Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

143 Pages«<141142143
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hạ Vi  
#2841 Posted : Tuesday, December 1, 2020 6:53:05 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)

.


BÂY GIỜ THÁNG MẤY (TỪ CÔNG PHỤNG)


UserPostedImage


Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm....


Lời bài hát thật đẹp. Tha thiết. Phiêu diêu.Lãng tử. Thật đúng với phong cách của Từ Công Phụng. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu cho tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 cùng với Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương...là tác giả của các ca khúc trữ tình được nhiều người biết đến như Bây Giờ Tháng Mấy, Mắt lệ cho người, Giọt Lệ Cho Ngàn Sau. Nguồn gốc của ca khúc đầu tay này của Từ Công Phụng là một sáng tác với những mơ mộng của chàng học sinh mới lớn, tâm tư của một tên học trò đọc quá nhiều tiểu thuyết lãng mạn, cho nên "Bây Giờ Tháng Mấy" đã bắt được nhịp đập con tim của giới trẻ lúc bấy giờ. Lúc họ đang sống thấp thỏm trong hoàn cảnh chiến tranh, khao khát một tình yêu trong sáng lãng mạn và Từ Công Phụng đã mang lại cho họ món ăn tinh thần ấy.

Sự phổ thông mạnh mẽ của nó đã khiến tựa đề của nhạc phẩm này được truyền khẩu thành Bây giờ...mấy tháng rồi hỡi em ?. Từ Công Phụng cho biết đã không hài lòng lắm khi tên đứa con đầu đời của anh bị đổi tên một cách châm biếm như vậy. Nhưng dù sao anh cũng thừa nhận nhờ đó mà tác phẩm đầu tay của anh được nhắc nhở tới nhiều hơn. Câu tự vấn "Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?" vẫn đủ sức làm lay động lòng người hơn 45 năm qua.

Nếu sự chia sẻ trong âm nhạc đạt mức cao nhất ở những lúc buồn thì âm nhạc của Từ Công Phụng là người bạn đồng hành tuyệt vời. Một cách âm thầm, từng lời hát của ông như chiếc chìa khóa bật mở những "hợp âm kỷ niệm", để mỗi khi giọng hát cất lên, cả người hát lẫn người nghe đều như sống lại một phần đời trong ký ức. Sự hụt hẫng nơi ông chưa bao giờ là đau đớn đến tuyệt vọng, bởi ông luôn quan niệm "Tình yêu là vĩnh cửu" và vẫn muốn sống trọn vẹn với chính mất mát của mình.


“Bây giờ là tháng mấy? mình xa nhau đây em
Chiều nay trời mây đầy, cho lạnh buốt vai gầy
Ngày cũ mình còn đôi, mà nay em hờn dỗi
Thất hẹn một lần thôi, để mộng vỡ tan rồi

Bây giờ là tháng mấy? Chiều nay sao mưa bay
Nhớ em mấy cho vừa đàn lạc phím ru hờ
Chiều rơi nhẹ vào mắt, trời chớm đông lạnh ngắt
Gió lay nhẹ hàng cây, dáng em mờ trên mây

Mai đây em đi về, có ai đưa chân mềm
Hôn làn tóc lưng thềm, mà từng đêm anh đã trót
Ngày đó có anh chờ và nay biết ai đợi
Để đưa em đi về, khi cuộc vui đã tan

Bây giờ là tháng mấy? Mùa hoa đã phai chưa
Tìm quên mùa thương này trong nhạc lắng cung đàn
Màu mắt em còn đó, nhìn áng mây chiều gió
Lướt bay về trời cũ, đâu nữa ngày mộng mơ

Bây giờ là tháng mấy? Chiều anh đi quên đường
Tìm màu hoa hương cũ, em cài áo làm duyên.”


Tác giả bài thơ này qua lời thuật lại từ một nhân viên của một đài phát thanh: Đó là một người con gái. Cô gái ấy, sau khi nghe nhạc phẩm “Bây Giờ Tháng Mấy” lần đầu tiên được phát sóng trên đài, đã cảm tác một bài thơ có cùng tên: “Bây Giờ Tháng Mấy” và mang đến đài phát thanh nhờ trao tặng cho Từ Công Phụng. Từ đó đến nay, TCP luôn có ý chờ người con gái đó lộ diện để biết được tên thật của tác giả, nhưng đã hơn 30 năm trôi qua, chưa hề một lần nào ông nghe được bất kỳ tin tức gì từ cô gái ấy cả.


UserPostedImage



Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em? Hỏi nhưng không có câu trả lời. Có thể là tháng 12, hay tháng 1, 2,...gì đó. Tháng mấy, không quan trọng, chỉ biết rằng Mùa đông chết đi rồi mùa xuân đang đến ở đất trời, và trong lòng người! Bài tình ca tươi mát lãng mạn đã trở thành một bài ca thời thượng của những người trong tuổi đang yêu. Lời nhạc tình tứ đã vỗ về cuộc tình của cả một thế hệ thanh niên.


“Mai đây anh đưa em đi về, mưa giăng chiều nắng tàn,
cho bớt lạnh chúng mình. Em ơi thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi để mùa đông buốt giá bờ vai mềm
.”


Đã ba thập niên trôi qua, lời nhạc chỉ làm mềm lòng người nghe mà thôi…

“Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi, trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ loi
Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài.

Chiều nay nhớ em rồi và nhớ.
Áo em đẹp màu thơ,
Môi tràn đầy ước mơ.
Mai đây anh đưa em đi về,
Mưa giăng chiều nắng tàn cho buốt lạnh chúng mình.

Tôi không có đôi tai thẩm âm của một nhạc sĩ mà chỉ có một tâm hồn rộng mở đón nhận những dòng nhạc. Nhạc Từ Công Phụng như những ngọn suối ngọt ngào, như những dòng thác triền miên, như những triền sông bát ngát đưa tâm hồn ta tới một cõi nghệ thuật nào đó. Những khi chán nản với cuộc sống tầm thường, những lúc mỏi mệt với những thúc giục của cuộc đời, những lúc tâm hồn như một dải sa mạc cằn cỗi, tôi vẫn tìm về với những tình khúc Từ Công Phụng và tôi đã được đến một đỉnh an bình nào đó.

Tình ca không có tuổi. Khi trên đời còn những tình nhân thì tình ca vẫn vang vọng trong cuộc sống. Tình yêu không bao giờ cũ. Chính những tình nhân từ thế hệ này qua thế hệ khác luôn luôn làm mới tình yêu. Bởi vậy tình ca nói chung, tình khúc Từ Công Phụng nói riêng, không bao giờ phai mờ nét lấp lánh của chúng.

“Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau.”



UserPostedImage



~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~

~.~ Credit FB Tinh khuc bat tu

https://www.facebook.com.../posts/870278259663089:0





UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 12/10/2020(UTC)
Hạ Vi  
#2842 Posted : Tuesday, December 1, 2020 6:55:48 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)


«ASIA 7» Tuấn Ngọc - Bây Giờ Tháng Mấy (Từ Công Phụng)







UserPostedImage
phamlang  
#2843 Posted : Thursday, December 10, 2020 6:20:21 PM(UTC)
phamlang

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,537

Thanks: 1731 times
Was thanked: 1046 time(s) in 673 post(s)
Mai Hương – Nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật


UserPostedImage
Tưởng niệm ca sĩ Mai Hương (1941-2020)


Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình. Nhiều kỷ niệm vẫn còn in sâu trong trí tôi cho đến ngày hôm nay là những buổi tối mấy chị em chúng tôi quây quần bên chiếc máy thu thanh trong căn gác nhỏ, chờ đón những chương trình nhạc mà tất cả chúng tôi đều ưa thích. Tiếng Nhạc Tâm Tình do Anh Ngọc phụ trách, Tiếng Tơ Đồng của cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn là ba chương trình mà không có tuần nào chị em chúng tôi bỏ qua. Hơn ba mươi năm sau, ngồi cách xa quê hương hơn nửa vòng trái đất, tôi vẫn còn nhớ lại nhũng giây phút thật xa nhưng cũng thật ngọt ngào mà dễ thương ấỵ Đó là một ốc đảo yên bình tràn đầy âm nhạc và tình tự quê hương khi bên ngoài cuộc chiến đang ngày càng đến gần thành phố.

Ở trong cái thế giới âm nhạc tuyệt diệu ấy, một giọng hát nhẹ nhàng và đầy đam mê đã đến với chúng tôi như một làn gió mát, một thoáng hương hoa của buổi đầu xuân. Dịu dàng nhưng thiết tha. Đó là tiếng hát của Mai Hương. Sau này khi đã sống ở bên Mỹ tôi vẫn được nghe tiếng hát Mai Hương. Giọng hát của chị sau hơn muời lăm năm tôi không được nghe không những đã không bị thời gian làm phai nhạt, trái lại còn có phần trong và mạnh hơn. Có thể vì kỹ thuật hòa âm và thu thanh chăng? Tôi nghĩ đây chỉ là một lý do phụ thôi. Lý do chính là Mai Hương luôn luôn hát với cả tấm lòng yêu âm nhạc, một tình yêu mà chị đã có từ những ngày còn thật bé vì vốn dĩ sinh trưởng trong một đại gia đình văn nghệ sĩ. Nghe từng bài của Mai Hương hát trong các CD của chị chúng ta nhận thấy cái trau chuốt, từ sự chọn lựa các bài hát trong các đĩa nhạc, cho đến sự trân trọng của chị qua từng nốt nhạc. Sống ở xa quê hương chúng ta có cách hay nhất làm dịu nỗi nhớ quê nhà bằng sự thưởng thức các tác phẩm văn chương hoặc thơ, nhạc. Mỗi chúng ta ra đi mang theo trong ký ức ít nhiều hình ảnh của quê hương: những khúc nhạc hay, một cổng trường vôi trắng hay một khuôn mặt dễ yêu nào đó… Riêng tôi, mỗi lần nghe lại tiếng hát Mai Hương là như thấy lại cả một trời kỷ niệm. Quê hương và nỗi nhớ tưởng chừng đã quên nhưng vẫn còn y nguyên bên mình. Chính ở trong nỗi nhớ đó chúng ta càng cảm nhận tầm mức quan trọng của những văn nghệ sĩ đã trọn đời gắn bó với các bộ môn nghệ thuật Việt Nam. Bởi lẽ qua tiếng nhạc lời ca, qua ký ức và những kinh nghiệm sống và trình diễn nghệ thuật của họ là tiềm tàng những hình ảnh thân thương của quê nhà mà tất cả chúng ta hằng yêu mến. Để thấy rõ thêm về điều này, chúng ta hãy nghe Mai Hương tâm sự về gần 50 năm gắn bó với âm nhạc Việt Nam của chị trong bài nói chuyện sau đây.

Nghiêm Xuân Cường (NXC): Xin chị cho độc giả được biết đôi nét về chị. Chị đi hát từ năm nào và có những kỷ niệm đặc biệt gì về những ngày đầu tiên đi hát?

