Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

142 Pages«<138139140141142>
BẢO TỒN & LƯU TRUYỀN VĂN HÓA
Duy An
#2908 Posted : Sunday, January 31, 2016 5:07:10 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Ngày Xuân nói chuyện về trà: Hương trà ngày Tết



Monday, January 25, 2016 3:51:21 PM
Phạm Phong Dinh


Cứ mỗi năm vào Tháng Chạp, những cơn gió bấc từ mãi tận vùng sa mạc Gobi, Mông Cổ sau cuộc hành trình thiên lý vượt qua lục địa Trung Hoa, nó đã vào đến miền Bắc mang theo hơi giá lạnh trải khắp mọi miền. Một ít hơi nước còn sót lại của mùa Thu đã trở thành những cơn mưa phùn hạt nhỏ như bụi rơi xuống thành một tấm màn sương li ti và mỏng manh như những sợi tơ trời.

Rồi cơn gió tiếp tục tràn xuống phương Nam để gặp phải bầu không khí ấm áp của miền Ðồng Nai và Cửu Long, cái buốt giá ấy chuyển sang cái se lạnh dịu dàng. Trên đường phố, những con chim én biệt tăm dạng từ mùa xuân trước bỗng đâu trở về bay lượn dìu dập giữa bầu trời xanh thẳm chói chang ánh nắng. Thỉnh thoảng chúng sà xuống thật thấp và bay dọc theo những con đường trong thành phố. Bọn trẻ con hân hoan chạy theo những cánh chim ấy, để biết rằng mùa Xuân sắp đến, lại thêm một năm mới, thêm một tuổi và được lì xì.

Cơn gió bấc mùa Ðông và cánh én báo hiệu thời điểm những phiên chợ Tết được tưng bừng mở ra. Từ thành thị đến thôn quê, từ trên vùng cao xuống vùng duyên hải, ở đâu cũng có chợ Tết. Những loại thực phẩm bánh mứt truyền thống của dân tộc hàng trăm, hàng ngàn thứ trong những màu sắc hào nhoáng, nằm quyến rũ mời gọi trên những cái sạp được bày san sát hai bên lề những con đường lớn, hay trong những khu chợ lộng lẫy. Suốt tháng Chạp, chợ Tết tưng bừng, náo nhiệt không ngừng nghỉ, cả đêm lẫn ngày. Bên cạnh những hộp bánh mứt bọc giấy kiếng bóng loáng, những phong pháo đỏ chói treo lủng lẳng, những hộp trà bằng thiếc, bằng gỗ, bằng giấy cứng hay những gói giấy bạc in hình sặc sỡ, là một món quà tặng trang nhã và giá trị trong những ngày giáp Tết. Dù đi lễ thăm cha mẹ, thầy cô, bạn hữu hay thậm chí cho những ông bà sếp lớn, trà là món quà truyền thống không bao giờ có thể thiếu được.

Những ngày Tết đi thăm viếng nhau, thì trà là thức uống thanh lịch để đãi khách, bên cạnh dĩa hạt dưa và bánh mứt. Trà luôn luôn tượng trưng cho cái Lễ của con người đối với nhau. Cũng không loại trừ sự có mặt của rượu, nhưng không phải bất cứ nhà nào cũng chấp nhận rượu là món uống ngày Tết của mình. Cho nên trong ba ngày Tết hương trà bay ngào ngạt từ Bắc xuống Nam, từ miền thượng du xuống đồng bằng. Trà làm cho câu chuyện hàn huyên thêm đậm đà, cuộc đối đáp giữa những tài tử văn nhân càng thêm thi vị, cái hóa chất làm sảng khoái con người ấy khiến cho người ta được dào dạt một nỗi hưng phấn và yêu đời trong lòng.

Khi những chung trà đã cạn, những điếu thuốc lá thơm đã tàn, những dĩa bánh mứt đã vơi, thì người ta gọi lũ con nít ra để phát cho chúng những bao lì xì đỏ chói làm bọn nhóc vui cười, toe toét khoe nhau những nắm tiền mới tinh. Trà không phải chỉ hiện diện trong những ngày Tết mà nó gắn liền với cuộc sống bình nhật của con người, nhưng đến ngày Tết thì nó lại càng được con người trân trọng hơn. Trà có một giá trị tuyệt đối mà những thứ thức uống khác khó thể sánh nổi. Nó là thứ thức uống hiền lành, không độc hại như rượu, cà phê, ca cao, ít gây ghiền và có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe. Ðiều đó đúng, người ta phân chất hóa học và thấy rằng trà chứa nhiều sinh tố A, B, C, là những sinh tố tăng cường sinh lực cho con người, tươi da sáng mắt.

Trà mọc hoang từ lúc nào chúng ta không rõ, nhưng nó đã được khám phá một cách rất tình cờ, có lẽ là do ý muốn của tạo hóa muốn tặng cho loài người một món quà quí. Huyền thoại về vua Thần Nông của Trung Hoa kể rằng, năm 2737 trước Thiên Chúa (2737 B.C.), một hôm ngài cùng một người hầu đi khắp núi rừng để tìm dược thảo, đến một gốc cây ngài ngồi xuống nghỉ. Người hầu nhóm lửa nấu nước uống. Bỗng một vài chiếc lá vàng từ trên cây lả tả rơi vào trong lòng nước đang sôi và tỏa ra một màu vàng đẹp như hoàng ngọc. Thần Nông nhắp một chút thứ nước màu vàng đó. Một hương vị ngọt ngào, thơm ngát trôi xuống và dư hương của nó vẫn còn đọng rất lâu ở cuống họng. Thần Nông tìm cách gây trồng loại cây cho lá kỳ diệu đó và khuyến khích dân chúng cùng uống thứ nước thơm hương này. Như vậy Thần Nông là người đầu tiên khám phá ra lá trà và truyền bá nó đi khắp đất nước.

Trà được người Trung Hoa chấp nhận rộng rãi từ sau triều đại nhà Hán bị diệt vong, khoảng cuối thế kỷ thứ 3 sau Thiên Chúa. Ðến đời nhà Ðường, năm 780 A.D. (780 năm sau Thiên Chúa) một nhà nghiên cứu tên Lư Vũ đã biên soạn một quyển sách nói về trà với nhan đề Trà Kinh (Tea Classic). Ðây là tác phẩm đầu tiên và cổ xưa nhất viết về trà, nó có giá trị kinh điển, là mẫu mực cho người đời sau tham khảo. Trong đó Lư Vũ đã công phu kể rõ cách trồng, hái và chế biến trà. Ông trân trọng đưa trà lên một vị trí thuộc về tinh thần và triết lý. Uống trà để giải khát và tiêu thực không thôi chưa đủ, mà nó còn là một phương tiện để người ta nghiền ngẫm và sáng tạo, ít nhất cũng là trong lĩnh vực văn chương.

Hai trăm năm sau, triều Tống (960-1127 A.D.), đến đời Tống Huệ Tôn là ông vua mê trà, ông ban chiếu khuyến khích bá tánh ra công tìm kiếm nhiều thứ trà lạ và quí hơn. Trong thời gian này, loại trà bột tán nhuyễn rất được triều đình và dân chúng ưa chuộng. Nghệ thuật uống trà được nâng lên một mức nữa trong thời nhà Minh (1386-1644), người ta bắt đầu sáng tạo nên những bình trà và chung trà làm bằng đất nung rất mỹ thuật. Từ đó, khắp thế giới, người uống trà chỉ uống nó trong những cái bình làm đất nung, sành sứ hay kim loại, nhưng dù là loại bình nào chúng cũng đều có hình dáng giống nhau : thân bình tròn, trên nắp bình có núm, giữa bình có vòi để rót trà, và có cái quay để cầm.

Tuy rằng đến năm 780 A.D. Lư Vũ mới viết về trà, nhưng trà đã được đóng thành thỏi giống như những viên gạch để bán sang các bộ tộc Mộng Cổ hồi thế kỷ thứ 5 A.D. Từ đời nhà Tống, một vài nhà sư đã đem trà sang Nhật Bản, ở đó trà được nâng lên thành đạo. Uống trà ở Nhật là một nghi thức trang trọng, có tính tôn giáo, bình trà và chung trà rất nhỏ so với phần còn lại của thế giới, nhiều loại chung chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay cái của chúng ta thôi, nên khi được một cô gái Nhật xinh như tiên mời đến nhà “uống chè,” có lẽ chúng ta nên nốc ở nhà chừng một ly... cối nước trà đá để dằn bụng là vừa.

Cũng trong thời Minh, người Venice đã đến mua trà đem về phân phối khắp Châu Âu. Năm 1557, người Bồ Ðào Nha được triều Minh cho phép mở thương điếm ở Macao. Nhưng chính Hòa Lan mới là nước phân phối trà lớn nhất của Châu Âu thời đó. Với một đoàn thương thuyền đến 10 ngàn chiếc, trong thế kỷ 17 gần như Hòa Lan độc quyền phân phối trà trên toàn lục địa châu Âu qua trung gian của công ty Dutch East India Company. Trà được đón nhận rất nồng nhiệt, chỉ một vài nước không khoái lắm. Người Ðức chỉ quen nốc bia và không thích trà. Người Pháp chỉ ghiền uống rượu và cà phê. Nhưng người Anh, với bản tính quí phái đã nhận thấy ở trà một món uống trưởng giả, trà dần dần trở thành món uống chính của người Anh cho đến ngày nay.

Cạnh tranh với Hòa Lan, Anh cũng lập ra công ty British East India để tung thương thuyền sang Á Châu mua sản phẩm, trong đó có trà của Trung Hoa, Ấn Ðộ, Tích Lan và những nước thuộc Anh. Cuộc cách mạng Hoa Kỳ 1776 cũng có liên quan rất nhiều đến trà, khi quốc hội Anh ra đạo luật buộc người Mỹ phải trả thêm thuế thủy tinh, giấy và trà. Người Mỹ phản đối, tẩy chay trà Anh và mua trà lậu, các tàu Anh chở trà vào cảng Boston bị người Mỹ chận lại và ném hàng trăm kiện trà xuống biển. Trong lúc đó ở Anh còn tồn đọng tới 22 triệu cân trà (khoảng 10 ngàn tấn), công ty British East India trên miệng vực của phá sản, nền tài chánh Anh suy sụp, Anh buộc phải đem quân đàn áp người Mỹ. Cuộc chiến tranh nổ ra và người Mỹ nhân đó giành được độc lập.

Trung Hoa mãi đến thế kỷ thứ 18 mới chịu thiết lập ở Quảng Ðông một thương điếm để giao dịch với thế giới bên ngoài và cho phép Anh lập cơ sở buôn bán ở Hồng Kông, người Anh đã trao trả phần đất này cho Trung Quốc năm 1997. Triều Thanh đã lập Hải Quan Phủ để đánh thuế tàu bè ngoại quốc vào cảng Quảng Ðông. Người Anh mua á phiện giá rẻ mạt ở thuộc địa Ấn chở sang bán lấy vàng bạc hay đổi hàng hóa, đặc biệt là trà. Ðể chạy đua với Anh, Hoa Kỳ cũng mua á phiện của Thổ Nhĩ Kỳ và trao đổi trà với Trung Hoa. Á phiện tràn ngập Trung Hoa mà đã góp một phần làm cho tiềm lực kinh tế và sức mạnh của dân tộc Trung Hoa bị suy nhược, dẫn đến tình trạng nhục nhã ký nhiều hiệp ước nhượng tô giới cho các nước ngoại quốc.

Cũng vì trà rất được ưa chuộng và rất có giá tại Châu Âu, nên bọn con buôn đã chơi trò “trà giả” bằng cách trộn lá trà uống rồi phơi lại, mạt cưa và thậm chí, mẹ ơi thuốc súng vào cho nặng ký. Ðấng nào uống lầm phải loại trà thuốc súng này chắc khè ra... lửa chứ chẳng chơi. Nói chuyện trà dỏm, chúng ta nhớ lại chuyện cà phê dỏm. Những năm đầu sau ngày 30 tháng 4, 1975, giao thông thủy và bộ đều bị tắc nghẽn vì những trạm thuế vụ mọc lên như nấm, trà và cà phê từ cao nguyên miền Trung rất khó lọt về Sài Gòn và các tỉnh miền Tây. Người ta đã lấy bắp rang cháy đen trộn chung với cà phê, một phần cà phê đến... chín phần bắp rang, uống khét lẹt, gắt cổ họng và táo bón bỏ mẹ. Nhưng có còn hơn không, chứ chẳng lẽ uống nước... lã sao.

Những thế kỷ trước trà đắt đến nỗi nó chỉ là món uống của giới thượng lưu. Người ta đựng trà trong những cái hộp có khóa, chỉ mở khi có khách quí đến. Chỗ uống trà là chỗ của giới thượng lưu, nên có một thời người ta đã lập ra những vườn trà có treo đèn lồng, bắn pháo bông trong những dịp lễ lạt, hòa nhạc và dạ vũ thâu đêm suốt sáng. Vườn trà không nhất thiết phải có cây trà trong đó, người ta trồng nhiều loại hoa đẹp trong những cái bồn dọc theo những con đường mòn nhỏ quanh co, cùng nhiều công trình trang trí khác. Nhà văn Pháp, Alexandre Dumas Fils (tức Alexandre Dumas Con, để phân biệt với Alexandre Dumas Cha) đã viết truyện Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias) về một kỹ nữ hạng sang tên Marguerite Gautier, rất yêu loại hoa camelias, cũng là một loại cây cho hoa rất đẹp trong họ Trà, có lẽ là đã được trồng trong những vườn trà thượng lưu này (tên khoa học của cây trà là camellia sinensis nở hoa màu trắng hay tím chen trắng, rất thơm và rất đẹp, đường kính khoảng một inch). Chuyện tình đẹp nhưng bi thảm của Trà Hoa Nữ đã được đưa lên sân khấu và phim ảnh khắp các nước trên thế giới.

Ðó là câu chuyện thật về một kỹ nữ mà nhà văn yêu tha thiết nhưng không đủ sức cung phụng cho nàng. Nàng đã chết đi khi tuổi đời mới có 23. Trong truyện thì nàng Marguerite yêu một chàng sinh viên y khoa tên Duval, nhưng cha của chàng không chấp nhận dâu làm gái điếm và van xin nàng buông tha cho chàng để Duval an tâm học hành, nên nàng phải nát lòng tìm cách gian dối người tình để chàng bỏ đi. Marguerite chết vì bệnh lao sau những ngày tháng trác táng, nhưng trên hết là vì khối tình tương tư mà nàng dành cho người yêu. Hiểu rõ tình yêu của nàng, Duval hối hả trở lại Paris, thì chỉ vừa kịp ôm nàng vào lòng và đau đớn nhìn Marguerite ra đi.

Câu chuyện trà này có thể đã gợi niềm hứng thú cho nhà văn viết truyện chưởng Kim Dung đem vào tác phẩm Lục Mạch Thần Kiếm, khi ông cho nhân vật Ðoàn Dự lạc vào Mạn Ðà Sơn Trang, ở giữa rừng hoa trà đầy màu sắc thơm ngát. Trong sơn trang này Ðoàn Dự đã mê mẩn chiêm ngưỡng bức tượng ngọc thạch tạc hình Vương phu nhân (là bà... bồ của Ðoàn Chính Thuần, cha của Ðoàn Dự). Sắc đẹp của Vương phu nhân quá kiều diễm, đến nghiêng thành đổ nước, thế gian chỉ có một, nên khi hội ngộ Vương Ngọc Yến là con của bà này, chàng đã chết mê chết mệt, cứ lẽo đẽo ôm cây... si đi theo nàng, ở đâu có nàng là ở đó có chàng. Mối tình si đó cuối cùng rồi cũng được giai nhân đáp nhận. Hơn thế nữa, Ðoàn Dự còn cưới thêm được Hương Dược Xa Mộc Uyển Thanh, người đẹp có mùi thơm thân thể tuyệt vời không thua Hàm Hương trong Hoàn Châu Cách Cách, và Chung Linh, cô gái ngây thơ trong trắng nhất cõi đời.

Cây trà là một loài thực vật có sức sống rất dai dẳng. Nhưng có lẽ vì là loại cây quí, nên tự nó giống như những cô tiểu thư đài các, chỉ thích sống biệt lập trên cao và rất kén chọn nơi sống. Trà thích hợp nhất ở độ cao từ 1000 đến 2000 mét so với mặt nước biển, khí hậu phải ôn hòa, mưa càng nhiều càng tốt, đất trồng nó phải là loại đất pha cát dễ rút nước, nước ứ đọng sẽ làm thúi rễ trà, và những cô tiểu thư cành vàng lá ngọc ấy sẽ chết. Vùng cao nguyên miền Trung Việt Nam hội đủ những điều kiện này nên cây trà rất phát triển và cho phẩm chất tuyệt vời. Hãng trà Lipton của Anh đã mua trà Việt Nam đem về chế biến và tung ra thị trường dưới nhiều dạng, trong đó có loại trà bịch nhỏ Lipton mà chúng ta thường bỏ vào ly và chế nước sôi vào cho chất trà tan ra từ bên trong.

Hầu hết các tỉnh cao nguyên miền Trung đều trồng cà phê và trà: Darlac, Pleiku, Kontum, đặc biệt trà Bảo Lộc-Lâm Ðồng nổi tiếng. Trà nguyên chất Pleiku chế biến từ sở trà Abratica của người Pháp, khi rót trà ra chung, mùi thơm xông lên ngào ngạt, nước trà màu vàng nhạt, trong như mắt mèo, nhắp tới đâu gai vị giác của lưỡi thấy ngọt tới đó. Trà là thức uống không hay rất ít gây ghiền, nhưng quả thật được uống trà ngay tại gốc của nó chắc chắn chúng ta sẽ... ghiền, sẽ nhớ, như nhớ những cô gái cao nguyên có màu da trắng sáng, đôi má hồng tươi và đôi môi có nụ cười vừa dịu dàng vừa quyến rũ.

