Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

142 Pages«<137138139140141>»
BẢO TỒN & LƯU TRUYỀN VĂN HÓA
Ngoc N Hao
#2888 Posted : Saturday, October 31, 2015 12:46:45 PM(UTC)
Ngoc_Hao

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,799
Points: 8,485
Location: France

Thanks: 2402 times
Was thanked: 1767 time(s) in 996 post(s)
QUÊ ƠI, MƯỚP TRỔ HOA VÀNG




Quê ơi, mướp trổ hoa vàng
Lòng rưng rưng nhớ chốn làng mạc xưa
Nhớ gì... đâu nắng đâu mưa
Đâu giàn mướp của giậu thưa em chờ
Lũ ong, lũ kiến thẫn thờ
Đất trời xanh biếc, mương bờ nhớ em
Thuở cha với mẹ êm đềm
Vườn sau chăm bón đất mềm thương yêu
Trổ chùm hoa mướp chắt chiu
Đền ơn người đất nâng niu vun trồng
Mẹ cha ươm lúa ngoài đồng
Tuổi thơ bì bõm con sông đầu làng
Hồn ta hoa mướp nở vàng
Có em trong ấy bên hàng cau thơm
Ngõ quê quanh quẩn cá nơm
Thèm trông thấy lại cội rơm, dây trầu
Ầu ơ … dây bí dây bầu
Nao lòng dây mướp vạn sầu ly hương...


Như Thương

2 users thanked Ngoc N Hao for this useful post.
Hạ Vi on 11/1/2015(UTC), Duy An on 1/3/2016(UTC)
Hạ Vi
#2889 Posted : Sunday, November 1, 2015 5:18:17 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)

,

Xem tranh phố cổ Hà Nội


Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ ?

(Vũ đình Liên)





Ngõ Đông Thái – Phạm Bình Chương


Nhận cái mail của người bạn gửi cho bài viết về tranh của Phạm bình Chương (Pham Bình Chương), tôi nhớ đến cuộc triển lãm của một nhóm họa sĩ trẻ ở Hà Nội đã xem trên mạng hồi năm ngoái.

Xem lại tài liệu thì thấy Pham Bình Chương thuộc nhóm “già hơn”, không khác nhau nhiều ở tuổi tác nhưng ở quá trình sáng tạo. Lại có dịp tìm hiểu về tranh của một họa sĩ Việt Nam ở trong nước rất đáng chú ý.

Theo Lam Thu trong bài “Ngõ nhỏ phố nhỏ Hà Nội” (1) thì Pham Bình Chương đã vẽ có hơn 100 bức tranh về phố cổ Hà Nội trong vòng 5 năm trở lại. Tìm trên mạng, những bài viết về tranh Pham Bình Chương từ tháng 8 vừa qua đến nay, tôi chỉ tìm được hơn 20 bức. Chỉ xin nói về những bức tranh này.

Phần lớn các bài viết hay phỏng vấn đều quy tụ vào một điểm khen nhất định và duy nhất: tranh của Pham Bình Chương giống y như thật, như là chụp hình vậy. Pham Bình Chương là trưởng Nhóm Hiện thực (thành lập tháng 11.2014), theo trường phái Hiện thực nhưng (may mà) không phải Hiện thực XHCN!



Hòa Tấu – Phạm Bình Chương


Ấn tượng đầu tiên khi nhìn vào tranh của Pham Bình Chương là những bức tường, những góc tường loang lở, những dẫy nhà xây thời thuộc địa, cầu thang ọp ẹp hay những hành lang dài và cũ kỹ… , tôi liên tưởng ngay tới Maurice Utrillo (1883-1955) và Montmartre.

Utrillo là họa sĩ hiếm hoi sinh ra ở Montmartre, vẽ Montmartre và nổi tiếng về những bức họa này của ông trong khi hầu hết các họa sĩ vẽ Montmartre và đền Sacré-Coeur nơi khu vực đó đều đến từ các nơi khác.



Sacré-Coeur – Maurice Utrillo


Những mảng tường trắng xám của Montmartre đầu thế kỷ XX đã trở thành dấu ấn của người họa sĩ này như một đặc điểm của Paris vậy. Tranh đường phố của của Utrillo rất ít khi vẽ người, cũng như tranh của Pham Bình Chương, thường chỉ có một bầu trời mùa Thu hay mùa Đông của Paris, xám xịt và ảm đạm, bao trùm tất cả, khung cảnh và tâm thức của người vẽ cũng như người thưởng ngoạn !

Nhưng có một điểm khác biệt cơ bản, không thể nào không thấy, đó là các vệt nắng trong tranh của Pham Bình Chương.

Ông đã đợi chờ, nhìn thấy, ghi lại qua ảnh chụp, phác họa hay giữ trong ký ức… (1) họặc cũng có thể là cái thủ pháp tài tình, thêm vào một ít nắng, đúng lúc và đúng chỗ, không tình cờ chút nào ! Chỉ có họa sĩ mới biết được điều này, nhưng nghĩ cho cùng, biết cũng chẳng làm gì trong cuộc đời đầy ẩn dụ này. Tranh như thế là nó như thế, cái cảm nhận là tùy ở mỗi người.



Vũ Điệu – Phạm Bình Chương


Vệt nắng trong tranh của Pham Bình Chương luôn luôn để lại những cái bóng, của tàng lá cây, của cánh cửa sổ, một vật dụng gì ở gần đó, nó không xuất hiện trong tầm mắt, trên võng mô, nhưng nó biểu hiện sự hiện hữu của nó một cách gián tiếp, không trực nhận được bằng nhãn quan mà qua trực giác.



Automat – Edward Hopper


Nói đến trường phái Hiện thực cũng không thể không nhắc đến hoạ sĩ Mỹ Edward Hopper (1882-1967) ở đầu thế kỷ XX. Ông không vẽ phong cảnh kiểu như phái Ấn tượng, mà phần lớn vẽ nhà cửa, đường xá, kiến trúc… như Pham Bình Chương vẽ Hà Nội. Người trong tranh của Hopper cũng ít khi xuất hiện. Thản hoặc, nếu có, họ chăm chú làm một công việc gì đó như xem sách, đọc báo, ngồi bên tách cà phê, mới từ nhà ga đến hay sắp sửa lên đường ?… , dường như họ hoàn toàn không liên hệ gì đến khung cảnh chung quanh cả. Sự có mặt của họ chỉ để diễn bầy hoàn cảnh cô đơn và tâm trạng cô độc, xa lạ với chính mình.



Nắng Tháng Năm – Phạm Bình Chương


Con người trong tranh của Pham Bình Chương cũng thế, ẩn hiện trước những bức tường cổ, trên con đường đá trơn ướt, chỉ làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng, khắc khoải đến nao lòng… trong toàn thể bố cục.

Hopper muốn diễn đạt sự tha hóa của con người, như bị nuốt chửng bởi xã hội máy móc, lạnh lùng, hoàn toàn bị đô thị hoá và kỹ nghệ hoá hồi đầu thế kỷ XX ở Mỹ… , nhưng ông đã vẽ theo thời đại của ông. Pham Bình Chương thì không vậy. Ông vẽ chuyện xưa, vẽ phố cổ Hà Nội mà ngày nay, với nhiều người, nó chỉ là một thứ hoài niệm cuối mùa của một thời đã qua. Nhưng sự lôi cuốn trong tranh của Pham Bình Chương chính là cái phong thái trình bầy một sự thật đã bị bỏ quên.

Trong số tranh ít ỏi của Pham Bình Chương mà tôi được xem, nếu có thể được coi như là tiêu biểu, thì ông đã thật sự có nhiều thử nghiệm. Từ những góc cạnh khác nhau để nhìn cảnh vật, vẽ theo mặt phẳng (plan) của những bờ tường cũng có, vẽ theo viễn cảnh (perspective) như các họa sĩ Hoà Lan hồi thế kỷ XVII để tả ngõ hẹp cũng có và ông cũng không ngần ngại gì để hiện thực hết cỡ (gọi là “cực đoan”) khi vẽ một chiếc xe hơi mới tinh, láng cóong đậu trước mấy căn nhà nơi phố cổ. Khác với hoạ sĩ TMT, người đã vẽ một cái xe thể thao của Đức (Porsche) mà theo thiển ý, tôi chắc bức tranh này chỉ làm cho hãng xe đó là vui lòng nhất, xe trong tranh của Pham Bình Chương đậu kế một vũng nước bên lề đường, phản chiếu hình ảnh lộng lẫy của nó trong cái nghèo nàn, ảm đạm… , thật khó nói nên lời !

Về mầu sắc, Pham Bình Chương luôn luôn để mầu nắng, mầu ánh sáng dẫn bức tranh. Lá bàng tùy theo mùa, khi xanh, khi đỏ, nhưng cái vệt nắng để lại những bóng cây in hình trên tường, trên mái nhà… mới là yếu tố chủ động. Nó là tiếng gọi của hoài niệm, của ký ức. Ký ức được khêu gọi và làm sống lại. Hồi tưởng không phải là chuyện lập lại (playback) những chuyện xưa cũ mà là chuyện tái tạo (re-creation), nó mang cái tâm thức bây giờ và ở đây trong khoảnh khắc người ta nhớ lại. (2)

Cụ thể là ở hải ngoại, nghe kể chuyện vượt biên, nghe các bác lớn tuổi kể lại thời cầm súng, chinh chiến… có cảm tưởng như họ kể chuyện mới xẩy ra hôm qua chớ không phải chuyện đã… 40 năm về trước !



Họa sĩ Phạm Bình Chương

Xem tranh phố cổ lặng yên của Pham Bình Chương, tôi nghĩ đến Ban Mai và quyển “Vết chân dã tràng” của cô viết về nhạc Trịnh Công Sơn (xuất bản 2008), một thời đã làm các viên chức nhà nước trên nhiều từng lớp luống cuống, cho in hay không cho in, in rồi, có thu hồi hay không ?! Tranh của Pham Bình Chương không thấy vẽ các thành qủa vẻ vang của “đảng ta” từ 40 năm nay trên cả nước (loại chưa xây xong đã xập !) mà chỉ đưa ra một khung cảnh Hà Nội có thật, cũ kỹ nhưng vẫn còn đó, những cửa sổ đóng kín, những bức tường u ám, rêu phong ảm đạm… Nếu sống trong thời Nhân văn – Giai phẩm thì Pham Bình Chương đủ tội phản động, trí thức tiểu tư sản, chưa thay đổi thành phần, không kiên định lập trường cách mạng… , cho theo cụ Phan Khôi lâu rồi !

May mà thời buổi này, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo, cả guồng máy của “đảng ta” còn bận tranh giành quyền lực lẫn nhau, cũng như bận đếm tiền, chuyển tiền, mua nhà ở ngoại quốc, lo cho con cái du học v.v… nên ba cái hoài niệm quá khứ lẻ tẻ này ai thèm để ý làm gì ?! Trừ khi tranh của Pham Bình Chương bán mỗi tấm vài chục ngàn đô ở ngoại quốc thì đám quan chức, đại gia mới (có thể) để ý để… đầu tư nhưng đạt được đến cái nhận thức này thì còn lâu lắm khi người ta chỉ biết có ngà voi, sừng tê giác như những thứ status symbol vô thượng !

Chắc phải có sự yên lặng của thân xác, sự im lặng của ngôn từ và sự tĩnh lặng của tâm thức mới có thể cảm được bản chất của hiện thực trong tranh Pham Bình Chương, thật tự nhiên và giản dị. (3)

Kể cũng lạ là mới hơn 40 tuổi (Pham Bình Chương sinh năm 1973), ông có cái tài và cái tâm cảm để dẫn người Hà Nội 1954 trở lại quá khứ trong ngày hôm nay, có lẽ cũng vì sự hoài cảm nằm ngoài ý niệm về thời gian.

Bởi vậy mới nhờ hai câu thơ của Vũ đình Liên như đã dẫn.



Nguyễn T. Long
15/9/2015





Chú thích:

(1) VN Express – 25/Aug/15 – Lam Thu – Ngõ nhỏ phố nhỏ Hà Nội trong tranh Pham Bình Chương
(2) Asterios Poyp – tác giả: David Maczzucchelli – 2009
(3) Thư viện Hoa Sen – 02/Sep/15 – Hoang Phong – Ghi chú về Phật Giáo Tây Tạng







1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 11/10/2015(UTC)
Hạ Vi
#2890 Posted : Sunday, November 1, 2015 5:19:35 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)
.

Ngắm tranh Phạm Bình Chương





































Nhớ mùa thu Hà Nội
Trịnh Công Sơn
http://www.nhaccuatui.co...-guitar.4rM_QeunUx.html


Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ,
Nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu.

Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội,
Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió,
Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ,
Cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân qua.

Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi.
Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.

Hà Nội mùa thu đi giữa mọi người,
Lòng như thầm hỏi, tôi đang nhớ ai,
Sẽ có một ngày trời thu Hà Nội trả lời cho tôi,
Sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi.

Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội, nhớ đến một người ...
Để nhớ mọi người.































,


1 user thanked Hạ Vi for this useful post.
phamlang on 11/10/2015(UTC)
CỏThơm
#2891 Posted : Friday, November 6, 2015 2:25:54 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)






Chốn cũ


Anh về chốn cũ không có em
Khi chiều vừa xuống chửa lên đèn
Cái bờ giếng cũ con đường cũ
Đã lở mất rồi cỏ đang chen

Dấu cũ – người xưa ở nơi đâu!
Phất phơ gió đuổi mấy bông lau
Vẳng đâu khắc khoải con cuốc gọi*
Chiều tím hoàng hôn – đêm chuyển màu

Chốc đấy đã xa mờ khói sương
Bưởi nhà ai nhỉ vẫn ngát hương!
Đâu đây hơi thở còn vương nhẹ
Thẹn với mảnh trăng chếch mé tường

Ngẩn ngơ chốn cũ dạ sầu vương
Anh gói lại đây một chút hương
Một chút mùi hương ngày xưa ấy
Rồi lại lang thang vạn nẻo đường


* Con chim quốc


Hoàng Ngọc Xuân



phamlang
#2892 Posted : Tuesday, November 10, 2015 6:05:24 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Nguyễn Bính - Yêu Quá Mất Rồi


Nguyễn Quang Tấn


Những người sáng tác, và cả những nhạc công đều đồng ý với nhau: Kỹ thuật càng phức tạp, thì tính biểu cảm của tác phẩm càng bị giới hạn. Tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo thì bát ngát mà cứ phải co cụm trong cái rọ của những khuôn này phép nọ, niêm với luật, vần với điệu… Vì thế, nảy sinh ra những phá cách, phá thể. Thơ tự do ra đời có lẽ là do suy nghĩ ấy, và trường phái Hậu Hiện Ðại với chủ trương: Mọi bảng cấm đều được hạ xuống, mọi ngôn từ đều bình đẳng, và nhóm Dada với khẩu hiệu ngộ nghĩnh: Những gì nghệ sĩ khạc nhổ ra đều là nghệ thuật.



Nguyễn Bính - NGUỒN VI.WIKIPEDIA.ORG


Nguyễn Bính chỉ làm thơ lục bát và thất ngôn, và không những ông tuân thủ triệt để niêm luật của loại thơ này, ông còn làm khó chính ông bằng cách tự đan cho mình những cái rọ. Thử đọc một đoạn trong bài Viếng Hồn Trinh Nữ:

Có một chiếc xe màu trắng đục

Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi

Ðem đi một chiếc quan tài trắng

Và những vòng hoa trắng lạnh người

Theo bước những người khăn áo trắng

Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi…


Nguyễn Bính ra lệnh cho chính ông: Mỗi câu đều phải dùng một từ trắng, và từ này khiến cho người đọc liên tưởng tới màu trắng của những bức tường bệnh viện, nhà xác, màu trắng của khăn liệm, màu trắng của những hàng thập tự trong nghĩa trang. Có thể nói đùa rằng đây là bài thơ không dành cho những người yếu bóng vía hoặc ghi chú: Thơ đọc vào lúc 0 giờ. Ta không biết người nằm trong áo quan là ai nhưng ta lại có cảm giác đau buồn như đang theo bước những người khăn áo trắng, đưa tiễn một người thân yêu của mình vào nơi an nghỉ sau cùng. Trong cái rọ chật hẹp như thế, Nguyễn Bính vẫn có thể tung tăng múa lượn như ở giữa một cánh đồng, hay như một cao thủ võ lâm dù bị trói nhưng vẫn thi triển được những tuyệt chiêu. Ông còn bắt mình đếm ngược:

Nhà em cách bốn ngọn đồi

Cách ba con suối cách đôi cánh rừng

Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy, anh đừng yêu em…


“Em van anh đấy, anh đừng yêu em” câu này nếu đứng độc lập sẽ là một câu thơ rất “ỏn ẻn”, rất “sến” nhưng nằm trong ngữ cảnh của toàn bài, ta lại thấy nó như những tiếng đàn làm trẻ lại những tâm hồn đã già cỗi, đã khô cằn. Em nói anh đừng yêu em nhưng thật ra, em lại muốn anh hãy yêu em nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Tiếng lòng em mời gọi.

Có người hỏi nhạc sĩ dương cầm Ðặng Thái Sơn rằng, ngoài âm nhạc ra ông có lưu tâm đến những bộ môn nghệ thuật nào khác không, ông trả lời đại ý: “Nếu chỉ lưu tâm đến nhạc không thôi thì cái nhạc ấy không thể nào bốc lên cao được, cứ loẹt quẹt mãi ở tầng trệt.” Thật vậy, nếu một người chơi nhạc F.Chopin hoặc F.Tarrega mà không bằng tâm hồn của một nhà thơ thì sẽ chơi không đạt, không ra được cái hồn của tác phẩm. Chưa ai nghe Nguyễn Bính nói gì về hội họa, nhưng hãy xem một bức tranh của ông:

Có lần tôi thấy một mẹ già

Ðưa tiễn con đi trấn ải xa

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng

Lưng còng in bóng xuống sân ga …


Ðoạn thơ không nói gì đến thời gian, nhưng ta lại thấy lúc đó trời vừa tối, sân ga vắng vừa lên đèn, ánh đèn hắt bóng người mẹ gầy gò xuống sân ga, đôi mắt già nua nhìn theo con tàu khuất ở cuối chân trời…

Và một bức tranh khác:

Sao đêm còn có đêm quên mọc

Anh chẳng đêm nào không nhớ em…(1)


Trời đêm như một tấm nhung đen gắn những hạt sao lấp lánh, trong cái huyền ảo đó, tình nhân đang nhớ tình nhân… Tình và Cảnh hòa quyện với nhau rất kỳ diệu. Trong thơ Nguyễn Bính, những hình tượng như thế nhiều lắm. Nhan nhản. Nguyễn Bính không vẽ tranh bằng cọ, và có lẽ ông cũng không am hiểu gì về hội họa, nhưng chắc chắn, ông phải có cái Tâm của một họa sĩ thì mới có thể vẽ được những bức tranh bằng chữ gây xúc động lòng người đến vậy. Những bức tranh này đôi khi nó lại chuyển động như trong một đoạn phim:

Hôm qua trên bến dưới đò

Nhìn nhau qua cửa tò vò nhìn nhau

Anh đi đấy, anh về đâu

Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm…

Người sành văn chương thì cho rằng câu cuối cùng là tài hoa, là xuất thần, nhưng người đang mang trong lòng nỗi niềm thì chỉ thấy một cánh buồm đang nhỏ dần… nhỏ dần trên sóng, nhỏ dần rồi mất hút…Cánh buồm mang đi cả một quãng đời tươi đẹp, quãng đời ta sống bên nhau. Có nhà phê bình cho rằng chỉ với bốn câu lục bát, Nguyễn Bính đã lay động được hồn người, khác với những bài thơ ngồn ngộn những chữ mà chẳng có tác dụng gì (Nguyễn Hưng Quốc)

Có người thoáng đọc Nguyễn Bính vội vã đưa ra nhận xét “Thơ như thế này thì có gì…” (Hoài Thanh - Thi nhân hiện đại).Ðiều này đúng. Nhìn vào một ly thủy tinh đầy nước lọc: Không có gì thật. Không đường, không muối, không phẩm màu, không vi trùng, vi khuẩn, không tạp chất, nhưng để có được một ly nước như thế, kẻ làm ra nó đã phải tốn không biết bao nhiêu công sức để xử lý, để thanh lọc. Và điều lạ lùng, cái loại nước trong veo, trong vắt không men rượu ấy lại làm ta say, làm ta vui buồn. Ðọc lại một đoạn thơ quen thuộc, ai cũng biết:

Hôm qua em đi tỉnh về

Ðợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi…!


Chắc chắn là những ai lần đầu đọc bốn câu thơ này cũng phải cười, không cười ra tiếng cũng phải cười mỉm hay cười thầm. Nàng thì lượt là nhung lụa như tiểu thư con quan tể tướng. Còn mình, một gã trai làng áo rách vai, quần có hai miếng vá, làm gì mà không khổ! Ðấy là những câu thơ vui, còn những câu thơ làm người ta buồn thì vô kể:

Rồi có đêm mưa nơi quán trọ

Ðầu tôi lại gối cánh tay tôi (1)


Quán trọ không phải là nhà, cánh tay tôi chứ không phải cánh tay người tình, mưa đêm thì ray rứt…

Trong bài thơ Lỡ Bước Sang Ngang, Nguyễn Bính vào vai một người chị dặn dò em gái trước khi đi lấy chồng:

Em ơi em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn mẹ già em thương

Mẹ già một nắng hai sương

Chị đi một bước trăm đường đắng cay…


Ðã có người phê bình: “Thơ này chỉ có đàn bà mới thích”. Nhưng thông tin dưới đây chứng tỏ là nhận định ấy sai lầm:

Vào thập niên 40 (không nhớ năm nào) Thủ tướng chính phủ Nam Kỳ Tự Trị Nguyễn Văn Thinh ra thông báo: “Ai mời gọi được Nguyễn Bính, tác giả Lỡ Bước Sang Ngang về với Quốc Gia sẽ được thưởng 1000 đồng.” Rồi máy bay lượn trên bầu trời Kiên Giang, vùng Nguyễn Bính đang sống rải truyền đơn kêu gọi ông, nhưng ông vẫn gia nhập mặt trận Việt Minh chống Pháp. Khi ông gia nhập, tướng Trần Văn Trà căn dặn thuộc hạ phải đối xử với ông thật chu đáo. Nguyễn Bính không những chinh phục đàn bà mà cả đàn ông, kể cả đàn ông thủ tướng và đàn ông tướng lãnh. Với lại, chỉ chinh phục đàn bà không thôi thì đã chinh phục được nửa thế giới rồi còn gì. Có đàn ông nào mà lại không thích chinh phục đàn bà?