Mai Hương (MH): Tên thật là Phạm Thị Mai Hương, tôi chào đời tại Đà Nẵng năm 1941. Thân phụ của tôi là ông Phạm Đình Sỹ, (người anh cả của ban Hợp Ca Thăng Long gồm có Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng và Thái Thanh) và thân mẫu là nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, đã từng tham dự và thủ diễn trong nhiều vở kịch lớn (như Lôi Vũ, Trong Bóng Hậu Trường) cũng như trong nhiều phim ảnh (Sóng Tình, Chúng Tôi Muốn Sống…) Thời thơ ấu tôi sống ở nhiều nơi: Huế, Thượng Du Bắc Việt, Hà Nội, rồi đến năm 1952 cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn và sống tại đây đến năm 1975. Lúc còn nhỏ, ở tuổi 12, 13 tôi không nghĩ là sau này mình lại là một ca sĩ chuyên nghiệp. Lúc ấy bố mẹ bảo sao thì mình nghe vậỵ Thế là các cụ ghi tên cho tôi và bảo đi thi hát ở rạp Norodom (sau này gọi là rạp Thống Nhất) do Đài Phát Thanh Pháp Á tổ chức. Cũng vì có khiếu và thích hát ngay từ bé nên tôi hớn hở đi thi ngay. Qua các kỳ sát hạch, tứ kết, bán kết, tôi được vào chung kết vào cuối năm 1953. Lúc ấy tôi được người cô ruột là ca sĩ Thái Thanh tập cho bài Xuân Và Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) để dự thi chung kết. Bài này điệu valse, tông Rê trưởng, cao và khó hát đối với một cô bé 12 tuổi. Tôi còn nhớ mỗi lần thi hát, ban tổ chức phải bắc một cái ghế để tôi đứng cho vừa với cái micro vừa cao lại vừa to che hết cả mặt mũi!

Qua khỏi lứa tuổi nhi đồng, bắt đầu hát với những ban người lớn thì tôi rất sợ. Nhiều người đã nổi tiếng và đã hát lâu năm trên các đài phát thanh. Đó là những người mà tôi phải gọi bằng cô chú, như chú Anh Ngọc, Ngọc Long, các cô Thái Thanh, Châu Hà, Mộc Lan, các anh chị Kim Tước, Duy Trác… Toàn những người hát giỏi, tôi lo sợ không biết mình có thể “cầm cự” nổi không. May nhờ có mấy năm tôi được theo học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, nên cũng không đến nỗi nào! Đó là cảm tưởng của những ngày đầu đi hát của tôi.

NXC: Chị có kỷ niệm gì về những lần đi lưu diễn?

MH: Thật ra tôi là ca sĩ hát ở đài nên rất ít đi lưu diễn. Tôi nhớ mãi một chuyến đi trình diễn ở Đà Lạt năm 1960 với một ban đại hòa tấu và hợp xướng dưới sự điều khiển của một nhạc trưởng người Đức, tên là Otto Soelner. Toàn ban có đến gần 100 người, cả ca sĩ và nhạc sĩ của Đài Phát Thanh Sài Gòn và nhạc sinh trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tôi và Quỳnh Giao là hai người trẻ nhất, tôi thì 19 tuổi, còn Quỳnh Giao thì mới 14. Lúc bấy giờ Việt Nam còn rất thanh bình nên đoàn chúng tôi đi bằng xe lửa từ Sài Gòn lên Đà Lạt và ở tại khách sạn Đà Lạt Palace. Chúng tôi trình diễn trường ca Con Đường Cái Quan của Phạm Duy. Đây là một tuyệt phẩm được thai nghén từ 1954, tức là khoảng thời gian chia cắt đất nước. Bốn năm sau, tức là khoảng 1958-1959 trường ca Con Đường Cái Quan được hoàn tất. Trước khi CĐCQ được trình diễn lần đầu tại Đà Lạt năm 1960 chúng tôi đã trình bầy tại Đài Phát Thanh Sài Gòn.

NXC: Xin chị cho biết về những tháng năm dưới mái trường QGAN

MH: Tôi theo học tại trường QGAN vài năm, từ năm 1958, song song với việc học chữ tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng. Các giáo sư nhạc của tôi có lẽ đã qua đời cả rồi. Ông Nguyễn Cầu môn Ký Âm Pháp, ông Nguyễn Hữu Ba môn đàn tranh đều là bạn của Ba Me tôi. Ông Nguyễn Cầu mất tại Maryland cách đây vài năm, ông Nguyễn Hữu Ba mất tại Việt Nam cũng đã lâu. Thầy Hải Linh, dậy môn hợp xướng ,mất tại Quân Cam nên tôi được may mắn dự đám tang của thầỵ Các thầy Phạm Gia Nhiêu (violon), thầy Hai Biểu (đàn thập lục) đã mấy chục năm rồi không gặp nên tôi không biết đuợc tin tức của hai thầỵ Các giáo sư của tôi ông nào cũng hiền lành và thật dễ thương. Tôi quý các ông vô cùng.

NXC: Thời kỳ phôi thai của Đài Phát Thanh Sài gòn có lẽ là từ những năm 1954-1960. Chị nhớ gì về những ngày tháng đó?

MH: Đối với tôi những năm đẹp nhất ở Đài Phát Thanh Quốc Gia (mà sau này đổi thành Đài Phát Thanh Sài Gòn), và các Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do, bắt đầu từ năm 1954 cho đến Tết Mậu Thân 1968. Những năm này thành phố Sài Gòn thật yên bình. Trở lại năm di cư 1954-55, một số ca nhạc sĩ từ Bắc vào Nam, tôi có thêm một bạn ca sĩ nhi đồng là Mai Hân, hiện đang phụ trách chương trình phát thanh của đài Little Sàigon vùng San Jose, bắc Cali. Các ca nhạc sĩ lớn tuổi hơn thì chúng ta có các nhạc sĩ Văn Phụng, Nhật Bằng, Đan Thọ, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Y Vân…, các ca sĩ Châu Hà, Ánh Tuyết (nổi tiếng với bài Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành), Mai Ngân, Vũ Huyến, Duy Trác…Các nhà văn/thơ Mai Thảo, Thái Thủy, Đinh Hùng, Quách Đàm, Thanh Nam, Nguyễn Đình Toàn…và còn nhiều người nữa mà tôi không thể nhớ hết.

NXC: Chị có những kỷ niệm gì về về những thập niên 1960, 1970?

MH: Khoảng năm 1963, Đài Phát Thanh Sài Gòn đón nhận một con chim họa mi xứ Thần Kinh. Đó là chị Hà Thanh, giọng ca số một ở Huế, một giọng ca cao vút và trong sáng. Trước khi chị Hà Thanh vào Nam, tôi đã được nghe nói đến tên chị rồi. Thế rồi các ca sĩ nhi đồng nhỏ tuổi hơn tôi như Quỳnh Giao, Hoàng Oanh cũng bắt đầu góp mặt trong các chương trình tân nhạc của các đài phát thanh. Riêng Hoàng Oanh có biệt tài về ngâm thơ ngoài lãnh vực ca hát nên cô góp giọng rất nhiều trong các chương trình thơ nhạc như Tao Đàn, Thi Nhạc Giao Duyên của cố thi sĩ Đinh Hùng. Đối với chúng tôi, những năm họat động ở trên các đài phát thanh là những năm đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Tất cả các ca nhạc sĩ già, trẻ, lớn bé đều xem nhau như anh chị em trong một đại gia đình, yêu thương, kính trọng nhau, không có sự chèn ép hoặc ganh tị trong đài. Nói về các chương trình tân nhạc thì gồm toàn những bài bản giá trị, được các nhạc sĩ trưởng ban soạn cho ban nhạc và ca sĩ rất công phu. Hoà âm được viết cho từng nhạc cụ và từng bè của mỗi ca sĩ riêng biệt. Mỗi người nhìn vào phần của mình mà ráp với nhau. Ở đài chúng tôi thường hát theo hòa âm của các nhạc sĩ Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Nhật Bằng, Y Vân…

Nhưng từ năm 1968 trở đi không khí đài phát thanh mất vui nhiều lắm. Sau biến cố Tết Mậu Thân, Sài Gòn không còn vẻ thanh bình của những năm trước đó. Chúng tôi phải hát thêm loại nhạc “chiến dịch”, nghĩa là khi được tin quân đội ta đánh thắng những trận nào, tin tức đưa về, là các anh nhạc sĩ Lê Dinh, Nhật Bằng, Minh Nhật, Trầm Tử Thiêng, phải sáng tác ngay một bài hát mới và đưa vào phòng vi âm cho chúng tôi thâu “ké” để kịp phát thanh ngay mừng chiến thắng vì lúc ấy chúng tôi đang thâu cho các chương trình tân nhạc. Rồi đến “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, khắp miền dồn dập những trận đánh lớn, nhỏ. Các bài hát chiến dịch tiếp tục được sáng tác và chúng tôi vẫn thâu thanh. Có nhiều hôm vừa ăn cơm tối xong, được điện thoại trên đài gọi đi thu thanh gấp. Tôi và Quỳnh Giao vừa lên đến nơi thì anh Minh Nhật dúi vào tay một bài hát mới toanh, bảo thu ngay bây giờ để phát thanh liền. Thế là chúng tôi mở to con mắt ra để mà nhìn, mà đọc, mà hát. Không có thì giờ để tập vì phải về nhà trước giờ giới nghiêm. Tôi chưa về đến nhà thì bài hát mình vừa thâu đã được phát ra rồi .Tôi vừa bước chân vào nhà, me tôi đã nói: “Me vừa nghe con hát trên đài. ” Ba Me tôi ở cách chúng tôi có vài căn nên hay qua chơi với các cháu.

Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4-1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người. Gia đình tôi gặp gia đình Quỳnh Giao trong trại tỵ nạn ở Guam. Chúng tôi vui mừng, cảm động đuợc gặp nhau mà nước mắt ròng ròng. Cũng tại nơi này chúng tôi gặp gia đình anh chị LưuTrung Khảo là hàng xóm sát vách của mình ở đường Bùi Thị Xuân. Lại khóc.

NXC: Chị có thích hát loại nhạc nào hơn không?

MH: Nói về sở thích loại nhạc mình hát thì tôi thích loại nhạc cũ, thể điệu êm dịu vì tôi thấy hợp với giọng của mình. Nhưng đã là ca sĩ ở đài phát thanh rồi thì mình không có quyền lựa chọn bài mình thích mà hát. Tất cả các chương trình thâu thanh đều do các người trưởng ban làm chương trình, bảo ca sĩ hát bài nào thì mình hát bài ấỵ Cho nên chúng tôi hát đủ các thể điệu, từ Boston, Slow, Rumba, Cha Cha Cha, Boléro, Tango Swing, Marche… Nếu là nhạc dân ca, cũng phải hát đủ cả ba miền, cả dân ca miền Thượng nữa. Ngoài những bài đơn ca, ca sĩ còn hát song ca, tam ca, tứ ca, hợp ca, đơn ca phụ họa. Khi thì mình hát solo người khác phụ họa, hoặc ngược lại. Vì vậy mới có ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà người ta thường ví với các ban của Ed Sullivan hoặc Lawrence Welk của Hoa Kỳ, cũng với hình thức như vậy!

