết luận về thời gian bị tai họa bi thương nhất của cuộc đời mình, với nụ cười hãnh diện, bà Hoàng Giác nói:

“Tuy nhiên, thời gian đó, cũng là thời gian bà rất hạnh phúc con à. Bà cảm thấy hạnh phúc không chỉ vì chia xẻ được hoạn nạn, khó khăn với chồng con, mà còn vì bà từng bắt gặp ông che mặt khóc, khi thấy bà quá cơ cực... Với bà, chừng đó, đã là một đền bù đáng kể rồi, con à...”

Bà không nói, nhưng tôi biết, biết rất rõ, bà còn được trời đất đền bù cho bà những người con thành đạt. Trong số những người con đó, của ông bà, có thể kể nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, một tài hoa của Hà Thành hôm nay.

Orchid Lâm Quỳnh

thunder  
#35 Posted : Sunday, April 3, 2011 8:56:50 PM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

UserPostedImage

Ngày về

Sáng tác : Hoàng Giác
Trình bày : Ngọc Bảo

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=CD_2z4wc1q

Tung cánh chim tìm về tổ ấm nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
Nhớ phút chia ly ngại ngùng bước chân đi luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh

Tha thiết mong tìm về bạn cũ nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió
Vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây mơ khuất xa xôi nghìn phương

Trên đường tha hương vui gió sương
Riêng lòng ta mang mối nhớ thương
Âm thầm thương tiếc cho ngày về
Tìm lại đường tơ nay đã mất

Nghe tiếng chim chiều về gọi gió như tiếng tơ lòng người lạc bước
Nhấp chén men say còn vương bóng quê hương nâng bước tha hương lòng đau

Trông bốn phương mờ hàng lệ thắm mơ đến em một ngày đầm ấm
Nhớ phút chia phôi cùng ai rất đau thương tìm đến em nay còn đâu

Năm tháng phai mờ lời hẹn ước trong gió sương tìm người tình mến
Oán trách ai quên lời thề lúc ra đi thôi thúc tơ vương ngày mai

Phong trần tha hương bao nhớ thương
Tin buồn ta mang đôi bóng uyên
Lưng trời u uất bay trên đàng
Lòng người giờ đây quên quên hết

Ta sống không một lời trìu mến như bóng con đò chiều lạc bến
Lơ lửng trôi qua cùng ngày tháng phôi pha duyên kiếp sau ta chờ mong
Lơ lửng trôi qua cùng ngày tháng phôi pha duyên kiếp sau ta chờ mong
havi  
#36 Posted : Monday, April 4, 2011 2:20:52 PM(UTC)
havi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 1,592
Location: usa

Thanks: 13 times
Was thanked: 9 time(s) in 8 post(s)


UserPostedImage


Mơ hoa
Tác giả: Hoàng Giác


Trình bày: Ngọc Bảo
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=MWf6t4CcuO


Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân
Trên đường thẳm xa, tôi nhắn cô em đôi lời
Lòng không lưu luyến, sao đành cô lãng quên,
Quên người gặp gỡ trong một chiều mơ.

Chuông chiều ngân tiếng vấn vương lòng trông theo cô hái hoa,
Bước đi bâng khuâng muôn ngàn sầu nhớ
bóng mờ mờ xa.
Tan giấc mơ hoa !
Bóng người khuất xa, đôi đường từ đây
Ai bước đi không hẹn ngày,
Người tuy xa cách nhưng lòng ta khắc ghi,
Bên đèn một bóng tháng ngày chờ mong

lưu luyến chi nhau, thêm sầu đớn đau
Muôn trùng từ đây, trong gió sương thân giang hồ.
Đường xa xa tắp ngại ngùng chân bước quên,
Bên lòng thầm nhớ bóng hình người mơ.

Trên đường xa vắng bóng ai mờ khuất
lòng thêm vấn vương,
Gió thông xa đưa reo buồn sầu nhớ
tới người chiều xưa

Cô hái hoa ơi!
Mắt mờ đoái trông, sao đành thờ ơ
Trong giấc mơ ta mong chờ,
Dù hoa quên bướm âm thầm riêng có ta
Hoa còn tàn úa tơ lòng còn vương...




Edited by moderator Tuesday, August 8, 2017 10:25:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified


UserPostedImage
Hạ Vi  
#37 Posted : Monday, April 4, 2011 6:42:49 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,556
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


Giấc mơ hồi hương


Quỳnh Giao

UserPostedImage


Ðôi khi với các nhạc sĩ sáng tác ca khúc, sự thành công có thể đến với họ khá bất ngờ.

Ðiều này thường xảy ra chứ không phải là hiếm, và làm chính tác giả ngạc nhiên. Thí dụ như Văn Phụng đã sáng tác từ trước 1954, và ca khúc đầu tiên của ông là “Ðóa Hồng Nhung” cho đến bây giờ không ai hát và biết đến. Ông kể rằng tự mình gửi vào đài phát thanh Pháp Á nhờ danh ca Minh Trang hát ca khúc đầu tay này, và khi ấy còn tưởng Minh Trang trẻ hơn mình nên đề tặng “mến tặng Minh Trang.” Ðến khi di cư vào Nam, lên đài phát thanh Quốc Gia để đàn cho ban nhạc thì mới gặp bà chị lớn hơn mình nhiều, bèn từ đó chị chị em em! Vậy mà ông vẫn chưa nổi tiếng lắm, cho đến khi “Ô Mê Ly” và “Trăng Sáng Vườn Chè” ra đời thì danh tiếng ông mới bốc như cồn...

Nhạc sĩ Hoàng Trọng viết nhạc từ cuối 1940, có riêng một ban nhạc trên đài phát thanh Hà Nội (Ban Bảo An) vậy mà đến 1951 mới nổi danh nhờ bài “Nhạc Sầu Tương Tư.” Nhạc sĩ Lam Phương khi còn là học trò của Hoàng Lang đã bắt đầu sáng tác, nhưng bài hát đem lại tên tuổi của ông chính là “Duyên Kiếp” mà trẻ con trong ngõ đứa nào cũng biết nghêu ngao “em ơi nếu mộng không thành thi sao???”

Và đây là trường hợp của Vũ Thành, do chính ông nói ra. Sáng tác ca khúc và là trưởng ban Việt Nhạc của đài phát thanh Hà Nội là một vị trí sáng chói thời đó khi nền tân nhạc đang chuyển từ thời phôi thai sang đến thời vàng son. Ca khúc đầu tay là “Tình Xuân” mở đầu cho những ca khúc nghệ thuật có âm hưởng bán cổ điển là nét độc đáo riêng của Vũ Thành. Sau đó là một loạt những tuyệt phẩm như “Nhớ Bạn,” “Hương Nhớ Nhung,” sau được đổi tựa lại là “Gửi Áng Mây Hàng,” rồi “Gió Thoảng Hương Duyên,” “Say Nhạc Canh Tàn,” “Ngày Tái Ngộ,” v.v...