Sau khi tập kết ra Bắc, Nguyễn Bính vẫn làm thơ, nhưng hình như ông không có “năng khiếu” về cái loại thơ làm theo “lệnh trên” nên những gì ông viết ra đều rất miễn cưỡng.

Cách đây nhiều thập niên, ở miền Nam Việt Nam có phong trào thơ Thiền. Một nhà thơ muốn được xem là hiện đại, trong thơ anh ta buộc phải có chất Thiền. Vì thế, những người làm thơ đều nhồi nhét cho kỳ được những thuật ngữ Phật giáo Thiền tông vào thơ của mình, cho dù, đôi khi cả tác giả lẫn độc giả đều không hiểu những thuật ngữ Phật giáo cho lắm. Ðến khi phong trào thơ Thiền tàn lụi, các nhà thơ này cũng biến mất, biến không tăm tích. Còn người nặng tâm huyết với văn học nước nhà thì kêu lên cay đắng: Những mùa văn học mất trắng. (Nguyễn Hưng Quốc) Tiếp theo phong trào thơ Thiền là phong trào thơ Tráng Sĩ (tạm gọi như thế vì không biết gọi là gì). Hình như những người theo phong trào này chỉ mong sao cho tác phẩm của mình được trở thành bản sao của bài thơ Hồ Trường. Vì thế, trong thơ của họ đầy rẫy những từ: Uống Rượu, Múa Gươm, Kinh Kha, Sông Dịch… Tiếc một điều là sau khi đã cạn mấy Hồ Trường rồi chẳng có tráng sĩ nào dám qua sông cả.



Nguyễn Bính (giả gái, bên phải) đóng kịch cùng nhà văn Đoàn Giỏi - GIADINHHOANGTRONG.WORDPRESS.COM


Sau ngày 30 Tháng Tư, cùng với mốt mặc quần hở rốn, nữ sĩ viết truyện tình dục, một mốt thơ khác lại bắt đầu. Phong trào này không biết gọi là gì. Ðương đại? Hiện đại? Hậu hiện đại? Hay đơn thuần chỉ là bắt chước ông Allen Ginsberg?(2) Các nhà thơ của phong trào này lại nỗ lực đưa vào tác phẩm của mình những thuật ngữ của ngành giải phẫu: Âm vật, Dương vật, Tinh dịch, có người còn thẳng tay hơn: Con C... cái L… cứt, đái. Nhưng bây giờ, những từ ngữ ấy đã trở nên những sáo ngữ, đã mòn vẹt. Loại văn thơ này đã tàn mùa. Có người còn cho rằng đọc những câu thơ, câu văn có những từ này nghe còn sến, còn lạc hậu hơn cả những câu: Ngắt nụ hoa vàng biết mình đã yêu… Em đi trong mưa… mưa rơi…mưa ướt đôi vai gầy… vv… Chúng đã chung số phận với những bài thơ Thiền, thơ Tráng Sĩ : Bị Ðào Thải.

Lại một mùa văn học mất trắng nữa chăng?


Nguyễn Bính cũng theo mốt. Mốt ấy là: Chỉ dùng những từ thuần Việt, ngôn ngữ đặc thù của giới quê mùa, bình dân. Khó lòng mà tìm thấy trong thơ ông những từ hàn lâm, kinh viện. Nhưng không phải cứ đi theo con đường này là sẽ thành công đâu. Nhiều người đã bị loại ra khỏi cuộc chơi lắm rồi, may mà còn sót lại được vài người như Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Ðoàn Văn Cừ, nhưng thành quả của các vị này cũng rất giới hạn. Nguyễn Bính vượt trội hẳn bởi vì tác phẩm của ông nhiều mầu sắc, khả năng chiếm lĩnh, chinh phục người đọc của ông rất cao. Tóm tắt: Ông là người có tài, có thực tài. Cách sử dụng ngôn ngữ bình dân của Nguyễn Bính như thế nào? Như thế này:

Lòng Mẹ

Gái nhớn ai không phải lấy chồng

Can gì mà khóc, nín đi không?

Nín đi mặc áo ra chào họ,

Rõ quý con tôi, các chị trông!

Ương ương, dở dở quá đi thôi,

Cô có còn thương đến chúng tôi,

Thì đứng lên nào, lau nước mắt,

Mình cô làm khổ mấy mươi người

Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía

Này gương, này lược, này hoa tai

Muốn gì tôi sắm cho cô đủ

Nào đã thua ai, đã kém ai?

Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái,

Nuôi dạy em cô tôi đảm đương

Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả

Tôi còn mạnh chán, khiến cô thương?!

Ðưa con ra đến cửa buồng thôi,

Mẹ phải xa con khổ mấy mươi

Con ạ, đêm nay mình mẹ khóc,

Ðêm đêm mình mẹ lại đưa thoi...


Suốt bài thơ chỉ là một tràng kể lể của một bà già nhà quê lắm miệng mồm, không liên quan gì đến thơ phú cả. Thế mà nó lại làm cho người ta cảm động với những câu: Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả. Nợ nần nhiều lắm, nhưng mà mẹ vẫn cố chạy ngược chạy xuôi cho con manh quần tấm áo, đôi hoa tai trong ngày cưới để được bằng chị bằng em.Và đoạn sau cùng làm ta thấm thía nỗi đau của người mẹ khi nhìn đứa con mình đứt ruột đẻ ra đi làm con người khác, không biết nơi nó đến đục trong, sướng khổ thế nào. Thật ra, chỉ có những người dân hoặc những người đã sống nhiều năm ở miền Ðồng Bằng Bắc Bộ mới hiểu được trọn vẹn cái hay của bài thơ và tài năng của tác giả, một tiếng thơ đứng vững trên thi đàn hơn 70 năm.

Suy cho cùng, dù thành công hay thất bại, lưu danh hậu thế hay rơi vào quên lãng cũng chỉ vì lòng yêu thơ quá đấy thôi. Yêu lắm…

Thế nghĩa là yêu quá mất rồi! (3)


(1)Viết theo trí nhớ, nên có thể sai một vài từ.

(2) Người đầu tiên đưa những từ penis, cunt vào văn học Mỹ

(3) Thế nghĩa là ghen quá đấy thôi / Thế nghĩa là yêu quá mất rồi. (Ghen)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
phamlang
#2893 Posted : Sunday, November 15, 2015 1:23:43 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Tản Đà và Tự lực văn đoàn (11/5)




Sau khi từ Pháp trở về với mảnh bằng cử nhân khoa học, Nhất Linh (1906-1963) ý thức được nhu cầu đổi mới trong xã hội ta và bước đầu ông quyết tâm làm là canh tân về văn học.

Ông muốn ra một tờ báo trào phúng hy vọng dùng nụ cười để phê phán hủ tục và hô hào việc canh tân, nhưng giới hữu trách thực dân ngày ấy có lẽ cảm thấy Nhất Linh là nhân vật có tiềm năng phản kháng chế độ nên tìm cách ngăn cản ông ra báo.

Cơ may tới tay khi tờ Phong hóa của Phạm Hữu Ninh chủ trương sắp đình bản vì lỗ vốn, Nhất Linh đã mua lại tờ báo này và cho tục bản Phong hóa bộ mới từ số 14 vào năm 1932 với những cây viết trẻ của thời đại như bản thân ông và hai em là Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long, 1907-1948) và Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân, 1910-1942). Tờ báo lại có sự góp mặt của Thế Lữ và hai cây viết tây học khác dù lớn tuổi hơn là Khái Hưng (1896-1947) và Tú Mỡ (1900-1976).

Năm 1934, Tự lực văn đoàn ra đời và đánh dấu đỉnh cao của nhóm nhà văn quy tụ quanh Nhất Linh, với hai tờ báo trong tay Phong hóa và Ngày nay với một nhà xuất bản có tiếng: nhà Đời nay. Đây là lúc tiểu thuyết mới, kịch nghệ mới và thơ mới thành tựu rực rỡ với sự góp mặt của những cây viết trong Tự lực văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam (về tiểu thuyết), Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận (Thơ), Khái Hưng (kịch), Thạch Lam (phê bình văn học), Hoàng Đạo (cải cách xã hội)…

Trong lúc ấy, sau 1932, khi An nam tạp chí của Tản Đà vĩnh viễn đóng cửa, nhà thơ ở lại đất Bắc và sống trong cảnh phải than “đem văn lên bán chợ trời” vì văn ế, độc giả chuộng thơ cũ thưa dần. Có thể nói những năm cuối thập niên 1930, nhà thơ đã sống trong những ngày hoàng hôn của cuộc đời, đành dùng tài văn mặc, kinh nghiệm văn chương mở lớp dạy làm thơ, xem lý số hà lạc. Nhưng vắng khách tri âm. Bước vào tuổi gần ngũ tuần thì thi nhân mòn mỏi, “chán cả giang hồ hết cả ngông”, bệnh hoạn triền miên thế mà rượu vẫn là bạn đồng hành khuya sớm. Ông quay sang dịch thơ Đường và Liêu trai chí dị. Nhưng tờ báo nào có thể giúp Tản Đà có thể trụ nổi trong hoàn cảnh cơ hàn những năm 38 và 39? Hà nội tân văn đã có Nhượng tống, Phụ nữ tân văn đã có Phan Khôi, Đào Trinh Nhất. Cũng may Tản Đà có duyên nợ với Tự lực văn đoàn có lẽ qua Khái Hưng (Trần Khánh Giư) nên đăng thơ dịch trên Ngày nay. Vào cuối đời trong lần gặp Nguyễn Tuân, nhà thơ tâm sự về kế sinh nhai:

“Tôi có lên trên báo Ngày Nay, nói chuyện cùng Trần Giư để lại dịch thơ Ðường. Nhưng ông ta bảo công việc ấy bây giờ giao cả cho ông Thạch Lam…”

Tự lực văn đoàn chủ trương đổi mới và sở trường về thơ trào lộng, tranh châm biếm như đối với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và từng hý họa những cây viết đàn anh từ Tản Đà đến Nguyễn Văn Tố bên cạnh những bức tranh Lý Toét, Xã Xệ nổi tiếng. Tuy nhiên, thơ, họa trào phúng trên Phong hóa hay Ngày nay nhắm giễu cợt hủ tục, nhân vật cổ hủ, thoái hóa nên nhiều khi chỉ là nụ cười vô hại, không hề có ác ý. Riêng với Tản Đà (1889-1939), trong nhóm Tự lực văn đoàn có Khái Hưng và Tú Mỡ là hai cây viết tuy tây học nhưng có gốc cựu học và có giao tình thân thiết với thi nhân trong văn chương cũng như trong đời sống. Họ được kể là những bạn vong niên của Tản Đà.

Người ta không ngạc nhiên khi nghe những giai thoại chứng tỏ giữa thi nhân và văn đoàn có mối dây liên hệ bề trong rất khắng khít trong những năm tháng cuối cùng cuộc đời thi nhân.

Tú Mỡ thường xướng họa với Tản Đà chẳng hạn bài sau đây của Tản Đà Gửi ông Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, giọng thực thân mật và cảm động:

Tôi bác, sao mà bác Tú ơi

Cùng tên, ta lại ở đôi nơi!

Khói mây non Tản tôi gầy lắm

Bơ sữa Thành Long bác béo hoài

Cốt có rượu thơ người sống nổi

Quản chi mưa gió cuộc đời trôi

Thơ này Hiếu gửi đăng “Phong Hóa”

Hiếu có thanh nhàn thử họa chơi

Khi An Nam tạp chí đình bản, Tú Mỡ vào năm 1933 còn làm một bài văn tế đăng trên tờ Phong hóa có tên Văn tế An Nam tạp chí:

Ngày 12 tháng Năm dư năm Quý Dậu

Ngu hữu là Phong Hóa tuần báo đứng trước linh vị An Nam tạp chí hậm hực mà than rằng:

Đỉnh non Tản mây đen mù mịt, quấn băng tang lặng lẽ âu sầu.

Giải sông Đà nước xám lờ đờ, cuộn dòng lệ rĩ rền buồn bã.

Than như không mà khóc cũng như không,

Im cũng dở mà nói ra cũng dở.

Nhớ bạn xưa:

Giấy trắng mực đen,

Nhà không tiếng cả.

Dựng tiểu nghiệp văn chương đất Bắc, kế sinh nhai khen đã cố công thay!

Lấy đại danh tạp chí nước Nam, tuyên chủ nghĩa thực đà to chuyện quá!

Duy trì đạo đức, giương Đông kích Tây,

Bồi bổ văn mình, dung Âu hợp Á.

Nhồi độc giả năm pho kinh sử, nhai đi nhai lại, chi, hồ, giả, dã, rõ cơ quan tiến thủ giật lùi,

Ru quốc dân hai hũ thơ sầu, mơ màng tiên, cuội, trời trăng, khiến niên thiếu liên miên bả lả.

Ố kim, nệ cổ đã từng phen nắm đuôi ngựa Phan Khôi,

Ghét cợt, chê cười còn nhớ trận vuốt râu hùm Phong Hóa.

Dằng dai như đỉa đói, chết đi sống lại bao lần,

Siêu bạt tựa vịt trời, nay đó, mai đây mấy thủa.

Hơn bảy, tám năm lăn lóc khi Hà thành khi Nam định ngoẻm trăm ấy, veo ngàn khác, than ôi thua vẫn hoàn thua,

Non ba mươi tháng vật vờ, hết Hàng lọng đền Hàng khoai thay dạng nọ đổi dạng kia ngán nỗi khá không thấy khá.

Vẻ vang thay nghìn rưỡi số in,

Hân hạnh lắm được một trăm độc giả.

Cứ tưởng tạm ngơi ít bữa, lấy đà dưỡng sức, cho qua thời kinh tế lung lay,

Nào hay đánh giấc ngàn thu, bặt tiếng im hơi, chẳng thoát nạn lý tài trắc trở.

Hay là ngán trần tục, viết văn không kẻ hiểu, luống uổng công phu,

Cho nên thăng thiên đường tái bản để Trời xem cho cao phẩm giá.



Than ôi!

Cùng làng ngôn luận tân cựu đôi đường,

Nửa kiếp kinh doanh, âm dương hai ngả.

Bâng khuâng luống xót xa lòng,

Thương nhớ thêm ngao ngán dạ.

Vừa độ nào, ta đây bạn đó, điều phải chăng còn giũa bút luận bàn,

Mà bây giờ kẻ khuất người còn, thơ chua chát biết cùng ai xướng họa.

Thôi! Chẳng may mỏng phận, ngắn đời,

Song nay đã yên mồ đẹp mả.



Ngu hữu gọi là lễ mọn vi thiềng:

Rượu lậu một bầu, trứng tươi hai quả

Mực nướng vài con, sò huyết một tá

Bạn có khôn thiêng

Xin về chứng quả!

Thượng hưởng!

Bài văn tế tuy thể hiện nụ cười, với lời hóm hỉnh pha vị chát chua nhưng toàn bài cũng bày tỏ được mối cảm thông và tương thân tương ái giữa hai kẻ tài hoa đều có tâm huyết với nghề văn mặc.

Khi Tản Đà mở phòng lý số ở Hà nội, Tú Mỡ cũng giễu bậc đàn anh trong bài Tản đà cốc tử và Tản Đà cũng vui vẻ đáp lại lời bông đùa của bạn.

Trong Tự lực văn đoàn thân với Tản Đà còn có Khái Hưng. Khái Hưng là người đầu tiên nhận thơ dịch của Tản Đà cho đăng trên Ngày nay. Tác giả Hồn bướm mơ tiên còn kể lại một vài kỷ niệm về Tản Đà trên báo Ngày nay ra ngày 24/4/1939 trong bài Thi sĩ và cô đào hát.

“Con người thi sĩ trong Tản Đà ai cũng biết hết, nhưng ít người biết còn có một người kịch sĩ ở trong ông nữa. Hai vở “Người cá” và “Tây Thi” của Tản Đà đã diễn trên sân khấu mà không xuất bản thành sách.

Hai vở tuồng trên đều diễn ở nhà hát Thắng Ý phố Hàng Quạt. Khái Hưng đều xem không phải vì thích tuồng nhưng vì người dàn cảnh là Trần Quì. Trần Quì kéo Khái Hưng đi và đưa cả vào hậu trường. Nhờ thế, họ biết được một chuyện tình kín của thi sĩ.

Trần Quì nói với Khái Hưng:

– Hỏng bét cả! Con Liên có biết hát hỏng gì đâu mà anh Tản Đà cứ nhất định bắt nó đóng vai chính.

Khái Hưng mỉm cười:

– Thì đừng để nó đóng vai chính nữa.

– Đừng để! Đừng để! Khốn nhưng anh ấy không cho diễn vở tuồng của anh ấy nữa.

Thế là Đào Liên đóng vai chính Tây Thi.

Liên là một đào hát quá trẻ, khoảng 16 tuổi. Giọng Liên đờn đợt, the thé. Điệu bộ Liên cứng nhắc và trơ trẽn. Xưa nay, Liên chỉ được đóng vai phụ, vai thị tì, vai vợ vua Phiên ra ngồi làm vì trên sân khấu.

Nhưng Tản Đà có cần gì biết điều đó, ông chỉ thấy Liên đẹp nên để đóng vai Tây Thi. Trần Quì lại cho rằng Tản Đà viết Tây Thi là vì Liên. Hôm diễn “Người Cá” nhà thơ đã lưu ý đến cô đào hát xinh tươi, thế rồi ông về soạn vở “Tây Thi”.

Không rõ cuộc tình đi xa đến đâu: thi sĩ cùng cô đào hát có ngao du sơn thủy như Phạm Lãi với Tây Thi hay không, nhưng từ khi sắm vai Tây Thi, Liên nổi tiếng và nghiễm nhiên trở nên một đào chính của rạp Thắng Ý.”

Khái Hưng cũng là một trong những thân hữu gặp Tản Đà lúc thi nhân sắp mất vào ngày 6 tháng 6 năm 1939:

“Hôm mồng sáu, được tin ông Tản Đà mệt nặng, tôi (Khái Hưng) đến Ngã Tư Sở thăm ông tại nhà riêng.

Một người đàn bà có tuổi ra mở cửa. Bà mếu máo bảo tôi: “Nguy mất rồi, ông ạ!’’

Tôi cảm động nghẹn ngào, nhất là khi thấy bóng thi sĩ nằm co quắp trên tấm ghế ngựa quang dầu buông chiếc màn sô trắng, trong gian phòng trống trải trơ trọi một cái bàn siêu và hai cái ghế nát.

Bà Tản Đà ở phòng trong bước ra. Phòng trong có nghĩa là nửa gian nhà, cách gian ngoài một bức tường mỏng mảnh và một cái cửa không cánh không rèm.

Bà vừa mặc một cái áo lương vào người vừa bảo tôi: “Hôm qua tưởng đi rồi ông ạ! Phải tiêm thuốc hồi sinh mới tỉnh lại”.

Rồi bà đến bên giường, mở màn cúi xuống nói với chồng: “Ông Khái Hưng đến thăm.”

Thi sĩ trừng trừng nhìn tôi, mắt không chớp trong mấy giây: “Ông Khái Hưng đấy mà!”

Tản Đà gật đầu rồi giơ tay ra hiệu bảo anh người nhà vắt màn lên. Anh người nhà hầu chủ từ khi còn nhỏ đã khiến nhiều lần tôi tưởng tượng ra chú tiểu đồng mang bầu thơ túi rượu đi theo sau một thi sĩ trong các bức tranh thủy mặc của Tàu.

Tản Đà vẫn yên lặng nhìn tôi. Tôi hỏi bà Tản Đà:

– Thưa bà, ông mệt từ hôm nào?

– Thưa ông đã lâu. Nhà tôi đi ăn giỗ rồi bị cảm. Đã khỏi rồi phải lại.

Anh người nhà nói chen:

– Thưa ông, ông con mệt đã mười bốn hôm. Từ hôm mồng năm, hôm nay mười chín vị chi đúng mười bốn hôm.

Câu nói tỏ hết lòng của người đầy tớ trung thành. Anh đã tính nhẩm từng ngày ốm của chủ, và có lẽ đêm nào anh cũng túc trực bên giường bệnh.

Tôi đưa tay sờ trán người ốm. Một thứ lạnh ướt làm tôi rùng mình. Tôi có cảm giác như sờ vào một cái thây ma. Nhưng tôi gượng cười bảo thi sĩ:

– Không sao, thế nào rồi cũng khỏi. Trông sắc mặt bác tươi tắn và nhất là mắt bác còn tinh thần. Thế nào cũng khỏi!

Một nụ cười hé nở trên cặp môi nhợt nhạt của nhà văn. Đó là lời cám ơn lặng lẽ. Hay đó là một câu thơ trào phúng...?