Cứ mỗi hecta đất đồi người ta trồng chừng 300-350 cây trà. Trà là loại cây bụi, mức tăng trưởng nhất của nó không quá 1 thước, nên rất lý tưởng cho các cô gái mang giỏ hái trà. Chưa từng có loại cây nào xum xuê xanh rờn và bóng mướt đẹp như cây trà. Cũng chưa từng có bức tranh nào ngây ngất cho bằng quang cảnh hàng trăm cô gái hái trà xinh đẹp ẩn hiện giữa những hàng trà, trên sườn đồi nghiêng nghiêng và dưới những cụm mây trắng như bông lững lờ trên trời cao. Các thiếu nữ Tích Lan (Sri Lanca) không mang giỏ hái trà bằng vai mà là bằng đầu, sợi dây giỏ sẽ được choàng lên đỉnh đầu. Các cô gái Nhật thì bê giỏ đựng trà dọc dài theo luống trà, đi tới đâu, hài lá trà bỏ vào giỏ và kéo giỏ theo. Những cô gái Thượng Việt Nam hái trà thì gùi giỏ trên vai, hai sợi dây choàng lên hai vai.

Trà rất kén chọn phân và kén chọn người hái. Phân bón phải là phân hữu cơ, nhưng tốt nhất là phân của những con tằm ăn lá dâu. Người hái trà phần nhiều là các cô gái và trẻ em, nhưng trước khi lên đồi trà, hai tuần trước đó người hái trà không được ăn... cá dưới bất kỳ hình thức nào, vì hơi thở của họ sẽ làm bay mất mùi thơm của trà. Trà có thể sống tới nhiều chục năm và luôn luôn cho sản phẩm. Hột trà thường được lấy trong tháng 10 và cho vào những khay cát ẩm, khi đến thời điểm sẽ đem xuống đất. Cây trà non sẽ được cho mọc tự do thả giàn đến được hai năm tuổi, lúc đó người ta bắt đầu công việc gọi là tỉa cây. Những cành nhánh rườm rà được xén bớt, và cũng để kích thích sự tăng trưởng của trà. Một năm sau, cây trà sẵn sàng cống hiến cho đời mùi thơm của mình.

Thường thường là sau những cơn mưa, chồi non xum xuê, từng đoàn cô gái hái trà mang giỏ lên đồi để hái trà, hay còn gọi là ngắt đọt trà. Người hái trà chỉ ngắt những đọt trà non còn mum múp và hai cái lá phía dưới đọt, không bao giờ ngắt đến cái lá thứ ba, vì lá đó già, không cho phẩm chất và làm giảm hương vị đọt trà. Ðọt trà bị ngắt sẽ ra đọt mới. Một năm người ta có thể hái lá trà đến bốn lần, cũng có thể nhiều hoặc ít hơn tùy theo lượng mưa, kỹ thuật bón và chăm sóc. Những cô gái hái trà giỏi, mỗi lần lên đồi trà có thể hái vài chục ký trà lá tươi. Cứ mỗi bốn ký lá tươi cho một ký trà khô.

Khi chúng ta vào một tiệm bán trà, hàng chục hay hàng trăm thứ trà trong đủ mọi nhãn hiệu và hộp đựng màu sắc sặc sỡ, cái nào cái ấy mùi thơm ngào ngạt quyến rũ mời gọi. Tuy vậy tựu trung chỉ có ba loại trà chánh mà người Trung Hoa đã phân loại như sau:

- Trà xanh: Những phân hóa tố trong lá trà có thể gây nên hiện tượng lên men (fermentation), nên khi vừa được hái xong, người ta sấy trà ngay tại chỗ chừng năm phút để loại trừ hiện tượng lên men. Trà sấy được trải lên những mặt bàn đã nóng sẵn, rồi dùng tay hay dùng máy đảo đều cho lá trà cuốn lại, đảo hoài đảo mãi cho đến khi lá trà không còn chút nước nào bên trong, rồi lại được đem lên sấy lửa lần nữa cho đến khi trà khô giòn. Làm theo phương pháp này nên trà vẫn còn giữ được màu xanh thẫm trông rất đẹp và rất hấp dẫn, chưa uống đã thấy ngây ngất.

Một vài cái tên thông dụng của loại trà xanh này thường bán ngoài thị trường: Trà Long Tĩnh (người ta tin rằng lấy nước giếng trong chế trà, hương vị ngon hơn, nên gọi là Trà Giếng Rồng là vậy), trà Tây Hồ ở Hàng Châu, Quảng Ðông, trà Mạo Phong ở núi Hàng Sơn, trà Bạch Kim ở núi Thiên Sơn, trà Phong Vũ ở núi Lư Sơn. Trà xanh là loại trà được ưa chuộng nhất trong mọi giới.

- Trà đen: Trái với trà xanh, người ta cứ để cho lá trà vừa hái xuống có một thời gian để dậy men bằng cách trải chúng lên những cái sàng mỏng để cho chúng tự héo trong vòng không quá 20 giờ đồng hồ, đến lúc đó lá trà sẽ chuyển sang màu sẫm. Trà đen nổi tiếng có loại trà Kỷ Hồng ở tỉnh An Huy, trà Ðiểm Hồng ở Giang Nam và Ðỉnh Hồng ở Quảng Ðông.

- Trà Ô Long: Tiến trình chế biến trà Ô Long gần giống như trà đen, nhưng thời gian ủ héo trà ngắn hơn. Sau giai đoạn héo, là giai đoạn đảo hay cuốn lá trà (rolling), từ đó là tăng thêm cường độ dậy men trong lá. Người ta phải đảo trà liên tục, hoặc dùng máy cuốn tới cuốn lui không ngừng, từ đó phát sinh phản ứng oxy hóa làm lá trà chuyển sang màu đồng nâu. Ðồng thời với việc đảo lá, người ta sàng lá trà ra nhiều cỡ khác nhau, nên chúng ta thấy là trong một hộp trà rất ít bụi trà hay mảnh trà, nếu có thì là vì do va chạm trong tiến trình đóng hộp hay chúng ta bốc nhiều lần làm vỡ trà. Khi giai đoạn đảo trà hoàn thành, đến giai đoạn sấy trà cho khô giòn, xong xuôi trải chúng lên mặt bằng nào đó cho nguội. Giai đoạn cuối cùng là đóng hộp hay gói trong những bao giấy bọc nhôm và chở đi phân phối hay vào kiện xuất cảng.

Trà Ô Long rất thông dụng trong những nhà hàng Á Ðông. Nước trà màu nâu đỏ, dù chế bao nhiêu lần nước xối vào nó vẫn cứ... đỏ, nên gọi là trà Rồng Ðen, mùi vị trà đậm đà, hơi chát rồi chuyển sang hơi ngọt ở cuống họng. Cũng có loại trà Ô Long mọc trên những những sườn núi cao rất hiểm trở như núi Vũ Di ở tỉnh Phúc Kiến và núi ở Tứ Xuyên, con người không thể leo lên được. Vì vậy người ta đã huấn luyện những con khỉ, cho nó mang giỏ leo lên hái lá trà, nên còn gọi là Hầu Trà hay Sơn Trà. Bởi công phu và quí hiếm như vậy, nên Hầu Trà rất đắt tiền, chỉ để dành cho bậc đại phú quí.

Nhân nói đến chuyện Hầu Trà, người Trung Hoa còn nhiều loại trà cầu kỳ khác rất khó tin được là có thật. Thí dụ như loại Trảm Mã Trà. Người ta cho những con ngựa ăn lá trà rồi chém chết chúng mổ bao tử lấy lại số trà đó. Người Trung Hoa tin rằng dịch vị trong bao tử của ngựa trong lúc nhào trộn lá trà, đã ngấm vào và cho trà một hương vị mà không loại trà nào sánh bằng. Loại trà Trinh Nữ càng hoang đường hơn. Những ông già khú đế thuộc loại hết... xí quách tin rằng uống Trinh Nữ Trà giúp cãi lão hoàn đồng và tăng cường sinh lực. Những cô gái còn trinh được mướn đến làm người ủ trà, công việc của mấy cô là cứ ôm ấp những bao trà trong lòng, để hơi hướm thơm tho của các cô ngấm vào trà. Khi các ông lão già mà còn muốn gân uống trà này vào, sẽ thấy lòng lâng lâng khoan khoái, yêu đời, yêu người không biết để đâu cho hết.

Còn một loại gọi là Trà Gạch mà ngày nay còn thấy rất ít. Loại Trà Gạch nầy rất phổ biến thời nhà Tống, vì nó rất tiện dụng để xuất sang Mông Cổ và Nga. Trà sau khi hái xong sẽ bị nén chặt vào những cái khuôn có kích thước tương đương một viên gạch tiểu xây nhà. Những viên gạch trà này được treo lên trên những lò lửa củi hay than để cho nó bốc hết hơi nước và khô rắn lại như... gạch. Muốn uống nó, chúng ta phải lấy cây dao chặt... thịt, để cục gach lên thớt và nghiến... răng chặt xuống, văng ra mảnh nào là quăng vào bình trà miếng đó.

Ở nhiều nước như Lào, Cambodia, Miến Ðiện, Thái Lan, dân chúng rất khoái ăn trà chua (pickled tea) như chúng ta ăn cải chua vậy. Người Anh thì rất thích loại trà bịch nhỏ ngâm nước sôi. Lịch sử của loại trà bịch này cũng là do sự tình cờ ngộ nghĩnh như sau. Ông Thomas Sullivan, một nhà nhập cảng trà ở New York năm 1908 gửi một mẫu trà đến một cửa hàng bán lẻ trong một cái bao vải nhỏ. Thời gian sau, Thomas nhận được nhiều đơn đặt hàng loại “trà bịch” giống như mẫu ông đã gửi. Hóa ra người nhận được cứ tưởng là ngâm nguyên con cái bao mẫu ấy trong nước sôi và uống. Dĩ nhiên với tinh thần lái buôn Mỹ, Sullivan đã nhanh chóng sản xuất loại Trà Bịch, rồi nó được ưa chuộng và thông dụng mãi đến ngày nay.

Còn lịch sử của trà đá thì thế nào. Nó cũng xuất phát từ nước Mỹ. Năm 1904, có một anh chàng bán trà nọ ở thành phố St. Louis sắp sập tiệm vì năm đó có đợt nóng nung người, đâu ai tha thiết đến chuyện uống trà nước sôi. Anh ta chợt có sáng kiến tại sao không chế ra loại trà lạnh uống để chống lại cái nóng. Từ đó loại trà đá ra đời, thiên hạ hoan nghênh quá xá. Người Nga và người Việt còn khoái bỏ thêm chanh vào, để gọi là trà đá chanh đường.

Hương thơm của mỗi loại trà quyết định phẩm chắt và giá cả. Mỗi nhà chế biến trà đều có bí quyết riêng của họ để ướp hương cho trà. Thường thường thì người ta dùng những loại hoa thơm như sứ, lài, hồng, cúc, sen, lệ chi (hoa trái vải), mộc lan để ướp trà. Người ta cho những loại hoa này vào những cái giỏ và từ từ sấy khô cho đến lúc có thể vò chúng thành bột. Bột hoa này được trộn với trà trong giai đoạn chế biến sau cùng trước khi cho vào hộp, bao giấy bạc hay kiện hàng xuất cảng. Tuy nhiên, để cho có lời hơn, người bán trà bao giờ cũng trộn nhiều thứ trà hằm bà lằng với nhau, lắm lúc do nhiều nguồn trà từ các nước khác nhau, trộn rất khéo nhờ vào những chuyên viên nếm trà làm cố vấn, nên người tiêu thụ không bao giờ biết mình đang uống loại trà gì, trừ khi may mắn được thưởng thức thứ trà ngay tại nhà chế biến.

So với cà phê, rượu và ca cao, thì trà được liệt vào loại thức uống có dược tính tốt. Những hóa chất trong trà giúp làm giảm lượng cholesterol trong máu, trà có tính bẻ gãy chất béo mạnh, nên trong tiệc cưới, tốt nhất chúng ta đừng uống... rượu, nên uống trà nóng, nó giúp chúng ta không bị ứ hơi và chúng ta có thể xực liền tù tì hết thực đơn bảy hay mười món của bàn tiệc mà không sợ trúng thực. Thần Nông và khoa Ðông Y thường dùng nước trà làm chất giải các thứ độc dược. Nước trà làm đầu óc chúng ta sảng khoái và minh mẫn, vì trong lá trà có khoảng 5% chất cafein. Nhiều hóa chất và sinh tố trong lá trà được tin rằng giúp chống lão hóa và chống nhiều bệnh ung thư. Vì lượng cafein ít nên người uống trà không bao giờ bị ghiền. Trà có tác dụng lợi tiểu, giúp chúng ta đi tiểu một cách sung sướng, nhất là khi chúng ta uống trà hiệu... Thái Ðức chẳng hạn.

Ðối với người Nhật thì cách uống trà của họ rất cầu kỳ, lối uống trà của người Tàu hay người Việt thì đơn giản hơn. Người ta cho là uống trà trong bình đất hay bình sành ngon hơn và đúng điệu hơn là trong bình kim loại. Nhưng dù cho là trong loại bình nào, trước nhất chúng ta được các nhà sành uống trà khuyên hãy luôn để bình trà được khô ráo, cho một chút nước sôi vào tráng trong lòng bình để gọi là...oam úp (warm up), xong cho một nhúm trà vào tùy theo ý thích đậm hay nhạt, đổ nước sôi cho vừa ngập trà, cái đó gọi là hãm trà. Chờ từ 3 đến 5 phút, chúng ta đổ thêm lượt nước sôi nữa cho đầy bình trà, khi trà lắng xuống đáy là có thể rót ra đãi khách và bắt đầu cuộc đàm đạo chuyện kim cổ, xướng họa thi văn, hoặc luận chuyện anh hùng.

Cái thế giới ngạt ngào hương thơm, chất nước ngọt đậm đà và trong như màu ngọc của lá trà có lẽ là một trong những món quà quí mà tạo hóa đã ưu ái ban cho con người. Trà không chỉ đơn thuần là một thứ nước uống, một loại dược phẩm. Mà trà còn chan chứa một ý nghĩa cao cả hơn. Là làm cho đời sống con người được thăng hoa, là dẫn chất đưa chúng ta đến những giá trị tinh thần siêu nhiên, khi nó được người Nhật trân trọng gọi là đạo, hay Trà Ðạo.

CỏThơm
#2909 Posted : Monday, February 1, 2016 6:30:16 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)


.




Đẹp giấc mơ hoa
Tác giả: Hoàng Trọng
click >> Duy Trác


Hôm qua đến tìm em
Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên

Anh yêu nét hồn nhiên
Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm
Đôi tay nhấp đường kim
Làn môi hé cười thần tiên

Lòng bồi hồi mơ ước
Đường hoa thắm đôi ta cùng chung bước
Đời chẳng còn thương nhớ
Vì duyên ta đẹp tình thơ

Hương thơm ngát đồng xanh
Ta sống yên vui trên mảnh đất lành
Đêm đêm ngắm trời xa
Tình quê thấy lòng nở hoa

Một mái tranh nghèo lo gì nắng mai hay mưa chiều
Mộng ngát đôi lòng trăng hạnh phúc ta cùng soi bóng
Đồng lúa thơm lành ta cầy cấy chung lo gia đinh
Cuộc sống thanh bình
Ôi bài hát muôn đời thắm tình

Hôm qua đến tìm em
Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm
Bâng khuâng bước nhẹ êm
Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên

Anh yêu nét hồn nhiên
Yêu biết bao khi em ngồi khuất rèm
Đôi tay nhấp đường kim
Làn môi hé cười thần tiên





CỏThơm
#2910 Posted : Monday, February 1, 2016 6:31:40 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)





























sưu tầm



1 user thanked CỏThơm for this useful post.
Duy An on 2/7/2016(UTC)
phamlang
#2911 Posted : Saturday, February 6, 2016 12:52:32 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Tết Ta, Tết Tàu




Vì ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa nên người Việt mình ăn tết theo người Tàu, hay còn gọi là Tết Âm lịch. Âm lịch là do người Tàu lập ra, nghe nói bắt đầu từ đời nhà Thương vào thế kỷ 14 trước Tây lịch. Tuy nhiên, cấu trúc của bộ lịch này cũng không nhất định, nó thay đổi tùy theo vị hoàng đế nào cầm quyền và được sử dụng tùy theo từng vùng.

Không như Dương lịch đơn giản và dễ hiểu, cách tính của Âm lịch khá phức tạp, ngày tháng được tính theo chu kỳ của tuần trăng, rồi còn có âm dương điều khiển nữa. Thế nên, ngày đầu năm của Âm lịch mà chúng ta vẫn thường gọi là Tết, nếu tính theo Dương lịch, lúc thì rơi vào cuối tháng Giêng, lúc lại rơi vào giữa tháng Hai. Ngày Tết Bính Thân năm nay rơi vào ngày 8 tháng Hai. Vì vậy, nếu không có cuốn lịch Tam tông miếu treo ở nhà thì có lẽ tới 90% người Việt cũng không biết ngày Tết năm nay là ngày nào.

Dịp đón mừng năm mới Âm lịch ngày nay người Tàu gọi là Xuân Tiết – dịch qua tiếng Anh là Spring Festival. Với người Việt cũng thế, nói đến Tết là chúng ta liên tưởng tới mùa xuân – nào là đón xuân, mừng xuân, vui xuân, thưởng xuân, chúc xuân v.v… Nhưng Tết Âm lịch đã thực sự bước vào xuân chưa? Xin thưa là chưa. Tháng Hai, nhiều khu vực ở bắc bán cầu vẫn còn là mùa đông. Nước Việt Nam chúng ta thuộc nhiệt đới nên không có hẳn mùa đông rõ ràng. Vậy mà năm nay, chỉ hơn một tuần trước Tết, cơn lạnh bỗng nhiên kéo về, nhiều tỉnh thuộc biên giới phía bắc nhiệt độ xuống số âm, riêng tại Hà Nội còn có tuyết rơi trắng cả lề đường.