Nhưng phải đợi đến khi “Giấc Mơ Hồi Hương” xuất hiện sau 1954, tên tuổi của ông mới bắt đầu quen thuộc với mọi thành phần thính giả. Trước đó Vũ Thành chỉ được một số thính giả nghe nhạc cổ điển hâm mộ mà thôi.

Ông bảo rằng điều đó không làm ông thấy hân hạnh gì mấy. Vì nếu ông nổi tiếng nhờ “Giấc Mơ Hồi Hương” qua lối trình bày thiếu trung thực, không đúng với những điều ông viết thì thành công đó là do lời ca hơn là vì nhạc! Tại sao Vũ Thành nói như vậy thì có lẽ giới thưởng ngoạn không hiểu. Riêng người viết có được ông thổ lộ mới dám ghi nhận lại điều này.

Kể ra thì nhạc sĩ Vũ Thành quá khó tính, chứ bài “Giấc Mơ Hồi Hương” của ông thuộc vào loại sáng tác nghệ thuật như tất cả các tác phẩm khác của ông. Bài hát được viết trên nhịp 3/4 Boston dìu dặt tha thiết, cung Do Trưởng. Mười sáu ô nhạc mở đầu với nhiều intervals rộng, từ nốt thấp là Sol dưới hai dòng kẻ lên tới nốt Mi cao ở khuông thứ tư càng làm rõ sóng lòng dâng ngập. Chuyển đoạn (modulation) của bài mới là tuyệt chiêu khi ông sử dụng những nốt liên ba (triolet) diễn tả nối nhớ nhung lên đến cực điểm.

Nét diễm kiều của Hà Nội trong trí nhớ và sự liên tưởng bàng hoàng nhờ từng câu nhạc. Khi thì lên cao, rồi chuyển từ Trưởng qua thứ, và xuống thật trầm để tả bóng đêm dần tàn mơ hồ... Bài hát hay quá, nên ca sĩ nào cũng thích hát. Dù bài hát soạn cho giọng soprano hay ténor mà thôi, nhưng ai mà dám can? Lối trình bày của đa số khi hát “Giấc Mơ Hồi Hương” thường là “ad lib,” tức là hát tự do, muốn ngừng lấy hơi lúc nào thì ngưng, muốn ngân chữ nào dài hơn hay ngắn hơn cũng được. Ngoài ra còn được đổi luôn nhịp, khi thì hát thành Slow, khi thì hát thành Boléro, và xuống hai ba cung là chuyện thường.

Vì thế mà Vũ Thành mới hối hận. Ông nói nếu lời từ là sự thành công của bài hát thì lời bài “Giấc Mơ Hồi Hương” được gợi ý từ một bài thơ đọc được trên một tạp chí văn nghệ, mà ông chỉ nhớ bài thơ và quên tên tác giả. Quỳnh Giao xin ghi lại bài thơ như sau:


Ðau đớn nhìn Hà Nội
Khuất dần sau sương rơi
Sông Nhị Hà sôi nổi
Cầu Long Biên xa rồi
Mắt nhìn hình ảnh cuối
Lòng thương nhớ khôn nguôi
Nghẹn ngào tâm sự cũ
Thôi rồi Hà Nội ơi...



Vũ Thành quả là người khiêm tốn, vì với Quỳnh Giao lời ca của “Giấc Mơ Hồi Hương” sâu xa và mới hơn ý của bài thơ nguyên thủy. Thời đó, gọi thành phố Hà Nội là “Em” mà không là mới sao? Và lãng mạn quá đi chứ!

Lấy cảm hứng từ bài thơ ấy, đây là lời ca của Vũ Thành, và Quỳnh Giao ghi thêm cả lời hai, được ông viết lại quãng năm 1970:

Lìa xa thành đô yêu dấu
Một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn em mờ trong mây khói
Bước đi những chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly
Rồi đây dù lạc ngàn nơi
Ta hướng về phía xa vời
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai
Nghẹn ngào thương nhớ em, Hà Nội ơi!


UserPostedImage


Ta nhớ tới em một chiều chớm thu
Dáng yêu kiều của ngày đã qua
Thướt tha bên hồ liễu thưa
Lắng tiếng tiêu hồn của ngàn phím tơ
Thiết tha thề ước mối duyên hờ đã phai mờ

Trong bóng đêm mơ hồ...
Mơ ước thấy em một ngày sáng tươi
Tắm nắng hồng của một sớm mai
Say hương thanh bình khắp nơi
Lắng tiếng uy hùng của từng lớp trai
Cất cao lời hứa xây cuộc đời
Sầu tàn trong bóng đêm dài...



Ðoạn trở về điệp khúc, thay vì hát lại lời một, Vũ Thành soạn lời hai như sau:


Chiều nay nhìn về quê xưa
Hình bóng thân yêu chưa mờ
Gửi tới cố hương chút niềm thương
Tìm em qua bao năm tháng
Vó câu chinh nhân chưa mòn
Ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang
Rồi đây trên đường hồi hương
Vang tiếng cười chốn xa trường
Cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương
Ðể cùng xây giấc mơ hồi hương...



Lời ca của Vũ Thành đầy cảm xúc, với tâm tư và cảnh sắc lung linh choáng ngợp. Ca khúc đã được rất nhiều người hát, từ Ánh Tuyết, Thái Thanh, Kim Tước, Khánh Ngọc, Mai Hương của giọng nữ cho đến giọng nam của Anh Ngọc, Thanh Vũ, Hùng Cường, Ðoàn Chính, Bùi Thiện... Riêng lời hai của bài này chỉ có hai người hát do chính Vũ Thành đưa ra và yêu cầu là Anh Ngọc và... người viết bài.

Năm xưa, Anh Ngọc hát “Giấc Mơ Hồi Hương” cho chương trình đài Tự Do. Sau đó, khi lên máy bay đi tỵ nạn, Vũ Thành không mang hành lý nào ngoài cuốn tape thu một số bài hát với hòa âm của mình mà ông quý như bảo vật. Còn Quỳnh Giao thì ghi âm vào tape “Hát Cho Kỷ Niệm số 1” ở ngoài này mà chỉ để tặng chứ không bán, với lời giới thiệu của chính Vũ Thành. Giờ này nghe lại vẫn rớt nước mắt...

Ngày nay, người ta đã có thể trở về Hà Nội. Nhưng giấc mơ kia của Vũ Thành vẫn còn nguyên vẹn vì Hà Nội đã đổi khác.

Edited by user Tuesday, August 8, 2017 2:35:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Hạ Vi  
#38 Posted : Tuesday, April 5, 2011 2:52:16 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,556
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


UserPostedImage


Những ca khúc trong các tháng năm sau biến cố 1975

Thy Nga, phóng viên đài RFA



Những tang thương từ biến cố tháng Tư 1975 không dễ gì mà quên đi như các quan chức Hà Nội đề nghị. Những hồi ký, bài thơ, bản nhạc ghi lại các tháng năm sau biến cố đó, là chứng tích của khúc quanh tăm tối nhất trong lịch sử dân tộc đối với hàng triệu người phải rời khỏi quê hương, cũng như với những người ở lại, sống trong sự túng thiếu của thời kỳ bao cấp.