Nhưng hy vọng dần dần trở lại trên nét mặt nặng nề. Và cả mắt lẫn miệng nhìn tôi đăm đăm. Tôi đoán đó là một câu hỏi và tôi trả lời:

– Bác đau gan. Trông da vàng đủ hiểu. Bệnh đau gan ngày nay người ta đã tìm được thuốc chữa rất công hiệu.

Cặp mắt mở to, thi sĩ lắng hết tinh thần chăm chú nghe tôi. Rồi ông thốt ra một câu nói khẽ, lời nói thứ nhất mà tôi nghe thấy:

– Uống sâm có được không?

Tôi lắc đầu:

– Không được, bác ạ. Sâm trệ. Vả sâm thực tốt khó mua. Uống sâm giả hiệu chỉ thêm nguy hiểm.

Bà Tản Đà đỡ lời bảo chồng:

– Phải đấy mình ạ. Phần nhiều là sâm xấu.

Thi sĩ lại hỏi:

– Ăn cháo có được không bác?

Tôi cảm động, nhận thấy người sắp chết cố níu lấy sự sống:

– Được chứ! Ăn súp cũng được.

Rồi tôi giơ tay từ biệt, nắm trong mấy giây bàn tay ướt lạnh như miếng thịt ướp nước đá:

– Chịu khó ăn cho chóng khỏe nhé. Mà khỏi rồi thì phải uống ít rượu thôi đấy!

Một nụ cười thứ hai lặng lẽ và tươi tắn đáp lại tôi.

Trưa hôm sau tôi đến thăm một lần nữa, lần cuối cùng thì Tản Đà đã mê man sắp từ trần.”

Sự giao thiệp của người xưa theo tiêu chuẩn “quân tử đạm nhược thủy” (người quân tử giao thiệp với nhau không tỏ ra quá nồng nàn nhưng vẫn hàm sự chân thiết và mênh mông như nước). Đọc lại hồi ức của Khái Hưng có thể thấy rõ điều này, ông tỏ ra thương xót và cảm thông với một nhà thơ mà mình kính mến trong phút lâm chung trong cảnh ngộ cơ hàn.

Hoàng Yên Lưu
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Hạ Vi
#2894 Posted : Thursday, November 19, 2015 9:35:37 AM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)





Có mùa Thu nào trong Anh


Quê anh mưa nắng hai mùa
Quanh năm vọng lời sóng vỗ…
(Dấu tình xưa - mùa lá đổ
Khắc dáng thu nào mong manh)

Anh hỏi… ới à… khóm trúc
Màu thu úa phủ nơi nơi
Nhuốm vàng quê anh - hoa cúc
Có nghe thu giăng bên trời?

Nghiêng tai hỏi dòng sông nhỏ
Biếng trôi dưới nắng hanh vàng
Lả lơi có đàn bướm đẹp
Bắt cầu ao đưa thu sang?

Đem lòng hỏi lời con gió
Thoảng hương lúa chín đồng chiều
Hồ như thu về trước ngõ,
Ngô đồng từng cánh liêu xiêu?

Mơ màng nhặt chùm hoa nắng
Đổ vàng cánh lá lao xao
Rơi trong lòng thu thầm lặng
Cuộc tình thoảng như chiêm bao…

Anh về hỏi lời lá trúc
Đưa mùa thu trôi đi đâu?
Lòng anh chưa vàng đóa cúc
Đã nghe thu về giăng sầu?



Mộc Miên Thảo

6/8/2015









CỏThơm
#2895 Posted : Thursday, November 26, 2015 5:41:48 AM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)






Mai tôi đi
nhạc: Anh Bằng
thơ: Nguyên Sa

click >> Nguyễn Hồng Nhung


Mɑi tôi đi, chắc trời giăng mưɑ lũ
Mưɑ thì mưɑ, chắc tôi ƙhông bước νội
Nhưng chẳng thế nào, thì cũng sẽ xɑ nhɑu, mình cũng sẽ xɑ nhɑu

Mɑi tôi đi, chắc rằng Ƥɑris ƙhóc,
nhưng lệ rơi sẽ ƙhô th℮o tháng ngàу
Ϲho dù cách nào, thì cũng sẽ xɑ nhɑu, mình cũng sẽ xɑ nhɑu

Mɑi tôi đi xin đừng nhìn th℮o, xin đừng đợi chờ
Đời trăm muôn góc ρhố, con đường dài thật dài
Ƭhẳng mãi có bɑo nhiêu, thẳng mãi có bɑo nhiêu

Mɑi tôi đi, xin đừng gọi tên, thêm nhiều muộn ρhiền
Ɗù môi ƙêu đắm đuối, hɑу mặn nồng một trời
Ϲùng đành lòng xɑ thôi, cũng đành lòng xɑ thôi

Mɑi tôi đi, chắc dòng sông Ѕ℮in℮ nhớ
nhưng dù sɑo, nhớ nhung rồi sẽ mờ
Muôn νạn u sầu, rồi cũng sẽ xɑ nhɑu, mình cũng sẽ xɑ nhɑu









.
1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 12/25/2015(UTC)
Duy An
#2896 Posted : Friday, December 4, 2015 6:12:32 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)

Đọc “Tống biệt hành” thơ Thâm Tâm


Châu Thạch




Thi sĩ Thâm tâm (1917-1950)

TỐNG BIỆT HÀNH

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay ./.

Thâm Tâm


Bài thơ “Tống Biệt Hành” được nhà thơ Thâm Tâm sáng tác vào khoảng năm 1940. Kể từ khi ra đời đến nay đã trên 75 năm bài thơ luôn luôn được yêu thích và đã được đưa vào sách giáo khoa của học đường. Hành là một thể thơ cổ, thường được xử dụng để diễn tả một tâm trạng bi phẩn, bi hùng. Bài thơ “Tống Biệt Hành” của Thanh Tâm có hai nhân vật, người đưa tiễn và người ra đi. Tâm trạng của người ra đi được biểu hiện qua lời của người đưa tiễn và ngược lại, tâm trạng của người đưa tiễn cũng là tình cảm của người ra đi.

Vào đề với bốn câu thơ, tác giả đã cho ta nghe sự va đập dồn dập của nhiều âm thanh:

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Vế thơ có nhiều chữ “không” và lạ thay, nội chứa trong chữ “không” đó nẩy sinh chữ “có”: Không sông thì lại có tiếng sóng, không thắm thì có mắt trong, không vàng vọt thì có hoàng hôn. “Không” và “có” là hai từ đối lập nhau, lại hoà hợp trong vế thơ nầy, tạo thành âm thanh biểu hiện nỗi ấm ức trong lòng. Đọc vế thơ ta thấy ngay nhiều nghịch lý xảy ra giử cảnh và người đưa tiễn cũng như người ra đi. “Đưa người, ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?” là nghịch lý xảy ra đối với người đưa tiễn, và “Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” là nghịch lý xảy ra đối với người ra đi. Khung cảnh bên ngoài đối chọi với tình cảm trong lòng là một nghệ thuật điêu luyên trong sáng tác. Tác giả dùng phương pháp “tá khách hình chủ” nghĩa là mượn cái nầy để làm nổi bật cái kia giống như Nguyễn Du đã dùng cái đẹp của Thuý Vân để gần cái đẹp của Thuý Kiều, làm cho Thuý kiều nổi bậc thêm lên. Ở đây Thâm Tâm đã dùng hai sự kiện “không” và “có”, mục đích dùng cái không của không gian để làm nổi cộm lên cái có trong tâm hồn. Cái có ở đây là nỗi buồn ly biệt.

Qua vế thứ hai của bài thơ:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Đoạn nầy ý nói người ra đi sẽ không quay về khi chí lớn chưa thành, dầu mẹ có chết ba năm sau ngày giáp cử cũng không về để tang mẹ được. Những câu thơ ở vế thơ nầy thật rắn rỏi nêu lên sự quyết tâm của người ra đi vì chí lớn. Lời thơ như hịch xuất quân, như lời thề non nước.

Qua hai vế thơ kế tiếp như sau:

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Đoạn nầy có tác giả bình thơ nhận xét rằng “Không những tầm thường mà còn hơi “sến” nữa”. Thật ra nhà thơ Thâm Tâm rất rành tâm lý. Ở hai vế thơ trên biểu hiện niềm đau quặn thắt trong lòng người đưa tiễn, sự xúc động đã dâng lên cao độ khi thốt lên tiếng kêu đau thương “Li khách! li khách!”. Qua hai vế thơ nầylời thơ trở nên kể lể vì niềm đau đã được nén xuống, hơi thở nhẹ đi, con tim bình tịnh lại.Nỗi đau không còn là ngọn lửa bùng lên nữa mà bây giờ nó là ngọn lửa âm ỉ đốt cháy trong lòng. Lời thơ kể lể ở đây không phải là “tầm thường”, không phải là “sến” mà nó là dàn nhạc trầm lặng da diết, sau khúc nhạc gầm thét diễn tả nỗi đau trong lòng nhân vật.

Vế chót của bài thơ như sau:

Người đi:? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như ly rượu cay

Có người cho rằng vế thơ nầy “Quá cứng cỏi. lạnh lùng và vô tình”. Thật ra đây là một vế thơ rất hay, nó cho thấy bút pháp tài hoa của tác giả. Những điều mà người ra đi phủ nhận trong vế thơ nầy chính là những điều mà người ra đi canh cánh bên lòng.Chữ “thà” ở đây không có nghĩa là “ xem như không có” mà chữ “thà” ở đây có nghĩa là “không bỏ đi được”. Nếu người ra đi ngày ấy xem mẹ như lá, chị như bụi và em như ly rượu cay thì người đó không đáng để đưa vào thơ. Ta hãy đọc một đoạn thơ có chữ “thà” trong bài “Khúc Tình Buồn” của Nguyễn tất Nhiên để hiểu thêm về chữ “thà’ của Thâm Tâm: “ Người từ trăm năm/ về qua sông rộng/ ta ngoắc mòn tay/ trùng trùng gió lộng/ thà như giọt mưa/ vỡ trên tượng đá/ thà như giọt mưa/ khô trên tượng đá/ có còn hơn không…”. Ta thấy rằng, khi người yêu qua sông, Nguyễn Tất Nhiên ngoắc mòn tay gọi người yêu trong vô vọng. Lúc đó nhà thơ càng dùng chữ “thà” thì càng đau đớn gấp bội. Tình yêu lúc đó càng mảnh liệt đến nỗi nhà thơ muốn “Thà như giọt mưa” thì vẫn còn có để đến với em hơn là không chi hết. “Thà” của Nguyễn tất Nhiên và Thâm Tâm là từ ngữ đã vượt ra ngoài nghĩa của cái chữ thường tình. Nó khẳng định một tình yêu mảnh liệt với người yêu trong thơ Nguyễn Tất Nhiên và nó cũng khẳng định một tình yêu mảnh liết với mẹ, với chị, với em trong thơ Thâm Tâm.

Gần đây có ý kiến cho rằng “Mức độ nổi tiếng của Tống Biệt Hành không tương xứng với giá trị nghệ thuật của nó vì các lý do sau:

– Được Hoài Thanh là nhà phê bình danh tiếng ưu ái giới thiệu trong Thi Nhân Việt Nam. Do đó người sau vì uy tín của Hoài Thanh và Thi Nhân Việt nam cứ thế ca ngợi, tán dương theo.

– Được cả chính quyền miền Bắc và miền Nam Việt Nam cần người lên đường phục vụ cho chế độ nên giúp sức phổ biến vì lý do chính trị.

– Được đưa vào nhà trường giảng dạy nên thầy giáo, học sinh cứ tán tụng, không dám bày tỏ ý kiến đối nghịch vì sợ bị trù dập.”

Nhận xét như thế tôi cho là quá bất công với Tống Biệt Hành vì:

– Hoài Thanh không ưu ái với nhà thơ Thâm Tâm mà Hoài Thanh chọn Tống Biệt Hành để đưa vào Thi Nhân Việt Nam với sự công tâm đánh giá nghệ thuật như bao bài thơ của các tác giả khác thời bấy giờ. Uy tín của Hoài Thanh đủ khẳng định cho Tống Biệt hành có giá trị nghề thuật cao. Truyện Kiều của Nguyễn Du mà còn có người dám chỉnh sửa lại thì Tống Biệt Hành là cái gì mà 75 năm qua mọi người nhắm mắt tán tụng nó theo Hoài Thanh. Điều đó không thể nếu tự Tống Biệt Hành không có giá trị ngang tầm với danh của nó.

– Chính quyền miền Bắc và miền Nam trước 1975 có hàng vạn bài thơ phục vụ cho chế độ mình trực tiếp và cụ thể, đâu cần chi một bài thơ Tống Biệt Hành nói về một sự ra đi vu vơ không mục đích rõ ràng.

– Bài thơ được đưa vào nhà trường tức là được chọn lọc. Thêm một lần nữa khẳng định giá trị nghệ thuật cao của bài thơ. Nhiều năm qua kể từ khi bài thơ được giảng dạy đến nay, không có dư luận nào chê trách việc giảng dạy Tống Biệt Hành. Điều đó chứng tỏ giá trị nghệ thuật của Tống Biệt Hành được đánh giá đúng nên không có sự phản hồi, phản bác, đối nghịch trong công luận.

Thật ra với thời gian 75 năm, kịnh nghiệm cho ta thấy có nhiều tác phẩm hời hợt, được vinh danh gượng ép vì một lý do nào đó đã lần lược mai mọt hết với thời gian rồi. Riêng Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, nó vẫn còn sống thắm tươi trên diễn đàn văn học và trong lòng nhiều thế hệ. Nó không chết đâu, và mức độ nổi tiếng của nó rất tương xứng với giá trị nghệ thuật của chính nó vì Tống Biệt Hành là khúc ca tiễn biệt rất hay mà tiễn biệt thì ở thời đại nào cũng có xảy ra ./.

1 user thanked Duy An for this useful post.
phamlang on 12/25/2015(UTC)
Duy An
#2897 Posted : Thursday, December 17, 2015 1:52:03 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)


Gặp gỡ ở Huế, thời nhỏ...


… Vâng, tập ký Sống & Chết Ở Sài Gòn của Hoàng Hải Thủy đã cho tôi trở về một thời xưa. Thời sinh viên ở Sài Gòn, tất nhiên. Nhưng còn một thời xa hơn nữa, do những hồi ức về Trần Lê Nguyễn và Minh Đăng Khánh làm sống lại.

Trước hết, xin bắt đầu bằng Quách Thoại. Cả ba người - Quách Thoại, Trần Lê Nguyễn, Minh Ðăng Khánh - tôi đều gặp lần đầu tiên ở Huế. Trong những bài tản mạn của mình, có lần tôi đã viết về cuộc gặp Quách Thoại:

“Mùa Hè ấy - cách đây nửa/thế kỷ có hơn - tôi gặp Quách Thoại. Thoại từ Sài Gòn về lại Huế, định ẩn cư với đá và cây cùng chim muông trong vườn. Tôi gặp Thoại qua một người bạn. Thoại ăn mặc đẹp, dáng vẻ một dandy kiểu Baudelaire. Complet màu beige, mũ feutre. Tôi thì hãy còn là học sinh, đi chiếc xe đạp hiệu Saint Etienne sơn đen, có một cái chuông rất lớn, một porte-bagages rất chắc. Những bài thơ, một vài tùy bút và truyện ngắn đầu tiên, hãy còn non dại lắm, được đăng trên Ðời Mới, Thẩm Mỹ...

Mùa Hè ở Huế nóng như một cơn điên màu đỏ, nhưng có lúc chợt lãng đãng trong màu tím trôi trên sông. Ngồi ở đây, thành phố miền đồng cỏ của nước Mỹ, mà tôi như còn thấy lại hình ảnh Quách Thoại. Dáng anh cao, nghiêng, chiếc mũ dạ cũng nghiêng theo chiều gió, bước đi trên đường Lê Thái Tổ, dưới hàng cây, đi qua cầu, nhìn những lá đò trôi trên sông và dãy núi xa, mờ.

Một buổi chiều, chúng tôi họp mặt ở nhà anh Thái bên An Cựu, uống trà và nói chuyện thơ. Lần đầu tiên tôi được nghe Như Băng Trường Tình của Quách Thoại. Như Băng, một thời là người Thoại yêu, sau ẩn mình trong tu viện. Như Băng ơi, vì đâu mà lệ ứa / Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta... Chúng tôi kéo nhau đi ăn bánh bèo dưới chân núi Ngự. Thoại vui, nói chuyện có duyên. Anh có vẻ xanh, gầy, nhưng trong và sáng. Cuối buổi đi chơi, tôi chở Quách Thoại về miệt Bãi Dâu, trên chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ của tôi. Thoại ngồi sau xe, lật tờ Ðời Mới có đăng bài tôi, nói: “Văn anh viết như giọng văn Thạch Lam...” Thời trẻ dại ấy, được nghe lời khen đó, tôi sướng lắm. Tôi chở Thoại tới nơi anh ẩn cư. Giường anh nằm giữa hai dãy giường dài, chung quanh cũng là những người gầy xanh như Thoại. Thì ra đây là nơi cho những người bị lao dưỡng bệnh.

Sau 1956, gặp lại Quách Thoại ở Sài Gòn. Quán cà phê hè phố Kim Sơn. Trên đường Catinat. Anh trông gầy và xơ xác đi nhiều lắm. Nhưng đôi mắt lấp lánh. Ðây là thời của anh và các bạn. Thời tạp chí Sáng Tạo. Rồi mấy năm sau, anh mất. Với tôi, hình ảnh đẹp nhất của anh không phải là trên hè phố Sài Gòn. Mà là bên bờ sông Hương ở Huế. Và trong thơ:

Quách Thoại đi
giữa lòng cuộc đời
còn sót
lẻ loi
một bông
thược dược.

Cũng những năm tháng còn là học sinh, tôi gặp Trần Lê Nguyễn. Dạo ấy, sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, anh làm thư ký tòa soạn cho tạp chí Mùa Lúa Mới ở Huế. Một buổi chiều tôi đạp xe đến tòa báo trong Thành Nội, gặp Trần Lê Nguyễn. Anh gầy, râu ria, tóc bơ phờ. Tôi trao anh một bài thơ, bài Người Em Cách Một Nhịp Cầu. Có những câu như sau:


Em về bên kia nhịp cầu
Không hẹn ngày mai gặp lại
Vì dòng sông ấy còn sâu
Vì máu dân mình còn chảy
Chắc gì những chuyện mai sau
Biên thùy xây bằng non ải...


Chỉ có thế thôi, chỉ là những điều có thể nhìn thấy trước được, ấy vậy mà cũng bị ông Lam Giang đả kích nặng, cho là thân Cộng. Chuyện cũ tào lao, không kể lại dài dòng. Sau này, gặp lại Trần Lê Nguyễn ở Sài Gòn, anh nhớ ngay tên tôi và bài thơ. Một hai lần khác, gặp anh ở quán Chùa, bắt tay chào hỏi, không có thân tình gì đặc biệt. Cho mãi đến sau 1982, tôi đi tù cải tạo về, chúng tôi mới gọi là quen thân bởi mối giao tình trong cơn nạn nước khi đám nhà văn nghệ sĩ thời trước bị cướp mất giấy bút, cho ra lang thang lề đường góc phố. Thường, mỗi buổi sáng, trước giờ tới một nhà nào đó dạy học chui, tôi ghé quán cà phê của Hồ Hoàng Ðài, ở ngõ hẻm đường Tự Ðức. Ở đây, tôi gặp Ðinh Cường, Trịnh Cung, Hồ Thành Ðức, Ðỗ Quang Em... Và Trần Lê Nguyễn. Anh cưỡi chiếc xe đạp cà tàng, chở báo bán rao. Anh và tôi ngồi uống cà phê, nhắc tới Thanh Tâm Tuyền, và các họa sĩ Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Bùi Xuân Phái... Thỉnh thoảng, tình cờ kiếm được tranh những họa sĩ này, Trần Lê Nguyễn đem bán và cũng kiếm được ít tiền, đỡ khổ... Năm 1995, tôi bỏ nước ra đi, và sau đó được tin Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não rồi qua đời. Bây giờ, đọc Hoàng Hải Thủy, tôi biết thêm là trong những ngày còn lại, Trần Lê Nguyễn nhớ bạn bè, ngồi xích lô đi thăm. Trông anh tội nghiệp, nói lắp bắp không ra lời.