Đất nước Trung Quốc, vì nằm ở những đường vĩ tuyến cao nên có đủ bốn mùa rõ rệt. Vào mùa đông, ngay ở khu vực miền nam như Quảng Châu cũng khá lạnh. Nhớ lần trong một chuyến bay từ trại tị nạn Mã Lai qua Mỹ được cho dừng chân nghỉ ở Hồng Kông ít ngày. Lúc đó vừa mới qua Giáng Sinh, những ngày đầu năm ở Hồng Kông thời tiết lành lạnh. Dân tị nạn thời đó, vừa bước ra khỏi trại thì hẳn là người vô sản chính hiệu. Thế nên, bước lên máy bay, tài sản duy nhất của nhiều người chỉ độc chiếc giỏ sách được cao ủy phát, trong đó đựng vỏn vẹn mấy bộ quần áo cũng của cao ủy cho. Vì không mang đủ áo ấm nên ai cũng ngại bước ra đường. Đến bữa ăn thì dậy ăn, xong lại chui vào chăn nằm cho ấm. Do đó, mang tiếng là đã từng ghé qua Hồng Kông mà lại chẳng biết phố xá Hồng Kông ra làm sao.
Mùa Đông ở Trung Quốc kéo dài nhiều tháng, nhất là ở những vùng đất phía bắc nhiều khi phải chờ đến giữa tháng Ba tuyết đá mới bắt đầu tan. Vậy mà cả Ta lẫn Tàu, cứ Tết đến thì gọi là xuân, và điều này đã làm người Tây phương bối rối không ít.

Theo một số học giả giải thích, Âm lịch làm ra là để cho nông dân theo để biết lúc nào mà trồng trọt, và khi xưa hầu hết dân chúng đều là nhà nông. Nếu cho ăn Tết vào đúng mùa xuân thì có thể làm trễ nải việc đồng áng. Thế nên, cuốn lịch bước qua năm mới mặc dù thời tiết vẫn còn giá lạnh của mùa đông, nhưng là lúc người nông dân còn được thong thả nghỉ ngơi và là dịp để gia đình xum họp. Người nông dân ăn Tết xong thì mùa xuân cũng vừa đến để kịp chuẩn bị cho công việc đồng áng: cày, bừa, gieo hạt.
Những sinh hoạt này đã được thể hiện khá rõ nét qua ca dao Việt Nam:

Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Tháng ba thì đậu đã già,
Ta đi, ta hái về nhà phơi khô.
Tháng tư đi tậu trâu bò,
Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm.
……
Bao giờ cho đến tháng mười,
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.
Gặt hái ta đem về nhà,
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.


Và thế là xong một năm công việc đồng áng, nhà nông lại được dịp nghỉ ngơi để chờ… ăn Tết.
Phong tục ngày Tết của cả Ta và Tàu có thể nói gần giống như nhau. Trước Tết cũng có tục đưa ông Táo về trời. Trong ngày đầu năm, con cháu trong nhà xếp hàng cúi lạy chúc Tết ông bà rồi nhận phong bao lì xì. Hoa ngày Tết của người Tàu có đào và thủy tiên là chính, miền bắc nước ta có đào, miền nam có mai – đều là những màu tươi đẹp làm rực rỡ thêm cho ngày Tết. Món ăn ngày Tết truyền thống của Ta có bánh chưng bánh tét, người Tàu ăn bánh bao và sủi cảo.

Những năm còn chiến tranh trước đây, mặc dù đất nước loạn lạc, hầu như gia đình nào vào dịp đầu năm Âm lịch cũng cố gắng thu xếp để có chút hương vị ngày Tết trong nhà và phần nào để duy trì những phong tục cổ truyền.
Mấy năm trước, một người bạn về Việt Nam vào dịp Tết khi trở lại Mỹ than: Tết ở Việt Nam bây giờ, nhất là ở thành phố, chán lắm. Cảnh buôn bán nhộn nhịp chỉ ở những ngày trước Tết, đến ngày mồng một Tết thì đường phố vắng hoe, lý do là vì số đông người dân sống và làm việc ở thành phố đến dịp Tết thì thường bỏ thành phố về quê ăn Tết với gia đình họ hàng. Nhiều phong tục truyền thống vào dịp Tết trong nhiều gia đình đến nay cũng không còn.
Mà hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Việt Nam. Ở Trung Quốc, đặc biệt là ở những thành phố lớn, những phong tục truyền thống ngày Tết của người Tàu cũng không còn.

Theo lời một nhà báo Mỹ kể lại, trong những dịp Tết, ở những phố Tàu lớn từ Úc đến Âu châu qua tới Bắc Mỹ, đâu đâu cũng có những cuộc diễn hành đón Tết rầm rộ, nhưng với người dân thị thành của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thì đón Tết trước cái máy truyền hình. Trong suốt nhiều thập niên qua, những truyền thống gắn liền với ngày Tết đã bị chính quyền cộng sản cấm đoán gần hết, cho đến cái tên của ngày lễ cũng đã bị đổi thành “Xuân Tiết” như đã nói ở trên. Đối với hầu hết những gia đình sống ở thành thị hiện nay, đón mừng Tết chỉ còn lại là gia đình quây quần ăn sủi cảo, đốt vài phong pháo, và coi chương trình đón Tết trên truyền hình.

Hết rồi những phong tục tốt đẹp như vái lạy ông bà cha mẹ và tiễn đưa ông Táo về trời. Nhà báo Mỹ chua chát nói rằng những cuộc diễn hành đón Tết rầm rộ ở những thành phố lớn như San Francisco chỉ là những sản phẩm “phát minh” bởi thế giới phương Tây, người dân Hoa Lục sống ở thành thị không được cái diễm phúc đó.

Thực ra, phong tục truyền thống đón Tết bên Tàu bắt đầu từ từ biến mất từ năm 1912, khi chính phủ dân quốc mới lên cầm quyền và đã đổi tên ngày Tết Âm lịch thành “Xuân Tiết” để khuyến khích người dân chuyển qua mừng năm mới theo lịch Gregorian của Tây phương. Sau đó, đến năm 1928, chính phủ chính thức dời đổi ngày lễ cho trùng hợp với dịp đón năm mới của người Tây phương, giống như nước Nhật đã làm trước đó nửa thế kỷ và cho đến ngày nay vẫn mừng năm mới vào ngày 1 tháng Giêng Tây lịch. Chính phủ dân quốc cấm đốt pháo và cấm luôn việc thờ cúng trong ngày Tết, và chuyển ngày lễ nghỉ sang đầu năm Dương lịch để buộc người dân phải thay đổi, nhưng việc làm này đã không thành công – và chỉ một năm sau, việc đón Tết lại được trở lại bình thường theo Âm lịch như trước.

Sau cuộc Cách mạng Cộng sản Trung Hoa năm 1949, Đảng Cộng sản học đòi theo thuyết của Karl Marx cho rằng tôn giáo là thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng và xem những việc cúng tế, hay những phong tục trong ngày Tết có từ ngàn đời trước là hình thức của tôn giáo. Và vì vậy, Mao Trạch Đông ra lệnh diệt trừ tôn giáo bằng cách bắt bớ sư sãi và những người tu hành, cấm đoán tụ tập tại những nơi thờ tự, không cho trưng bày những ngẫu tượng, và mở những chiến dịch tuyên truyền gọi việc sùng bái là thứ “mê tín dị đoan.” Trong những năm hỗn loạn nhất của cuộc Cách mạng Văn hoá, không có đón mừng Tết trên toàn cõi Trung Quốc. Câu đối viết trên giấy điều, một nét văn hoá đặc trưng có từ ngàn năm trước trong những dịp Tết, cũng bị thay bằng những khẩu hiệu ca tụng Mao. Lễ hội biến mất. Những màn múa lân múa rồng bị miệt thị và bị liệt vào danh sách “Bốn cái cũ” (Tứ cổ hủ) cần phải dẹp bỏ: tư tưởng cũ, văn hoá cũ, phong tục cũ và thói quen cũ. Thày cô ở trường được lệnh dặn học trò phải từ chối không được nhận tiền lì xì từ cha mẹ, vì tiền kiếm được phải do mồ hôi và sức lao động.

Nhưng triệt để hơn cả là nhà nước cộng sản Trung Quốc cấm hẳn tục tiễn ông Táo về trời. Trong khi đây đó người ta vẫn còn lén lút thờ những thần khác thì ông Táo hoàn toàn bị cấm đoán, đến nỗi ngày nay nhiều người trẻ sống ở Bắc Kinh được hỏi thì không một ai biết ông Táo là ông nào. Những ngày Tết mà không có ông Táo thì cũng gần giống như Lễ Giáng sinh thiếu ông già Noel vậy, và người dân phần nào mất đi ý niệm của việc đón chờ Tết.\

Một tục khác là đốt pháo trong ngày Tết mà người Việt cũng như người Tàu tin là để xua đuổi ma quỷ trong dịp đầu năm. Gần đây chính phủ Trung Quốc cho phép người dân đốt pháo lại, mặc dù được phép nhưng cũng không mấy người đốt vì sợ đốt vào giờ giao thừa lại làm thức giấc và làm phiền người hàng xóm. Riêng tại Việt Nam đến nay vẫn còn cấm đốt pháo trong ngày Tết. Không biết có phải vì vậy mà ở Việt Nam ngày càng có nhiều “ám khí”. Mà hình như ám khí tụ lại nhiều nhất ở thủ đô Hà Nội trong lúc đang có Đại hội Đảng lần thứ XII.

Tết Ta hay Tết Tàu thì nay cũng không còn như trước nữa, không còn sự thảnh thơi và nghỉ ngơi đón Tết như người nông dân xưa kia trước khi chuẩn bị cho vụ mùa mới. Nếu có chăng còn giữ lại được chút tinh thần của ngày Tết thì đó là sự đoàn tụ gia đình. Đặc biệt là những người phải đi làm ăn xa nhà, mỗi năm cứ vào dịp này lại háo hức tìm đường về quê để xum họp với gia đình trong ít ngày. Cứ mỗi năm vào dịp Tết, ở Trung Quốc có khoảng 200 triệu người chen chúc nhau tại các bến ga để về quê, có người phải đứng (vì không có chỗ ngồi) trên toa xe lửa suốt 40 tiếng đồng hồ. Ở Việt Nam cũng thế, tại các bến xe đò chật kín người, ai cũng cố tìm cho được một vé xe về quê, người may mắn mua được vé thì còn được dịp gặp lại người thân, người không may mắn thì đành ở lại thành phố đón một cái Tết xa nhà.

Chỉ trong mấy thập niên mà cuộc đời đã có quá nhiều thay đổi, biết bao nhiêu những truyền thống tốt đẹp cũ đã mất. Nhưng rồi tập quán mới xuất hiện – đó là cảnh người ta chen nhau tìm đường về quê ăn Tết mỗi dịp đầu năm. Mà tập quán mới này có lẽ cũng thiêng liêng không thua kém những truyền thống xưa.

Huy Lâm
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
Duy An on 2/7/2016(UTC)
Duy An
#2912 Posted : Sunday, February 7, 2016 2:02:15 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Trần Thiện Thanh và những khúc xuân ca của người lính


T7, 02/06/2016 - 05:53

Cung Mi / SBTN


Hầu hết những người yêu nhạc Miền Nam Việt Nam trước 1975 đều xem cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh là người nhạc sĩ của lính. Một phần bởi bản thân của ông là một người lính. Và cũng vì ông viết nhiều ca khúc để ca ngợi, và nói lên tâm tình của người lính Cộng Hòa.





Mỗi khi xuân về, là Miền Nam Việt Nam trước 1975 lại vang lên những ca khúc xuân của Trần Thiện Thanh. Cho đến tận ngày hôm nay, người Việt ở hải ngoại vẫn còn nghe và còn hát; và người trong nước Việt Nam thì cũng tiếp tục say sưa nghe và hát… chui những ca khúc xuân kể lại tâm tình đời lính của người nhạc sĩ lính tài hoa này.

Trần Thiện Thanh cũng được nhắc đến như một trong những “ông vua” của dòng nhạc bolero. Nhiều bài nhạc xuân của ông cũng viết theo tiết điệu bolero. Nhạc bolero Trần Thiện Thanh cũng có những nét rất riêng biệt. Có người nhận xét nhạc bolero Trần Thiện Thanh vừa “mùi” mà vừa “sang”. Cho nên giới bình dân cũng thích, mà giới nghe nhạc “hàn lâm” cũng thích. Bài Đồn Vắng Chiều Xuân là một thí dụ điển hình cho đặc điểm này. Tiết điệu bolero du dương, nhưng lại không quá âu sầu, thật thích hợp để nói lên tâm trạng nhớ nhà của người lính, mỗi khi phải đón xuân xa nhà:

Mùa xuân năm đó anh ra đi
Mùa xuân này nữa anh chưa về
Những hôm vừa xong phiên gác chiều
Ven rừng kín hoa mai vàng
Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ…


Giai điệu của Đồn Vắng Chiều Xuân thật đặc biệt, khi ngay câu đầu tiên đã vút lên cao, như để diễn ta niềm nhớ nhung dâng trào của người lính. Lời nhạc vô cùng trữ tình, lãng mạn, với câu hát được nhiều người nhớ vì nét đẹp đầy tính thơ của nó:

Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa?
Chờ em một cánh thư xuân, nhớ thương gom đầy
Cho chiến sĩ vui miền xa xôi...

Bài nhạc xuân của Trần Thiện Thanh được nhiều người ở mọi lứa tuổi yêu thích nhất có lẽ là bài Đám Cưới Đầu Xuân. Bởi bái hát nói về một mối tình mộng mơ, kéo dài từ thuở bé con cho đến khi tuổi thanh xuân, mà rất nhiều người đã từng trải qua trong đời:

…Rồi một ngày kia em khoe áo mới xanh hơn mây trời
Hai đứa chung vui khi xuân vừa tới thơ ngây cuộc đời
Trò chơi trẻ con em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu
Chú rể ngẩn ngơ ra hái hoa cà làm quà cưới cô dâu…

Hẳn là có nhiều người khi còn bé đã từng chơi trò chơi cô dâu chú rể. Nhưng chắc không có bài hát nào nói về kỷ niệm thời ấu thơ mộc mạc này mà lại dễ thương và thơ mộng đến thế!

Nhưng rồi mối tình đó cũng tạm phải chia xa, khi chàng trai theo tiếng gọi của tổ quốc nhập ngũ, để mỗi một mùa xuân lại nhớ đến người yêu từ thời thơ dại:

…Mười mấy năm qua khi hoa vừa hé nhụy
thì đời trai vui chinh chiến
Anh xuôi miền xa bao lần đếm bước xuân qua
Em ơi kỷ niệm xưa anh còn giữ mãi trong lòng
Em biết không em, xuân nay lại trở về,
đường rừng hành quân sương xuống.
Thương sao là thương trong màu tím sắc hoa sim ...
Dĩ vãng đâu trôi về nhắc anh ngày thơ…


Một ca khúc xuân nữa nói lên tâm tình của người lính, cũng viết theo điệu bolero của Trần Thiện Thanh, đó là bài Phút Giao Mùa. Có lẽ phải là một người lính như nhạc sĩ Trần Thiện Thanh mới có thể nói lên được tâm sự của người lính ngoài tiền đồn nhớ về người yêu chân thật đến như vậy:

Lại một mùa Xuân nữa đến trong khói lửa chiến tranh
Mùa xuân vẫn xanh, xanh như cuộc tình em với anh
Xuân này anh không về,ngàn câu thề không chắc ... em vui,
quà xuân anh chẳng có, gát giặc từng giờ
Đời lính chiến lấy gì gửi về em?...


Cũng giống như bài Đám Cưới Đầu Xuân, người chiến sĩ trong Phút Giao Mùa cũng nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu, với những câu chuyện thần tiên chia xẻ người bạn gái thơ ngây:

…Em anh có nhớ khi ta mơ chuyện tích xưa:
Tiên nương hiện xuống không gian xem hoa rộ khắp nơi
Trăng sao mọc kín đêm khuya cho thiên thần hát ca,
Rồi nhè nhẹ gót hài tiên ca múa trên trần ai.
Nhưng tiên nào thấy đâu dù em chắp tay nguyện cầu.
Trăng sao nào thấy đâu để anh bỗng nghe nặng sầu.
Rồi pháo nổ khai xuân để mình dỗi hờn xa xăm
Khi đường trần dập dìu người đi hái lộc đầu năm…


Giai điệu trầm bổng, tiết điệu du dương. Lời ca vừa mộc mạc vừa thơ mộng. Hình ảnh đôi tình nhân trong đêm giao thừa của Trần Thiện Thanh trong Phút Giao Mùa là một bức tranh tuyệt đẹp của những đôi lứa yêu nhau.