Hình nhạc sĩ Nam Lộc khi vừa sáng tác xong bài "Saigon oi! Vinh biệt" vào ngày 12 tháng 11, 1975. Hình do nhạc sĩ cung cấp. Những chứng tích ấy cần thiết cho các thế hệ sau được hiểu về giai đoạn đó của lịch sử nước nhà, chương lịch sử mà không thế lực nào có thể lấp liếm hoặc bóp méo.

Âm nhạc chuyển tải cảm xúc đến với người nghe, nếu bản nhạc phổ biến thì tác động có thể rộng rãi hơn cả sách báo nữa. Các ca khúc viết vào những tháng năm sau biến cố 1975 đã làm thổn thức bao tâm hồn xa xứ. Sau này thì mỗi lần tưởng niệm biến cố, các nhạc bản đó được hát lại, hoặc nhắc đến, vẫn gây nhiều xúc động.


Chương trình kỳ này, Thy Nga mời quý vị nghe lại, nhìn lại chặng đường đó. Trong tâm trạng bàng hoàng lúc ấy, có lẽ người đầu tiên ôm đàn, viết nhạc, là nhạc sĩ Nam Lộc. Đó là vào cuối năm 75, Nam Lộc viết nhạc bản “Saigon ơi! Vĩnh biệt” trong tình cảnh mà anh thuật lại với nghệ sĩ Trường Kỳ như sau:

"Tôi nhớ tôi viết cái bài đó vào ngày 12 tháng 11. Tôi vừa viết tôi vừa hát, tất cả những ý tưởng trôi ra trong vòng 45 phút, tự nhiên nó ra, những ý tưởng tồn đọng từ mấy tháng nay trong trại tỵ nạn, giờ đây là cái giây phút lắng đọng với mình, thế là viết ra hết."

“Saigon ơi! Vĩnh biệt”
Nam Lộc hát …


http://www.youtube.com/watch?v=ELzqT8UpAd4

Kế tiếp qua năm 1976, Nam Lộc viết “Saigon, thôi đã hết” và “Người di tản buồn”.


Các nghệ sĩ Việt Nam sang Mỹ tỵ nạn đã dần tìm được nhau và theo tài liệu của nhạc sĩ Trần Quang Hải thì vào ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, đã diễn ra chương trình văn nghệ một năm xa xứ do các nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc; ca sĩ Jo Marcel; các tài tử Lê Quỳnh, Kiều Chinh cùng với Nguyễn Năng Tế và nhà báo Việt Đình Phương tổ chức, qui tụ được các ca sĩ Khánh Ly, Thanh Thúy, Mai Hương, Thúy Nga, Hoài Trung, Vũ Huyến, Bùi Thiện, Ngọc Bích, Thanh Tuyền, Mai Lệ Huyền.

Bên cạnh đó, có ban Hợp ca Mai Hương; ban Tam Ca AVT; dàn nhạc New Life với Huỳnh Anh; dàn nhạc Việt Nam trong đó có Hoàng Thi Thi, Đào Duy; ban vũ Hoàng Thi Thơ; và một số nghệ sĩ sân khấu.

Kế đến, vào ngày 28 tháng 6, ca sĩ Thanh Thúy phát hành cuốn Cassette mang tựa đề “Saigon ơi! Vĩnh biệt’ với các ca khúc do cô trình bày. Cassette này giá 5 đô-la Mỹ, gồm 10 nhạc bản do các nhạc sĩ ly hương vừa mới sáng tác:

“Saigon ơi! Vĩnh biệt” và “Saigon thôi đã hết” của Nam Lộc, “Chuyện buồn ngày Xuân”, “Chắp tay nguyện cầu”, và “Còn gì cho em” của Lam Phương, “Có những buổi chiều chết trong niềm nhớ”“Rồi mai đây ta về” của Hoàng Thi Thơ, “Saigon bây giờ buồn không em” của Song Ngọc, “Buồn xa nhà” của Anh Bằng, và “Quê hương bỏ lại” của Tô Huyền Vân.

Cùng lúc ấy, có cuốn băng “Khi tôi về” do Khánh Ly hát với tiếng đàn guitar Trung Nghĩa.

Cũng trong năm 1976, Song Ngọc viết “Gửi người chủ mới của căn nhà cũ”, Nguyễn Anh - Võ Tấn Tài viết “Lời lưu vong”, Hoàng Thi Thơ thì ghi lại “Đời ta như chiếc lá vàng” và “Đêm qua mơ thấy Saigon”.

Tháng 9 năm đó, biên tập viên Lê Văn của đài “Tiếng nói Hoa Kỳ” sang Paris tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với sự góp mặt của Khánh Ly, Hoàng Oanh, và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải. Sự thành công của chương trình này dẫn đến việc, ngay tháng sau đó, đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn. Từ đó trở đi, những chương trình nhạc hội lần lượt diễn ra.

Saigon, thành phố của những kỷ niệm để lại, là đề tài của rất rất nhiều ca khúc hồi đó, Thy Nga chỉ có thể kể một số như “Saigon niềm nhớ không tên” Nguyễn Đình Toàn ghi vào năm 1977:


“Saigon niềm nhớ không tên” Khánh Ly hát …

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=HFiZKmSCGW


Phạm Đình Chương viết “Cho thành phố đã mất tên” (1980), Lê Uyên Phương phổ thơ Kim Tuấn “Khi xa Saigon”, Song Ngọc với “Lời cuối cho Saigon” (1981), Anh Bằng - Vũ Kiện với “Saigon áo xanh nón lá”, và Hoàng Thi Thơ “Trả lại Saigon cho tôi”, Trần Chí Phúc hướng về “Saigon, em ở đó” (1979) “Saigon, em ở đó” …

Năm 1978, từ Miami ở Mỹ, Phạm Duy tái xuất với tập nhạc “Hát trên đường tạm dung”.

Từ Pháp thì sau “Vọng cố hương” Lương Ngọc Châu viết ngay từ năm 1975, Trần Quang Hải viết “Thương nhớ quê hương” và phổ ý thơ Minh Đức Hoài Trinh trong bài “Em về giữ lửa”.

Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris xuất bản 14 ca khúc trong tập “Tình ca” gồm các nhạc bản như “Ta phải vùng dậy”, “Ai về xứ Việt”, …

“Ai về xứ Việt” Phan Văn Hưng phổ thơ Minh Đức Hoài Trinh, và đàn hát …

Khúc Lan cũng viết nhiều bài hát cho phong trào đấu tranh của Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp.

Từ 1980 thì Nguyệt Ánh nổi lên như một hiện tượng với nhạc bản “Em nhớ màu cờ” và những ca khúc mang tinh thần phục quốc.