Cũng ở Huế, thời nhỏ, tôi gặp Minh Ðăng Khánh. Quách Thoại có dáng rất thi sĩ, Trần Lê Nguyễn thì hơi bụi và khắc khổ. Minh Ðăng Khánh khác hẳn hai type người nghệ sĩ nói trên, anh hoạt bát, thần sắc tươi nhuần, cao lớn khỏe mạnh và yêu đời. Mái tóc trắng màu bạc, khuôn mặt đầy, da nâu, anh đúng là mẫu người trong phim (anh là diễn viên điện ảnh, sau này hoạt động trong ngành). Dạo ấy, Khánh đang làm tờ Thẩm Mỹ, và tôi có một hai bài thơ đăng trên đó (Nhịp Bước Mùa Thu, Tháp Nắng...), làm anh chú ý. Ra Huế, Minh Ðăng Khánh nhắn các bạn muốn gặp tôi. Hình như cũng tại nhà anh Thái ở Bến Ngự, tôi được hội ngộ với Minh Ðăng Khánh. Anh nói chuyện bằng giọng Huế rất giỏi. Gặp nhau, kéo nhau đi cà phê, dạo phố, rồi chia tay. Sau này, ở Sài Gòn nhiều năm tôi lại không có dịp tái ngộ Minh Ðăng Khánh. Thời gian trôi qua trong cơn lốc chiến tranh, rồi miền Nam sụp đổ, rồi trại tù và những năm tháng oan khổ ở thành phố với đám chủ mới y trang xúng xính (thơ TTY). Ðọc Sống & Chết Ở Sài Gòn của Hoàng Hải Thủy, tôi được biết Khánh đã chết. Tháng 3, 1976, anh đi tù cải tạo chừng non năm. Về được ít lâu, Minh Ðăng Khánh cũng như Trần Lê Nguyễn, bị đột quỵ liệt nửa người, đi lại khó khăn. Mỗi lần đến thăm Hoàng Hải Thủy, anh lết lên thang gác nằm nói chuyện hằng giờ. Hoàng Hải Thủy thuật lại: “...Thang gác nhỏ xíu, Khánh lên thang bằng cách ngồi xoay lưng, nhấn chân nhổm đít lên từng bậc, lúc xuống cũng vậy. Vì Khánh lên xuống thang khó khăn như thế nên tôi giải quyết vấn đề tiểu tiện cho Khánh bằng cách lấy cái bô lên gác, tôi bưng bô cho Khánh đứng đái.” Ôi kiếp người, nhất là nghệ sĩ dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, sao nhọc nhằn và đầy oan khốc.

TN

phamlang
#2898 Posted : Friday, December 25, 2015 7:53:03 AM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Mùa thu và… phở

Tim Nguyễn

Mùa thu và phở. Gớm cái ông này bộ hết chuyện nói rồi sao mà kết hợp mùa thu với tô phở. Dạ thưa, thú thiệt Nguyễn này đôi khi cũng bí đề tài, đâm ra nói chuyện trên trời dưới đất, không đâu vào đâu cả và cũng chẳng theo một logic nào ráo trọi. Thế nhưng, chuyện mùa thu và phở có cái lý riêng của nó đấy. Cũng như chuyện mùa thu và... thịt chó ấy mà. Ôi chao... Có người sẽ lại la lên: Ông Nguyễn ơi, nhà văn nhà báo gì mà dung tục. Mùa thu đẹp thế, rực rỡ thế, vậy mà liên tưởng tới thịt chó và tô phở. Rõ ràng là tham ăn tục uống.

Quả đúng là dung tục. Nhưng không phải tự dưng Nguyễn xắn quần vào chợ đâu. Do người ta nói, và Nguyễn bắt chước nói leo đấy thôi. Mà người nói đó không ai khác ông bạn Châu Liêm của Nguyễn. Để rồi có dịp tới đây Nguyễn sẽ nói về ông bạn CL và bài văn Mùa Thu và Thịt Chó của hắn ta.

Bây giờ chỉ xin tản mạn (tức nói lan man) về Mùa Thu và Phở.


Này nhé, xin các bạn cùng Nguyễn tưởng tượng chút xíu, nhé. Lúc này, nơi Nguyễn ở là 4, 5 giờ chiều. Trời nhiều mây, gió thu lành lạnh, lá vàng bay trên đường. Bụng chợt thấy đói. Bèn rủ bạn ra quán Phở Bắc ở ngã tư Plano-Beltline làm một tô chín gầu vò viên nóng hổi. Sướng ơi là sướng. Mùa thu và phở đấy, một bản ballad rộn ràng. Ôi, mùa thu. Ôi, phở.

Nói tới phở, tức là nói tới những gì thân thiết gần gũi nhất của đời sống. Nói tới tâm tình và văn hóa. Sao không? Ai không nhớ bát phở ăn hồi nhỏ, ở một góc phố nào đó khuất sau màn sương của trí tưởng. Bát phở của một gánh phở rong thơm lừng đường phố. Và qua màn sương vừa nói, lung lay ánh lửa của nồi nước lèo trong khuya. Rồi tiếng rao theo gió lạnh chạy dài trên khu phố. Tô phở ăn vào lúc khuya khoắt ấy trong đêm mùa thu hay mùa đông ngồi học bài, thấy nóng ấm cả người. Vị ngọt của nước phở, cay của ớt, nồng của hành khiến cơ thể và trí óc bàng hoàng. Hồi ức của tô phở hồi còn nhỏ tỏa ra ánh sáng của yên vui và hạnh phúc, điều sau này ít thấy trong đời.

Hôm xưa, trong hội thoại trên đài về việc ăn phở từ trong nước ra đến nước ngoài, Nguyễn tôi có nhắc tới những tô phở ở Sài Gòn. Có thể nói, rất chủ quan và đầy thách thức, phở Sài Gòn là ngon nhất. Ấy là vào thời điểm trước 1975. Phở Pasteur, Hiền Vương, Công Lý. Phở 79, phở Xe Lửa, Tàu Bay. Sau này có Phở Quyền, Phở 2000 - nơi nghe nói Bill Clinton từng ngồi ăn khi đến thăm Việt Nam. Ngoài ra, ở Sài Gòn xưa ấy, còn có xe phở của Bà Nhẫn ở trước nhà đường Hòa Hưng, kẻ này và tiện nội không thể nào quên được. Những đêm mưa Sài Gòn, ngồi ăn tô phở của Bà Nhẫn, có thêm đĩa xí quách thơm lừng, phải nói hạnh phúc nằm chính trong khứu giác và vị giác của ta khi nó được đánh thức tưng bừng.



Phở Hòa đường Pasteur


Phở từ Hà Nội xuôi Nam, tới Sài Gòn rồi tỏa đi các nơi khác. Con đường đi của phở tất yếu là như vậy. Ai không đồng ý thử chứng minh ngược lại xem. Từ Sài Gòn, phở đến Mỹ Tho. Những năm cuối thập niên 50 và đầu 60, kẻ này dạy học ở đó thấy có tiệm phở của một ông Bắc Kỳ to béo, râu ria, là có vị phở hơn cả. Đó là Phở Bắc Hải, nằm trên bờ sông, chỗ gần Cầu Quay. Ngoài ra, sau lưng trường Nguyễn Đình Chiểu, ở kiosk sát bến xe, cũng có một tiệm phở. Phở ở đây có mùi và vị củ cải, và bánh phở là bánh hủ tiếu. Không có gì gọi là chính thống cả, hoàn toàn Nam Kỳ, ấy vậy mà ăn vào rất ngon. Các bạn cùng dạy học ngày ấy - Lâm, Hy, Ruyên... hẳn chưa quên tiệm phở này. Còn cô học trò, hiện là cô giáo, ngày ấy mới mười ba, giờ ra chơi còn buộc hai vạt áo lại nhảy lò cò với bạn dưới bóng cây me tây, cô làm sao biết được tiệm phở đó - cũng gần nhà cô thôi, chừng mươi phút đi bộ. Giờ đây, làm sao Nguyễn này về lại bến sông xưa, và biết tiệm phở ấy còn không?

Ở Đà Lạt thời của Nguyễn và các bạn cũng có mấy tiệm phở ngon. Trước hết là phở Ga Xe Lửa, nơi mỗi sáng các giáo sư Võ Bị - những Nguyễn Thạc, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Minh Diễm (ôi, Khánh và Diễm đã ra đi), Đào Phú Thọ (nhà văn Đào Trung Đạo bây giờ)... thường ghé ăn cho ấm bụng trước khi vào lớp giảng bài. Rồi phở Bằng đường Hàm Nghi, sau này có thêm tiệm phở Cao Nguyên ở Khu Hòa Bình. Còn nữa, phở Ngọc Lan ở bến xe. Ở đây, đặc biệt miếng thịt chín gân thái rất to, và tô phở lúc nào cũng đầy ắp, hậu hĩnh. Nói tới phở Đà Lạt mà quên tiệm phở của ông Chín dưới chân Đài Phát Thanh là cả một thiếu sót lớn. Không biết Uyên (hồi đó còn mang tên Cẩm Thúy) và Phương mỗi tuần lên thâu chương trình Mây Cao Nguyên có ghé ăn tô phở ông Chín không. Chứ còn như Yến và Ngọc Hân thì ăn thường xuyên, chính mắt kẻ này trông thấy. Ăn sáng, ăn trưa và có khi ăn chiều. Phở không ngon lắm, nhưng lúc bụng đói, làm một tô cũng thỏa dạ. Rồi nhìn chim én lượn bay dưới mái Hotel du Parc...



Tiệm phở Tàu Bay đường Lý Thái Tổ

Phở Sài Gòn, phở Mỹ Tho, phở Đà Lạt - đối với kẻ này - là như thế. Còn thiếu sót rất nhiều, cố nhiên, nhưng đó là những nơi đầy bóng vang của tuổi xanh tôi, không bao giờ tìm lại được. Từ ấu thơ, phở đã cùng tôi đi qua suốt hành trình dài dặc của kiếp nhân sinh - vui có, nhưng buồn thì vô số kể. Giờ đây, ở xứ người, lại ăn phở.

Ôi, mùa thu và phở. Giá có Tô Thẩm Huy ở đây, Nguyễn sẽ mời ông ra Phở Bắc ăn một tô chín gầu béo ngậy, thơm lừng, uống cạn bình trà xanh do chủ nhân khoản đãi, rồi bắt ông ngâm Thu Hứng của Đỗ Phủ. Lúc bấy giờ nhìn ra sẽ thấy, qua trí tưởng, “Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm / Mặt đất mây đùn cửa ải xa.”
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2899 Posted : Sunday, January 3, 2016 8:33:22 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Mặn đắng nghề muối ở Cam Ranh



Việt Hùng/Người Việt

KHÁNH HÒA (NV) - Cách trung tâm thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 7km về phía Nam, bà con diêm dân (người làm muối) thuộc xã Cam Thịnh Ðông đang rơi vào cảnh sống dở chết dở với giá thu mua muối đang giảm xuống thấp chưa từng thấy.

Hạt muối chắt chiu được từ nước biển mặn đắng vốn đã không tương xứng với công bỏ ra nay lại rẻ thêm, vắt kiệt sức lao động, mồ hôi diêm dân. Có thể nói, nghề muối ở Cam Thịnh Ðông đã “làm mặn” những số phận và cay đắng hơn khi dấn bước trên thương trường.



Vợ chồng anh Trần Ngọc Anh và chị Nguyễn Thị Năm đang thu hoạch ruộng muối cuối cùng.
(Hình: Việt Hùng/Người Việt)



*100kg muối bằng 1 tô phở

Chúng tôi đến cánh đồng muối của bà con diêm dân xã Cam Thịnh Ðông vào buổi trưa nắng nóng oi bức. Lẽ ra thời tiết này rất phù hợp để các diêm dân làm muối, thế nhưng các ruộng muối vắng tanh, không một bóng người.

Anh Phan Tấn Việt, diêm dân ngụ ở thôn Hòn Qui, nhà ở gần đường quốc lộ 1A, cho biết: “Tháng nay bà con diêm dân đã bỏ ruộng muối, để đi tìm công việc khác. Phần lớn họ vào Sài Gòn để xin việc, số còn lại thì theo các ghe nhỏ, đánh bắt cá ven bờ biển.”

Khi được hỏi lý do vì sao mà bà con bỏ nghề, khi tiết trời vẫn đang còn nắng nóng, phù hợp với việc làm muối? Anh Việt cho biết: “Trước đây, lúc muối còn được 2,000/kg muối thô, diêm dân chúng tôi cùng có miếng ăn, nên vẫn còn bám trụ được với nghề. Tuy nhiên, năm nay giá muối rớt thê thảm. Chỉ có 300đ/kg mà các thương lái còn kì kèo chưa muốn mua. Phải bán cả 100kg muối, mới được 30,000đ (khoảng 1.3 đô la), tương đương với giá một tô phở. Thu hoạch 1 hecta ruộng muối, mới được khoảng 30 tấn. bán được 9 triệu đồng, trong khi chi phí để sản xuất ra từng đó muối cũng hết cả hơn 10 triệu, chưa kể tiền công của mình bỏ ra.”



Mặc dù buổi trưa nắng nóng, thời tiết thuận lợi cho việc làm muối, nhưng cả cánh đồng muối đều vắng tanh, không một bóng người.
(Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Ði mãi đến gần cuối cánh đồng muối mới bắt gặp vợ chồng anh Trần Ngọc Anh và chị Nguyễn Thị Năm đang cào mấy thúng muối mới khổ trên ruộng. Chị Năm tâm sự: “Với riêng nhà tôi, do không còn nghề nào khác nên vẫn phải bám ruộng muối để kiếm kế sinh nhai. Chứ xung quanh đây người ta bỏ ruộng hết rồi.”

“Hôm nào trời nắng đều, từ sáng đến chiều, nhà tôi làm được khoảng 40kg muối. Như giá đại lý thu mua từ 3,000 đồng/kg hiện nay thì số muối này có giá chỉ 120,000 đồng (gần 6 đô la). Tuy nhiên còn đỡ hơn không có em à?”

Nghe chị Năm tâm sự mà không khỏi nghẹn lòng. Năm nay chị mới 40 tuổi mà khuôn mặt toát lên nỗi khắc khổ: “Làm muối cực lắm, thậm chí phải chấp nhận nghịch lý, nắng gay, nắng gắt thì lam lũ trên đồng, mát trời lại về nhà nằm khểnh.”

“Cực khổ là vậy mà sản phẩm do mình làm ra lại bị người đời rẻ rúng. Cứ tình hình này, diêm dân sẽ không còn thiết tha với ruộng muối và chỉ vài năm nữa, nghề muối truyền thống ở đây sẽ bị ‘xóa sổ,’” chị Năm khẳng định.

*Nỗi lo ruộng muối cáo chung

Hiện nay, ở vùng biển Khánh Hòa nói chung, tại vùng muối Cam Thịnh nói riêng, diện tích đồng muối không còn nhiều. Bên cạnh nguyên nhân nhiều nơi nằm trong vùng ngọt hóa hoặc đồng muối đã được trưng dụng vào cuộc chạy đua của những người nuôi trồng thủy sản, lý do lớn nhất dẫn đến tình trạng diện tích làm muối bị “gặm” mỗi ngày là năng suất muối suy giảm một cách tệ hại, giá cả bấp bênh.




Phần lớn diêm dân ở đây đã vào Sài Gòn để tìm việc, số còn lại thì mưu sinh đánh bắt cá ven bờ bằng các ghe nhỏ này. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)



Ðể có được những bao muối trắng đem bán, nhiều diêm dân phải ra đồng từ lúc 5 giờ sáng để làm ruộng, đầm đất, té cát rồi đợi khoảng 8 đến 9 giờ sáng dẫn nước vào ruộng. Nước vào ruộng rồi, ngày nào cũng phải liên tục dùng trang đẩy nước để bảo đảm ruộng không bị khô, nếu không hạt muối sẽ đen, giá bán rẻ như cho. Ðến ngày thứ 3, khi muối kết tinh đủ, mới bắt đầu cào thu hoạch.

Nước tạo nên muối, nước cũng hòa tan muối như một nghịch lý ở đời. Cái nghịch lý sao mà bất công cứ ám ảnh những người dân lao động từ đời này sang đời khác. Nước mang hạt muối về, nước lại lấy hạt muối đi. Ðiệp khúc “nước-muối-nước” ấy sao cứ lặp đi lặp lại qua từng năm tháng như những mũi dao cứa vào da thịt mỗi lúc bão về sao mà xót xa, làm sâu thêm vết thương lòng của bao người dân miền biển.

Nghề làm muối đã trở thành một nghề truyền thống từ rất lâu đời ở Cam Ranh, nhưng vài năm gần đây diện tích đất dành cho việc làm muối bị nhiều yếu tố tác động. Nhiều nơi đất làm muối được giao cho từng gia đình nhưng lại không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ðiều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc vay vốn đầu tư của diêm dân.

Anh Trần Ngọc Anh nói: “Nghề làm muối, diêm dân bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cũng chỉ để lấy công làm lời, thế nhưng giá bán muối không đủ công sức bỏ ra thì làm sao mà làm nổi. Tôi hiện có hai sào ruộng muối, ráng thu hoạch cho xong tuần này là đành bỏ ruộng, chắc phải chờ khi nào giá cao mới làm lại.”

“Chính quyền thì không có một chính sách gì cho người diêm dân, đã thế còn chê muối của chúng tôi làm ra ‘dơ’ và cho nhập cảng muối nước ngoài về bán. Chủ yếu là muối của Ấn Ðộ. Bởi vậy mà việc bỏ nghề muối chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.” Ông Ngọc Anh ngao ngán thở dài.

Duy An
#2900 Posted : Saturday, January 16, 2016 12:04:59 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)


Thơ Xuân Đất Khách

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữ sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bời
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa .
Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư !
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do !
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa .
Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta .


Thanh Nam
Seattle, mùa xuân 1977
1 user thanked Duy An for this useful post.
Vương Thịnh on 1/16/2016(UTC)
Hạ Vi
#2901 Posted : Sunday, January 17, 2016 1:28:40 PM(UTC)
Ha Vi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered, Moderator
Joined: 3/15/2011(UTC)
Posts: 5,351
Points: 16,939
Location: CỏThơm

Thanks: 4141 times
Was thanked: 10062 time(s) in 2489 post(s)

Tháng Chạp yêu thương!





Không biết ai đã đặt tên tháng mười hai âm lịch bằng cái tên “tháng Chạp” từ bao giờ nghe sao mà quá đỗi thân thương da diết quá! Dẫu mỗi năm ta gặp lại tháng Chạp đều đặn nhưng sao vẫn bất chợt rung rinh những cảm xúc mong manh đến vỡ òa…

Vẫn là những hạt mưa sa, vẫn là cái lạnh mùa đông còn kéo dài âm ỉ, nhưng chỉ có tháng Chạp mới như có sự thúc giục của thời gian, sự xa vắng, quạnh quẽ ẩn chứa cả cái thở dài tiếc nuối.

Chỉ cần nghe tiếng lá cựa mình trong đêm tháng Chạp cũng làm ta trở giấc. Chỉ cần nghe làn gió nồm non vi vu trong những ngày cuối tháng Chạp cũng làm ta miên man trôi về miền quá khứ kiếm tìm hoài niệm.

Phải chăng tất cả những gì trong ngày tháng Chạp tràn về là cả một khoảng lặng để nhìn lại một năm đã qua, để hồi tưởng lại những gì mình đã được hay mất, rồi bất chợt nhận ra, dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm, mất mát, buồn vui thì cuộc sống vẫn vô tình, vẫn hồn nhiên trôi đi và mọi thứ rồi cũng sẽ qua… dù ồn ào, hay lặng thầm một năm dài vất vả, thì tháng Chạp về cũng đủ để xóa nhòa đi những vui buồn.

Có lẽ thế người ta bảo tháng Chạp bí ẩn thật khó gọi tên. Đó là tháng đoản khúc thời gian. Là tháng để mỗi người nhìn lại và đánh giá về những điều đã trải qua, đã nhận được trong suốt mười một tháng trước… Là tháng để mỗi người được trở lại là chính mình, cho phép mình được thả lỏng, tận hưởng để chờ đón một năm mới sắp đến với bao kế hoạch, dự định và cả những thách thức đang đợi chờ ở phía trước.

Với tôi, dẫu cho mùa theo mùa đi mãi, nhưng mỗi năm khi vòng tuần hoàn của trời đất đưa tháng Chạp về, lại dồn tụ những nỗi niềm và trào dâng một cảm xúc buồn vui với những cho - nhận, giữa cuộc sống như những ân tình còn nặng nợ nghèn nghẹn, tiếc nuối về một thời khuất hút… Và rồi lại nhận ra thời gian có vô tình mênh mang trôi để lại với dòng đời bao kỷ niệm có cay đắng ngọt ngào, có niềm vui và nỗi buồn hòa quyện. Nhưng tôi vẫn nghe trong từng phiến lá, từng thân cành lời thì thầm sâu lắng, lời thương nhớ nồng nàn để ta miên man trôi về miền thương nhớ.

Nơi ấy, nơi trú ngụ của con tim, nơi đằm sâu của ký ức. Là điểm tựa của cuộc đời để ta vượt qua khổ đau mất mát, vươn tới bến bờ hạnh phúc. Đấy là nguồn cội tổ tông, là ơn nghĩa thầy cô, bè bạn thời ta cắp sách đến trường, là tiếng ru à ơi cất lên từ tiếng lòng của mẹ, là dáng cha trong chiều chạng vạng, là chốn quê nơi cái nhau rốn ta chôn ở đó và nơi có cánh diều tuổi thơ vi vút gió chiều.

Ôi, tháng chạp yêu thương! Tháng kết tinh dồn tụ muôn ngàn thanh sắc, khiến ta chỉ muốn ôm trọn cả đất trời tháng Chạp. Muốn nói thật to lời cảm ơn tháng Chạp… và muốn tháng Chạp ơi! Hãy chầm chậm trôi để tấu lên bản hòa ca cung bậc cõi đời.


Minh Tư





Duy An
#2902 Posted : Tuesday, January 19, 2016 4:28:00 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Những mũi len ngày ấy


Những kỷ niệm tuổi thơ, nhất là tuổi thơ nghèo khó nhưng chan hòa yêu thương, bao giờ cũng gợi lên những xúc động ấm áp cho người đọc. Sau đây là chuyện về những mũi len của thời thơ ấu trong gia đình được một cô bé kể lại với giọng văn trong sáng, chân thành. Mời các bạn đọc trong mùa đông giá lạnh này.


Như Sao - (trong blog của Lan)


Chiều nay, trên đường đi chợ của người Hoa, đang rất mệt, tự nhiên lọt vào mắt con một hình ảnh cũ đến mức không thể tưởng tượng: một bà già Pháp ngồi thong thả đan len. Bất giác nhìn bà, con mỉm cười bâng quơ.