Qua cả ba ca khúc Đồn Vắng Chiều Xuân, Đám Cưới Đầu Xuân, Phút Giao Mùa, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ghi lại được tâm hồn đầy thơ mộng của những người lính Cộng Hòa. Những chàng trai cũng có trái tim nồng nàn, cũng yêu thương như bao người khác. Chỉ vì vận mệnh đất nước, họ phải mặc áo lính, cầm súng ra chiến trường để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ gia đình, bảo vệ người yêu. Không sặc mùi chủ nghĩa, không khát máu căm thù. Đã có nhiều người tiếc rằng một nền văn hóa nhân bản như vậy đã không thể chiến thắng trong cuộc chiến với một kẻ thù cuồng tín. Nhưng thời gian đã trả lời cho tất cả. Những bản nhạc xuân về người lính vẫn của Trần Thiện Thanh còn vang vọng cả trong nước Việt Nam lẫn hải ngoại, là một bằng chứng hùng hồn rằng Chân-Thiện-Mỹ vẫn luôn chiến thắng trái tim con người.


https://www.youtube.com/watch?v=6UeF68spc3I - Đồn Vắng Chiều Xuân- Đan Nguyên

https://www.youtube.com/watch?v=JbO8YcuTNHg -Đám Cưới Đầu Xuân- Băng Tâm & Đặng THế Luân

https://www.youtube.com/watch?v=Q9oGgSzYMAA - Phút Giao Mùa- Ngọc Minh

phamlang
#2913 Posted : Saturday, February 13, 2016 12:42:09 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
NHỚ: NỮ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP




Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu, sinh năm 1930 tại Sơn Tây, chồng tên Chu Văn Khuê. Có 5 người con : 2 trai: Nguyễn Năng Tiến, Nguyễn Quốc Quân và 3 gái : Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Phương Liên (hải ngoại) và (?).

Về giọng ngâm nữ thoạt đầu có giọng ngọt ngào của Giáng Hương, nhưng người sành điệu nhớ mãi giọng ngâm đổ hột đặc sắc của Đàm Mộng Hoàn, tiếng tăm vang lừng ở Khâm Thiên thời tiền chiến trong “Tỳ Bà Hành”. Hồ Điệp giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trái tim thính giả trong thơ của T.T.Kh đầy nức nở. Sau có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao và các bài huyền sử. Đó giọng ngâm của ca sĩ Hoàng Oanh.

Trong những nữ nghệ sĩ ngâm thơ trước năm 1975, Hồ Điệp nổi tiếng nhất, có giọng ngâm tuyệt vời, xuất sắc trong mọi thể loại. Tuy nhiên, Hồ Điệp lại bất hạnh nghiệt ngã nhất sau năm 1975, mất tích trong rừng trên đường vượt biên bằng đường bộ qua ngả Campuchia năm 1987.

Trên tờ Người Việt Boston, Hoàng Hạc viết : “Một người tỵ nạn Việt Nam làm việc cho cơ quan Hồng Thập Tự tại trại tỵ nạn đường bộ Thái Lan đã kể trong bài tự thuật Cánh Bướm Bên Trời : “Chúng tôi nhận được một lá thư nhờ theo dõi giùm tin tức của một người thân đã rời Sài Gòn năm 1987. Thư cũng cho biết nhóm này gồm có 11 người: 5 nam và 6 nữ. Thư cũng nói trong nhóm có Hồ Điệp… Ngày tháng trôi đi, thư từ Mỹ qua vẫn tiếp tục hỏi về đoàn người đó và xác nhận chưa thấy họ quay về Việt Nam, như vậy có nghĩa Cánh Bướm [Hồ Điệp] đã tan tác, vì không một ai có thể ở trong rừng sâu suốt 6 tháng mà sống sót được.”

Các con của Hồ Điệp hiện ở Hoa Kỳ, trong số họ có Tiến sĩ Toán học Nguyễn Quốc Quân, một nhà đấu tranh dân chủ bất bạo động,

Giọng ngâm của Hồ Điệp trong trẻo, sắc sảo, ảnh hưởng nhiều điệu cổ nhạc miền Bắc, cao sang, yểu điệu và cổ kính. Hồ Điệp phát chuỗi ngân từ khẩu cái, mà không ở cổ họng, nên người nghe có cảm giác như Hồ Điệp kết lại từng hạt cườm nhỏ li ti. Cách ngâm của Hồ Điệp còn pha điệu lẩy Kiều, Sa Mạc, Bồng Mạc, và cho dù bất cứ lối ngâm nào Hồ Điệp đều sành sỏi, quyến rũ. Đặc biệt bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, Hồ Điệp ngâm thật xuất sắc, khó ai có thể vượt qua, nghe như rờn rợn tóc gáy, giọng ngâm ma quái, lánh lót. Vì thế mỗi kỳ lễ Vu Lan, ban Tao Đàn thường mời Hồ Điệp ngâm bài này.

Cho nên nhiều người lầm lẫn cô đầu với nghệ sĩ ca trù, đã có thời vì thế ca trù bị quên lãng, người ca bị nhìn sai lệch. Nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp là bạn quí của những tài danh như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu.

10 Ho Diep 2Bà tên thật là Nguyễn Thị Tý, tự là Nhu, sinh ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ tức ngày 1 tháng 6, 1930 trong một gia đình nghệ sĩ tại làng Hiệp Lộc, tỉnh Sơn Tây. Gia đình bà nhiều người là các nghệ sĩ chầu Văn, ca ngâm tại các đền chùa, hội hè ở Phủ Giầy, đền Hai Bà, đền Ðức Thánh Trần ở ngoài Bắc.

Theo một bài viết của Vĩnh Tường đăng trên Khởi Hành, Hồ Ðiệp mất vào năm 1987, nhưng theo một bài viết của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, có khác. “Di ảnh của Hồ Ðiệp hiện thấy được thờ ở chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão quận nhất thành phố Sài Gòn, trên di ảnh đề ngày mất 15 tháng 5 Mậu Thìn (1988). Có lẽ đó chỉ là ngày ra đi của Hồ Ðiệp chứ không phải là ngày mất thật sự.” (Hoàng Hương Trang, Nhớ Nghệ Sĩ Ngâm Thơ Hồ Ðiệp). Vẫn theo nhà thơ nữ thì Hồ Ðiệp được thờ ở đây là do lòng hâm mộ của một thính giả, một người say mê giọng ngâm của bà ở Sài Gòn. Một nhà thơ, tiến sĩ ngữ học Ðại Học Prague, Tiệp Khắc, mệnh danh Hồ Ðiệp là Nữ Hoàng Thanh Sắc với hai câu thơ:

Thanh, sắc vọng mãi Ðất Trời

Nghìn thu cánh bướm vỗ hoài Hồn Thơ.


(Nguyễn Phan Cảnh, Dự báo Bùng nổ Thi Ca)

“Theo cô Thái Hằng [bà vợ Phạm Duy], thì khi còn nhỏ Hồ Ðiệp là một cô bé rất xinh đẹp. Thái Hằng và Hồ Ðiệp có cùng một ông ngoại. Hồ Ðiệp lớn lên ở quê ngoại, còn Thái Hằng theo bố mẹ ra Hà Nội. Mỗi lần Thái Hằng về quê, Hồ Ðiệp chạy thật nhanh từ cổng nhà lên đến tận bờ đê đón các anh các chị với quà Hà Nội… Hồ Ðiệp có giọng cười trong như một dòng suối tinh khiết và đôi mắt rất đẹp, ngày đó chưa u ẩn và chưa buồn viễn xứ.”

Sau 1954 tại Sài Gòn, “Thỉnh thoảng, Hồ Ðiệp hay ra sân quét vạt sân rụng đầy lá trứng cá. Cô hay mặc quần satin tuyết nhung, áo phin trắng nõn, gấu và cổ tay có thêu rua. Buổi tối đi hát, cô hay đeo kiềng vàng, mặc áo nhung đen rưng rức trơn một màu, không thêu, không vẽ. Cô choàng tấm khăn san mỏng, chân mang hài cong. Cô trang điểm rất ít, tóc bới cao hay quấn khăn vành dây. Cử chỉ cô cực kỳ khiêm cung, nhỏ nhẹ. Cô có cái đẹp cổ kính của một thục nữ cõi Bắc Hà.” […] Theo lời bà Hồ Liễu (nữ đại tá QLVNCH), sau 1975 Hồ Ðiệp từ chối trình diễn, chỉ nhận lời ngâm thơ tại các chùa, hay tại nhà bạn hữu…

Như báo chí lâu nay vẫn loan tin, nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp vượt biên bằng đường bộ, và từ đó bặt vô âm tín. Không một nhân chứng nào xuất hiện, để thuật lại những gì đã xảy ra cho nữ nghệ sĩ; khác với trường hợp danh hài Khả Năng.

Nghệ sĩ Khả Năng cũng vượt biên đường bộ, và một nhân chứng là nhà thơ Trần Bát Nhã, sau này là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Louisianna, là chứng nhân, đã thuật lại cái chết của anh, bị bắn chết trong cuộc rượt đuổi cạnh biên giới, như bài tường thuật trên cùng tờ báo.

Mai Trung Tín chuyển tiếp
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi
#2914 Posted : Monday, February 15, 2016 1:50:33 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
.





phút xuân về


Ai chở nắng mới đầy trên phố
Hay Chúa Xuân đã đến ngõ lòng ta
Áo trắng mượt tóc xanh màu lá
Em qua đường trong ngơ ngẩn mắt thơ…

Cánh đào đỏ nhởn nhơ tay thiếu nữ
Nhành mai vàng hớn hở nụ cười mơ
Em nhẹ bước mùa qua mùa vội vã
Hương xuân nồng thắm má gái đương tơ…

Em đang bước mùa Xuân theo ngọn gió
Em – Chúa Xuân muôn thuở của đời anh
Nét tươi trẻ giữa trời mơn mởn lạ
Đem xuân nồng lấp hết cả hao hanh…

Em cứ đến cho mùa đông bớt giá
Em cứ sang cho nắng ấm đầy tay
Ôi những bóng hồng trong tiên cảnh



Đuyên Hồng







CỏThơm
#2915 Posted : Monday, February 22, 2016 4:38:06 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)



Tranh vẽ Mai Trung Thứ


Rằm tháng giêng


Ngày xưa còn nhỏ… ngày xưa
Tôi đeo khánh bạc lên chùa dâng nhang
Lòng vui quần áo xênh xang
Tay cầm hương, nến, đinh vàng mới mua

Chị tôi vào lễ trong chùa
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên :
– “Lòng thành lễ vật đầu niên
Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng !”

Chị tôi phụng phịu má hồng
Vùng vằng suýt nữa quên bồng cả tôi
Tam quan, ngoài mái chị ngồi
Chị nghe đoán thẻ, chị cười luôn luôn

Quẻ thần, thánh mách mà khôn :
– Số nàng chồng đắt, mà con cũng nhiều !
Chị tôi nay đã xế chiều
Chắc còn nhớ mãi những điều chị mơ

Hằng năm, tôi đi lễ chùa
Chuông vàng, khánh bạc ngày xưa vẫn còn
Chỉ hơi thấy vắng trong hồn
Ít nhiều hương phấn khi còn ngây thơ
Chân đi, đếm tiếng chuông chùa
Tôi ngờ năm, tháng thời xưa trở về



Một thi phẩm của Hồ Dzếnh.





CỏThơm
#2916 Posted : Monday, February 22, 2016 4:39:31 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)

.

Sưu tầm Tranh Mai Trung Thứ









































1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 5/3/2016(UTC)
ASIAlcoholic
#2917 Posted : Tuesday, February 23, 2016 8:37:32 AM(UTC)
ASIAlcoholic

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/21/2011(UTC)
Posts: 1,207
Points: 3,678
Location: USA

Thanks: 2257 times
Was thanked: 1566 time(s) in 844 post(s)


L ý . C â y . Đ a

Trèo lên quan dốc ngồi gốc ối a cây đa
Rằng tôi lý ối a cây đa
Ải a, ôi à tính tang tình rằng
Cho đôi mình gặp
Xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a tháng giêng

Chẻ tre đan nón, kìa nón ối a ba tầng
Rằng tôi lý ối a ba tầng
Ải a, ôi à tính tang tình rằng
Cho cô mình đội
Xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a sáng trăng

Vải nâu may áo, kìa áo ối a năm tà
Rằng tôi lý ối a năm tà
Ải a, ôi à tính tang tình rằng
Cho anh chàng mặc
Xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ôi viền năm tà...




1 user thanked ASIAlcoholic for this useful post.
phamlang on 5/3/2016(UTC)
CỏThơm
#2918 Posted : Sunday, February 28, 2016 1:36:41 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)






Sắc Nhớ


Bầy sẻ cũ đã lìa xa mái phố
Mây trắng giờ tụ xám lặng hiên xưa
Tôi trở lại. Hát ngu ngơ và nhớ
Những tháng ngày ngồi ngóng một cơn mưa

Hoa vẫn nở nhưng sắc vàng đã nhạt
Dòng thư yêu cũng nhoè mực lâu rồi
Cỏ ngượng ngập cố níu màu xanh lại
Ngậm ngùi ai thả sợi khói lên trời

Biết bao giờ bàn tay nhau chạm lại
Dù nhẹ thôi cung phách bản đàn xưa
Em đã xa… nghĩa là không trở lại
Để hiên tôi rơi rụng những âm thừa

Tôi trở lại…Hát ngu ngơ. Và nhớ
Ánh đèn vàng ấm áp suốt mùa thi
Không có em mỗi mình tôi tựa cửa
Phía hoàng hôn tím ngắt bóng chiều đi

Bầy sẻ cũ đã cùng em đi mất
Hiên xưa thèm đến khát một lời chim
Tôi lặng lẽ thả khói vào mây xám
Nhận ra hoa vàng sắc nhớ im lìm.



Nguyễn Liên Châu








Duy An
#2919 Posted : Friday, March 11, 2016 12:21:41 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Qua ‘Chú Tư Cầu’, định mệnh mở cửa khác cho Lê Xuyên


Du Tử Lê

Nếu có một người không hề mơ ước hay, toan tính trở thành nhà văn nhưng, lại là một nhà văn nổi tiếng, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, thì đó là trường hợp của nhà văn Lê Xuyên/Lê Bình Tăng, tác giả những tiểu thuyết được nhiều người đọc, biết tới, như “Chú Tư Cầu,” “Rặng Trâm Bầu,” “Nguyệt Ðồng Xoài”...

Căn bản, họ Lê là một người làm chính trị, ông là đảng viên của đảng Ðại Việt, trong nhiều năm, trước khi trở thành nhà báo chuyên nghiệp, rồi trở thành nhà văn trong một hoàn cảnh bất ngờ, ngoài dự trù của ông.



Nhà văn Lê Xuyên.


Tôi muốn nói, giống như định mệnh đã chọn ông, để mở cho ông một cánh cửa khác hơn cánh cửa làm cách mạng: Cánh cửa văn chương, chữ, nghĩa.

Theo những tư liệu hiện có trong Bách Khoa Toàn Thư Mở-Wikipedia thì ngay từ khi còn rất trẻ, nhà văn Lê Xuyên đã là một thành viên của đảng Ðại Việt Quốc Dân Ðảng (ÐV/QDÐ) hệ phái Trương Tử Anh. (1)

Sinh trưởng ở miền Nam, ngày 1 tháng 11 năm 1927 tại Phong Ðiền, Cần Thơ, nhưng trước năm 1954, họ Lê đã được đảng của ông cử ra miền Bắc, tham gia sinh hoạt chống thực dân Pháp. Ông bị chính quyền Pháp ở Hà Nội bắt, giam tù nhiều năm...

Sau Hiệp Ðịnh Geneve tháng 7, 1954, vẫn theo lệnh của đảng, họ Lê trở về miền Nam cùng với người bạn đời - - Vốn là một thiếu nữ Hà Nội khuê các; mà, theo nhà báo Ngọc Hoài Phương thì bà vốn có liên hệ gia tộc với nhà báo Hồ Anh/Nguyễn Thanh Hoàng. Chính vì thế mà sau này, cho tới ngày miền Nam bị sụp đổ, nhà văn Lê Xuyên đã giữ nhiều chức vụ quan trọng thuộc tòa soạn những tờ báo do ông Hồ Anh làm chủ, như các tờ Văn Nghệ Tiền Phong, Thời Thế, v.v...

Những năm tháng đầu tiên trở lại miền Nam, với bút hiệu Lê Nguyên (không phải Lê Xuyên), họ Lê đã viết nhiều bài bình luận chính trị, đả kích chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa, thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm mới về nước chấp chánh - - Phản ảnh đường lối chính trị của đảng trưởng Trương Tử Anh thời đó. Những bài bình luận chính trị của ông xuất sắc, có tính thuyết phục cao, tới độ gây khó chịu cho chính quyền. Và, theo nhà báo Hồ Nam/Lê Nguyên Ngư thì Lê Xuyên bị đưa vào nhà giam Chí Hòa vì lý do đó. (2)

Về nguyên ủy trở thành nhà văn của Lê Xuyên/Lê Bình Tăng thì, theo một số tư liệu hiện có trên trang mạng Wikipedia-Mở đã ghi lại, đại ý như sau:

Ðầu thập niên 1960, khi một số nhật báo ở Saigon lên cơn sốt với truyện chưởng “Cô Gái Ðồ Long” của Kim Dung do dịch giả Tiền Phong Từ Khánh Phụng mà, nhật báo Sài Gòn Mai lại chậm chân, không có! Vì thế, nhà báo Vương Hữu Ðức, khi đó là tổng thư ký Sài Gòn Mai, đã yêu cầu họ Lê viết một feuilleton (truyện dài đăng tải mỗi ngày) - đặc biệt về chuyện tình trai gái vùng Nam Bộ. Và, truyện “Chú Tư Cầu” được khai sinh từ đó. (3)

Sinh thời, trả lời một cuộc phỏng vấn về tiểu thuyết “Chú Tư Cầu,” nhà văn Lê Xuyên cho biết, sở dĩ ông mạnh dạn nhận lời vì ông sinh trưởng ở vùng quê miền Nam, bằng vào kinh nghiệm sống, tích lũy những dữ kiện có thật, cộng với những năm tù Chí Hòa, bị nhốt chung với đủ mọi thành phần cặn bã của xã hội, đa số là dân giang hồ, lắng nghe những chuyện họ kể, ông ghi nhận, sắp xếp, rồi đem vào truyện... (4)

Một điểm đáng chú ý nữa là, nhà văn Lê Xuyên cho rằng nếu chủ tâm làm văn chương thì nó sẽ không phù hợp với nhân vật cũng như nội dung truyện. Nói cách khác, nó sẽ không thể là một... “Chú Tư Cầu.” Ông viết thoải mái, dễ dàng, đúng phong cách kể chuyện nhẩn nha, tửng tửng, lững thững, kiểu của một ông già Nam Bộ, nhất là qua các mẩu đối thoại.