Nói về tam ca, thì tôi cảm thấy hát hợp nhất với chị Kim Tước và Quỳnh Giao. Vì vậy khi ra hải ngoại chúng tôi tìm đến nhau lập ra ban Tam Ca “Tiếng Tơ Đồng” để nhớ đến nhạc sĩ Hoàng Trọng còn kẹt lại ở Việt Nam. Đến năm 1992, nhạc sĩ Hoàng Trọng qua Mỹ đoàn tụ với các con, ban tam ca chúng tôi đuợc đổi thành “Tơ Vàng”. Sau khi ông qua đời, chúng tôi dùng lại tên “Tiếng Tơ Đồng” để tưởng nhớ đến ông, và vẫn hoạt động đến bây giờ. Mỗi khi có một đêm tổ chức âm nhạc thì chúng tôi lại có dịp hát chung với nhau.

NXC: Mỗi lần hát chung như vậy các chị có phải tập dượt trước nhiều không?

MH: Mỗi người chúng tôi đều vững nhạc lý rồi nên không cần tập dượt cho mấy nhưng tất nhiên là khi hát với ban nhạc thì phải tập với ban nhạc chứ.

NXC: Có những sinh hoạt nghệ thuật nào ở hải ngoại mà chị cho là đáng kể?

MH: Tôi không theo dõi sinh hoạt âm nhạc hải ngoại sau 1975 vì quá bận rộn với công việc sở làm và gia đình nên chắc chắn không thể biết hết được, chỉ có thể nói về các sinh hoạt mà mình có tham dự. Tôi nhớ là vào năm 1977 nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nay đã quá cố, hướng dẫn một đoàn văn nghệ gồm các bộ môn ca, vũ, nhạc, kịch sang Pháp trình diễn. Đây là chuyến trình diễn đầu tiên tại nước ngoài sau năm 1975 của tôi. Mấy năm sau nhạc sĩ Cung Tiến tổ chức một đêm âm nhạc “Bốn Mươi Năm Phạm Đình Chương” tại Minnesota, rồi anh Lê Văn của đài VOA cũng tổ chức “Bốn Mươi Lăm Năm Âm Nhạc Phạm Đình Chương” tại Washington, D.C. Đến năm 1987 cũng anh Lê Văn hướng dẫn một phái đoàn văn nghệ đi trình diễn ở các nước Âu Châu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ. Khoảng năm 1990, một “Đêm Nhạc Cung Tiến” đuợc tổ chức ở San Jose, California với giàn nhạc giao hưởng của San Jose. Sau đó “Đêm Nhạc Cung Tiến” được tổ chức ở Disney Hotel tại Anaheim, CA với giàn nhạc đại hoà tấu của Orange County.

Cũng khoảng thời gian này, có sự xuất hiện của ban đại hoà tấu và hợp xướng Ngàn Khơi với thành phần ca sĩ và nhạc sĩ ngót 100 người. Ban Ngàn Khơi do hai chị em chị Nguyễn Thị Nhuận (bác sĩ) và Nguyễn Thị Ngọc Sương (nha sĩ) sáng lập. Đây là một ca đoàn lớn và một ban nhạc lớn mà phần phụ soạn hoa âm do các nhạc trưởng Lê Văn Khoa và Trần Chúc đảm nhiệm. Phần nhạc và phần hát tập luyện rất công phu mà tất cả các ca, nhạc sĩ đều hết lòng làm việc. Đây là một công trình văn hóa rất đáng khen.

Gần đây nhất phải kể đến một đêm “Tình Ca Ngô Thụy Miên Qua Bốn Thập Niên” vào tháng 9 năm 2000 tại Quận Cam do hai người bạn thân của anh Ngô Thụy Miên là Phạm Duy Quang và Nguyễn Cửu Tuấn tổ chức để vinh danh người nhạc sĩ với thật nhiều bản nhạc tình bất hủ này. Buổi tổ chức quá chu đáo, thành công mỹ mãn và được giới thưởng ngoạn đón nhận thật nồng nhiệt. Thế rồi vào tháng 2, 2001 cũng các bạn trong nhóm này tổ chức hai buổi “Nhạc Thính Phòng Và Các Nhạc Phẩm Tiền Chiến” tại San Jose và Quận Cam đều được đón nhận rất nồng nhiệt. Theo tôi, có lẽ những đêm âm nhạc kể trên là đáng ghi nhớ nhất.

NXC: Chị có so sánh gì về nhạc Việt và nhạc ngoại quốc?

MH: Nói chung thì những bản nhạc của Tây phương nhất là nhạc phổ thông (pop music) đều có lời ca rất đơn giản, đôi lúc còn có nét ngây ngô. Trái lại, nhạc Việt, nhất là những bản nhạc tiền chiến thì lời ca thật là công phu, nhiều lúc phần lời cũng quan trọng không kém phần nhạc, thí dụ điển hình nhất là những bản nhạc của Đoàn Chuẩn lời Từ Linh, hoặc các bài của Văn Cao, Phạm Duy… Thêm vào đó, mỗi chúng ta đều có ít nhiều kỷ niệm với một hay nhiều bản nhạc thành ra khi nghe những bài ấy thì giòng nhạc lại gợi cho chúng ta bao nhiêu là kỷ niệm thân yêu về gia đình, bạn bè, quê hương, thân phận… Vì thế, nếu chúng ta đã lớn lên với âm nhạc Việt Nam thì nó đã trở thành một phần đời của mình rồi, nhạc ngoại quốc dù hay đến đâu cũng không thể nào cho mình cái rung cảm như khi nghe nhạc Việt.

NXC: Có một điều mà ít người biết đến là chị cũng hát thánh ca khá nhiều. Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần nói: “Mai Hương là người ca sĩ có giọng ca thật điêu luyện và được đánh giá là người hát thánh ca hay nhất.” Chị có thể nói qua về các sinh hoạt này không?

MH: Lúc còn nhỏ, tôi được cha mẹ cho đi học tại các trường Công Giáo, trường tiểu học Thánh Linh của các sơ và sau đó là trung học Nguyễn Bá Tòng của các cha. Khi học ở trường Thánh Linh tôi đã tham dự vào các sinh hoạt của trường trong các dịp lễ lớn như Giáng Sinh và Phục Sinh. Lúc ở trung học Nguyễn Bá Tòng tôi được hân hạnh hát trong ban nhạc Hương Quê do nhạc trưởng Hải Linh, bấy giờ mới ở Pháp về, hướng dẫn. Sau này khi qua Mỹ, tôi cũng có dịp cộng tác với các chương trình thánh ca của Đài Phát Thanh Viễn Đông (Far East Broadcasting Corporation, FEBC) do ông Nguyễn Hữu Ái phụ trách. Một điều làm tôi rất được khích lệ là các anh chị em trong đài FEBC nhận được khá nhiều thơ do thính giả của đài gởi về từ những nơi thật xa xôi hẻo lánh như các tỉnh miền Trung, miền Nam nói là họ có nghe những bài ca do tôi hát với lời ca thật rõ ràng, và những bài ca đó đã truyền đạt thật thấm thía cho họ những lời giảng dậy của Chúa.

NXC: Một số các nhạc sĩ lão thành và tên tuổi của nền âm nhạc Việt Nam lần luợt từ giã chúng ta. Gần đây nhất, ngày 15 tháng 10 vừa qua, nhạc sĩ Ngọc Bích (tác giả của nhiều nhạc phẩm bất hủ Mộng Chiều Xuân, Trở Về Bến Mơ, Khúc Nhạc Chiều Mơ…) vừa từ trần. Chị nhớ gì về người nhạc sĩ lão thành này?

MH: Năm 1952 gia đình tôi dọn vào Nam vì Ba tôi là công chức bị thuyên chuyển đi nhiều nơi. Gia đình tôi lúc bấy giờ sống rất thanh bạch vì chỉ có mình thân phụ tôi đi làm nuôi vợ và ba con. Hàng xóm của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngọc Bích. Năm 1953, ông Ngọc Bích và vợ là ca sĩ Lệ Nga được một người con trai tên là Kim Ngọc. Me tôi vẫn hay sang giúp bà Lệ Nga tắm cho cậu con trai. Một chi tiết ít người biết đến là nhạc sĩ Ngọc Bích còn là một ca sĩ và khi đi hát thì ông dùng tên Kim Ngọc. Ông cũng sáng tác dưới một tên khác là Thái Thu một bản nhạc điệu Swing cũng rất là dễ thương tên là Hương Tình “Ngồi bên em dưới trăng mơ màng. Lòng ngây ngất nhịp mấy cung đàn…” Khoảng năm 1954, ông lập ra ban hợp ca Hồng Hà gồm có ông, các ca sĩ Ánh Tuyết và Thùy Dương. Ban này hoạt động chỉ được một thời gian ngắn. Năm 1956 ông làm trưởng ban cho một ban nhạc của Đài Phát Thanh Quân Đội tôi và hai chị em Mai Ngân, Mai Hân được mời cộng tác với ông trong một thời gian ngắn. Tuy đã biết sinh ly tử biệt là định luật bất di bất dịch của trời đất, nhưng mỗi một mất mát là một lần làm tôi không khỏi ngậm ngùi và càng thấy cần thiết việc giới thiệu những bản nhạc hay mà giới yêu nhạc ít biết đến.

NXC: Chị có dự tính gì cho tương lai?

MH: Dự tính gì cho tương lai ư? Tôi không có dự tính gì to tát hơn là vui với các con và các cháu nội ngoại. Tôi và nhà tôi, anh Trương Dục vừa kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành hôn. Chúng tôi được 2 trai, 2 gái; cháu lớn nhất 38 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi. Tôi rất mãn nguyện vì mình đã làm tròn bổn phận với gia đình: dựng vợ gả chồng cho 4 đứa con; các con tôi đều tốt nghiệp đại học và có công ăn việc làm tốt đẹp, lại có thêm những đứa cháu nội, ngoại thông minh và dễ thương. Quả thật tôi không thể đòi hỏi gì hơn nữa.

Tôi cảm thấy hài lòng với những gì mình có, và không phủ nhận là mình đã gặp được nhiều may mắn. Bây giờ tôi có nhiều thì giờ hơn để có thể làm những mình muốn làm và thích. Sau 22 năm làm cho Bank of America, tôi vừa xin nghỉ việc vào tháng giêng năm 2000 vì cảm thấy mệt mỏi và chán công việc. Tôi đang cố gắng sưu tầm các bài hát cũ rất có giá trị của các nhạc sĩ tên tuổi mà lâu nay hầu như bị bỏ quên. Đó là những bài hát quá hay từ nét nhạc đến lời ca mà sao ít người biết đến!!? Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh…cũng không ngoài mục đích kể trên.