Lâu rồi, con không thấy nhà mình có ai cặm cụi ngồi đan len nữa.

Nghề đan len của mẹ đã cùng ba nuôi hai chị em con khôn lớn. Nhớ những tháng ngày “2 cúp 1 đỏ, thậm chí “3 cúp 1 đỏ”, dù hè nóng hay đông lạnh, cứ rửa chén xong, là mẹ thắp cái đèn hột vịt, lụi cụi ngồi đan áo cho người ta. Cũng vì những tháng ngày đó mà giờ mắt mẹ đã kém đi nhiều.



tranh Thắm Nguyễn


Thời đó, mẹ đan len, dì đan len, cô đan len..., chỉ mong nhanh nhanh cho người ta đến thử. Họ hài lòng thì đan nẹp cổ, kết nút xong là lấy được tiền. Còn không, thì tháo ra làm lại, khi đó, hai chân mày của mẹ nhíu lại dữ lắm! Đan xong, có tiền, lại còn sót chút len thừa, mẹ đan áo cho ba, cho hai chị em con. Ba là người lớn, áo len của ba cũng chỉ chen một hai màu. Còn áo con nít, biết bao nhiêu là màu, bảo đảm không “đụng hàng”.

Ngày nhỏ đi học, áo quần con luôn xoàng xĩnh, nhưng áo len, có mấy ai bằng. Khi ấy, con khoái cái áo có mũ, đính hai cục bông len. Lớn một chút, con mê cái áo màu xám mẹ đan, được dì thêu thêm cái mũi neo màu hồng. Giờ nghĩ lại thấy thương biết mấy là thương, không biết dì xin ở đâu rất nhiều len dệt thảm vụn người ta bỏ đi. Vậy là “phụ nữ lớn”, “phụ nữ bé” trong nhà hì hụi ngồi nối, “phụ nam” duy nhất quấn len. Cả nhà mặc áo đan bằng thứ len đó, hai màu vàng nâu ám ảnh con đến bây giờ. Bên ngoài nhìn cũng mát mắt, chứ bên trong toàn gút nối. Mẹ an ủi: “Vậy cho cái áo dày, thêm ấm đó con”.

Lâu lắc rồi, mẹ nhớ không? Hồi mẹ còn đan len mỗi tối và con còn bé tí, con thường bắt mẹ duỗi chân ra, để con nằm lên chân mẹ. Con cứ nằm đó mà ê a với mẹ. Mới đầu cái bo áo ngắn ngủn, tượng hình dưới đôi que đan. Rồi vạt áo dài dần ra, con có thể kéo đắp như cái mền.

Lúc đó con chỉ biết vui sướng vì có mẹ. Có nhiều khi thấy mẹ đan như người say mà con không hiểu vì sao. Sau này lớn một chút con mới biết, không chỉ để kiếm tiền, những động tác lặp đi lặp lại đó, còn giúp mẹ có một cái cớ để tạm quên đi những khó khăn chồng chất. Chỉ cần mẹ lơi tay, là những ám ảnh, những nỗi lo sợ sẽ đổ ập xuống, đè nặng lên trái tim một người mẹ trẻ rất mực yêu con mà không biết làm sao cho con đủ ăn đủ mặc.

Ở nhà bà ngoại đan giỏi nhất. Dì với mẹ thừa hưởng được 80% của ngoại. Còn con, chắc được 5% của mẹ thôi. Mà mẹ cũng chẳng ham truyền nghề cho con, thời nay mấy ai ngồi tỉ mẩn làm con tít đơn, con tít đôi, làm hoa cúc...

Chiều nay thấy bà già người Pháp ngồi đan len, tự nhiên con thèm có đôi que đan, có vài ba búp len xanh, trắng, và thêm một màu gì nữa nghĩ hoài không ra, để đan một cái khăn quàng.

Len, một từ gợi cho con bao nhiêu thương nhớ, mẹ ơi.
1 user thanked Duy An for this useful post.
CỏThơm on 1/22/2016(UTC)
phamlang
#2903 Posted : Wednesday, January 20, 2016 12:44:42 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
Uẩn tình của tuyệt sắc giai nhân Hà Thành



Vương Thị Phượng

Tứ đại mỹ nhân Hà thành vốn rất nổi tiếng, gồm: cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy.

Đó là những mỹ nhân có nhan sắc và nổi tiếng đến nỗi từng làm mê đắm biết bao trái tim của các quý ông học hàm học vị cao, hoặc công tử hào hoa, văn nhân – ký giả đa tình.

Hà Nội những năm 30 của thế kỷ trước từng xôn xao về thảm tình của cô Phượng Hàng Ngang. Thời đó, ở Hà thành, không chỉ báo chí, người ta còn viết sách, dựng kịch, làm thơ về vụ thảm tình của giai nhân tuyệt sắc nhất trong nhóm tứ mỹ này. Có rất nhiều tin đồn về người đẹp này, kẻ chê cô Phượng là dâm loạn, nhẫn tâm bỏ lại chồng con, bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để đi theo trai. Người thì khen cô dám đạp lên lề thói đạo đức phong kiến, đi theo tiếng gọi thổn thức của con tim. Vậy cô Phượng Hàng Ngang là ai?

Cô chính là người đẹp Vương Thị Phượng. Người ở Hàng Ngang nói rằng, mỗi lần nhìn thấy cô không chỉ cánh đàn ông mà cả các bà cũng điếng cả người vì sắc đẹp của nàng, nhìn cặp lông mày của cô yên my (lông mày như mây khói), cặp mắt là bán thụy phượng hoàng (con phượng hoàng nửa thức nửa ngủ, nghĩa là mắt mơ màng say đắm). Nhìn vào đôi mắt ấy tự thấy mình như một chiếc lá vàng rơi giữa không gian bao la tận cùng…

Mỗi khi ra đường, xuất hiện ở đám đông hay bất kỳ đâu, cô Phượng ăn mặc rất nền nã, khi thì chít khăn nhiễu tam giang, khi thì chít khăn nhung đen, đuôi gà vắt qua mái tóc. Cô hay mặc yếm hoa hiên, quần lĩnh tía cạp điều thắt lưng quan lục. Tất cả những màu sắc ấy ánh lên qua chiếc áo dài vải phin trắng may sát vào thân hình nở nang. Và đã có không ít văn nhân – ký giả đương thời khi được diện kiến cô Phượng đã phải thốt lên: “Tây Thi khiếp vía, Hằng Nga giật mình”.

Nhiều thanh niên, nhà ngay sát chỗ làm, nhưng hàng ngày vẫn bốn lần đi về theo đường vòng để qua phố Hàng Ngang, để được ngắm cô Phượng từ xa. Có chuyện kể rằng, mỗi khi tàu điện chạy qua phố Hàng Ngang, không ai bảo ai, tất cả hành khách đều hướng mắt về phía dãy nhà mang số chẵn, nơi Vương Thị Phượng sống.
Nhiều người ái mộ như vậy, nhưng cô Phượng lại lấy chồng là hạng công tử tốt mã giẻ cùi ở Hàng Ngang. Chồng cô suốt ngày rong chơi, chỉ coi vợ như một thứ đồ đắt tiền, xinh xinh, chỉ để ngắm nghía. Thậm chí, vì nghiện cờ bạc rượu chè và có tính ghen tuông, hắn thường đánh cô và đòi ly dị. Cô đã phản kháng bằng cách bỏ chồng đi theo tiếng gọi của một anh chàng nhà báo trẻ đầy tài hoa, tên là Hoàng Hồ, bút danh Hoàng Tích Chu, con trai một ông Huyện ở Bắc Ninh. Hai người yêu nhau say đắm, thực là một đôi trai tài gái sắc.

Vào khoảng cuối năm 1927, cả Hà Nội chấn động trước tin cô Phượng mất tích. Mãi sau này, mọi người mới biết cô Phượng đã theo Hoàng Tích Chu vào Sài Gòn sống. Cô đâu có biết rằng đó là một chuyến đi định mệnh. Hoàng Tích Chu đã quyết chí sang Pháp học nghề làm báo và hoàn cảnh không cho phép Chu đem theo người tình. Lúc đó, Chu bảo với Phượng về Bắc gặp cha, đem theo một bức thư cầu khẩn rất cảm động để ông nhận Phượng làm con dâu trong khi đợi Chu du học về.

Vốn là người có quan niệm cổ về lễ giáo, ông Huyện cho là gia đình Phượng không môn đăng hộ đối với gia đình ông, nên sai người đưa Phượng về xin lỗi chồng để trở lại, nhưng bị từ chối. Thế là cô Phượng đành phải buôn bán nuôi thân.
Sau nhiều lần vào Nam ra Bắc, đôi khi cô phải nương tựa vào người khác để tồn tại. Có người bạn giới thiệu Phượng cho một người tên Lưu – cũng là người phong nhã lịch thiệp. Nhưng Lưu đã có vợ nên phải thuê một căn nhà nhỏ bên Gia Lâm cho Phượng ở. Lưu đã vạch kế hoạch để hai người trốn sang Hồng Kông nhưng kế hoạch không thành. Phượng phải về nương náu tại một ngôi chùa ở Hưng Yên ý muốn đi tu, nhưng vì nghiệp trần vẫn nặng, cô vẫn phải chịu đựng kiếp hồng nhan.

Một hôm, có người đàn ông tên Bách làm Tham tán ở tòa Sứ đến vãn cảnh chùa gặp Phượng. Bách mê mẩn vẻ đẹp mặt hoa da phấn của Phượng bèn mượn người đến đánh tiếng với Phượng và xin với sư bà cho Phượng về làm vợ lẽ. Vợ cả của Bách đến đón Phượng về làm chị làm em rất quý hóa ngọt ngào. Nhưng ít lâu sau, Tham tán Bách được chuyển đi Lai Châu, người vợ cả lại cho Bách và Phượng đi trước, còn mình sẽ lên sau. Ai ngờ bà cả đã ngầm sai người đầu độc Phượng bằng một loại thuốc gì đó làm cho cô hóa điên lúc tỉnh lúc mê, lúc cười lúc khóc, gầy rộc đi. Tham tán Bách đành sai người đưa cô về Chợ Bờ (Hòa Bình), nhưng sau đó Phượng về lại Gia Lâm tìm đến bà hàng xóm cũ, trong người chỉ còn có 15 đồng bạc.

Bà hàng xóm tốt bụng nhưng nhà quá nghèo trông nom cô như con đẻ, chạy vạy thuốc thang và lo miếng ăn từng bữa. Bệnh ngày một nặng, bà đành phải đưa cô vào nhà thương làm phúc. Đến đây, người con gái sắc nước hương trời một thời giờ sống vô định, thảm buồn làm những ai biết chuyện cũng thấy xót cha cho phận hồng nhan bạc mệnh. Một tuần sau, cô Phượng qua đời trong đau đớn. Lúc đó, nhiều ký giả từng viết trên các báo đương thời rằng, lúc sống nàng Phượng được xe đưa ngựa đón, phục tùng bao nhiều thì lúc chết lại thê thảm trong bi kịch bấy nhiêu.

Đám đưa tang của nàng Phượng là một đám tang đìu hiu, vắng lặng. Một người tình cũ rủ lòng thương, khắc cho cô một tấm bia đề: “Mộ người bạc mệnh Vương Thị Phượng”.

(Theo Ngày Nay)
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
1 user thanked phamlang for this useful post.
CỏThơm on 1/22/2016(UTC)
CỏThơm
#2904 Posted : Friday, January 22, 2016 6:51:08 PM(UTC)
Cỏ thơm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 164
Points: 522
Location: Hạ Vi nè!

Thanks: 131 times
Was thanked: 95 time(s) in 69 post(s)






Tết miệt vườn



Không khí bắt đầu từ những gốc mai ấy đấy. Khoảng giữa tháng Chạp là người ta dứt lá cho mai và sau đó, cành nhánh trơ trụi của nó có cái gì trọng đại sắp bắt đầu.

Một gốc mai ở giữa sân, đó là nhu cầu, thói quen và cũng là biểu hiện của văn hóa và may mắn. Ngày thường, mai chỉ là loại cây xanh uốn nắn được, nhưng ngày tết, ánh vàng và sức nở tưng bừng của nó mới thật bất ngờ. Những nhà có cụ ông nhìn vào rất dễ biết, vì gốc mai của họ được chăm sóc công phu, trông chúng y như một ông chủ điệu nghệ: tỉa gọt đấy nhưng vẫn xù xì một cách phong sương và khí phách.

Nước trong sông rạch đầy dần sau mỗi con triều. Đã qua mùa lụt, phù sa đã nằm sâu ở vị trí mà thiên nhiên đền bù cho con người, nước trong vắt leo lẻo gọi là mùa nước bạc. Thế rồi, cùng với thứ gió se se ngọn dừa, với màu nắng tươi như mật loãng, với tiếng trống lân sập sận chuẩn bị, Tết đã áp sát một bên.

Thật ra, Tết đã đến rục rịch đến từ sau mùa gặt, khi lúa hạt đã vào bồ nhường sân cho những chiếu bánh phồng san sát. Tuần bánh nhộn lên trước lúc đưa ông táo về trời và kéo dài cho tới ngày giáp cuối. Nếp hạt hoặc khoai mì sẵn trong nhà, xôi chín lên trong nước cốt dừa rồi đưa vào cối, những chiếc cối của thời gạo giã được giữ lại chuyên cho bánh phồng. Cả xóm thức liên miên cùng với nhịp chày và tiếng giỡn hớt thả cửa của cánh chị em đi cán bánh vần công. Đó là dịp duy nhất họ quây quần bên nhau náo nức với cái gì đó rất chung nhưng hoàn toàn không giống với việc cấy gặt ngoài đồng. Cánh đàn ông cũng bị dựng dậy thay phiên cầm chày, trong lúc chờ đến lượt, họ lặng lẽ hút thuốc, thỉnh thoảng độp vào câu chuyện ngồi lê của cánh đàn bà bằng những câu đùa độc địa khiến con nít cũng bị lôi cuốn ra khỏi mùng. Thế là chúng biến thành cánh chạy bánh đắc lực từ người cán tới người phơi bánh. Không có loại việc nào lôi kéo được tất cả mọi người như việc làm bánh phồng.

Đã nhìn thấy vết thâm quầng đáng yêu trên mi mắt các bà các cô. Nhưng nào họ đã thôi trò thi đua bánh mứt. Nếu các đức ông coi việc chăm sóc cửa nhà, mai kiểng, lân pháo là nghĩa vụ đối với Tết thì cánh đàn bà ra sức làm sống lại nghề bánh khéo. Bánh kẹp cuốn ống ngậy hương vị nước cốt dừa, bánh bông lan đổ bằng khuôn mỏng hình trái tim, bánh thuẩn nướng trong nồi cát này, bánh bưa kem đường… để đề tài bánh trái sẽ đậm đà hương vị thăm hỏi nhau của cánh chị em trong ba ngày Tết, để tiếng khéo đồn xa, để được “tết thì tết cả xóm”.




Còn có một loại bánh dân tộc không thể thiếu với người miệt vườn là bánh tét cải tiến từ bánh chưng thời Nguyễn Huệ thần tốc trên lưng ngựa. Đòn bánh tét là lễ với tổ tiên, là chữ hiếu với cha mẹ, là nghĩa thày trò, là miếng điểm tâm sáng ngày mồng một, là quà quê cho con cháu ở xa. Gói bánh tét không dễ vì không phải ai cũng đặt đúng cái nhân đậu mỡ ở giữa và phải niềng sao cho hai đầu cân nhau và các nuộc lạt bóng lên tăm tắp. Qua đòn bánh, người phụ nữ nhà đó được xem xét, không chỉ việc khéo vụng mà còn xem có nền nã, chặt chẽ hay không bao giờ ra bánh, người ta cũng treo thành sào cạnh bồ lúa trông thật ấm áp. Có nhà còn gói thật nhiều bánh, ngâm trong nước sạch để ra giêng ăn dần.

Vẫn còn thiếu nghiêm trọng nếu như Tết ở miệt vườn chưa có mứt dừa, thứ vật liệu cây nhà lá trời mênh mông. Dừa được chọn kỹ như thể chọn dâu: dừa cứng, mứt có mùi dầu, khô và vô duyên, dừa ướt, mứt ỉu, ăn thấy chán. Những nhà có thẩm mỹ tinh tế thường chỉ pha vào mứt hai màu, hồng phấn và trắng tinh, trông chúng gợi cảm như thiếu nữ. Chưa đủ, chỉ mỗi thứ mứt dừa thì hộp mứt tết sẽ nghèo nàn lắm, vì vật họ còn thi nhau làm mứt bí, mứt me, mứt cà, mứt gừng, mứt khế, và cả những thư tưởng không thể nào thành mứt được như trái khổ qua chẳng hạn. Cầm chúng lên, dù thực khách là gã đàn ông kiêu ngạo, bất cần hay chai sạn cũng phải mềm lòng trước sự kỳ diệu của đôi tay, khối óc và tâm hồn người đàn bà.

Thời gian đã chạy bứt lên khiến con người lao muốn đứt hơi theo nó. Người ra chợ, quả cây ngũ sắc đầy ắp ghe thuyền, tiếng máy đuôi tôm dào dạt bờ sông. Người ở nhà gấp rút đưa tất cả những thứ cần giặt giũ ra sông, tiếng đập chiếu trên mặt nước âm âm nghe thật thúc hồi. Có tiếng réo nhau vào hội, cứ mươi nhà thì hùn nhau vật một con heo sẵn trong chuồng của nhà ai đó, ai không tiền mặt cứ việc đưa thịt về ăn tết đã, ra năm tìm cách tính sau. Trẻ con bưng bê gì mà xuôi ngược hấp hởi vậy? Thì ra, nhân ngày áp chót, người ta tranh thủ đưa biếu nhau những thứ quả chỉ có ở vườn mình để sau ngày ba mươi thì không ai động đến cây và trái nữa, chính là để chúng được yên lành hưởng chọn lộc xuân như con người.

Bữa cơm chiều ba mươi thật hệ trọng với từng nhà như khắp mọi nơi trong đất nước. Chỉ khác là tổ tiên luôn được ở trong vườn nhà, vì vậy, trước khi rước ông bà vào mâm cỗ thì nấm mộ phải sạch cỏ, phải khang trang. Bận rộn đến mấy, chuyện này thường không được chậm trễ và, khi nén nhang cong trên bàn thờ, con cháu mừng hơn được vàng vì thế là ông bà đang về đấy, đang phù hộ cho con cháu, nhất định năm mới sẽ may nhiều dữ ít. Như con người vừa được an ủi.
Công việc của cánh đàn bà nào đã xong. Trong ánh lửa bập bùng từ nồi bánh tét bên góc sân, còn phải quét sân trước sân sau để ra ngoài mồng thì đố dám động chổi. Còn phải tắm táp cho lũ nhỏ để chúng được ngủ trong mùi vải mới. Trong ý tưởng trẻ thơ, tối giao thừa được mặc quần áo mới thì năm sau sẽ mau lớn.

Cuối cùng việc nhà cũng phải chấm hết. Trong mệt mỏi ngọt ngào, các bà các cô mang đèn dầu xuống bờ sông, giấu chúng vào bụi cây để hé ra ánh sáng mập mờ, ấy là bữa tắm chậm rãi nhất, long trọng nhất của họ trong vòng mấy trăm ngày. Họ ngụp sâu trong nước mát, nhẩn nha giữa quá khứ và tương lai, bởi tâm tư họ đang bước đến giao thừa. Họ bước lên, quần áo tóc tai cẩn trọng trong căn nhà bỗng như mới bừng lên, trên chiếc gối còn thơm mùi xà bông mùi nắng, bên cơ thể thơm tho của lũ trẻ, họ thả lưng thư giãn một cách trang nghiêm. Có biết bao điều ập đến, biết bao nỗi buồn được tiễn đưa và cũng biết bao mơ ước được gọi dậy, ấy là lúc họ tẩy trần đầu óc và tâm hồn vốn bình dị của họ.

Rồi bước chân tời gian như vừa khởi động và đang tràn sầm sập qua xóm vắng. Người già dậy trước bật hết đèn lên, chốc sau đã nghe mùi bánh phồng toả ra từ bếp lửa. Giao thừa bao giờ cũng phải có phồng trên bàn thờ. Không khí bắt đầu ngầy ngà khắp xóm trẻ con bật dậy sà ngay vào trò chơi pháo chuột, như chúng chưa hề chợp mắt, còn các cụ bà thì lần ra sân bái lạy đủ bốn phương tám hướng. Đêm đen sóng sánh, cây trong vườn trầm mặc và con sông như bát ngát ra. Có cái gì đang dừnglại trong mỗi con người, bịn rịn ngậm ngùi, rưng rưng. Buổi giao thừa ở quê thường không có mấy truyền hình, người nhà ai nấy tụm vào quanh ông bà mình nghe chuyện xửa chuyện xưa chờ cho nhang tàn để đưa lộc từ trên bàn thờ xuống bắt đầu nhấm nháp. Bấy giờ người ta mới thấm mệt như có cái gì đó ghê gớm xuyên qua, xâu chuỗi người ta lại và cũng đặt người ta vào vòng quay chóng mặt nhưng vô cùng thú vị.