Ðặc tính nhẩn nha, tửng tửng thấy rất nhiều trong phần đối thoại của Lê Xuyên, khiến ông được văn giới mệnh danh là người có khả năng viết liên tục 7 ngày mà vẫn “chưa cởi xong nút áo” của nhân vật nữ trong truyện. (5)

Chú thích:

(1) Theo Bách Khoa Toàn Thư Mở-Wikipedia thì, năm 1934, ông Trương Tử Anh, người Phú Yên, ra Hà Nội theo học Luật Khoa, Viện Ðại Học Ðông Dương. Là một người có tinh thần dân tộc, trong thời gian học tập, ông chú ý nghiên cứu nhiều về các triết thuyết, các chủ nghĩa chính trị đang thịnh hành trên thế giới thời bấy giờ. Một trong các tiểu luận chính trị viết từ năm 1935, ông đã nhấn mạnh rằng: “Những triết thuyết, những chủ nghĩa chính trị đương thời đều không thích hợp với dân tộc Việt Nam và đều có sai lầm.” Từ đó, ông manh nha việc xây dựng một chủ thuyết của riêng nhằm định hướng cho những hoạt động chính trị của mình về sau này. Ngày 10 tháng 12 năm 1938, ông Trương Tử Anh công bố một chủ thuyết tư tưởng về triết học và chính trị, gọi là Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn. Chủ thuyết này về sau được các đồng chí của ông phát triển thêm, khái quát thành những điểm chính như sau:

- Con người gồm những bản năng cơ bản là vị kỷ, tình dục và xã hội.

- Ðể sinh tồn thì các bản năng này phải mạnh hơn những cá thể khác.

- Ðể bản năng mạnh mẽ cần có sức mạnh, biến cải và hợp quần.

Tóm lại, để tồn tại, mỗi cá thể phải tạo cho mình sự vượt trội hơn đa số cá thể khác trong xã hội. Mở rộng ra, mỗi dân tộc, muốn sinh tồn phải có được ưu thế tương tranh để vượt lên được dân tộc khác. Ðiều này, về sau được ông nêu rõ trong tuyên ngôn thành lập đảng: “Chúng ta phải nhận thức rằng trên lập trường quốc tế, giữa các quốc gia chỉ có quyền và lợi mà thôi. Mọi hành động của nước này đối với nước khác không ngoài mục đích ấy.”

Suốt thời gian học tại Viện Ðại Học Ðông Dương, Trương Tử Anh đã truyền bá chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn và thu hút được một số bạn đồng chí trẻ. Ngày 10 tháng 12 năm 1939, ông tuyên bố thành lập Ðại Việt Quốc Dân Ðảng và lấy Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn làm nền tảng lý thuyết.

Những đảng viên chủ chốt bấy giờ, có nhiều tên tuổi sau này vẫn còn được dư luận ở miền Nam cũng như hải ngoại, nhắc tới như các ông Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Tôn Hoàn, Ðặng Văn Sung, Bùi Diễm, Trần Trung Dung, Phan Huy Quát, Hà Thúc Ký, Hoàng Xuân Tửu, Dương Thiệu Di. Nguyễn Tôn Hoàn v.v...

Ðại Việt QÐÐ lấy ca khúc “Việt Nam Minh Châu Trời Ðông” của nhạc sĩ Hùng Lân (1922-1986) làm Ðảng ca.

(2), (3), (4): Nđd.

(5) Hồ Ông, “Kho báu trong tác phẩm của Lê Xuyên,” Wikipedia Mở.

Duy An
#2920 Posted : Wednesday, March 23, 2016 4:11:34 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Ðối thoại trong truyện Lê Xuyên: ‘Kho báu’ ngôn ngữ Nam Bộ?



Du Tử Lê

(Tiếp theo kỳ trước)

“...Nói xong, Tư Cầu vội vàng chống xuồng về chòi mình, nhưng Phấn kêu giựt ngược lại:

- Nhớ qua nghe hông. À mà anh còn chút dầu lửa nào không cho tui mượn đỡ.

- Hết ráo rồi.

Còn ba cái rọi mù u để chút nữa tao đem qua.

- Qua mau mau nghen!

- Ừa mà!”


(...)



Nhà văn Lê Xuyên. (Hình: sachxua.net)



Hoặc nữa:

“Ngồi nín thinh một hồi, Phấn mới lên tiếng gợi chuyện:

- À anh Tư, anh có biết đến cuối Tháng Chạp này con Thắm nó đi lấy chồng không anh?

- Ừ...

- Ừa!...

Cái gì anh cũng ừ ừ mà không biết cái khỉ khô gì hết!

- Ðừng làm bộ tài khôn hoài mầy! Tao nói ừ là ừ. Con Thắm nó lấy thằng Năm Tôn con ông Biện Dưỡng ở trên kinh Bang Chang bộ tao không biết hả?

- Dữ hông!

Chắc trời mưa nên cóc mới mở miệng!

Tư Cầu hứ một tiếng rồi quăng mạnh cái tàn thuốc ra trước sân chòi.

Phấn lấy cây rọi mù-u gạt bớt tàn để cho thêm ánh sáng và nhích lại gần bên cạnh Tư Cầu. Cô với tay quơ một nhánh củi điên điển vừa dập dập tàn rọi còn lên khói vừa nói:

- Hai vợ chồng con Thắm cũng bằng tuổi tụi mình đó...

Tư Cầu ngước mắt nhìn lại:

- Hứ! người ta chưa ăn chưa ở gì hết mà mầy đã kêu là hai vợ chồng! Sao mày gấp quá vậy Phấn. Mà tụi nó bằng tuổi tao với mầy rồi có sao hông?

- Còn có sao nữa. Người ta cũng như mình mà... vậy đó! bộ anh không biết lo sao?

- Lo cái móc xì gì hả?

Chừng nào tới rồi hãy hay chớ tao không lo gì ráo.

Phấn ngập-ngừng một lát rồi đắm đuối nhìn Tư Cầu và giọng cô ta trầm dịu xuống.

- Bộ anh không... không... nghĩ đến tui hả?

- Thì mầy chình ình ra đó chớ còn nghĩ ngợi gì nữa?

Cô nhích lại gần Tư Cầu thêm một chút nữa:

- Anh nầy nói kỳ quá! Bộ anh không nghĩ tụi mình cũng như... vợ chồng con Thắm sao?

Nghe nói vậy, Tư Cầu ngồi thẳng lưng nhìn Phấn từ đầu đến chân: một gương mặt bầu bĩnh với đôi mắt long lanh, với đôi môi hơi dầy một chút, ướt láng bên ánh lửa rọi chập chờn, đôi cánh tay tròn trịa ló ra khỏi chiếc áo túi cụt tay và một thân mình chắc nịch như thân cây chuối hột...

Tư Cầu như vừa ý và thấy sao dễ chịu trong mình! Anh ta vừa cười vừa nói với Phấn:

- Ừ, mầy coi cũng được!... Ối thôi, tới đâu hay tới đó chớ tao không nghĩ nghiếc gì hết... Còn tía má tao nữa chi?

- Nói như anh vậy hết chuyện rồi! Bộ ai cấm cản tía má anh lo cho anh sao? Còn tụi mình ở đây làm gì hả?

- Coi ba con vịt chớ làm gì nữa!

- Hứ lãng òm! Anh sao vậy hoài... Bộ anh không thấy người ta cũng như mình mà nên vợ, nên chồng, sung sướng tấm thân, bộ anh không... không... muốn, không thèm hả?

- Ý cha thèm! Ừ sung sướng đâu được vài tháng như hai vợ chồng anh Hai tao đó, rồi chưởi bới đập lộn nhau rùm trời, rồi đẻ xòn sọt cả bầy cả lũ để lo chạy gạo cho sói đầu hả?

- Bàn ngang như anh vậy thì nói làm gì cho thêm tổn. Bộ ai cũng vậy hả? Chớ anh không thấy vợ chồng anh Hai tui sao...

Tư Cầu cười lớn:

- Ối thôi, vợ chồng anh Hai mầy thì hết chỗ chê... Thiệt như ếch bắt cặp!

Và Tư Cầu thấp giọng hỏi luôn:

- Ê Phấn, bộ hai ảnh chỉ tối ở nhà bị ai cản mũi cản lái gì hay sao mà tao thấy cứ chạy tọt ra sau vườn chuối xà nẹo với nhau hoài vậy hả?

Phấn nghe hỏi vậy mắc cỡ nhưng thấy thinh thích trong lòng vì Tư Cầu đã hưởng ứng câu chuyện của nó.

Cô ta làm bộ gạt ngang:

- Bậy nà!... Mà sao anh thấy? Anh dóc tổ!

Tư Cầu hấp tấp trả lời:

- Ừ thì dóc! Tao đi bẫy cò ở mấy cái mương sau vườn chuối nhà mày hoài mà sao lại không thấy!

Phấn chêm thêm:

- Bộ anh thấy họ rồi họ không thấy anh chắc?

- Con nầy ngu quá! Bộ mầy nói tao đi ngờ ngờ đó để cho họ thấy hả? Tao còn phải đi rình bẫy cò nữa chớ mầy quên sao? Như vậy họ dễ gì thấy tao được?

- Rồi anh rình ếch bắt cặp luôn?

- Ðâu có mầy! Thì sẵn tao ngồi núp rình bẫy cò tao cũng nín luôn, chớ chẳng lẽ la làng lên hay sao?

Phấn nghe Tư Cầu nói vậy, cười hăng hắc:

- Anh nầy nói nghe ngộ quá ta!

Tư Cầu cũng bắt cười xòa theo, Phấn vẫn chưa chịu buông lơi câu chuyện:

- Bộ anh mà dám ngó họ!

- Tao mà không dám ngó! Thì nó ngờ ngờ trước mắt tao đó mà dám ngó hay không dám ngó gì mầy!

Phấn vẫn chưa chịu tha:

- Vậy anh thấy cái gì anh kể tui nghe coi!"

(...)

(Nđd.)


Cứ thế, tần số đối thoại ngay nơi chương một của truyện “Chú Tư Cầu” gia tăng theo mạch chảy của câu chuyện giữa hai nhân vật.

Tuy nhiên, cách gì thì người đọc cũng không thể phủ nhận khả năng sử dụng ngôn ngữ “miệt vườn” của Lê Xuyên thật hấp dẫn vì lạ lẫm, nhấm nhẳng, có duyên và, phong phú hiếm thấy nơi truyện của các nhà văn Nam Bộ khác.

Người đọc không thể bắt gặp loại ngôn ngữ văn chương “bác học” nào, trong truyện Lê Xuyên, ngoài những ngôn ngữ “bình dân,” hàng ngày như “bá láp,” “nói chuyện dần lân,” “chạy tọt,” “hắt tẹt nước còn,” “bờ xẻo,” “nói nghe sướng hông,” “hết ráo rồi,” “dữ hông”...Ngay khi phải tả thân thể “con Phấn,” Lê Xuyên cũng so sánh với một cách mộc mạc, rất miệt vườn, là hình ảnh của một “cây chuối hột”...

Tôi nghĩ nhiều phần độc giả đã đọc “Chú Tư Cầu” dù ngay từ đầu hay nhảy ngang giữa truyện, đều rất khó kiềm chế ý muốn đọc tiếp vì những đối thoại như đã dẫn chứng.

Phải chăng vì thế mà Thủy Tinh, một người bạn văn trẻ của nhà báo Hồ Ông (8) đã ví đối thoại của nhà văn Lê Xuyên, như một “kho báu” ngôn ngữ Nam Bộ cổ:

“...Trong một lần nói chuyện thân mật với cây bút trẻ Thủy Tinh, mới 37 tuổi, kỹ sư điện toán ở Adelaide, Thủy Tinh cho biết anh rất khoái thứ ngôn ngữ đặc thù của người dân quê Nam Bộ qua các tác phẩm tiêu biểu của Lê Xuyên như Chú Tư Cầu, Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương, Thủy Tinh nói rằng anh đọc sách của Vương Hồng Sển nói về cái thú chơi đồ cổ, anh cũng khoái lắm, nhưng không đủ khả năng tiền bạc để chơi thứ của nhà giàu đó. Nhưng theo anh có một thứ ‘đồ cổ’ vô cùng quý giá không thể để mai một đi và ai cũng có thể ‘chơi’ được - đó chính là thứ ngôn ngữ của người dân quê Nam Bộ như những hạt ngọc quý lấp lánh trong các tiểu thuyết đồng quê của Nhà văn Lê Xuyên. Người ta có thể đọc bất cứ trang nào, cuốn tiểu thuyết nào của tác giả này cũng vẫn dễ dàng bắt gặp...” (Nđd)

(Còn tiếp 1 kỳ)

Chú thích:

(8) Nhà báo Hồ Ông hiện cư ngụ tại thành phố Sydney, Úc Châu.
Duy An
#2921 Posted : Thursday, March 31, 2016 10:54:49 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)

Lê Xuyên, văn không là người?



Du Tử Lê

(Tiếp theo và hết)

Chúng ta thường nghe nói “văn tức là người.” Nhưng “chân lý” này dường không đúng với nhà văn Lê Xuyên.

Theo ghi nhận của một số nhà văn cùng thời với tác giả “Chú Tư Cầu” như Văn Quang, Nguyễn Thụy Long thì, trong số độc giả của nhà văn Lê Xuyên, có rất nhiều người thuộc nữ giới. Họ tìm đến ông vì hâm mộ tài năng họ Lê. Nhưng trong đời thường, Lê Xuyên là người ít nói, ông sống nghiêm túc tới độ nhiều văn nghệ sĩ không tin ông có một đời riêng ngăn nắp, nghiêm túc đến như vậy.




Nhà văn Lê Xuyên. (Hình: sachxua.net)



Trong một bài viết ở dạng hồi ký, nhà báo Hồ Ông kể: Tuy cùng làm việc với nhà văn Lê Xuyên ở nhật báo Thời Thế, nhưng ông không có dịp gặp mặt họ Lê. Lý do, ông chỉ ghé qua tòa soạn, đưa bài, xong ông về ngay tòa soạn báo Con Ong của ông Minh Vồ. Theo ông, đó là một nơi tập trung nhiều anh em với những cuộc “đấu hót” tưng bừng. Nên:

“Dù rất ái mộ lời văn 'đối thoại dấm dẳng' pha chất sex nhẹ nhàng kiểu 'cởi cái nút áo người yêu cả tuần lễ chưa xong', rất Lê Xuyên, rất Nam Bộ với những ngôn ngữ địa phương thuần túy, không hề bị pha trộn với ngôn ngữ của thời đại...” (Bđd)

Chính vì chưa gặp họ Lê lần nào, nên ký giả Hồ Ông vẫn đinh ninh tác giả “Chú Tư Cầu,” “Rặng Trâm Bầu” là một nhà văn Nam Bộ bậm trợn, chịu chơi không thua gì mấy ông nhà văn khác. Cảm nghĩ của Hồ Ông đã bị ông Minh Vồ “sổ toẹt” ngay, khi chủ nhiệm Con Ong cho Hồ Ông biết: “...Lê Xuyên nó còn hiền lành hơn thầy tu, nhát hơn con gái nhà lành nữa đấy. Nghe nói tục là nó biến ngay, đố dám!”

Sự bán tín, bán nghi của Hồ Ông về đời thường, Lê Xuyên “...còn hiền lành hơn thầy tu, nhát hơn con gái nhà lành nữa...,” cuối cùng cũng được giải tỏa nhân dịp ông và các bạn trong tòa soạn Con Ong là, Dê Húc Càn (tức Dương Hùng Cường) nhà văn Hùng Phong, được chủ nhiệm Con Ong rủ đi ăn hủ tíu ở quán “Mũi Tàu,” Chợ Lớn thì, bất đồ, ông Minh Vồ bật dậy, chạy ra ngoài quán, gọi lớn:

“‘Lê Xuyên! Lê Xuyên! Vào đây ăn sáng với tụi tao đã!’ Nghe thế tôi cũng mừng rỡ vì tình cờ lại được gặp người mình vẫn ái mộ. Tôi nhìn ra ngoài thấy Minh Vồ đang tíu tít nắm chiếc guidon xe Vespa giữ ghịt lại như sợ Lê Xuyên bận rộn sẽ không chịu vào quán.

“Lê Xuyên, năm đó trạc khoảng trên 40 tuổi, người hơi nhỏ con, ăn mặc tươm tất. Anh vừa kịp kéo ghế ngồi xuống và Minh Vồ thay vì giới thiệu, đã chỉ tôi bô bô hỏi Lê Xuyên: ‘Mày chắc biết thằng Hồ Ông, nó viết báo Thời Thế bên mày nó ký bút hiệu Gã Kéo Màn đó?’ Lê Xuyên nhìn tôi và đưa tay bắt tay tôi, nhẹ lắc đầu: ‘Nghe tên thì quen nhưng hôm nay mới gặp. Gã Kéo Màn còn trẻ quá há!’ Tôi chưa kịp nói gì, Minh Vồ đã quát chủ quán cho thêm một tô hủ tíu, rồi quay qua nói với Lê Xuyên: ‘Tao bắt gặp quả tang mày hôm Thứ Bảy’. Lê Xuyên thực thà hỏi: ‘Quả tang chuyện chi?’ - ‘Mày còn giả bộ hỏi nữa’. Nghe Minh Vồ nói thế, Lê Xuyên càng ngạc nhiên: 'Mà chuyện chi chớ?' Minh Vồ cười một tràng lớn rồi oang oang nói: 'Hôm Thứ Bảy tao lái xe ngang trường Hai Bà Trưng, tao thấy mày chạy xe Vespa yên sau chở một em thơm như múi mít, thơm hơn em Phấn trong Chú Tư Cầu của mày, nó ôm eo ếch mày, duỗi cặp giò trường túc trắng muốt. Tao còn nhớ nó mặc mini-jupe ngắn lòi cả cái quần xì-líp màu hồng, lông nách nó thì bay phất phới, phất phới!' Giọng Minh Vồ bình thường vốn đã lớn, nhưng có lẽ nhằm chủ đích chọc Lê Xuyên, nên anh càng cố nói oang oang cho cả quán cùng nghe, khiến ai cũng quay nhìn về phía bàn chúng tôi.