Thời gian này, những người ở lại hằng ngày mong ngóng thùng quà do thân nhân từ nước ngoài chắt chiu gửi về giúp họ sống qua ngày.

Trong buổi văn nghệ tại khuôn viên một trường đại học ở Houston, Hoa Kỳ, Việt Dzũng xuất hiện trên sân khấu, trong vùng ánh sáng duy nhất của khung cảnh chung quanh. Anh ngồi trên chiếc ghế gỗ, gảy guitar và hát lên ca khúc vừa sáng tác, bài “Một chút quà cho quê hương” (1980) … Cử tọa lặng nghe, nhiều người không ngăn được giòng lệ.

Sau đó, Việt Dzũng viết “Tình ca cho Nguyễn thị Saigon”, “Lời kinh đêm”, soạn các cuốn “Lưu vong khúc” và “Kinh tỵ nạn” (1981). Tại các trại tỵ nạn, những người đang sống tạm ở đó, lúc nào cũng chờ nghe phát những ca khúc kể trên.


Đó là tâm tình của giới nghệ sĩ ly hương, còn người ở lại thì sao ?

Phan Văn Hưng không quên “Bạn bè của tôi” đang rơi vào muôn cảnh khổ cực. Bên nhà khi đó, suốt ngày, loa phóng thanh đặt tại các nơi oang oang những nhạc bản “đỏ” ca ngợi lãnh tụ và Đảng nhưng người dân thuộc chế độ cũ vẫn lén nghe nhạc thời trước.

Nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang là một trong những người đi tù cải tạo, bày tỏ nỗi thương nhớ trong âm thầm, qua bài “Còn yêu em mãi”.

Hà Thúc Sinh thì trong những năm tù cải tạo, ghi lại tập nhạc “Tiếng hát tủi nhục”. Và năm 1981, Phạm Duy có tập “Ngục ca” với lời thơ của Nguyễn Chí Thiện.

Trong khi đó, vợ con của người tù cải tạo, sống ra sao?

Từ một bài thơ của Duyên Anh đề cập đến tình cảnh của người vợ tù cải tạo, Vũ Trung Hiền phổ thành nhạc khúc “Saigon ra đường” mời quý vị nghe Bạch Yến trình bày …

Thường thì gia đình nhịn ăn nhịn mặc, dồn cả cho người trong lao tù. Cảnh người vợ lặn lội đi thăm nuôi tù cải tạo, thật thương tâm. Về phần người bị cầm tù thì một số người đã ghi lại tình cảnh đó qua những dòng nhạc, những câu thơ. Nguyên Huy có bài thơ “Hai hàng cây so đũa” được Trọng Minh phổ nhạc.

Thời gian đó cũng là lúc diễn ra những vụ vượt biên bằng đường bộ đầy hiểm nguy, và những cuộc vượt biển hãi hùng. Châu Đình An ghi lại hoàn cảnh ấy trong nhạc bản “Đêm chôn dầu vượt biển” (1984).

Mọi người rúng động khi nghe những chuyện kể về thuyền nhân Việt Nam. Giới nghệ sĩ chia sẻ nỗi đau thương qua những giòng nhạc “Ru em đời mất xứ” và như “Xác em nay ở phương nào” của Trần Chí Phúc.

Số người may mắn tới được bến bờ thì phải tạm sống trong các trại tỵ nạn, Hà Thúc Sinh ghi “Một ngày trên Bidong”, Diamond Bích Ngọc soạn “Tỵ nạn ca”,

Tuy nhiên dù thế nào chăng nữa, người Việt hải ngoại vẫn giữ niềm tin là mai kia, tình trạng nước nhà sẽ sáng lạn hơn và cuộc sống đồng bào được cải thiện hơn. Niềm tin yêu này đươc thể hiện qua các ca khúc như “Mùa Xuân gửi em niềm tin” của Trần Chí Phúc, “Trái tim tôi là bến” của Phan Văn Hưng, “Mưa trên quê hương tôi” Nguyệt Ánh phổ ý thơ Đào Trường Phúc, ...

Nguyệt Ánh & Việt Dzũng - Mưa Trên Quê Hương Tôi

http://music.hatnang.com/node/19252


Trong âm thanh ca khúc “Mưa trên quê hương tôi”, Thy Nga tạm biệt quý thính giả.




.

Edited by user Tuesday, August 8, 2017 2:47:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
thunder  
#39 Posted : Wednesday, April 6, 2011 7:11:40 AM(UTC)
thunder

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 4,099

Thanks: 1924 times
Was thanked: 919 time(s) in 608 post(s)

Tìm Hiểu Dân ca Việt Nam


Dân ca Việt Nam rất là phong phú. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều đình, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo thì được xếp vào loại dân ca.

Xứ Việt Nam với gần 80 triệu người Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hương một truyền thống dân ca đa diện.

Ðịnh nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.

Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nọ

Dân ca Việt Nam được trình bày theo trình tự một đời người, nghĩa là bắt đầu bằng các bài hát ru em khi em bé bắt đầu chào đời, đến khi đứa bé lớn lên, trương thành và chết đi, sẽ có những bài hát liên hệ đến từng giai đoạn của một đời người.

Tôi xin bàn về các bài hát ru em và các bài hát nghe trong lúc trẻ em vui chơi, nô đùạ Chúng ta thường nghe lúc còn ấu thơ, được chị, mẹ hay bà ngoại hoặc bà nội ru cho ngủ. Loại hát này được gọi là hát ru (miền Bắc), ru con (miền Trung), hay hát đưa em, ầu ơ ví dầu (miền Nam). Âm giai dùng trong loại hát ru em được thay đổi tùy theo vùng. Ở miền Bắc, hát ru dựa vào thang âm ngũ cung (do-ré-fa-sol-la-do). Miền Trung sử dụng âm giai tứ cung (do-fa-sol-sib-do), và miền Nam thì chọn âm giai ngũ cung (do-mib-fa-la-do). Người mẹ thường bày tỏ nỗi lòng của mình, hay than van số phận hẩm hiu của mình qua bài ầu ơ ví dầụ Lời ca thường lấy trong ca dao và thể thơ là lục bát.

Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẩm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.

Ðến khi đứa trẻ lớn lên, trong lúc chơi giỡn thường hay hát những bài mà đa số các giai điệu đều dựa trên thang âm tam cung (do-fa-sol). Chẳng hạn, khi chơi ú tìm, các trẻ em để ngón tay trỏ của mình vào trong lòng bàn tay của một em trong bọn. Một đứa trẻ hát:

Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết chương
Ba vương thượng hạ
Ba cạ đi tìm
Ú tim oà ập.

Khi nói tới tiếng "ập" thì bàn tay nắm được ngón tay người nào thì người đó nhắm mắt đếm để cho những người khác chạy đi trốn.

Ngoài ra còn có những trò chơi khác như đánh trõng, táng u, đánh dũa, hoặc là oánh tù tì (từ chữ Anh là one, two, three, nghĩa là một, hai, ba) giúp cho trẻ em Việt Nam giải trí trong khi nhàn rỗi, ngoài giờ học hỏi ở nhà trường.