Sáng mồng một nhà nào cũng dậy muộn, trừ một vài người lớn phải cúng kiến cho ông bà. Trẻ con lăng xăng với bộ quần áo đẹp nhất, nhẩm trong đầu những câu chúc thọ người lớn sao cho được khen và được cả tiền lì xì. Xống áo thanh niên bắt đầu chộn rộn đường quê, cũng chừng ấy mẫu mã thời trang thị thành, chỉ khác là màu nổi hơn để chứng tỏ với chung quanh sự hiện diện của mình. Người đứng tuổi ra đường vào buổi xế, bấy giờ rượu mới là thứ được việc để người ta nhìn nhau thoải mái sau bao nhiêu va chạm ngày thường, để những câu chúc nhau cháy đượm.
Mồng hai Tết mới thực sự là ngày của hỉ xả. Thường người ta góp nhau sắm lân sắm trống từ rất sớm, mỗi xã một đội. Người thủ vai lân phải khỏe, phải có bước nhảy mang tinh thần thượng võ, còn ông địa thường là cậu bé con sôi nổi, cũng có khi là một bà góa có tính chọc trời khuấy nước. Cả xóm được một ngày vui, một ngày cười, cả lân, cả địa thường được thưởng rượu để bước chân tròng trành hơn.

Ngày mồng ba đánh thức mọi người dậy sớm như nhau. Sau khi cúng tất niên bằng chú gà giò, người ta săm soi bộ chân nó để xem thời vận và treo nó ở hàng hiên để khoe với hàng xóm. Cũng là ngày bọn trẻ đổ ra đường khệ nệ mang lời chúc của gia đình và bánh trái đến mừng tuổi thầy cô. Phong tục cổ truyền ấy đã làm cho ngày cuối cùng của dịp tết bừng lên một lần nữa, thiêng liêng rộn rịp không kém gì ngày ba mươi vừa qua.
Hết Tết, xóm ấp rã rượi một cách ngọt ngào như cô dâu sau tuần trăng mật. Đó là sự kỳ diệu mà tổ tiên và thiên nhiên cùng bạn tặng để mỗi năm một lần con người trở lại với giá trị hằng của mình: thanh sạch, vị tha, giao hòa và mơ ước.


Dạ Ngân/Chim Việt Cành Nam






1 user thanked CỏThơm for this useful post.
phamlang on 1/23/2016(UTC)
phamlang
#2905 Posted : Saturday, January 23, 2016 1:45:37 PM(UTC)
Pham Lang

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/1/2011(UTC)
Posts: 1,517
Points: 4,767

Thanks: 1675 times
Was thanked: 1022 time(s) in 661 post(s)
DỌN KHO ĂN TẾT

TK Thích Chân Tuệ





Theo thông lệ hằng năm, vào dịp năm hết tết đến, nơi nơi người người đều dọn dẹp nhà cửa cho ngăn nắp hơn, sắp xếp bàn ghế, tủ giường cho tiện nghi hơn, trang hoàng phòng khách cho sáng sủa hơn, lau chùi lư hương, bàn thờ cho trang nghiêm hơn. Tất cả đều được lo liệu chu tất trước ngày rước ông bà, tức là trước ngày 30 tết, trể lắm cũng phải xong trước giờ đón giao thừa. Bởi vì suốt năm, làm việc quần quật, mọi người đều mong, ngày đầu một năm, hoàn toàn nghỉ ngơi, cho thiệt thoải mái, khỏe khoắn tinh thần, phục hồi sức khỏe, chuẩn bị làm việc, suốt trong năm mới. Có người tin rằng, nếu làm việc nhiều, trong ngày đầu năm, sẽ “giông” cả năm, nghĩa là suốt năm, đều phải làm lụng, vất vả cực nhọc. Dẫu biết đó là, mê tín dị đoan, nhưng không ít người, cứ tin như vậy. Thực ra năm nào, chúng ta cũng phải, làm việc vất vả, mới được có ăn, trừ phi thất nghiệp, trừ phi trúng mánh, thần tài chiếu cố, trúng số chẳng hạn. Ðặc biệt năm nay, ngoài những chuyện bắt buộc phải chuẩn bị kể trên, chúng ta làm thêm một việc ngoại lệ, đó là: Dọn Kho Ăn Tết.

* * *

Trong suốt năm qua, hay nhiều năm tháng dài, chúng ta đem cất vào trong kho bất cứ vật dụng gì còn tốt, còn xử dụng được, còn chưa muốn vứt đi, lại chẳng biết đem cho ai, có biết cũng chẳng dám, không khéo sợ mích lòng. Thậm chí, có các món đồ, cứ mua đem về, hoặc người khác cho, nhưng chưa có dùng, cũng bỏ vào kho, đợi khi có dịp, đem cho người khác. Lâu ngày dài tháng, cái kho ắp lẫm, đã quá bụi bặm, bẩn thỉu dơ dáy. Hôm nay chúng ta, nhân dịp cuối năm, dọn dẹp nhà cửa, muốn đem vào kho, thêm vài món nữa, nhưng thực không còn, một chỗ nào trống, để nhét cho vừa. Chúng ta bèn phải, xăn quần cởi áo, ra công dọn kho, để ăn tết vậy. Ðến khi mở cửa, bước vào trong kho, lôi ra từng món, món to món nhỏ, món cũ món mới, quét bụi sạch trơn, lau chùi kỹ lưỡng, xem xét kỹ càng, kiểm soát đàng hoàng, đem vô trở lại, chẳng muốn bỏ đi, một món nào hết! Như vậy nghĩa là: cái kho vẫn đầy, đủ moi mọi thứ, thiệt là khổ quá, chẳng biết làm sao, giải quyết thế nào, cho được ổn thỏa. Người đời thường nói: “Bỏ thì thương, vương thì tội”, chắc có lẽ là trường hợp này đây, chẳng biết đúng vậy hay không?

Cũng vậy, ngoài cái kho của cải vật chất nói trên, đã gây bao nhiêu cực nhọc rối rắm, chúng ta còn có một cái kho nữa, chứa đựng nhiều thứ ác liệt hơn, kinh khủng hơn, dữ dằn hơn, khó khăn hơn, khó thấy hơn, khó bỏ hơn, khó chịu hơn. Cái kho đó là, cái kho chứa gì, ghê rợn quá vậy? Xin thưa trình ngay, khỏi mất thời giờ, đó chính thực là: “Kho Tàng Tâm Thức”, của mỗi chúng ta. Thực vậy, tất cả chúng ta, ai ai cũng có, một cái gọi là: kho tàng tâm thức, chứa đựng tất cả, hình ảnh âm thanh, mùi hương mùi vị, cảm xúc ký ức, chúng ta thu lượm, từ khi còn bé, chí cho đến lúc, trở về thăm viếng, tổ tiên ông bà.

Chúng ta sống ở trên đời, hằng ngày phải sinh hoạt, phải làm việc, phải tiếp xúc với mọi người, trong xã hội, trong khu phố, trong cộng đồng, trong trường học, trong sở làm, trong hãng xưởng, trong công trường, trong nông trại. Với hai con mắt và hai lỗ tai, chúng ta thu nhận biết bao nhiêu hình ảnh và âm thanh, rồi đưa vào chứa trong kho tàng tâm thức. Hai con mắt và hai lỗ tai của chúng ta ví như hai bộ phận quan trọng của một cái máy quay phim, mỗi ngày quay một cuộn băng, với đầy đủ hình ảnh và âm thanh, từ êm ái dịu dàng, đến ồn ào náo động, từ thương yêu trìu mến, đến giận ghét hận thù, chưa kịp dán nhãn, chưa kịp đặt tên, đã được đưa vào, cất ngay trong kho. Tạm gọi đó là: kho tàng tâm thức.

Trong kho tàng tâm thức, chúng ta chứa đựng đầy đủ hình ảnh của người thân lẫn kẻ thù, hình ảnh của những người gọi là tốt, vì đã từng giúp đỡ chúng ta, lẫn hình ảnh của những kẻ gọi là xấu, vì đã từng làm chúng ta mích lòng. Lâu lâu, chúng ta đem những hình ảnh đó chiếu đi chiếu lại, để sống lại cảnh náo động, thương thương, ghét ghét, bên trong tâm trí, y như lúc cảnh tượng đó xảy ra trước kia. Hình ảnh những người thân thương hiện ra, chúng ta cũng đau khổ bất an, thờ thẩn thẩn thờ, nhớ nhung thương mến, muốn được gặp lại, nhưng biết bao giờ, mới được toại nguyện. Hình ảnh những kẻ đáng ghét hiện ra, chúng ta cũng đau khổ bất an, phùng mang trợn mắt, bực bội khó chịu, không muốn nhớ tới, không muốn gọi tên, không thèm gặp mặt, nhưng phải gặp hoài, cứ gặp đều đều, thực là trớ trêu! Như vậy, việc chúng ta cất giữ những hình ảnh đó, trong kho tàng tâm thức, là nên hay không nên, là khôn hay không được khôn lắm? Vậy mà giờ đây, nhân dịp cuối năm, tại sao chúng ta, không chịu ra công, dọn dẹp sạch sẽ, kho tàng tâm thức, cho được trống trải, mát mẻ khỏe khoắn, đêm ngủ được yên, ngày ăn được ngon?

Trong kho tàng tâm thức, chúng ta chứa đựng đủ thứ âm thanh, từ những lời khen tặng, xưng dương, tán thán, ca ngợi, nịnh hót, tâng bốc, yêu thương, trìu mến, ngọt ngào, tình cảm, cảm động, dễ nghe, cho đến những lời vu oan, vu khống, thống trách, hách dịch, trịch thượng, kiêu căng, lăng nhục, thô tục, giận hờn, chửi bới, bươi móc, bêu riếu, phỉ nhổ, phỉ báng, hủy báng, hủy nhục, nhục mạ, mạ lỵ, phê bình, chỉ trích, khích bác, chê trách, khiển trách, trách cứ, câu mâu, lầu bầu, rủa xả, xiên xỏ, xỏ xiên, mắc mứu, quở trách, quở mắng, la rầy, la mắng, mắng nhiếc, mắng chửi, sỉ vả, sỉ nhục, gièm pha, nói xấu, khinh khi, khi dể, coi thường, coi rẻ, rẻ rúng, sâu độc, sâu hiểm, hiểm ác, ác độc, độc địa, đay nghiến, nguyền rủa, nhiếc mắng, kê tủ vào họng, tọng cho câm mồm, đặt điều thêm bớt, có nói không không nói có, đâm bị thóc thọc bị gạo, thọc gậy bánh xe, thực là khó nghe, nhưng cứ nhớ hoài, rất là khó quên, cho nên khó ngủ, cú rủ suốt ngày, năm này tháng khác!

Hai cái lỗ tai của chúng ta làm việc thực đắc lực, đem chứa thực nhiều thứ, vào trong kho tàng tâm thức. Những lời êm dịu, dễ chịu dễ nghe, lại không nhiều lắm, nhưng vẫn làm cho, chúng ta khó ngủ, bất an trằn trọc, khoái chí hả hê, muốn nghe lần nữa, vẫn chưa thỏa mãn. Những lời khó nghe, không ai thèm nghe, không ai thích nghe, không ai muốn nghe, không ai chịu nghe, quả thực là nhiều. Dĩ nhiên, những lời nói như vậy càng làm cho chúng ta khó ngủ, bất an trăn trở, bực bội tức tối, không muốn nghe nữa, nhưng cứ nhớ hoài, văng vẳng bên tai, ít ai nín được. Thực là đau khổ, cho cái lỗ tai, phải nghe dài dài, những lời cay đắng!

* * *

Chúng ta ai ai, đều nhận ra rằng: Cuộc đời của mình, thực nhiều đau khổ, là bởi nguyên do, trong kho tâm thức, chứa nhóm quá nhiều. Nếu muốn giảm bớt, phiền não khổ đau, chắc chắn chúng ta, phải hạ quyết tâm, ra công dọn dẹp, kho tàng tâm thức. Nhưng phải dọn dẹp, bằng cách nào đây, bắt đầu từ đâu, khởi công lúc nào, tốn hao bao nhiêu, công lao sức lực, bao nhiêu thời gian, mới dọn dẹp xong, kho tàng tâm thức? Trước hết, mình muốn dọn dẹp, trống trải kho tàng, cái việc đầu tiên, phải làm đó là: ngăn ngừa chận đứng, đừng có đem thêm, bất cứ vật gì, vào kho nữa cả. Sau đó từ từ, chúng ta loại bỏ, những thứ trong kho. Cũng vậy, nếu muốn cái kho tàng tâm thức của mình ngày một vơi bớt đi, để phiền não cũng vơi bớt theo, chúng ta đừng quay thêm cuốn phim nào nữa, trong cuộc sống hằng ngày. Nghĩa là trong các sinh hoạt hằng ngày, khi tiếp xúc với mọi người, chúng ta luôn luôn giữ gìn chánh niệm, cố gắng duy trì sự bình tĩnh thản nhiên, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi thời gian, trong mọi không gian, không để cho các “tâm tham, tâm sân, tâm si”, có cơ duyên khởi lên, trong tâm trí của mình.

Thí dụ như có, người tới rủ rê, hùn hạp làm ăn, mập mờ phi pháp, nhứt bổn vạn lợi. Chúng ta đừng để, tâm tham khởi lên, dẫn dắt chúng ta, nghe lời dụ dỗ. Ðược những mối lợi, phi pháp bất chánh, ngày không ăn ngon, đêm chẳng ngủ yên, lúc nào cũng sợ, nơm nớp phập phồng, không biết bao giờ, chuyện đó đổ bể, hậu quả thế nào?

Thí dụ như có, người tới rỉ tai, bày vẻ đủ cách, vu oan người khác, chỉ dẫn thủ tục, kiện người ra tòa, nhứt bổn lệ phí, thu được hằng triệu, đô la bồi thường, mới vừa nghe qua, thiệt là sướng quá! Chúng ta đừng để, tâm tham khởi lên, xúi giục chúng ta, nghe lời ác độc. Pháp luật đặt ra, chỉ nhằm mục đích, duy trì an ninh, bảo vệ bình đẳng, trật tự xã hội, chứ không phải để, con người lợi dụng, kiếm tiền làm giàu, bất chấp khổ đau, của kẻ bị hại, gia đình của họ, phiền muộn không nguôi. Dù cho có thắng, vụ kiện bạc triệu, liệu mình có thể, an nhiên tiêu xài, cho đến mãn đời, một cách bình yên, hay không chẳng biết?

* Luật nhân quả dạy rằng: “Gieo nhân nào thì gặt quả nấy”. Bởi vậy cho nên, chúng ta đã thấy: Không biết bao nhiêu, gia đình giàu có, tan nhà nát cửa, vợ chồng ly tán, âm mưu hại nhau, tranh chấp của cải, con cái ám hại, cha mẹ anh em, tranh đoạt gia tài, hùn hạp làm ăn, thường bị phá sản, gặp cơn bệnh hoạn, nan y khó chữa, tai nạn hiểm nghèo, bất đắc kỳ tử! Ðó là những quả báo nhãn tiền, người đời gọi là: của thiên trả địa, của sông đổ biển. Nhưng vì lòng tham, vô cùng vô tận, túi tham không đáy, tối tăm mặt mũi, lương tâm mê mờ, lòng dạ tối đen, không thể thấy được, đó là ác nghiệp, cho nên nhào vô, tạo tội tạo nghiệp, để rồi về sau, người đó lãnh đủ, quả báo chẳng lành, khác nào thiêu thân, nhào vô lửa đỏ!

Ðồng tiền chân chánh, khổ cực kiếm được, bằng chính tài năng, với sức lao động, dành dụm tiết kiệm, có khi không thể, giữ được trọn đời, huống là những thứ, tiền của phi nhân, kiếm được cướp được, đoạt được giựt được, thưa kiện đòi được, trên sự khổ đau, phiền não người khác!

Hiểu được như vậy, chúng ta quyết tâm, không thèm nghe theo, không làm những chuyện, ác nhân thất đức, cố gắng làm chủ, bằng được tâm mình, dừng ngay các vụ, thưa kiện kiếm tiền, dừng ngay âm mưu, sang đoạt tài sản, tác quyền người khác, dừng ngay mưu mô, chiếm đoạt công ăn, sang đoạt việc làm, của những người khác. Ðó mới thực là, những điều khó làm. Không phải ai ai, cũng làm được ngay, nên cần phải có, thời gian thử thách, công phu thực tập. Làm được như vậy, lâu ngày dài tháng, con người chắc chắn, trở nên sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn, những người chung quanh, cũng sẽ cảm nhận, an vui lợi lạc. Kho tàng tâm thức, chủng tử tham lam, vơi dần bớt dần, trí tuệ phát triển, không còn những chuyện, mê tín dị đoan, cuộc đời an lạc, được hạnh phúc hơn, nhứt định không nghi.

Thí dụ như là, có người đi tới, chửi bới nhục mạ, khiêu khích chỉ trích. Chúng ta đừng để, tâm sân khởi lên, khiến cho chúng ta, tiếp nhận ngay những, lời nói khó nghe. Tại sao vậy? Bởi vì, những lời nói như vậy không có nghĩa lý gì cả, chỉ nhằm mục đích gây phiền não cho chúng ta mà thôi. Chúng nói mình ngu, mình liền nổi giận, cãi cọ đôi co, đúng là ngu thiệt, chứ còn gì nữa! Tục ngữ có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”. Nếu chúng ta tiếp nhận ngay những lời nói khó nghe ấy vào lòng, cơn giận lập tức khởi lên, hành động thiếu bình tĩnh, lời nói kém sáng suốt, thường khi chỉ đem lại thiệt thòi cho mình mà thôi.

Chẳng hạn như khi bị vu khống cáo gian, nếu không dằn được sự tức giận bực bội, chắc chắn chúng ta sẽ có những lời nói hay hành động khiến người khác mất cảm tình, hay hiểu lầm một cách tai hại vô cùng. Chẳng hạn như khi cấp trên trong sở làm, có những lời nói hiểu lầm hay khó nghe, nếu không thể nhịn được, không chịu giải thích một cách ôn hòa nhẹ nhàng, chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhiều phiền phức trong công việc.

Trong gia đình cũng vậy, muốn có được an lạc hạnh phúc, vợ chồng con cái phải biết hai chữ: thương yêu và nhẫn nhịn. Thiếu một trong hai chữ đó, gia đình sẽ luôn luôn có sóng gió, bất hòa, bất an, lâu dần có thể làm giảm hạnh phúc, cuộc sống chung trở nên phiền não và khổ đau. Một lời nói ra, trong sự vui vẻ, trong tình yêu thương, nói sao cũng được, nói gì cũng được. Một lời nói ra, trong sự bực bội, trong lúc giận hờn, tâm trạng bất an, nói sao cũng không được, nói gì cũng có thể gây hiểu lầm. Bởi vậy cho nên, chúng ta luôn luôn, quán sát tâm mình. Mỗi khi tâm sân, vừa mới khởi lên, chúng ta liền biết, dừng ngay không theo. Ðừng để tâm sân, dẫn dắt chúng ta, đến chỗ phiền toái, rắc rối cuộc đời. Nếu được như vậy, mọi sự mọi việc, ở trên đời này, sẽ được bình yên, vui vẻ trọn vẹn, thành tựu tốt đẹp. Nhiều khi cơn sân, nổi lên đùng đùng, có thể tiêu tan, tất cả cảm tình, tiêu tan sự nghiệp, khổ công gầy dựng, từ trước đến giờ. Ví như đốm lửa, có thể thiêu đốt, cả một khu rừng. Cho nên chúng ta, luôn luôn nhớ rằng: tâm sân quả thực, tai hại vô cùng!

Có người không hiểu: Tại sao phải nhịn? Nhịn để làm gì? Nhịn ở đàng chân, chúng lân đàng đầu. Trên thế gian này, nhịn nhục khó sống, khó ngóc đầu lên, chẳng nên tích sự, lợi ích gì cả. Thực ra tất cả, suy nghĩ vừa kể, đều do tâm sân, do tâm chấp ngã, tất cả mọi người, từ đó phát ra. Con người thế gian, thường hay nghĩ rằng: “đời mình còn dài”, thấy người khác chết, chứ mình sống dai, còn lâu mới chết! Con người ở đời, cần danh và lợi, cho nên thực hiện, bất cứ thủ đoạn, miễn được làm giàu, bất kể chà đạp, thanh danh người khác, để giành địa vị, để kiếm tí danh, luôn luôn muốn hơn, tất cả mọi người, về mọi phương diện. Có người dạy con: ra đường phải nhớ, luôn luôn hơn người, chớ bị hiếp đáp, chớ để thiệt thòi, nếu bị thua nhục, thì đừng về nhà! Nhịn thì nhục, cự thì đục! Cho nên có ngày, đứa con chạy về, ôm đầu đầy máu, hoặc đến nhà thương, nhận xác con mình!

Tâm sân thường thường, thúc đẩy con người, đấu tranh cãi cọ, lời qua tiếng lại, từ những chuyện như: quốc gia đại sự, chính trị tôn giáo, đến những thứ chuyện, lặt vặt nhỏ mọn, sinh hoạt thường ngày. Thực ra nên biết: những khi người khác, nói lên một tiếng, mình trả một miếng, thì dễ dàng quá. Nếu không nhịn được, người vào nhà xác, mình vào nhà thương, hay vô nhà tù, hoặc là ngược lại. Còn nếu nhịn được, không thèm tranh cãi, không có bực dọc, không nổi cơn sân, làm chủ tâm mình, làm chủ ý mình, miệng mỉm nụ cười, thực là tươi tắn, may mắn mọi chuyện, chấm dứt nơi đây. Ðó mới thực là, những điều khó làm. Không phải ai ai, cũng làm được ngay, nên cần phải có, thời gian thử thách, công phu thực tập. Làm được như vậy, lâu ngày dài tháng, con người chắc chắn, trở nên sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn, những người chung quanh, cũng sẽ cảm nhận, an vui lợi lạc. Kho tàng tâm thức, chủng tử sân hận, vơi dần bớt dần, trí tuệ phát triển, không còn những chuyện, mê tín dị đoan, cuộc đời an lạc, được hạnh phúc hơn, nhứt định không nghi.