“Lúc đó Lê Xuyên mặt đỏ gay, đứng dậy không kịp chào ai, bước vụt ra xe Vespa phóng một mạch. Minh Vồ đắc ý cười hô hố, quay nói với tôi: ‘Ðó cậu thấy tôi nói có sai đâu! Lê Xuyên viết văn thì dữ dằn như thế, nhưng ngoài đời hắn còn hiền hơn cả mấy ông thầy tu nữa!'” (Bđd).

Bản chất nghiêm túc, hiền lành của “Chú Tư Cầu,” cũng được nhiều bạn văn của “Chú Tư Cầu” đề cập. Như trong bài viết “Nhà văn Lê Xuyên những ngày cuối đời” của Văn Quang, có đoạn:

“... Thỉnh thoảng tôi đưa bài đến báo Thời Thế, đôi khi vào buổi trưa, tôi lại rủ Lê Xuyên đi ăn trưa, hôm có tiền thì chui vào Chợ Lớn ăn cơm Tàu Bát Ðạt. Có lần tôi rủ:

- Chúng tớ có cái phòng thuê ở trên lầu ba để thỉnh thoảng chơi phé, lấy tiền xâu gửi lại tay quản lý nên bất cứ lúc nào cần phòng là có ngay. Ông có muốn nằm lại đây một buổi không?

“Bản tính anh hiền lành nên hỏi lại:

- Nằm làm gì, tôi phải về làm việc chứ.

- Ông ngây thơ thật hay ngây thơ cụ, ông cứ lên với tôi là biết ngay ‘nằm làm gì’. Ông muốn Tàu cũng có mà ta cũng có.”

Dĩ nhiên đến nước này thì ông bạn tôi phải hiểu, nhưng ông lắc đầu quầy quậy như anh con trai mới lớn bị bà mẹ bắt lấy vợ sớm. Tôi đưa ông trở lại tòa soạn và xác nhận với anh em rằng ‘Lê Xuyên nó đứng đắn thật các ông ạ.’” (8)

Tuy nhiên, ở mặt khác, mặt cư xử, ăn ở với bạn bè thì căn cứ theo hồi ký của nhà văn Nguyễn Thụy Long, cũng như trong bài viết về những ngày cuối đời của “Chú Tư Cầu,” nhà văn Văn Quang kể lại chuyện, một ông tướng vùng bị nhật báo Thời Thế đăng tải phóng sự điều tra về tội tham nhũng của ông ta. Ông tướng này nhờ một ông đại tá, một trung tá đi gặp nhà văn Văn Quang để xin tờ Thời Thế chấm dứt loạt bài điều tra tham nhũng đó. Chẳng đặng đừng, nhà văn Văn Quang phải điện thoại cho “Chú Tư Cầu” khi đó là tổng thư ký báo Thời Thế, nhờ giúp đỡ. Bằng vào tình bạn giữa hai người “Chú Tư Cầu” nhận lời với điều kiện phải để ông “thu xếp với anh em” trước đã...

Sau đó, ông Văn Quang gọi điện thoại cho chủ nhiệm Hồ Anh, lúc ấy ông mới biết, trước ông, đã có 2 thượng nghị sĩ, dân biểu can thiệp, nhưng Lê Xuyên vẫn thản nhiên cho đăng tiếp. Và:

“... Ông Hồ Anh bảo tôi cứ nói chuyện với Lê Xuyên, nếu anh ấy chịu thì không có gì trở ngại.

“Chỉ có thế thôi. Rất bất ngờ, hôm sau tôi đọc được hàng chữ trên trang nhất: ‘Vì có người bạn chúng tôi can thiệp nên chúng tôi thấy cần phải chấm dứt loạt phóng sự này’. Quả thật đó là điều khiến tôi hết sức cảm động và ngay lúc đó tôi trở nên áy náy vì biết đâu đó là một sự thật mà công sức của anh phóng viên trẻ đã bỏ ra bị tôi ‘kỳ đà cản mũi’. Tôi gọi lại cho Lê Xuyên, anh chỉ cười: ‘Thông cảm với phóng viên rồi, nó bảo ngưng cũng được, viết thế đủ rồi.’” (Bđd)

Ðoạn cuối bài viết của mình, nhà văn Văn Quang ghi:

“Buổi chiều ngày 5 tháng 3 (2004), đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa người quá cố đến nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh. Ðám tang nhà văn Lê Xuyên không ồn ào như đám tang của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những ‘nhà nghệ sĩ lớn’, nhưng những con người thầm lặng ấy đưa tiễn anh với tất cả tấm lòng mình. Họ không nói gì, không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh Công Sơn, không có những giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca nghệ sĩ, không có những bài 'điếu văn' lâm ly bi đát, nhưng đám tang Lê Xuyên đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương, tám hướng lãng đãng bay về phủ kín khung trời Sài Gòn.” (Bđd)

...

Tôi nghĩ không thể có một vòng hoa nào trân quý, xứng đáng hơn vòng hoa mà đám đông thầm lặng đã dành cho tài hoa và, nhân cách chói lòa của nhà văn Lê Xuyên/Lê Bình Tăng.

(Tháng Ba 2016)

Chú thích:

(8) Nguồn Wikipedia-Mở
Duy An
#2922 Posted : Wednesday, April 6, 2016 1:33:35 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Trường hợp bài thơ “Còn chút gì để nhớ”



Nguyễn và bạn hữu


Vũ Hữu Định (1942-1981), tên thật Lê Quang Trung, là một nhà thơ nổi tiếng. Tên tuổi của ông gắn liền với bài thơ “Còn chút gì để nhớ”, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc năm 1970 thành ca khúc cùng tên. Vũ Hữu Định làm thơ đăng báo từ khoảng thập niên 1960, với bút danh Hàn Phong Lệ, về sau đổi thành Vũ Hữu Định. Tên Vũ Hữu Định bắt đầu phổ biến cùng với bài thơ “Còn chút gì để nhớ” của ông.

Vũ Hữu Định vào đời sớm, lập gia đình sớm và sống nghèo trong suốt quãng đời ngắn ngủi của mình. Ngoài làm thơ, ông từng làm cán bộ Xây Dựng Nông Thôn ở Đà Nẵng. Sau biến cố 1975, ông ở lại Việt Nam và bị đưa đi học tập cải tạo 1 tháng. Vũ Hữu Định được biết đến là một người mê rượu, tuy nghèo nhưng có máu giang hồ, tính tình phóng khoáng. Ngày 3 tháng 4 năm 1981, sau 1 chầu rượu với bạn bè, ông bị té lầu và qua đời, hưởng dương 40 tuổi.

Bài thơ Còn Chút Gì Để Nhớ viết năm 1970, khi nhà thơ sang thăm 1 người bạn ở Pleiku. Cùng năm này, bài thơ được đăng báo Khởi Hành của Viên Linh và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc, rồi trở nên phổ biến với giọng hát Thái Thanh. Ca khúc được phổ theo nhịp 3/4, điệu Boston, lời thơ vẫn giữ nguyên với khổ thơ cuối được nâng lên thành cao trào.

Còn một chút gì để nhớ

Phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên
VHĐ


Bản nhạc và bài thơ được nhiều người ưa thích và sống mãi tới bây giờ. Đã có nhiều nhà văn viết về nó cùng với địa danh Pleiku Phố Núi. Trong số đó có Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Mạnh Trinh, Du Tử Lê.



tranh Đinh Cường



Nguyễn Đình Toàn

Rất nhiều người yêu bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ của Vũ Hữu Định, vì được nghe qua nhạc Phạm Duy (năm 1970). Nghe rồi mới đọc. Nhiều khi cũng không phải là đọc nữa. Người ta nghe và thuộc lời ca của bản nhạc, từ đó nhớ lại rồi khám phá ra cái hay của bài thơ, cái hay của từng chữ trong bài thơ.

Trước khi có bài thơ của Vũ Hữu Định, không biết có bao nhiêu người đã ước ao được đến Pleiku. Nhưng sau khi bài thơ được phổ nhạc và hát lên, số người muốn được đặt chân, được nhìn thấy tận mắt cái phố núi ấy, không thua gì số người muốn nhìn thấy Thôn Vỹ Dạ vì đọc thơ Hàn Mặc Tử. Có lẽ người nào đó đã nói đúng khi cho rằng, một thành phố dù đẹp đến đâu, nếu chưa được đưa vào văn thơ, âm nhạc, hội họa... cũng kể như nó chưa có linh hồn vậy. Và một tác phẩm hiện hữu hay tồn tại được hình như cũng có những cơ duyên của nó.

Phạm Duy cho biết, ông gặp Vũ Hữu Định ở Pleiku trong một chuyến đi tìm cảm hứng cho cuộc sống của riêng ông và nhất là tìm hiểu tâm trạng những nhà thơ trẻ, đại đa số khi ấy đang đi lính. Phạm Duy cho biết ông đã chọn và phổ nhạc bài thơ của Vũ Hữu Định không thêm bớt một chữ nào. Ông cũng giữ nguyên vẹn cấu trúc [structure] cũng như vận tiết [prosodie] của bài thơ. Ông chỉ dùng một thanh âm có bán cung của dân ca Jarai hay Bahmar để gợi cái không khí cao nguyên và một chuyển giọng [tonalité] ở đoạn cuối để cho bài ca có thêm màu sắc.

Ca khúc Còn Một Chút Gì Để Nhớ thành công thế nào mọi người đã biết. Có thể nói, không một ca sĩ tên tuổi nào của chúng ta khi ấy lại không có lần trình bày bài hát này. Và, nghe rồi, người ta hẳn cũng có lúc tự hỏi, nếu không có nhạc của Phạm Duy, liệu bài thơ có thể phổ biến mau chóng và rộng rãi như vậy chăng? Câu hỏi ấy, dù có bao nhiêu câu trả lời cũng không ích gì. Ta có một bài thơ hay rồi lại có một bài hát hay, đó chưa đủ là một điều thích thú sao? Thắc mắc nữa mà chi?


Nguyễn Mạnh Trinh

Bài thơ về phố núi Pleiku của Vũ Hữu Định với nhạc Phạm Duy đã tạo một thành phố nhỏ nơi xó rừng thành một nơi chốn đầy huyền thoại, vừa lãng mạn vừa bi tráng. Ở đây, có những chuyện về Bà Chúa Rừng linh thiêng, có những mối tình y như tiểu thuyết của những người lính trận và những cô gái giang hồ. Thời chiến tranh cực độ, phố núi là nơi dưỡng quân của những chàng G.I. từ mặt trận biên giới trở về và cũng là nơi mà các nàng kiều nữ từ khắp nơi đổ về kiếm tiền.Và, cũng chính nơi đây, là nơi nghỉ phép của những chàng lính chiến từ biên trấn. Rượu, ăn chơi, nhảy nhót, cho quên sầu để rồi trở lại chiến trường, ở đó có những mối tình giang hồ nhưng cũng có những mối tình lãng mạn trong trắng.

Ở đó, cũng có con đường Trịnh Minh Thế rợp bóng cây dầu, cây sao, những giờ đi học hay tan học tung tăng những tà áo trắng nữ sinh trong cái mù sương buổi sáng hay nhạt nắng buổi chiều. Pleiku, “phố xá không xa nên phố tình thân. Đi dăm phút đã về chốn cũ...” Con đường Hoàng Diệu từ rạp Diệp Kính đến Bưu Điện, chỉ vài phút đi lên đi xuống để cho đời còn mơ còn mộng, còn thấy hạt nắng dễ thương, hạt mưa tuy buốt lạnh nhưng lại ấm lòng vì đôi mắt em. Dù nơi đây suốt năm là mùa đông tháng giá nhưng má đỏ môi hồng em làm ấm mùa xuân. Và:

“xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.”



Du Tử Lê

Địa danh hay nơi chốn thường chiếm giữ một vị trí đáng kể trong thi ca Việt Nam. Thí dụ như “Thăng Long thành hoài cổ” của bà Huyện Thanh Quan, hay “Đôi mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng. Hoặc gần hơn nữa là “Còn chút gì để nhớ” của Vũ Hữu Định, vân vân…

Nhiều người cho rằng, nếu không kể những áng văn chương cổ mà chúng ta phải học, đọc thì số người biết đến “Đôi mắt người Sơn Tây” sẽ không nhiều lắm, nếu nó không được soạn thành ca khúc bởi nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cũng vậy, số người yêu “Còn chút gì để nhớ” của nhà thơ Vũ Hữu Định sẽ giảm nhiều, nếu không có phần nhạc của Phạm Duy.

Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quên căn bản những bài thơ được các nhạc sĩ tìm tới, chọn để soạn thành ca khúc, tự thân đã vốn có những đặc điểm mà các bài thơ khác không có.

Hơn thế nữa, khi bài thơ “Còn chút gì để nhớ” của cố thi sĩ Vũ Hữu Định vỏn vẹn chỉ có 4 khổ mà ông đã vẽ được bằng ngôn ngữ “chân dung” rất riêng của Pleiku, một thành phố cao nguyên miền Nam.
Duy An
#2923 Posted : Thursday, April 14, 2016 4:53:53 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)


Mưa đầu Xuân


Bùi Bích Hà

Bây giờ ở Việt Nam đang là cuối Xuân đầu hạ. Hôm qua, ngày âm lịch là mùng 3 tháng 3, tiết Thanh Minh. Ở quê nhà ngày xưa, chập này các nghĩa trang tấp nập người lui tới, khệ nệ mang theo lễ vật cúng mộ thân nhân. Đèn nhang, hoa, trái, xôi, gà, đồ mã cho người đã khuất, cả lễ vật tam sên và rượu trắng để cáo thổ thần thổ địa, tạ ơn bảo vệ người dưới mộ tuy không lạc nghiệp nữa nhưng cũng cần an cư.

Đó đây trong các nghĩa trang, bóng vợ hiền, con thảo lui cui bày biện, khấn khứa trong làn khói hương mờ ảo. Trước đó, họ đã lui cui nhổ cỏ khắp bốn xung quanh, lau rửa mộ chí, có khi sơn phết lại, quét sạch rác và lá khô rơi rụng khiến những nấm mộ được chăm sóc nhân tiết Thanh Minh hớn hở trút bỏ nét đông xuân vội vàng, ủ dột, khoác lên mình xiêm áo mới. Lũ trẻ loắt choắt, nghèo đói, chân đất, quần cụt, áo rách bươm, mặt mũi sạm đen, tóc cháy nắng vàng khè, khô như rơm, sống trong ngôi làng gần nghĩa trang, mỗi năm một lần, chờ đón ngày này để túa ra như ong vỡ tổ. Chúng chạy nhanh như những con chuột ngày giữa các hàng mộ đang có thân nhân khấn khứa, sì sụp lễ, chỉ chờ nhang tàn và ánh mắt cho phép của gia chủ là chúng xô vào nhau giành giật đồ ăn. Người lớn gọi chúng là đám cô hồn sống.

Thật ra theo tục lệ, nhà nào cũng vui lòng ban phát phẩm vật đã dâng cúng thân nhân cho lũ trẻ thèm ăn như một cách bố thí để cầu phước. Người Huế gọi nghi lễ này là “chạp mộ.” Người miền Bắc gọi là “tảo mộ.” Sinh ra và lớn lên ở Huế tới tuổi ngoài hai mươi, Thanh Minh với tôi là tất cả những gì tôi vừa kể theo trí nhớ mình, thực sự chưa một lần nào được chiêm ngắm cảnh trí ngày hội Đạp Thanh nô nức như mô tả trong truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du: ...Thanh minh trong tiết Tháng Ba, Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh, Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi Xuân, Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nen, Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay... Không biết có nơi nào khác trên quê hương chúng ta Thanh Minh đẹp và náo nhiệt như vậy không hay đại thi hào của chúng ta đã chỉ mô phỏng từ câu chuyện Thanh Tâm Tài Nhân của Trung Hoa, xảy ra tại một địa danh đâu đó mà bây giờ ở tuổi cổ lai hy, tôi nghiệm ra, thấy được, lồng trong cảnh trí nên thơ dưới ngòi bút tài hoa của cụ Tiên Điền, cái hay, cái mới lạ và nhân bản, đã kết nối, diễn đạt, không thể nào toàn vẹn hơn sự sống và sự chết luôn kề cận nhau như bóng với hình, như ngày với đêm.

Chẳng phải cũng chính ở một nơi có những huyệt mộ im lìm chôn giấu những người đã khép mắt, xuôi tay vĩnh viễn rời bỏ cõi đời này mà duyên nợ đa đoan bỗng khiến xui Kim Trọng nhác thấy “hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa,” mở màn cho cuộc tình oan trái làm rơi nước mắt nhiều thế hệ hậu sinh ư? Thế kỷ 20, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lời cho một bản thiền ca của ông với ý niệm tử sinh như nhân gian thường cảm nhận: ...Người đi trong không gian, nhịp xe uốn vòng tử sinh. Bánh xe tang ngoại ô, chiếc nôi trong vườn hoa... Nơi này trái vừa hái, bông hoa vừa tàn rơi, nơi kia nụ non, lộc biếc chào đời. Và như thế, đời sống vừa tươi mới vừa cạn khô, như mặt đất vừa thấm mưa rồi sẽ thấm nắng, liên lỷ trong thời gian vô tận của Thiên nhiên huyền nhiệm không có lúc bắt đầu, không có lúc kết thúc so với vòng quay ngắn ngủi đời người.