NXC: Xin cảm ơn chị Mai Hương đã dành cho những người yêu nhạc một cuộc nói chuyện thật thích thú và mong sẽ tiếp tục được đón nghe những CD nhiều giá trị nghệ thuật của chị.

oOo

Trong tất cả các bộ môn nghệ thuật, tôi nghĩ văn chương và âm nhạc là hai thứ thân thuộc với tâm hồn chúng ta nhất. Trời bắt đầu trở thu chúng ta lại càng cảm thấy sự cần thiết phải gần gũi với những đoạn văn, thơ, nhạc để giữ lại phần nào cái Việt Nam tính trong cuộc sống tha hương của mình. Mấy ai trong chúng ta lại không thấy lòng se lại trong buổi đầu thu, nhìn các em bé cắp sách đến trường và lòng nhớ đến một đoạn văn thật trong sáng của Thanh Tịnh: “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nao những kỷ niệm đầu tiên của buổi tựu trường …” Một buổi chiều thu nhiều lá vàng rơi gợi lại cho ta những hình ảnh về thu, tuyệt vời như trong thơ Bích Khê “Ô hay, buồn vương cây ngô đồng. Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông... ” và lòng liên tưởng đến “Buồn Tàn Thu” của Văn Cao “Ai lướt đi ngoài sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng...” Mùa thu mênh mông lại trở về trên đất khách, càng nhớ nhà, chúng ta lại càng trân trọng chút di sản văn hóa của quê hương còn đọng lại trong trí nhớ. Ngậm ngùi và đáng tiếc xiết bao nếu một hoặc hai thế hệ nữa con cháu chúng ta không còn biết đến nguồn gốc hay văn hóa của mình, và những người nhạc sĩ, thi văn sĩ còn sống hay đã khuất cũng sẽ cùng một tâm trạng như văn hào Nguyễn Du “Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như” (tạm dịch: Không biết rồi ba trăm năm nữa, Thiên hạ ai người khóc Tố Như).

Điểm lại những CD mà Mai Hương đã thực hiện tại hải ngoại chúng ta thấy đây là những ca khúc thật chọn lọc, tiêu biểu cho một thời vàng son của nhạc Việt. Bước vào thế giới của những ca khúc đó chúng ta tưởngtượng mình đang đi vào một thời đại khác khi ngôn ngữ và âm nhạc thật xúc tích, lời và nhạc như quyện vào nhau. Đối tượng của những bài hát này cũng không ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ở đây không chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi mà còn là tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên. Qua CD mới nhất của chị có tên là Lỡ Chuyến Đò phát hành vào tháng 7-2001, hãy để tiếng hát nhẹ nhàng và trong sáng của Mai Hương đưa chúng ta trở về quá khứ thật êm đềm qua giòng nhạc của nhạc sĩ Anh Việt, tác giả của những bản nhạc trữ tình khác như Bến Cũ (1946), Thơ Ngây (1951)…Lỡ Chuyến Đò (1947) diễn tả nỗi phân vân của người trai thời loạn, bên nợ nước, bên tình riêng “…Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương Đây người sang với con đò xưa. Và chiều chiều thôn nữ thôn nữ vấn vương. Duyên tình xưa êm thắm còn đâu. Người nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Tơ đàn say đắm quên sầu thương. Dành tình này cho kẻ khổ đau. Quên tình xưa thôn nữ chờ mong …” Tiếp đến, ta hãy lắng nghe giọng ca của Mai Hương, nhẹ nhàng, trong vút và bay bổng trong ca khúc Hương Quê của Nhật Bằng và Huỳnh Hiếu “Chiều nay nắng êm đềm sau lũy tre. Trên trời xanh bầy chim bay trở về. Tiếng tiêu mục đồng hát trên đê. Sáo vi vu chìm lắng đê mê. Xa xa xa đoàn nông phu vác cuốc cùng đàn trâu đi trên đường về đâu...” Như chiếc đũa thần huyện diệu của nàng tiên Âm Nhạc, giọng hát trìu mến và đầy đam mê của chị đưa chúng ta tiếp tục trong chuyến đi ngược giòng thời gian trở lại quê hương trong một trời yên bình không tưởng “Lùa theo gió êm đềm bao tiếng tiêu. Chuông chùa ngân chìm lắng trong sương chiều. Khói lam bên đồi phất phơ baỵ. Bóng đêm chìm lặng giấc mơ say…” Lòng người tha hương như say sưa theo tiếng hát và giòng nhạc. Ngắm trăng thu xứ người, chúng ta không khỏi nhớ đến ánh trăng huyền diệu của thuở ấu thơ, được mô tả tài tình qua nhạc và lời của cố nhạc sĩ Văn Phụng trong Hình Ảnh Một Đêm Trăng: “Khi ấu thơ, ngồi trong bóng trăng nhìn theo áng mây đưa. Nghe má ba kể trong ánh trăng Cuội đang sống say sưa. Rồi thôn xóm bừng lên tiếng reo hòa theo khúc ca ngân. Tiếng ngây thơ bầy em múa ca, mời trăng thu xuống trần…” và lòng khách tha hương không khỏi xót xa vì “Thu đã đem nguồn vui tới đây, điểm tô ánh trăng mơ. Nhưng thấy đâu mùa trăng ấu thơ, mùa trăng lúc ngây thơ. Mầu trăng sáng cùng muôn khúc ca ngày xưa đã trôi qua. Ánh trăng xưa lòng tôi vẫn ghi, thời gian chưa xóa mờ”.

Trong một buổi chiều thu giá lạnh của Bắc Mỹ, lòng người tha hương như được sưởi ấm khi nghe lại giọng ca quen thuộc, thân thương của Mai Hương qua những bản nhạc tưởng chừng không bao giờ được nghe lại như Tạ Từ (khoảng 1946) của Tô Vũ. Lời và nhạc như vọng về từ một cõi xa xưa mơ hồ nào đó “Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh, gió dâng khúc đàn thanh bình. Ta đi tìm thơ muôn phương gót in núi rừng thâm u, và lướt trên muôn trùng sóng. Lời anh thầm ước khi nao, dưới trăng giữa mùa hoa đào. Trong ánh dư âm còn vang tiếng đồng. Lầu chiều còn luyến ánh hồng, lầu xây trong không, sóng gió rót chia ly. Phồn hoa em chia tay ra đi, đưa chân dừng bước bên cầu, giã từ mấy câu. …Tình anh như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo.” Bản nhạc đem cho tôi nhiều cảm xúc nhất là một bài cũng rất hợp với giọng của chị: nhẹ nhàng, không chải chuốt nhưng tràn đầy thiết tha. Tôi đã có những giây phút tuyệt vời khi nghe lại Khúc Nhạc Chiều Mơ của nhạc sĩ Ngọc Bích, người vừa từ giã chúng ta cách chúng ta vài tuần trước đây, “Chiều nay nhớ về phía xa mờ. Ngoài khơi sóng dạt dào ước mơ. Phút say sưa lời nguyền hoà với tiếng tơ. Chờ ngày mai gió reo lời thơ. Về đâu hỡi bầy lũ chim rừng. Ngừng đây nhắn dùm lời nhớ thương. Nhớ đêm nao ôm đàn lòng thổn thức vấn vương. Nhạc sầu mơ khúc ca hồi hương… Còn đâu những đêm dưới trăng mờ. Còn đâu những lời nguyền ước xưa. Nét môi ngây thơ dịu dàng làn tóc gió đưa. Lòng ta xao xuyến trong chiều mơ. ..” Những tình cảm được ghi lại bởi người nhạc sĩ tài hoa mấy chục năm trướcvẫn có một sức quyến rũ kỳ lạ với người nghe. Người nhạc sĩ tuy đã khuất, nhưng tinh hoa của những ca khúc của ông sẽ mãi mãi còn với thời gian. Sau bao nhiêu năm tôi mới được nghe lại những giòng nhạc thật thiết tha và hợp với tâm trạng xa quê hương của mình, quả thật đó là một hạnh phúc không nhỏ. Những bản nhạc bất hủ khác trong CD như Nhạc Sĩ Với Cây Đàn (Nguyễn Văn Khánh), Cô Hàng Hoa (Thẩm Oánh), Bến Nước Tình Quê (nhạc Mạnh Phát, lời Mộng Bảo), Lỡ Cung Đàn (Hoàng Giác) Ước Hẹn Chiều Thu (Dương Thiệu Tước), đều gây cho người nghe cảm giác lâng lâng khi tìm lại được một quãng đời đánh mất. ”

Dư âm tiếng hát đã lắng, giòng nhạc đã dứt, nhưng người nghe còn vương vấn mãi trong tâm tưởng một hình ảnh của quê hương Việt Nam những ngày chưa khói lửa chiến tranh. Xin cảm ơn tất cả những nhạc sĩ tài hoa, và những người làm nghệ thuật nói chung, đã đem đến cho đời những bông hoa đầy hương sắc. Và cảm ơn Mai Hương, vì qua giọng hát điêu luyện của mình, chị đã nhắc lại cho chúng ta những nét đẹp tuyệt vời của nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Mai Hương luôn đem đến cho người yêu nhạc những giây phút thật ấm lòng, và nếu ngày nào còn người Việt ly hương với nỗi sầu ưu quốc, ngày ấy tiếng hát của chị, như tiếng mẹ ru ta vào đời khi còn thơ dại, sẽ theo chúng ta trên các nẻo đời, sẽ mãi mãi bay cao “Như thông đầu non. Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm còn reo.”

Nghiêm Xuân Cường

Edited by user Thursday, December 10, 2020 6:22:17 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi  
#2844 Posted : Monday, December 21, 2020 2:00:44 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
.


Khi Mùa Đông Tới Lại Nhớ ..."Đêm Đông"


UserPostedImage

Đêm Đông,Ôi ta nhớ nhung đường về xa xa


Từ ngày 21.12, mùa đông trở lại với các nước bắc bán cầu và ở lại cho tới tháng ba năm 2021. Cũng là theo lẽ tuần hoàn của vũ trụ mà thôi, thu đi thì đông tới và rồi nhường chỗ cho mùa xuân.
Mùa đông...chiều chưa đi mà màn đêm rơi xuống như lời của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương khi một mình lang thang ở Hà nội.. Không còn những ngày dài như mùa hè, chín giờ tối mà trời còn sáng. Nhìn lên thấy đôi chim đang bâng khuâng cùng đám mây xám bay ngang lưng trời.
Đêm đông, mây bay gió cuốn và lòng người, khi nghĩ tới thân phận mình thấy càng thêm tê tái.

TRÊN NẺO ĐƯỜNG HÀ NỘI

Bài ca Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương đã hớp hồn những những người yêu thích nhạc Việt. Như là một sự tình cờ, mùa đông năm 1939, tác giả không về nhà mà ở lại Hà nội nơi đang du học.
Buổi chiều, trời rét căm căm, đi dạo khu phố Hà nội tác giả đem hết áo ra mặc vào vẫn còn rét. Đi từ Ga Hàng Cỏ qua phố Khâm Thiên rồi lang thang khắp nẻo đường cho đến khuya mới trở về căn gác trọ. Tâm trạng được diễn qua lời ca viết đêm hôm đó.

Nhiều thế hệ đã thuộc lòng Đêm Đông và nuôi những nỗi sầu của tác giả...như nỗi sầu của chính mình...Với xa trông cố hương buồn lòng chinh phu, bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư và ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng. Những cảnh giả tạo nhưng vẫn làm xúc động lòng người như thiệt.