Hò từ chữ HÔ mà ra, có nghĩa là làm cho giọng mình manh hơn. Do đó, Hò thường đi đôi với việc làm nặng như kéo gỗ, chèo thuyền, đập đạ Nhưng hò cũng có thể hát lúc nghỉ ngơi, lúc hội hè, lúc đám tang như hò đưa linh, và có khi dính liền với một vùng nào đó như hò Nghệ An, hò Thanh Hóa, hò Sông Mã, hò Ðồng Tháp.

Có ba loại Hò chánh:

Hò trong lúc làm việc, tiết điệu ăn khớp với động tác, và thường dùng những chữ như dô ta, rố khoan, hụ là khoan, vv...

Hò trong lúc nghỉ xả hơi, thường là hò đối giữa trai gái có tính cách đùa giỡn, chọc ghẹo hay tỏ tình.

Hò trong lúc lễ hội, thường là hò đối đáp để tranh giải.

Hò làm việc thường hò đông người với nhaụ Một người hò trước và tất cả phụ họa theo saụ Người hò chánh gọi là hò cái và những người phụ họa gọi là hò con. Hò chia làm hai phần: lớp trống hay vế kể thì do một người hát, còn lớp mái hay vế xô thì do toàn thể phụ họa.

Ở miền Nam, hò thường nghe trên sông, hay lúc làm việc ngoài ruộng. Mỗi tỉnh, mỗi vùng có những loại hò đặc biệt. Do đó có tên gọi như hò Bến Tre, hò Cần Thơ, hò Ðồng Tháp.

Ở tỉnh Bến Tre, có thể có loại hò như sau:

Hò ớ ơ Xứ nào vui cho bằng xứ Cù Lao, ớ ợ Hò ớ ợ Tiếng muỗi kêu như ống sáo thổi Bông mọc như hàng rào sương lý, ớ ợ Hoặc xuyên qua câu hò, chúng ta có thể biết người hò thuộc địa phương nào như:

Hò, ớ ơ.
Ghe anh nhỏ mũi trắng lườn
Ở trên Gia Ðịnh xuống vườn thăm em, ớ ơ.

Hò miền Nam gồm có hò ba lý xuất xứ từ bài Bá Lý Hề của cải lương rất được thông dụng giữa các ca sĩ chuyên nghiệp. Hò theo điệu ai oán dùng để kể chuyện. A li hò lờ xuất hiện khoảng 50 năm nay thôi, dùng thể thơ lục bát. Hò lô tô, hò cấy, vv... Các loại hò thường được ứng khẩu tùy hứng, nhạc thì chỉ có một giai điệu duy nhứt, hay theo một thang âm đặc biệt miền Nam (do-mib-fa-sol-la-do).

Miền Trung là nơi tập trung của nhiều loại hò và nhiều giai điệu hơn hai miền Bắc và Nam. Ngoài loại hò làm việc, hò đối, còn có hò đưa đám mạ Ở Thanh Hóa có hò sông Mã được chia làm năm loại hò tùy theo giai đoạn: hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến, với các đoạn kể, xô nhịp nhàng theo nhịp một, nhịp hai.

Trong khi chèo thuyền, chúng ta còn được nghe các loại hò mái xấp, hò mái nhì, hò mái đẩy. Có giả thuyết cho rằng mái có nghĩa là mái chèo, và còn có giả thuyết khác nữa cho rằng mái là đàn bà đối với trống là đàn ông. Còn xấp có nghĩa là mau hơn, nhì có nghĩa là đôi, là phải hát hai lần, còn đẩy có nghĩa là làm cho thuyền đi tớị Ở vùng Thừa Thiên, Quảng Trị còn nghe hò mái ba nghĩa là phải hát ba lần.

Các loại hò làm việc như hò đạp nước, hò tát nước, hò khiêng nước, hò xay lúa, hò giã gạo, hò giã đậu, hò giã vôi, hò mài dừa,v.v...

Khi leo giốc, thì có hò leo dốc. Khi đập đá thì có hò nện hay hò hụị Tiết tấu rất nhanh, và theo nhịp đập đạ Người kể hát một đoạn, thì toàn thể hát "hụ là khoan" để làm tăng sức mạnh khi làm việc.

Ở miền Bắc, hò đẩy xe, hò kéo gỗ rất được phổ thông. Một người hát một câu thì cả đám hát rố khoan, rố khoan rố khuầy hay hố khoan trong điệu bắt cái hố khoan hay bắt cá hò khoan do các người chài lưới hát. Ngoài ra, chúng ta còn tìm thấy điệu hò giã vôi và hò dứt chỉ ở miền Bắc nữa.

Hầu hết các điệu hò ở Việt Nam đều dùng thể thơ lục bát với thể thức thêm những chữ không có nghĩa vào như "là hụ là khoan, rố khoan rố khuầy", v.v... Với nghệ thuật ngắt câu khác nhau tùy theo từng điệu hò hoàn toàn khác biệt và phong phú qua tài sáng tác của các người dân quê, kho tàng dân ca do đó ngày càng to lớn hơn và xuyên qua các lời ca trong điệu hò, chúng ta thấy một nền văn chương bình dân phản ảnh trung thực ngôn ngữ của tiếng nói Việt Nam.



Miền Nam có rất nhiều điệu hò và lỵ Những bài nào không thuộc vào hò thì là lỵ Có Lý chim khuyên, Lý bông lựu, Lý chuồn chuồn, Lý cây chanh, Lý chè hương, Lý bỏ bìa, Lý con khỉ đột, Lý ngựa ô, Lý quạ kêu.

Lời ca rất mộc mạc, chỉ hai câu thơ lục bát trong bài Lý chim khuyên như:

Chim khuyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

mà được hát thành:

Chim khuyên (quầy a) ăn trái (quây a) Nhãn lồng (à), nhãn lồng , ớ con bạn mình ơi ! Lia thia (quầy a) quen chậu (quây a) Vợ chồng (à), vợ chồng, ớ con bạn quen hơi.

Miền Trung có thể nói là trung tâm của các điệu lý và họ Lý có nghĩa là hát của giai cấp dân quê (do chữ lý làng mà ra), so với Ca Huế thuộc giai cấp vua chúa, quan liêu trí thức. Tất cả điệu lý được thoát thai từ các bài hát chèo, ca Huế, hát tuồng, và hát cải lương.

Ðiệu lý giao duyên bốn mùa hay lý vọng phu được hát theo điệu Nam ai Trung chuyển sang Ai Oán Nam khi xuống tới miền Nam và trở thành lý bốn mùa hay lý ru con. Thể thơ được dùng là thất ngôn:

Thí dụ như:

Giãi sông Ngân mây rầu rầu chuyển
Một bước đường trời biển chia hai
Hỡi nàng nàng ơi!
Anh dặn một lời xưa nhớ đừng quên.