Nửa đêm chủ nhật, thức giấc trong tiếng mưa rơi nhẹ bên ngoài cửa sổ, xao xác, buồn ơi nỗi nhớ nhà! Nằm gắng, lắng nghe tiếng cơn mưa xuân thì thầm lẫn với tiếng thở của chính mình trong đêm vắng, hình dung ra sự mong manh của kiếp người. Lại chợt nhớ Thiền Ca Phạm Duy: “Người đi trong không gian, thở hơi gió từ ngàn năm,” thân tứ đại ủ gió trong từng tế bào tràn trề sức sống nên mong manh cũng là vững chãi. Sáng sớm ra vườn, những sợi mưa trong veo vẫn còn lướt thướt mái hiên và trên những tàu cau nhà hàng xóm. Thảm cỏ Augustin vừa trở lại lấm tấm màu xanh mạ non, có vẻ sởn sơ dưới cơn mưa đầu xuân. Mấy bụi hồng uống no nước, có cành sà thấp gần chạm đất, mang nặng đâu kém mẹ hiền chín tháng cưu mang? Cận ngày sanh nở, mẹ nghèo vẫn quang gánh ì ạch, lần từng hạt gạo cho bữa cơm chiều. Mẹ ít nghèo hơn vẫn tay nâng bụng, tay vịn cầu thang để tới chỗ ngồi làm việc, chắt chiu ngày nghỉ cho con thơ cần mẹ nhiều hơn 8 tuần hộ sản. Ở Mỹ, văn minh và tiện nghi nhất thế giới thì cả hai mẹ con đều cố thu mình trên ghế lái, cho mẹ chạy nốt những chuyến đi/về làm cuối của thai kỳ.

Trời mát. Tiếng đàn sẻ ríu rít mừng mưa sau những ngày khô nỏ, lông lá như quần áo cũ treo trong tủ lâu ngày bám bụi, sáng nay được mẹ trời tắm giặt sạch sẽ. Một chú hay một cô không biết chim gì, có mào nhọn trên đầu, cổ khoang màu nâu đậm và nâu nhạt, tung tăng nhẩy trên bờ tường, một mình mà xem ra hạnh phúc lồ lộ. Không biết giữa người và chim, phía nào tán thưởng tự do nhiều nhất nhỉ? Hình như chim vì lồng son, cóng sứ không làm chúng vui, cũng không cầm chân chúng, sểnh cửa là chúng bay vút đi ngoại trừ đàn chim két ở Disneyland đã bị tẩy não và được huấn luyện để trở thành những con thú nhỏ trình diễn giúp vui quần chúng. Chim một mình vẫn ca hát véo von cùng mặt trời. Người một mình hay ủ rũ than thân trách phận nhưng hai mình chưa chắc đã vui.

Tôi ở Cali 30 năm, rất ít kỷ niệm với mưa Cali. Tất nhiên vì Cali ít mưa, chưa kể 4 năm nay, Cali bị hạn hán nặng. Có những ngày bầu trời ẩm sẫm, tưởng chừng sẽ mưa nhưng rồi đến xế trưa lại hửng nắng. Chẳng bù với Huế của tôi những năm xưa mưa thối đất, những cơn mưa ào ạt, những cơn mưa dai đẳng, buồn thê thiết, trẻ con đi học cả ngày mình mẩy. quần áo không bao giờ khô. Tôi rất quen với những đêm mùa đông rét mướt ngồi học bài khuya rồi đi ngủ trong tiếng mưa rơi không ngớt ngoài vườn, thỉnh thoảng ì ọp tiếng vài con ễnh ương kêu ở bờ ruộng trước mặt nhà, đem nỗi quạnh hiu và tịch mịch vào lòng. Bây giờ, căn nhà tôi ở rất gần với sông Santa Ana. Hai chiếc cầu bắc qua sông trên đường Fairview và đường First hiếm khi được soi bóng nước vì lòng sông cạn khô, trắng xóa xi măng, khiến tôi nhớ sông Hương ở cái thành phố làm nên tuổi thơ của tôi mà bây giờ nhớ về nó, tôi hình dung ra cả cái bụng sông tưởng chừng êm ả nhưng sâu bên dưới, nước cuồn cuộn bên này bên kia bờ. Tôi đã bao nhiêu lần đi trên những chiếc cầu bắc qua những dòng sông riêng biệt ở quê hương, tay vuốt mặt hai mùa mưa nắng, những giọt mồ hôi và những giọt lệ trời, không biết có một dòng sông vô hình khác mải miết cuốn đi năm tháng của đời mình cũng hệt như nước chảy chân cầu, chẳng biết trôi về đâu, tới đâu?

Tôi đã đi qua và dừng lại, có những buổi sáng, buổi chiểu ngồi trên bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Cửu Long, yêu cuộc đời nồng nàn hương vị và sức sống của dân tôi thể hiện đậm nét trên các con sông ấy những năm tháng yên bình, những năm tháng chiến tranh, một sức sống hồn nhiên, vạm vỡ, bền bỉ, kiên trì, chạm mặt và giải quyết mọi thử thách hàng ngày không một lời than vãn. Xa quê hương rồi, những dòng trường lưu quê người nghe chừng mênh mông hơn, hung hãn hơn nhưng cũng xa vắng hơn và vô cùng lạ mặt, làm gì có cảnh trên bến dưới thuyền thương buôn mua bán tấp nập, tiếng nói, tiếng cười, tiếng kêu réo sải đi trên sông nước màu mỡ phù sa. Giữa dòng, những đoàn ghe máy chở khẳm nối vào nhau chậm rãi trôi, khói thổi cơm chiều từ cái cà ràng phía sau tỏa bay mùi cơm gạo mới, mùi khô nướng, mùi tép rang thơm quen làm cồn cào gan ruột và làm thèm chảy nước miếng.

Tôi ngồi đây, là một trong những khán giả còn lại của sân khấu đời sắp vãn cuộc, nhìn nhiều cảnh trí thay đổi, nhiều diễn viên ra vào sàn diễn đã làm xong vai trò của họ và vẫy tay chào tạm biệt. Mỗi người ra đi, lui vào hậu trường lần cuối, mang theo một chút gì của tôi có lúc buồn vui cùng họ nên sự hao hụt ngày càng nhiều, tiếc thương ngày càng chồng chất và nhớ nhung khôn nguôi.

Cảm ơn cơn mưa đầu xuân sáng nay, đến như một người bạn cũ thân tình. Dù vóc vạc, dung mạo, ngôn ngữ ít nhiều đã khác nhưng chút tình cố cựu và sự chia sớt dịu dàng vẫn còn nguyên vẹn giành cho nhau, giây phút này cũng sẽ là mãi mãi...

1 user thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2925 Posted : Thursday, April 28, 2016 10:13:44 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Di chúc Bắc kỳ tự do


Tuấn Khanh -
April 26, 2016



Câu chuyện kỷ niệm 60 năm về hành trình đến miền Nam của hơn một triệu người trôi qua lặng lẽ. 20 tháng 7, 1954 trở thành lịch sử thế giới, nhưng chưa bao giờ đủ với những câu chuyện kể về số phận và suy nghĩ của riêng người Việt. Tôi chờ đọc một áng văn nào đó, nói về suy nghĩ của những người miền Nam khi nhìn thấy dòng người Bắc Kỳ này, khi họ đến đồng bằng, chảy về thành phố, nhưng không thấy. Tràn ngập những bài viết chỉ là nỗi nhớ tha hương, là ký ức và lòng kiêu hãnh của những người tìm tự do từ phía Bắc. Vì vậy, tôi muốn ghi ra chút ít ở đây, về cái nhìn của một người miền Nam, về cha mẹ, ông bà của bạn bè Bắc Kỳ, dù họ còn hay đã mất.




Đi tìm tự do


Hai tiếng “Bắc Kỳ” xuất hiện trên miệng trẻ con miền Nam, và cả của tôi, suốt một thời gian dài, chỉ là sự trêu chọc bạn bè cùng lứa, vì một kiểu ngữ âm rất khác mình. “Bắc Kỳ” trong ký ức từng là một tâm cảm bị ám thị, thiếu thiện cảm hơn cả khi so sánh với “Ba Tàu”. Chỉ khi tạm đủ chữ trong đầu, biết thêm về đất nước này, hai chữ “Bắc Kỳ” trong tôi mới thật sự thay đổi. Có lẽ cũng giống như tôi, nhiều người miền Nam hời hợt kỳ thị đã tự làm cho mình bớt xấu hổ bằng cách lập ra những hạng mục khác như Bắc kỳ 9 nút (54), Bắc kỳ 2 nút (75)… để bày tỏ rõ hơn trong nhìn nhận.

Nhưng không đủ.

Phải mất đến hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra rằng không hề có một giai cấp nào trong đồng bào miền Bắc của đất nước mình, mà chỉ có một cuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả như vậy. Ở mọi miền, Nam hay Trung hay Bắc, người ta cũng đều có thể nhìn thấy kẻ vô lại trong giống nòi, nhưng sự khó khăn nhìn nhận luôn thường dành cho phía Bắc, như một ám chỉ về một vùng đất phải chịu sự khác biệt về chính trị trong nhiều năm, như đã ám toán mọi sinh lực sống bình thường của con người.

Tôi nhận ra điều đó, ở một ngày khi thấy chung quanh mình có rất nhiều bạn, kể cả thầy cô, là những người Bắc mà tôi tin cậy. Họ đại diện cho những người “Bắc kỳ” mạnh mẽ, vượt qua số phận và hoàn cảnh của mình để không bị đè bẹp, không hèn hạ hoặc chết, như F. Nietzsche đã viết “những gì không giết được chúng ta, sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn” (That which does not kill us makes us stronger).



Đi tìm tự do


60 năm của những người Bắc di cư vào Nam, cho tôi và thế hệ của mình được nhìn rõ họ hơn, nhắc tôi phải nói về một bản di chúc lớn, một bản di chúc vĩ đại mà hơn một triệu người từ bến tàu Hà Nội, Hải Phòng… mang đến cho cả đất nước. Bản di chúc cũng được lưu giữ trong mắt, trong lời nói của từng người Việt tha hương khắp thế giới: bản di chúc về tự do.

Cả miền Nam sau 1954 cần phải có một lời cám ơn văn chương Bắc Kỳ, âm nhạc Bắc Kỳ, báo chí Bắc Kỳ… đã góp tay dựng lên một nền văn hóa của cả đệ nhất và đệ nhị cộng hòa của miền Nam. Nền văn hóa ngắn ngủi nhưng đủ trường tồn và mạnh mẽ vượt qua một chướng ngại, tồn tại trong lòng người từ sau 1975 đến nay, ở Việt Nam và trên cả thế giới. Cùng với những người anh em từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, những người Bắc đó đã làm tất cả để bù đắp, để dựng xây… cho thỏa sức, việc họ phải rời bỏ rất xa quê nhà, thậm chí trơ trọi, chỉ để đổi lại hai chữ tự do.

Rất nhiều năm sau đó, con cháu của những người Bắc 54 cũng lớn lên ở miền Nam hay vượt đại dương đến nơi nào đó, không ít người trong họ vẫn âm thầm mang theo một bản di chúc có thể sống mãi đến nhiều thế hệ sau về tự do, và chọn lựa vì tự do. Trong một lần ở Mỹ, tôi nghe phát thanh viên của một đài radio người Việt bình luận về một nỗi nhớ quê nhà Hà Nội. Nhớ con đường quanh Hồ Gươm, nhớ con hẻm có bán canh bún nhỏ… Giọng Bắc của anh ta trầm buồn như mới ngày hôm qua còn nhìn thấy những thứ đó, trong khi tôi biết rõ anh chưa về Việt Nam một ngày nào, kể từ tháng 4/1975. Sau lần phát thanh đó, gặp anh, tôi trêu là sao anh nói cứ như là cứ vừa ở Việt Nam về. Đột nhiên giọng anh trầm lại “Phải cố gắng nhớ dù chỉ là tưởng tượng lại. Phải nhớ như nhớ lời của ông bà mình xua mình xuống tàu, trối dặn mình phải sống với tự do”. Tim tôi như thoáng ngừng đập trong tích tắc. Dòng người mờ ảo trong những cuốn phim tài liệu trắng đen về số phận Việt Nam chia cắt ập về. Tôi cũng nhận ra rằng bản di chúc tự do đó, không phải những người Bắc Kỳ chia cho nhau, mà còn chia lại cho tôi, cho bạn, cho cả dân tộc này. Từng người chúng ta đã được nhận. Chọn lựa mình hôm nay khốn nạn hay tử tế, là do mình đã không chịu nhìn thấy di sản của cha ông gửi lại, qua bản di chúc không thành văn này.

Tôi nhìn thấy người bạn trẻ của tôi, con một người Bắc di cư, nay sống ở Biên Hòa. Anh đưa lên facebook một tấm ảnh kỷ niệm 60 năm người Bắc xuống tàu vào Nam. Khi bên ngoài người ta nói về những điều lớn lao như hiệp định Genève và các chính quyền, thì cũng có một dòng người không nhỏ đưa lại những hình ảnh thuộc về con người như vậy. Có những tấm ảnh khiến mình phải lặng đi khi thấy cụ già bước gấp vào Nam, hành lý trên tay quý nhất chỉ là tấm hình Đức Mẹ. Người bạn trẻ của tôi đưa lên tấm ảnh người ta chen chúc chia tay nhau ở một bến tàu. Khó mà biết được ông bà hay cha mẹ của anh đã có mặt ở đó hay không, trong những chấm li ti như cát bụi. Bản thân người bạn trẻ đó thì giờ cũng là phần li ti trong hàng triệu người Bắc 54 đã lớn lên, đã thành đạt ở miền Nam này hôm nay.

Và tôi nhận ra rằng, bản di chúc tự do đó cũng vẫn đang âm thầm trong anh, như bao phần li ti khác đang trổi lên, trên đất nước này.
2 users thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 5/3/2016(UTC), thunder on 5/23/2016(UTC)
phamlang
#2926 Posted : Tuesday, May 3, 2016 6:51:09 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Trần Tế Xương và Hát nói





Cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, nhà thơ non Côi sông Vị theo gương bậc đàn anh dấn thân vào “cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy, nếu không chơi thiệt ấy ai bù” mà Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ đã từng hô hào. Nhưng nhà thơ thế hệ sau đã khẳng định một cách cụ thể hơn, bộc lộ hơn với những dòng tâm sự vừa trào lộng vừa chân tình:

Một trà, một rượu, một đàn bà.

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được thứ nào hay thứ ấy

Có chăng chửa rượu với chừa trà!


Non Côi (Núi Côi ở huyện Vụ Bản, Nam Định), sông Vị (sông Vị Hoàng chảy ngang qua thành phố Nam Định) chính là quê hương của Trần Tế Xương hay Tú Xương (1870-1907).

Nhà thơ nổi danh với những bài thơ trào phúng, không hề giấu giếm bản chất tài tử của mình và coi thất bại trong lãnh vực khoa danh như những kỷ niệm tuy chua chát dẫn tới cảnh nghèo và sự bất đắc chí nhưng chẳng hề làm giảm men say sống vội trong buổi cái học nhà nho đã suy đồi tới mức “mười người đi học chín người thôi”.

Nhà thơ với giọng tự hào giới thiệu chân dung bản thân:

“Có một thầy:
Dốt chẳng dốt nào;
Chữ hay, chữ lỏng.
Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu
Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng…


Tú rốt bảng trong năm Giáp Ngọ, nổi tiếng tài hoa. Con nhà dòng ở đất Vị xuyên ăn phần cảnh nọng.”

“Hay hát hay chơi” nên ở vị trí thi hào kết thúc thế kỷ 19, sau nhiều cuộc bể dâu, sau bao nhiêu lần ra vào các khu ăn chơi của thành Nam như Năng Tĩnh, Hàng Thao, Trần Tế Xương đã để lại hàng chục tuyệt tác hát nói cho hậu thế.

Theo các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Trọng Huề và Đỗ Bằng Đoàn thì các bài nổi tiếng của Tú Xương được các đào nương thanh sắc ngày ấy thường ca theo cung đàn, nhịp phách và giữa lúc tài tử phong lưu phóng túng hình hài, phải kể các bài sau đây: Đánh tổ tôm, Hát Cô đầu, Thi hỏng, Ngẫu chiếm, Diễu bạn, Câu đối ngày tết, Cảnh tết nhà cô đầu.. .

Lại thêm một bằng chứng thơ văn gắn bó với chân dung người sáng tác. Qua thơ văn của Tú Xương có thể thấy tâm sự và cốt cách mà nhà thơ tự hào là “giang hồ khí cốt.”

Trần Tế Xương vừa là một nhà nho bất đắc chí, đam mê trong buổi tráng niên và cũng là bậc tài hoa nên chủ trương cuộc sống phong lưu hưởng thụ cả thú vật chất lẫn tinh thần. Ông miệt mài trong cuộc truy hoan và khi dấn thân vào đam mê thì hẳn không quan tâm đối tượng giúp ông quên đời là đào rượu hay đào hát mà tất cả dưới mắt ông họ là những giai nhân.

Ông không hề giấu giếm thú vui mà ông gọi là thú cô đầu:

Cái thú cô đầu nghĩ cũng hay
Cùng nhau dan díu mấy đêm ngày
Năm canh to nhỏ tình dơi chuột
Sáu khắc mơ màng chuyện nước mây
Êm ái cung đàn chen tiếng hát
La đà kẻ tỉnh dắt người say
Thú vui chơi mãi mà không chán
Vô tận kho trời hết lại vay


Trần Tế Xương thường than nghèo và thừa biết cái nghèo là hậu quả của “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy” và cũng là hậu quả của lối sống của người tài tử, quen thói phong lưu:

Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh.

Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bí tất tơ, giày Gia định bóng.