VÀO KHO TÀNG NHẠC VIỆT

Ca khúc này được rất nhiều bậc tài danh hát lên. Trước năm 1975, ba bản thu thanh thành công nhất của ca khúc này là do Thanh Thúy, Lệ Thu và Bạch Yến ca diễn.
Đặc biệt, Ca sĩ Bạch Yến đã có sáng kiến đổi phong cách thể hiện bài hát này.
Lúc ban đầu, tác giả viết bài Đêm Đông theo điệu Tango và chính Ca sĩ Bạch Yến đã đổi từ Tango qua Slow Rock, theo Wiki trên mạng.

Trong một thư, Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương nhắc đến chuyện ông đã cảm ơn Ca sĩ Bạch Yến về « sự đóng góp đầy ý nghĩa trong cách thể hiện tác phẩm của tôi. »
« Và từ ngày nghe băng nhạc của Bạch Yến, tôi đã bỏchữ Tango để thay vào đó là Slow Rock, » ông viết, theo như ghi lại trên mạng Wiki.


BẠCH YẾN CHO BIẾT RÕ HƠN

Mới đây, người viết đã biên thư hỏi Chị Bạch Yến và dù đang bận rộn nhiều chuyện, chị đã cho biết thêm như sau :
Tôi hát bài Đêm Đông vào năm 1957. Bài hát rất được ưa thích có lẽ vì tôi đã đổi từ điệu Tango thành Slow Rock. Thời đó, nhịp điệu Slow Rock vừa mới tới Sài gòn và đang được nhiều khán thính giả yêu chuộng.
Riêng tôi, không phải tôi đổi vì nhịp điệu Slow Rock đang thịnh hành mà là vì tôi thấy bài Đêm Đông hát điệu Tango nghe ”kém buồn” hơn Slow Rock.
Ngoài việc đổi nhịp điệu tôi còn đổi Đêm Đông thành một bản nhạc để diễn hơn là chỉ đế nghe mà thôi.
Nếu ai để ý thì sẽ nghe tôi hát đoạn đầu theo nhịp điệu tự do

Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống
Đâu đây buông lững lờ tiếng chuông
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời
Cùng mây cám về ngang lưng trời......


Rồi từ đoạn này tôi mới dìu ban nhạc chậm rãi theo tôi vô điệu Slow Rock:

Thời- gian- như ngừng -trong tê tái ____ cây trút lá cuốn theo chiều may
Mưa giăng mắc nhớ nhung tiêu điều
Sương thướt tha bay ôi điu hiu

Đêm Đông
Xa trông cố hương buồn lòng chinh phu
Đêm Đông
Bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng
Đêm Đông
Thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Đêm Đông
Ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng
Gió nghiêng chiều say
Gió lay ngàn cây
Gió nâng thuyền mây
Gió gieo sầu miên
Gió đau niềm riêng
Gió than triền miên
Đêm Đông
Ôi ta nhớ nhung đường về xa xa
Đêm Đông
Ta mơ giấc mơ gia đình yêu thương
Đêm Đông
Ta lê bước chân phong trần tha phương
Có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà.


NGUYỄN VĂN THƯƠNG Ở HUẾ

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sinh năm 1919 tại Huế.
Năm 1936, học xong Quốc Học Huế, ông sáng tác bài Trên Sông Hương, một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Huế.
Năm 1939 du học Hà nội...và Tết năm đó, không có tiền tàu về Huế nên đã đi lang thang trên nẻo đường Hà nội.

Ta lê bước chân phong trần tha phương/ Có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà ?



Từ Nguyên Paris




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2845 Posted : Monday, December 21, 2020 2:06:18 PM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
,

Bạch Yến - Đêm Đông


.


Thái ThanhĐêm Đông (Tango)






.
UserPostedImage
CỏThơm  
#2846 Posted : Thursday, January 7, 2021 1:32:16 PM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 186
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Tình Gió Tình Mây Tình Thơ


Em về níu áo tháng năm
Níu trăng hạ nhớ trải rằm vào mây
Em về níu bờ vai gầy
Bỏ Thu trong áo men say hạ hồng

Em về trút hết mùa Đông
Nhấn sâu đáy biển bụi hồng lên hương
Hôn bùa làm phép chữ thương
Cho anh ở lại miên trường tuổi mơ

Em về buộc áo treo khờ
Gom hoa phượng tím thắt nơ chữ tình
Giăng thơ gài bẩy niệm kinh
Anh đi không đặng vướng tình gió mây

Ngồi đi anh ngồi xuống đây
Thơ trăng biển thơ rừng cây tỏ lời
Này sương này gió tuyệt vời
Bao la trời rộng khơi khơi sóng tràn

Em về nắn nót cung đàn
Tung tăng vần điệu miên man khúc rời
Kìa xuân yểu điệu đón mời
Hạ ơi mê khúc tuyệt vời... Hạ ơi...!



Mỹ Trinh




UserPostedImage
Hạ Vi  
#2847 Posted : Saturday, January 30, 2021 11:17:07 AM(UTC)
Hạ Vi

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Moderator, Registered
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,563
Location: CỏThơm

Thanks: 4254 times
Was thanked: 10699 time(s) in 2631 post(s)
.


UserPostedImage


Trào lưu Lãng Mạn trong Văn Học VIỆT NAM


Trào lưu văn học nghệ thuật lãng mạn được phát triển trước nhất ở Anh. Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) phát xuất đầu tiên ở Anh và Đức vào cuối thế kỷ thứ 18 và sau đó lan sang Pháp và những nước khác. Trong văn chương Anh, chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện qua thi ca của William Blake (1), William Wordsworth (2), Samuel Taylor Coleridge (3), Lord Byron (4), Percy Bysshe Shelley (5) và John Keats (6). Những vần thi ca mơ mộng của Blake không phải lúc nào cũng dễ hiểu vì nhà thơ sáng tạo ra những huyền thoại riêng để diễn tả tư tưởng của mình. Thơ ông biểu lộ sự tưởng tượng đầy nghệ thuật dạt dào sức sống. Byron là thi sĩ nhiều màu sắc nhất của trào lưu văn chương lãng mạn Anh. Thơ Byron có lúc dữ dội, có khi lại mềm mại nhưng luôn luôn nhấn mạnh đến chủ điểm là con người phải được tư do lựa chọn lối sống của mình. Shelley không chỉ là một thi sĩ lãng mạn mà còn là nhà thơ tình vĩ đại của văn học Anh. Keats, với nhiều lối thi ca khác nhau, hướng vào sự vui thích, sung sướng trước cái đẹp của nhân loại, buồn rầu với những đau khổ không thể tránh được xảy đến cho con người. Thơ ông là nhịp cầu giữa thế giới sụp đổ với thế giới vĩnh cửu. Coleridge cùng Wordsworth mở đầu trào lưu văn chương lãng mạn ở Anh và cũng là của thế giới bằng thi tập Lyrical Ballads xuất bản năm 1798. Thi phẩm này gồm đa số thơ của Wordsworth nhưng trong đó có bài thơ bất hủ The Rime of the Ancient Mariner của Coleridge là một thành tựu lớn nhất của nền văn chương Anh.

Chủ nghĩa lãng mạn đòi hỏi tự do cá nhân triệt để, nhờ thế từ lúc khởi hứng tới khi sáng tác người làm văn học nghệ thuật có những say sưa, thích thú, tâm hồn với lửa đam mê bay bổng nảy sinh ra từ và ý đột khởi độc đáo tạo nên những tác phẩm bất hủ để đời.

CHỦ NGHĨA VĂN HỌC LÃNG MẠN

Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc trong khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.

SỰ HÌNH THÀNH TRÀO LƯU LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Năm 1932 đánh dấu sự thay đổi đột biến của nền văn học Việt Nam, thi văn chưa bao giờ có một thời kỳ phong phú như giai đoạn 1932-1945. Chỉ trong thời gian hơn một thập niên văn học Việt Nam nhảy vọt từ tình trạng ấu trĩ sang phát triển bằng đôi hia bảy dậm, không thua sút những nền văn học Tây phương. Trước đó tuy có một số nhỏ sáng tác mang tính lãng mạn nhưng còn tản mác, rời rạc chưa tạo được một phong trào. Từ 1931 đã có sự xuất hiện vài bài thơ lãng mạn của Lan Sơn (7), Lưu Trọng Lư (8), Thế Lữ (9). Tác phẩm lãng mạn xuất bản trước 1932 có tập thơ Khối Tình Con của Tản Đà (10)ø, Linh Phượng Ký của Đông Hồ (11) và hai quyển gây được ảnh hưởng một thời gian là Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách (12) và Giọt Lệ Thu của Tương Phố (13), nhưng phải chờ tới khi Nhất Linh (14) du học ở Pháp về chủ trương tuần báo Phong Hóa, thành lập Tự Lực Văn Đoàn (15) hô hào thay cũ đổi mới, và dấy lên phong trào thơ mới thì trào lưu văn chương lãng mạn mới thực sự có mặt trong dòng văn học Việt Nam. Cùng lúc với Phong Hóa, phải kể đến Phụ Nữ Tân Văn là tờ báo đã góp công vào việc giúp cho phong trào thơ mới nở rộ bằng những bài thơ lãng mạn của các nhà thơ không cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

Sau ngày17/06/1930, Nguyễn Thái Học (16) và 12 yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (17) lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, Pháp đẩy mạnh việc đàn áp, khủng bố, bắt bớ, tù đày các nhà ái quốc nhằm dập tắt các cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước để củng cố nền đô hộ. Các phong trào tạm thời lắng xuống, các tổ chức ái quốc bị dao động mạnh buộc phải tạm ngưng các hoạt động rút vào bóng tối nhằm bảo toàn tổ chức và nhân sự. Cuộc khủng bố qui mô toàn quốc những năm 1930 đã gây một không khí hoang mang, lo sợ trong tầng lớp thanh niên và trí thức. Chỉ trong hai năm 1930 và 1931 riêng ở Bắc Kỳ, chính phủ bảo hộ Pháp đã mở 21 phiên tòa đặc biệt gọi là Hội Đồng Đề Hình xét xử tất cả 1094 vụ án chính trị, trong đó có 164 bản án tử hình, 114 khổ sai chung thân, 420 lưu đày biệt xứ. Đây là thời kỳ thoái trào của các hoạt động cách mạng chống Pháp dành độc lập cho đất nước.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 từ Pháp tràn về Đông Dương thuộc địa như một thiên tai khiến cuộc sống xã hội trở nên khó khăn. Hàng hoá rẻ mạt nhưng lại không kiếm ra tiền, các xí nghiệp kinh doanh thi nhau phá sản, sa thải nhân công. Ngân quĩ nhà nước bảo hộ thất thâu không đủ khả năng tuyển dụng thêm công chức, nạn trí thức thất nghiệp là mối lo âu chung của những người được Pháp đào tạo. Trộm cướp, thuốc phiện, bài bạc, đĩ điếm trở thành những vấn đề nan giải. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới càng tăng thêm bi quan cho bàu không khí u ám, buồn thảm vốn đang căng thẳng, ngột ngạt.