Từ đó các nhà nho mới đem vào Ca Huế và đổi tên lại thành lý giao duyên 12 tháng như:

Ðầu tháng giêng mãn thiên xuân sắc
Ai nấy vui mưng thiếp bặt mắt trông
Qua tháng hai bông hoa nhài ướm nở
Thiếp luống trông chàng vừa trở gió đông,
v.v...

Hát giao duyên với loại thơ thất ngôn cũng được dùng trong hát chèo. Ðến khi bài Lý giao duyên được sử dụng với thể thơ lục bát qua hai câu thơ:

Ai đem con sáo sang sông
Ðể cho con sáo sổ lồng bay xa.

Thì lại được đổi lại là Lý con sáo. Ðiệu Lý con sáo rất được quãng bá ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Mỗi miền với thang âm đặc thù đã tạo ra ba điệu lý khác nhau: Lý con sáo Bắc, Lý con sáo Trung, và Lý con sáo Nam. Ngoài ra, chúng ta còn biết thêm một điệu Lý con sáo nữa là Lý con sáo Quảng.

Ở Thừa Thiên, khi hát bài lý con sáo, thay vì hát đoạn "ơi người ơi", lại hát "tang tình tang". Bài lý con sáo được gọi là Lý tình tang,và khi hát bài 10 thương thì được đổi thành lý mười thương.

Các điệu lý đều dựa trên thể thơ lục bát trên âm giai tứ cung nhu bài lý ba cô, lý lượn, hoặc âm giai ngũ cung như bài lý bắt bướm hay lý cây đa.

Nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát của người Việt rất tài tình. Qua hai bài Lý con sáo Trung và Nam, chúng ta nhận thấy dân tộc Việt Nam đưa vào những tiếng đệm bằng cách lập lại những chữ trong câu chẳng hạn nhu "í a, ố tang tình tang", vv mà làm cho nhạc điệu trở nên phong phú vô cùng.

Dân ca do đó đi sâu vào lòng dân và đôi khi còn ảnh hương rất mạnh vào nhạc thính phòng Ca Huế hay Ðàn Tài Tử miền Nam hoặc vào các điệu hát Chèo, Cải lương.

Hát hội

Hát hội là loại hát đối giữa trai gái tùy hứng ca hát đối đáp thi tài cao thấp trong những dịp lễ đầu xuân hay thu, hoặc khi đêm trăng thanh gió mát sau một ngày làm việc mệt nhọc ngoài đồng.

Hát hội có nhiều loại: hát trống quân, hát quan họ, cò lả ở vùng Bắc Ninh, hát đúm ở Hải Dương, hát phường vải ở Nghệ Tĩnh, hát ghẹo ở Thanh Hóa, hát xoan ở Phú Thọ, v.v..

Hát hội hay hát đối đều mang những đặc điểm chung như sau:

Người hát, làng xã, phải đối nhau chẳng hạn nhóm nam ca sĩ đối lại với nhóm nữ ca sĩ, và thuộc làng xã khác nhau

Hầu hết đều là tình ca để đưa đến hôn nhân.

Ðặc tính đoàn thể rất được nhấn mạnh, như trong quan họ có tục kết bạn và phải thuộc vào gia đình quan ho Truyền thống này được thấy ở hát ghẹo ở Thanh Hóa, và hát xoan ở Phú Thọ có tục lệ "nước nghĩa".

Thi đua là một trong những đặc tính quan trọng. Trong một cuộc hát đối, các người hát thi đua về trí nhớ, lời ca, óc nhạy bén, phải tùy cơ ứng biến, khi gặp khó khăn, tài sáng tác tùy hứng, và kỹ thuật ca hát phải có trình độ cao. Do đó, các làng xã xứ ta thường hay tổ chức hát lấy giải.

Ðặc tính bán chuyên nghiệp. Người hát quan họ phải thuộc một số bài căn bản, phải luyện tập thường xuyên. Do đó mới có tục lệ ngủ bọn, nghĩa là các người hát cùng chung một nhóm thường tựu hợp ở nhà của một người trong bọn, ăn ngủ tại đó để có thì giờ học tập với nhau và tập hát gọi là bẽ giọng.

Hát hội xảy ra trong một phạm vi địa lý nhỏ hẹp, nhứt là ở Bắc Ninh, Thanh Hóa, Phú Thọ miền Bắc xứ Việt Nam mà thôi.

Mỗi cuộc thi hát như thế thường chia làm ba hay bốn giai đoạn:

Hát mời ăn trầu trong trống quân

Hát giọng lề lối trong quan họ

Hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi trong hát phường vải

Hát dạo, hát mừng, hát thăm trong hát ghẹo

Sau khi hát mở đầu thì đến phần hát thi. Phần này, bắt đầu các bài hát khó vì phải sáng tác tại chỗ, như hát trả lời câu đố trong trống quân, giọng sỗng, giọng vặt trong quan họ,hát đố, hát đối trong phường vải, và hát đối, hát đố, hát xe kết trong hát ghẹo. Chẳng hạn như trong bài hát trả lời câu đố trong trống quân, bên gái ra câu đố thì bên trai phải giải cho trúng và đố lại. Bên nào không đối được thì kể như thua. Loại hát này được đệm bằng một nhạc khí đặc biệt là cây trống quân hay thổ cô. Một cây mây dài bốn, năm thước căng vòng cầu bắt ngang một cái hố được đào ngay điểm giữa cây mây. Một người hát đánh vào cây mây để đệm, tạo âm thanh giống như tiếng trống.

Cuộc thi hát tiếp tục sang giai đoạn ba với các bài hát khen tặng trong trống quân, hát mời, hát xe kết trong phường vải, và giọng hãm, giọng huỳnh trong quan họ.

Sau cùng là hát tiễn như trong phường vải, hát giã bạn trong quan họ, hát thề, hát dặn, hát tiễn trong hát ghẹo.

Hò, lý, hát hội với Trống quân, Quan Họ, Hát phường vải, Hát ghẹo, Hát xoan, cò lả,vv... rất gần với chúng ta qua lời ca đơn giản, diễn đạt tất cả hình ảnh sống động của xã hội nông thôn Việt Nam và mỗi người hát là một nhà thơ.

HÁT VÈ / NÓI VÈ

Vè là một bài văn kể một chuyện đặc biệt xảy ra và ngụ ý khen chê. Bài văn làm theo thể thơ bốn chữ, năm chữ, lục bát, hay song thất lục bát hoặc các thể thơ biến thể. Hát những câu vè thường lấy giọng đọc lên, không có đệm trên, đệm giữa, hay đệm dưới như các lối hát dân ca khác, nhưng dựa trên nhịp 2/4. Ở miền Nam, những câu vè về trái cây, các loại cá, các thứ bánh, vv... ngoài lối vè kể chuyện. Các câu vè thường bắt đầu bằng sáu chữ

Nghe vẻ nghe ve Nghe ve

Thí dụ vè trái cây:

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè trái cây
Dây ở trên mây
Là trái đậu rồng
Có vợ có chồng
Là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ
Là trái mít ướt
Hình tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm
Ðúng là bắp nấu
Hình thù xâu xấu
Trái cà dái dê
Ngứa mà gãi mê
Là trái mắt mèo
v.v...