Giá cứ chăm nghề nghiên bút thì mười lăm, mười sáu đỗ những bao giờ.

Chỉ vì quan lối thị thành nên một tuổi, một giá hóa ra lóng đóng!

Do đó, ngay cả lúc “phách ngọt đàn say” bên những “Hồng
Hồng, Tuyết Tuyết,” cảm giá “đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng” vẫn ám ảnh thi nhân.

Thử đọc lại tâm sự của ông trong một bài hát nói có chủ đề là hỏng thì thì sẽ rõ mối u hoài trong tâm trạng nhà thơ non Côi sông Vị. Ở đó nhà thơ tài hoa vừa bày tỏ nỗi chán nãn, vừa tự an ủi nhưng cũng không giấu sự kiêu ngạo của kẻ tài ba kém may mắn và tính ngông nghêng giễu kẻ phàm phu tục tử nhờ may mắn hay thế lực tiền tài mà tên chiếm bảng vàng:

Trăm kiếp khổ gì hơn thi hỏng
Hỏng khoa này khất vợ gắng khoa sau
Miệng cười vui, bụng ngậm ngùi đau
Câu khiển hứng ra màu cảm khái
Cũng có lúc ngoảnh đầu toan cãi
Hỏi ông xanh sao lại thế này ư?
Đã sinh ra, chân không què, tai không điếc, mắt không mù
Nợ trần thế trả bù chi mãi mãi
Ừ bĩ, thái, lẽ trời cũng phải
Lạy ông xanh trang trải chóng đi cho
Cuộc công danh nhỏ nhỏ, to to
Trang trắng nợ, kéo một hò lên vận đỏ
…Mở sách ra tính tính, toan toan
Rút cục lại đã thua ai ngàn với vạn
Thôi chẳng qua mai vi tảo, cúc vi trì, hạnh vi vãn

Cuộc trung niên còn chán cái phong lưu
Rồi cũng cờ, cũng biển, cũng võng, cùng lọng, cùng hèo
Cũng giương mắt ếch, vểnh tai mèo trong cõi tục
Trong thiên hạ một trăm người, chín mươi chín người mắt đục
Dù ai khen, ai khúc khích mặc thay ai
Ai ơi, cố lấy kẻo hoài


Và ông đã từng trong cuộc hành lạc, nơi lâu hồng, gác tía mang tài nhả ngọc phun châu trút tâm trạng kẻ sĩ thất chí trong một bài hát nói nổi tiếng là bài Hát cô đầu do ông sáng tác lời ca và cũng là kẻ cầm trống chầu cho đào nương buông tiếng oanh vàng thay ông dãi bày tâm sự:

Nhân sinh quý thích chí
Chẳng gì hơn hú hí với cô đầu
Khi vui chơi dăm ba ả ngồi hầu
Chén rượu cúc đánh chầu đôi ba tiếng

Tửu hậu khán hoa nhàn bất yếm

Hoa tiền chước tửu hứng vô nhai
Hỡi ai ơi chơi lấy kẻo hoài
Chơi cũng thế mà không chơi cũng thế
Của trời đất xiết chi mà kể
Nợ công danh thôi thế là xong
Chơi cho thủng trống long bồng


(Chú thích hai câu chữ Hán: Sau khi say ngắm hoa tha hồ không chán, trước hoa cất chén thì hứng thú vô cùng.)

Hành lạc vội vã, hành lạc ồn ào để tìm khuây khỏa tâm trạng sinh bất phùng thời lúc Nho học suy tàn và quốc biến gia vong, nhất là trước cảnh bề dâu diễn ra chung quanh ông:

Sông kia rầy đã nên đồng.

Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai

Đêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.


Tiếng ếch bên tai cũng như tiếng “quốc” mà nhà thơ Nguyễn Khuyến nghe đêm hè vắng phải chăng là tiếng vọng của quê hương, dân tộc đắm chìm trong ách ngoại xâm, và chúng luôn luôn ám ảnh tâm trí kẻ sĩ? Nếu Nguyễn Khuyến tìm quên trong chén rượu, câu thơ hay câu cá thì Tú xương cố gắng gạt bỏ mối bận tâm ưu thời mẫn thế để hưởng thú ăn chơi:

Thiên hạ có khi đang ngủ cả

Can gì mà thức một mình ta?


Nhưng xem ra bên ngoài thái độ say đắm hưởng lạc, lại bộc lộ chút gì gượng gạo của kẻ sĩ có hoài bão quốc gia. Ông gượng vui khi xuân về và viết câu đối dán tết. Mới đọc bài hát nói sau đây ai cũng tưởng chỉ lời hưởng xuân của một nhà thơ ngông ca tụng thú ăn chơi và tự hào về tài ba của mình. Nhưng thực ra là những lời tự diễu, tự trào và là tâm sự của một nhà nho thất thế, một kẻ sĩ vốn ưu thời mẫn thế, một tài tử lận đận trong buổi hoàng hôn của đất nước.

Đặc biệt ở bài này, nhân vật bà Tú “quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng” lại xuất hiện trong thơ Trần Tế Xương. Phải chăng đó là hình ảnh hạnh phúc, nguồn an ủi quan trọng nhất của ông trong cuộc sống tạm và ngắn ngủi có ba mươi bảy năm trời:

Nhập thế cục bất khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng húng hắng một vài bài
Huống thân danh đã đỗ tú tài
Ngày Tết đến cũng phải có một vài câu đối
Đối rằng:
Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?
Thưa rằng hay thực là hay
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài!
Xưa nay em vẫn chịu ngài…


(Giải thích hai câu đối chữ Hán:Phẩm giá cao nhất của thế gian là tình trăng gió, phong lưu nhất ở cuộc đời là cốt cách giang hồ).

Một nhà nho khác, một ông huấn đạo ở huyện An Phong, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) cũng có một bái hát nói kết cấu tương tự như bài trên:

Huyện An Phong có chàng huấn đạo

Ngồi một mình Huấn đạo mạo lên râu

Lối văn chương chấp chểnh giọng Tàu

Nghề đối đá giở một vài câu để vịnh.

Đối rằng:

Hoàng triều Tự Đức thiên vương thánh

Từ phủ An Phong huấn đạo thần

Huấn viết rồi huấn đọc vân vân

Hỏi “huấn cái” rằng hay chăng tá?

“Huấn cái” vỗ đùi khen tuyệt quá

Đối đá này ai họa cho ra

Có chăng “Huấn đực” nhà ta!

Tác phẩm trên của vị Huấn đạo hẳn ra đời trước bài Câu đối Tết của Trần Tế Xương vì hai câu chữ Hán trong bài đã nói rõ:

Hoàng triều Tự Đức thiên vương thánh

Từ phủ An Phong huấn đạo thần


(Dưới triều thánh đế Tự Đức, có bề tôi là huấn đạo phủ Từ Sơn, huyện An Phong)

Rõ ràng tác giả còn ca tụng một ông vua trong buổi đất nước trên bờ vực thẳm và nhà nho thành danh vẫn còn bấu víu lấy niềm tin ở triều đình và ở chính mình. Trần Tế Xương, trái lại trưởng thành khi đất nước suy vong, triều đình gần như hư vị. Vì thế câu đối tết của nhà thơ Vị Hoàng tế nhị hơn, qua nụ cười đã kết hợp sự cay đắng , chua chát và tâm trạng chán chường của kẻ sĩ không còn niềm tin vào bản thân và hy vọng vào tương lai của dân tộc mà đành chấp nhận tìm nguồn an ủi trong “phong nguyệt tình hoài” và duy trì “giang hồ khí cốt.”

So với tác phẩm của Trần Tế Xương thì bài sau không bằng vì chỉ là một bài trào phúng thuần túy, có chút tự hào, tự diễu bằng những lời dí dỏm dung tục. Vì thế chất trào phúng không sâu, chất trữ tình và quan hoài thế cuộc nông cạn, nghệ thuật giễu quá bộc lộ, làm sao có thể ví với bài Câu đối Tết của ông tú Non Côi- Sông Vị.

Hoàng Yên Lưu
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
CỏThơm
#2927 Posted : Wednesday, May 11, 2016 4:24:00 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)

.




giấc mơ buồn


Giấc mơ nào lại chẳng buồn
Em xa cuối nắng mưa tuôn ngang trời
Tôi cầm một chiếc lá rơi
Phía nào đã úa cho lời chia tay

Con đường và những hàng cây
Một mùa áo trắng vai gầy tóc nghiêng
Em là hình bóng rất riêng
Đi theo tôi suốt mấy miền bão giông

Giấc mơ đã chạm đáy lòng
Nỗi buồn cứ thế cháy không lúc tàn
Tôi về đi ngược thời gian
Đầu sông nhìn suốt mây ngàn dặm trôi

Hẹn em quay lại chỗ ngồi
Quán trăm năm chỉ mình tôi đợi người
Hoa xưa lòng héo ngoài tươi
Chiếc bình rạn vỡ, môi cười còn nguyên.



Từ Kế Tường









.
1 user thanked CỏThơm for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC)
Duy An
#2928 Posted : Saturday, May 14, 2016 11:40:19 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Đọc tùy bút Mai Thảo



Huyvespa là bút hiệu của Nguyễn Trường Trung Huy, một bạn trẻ sinh ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc 11 năm. Huy tự nhận là một kẻ mê đắm Sài Gòn. Em cho biết lý do: Saigon là một chốn tự-do-tự-thân, một nơi chốn dung nạp tất cả những ai đến với, thở cùng, sống lại, cho yêu, ra đi (và trở về)… Xét đến rốt ráo, Saigon là “một cõi ta bà, nơi mà nhà chùa nằm cạnh nhà thổ, trăm ngàn thứ chìm nổi, mặt tiền mặt hậu, đủ chủng tộc, đủ tôn giáo, đủ khuynh hướng, đủ giai tầng, đủ món ăn chơi, đủ lối chơi, đủ hẻm hóc, ánh sáng rất sáng, bóng tối rất tối, ánh sáng ngay giữa khuya… nghĩa là những đối cực tiếp giáp nhau, hoán vị nhau, bao hàm nhau, nghĩa là những cực điểm sẽ không còn là những cực điểm vì phải thể nhập vào cái rộn ràng chung và hóa thân…” (Trích “Sài Gòn của Bửu Ý)

Chính thế, chỉ có Sài Gòn mới khiến thốt lên “chỉ nhớ người thôi đủ hết đời” (Trích thơ Du Tử Lê).

“Em đã đến với văn chương miền Nam thời chiến và sưu tầm để đưa trên trang blog của em [1] bắt đầu bằng nghe những bài nhạc “xưa”, từ những tape nhạc “Lê Uyên Phương” mà bố mẹ thường nghe, và suy nghĩ, sao có một thời âm nhạc đẹp và mê say như thế, còn những lĩnh vực nghệ thuật khác thì sao? Và tình cờ em đọc được vài quyển TUỔI NGỌC… Từ đó, em lần mò đi tìm những tác giả, tác phẩm để thấy rằng không những âm nhạc mà các ngành nghệ thuật điển hình là văn chương… của một thời… của 20 năm… đã cố tình bị lãng quên, và hư vô hóa…. nhưng có sức sống rất bền bỉ và những giá trị của nó có thể sẽ không bao giờ còn được lặp lại trên mảnh đất Việt Nam này.” (trích từ email của Huy. Thư Quán Bản Thảo 57)

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một bài viết của Huyvespa về văn chương Mai Thảo.

NGUYỄN & BẠN HỮU



Nguyễn Trường Trung Huy:

“Ðọc Mai Thảo, không phải là đọc những gì ông viết mà là đọc cái cách ông viết ra những gì ông đã viết. Một căn nhà vùng nước mặn. Một chuyến tàu trên sông Hồng. Một bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Ðó không phải là những cái truyện, những tên truyện. Ðó là mảnh vỡ của những cuộc đời, long lanh hạnh phúc, ràn rụa nước mắt. Không kể lại được. Phải đọc từng dòng, từng chữ của Mai Thảo, để thấy ông nghĩ, ông viết thế nào về những truyện đó, chứ không phải những gì chất chứa trong những truyện đó” (Nguyễn Đình Toàn).



Mai Thảo


Ðọc Mai Thảo, đặc biệt là những tùy bút dạt dào “nội dung siêu hình cùng những tâm thức lãng mạn, đớn đau…” là có thể đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc là mỗi lần va chạm vào một xao xuyến mới, tiệm cận với một rung động liền kề, hứng chịu một mê đắm từ những giọt mưa cường toan rát buốt sát thương hết những… phiền nhung gấm, mân mê một buốt tấy mê man từ vùng yêu thương còn tưởng như gần sát…

Mai Thảo đã thả cánh bướm Trang Tử trên những nhịp nhàng chữ nghĩa, trên những cuộn xoáy ảnh hình… tạo ra một cú sốc ngôn ngữ “mới” đối với người đọc (không những là trong 20 năm huy hoàng của văn học nghệ thuật miền Nam) mà còn là những độc giả “bây giờ”… để ta/ chúng ta… sửng sốt trước sự khai phóng đủ sức làm độc giả lạc lối trong một thế giới vừa thực vừa phi thực mà tác giả đã xây dựng… đọc Mai Thảo là đi tìm lại thời gian đã mất (hay cũng có thể… là chưa?!?), là ấp ủ một cái đẹp mong manh, là “để tưởng nhớ mùi hương”…

Là người của kỷ niệm, của dĩ vãng, của “căn nhà vùng nước mặn” chợ Cồn, Hải-hậu, Mai Thảo còn là người Hà Nội, người sông Hồng, người Sài Gòn… mà lại rất Paris, rất Camus, rất Sartre.

“Văn phong Mai Thảo dào dạt, mãnh liệt, đau đớn, thiết tha, đó là những chân dung: chân dung kỷ niệm, chân dung sao trời, chân dung Hà Nội, chân dung bạn văn, chân dung nụ hôn, chân dung ngọn cỏ, chân dung Cửu Long, chân dung sông Hồng, chân dung cuộc tình… Ðó là những bức họa, ấn tượng, trừu tượng, siêu thực ẩn hiện trong những điệu nhạc jazz trầm uất…”

Ngay từ những ngày đầu “đọc Mai Thảo”, tôi đã bị cuốn hút vào “những rừng từ chương và những biển suy tưởng”, những khai phóng “mở đường” (có thể) gây sốc thuở ban đầu nhưng sau vụt thoát thành một lấp lánh văn phong thấy thấp thoáng đâu đấy trong cách viết một vài tác giả, một phong cách maithảo – với rốt ráo tận cùng ngữ nghĩa của từ này trên danh xưng của một – mỹ tính từ…


Huyvespa


Ðó, trước hết, đến từ cách dùng chữ MỘT – khi thì là trạng từ, khi thì động từ. Nhưng nhiều nhất là tính từ và động từ. Với cách viết này, Mai Thảo loại bỏ hẳn một số từ khác thường đứng trước chúng. Thay vì “một cuộc lưu đày” thì là “một lưu đày”; thay vì “một nỗi nhớ nhà” thì “một nhớ nhà”; thay vì “một sự khuấy động” thì “một khuấy động”, vân vân. Ta gặp dài dài cách dùng đó trong văn Mai Thảo: một tình cờ, một trao phó, một bùng cháy, một bất ngờ, một vượt thoát, một mê đắm, một yếu đuối….Nhiều. Ðã quen với cách viết đó, mà thú thật, đôi khi tôi cũng ngỡ ngàng khi gặp chữ một của Mai Thảo, nhất là khi ông thêm vào sau đó một tính từ nào đó (có khi là một cụm từ) có tính cách diễn tả: một lưu đày dịu dàng vào cô đơn, một lạnh buồn vô tận, một gần gụi diễm lệ… khiến cho câu văn đột nhiên mang một vóc dáng khác lạ, thú vị…

Những “MỘT” chơ vơ và tưởng-chừng-đơn-giản… đã là một đằm thắm rõ nét, một tịch liêu vây phủ… trong lòng độc giả (hay ít ra là trong lòng tôi)…

“- Rồi thì một lạnh buồn vô tận đấy nhỉ? Rồi thì là một nhớ nhà vô chừng đấy nhỉ? Khi, giữa một đêm quê người, một đêm ở Mỹ như đêm qua…”

– Tiếng chuông vang lên, âm thanh mang hình ảnh một đường chỉ thẳng vút truyền đi, thật sâu và thật xa vào một phía bên trong thăm thẳm, ở đó là một im lặng lớn nằm giữa một lắng đọng đầy…” (Những tấm hình của chị Thời)



Bộ sưu tập của huyvespa.


– …Chính ôm lấy người đàn bà. Người đàn bà của một gặp gỡ ngắn. Một tình cờ ngắn. Một hạnh phúc ngắn” (Hồng Kông ở dưới chân)

– Không có tiếng vang, không có một bùng cháy, một bất ngờ, một khuấy động nào nữa (Mười đêm ngà ngọc)

…”

Cái MỘT trơ trọi đó, phần nào, trong một thoáng nghĩ, tôi tin chắc đó là MỘT của một dáng hình, một trầm tư rất MAI THẢO mà trong những phác họa chân dung từ những văn hữu cùng thời, MAI THẢO là một hiển lộ của một cô đơn đến tận cùng … cũng như Mai Thảo đã từng viết “chết tận cùng đến điểm cuối cái chết”, “Tắt tới cái điểm le lói cuối cùng của lửa.”…

Ðó là cô đơn của..

“Sớm ra đi sớm hoa không biết

Đêm trở về đêm cành không hay

Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu

Nơi góc tường in cái bóng gầy”

hay

“Ngồi tượng hình riêng một góc quầy

Tiếng người: kia, uống cái gì đây?

Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ

Và một bình đêm rót rất đầy
2 users thanked Duy An for this useful post.
thunder on 5/23/2016(UTC), phamlang on 5/31/2016(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
142 Pages«<138139140141142>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.