Thí dụ có người, tới cho mình biết: người khác nói xấu, nói mình ngu si, hạ nhục bêu riếu, đàm tiếu khinh khi, khi dể chửi rủa, đồ đạo đức giả, thứ dân sợ vợ, khố rách áo ôm, như gả ăn mày, như trâu cày ruộng. Chúng ta đừng để, tâm si khởi lên, liền khiến chúng ta, tin lời đồn đại. Tại sao vậy? Bởi vì, những lời đồn đại, thường là bịa đặt, đặt điều thêm bớt, vẽ rắn thêm chân, thổi phồng con cóc, thành con khủng long, chuyện xe cán chó, trà dư tửu hậu, đòn xóc hai đầu, đầu đâm bị thóc, đầu thọc bị gạo, phá hoại gia cang, chia rẽ cộng đồng. Tin những điều đó, chứng tỏ con người, có tâm chấp ngã, thực là quá lớn, dễ bị khiêu khích, tự ái quá cao, cho nên té nhào, đau thương tơi tả, đúng là ngu si, chứ còn gì nữa!

Thí dụ có người, tới cho mình biết: mình có căn tu, có nhiều phước báu, mau mau theo đạo, do họ dựng lên, cúng hết bạc tiền, nhà cửa xe cộ, tiệm buôn phố xá, vợ con bất kể, cha mẹ xá gì, cầu khẩn van xin, kiếp sau được về, cõi mình mong muốn. Người nào nhẹ dạ, dễ tin nghe theo, những lời như vậy, chữ ngu chữ ngốc, còn là quá nhẹ! Còn nếu hiểu được, không thèm tin theo, không chút si mê, làm chủ tâm mình. Ðó mới thực là, những điều khó làm. Không phải ai ai, cũng làm được ngay, nên cần phải có, thời gian thử thách, công phu thực tập. Làm được như vậy, lâu ngày dài tháng, con người chắc chắn, trở nên sáng suốt, giác ngộ hoàn toàn, những người chung quanh, cũng sẽ cảm nhận, an vui lợi ích. Kho tàng tâm thức, chủng tử si mê, vơi dần bớt dần, trí tuệ phát triển, không còn những chuyện, mê tín dị đoan, cuộc đời an lạc, được hạnh phúc hơn, nhứt định không nghi.

* * *
Có người thắc mắc: Nếu như bỏ hết, tâm tham tâm sân, luôn cả tâm si, đâu còn mình nữa, mình bị biến mất, mất thiệt rồi sao? Xin thưa đúng vậy, nhưng mà thực ra, cũng không phải vậy. Thường thường hầu hết, tất cả mọi người, trên thế gian này, đều chấp cái tâm, suy nghĩ là mình, mình là con người, có tâm suy nghĩ. Bởi vậy cho nên, khi tâm suy nghĩ, lăng xăng lộn xộn, lắng xuống không còn, tưởng mình biến mất! Thực ra không phải! Ðiều đúng chính là: chỉ có cái tâm, nghĩ suy suy nghĩ, lăng xăng lộn xộn, biến mất mà thôi. Chúng ta vẫn còn, hiện hữu rõ ràng, với tâm thanh tịnh, không có tham lam, sân hận si mê. Bằng cớ chính là: chúng ta biết rõ, nhận rõ thấy rõ, khi mình bình tĩnh, thản nhiên tự tại, cái tâm suy nghĩ, lăng xăng lộn xộn, tan biến mất dạng. Ai thấy điều đó, ai biết điều đó? Chính mình chớ ai! Thực không có sai! Lúc đó chính là: con người chân thật, hiện tiền trước mắt, đúng theo chân lý! Chúng ta sống được, con người chân thật, đời sống an vui, phiền não rút lui, cuộc đời hạnh phúc.

Như ngoài biển khơi, sóng to sóng nhỏ, đều lặng hết rồi, mặt biển thanh bình, tức thời hiện ra, một cách rõ ràng, rộng rãi bao la, vô bờ vô bến. Trong lúc sóng to, và có gió lớn, bầu trời đen kịt, mình chỉ thấy được, vùng biển nhỏ hẹp, sóng động mà thôi, tầm mắt giới hạn, không thể nhìn xa. Cũng y như vậy, khi tâm của mình, sôi nổi náo động, lòng tham nổi lên, tối tăm mặt mũi, lòng sân nổi lên, mất hết trí khôn, lòng si nổi lên, quên hết mọi việc, mình chỉ thấy được, con người nhỏ hẹp, suy nghĩ ích kỷ, chỉ biết có mình, và gia đình mình, chỉ vậy mà thôi. Tất cả mọi người, phiền não ra sao, đau khổ thế nào, cũng mặc kệ họ, chẳng cần biết tới! Bởi thế cho nên, hành động lời nói, và trong tư tưởng, chỉ có ích lợi, cho bản thân mình, gây nên bao nhiêu, khổ đau cho người, và gia đình họ. Nếu những người khác, cũng nghĩ như vậy, thì mình lãnh đủ, mình là nạn nhân, của tâm xấu ác, của người khác vậy. Do đó cuộc đời, vay trả trả vay, liên miên như vậy, hỏi sao đau khổ, hỏi sao phiền não?

Nếu muốn người khác, không làm hại mình, thì điều trước hết, mình không hại người. Mọi sự bắt đầu, ngay trong tâm mình! Ðừng để đến khi, quả báo chẳng lành, xảy tới liên miên, chịu nhiều khổ nạn, thậm chí mạng vong, hả họng rên la, than trời trách đất, cầu trời cầu Phật, cứu con cứu con, cứu sao kịp nữa! Sách xưa có câu:

“Tâm mình bạc ác tinh ma.
Chớ nên oán trách trời xa đất gần”.

Khi nào tất cả, lăng xăng lộn xộn, thí dụ như là: tâm tham tâm sân, và tâm si mê, lắng xuống hết rồi, con người chân thật, của mình hiện tiền, tâm thể thênh thang, cõi lòng cởi mở, rộng rãi bao la, tâm trí an vui, đời sống lợi lạc, cảm giác hòa đồng, vũ trụ vạn vật. Cũng ví như là, cặn cáu lắng đi, cái ly nước trong, hiện hữu rõ ràng. Con người chân thật, đầy đủ bốn tâm, từ bi hỷ xả, vì người quên mình, bác ái vị tha. Nếu như tất cả, mọi người đều sống, như người chân thật, thế gian này là, thiên đàng cực lạc, nhà nhà an vui, người người hạnh phúc, nơi nơi thái bình, âu ca thạnh trị, phiền não không còn, khổ đau biến mất! Lúc đó mọi người, không ai còn sợ, chuyện nhảm tận thế, vào năm 2000, hoặc năm nào khác. Tại sao như vậy? Bởi vì khi đó, tâm tánh mọi người, sáng suốt hiền hòa, công minh chính trực, dù ở nơi nào, cũng được bình thản, an vui lợi lạc, không còn phiền não, cho nên không còn, sợ sệt gì nữa.

* * *
Tóm lại, chúng ta đã ráng, ra công ngăn chận, không đem vào trong, kho tàng tâm thức, thêm những chủng tử, phiền não khổ đau, trong đó có ba, món to lớn nhứt, đó là: tâm tham lam, tâm sân hận, tâm si mê. Lâu ngày dài tháng, những món chứa trong kho tàng tâm thức cũng từ từ vơi bớt. Những cuốn phim được thu và cất giữ lâu năm, nếu chúng ta không đem ra, chiếu đi chiếu lại, lâu dần cũng phai mờ, rồi rơi vào quên lãng. Kho tàng tâm thức trống rỗng, tức là tâm của mình sẽ được khinh an, nhẹ nhàng, cuộc sống an vui hạnh phúc. Lúc đó mình không muốn làm thánh nhân, thánh nhân cũng không còn khác lạ, xa cách nữa.

Mỗi khi năm hết, cái tết lại đến, năm cũ bước qua, năm mới sắp đến, thiên hạ vui mừng, hân hoan hớn hở, mọi người nô nức, chào đón xuân sang. Người trẻ thường thấy, tương lai mở rộng, trước mắt màu hồng, đáng yêu đáng sống. Còn như các người, lớn tuổi thì sao? Mỗi một năm qua, hết trẻ đến già, người ta bước tới, một ngày quan trọng: giả từ gác trọ! Gác trọ của tất cả mọi người chính là: ta bà thế giới. Người phải giả từ gác trọ không đợi độ tuổi nào. Bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, bất cứ tuổi nào, bất cứ người nào, cũng đều có thể ra đi. Nhưng mà đi đâu? Mừng mùa xuân đến, người hiểu biết đạo, gấp rút tu tâm, đồng thời dưỡng tánh, cho được giác ngộ, đến ngày ra đi, khỏi phải quờ quạng, mang mang mờ mịt, chẳng biết đi đâu? Người chưa thấy đạo, nhân dịp năm mới, hãy tạo thuận duyên, chuẩn bị kỹ càng, hứa hẹn rõ ràng: trong năm sắp tới, mọi việc tốt hơn, tiến hơn năm cũ, nỗ lực tu tập, cho sáng được đạo, đó là nguồn vui, hy vọng năm mới, sẽ hơn năm nay, công phu viên mãn.

Ðất nước này, xứ sở này, địa phương này đã mở rộng vòng tay từ ái bao dung, thương yêu đùm bọc, chấp nhận chúng ta sống chung hòa bình, xây dựng cuộc đời mới, trên miền đất tự do nhân đạo này. Như vậy cộng đồng, chúng ta với nhau, tại sao không thể, giúp đỡ lẫn nhau, nương tựa với nhau, đối xử với nhau, một cách nhân đạo, với tình đồng bào, để tạo cuộc sống, vạn sự như ý, an vui lợi lạc, vừa hợp tình nghĩa, vừa hợp đạo lý.
Trước thềm năm mới, chúng ta có quyền, hy vọng từ đây, cuộc đời của mình, và của mọi người, đều được tất cả, an lạc hạnh phúc. []

Kính chúc chư vị, trọn một năm mới: an lạc hạnh phúc, giác ngộ giải thoát.
Sống trong đời sống cần có một tấm lòng dù chỉ để gió cuốn đi
-Trịnh Công Sơn-
Duy An
#2906 Posted : Wednesday, January 27, 2016 10:40:41 AM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Sương Xuân và Hoa Ðào


Tuesday, January 26, 2016
Vũ Thư Hiên

Gửi riêng các bạn chưa từng đọc nó, một tùy bút xuân viết đã lâu, nhân ngày đầu Năm Mới 2016. (Trung Nguyen).
Vũ Thư Hiên.





Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa Xuân phải có một mùa Ðông. Mùa Ðông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể thiếu để cho ta bước vào cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà. Thành thử ở Sài Gòn trùng vào những dịp Xuân sang tôi vẫn không thấy lòng mình rung động cảm giác về cái Tết ruột rà, cái Tết đích thực. Xin các bạn Sài Gòn tha lỗi cho tôi nếu trong những lời của tôi có gì làm các bạn phật ý, nhưng mãi tới nay, sau nhiều Tết Sài Gòn, tôi vẫn chưa quen được với một ngày đầu năm phải phơi đầu dưới cái nắng chói chang và trầm mình trong cái nóng hầm hập, làm cho con người phải tìm đến với trái dưa hấu mọng nước trước khi ngồi vào mâm cỗ Tết có đủ thịt mỡ và dưa hành, bánh chưng và giò thủ. Ở mỗi nhà vẫn nghi ngút trầm hương thật đấy, ngoài đường xác pháo toàn hồng vẫn tràn ngập lối đi thật đấy, nhưng cái Tết dường như vẫn còn lạc bước nẻo nào, nó chưa hẳn là Tết, chưa đủ là Tết. Ðành phải viện hai câu thơ mà nhiều người vốn không yêu thơ cũng thuộc, để giải thích nỗi nhớ về đất Bắc, để biện hộ cho cái cảm xúc không phải đạo của mình trước đất Sài Gòn cũng đã trở thành không kém thân thương:

Tự thuở mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
(Huỳnh Văn Nghệ)


Thực ra, chuyện chẳng có gì lạ. Người Việt phương Nam nào mà chẳng có một cái quê còn nhớ hay đã quên, có biết hay không biết, nằm ở phía ngoài kia.

Người xông nhà chúng tôi rất sớm, khi còn tối đất, sáng Mồng Một năm Ðinh Tỵ (1977), là nhà văn Nguyễn Tuân.

Người xông nhà, theo sự mê tín từ xưa, là một nhân vật đặc biệt quan trọng đối với vận mệnh gia chủ. Tùy theo người xông nhà là ai, năm đó ngôi nhà sẽ có nhiều may mắn hoặc xui xẻo. Những người cẩn thận thường phải tính chuyện mời ai đến xông nhà mình từ lâu trước khi Tết đến. Người xông nhà nhất thiết phải là người đang làm ăn phát đạt, con cháu đầy đàn mà hòa thuận, hoặc một bậc lão niên tài cao đức trọng - chuyện này còn tùy thuộc ở kỳ vọng của gia chủ mong muốn điều gì.

Bác Nguyễn, chọn nhà tôi để đến xông đất đầu năm vì biết chắc chúng tôi không kiêng kỵ, nếu năm đó có chuyện gì không hay xảy đến cho chúng tôi thì ông cũng không bị trách.

Kể ra được (hay bị) một nhà văn đến xông nhà thì, theo lệ thường, chẳng hay ho gì. Xét về truyền thống hiếu học và trọng kẻ sĩ của đất Bắc, nhà văn hẳn là bậc đáng trọng rồi. Nhưng xét về tài lộc thì bất kỳ nhà văn nào cũng nằm ở hạng bét trong thứ bậc giàu nghèo. Tất nhiên, không kể những quan chức bổng nhiều lộc lắm, lại rảnh việc, cũng rửng mỡ xông vào làng văn mà viết sách in thơ.

Cha tôi rất quý Nguyễn Tuân. Ông coi Nguyễn Tuân hơn là một người bạn thời thanh niên. Trong cái nhìn của ông, Nguyễn Tuân là một trong những đại diện cuối cùng cho lớp văn sĩ Bắc hà mỗi ngày một hiếm, những người cho tới lúc ấy còn biết coi tiền bạc như của phù vân, không cúi đầu vâng dạ trước quyền lực. Riêng đặc điểm sau Nguyễn Tuân phủ nhận. Ông luôn phô rằng mình biết sợ, hơn thế, chẳng những ông sợ vừa mà còn sợ lắm lắm. Cái sự phô ấy làm cho người ta lầm tưởng rằng ông không sợ.

Ông đến xông nhà chúng tôi trong chiếc áo choàng màu cứt ngựa. Bỏ nó ra, bên trong vẫn là bộ áo cánh đen thường nhật. Trời rét ngọt, ông mặc thêm áo len và quàng khăn, đội mũ bê-rê. Bộ áo cánh đen là cách diện của ông, của Nguyễn Tuân. Ông bao giờ cũng thích mình phải khác người, cho dù chỉ một chút. Tôi mở cửa đón ông, hơi ngỡ ngàng. Tôi không chờ đợi một người ngoài gia tộc đến xông nhà. Những năm ấy người ngoài ít dám tới nhà chúng tôi lắm. Lại càng không chờ đợi Nguyễn Tuân với sự sợ hãi được khoe khoang của ông. Nhưng không ai đi hỏi người đến xông nhà rằng tại sao ông đến. Với bất cứ người xông nhà nào ta chỉ có thể vồn vã chào đón và đem bánh pháo đầu tiên của ngày mồng Một ra đốt. Nguyễn Tuân đoán ra câu hỏi câm lặng của tôi. Ông ý nhị nói:

- Nói thực, mình đến đây sớm vì chẳng biết đi đâu. Mà lại rất thèm đi dạo một lúc trước khi bình minh ló rạng trong cái ngày đầu năm này. Lang thang mãi rồi mình thấy mình đến đây. Không sao chứ?

Cha tôi nghe léo xéo bước ra, tươi cười ôm lấy bạn dìu vào nhà. Ông sai tôi rót rượu, châm hỏa lò than để nướng mấy con mực.Cha tôi biết Nguyễn Tuân không ưa đồ ngọt, khay mứt trên bàn chắc chắn sẽ không được ông đụng đến. Ông ngồi xuống chiếu, xếp bằng tròn, giơ đôi tay cóng sưởi trên hỏa lò. Lửa than làm vầng trán hói của ông bóng lên trong căn phòng nhỏ. Cha tôi thường tiếp bạn thân trong căn phòng riêng của ông chứ không phải ngoài phòng khách. Hai người bạn già thân tình nhìn vào mắt nhau, chạm ly trong im lặng. Cả Nguyễn Tuân, cả cha tôi, đều không thích những lời ồn ào.

- Ngon tuyệt. Nguyễn Tuân nhắp vài nhắp rượu trong vắt với vẻ thích thú rồi ngửa cổ cạn ly.

- Làng Vân chính hiệu đấy! Cha tôi nói, nét hài lòng hiện lên mặt. Ông thích được chiều bạn và khi bạn vui, ông còn sướng hơn chính ông được vui.

- Tuyệt!

- Mình phải đặt loại đặc biệt cho cái Tết đoàn viên này.

Ðúng vậy, đây là cái Tết đầu tiên gia đình tôi đủ mặt. Không thiếu ai. Những Tết trước gia đình tôi tan tác. Tôi ở trong tù. Cha tôi bị lưu đày ở Nam Ðịnh.

- Hơn hẳn anh Trương Xá. Vào đến cổ họng là biết ngay! Nguyễn Tuân xác nhận.

Phận con cháu, tôi được phép ngồi bên cạnh các cụ làm chân điếu đóm. Tôi thích nghe bác Nguyễn nói chuyện. Trong câu chuyện của ông bao giờ cũng có một cái gì mới, một cái gì ngồ ngộ, độc đáo mà không phải ai cũng có thể có. Về đời sống cũng như trong văn chương, ông là người uyên bác.

Tính về họ hàng theo đàng mẹ, tôi phải gọi ông bằng bác. Nhưng ông rỉ tai tôi, một lần ở chỗ đông người: “Họ xa rồi, cùng cánh văn chương với nhau, gọi thế nó mất đi cái sự bình đẳng, gia trưởng lắm.” Tuy miệng vâng dạ, tôi vẫn kính cẩn gọi bác xưng cháu với ông. Mẹ tôi là người nghiêm khắc trong chuyện xưng hô lắm.

Chuyện vãn một lát, lại chuyện làng văn làng họa, ai mới viết cái gì hay, bức họa cuối cùng của ai độc đáo, là đề tài yêu thích của ông, Nguyễn Tuân hỉ hả ra về. Ông nói ông còn phải đến chơi với Văn Cao (“Bà Băng bà ấy kiêng. Mình phải đến muộn muộn một tý!”), đến Nguyễn Sáng (“Tết nhất mà nó có một mình, buồn chết đi được!”)

Ra khỏi cổng, Nguyễn Tuân dừng lại hồi lâu trên hè, nhìn phố Hai Bà Trưng thưa thớt người đi lại vào sáng sớm tinh sương, ông nghiêng đầu nói khẽ với tôi:

- Anh có thấy Hà Nội buổi sáng Mồng Một này thiếu cái gì không?

Tôi không cần động não để tìm câu trả lời. Câu hỏi được đặt ra chỉ là cái cớ cho câu trả lời đã có sẵn, chắc chắn là sẽ rất Nguyễn Tuân. Tôi im lặng, chờ câu ông sẽ nói.

- Thiếu sương! Nguyễn Tuân, mắt vẫn nhìn chung quanh, thở dài.

- Anh không nhận ra cái sự thiếu ấy, tôi biết, nhưng tôi không trách. Anh còn quá trẻ. Ngày trước, sáng mồng Một bao giờ cũng có sương nhè nhẹ, không nhiều, một chút gọi là có, nhưng đích thực là sương. Nó bay là là, thoang thoảng, như có mà như không. Rét ngọt. Chỉ có trên các lá cây mới có sương hiển hiện, lâu lâu đọng thành giọt, rơi xuống mặt mình, có khi lọt cả vào cổ áo mình, rất là Tết. Ðã mấy năm nay, vào ngày Tết mình cứ thấy thiếu thiếu cái gì đó mà không biết là cái gì. Bây giờ mới hiểu ra: đúng là thiếu nó, thiếu sương.

Tôi bàng hoàng trước nhận xét của ông. Tôi nhớ đến những năm rất xa, khi tôi còn nhỏ. Ðúng là Hà Nội những ngày đầu năm ấy sương la đà trên mặt đường, lẩn khuất trong những bãi cỏ, bụi cây.

- Thưa bác, có lẽ tại Hà Nội đông dân thêm, nhiều nhà máy nhiều xe cộ, thành thử cái tiểu khí hậu địa phương thay đổi, nhiệt độ do đó mà cao hơn trước!

- Ðốt anh đi! Các anh bây giờ, đụng đến cái gì cũng vội vã chỉ ra nguyên nhân rồi dài dòng giải thích, cứ như chung quanh mình toàn một lũ thất học vậy. Các anh làm văn kia mà.

Không nhìn tôi, ông nhăn mặt cằn nhằn:

- Tôi là tôi đang nói cái có, tôi nói cái hiện hữu, nói cái cảm xúc mà cái hiện hữu ấy gây ra. Còn cái chuyện đi tìm cội nguồn của hiện tượng là việc của người khác. Cái bệnh dịch tuyên giáo thật đáng sợ.

- Thế là mất đứt cái anh sương xuân bảng lảng. Tiếc quá đi mất!

Nguyễn Tuân lại thở dài. Ông buồn thật sự.