Trong khung cảnh đó những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng tiêu cực muốn thoát ly khỏi những vấn đề bức xúc của cuộc tranh đấu dành độc lập. Họ có thái độ chán nản, xa lánh chính trị. Thái độ này được củng cố trên cơ sở mối bất hòa tuyệt vọng giữa họ và hoàn cảnh xã hộiù đương thời. Sự ra đời của trào lưu văn chương lãng mạn giải quyết được bế tắc, đáp ứng được nhu cầu cho giới trí thức trong bối cảnh xã hội bi quan đó. Con đường làm văn học nghệ thuật bằng chủ nghĩa lãng mạn là lốt thoát trong sạch, nơi trú ẩn tinh thần tương đối an toàn có thể gửi gấm tâm sự, và cũng là phương cách bày tỏ lòng yêu nước (18).
Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự do cá nhân đã đáp ứng được khát vọng giải phóng bản ngã, khát vọng tự do yêu đương cho hạnh phúc cá nhân, cho quyền sống cá nhân. Điều này giải thích được quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật của những người trong trào lưu văn chương lãng mạn thuộc giai đoạn 1932-1945 của văn học Việt Nam.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

Tất nhiên để có một trào lưu văn học thì bao giờ cũng cần có một hay nhiều người khởi xướng với sự tham gia tích cực của văn giới, và được đón nhận đông đảo của độc giả. Từ 1932 đến 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc tranh luận văn học sôi nổi được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà thơ: tranh luận về thơ mới thơ cũ, tranh luận về bỏ cũ theo mới, tranh luận về hôn nhân và gia đình, tranh luận về nghệ thuật phục vụ cái gì. Các cuộc tranh luận này phản ảnh cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và tư tưởng gò bó với cảm xúc cá nhân được tự do bày tỏ. Hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay do Nhất Linh và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương là cơ quan ngôn luận cổ võ mạnh mẽ cho sự thay cũ đổi mới và là nơi qui tụ văn chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu văn học lãng mạn gồm có Nhất Linh, Khái Hưng (19), Thế Lữ, Huy Cận (20), Thạch Lam (21), Xuân Diệu (22), Thanh Tịnh (23), Vũ Đình Liên (24), Đoàn Phú Tứ (25).

Sự thành công của trào lưu văn chương lãng mạn cũng phải kể đến các tờ Hà Nội Báo, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tao Đàn, Thanh Nghị với sự tham gia của các tác giả như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên (26), Hàn Mặc Tử (27), Phạm Huy Thông (28), Bích Khê (29), Nguyễn Tuân (30), Vũ Hoàng Chương (31), Nguyễn Xuân Sanh, v.v. Sự toàn thắng của phong trào thơ mới cũng là tiếng trống khải hoàn cho trào lưu văn học lãng mạn, chấm dứt hoàn toàn lối thơ văn cũ từ thời Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong trở về trước.

ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN CHUƠNG LÃNG MẠN THỜI KỲ 1932-1945

Văn chương lãng mạn đánh dấu một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam đã thay đổi hệ thống tư tưởng thời phong kiến bằng cách thay thế cái ta trong văn chương lịch triều sang cái tôi của văn học hiện đại. Cái tôi không còn là cái đáng ghét nữa (32). Trước kia, cái tôi cá nhân không có địa vị trong văn học và xã hội. Cá nhân được sử dụng như một hình ảnh tượng trưng và bị hòa tan trong cái chung. Trong nền văn chương lịch triều tính cách phi ngã ngự trị hầu hết tác phẩm văn học Việt Nam. Ngay cả những nhà thơ lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến cũng chỉ nói đến cái tôi một cách sơ sài, mờ nhạt, ước lệ.
Chủ nghĩa lãng mạn thực sự đã thỏa mãn được nhu cầu tự do sáng tác và phát huy bản ngã của người làm văn học nghệ thuật. “Sự xuất hiện ý thức về cái tôi cá nhân là một bước tiến quan trọng trong hành trình tư tưởng và nghệ thuật của nhân loại. Bởi vì sáng tạo nghệ thuật mang tính đặc thù, đó là sự sáng tạo của một cá nhân... Cho nên sự giải phóng bản ngã, giải phóng cái tôi của chủ thể sáng tạo sẽ phát huy khả năng sáng tạo của nghệ sĩ, làm xuất hiện nhiều phong cách cá nhân” (33).

Nhờ thế, trong giai đoạn văn chương lãng mạn 1932-1945 với 13 năm ngắn ngủi, văn học Việt Nam đã sản xuất được nhiều phong cách cá nhân độc đáo (34). Về thi ca có Thế Lữ với hồn thơ rộng mở, Lưu Trọng Lư mơ màng, Huy Thông hùng tráng, Nguyễn Nhược Pháp trong sáng, Huy Cận ảo não, Nguyễn Bính quê mùa, Chế Lan Viên huyền bí, và một Xuân Diệu tha thiết, rạo rực, băn khoăn. Trong văn xuôi, cái tôi khinh bạc, giang hồ lãng tử thể hiện trong tập Tùy Bút của Nguyễn Tuân, cái tôi người hùng có mặt trong hầu hết các tiểu thuyết của Lê Văn Trương như Một Người, Tôi Là Mẹ, Chồng Chúng Ta. Đòi hỏi giải phóng cá nhân ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến được phản ảnh qua tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn của Nhất Linh, Làm Lẽ của Mạnh Phú Tứ.

KẾT LUẬN VỀ TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN THỜI KỲ 1932-1945

Chỉ trong thời gian 13 năm 1932-1945, văn học Việt Nam đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng của tổng hợp hơn 100 năm văn học Pháp từ trường phái lãng mạn hồi đầu thế kỷ thứ 19 như Hugo (35), Lamartine (36), Chateaubriand (37), Musset (38), Vigny (39), đến nhóm thi sơn (40) với Gautier (41), Leconte de Lisle, Sully Prud’homme, qua trường phái tượng trưng (symbolism) với Rimbaud (42), Verlaine (43), Mallarmé (44).

Victor Hugo là người dẫn đạo trào lưu văn học lãng mạn ở Pháp. Thơ cũng như văn của ông biểu lộ tình yêu tự do, công lý và lòng thương người. Cái chết của người yêu đã là nguồn cảm hứng bất tận cho Lamartine qua những vần thơ muôn thuở trong thi tập Poetic Meditations xuất bản năm 1820. Chính thi phẩm này đã đóng vai trò chính yếu cho sự phát triển trào lưu văn chương lãng mạn Pháp. Musset cho rằng người làm văn chương phải thực sự trải qua khổ đau thì mới sáng tạo được những áng thơ văn tuyệt tác, làm rung động lòng người. Đề tài chính trong thơ văn của Vigny là sự cô đơn của con người. Còn Gautier thì lại nhấn mạnh, qua thi phẩm Enamels and Cameos, thơ văn muốn hay thì phải cảm nhận qua sự nhìn thấy, không thể chỉ thuần túy có trong ý tưởng hoặc cảm giác.

Trong tác phẩm Art (Nghệ Thuật) xuất bản năm 1857 Gautier khai triển lý thuyết nghệ thuật là sáng tạo cái đẹp theo đúng tiêu chuẩn mà không lệ thuộc vào luân lý, trí thức, hay những giá trị tình cảm. Những bài thơ giàu tưởng tượng tạo nên tên tuổi của Rimbaud chính là những bài được sáng tác trong thời niên thiếu xáo trộn khi ông mất niềm tin vào cuộc sống. Mallarmé, người dẫn đạo trường phái tượng trưng, cho rằng nhà thơ không được quyền mô tả sự vật mà phải dẫn ý. Thi sĩ phải dụng tâm tạo những hình ảnh thơ thật mơ hồ, thực tế chói gắt phải trình bày trong bàu không khí huyền bí.


UserPostedImage



Chúng ta không thể nào phủ nhận được sự kiện văn chương Việt Nam giai đoạn 1932-1945 chịu ảnh hưởng nặng nề văn chương thế kỷ thứ 19 của Pháp, nhưng thơ văn Việt đã không có tính cách ngoại lai, vẫn mang bản sắc riêng chứa đựng hồn Việt. Tuy nhiên, vì tiếp thu quá nhanh trong khoảng thời gian quá ngắn nên trào lưu lãng mạn văn học Việt Nam thiếu bề sâu và dễ chuyển biến.

Trên bình diện tư tưởng, sáng tác trong thời gian đầu của trào lưu văn chương lãng mạn đã đáp ứng được khát vọng đương thời về nhu cầu giải phóng tư tưởng, giải phóng cá nhân. Tuy nhiên, vào cuối trào lưu một số tác gia đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan ca ngợi tình yêu xác thịt, đề cao khoái lạc, triết lý sức mạnh nông nổi, trụy lạc và trác táng, điển hình là tác phẩm Thanh Đức của Khái Hưng, Trường Đời, Tôi Thầu Khoán của Lê Văn Trương, Tàn Đèn Dầu Lạc của Nguyễn Tuân, Thơ Say, Mây của Vũ Hoàng Chương.

Với những thành tựu văn học to lớn của thời kỳ 1932-1945, Tự Lực Văn Đoàn và những người làm văn học nghệ thuật cùng thời đã tạo được trào lưu văn chương lãng mạn có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam. Việc thay đổi quan niệm phong kiến cũ, điển hình là mối quan hệ giữa cá nhân và đại gia đình, đã hẳn là một thành công về phương diện xã hội, nhưng đối với lịch sử văn học Việt Nam thì trào lưu văn chương lãng mạn đã có công đem lại sự thay đổi bộ mặt của các thể loại văn học, làm cho ngôn ngữ Việt gọn gàng, trong sáng và phong phú hơn.



TRẦN BÍCH SAN


Tài Liệu Tham Khảo:

- Jean Claude Tadié, Introduction à la Vie Littéraire du 19è Siècle, nxb Bordas, Paris, France 1984.
- Jennifer Bothamley, Dictionary of Theories, nxb Gale Research International, Ltd, United Kingdom, 1993.
- Hoài Thanh & Hoài Chân, Thi Nhân Viêt Nam, nxb Nguyễn Đức Phiên, Hànội, VN, 1943.
- Lê Văn Siêu, Văn Học Sử Thời Kháng Pháp 1858-1945, nxb Trí Đăng, Sàigòn, VN, 12/1974.
- Một số tác giả (Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức), Văn Học Việt Nam 1900-1945, nxb Giáo Dục, Hànội, VN, 05/1999.
- Nguyễn Q. Thắng, Từ Điển Tác Gia Việt Nam, nxb Văn Hóa, Hànội, VN, 09/1999.
- Phạm Thế Ngũ, Viêt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quyển 3, Văn Học Hiện Đại 1862-1945, nxb Anh Phương, Sàigòn, VN, 1965.
- Phan Cự Đệ, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX, nxb Giáo Dục, Hànội, VN, 11/2005.
- Phan Quang Định, Lịch Sử Văn Học Pháp, nxb Văn Hóa Thông Tin, Hànội, VN, 1997.
- Terry Eagleton, Literary Theory, Second Edition, nxb The University of Minnesota Press, Minneapolis, MN, USA, 1996.
- Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, nxb Tân Dân, Hànội, 1942, nxb Thăng Long tái bản, Sàigòn, VN, 1960.
- Xavier Darcos, Littérature Francaise, nxb Hachette, Paris, France, 1992.