Hát vè để tiêu khiển trong lúc làm việc, hát lúc nhàn rỗi một mình. Hát vè không có nhạc, nhưng có tiết điệu. Gần đây ở Việt Nam, có nhiều nhóm nhạc trẻ đã chuyển hát vè thành nhạc Rap rất được ưa thích.

Dân ca Việt Nam rất phong phú, đa dạng, dính liền với bài ca hơn là với dàn nhạc, và nhạc khí. Dân ca đi liền với tiếng hát ru, đồng dao, trò chơi trẻ em, đến các điệu hò, lý, các điệu hát trong khi làm việc, trong các lễ hội tạo cơ hội cho thế hệ gặp nhau qua các loại hát giao duyên, qua tục "nước nghĩa", "kết bạn", "ngủ bọn ". Mức sáng tác bài bản mới vượt qua những thể loại nhạc cung đình, nhạc bác học, nhạc thính phòng và đưa vào trong văn chương bình dân những đóng góp đáng kể (hát quan họ, hát phường vải). Phần nhiều chỉ có tùy hứng lời trên một điệu nhạc (hát trống quân, cò lả). Chỉ có hát quan họ là vừa sáng tác lời lẫn nhạc. Hiện có trên 700 làn điệu khác nhau trong truyền thống hát quan họ. Hiểu được dân ca Việt Nam sẽ mang lại một niềm tự hào cho chính mình, tạo một sự hãnh diện trong lòng khi xứ mình có một nền văn học dân gian phong phụ Ngoài dân tộc Việt hay Kinh, chúng ta còn có 53 sắc tộc anh em sống rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam với hàng trăm thể loại dân ca, nhạc khí hoàn toàn khác với dân tộc Việt. Ðó là đề tài nghiên cứu trong tương lai.

Trần Quang Hải
Hạ Vi  
#40 Posted : Wednesday, April 6, 2011 6:32:01 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,556
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
Nguyễn Bính,
Nhà thơ bình dân Si Tình và Lãng Mạn



UserPostedImage



Nguyễn Cao Can
(San Jose 2007)


Ai đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mà không thấy cái độc đáo của hồn dân tộc đã ấp ủ trong thơ của ông, hay nói cách khác Nguyễn Bính đã đưa hồn dân tộc vào thi ca Việt nam hiện đại. Ông là người đã góp công rất lớn vào nền văn học Việt Nam, những câu thơ giản dị, bình dân đã làm cho người đọc, khi đọc lên chỉ một lần đã thấy lòng mình lâng lâng giao cảm, dễ đọc, dễ mến và nhất là dễ thuộc. Nhưng có ai ngờ được rằng Nguyễn Bính lại có một cuộc sống lãng mạn và giang hồ giống như thơ của ông.


Nguyễn Bính thi sĩ lãng mạn và giang hồ.

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, Bút hiệu của ông là Nguyễn Bính, sinh năm 1918 tại xóm Trạm, thôn Thiên Vịnh, xã Đồng Đội nay là xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ lúc mới lên ba, do đó bố ông có một bà kế mẫu, nhưng nhà vẫn nghèo nên ông được bên ngoại đưa về nuôi nấng dạy dỗ tại thôn Vân Tập cũng cùng xã Đồng Đội.

Cậu ruột Nguyễn Bính là ông Bùi Trình Khiêm lãnh trách nhiệm nuôi nấng ông. Được biết ông Bùi Trình Khiêm là một nhà nho có tiếng trong vùng thời đó đã tham gia vào phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ông Khiêm cũng là thầy giáo dậy ông Trần Huy Liệu. Nhờ người cậu giỏi hán văn mà Nguyễn Bính có môi trường tiếp xúc sớm với chữ nghĩa, thi phú và nghệ thuật.

Khi Nguyễn Bính được mười ba tuổi đã làm kinh ngạc về tài thi phú của mình nhân vào dịp lễ hội Phủ Giầy (Nam Định) thường tổ chức vào tháng Ba Âm Lịch hằng năm, trong lễ hội năm này có tổ chức cuộc thi thơ. Năm đó ban tổ chức chọn đề thi là " Hãy tả cảnh chọi gà trong ngày lễ hội" Đề tài vừa ra, ông lấy bút giấy viết liền, chỉ chưa đầy nửa thời gian của ban tổ chức ấn định Ban Giám Khảo đã thấy Nguyễn Bính đã lên nộp bài thi. Mọi người đều ngạc nhiên nhất là những vị trong Ban Giám Khảo. Bài nộp của Nguyễn Bính dài hơn ba trang giấy , kể ra như vậy là ông đã viết khá dài. Sau khi Ban Giám Khảo xem xét và cân nhắc, đã quyết định trao giải thưởng hạng nhất cho bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bính.


Liền ngay đó BGK đã dùng loa phóng thanh đọc bài thơ được giải nhất ở giữa sân đình cho mọi người nghe. Nghe xong, tức thì hàng ngàn người đang tham dự lễ hội có mặt, đều nhất loạt vỗ tay hân hoan chúc mừng nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính, có những cặp thanh niên còn cao hứng công kêng Nguyễn Bính lên vai, làm chàng trai NB vừa mới lớn được nhìn từ trên cao hơn người xuống nhìn ngắm những cô gái đang đi dự lễ hội một cách hãnh diện và thoải mái, trái lại những cô gái xuân xanh mơn mởn đang ước tấm chồng nhìn lên anh thi sĩ đầy cao ngạo mà ước muốn được lấy chàng làm chồng ...


Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?



Bài thơ "Gái Xuân" trên mà NB mô tả một nàng thôn nữ diễm kiều đang mơ mộng thật nhiều, cô đang mơ một tấm chồng, si tình một chàng trai nào đó có thể là thi nhân Nguyễn Bính chăng? Nên chàng hỏi "Đêm xuân cô ngủ có buồn không?"

Từ ngày chàng được đám đông vỗ tay tán thưởng sau cuộc thi ở Phủ Giầy năm ấy, NB lại càng cao hứng để sáng tác những vần thơ trữ tình làm nhiều người say mê, các cô thiếu nữ thì mê mẩn si tình như trong bài Chờ Nhau dưới đây:


Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
Ai làm cả gió đắt cau,
Mấy hôm sương muối cho trầu đổ non.



Trong câu "em nghe họ nói mong manh, hình như họ biết chúng mình với nhau" quả tình là thi vị và lãng mạn, không còn nề nếp gia phong cổ hủ trai gái thụ thụ bất thân như ông bà ta thường nói. Tuy thế nhưng với bài Cô Hàng Xóm mà NB mô tả rằng nhà chàng ở cạnh nhà nàng mà vì lễ giáo nên còn hơi e ngại.


Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có dậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.



Cho nên chàng chỉ dám nhẹ nhàng nằm mơ thôi:


Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Có con bướm trắng thường sang bên này.
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.