- Thiếu nó, Tết Việt Nam nghèo đi, mà không chỉ nghèo đi một chút đâu nhá, anh hiểu không? Ðành vậy, sang năm phải tìm cách đón giao thừa ở ngoại thành, may chăng còn có thể gặp lại nó.

Rồi đột ngột ông quay sang chuyện khác:

- Này, năm nay giáp Tết mưa thuận gió hòa, hoa đẹp lắm. Sao mấy hôm rồi không thấy anh đi chợ hoa?

Ðã thành cái lệ, năm nào cha tôi và Nguyễn Tuân cũng rủ nhau đi thưởng hoa ở Cống Chéo Hàng Lược. Có những buổi hai ông la đà từ trưa tới tối mịt mới về đến nhà.

- Thưa bác, mấy hôm rồi cháu lại mắc bận.

Tôi nói dối. Thực ra tôi không đi vì tôi không thích chợ hoa. Cái mẩu phố hẹp có tên là Cống Chéo Hàng Lược ngày thường đầy rác rưởi trong những ngày giáp Tết bỗng trở nên nhộn nhịp khác thường. Trên là trời, dưới là hoa.

Và người người chen chúc nhau đi xem hoa, mua hoa. Những cây quất trĩu quả vàng chen lẫn với các cành đào cầm trên tay, các sọt đan đựng đủ mọi loại cúc, loại hồng, lay-ơn, thược dược... Ở đây ồn ào quá, nhiều trai thanh gái lịch quá, nhiều quần áo mới quá, nhiều gương mặt hãnh tiến quá. Tôi còn sợ nhìn cái cảnh chợ chiều ba mươi Tết, khi những người bán hoa co ro trong manh áo mỏng, cành đào trong tay, mặt ngơ ngác, lo âu chờ khách. Trong cái bầu không khí vui vẻ quá nhân tạo ấy, bông hoa nào, cành hoa nào, chậu hoa nào cũng có vẻ tội nghiệp bởi cái thân phận hàng hóa của chúng.

- Ðào năm nay được mùa. Chợ nhan nhản những đào là đào, giá lại hạ, nhà nghèo nhất năm nay cũng có đào Tết. Thế mà đố có tìm ở Cống Chéo Hàng Lược được một cành nào như cành đào của bố anh. Tuyệt! Không chê vào đâu được. Năm nào cành đào của ông ấy cũng làm tôi mê man, cũng làm tôi sửng sốt: “Thằng cha giỏi thật, sao mà nó khéo chọn đào đến thế!” Thôi, tôi về. Còn phải đến mấy nhà nữa, mà mình thì thích cuốc bộ. Hôm nay tôi đến là để chúc mừng gia đình anh đoàn tụ. Mai có khi tôi còn đến đây nữa. Ðể ngắm cành đào của bố anh.

Ngày hôm sau ông lại đến thật. Và đúng là chỉ để ngắm có một cành đào mà thôi.

Cha tôi không phải nghệ sĩ. Ông, nói của đáng tội, từng là nhà báo. Mặc dầu cũng động tới chữ nghĩa, nhưng nhà báo vẫn có cái gì nó khác với nhà văn (tất nhiên không kể những người có hai nghề nhập một). Nhà báo không có tính lập dị thường gặp ở các nhà văn và các văn nghệ sĩ, hay là tính cách kỳ quặc nào đó ở họ mà người đời quy cho là lập dị. Có điều, mặc dầu có Tây học, ông thích cuộc sống thanh đạm của người xưa và rất yêu hoa. Trong nhà tôi, kể cả những lúc khó khăn nhất, bao giờ cũng có hoa. Trước khi ông đi tù ở nhà tôi là một vườn phong lan đủ loại, nổi tiếng trong những vườn phong lan ở Hà Nội.

Tết nào ông cũng cầu kỳ chơi hai thứ hoa: thủy tiên và và đào.

Thủy tiên là thứ hoa không bình dân. Nó không thèm nở nếu chẳng may rơi vào tay người không biết thưởng thức.

Ðể cho thủy tiên nở, phải biết nghệ thuật trổ thủy tiên. Con dao dùng để trổ thủy tiên không phải là con dao bài bất kỳ, mà là một con dao dùng riêng cho nó. Cha tôi mua củ thủy tiên về, giá rất đắt, hình như là phải nhập khẩu chứ nước ta thời ấy chưa có cơ sở gây trồng. Thủy tiên có bề ngoài giống một củ hành tây lớn, rất tầm thường, chẳng hứa hẹn một hương sắc nào. Chuẩn bị cho việc gọt thủy tiên, cha tôi hì hục mài dao cho tới khi nó bén đến mức đặt sợi tóc lên lưỡi dao mà thổi phù một cái thì sợi tóc lập tức bị đứt đôi, và đầu nhọn của nó thì chỉ vô ý chạm ngón tay vào là máu ứa ra liền. Rồi ông còn phải ngắm nghía hồi lâu cái củ hành nọ, cho tới khi quyết định đặt nhát cắt đầu tiên lên mình nó. Những nhát cắt, nhát trổ chính xác được ông cân nhắc từng tý, cho tới khi hài lòng đặt nó vào cái bát thủy tinh, cũng lại thứ dành riêng cho nó.

Mẹ tôi chăm chú theo dõi bàn tay khéo léo của cha tôi xoay quanh củ thủy tiên. Bà cũng là người khéo tay, nhưng khéo tay ở những việc khác, chứ trổ thủy tiên thì bà chịu, không biết cách gọt như cha tôi. Những Tết cha tôi vắng nhà, trên bàn thờ ông bà ông vải chỉ có hoa huệ, thủy tiên thì hoàn toàn vắng bóng. Hoa thủy tiên bắt đầu trổ những cánh xanh mập mạp cũng chẳng khác lá hành là mấy, nhưng chúng nhỏ nhắn, ngắn và không vươn quá thành bát đựng. Người gọt khéo có thể chỉ định đúng ngày hoa nở, khéo hơn nữa có thể đúng đến cả giờ. Thủy tiên do cha tôi gọt bao giờ cũng nở hết số hoa nó chứa trong mình vào đúng giao thừa, chính xác vào cái giờ khắc thiêng liêng nhất của sự giao hòa giữa người thuộc cõi âm và người thuộc cõi dương,giữa tổ tiên và con cháu. Cha tôi đứng lặng trước ban thờ ông bà, đầu hơi cúi. Mẹ tôi đứng sau ông thì thầm khấn vái. Hương trầm ngát trong nhà. Rồi pháo của một nhà nào đó nổ vang, kéo theo sau nó cả một đợt sóng triều tiếng pháo râm ran. Tôi không bao giờ thấy được hương thủy tiên vào lúc thủy tiên nở hết hoa của nó trong hương trầm và khói pháo. Sáng sớm mồng Một, rất sớm, khi trời đất đã lặng đi mọi tiếng động của sự đón Xuân, lúc ấy mới thấy được hương thủy tiên thoang thoảng. Ðó là một hương thầm ẩn náu, thoang thoảng mà kiêu sa. Nó không để lại trong tôi một ấn tượng rõ rệt nào. Tôi cũng không cảm nhận được cái đẹp của hoa thủy tiên. Mà cũng có thể đó là do ảnh hưởng câu chuyện chàng Narkisoss trong thần thoại Hy Lạp mải mê ngắm sắc đẹp của chính mình trong nước suối, mải mê đến nỗi ngã xuống mà chết đuối, trở thành loài hoa nọ. Tôi không thích những người say mê chính mình.

Sau khi cha tôi qua đời, chẳng bao giờ trong nhà tôi còn có hoa thủy tiên nữa. Nhưng hoa đào thì không bao giờ vắng bóng trong những ngày Tết gia đình, với cách thưởng thức truyền thống mà những thế hệ đi trước để lại.

Trước Tết một tháng, cha tôi, thường có tôi đi theo, đạp xe lên vùng Quảng Bá, Nhật Tân, Nghi Tàm, nơi có những nhà trồng hoa cha truyền con nối. Cùng với một chủ vườn nào đó đã trở thành người quen, cha tôi đi thăm vườn và xem xét kỹ từng gốc đào để rồi cuối cùng chọn lấy một cành thấp, ưng ý nhất. Tiền đặt mua cành đào được trao ngay cho chủ vườn. Giá thường rất rẻ, lúc ấy chưa có ai mua đào. Ông chủ vườn rút con dao nhíp trong túi ra, đánh dấu cành đào dành cho cha tôi. Chắc chắn nó sẽ không bị bán vào tay ai khác. Bố con tôi hài lòng ra về. Tôi biết, trong óc cha tôi đã hiện lên cành đào trong tương lai sẽ được đặt ở đâu, trong cái bình nào ở nhà mình trong ngày Tết.

Khoảng hai bảy, hai tám Tháng Chạp, cha tôi mới lên vườn nhận cành đào về. Ông chủ vườn trao cành đào cho cha tôi với vẻ tiếc rẻ, không ngớt lời khen cha tôi có con mắt tinh đời. Nhưng đó là cách đánh giá của hai người biết chơi hoa với nhau. Người thường sẽ không mua cành đào này. Nó xù xì ở phần gốc, có mấy cành đua dài và gân guốc, trên đó chỉ thấp thoáng một số nụ.

Sau đó là phần sửa soạn cho cái đẹp của cành đào. Cha tôi còn ngắm nó chán chê rồi mới lấy dao cắt bỏ một số cành con, đem thui phần gốc, rồi trịnh trọng đặt cành đào vào trong lọ độc bình. Ðó là một cái lọ lớn, thường là lọ sành, nhưng phải thấp, miệng rộng, rất bình dị, đến nỗi khi cành đào đã ngự trong đó thì không còn nhìn thấy cái lọ đâu nữa. Cành đào được đặt trong góc nhà. Những cành đua của nó hướng về phía cửa, khách vào có thể nhìn thấy những cánh tay của nó vươn ra chào đón.

Cũng như thủy tiên, cành đào sẽ nở rộ vào đêm trừ tịch.

- Chơi hoa là cách con người tìm niềm vui, tìm tâm trạng thư thái trong mối giao hòa với thiên nhiên - cha tôi tâm sự trước cành đào - Người ta chỉ có thể đón thiên nhiên vào nhà mình, chứ không thể mua sắm thiên nhiên, hoặc tệ hơn, áp giải nó về nhà mình. Vì vậy mà cái bình phải khiêm tốn để tôn vẻ đẹp của cành đào, của mùa xuân. Cành đào đẹp trước hết là ở cái dáng,cái thế của nó: phần gốc xù xì cho ta cảm giác về sự vững bền của nền tảng, những cành đua không nên nhiều quá để tạo ra cảm xúc thanh thoáng, khoáng đạt.

Cha tôi không thích đào rực rỡ quá, khoe khoang quá, hợm hĩnh quá.

- Ðào như thế này đẹp hơn nhiều, cánh của nó chỉ phơn phớt một màu hồng nhạt, vừa có duyên, vừa thầm kín - cha tôi dạy - Người Nhật thích màu hồng của hoa sakura - anh đào, có dễ cũng vì lẽ đó. Tín đồ của Thần Ðạo không chịu nổi những hương sắc quá thế tục Thêm nữa: trên cành đào Tết không nên có quá nhiều hoa. Lá xanh bên cạnh hoa làm tăng vẻ đẹp của hoa lên. Tất nhiên, mỗi người một ý, nhưng ông nội con và bố đều không ưa những cành đào đầy ắp hoa, cành nào cành ấy đều đặn, trông xa như một cái nơm. Ðã thế có người lại còn cắm cái nơm đào ấy vào cái lọ độc bình cổ cao, bằng sứ, với đủ mọi hình vẽ cầu kỳ sặc sỡ, rồi đặt nó ngất nghểu trên bàn thờ ông vải nữa chứ. Không, chỗ của đào không phải ở đó. Bố thích đặt nó ở đây dưới đất, ngang tầm với mình.

Tôi kể cho Nguyễn Tuân nghe cách cha tôi nhìn vẻ đẹp của cành đào. Ông tủm tỉm cười:

-Về đại thể, bố anh đúng. Nhưng ông ấy cũng có mắc một chút bệnh giải thích. Cái đẹp, theo tôi, là cái không giải thích được. Chỉ có thể cảm nhận nó mà thôi. Bố anh cũng chẳng giải thích nổi tại sao ông đã cắt đi một cành con này mà không phải một cành con khác, tại sao ông giữ cành đua này mà lại bỏ cành đua kia, cái cành được để lại ấy gợi nên trong lòng ông cảm xúc gì. Còn về phần màu xanh của lá trên cành đào thì ông ấy đúng hoàn toàn. Hay gì một cành đào chi chít hoa? Nó làm ta phát ngán. Mùa xuân thì phải có màu xanh của lá, của sự đâm chồi nảy lộc, mới là xuân!

Bây giờ, cả bác Nguyễn Tuân, cả cha tôi, đều đã khuất núi. Chỉ còn lại cái đẹp của hoa xuân mà hai ông tâm đắc ở trong tôi. Và nỗi bùi ngùi mỗi lần Xuân đến.

24.12.2002

Duy An
#2907 Posted : Saturday, January 30, 2016 6:07:38 PM(UTC)
Duy An

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/5/2011(UTC)
Posts: 1,220
Points: 3,752

Thanks: 206 times
Was thanked: 679 time(s) in 492 post(s)
Sông Hồng cuộn chảy


Wednesday, January 27, 2016 8:10:24 PM
Minh Văn


“Hà Nội có cầu Long Biên
Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng
Tàu xe đi lại thong dong
Người người tấp nập gánh gồng ngược xuôi...”
(Vè dân gian)


Trước đây, mỗi lần đi qua cầu Long Biên hay Chương Dương, ngắm nhìn dòng sông Hồng cuộn chảy phù sa với quang cảnh phồn thịnh đông đúc hai bên bờ, tôi lại nghĩ đến câu nói của một triết gia: “Mọi nền Văn Minh đều bắt nguồn bên những dòng sông.” Điều này thật đúng và ý nghĩa khi ta suy nghĩ và liên tưởng đến tiến trình lịch sử nhân loại, những con sông đã nuôi dưỡng và phát triển các nền văn hóa rực rỡ, để có một xã hội loài người tiến bộ hôm nay. Vì màu nước đỏ nặng phù sa mà con sông có tên gọi là sông Hồng, dòng sông vốn bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam-Trung Quốc này có chiều dài gần 1150 km. Với 510 km chiều dài chảy qua địa phận Việt Nam mà dòng sông đã làm nên một nền văn minh Sông Hồng đặc sắc với những làng nghề cổ còn lưu giữ được đến tận ngày hôm nay. Mà trong đó phát triển mạnh mẽ và rực rỡ nhất là vùng Đồng Bằng Bắc Bộ.




Cầu Long Biên và sông Hồng. (Hình: Getty Images)


Sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Phú Thọ có tên gọi là Sông Thao, một cái tên cũng đã đi vào thơ ca của những con người vùng đất này. Đến khi chảy qua địa phận Hà Nội thì gọi là Nhị Hà hoặc Nhĩ Hà, sông Hồng là cái tên mới sau này mà khi gọi lên ta nghe được sự dân dã và gần gũi trong đó. Với chiều dài và quang cảnh hùng vĩ của mình mà dòng sông Hồng đã chuyên chở biết bao số phận và cuộc sống con người, nuôi dưỡng những vùng đất và làng mạc mà nó chảy qua. Trước hết là một nền văn minh nông nghiệp được hình thành và phát triển dọc đôi bờ con sông vĩ đại này. Ở đây người ta trồng trọt lúa nước và cây ăn trái, trồng dâu nuôi tằm dệt vải. Dòng sông đã làm nên cảnh phồn thịnh với những hàng hóa và phẩm vật phong phú. Khi lượng sản phẩm mà con người làm ra đã nhiều thì dòng sông lại là nơi chuyên chở, lưu thông để trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền. Vì thế mà sự giao thương đã trở nên phát đạt với hình ảnh tấp nập trên bến dưới thuyền.

Kể từ khi cây cầu Long Biên được xây dựng thì đoạn sông này trở thành tâm điểm của sông Hồng trên địa phận Hà Nội. Cây cầu trông như một con rồng bằng sắt khổng lồ này được người Pháp xây dựng trong vòng bốn năm (từ 1899 đến 1902). Giúp cho việc lưu thông qua lại giữa hai bờ trở nên vô cùng thuận tiện và hữu ích. Ban đầu cầu có tên là Doumer, vốn được đặt theo tên của toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ là Poul Doumer, cầu có tổng chiều dài là 1862 m. Khách bộ hành, xe đạp, xe máy, xe ba gác đều có thể đi qua cầu. Trước đây thì hai làn cầu còn dành cho ô tô nữa, nhưng từ khi cây cầu Chương Dương nằm đối diện được hoàn thành năm 1986 thì loại phương tiện này được chuyển qua cây cầu mới. Khách chạy xe thong dong trên cầu Long Biên, ngắm cảnh bãi giữa xanh ngát ngô khoai, đôi khi bất chợt gặp đoàn tàu hỏa chạy qua với âm thanh rầm rập nghe thật vui tai. Ở đoạn sông này có một bãi nổi mà người ta quen gọi là bãi giữa. Mùa nước cạn thì bãi giữa nổi lên với phù sa màu mỡ, vì vậy mà người ta trồng trọt ngô, khoai, lạc, đậu và những cây nông nghiệp ngắn ngày khác ở đây. Khung cảnh vì vậy mà thêm phần thơ mộng bởi màu xanh mướt của cây trái. Sở dĩ người ta chỉ trồng trọt những cây ngắn ngày mang tính thời vụ ở đây là vì mùa mưa lũ thì bãi giữa lại ngập chìm trong nước. Khi ấy thì không trồng trọt được gì nữa. Khi dòng nước rút đi thì để lại một bãi giữa màu mỡ, chờ đợi con người gieo trồng chăm bón. Người ta cũng làm những cái lán tạm bằng tranh liếp để ở đấy mà trồng trọt và chăm sóc cây trái. Cùng với những chiếc thuyền nan neo đậu thì nơi đây khiến cho ta có thể hình dung đến một cuộc sống và canh tác xa xưa của cha ông, mà nay còn hiện diện ngay giữa lòng một thành phố lớn.

Hình ảnh mà tôi bắt gặp nhiều nhất là những chiếc phà chở cát xuôi ngược dòng sông, từ trên cầu nhìn xuống có thể thấy được những con người đứng nhấp nhô trên phà. Bây giờ đã có một vài công ty du lịch tổ chức những chuyến đi thăm thú dọc đôi bờ sông Hồng cho du khách. Qua đó mà khám phá nét văn hóa hay những làng nghề cổ dọc bờ sông. Tuy nhiên hình thức đó cũng mới định hình và còn thưa thớt. Với tình yêu thành phố và sông Hồng mà tôi ao ước đến một ngày dòng sông thực sự là tâm điểm của thành phố, và trở nên sạch đẹp với những chiếc ca nô du lịch hay du thuyền dành cho du khách, hình ảnh mà vẫn thường thấy ở các nước Văn minh phát triển. Con sông sẽ trở thành điểm nhấn của du lịch thành phố, được con người chăm chút và điểm tô bằng những công trình xây dựng có văn hóa. Sông Hồng còn có những phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô. Phân lưu phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến địa phận Hải Dương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao thuộc huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.

Có lẽ cầu Long Biên là nơi gắn bó với người dân hai bên bờ nhiều nhất, bởi lẽ đây cũng là cây cầu lớn đầu tiên được bắc qua sông Hồng. Hình ảnh cũ kỹ của nó gắn liền với cuộc sống của những người dân lao động. Hàng ngày cây cầu chuyên chở những mảnh đời làm ăn, buôn bán đi lại. Mới khoảng 4-5 giờ sáng, những chiếc xe đạp chở trên đó những gánh hàng rong hay rau quả từ phía ngoại thành Gia Lâm tiến vào nội thành. Người ta đi từ mờ sáng cho đến chiều tối lại qua cầu mà trở về phía bên kia bờ, kết thúc một ngày lao động và buôn bán vất vả. Trên cầu, hai bên làn đường còn có những điểm nhô ra để xe cộ có thể tránh nhau hay đỗ xe, vì thế mà tránh được ách tắc giao thông. Đứng tựa lan can cầu mà ngắm nhìn sông Hồng, đón cơn gió mùa hè mát rượi để rồi suy tưởng thì thật thú vị biết bao. Một thế kỷ tồn tại, cây cầu đã chứng kiến bao buồn vui của những số phận con người, cũng như thăng trầm của vùng đất này. Trong tâm hồn người Hà Nội, cầu Long Biên có một ý nghĩa lịch sử và văn hóa rất quan trọng, không thể thay thế.

Trên địa phận Việt Nam, sông Hồng chảy qua các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc rồi đến Thành Phố Hà Nội, từ đó chảy qua Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình. Trước khi đổ ra Biển Đông thì dòng sông Hồng chảy qua cửa Ba Lạt là ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Nam Định. Tự ngàn xưa thì người Việt đã chọn vùng đất là Hà Nội bây giờ để làm nơi sinh sống và phát triển cộng đồng. Đến khi đức Vua Lý Công Uẩn lên ngôi thì vùng đất này trở thành kinh đô của đất nước với tên gọi là Thăng Long. Một thành phố nằm bên trong con sông Hồng hùng vĩ mênh mông. Bao thế hệ đã qua đi, lịch sử thăng trầm đã được dòng sông chuyên chở trong lòng. Chứng kiến bao chiến công hiển hách của cha ông, dòng sông vẫn cuộn chảy như minh chứng cho sự phát triển của một nền văn minh nước Việt bền vững tự ngàn xưa.

Users browsing this topic
Guest
142 Pages«<137138139140141>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.