CHÚ THÍCH

1. William Blake (1757-1827): sinh tại Luân Đôn, nhà thơ và họa sĩ sáng chói. Hai bài thơ nổi tiếng của Blake, The Lamb (Con Cừu) và The Tiger (Con Hổ), được ông gọi là “hai trạng thái đối nghịch của tâm hồn con người” (the two contrary states of the human soul). Tác phẩm: Songs of Innocence (1789), Songs of Experience (1794).
2. William Wordsworth (1770-1850): những bài thơ nổi tiếng: Tintern Abbey (trong thi tập Lyrical Ballads), Michael, Lucy, The Solitary Reaper, Resolution and Independence. Tác phẩm: Lyrical Ballads (1798, viết chung với Coleridge), The Prelude: Growth of a Poet’s Mind (viết giữa 1798 và 1805, in năm 1850), The Excursion (1814).
3. Samuel Taylor Coleridge (1772-1834): thi sĩ và nhà phê bình triết học của trào lưu văn chương lãng mạn Anh. Những bài phê bình văn học của ông hầu như ảnh hưởng đến tất cả các nhà phê bình sau này. Tác phẩm: Lyrical Ballads (1798, chung với William Wordsworth), Biographia Literaria (1817, phê bình văn học).
4. Lord Byron (1788-1824): tên thật George Gordon Byron, có cuộc sống đầy phiêu lưu mạo hiểm. Thơ Byron thú vị như cuộc đời giang hồ của tác giả, phản ảnh cuộc sống và niềm tin của ông. Tác phẩm: Hours of Idlenness (1807), Chide Harold’s Pilgrimage (1812), The Bride of Abydos (1813), The Corsair (1814), Manfred (1817), Cain (1821).
5. Percy Bysshe Shelly (1792-1822): thử nghiệm nhiều văn phong và đã ảnh hưởng lâu dài đến những nhà văn sau này, đặc biệt là với Robert Browning, Algernon Charles Swinburne, William Butler Yeats, George Bernard Shaw, và Thomas Hardy. Tác phẩm: Mont Blanc (1816), Ode to the West Wind (1819), Prometheus Unbound (trường thơ, 1818-1819), The Witch of Atlas (1920), Epipsychidion (1921) và Hellas (1921).
6. John Keats (1795-1821): với nhiều lối thi ca khác nhau, Keats sử dụng những hình ảnh chói sáng để diễn tả những cảm giác sâu đậm của ông. Tác phẩm: Poems (1817), Endymion (1818).
7. Lan Sơn (1912-1954): tên thật Nguyễn Đức Phong, sinh quán Hải Phòng, chánh quán phủ Anh Sơn, Nghệ An. Học trường Hải Phòng, Tourane và trường Bưởi Hà Nội. Công chức sở Công Chánh, Hải Phòng. Viết cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Tinh Hoa. Tác phẩm: Anh với Em (1934).
8. Lưu Trọng Lư (1911-1991): kiện tướng của phong trào thơ mới, quê làng Cao Lao Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, sau cư ngụ ở Huế và Hà Nội, thuộc gia đình Nho học. Học trường Quốc Học Huế sau bỏ dở học, cộng tác với các báo Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), Sông Hương (Huế), Phụ Nữ Thời Đàm, Tiến Hóa, Tân Thiếu Niên, Tao Đàn, Hà Nội Báo (Hà Nội). 1933 chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư ở Huế. Từ 1955 làm việc ở Bộ Văn Hóa Hà Nội, từng giữ chức Tổng Thư Ký Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu VN, Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn VN. Tác phẩm: Tiếng Thu (1939), Khói Lam Chiều (1941), Chiếc Cáng Xanh (1941), Tỏa Sáng Đôi Bờ (1959), Mùa Thu Lớn (1978), Nửa Đêm Sực Tỉnh (1989).
9. Thế Lữ (1907-1989): thành viên TLVĐ, cây bút cột trụ của Phong Hoá và Ngày Nay, tên thật Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại Thái Hà Ấp, Hà Nội, nguyên quán làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Học ở Hải Phòng, bỏ học năm thứ 3 trung học, lên Hà Nội dự thính trường Cao Đẳng Mỹ Thuật một năm. Từng giữ các chức vụ: Ủy Viên Thường Vụ Hội Văn Nghệ VN, Chủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu VN. Tác phẩm: Mấy Vần Thơ (1935), Vàng và Máu (1934), Ba Hồi Kinh Dị (1936), Bên Đường Thiên Lôi (1936), Đòn Hẹn (1939), Gói Thuốc Lá (1940), Gió Trăng Ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941), Mấy Vần Thơ, tập mới (1941), Dương Quí Phi (1942), Thoa (1942).
10. Tản Đà (1888-1939): tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, quê làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì ngoại thành Hà Nội), con Án Sát Nguyễn Danh Kế. Thi mãi không đỗ, hướng về làm báo, sáng tác văn chương. Chủ bút báo Hữu Thanh, chủ nhiệm An Nam Tạp Chí, viết cho Tiểu Thuyết Tuần San, Đông Pháp Thời Báo ở trong Nam. Tác phẩm: Khối Tình Con I & II (1916, 1918), Giấc Mộng Con I & II (1916, 1917), Thề Non Nước, Tản Đà Tùng Văn (1922), Trần Ai Tri Kỷ (1924), Tản Đà Xuân Sắc (1934),
11. Đông Hồ (1906-1969): tên thật Lâm Tấn Phác, quê làng Mĩ Đức, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), xuất thân là nhà giáo, sau bỏ dạy viết cho Nam Phong Tạp Chí, Phụ Nữ Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Việt Dân, Mai, Tri Tân, Bách Khoa, Tân Văn, Tin Văn, Văn Hóa Nguyệt San. 1950 lập nhà xuất bản Bốn Phương. 1953 chủ trương tạp chí Nhân Loại. Tác phẩm: Thơ Đông Hồ (1932), Lời Hoa (1934), Linh Phượng (1934), Cô Gái Xuân (1934), Bội Lan Hành (1969).
12. Song An (1896-1973): nhà văn lãng mạn tiên phong, tên thật Hoàng Ngọc Phách, quê làng Đức Phong, xã Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, viết văn và dạy học nhiều nơi. Nổi tiếng ngay sau tác phẩm Tố Tâm. 1945-1951 giám đốc học khu Bắc Ninh. 1947-1948 giám đốc giáo dục khu XII. 1951 giám đốc trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương. Từ 1952 làm tại Ban Tu Thư Bộ Giáo Dục. Tác phẩm: Tố Tâm (1925), Thời Thế với Văn Chương (1941), Đâu là Chân Lý (1941), Chuyện Trường Bưởi (1989).
13. Tương Phố (1898 – 1973: nhà thơ lãng mạn tiên phong, tên thật Đỗ Thị Đàm, quê làng Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, học trường Nữ Hộ Sinh sau bỏ học, thi vào học trường Sư Phạm Hà Nội. Vào làng văn từ 1927, nổi tiếng qua Giọt Lệ Thu đăng trên Nam Phong số 131 (07/1928). Tác phẩm: Giọt Lệ Thu (1929), Mưa Gió Sông Tương, Tình quê, Chia Phôi.
14. Nhất Linh (1905-1963): tên thật Nguyễn Tường Tam, gốc ở Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam, sinh ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 1926 học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội. Du học Pháp đỗ Cử Nhân Khoa Học (1930) và nghiên cứu thêm về báo chí, xuất bản. 1931 về nước dạy tư thục Thăng Long. 1932 chủ trương tuần báo Phong Hóa rồi thành lập TLVĐ. 1936 báo bị đình bản, ông ra tờ Ngày Nay. 1946 giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ liên hiệp, trưởng phái đoàn Hội Nghị Đà Lạt đàm phán với Pháp. 1958 chủ trương tập san Văn Hóa Ngày Nay.1963 uống thuốc độc tự vẫn để phản đối việc chính phủ Ngô Đình Diệm đem ông ra toà xét xử. Tác phẩm: Nho Phong (1926), Hai Chị Em (1927), Người Quay Tơ (1927), Đoạn Tuyệt (1936), Lạnh Lùng (1937), Hai Buổi Chiều Vàng (1937), Nắng Thu (1938), Đôi Bạn (1938), Bướm Trắng (1941), Xóm Cầu Mới (1960), Dòng Sông Thanh Thủy (1961), Mối Tình Chân (1961). Viết chung với Khái Hưng: Gánh Hàng Hoa (1934), Anh Phải Sống (1937).
15. Tự Lưc Văn Đoàn có 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, và Xuân Diệu (căn cứ trên dòng chữ Trong Tự Lực Văn Đoàn đề dưới tên tác giả của tác phẩm thì TLVĐ gồm 6 người, riêng Xuân Diệu thì được căn cứ trên bút tích của Nhất Linh).
16. Nguyễn Thái Học (1901-1930): đảng trưởng VNQDĐ, quê làng Phổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, học trường Cao Đẳng Sư Phạm và Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương. 1927 thành lập VNQDĐ. Khởi nghĩa ngày 20/02/1930, bị bắt cùng ngày tại làng Cổ Vịt, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương, bị Pháp xử tử hình cùng 12 đồng chí ngày 17/06/1930 ở Yên Bái.
17. 12 liệt sĩ VNQDĐ là Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Đào Văn Nhật, Nguyễn Văn Tiềm, Hà Văn Lao, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Văn A, Bùi Văn Cửu, Nguyễn Như Liên, Ngô Văn Du, và Đỗ Văn Tú.
18. Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng là những tác phẩm được dùng để gửi gấm tâm sự tác giả, có khuynh hướng yêu nước.
19. Khái Hưng (1896-1947): thành viên TLVĐ, cây bút nòng cốt của Phong Hóa, Ngày Nay, tên thật Trần Khánh Giư, quê làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Tác phẩm: Hồn Bướm Mơ Tiên (1933), Nửa Chừng Xuân (1934), Trống Mái (1936), Dọc Đường Gió Bụi (1936), Tiếng Suối Reo (1936), Tục Lụy (1937), Gia Đình (1938), Đợi Chờ (1939), Cái Ấm Đất (1940), Thoát Ly (1940), Hạnh (1940), Đẹp (1940), Những Ngày Vui (1941), Đồng Bệnh (1942), Đội Mũ Lệch (1942), Thanh Đức (1943), Cái Ve (1944). Viết chung với Nhất Linh: Anh Phải Sống (1934), Đời Mưa Gió (1934).
20. Huy Cận (1919- ?): tên thật Cù Huy Cận, quê làng An Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, học ở Huế, đậu Tú Tài Pháp, học trường Cao Đẳng Nông Lâm. Viết cho các báo Ngày Nay, Tràng An, Sông Hương. Tác phẩm: Lửa Thiêng (1940), Kinh Cầu Tự (1942).
21. Thạch Lam (1910-1942): thành viên TLVĐ, viết cho Phong Hoá, Ngày Nay, tên thật Nguyễn Tường Lân, em Nhất Linh, sinh tại Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đậu bằng Thành Chung năm 17 tuổi (1927). Tác phẩm: Gió Đầu Mùa (1937), Nắng Trong Vườn (1938), Ngày Mới (1939), Theo Giòng (1941), Hà Nội 36 Phố Phường (1942).
22. Xuân Diệu (1916-1985): thành viên TLVĐ, kiện tướng đưa phong trào thơ mới tới thành công, tên thật Ngô Xuân Diệu, sinh quán làng Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, công chức sở Thương Chánh. Đại Biểu Quốc Hội Khoá I (1946-1960), ủy viên trung ương Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật. Tác phẩm: Phấn Thông Vàng (1939), Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), Trường Ca (1945), Triều Lên (1958), Riêng Chung (1960), Hai Đợt Sóng (1967), Tôi Giàu Đôi Mắt (1970), Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi (1971), Hồn Tôi Đôi Cánh (1976), Thanh Ca (1982),
23. Thanh Tịnh (1911-1988): tên thật Trần Thanh Tịnh, quê làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc ngoại ô thành phố Huế), học trường Đông Ba, Pellerin Huế, đậu bằng Thành Chung, dạy các trường tư ở Huế. Cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tinh Hoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm. Sau 1954 chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội một thời gian. Tác phẩm: Hận Chiến Trường (1937), Quê Mẹ (1941), Chị và Em (1942), Ngậm Ngải Tìm Trầm (1943), Xuân và Sinh (1944), Những Giọt Mưa Biển (1956), Đi Giữa Một Mùa Sen (1973).
24. Vũ Đình Liên (1913-1996): nổi tiếng với bài thơ Ông Đồ, quê làng Châu Khê, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, học trường Hàng Vôi, trường Bưởi, Đại Học Luật Hà Nội, dạy trường Thăng Long, làm Tham Tá Thương Chánh ở Hà Nội. 1954 dạy Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Có thơ đăng trên các báo Phong Hóa, Thanh Nghị, Loa, Tinh Hoa, Phụ Nữ Thời Đàm.
25. Đoàn Phú Tứ (1910-1989): quê làng Tử Nê, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, đỗ bằng Tú Tài Pháp, cộng tác với các báo Đông Tây, Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Làm thơ và viết kịch. Trưởng nhóm thi phái Xuân Thu Nhã Tập.
26. Chế Lan Viên (1920-1989): tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh tại thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, học trường Quốc Học Qui Nhơn, đậu bằng Thành Chung, dạy học ở Thanh Hóa. Tác phẩm: Điêu Tàn (1937), Vàng Sao (1942), Gửi Các Anh (1954), Ánh Sáng và Phù Sa (1960), Vào Nghề (1962), Hoa Ngày Thường, Chim Báo Bão (1967), Hái Theo Mùa (1977), Hoa Trên Đá (1985).
27. Hàn Mặc Tử (1912-1940): mắc bệnh phong, sinh tại Lệ Mỹ (Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình, làm ở sở Đạc Điền, Qui Nhơn. 1935 xin nghỉ việc vào Sài Gòn giữ trang văn chương cho các báo Sài Gòn, Công Luận, Tân Thời, Trong Khuê Phòng. Tác phẩm: Gái Quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1957).
28. Phạm Huy Thông (1916-1988): quê làng Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương và Thạc Sĩ Sử Học ở Pháp. Làm thơ, viết kịch. Tác phẩm: Anh Nga (1934), Tần Ngọc (1937), Huyền Trân, Tiếng Địch Sông Ô (1945),
29. Bích Khê (1916-1946): tên thật Lê Quang Lương quê xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mở trường tư ở Phan Thiết. Có thơ đăng các báo Tiếng Dân, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Mới. Tác phẩm: Tinh Huyết (1939), Tinh Hoa, Mấy Dòng Thơ Cũ.
30. Nguyễn Tuân (1910-1097): quê xã Nhân Mục, huyện Từ Liêm, Hà Nội, nguyên quán Thanh Hóa, cộng tác với các báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn, Hà Nội Tân Văn, Trung Bắc Chủ Nhật, Thanh Nghị. Tác Phẩm: Ngọn Đèn Dầu Lạc (1939), Nhà Bác Nguyễn (1940), Vang Bóng Một Thời (1940), Một Chuyến Đi (1941), Tùy Bút (1941 & 1943), Tàn Đèn Dầu Lạc (1941), Chiếc Lư Đồng Mắt Cua (1941), Thiếu Quê Hương (1943), Quê Hương (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Chùa Đàn (1944), Nguyễn (1945), Thằng Càn (1953), Đường Vui (1949), Tình Chiến Dịch (1950), Tùy Bút Kháng Chiến (1955), Truyện Một Cái Thuyền Đất (1958), Sông Đà (1960), Chuyên Nghề (1976).
31. Vũ Hoàng Chương (1916-1976): quê ở Nam Định, học trường Albert Sarraut, bỏ dở trường Luật Hà Nội đi làm ở sở Hỏa Xa Bắc Kỳ. 1941 thôi việc đi dạy học tư. 1954 di cư vào Nam, sống ở Sài Gòn. Sau khi Miền Nam thất thủ năm 1975 bị bắt đi học tập cải tạo, chết trong trại tù của Việt Cộng. Tác phẩm: Thơ Say (1940), Mây (1943), Thơ Lửa (1947), Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Tâm Tình Người Đẹp (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Thi Tuyển (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Ánh Trăng Đạo (1966), Cành Mai Trắng Mộng (1968), Loạn Trung Bút (1970), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1971).
32. Ernest Fisher: chủ nghĩa lãng mạn thể hiện cái tôi (le moi) chống lại tất cả cái gì không phải là cái tôi (le non-moi).
33. Phan Cự Đệ, Trào Lưu Văn Học Lãng Mạn Chủ Nghĩa, (Văn học Việt Nam Thế Kỷ XX, trang 28.
34. Hoài Thanh và Hoài Chân, Một Thời Đại Trong Thi Ca (Thi Nhân Việt Nam, trang 29).
35. Victor Marie Hugo (1802-1885): tác phẩm: The Orientals (Đông Phương, thơ, 1929), Leaves of Autumn (Lá Thu, thơ, 1931), The Hunchback of Notre Dame (Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà, 1831, tiểu thuyết), The Contemplations (Trầm Tư, thơ, 1856), The Legend of the Centuries (Huyền Thoại Thế Kỷ, thơ, 1869) Les Misérables (Những Kẻ Khốn Cùng, 1862, tiểu thguyết).
36. Alphonse de Lamartine (1790-1869): tác phẩm: Poetic Meditations (1820), Jocelyn (1836), The Fall of an Angel (1838).
37. Francois-René de Chateaubriand (1768-1848): tác gia quan trọng trong trào lưu văn học lãng mạn Pháp. Tác phẩm: Atala (tiểu thuyết, 1801), The Spirit of Christianity (tiểu thuyết, 1802), Memoirs from Beyond the Grave (hồi ký, 1848).
38. Alfred de Musset (1810-1857): thi sĩ, nhà văn, kịch tác gia, người tình của nữ sĩ George Sand. Tác phẩm: Tales of Spain and Italy (thơ, 1829), Comédies et Proverbes (kịch, 1840).
39. Alfred de Vigny (1797-1863): kiện tướng của trào lưu văn học lãng mạn Pháp. Tác phẩm: Poèmes Antiques et Modernes (thơ, 1826), Cinq-Mars (tiểu thuyết, 1826), Chatterton (kịch, 1835), Military Service and Greatness (tập truyện, 1835), Les Destinées (thơ, 1864).
40. Phái Thi Sơn (Parnasse): Parnasse là tên một đỉnh núi ở Hy Lạp nơi ngự trị của thần Apollo, vị thần của cái đẹp, mang ý nghĩa không phải ai cũng đạt được cái đẹp, phải nỗ lực mới đạt được tới cái đẹp.
41. Théophile Gautier (1811-1872): thi sĩ, nhà văn, phê bình gia. Tác phẩm về thơ: Enames and Cameos (1852), Art (1857). Tiểu thuyết: Mademoiselle de Maupin (1835), The Novel of the Mummy (1858), Captain Fracasse (1863).
42. Arthur Rimbaud (1854-1891): bạn thân của Verlaine. Những bài thơ nổi tiếng của Rimbaud được sáng tác trong 5 năm xáo trộn tuổi trẻ từ 15 đến 20 tuổi. Le Bateau Ivre (Con Tàu Say, 1871), bài thơ đầu tiên khiến Rimbaud được chú ý tới, tượng trưng cho những khát vọng của con người về một thế giới mới. Nhìn chiếc tàu giả trong công viên, ông dùng sự tưởng tượng phong phú đưa con tàu căng buồm phiêu du qua những đại dương với cảnh sắc chói sáng. Tác phẩm: Les Illuminations (1886), Une Saison en Enfer (1873).
43. Paul Verlaine (1844-1896): bạn thân với Rimbaud. Những năm đầu thập niên 1870 Verlaine du lịch qua Anh, Hòa Lan, và Bỉ cùng với chàng thiếu niên Rimbaud, người bạn thơ của ông. Tình bạn của hai người chấm dứt năm 1874 khi Verlaine bắn Rimbaud bị thương trong một cuộc cãi nhau. Sau khi ở tù một thời gian ngắn, ông cho ra đời thi tập Sagesse (1881). Tác phẩm: Fêtes Galantes (1869), Art Poetique (1871-1873), Romances sans Paroles (1874).
44. Stéphane Mallarmé (1842-1898): thi sĩ, phê bình gia, nổi tiếng với tập thơ đầy mơ mộng L’Après Midi d’un Faune (1865). Bài thơ cuối cùng của ông: Un coup de dés jamais n’abolira le hasard (1897).