Cảnh mưa thì thật buồn, nhà thơ NB mô tả như sau:

Tầm tầm giời cứ đổ mưa,
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
Cô đơn buồn lại thêm buồn,
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?



Chàng gửi hồn cho bướm trắng để chịu tang khi biết nàng đã thành người thiên cổ. NB quả là một người si tình và lãng mạn, mặc dầu chàng chưa hề mặt mặt cầm tay nàng lấy một lần mà đã nghẹn ngào, đau sót và nói rằng mình đã yêu nàng. Thật đúng là chàng vừa si tình lại hết sức lãng mạn.


Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.



Kết luận một điều làm người đọc ngỡ ngàng sau khi nàng chết, NB còn mơ tưởng rằng nếu hồn trinh của Cô Hàng Xóm còn ở trần gian thì hãy nhập vào bướm trắng để qua với chàng thì sung sướng biết bao!.


Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!



Rồi, một câu chuyện thú vị và si tình khác của Nguyễn Bính nữa mà nhiều người còn nhắc tới: Số là năm ấy ông vừa tròn mười bốn tuổi Nguyễn Bính đi dự hội Phủ Giầy một lễ hội mà ông rất mê từ thuở nhỏ. Hôm đó ông đang ngồi xem hát hầu đồng bóng, khi thoáng thấy một cô gái trạc tuổi ông đi ngang qua. Cô bé người cao ráo mặc áo cánh sen thắt lưng hoa lý trông rất xinh. Cô ấy đi cùng với một người đàn bà có lẽ là mẹ nàng. Vẻ đẹp sắc nước nghiêng thành, lạ lùng như nàng vừa thoát ra từ bức tranh Tố Nữ treo ở tường trong phòng khách của một vị quan mà ông đã đưọc xem khi đi thăm ông quan ấy với người cậu, vội vàng ông chạy theo cốt nhìn cho bằng được khuôn mặt cô nàng, rồi ông ngơ ngẩn như người mất hồn khi diện kiến. Cả ngày hôm ấy, ông cứ đi theo hai mẹ con nàng, ông theo cả vào chùa trong để lạy cùng lạy, khấn cùng khấn với hai mẹ con nàng đến nỗi ông quên cả thời gian mãi cho đến chiều.


Gió chiều cầu nguyện đâu đây,
Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu.
Sư già quét lá sau chùa,
Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông.



Si tình đến thế nên ít có người sánh kip. Ngoài việc lãng mạn si tình, NB còn được dân gian coi như một vị thần dùng thơ để bói toán nên người cùng thời đặt cho ông danh hiệu là 'chú bé thần đồng ', nhiều lời đồn đãi thêu dệt khiến nảy sinh ra nhiều chuyện bất ngờ . Lúc đầu người ta nhờ NB gà thơ cho những cuộc thi có hát đối đáp vì ông có tài đối ứng tức thì, nên thường bên nào có ông giúp thì đều thắng cuộc thi, làm đối phương tức giận. Tuy nhiên cũng nhờ tài đó mà ông được dân chúng ngưỡng mộ, thời đó dân trí còn thấp kém nên đã có người tôn ông lên đến tột đỉnh vinh quang, có người ngờ rằng ông là người của "cõi trên" hiện xuống vì do sự sùng kính quá đáng mà thành mê tín, tin rằng thơ NB là thơ Tiên, được giáng nhập vào cậu bé thần đồng chứ chẳng phải là thơ của người bình thường sáng tác. Thậm chí đến nỗi người muốn dựng vợ gả chồng cho con cái, hay những cặp trai gái gặp đường tình duyên trắc trở, hoặc làm ăn xui xẻo v.v. đều đến nhờ "Câu" cho thơ "Tiên"! "Cậu" tuỳ theo hoàn cảnh của thân chủ lại cho thơ "Tiên".


Một lần kia, gia đình nông dân nghèo có một cô gái vừa tuổi cập kê, một thanh niên con nhà giầu ở làng kế bên đến hỏi xin cưới làm vợ. Nhưng phiền một nỗi nàng đã có một người yêu khác trong làng, người này tuy nghèo nhưng như cô nhưng cách ăn nết ở cũng khá. Gia đình cô gái phân vân không biết quyết định ra sao cho phải nên đã tìm đến "Cậu" , Cậu" liền lấy bút giấy viết ra "dòng thơ phán bảo" như sau:


"Của dẫu nhiều nhưng vẫn chẳng nên
Phù vân, giả dối chẳng lâu bền
Tình em đâu phải trao thiên hạ
Dành để trai làng mới đẹp duyên"



Thế là gia đình người thiếu nữ đành nghe lời thơ Tiên của Cậu gả cô cho trai làng, mà từ chối gả cho chàng thanh niên làng bên giầu có. Một chuyện thật độc đáo là có một anh chàng hành nghề đạo chích nghe nhà Thơ Nguyễn Bính có thơ Tiên linh hiển lắm nên cũng tìm đến xin thơ Tiên và được Nguyễn Bính "giáng" cho mấy câu thơ, đọc xong thơ Tiên thì anh đạo chích bỏ luôn nghề ăn trộm.

Trở lại nàng Tố Nữ mà NB gặp ngày trẩy hội Phủ Giầy, hết ngày lễ hội thì chàng còn tò tò theo nàng nhiều ngày nữa, chàng luôn luôn đi theo bên nàng cho đến ngày thứ tư, chàng lén dúi được vào tay cô Tố Nữ một mảnh giấy có mấy câu thơ sau:


"Em ở cõi trần hay cõi tiên?
Phủ đền nhang khói nức hương em
Xin đi chầm chậm cho theo với
Lộc Thánh dâng người một trái tim".




Cô gái Tố Nữ nhanh nhẹn cầm lấy mảnh giấy nhưng nàng thẹn thùng ngó lơ đi nơi khác. Tuy vậy chỉ cần như thế là chàng đã mãn nguyện sung sướng tràn ngập trong lòng rồi. Như thế phải chăng Nguyễn Bính đã là một thi sĩ thật lãng mạn và si tình. Cuộc tình vẫn chưa chấm dứt, nàng sau đó đã theo mẹ về quê và chàng tìm cách đi theo cho đến tận nơi nàng ở. Tuy nhiên có lẽ mối tình đầu này kết quả chỉ đẩy đưa tới đó mà thôi bởi vì chỉ chừng ba tháng sau thì gia đình nàng đột ngột bán nhà chuyển đi nơi khác, thế là người tiên Tố Nữ của chàng đã biến mất, nhưng hình ảnh nàng Tố Nữ trẩy hội Phủ Giầy đầu chít khăn nhung mỏ qụa, có lúc nàng thả tóc đuôi gà thật xinh vẫn luôn ám ảnh trong tâm hồn chàng thi nhân Nguyễn Bính, một bóng hình khó lạt phai.

Edited by user Tuesday, August 8, 2017 2:52:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (3)
143 Pages<1234>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.