UserPostedImage
CỏThơm  
#2848 Posted : Thursday, February 18, 2021 7:38:08 AM(UTC)
CỏThơm

Rank: Advanced Member

Reputation:

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 186
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 139 times
Was thanked: 98 time(s) in 72 post(s)


UserPostedImage


Ý xuân rời


Nghe rộn rã mùa Xuân em bỡ ngỡ
Khi anh hôn lên cánh bướm run run
Hồn phiêu lãng trở về từ xa cũ
Lại mịn màng trên êm ái mượt nhung

Em gói ghém trong đôi tay nắm chặt
Những tháng ngày nghiệt ngã vắng mùa Xuân
Đôi mắt sầu giữa hàng mi khép nép
Dấu âm thầm trong nhỏ bé giọt sương

Bờ vai nhỏ giờ chiêm bao mọc cánh
Em bay vào xứ mộng của trao dâng
Mái tóc xoã từ vùng đêm giá lạnh
Ngả u hoài trên góc cánh tay ôm

Anh ghé sát đôi môi bằng đất ẩm
Hôn nhị hoa nghe phấn ngọt ngào Xuân
Em đốt lửa từng ngón tay sưởi ấm
Nghe cơn say ngây ngất đẫm men nồng

Khẽ rùng mình cành khô thèm nẩy lộc
Bông cúc vàng còn đại đoá ái ân
Ôi mùa Xuân thuở Chiêm thành mất nước
Trần Khắc Chung gặp lại Trần Huyền Trân

Anh nâng chén môi hoa đào ướt mọng
Uống cho vơi từng mựïc rượu lưu vong
Đêm trừ tịch ngọn đèn khuya giao động
Khi âm ba thôi huyền hoặc gối chăn.


Hoàng Anh Tuấn




UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (46)
143 Pages«<141142143
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.